intTypePromotion=1

Đề tài: Nghiên cứu ảnh hưởng của việc bổ sung Na butyrate vào khẩu phần ăn để cải thiện trạng thái chức năng của đường tiêu hoá và hiệu quả chăn nuôi lợn thịt ở Hát Lót - Mai Sơn - Sơn La

Chia sẻ: Nguyễn Văn Thưởng | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:100

0
164
lượt xem
38
download

Đề tài: Nghiên cứu ảnh hưởng của việc bổ sung Na butyrate vào khẩu phần ăn để cải thiện trạng thái chức năng của đường tiêu hoá và hiệu quả chăn nuôi lợn thịt ở Hát Lót - Mai Sơn - Sơn La

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Chăn nuôi lợn là một ngành có tầm quan trọng rất lớn trong đời sống xã hội nói chung và ngành chăn nuôi nói riêng ở Việt Nam. Đây là nguồn cung cấp một lượng lớn thực phẩm với chất lượng tốt, đảm bảo cho nhu cầu và đời sống của con người. Nguyễn Thanh Sơn (2010).

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Đề tài: Nghiên cứu ảnh hưởng của việc bổ sung Na butyrate vào khẩu phần ăn để cải thiện trạng thái chức năng của đường tiêu hoá và hiệu quả chăn nuôi lợn thịt ở Hát Lót - Mai Sơn - Sơn La

  1. 1 MỞ ĐẦU 1.1. Tính cấp thiết của đề tài Chăn nuôi lợn là một ngành có tầm quan trọng rất lớn trong đ ời sống xã hội nói chung và ngành chăn nuôi nói riêng ở Việt Nam. Đây là nguồn cung cấp một lượng lớn thực phẩm với chất lượng tốt, đảm bảo cho nhu cầu và đời sống của con người. Nguyễn Thanh Sơn (2010) [...] tính tới thời điểm tháng 4 năm 2010 cả nước ta có 27,3 triệu đầu lợn. Trong đó có 4,18 triệu lợn nái. Tổng sản lượng thịt ước tính trong 6 tháng đầu năm 2010 đ ạt 1,77 triệu tấn, tăng hơn cùng kỳ năm 2009 khoảng 3,5%. Kết quả đạt đ ược ở trên là có sự đóng góp lớn của những tiến bộ kỹ thuật v ề gi ống, th ức ăn dinh dưỡng. Sơn La là một tỉnh có tiềm năng lớn về nguồn thức ăn nguyên liệu cho chăn nuôi đặc biệt là ngô sản lượng ngô đạt 135,8 ngàn t ấn /năm, Niên giám thống kê Việt Nam (2007)[2] và cũng là một thị trường có tiềm năng tiêu thụ lớn các sản phẩm về chăn nuôi nói chung và th ịt l ợn nói riêng (nhu cầu thực phẩm cho nhân dân trong tỉnh và cung cấp cho hàng vạn công nhân công trường thủy điện Sơn La). Giá thịt lợn tại th ị trường S ơn La thường cao hơn so với thị trường Hà Nội cùng thời điểm 10-15%. Tuy nhiên chăn nuôi lợn tại đây phát triển chưa tương xứng với tiềm năng của thị trường, nguồn con giống và thịt lợn còn phụ thuộc vào th ị trường ngoài… và đây là một trong những trở ngại lớn, nó không chỉ làm tăng giá sản phẩm mà còn là nguy cơ làm lây lan dịch bệnh. Th ời gian g ần đây trên địa bàn tỉnh đã nhập về một số lượng lớn lợn nái ngoại, lợn nái lai, lợn đực giống ngoại và lợn đực lai như lợn Landrace, Yorkshire, Duroc và lợn lai F1 (Landrace x Yorkshire), F1 (Pietrain x Duroc)…
  2. 2 Để phát huy hết khả năng sản xuất và chất lượng thịt của các gi ống lợn này, ngoài việc cung cấp đầy đủ nhu cầu về các ch ất dinh d ưỡng nh ư: Protein, axít amin, enzyme, vitamin… Ta thường phải sử dụng kháng sinh để phòng, chống các bệnh nhiễm khuẩn, nhất là nhiễm khuẩn đường tiêu hoá, đồng thời để kích thích sinh trưởng ở lợn thịt. Tuy nhiên, việc sử dụng kháng sinh trong chăn nuôi lợn sẽ gây tích lũy kháng sinh trong th ịt gây ra tình trạng nhờn thuốc, có hại cho sức khoẻ của con người. Hiện nay th ế giới cũng như trong nước đang có xu hướng hạn chế dần, tiến tới xoá bỏ việc sử dụng kháng sinh trong chăn nuôi và người ta đi tìm các sản phẩm thay thế kháng sinh, gồm nhiều loại như: Probiotic, enzym, các axit h ữu c ơ, để vừa đạt được mục tiêu của chăn nuôi lại vừa an toàn đối với vật nuôi và con người, cải thiện được các chức năng tiêu hóa, phục hồi được tế bào ruột bị tổn hại, ức chế được vi khuẩn gây bệnh, tăng chiều dài của lông tơ biểu mô đến 30% và tăng cường khả năng miễn dịch ở gia súc, không để lại tồn dư và đảm bảo vệ sinh, an toàn thực phẩm cho con người. Chế phẩm axít hữu cơ: Na butyrate do Công ty Singao (Trung Quốc) sản xuất đã được khuyến cáo là mang lại hiệu quả kinh tế cao và có ý nghĩa lớn trong việc thay thế kháng sinh. Để khẳng định khả năng thay thế kháng sinh của chế phẩm này trong điều kiện chăn nuôi nông hộ, trang trại ở Sơn La, chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của việc bổ sung Na butyrate vào khẩu phần ăn để cải thiện trạng thái chức năng của đường tiêu hoá và hiệu quả chăn nuôi l ợn th ịt ở Hát Lót - Mai Sơn - Sơn La”. 1.2. Mục tiêu của đề tài - Xác định ảnh hưởng của việc bổ sung Na butyrate, tới trạng thái chức năng của đường tiêu hoá theo hướng có lợi làm tăng sức h ấp thu dinh dưỡng.
  3. 3 - Xác định được ảnh hưởng tốt của việc bổ sung Na butyrate, tới t ốc độ sinh trưởng nói riêng, hiệu quả chăn nuôi lợn thịt nói chung. 1.3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài * Ý nghĩa khoa học: Đề tài nghiên cứu được ảnh hưởng của chế phẩm Na butyrate đến trạng thái, chức năng của đường tiêu hoá đến sinh trưởng, sức sản xuất thịt của đàn lợn thịt nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng th ức ăn và giảm thi ểu ô nhiễm môi trường. Những kết quả nghiên cứu này s ẽ đóng góp vào k ết qu ả nghiên c ứu về ứng dụng các chế phẩm Na butyrate, trong chăn nuôi l ợn th ịt hi ện nay trên địa bàn, đồng thời có thể sử dụng làm tài li ệu tham kh ảo trong gi ảng dạy, học tập của ngành chăn nuôi thú y. Ngoài ra, đây còn là c ơ s ở khoa học cho những nghiên cứu tiếp theo nh ằm nâng cao kh ả năng ứng d ụng các chế phẩm trong chăn nuôi l ợn th ịt. *Ý nghĩa thực tiễn trong chăn nuôi l ợn c ủa t ỉnh S ơn La - Cung cấp chế phẩm Na butyrate, để mở rộng phát tri ển chăn nuôi lợn thịt hướng nạc trong điều kiện hi ện nay trên đ ịa bàn t ỉnh, góp ph ần vào công tác chuy ển giao ti ến b ộ khoa h ọc, kỹ thuật trong lĩnh vực chăn nuôi lợn nhằm nâng cao năng suất và chất lượng thịt theo h ướng tạo ra s ản phẩm chăn nuôi an toàn.
  4. 4 Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1. Cơ sở khoa học 2.1.1 Đặc điểm cấu tạo bộ máy tiêu hoá và sinh lý tiêu hoá của lợn 2.1.1.1. Đặc điểm cấu tạo bộ máy tiêu hóa của lợn Theo Hoàng Toàn Thắng và cs (2006) [3] cho biết dạ dày lợn là dạ dày trung gian giữa dạ dày đơn và dạ dày kép, bao gồm 5 phần như: dạ dày đơn vùng thực quản ( nhỏ), vùng manh nang, vùng thượng vị, vùng thân vị và vùng hạ vị. Vùng thực quản không có tuyến, vùng manh nangvà thượng vị có tuyến tiết ra dịch nhầy không có pepsin và HCl. Theo Nguyễn Thiện và cs, (1998) [4], ruột non của lợn dài gấp 14 lần chiều dài cơ thể gồm 3 phần: Phần tá tràng, khổng tràng và hồi tràng. Ruột già dài khoảng 4 - 5 m gồm 3 đoạn: manh tràng, kết tràng và trực tràng. Hệ tiêu hoá của lợn thay đổi khối lượng, kích thước và thể tích tuỳ theo giống, thức ăn, phương thức chăn nuôi. Lợn nuôi theo hướng mỡ, chăn thả, quảng canh ăn nhiều thức ăn thô thì bộ máy tiêu hoá to hơn, dài hơn so với lợn hướng nạc. Do đặc điểm cấu tạo tiêu hoá mà lợn có các đặc điểm tạp ăn, chịu đựng kham khổ và có khả năng lợi dụng thức ăn thô xanh cao, nhất là nơi các giống lợn ít được chon lọc. Do ăn nhiều thức ăn thô xanh nên ruột già của lợn tồn tại hệ vi kháng sinh vật có khả năng tiêu hoá một phần celluloza. Đặc điểm của hoạt động thần kinh và thể dịch mà lợn có khả năng tiêu hoá thức ăn cao. Để sản xuất ra một khối lượng cơ thể, lợn chỉ sử dụng hết 4 - 6 kg thức ăn, trong khi đó bò phải ăn hết 8 - 12 kg và dê cừu phải ăn hết 6 - 10 kg. Dựa vào các đặc điểm sinh học của hệ tiêu hoá nói trên chúng ta có
  5. 5 thể nghiên cứu phối hợp khẩu phần ăn cho phù hợp với hệ tiêu hoá của lợn, để nâng cao năng suất trong chăn nuôi lợn. 2.1.1.2. Sinh lý tiêu hóa của lợn Để nâng cao khả năng sinh trưởng, năng suất và hiệu quả chăn nuôi lợn thịt, bên cạnh các biện pháp chọn giống, lai tạo giống thì vi ệc tìm hi ểu nắm bắt các đặc điểm sinh lý tiêu hóa của lợn để tác động các biện pháp kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng, chế biến thức ăn… là m ột v ấn đ ề quan trọng. Ta biết rằng lợn là loài gia súc ăn tạp, dạ dày của chúng có c ấu t ạo trung gian giữa dạ dày đơn và dạ dày kép. Trong quá trình phát triển các đặc điểm cấu tạo và chức năng của dạ dày lợn hoàn thiện dần ngay từ trong bào thai và ti ếp tục phát tri ển cho đến ra ngoài môi trường. Theo A.V.Kvasnhiski (1951), cơ quan tiêu hóa của lợn phát triển h ơn các cơ quan khác, khi còn ở trong bào thai bộ máy tiêu hóa đã hình thành đầy đủ, song dung tích còn nhỏ bé. Bộ máy tiêu hóa của lợn bao gồm: Miệng, hầu, thức quản, dạ dày, ruột non, ruột già. Ở miệng trong nước bọt tiết ra có men tiêu hóa aminaza để tiêu hóa tinh bột, vì lợn ăn nhanh nuốt liên tục nên tiêu hóa ở miệng rất ít mà ch ủ yếu là tẩm ướt thức ăn rồi đẩy xuống dạ dày, ruột để tiêu hóa. Dạ dày tiết ra dịch vị, các men tiêu hóa, khi th ức ăn xuống d ạ dày c ơ trơn nhào trộn thức ăn, cùng với đó là các men tiêu hóa th ấm vào thức ăn. Men trypsinogen nhờ tác dụng của axit HCL trở thành trypsin hoạt động, men này thủy phân protid thành axit amin và peptid để dạ dày và ruột non hấp thu. Ở dạ dày lợn nhu động yếu nên thức ăn có hiện tượng xếp lớp do vậy những thức ăn bên ngoài được tiêu hóa trước. Hàm lượng HCL trong dịch vị tăng dần để đạt tới sự ổn đinh gắn liền với sự hoàn chỉnh về cấu
  6. 6 tạo và chức năng của dạ dày lợn.Ở lợn con hàm lượng HCl là 0,05-0,15%, lợn 90 ngày tuổi 0,2-0,25 % còn ở lợn trưởng thành hàm lượng HCl là 0,35- 0,40 % (Nguyễn Thiện và cs (1998)[5] Ruột non của lợn dài 14-18 m, tiêu hóa ở ruột non là nh ờ tác dụng của các dich tiêu hóa như: Dịch tụy, dịch ruột, d ịch m ật và các d ịch ti ết t ừ các cơ quan tiêu hóa phía trên đưa xuống. Lợn có kh ối l ượng 100 kg ti ết 8 lít dịch tụy trong một ngày đêm và sự phân tiết này còn ph ụ thuộc vào các loại thức ăn, cách chế biến và cách cho ăn… Theo A.V.Kvasnhiski (1951) lợn con 20- 30 ngày tuổi, dich tụy phân tiết trong một ngày đêm 150-300 ml và sự phân tiết này tăng dần theo lứa tuổi: 3 tháng tuổi là 3,5 lít và từ 7 tháng tu ổi tr ở lên là 10 lít/ ngày đêm. S ự biến đổi khả năng phân tiết dịch tụy theo tuổi trái với sự biến đổi của dịch vị. Trong thời kỳ thiếu HCl trong dịch vị, hoạt tính c ủa d ịch t ụy r ất cao đ ể bù lại khả năng tiêu hóa kém của dạ dày. Ở lợn trưởng thành dịch vị dạ dày phân tiết có tính liên tục nhưng không đều, khi ăn ti ết nhi ều, không ăn tiết ít hơn, buổi sáng tiết ít hơn buổi chiều. Các nghiên cứu kỹ lưỡng về đặc điểm phân tiết các loại dịch tiêu hóa, các nhân tố ảnh hưởng… đã được tiến hành bởi các tác gi ả: Trần C ừ và cs (1975) [6] và đi tới các nhận xét có ý nghĩa ứng dụng là: Số l ượng và chất lượng các loại dịch tiêu hóa ở đường tiêu hóa của lợn thay đổi ph ụ thuộc vào loại thức ăn, phương pháp cho ăn và nhất là phương pháp ch ế biến thức ăn. Nếu thức ăn được chế biến tốt sẽ nâng cao được hiệu suất tiêu hóa, tỷ lệ lợi dụng thức ăn từ đó nâng cao khả năng sinh trưởng của lợn. Phần cuối cùng của bộ máy tiêu hóa là ruột già, ruột già dài kho ảng 4 -5 m bao gồm manh tràng, kết tràng và trực tràng. Ở ruột già chủ y ếu xảy ra quá trình tiêu hóa chất xơ do vi sinh vật ở manh tràng phân gi ải t ạo
  7. 7 ra sản phẩm chính là axit lactic có tác dụng ức chế vi khuẩn gây th ối và các vi sinh vật có hại khác. Ruột già chủ y ếu hấp thu nước và ch ất khoáng. Với protein còn lại trong thức ăn chưa được tiêu hóa h ết, đ ến ru ột già được vi khuẩn vật gây thối ở ruột già phân gi ải thành các ch ất Crerol, Indon có tính độc, chúng được hấp thu vào máu và được giải độc ở gan. Phần cặn bã đi vào kết tràng, trực tràng và tạo thành phân đưa ra ngoài. 2.1.1.3. Hệ vi sinh vật đường ruột ở lợn Hệ vi sinh vật trong đường tiêu hóa của lợn con có vai trò nâng cao sức sử dụng thức ăn đồng thời nâng cao sức đề kháng của cơ thể lợn. Sự phát triển mạnh của vi khuẩn sinh axit và vi khuẩn tổng hợp các ch ất có hoạt tính sinh học, đồng thời ức chế vi khuẩn gây thối là một quá trình có lợi cho cơ thể (Đào Trọng Đạt và cs, 1995) []. Ở dạ dày và ruột của động vật mới sinh ra chưa có vi khuẩn, sau vài giờ thấy một vài loại vi khuẩn và từ đó chúng bắt đ ầu sinh s ản d ần. Hàng ngày, một số loại vi khuẩn khác theo thức ăn vào ruột, s ống và sinh sôi n ảy nở ở đó, chúng có thể bị biến đổi ít nhiều nhưng căn bản vẫn sống cho đến khi con vật chết. Thành phần và số lượng của hệ vi sinh vật thay đổi tùy theo loại thức ăn, nếu thức ăn nhiều gluxit thì vi khuẩn tạo axit trong ruột rất phát triển. Có thể chia vi sinh vật thành 2 loại “ vi sinh vật tùy ti ện” thay đ ổi tùy theo loại thức ăn và loại “vi sinh vật b ắt bu ộc” là lo ại vi sinh v ật thích nghi ngay được với môi trường đường ruột và dạ dày trở thành loại định cư vĩnh viễn. Hệ vi sinh vật bắt buộc gồm: Steptococcus, lactic, lactobacterium, acid ophilum, trực khuẩn lactic, E.coli (trực khuẩn ruột già), trực khuẩn đường ruột. Trong đường ruột và dạ dày là một môi trường có độ ẩm, dinh dưỡng thuận tiện cho vi sinh vật phát triển, tuy nhiên s ự phát triển của chúng có giới hạn vì trong đường ruột và trong dạ dày có những
  8. 8 chất kìm hãm sự phát triển của vi khuẩn đường ruột và vi khuẩn gây th ối như mật, dịch vị và tác động đối kháng của các vi khuẩn khác nhau. * Hệ vi sinh vật ở khoang miệng Khoang miệng là bộ phận đầu tiên của đường tiêu hóa, ti ếp xúc v ới thức ăn, nước uống và môi trường sống bên ngoài, do đó có s ự c ảm nhi ễm vi sinh vật từ các nguồn trên. Trong nước bọt và dịch bài tiết của niêm mạc có men kháng khuẩn lisozyme có tác dụng tiêu diệt một số vi sinh vật. * Hệ vi sinh vật ở dạ dày Trong dạ dày có một lượng axit HCL rất lớn (0,2%). Axit trong d ịch vị dạ dày có tác dụng ức chế với nhiều loại vi sinh vật, do vậy phần lớn vi sinh vật từ thức ăn, nước uống đưa vào đều bị tiêu diệt. Số lượng vi khuẩn ở dạ dày rất ít do tác dụng diệt khuẩn của axit dạ dày gồm các vi khuẩn lên men (Saccharomyces minor, vidiumlactic) trực khuẩn lactic (Lacto bacillus beljerincke…). Ngoài ra còn có trực khuẩn phó thương hàn đi qua dạ dày xuống ruột. * Hệ vi sinh vật của ruột non Ruột non chiếm 2/3 đến 3/5 chiều dài ruột nhưng lượng vi khuẩn lại rất ít. Khi dịch vị dạ dày vào ruột non vẫn còn tác dụng sát khuẩn, ngoài ra dịch do niêm mạc bài tiết ra cũng có tác dụng sát khuẩn…, ở ruột non chứa một số ít vi khuẩn có trong dạ dày xuống. Trong ruột non ch ủ y ếu là E.coli, cầu khuẩn, trực khuẩn hiếu khí, yếm khí có nha bào, Aerobacter aerogenes. Ở gia súc non có thêm Steptococcus lactic, trực khuẩn lactic Lactobacterium bulgaricum, từ hồi tràng số lượng vi khuẩn bắt đầu tăng lên. * Hệ vi sinh vật của ruột già
  9. 9 Số lượng vi sinh vật ở ruột già tăng hơn nhiều so với ruột non do tác dụng khử trùng của ruột đã không còn, mà các điều kiện về dinh dưỡng, độ ẩm, nhiệt độ lại thuận lợi cho sự phát triển của vi sinh vật. Hệ vi sinh vật chủ yếu là E.coli, cầu khuẩn, trực khuẩn có nha bào entrococcus. Gia súc trưởng thành E.coli chiếm 75% trở lên. Trong ruột già của động vật ngoài hệ vi sinh vật hoại sinh còn có hệ vi sinh vật gây b ệnh nhưng chưa thể hiện bằng triệu chứng lâm sàng: Vi khuẩn phó thương hàn, vi khuẩn brucella, uốn ván (Nguyễn Vĩnh Phước, 1980) []. Theo Đào Trọng Đạt và cs (1995) [] trong hệ tiêu hóa của động vật, hệ vi sinh vật luôn luôn ổn định đảm bảo cân bằng cho h ệ tiêu hóa, khi đó phần lớn các vi khuẩn có lợi là vi khuẩn lactic, vi khuẩn này chi ếm 90% và hoạt động hữu ích cho đường ruột. Nếu sự cân bằng này bị phá vỡ thì những vi khuẩn có hại cạnh tranh phát triển gây rối loạn đường tiêu hóa, gây tiêu chảy (nhất là lợn con theo mẹ), loại vi khuẩn th ường g ặp là E.coli và samonella… 2.1.2. C ơ s ở k hoa h ọ c c ủ a s ự sinh tr ưở ng ở l ợ n th ị t 2.1.2.1. Cơ sở di truyền học của sự sinh trưởng Một số tính trạng năng suất của lợn đều có chung bản chất di truy ền như với các giống gia súc khác, nhưng những biểu hiện cụ thể về giá trị kiểu hình của các tính trạng ấy lại mang các đặc thù riêng do các gen quy định về di truyền của từng loài. Theo Nguyễn Ân và cs, 1983 [7], 1994 [2]; Trần Đình Miên và cs, (1995)[8]; Nguyễn Văn Thiện và cs 1995 [9] , 1998 [10]: hầu hết các tính trạng về năng suất hay tính trạng có giá trị kinh t ế của gia súc như: khả năng cho thịt, khả năng sinh sản, sinh trưởng, cho sữa, cho lông, cho da… đều là các tính trạng số lượng. Ở các tính trạng số lượng, giá trị kiểu hình (Phenotype Value – P) của tính trạng do giá tr ị ki ểu
  10. 10 gen (Genotyp value – G) và sai lệch môi trường (Environmental deviation – E) quy định. Quan hệ này được biểu thị bằng công thức P = G + E. Khác với tính trạng chất lượng, giá trị kiểu gen của tính trạng số lượng do nhiều gen có hiệu ứng nhỏ (minor gene) cấu tạo thành. Đó là gen mà hiệu ứng riêng biệt của từng gen thì rất nhỏ, nh ưng t ập h ợp nhi ều gen nhỏ sẽ có ảnh hưởng rất rõ rệt tới tính trạng nghiên cứu. Hiện tượng này gọi là hiện tượng đa gen (Polygene). Các minor gen này tác động lên tính trạng theo 3 phương thức: cộng gộp, trội và át gen. Vì vậy giá tr ị ki ểu gen hoạt động thể hiện qua công thức: G = A + D + I. Trong đó: A: là giá trị cộng gộp hay giá trị giống (Additive value or Breeding value) D: là sai lệch trội (Dominance deviation) I: là sai lệch tương tác (Interaction deviation) A là thành phần quan trọng nhất của kiểu gen vì nó ổn định, có thể xác định được và di truyền cho đời sau. Hai thành phần D và I cũng có vai trò quan trọng vì đó là giá trị giống đặc biệt và ch ỉ xác đ ịnh đ ược th ấp nh ất con đường thực nghiệm. Các tính trạng số lượng còn chịu ảnh hưởng của sai lệch môi trường (E) gồm có 2 loại: - Sai lệch môi trường chung (Eg): (General Environmental deviation) là sai lệch do các nhân tố môi trường tác động th ường xuyên lên tính tr ạng một cách lâu dài. Các yếu tố đó là: thức ăn, khí h ậu, ch ế độ chăm sóc… tác động lên một nhóm cá thể hay một quần thể gia súc (Nguyễn Văn Thiện và cs 1995, 1996 [11], [50, 3 – 798]). - Sai lệch môi trường riêng (Es): ( Special Environmental deviation) là sai lệch do các nhân tố môi trường tác động riêng rẽ lên từng cá thể riêng biệt trong nhóm vật nuôi, hoặc một vài bộ phận riêng biệt của một cá th ể
  11. 11 nào đó trong quần thể trong một thời gian ngắn và không th ường xuyên, [12]. Như vậy khi giá trị kiểu hình của một tính trạng nào đó chi ph ối b ởi từ 2 locus trở lên thì giá trị ấy được biểu thị như sau: P = G + E = A + D + I + Eg + Es. Từ những phân tích ở trên cho thấy, các tính trạng năng suất ở l ợn cũng như ở các vật nuôi khác là kết quả tác động giữa các y ếu t ố di truy ền và các yếu tố môi trường. Các vật nuôi khác nhau đều nhận được từ bố mẹ chúng một vốn di truyền nhất định. Nhưng tiềm năng di truyền ấy thể hiện cao hay thấp phụ thuộc rất lớn vào môi trường sống của chúng, đặc bi ệt là các yếu tố: khí hậu, thức ăn, nuôi dưỡng, chăm sóc quản lý. Vì th ế trong công tác giống lợn, chúng ta muốn cải tiến các đặc đi ểm di truy ền c ủa giống lợn địa phương nhằm nâng cao năng suất, cần thiết ph ải thay đổi kiểu gen (G) qua việc tiến hành chọn lọc chặt ch ẽ giá trị gây gi ống (A), lai tạo để có những tổ hợp gen mới (D và I), kết hợp với vi ệc c ải ti ến và tăng cường các biện pháp tác động: thức ăn, nuôi dưỡng, chăm sóc, quản lý, bảo vệ… để khai thác tốt tiềm năng di truyền và khả năng sản xuất của mỗi phẩm giống. 2.1.2.2.Sự sinh trưởng và các chỉ tiêu đánh giá sức sinh trưởng ở lợn -Khái niệm về sự sinh trưởng Trong quá trình sinh trưởng sự tăng số lượng tế bào và tăng thể tích tế bào do kết quả của quá trình đồng hóa là quan trọng nh ất (Trần Đình Miên và cs, 1975, 1992 [13], 48 – 79. Quá trình phát triển của cơ thể là quá trình đồng hóa các v ật ch ất dinh dưỡng, các chất dinh dưỡng lấy vào cơ thể vừa là điều kiện để tế bào sinh sôi, nảy nở, vừa là cơ sở để hình thành chất trong tế bào và giữa các tế bào, đó là protein, lipit, gluxit và các chất khoáng…Đàm Văn Ti ện và cs
  12. 12 (1992) [14]. Chambers, 1990 [15], cũng cho rằng: quá trình sinh trưởng là sự tổng hợp sự sinh trưởng của các phần cơ thể như thịt, xương, da, mỡ… Về mặt sinh học, sinh trưởng ở lợn được xem là sự tăng cường tổng hợp protein trong các mô bào, vì thế thường lấy việc tăng kh ối lượng và kích thước các chiều làm chỉ tiêu đánh giá quá trình sinh trưởng. Quá trình này thể hiện ở ba mặt: Phân chia tế bào để làm tăng số lượng tế bào. Tăng thể tích của mỗi tế bào. Tăng thể tích giữa các tế bào. Người ta biết rằng sinh trưởng của gia súc là một quá trình mang 3 đặc tính: tốc độ, thời gian và tính chất di ễn bi ến. T ốc đ ộ sinh tr ưởng bi ểu thị sự tăng khối lượng, thể tích, kích thước các chiều cơ thể trong một khoảng thời gian nhất định. Thời gian sinh trưởng là khoảng thời gian xác định để cân đo và tính tốc độ sinh trưởng nói trên (Trần Đình Miên và cs, 1975 [16]). Một số tác giả như G.A.Clayton, T.C.Powell, (1979) [17] và A.S.Marco, 1982 cho biết: tốc độ sinh trưởng là tính trạng có hệ số di truyền cao (h2 = 0,4 – 0,5) và liên quan chặt chẽ tới các đặc điểm trao đổi chất đặc trưng cho từng dòng, giống, cá thể. Từ tất cả các quan đi ểm trên, có thể rút ra bản chất sinh học về sự sinh trưởng ở lợn cũng như các gia súc như sau: sinh trưởng là một quá trình tích lũy các ch ất hữu cơ do đ ồng hóa và dị hóa, là sự tăng chiều dài, chiều cao, bề ngang, thể tích, khối lượng các cơ quan bộ phận và toàn bộ cơ thể con vật trên cơ sở các tính chất di truyền từ đời trước truyền lại (Trần Đình Miên và cs, 1975 [20]). - Các chỉ tiêu đánh giá sức sinh trưởng Trong chăn nuôi lợn và các gia súc, gia cầm người ta thường dùng 3 chỉ tiêu đánh giá tốc độ sinh trưởng là sinh trưởng tích lũy, sinh tr ưởng tuyệt đối và sinh trưởng tương đối.
  13. 13 Sinh trưởng tích lũy: Là sự tăng lên về khối lượng cơ thể, kích thước theo thời gian khảo sát Sinh trưởng tuyệt đối: là sự tăng lên về khối lượng, thể tích và kích thước các chiều cơ thể trong khoảng thời gian giữa 2 lần kh ảo sát (TCVN, 1977) [18], đồ thị sinh trưởng tuyệt đối của lợn có dạng Parabol. Tốc độ sinh trưởng tương đối: là tỷ lệ phần trăm tăng lên của khối lượng, thể tích và kích thước các chiều cơ th ể lúc kết thúc kh ảo sát so v ới lúc đầu khảo sát (TCVN, 1977) [19]. Đồ thị sinh trưởng t ương đ ối c ủa l ợn có dạng Hyperbol, tốc độ sinh trưởng tương đối giảm dần theo tuổi của gia súc. - Các chỉ tiêu đánh giá năng suất thịt Khối lượng sống: là khối lượng giết mổ của lợn sau khi cho nh ịn ăn 24 giờ. Khối lượng thịt móc hàm (kg) và tỷ lệ thịt móc hàm (%) Khối lượng thịt móc hàm là khối lượng thịt lợn sau khi đã ch ọc tiết, cạo lông, mổ lấy hết cơ quan nội tạng. Tỷ lệ móc hàm là tỷ lệ giữa khối lượng móc hàm và khối lượng sống. Khối lượng thịt xẻ (kg) và tỷ lệ thịt xẻ (%) Khối lượng thịt xẻ là khối lượng móc hàm trừ đi khối lượng đầu, 4 chân, đuôi và hai lá mỡ. Tỷ lệ thịt xẻ là tỷ lệ giữa khối lượng thịt xẻ và khối lượng sống. Tỷ lệ nạc (%) Thịt nạc là thành phần quan trọng nhất có giá trị trong th ịt xẻ. Tỷ l ệ nạc càng cao thì chất lượng thịt càng cao và ngược lại. Tỷ lệ nạc của các giống cao sản như Yorkshire, Landrace, Pietrain… từ 55 - 64%. Hiện nay
  14. 14 chúng ta đang cố gắng nâng cao tỷ lệ nạc của các giống lợn trong n ước bằng cách cho lai với các giống lợn cao sản. Tỷ lệ mỡ, tỷ lệ da và tỷ lệ xương (%) Mỡ lợn ít được dùng làm th ực ph ẩm ở nh ững n ước phát tri ển, tuy nhiên ở các nước đang phát tri ển, m ỡ l ợn r ất c ần thi ết cho nhu c ầu con người vì đó là ngu ồn cung c ấp năng l ượng cao. Xu h ướng hi ện nay người ta đang cố gắng gi ảm d ần t ỷ l ệ mỡ c ủa l ợn xu ống do nhu c ầu v ề thịt nạc của người tiêu dùng ngày càng cao. Tỷ lệ xương và da phụ thuộc vào giống lợn. Các giống lợn nội có t ỷ lệ xương thấp hơn các giống lợn đã được cải tiến, tỷ lệ xương bi ến đ ộng trong khoảng 9 - 12%. Tỷ lệ lệ hao hụt (%) Tỷ lệ hao hụt của thịt xẻ thể hiện tỷ lệ nước chứa trong thịt cao hay thấp, nói lên chất lượng thân thịt, chế độ nuôi dưỡng và thời tiết khí h ậu làm thí nghiệm. Nhìn chung tỷ lệ hao hụt càng nhỏ càng tốt. 2.1.3. Những yếu tố ảnh hưởng đến sự sinh trưởng 2.1.3.1 Yếu tố bên trong * Ảnh hưởng di truyền của dòng, giống cá thể Trong chăn nuôi gia súc, dòng, giống có thể có ảnh hưởng rất lớn t ới sự sinh trưởng. Con sinh ra tiếp thu từ bố mẹ và truyền lại cho đời sau kh ả năng sinh trưởng mang tính đặc thù của dòng , giống. Tính di truyền về khả năng sinh trưởng ảnh hưởng tới năng suất vật nuôi. Ảnh hưởng của dòng, giống đến sự sinh trưởng được nhiều tác giả nghiên cứu và khẳng định trên các loại gia súc gia cầm. Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [26] cho biết: Yếu t ố di truy ền là một trong những yếu tố có ý nghĩa quan trọng nhất ảnh hưởng đến sinh trưởng phát dục của lợn. Quá trình sinh trưởng phát dục của lợn tuân theo
  15. 15 các quy luật sinh học, nhưng chịu ảnh hưởng của các giống lợn khác nhau. Do ảnh hưởng của các tuyến nội tiết và hệ th ống th ần kinh mà hình thành nên sự khác nhau giữa các giống lợn nguyên thuỷ và các giống lợn đã đ ược cải tiến cũng như các giống lợn thành thục sớm và giống lợn thành thục muộn. Sự khác nhau này không những chỉ khác nhau về cấu trúc tổng thể của cơ thể mà còn khác nhau ở sự hình thành nên các tế bào, các bộ phận của cơ thể và đã hình thành nên các giống lợn có hướng sản xuất khác nhau như: giống lợn hướng nạc, hướng mỡ. Nguy ễn Thi ện và cs (2005) [27] cho rằng: Gi ống cũng là m ột y ếu tố quan trọng ảnh h ưởng đ ến sinh tr ưởng, phát d ục, năng su ất và ph ẩm chất th ịt. Thông th ường các gi ống l ợn n ội cho năng su ất th ấp h ơn so với những gi ống lợn ngo ại nh ập n ội. L ợn Ỉ, Móng Cái nuôi 10 tháng tuổi trung bình đ ạt kho ảng 60 kg. Trong khi đó các gi ống l ợn ngo ại (Landrace, Yorkshire…) nuôi t ại Vi ệt Nam có th ể đ ạt 90 - 100 kg lúc 6 tháng tuổi. *Điều khiển quá trình trao đổi chất của các hormone Hormone tham gia vào tất cả các quá trình trao đổi chất của tế bào và giữ cân bằng các chất trong máu. Trong thời kỳ đầu tiên c ủa quá trình sống, kể cả khi ch ưa có s ự ho ạt đ ộng c ủa tuy ến giáp đã có s ự tham gia của tuy ến ức trong đi ều khi ển quá trình sinh tr ưởng. V ề sau điều khiển quá trình sinh tr ưởng có s ự tham gia c ủa tuy ến yên. Hormon c ủa thuỳ trướ c tuy ến yên STH ( somatotropin hormone ) là loại hormon r ất c ần thiết cho sinh tr ưở ng c ủa c ơ th ể. Theo tác gi ả Hoàng Toàn Th ắng và cs (2006) [28]: STH có tác d ụng sinh lý ch ủ y ếu kích thích s ự sinh tr ưởng của cơ th ể bằng cách làm tăng s ự t ổng h ợp protein và kích thích s ụn liên h ợp phát triển, tăng t ạo x ươ ng (nh ất là các x ương dài). Khi thiếu hoặc thừa loại hormon này sẽ dẫn đến cơ th ể quá nhỏ bé (nanismus) ho ặc
  16. 16 quá to (gigantismus). Vào thời kỳ thành thục về tính, các hormon sinh dục như hormon của dịch hoàn và buồng trứng (androgen và oestrogen) tham gia vào quá trình điều khiển hoạt động sinh dục của cơ thể và hình thành nên các đặc tính sinh dục thứ cấp. Hormon sinh dục của con cái tạo ra từ buồng trứng cũng có tác động đáng kể đến sinh trưởng của lợn. Ngoài ra các loại hormon của các tuyến như tuyến tụy và tuyến thượng thận cũng tham gia điều tiết sự phát triển của bộ xương và cơ. 2.1.3.2. Yếu tố bên ngoài Trong chăn nuôi lợn ngoài việc cải tiến giống thì th ức ăn dinh d ưỡng là một yếu tố quyết định đến khả năng sinh trưởng và phát triển. *Vai trò và nhu cầu về protein, axit amin đối với lợn nuôi thịt. Theo Trần Cừ, Nguyễn Khắc Khôi (1985) [29]: Protein là nhóm ch ất hữu cơ có phân tử lượng cao và có chứa nitơ. Protein đảm nhi ệm nhi ều chức năng quan trọng và là nguồn nguyên liệu cấu tạo nên tế bào. Quá trình sinh trưởng của lợn là quá trình tăng lên của khối lượng protein, hàm lượng protein trong cơ thể rất cao. Các cơ quan bộ phận khác nhau có hàm l ượng protein không giống nhau. Protein có nhiều nhất trong cơ từ 30 – 35% so với tổng lượng protein trong cơ thể. Lợn con bú sữa có tốc độ phát triển nhanh về hệ cơ và khả năng tích lũy protein lớn, do đó đòi hỏi về số lượng và chất lượng protein cao. Nếu trong khẩu phần thiếu protein thì sinh trưởng của lợn con sẽ giảm hoặc ngừng, khả năng sống kém. Nhu cầu protein trong thức ăn bổ sung cho lợn là 16- 18%. Trong quá trình chăn nuôi thâm canh người ta đề nghị hàm lượng protein trong khẩu phần là 22- 24%. Axit amin là thành phần cấu tạo cơ bản của protein. Theo T ừ Quang Hiển và cs (1995) [30] vai trò của các axit amin trong cơ thể rất đa dạng, nó là thành phần chủ yếu của protein, nhu cầu protein của cơ th ể chính là nhu
  17. 17 cầu về axit amin. Cơ thể con vật chỉ có thể tổng hợp nên protein của nó theo mức cân đối các axit amin trong thức ăn, nhưng axit amin nào n ằm ngoài cân đối sẽ bị oxy hóa cho năng lượng. Do vậy, n ếu cung c ấp axit amin theo tỷ lệ cân đối sẽ nâng cao hiệu quả lợi dụng protein, tiết kiệm được protein thức ăn. Một thí nghiệm của Metz nghiên cứu trên lợn sinh trưởng cho biết, với yêu cầu tăng trọng 585g/con/ngày, nếu khẩu ph ần cân b ằng các axit amin thì protein thô cần 11- 12%, nhưng nếu khẩu phần mất cân đối axit amin thì cần 20- 22% protein thô. Trong các loại thức ăn hàm lượng các lo ại protein r ất khác nhau. Một số loại giàu protein động vật nh ư cá, b ột cá, b ột th ịt, b ột máu, tôm, cua, trứng sữa...Một số loại protein th ực v ật nh ư các lo ại đ ậu, đ ỗ và s ản phẩm phụ của nó. Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [...] cho biết: nói chung lợn con tiêu hóa protein một cách dễ dàng, nhưng do nguồn gốc của thức ăn (động vật hay thực vật) và bản chất protein khác nhau nên sự tiêu hóa có những đặc điểm khác nhau quan trọng. Nhu cầu protein và axit amin cho lợn thịt qua các giai đoạn tuổi Khối lượng(kg) Giai đoạn Giai đoạn Giai đoạn Chỉ tiêu 10- 35 (kg) 10- 35 (kg) 10- 35 (kg) Protein thô (%) 16 14 13 Lizin (%) 0,70 0,61 0,57 Arginine (%) 0,20 0,18 0,16 Izoloxin (%) 0,50 0,44 0,41 Loxin (%) 0,60 0,52 0,48 Methionin (%) 0,45 0,40 0,30 Phenyalanin (%) 0,70 0,61 0,57 Treonin (%) 0,45 0,39 0,37 Triptophan (%) 0,12 0,11 0,10 Valin (%) 0,50 0,44 0,41
  18. 18 *Vai trò và nhu cầu về năng lượng đối với lợn nuôi thịt Song song với việc cung cấp đầy đủ nhu cầu về protein và axit amin thì chúng ta cần cung cấp đầy đủ và cân bằng về năng lượng. Năng lượng có ảnh hưởng quyết định đến việc sử dụng vật chất dinh dưỡng trong thức ăn phù hợp với từng loài, giống, tuổi, ch ức năng s ản xuất. Năng lượng trong thức ăn được sử dụng cho các hoạt động sống c ủa cơ thể và hình thành nên các hợp chất hữu cơ của tế bào. Chất cung cấp năng lượng chu yếu là gluxit như: Tinh bột, đường, xơ....Hàng ngày gluxit đảm bảo từ 70-80% nhu cầu dinh cầu vềdưỡng của lợn. Nếu thi ếu lợn s ẽ gầy yếu, còi cọc, chậm lớn. Nhu cầu về năng lượng của lơn thịt Chỉ tiêu Lợn con Lợn choai Lợn vỗ béo (10-20) kg (20-25) kg (50-90) kg Nội Lai Ngoạ Nội Lai Ngoạ Nội Lai Ngoại i i NLTĐ (Kcalo/kg) 3000 3200 3200 2800 2900 3000 2800 2900 3000 15 17 19 12 15 17 10 12 14 Protein thô (%) Lyzin (%) 0,9 1,0 1,1 0,6 0,7 0,8 0,5 0,6 0,7 *Vai trò và nhu cầu về khoáng chất đối với lợn nuôi thịt. Theo Từ Quang Hiển và cs (2003) [32] gia súc non cần được cung cấp đầy đủ khoáng chất để phát triển bộ xương và đảm bảo cho các quá trình xảy ra trong cơ thể. Nếu tính theo mức tăng trọng thì khoáng ch ất chiếm 3 - 4% khối lượng cơ thể tăng. Nếu so với bộ xương thì khoáng chất chiếm 26% khối lượng xương tăng.
  19. 19 Khả năng sử dụng khoáng chất trong thức ăn của gia súc non t ốt h ơn gia súc trưởng thành. Quá trình trao đổi khoáng mà chủ yếu là trao đổi canxi và phot pho xảy ra mạnh mẽ ở gia súc non. Khi gia súc còn non khả năng tích luỹ canxi, phot pho cao. Tuổi càng tăng, khả năng tích luỹ giảm. Nhìn chung, gia súc non yêu cầu can xi lớn hơn phot pho, càng l ớn và tr ưởng thành nhu cầu can xi giảm, nhu cầu phot pho tăng lên. Đ ể đ ảm b ảo cho quá trình tiêu hoá hấp thu và sử dụng canxi, photpho được t ốt, tránh đ ược hi ện tượng còi xương. Ở gia súc non cần chú ý cung cấp đầy đ ủ, cân đ ối canxi, photpho (đối với gia súc non tỷ lệ Ca/P thích hợp là 1,5-2/1). * Vai trò và nhu cầu về vitamin đối với lợn nuôi thịt Vitamin là loại vi chất dinh dưỡng, nó r ất c ần thi ết đ ể xúc tác cho mọi quá trình trao đổi chất cho sinh tr ưởng c ủa đ ộng v ật. Trong các loại Vitamin thì, Vitamin A và Vitamin D là hai lo ại Vitamin quan trọng nh ất cho sinh tr ưởng.Trong đó Vitamin A xúc ti ến quá trình sinh trưởng, nếu thiếu vitamin A có th ể d ẫn đ ến mù lòa, t ốc đ ộ sinh trưởng giảm, lông xù, gầy còm, năng su ất sinh s ản th ấp, gây b ệnh b ần huyết ở lợn con, xù lông, da khô ở lợn sinh tr ưởng. Vitamin D c ần thi ết cho sự trao đổi can xi, ph ốt pho đ ể phát tri ển b ộ x ương. Nhu c ầu c ủa l ợn thịt về Vitamin A và D theo Từ Quang Hi ển, Phan Đình Th ắm 1995 là: tiêu chuẩn của Tây Đức (DLG) cho kết quả tốt hơn cả gồm vitamin A = 2000 UI/kg thức ăn, vitamin D = 2500 UI, vitamin E = 10- 15mg. Nhu cầu Vitamin của lợn được thỏa mãn từ ngu ồn rau xanh, ngũ cốc và Vitamin được tổng hợp bổ sung vào th ức ăn ở d ạng Premix. - Nhiệt độ và ẩm độ môi trường: Nhiệt độ môi trường không chỉ ảnh hưởng đến tình trạng sức khoẻ mà còn ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của cơ thể. Nếu nhiệt độ môi trường không thích hợp thì sẽ không thể đảm bảo quá trình trao đổi chất diễn ra bình th ường cũng như
  20. 20 cân bằng nhiệt của cơ thể lợn. Việc đảm bảo nhiệt độ chuồng nuôi thích hợp cho các loại lợn khác nhau phải căn cứ vào khả năng điều tiết thân nhiệt của chúng. Một số công trình nghiên cứu chứng minh rằng khi nhiệt độ nuôi trường xuống thấp (dưới 5,5oC) thì lợn con bú sữa có nhu cầu về vitamin B2 cao hơn rất nhiều khi nhiệt độ môi trường là 29oC. Khi nhiệt độ chuồng nuôi thấp, lợn sẽ thất thoát nhiệt rất nhiều, vì lẽ đó ở lợn con và lợn nuôi thịt sẽ giảm khả năng tăng kh ối lượng và tăng lượng tiêu tốn thức ăn cho một kg tăng khối lượng. Nhi ệt đ ộ thích h ợp cho lợn nuôi béo từ 15 - 18oC, cho lợn sinh sản không thấp hơn 10 - 11 oC. Nhìn chung, khi lợn càng lớn, càng trưởng thành thì cơ quan điều tiết thân nhiệt càng hoàn thiện, lớp mỡ dưới da càng dày và nhu cầu về nhiệt càng giảm xuống. Nhiệt độ chuồng nuôi có liên quan mật thiết với ẩm độ không khí, ẩm độ không khí thích hợp cho lợn ở vào khoảng 70%. - Ánh sáng: Ánh sáng có ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của lợn. Khi nghiên về ảnh hưởng của ánh sáng đối với lợn ng ười ta th ấy rằng ánh sáng có ảnh hưởng rõ rệt đến sinh trưởng và phát triển của lợn con, lợn hậu bị và lợn sinh sản hơn là đối với lợn vỗ béo. Khi không đủ ánh sáng sẽ làm ảnh hưởng đến quá trình trao đổi chất của lợn, đặc biệt quá trình trao đổi khoáng. Đối với lợn con từ sơ sinh đến 70 ngày nếu không đủ ánh sáng thì tốc độ tăng khối lượng sẽ giảm từ 9,5 - 12%, tiêu t ốn th ức ăn giảm 8 - 9% so với lợn con được vận động dưới ánh sáng mặt trời. Đối với lợn vỗ béo nhu cầu về ánh sáng thấp hơn, đặc biệt sau khi lợn ăn xong. Trong thực tế ở một số trang trại, người ta đã giảm cường độ chiếu sáng xuống mức tối thiểu cho lợn vỗ béo, đặc biệt cho các giống lợn cao sản (do các giống lợn sinh sản sinh trưởng nhanh, thời gian nuôi ngắn)

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản