
TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 474 - THÁNG 1 - SỐ 2 - 2019
17
Superior Oblique Muscle Dysfunction Following
Anterior Ethmoidal Artery Ligation for Epistaxis.
Arch Ophthalmol, 1990. 108(8): p. 1110-1113.
3. da Costa, L.B., et al.,
Anterior Ethmoidal Artery
Aneurysm and Intracerebral Hemorrhage.
AJNR Am
J Neuroradiol, 2006. 27(8): p. 1672-1674.
4. Hayreh, S.S.,
THE OPHTHALMIC ARTERY.
British
Journal of Ophthalmology, 1962. 46(4): p. 212-247.
5. Hyoung-Jin, M., et al.,
Surgical Anatomy of the
Anterior Ethmoidal Canal in Ethmoid Roof.
The
Laryngoscope, 2001. 111(5): p. 900-904.
6. Koh, E., V.I. Frazzini, and N.J. Kagetsu,
Epistaxis: Vascular Anatomy, Origins, and
Endovascular Treatment.
Am. J. Roentgenol., 2000.
174(3): p. 845-851.
7. Lund VJ,
Anatomy of the nose and paranasal
sinuses
. Scott Brown's Otolaryngology, 6th ed. ,
ed. In Gleeson M, London: Butterworths.
8. Nasser Razack, M.J.G., MD; and Mary E.
Jensen, MD,
Evaluation of the patient with
epistaxis.
July 2001: p. 18-19.
SO SÁNH INVITRO SỰ KHÍT SÁT MÃO TOÀN SỨ BẰNG
PHƯƠNG PHÁP LẤY DẤU THƯỜNG QUY VÀ LẤY DẤU KỸ THUẬT SỐ
Đoàn Minh Trí*
TÓM TẮT5
Khảo sát độ khít sát bờ và lòng mão được thực
hiện bằng phương pháp lấy dấu kỹ thuật số (LDKTS)
và lấy dấu thường quy (LDTQ). Mục tiêu nghiên
cứu: So sánh độ khít sát bờ mão và lòng mão toàn sứ
thực hiện bằng phương pháp LDKTS và LDTQ in vitro.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: 15 bệnh
nhân có kế hoạch điều trị phục hình cố định mão đơn
lẻ tại khoa Răng Hàm Mặt, Đại học Y dược TP Hồ Chí
Minh. Mài cùi răng, gắn mão tạm. Thực hiện LDKTS
và LDTQ cho bệnh nhân 7 ngày sau khi sửa soạn cùi
răng để nướu tổn thương do sửa soạn có thể lành
thương. Dấu kỹ thuật số được thực hiện với hệ thống
scan Trios® và dấu thường quy được dấu bằng cao su
Polyvinyl Siloxane. Tất cả mão toàn sứ được cắt
nguyên khối bằng vật liệu Ceramill Zolid (Amann
Girrbach AG, Áo). Đánh giá độ khít sát của mão trong
la bô bằng phương pháp sao mẫu. Kết quả: Trung
bình khoảng hở bờ mão của mão toàn sứ được thực
hiện bằng phương pháp LDTQ là 129,8 ± 19,7µm cao
hơn so với phương pháp LDKTS là 114,5 ± 23,1µm, sự
khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p>0,05).Trung
bình khoảng hở vùng hố rãnh của mão toàn sứ được
thực hiện bằng phương pháp LDTQ là 176,6 ± 63,8
µm, bằng phương pháp LDKTS là 108,9 ± 31,1 µm, sự
khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05). Kết luận:
Mão toàn sứ được thực hiện bằng LDKTD trong miệng
có giá trị khoảng hở bờ và lòng mão trung bình thấp
hơn khi so sánh với kỹ thuật LDTQ. Do đó
phươngLDKTS có thể áp dụng trong phục hình cố
định mang lại sự chính xác và hiệu quả về thời gian.
Từ khoá:
Mão toàn sứ, lấy dấu kỹ thuật số, kỹ
thuật lấy dấu thường quy.
SUMMARY
COMPARISON IN VITRO OF THE MARGIN
AND INTERNAL FIT OF ALL-CERAMIC
*Trường Đại học Y Dược TPHCM
Chịu trách nhiệm chính: Đoàn Minh Trí
Email: trimdr818@gmail.com
Ngày nhận bài: 5/11/2018
Ngày phản biện khoa học: 6/12/2018
Ngày duyệt bài: 2/1/2019
CROWN BY USING CONVENTIONAL AND
DIGITAL IMPRESSION METHODS
The margin and internal fit of crowns
wereevaluated by using digital and conventional
impression methods. Objectives: The margin and
internal adpatation of zirconia crowns were compared
when using digital and conventional impression
methods.Patients were taken the digital and
conventional impressions at the day 7 after teeth
preparation for gingival healing. Materials and
methods: Fifteenpatients, who had been
plannedcrown treatments at Faculty of Odonto-
Stomatology, University of Medicine and Pharmacy, Ho
Chi Minh City. The patients were prepared the
abutments and fixed by temporary crowns. Digital
impression was done by Trios® scaningsystemand
conventional impression was taken by Polyvinyl
Siloxane. All ceramic crowns were cut by ceramic
block CeramillZolid (Amann Girrbach AG, Austria). The
marginal and internal acurate fit of the crowns were
evaluated in vitro by replica techniques. Results:
Everage of maginal of fit of all-ceramic crowns which
done by conventional impression is 129,8 ± 19,7µm,
higher than by digital technique is 114,5 ± 23,1µm, no
significantly difference (p>0,05). Everage of internal
fit of all-ceramic crowns which done by conventional
impression is 176,6 ± 63,8 µm, by digital impression
technique is 108,9 ± 31,1 µm, significantly difference
(p<0,05). Conclusions: All-ceramic crowns were
done by digital impression technique , which have the
marginal and internal fit of crowns lower than those
were done by conventional technique. Therefore,
digital impression technique can be used in fixed
prosthodontics for accurate and time working results.
Key words:
All ceramic crowns, digital impression
technique, conventional imprssion technique.
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong thực hành nha khoa tổng quát, lấy dấu
cấu trúc răng và mô mềm trong miệng góp phần
rất quan trọng trong thành công của phục hình
sau cùng [1]. Sự chính xác của dấu sau cùng gửi
đến kỹ thuật viên labo sẽ quyết định độ khít sát
bờ và khoảng hở lòng mão của phục hình sau
cùng. Phần lớn quy trình lấy dấu hiện nay vẫn

vietnam medical journal n02 - JANUARY - 2019
18
còn sử dụng phương pháp lấy dấu thường quy
(LDTQ)[1]. Ngày nay, số hóa trong chẩn đoán và
điều trị đã trở thành một xu hướng lớn trong
phục hình. Lấy dấu kỹ thuật số (LDKTS) là bước
đầu tiên hướng tới chế tạo CAD/CAM của phục
hình răng. Kỹ thuật này ghi lại dữ liệu ba chiều
của cấu trúc giải phẫu bằng camera quang học,
có nhiều cách để ghi nhận dữ liệu, có thể quét
trực tiếp trên răng đã sửa soạn sử dụng máy
quét trong miệng, quét dấu hoặc quét mẫu hàm
thạch cao. Thu thập dữ liệu kỹ thuật số cải thiện
kế hoạch điều trị, hiệu quả cao hơn, dễ dàng lưu
trữ dữ liệu, tái tạo, tư liệu điều trị, hiệu quả chi
phí và thời gian, giao tiếp giữa nha khoa và labô
tốt hơn [2], [8].
Dù sử dụng phương pháp lấy dấu nào thì yếu
tố quan trọng quyết định thành công lâu dài của
phục hình là sự khít sát bờ và lòng mão. Hở bờ
gây tích tụ mảng bám dẫn đến viêm nha chu và
sâu răng, hòa tan xi măng và gây vi kẽ[3].Tại
Việt Nam, hiện chưa có nghiên cứu trong la bô
nào đánh giá về độ khít sát của phục hình được
thực hiện bằng hai phương pháp LDTQ và
LDKTS.Đề tài này được thực hiện nhằm đánh giá
có hay không sự khác biệt có ý nghĩa thống kê
về độ khít sát bờ và lòng mão được thực hiện
bằng phương pháp LDKTS và LDTQ.
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng có nhóm
chứng, gồm 15 bệnh nhân có kế hoạch điều trị
phục hình cố định mão đơn lẻ tại khoa Răng
Hàm Mặt, Đại học Y dược TP Hồ Chí Minh. Các
đối tượng tham gia nghiên cứu sẽ được thực
hiện hai hai mão toàn sứ trên một răng trụ, một
mão theo phương pháp lấy dấu thường quy, một
mão theo phương pháp lấy dấu kỹ thuật số. Dấu
kỹ thuật số được thực hiện với hệ thống scan
Trios®: đầu quét Trios® Color (3Shape A/S,
Copenhagen, Denmark) với phần mềm 3Shape
TRIOS 2014-1. LDTQ bằng khay cá nhân với vật
liệu lấy dấu polyvinyl siloxane và sử dụng kỹ
thuật lấy dấu một thì. Mẫu sau cùng của phương
pháp lấy dấu sau cùng được quét bằng máy quét
mẫu hàm (3Shape D700, cara TRIOS, Heraeus
Kulzer, Hanau, Đức). Tất cả các phục hình được
thiết kế bằng phần mềm 3Shape Dental
System™ 2016, thiết lập thông số khoảng hở xi
măng 30-50 µm. Đánh giá độ khít sát của mão
bằng phương pháp sao mẫu. Các thông tin và số
liệu thu thập được phân tích và xử lý bằng phần
mềm thống kê SPSS phiên bản 20.0. Tất cả các
phân tích đều được tiến hành với độ tin cậy 95%.
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Mẫu nghiên cứu:
gồm 15 răng từ 14 bệnh
nhân độ tuổi trung bình từ 19 đến 60 tuổi gồm 4
răng cối nhỏ và 11 răng cối lớn.
1. Độ khít sát bờ mão toàn sứ được thực
hiện bằng phương pháp LDTQ và LDKTS.
Bảng 1. Khoảng hở bờ mão toàn sứ được
thực hiện bằng phương pháp lấy dấu
thường quy và lấy dấu kỹ thuật số in vitro.
Trung
bình(µm)
Độ lệch
chuẩn
p
Hở
bờ
Thường quy
(n=15)
129,8
19,7
0,062
Kỹ thuật số
(n=15)
114, 5
23,1
*Kiểm định Student’s t – test
Trung bình khoảng hở bờ mão của mão toàn
sứ được thực hiện bằng phương pháp LDTQ là
129,8 ± 19,7µm cao hơn so với LDKTS là 114,5
± 23,1 µm, sự khác biệt không có ý nghĩa thống
kê (p>0,05).
2. Độ khít sát lòng mão toàn sứ được thực
hiện bằng phương pháp LDTQ và LDKTS.
2.1. Trung bình khoảng hở trục của mão toàn
sứ được thực hiện bằng phương pháp LDTQ là
114,7 ± 29,4µm cao hơn so với kết quả của
LDKTS là 97,7 ± 16,6µm, sự khác biệt có ý nghĩa
thống kê (p < 0,05).
Bảng 2. Khoảng hở thành trục của mão
toàn sứ được thực hiện bằng phương pháp
LDTQ và LDKTS
Trung
bình
(µm)
Độ
lệch
chuẩn
p
Hở
trục
Thường quy
(n=15)
114,7
29,4
0,013٭
Kỹ thuật số
(n=15)
97,7
16,6
*
Kiểm định Student’s t – test, sự khác biệt có
ý nghĩa khi p < 0,05.
2.2.Trung bình khoảng hở vùng múi răng của
mão toàn sứ được thực hiện bằng phương pháp
LDTQ là 150,7 ± 30,9 µm, bằng phương pháp
LDKTS là 121,9 ± 28,2 µm, sự khác biệt có ý
nghĩa thống kê (p <0,05).
Bảng 3. Khoảng hở vùng múi răng của
mão toàn sứ thực hiện bằng phương pháp
LDTQ và LDKTS
Trung
bình
(µm)
Độ
lệch
chuẩn
p
Hở múi
răng
Thường quy
(n=15)
150,7
30,9
0,0
12 ٭
Kỹ thuật số
(n=15)
121,9
28,2
٭
Kiểm định Student’s t – test, sựkhácbiệtcó ý
nghĩakhi p < 0,05.

TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 474 - THÁNG 1 - SỐ 2 - 2019
19
2.3.Trung bình khoảng hở vùng trũng rãnh
của mão toàn sứ được thực hiện bằng phương
pháp LDTQ là 176,6 ± 63,8 µm, bằng phương
pháp LDKTS là 108,9 ± 31,1 µm, sự khác biệt có
ý nghĩa thống kê (p < 0,05).
Bảng 4. Khoảng hở vùng trũng rãnh của
mão toàn sư thực hiện bằng phương pháp
LDTQ và LDKTS
Trung
bình
(µm)
Độ lệch
chuẩn
p
Hở
vùng
trũng
rãnh
Thường quy
(n=15)
176,6
63,8
0,00
0 ٭
Kỹ thuật số
(n=15)
108,9
31,1
* Kiểm định Mann – Whitney, sự khác biệt có ý
nghĩa khi p <0,05
IV. BÀN LUẬN
Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng
phương pháp sao mẫu bằng silicone để đánh giá
độ khít sát bờ và trong lòng mão toàn sứ.
Phương pháp này được mô tả khá tốt trong y
văn là phương pháp dễ thực hiện, không xâm lấn
và có thể lặp lại được [6], [7] tương đối rẻ tiền
và không tốn thời gian, được sử dụng gần đây
để đánh giá độ khít sát bờ và lòng phục hình.
Tuy nhiên kỹ thuật sao mẫu gặp phải những hạn
chế, như là khó khăn trong việc xác định bờ mão
và đường hoàn tất, sai sót khi cắt, ít các điểm
tham chiếu, rách lớp đàn hồi khi lấy ra khỏi mão.
Vì đo khoảng hở mão zirconia, cần tránh quy
trình chế tạo mão khác nhau. Để tránh ảnh
hưởng của các quy trình chế tạo khác nhau lên
kết quả, quy trình CAD/CAM giống nhau, cùng
vật liệu sử dụng cho cả hai phương pháp lấy
dấu. Trong nghiên cứu này, sử dụng định nghĩa
độ khít sát bờ theo Holmes và cộng sự[5].
Khoảng hở lòng mão đo bằng khoảng hở giữa
mão và răng trụ, và là khoảng hở của mặt trong
lòng mão đến thành trục, múi răng và vùng
trũng rãnh.
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy
trung bình khoảng hở trục của mão thực hiện bằng
phương pháp LDTQ và LDKTS tương ứng là
114,7µm và 97,7µm. Kết quả này tương đồng với
kết quả nghiên cứu của Berrendero S. [4] tương
ứng là 105,2µm; 82,8µm và 120,93µm; 81,62µm,
nhưng cao hơn kết quả của Rödiger M.[7] và
Pedroche LO. [6]. Nguyên nhân của sự khác biệt
này có thể giải thích là nghiên cứu các tác giả này
đánh giá sự khít sát trên sườn zirconia, trong khi
nghiên cứu của chúng tôi sử dụng mão sứ nguyên
khối, có thể tiếp xúc bên làm ảnh hưởng đến việc
đặt mão chính xác lên cùi răng.
Khi đo khoảng hở múi răng và vùng trũng
rãnh, kết quả cho thấy giá trị dao động từ 77,8
µm đến 240,4 µm. Giá trị này có thể cao hơn
mức chấp nhận về mặt lâm sàng, nhưng chúng
tương đương giá trị thu được ở la bô và nghiên
cứu lâm sàng. Khoảng hở tăng ở vùng múi và
trũng rãnh có thể do hình dạng mũi mài, vì
đường kính của mũi khoan xác định phạm vi mài
nhỏ nhất của bề mặt bên trong của mão. Một lý
do khác có thể gọi là hiên tượng “quá mức”, tạo
ra các đỉnh ảo gần các cạnh của cấu trúc ba
chiều khi ghi nhận hình ảnh bằng quét kỹ thuật
số và có thể gây biến dạng thiết kế răng đã sửa
soạn ở các vùng có góc. Nghiên cứu hiện tại sử
dụng quét trên mẫu hàm thạch cao và quét
trong miệng. Khi làm như vậy, dữ liệu được thu
thập từ các bề mặt với các đặc điểm quang học
khác nhau, bao gồm độ trong mờ, sự phản xạ
và bề mặt nhẵn. Máy quét trong miệng và trong
la bô có thể ghi nhận dữ liệu không cùng độ
chính xác.
Kết quả về khoảng hở lòng mão có thể so
sánh với kết quả của các thử nghiệm lâm sàng
so sánh sử dụng hệ thống lấy dấu khác. Trong
nghiên cứu hiện tại, sự khít sát lòng mão tốt
nhất cho cả hai phương pháp lấy dấu là ở thành
trục (thường quy: 114,7 ± 29,4µm; kỹ thuật số:
97,7 ± 16,6 µm). Kết quả này tương đồng với
kết quả của LDTQ và LDKTS trong nghiên cứu
của BerrenderoS.[4]. Trong nghiên cứu này, giá
trị trung bình cao nhất đo được trong lòng mão ở
vị trí vùng trũng rãnh (thường quy: 176,6 ± 63,8
µm; kỹ thuật số: 108,9 ± 31,1µm. Kết quả tương
đồng với kết quả của các nghiên cứu khác cho
thấy khoảng hở ở trũng rãnh dao động từ 112,6
µm đến 314,31µm.
Nhìn chung, trung bình khoảng hở lòng mão
tại thành trục, vùng múi răng, và vùng trũng
rãnh của mão toàn sứ được thực hiện bằng
phương pháp LDKTS ít hơn có ý nghĩa thống kê
so với kết quả của phương pháp LDTQ phù hợp
với kết quả nghiên cứu củavà Pedroche
LO.[6].Có thể giải thích là do không cần vật liệu
lấy dấu, khay lấy dấu để lấy dấu kỹ thuật số.
Những vật liệu này dù khác nhau về loại và chất
lượng cũng có một mức độ thay đổi kích thước
nào đó. Thêm vào đó, LDTQ cần mẫu hàm thạch
cao, cưa đai, gọt đai, những quy trình này có thể
ảnh hưởng đến sự chính xác của mẫu sau cùng,
do đó ảnh hưởng đến sự khít sát của phục hình
sau cùng.
V. KẾT LUẬN
1. Trung bình độ khít sát bờ mão toàn sứ
thực hiện bằng phương pháp LDKTS hơn so với
LDTQ, sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê

vietnam medical journal n02 - JANUARY - 2019
20
(p>0,05).
2. Trung bình độ khít sát lòng mão toàn sứ
thực hiện bằng phương pháp LDKTS tại thành
trục, múi răng và hố rãnh thấp so với LDTQ, sự
khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p< 0,05).
Trong ba điểm đo tại lòng mão, khoảng hở tại
thành trục có giá trị trung bình thấp nhất, trong
khi tại vùng trũng rãnh có trung bình khoảng hở
cao nhất.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Abdel-Azim T., Rogers K., Elathamna E.,et
al(2015), "Comparison of the marginal fit of
lithium disilicate crowns fabricated with CAD/CAM
technology by using conventional impressions and
two intraoral digital scanners",
The Journal of
prosthetic dentistry,
114 (4), pp. 554-559
2. Ahlholm P., Sipilä K., Vallittu P.,et al (2016),
"Digital Versus Conventional Impressions in Fixed
Prosthodontics: A Review",
Journal of Prosthodontics,
pp.
3. Alghazzawi Tariq F. (2016), "Advancements in
CAD/CAM technology: Options for practical
implementation",
Journal of prosthodontic
research,
60 (2), pp. 72-84
4. Berrendero S., Salido M. P., Valverde A., et al
(2016), "Influence of conventional and digital
intraoral impressions on the fit of CAD/CAM-
fabricated all-ceramic crowns",
Clin Oral Investig,
20 (9), pp. 2403-2410
5. Holmes JR., Bayne Stephen C., Holland Gene
A., et al (1989), "Considerations in measurement
of marginal fit",
The Journal of prosthetic dentistry,
62 (4), pp. 405-408
6. Pedroche L. O., Bernardes S. R., Leao M. P., et
al (2016), "Marginal and internal fit of zirconia
copings obtained using different digital scanning
methods",
Braz Oral Res,
30 (1), pp. e113
7.Rödiger M., Heinitz A., Bürgers R., Rinke S.,
(2016), "Fitting accuracy of zirconia single crowns
produced via digital and conventional impressions
—a clinical comparative study",
Clinical Oral
Investigations,
pp. 1-9
8. Đoàn Minh Trí, Đỗ Thị Kim Anh (2017), "So
sánh lấy dấu theo phương pháp kỹ thuật số và
phương pháp thường quy ",
Tạp chí Y học TPHCM
2018, 22 (2), pp
. 112-118.
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG TRẺ EM
SAU ĐIỀU TRỊ SÂU NGÀ RĂNG HÀM SỮA BẰNG KỸ THUẬT SMART
Lê Thị Thu Hằng*, Đỗ Minh Hương*
TÓM TẮT6
Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả nâng cao chất lượng
cuộc sống sau điều trị sâu ngà răng hàm sữa bằng kỹ
thuật SMART.Phương pháp nghiên cứu: Nghiên
cứucan thiệp cộng đồng không đối chứng được thực
hiện trên 128 trẻ 3-5 tuổi mắc sâu ngà răng hàm sữa.
Toàn bộ trẻ được khám lâm sàng xác định tổn thương
và điều trị hàn răng bằng phương pháp SMART
(Simplified Modified Atraumatic Restorative
Technique). Sức khỏe răng miệng liên quan đến chất
lượng cuộc sống được xác định qua sử dụng thang đo
MOHQoLS (Michigan Oral Health-related Quality of Life
Scale) dành cho trẻ 2-5 tuổi, đánh giá trước và sau khi
can thiệp hàn răng 1 năm. Kết quả: Trước can thiệp,
dấu hiệu cơ năng của răng gặp ở 22.7% trẻ khi ăn đồ
ăn nóng hoặc lạnh, 32% trẻ khi ăn kẹo và đã giảm
một nửa sau can thiệp SMART. Những vấn đề liên
quan đến sinh hoạt của trẻ gặp ở khoảng 1/10 trẻ
trước can thiệp và gần như không còn sau khi trẻ
được hàn răng. Hầu hết trẻ đều thích hàm răng của
mình và tự nhận có nụ cười đẹp (>90%). Sau can
thiệp, số trẻ bị bạn bè chê cười hàm răng giảm từ
10.9% xuống 1.6%, số trẻ hài lòng với hàm răng của
mình tăng lên từ 74.2 đến 91.4%. Kết quả đã chỉ ra
*Trường Đại học Y Dược Thái Nguyên
Chịu trách nhiệm chính: Đỗ Minh Hương
Email: ashrose_tn@yahoo.com.vn
Ngày nhận bài: 10/11/2018
Ngày phản biện khoa học: 9/12/2018
Ngày duyệt bài: 11/1/2018
sự cải thiện có ý nghĩa thống kê về chất lượng cuộc
sống của trẻ sau can thiệp điều trị sâu răng bằng
phương pháp SMART với p< 0.001. Kết luận: Chất
lượng cuộc sống của trẻ 3-5 tuổi bị sâu ngà răng hàm
sữa đã được cải thiện rõ rệt sau 1 năm điều trị bằng
phương pháp SMART, đặc biệt là cảm giác đau- khó
chịu, sinh hoạt và tinh thần, thẩm mĩ của trẻ.
Từ khóa:
SMART, chất lượng cuộc sống, 3-5 tuổi
SUMMARY
IMPROVING CHILDREN QUALITY OF LIFE
BY PRIMARY MOLARCARIES MANAGEMENT
USING SIMPLIFIED MODIFIED
ATRAUMATIC RESTORATIVE TECHNIQUE
Objective: to evaluate the effectiveness of SMART
in primary molar caries on improving quality of life of
children. Methods: A quasi experimental study was
conducted in 128 children at 3-5 years old who
experienced in primary molar caries. All children
received oral examination and caries treatment using
SMART (Simplified Modified Atraumatic Restorative
Technique). Oral health related quality of life was
measured using MOHQoLS (Michigan Oral Health-
related Quality of Life Scale) for children 2-5 years old,
evaluated follow up 1 year. Results: At baseline,
children reported having teeth hurt when eat
something hot or cold at 22.7%, when eat something
sweet at 32%. These percentages were about 50%
decreased. Daily activities related to physical-social
performanceproblemswere at 1/10 children at baseline
but almost at normal after 1 year receiving SMART.
Most of children were like and happy with their smile

