
57
Phạm Văn Tự và cs. Tạp chí Phụ sản 2025; 23(3): 57-61. doi: 10.46755/vjog.2025.3.1913
Đánh giá hiệu quả giảm đau bằng phương pháp gây tê ngoài màng cứng trong chuyển
dạ đẻ
Phạm Văn Tự1*, Đỗ Minh Thu1, Lê Tr ường Giang1, Bùi Thị Kim Dung2, Lê Quang Vinh2
1 Bệnh viện Đa khoa Hà Đông
2 Bệnh viện Vinmec Times City
doi: 10.46755/vjog.2025.3.1913
Tác giả liên hệ (Corresponding author): Phạm Văn Tự, email: dr.phamvantu2013@gmail.com
Nhận bài (received): 14/10/2025 - Chấp nhận đăng (accepted): 3/11/2025
Tóm tắt
Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả giảm đau bằng phương pháp gây tê ngoài màng cứng trong chuyển dạ đẻ tại Bệnh viện đa
khoa (BVĐK) Hà Đông và kết quả kết thúc chuyển dạ đối với các sản phụ và thai nhi.
Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả hồi cứu.
Kết quả: Tuổi sản phụ của bốn nhóm nghiên cứu từ 18 đến 37. Tuổi trung bình là 26,6 ± 4,2. Chiều cao của sản phụ từ 148
cm đến 168 cm. Chiều cao trung bình là 157,97 ± 4,25. Cân nặng sản phụ từ 51 - 80 kg, trung bình là 64,06 ± 6,25. Độ mở
CTC của sản phụ tại thời điểm làm giảm đau nhóm nghiên cứu đều trong khoảng từ 3 cm - 5 cm. Phần lớn các sản phụ
trong nhóm nghiên cứu thuộc ASA I chiếm 82,2%. Trước gây tê, đa số các sản phụ cảm thấy đau nhiều với thang điểm
VAS 7 - 8 (73,4%0 và 9 - 10 (23,3%). Điểm đau trung bình là 1,88 ± 0,76. Sau gây tê 15 phút, các sản phụ thấy đau nhẹ
với thang điểm VAS 1 - 3 (92,2%) và 4 - 6 (7,8%). Trong 2 giờ đầu sau đẻ, tử cung co hồi tốt chiếm tỉ lệ 91,1%, có 8 trường
hợp tử cung co hồi kém chiếm tỉ lệ 8,9%. Đa số các sơ sinh sau đẻ có chỉ số APGAR tốt > 8 điểm. Sự khác biệt không có
ý nghĩa thống kê giữa chỉ số APGAR sau 1 phút và sau 5 phút
Kết luận: Điểm đau trung bình trước gây tê là 7,88 ± 0,76, sau gây tê 15 phút là 2,32 ± 0,78. Sau sinh, đa số các trường
hợp co hồi tử cung tốt (91,1%). Chỉ số APGAR trung bình sau 1 phút là 9,0 ± 0,6, sau 5 phút là 9,5 ± 0,8
Từ khóa: giảm đau, gây tê ngoài màng cứng ,chuyển dạ đẻ, BVĐK Hà Đông.
Evaluation of the analgesic effectiveness of epidural anesthesia during labor
Pham Van Tu¹*, Do Minh Thu¹, Le Truong Giang¹, Bui Thi Kim Dung2, Le Quang Vinh2
¹ Ha Dong General Hospital
2 Vinmec Times City Hospital
Abstract
Objective: To evaluate the effectiveness of epidural anesthesia for pain relief during labor at Ha Dong General Hospital,
and to assess labor outcomes for mothers and newborns.
Methods: A retrospective descriptive study.
Results: The age of the parturients in the four study groups ranged from 18 to 37 years, with a mean age of 26.6 ± 4.2
years. Their height ranged from 148 cm to 168 cm, with a mean height of 157.97 ± 4.25 cm. The body weight ranged from
51 to 80 kg, with a mean of 64.06 ± 6.25 kg. The cervical dilation at the time of initiating analgesia was between 3 cm
and 5 cm in all study participants. Most parturients were classified as ASA I, accounting for 82.2%. Before anesthesia,
the majority of parturients experienced severe pain, with VAS scores of 7 - 8 in 73.4% and 9 - 10 in 23.3% of cases. The
mean pain score was 7.88 ± 0.76. After 15 minutes of epidural anesthesia, most parturients reported mild pain, with VAS
scores of 1 - 3 in 92.2% and 4 - 6 in 7.8% of cases.During the first two hours after delivery, good uterine contraction was
observed in 91.1% of cases, while poor uterine contraction occurred in 8 cases (8.9%). Most newborns had good APGAR
scores (> 8). The difference between APGAR scores at 1 minute and 5 minutes was not statistically significant.
Key words: Analgesia, epidural anesthesia, labor, Ha Dong General Hospital.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Đau trong chuyển dạ thường là những cơn đau
nhiều và kéo dài do cơ tử cung co bóp, cơn đau làm sản
phụ kích thích, lo lắng, sợ hãi. Sự đau đớn cùng do các
khớp xương và phần mềm ở khung chậu giãn ra khi thai
di chuyển xuống. Giảm đau trong đẻ đã trở thành mục
tiêu nghiên cứu không chỉ của bác sỹ sản khoa mà còn
là mục tiêu của bác sỹ gây mê hồi sức, dược sĩ và các
nhà y học giúp giảm đau cho các sản phụ [1].
Năm 1930, kỹ thuật gây tê ngoài màng cứng được
áp dụng trong mổ sản khoa và tới năm 1946 được áp
dụng giảm đau trong đẻ. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra
SẢN KHOA - SƠ SINH

58
Phạm Văn Tự và cs. Tạp chí Phụ sản 2025; 23(3): 57-61. doi: 10.46755/vjog.2025.3.1913
rằng So với gây tê tủy sống và gây mê toàn thân thì
gây tê ngoài màng cứng có nhiều ưu điểm nhưng ít ảnh
hưởng hô hấp, tỉ lệ tụt huyết áp thấp, dễ kiểm soát quá
trình giảm đau có thể giảm đau kéo dài qua catheter [2].
Tại bệnh viện đa khoa Hà Đông, chúng tôi áp dụng
phương pháp giảm đau trong đẻ bằng gây tê ngoài
màng cứng từ năm 2015 và phát triển rộng rãi hơn cho
đến nay. Vì vậy để đánh giá một cách toàn diện về ưu
điểm, nhược điểm của phương pháp này từ đó đưa ra
chiến lược hiệu quả giúp cho sản phụ không đau trong
lúc chuyển dạ nhưng vẫn đảm bảo chuyển dạ thuận lợi,
chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh giá hiệu quả
giảm đau bằng phương pháp gây tê ngoài màng cứng trong
chuyển dạ đẻ tại bệnh viện đa khoa Hà Đông” với hai mục
tiêu:
1. Đánh giá hiệu quả giảm đau bằng phương pháp gây
tê ngoài màng cứng trong chuyển dạ đẻ tại Bệnh viện Đa
khoa Hà Đông.
2. Kết quả kết thúc chuyển dạ đối với các sản phụ và
thai nhi.
2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Thiết kế nghiên cứu
- Nghiên cứu mô tả mô tả hồi cứu.
2.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Địa điểm: Khoa Phụ Sản - Bệnh viện đa khoa Hà Đông.
- Thời gian nghiên cứu: Tháng 1/2024 - 12/2024.
2.3. Đối tượng nghiên cứu
Sản phụ có chỉ định giảm đau trong chuyển dạ đẻ
bằng phương pháp gây tê ngoài màng cứng tại khoa
Phụ sản - Bệnh viện đa khoa Hà Đông từ tháng 01/2024
đến tháng 12/2024.
Tiêu chuẩn lựa chọn
- Sản phụ và gia đình đồng ý giảm đau bằng gây tê
NMC trong khi chuyển dạ và rặn sinh.
- Có chỉ định đẻ theo đường tự nhiên.
- Không có chống chỉ định GTNMC
Tiêu chuẩn loại trừ
- Có bệnh lí kèm theo: Bệnh lý tim mạch, cường giáp,
đái tháo đường, nhược cơ nặng, suy thận.
- Có - Dị ứng với thuốc gây tê nhóm amide.
- Nhiễm trùng nơi chọc dò.
- Bệnh lý đông chảy máu hoặc đang dùng thuốc
chống đông.
- Huyết áp thấp chưa được điều chỉnh chống chỉ
định sinh đường âm đạo.
2.4. Cỡ mẫu, chọn mẫu
Cỡ mẫu: chọn tất cả các đối tượng thỏa mãn các
tiêu chuẩn chọn đối tượng trong thời gian từ 1/2024 -
12/2024: 90 sản phụ
Phương pháp chọn mẫu: Chọn mẫu không xác suất
2.5. Nội dung nghiên cứu
Thông tin chung của sản phụ: Tuổi, chiều cao, cân
nặng, phân độ ASA, tuổi thai, trọng lượng thai.
Đánh giá hiệu quả giảm đau: Thời gian giảm đau,
Thang điểm đau, Tác dụng không mong muốn, Mức độ
phong bế vận động, Mức độ hài lòng
Kết quả kết thúc chuyển dạ: Phương thức sinh,
Nguyên nhân mổ, Mức độ rách TSM, Go hồi tử cung,
Chỉ số Apgar
2.6. Xử lý và phân tích số liệu
Xử lý và phân tích số liệu bằng phần mềm SPSS 23.
Phần thống kê mô tả: sử dụng các phép thống kê mô tả
như tần số, tỉ lệ %, trung bình ± độ lệch chuẩn. Sử dụng
thống kê phân tích: mức ý nghĩa thống kê p < 0,05).
2.7. Đạo đức nghiên cứu
Nghiên cứu được thông qua bởi Hội đồng khoa học
kỹ thuật bệnh viện đa khoa Hà Đông. Nghiên cứu được
sự đồng ý của Ban lãnh đạo BV, lãnh đạo khoa tiến hành
thực hiện đề tài.
3. KẾT QUẢ
3.1. Đặc điểm chung của các đối tượng nghiên cứu
Bảng 1. Thông tin chung
của đối tượng nghiên cứu
Đặc điểm X ± SD (min-max)
Tuổi (năm) 26,6 ± 4,2 (18 - 37)
Chiều cao (cm) 157,97 ± 4,25 (148 - 168)
Cân nặng (kg) 64,06 ± 6,25 (51 - 80)
Mở CTC (cm) 3,26 ± 0,55 (3 - 5)
Tuổi sản phụ của bốn nhóm nghiên cứu từ 18 đến
37. Tuổi trung bình là 26,6 ± 4,2. Chiều cao của sản phụ
từ 148 cm đến 168 cm. Chiều cao trung bình là 157,97
± 4,25. Cân nặng sản phụ từ 51 - 80 kg, trung bình là
64,06 ± 6,25. Độ mở CTC của sản phụ tại thời điểm
làm giảm đau nhóm nghiên cứu đều trong khoảng từ
3 cm - 5 cm.
Bảng 2. Phân độ ASA của đối tượng nghiên cứu
Phân độ ASA Số lượng (n) Tỉ lệ (%)
I74 82,2
II 16 17,3
Tổng 90 100
Phần lớn các sản phụ trong nhóm nghiên cứu thuộc
ASA I chiếm 82,2%.

59
Phạm Văn Tự và cs. Tạp chí Phụ sản 2025; 23(3): 57-61. doi: 10.46755/vjog.2025.3.1913
Bảng 3. Mức độ giảm đau theo thang điểm đau VAS
Thang điểm đau Trước gây tê Sau gây tê 15 phút p
Số lượng (n) Tỉ lệ (%) Số lượng (n) Tỉ lệ (%)
0 0 0 0 0
p < 0,05
1 - 3 0 0 83 92,2
4 - 6 3 3,3 7 7,8
7 - 8 66 73,4 0 0
9 - 10 21 23,3 0 0
± SD 7,88 ± 0,76 2,32 ± 0,78
Trước gây tê, đa số các sản phụ cảm thấy đau nhiều với thang điểm VAS 7-8 (73,4%0 và 9-10 (23,3%). Điểm đau
trung bình là 1,88 ± 0,76. Sau gây tê 15 phút, các sản phụ thấy đau nhẹ với thang điểm VAS 1-3 (92,2%) và 4-6 (7,8%).
Sự khác biệt về mức độ đau trước và sau tê có ý nghĩa thống kê với p<0,05.
Bảng 4. Co hồi tử cung
Co hồi tử cung Số lượng (n) Tỉ lệ (%)
Tốt 82 91,1
Kém 88,9
Tổng 90 100
Trong 2 giờ đầu sau đẻ, tử cung co hồi tốt chiếm tỉ lệ 91,1%, có 8 trường hợp tử cung co hồi kém chiếm tỉ lệ 8,9%.
Trong 24h sau sinh, tất cả sản phụ có tử cung co hồi tốt
Bảng 5. Chỉ số Apgar
Chỉ số Apgar Sau 1 phút Sau 5 phút p
Số lượng % Số lượng %
< 7 1 1,1 0 0
p > 0,05
7 2 2,2 1 1,1
8 8 8,9 3 3,3
967 74,4 35 38,9
10 12 13,3 51 56,7
X± SD 9,0 ± 0,6 9,5 ± 0,8
Đa số các sơ sinh sau đẻ có chỉ số APGAR tốt > 8 điểm. Sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê giữa chỉ số
APGAR sau 1 phút và sau 5 phút
X
4. BÀN LUẬN
Nghiên cứu của chúng tôi đã chỉ Tuổi sản phụ của
bốn nhóm nghiên cứu từ 18 đến 37. Tuổi trung bình là
26,6 ± 4,2. Chiều cao của sản phụ từ 148 cm đến 168
cm. Chiều cao trung bình là 157,97 ± 4,25. Cân nặng
sản phụ từ 51 - 80 kg, trung bình là 64,06 ± 6,25. Độ
mở CTC của sản phụ tại thời điểm làm giảm đau nhóm
nghiên cứu đều trong khoảng từ 3 cm - 5 cm. Đó là độ
tuổi sinh đẻ của người phụ nữ, phụ nữ lớn tuổi có sự dãn
nở khung chậu kém hơn so với phụ nữ trẻ tuổi do đó dễ
tăng nguy cơ đẻ khó. Thấp hơn tuổi trung bình trong
nghiên cứu của Trần Văn Quang tuổi (30,37 ± 3,99 tuổi),
chiều cao (157,63 ± 2,20 cm), cân nặng (61,70 ± 2,98 kg)
[3], và tương tự tuổi trong nghiên cứu của Vallejo (28,7 ±
5,6) [4], nghiên cứu của Nguyễn Duy Hưng (26,8 ± 3,15)
[5]. Có lẽ do nghiên cứu của Trần Văn Quang trên những
sản phụ con rạ, Nguyễn Duy Hưng, Vallejo nghiên cứu
trên cả con so và con rạ tương tự như nghiên cứu của
chúng tôi.
Giảm đau trong chuyển dạ bằng phương pháp
GTNMC được chỉ định vào pha hoạt động của giai đoạn
1 chuyển dạ, tức là khi CTC mở lớn hơn hoặc bằng 3 cm.
Người ta cũng không GTNMC vào giai đoạn CTC mở trên
5 cm vì khi đó sản phụ thường rất đau và CTC mở rất
nhanh sẽ ảnh hưởng đến chất lượng giảm đau. Nghiên
cứu của chúng tôi, GTNMC khi CTC mở 3 - 5 cm. Độ mở

60
Phạm Văn Tự và cs. Tạp chí Phụ sản 2025; 23(3): 57-61. doi: 10.46755/vjog.2025.3.1913
CTC trung bình của nhóm 1 là: 3,26 ± 0,55 cm. Tương tự
với độ mở CTC tại thời điểm GTNMC trong nghiên cứu
của Vallejo (3,3 ± 1,3) [4].
Phân độ ASA
Phân độ ASA của sản phụ Đặc điểm về phân loại
bệnh tật theo Hội gây mê hồi sức Hoa Kỳ (ASA) có liên
quan đến khả năng gắng sức để rặn đẻ của sản phụ.
Nghiên cứu của chúng tôi chỉ chọn các sản phụ có ASA
I hoặc ASA II. Chủ yếu là ASA I chiếm tỉ lệ 82,2%. Như
vậy các sản phụ đều khỏe mạnh, có khả năng gắng sức
tốt khi sinh ngả âm đạo.
Mức độ giảm đau theo thang điểm đau VAS
Giảm đau trong chuyển dạ thường được bắt đầu
thực hiện vào pha hoạt động của giai đoạn 1 của quá
trình chuyển dạ (giai đoạn 1b). Tại thời điểm này, CTC
mở ≥ 3 cm, cơn co TC mau và mạnh làm cho sản phụ
rất đau do đó sản phụ yêu cầu giảm đau, chính vì vậy
trước khi gây tê, điểm VAS thường rất cao, sản phụ đau
nhiều hoặc rất đau. Sau khi gây tê, khi thuốc tê phát
huy tác dụng thì điểm đau giảm mạnh, sản phụ đau nhẹ
hoặc không đau, tạo một cảm giác rất thoải mái và dễ
chịu cho sản phụ. Sản phụ có thể thư giãn nghỉ ngơi,
giữ sức để rặn đẻ hiệu quả hơn. Nghiên cứu của Trần
Văn Quang [3], trước khi gây tê 100% sản phụ có mức
độ đau vừa và đau nhiều, điểm VAS trung bình 6,10. Sau
khi gây tê, trong giai đoạn 1 là 0,57; giai đoạn 2 là 1,63;
khi làm thủ thuật là 1,03. Nghiên cứu của Sheiner [6],
điểm VAS trước khi gây tê trung bình là 8,9 và sau khi
gây tê là 5,05. Nghiên cứu của Lovach Chepujnoska [7]
và cộng sự, điểm VAS trước gây tê 6,74. Sau khi gây tê
1 giờ: 0,96; sau 2 giờ là 1,88; sau 3 giờ là 2,78; sau 4 giờ
là 2,25; và sau 5 giờ là 2,45. Nghiên cứu của Lim Y [8],
điểm VAS trước gây tê trung bình là 7 và sau khi gây tê:
từ 0 đến 3,5. Tương tự với các nghiên cứu trên, kết quả
nghiên cứu của chúng tôi điểm VAS trung bình trước
khi gây tê là: 7,97 ± 0,76. Sau gây tê 15, điểm VAS trung
bình là 2,32 ± 0,78. Tất cả các sản phụ đều có VAS ≤ 3,
và thấp hơn có ý nghĩa so với trước khi gây tê. Sự khác
biệt về thang điểm VAS trước gây tê và sau gây tê 15
phút có ý nghĩa thống kê với p < 0,05. Như vậy GTNMC
có tác dụng giảm đau hiệu quả trong chuyển dạ.
Co hồi tử cung
Trong nghiên cứu của chúng tôi trên 90 sản phụ có
chỉ định giảm đau trong chuyển dạ bằng phương pháp
gây tê ngoài màng cứng, kết quả theo dõi cơn gò tử
cung cho thấy đa số sản phụ có cơn co tốt (91,1%), chỉ
có 8,9% trường hợp ghi nhận cơn co kém. Điều này cho
thấy phương pháp gây tê ngoài màng cứng, với phác
đồ thuốc và kỹ thuật thực hiện trong nghiên cứu, nhìn
chung không ảnh hưởng bất lợi đến hoạt động co bóp
của tử cung. Kết quả này phù hợp với nhiều nghiên cứu
trước đây cũng ghi nhận gây tê ngoài màng cứng không
làm thay đổi đáng kể tần số và cường độ cơn gò tử cung,
mặc dù có thể kéo dài nhẹ giai đoạn hoạt động của
chuyển dạ nếu không có sự hỗ trợ bằng truyền oxytocin.
Tỉ lệ 8,9% sản phụ có cơn gò kém trong nghiên cứu
của chúng tôi có thể được giải thích bởi một số nguyên
nhân: tác dụng ức chế một phần dẫn truyền thần kinh
giao cảm - phó giao cảm của thuốc tê; khác biệt trong
đáp ứng cá thể và tình trạng cổ tử cung tại thời điểm
khởi mê; ảnh hưởng của các yếu tố sản khoa kèm theo
như ngôi thai, tình trạng ối hoặc can thiệp sản khoa
trong quá trình theo dõi. Tuy nhiên, tỉ lệ này tương đối
thấp và hoàn toàn có thể kiểm soát được bằng các
biện pháp hỗ trợ sản khoa (ví dụ: truyền oxytocin khi
cần thiết). Kết quả nghiên cứu khẳng định gây tê ngoài
màng cứng vừa đảm bảo hiệu quả giảm đau, vừa duy trì
được cơn gò tử cung cần thiết cho cuộc chuyển dạ, góp
phần chứng minh tính an toàn và hiệu quả của phương
pháp này trong thực hành lâm sàng
Chỉ số Apgar
Trong nghiên cứu của chúng tôi trên 90 sản phụ
được gây tê ngoài màng cứng để giảm đau trong
chuyển dạ, kết quả theo dõi chỉ số Apgar của trẻ sơ sinh
cho thấy phần lớn trẻ đều có tình trạng hô hấp và tuần
hoàn ổn định ngay sau sinh. Sau 1 phút, có tới 87,7%
trẻ đạt Apgar từ 9 - 10 điểm, trong đó điểm 9 chiếm tỉ
lệ cao nhất (74,4%), tiếp đến là 10 điểm (13,3%). Chỉ có
11,1% trẻ có Apgar từ 7 - 8 điểm và duy nhất 1 trường
hợp (1,1%) dưới 7 điểm. Giá trị trung bình ± SD ở thời
điểm này đạt 9,0 ± 0,6, phản ánh nhìn chung trẻ sau
sinh ít bị ảnh hưởng bởi phương pháp giảm đau. Đến
phút thứ 5, tình trạng trẻ được cải thiện rõ rệt: tỉ lệ đạt
Apgar 10 điểm tăng lên 56,7%, trong khi điểm 9 giảm
còn 38,9%, không còn trường hợp nào dưới 7 điểm. Giá
trị trung bình tăng lên 9,5 ± 0,8, chứng tỏ sự thích nghi
tốt hơn của trẻ sau sinh. Mặc dù có sự thay đổi theo
hướng cải thiện, sự khác biệt giữa Apgar sau 1 phút và
5 phút không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05). Điều này
cho thấy gây tê ngoài màng cứng không ảnh hưởng bất
lợi đến sức khỏe sơ sinh ngay sau sinh. Kết quả này phù
hợp với nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước, khi hầu
hết các tác giả đều ghi nhận Apgar ≥ 7 ở trên 95% trẻ
có mẹ được gây tê ngoài màng cứng. Như vậy, có thể
khẳng định rằng gây tê ngoài màng cứng trong chuyển
dạ không chỉ giúp giảm đau hiệu quả cho sản phụ mà
còn an toàn đối với trẻ sơ sinh, không làm tăng nguy cơ
suy hô hấp hay giảm chỉ số Apgar ngay sau sinh
5. KẾT LUẬN
Điểm đau trung bình trước gây tê là 7,88 ± 0,76, sau
gây tê 15 phút là 2,32 ± 0,78. Sau sinh, đa số các trường
hợp co hồi tử cung tốt (91,1%). Chỉ số APGAR trung bình
sau 1 phút là 9,0 ± 0,6, sau 5 phút là 9,5 ± 0,8
6. KHUYẾN NGHỊ
Nên áp dụng rộng rãi phương pháp gây tê ngoài
màng cứng (GTNMC) trong chuyển dạ tại các cơ sở sản
khoa, vì phương pháp này cho thấy hiệu quả giảm đau
cao, an toàn và được sản phụ hài lòng.

61
Phạm Văn Tự và cs. Tạp chí Phụ sản 2025; 23(3): 57-61. doi: 10.46755/vjog.2025.3.1913
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ môn Gây mê hồi sức, Đại học y Hà Nội. Gây tê tủy
sống và tê ngoài màng cứng. Bài giảng gây mê hồi sức
cơ sở. Nhà xuất bản Y học; . 2020;tr 330-335.
2. Đào Thị Bích Phượng. Đánh giá hiệu quả của gây tê
tủy sống kết hợp gây tê ngoài màng cứng để giảm đau
trong và sau mổ lấy thai chọn lọc. Luận văn thạc sỹ y
học. Trường Đại học Y dược thành phố Hồ Chí Minh.
2010.
3. Trần Văn Quang, Bùi Ích Kim. Đánh giá hiệu quả giảm
đau trong chuyển dạ đẻ bằng gây tê ngoài màng cứng
levobupivacain phối hợp với fentanyl ở các nồng độ và
liều lượng khác nhau. Luận văn thạc sĩ y học. 2011.
4. Vallejo MC1, Ramesh V, Phelps AL, et al. Epidural
labor analgesia: continuous infusion versus patient-
controlled epidural analgesia with background infusion
versus without a background infusion. J Pain. 2007 Dec;
8(12):970-5. Epub 2007 Aug 7.
5. Nguyễn Duy Hưng, Nguyễn Quốc Tuấn. Đánh giá hiệu
quả của gây tê ngoài màng cứng lên cuộc chuyển dạ đẻ
trên sản phụ đẻ con so tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương
từ tháng 12/2010 đến tháng 4/2011. Luận văn Bác sĩ nội
trú. 2011.
6. Sheiner E, Shoham-Vardi I, Sheiner EK et aL. A
comparison between the effectiveness of epidural
analgesia and parenteral pethidine during labor. Arch
Gynecol Obstet. 2000;263(3):95-8.
7. Margarita Lovach-Chepujnoska, Jordan Nojkov,
SlagianaJoshevska – Jovanovska et al. Continuous
versus patient-controlled epidural analgesia for labour
analgesia and their effects on maternal motor function
and ambulation. Contributions. Sec. Med. Sci. 2014;
XXXV 2.
8. Lim Y, Ocampo CE, Supandji M, et al. A randomized
controlled trial of three patient-controlled epidural
analgesia regimens for labor. AnesthAnalg. 2008 Dec;
107(6): 1968-72.

