Đánh giá độ nhạy và độ đặc hiệu kính hiển vi
huỳnh quang Cyscope(R) trong phát hiện và
chẩn đoán ký sinh trùng sốt rét
Với công nghệ siêu vi năm 2010, các thế hệ mới của kính hiển vi ra đời đáp ứng
khắc phục nhiều nhược điểm của thế hệ kính hiển vi . Công trình nghiên cứu
do nhóm tác gi Saad El-Din H Hassan, Somia I Okoued, Mahmoud A
Mudathir,Elfatih M Malik đăng trên tạp chí Malaria Journal 2010,
9:88doi:10.1186/1475-2875-9-88 với tóm tắt về đề tài nghiên cứu đánh giá độ
nhạy, độ đặc hiệu và các giá trkhác liên quan đến chẩn đoán sinh trùng sốt
rét.
Chn đoán sớm và điều trị sốt rét là mt trong những thành t cần thiết và vô cùng
quan trọng trong phòng chống sốt rét. Kỹ thuật chuẩn vàng soi kính hiển vi độ
nhạy, độ đặc hiệu cao, nhưng quy trình tốn nhiều thời gian, đặc biệt trong các vụ
dịch và trong các vùng st rét lưu hành cao. Nghn cứu nàycgắng kiểm tra độ
nhạy độ đặc hiệu ca một công cchẩn đoán mới kính hiển vi hunh quang
Cyscope(R), da trên nguyên s dụng thuốc nhuộm màu hunh quang đặc biệt
với acid nucleic của Plasmodium h trợ phát hiện ký sinh trùng ngay cả khi mật độ
sinh trùng st rét thấp do độ tương phn vi nền cao.
Vphương pháp, trong nghiên cứu này, nhóm nghiên cứu đã đưa vào đưc 239
bệnh nhân có sốt, tuổi đu trên 18 tham gia vào Trung tâm điu trị sốt rét tại bang
Sinnar (Sudan) đưc phỏng vấn và s dụng bộ câu hỏi để hỏi theo dạng câu hỏi
cấu trúc (struture questionaires).Các mẫu máu lấy từ đầu ngón tay được lấy từ các
bệnh nhân đkiểm tra sinh trùng st rét thông qua sử dụng kính hiển vi tại
bệnh viện, kính hiển vi tại la đ tham chiếu và c xem trên nh hiển vi
Cyscope(R). Quy trình bao gồm các bước sau:
Bước 1: Lấy máu đầu ngón tay n quy trình láy máu trên lam máu st rét nhuộm
giêm sa;
Bước 2: Đặt giọt máu lên trên lam nhuộm đặc biệt “Partec Malaria Test Slide”;
Bước 3: Lấy lamen đặt lên trên đem soi dưới kính hiển vi hunh quang
Cyscope(R);
Bước 4: Phân tích các hình nh nhận dạng được trên lam máu đã chuẩn b sẵn
sàng.
Kết quả ca các nhà điều tra cho thấy sử dụng cách tính toán độ nhy và đ đặc
hiu , giá trị dự kiến âm tính, giá trị dự kiến dương nh (sensitivity, specificity,
positive and negative predictive values) ca k thuật kính hiển vi hunh quang
Cyscope(R) so sánh với chuẩn vàng xét nghiệm kính hiển vi thông thường.
Kết qucho biết độ nhạy là 98.2% (95% CI: 90.6% - 100%); đđặc hiệu = 98.3%
(95% CI: 95.7% - 99.5%); giá trdkiến dương nh = 93.3% (95% CI: 83.8% -
98.2%); giá trdkiến âm tính = 99.6% (95% CI: 97.6% - 100%). Kết luận rằng
kính hiển vi hunh quang Cyscope(R) cho đnhạy, độ đặc hiệu, kết qunhanh,
đáng tin cậy và vấn đề đặc biệt là chtrong < 10 phút. Kính hiển vi Cyscope(R) có
thlà một lựa chọn trong chẩn đoán sốt rét vì rtiền, tiết kiệm thời gian, đặc
biệt ở những vùng Plasmodium falciparum loại KSTSR lưu hành chủ yếu.
Được biết các thế h của kính hiển vi hunh quang (Fluorescence Microscope)
loại y độ nhy rất cao trong phát hiện, chẩn đoán 3 căn bệnh đang được xem
những kẻ giết nời trên toàn cầu “Global killer diseases", HIV/ AIDS, lao và
sốt rét, đây là kỹ thuật chn đoán cho kết quả nhanh, đáng tin cậy và nh quyết
đnh xác định ca bnh trong lĩnh vc thực hành la hiện đại (modern
laboratory practices). Chẳng hạn, trong bối cảnh hạn chế về nguồn nhân lực, lao
được chẩn đoán thông qua các mẫu bệnh phẩm đờm soi ới kính hiển vi dựa trên
các k thuật kính hiển vi hunh quang chỉ ra kết quả nhạy hơn nhiều so với nh
hin vi cổ điển, những nơi mà vi khuẩn lao M. tuberculosis trên một số trường hợp
không nhìn thấy.
Kính hiển vi loại này có thmang đi, di chuyển ddàng tại các địa điểm khác
nhau hoạt động dựa vào pin loi CyScope đặc điểm vừa hunh quang vừa dẫn
truyền ánh ng này, cho hthống quang với độ nhạy cao và k thuật công nghệ
đènLED, đảm bảo nh tăng năng nguyên ttừ mức độ thấp nhất và hiệu qucũng
như độ tương phản và chất lượng ảnh cao nhất. Do chất lượng hệ quang học cao
cải tiến, kính hiển vi CyScope thể sử dụng ddàng bên ngoài phòng ti
trong kih điều này lại rất cần thiết với yêu cầu của kính hiển vi hunh quang kinh
đin. Do công nghệ đèn LED hiện đại, bất kỳ nhu cầu nào vthay mới bóng đèn
và nguồn sáng đề không phải là “vấn đề” đáng quan ngại.