
ĐỀ TÀI
Một số suy nghĩ về ngành
công nghiệp phân bón
TS. NGUYỄN HUY PHIÊU
Viện Hoá học Công nghiệp

MỤC LỤC
I. MỞ ĐẦU......................................................................................... 3
II. VÀI NÉT VỀ CÔNG NGHIỆP PHÂN BÓN CỦA THẾ GIỚI.. 4
III. TÌNH HÌNH SẢN XUẤT, TIÊU THỤ PHÂN BÓN Ở NƯỚC
TA...................................................................................................... 11
IV. MỘT SỐ ĐỀ XUẤT VỀ GIẢI PHÁP....................................... 17
V. VẤN ĐỀ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN.............................................. 23
VI. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ............................................................... 26
TÀI LIỆU NGUỒN.......................................................................... 30

I. MỞ ĐẦU
Trong những năm gần đây cùng với sự phát triển của sản xuất nông
nghiệp ngành phân bón đã có những bước tiến rất đáng kể. Trong vòng
10 năm kể từ năm 1990 sản lượng sản xuất và tiêu thụ phân bón đã tăng
lên 4 lần (từ 425 nghìn tấn năm 1990 lên đến 1770 nghìn tấn vào năm
2000). Công nghiệp phân bón đã đóng một vai trò rất quan trọng cho
chiến lược phát triển nông nghiệp và an ninh lương thực quốc gia.
Trong tiến trình hòa nhập nền kinh tế Việt Nam vào nền kinh tế khu
vực và thế giới, các ngành sản xuất của Việt Nam, trong đó có ngành
sản xuất phân bón, đã trực tiếp bị tác động với sức ép ngày càng lớn.
Từ chỗ được trợ giá vận chuyển và bảo hộ bằng thuế quan đối với một
số sản phẩm phân bón vào những năm trước, bắt đầu từ năm 2001 sự
bảo hộ bằng thuế quan giảm dần và các sản phẩm phân bón phải đối
mặt với sự cạnh tranh ngày càng gay gắt ngay trên thị trường trong
nước.
Tình hình thời tiết không thuận lợi ở nhiều địa phương cùng với sự thay
đổi cơ cấu cây trồng và thị trường phân bón ngày càng phức tạp nên
việc sản xuất và tiêu thụ phân bón trong nước gặp rất nhiều khó khăn.
Tuy nhiên việc đầu tư chiều sâu và phát triển sản xuất phân bón trong
nước vẫn là sự lựa chọn duy nhất.
Để góp phần làm rõ thêm bức tranh tổng thể của ngành sản xuất phân
bón Việt Nam trong giai đoạn hiện nay chúng tôi xin trình bày một số
suy nghĩ về vấn đề này:

II. VÀI NÉT VỀ CÔNG NGHIỆP PHÂN BÓN CỦA THẾ GIỚI
Đánh giá chung về sản xuất phân bón
Trong tương lai gần kỹ thuật chuyển gien chưa thể là phương sách cứu
cánh để giải quyết vấn đề lương thực cho nhân loại. Vì vậy muốn duy
trì năng suất cây trồng để đảm bảo an ninh lương thực vẫn phải sử dụng
phân bón hoá học cùng với các loại phân hữu cơ khác, tính ra mỗi
người dân phải đạt 35 kg N/năm.
Dự đoán cho tới năm 2015 ngô, lúa và lúa mì vẫn là các loại cây trồng
sử dụng nhiều phân bón, sản lượng phân bón của thế giới sẽ tăng
khoảng 18 triệu tấn (chất dinh dưỡng) so với năm 2000, đạt khoảng
152.2 triệu tấn, mức độ tăng trưởng 0,9%.
Mức độ tăng trưởng mạnh ở Nam và Đông Á (7,7 triệu tấn) và Mỹ La
Tinh (3,3 triệu tấn), mức trung bình là ở vùng Hạ Sahara (châu Phi).
Mức tiêu thụ phân bón ở Tây Âu giảm cho tới năm 2006, sau đó sản
xuất sẽ ổn định.
Về sản xuất phân đạm, trước đây phát triển mạnh chủ yếu ở Tây Âu,
Bắc Mỹ và Nhật Bản. Do giá khí thiên nhiên đắt người ta đã phải nhập
khẩu amoniac để sản xuất phân đạm, sau đó đã dịch chuyển quá trình
này tới các nước có nhiều khí thiên nhiên ở Caribê, Cận Đông và ở một
số nước có mức tiêu thụ lớn như Trung Quốc, Ấn Độ, Inđônêxia,
Pakistan. 2/3 mức tăng trưởng này là ở châu Á. Phần đóng góp của Tây
Âu đã giảm từ 20% xuống còn 11%

Các nhà máy sản xuất amoniac thường được kết hợp với nhà máy sản
xuất urê để tận dụng CO2 khi điều chế amoniac. Chi phí về nguyên liệu
chiếm từ 2/3 tới 3/4 toàn bộ chi phí cho sản xuất amoniac. Yếu tố
nguyên liệu cũng chiếm hơn 80% toàn bộ chi phí đầu vào đối với sản
xuất urê.
Trung Quốc và Ấn Độ đã đặt mục tiêu hàng đầu là phải tự cung cấp đủ
phân bón. Những thay đổi của họ trong lĩnh vực này có tác động trực
tiếp tới giá cả phân bón quốc tế.
Về phân lân, hai thập kỷ qua trên thế giới, đã phát triển mạnh việc sản
xuất phân lân tại các nước có nguồn photphat thiên nhiên, đặc biệt lâ ở
Bắc Phi, Mỹ, các nước Cận Đông, Tây và Nam Phi. Do vậy, người ta
đã tiết kiệm được công vận chuyển phân bón đậm đặc, giá trị cao hơn
nhiều so với quặng photphat. Trước đây 91% sản lượng axit photphoric
do Bắc Mỹ, Tây Âu, Liên Xô (cũ), Nhật Bản sản xuất, hiện nay 83%
sản lượng này lại do các nước có nguồn quặng photphat sản xuất.
Mức tiêu thụ phân lân tăng trong 30 năm qua chủ yếu là các loại phân
sản xuất từ axit photphoric trích ly (MAP, DAP).
Dưới đây là số liệu về cơ cấu sản phẩm phân lân của Trung Quốc - một
nước có nền nông nghiệp tương tự với nước ta (số liệu năm 2000):
Loại phân lân Sản lượng
Phân lân truyền thống x 1000T P2O5 3.672

