
► CHUYÊN ĐỀ LAO ►
203
DENTAL CARIES STATUS AMONG STUDENTS
AT TWO PRIMARY SCHOOLS IN SA PA, LAO CAI, VIETNAM, 2024
Le Thi Thanh Hoa1*
, Hoang Thi Vinh1,2, Truong Thi Thuy Duong1
1Thai Nguyen university of Medicine and Pharmacy -
284 Luong Ngoc Quyen Street, Phan Dinh Phung Ward, Thai Nguyen Province, Viet Nam
2Vinh Loc Medical Center - Bai Xuan Hamlet, Vinh Loc Commune, Thanh Hoa Province, Vietnam
Received: 23/07/2025
Revised: 08/08/2025; Accepted: 03/12/2025
ABSTRACT
Objective: This study aimed to describe the current status of dental caries among primary
school students at two schools in Sa Pa, Lao Cai Province, in 2024.
Subject and Method: A cross-sectional descriptive study was conducted on 318 primary
school students from San Sa Ho 2 Primary School and Ban Phung Primary School, Sa Pa,
Lao Cai, in 2024. Data were collected through face-to-face interviews and clinical oral
examinations.
Results: The overall prevalence of dental caries was 87.1%, with 74.4% having primary
tooth caries and 48% having permanent tooth caries. The mean decayed-missing-filled
teeth (dmft) index for primary teeth was 3.59 ± 3.53, including 3.39 ± 3.32 decayed teeth,
0.18 ± 0.8 missing teeth, and 0.03 ± 0.19 filled teeth. The DMFT index for permanent teeth
was 1.1 ± 1.3, with 1.09 ± 1.27 decayed, 0.006 ± 0.07 missing, and 0.003 ± 0.05 filled
teeth. The prevalence of primary tooth caries was higher in the 7–9 age group (83.1%)
compared to the 10–13 age group (67.1%). The prevalence of permanent tooth caries was
comparable between the two groups (45.2% and 57.2%, respectively).
Conclusion: He prevalence of dental caries among primary school students in Sa Pa
remains high, with deciduous caries being the predominant condition. The dmft and
DMFT indices are at moderate levels, indicating a need for early preventive measures and
oral health care.
Keywords: Dental caries, dmft index, primary school students, Sa Pa, Lao Cai.
Vietnam Journal of Community Medicine, Vol. 66, No. 6, 203-208
*Corresponding author
Email: linhtrang249@gmail.com Phone: (+84) 946595989 DOI: 10.52163/yhc.v66i6.3998

www.tapchiyhcd.vn
204
THỰC TRẠNG BỆNH SÂU RĂNG
Ở HỌC SINH HAI TRƯỜNG TIỂU HỌC TẠI SA PA, LÀO CAI NĂM 2024
Lê Thi Thanh Hoa1*
, Hoàng Thị Vinh1,2, Trương Thị Thùy Dương1
1Trường Đại học Y – Dược, Đại học Thái Nguyên - 284 Lương Ngọc Quyến, P. Phan Đình Phùng, Tỉnh Thái Nguyên, Việt Nam
2Trung tâm Y tế Vĩnh Lộc - Thôn Bái Xuân, Xã Vĩnh Lộc, Tỉnh Thanh Hóa, Việt Nam
Ngày nhận: 23/07/2025
Ngày sửa: 08/08/2025; Ngày đăng: 03/12/2025
TÓM TẮT
Mục tiêu: Nghiên cứu nhằm mô tả thực trạng sâu răng ở học sinh tiểu học tại hai trường tại
SaPa, tỉnh Lào Cai năm 2024.
Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu trên 318 học sinh tiểu học tại trường tiểu học San
Sả Hồ 2 và tiểu học Bản Phùng, SaPa, Lào Cai năm 2024. Sử dụng phương pháp mô tả cắt
ngang, dữ liệu được thu thập thông qua phỏng vấn trực tiếp và khám răng miệng cho học
sinh.
Kết quả: Tỷ lệ sâu răng chung ở học sinh là 87,1%, trong đó sâu răng sữa chiếm 74,4% và
sâu răng vĩnh viễn chiếm 48%. Chỉ số sâu mất trám của răng sữa là 3,59 ± 3,53; bao gồm
số răng sâu trung bình là 3,39 ± 3,32, răng mất 0,18 ± 0,8 và răng trám 0,03 ± 0,19. Chỉ số
sâu mất trám của răng vĩnh viễn là 1,1 ± 1,3; gồm răng sâu 1,09 ± 1,27, răng mất 0,006 ±
0,07 và răng trám 0,003 ± 0,05. Tỷ lệ sâu răng sữa cao hơn ở nhóm tuổi 7–9 (83,1%) so với
nhóm 10–13 tuổi (67,1%). Tỷ lệ sâu răng vĩnh viễn ở hai nhóm tuổi này tương đương (45,2%
và 57,2%).
Kết luận: Tỷ lệ sâu răng ở học sinh tiểu học tại Sa Pa còn cao, trong đó sâu răng sữa chiếm
tỷ lệ chủ yếu. Các chỉ số sâu mất trám ở mức trung bình, cho thấy cần có can thiệp dự
phòng và chăm sóc răng miệng sớm.
Từ khóa: Sâu răng, sâu mất trám, học sinh tiểu học, Lào Cai.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh sâu răng có thể xuất hiện rất sớm, ngay từ khi
trẻ bắt đầu mọc răng, là nguyên nhân chính gây mất
răng, làm giảm khả năng ăn nhai, phát âm, gây khó
chịu trong sinh hoạt và kéo theo nhiều vấn đề sức
khỏe khác [1]. Theo thống kê của Tổ chức Y tế thế
giới, trung bình có khoảng 26% đến 60% dân số mắc
bệnh sâu răng, trong đó nhóm trẻ em và thanh thiếu
niên có tỷ lệ mắc dao động từ 60% đến 90%, với chỉ
số sâu mất trám trung bình là 2,4; bệnh viêm lợi cũng
ghi nhận tỷ lệ mắc cao ở mọi lứa tuổi từ 70% - 90%,
một số nơi lên tới gần 100% ở tuổi dậy thì [2]. Học
sinh tiểu học hay trẻ trong độ tuổi 6 – 11 tuổi là thời
kỳ trẻ bắt đầu thay từ răng sữa thành răng vĩnh viễn,
do đó tồn tại cả răng sữa và răng vĩnh viên trên hai
hàm. Ở lứa tuổi này, vấn đề chăm sóc sức khỏe răng
miệng như chải răng đúng và đủ, ăn uống đồ ngọt, …
còn nhiều hạn chế, do đó do đó tỷ lệ sâu răng, viêm
lợi, mất răng sữa sớm ở lứa tuổi này còn cao, có thể
dẫn đến trẻ ăn nhai kém, phát âm không chuẩn, răng
vĩnh viễn dễ bị xô lệch, gây ảnh hưởng đến sự phát
triển thẩm mỹ và thể chất trong giai đoạn sau này [3].
Nghiên cứu của Trịnh Đình Hải năm 2019 trên 4028
trẻ em lứa tuổi 6 – 11 tuổi tại Việt Nam cho thấy tỷ
lệ sâu răng sữa cao, nhóm tuổi 6-8 tuổi có tới 86,4%
sâu răng sữa, trung bình mỗi trẻ có 6,21 răng sâu và
tỷ lệ răng sâu được điều trị chưa cao [4]. Điều này cho
thấy cần thiết phải có những đánh giá tình trạng sức
khỏe răng miệng của lứa tuổi này. Đặc biệt tại các
địa bàn vùng cao như Sa Pa, Lào Cai, điều kiện kinh
tế xã hội còn nhiều khó khăn, vấn đề chăm sóc sức
khỏe nói chung và chăm sóc sức khỏe răng miệng
càng cần được quan tâm và có những đánh giá cụ
thể. Do đó, nghiên cứu được tiến hành với mục tiêu:
Mô tả thực trạng sâu răng ở học sinh hai trường tiểu
học tại SaPa, Lào Cai năm 2024.
L.T.T. Hoa et al. / Vietnam Journal of Community Medicine, Vol. 66, No. 6, 203-208
*Tác giả liên hệ
Email: linhtrang249@gmail.com Điện thoại: (+84) 946595989 DOI: 10.52163/yhc.v66i6.3998

205
2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt
ngang.
2.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu:
- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 7/2024 đến tháng
4/2025.
- Địa điểm nghiên cứu: Tại 02 trường tiểu học San Sả
Hồ 2 và tiểu học Bản Phùng tại SaPa, tỉnh Lào Cai.
2.3. Đối tượng nghiên cứu: Học sinh hai trường tiểu
học San Sả Hồ 2 và tiểu học Bản Phùng, SaPa, Lào
Cai năm học 2024-2025.
- Tiêu chuẩn chọn:
Toàn bộ học sinh từ khối lớp 1 đến lớp 5 tại địa điểm
nghiên cứu trong năm học 2024-2025 đồng ý tham
gia nghiên cứu.
- Tiêu chuẩn loại trừ:
Những đối tượng vắng mặt tại thời điểm nghiên cứu
hoặc mắt các dị tật bẩm sinh về răng miệng.
2.4. Cỡ mẫu, chọn mẫu:
Cỡ mẫu:
Áp dụng công thức tính cỡ mẫu cho nghiên cứu mô
tả:
n = Z2
1-α/2
p(1 - p)
d2
Trong đó:
+ n: số học sinh tiểu học cần điều tra
+ Z1-α/2: Độ tin cậy, chọn α = 0,05, ta có Z1-α/2 = 1,96
+ p: chọn p = 0,734 (Theo nghiên cứu của Nguyễn
Thị Hồng Diễm năm 2016, tỷ lệ sâu răng ở học sinh
tiểu học là 73,4% [5]).
+ d: độ chính xác mong muốn, chọn d = 1/10. p =
0,0734.
Thay vào công thức ta có cỡ mẫu tối thiểu là 140 học
sinh. Thực tế chúng tôi tiến hành nghiên cứu trên
318 học sinh, ở trường tiểu học San Sả Hồ 2 là 167
học sinh và trường tiểu học Bản Phùng là 151 học
sinh.
Chọn mẫu:
Chọn chủ đích 02 trường tiểu học San Sả Hồ 2 và
trường tiểu học Bản Phùng tại SaPa, tỉnh Lào Cai đạt.
Tại mỗi trường chọn toàn bộ học sinh các khối lớp 1,
2, 3, 4, 5 thỏa mãn tiêu chuẩn chọn, kết quả có 318
học sinh thỏa mãn tham gia vào nghiên cứu.
2.5. Biến số nghiên cứu:
- Đặc điểm nhân khẩu học của học sinh: Giới, dân
tộc, khối lớp.
- Tỷ lệ sâu răng sữa, sâu răng vĩnh viễn của học sinh
- Chỉ số sâu mất trám răng của học sinh.
- Phân bố tỷ lệ sâu răng theo nhóm tuổi.
- Phân bố tỷ lệ sâu răng sữa theo vị trí răng.
- Phân bố tỷ lệ sâu răng vĩnh viễn theo vị trí răng.
2.6. Kỹ thuật, công cụ và quy trình thu thập số liệu:
Số liệu được thu thập thông qua phỏng vấn và thăm
khám trực tiếp, kết quả được ghi chép vào phiếu
điều tra thiết kế sẵn. Cán bộ khám là bác sỹ chuyên
khoa răng hàm mặt có chứng chỉ hành nghề. Quy
tình khám, chẩn đoán sâu răng được áp dụng theo
tiêu chuẩn ICDAS II [6].
2.7. Xử lý và phân tích số liệu:
Sử dụng phần mềm Micosoft excel để mã hóa và
nhập liệu. Số liệu được phân tích bằng phần mầm
SPSS 27.0
2.8. Đạo đức nghiên cứu: Nghiên cứu được chấp
thuận đạo đức tại quyết định số 1197/ĐHYD - HĐĐĐ
ngày 14 tháng 10 năm 2024 của Trường Đại học Y -
Dược, Đại học Thái Nguyên. Phụ huynh và học sinh
được thông tin đầy đủ về nghiên cứu, chỉ tiến hành
khi được sự đồng ý. Các thông tin được bảo mật và
chỉ phục vụ mục đích nghiên cứu.
3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Bảng 1. Đặc điểm chung về
học sinh tham gia nghiên cứu (n=318)
Trường
Chỉ
số
San Sả Hồ
2 (n=167) Bản Phùng
(n=151) Chung
(n=318)
n % n % n %
Khối lớp
Lớp 1 18 10,8 30 19,9 48 15,1
Lớp 2 18 10,8 20 13,2 38 11,9
Lớp 3 47 28,1 47 31,1 94 29,6
Lớp 4 39 23,4 32 21,2 71 22,3
Lớp 5 45 26,9 22 14,6 67 21,1
Giới
Nam 89 53,3 74 49 163 51,3
Nữ 78 46,7 77 51 155 48,7
L.T.T. Hoa et al. / Vietnam Journal of Community Medicine, Vol. 66, No. 6, 203-208

www.tapchiyhcd.vn
206
Trường
Chỉ
số
San Sả Hồ
2 (n=167) Bản Phùng
(n=151) Chung
(n=318)
n % n % n %
Dân tộc
Kinh 1 0,6 4 2,6 5 1,6
Hmông 166 99,4 30 19,9 196 61,6
Dao 0 0 114 75,5 114 35,8
Tày 0 0 3 2 3 0,9
Tổng cộng
167 100 151 100 318 100
Số học sinh khối lớp 3, lớp 4 và lớp 5 tham gia
nghiên cứu chiếm tỷ lệ cao 29,6%; 22,3% và 21,1%.
Nam chiếm tỷ lệ cao hơn nữ 51,3%/48,7%. Học sinh
là người dân tộc Hmông chiếm 61,6%, dân tộc Dao
chiếm 35,8%, dân tộc khác chiếm 2,5%.
Hình 1. Tỷ lệ mắc sâu răng vĩnh viễn và sâu răng sữa
Tỷ lệ học sinh bị sâu răng vĩnh viễn là 48,0% và sâu
răng sữa là 74,4%.
Bảng 2. Chỉ số sâu mất trám răng
Răng
Sâu răng
X
± SD
Mất răng
X
± SD
Trám răng
X
± SD
Sâu mất
trám răng
X
± SD
Răng sữa
3,39 ± 3,32 0,18 ± 0,8 0,03 ± 0,19 3,59 ± 3,53
Răng vĩnh viễn
1,09 ± 1,27 0,006 ± 0,07 0,003 ± 0,05 1,1 ± 1,3
Chỉ số sâu răng ở răng sữa cao hơn so với răng vĩnh
viên, số răng được trám chiếm tỷ lệ thấp 0,03 ± 0,19
đối với răng sữa và 0,003 ± 0,05 với răng vĩnh viễn.
Chỉ số sâu mất trám răng trung bình của răng sữa là
3,59 ± 3,53; răng vĩnh viễn là 1,1 ± 1,3.
Hình 2. Phân bố mắc bệnh sâu răng theo tuổi
Đối với bộ răng sữa, tỷ lệ sâu răng ở nhóm 7 - 9 tuổi là
83,1% cao hơn nhóm 10 - 13 tuổi (67,1%). Tỷ lệ sâu
răng vĩnh viễn ở nhóm 10 - 13 tuổi (chiếm 57,2%) cao
hơn tỷ lệ sâu răng ở nhóm 7 - 9 tuổi (chiếm 45,2%).
Hình 3. Tỷ lệ sâu răng sữa theo vị trí răng
Tỷ lệ sâu răng sữa ở nhóm răng hàm chiếm cao nhất
71,1% và thấp nhất ở nhóm răng cửa, chiếm 13,5%.
Hình 4. Tỷ lệ sâu răng vĩnh viễn theo vị trí răng
Tỷ lệ sâu giữa các nhóm răng theo thứ tự giảm dần
là: nhóm răng hàm (50,3%), nhóm răng cửa (0,9%)
và nhóm răng nanh không có răng nào bị sâu.
4. BÀN LUẬN
Nghiên cứu trên 318 học sinh tiểu học thuộc 02
trường tiểu học San Sả Hồ 2 và Bản Phùng ở SaPa,
tỉnh Lào Cai, kết quả cho thấy rằng tỷ lệ sâu răng ở
học sinh tại đây tương đối cao, đối với răng vĩnh viễn
là 48,0% và răng sữa là 74,4%. Kết quả trên thấp hơn
nghiên cứu của Nguyễn Hồng Chuyên năm 2021 tại
Phú Thọ, tỷ lệ mắc sâu răng vĩnh viễn là 64%, sâu
răng sữa là 91,0% [7]. Sự khác biệt có thể do đối
tượng nghiên cứu của chúng tôi là trẻ em vùng núi
cao như SaPa, Lào Cai, phần lớn là người dân tộc
(98,4%) ít tiếp xúc với các chất dễ gây sâu răng như
bánh kẹo, đồ ngọt, … hơn, do đó tỷ lệ thấp hơn học
L.T.T. Hoa et al. / Vietnam Journal of Community Medicine, Vol. 66, No. 6, 203-208

207
sinh tại các nơi khác có điều kiện kinh tế, xã hội
phát triển hơn. Tuy nhiên, kết quá trên cao hơn so
với nghiên cứu của Đặng Thị Hồng Hạnh năm 2023
trên trẻ em tiểu học người Mông ở Mù Cang Chải,
tỷ lệ sâu răng sữa chiếm 64,9%, sâu răng vĩnh viễn
chiếm 35,1% [8]. Tỷ lệ sâu răng sữa trong nghiên cứu
cao hơn so với sâu răng vĩnh viễn. Nguyên nhân do
đặc điểm cấu tạo men răng của răng sữa chưa hoàn
thiện và chắc chắn như răng vĩnh viễn. Bên cạnh đó,
cấu trúc răng sữa thưa, dễ mắc, lắng đọng thức ăn,
răng vĩnh viễn có men răng tốt, đa phần là răng mới
thay nên tỷ lệ sâu thấp hơn rõ rệt. Kết quả này tương
đồng với các nghiên cứu khác [4, 7, 8]. Tỷ lệ sâu răng
sữa ở trẻ 7 – 9 tuổi trong nhóm nghiên cứu tương
đương trong nghiên cứu tình trạng sâu răng sữa ở
trẻ em Việt Nam năm 2019, với tỷ lệ sâu răng sữa là
86,4% ở trẻ 6-8 tuổi [4].
Đánh giá chỉ số sâu mất trám răng, chỉ số sâu mất
trám răng sữa là 3,59 ± 3,53, trong đó chỉ số sâu răng
là 3,39 ± 3,32, mất răng 0,18 ± 0,8, tỷ lệ răng được
trám thấp 0,03 ± 0,19. Kết quả này thấp hơn nghiên
cứu của các tác giả khác [7, 8]. Chỉ số sâu mất trám
của răng vĩnh viễn là 1,1 ± 1,3. Kết quả này tương
đương nghiên cứu của Đặng Thị Hồng Hạnh, chỉ số
sâu mất trám răng vĩnh viễn là 1,03 [8]. Nghiên cứu
sử dụng tiêu chuẩn chẩn đoán của hệ thống ICDAS,
sâu răng được chẩn đoán khi răng có chấm đen
hoặc có lỗ thám trâm. Vì vậy mặc dù trung bình số
răng vĩnh viễn sâu mất trám răng vĩnh viễn không quá
cao nhưng chủ yếu không được điều trị, tỷ lệ trám
răng còn ở mức thấp. Điều này cho thấy một phần ý
thức chăm sóc sức khỏe của phụ huynh và học sinh,
cũng như đặt ra các yêu cầu cấp thiết trong nâng cao
nhận thức và xây dựng kế hoạch chăm sóc sức khỏe
răng miệng cho đối tượng này, tránh các biến chứng
nặng của bệnh.
Phân bố sâu răng theo nhóm tuổi thấy rằng đối với
răng sữa, học sinh ở nhóm 7- 9 tuổi có tỷ lệ sâu răng
cao hơn nhóm 10 - 13 tuổi tỷ lệ lần lượt là 83,1% và
67,1%. Nguyên nhân do lứa tuổi lớn hơn, số lượng
răng sữa còn trên hai hàm của trẻ ít hơn do đã thay
thế bằng răng vĩnh viễn, trong đó có một số lượng
đáng kể răng sữa sâu. Ở răng vĩnh viễn, tỷ lệ sâu khá
cao ở các nhóm tuổi, trong đó nhóm 7-9 tuổi có tỷ lệ
sâu chiếm 45,2% và nhóm 10-13 tuổi là 57,2%.
Trong phân bố sâu răng sữa theo vị trí răng, nghiên
cứu của chúng tôi chỉ ra nhóm răng hàm có tỷ lệ sâu
săng sữa cao nhất 71,1%, thấp nhất là nhóm răng
cửa chiếm 13,5%. Đối với răng vĩnh viễn, nhóm răng
hàm có tỷ lệ sâu cao nhất 50,3%, trong khi răng cửa
chỉ chiếm 0,9% và răng nanh hầu như không ghi nhận
sâu. Ở giai đoạn hàm răng hỗn hợp, răng hàm trên
thường dễ bị khiếm khuyết ở mặt trong, trở thành vị
trí thuận lợi cho sâu răng phát triển, do đó cần được
trám bít hố rãnh sớm để phòng ngừa. Tại các quốc
gia phát triển như Hoa Kỳ, tỷ lệ trẻ được điều trị răng
miệng cao hơn rõ rệt, phản ánh hệ thống chăm sóc
sức khỏe răng miệng cho trẻ em đã được đầu tư
đồng bộ, hiện đại và phủ rộng [9]. Sâu răng không
chỉ ảnh hưởng đến chức năng nhai mà còn tác động
tiêu cực đến tâm lý trẻ, đặc biệt khi nhóm răng cửa
có chức năng thẩm mỹ, khiến trẻ thiếu tự tin và ngại
giao tiếp. Do đó, việc chăm sóc răng miệng cho trẻ
cần đặc biệt lưu ý các nhóm răng sâu này.
Tóm lại, nghiên cứu thực trạng sức khỏe răng miệng
của học sinh tại trường Tiểu học Bản Phùng và
trường San Sả Hồ 2 thấy rằng tỷ lệ sâu răng sữa và
răng vĩnh viễn ở mức khá cao, tiềm ẩn nguy cơ gia
tăng sâu răng trong cộng đồng và để lại hậu quả bất
lợi cho răng vĩnh viễn về sau. Hạn chế trong nghiên
cứu của chúng tôi là chưa xác định được các yếu tố
có liên quan đến tình trạng sâu răng của học sinh tại
đây. Trong tương lai, chúng tôi sẽ tiến hành những
nghiên cứu với cỡ mẫu lớn hơn, đánh giá toàn diện,
phản ánh chính xác vấn đề sâu răng và các yếu tố tác
động tới tình trạng sâu răng ở trẻ em khu vực miền
núi phía Bắc.
5. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
Học sinh ở hai trường tiểu học tại SaPa, tỉnh Lào Cai
mắc bệnh sâu răng chiếm tỷ lệ cao, trong đó tỷ lệ sâu
răng sữa cao hơn sâu răng vĩnh viễn. Phần lớn răng
sâu là các răng chưa được điều trị, tỷ lệ trám răng
còn thấp. Do đó, cần tăng cường giáo dục chăm sóc
sức khỏe răng miệng, nâng cao nhận thức và thực
hành phòng ngừa sâu răng, đồng thời phát hiện sớm
và xử trí kịp thời các bệnh lý răng miệng cho học sinh
tiểu học.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Bộ Y tế. Quyết định số 3108/QĐ-BYT ngày
28/7/2015 của Bộ Y tế về hướng dẫn chẩn
đoán và điều trị một số bệnh về Răng hàm
mặt. 2015, Hà Nội,
[2] World Health Organization. Global oral health
status report: towards universal health cover-
age for oral health by 2030. World Health Or-
ganization, 2022,
[3] Võ Trương Như Ngọc, Trần Thị Mỹ Hạnh and
Đào Thị Hằng Nga. Răng trẻ em. Nhà xuất bản
giáo dục Việt Nam, 2013, Hà Nội,
[4] Nguyễn Thị Hồng Minh and Trịnh Đình Hải.
Tình trạng sâu răng sữa ở trẻ em Việt Nam
năm 2019. Tạp chí Y học Dự phòng, 2021,
30(1): 123-129.
[5] Nguyễn Thị Hồng Diễm. Nghiên cứu thực
trạng ba bệnh lứa tuổi học đường phổ biến ở
học sinh tiểu học và đề xuất giải pháp. Luận án
Tiến sĩ Y học, Trường Đại học Y Hà Nội, 2016,
[6] B. Dikmen. Icdas II criteria (international car-
ies detection and assessment system). J Is-
tanb Univ Fac Dent, 2015, 49(3): 63-72.
L.T.T. Hoa et al. / Vietnam Journal of Community Medicine, Vol. 66, No. 6, 203-208

