Ươi - Scaphium macropodum (Miq.) Beumée
ex K. Heyne
1. Cành lá; 2. Cụm quả
ƯƠI
Scaphium macropodum (Miq.) Beumée ex K. Heyne, 1927
Tên đồng nghĩa: Caryophyllum macropodum Miq., 1860; Sterculia lychnophora Hance,
1876; Firmiana lychnophora (Hance) K. Schum., 1897; Scaphium
lychnophorum (Hance) Pierre, 1889
Tên khác: Ưoi bay, lười ươi, thạch, bạng đại hải, hương đào, noi, sam rang,
som vang, đười ươi, đại đông quả, an nam tử
Họ: Trôm - Sterculiaceae
Tên thương phẩm: Malva nut (Anh)
Hình thái
Cây gỗ lớn, cao 20-25 m hoặc hơn, vỏ dày,
nhiều sợi, cành non cạnh lông màu
hung. to dày, mọc so le, tập trung đầu
cành, xẻ 5 thuỳ cây con, đơn nguyên cây
trưởng thành, dài 15-40 cm, rộng 7-22 cm, gốc
tròn, đỉnh nhọn, hai mặt nhẵn, mặt trên xanh
lục, mặt dưới màu nâu bạc; cuống dài 10-30
cm, to và mập.
Hoa nhmọc thành chuỳ đầu cành trước
khi y ra lá. Quả nang 1-5 đại cao 10-15 cm,
phần giáp cuống phình rộng, thon dần về đỉnh.
Vỏ quả mỏng, mặt ngoài khi chín màu đỏ, mở ra
như một cánh để phát tán hạt đi xa, mặt trong
trắng bạc. Hạt hình bầu dục, hoặc thuôn, dài 2,5
–3,5cm, rộng 1,2-2,5 cm; vỏ hạt màu đỏ nhạt,
nhẵn nheo, dính ở gốc quả.
Các thông tin khác về thực vật
Việt Nam, chi Scaphium chỉ một loài
mọc hoang tại các tỉnh từ Trị Thiên - Huế trở
vào. Hiện có ít thông tin về loài này.
Phân bố
Việt Nam:
Mọc rải rác tại các tỉnh Thừa Thiên - Huế (A ới, Phú Lộc), Quảng Nam (Hiên, Giàng,
Phước Sơn, Trà My), Quảng Ngãi (Trà Bồng), Bình Định (Vĩnh Thanh, Tây Sơn), Phú Yên,
Bình Thuận, Khánh Hoà, y Ninh, Đồng Nai (Tân Phú, Vĩnh An), Kon Tum (Đăk Glây, Đăk
Long, Đăk Tô, Kon Plông, Sa Thày), Gia Lai (An Khê, Chư Pah, Chư Prông), Đăk Lăk (Đăk Mil),
Đăk Nông, Lâm Đồng (Bảo Lộc, Đa Hoài), Kiên Giang (Phú Quốc).
Thế giới:
Lào, Campuchia, Thái Lan, Malaysia, Indonesia; nhập trồng Xishuangbana, Jinghong
tỉnh Vân Nam, Trung Quốc (1970).
Phân bố ươi ở Việt Nam
Đặc điểm sinh học
Việt Nam cây ươi mọc hoang rải rác trong các
rừng ẩm nhiệt đới thường xanh trên độ cao không quá
1.000 m, nơi đất dày, màu mẩm. y ra hoa vào
tháng 3 quả chín vào tháng 6 - 8. Ươi y gcao,
mọc thẳng, gỗ mềm dễ gãy, vậy để thu hạt thường
phải chặt cây, hoặc nhặt các hạt rụng dưới gốc...
Quá trình ra hoa đậu quả phụ thuộc rất lớn vào
nhiệt độ môi trường. Nhiệt độ thấp vào giai đoạn cây
sắp ra hoa làm giảm mạnh số lượng hoa quả trên
mỗi y, trong khi chế độ chiếu sáng ít tác động tới
các quá trình này. y ươi sai quả theo chu kỳ, khoảng
3-4 năm cây cho năng suất cao một lần.
Cây i sinh dễ dàng bằng hạt chồi. Vào mùa
quả chín, hạt ươi rụng xuống đất, hút nước nẩy mầm
sau khoảng 1 tháng. Hiện chưa xác định tuổi ra quả của
cây trong tự nhiên.
Công dụng
Bộ phận dùng :
Hạt khô để chế thạch ươi.
Thành phần hoá học :
Hạt ươi gồm nhân chiếm 35% và vỏ chiếm 65%. Trong nhân có chất béo (2,98%), tinh bột,
sterculin bassorin. Vỏ hạt chứa 1% chất béo, 59% bassorin, polysacchyrid, tanin. Ngoài
ra còn có các đường galactose, pentose và arabinosse.
Công dụng :
Thạch ươi là loại nước giải khát mát bổ, khả năng sinh tân dịch, thanh phế nhiệt, thanh
trường thông tiện, c dụng chữa các chứng ho khan, đau họng, nhức răng, đau mắt đỏ, lao
thương thổ huyết, đại tiện ra máu, mụn nhọt do nhiệt.
Kỹ thuật nhân giống, gây trồng
Nhân giống :
Cây ươi có thể nhân giống cả hữu tính và sinh dưỡng.
Nhân giống bằng hạt: Hạt ươi dễ nẩy mầm, nhưng do vỏ hạt chứa nhiều polysaccharids và
phồng to khi gặp nước nên dễ bị thối hoặc bị côn trùng, động vật đất làm hỏng. Hạt ươi sau khi
thu có thể gieo ngay hoặc phơi khô sau đó mới gieo. Thời vụ gieo hạt thường vào đầu đến giữa
mùa mưa. Tlệ nẩy mầm từ hạt cao, đạt trên 90%. Trong giai đoạn cây giống, cần che nắng
(khoảng 50%), tỷ lệ cây con sống sót rất thấp nếu không che nắng. Chuyển cây ra vườn trồng
vào đầu mùa a năm sau. Trong tự nhiên, cây ươi nẩy mầm từ hạt khá phổ biến, thể thu
nhặt cây con về trồng vào mùa mưa.
Nhân giống sinh ỡng: Chiết nh hiện được coi phương pháp nhân giống hiệu quả
nhất đối với y ươi. Cành chiết dễ dàng ra rễ ckhi xử chất kích thích hoặc không. Thời
gian thích hợp để chiết nh vào trước mùa mưa hàng năm. Sau một tháng kể tkhi xuất hiện
rễ trong bầu đất cành chiết đã bộ rễ phát triển tốt đạt tới 96,3%. Khi chuyển cành chiết ra
vườn ươm hoặc vườn trồng, giai đoạn đầu cần che nắng cho cây, khoảng 50% cường độ ánh
sáng. Tới nay, nhân giống cây ươi bằng phương pháp giâm cành chưa thành công, kể ckhi
sử dụng các chất kích thích ra rễ.
Kỹ thuật gây trồng :
Kỹ thuật y trồng: Đất trồng ươi cần chọn loại đất tốt, thoát nước. Khoảng cách giữa các
cây 6 x 7 mét. y ươi trồng từ hạt tlệ sống trung bình 75%, tốc độ sinh trưởng chiều cao
trong 3 năm đầu đạt 1 m/năm. Sau khi trồng 7 năm cây ươi có thể cho qu vụ đầu. Trong
những năm đầu, y ươi rất cần được che nắng, thể trồng xen cây ươi dưới tán các y gỗ
khác. một số nước (Trung Quốc, Indonesia, Malaysia) đã trồng ươi với diện tích tương đối
lớn và cho hiệu quả kinh tế cao. Các thí nghiệm trồng xen cây ươi với các cây kinh tế khác hiện
vẫn chưa thu được kết quả thuyết phục.
Để khắc phục tình trạng cây quá cao, không thuận lợi cho thu hoạch. Tại Vân Nam, Trung
Quốc các nhà khoa học đã dùng biện pháp ghép chồi bên ức chế sinh trưởng để tạo ra các
y ươi lùn có chiều cao 3-5 m, cành bên dài không quá 1 m. Với phương pháp này, 5 năm sau
khi trồng, cây ươi ra hoa lứa đầu tiên, năng suất quả cao và dễ thu hạt.
Khai thác, chế biến và bảo quản
Sản phẩm sử dụng trong thực phẩm của cây ươi hạt. Do y cao và dgẫy, hiện chưa
có phương pháp thu hái thật hiệu quả. Tuy nhiên để tránh phải chặt cây khi khai thác hạt, người
ta thường dọn sạch xung quanh y vào mùa quả chín, dùng sào dài có móc để kéo hoặc rung
cho quả, hạt rụng xuống để thu gom. Vỏ hạt hàm lượng polysaccharids cao hút nước
mạnh, vậy vào mùa hạt chín phải thu hạt kịp thời, nếu để chậm gặp a hạt sẽ hút nước
trương phồng và thối.
Bảo quản sản phẩm: Hạt ươi sau khi thu hoạch được làm sạch tạp chất, phơi hoặc sấy khô
tới độ ẩm 13%. Do khả năng hút nước cao, hạt ươi sau khi phơi sấy cần được bảo quản trong
các thiết bị kín hoặc đóng gói trong các bao nilon chống ẩm.
Chế biến sử dụng: Hạt ươi chủ yếu sử dụng đchế biến nước uống dạng thạch (jelly).
Cho hạt khô vào nước sôi, vỏ hạt hút nước và trương lên tạo thành dạng keo nhầy (gọi là thạch
ươi). Vớt bỏ hạt, bổ sung thêm đường, hương liệu và làm lạnh sẽ được một loại nước giải khát
hợp khẩu vị. Thạch ươi tác dụng thanh nhiệt, lợi tiểu, chữa các bệnh đường tiêu hoá. Để
làm thạch, một cốc nước (250 ml) cần 3-5 hạt khô, thể cho thêm các loại tinh dầu thơm
(nhài, chuối, bạc hà,..) sẽ được nước giải khát có mùi thơm theo sở thích.
Trong công nghiệp thực phẩm, thạch ươi thành phần của một số đồ uống có đường
đóng hộp.
Giá trị kinh tế, khoa học và bảo tồn
Ươi loại lâm sản giá trị kinh tế cao nguồn thu nhập quan trọng của người dân
một số khu vực các ớc Lào, Indonesia, Malaysia, Thái Lan, Campuchia Việt Nam.
Trung bình một cây trưởng thành cho năng suất 40 kg hạt khô/năm.
Sản lượng thu hái tại Việt Nam thể đạt mức trung bình 235 tấn hạt khô/năm. Lào một
trong những quốc gia xuất khẩu lớn, năm cao nhất (2001) sản lượng xuất khẩu đạt tới 1.700
tấn. Ghạt ươi trên thị trường thế giới dao động từ 1,5 đến 2,0 USD/kg. Việt Nam, hạt ươi
trên thị trường nội địa được bán với giá 30.000 35.000 đ/kg.
Ngoài việc tiêu thụ nội địa ở các nước có sản phẩm, hạt ươi chủ yếu xuất khẩu sang Trung
Quốc, một phần sang Pháp, Đài Loan. Nhu cầu thị trường hạt ươi tương đối lớn ổn định,
nhưng nguồn cung cấp không lớn và dao động theo chu k.
Giá trị nguồn gen bảo tồn: ươi y có giá trkinh tế cao, nhưng thường bị chặt hạ khi
thu hạt, nên số lượng thể có thể bị giảm sút nhanh chóng. Cần biện pháp cấm chặt y
khi thu hạt và nghiên cứu biện pháp thu hái bền vững.
Tài liệu tham khảo
1. Đỗ Huy Bích và cộng sự, 2003. Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam, tập II. Trang 184. Nxb Y học, Hà
Nội; 2. Nguyễn Tiến Bân, 2003. Sterculiaceae Barth. 1830 Họ Trôm. Danh lục các loài thực vật Việt Nam, tập II
(Nguyễn Tiến Bân Chủ biên). Trang 548. Nxb Nông nghiệp, Nội; 3. Văn Chi, 1999. Từ điển cây thuốc Việt
Nam. Trang 685 686. Nxb Y học, Nội; 4. Hồ Hỷ, 2005. Ươi bay, một tiềm năng lớn chưa được phát triển Thừa
Thiên Huế. Bản tin LSNG. Mạng lưới iLSNG Việt Nam. Vol 2 3, tháng 7/2005. Trang 22 25; 5. Jenne H. de Beer,
1993. Non-wood foest products in Indochina Focus: Vietnam. FAO Rome, Fo: Misc/93/5 Working paper D/V 0782, 15;
6. Joost Foppes, 2003. The role of non-timber forest product in co mmunity based natural resources management in
Lao PDR. Regional wokshop on co mmunity Based natural resources management (CBNRM). Bhutan, 4-7 nov.; 7. Li
R., Wu J., 2003. Success and problems on introduction of Scaphium lychnophorum at Xishuangbana. Zhong Yao Cai;
Aug, 26(8): 545- 6. 8. Wu J., Li R., Li E., 1997. Study on stunted culture of Scanphium lychnophorum. Zhong Yao Cai.
Feb., 20(2): 55-6.