intTypePromotion=1

Đề tài: Hiện trạng dinh dưỡng của trẻ em Việt Nam hiện nay

Chia sẻ: Ngo Tuan Anh | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:30

0
94
lượt xem
20
download

Đề tài: Hiện trạng dinh dưỡng của trẻ em Việt Nam hiện nay

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Không chỉ đối với người lớn mà trẻ nhỏ cũng rất cần được cung cấp một chế độ dinh dưỡng cân đối , hợp lý với 4 nhóm thực phẩm chính: chất đường bột, béo, đạm, vitamin và khoáng chất. Nhóm chất bột đường ( bột , cháo , cơm...) là nguồn cung cấp năng lượng chính trong khẩu phần hằng ngày của bé...Chất đạm( thịt, cá , đậu) với chức năng chính là tạo hình như sự giúp cơ thể bé xây dựng cơ bắp...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Đề tài: Hiện trạng dinh dưỡng của trẻ em Việt Nam hiện nay

  1. Đề tài : Hiện trạng dinh dưỡng của trẻ em Việt Nam hiện nay *Mục lục Dinh dưỡng cho trẻ em 1. Đặc điểm cơ thể trẻ em 2. Nhu cầu dinh dưỡng trẻ em - Nhu cầu năng lượng - Nhu cầu Protein - Nhu cầu Lipid - Nhu cầu Gluxit - Nhu cầu chất khoáng - Nhu cầu vitamin 3. Lựa chọn thức ăn và chế độ ăn cho trẻ em - Lựa chọn thức ăn - Chế độ ăn của trẻ - Thực trạng suy dinh dưỡng và béo phì ở trẻ em Việt Nam hiện nay Không chỉ đối với người lớn mà trẻ nhỏ cũng rất cần được cung cấp một chế độ dinh dưỡng cân đối, hợp lý với 4 nhóm thực phẩm chính: chất đường bột; béo; đạm; vitamin và khoáng chất. Nhóm chất bột đường (bột, cháo, cơm…) là nguồn cung cấp năng lượng chính trong khẩu phần hàng ngày của bé. Chất đạm
  2. (thịt, cá, đậu…) với chức năng chính là tạo hình như giúp cơ thể bé xây dựng cơ bắp, tạo kháng thể, đặc biệt là sự phát triển tế bào não và cung cấp một phần nhỏ năng lượng (14-15%). Chất béo vừa cung cấp năng lượng, tăng khả năng ngon miệng lại giúp trẻ hấp thu tốt các vitamin tan trong chất béo như vitamin A, D, E, K. Vitamin và khoáng chất đóng vai trò rất quan trọng với việc phát triển, tăng trưởng, điều hòa các chuyển hóa trong cơ thể của trẻ cũng như tăng cường sức đề kháng phòng chống bệnh tật. Việc thiếu hụt một trong các chất này sẽ dẫn tới tình trạng mất cân bằng dinh dưỡng, ảnh hưởng không tốt đến sự tăng trưởng và phát triển của bé cả về thể lực và trí tuệ. Ăn nhiều chưa hẳn là đủ. Đó có lẽ là một nghịch lý trong các bữa ăn của trẻ hiện nay. I Đặc điểm cơ thể trẻ em Cơ thể trẻ em luôn luôn biến đổi và phát triển về trọng lượng và tinh thần.Các cơ quan trong cơ thể đang hoàn chỉnh dần dần.Các bộ phận chưa đạt đến mức độ ổn định cần thiết vì thế chỉ cần một thay đổi nhỏ cũng dẫn đến những rối loạn nghiêm trọng 1.Miệng 1.1. Hốc miệng: Ở trẻ bú mẹ, hốc miệng nhỏ, vòm thẳng, các cơ môi pháttriển mạnh, lợi có nhiều nếp nhăn. Những đặc điểm này có tác dụng rất lớn đối với động tác bú. Niêm mạc miệng mềm mại, khô, có nhiều mạch máu nên dễ bị tổn thương, dễ bị các bệnh nấm ở miệng. 1.2. Lưỡi : Tương đối to, rộng và dày ở lứa tuổi sơ sinh và bú mẹ. Đặc điểm này làm cho trẻ mút có hiệu quả hơn. 1.3. Tuyến nước bọt: Tuyến nước bọt trẻ sơ sinh còn ở trong tình trạng sơ khai, chưa biệt hóa. Đến tháng thứ 3 - 4 mới phát triển hoàn toàn. Cùng vớisự phát triển của hệ thần kinh, số lượng nước bọt tăng dần lên. Đến tháng thứ 4 - 5, nước bọt trẻ tiết ra nhiều thường gọi là hiện tượng chảy nước bọt sinh lý do có sự kích thích của mầm răng vào dây thần kinh số V. pH nước bọt toan nhẹ hoặc trung tính (6 - 7,8). 2. Răng:
  3. Thường trẻ bắt đầu mọc răng từ 5 - 6 tháng cho đến 24 tháng thì hết mọc răng sữa. Từ 6 tuổi trở đi, răng sữa được thay bằng răng vĩnh viễn. Để cho hàm trẻ hình thành và phát triển đúng, cần cho trẻ nhai thức ăn cứng khi trẻ mọc đủ răng. Nếu không, xương hàm sẽ chậm phát triển làm cho 2 hàm răng cắn vào nhau không khớp. 3. Thực quản: Thực quản trẻ sơ sinh có hình chóp nón, người lớn có hình trụ. Vách thực quản trẻ em mỏng, cơ chun, tổ chức đàn hồi chưa phát triển. Các tuyến ít nhưng có nhiều mạch máu. Đường kính ống thực quản trẻ em: Dưới 2 tháng: 0,9 cm. 2 - 6 tháng: 0,9 - 1,2 cm. 9 - 18 tháng: 1,2 - 1,5 cm. 2 - 6 tuổi: 1,3 - 1,7 cm. Chiều dài ống thực quản (X) được tính từ răng đến tâm vị theo công thức: X = 1/5 chiều cao cơ thể + 6,3 cm. 4. Dạ dày: 4.1. Đặc điểm giải phẫu và tổ chức học: - Đặc điểm giải phẫu: Dạ dày của trẻ sơ sinh thường nằm ngang và tương đối cao, đến lúc biết đi mới theo tư thế đứng dọc. Hình thể dạ dày có hìnhtròn khi mới sinh, đến 1 tuổi có hình thuôn dài, đến 7 - 11 tuổi có hình thể như người lớn. Tuy nhiên còn tùy thuộc vào sự phát triển của lớp cơ dạ dày và tính chất thức ăn. - Dung tích dạ dày: Sơ sinh: 30 - 35 ml; 3 tháng: 100 ml; 1 tuổi: 250 ml. - Tổ chức học: Lớp cơ phát triển yếu nhất là cơ thắt tâm vị, còn cơ thắt môn vị phát triển tốt và đóng rất chặt. Do đó trẻ có hiện tượng bị nôn trớ sau khi ăn. 4.2. Cử động của dạ dày: Cử động dạ dày là các sóng nhu động đi từ tâm vị đến môn vị và những co bóp đóng mở môn vị và tâm vị. Những rối loạn về cử động dạ dày là tăng hoặc giảm trương lực. Ở trẻ sơ sinh, hay gặp thể co thắt môn vị, gây nôn rất nhiều. 4.3. Chức phận bài tiết của dạ dày: Độ toan dịch vị trẻ em từ 5,8 - 3,8; ngày càng tăng lên theo tuổi. Ở trẻ lớn, pH gần bằng người lớn (1,5 - 2). Thành phần dịch vị trẻ em như người lớn nhưng hoạt tính kém hơn, các men gồm có: Pepsine, Labferment và Lipaza. Lipaza chỉ có tác dụng với mỡ nhũ tương mà thôi. Trong sữa mẹ có lipaza do đó mỡ trong sữa mẹ được tiêu hóa, hấp thu tốt hơn trong sữa bò. 4.4. Chức phận tiêu hóa thức ăn ở dạ dày:
  4. Đối với trẻ bú mẹ, 25% số lượng được hấp thu ở dạ dày kể cả protide và lipide. Thời gian sữa mẹ ở dạ dày là 2 - 2 giờ 30, sữa bò là 3 - 4 giờ. 5. Ruột: 5.1. Đặc điểm giải phẫu và sinh lý: Ruột trẻ em tương đối dài hơn ruột người lớn (so với chiều cao cơ thể). 6 tháng đầu ruột dài gấp 6 lần chiều cao cơ thể, người lớn chỉ dài gấp 4 lần. Niêm mạc ruột có nhiều nhung mao, nhiều nếp nhăn, nhiều mạch máu nên có thể hấp thu được một số sản phẩm trung gian, nhưng cũng làm cho vi khuẩn dễ xâm nhập. Mạc treo ruột tương đối dài, manh tràng ngắn và di động nên trẻ dễ bị xoắn ruột và cũng vì thế nên vị trí ruột thừa không cố định, chẩn đoán viêm ruột thừa ở trẻ em khó hơn người lớn. Trực tràng tương đối dài, niêm mạc lỏng lẻo, do đó khi bị lỵ, ho gà dễ bị sa xuống. 5.2. Chức phận của ruột: Ruột trẻ có 3 chức năng chính là: tiêu hóa, hấp thu và vận động. Các men tiêu hóa ở ruột gồm có: Erepsin, Amylaza, Lipaza, Maltaza, Invectin, Enterokinaza. Tuy vậy, hoạt tính của các men còn kém. Thời gian thức ăn ở ruột trung bình từ 12 - 16 giờ. Thời gian thức ăn lưu lại tại ruột non ở trẻ bú mẹ nhanh hơn trẻ lớn và người lớn. Ở trẻ bú mẹ, trung bình là 6 - 8 giờ, tuy nhiên thời gian này còn phụ thuộc vào tính chất của thức ăn. 5.3. Đặc điểm vi trùng ở ruột trẻ em: - Những vi khuẩn thường gặp là: tụ cầu, liên cầu, phế cầu, perfringens. - Trẻ bú mẹ và chăm sóc vệ sinh tốt thì vi khuẩn Bifidus, B. lactis aerogenes, B. acidophilus chiếm ưu thế. Do trong sữa mẹ có đường lactose có tác dụng tốt đối với trực khuẩn bifidus và ức chế vi khuẩn E.coli. Trẻ ăn nhân tạo thì vi khuẩn E. Coli có nhiều do trong sữa bò có loại đường lactose thích hợp cho vi khuẩn E. Coli phát triển. Tác dụng tích cực của vi khuẩn là làm thành hàng rào ngăn các vi khuẩn gây bệnh xâm nhập, làm tăng quá trình tiêu hóa chất đạm, mỡ, đường, tham gia vào sự tổng hợp vitamin nhóm B, vitamin K. - Khi khuẩn chí đường ruột bị rối loạn có thể làm tăng các sản phẩm độc, ức chế hoạt động của các men tiêu hoá. Những yếu tố ảnh hưởng xấu đến khuẩn chí đường ruột là tình trạng suy dinh dưỡng, sử dụng kháng sinh phổ rộng bừa bãi. 6. Tụy: Ngay từ mới sinh, chức phận tụy tương đối đã phát triển và hoạt động. Dịch tụy được bài tiết ngay sau khi ăn. Các men của tuỵ gồm
  5. Trypsin, Lipaza, Amylaza, Maltaza; tác dụng của các men này cũng như ở người lớn. Tuỵ có 2 chức phận: nội tiết sản xuất ra Insulin; ngoại tiết sản xuất ra các men tuỵ đổ vào tá tràng. 7. Gan: - Gan của trẻ em tương đối lớn. Ở trẻ sơ sinh nó chiếm 4,4% trọng lượng cơ thể, người lớn chỉ chiếm 2,4%. Ở trẻ sơ sinh, thùy gan tráito hơn thùy gan phải, sau đó gan phải phát triển rất nhanh và to hơn. Hình chiếu của gan trên thành bụng khác với người lớn, giới hạn trên theo đường vú phải ở gian sườn V và VI, giới hạn dưới: Dưới mũi ức Dưới bờ sườn phải Trẻ sơ sinh 3 - 4 cm 2,5 - 3cm 1 - 2 tuổi 3 - 4 cm 2 cm 3 - 7 tuổi 2 - 3 cm 1 cm - Gan đóng vai trò lớn trong việc trao đổi các chất protid, glucid, lipid và các vitamin. - Gan tạo và bài tiết mật để kích thích các enzym trong ruột đồng thời để tiêu hóa mỡ. - Gan là bộ phận sinh ra tế bào máu trong thời kỳ bào thai. Sau sinh nếu trẻ bị thiếu máu thì khả năng này vẫn còn tiếp tục. - Gan là bộ phận chống độc quan trọng. - Gan còn là nguồn sinh nhiệt vì gan tạo ra và tích trữ glycogen từ đường và các chất không phải đường. II Nhu cầu dinh dưỡng trẻ em 1.Dinh dưỡng cho trẻ từ 1 đến 12 tháng tuổi Sữa mẹ là dịch thể sinh học tự nhiên, với đầy đủ năng lượng và tất cả các chất dinh dưỡng cần thiết cho nhu cầu tăng trưởng của trẻ nhỏ trong khoảng thời gian từ 4 đến 6 tháng đầu của cuộc sống. Vai trò của sữa mẹ 1.1.
  6. Sữa mẹ chứa chất protein, chất lipit thích hợp nh ất cho đứa tr ẻ, v ới một lượng thỏa mãn nhu cầu cơ thể trẻ những ngày đầu, nh ững tháng đầu (4-6 tháng). Sữa mẹ dễ tiêu hoá, hấp thu nhanh, trẻ mau đói, hay ăn (sữa mẹchứa một loại enzym đặc biệt giúp tiêu hoá chất béo). Sữa mẹ chứa nhiều lactose hơn các loại sữa khác, có đủ các loại vitamin cần thiết cho trẻ. Sữa mẹ có đủ chất sắt cho sự lơn của trẻ nh ững tháng đ ầu (d ưới 6 tháng). Sữa mẹ có đủ nước cung cấp cho cơ thể trẻ ngay cả khi trời nóng. Sữa mẹ còn có đủ lượng muối, canxi và photpho thích hợp với cơ thể trẻnhỏ.Ðặc biệt trong sữa non và sữa mẹ thời kỳ đầu có taurine (là một axit amino sylfuric tự do) ở nồng độ cao (sữa mẹ giai đoạn cho con bú kéo dài thì lượng taurine giảm dần). Chất taurine Taurine có chức năng rất quan trọng đối với trẻ nhỏ ngay từ những ngày đầu. + Taurine tham gia vào sự phát triển mạnh mẽ của não bộ và võng mạc mắt (sự phát triển sớm của vài vùng của hệ thần kinh trung ương như ở cầu não, hạ đồi, vùng thị giác - liên quan đến nồng độ taurine rất cao trong những mô này). + Taurine còn tham gia trong việc phòng ngừa bất thường của võng mạc mắt và kết hợp với a xít mật để tiêu hóa chất béo... Sữa mẹ - nguồn dinh dưỡng tuyệt vời Sữa mẹ có tác dụng chống dị ứng và tăng sức đề kháng cho trẻ, tiếp tục phòng bệnh và giúp trẻ nhỏ phát triển đến 2 năm tuổi.
  7. Sữa mẹ là thức ăn hoàn hảo nhất (phần lớn được hấp thu vào cơ thể, ít chất bã thải ra ngoài). Có trẻ bú mẹ, không đi tiêu trong m ột vài ngày, nhưng không phải là táo bón (vì phân không cứng mà v ẫn m ềm, t ự có khi trẻ phải rặn), điều đó là bình thường ở trẻ bú sữa mẹ. Sữa mẹ còn là vũ khí chống béo phì cho trẻ trong t ương lai. Theo công bốcủa các nhà khoa học Ðức và Hoa Kỳ cho biết: nếu bé mới sinh được bú sữa mẹ liên tục từ 3 đến 5 tháng thì giảm được 1/3 nguy cơ mắc chứng béo phì vào lứa tuổi từ 5 đến 6 so với các bé sau sinh ch ỉ đ ược nuôi "chay" bằng sữa nhân tạo. Ngoài ra, nếu nuôi bé bằng sữa mẹ cho tới 6-12 tháng tuổi thì chỉ có 43% trẻ em bị mắc chứng béo phì... Với đặc trưng riêng, sữa mẹ luôn luôn ở trong điều kiện hoàn h ảo nh ất cho bé, ngay cả khi người mẹ bị bệnh, hay lúc mang thai, khi có kinh hoặc cơ thể thiếu dinh dưỡng. Sữa mẹ là thức ăn tốt nhất bởi nó hoàn chỉnh nhất, dễ h ấp thu nh ất và thích hợp nhất đối với trẻ sơ sinh cho đến khi ăn b ổ sung (t ới kho ảng 4-6 tháng tuổi). Không một loại sữa động vật nào sánh đ ược, không m ột lo ại thực phẩm nào có thể thay thế được sữa mẹ Nhu cầu dinh dưỡng cho trẻ từ 1 - 3 tuổi Khi bé sau 1 tuổi, lượng sữa bú mẹ hay bú bình đều đã giảm. Giai đoạn ăn dặm đã qua và bé đã có thể ăn các loại thức ăn cứng. Điều quan trọng lúc này là một chế độ ăn đa dạng, đáp ứng nhu cầu cho cơ thể bé. Giai đoạn bé từ 1 – 3 tuổi, đây chính là thời điểm để chuy ển từ các th ức ăn dành riêng cho bé sang các thức ăn chung của cả gia đình. Sau 1 tuổi, lượng sữa bú mẹ đã giảm. Điều quan trọng lúc này là bé cần có một ch ế độ ăn đa dạng, cung cấp đầy đủ dinh dưỡng, đáp ứng nhu cầu cơ thể. Tuy nhiên, đây cũng là thời điểm mà sự tăng trưởng của cơ th ể bé đang ch ậm lại, vì thế cũng làm giảm cảm giác thèm ăn. Trong khi đó, nhu c ầu c ủa bé lại phụ thuộc vào sự kiểm soát của mẹ nên lúc này, các bậc ph ụ huynh thường cảm thấy con mình dường như không thích ăn, giờ ăn bỗng chốc trở thành một thách thức, khiến các bậc cha mẹ lo l ắng v ề tình tr ạng s ức khoẻ của con.
  8. Nhu cầu dinh dưỡng của trẻ từ 3 - 6 tuổi Khi trẻ 3 - 6 tuổi có sự phát triển cân nặng chênh lệch hơn 15% cân nặng chuẩn thì chứng tỏ trẻ có vấn đề về dinh dưỡng, dẫn tới việc trẻ bị thiếu dinh dưỡng hoặc mắc chứng béo phì. Vì vậy, cha mẹ cần quan tâm đến đặc điểm phát triển của trẻ và nhu cầu dinh dưỡng của trẻ trong giai đoạn này. . Các chất dinh dưỡng cần thiết cho trẻ Có hơn 60 chất dinh dưỡng cần thiết cho sự phát tri ển trí thông minh c ủa trẻ ở lứa tuổi này, bao gồm 6 loại: protein, mỡ, đường, vitamin, khoáng chất và nước. Trong đó, mỡ, đường và vitamin là ba khoáng chất quan trọng nhất. Chất béo Dầu và mỡ cung cấp năng lượng trong bữa ăn của trẻ, làm cho thức ăn lỏng, mềm, tạo cảm giác ngon miệng. Nó cũng là dung môi hòa tan các vitamin tan trong dầu như vitamin A, D, E, K. Các vitamin này ch ỉ h ấp thu được khi chế độ ăn có đủ dầu mỡ. Ở lứa tuổi 3 - 6, trẻ cần khoảng 3g dầu mỡ một ngày.
  9. Nên cho trẻ ăn cả dầu và mỡ, nhất là mỡ các loại gia cầm nh ư gà, ngan, vịt… vì chúng chứa nhiều axit béo chưa no cần thiết cho sự phát tri ển của trẻ, nhất là các tế bào não. Cung cấp cho trẻ một lượng mỡ nhất định là rất cần thiết. Nếu trong một thời gian dài lượng mỡ không được cung cấp đầy đủ sẽ ảnh hưởng tới dinh dưỡng, hạn chế chiều cao. Còn nếu lượng mỡ quá nhi ều s ẽ d ẫn t ới béo phì, mỡ trong máu cao, tiêu hóa không tốt. Prôtêin Prôtêin do các chất acid amin cấu thành, có t ất c ả 20 lo ại acid amin, trong đó có 8 loại acid amin phải lấy từ đồ ăn hay còn gọi là acid amin b ắt buộc. Còn các acid amin khác được sản sinh từ trong cơ th ể con ng ười, nói một cách tương đối, nó không quan trọng bằng các acid amin bắt buộc. Đồ ăn chứa protein được chia làm 2 loại: Đồ ăn có chứa nhiều protein: Hàm lượng acid amin ở các đồ ăn này cao nhất, tỉ lệ trong các đồ ăn cũng rất phù hợp với nhu cầu của cơ thể như: thịt, cá, các loại sữa… Đồ ăn có chứa một phần protein: Những đồ ăn này thiếu acid amin ho ặc có một lượng rất thấp, tỉ lệ không phù hợp với cơ thể con người. Đó là các đồ ăn được chế biến chủ yếu từ thực vật như: các loại ngũ c ốc, các loại đỗ, các loại rau... Những đồ ăn có chứa hàm lượng protein cao (hay còn gọi là protein động vật) có lượng acid amin cần thiết, nó có giá trị "dinh dưỡng" tương đối cao, vì thế trong các bữa ăn cần phải cung cấp đầy đủ. Lứa tuổi nhi đồng đang độ tuổi phát triển nhanh chóng về thể chất và trí tuệ nên lượng prôtêin cần thiết về thể chất và trí tuệ so với người trưởng thành là rất cao. Trẻ ở tuổi 3 - 6 phải cần một lượng protein từ 25 - 30g một ngày. Trong đó, protein từ thịt, trứng, sữa, cá, các loại đỗ ph ải chi ếm 50%. Nếu chất lượng protein được cung cấp không tốt, hoặc số lượng không đầy sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển trí thông minh của trẻ. Th ậm chí, nó còn làm giảm khả năng miễn dịch, chống lại bệnh tật của trẻ, gián tiếp
  10. làm giảm sự phát triển của trí não. Nhưng trong th ời gian dài n ếu cung cấp lượng prôtein thừa sẽ có hại đối với sức kh ỏe và d ẫn đ ến không th ể tiêu thụ hết. Đường Các loại đường chủ yếu là cung cấp nhiệt năng cho cơ th ể. Trẻ 3 - 6 tu ổi mỗi ngày cần 15g đường. Đường có trong các loại thức ăn như: ngũ cốc, sữa, hoa quả, các loại đỗ, rau. Các vitamin Vitamin A cần cho sự tăng trưởng, bảo vệ da, niêm mạc, tăng cường đề kháng của cơ thể, chống các bệnh viêm nhiễm khuẩn, bảo vệ mắt, ch ống quáng gà và các bệnh khô mắt. Nhu cầu vitamin A có nhi ều trong gan, trứng, sữa, dầu gan cá, gan cá biển, dầu cọ, dầu đậu tương, dầu ngô, đu đủ, xoài, cà rốt, bí ngô, gấc, rau ngót, rau muống, rau dền... Vitamin D giúp cơ thể hấp thu canxi, phốt pho để duy trì và phát triển hệ xương, răng vững chắc, chống bệnh còi xương ở trẻ em. Nhu cầu vitamin D là 400UI/ngày. Vitamin C tăng cường hấp thu sắt, chống bệnh thiếu máu, giữ cho thành mạch vững chắc, chống bệnh chảy máu chân răng. Nhu cầu vitamin C là 30 - 60mg/ngày.
  11. chất Các khoáng Canxi, phốt pho giúp cho việc tạo xương, tạo răng, đảm bảo chức năng thần kinh và sự đông máu bình thường. Mỗi ngày, trẻ cần 500 - 600mg canxi. Chất này có nhiều trong sữa, các loại tôm, cua, cá, trai, ốc… Phốt pho có nhiều trong các loại cây ngũ cốc. Giữa canxi (CA) và ph ốt pho (P) phải có một tỷ lệ thích hợp thì trẻ mới hấp thu được. Tỷ lệ CA/P trong sữa mẹ là phù hợp nhất (bằng 1/1.5) nên trẻ bú sữa mẹ ít bị còi xương hơn trẻ uống sữa bò. Canxi và phốt pho muốn hấp thu và chuyển hóa được l ại ph ải có vitamin D, có rất ít trong thức ăn (sữa mẹ, lòng đỏ trứng và gan). D ưới tác dụng của ánh nắng mặt trời vào buổi sáng, vitamin D ở dưới da sẽ chuyển thành vitamin D. Cho nên muốn phòng chống còi xương ở trẻ, ngoài việc ăn uống đầy đủ, phải cho trẻ ra ngoài trời tắm nắng vào buổi sáng. Sắt rất cần cho sự tạo máu để phòng chống thiếu máu. Nó còn tham gia vào thành phần các men ôxy hóa khử trong cơ thể. Sắt có nhi ều trong các loại thức ăn động vật như tim, gan, thận, đậu, đỗ và các loại rau có màu xanh thẫm. Sắt trong thức ăn động vật dễ hấp thu h ơn trong th ực v ật, nhưng các loại rau xanh lại chứa nhiều vitamin C, giúp tăng cường hấp thu sắt. Vì vậy, nên cho trẻ ăn cả 2 loại. Kẽm giúp chuyển hóa năng lượng và hình thành tổ chức. Kẽm tham gia vào các men chuyển hóa trong cơ thể, giúp trẻ ăn ngon miệng và phát triển tốt. Khi bị thiếu kẽm, trẻ thường kém ăn, rối loạn vị giác, ch ậm li ền v ết thương, rối loạn giấc ngủ, chậm phát triển về chiều cao. Kẽm có nhiều trong các loại thức ăn động vật như thịt, cá, các lo ại nhuy ễn th ể nh ư trai, hến, sò huyết. Các loại ngũ cốc, rau quả cũng ch ứa nhi ều k ẽm nh ưng giá trị sinh học thấp hơn. Ngoài các chất dinh dưỡng đã nêu ở trên, cơ thể trẻ còn cần các chất xơ giúp đưa nhanh chất thải ra khỏi đường tiêu hóa, phòng chống táo bón. Chất này có nhiều trong rau xanh và quả chín. Nước Tất cả mọi hoạt động sinh lý của cơ th ể đều cần n ước. Con ng ười s ống được chủ yếu dựa vào thức ăn và nước uống. Lượng nước rất nh ỏ đ ược sản sinh ra từ trong cơ thể. Lượng nước cần thiết của trẻ ở lứa tuổi này
  12. mỗi ngày cần uống 1 - 1,2 lít nước. Nên uống nước đun sôi đ ể ngu ội, nước quả, nước rau luộc… không nên dùng các loại nước ngọt có ga. Vào mùa hè, hoặc sau những lần vận động liên tục thì lượng nước cần thiết lại càng cao. Khi đó cần phải chú ý cung cấp kịp thời nước cho trẻ tránh để việc thiếu nước xảy ra. Nhưng nếu uống nhiều nước quá cũng sẽ có hại cho sức khỏe của trẻ. Dinh dưỡng cho trẻ tuổi đến trường Làm thế nào để trẻ khỏe mạnh là điều các bậc cha mẹ luôn quan tâm, nhất là khi năm học mới vừa bắt đầu. Chế độ ăn uống lành mạnh sẽ là điều kiện giúp trẻ thành công trong học tập.
  13. Dưới đây là những nguyên tắc cơ bản và những thực phẩm t ốt đ ể xây dựng một chế độ ăn lành mạnh cho trẻ: Đồ ăn cho trẻ cần phải cân bằng. Cha mẹ cần phải biết kết hợp các loại thực phẩm khác nhau đ ể đ ảm bảo sức khỏe cho trẻ. Trong bữa ăn nên có các loại thực phẩm chứa protit, chất béo, carbohydrat, các loại axit amin, vitamin, một số axit béo, khoáng ch ất và vi ch ất. Những thành phần này rất cần thiết cho sự phát triển toàn diện cơ thể trẻ. Sự kết hợp giữ protit, mỡ và carbohydrates cần tuân theo tỷ lện 1:1:4. Đồ ăn cho trẻ cần phải tối ưu Khi xây dựng chế đô ăn uống cho trẻ, cha mẹ cần phải tính đến nh ững nhu cầu của cơ thể gắn với sự phát triển chiều cao, sự thay đổi các đi ều kiện môi trường bên trong cơ thể, sự phát triển thể lực và trí tuệ. Do v ậy, một chế độ ăn uống tối ưu cần phải có sự cân bằng giữa tiếp nhận và tiêu hao các chất dinh dưỡng cơ bản. Trị số calo cần cho trẻ như sau: - Trẻ từ 7 - 10 tuổi: cần 2.400 calo/ngày - Trẻ từ 14 - 17 tuổi: 2.600 - 3.000 calo/ngày - Nếu trẻ hoạt động thể thao, trẻ cần phải tiếp nhận nhi ều h ơn 300 - 500 calo.
  14. III Lựa chọn thức ăn và chế độ ăn cho trẻ em A.LỰA CHỌN THỨC ĂN CHO TRẺ 1.Coi chừng nghẹt thở vì thức ăn Do trẻ nhỏ chưa phát triển đầy đủ các kỹ năng nhai, nuốt nên cần phải tránh những loại thực phẩm cứng và tròn vì chúng có thể bị kẹt lại ở cổ họng. Những loại thực phẩm này bao gồm nho nguyên trái, nho khô, cà rốt sống, táo, lê, cốm bắp rang, kẹo cứng hoặc là những loại thực phẩm đặc sệt như bơ, đậu phộng hoặc là vài loại bột ngũ cốc. Những loại thực phẩm như cà rốt, táo có thể cho trẻ ăn với điều kiện phải được nấu mềm hoặc bào nhuyễn. Đối với bột ngũ cốc, phải pha nhiều nước hoặc sữa để làm cho loãng hơn. Không bao giờ để trẻ ngồi ăn một mình, vì cho dù thực phẩm được gọi là an toàn nhưng cũng có thể gây ngạt thở. Không để trẻ em vừa chạy nhảy, chơi đùa vừa ăn uống. 2.Nhiều loại thực phẩm gây dị ứng Trẻ em có hệ miễn dịch chưa được vững chắc nên dễ dàng bị dị ứng với thực phẩm. Có nhiều trẻ bị dị ứng với một loại thực phẩm nào đó rồi có khi sẽ bị dị ứng với thực phẩm đó đến suốt đời dù sau này hệ miễn dịch đã hoàn thiện. Những loại thực phẩm dễ gây dị ứng cho trẻ bao gồm: Với trẻ em 8 tháng tuổi là thịt, lòng đỏ trứng, các sản phẩm chế biến từ đậu nành; với trẻ em 9 tháng tuổi là phô mai, sữa, các loại rau, đậu; với trẻ em một tuổi là lòng trắng trứng, cá, cà chua, các trái cây như chanh, quýt, cam, bưởi, dâu tây... Trong các loại thực phẩm thì sô-cô-la, hải sản, mật ong, đậu phộng và các loại sản phẩm làm từ đậu phộng cần phải đợi cho trẻ em đủ lớn rồi mới cho ăn vì đây là những loại thực phẩm có thể dẫn tới những phản ứng dị ứng nghiêm trọng. Nếu bệnh sử gia đình có người dị ứng với các loại thực phẩm này thì càng nên thận trọng. 3.Lưu ý hàm lượng nitrate Các nitrate trong thực phẩm có thể bị chuyển thành nitric nếu điều kiện bảo quản, vận chuyển, phân phối không thích hợp. Những thực phẩm “tai tiếng” nhất của dạng này bao gồm củ dền, cà rốt, rau dền tây,
  15. một số loại rau cải xanh... và những thực phẩm được chế biến với nguồn nước nhiều nitrat. Nitric trong thực phẩm sẽ tranh giành với ôxy có trong máu làm cho da trẻ em xanh tái, nếu không cứu chữa kịp thời có thể tử vong. Thực phẩm để quá lâu cũng sẽ làm gia tăng hàm lượng nitric. Để bảo vệ trẻ nhỏ, cần bảo đảm nguồn nước dùng chế biến thức ăn không có quá nhiều nitrate. Cũng không nên dùng nước luộc rau củ để pha bột, pha sữa cho trẻ. Không nên giữ thực phẩm quá lâu. Những loại thực phẩm trẻ em được đông đá bán từ siêu thị, sau khi mở nắp để sử dụng thì phải để vào ngăn lạnh và không được để thêm quá 24 giờ. Đối với những thực phẩm được chế biến tại nhà cần phải cho trẻ ăn ngay và không nên giữ quá 12 giờ. Trẻ dưới một tuổi không dùng mật ong Riêng mật ong tuyệt đối không bao giờ cho trẻ em dưới một tuổi dùng vì sẽ dễ bị ngộ độc Clostridium botulinum. Trước một tuổi, bộ máy tiêu hóa của trẻ em chưa đủ trưởng thành để ức chế sự tăng trưởng của vi khuẩn Clostridium botulinum. Không riêng mật ong nguyên chất mà tất cả các loại thực phẩm có chứa mật ong cũng không bao giờ được cung cấp cho trẻ em dưới một tuổi. ♥Chế độ ăn uống lành mạnh bao gồm các thực phẩm sau Sữa Sữa là một phần quan trọng trong chế độ ăn uống của trẻ. Sữa cung cấp canxi và vitamin D để xương chắc khoẻ. Để trẻ uống sữa không bị nhàm chán, hãy thêm những hương vị vào sữa như chocolate. Chocolate không cản trở sự hấp thụ canxi, đảm bảo chất lượng hoàn hảo của sữa. Khoai tây nướng, hấp Khoai tây rất giàu kali và chất xơ. Hai hình thức chế biến trên giúp bảo toàn dinh dưỡng của khoai tây, không gây ngấy và béo như chiên rán.
  16. Cà rốt Đối với trẻ đang tập ăn bốc và trẻ mới biết đi, có thể hấp cà rốt cho đến khi chín mềm và sau đó cắt thành miếng nhỏ và cho bé ăn. Pho mát Một lát pho mát có khoảng 125 milligram canxi khoẻ xương. Trẻ em từ 1-3 tuổi cần 500 ml mỗi ngày, trong khi 4-8 tuổi cần 800 ml cũ một ngày. Ngũ cốc Ngũ cốc là một nguồn giàu các vitamin và khoáng chất, bao gồm cả sắt và vitamin B, tốt cho các tế bào máu. ̉ Bông cai xanh Bông cải xanh rất giàu vitamin A và C giúp tăng cường sức đề kháng của trẻ. Trứng Trứng chứa nhiều protein và vitamin D. Chúng giúp khoẻ xơ và cung cấp canxi cho cơ thể. Vì vậy, một quả trứng một ngày sẽ hoàn thành chế độ ăn uống đầy đủ protein và vitamin D của trẻ. Rau quả hỗn hợp Rau hỗn hợp bao gồm một sự kết hợp các loại rau khác nhau với các vitamin khác nhau và các protein mà cơ thể đòi hỏi hàng ngày. *Ví dụ: Đậu Hà Lan cung cấp protein và vitamin B, đậu xanh cung cấp kali… Thịt bò Thịt bò là một nguồn giàu chất sắt, protein và kẽm. Nhưng nên chọn thịt bò nạc để giữ mức tiêu thụ chất béo ít nhất. Kiwi Kiwi giàu vitamin C hơn cam, giàu chất chống oxy hóa bảo vệ cơ thể khỏi bệnh tật. Nước cam Trong tất cả các loại nước tự nhiên, nước cam là bổ dưỡng nhất. Nó chứa rất nhiều vitamin C và kali. Cung cấp canxi tăng cường tốt nhất cho những đứa trẻ không muốn uống sữa. Sữa chua
  17. Sữa chua cung cấp khoảng 250-450 mg canxi. Hãy chọn sữa chua ít chất béo là tốt hơn cả. Những vi khuẩn có lợi trong sữa chua tăng cường sức khỏe đường ruột của trẻ B. CHẾ ĐỘ ĂN CHO TRẺ 1- Giai đoạn từ 0-6 tháng tuổi - Nếu trẻ bú mẹ thì nên cho bú theo nhu cầu, không cần chia số bữa theo giờ nhất định. Nên nuôi trẻ hoàn toàn bằng sữa mẹ đến hết 4 tháng tuổi. Từ 5 tháng tuổi trở đi vẫn cho bú mẹ nhưng có thể tập cho trẻ cho ăn thêm theo hướng dẫn ở mục dưới đây. - Nếu nuôi trẻ bằng cách xen kẽ sữa bò và sữa mẹ thì số lượng ăn tính phức tạp hơn. Thường thì các bữa trẻ bú mẹ nên cho bé bú đủ no theo nhu cầu. Những bữa nuôi bằng sữa bò thì số lượng được tính theo công thức như khi nuôi trẻ hoàn toàn bằng sữa bò. - Nếu nuôi trẻ hoàn toàn bằng sữa bò thì số bữa và số lượng ăn của mỗi bữa có thể được tính như sau : * Trẻ mới đẻ đến đầy tháng tuổi : cho trẻ ăn từ 6-7 bữa sữa dành cho trẻ sơ sinh. + Ngày đầu tiên và ngày thứ hai cho trẻ ăn chừng 10 ml một bữa. + Từ ngày thứ ba đến ngày thứ 8 cho trẻ ăn tăng thêm khoảng 10 ml một bữa, sao cho đến ngày thứ 8, số lượng ăn của trẻ khoảng 70 ml một bữa. + Từ ngày thứ 9 đến ngày thứ 15, tăng dần số lượng lên đến khoảng 90 ml / một bữa. + Từ ngày thứ 15 - 30, tăng dần số lượng lên đến khoảng 100ml / một bữa. * Tháng thứ hai : Nên cho trẻ ăn chừng 6 bữa sữa , số lượng ăn là khoảng 110ml / một bữa. * Tháng thứ 3 : 6 bữa sữa, mỗi bữa khoảng 120ml. * Tháng thứ 4 : 6 bữa sữa, mỗi bữa khoảng 130ml và khoảng 2-3 thìa cà phê nước quả. * Tháng thứ 5 : 5 bữa, số lượng cho mỗi bữa khoảng chừng 140-150 ml, số bữa có thể được chia như sau + Bữa sáng : Sữa bò (hoặc bú mẹ) + Khoảng một giờ sau cho trẻ uống chừng 4 thìa cà phê nước quả. Sau đó trẻ có thể ngủ một giấc giữa chừng. + Trẻ ngủ dậy cho ăn bữa tiếp theo bằng rau củ nghiền pha sữa hoặc
  18. nước cháo pha sữa + 2-3 thìa sữa chua. + Sữa bò hoặc bú mẹ. + Bữa lót dạ chiều có thể cho trẻ ăn hoa quả nghiền + hoặc 2+3 thìa sữa chua nếu bữa trưa chưa ăn. + Sữa bò hoặc bú mẹ. * Tháng thứ 6 : (Lưu ý cho trẻ ăn bột loãng). Số lượng mỗi bữa ăn khoảng 150-170 ml trừ bữa hoa quả nên cho trẻ ăn theo nhu cầu. + Bữa sáng : sữa bò (hoặc bú mẹ) + Khoảng một giờ sau cho trẻ uống chừng 15-20 ml nước quả. Sau đó thường trẻ sẽ ngủ giấc buổi sáng + Ngủ dậy nên cho trẻ ăn bữa chính là bột gạo hoặc rau củ nghiền với khoảng 40 gr thịt nạc ninh nhừ và xay mịn + 3-4 thìa sữa chua. + Bú đầu giờ chiều : Sữa đậu nành, sũa bò hoặc bú mẹ. Sao do tre thuong ngu giac buoi chieu + Bữa lót dạ chiều lúc ngủ dậy : hoa quả nghiền cộng sữa chua nếu bữa trưa trẻ chưa ăn. + Bữa chiều tối : bột sữa + Bữa tối : sữa bò hoặc bú mẹ. Bắt đầu từ tháng này, cha mẹ cũng có thể bắt đầu tập cho trẻ ăn thêm pho mai loại hộp tuơi. ***Những điểm cần lưu ý : - Các bữa ăn sữa hoặc bột nên cách nhau chừng 3 giờ trở lên. - Số lượng của từng bữa ăn nếu ra ở đây chỉ mang tính chất tương đối, cha mẹ nên áp dụng một cách mềm mại và linh họat với con mình. - Bắt đầu từ 4 tháng tuổi nên tập cho trẻ uống nước quả như cam, quýt, táo. Tập cho trẻ ăn thêm hoa quả, các lọai hoa quả trẻ có thể ăn được trong giai đoạn này là : chuối (tốt hơn cả là chuối tây), na, nhãn hoặc táo nhừ xay mịn. - Bắt đầu từ 5 tháng tuổi nên bắt đầu tập cho bé quen với chất bột. Tác dụng của chất bộ là làm giảm sự vón cục gây khó tiêu của sữa. Ban đầu thường bắt đầu bằng bột ngọt ăn liền pha vào sữa, hoặc vài thìa bột trước khi uống sữa, hoặc nước cháo pha sữa, hoặc rau nghiền pha sữa (xin xem thêm phần chế biến một số loại thức ăn). - Bắt đầu từ tháng thứ 5-6 có thể tập cho trẻ làm quen với sữa chua, có thể cho trẻ uống sữa đậu nành, có thể cho vào bột các loại đậu đỗ khô, ninh nhừ xay mịn hoặc chắt lấy nước pha sữa. - Lưu ý là khi muốn tập cho trẻ một loại thức ăn mới thì nên bắt đầu vào lúc trẻ khỏe mạnh, tập dần tý một, theo dõi sự tiêu hóa của trẻ, nếu thấy tốt thì có thể tăng dần, nếu thấy trẻ tiêu hóa chưa tốt (ví dụ trẻ ậm ạch
  19. khó chịu, phân có biểu hiện sống lổn nhổn hoặc mùi rất thối…) thì nên dừng lại vài ngày rồi tập lại. - Khi bắt đầu cho trẻ ăn dặm, nên phối hợp một cách cân bằng các loại thức ăn bám sát theo ô vuông thức ăn (thường được phát khi cho trẻ đi tiêm phòng cùng với biểu đồ theo dõi cân nặng và chiều cao). Ô vuông thức ăn có thể được mô tả như sau : + Thức ăn chủ yếu : là các loại lương thực như gạo, ngô, khoai… + Thức ăn giàu đạm động vật và thực vật : Thịt, cá, tôm, cua, trứng, sữa, đậu đỗ các loại… + Thức ăn giàu vi ta min, muối khoáng : Các loại rau quả + Thức ăn giàu năng lượng ; mỡ, dầu, bơ… + Đường, muối Khi phối hợp thức ăn cần lưu ý đến tình trạng sức khỏe cụ thể của trẻ, đến thời tiết … - Lưu ý cho trẻ uống thêm nước, đặc biệt khi bắt đầu ăn dặm, khi thời tiết nóng hoặc khô. - Lưu ý vệ sinh miệng sạch sẽ cho trẻ sau khi ăn. 2- Giai đoạn từ 7 tháng đến 12 tháng : * Tháng thứ 7 : Cho trẻ ăn 5 bữa, số lượng ăn mỗi bữa chừng 150 ml - 170 ml. Có thể phân chia số bữa ăn như sau : + Bữa sáng : Sữa bò hoặc bú mẹ. + Một giờ sau cho trẻ uống khoảng 20-30 ml nước quả + Bữa trưa : Bột sữa . + Bữa đầu giờ chiều trước giấc ngủ chiều : Sữa đậu nành, sữa bò hoặc bú mẹ + Bữa lót dạ chiều lúc ngủ dậy : Hoa quả nghiền hoặc nấu nhừ nghiền nhỏ. + Bữa chiều tối : Bột hoặc khoai, rau nghiền với 50 gr thịt ninh nhừ, cho thêm một thìa dầu ăn hoặc một chút bơ, xay mịn. Sau bữa bột này có thể cho trẻ ăn thêm 1/3 hộp sữa chua (khoảng 20-30gr), lưu ý nếu muốn cho trẻ ăn thêm sữa chua thì nên giảm số lượng bột đi. Bắt đầu từ tháng này, cha mẹ cũng có thể bắt đầu tập cho trẻ ăn thêm pho mai loại miếng dành riêng cho trẻ nhỏ trộn lẫn vào bột trước khi cho trẻ ăn hoặc cho trẻ ăn riêng sau khi ăn bột. Số lượng cũng tăng dần. Lưu ý nếu đã thêm pho mai miếng thì không nên cho thêm dầu ăn vào chính bữa đó. + Bữa tối trước khi đi ngủ chừng 1 tiếng : Sữa bò hoặc bú mẹ. * Tháng thứ 8 - 9 : Cho trẻ ăn 5 bữa, số lượng ăn mỗi bữa chừng 180 ml - 220 ml tùy theo nhu cầu của từng trẻ. Việc phân chia bữa ăn có thể làm
  20. như sau : + Bữa sáng : bột sữa + Sau đó chừng 1 giờ : Nước quả : 40-50 ml. + Bữa trưa : Bột gạo với rau củ + 50 gr thịt ninh nhừ nghiền nhỏ. Sau bữa bột này có thể cho trẻ ăn thêm 1/2 hộp sữa chua (khoảng 30 - 50gr), hoặc pho mai, hoặc thêm chút hoa quả tráng miệng, lưu ý nếu muốn cho trẻ ăn thêm sữa chua hoặc hoa quả vào bữa này thì nên giảm số lượng bột đi. *** Lưu ý, bắt đầu từ tháng thứ 8-9 có thể tập cho trẻ quen dần với chất tanh và các loại thịt đỏ bằng cách thay thế dần thịt lợn, gà bằng cá, tôm, thịt bò…Khi bắt đầu thay thế, nên tập hết sức từ từ vì có một số trẻ có thể bị dị ứng với cá hoặc tôm hoặc cả hai loại. . + Bữa lót dạ chiều : hoa quả các loại nghiền. + Bữa chiều : Bú mẹ hoặc sữa đậu nành hoặc sữa bò + Bữa tối : Xúp rau củ các loại nấu với sữa đậu nành, sữa bò hoặc lạc, hoặc vừng… + Bữa tối trước khi đi ngủ chừng 1 tiếng : Sữa và một hai cái bánh quy hoặc một miếng bánh mì nhỏ. * Tháng thứ 10- 12 tháng : Cho trẻ ăn 5 bữa, số lượng ăn mỗi bữa chừng 200 ml - 250 ml tùy theo nhu cầu của từng trẻ. Việc phân chia bữa ăn có thể làm như sau nên áp dụng như khi trẻ được 9 tháng. Số lượng nước hoa quả và hoa quả nghiền, sữa chua, pho mai hộp hoặc pho mai miếng có thể tăng thêm theo nhu cầu của trẻ. Từ lúc này có thể cho trẻ ăn thêm một đến hai lòng đỏ trứng gà một tuần nấu lẫn với xúp rau củ hoặc ăn riêng. 3- Giai đoạn từ 1 -3 tuổi: Ở giai đoạn này trẻ thường đã bắt đầu biết ăn theo bữa ăn như người lớn và có thể tự đưa ra yêu cầu về các món ăn. Có điều nên lưu ý chuẩn bị thêm thức ăn riêng cho trẻ nếu gia đình có điều kiện ví dụ như thịt vẫn cần ninh nhừ hoặc băm nhỏ, cá vẫn nên gỡ sạch xương.... Rau luộc, nấu đều nên mềm hơn…Nên duy trì cho trẻ uống ít nhất một bữa sữa trong ngày, duy trì bữa ăn phụ vào buổi chiều lúc ngủ trưa dậy. Nếu trẻ đi học ở trường, cha mẹ cần lưu ý bữa ăn sáng cho trẻ nhất là trong thời gian trẻ mới đi học, chưa quen với chế độ ăn uống và sinh họat ở trường 4- Giai đoạn từ 3-5 tuổi: Trong chế độ ăn uống của trẻ từ 3 đến 5 tuổi, bạn nên cho trẻ dùng loại sữa ít béo thay vì dùng sữa nguyên kem. Bữa ăn của trẻ tương tự như của người lớn, gồm ba bữa chính và hai bữa phụ/ngày.
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2