
vietnam medical journal n01&2 - january - 2020
128
của chúng tôi cũng phù hợp với báo cáo của các
tác giả ở trên.
Nhìn chung phenylephrine có tác động rất ít
lên sự tăng đường huyết. Glucose máu trước mổ
của nhóm bệnh nhân nghiên cứu là 5,2 ± 1,0;
đường máu khi tuần hoàn ngoài cơ thể là 6,0 ±
1,5; tăng có ý nghĩa thống kê so với đường máu
trước mổ, tuy nhiên mức tăng vẫn trong giới hạn
bình thường.
Hệ thống dây dẫn máu của máy tuần hoàn
ngoài cơ thể cần được lấp đầy bằng các dịch tinh
thể trước khi kết nối với bệnh nhân để tránh khí
vào tuần hoàn. Thể tích dịch mồi này thường
khoảng 30% thể tích máu của người lớn, tỷ lệ
này có thể cao hơn và thậm chí lớn hơn tổng thể
tích máu ở trẻ em và trẻ sơ sinh. Khi hòa loãng
thỏa đáng, có tác dụng làm giảm độ nhớt máu
và tăng dòng máu tới não. Nghiên cứu của
Karkouti và cộng sự năm 2005 thực hiện trên
10.949 ca phẫu thuật tim có sử dụng tuần hoàn
ngoài cơ thể đã đánh giá: khi hematocrit xuống
thấp dưới 23%, bệnh nhân có nhiều nguy cơ bị
tai biến mạch não, nhồi máu cơ tim, giảm cung
lượng tim, tổn thương thận, kéo dài thời gian
thở máy, phù phổi và nhiễm trùng. Khi
hematocrit xuống thấp dưới 19% sẽ tăng tỷ lệ tử
vong của bệnh nhân [8]. Hematocrit trước mổ
của nhóm nghiên cứu là 36 ± 6, trong khi tuần
hoàn ngoài cơ thể là26 ± 4 và sau mổ là 32 ± 8,
đều nằm trong giới hạn bình thường.
V. KẾT LUẬN
Có 25% số bệnh nhân dùng thuốc xuất hiện
mạch chậm phản xạ. 20% số bệnh nhân trong
đó cần sử dụng atropin điều trị. Phenylephrine
làm tăng áp lực tĩnh mạch trung tâm, cao nhất
vào thời điểm T3 (tăng 9,2%). 7,5% số bệnh
nhân xuất hiện tăng huyết áp sau tiêm
phenylephrine, nhưng nhanh chóng trở về bình
giá trị bình thường.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. J. B. Bijker, W. A. van Klei, T. H. Kappen et al
(2007). Incidence of intraoperative hypotension
as a function of the chosen definition: literature
definitions applied to a retrospective cohort using
automated data collection. Anesthesiology, 107(2),
213-220.
2. Mebazaa, A. A. Pitsis, A. Rudiger et al (2010).
Clinical review: practical recommendations on the
management of perioperative heart failure in cardiac
surgery. Crit Care, 14(2), 201.
3. C. McGaw, M. Scarlett, R. Irvine et al (2007).
Vasopressin for refractory hypotension during
cardiopulmonary bypass. West Indian Medical
Journal, 56, 550-554.
4. M. Licker, J. Diaper, V. Cartier et al (2012).
Clinical review: management of weaning from
cardiopulmonary bypass after cardiac surgery. Ann
Card Anaesth, 15(3), 206-223.
5. W. Bouma, I. J. Wijdh-den Hamer, B. M. Koene
et al (2015). Long-term survival after mitral valve
surgery for post-myocardial infarction papillary
muscle rupture. J Cardiothorac Surg, 10, 11.
6. S. Solanki, S. Ramaswamy, L. Yaddanapudi
et al (2012). Perioperative predictors of morbidity
and mortality following cardiac surgery under
cardiopulmonary bypass. Saudi Journal of
Anaesthesia, 6(3),
7. M. Cannesson, Z. Jian, G. Chen et al (2012).
Effects of phenylephrine on cardiac output and
venous return depend on the position of the heart
on the Frank-Starling relationship. J Appl Physiol
(1985), 113(2), 281-289.
8. K. Karkouti, G. Djaiani, M. A. Borger et al
(2005). Low hematocrit during cardiopulmonary
bypass is associated with increased risk of
perioperative stroke in cardiac surgery. Ann Thorac
Surg, 80(4), 1381-1387.
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ PHẪU THUẬT NHỔ RĂNG KHÔN
HÀM DƯỚI MỌC LỆCH TẠI BỆNH VIỆN QUÂN Y 103
Nguyễn Khang*, Nguyễn Danh Long*
TÓM TẮT32
Mục tiêu: Đánh giá kết quả phẫu thuật nhổ răng
khôn hàm dưới mọc lệch tại Bệnh viện Quân Y 103
thời gian từ 2/2018-2/2019; Đối tượng và phương
pháp nghiên cứu: Đối tượng là 215 bệnh nhân được
*Bệnh viện Quân Y 103
Chịu trách nhiệm chính: Nguyễn Danh Long
Email: bsnguyendanhong@gmail.com
Ngày nhận bài: 14.10.2019
Ngày phản biện khoa học: 20.12.2019
Ngày duyệt bài: 25.12.2019
phẫu thuật răng khôn hàm dưới mọc lệch tại Khoa
răng miệng Bệnh viện Quân Y 103; Phương pháp
nghiên cứu: mô tả cắt ngang, tiến cứu có can thiệp;
Kết quả: Sau 1 tuần: Tốt chiếm tỷ lệ 95%, khá:5%,
kém: 0%. Sau 1 tháng: Tốt 98,2%, khá: 1,8%, kém:
%. Kết luận: Răng khôn hàm dưới mọc lệch được
phẫu thuật đạt kết quả tốt chiếm tỷ lệ cao.
Từ khóa:
Răng khôn hàm dưới, nhổ răng khôn
hàm dưới.
SUMMARY
EVALUATING THE RESULTS OF SURGICAL
EXTRACTION OF IMPACTED MANDIBULAR

TẠP CHÍ Y häc viÖt nam tẬP 486 - th¸ng 1 - sè 1&2 - 2020
129
THIRD MOLAR AT 103 MILITARY HOSPITAL
Objective: To evaluate the results of surgical
extraction of impacted mandibular third molar at 103
Military Hospital from February 2018 to February
2019; Subject and research methods: propective
study of 215 patients impacted mandibular third molar
being surgical extraction at Military Hospital 103;
Research methodology: cross-sectional description,
prospective intervention; Results: After a week:
Good accounts for 95%, average: 5%, bad: 0%. After
a month: Good 98.2%, average: 1.8%, bad:%;
Conclusion: Most impacted mandibular third molar
were surgical extracted with good result.
Key words:
mandibular third molar, extraction
third molar.
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Răng khôn (răng số 8) là răng mọc cuối cùng
của hàm, thông thường mọc ở người trong độ
tuổi 17 đến 25. Đây là răng được mọc khi các
răng khác đã ổn định trên cung hàm, xương
hàm khi đó gần như không còn phát triển nữa
nên thường bị kẹt, mọc lệch hoặc mọc ngầm. Vì
vậy răng khôn hàm dưới (RKHD) hay gây biến
chứng như viêm mô tế bào, sâu mặt xa răng số
7, sâu răng 8 hay tiêu xương nâng đỡ răng số 7,
ngoài ra có thể gặp đau dây thần kinh vùng đầu
lan tỏa hoặc khu trú, có thể gặp viêm tấy lan
tỏa, nặng hơn nữa gây nhiễm trùng huyết có thể
tử vong [1], [8]. Vị trí của răng khôn hàm dưới
liên quan tới các khoang giải phẫu, tuyến nước
bọt chạy ngay dưới là ống thần kinh răng dưới
có mạch máu thần kinh răng dưới chạy bên
trong. Vì vậy gây rất nhiều khó khăn cho phẫu
thuật [2],[5].
Ở Việt Nam, việc khám định kỳ và chăm sóc
sức khỏe răng miệng còn chưa thường xuyên do
các điều kiện về kinh tế, hiểu biết, sự thuận lợi
khi muốn đi thăm khám…Vì vậy thường khi răng
gây ra các biến chứng rồi bệnh nhân mới đi
khám, khi đó gây nên những khó khăn nhất định
cho điều trị cũng như ảnh hưởng đến sức khỏe
bệnh nhân. Tại khoa Răng Miệng Bệnh viện
Quân y 103 thường xuyên phẫu thuật răng khôn
hàm dưới mọc lệch với số lượng lớn bệnh nhân
mỗi ngày. Để đánh giá kết quả trong chẩn đoán
và điều trị phẫu thuật RKHD mọc lệch chúng tôi
nghiên cứu đề tài này với mục tiêu:
Đánh giá kết
quả phẫu thuật răng khôn hàm dưới mọc lệch
mọc lệch tại Bệnh viện Quân Y 103.
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng
2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn
- Các bệnh nhân đến khám và điều trị phẫu
thuật RKHD mọc lệch tại Khoa Răng Miệng Bệnh
viên Quân y 103 từ tháng 2/2018 đến 2/2019.
- Răng khôn hàm dưới mọc lệch, ngầm khó,
được thực hiện nhổ trên ghế răng
- Bệnh nhân có tình trạng sức khỏe toàn thân
tốt, không bị rối loạn đông chảy máu, răng tại
chỗ không sưng, nóng, đỏ, đau.
- Bệnh nhân được giải thích rõ ràng, có hợp
tác với Bác sĩ phẫu thuật.
2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ
- Bệnh nhân có bệnh lý toàn thân: tim mạch,
đái tháo đường không kiểm soát, đang dùng
thuốc ức chế miễn dịch, rối loạn đông chảy máu…
- Các răng đang trong thời kỳ viêm cấp;
- Bệnh nhân đang mang thai, đang tia xạ
vùng hàm mặt, cao tuổi sức khỏe kém;
- Bệnh nhân không hợp tác với bác sĩ.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
- Mô tả cắt ngang, tiến cứu có can thiệp.
- Điền thông tin và bước tiến hành làm phẫu
thuật vào mẫu bệnh án có sẵn:
+ Thu thập thông tin bệnh nhân
+ Khám lâm sàng toàn thân, tại chỗ, xét nghiệm
+ Chụp XQ kỹ thuật số.
+ Xác định độ nhổ khó hay dễ dựa vào tiêu
chuẩn lâm sàng và XQ để tiên lượng việc phẫu
thuật, theo bảng phân độ khó nhổ của Pederson có
bổ sung của Mai Đình Hưng [5] cách đánh giá sau:
· Ít khó nhổ: từ 1 đến 5 điểm
·Khó nhổ trung bình: từ 6 đến 10 diểm
·Rất khó: Từ 11-15 điểm.
+ Tiến hành phẫu thuật răng khôn hàm dưới
mọc lệch trên ghế răng
+ Tiến hành theo dõi và đánh giá kết quả sau
1 tuần và 1 tháng phẫu thuật.
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Chỉ số độ khó nhổ của răng
10,8%
60,2%
29,0%
0
20
40
60
80
Ít khó Khó Rất khó
Chỉ số độ khó nhổ
Chỉ số độ
khó nhổ
Biểu đồ 1: Chỉ số độ khó nhổ
Nhận xét:
Số lượng bệnh nhân có chỉ số độ
khó nhổ trung bình là cao nhất chiếm tỷ lệ
60,2%, tiếp đến là rất khó 29,0%, cuối cùng là ít
khó chiếm 10,8%. Sự khác biệt có ý nghĩa thống
kê với p < 0,05.
3.2. Các tai biến trong phẫu thuật

vietnam medical journal n01&2 - january - 2020
130
Bảng 1: Các tai biến trong phẫu thuật
Các tai biến trong phẫu
thuật
Số
lượng
Tỷ lệ
%
Gãy chóp chân răng
3
1,39
Vỡ xương ổ
1
0,46
Chảy máu
1
0,46
Gãy dụng cụ
0
0
Tổn thương ống răng dưới
1
0,46
Shock phản vệ
2
0,92
Nhận xét:
Tai biến gãy chóp chân răng hay
gặp nhất khi phẫu thuật nhổ răng khôn hàm
dưới mọc lệch chiếm tỷ lệ 1,39% các ca bệnh
đến nhổ răng, tai biến gẫy dụng cụ chúng tôi
không gặp ở ca bệnh nào.
3.3. Các biến chứng sau phẫu thuật
Bảng 2: Biến chứng sau phẫu thuật
Biến chứng sau
phẫu thuật
Số lượng
Tỷ lệ
%
Chảy máu kéo dài
1
0,46
Phù nề kéo dài
2
0,92
Tổn thương răng số 7
0
0
Nhiễm trùng ổ nhổ
0
0
Tổn thương dây thần
kinh răng dưới
1
0,46
Nhận xét:
Biến chứng phù nề kéo dài sau
phẫu thuật chúng tôi gặp 2 ca bệnh (chiếm tỷ lệ
0,92%), chảy máu kéo dài và tổn thương dây
thần kinh răng dưới chúng tôi gặp 1 ca (chiếm tỷ
lệ 0,46%), tổn thương răng số 7 chúng tôi
không gặp ca nào.
3.4. Đánh giá kết quả phẫu thuật sau 1 tuần
Bảng 3: Kết quả phẫu thuật sau 1 tuần
Nhóm RKHD
Tốt
Khá
Kém
Số lượng
Tỷ lệ %
Số lượng
Tỷ lệ %
Số lượng
Tỷ lệ %
Ít khó (21)
20
9,8
1
9,09
0
0
Khó (129)
123
60,29
6
54,54
0
0
Rất khó (65)
61
38,91
4
36,37
0
0
Tổng
204
95
11
5
0
0
Nhận xét:
Đánh giá kết quả phẫu thuật sau 1 tuần chúng tôi nhận thấy tỷ lệ tốt chiếm 95%, tỷ lệ
khá 5%, kém không có ca bệnh nào.
3.5. Đánh giá kết quả phẫu thuật sau 1 tháng
Bảng 3: Kết quả phẫu thuật sau 1 tháng
Nhóm RKHD
Tốt
Khá
Kém
Số lượng
Tỷ lệ %
Số lượng
Tỷ lệ %
Số lượng
Tỷ lệ %
Ít khó (21)
21
100
0
0
0
0
Khó (129)
125
96,8
4
3,2
0
0
Rất khó (65)
65
100
0
0
0
0
Tổng
211
98,2
4
1,8
0
0
Nhận xét:
Đánh giá kết quả phẫu thuật sau 1 tháng chúng tôi nhận thấy tỷ lệ tốt chiếm 96,2%,
tỷ lệ khá 3,2%, kém không có ca bệnh nào.
IV. BÀN LUẬN
Mục đích của việc đánh giá độ khó của nhổ
răng số 8 hàm dưới nhằm tiên lượng cuộc nhổ
răng, thời gian tiến hành thủ thuật từ đó sẽ
chuẩn bị trước cho bệnh nhân về tâm lý cũng
như việc sử dụng thuốc giúp giảm thiểu tối đa
khó chịu mà bệnh nhân có thể gặp phải sau nhổ
răng số 8 hàm dưới [6]. Tuy vậy trong các
trường hợp cụ thể vẫn cần sự linh hoạt xử lý của
các bác sĩ nha khoa để có phương pháp phù hợp
nhất khi các bệnh nhân có độ nhổ rất khó và
phẫu thuật cần nhiều thời gian để nhổ, nhiều ca
phải cắt thân răng, cắt một phần xương hàm,
rạch vạt lợi mới lấy răng ra được. Nhiều ca gãy
chân răng rất khó lấy ra [9].
Nghiên cứu của chúng tôi có kết quả: Răng
có độ nhổ khó từ 6-10 điểm chiếm tỷ lệ 60,2%.
Răng có độ nhổ ít khó 1-5 điểm chiếm 10,8%.
Răng có độ nhổ rất khó chiếm 29,0%. Kết quả
này khác biệt với tác giả Nguyễn Duy Chiến là 1-
5 điểm chiếm 35,3%; 6-10 điểm có tỷ lệ 58%;
11-15 điểm chiếm 6,7% [3].
Tai biến trong phẫu thuật chủ yếu là gãy
chóp răng khôn hàm dưới có 3 trường hợp
chiếm tỷ lệ 1,39% đây là tai biến hay gặp do
chân răng mảnh, cong, ngược chiều bẩy, trường
hợp chóp chân răng nằm quá sâu việc lấy chóp
chân răng khó khăn thì cũng không nên cố gắng
lấy vì sẽ gây tổn thương xung quanh lớn. Vỡ
xương ổ có 1 trường hợp chiếm 0,46% tỷ lệ này
thấp hơn nghiên cứu của Nguyễn Thị Luyến là
3,38%. Thường khi vỡ thì ít gây nguy hiểm trừ
khi vỡ quá lớn gây chảy máu [4], [7]. Nguy hiểm
nhất là gây tổn thương dây thần kinh lưỡi do cấu
tạo giải phẫu ổ phía lưỡi mỏng, đa số mảnh
xương vỡ vẫn ôm vào răng thành một khối. Các
trường hợp bị vỡ chúng tôi đều lấy hết mảnh vỡ
và không bị biến chứng gì.

TẠP CHÍ Y häc viÖt nam tẬP 486 - th¸ng 1 - sè 1&2 - 2020
131
Chảy máu trong phẫu thuật có một trường
hợp chiếm tỷ lệ 0,46% do mũi khoan siêu tốc cắt
phải vạt lợi gây chảy máu và được khâu cầm
máu. Không có trường hợp nào gẫy dụng cụ
trong quá trình phẫu thuật. Tổn thương ống
răng dưới có 1 trường hợp chiếm tỷ lệ 0,46%.
Shock phản vệ do thuốc gây tê Lidocain gây ra
được chúng tôi xử lý kịp thời và sau 2 tiếng phẫu
thuật tiếp.
Biến chứng sau phẫu thuật do phù nề kéo dài
có 2 trường hợp chiếm 0,92% có thể do viêm
nhiễm cũ điều trị chưa triệt để đã phẫu thuật,
bệnh nhân sau đó được dùng kháng sinh và
thuốc chống phù nề thì ổn định. Chảy máu kéo
dài gặp 1 trường hợp chiếm tỷ lệ 0,46% do răng
nhổ bị viêm quanh răng, khi nhổ không nạo sạch
tổ chức viêm, trường hợp này được xử lý nạo
sạch tổ chức viêm, khâu lại, dùng kháng sinh một
đợt bổ sung bệnh nhân ổn định. Không có một
biến chứng nào sau phẫu thuật gây tổn thương
răng số 7 bên cạnh và nhiễm trùng ổ nhổ.
Kết quả phẫu thuật theo dõi sau 1 tuần và 1
tháng tỷ lệ tốt chiếm hơn 90%.
V. KẾT LUẬN
- Kết quả phẫu thuật sau 1 tuần chúng tôi
thấy kết quả tốt chiếm tỷ lệ 95%, tỷ lệ khá
chiếm 5%, không có tỷ lệ kém;
- Kết quả phẫu thuật sau 1 tháng chúng tôi
thấy kết quả tốt chiếm tỷ lệ 98,2%, tỷ lệ khá
chiếm 1,8%, không có tỷ lệ kém.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nguyễn Y Duyên (1995) Góp phần nghiên cứu
viêm nhiễm vùng hàm mặt do biến chứng răng
khôn hàm dưới mọc lệch; Luận văn tốt nghiệp thạc
sỹ; Trường đại học Y Hà Nội.
2. Hoàng Tử Hùng (2008) Răng cối lớn hàm dưới;
Giải phẫu răng; Nhà xuất bản Y Học; tr. 184-200.
3. Nguyên Duy Chiến, Tạ Thu Anh (2019) Đánh
giá kết quả phẫu thuật nhổ răng khôn hàm dưới
mọc lệch tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108;
Tạp chí Y dược lâm sàng 108; tr.147-150.
4. Lê Đức Lánh (2016) Phẫu thuật nhổ răng khôn
hàm dưới; Phẫu thuật miệng tập II; Nhà xuất bản
Y học; tr.124-134.
5. Nguyễn Danh Long (2012) Nhận xét đặc điểm
lâm sàng, XQ kỹ thuật số và đánh giá kết quả
phẫu thuật răng khôn hàm dưới; Luận văn tốt
nghiệp Bác sỹ CKII, Học viện quân y; tr.20-21.
6. Nguyễn Thị Luyến (2015) Đánh giá kết quả
phẫu thuật nhổ răng khôn hàm dưới theo Parant
II không đóng kín huyệt ổ răng; Luận văn thạc sỹ;
Trường đại học Y Hà Nội; tr. 60-68.
7. Young-Kyu Lee, Sung-Soo Park and Hoon
Myoung (2013) Surgical extraction of mandibular
third molar in pterygomandibular space: a case
report; J Korean Assoc oral Maxillofac Surg; p.242-
245.
8. Kupferman SB, Schwartz HC (2008) Malposed
teeth in the pterygomandibular space: report of 2
cases; J Oral Maxillofac Surg; vol 66 ; p167–169.
9. Bux P, Lisco V (1994) Ectopic third molar
associated with a dentigerous cyst in the
subcondylar region: report of case; J Oral
Maxillofac Surg; Vol 52; p 630–632.
KẾT QUẢ PHẪU THUẬT BẮT VÍT CHÂN CUỐNG SỐNG QUA DA
ĐIỀU TRỊ CHẤN THƯƠNG CỘT SỐNG ĐOẠN NGỰC-THẮT LƯNG
TẠI BỆNH VIỆN TRUNG ƯƠNG THÁI NGUYÊN
Trần Chiến*
TÓM TẮT33
Mục tiêu:
Đánh giá kết quả phẫu thuật bắt vít
chân cuống sống qua da điều trị chấn thương cột
sống đoạn ngực-thắt lưng tại bệnh viện Trung ương
Thái Nguyên.
Phương pháp:
Nghiên cứu mô tả lâm
sàng, cắt ngang. Gồm 27 bệnh nhân bị chấn thương
cột sống đoạn ngực thắt lưng không có tổn thương
thần kinh, được phẫu thuật bắt vít chân cuống qua da
điều trị, tại khoa Ngoại Thần kinh, Bệnh viện Trung
ương Thái Nguyên từ 5/2018 đến 10/2019.
Kết quả:
Tuổi trung bình hay gặp ở nhóm 20-40 tuổi 59,2%, tỷ
*Đại học Y Dược, Đại học Thái Nguyên
Chịu trách nhiệm chính: Trần Chiến
Email: chientrantn@gmail.com
Ngày nhận bài: 7.10.2019
Ngày phản biện khoa học: 16.12.2019
Ngày duyệt bài: 23.12.2019
lệ nam/nữ là 2/1. Tổn thương loại II (Denis) gặp
nhiều nhất 51,9%; tổn thương đốt sống L1 hay gặp
nhất 51,9%. Không có bệnh nhân nào phải truyền
máu sau mổ; thời gian phẫu thuật trung bình
65,3±12,7 phút min 45, max 93; góc Cobb đạt được
sau mổ 12,4⁰±2,5⁰ min 10⁰; max 22⁰; tăng chiều cao
thân đốt trung bình sau mổ 0.41 ± 0.22cm. số ngày
trung bình phải dùng giảm đau sau mổ 4,2±2,7 ngày;
thời gian nằm viện trung bình 8,3±4,1 ngày; kết quả
chung tỷ lệ rất tốt và tốt đạt 88,9%.
Kết luận:
Đây là
phương pháp phẫu thuật có thời gian phẫu thuật
ngắn, kết quả đạt rất tốt và tốt sau mổ 88,9%.
Từ khóa:
chấn thương cột sống ngực thắt lưng,
phẫu thuật, bắt vít chân cuống qua da,
SUMMARY
RESEARCHING TREATMENT RESULT OF
MINIMALLY INVASIVE PERCUTANEOUS
PEDICLE SCREW FIXATION IN TREATMENT OF

