TRÁM TRẮNG
Canarium album (Lour.) Raeusch, 1797
Tên đồng nghĩa: Pimela alba Lour. 1790; Canarium nigrum (Lour.) Engler, 1900;
Canarium pimela Leenh., 1959
Tên khác: Bùi, mắc cơm, cà na (Tày, Nùng)
Họ: Trám Burseraceae
Hình thái
Cây gỗ lớn, cao 20 m hoặc hơn. Thân
thẳng tròn, phân cành muộn. Cành non màu
nâu nhạt, lông mềm. Vỏ mỏng màu nâu
xám. nứt dọc nhẹ, thịt hồng, mùi thơm đặc
biệt và khi bị cắt có nhựa đặc chảy ra.
kép lông chim lẻ, mọc so le, dài 35-40
cm, mang 7-11 chét; chét hình trái xoan,
mặt trên màu xanh nhạt, bóng, mặt dưới có
lông ánh bạc; những gần gốc đầu mũi
nhọn ngắn, phía trên đầu thuôn dài; gân
hơi rõ; có kèm hình dùi, phủ lông mềm,
màu nâu bạc.
Cụm hoa mọc ngọn thành chùm kép,
dài 8-10 cm; bắc hình vảy. Hoa đơn tính
cùng gốc, mọc thưa, thường tụ họp 2-3 cái
một mấu; đài có lông 3 răng; tràng hình bầu
dục, 3 cánh hơi dài hơn đài, phủ lông
ngắn ở mặt ngoài; nhị 6 chỉ nhị ngắn; bầu hình
trứng có lông màu nâu.
Quả hạch hình trái xoan, hai đầu nhọn, dài 2,5- 3,5 cm, khi chín màu vàng nhạt; hạt cứng
hoá gỗ dày.
Các thông tin khác về thực vật
Trám (Canarium L.) một chi lớn, khoảng 80-150 loài. Riêng Việt Nam chi này có 8
loài. Những loài phổ biến là: Trám trắng (C. album L.), trám đen (C. tramdenum Dai & Yakovl.);
trám chim (C. tonkinensis Engl.), trám hồng hay trám 3 cạnh (C. bengalense Roxb.) cà na
(C. subulatum Guillaum.). Hầu hết các loài này có quả ăn được nhưng 2 loài trám trắng và trám
đen là thường được sử dụng nhiều và quả có vị ngon hơn cả.
Phân bố
Việt Nam:
Trám trắng phân bố hầu hết các tỉnh phía Bắc, y Nguyên và Đông Nam Bộ. Đã gặp
Sơn La, Giang, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Bắc Kạn, Hà Tây, Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Hoà Bình,
Trám trắng - Canarium album (Lour.) Raeusch
1. Cành mang quả; 2. Quả;
Ninh Bình, Thanh Hoá, Nghệ An, Tĩnh, Gia Lai, Kon
Tum, Tây Ninh, Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu.
Thế giới:
Trám trắng phân bố Trung Quốc (Quảng Tây,
Vân Nam), Lào (các tỉnh phía Bắc) và Campuchia.
Đặc điểm sinh học
Cây mọc khá phổ biến trong các rừng mưa nhiệt
đới thường xanh độ cao 100-1.000 m trên mặt biển,
tập trung nhiều độ cao 200-700 m; nơi lượng mưa
1.500-2.000 mm/năm. Trong các rừng nguyên sinh hoặc
mới bị khai thác nhẹ, chưa bị m tán lớn, trám trắng
thường mọc đơn độc cùng với sấu, lim. sến.... Trong
các rừng thứ sinh, bị khai thác mạnh hoặc mtán rộng,
trám mọc thành từng đám lớn cùng sau sau, chẹo, dẻ
gai... Trám trắng thể sống trên nhiều loại đất, nhưng
tốt nhất là đất feralít đỏ vàng hay vàng đỏ, tầng đất
dày trên 50 cm, nhiều mùn, phát triển trên các loại đá
phiến thạch sét, phiến thạch mica; thuộc loại đất i
chua độ pH từ 4-5 còn mang tính đất rừng. Thường
gặp trám trắng mọc ven bìa rừng, đường đi, quanh làng
bản, ven sông suối.
Trám trắng cây ưa sáng, mọc nhanh. Trong rừng
tự nhiên thường vươn lên tầng trên; nhưng khi còn non,
trong 2 năm đầu cần có n che nhẹ, độ che sáng thích
hợp là 0,2-0,4. y trồng VQG Cúc Phương từ năm 1986 đến 2002 có chiều cao trung bình
7-8m, đường kính 12-15 cm; cây phát triển không đều, cây đã ra quả. Nếu trồng nơi đất tốt,
cây 20 tuổi chiều cao trung bình 19-22 m, chiều cao dưới cành 11-13,5 m, đường kính trung
bình 24 cm. Trong tự nhiên, cây tái sinh tốt cả bằng hạt và chồi.
Những năm gần đây, nhân dân nhiều tỉnh vùng Đông Bắc đã trồng rất nhiều trám trắng trên
các vườn rừng hay đất rừng được giao. Một số nơi như Sơn Động (Bắc Giang), dân bảo vệ
rừng trám rất tốt để chích nhựa.
Cây mọc tự nhiên từ hạt sẽ cho quả sau 8-10 năm, Cây trồng cho quả sớm hơn, chỉ sau 6-
7 năm.
Mùa hoa tháng 5-6, mùa quả tháng 8-9.
ng dụng
Trước đây trám trắng trồng chủ yếu để lấy gỗ; hiện một số nơi đã trồng trám trắng để lấy
nhựa (Bắc Giang, Quảng Ninh, Lạng Sơn). Gỗ trám trắng có giác lõi phân biệt không rõ ràng về
màu sắc, thường có màu trắng vàng nhạt và hơi hồng. Vòng sinh trưởng không rõ. Gỗ cứng và
nặng trung bình, khối lượng 550-630 kg/m3; sợi gỗ nhiều vách ngăn ngang, dài trung bình
1,1 mm. Gỗ trám trắng được dùng làm đồ mộc, dùng trong xây dựng làm nguyên liệu cho
công nghiệp gỗ dán, lạng.
Phân bố trám trắng ở Việt Nam
Hiện nay trám trắng được trồng chủ yếu đlấy quả, do thtrường Trung Quốc có yêu cầu
cao về loại quả y. Quả thành phần protein 12%, lipid 1,09%, hydrat carbon 12%, Ca
0,024%, K 0,046%, Fe 0,04% P 0,06%. Hạt chứa dầu với thành phần gồm các acid béo:
hexanoic, caproic, octanic, decanoic, lauric, myristic, stearic, palmatic linoleic. Quả trám
trắng vị chua, ngọt, bùi, béo, tính ấm tác dụng thanh nhiệt, tiêu khát, sinh tân, thanh
giọng.
Quả trám ỏm thức ăn phổ biến của nhiều người dân, đặc biệt đồng bào các tỉnh
thuộc miền núi phía Bắc Việt Nam. Trám ỏm xong thể ăn trực tiếp, hoặc kho cá, kho hoặc
nhồi thịt. Đặc biệt trám trắng dùng để chế biến nhiều loại ô mai rất được ưa chuộng.
Quả trám còn được dùng làm thuốc chữa sưng hầu, sưng amidan, ho nhiều đờm, viêm
ruột, tiêu chảy, khát nước. Quả tươi còn xanh dùng đgiải độc ợu chữa ngộ độc do cá. Quả
chín có tác dụng an thần, chữa động kinh
Nhân hạt trám trị giun và hóc xương. Vỏ cây trị dị ứng sơn, đau nhức răng.
Trám trắng còn cung cấp nhựa. Nhựa trám dùng chưng cất lấy tinh dầu, nguồn nguyên liệu
cho công nghiệp nước hoa. Nhựa trám cũng được dùng để chế biến sơn; còn colophan trám
dùng trong kỹ nghệ xà phòng, vecni. Cứ 100 kg nhựa trám sau khi chưng cất cho 18-20 kg tinh
dầu 50-60 kg côlophan. Nhựa trám tươi (không qua chưng cất) được dùng làmơng thắp.
Một cây trám trắng đường kính 30-40 cm, một năm có thể cho 20-30 kg nhựa.
Kỹ thuật nhân giống, gây trồng
Nhân giống :
Trám trắng được nhân giống bằng hạt. Vào tháng 8-9, khi quả đã chín đều, vỏ quả chuyển
từ màu xanh sang màu vàng là thể thu hái. Chọn các quả to đều, chín già, không u bênh
để làm giống. Quả hái về ngâm vào nước nóng khoảng 70 0C cho thịt quả mềm rồi tách lấy hạt;
rửa hạt sạch và hong khô, xếp hạt trong cát ẩm, cứ một lớp hạt, một lớp cát. Khoảng 7-10 ngày
đảo hạt một lần cho thoáng khí; tưới thêm nước để giữ ẩm, nếu cần thể thay cát mới. Hạt
trám không chịu được điều kiện bảo quản khô thời gian ngủ kdài. Đến mùa xuân khi
hạt nứt nanh, đem gieo o bầu. Ruột bầu gồm 90% đất mặt vườn ươm 10% phân chuồng
hoai. Mỗi bầu gieo 1 hạt đã mọc mầm. Cũng thể gieo thẳng hạt sau khi đã xử nước nóng
tách khỏi vquả, nhưng cách này tốn nhiều công chăm sóc tlệ sống không cao. Xếp
bầu trong ờn ươm, chăm sóc trong 1 năm thì chuyển đi trồng. Nếu muốn để lâu hơn phải
dùng bầu to và hàng năm cần đánh chuyển bầu để rễ cái không ăn sâu, trồng dễ sống.
Trồng và chăm sóc :
Đất trồng trám cần tầng dày, nhiều mùn nơi đầy đủ ánh sáng. Nếu để lấy quả
cần trồng thưa, cự ly 7-8 m/cây. Còn đlấy gỗ thtrồng y hơn, với mật độ 1.000 cây/ha
(cự li 5 x 2 m) hoặc 500 cây/ha (cự ly 4-5 m). Thời vụ trồng vào tháng 2-3 hoặc 8-9. Trồng theo
hố với kích thước 50 x 50 x 50 cm, bón lót mỗi hố 10-15 kg phân chuồng. thể trồng xen các
cây nông nghiệp để tận dụng đất, hạn chế cdại tăng thu nhập. Ngoài ra khi chăm sóc cây
nông nghiệp cũng làm cho cây trám trắng phát triển tốt hơn.
Phạm Đình Tam cs (2001) đã thí nghiệm trồng trám trắng với các phương thức trồng,
cây phù trợ và phương thức hỗn giao khác nhau đã rút ra kết luận:
Phương thức trồng nh hưởng đến sinh trưởng của y trám trắng giai đoạn rừng
non. Qua so sánh cho thấy, phương thức trồng toàn diện y phù trợ trong giai đoạn đầu t
ra phù hợp với sinh trưởng của cây trám.
Trong giai đoạn đầu (4-5 tuổi), trám trắng cần cây che phủ đất để hỗ trợ cho cây sinh
trưởng. Cây che phủ đất phù hợp cốt khí, keo. Cần điều chỉnh cây che phủ đchúng không
che ngọn cây trám.
Trong giai đoạn đầu (3-4 tuổi), phương thức trồng hỗn giao chưa ảnh hưởng lớn đến
sinh trưởng của cây trám trắng. Tuy nhiên quan sát bước đầu cho thấy trám trắng thể hỗn
giao với với các loài cây gỗ bản địa có tốc độ sinh trưởng cao như: lim xẹt.
Sau khi trồng, nếu trời khô hanh phải tưới ớc để đảm bảo độ ẩm. Cần làm cỏ 2-3 lần
trong năm khi cây còn nhỏ (1-4 năm đầu). Khi cây trám đã lớn không cần làm cnữa nhưng
phải bón cho cây vào lúc sắp ra hoa sau khi thu hoạch quả. Mỗi lần bón 50-70 kg phân
chuồng để cây cho năng suất quả cao.
Trám ít sâu bệnh, nhưng phải chú ý bảo vệ. Trâu các thú rừng như hươu nai, lợn
rừng rất thích ăn lá trám non vì có vị chua khá hấp dẫn.
Gần đây đcác cây trám cho quả sớm năng suất cao, người ta đã áp dụng kỹ thuật
ghép nhằm tạo ra các cây trám sai quả. Đã thí nghiệm thành công phương pháp ghép trám
trắng với nguyên liệu ghép chồi hoặc mắt lấy từ các cây msai quả; gốc ghép các cây
trám trắng 1-2 tuổi trồng từ hạt. Tlệ sống cây ghép đạt 60-70% hay hơn. Một số cây trám
ghép ra hoa ngay trong năm đầu; nhưng cho quả tốt vào năm thứ 3 hoặc thứ tư.
Khai thác, chế biến và bảo quản
Quả trám khi chín thể thu hoạch bằng cách trèo trực tiếp, bằng dùng sào câu liêm
hoặc bằng thang. Cần chú ý khi i quả, không y tổn thương nhiều cho cây trám để ảnh
hưởng xấu đến mùa quả năm sau.
Quả hái về nếu ăn ngay cần ỏm trám (xem bài trám đen); nếu làm ô mai phải ngâm quả,
phơi khô rồi tẩm các gia vị cần thiết tuỳ loại ô mai. Cũng có thể chế biến quả thành mứt trám để
được lâu.
Muốn chích nhựa trám phải có dụng cụ riêng, chỉ chích các cây trám có đường kính trên 20
cm. Nếu y đường kính lớn hơn có thể m3- 4 máng nhựa. Máng được mở từ dưới lên
trên; sau 3-4 ngày phải đục khoét sâu vào vỏ cây 1-2 cm để nhựa chảy ra. Thường 1 tuần đi
thu nhựa một lần. thể bán ngay nhựa mới thu hoạch để làm hương thắp hoặc bán cho các
nhà máy chế biến nhựa thông nhựa trám để chế dầu trám phan. Nhiều cây trám
đường kính 60-80 cm vẫn cho nhựa tốt. Mùa chích nhựa trám gần như quanh năm, nhưng mùa
hè cây cho nhiều nhựa hơn mùa đông
Cây già, đường kính trên 60 cm có thể chặt để lấy gỗ.
Giá trị kinh tế, khoa học và bảo tồn
Trám trắng một loài LSNG đa tác dụng, y vừa cho quả ăn được, vừa cho nhựa, làm
thuốc hoặc cho gỗ. Hiện nay th trường quả và nhựa trám trắng đang được mở rộng, cung
không đủ cầu (giá quả khoảng 6.000-8.000 đ/kg; giá nhựa trám khoảng 10.000-15.000 đ/1kg).
Cần chú ý phát triển mặt hàng LSNG triển vọng y. Trước hết phải chú ý đến công tác
chọn giống. Hiện nay trên thị trường cây giống được sản xuất một cách tuỳ tiện tự phát,
không ai quản lý được chất lượng. Cũng cần cý nghiên cứu kthuật thu hái quả cải tiến
kỹ thuật chích nhựa trám để thu được nhiều nhựa với chất lượng cao.
thể xếp trám trắng loại LSNG tác dụng xoá đói giảm nghèo cho đồng bào vùng
trung du miền núi. vậy, cần kế hoạch chính sách khuyến khích việc phát triển loài
cây này.
Tài liệu tham khảo
1. Nguyễn Tiến Bân, 2003. Burseraceae Kunth, 1824 Họ Trám Danh lục các loài thực vật Việt Nam. Tập II (Nguyễn
Tiến Bân Chủ biên): 954- 956. Nxb Nông Nghiệp - Hà Nội; 2. Nhiều tác giả, 2004. Cây thuốc và động vật làm thuốc ở
Việt Nam. Tập II: 994-996. Nxb Khoa học và Kỹ thuật Hà Nội; 3. Triệu Văn Hùng, 1992. Kết quả điều tra sinh thái cây
trám trắng. Báo cáo khoa học. Trường Đại học Lâm nghiệp ; 4. Phạm Đình Tam, Trần Lâm Đồng, 1997. Báo cáo sơ kết
2 năm đề tài nghiên cứu trồng trám trắng; 5.. Phạm Đình TamCS, 2001. Kết quả nghiên cứu trồng rừng trám trắng
(Canarium album) làm nguyên liệu gỗ dán. Kết quả nghiên cứu khoa học công nghệ Lâm nghiệp, giai đoạn 1996-2.000.
Viện Khoa học Lâm Nghiệp Việt Nam, tr. 71-78, Nxb. Nông nghiệp nội; 6. Trần Quang Việt, 2001. Cây trám trắng
(Canarium album Raeusch) (2002). Báo cáo chuyên đề: Cây bản địa Việt Nam. Hội thảo Đánh giá tiềm năng sử
dụng cây bản địa vào trồng rừng ở Việt Nam”. Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam, Hà nội 8/4/2001.