
TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 474 - THÁNG 1 - SỐ 2 - 2019
43
dinh dưỡng thấp, nguyên nhân người bệnh không
tuân thủ chế độ dinh dưỡng là do họ chưa thật sự
hiểu đúng, đủ về dinh dưỡng cho người ĐTĐ.
Có 54,7% đối tượng tuân thủ hoạt động thể
lực,kết quả cho thấy việc hướng dẫn cho người
bệnh ĐTĐ về tác dụng của hoạt động thể lực
cũng như các loại hình thể dục phù hợp cho
bệnh nhân đái tháo đường còn hạn chế.
Có 58,9% người bệnh tuân thủ dùng thuốc,
nguyên nhân người bệnh không tuân thủ dùng
thuốc chiếm tỷ lệ cao nhất là quên và bận với
46,9% cho mỗi lý do. Một tỷ lệ nhỏ 4,7% và
1,6% người bệnh không tuân thủ do đi xa không
đem theo và không ai nhắc nhở. Còn có một tỷ
lệ tuy nhỏ nhưng không chỉ nguy hiểm cho người
bệnh là 2,6% bỏ trị; mà còn gợi ý NVYT cần
hướng dẫn rõ ràng hơn cho người bệnh; vì 100%
trường hợp bỏ trị này là do người bệnh được
phát hiện và điều trị bệnh kèm mà không biết
phải phối hợp điều trị các bệnh cùng lúc.
Với những tiến bộ trong công nghệ y học hiện
nay thì việc tự theo dõi đường huyết đã dễ dàng
hơn cho người bệnh ĐTĐ; nhưng kết quả nghiên
cứu chỉ có 16,8% người bệnh thử đường huyết
tại nhà. Nguyên nhân người bệnh khôngkiểm
soát đường huyết là do chưa có yêu cầu từ bác
sĩ điều trị (62,6%), do điều kiện kinh tế (13,7%),
không có người hỗ trợ (1,6%) và sợ đau (0,5%).
V. KẾT LUẬN
Kết quả nghiên cứu cho thấy chỉ có 20,0%
bệnh nhân tuân thủ điều trị chung. Trong đó
tuân thủ chế độ dinh dưỡng 24,2%; hoạt động
thể lực 54,7%; tuân thủ dùng thuốc 58,9%; tuân
thủ kiểm soát đường huyết 16,8%, tái khám
định kỳ 97,4%.
Kết quả cũng cho thấy một số yếu tố liên quan
đến tuân thủ điều trị của bệnh nhân đái tháo
đường týp 2 như: Hoạt động thể lực, chế độ dinh
dưỡng, chi phí điều trị, BHYT, nghề nghiệp, trình
độ học vấn, thu nhập, hài lòng với thông tin từ
nhân viên y tế cũng như kiến thức về bệnh.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Tạ Văn Bình (2003), dịch tể học bệnh đái tháo
đường, các yếu tố nguy cơ vầ vấn đề liên quan
đến quản lý bệnh đái tháo đường tại khu vực mội
thành 4 thành phố lớn, nhà xuất bản y học Hà Nội,
2003:17-19.
2. Tạ Văn Bình (2006), dịch tể học bệnh đái tháo
đường, các biện pháp điều trị và biện pháp dự
phòng, nhà xuất bản Y học Hà Nội, 2006: 36 -38.
3. Tạ Văn Bình (2007), người bệnh đái tháo đường
cần biết, nhà xuất bản Y học Hà Nội.
4. Tạ Văn Bình (2007), những nguyên lý nền tảng
bệnh đái tháo đường tăng glucose máu, nhà xuất
bản Y học Hà Nội, 2007: 35-39.
5. JumaAl-Kaabi & et al (2009),"Physical Activity
and Reported Barriers to Activity Among Type 2
Diabetic Patients in the United Arab Emirates",
There view of the Diabetic Studies.6(4), p.271-8.
6. Harith Kh.Al-Qazaz & et al (2011),"Diabetes
knowledge, medication adherence and glycemic
control among patients with type 2 diabetes",
International Journal of Clinical Pharmacy.
33(6),p.1028-35.
7. American Diabetes Association (2003),
"Report of the expert committee on the diagnosis
and classification of diabetes mellitus", Diabetes
Care.26(1),p.5-13.
8. Elizabeth Broadbent & et al (2006), Ilness and
treatment perceptions are associated with
adherence to medications, diet and exercise in
diabetic patients, International Congress of
Behavioural Medicine, Bangkok, Thailand.
ĐÁNH GIÁ LÂM SÀNG SỰ KHÍT SÁT MÃO SỨ ZIRCONIA BẰNG
PHƯƠNG PHÁP LẤY DẤU THƯỜNG QUY VÀ LẤY DẤU KỸ THUẬT SỐ
Đoàn Minh Trí*
TÓM TẮT12
Đánh giá lâm sàng độ khít sát mão sứ zirconia
được thực hiện bằng phương pháp lấy dấu kỹ thuật số
(LDKTS) và lấy dấu thường quy (LDTQ). Mục tiêu
nghiên cứu: Đánh giá lâm sàng độ khít sát bờ mão
và lòng mão toàn sứ thực hiện bằng phương pháp
LDKTS và LDTQ. Đối tượng và phương pháp
nghiên cứu: 15 bệnh nhân có kế hoạch điều trị phục
*Trường Đại học Y Dược TPHCM
Chịu trách nhiệm chính: Đoàn Minh Trí
Email: trimdr818@gmail.com
Ngày nhận bài: 8/11/2018
Ngày phản biện khoa học: 6/12/2018
Ngày duyệt bài: 5/1/2019
hình cố định mão sứ tại khoa Răng Hàm Mặt, Đại học
Y dược TP Hồ Chí Minh. Dấu kỹ thuật số được thực
hiện với hệ thống scan Trios® và dấu thường quy
được dấu bằng cao su Polyvinyl Siloxane. Tất cả mão
toàn sứ được cắt nguyên khối bằng vật liệu Ceramill
Zolid (Amann Girrbach AG , Áo). Đánh giá chính xác
lâm sàng về độ khít sát bờ và lòng mão mão bằng
Polyvinyl silicone độ nhớt thấp. Kết quả: Trung bình
điểm đánh giá trên lâm sàng độ khít sát bờ mão toàn
sứ được thực hiện bằng phương pháp lấy dấu thường
quy là 1,33 ± 0,48 cao hơn so với phương pháp kỹ
thuật số là 1,20 ± 0,41, sự khác biệt không có ý nghĩa
thống kê (p>0,05). Trung bình điểm đánh giá tiếp xúc
bên của mão toàn sứ được thực hiện bằng phương
pháp lấy dấu thường quy là 2,00 ± 0,00 cao hơn so
với phương pháp kỹ thuật số là 1,66 ± 0,8, sự khác

vietnam medical journal n02 - JANUARY - 2019
44
biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05). Trung bình điểm
đánh giá tiếp xúc cắn khớp của mão toàn sứ được
thực hiện bằng phương pháp lấy dấu thường quy là
1,86 ± 0,35 cao hơn so với phương pháp kỹ thuật số
là 1,53 ± 0,52, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p=
0,05). Kết luận: Sử dụng LDKTS phục hình cố định
giúp chế tạo đượcmão sứ có độ khít xác hơn khi so
sánh với LDTQ, hơn nữa kỹ thuật này cũng giúp
tiếtkiệm thời gian làm việc trong la bô và lâm sàng.
Từ khoá:
Mão toàn sứ, lấy dấu kỹ thuật số, kỹ
thuật lấy dấu thường quy.
SUMMARY
CLINICAL EVALUATION OF THE MARGIN
AND INTERNAL FIT OF ALL-CERAMIC
ZIRCONIA CROWN BY USING CONVENTIAL
AND DIGITAL IMPRESSION METHODS
The margin and internal fit of crownswere
evaluated by using digital and conventional impression
methods. Objectives: The margin and internal
adpatation of zirconia crowns were compared when
using digital and conventional impression methods.
Patients were taken the digital and conventional
impressions at the day 7 after teeth preparation for
gingival healing. Materials and methods:
Fifteenpatients,who had been plannedcrown
treatments at Faculty of Odonto-Stomatology,
University of Medicine and Pharmacy, Ho Chi Minh
City. Digital impression was done by Trios® scaning
system and conventional impression was taken by
Polyvinyl Siloxane. All ceramic crowns were cut by
ceramic block CeramillZolid (Amann Girrbach AG ,
Austria). The marginal and internal of the crowns,
were evaluated in clinical examination by using light
body Polyvinyl Siloxane. Results: In cilinical
evaluation, the everage score of maginal of fit of all-
ceramic crowns which done by conventional
impression is 1,33 ± 0,48, higher than by digital
technique is 114,5 ± 23,1 µm, no significant difference
(p>0,05). Everage scoreof adjencent contact of all-
ceramic crowns which done by conventional
impression is 2,00 ± 0,00 higher than by digital
technique is 1,66 ± 0,8, significantdifference
(p<0,05). Conclusions: Using digitalim pression
techniquein fixed prosthodonticscan fabricate
moreaccurate fit crowns in compraring with
conventional technique, morever this technique also
save the laboratory and clinicalworking time.
Key words:
All ceramic crowns, digital impression
technique, conventional imprssion technique.
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Hiện nay, phục hình toàn sứ zirconia được sử
dụng ngày càng nhiều do yêu cầu thẩm mỹ của
bệnh nhân đối với phục hình phải tự nhiên như
răng thật[5]. Ngoài ra, phục hình toàn sứ không
có kim loại nên có thể tránh được sự ăn mòn,
đổi màu nướu và phản ứng dị ứng. Ưu điểm
chính của phục hình toàn sứ là thẩm mỹ về màu
sắc, kết cấu bề mặt, độ trong mờ và tính tương
hợp sinh học. Nghiên cứu lâm sàng đã cho thấy
tầm quan trọng của độ chính xác và sự khít sát
liên quan thành công phục hình. Tuy nhiên,
những nghiên cứu trước đây có giới hạn khi
đánh giá khít sát của mão đơn lẻ chủ yếu dựa
vào bờ mão [3].
Theo Holmes và cộng sự [7], sự khít sát của
mão có thể được định nghĩa tốt nhất bằng thuật
ngữ “khoảng hở” đo tại các điểm khác nhau giữa
bề mặt mão và răng. Đo vuông góc từ bề mặt
bên trong của mão đến thành trục của răng trụ
gọi là
khoảng hở lòng mão
, phép đo tương tự ở
bờ mão gọi là
khoảng hở bờ
. Lấy dấu là bản sao
ngược của bề mặt mô cứng hoặc mô mềm dùng
để chẩn đoán hoặc để làm phục hình [1]. Phần
lớn quy trình lấy dấu hiện nay vẫn còn sử dụng
phương pháp thường quy, bằng khay lấy dấu và
vật liệu lấy dấu [4].
Mặc dù đã xuất hiện lần đầu tiên vào những
năm 1950 nhưng cho đến những năm 1980,
công nghệ thiết kế và chế tạo hỗ trợ bằng máy
tính (CAD/CAM) mới được sử dụng trong nha
khoa. Kế tiếp những thành tựu và sự lớn mạnh
về công nghệ trong hơn 35 năm qua, hệ thống
lấy dấu kỹ thuật số và CAD/CAM hiện nay đã phổ
biến trong thực hành nha khoa và labô [2]. Máy
quét trong miệng đã có trên thị trường cách đây
hơn 40 năm với tốc độ phát triển nhanh chóng
về số lượng hệ thống thương mại trong mười
năm qua [5], nhiều hệ thống thay đổi từ hình
ảnh đơn sắc, có hoặc không phủ bột đến hệ
thống video có màu, không cần phủ bột.
Trên thế giới, rất ít nghiên cứu về lâm sàng
đánh giá và so sánh việc lấy dấu LDTQ và LDKTS
[1], [6], [7]. Tại Việt Nam, hiện chưa có nghiên
cứu nào đánh giá lâm sàng về độ khít sát của
phục hình được thực hiện bằng hai phương pháp
LDTQ và LDKTS. Chúng tôi thực hiện đề tài này
nhằm đánh giá lâm sàng sự khít sát bờ mão, tiếp
xúc bên và tiếp xúc cắn khớp của mão toàn sứ
thực hiện bằng hai phương pháp LDKTS và LDTQ.
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng có nhóm
chứng. Chọn mẫu thuận tiện gồm 15 bệnh nhân
có kế hoạch điều trị phục hình cố định mão đơn
lẻ tại khoa Răng Hàm Mặt, Đại học Y dược TP Hồ
Chí Minh. Mài cùi răng và gắn mão tạm cho bệnh
nhân. Các đối tượng tham gia nghiên cứu sẽ
được thực hiện hai hai mão toàn sứ trên một
răng trụ, một mão theo phương pháp lấy dấu
thường quy, một mão theo phương pháp lấy dấu
kỹ thuật số. Buổi hẹn LDKTS và LDTQ được sắp
xếp cho cùng bệnh nhân ở ngày thứ 7 sau khi
sửa soạn cùi răng để nướu tổn thương do sửa
soạn có thể lành thương.

TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 474 - THÁNG 1 - SỐ 2 - 2019
45
Dấu kỹ thuật số được thực hiện với hệ thống
scan Trios®,và LDTQ bằng khay cá nhân với vật
liệu lấy dấu polyvinyl siloxane và sử dụng kỹ
thuật lấy dấu mộtthì. Mẫu sau cùng của phương
pháp lấy dấu sau cùng được quét bằng máy quét
mẫu hàm. Tất cả các phục hình thiết lập thông
số khoảng hở xi măng 30 – 50 µm. Tất cả mão
toàn sứ zirconia được cắt nguyên khối bằng vật
liệu Ceramill Zolid (Amann Girrbach AG, Áo). Sau
khi cắt, mão được nhuộm màu và nướng bóng.
Để đánh giá chính xác lâm sàng về độ khít sát
bờ và lòng mão, bề mặt bên trong mão được
phủ bằng silicone độ nhớt thấp. Để bao phủ bên
dưới lớp silicone độ nhớt thấp (tượng trưng cho
khoảng hở bờ và lòng mão) đã được cố định
bằng silicone nặng (thay thế cho trụ răng), làm
một hộp bao phủ mẫu bản sao bằng silicone độ
nhớt trung bình. Các phép đo hở bờ và hở lòng
mão trên lâm sàng được thực hiện tại 4 điểm ở
hai mặt của mỗi phần (gần – xa và ngoài –
trong) cho khoảng hở bờ và lòng mão bao gồm:
hở bờ, hở trục, hở vùng múi răng, hở vùng múi
rãnh. Điểm số đánh giá tiếp xúc khít sát bờ từ 1
(tốt) đến 3 (cần sửa chữa); tiếp xúc bên từ 1
(tốt) đến 4 (cần chỉnh); tiếp xúc cắn khớp từ 1
(bình thường) đến 4 (thiếu tiếp xúc cắn khớp).
Các số liệu thu thập được phân tích và xử lý
bằng phần mềm thống kê SPSS phiên bản 20.0,
độ tin cậy 95%.
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Mẫu nghiên cứu: Mẫu nghiên cứu gồm 15
răng từ 14 bệnh nhân độ tuổi trung bình từ 19
đến 60 tuổi gồm 4 răng cối nhỏ và 11 răng cối
lớn. Độ khít sát bờ mão, tiếp xúc bên và tiếp xúc
cắn khớp của mão toàn sứ được thực hiện bằng
phương pháp LDTQ và LDKTS (bảng 1)
Bảng 1. Độ khít sát bờ mão, tiếp xúc bên và tiếp xúc cắn khớp của mão toàn sứ trên
lâm sàng được thực hiện bằng phương pháp LDTQ và LDKTS.
Phương pháplấy dấu
Đánh giá
Khít sát bờ mão
Tiếp xúc bên
Tiếp xúc cắn khớp
Lấy dấu thường quy
1,33 ± 0,48
2,00 ± 0,00
1,86 ± 0,35
Lấy dấu kỹ thuật số
1,20 ± 0,41
1,66 ± 0,8
1,53 ± 0,52
p
0,417
0,016 ٭
0,05 ٭
* Kiểmđịnh Mann – Whitney, sự khác biệt có ý nghĩa khi p <0,05.
− Trung bình điểm đánh giá khít sát bờ mão
toàn sứ được thực hiện bằng phương pháp LDTQ
là 1,33 ± 0,48 cao hơn so với phương pháp
LDKTS là 1,20 ± 0,41, sự khác biệt không có ý
nghĩa thống kê (p>0,05).
− Trung bình điểm đánh giá tiếp xúc bên của
mão toàn sứ được thực hiện bằng phương pháp
LDTQ là 2,00 ± 0,00 cao hơn so với phương
pháp LDKTSlà 1,66 ± 0,8, sự khác biệt có ý
nghĩa thống kê (p<0,05).
− Trung bình điểm đánh giá tiếp xúc cắn khớp
của mão toàn sứ được thực hiện bằng phương
pháp LDTQ là 1,86 ± 0,35 cao hơn so với
phương pháp kỹ thuật số là 1,53 ± 0,52, sự khác
biệt có ý nghĩa thống kê (p=0,05).
Biểu đồ 1. Độ khít sát bờ mão, tiếp xúc bên và
tiếp xúc cắn khớp của mão toàn sứ được thực
hiện bằng phương pháp LDTQ và LDKTS.
IV. BÀN LUẬN
Để đánh giá lâm sàng, chúng tôi sử dụng giấy
cắn GC (bề dày 40µm) đánh giá tiếp xúc cắn
khớp, đánh giá bằng thường được sử dụng để
điều chỉnh tiếp xúc cắn khớp trong thực hành
nha khoa. Khảo sát tiếp xúc bên bằng sử dụng
chỉ nha khoa có sáp Oral B (Mỹ). Khảo sát sự
khít sát bờ bằng thám trâm đường kính 150 µm,
phù hợp với nghiên cứu của GjevoldB. và cs. [8].
Kết quả cho thấy trong ba thông số đánh giá
lâm sàng được nghiên cứu, chỉ có thông số khít
sát bờ của mão thực hiện bằng LDKTS là thấp
hơn không có ý nghĩa so với LDTQ. Kết quả này
phù hợp với nghiên cứu của Björn Gjelvold, điều
này có thể được giải thích là do giới hạn của
phương pháp sử dụng để đánh giá trên lâm sàng
là dùng thám trâm có đầu nhọn đường kính 150µm
trong khi độ khít sát bờ trên lâm sàng có thể chấp
nhận được từ 100 – 120 µm, nên những sự khác
biệt nhỏ nằm trong phạm vi này có thể bị bỏ qua
khi sử dụng thám trâm đường kính 150µm.
Thông số tiếp xúc bên của mão thực hiện
bằng phương pháp lấy dấu kỹ thuật số và

vietnam medical journal n02 - JANUARY - 2019
46
phương pháp lấy dấu thường quy có giá trị cao
hơn giá trị trong nghiên cứu của GjelvoldBjörn
(bảng 2). Sự khác biệt giữa kết quả hai nghiên
cứu có thể giải thích là do giới hạn của đánh giá
lâm sàng, trong nghiên cứu này chỉ sử dụng chỉ
nha khoa, trong khi nghiên cứu của Björn
Gjelvold sử dụng chỉ nha khoa kết hợp với lưỡi
kim loại dày 100 µm. Thêm vào đó, sự khác biệt
của hai nghiên cứu có thể do thiết kế mão có sự
khác nhau về độ chặt của tiếp xúc bên.
Bảng 2. So sánh kết quả khi đánh giá các thông số lâm sàng của mão toàn sứ so với kết quả
nghiên cứu khác
Thông số lâm sàng
Björn Gjelvold (2016)
Nghiên cứu này
Thường quy
Kỹ thuật số
p
Thường quy
Kỹ thuật số
p
Khít sát bờ
1,54 ± 0,66
1,25 ±0,53
0,075
1,33 ± 0,48
1,20 ± 0,41
0,417
Tiếp xúc cắn khớp
1,58± 0,65
1,21 ±0,41
0,028
1,86 ± 0,35
1,53 ± 0,52
0,05
Tiếp xúc bên
1,58 ±1,21
1,79 ±0,83
0,100
2,00 ± 0,00
1,66 ± 0,8
0,016
Ngoài ra, có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê
giữa phương pháp LDTQ và LDKTS về điểm tiếp
xúc bên. Điều này có thể giải thích do trong
phương pháp LDTQ có thể làm biến dạng của
thạch cao khi đổ mẫu, do thao tác cưa đai có thể
ảnh hưởng răng kế cận, cuối cùng ảnh hưởng
đến tiếp xúc bên của phục hình sau cùng.Kết
quả nghiên cứu cho thấy thông số tiếp xúc cắn
khớp cao hơn kết quả của nghiên cứu Gjelvold B.
[8]. Sự khác biệt này có thể là do nghiên cứu
của Björn Gjelvold sử dụng giấy cắn có bề dày 8
µm, trong khi nghiên cứu của chúng tôi sử dụng
giấy cắn bề dày 40 µm, do đó việc ghi được
điểm tiếp xúc quá mức có sự khác nhau.
Hệ thống lấy dấu kỹ thuật số đem lại nhiều lợi
ích từ tiết kiệm thời gian thực hiện trên lâm
sàng, labo, việc lưu trữ dữ liệu vô thời hạn, đem
lại sự thoải mái cho bệnh nhân, loại bỏ được
những sai sót trong quy trình labo mà lấy dấu
thường quy có thể gặp phải.
Lấy dấu kỹ thuật số giúp nha sĩ kiểm tra được
răng sửa soạn với hình ảnh phóng đại lớn hơn và
chi tiết hơn, có thể đánh giá lấy dấu có chính xác
hay không, việc lấy dấu lại nếu có cũng đơn giản
hơn, chỉ cần lấy dấu lại vùng bị thiếu.
Trong nghiên cứu cho thấy tiếp xúc cắn khớp
của phương phápLDKTS tốt hơn khi so sánh với
LDTQ, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê.
Điều này là do sự khác biệt trong việc ghi khớp
cắn giữa hai kỹ thuật. Trong đó, kỹ thuật LDKTS,
việc ghi dấu khớp cắn thực hiện bằng quét mặt
ngoài khi hai hàm ăn khớp, mão răng được thiết
kế và sản xuất mà không cần mẫu hàm trung
gian. Điều này loại bỏ những thay đổi của vật
liệu ghi khớp cắn trong LDTQ có thể biến dạng
khi lấy ra khỏi miệng, hoặc khi vận chuyển hoặc
thay đổi nhiệt độ.
Việc áp dụng kỹ thuật số trong lấy dấu phục
hình cố định giúp chế tạo nhanh phục hình mà
vẫn đạt được độ khít sát của phục hình, tiết kiệm
thời gian và sức lao động, là giải pháp khả thi và
có ý nghĩa.
V. KẾT LUẬN
Khảo sát lâm sàngsự khít sát bờ mão, tiếp xúc
bên và tiếp xúc cắn khớp của mão toàn sứ cho
thấythông số tiếp xúc bên và tiếp xúc cắn khớp
của mão toàn sứ thực hiện bằng phương pháp
LDKTS tốt hơn so với LDTQ, sự khác biệt này có
ý nghĩa thống kê(p< 0,05).
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Abdel-Azim T., Rogers K., Elathamna E.et al
(2015), "Comparison of the marginal fit of lithium
disilicate crowns fabricated with CAD/CAM
technology by using conventional impressions and
two intraoral digital scanners",
The Journal of
prosthetic dentistry,
114 (4), pp. 554-559
2. Alghazzawi Tariq F. (2016), "Advancements in
CAD/CAM technology: Options for practical
implementation",
Journal of prosthodontic
research,
60 (2), pp. 72-84
3. Berrendero S., Salido M. P.et al (2016),
"Influence of conventional and digital intraoral
impressions on the fit of CAD/CAM-fabricated all-
ceramic crowns",
Clin Oral Investig,
20 (9), pp.
2403-2410
4. Boeddinghaus M., Breloer E. S., Rehmann P.et
al (2015), "Accuracy of single-tooth restorations
based on intraoral digital and conventional
impressions in patients",
Clin Oral Investig,
19 (8),
pp. 2027-34
5. Burke FJT. (2007), "Four year performance of
dentine-bonded all-ceramic crowns",
British dental
journal,
202 (5), pp. 269-273
6. Contrepois M., Soenen A., Bartala M., et al
(2013), "Marginal adaptation of ceramic crowns: a
systematic review",
The Journal of prosthetic
dentistry,
110 (6), pp. 447-454. e10
7. Cunali R. S., Saab R. C., Correr G. M., Cunha L.
F. D., et al (2017), "Marginal and Internal
Adaptation of Zirconia Crowns: A Comparative
Study of Assessment Methods",
Braz Dent J,
28
(4), pp. 467-473
8. Gjelvold B., Chrcanovic Bruno R., et al (2015),
"Intraoral digital impression technique compared to
conventional impression technique. A randomized
clinical trial",
Journal of Prosthodontics.

