intTypePromotion=1

Đề tài: Nghiên cứu đặc điểm sinh vật học và đề xuất những kĩ thuật ban đầu để gây trồng loài Hoàng Liên ô rô (Mahonia nepanensis DC ) tại khu bảo tồn thiên nhiên Hoàng Liên

Chia sẻ: Ngọc Hưng | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:28

0
83
lượt xem
18
download

Đề tài: Nghiên cứu đặc điểm sinh vật học và đề xuất những kĩ thuật ban đầu để gây trồng loài Hoàng Liên ô rô (Mahonia nepanensis DC ) tại khu bảo tồn thiên nhiên Hoàng Liên

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Nhằm giúp các bạn nghiên cứu đặc điểm sinh vật học và phân bố loài Hoàng Liên ô rô tai khu bảo tồn thiên nhiên Hoàng Liên. Mời các bạn cùng tham khảo nội dung đề tài "Nghiên cứu đặc điểm sinh vật học và đề xuất những kĩ thuật ban đầu để gây trồng loài Hoàng Liên ô rô (Mahonia nepanensis DC) tại khu bảo tồn thiên nhiên Hoàng Liên". Hy vọng đây là tài liệu tham khảo hữu ích cho các bạn.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Đề tài: Nghiên cứu đặc điểm sinh vật học và đề xuất những kĩ thuật ban đầu để gây trồng loài Hoàng Liên ô rô (Mahonia nepanensis DC ) tại khu bảo tồn thiên nhiên Hoàng Liên

  1. 1. Tên ý tưởng        “ Nghiên cứu đặc điểm sinh vật học và đề xuất những kĩ thuật   ban đầu để  gây trồng loài Hoàng Liên ô rô (Mahonia nepanensis   DC ) tại khu bảo tồn thiên nhiên Hoàng Liên “ 2. Mục tiêu của ý tưởng ­ Nghiên cứu đặc điểm sinh vật học và phân bố loài Hoàng Liên ô  rô tai khu bảo tồn thiên nhiên Hoàng Liên. ­ Từ kết quả nghiên cứu làm cơ sở dữ liệu tổng hợp và hệ  thống   về các đặc điểm sinh vật học và kỹ thuật nhân giống vô tính loài  Hoàng liên ô rô phục vụ cho các nghiên cứu tiếp theo về loài. 3. Tổng quan nghiên cứu 3.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới        3.1.1. Phân loại và phân bố chi Mahonia trên thế giới        ­Phân loại: Hoàng liên ô rô (HLOR) – còn gọi là cây Mật gấu, Mã hồ, Hoàng bá  gai, Thích hoàng bá, Thập  đại công lao... có tên khoa học là  Mahonia  nepalensis  DC. thuộc họ  Hoàng liên gai (Berberidaceae), bộ  Mao lương   (Ranunculales). Theo Ying Junsheng (2001), họ  Hoàng liên gai (Berberidaceae)  có 17  chi và khoảng 650 loài, chủ yếu phân bố ở vùng ôn đới phía Bắc và vùng  miền núi á nhiệt đới. Riêng  ở  Trung Quốc, có tới 11 chi và 303 loài. Chi  Mahonia có gần 60 loài, phân bố ở Đông Á và Đông Nam Á, phía Tây của  Bắc Mỹ, vùng Trung Mỹ, và phía Tây của Nam Mỹ.
  2. ­ Phân bố của chi Mahonia và loài HLOR Chi Mahonia bao gồm khoảng 60 loài cây bụi, gỗ  nhỏ  thường xanh.   Chi này có quan hệ  chặt chẽ  với chi Berberis. Chính vì vậy, nhiều nhà  thực vật học không tán thành việc chấp nhận tên chi Mahonia nên đã xếp  chi Mahonia vào cùng với chi Berberis vì một số  loài thuộc hai chi này có  thể lai giống với nhau. Tuy nhiên, chi Mahonia có lá kép lông chim lớn dài  từ  10­50 cm, với từ  5­15 lá chét và hoa mọc thành các cành (dài từ  5­20  cm). Tên chi Mahonia được đặt theo Bernard McMahon (1775­1818), một  người làm vườn ở Philadelphia, Hoa Kỳ. Phân bố HLOR ở một số quốc gia châu Á: + Trung Quốc:  Theo Ying Junsheng (2001),  ở  Trung Quốc có tới 31  loài thuộc chi Mahonia, trong đó loài HLOR (M. nepalensis DC.) xuất hiện  ở trong rừng rậm, bìa rừng hoặc trong các bụi cây ở độ cao từ 1200­3000  m. Phân bố  ở tỉnh Hồ  Nam, Nam Tứ Xuyên, Đông Tây Tạng và tỉnh Vân   Nam. + Bhutan: Theo Chhetri (1989), ở Bhutan, M. nepalensis DC. phân bố ở  độ cao 1500­2400m, gần những dòng suối nhỏ, dưới những cây bụi khác.  Thời kỳ ra hoa từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau. + Ấn Độ và Nepal: Phân bố ở những khu vực núi cao trên 1500m. + Những nơi khác: M. nepalensis DC. là cây cho hoa màu vàng, mọc  thành cành khá đẹp nên được gây trồng làm cảnh  ở  nhiều nơi. Mặc dù   loài cây này chỉ có phân bố tự nhiên ở một số nước Châu Á (Trung Quốc,   Nê­pan, Việt Nam) nhưng nó đã được gây trồng ở nhiều nơi khác ở Đông  
  3. Nam   Á   (Indonesia,   Malaysia   và   Myanmar),   Sri­Lanka   và   một   số   nước   ngoài châu Á như Úc và miền Nam Châu Âu. Thực tế  đã cho thấy, việc cung cấp thực vật cho dược phẩm truyền   thống không thỏa mãn được nhu cầu (Cunningham, 1993). Do vậy, một   giải   pháp   thay   thế   thích   hợp   nhất   cho   những   vấn   đề   mà   ngành   công   nghiệp dược đang phải đối mặt đó là phát triển hệ  thống nuôi  In Vitro  nhằm đáp ứng nhu cầu về dược thảo và các chất tiết của nó (Nalawade et   al, 2004). Cùng với sự phát triển của công nghê sinh học, việc nhân giống   các loài cây dược liệu bằng phương pháp In Vitro đã được nhiều nơi trên  thế  giới, đặc biệt là  ở  Trung Quốc,  Ấn Độ, Đài Loan,... tiến hành và đã   đem lại kết quả đáng khích lệ nhằm nâng cao năng suất, chất lượng của   việc sản xuất dược liệu (Arora, 1989). Trong tương lai, để  phục vụ  cho  mục đích sức khỏe con người và sự phát triển của xã hội, nhằm chống lại  các bệnh nan y thì cần thiết có sự kết hợp giữa Đông và Tây y, giữa y học  hiện đại và kinh nghiệm cổ truyền dân tộc. Vì vậy, việc khai thác kết hợp   với bảo tồn các lại cây thuốc là điều hết sức cần thiết. 3.1.2. Việc sử dụng loài cây HLOR làm thuốc HLOR là cây dược liệu dùng để  chữa bệnh. Tác dụng trị  bệnh đã được   ghi trong bộ  sách  Thần nông bản thảo  của Trung Quốc như  một loại  thuốc được xếp vào hàng thương phẩm.  Ở  Trung Quốc, người ta cũng  dùng lá, thân và quả  của một loài tương tự  có tên khoa học là   Mahonia   bealei (Fort) Carr. gọi là Khoát diệp thập đại công lao hay Thổ  hoàng bá  để làm thuốc chữa bệnh (Xiuhong Ji et al., 2000).
  4. Các bộ tộc Khasi và Garo của Meghalaya (Ấn Độ) đã sử  dụng vỏ  cây  tươi của HLOR ép lấy dịch, rồi pha loãng với nước, dùng như thuốc nhỏ  mắt cho nhiều bệnh mắt khác nhau (Rao, 1981).  Người dân địa phương  còn thường dùng chữa lỵ, ăn uống không tiêu, vàng da, đau mắt. Bộ phận  thường được sử dụng nhiều là vỏ cây (Laloo R. C. et al. 2006). Balami (2006) đã nghiên cứu và tìm hiểu 119 loài thực vật được sử  dụng làm thuốc của người Newar thuộc làng Pharping huyện Kathmandu   (Nê­pan). Trong đó, quả  và vỏ  loài cây  Mahonia nepaulensis  có thể  chế  thành dạng nước ép để chữa bệnh đi ngoài và bệnh lỵ. Ngoài ra còn có hai  loài cây khác cùng họ Berberidaceae là Berberis aristata DC. (Ban marpasi)  và Berberis asiatica Roxb. ex DC. (Marpasi) đều có thể tạo ra nước ép để  chữa bệnh đau dạ dày và cũng được cộng đồng này khai thác. 3.1.3.  Kỹ thuật nhân giống và gây trồng Ở Bắc Mỹ, Úc và một số nước Châu Âu sử dụng các loài cây khác  thuộc chi Mahonia (họ  Berberidaceae) có hình thái gần giống với HLOR   trồng làm cảnh. Chẳng hạn  ở Mỹ, nhiều loài cây thuộc chi Mahonia như  là  M. equifolium; M. fortunei...  được trồng làm cảnh xung quanh tường   nhà, bờ  rào hoặc các khoảng trống giữa các sân trường. Một số  loài về  mùa đông lá chuyển mầu đỏ  rất đẹp và tồn tại qua mùa đông. Người ta   cũng đã xây dựng quy trình gồm 8 bước nhân giống dinh dưỡng, gây trồng  và chăm sóc các loài cây này. 3.2. Tình hình nghiên cứu trong nước Trong thời gian qua, công tác bảo tồn và phát triển các loài cây thuốc   ở nước ta đã được quan tâm đáng kể. Nhiều bài học kinh nghiệm đã được 
  5. rút ra (Lê Thanh Chiến, 2005). Theo đó, một chiến lược bảo tồn và phát   triển cây thuốc được xác định như sau: Đối với cây dược liệu ngắn ngày,  phải điều tra quy hoạch ngay những vùng có loài mọc tập trung, xác định   những cây thuốc có nhu cầu sử dụng cao, đề  xuất thời gian khai thác phù   hợp với khả  năng tái sinh của cây. Đối với cây dược liệu đa niên, cần  điều tra tài nguyên cây thuốc trong các khu rừng bảo tồn, rừng đặc dụng,   xác định các cây thuốc quý để có kế hoạch bảo vệ và phát triển kịp thời.   Lựa chọn một số  loài cây thuốc giá trị  cao, đi sâu vào nghiên cứu nhân  giống và phát triển kỹ thuật gieo trồng tại một số vùng đất nhất định để  góp phần nâng cao thu nhập cho người dân địa phương. Chẳng hạn như  cây thổ phục linh, là một loại thân leo, ưa sáng, chịu hạn tốt, phù hợp với  hệ  sinh thái đất đồi, nương rẫy. Các xí nghiệp dược thích mua thổ  phục   linh  Phú  Yên để  làm thuốc chữa  thấp khớp rất công hiệu, thế  nhưng  người dân trong tỉnh chỉ mới khai thác tự nhiên nên số lượng ngày càng ít  dần   và  nguy   cơ   cạn   kiệt   loài   cây  này   (Lê   Thị   Tuyết   Anh,  Trung   tâm   Nghiên cứu và sản xuất dược liệu miền Trung  Trước đó, Trần Khắc Bảo (1994) đã đề  cập đến các vấn đề  về  chế  biến, bảo quản và phát triển cây thuốc  ở  Lào Cai và Hà Giang. Lê Quý   Ngưu, Trần Như Đức (1998) đã tập trung mô tả đặc điểm hình thái, công  dụng, nơi mọc, kỹ thuật thu hái, chế biến và các bài thuốc làm từ các loài  thực vật trong đó có thực vật cho LSNG. Nguyễn Bá Hoạt (2002) đã đề  cập đến tài nguyên thực vật cho LSNG theo hướng phân loại hệ  thống   sinh và thống kê thực vật có giá trị làm thuốc ở huyện vùng cao Sa Pa, Lào   Cai. Tác giả  tập trung mô tả  về  công dụng và nơi mọc của các loài thực  vật ở đây, trong đó có loài HLOR. 
  6. Nghiên cứu về  tiềm năng và vai trò LSNG đối với cuộc sống cộng  đồng  ở  một số  vùng đệm của VQG và khu dự  trữ  thiên nhiên tại Việt   Nam cho thấy gần 200 tấn cây dược liệu  ở  VQG Ba Vì được khai thác  trong năm 1997 và 1998, ước tính gần 60% dân tộc Dao tại Ba Vì tham gia  vào thu hái cây dược liệu. Đây là nguồn thu nhập chính trước đây và hiện   nay là nguồn thu nhập thứ  hai sau lúa và sắn (D.A.Gilmour và Nguyễn  Văn Sản, 1999). Huỳnh Văn Kéo và cộng sự  (2001) đã nghiên cứu về  đa  dạng sinh học cây thuốc VQG Bạch Mã, đã đề  cập đến vấn đề  bảo tồn,  sử dụng và phát triển bền vững nguồn gốc cây thuốc.        Nhìn chung, HLOR ở Việt Nam là cây thuốc quý hiếm. Tính chất quý   hiếm ở đây trước hết xét về giá trị nguồn gen và do kích thước quần thể  của chúng ở nước ta nhỏ hẹp, vùng phân bố bị chia cắt mạnh. Tiếp đến là  giá trị làm thuốc. Xét về bản chất các alcaloid (chủ yếu là berberin) trong   cây HLOR có tác dụng chống nhiễm khuẩn, nhưng tác dụng này chưa  được nghiên cứu đầy đủ. Do vậy, có thể nói, người dân nói chung chưa có  thông tin đầy đủ về giá trị làm thuốc của HLOR, thường là chỉ qua lời đồn  đại của người bán hàng rong mà ở nhiều nơi như ở Đèo Gió (Cao Bằng),  Sapa (Lào Cai)..., thân và rễ HLOR được bán cho khách qua đường với giá  rất cao (50.000­70.000đ/kg thân gỗ  khô) (Triệu Văn Hùng và cộng sự,  2007). Người  mua nhiều khi không chắc chắn đó là sản phẩm từ  cây  HLOR hay không, những vẫn mua. Thực tế này đã dẫn đến việc khai thác  quá mức HLOR cho dù loài cây này còn rất ít trong tự nhiên (Đỗ Huy Bích,  2006) ở khu vực này. Vì vậy vấn đề  bảo tồn và phát triển loài cây này ở  nước ta đã trở nên cấp bách.
  7. Gần đây, trên thị trường có giới thiệu sản phẩm có thể  thay thế  mật   gấu. Cây mật gấu còn là tên gọi của một số  cây thuốc như  cây Vàng  kiêng (Nauclea purpurea Roxb), họ Cà phê (Rubiaceae) chữa viêm túi mật;  cây Hy kiểm (Plectranthus ternifolius  D.Don), họ  Bạc hà (Lamiaceae)...  Ngoài ra, hiện nay  ở  chợ, dọc đường đi hoặc  ở  hiệu thuốc Y học cổ  truyền, người ta bán những đoạn thân, rễ với tên "Mật gấu" có thể  được   lấy từ cây HLOR (Mahonia nepalensis DC.)  ở một số  tỉnh miền núi (Lào  Cai, Hà Giang).
  8. 4. Tính cấp thiết của ý tưởng đè xuất 4.1. Giá trị và tình trạng của loài Hoàng liên ô rô hiện nay Với tên “Thập đại công lao”: với vị  đắng, tính hàn, quy kinh phế,   trừ  ho, hạ  nhiệt, bổ  âm hư, trị  đau ngực, đau gối, chóng mặt, ù tai, viêm  gan, vàng da, tiêu chảy, kiết lỵ. Chúng cũng được chứng minh có tác dụng  kháng sinh đối với Staphylococcus aureus, Escherichia coli, Pseudomonas  aeruginosa…    Đây là loài cây có nguồn gen quý hiếm và độc đáo của Việt Nam  và có giá trị  rất lớn về  dược liệu: từ  rễ  và thân có thể  chiết suất lấy   berberin dùng làm thuốc chữa bệnh đường ruột, rễ hoặc gỗ thân sắc uống  chữa rối loạn tiêu hóa, kiết lỵ, viêm ruột, đau mắt đỏ, viêm da dị   ứng,  mẩn ngứa, mụn nhọt...        Tính vị, tác dụng: Hoàng liên ô rô có vị  đắng, tính mát, có tác   dụng thanh nhiệt ở phế vị, can thận.  Ở  Ấn Độ, quả  được xem như  là lợi  tiểu và làm dịu kích thích.     Công dụng, chỉ định và phối hợp: Thường dùng chữa ho lao, sốt   cơn, khạc ra máu, lưng gối yếu mỏi, chóng mặt ù tai, mất ngủ, Chữa  viêm ruột,  ỉa chảy, viêm da dị   ứng, viêm gan vàng da, mắt đau sưng đỏ,   dùng rễ  hay cây khô sắc uống, dùng riêng hay phối hợp với các vị  thuốc  khác. Hoàng liên ô rô  ở  Việt Nam là cây thuốc quý hiếm. Tính chất quý  hiếm ở đây trước hết xét về giá trị nguồn gen và do kích thước quần thể  của chúng ở nước ta nhỏ hẹp, vùng phân bố bị chia cắt mạnh. Tiếp đến là  giá trị làm thuốc. Xét về bản chất các alcaloid (chủ yếu là berberin) trong  
  9. cây HLOR có tác dụng chống nhiễm khuẩn, nhưng tác dụng này chưa  được nghiên cứu đầy đủ. Do vậy, có thể  nói, người dân nói chung chưa có thông tin đầy đủ  về giá trị làm thuốc của HLOR, thường là chỉ  qua lời đồn đại của người  bán hàng rong mà  ở  nhiều nơi như   ở   Đèo Gió (Cao Bằng), Sapa (Lào  Cai)..., thân và rễ  HLOR được bán cho khách qua đường với giá rất cao  (50.000­70.000đ/kg thân gỗ  khô). Người mua nhiều khi không chắc chắn  đó là sản phẩm từ cây HLOR hay không, nhưng vẫn mua. Thực tế này đã  dẫn đến việc khai thác quá mức HLOR cho dù loài cây này còn rất ít trong   tự nhiên ở khu vực này. Vì vậy vấn đề  bảo tồn và phát triển loài cây này  ở nước ta đã trở nên cấp bách. 4.2. Mức độ nguy cấp Sách đỏ Việt Nam 2007 đã xếp hạng nguy cấp loài Hoàng Liên ô rô  (Mahonia nepalensis DC.) vào cấp (EN A1c, d). Theo tiêu chuẩn của IUCN cho phân hạng danh lục đỏ  và sách đỏ  (trích Sách đỏ Việt Nam 2007):            ­   Cấp EN (Endangered): Nguy cấp. Một taxon được coi là  nguy cấp  khi chưa phải là  rất nguy cấp  nhưng  đang đứng trước một nguy cơ  rất lớn  sẽ  tuyệt chủng ngoài thiên nhiên  trong một tương lai gần. ­ Tiêu chuẩn A: suy giảm quần thể  dưới bất kỳ  dạng nào dưới  đây:
  10. 1. Suy giảm ít nhất 50%, theo quan sát,  ước tính, suy đoán hoặc  phỏng đoán trong 10 năm cuối hoặc 3 thế  hệ  cuối (lấy khoảng  tời  gian nào dài  nhất)  dựa  trên (và xác định  được)  một trong   những điểm dưới đây: ( a ) Quan sát trực tiếp ( b ) Chỉ số về sự phong phú thích hợp với Taxon đó ( c ) Sự suy giảm nơi cư trú, khu phân bố hay chất lượng nơi sinh cư ( d ) Mức độ khai thác hiện tại hoặc khả năng ( e ) Tác động của các Taxon du nhập, lai tạo, dịch bệnh, chất ôi  nhiễm, vật cạnh tranh hoặc ký sinh 2. Suy giảm ít nhất 50%, theo dự đoán hoặc phỏng đoán, sẽ xảy ra  trong 10 năm tới hoặc 3 thế hệ tới (lấy hoảng thời gian nào dài  nhất), dựa trên (và xác định được) một trong những điểm (b), (c),  (d) hoặc (e) trên đây. Như vậy, loài Hoàng liên ô rô (Mahonia nepalensis DC.) đang ở trong  tình trạng nguy cấp, suy giảm quần thể ít nhất 50%, theo quan sát,  ước tính, suy đoán hoặc phỏng đoán trong 10 năm cuối hoặc 3 thế hệ  cuối do sự suy giảm nơi cư trú, khu phân bố, chất lượng nơi sinh cư và  mức độ khai thác hiện tại hoặc khả năng khai thác. Loài này đang đứng  trước nguy cơ rất lớn bị tuyệt chủng trong một tương lai gần nếu  không có các biện pháp và phương án bảo tồn hiệu quả 5. Nội dung nghiên cứu của bảo tồn loài Hoàng Liên ô rô Trong hệ thống phân loại, HLOR được xếp như sau: Kingdom:  Giới Plantae
  11. Division:            Ngành         Magnoliophyta  Class:            Lớp             Magnoliopsida             Order:             Bộ          Ranunculales                 Mao lương  Family:             Họ         Berberidaceae         Hoàng liên gai Genus:             Chi           Mahonia    Species:                 Loài          Mahonia nepalensis DC.  HLOR  Tên khoa học đầy đủ là: Mahonia napaulensis de Candolle, Syst Nat.  Thường gọi là  Mahonia nepalensis  DC. hoặc  Mahonia nepaulensis  DC.  Tên Tiếng Anh là Nepaul Barberry 5.1. Nội dung nghiên cứu       * Nghiên cứu đặc điểm thân,  hình thái bên ngoài.      *  Nghiên cứu đặc điểm cây tái sinh đo đếm một số cây về các chỉ tiêu  Hvn, Dt, Lc, Lb. *  Nghiên cứu đặc điểm hình thái lá.                *  Nghiên cứu đặc điểm cành và cách phân cành        *  Nghiên cứu về đặc điểm hoa quả       *  Nghiên cứu vật hậu           ­ Mùa rụng lá, ra hoa, chồi           ­  Mùa hoa, quả 5.2. Đặc điểm lâm phần nơi có loài Hoàng Liên ô rô phân bố  tập trung tại khu bảo tồn thiên nhiên Hoàng Liên *  Cấu trúc tổ thành cây gỗ, cây tái sinh
  12.  ­ Cấu trúc tổ thành cây tái sinh        ­ Cấu trúc tổ thành cây gỗ     *  Cấu trúc của mật độ  ­ Mật độ cây gỗ  ­ Mật độ cây tái sinh  ­ Thành phần loài đi kèm ­ Tái sinh quanh gốc mẹ 5.3. Đặc điểm hình thái của loài Hoàng liên ô rô 5.3.1. Thân Cây thân thảo, cây bụi hay cây gỗ nhỏ, có thể có gai,cao 1,5 – 3m có   thể cao đến 5 ­ 7m. Vỏ có lớp bần dày, màu trắng xám. Gỗ thân và rễ có màu vàng nhạt. Cây có thể phân nhánh. 5.3.2. Lá Lá kép lông chim lẻ, dài 20 – 40 cm. Lá kép mang 11­25 lá chét mọc  đối xếp chéo hình chữ thập. Bề mặt lá không có lông, cứng, gần như không cuống, hình bầu dục   hoặc hơi thuôn, cỡ 3,5 – 7 x 2,5 – 4 cm. Gốc hình tim hoặc cụt, đỉnh nhọn  hoắt thành gai.
  13. Phiến lá dày, cứng, mép khía 3 – 5 răng cưa mép to, nhọn sắc, 3 gân  chính, gân phụ nổi rõ ở  cả  2 mặt. Lá có thể  chứa các viên sỏi, nhìn thấy   đưới dạng các sọc Lá lúc non màu đỏ. Khi già chuyển thành màu xanh lục hoặc xanh   lục thẫm. Lá kèm nhọn giống như hai gai nhỏ 5.3.3. Hoa Hoa hoàn hảo, đối xứng hai bên tới gần như đối xứng tỏa tia, các hoa này  mọc thành một cụm hoa 1 – 5, hình bông, phân nhánh, mọc thẳng ở ngọn Thông thường trên hoa có lá bắc nhiều màu sắc, hình bầu dục đối diện   với mỗi hoa. Hoa nhiều, màu vàng nhạt. Đài hoa 9 xếp thành 3 vòng. Tràng hoa 6 hình   ống, 2 môi hay 5 thùy, có 2 tuyến mật ở gốc. Nhị hoa 6 xếp đối với tràng  hoa, bao phấn dài bằng nửa chỉ  nhị, chỉ  nhị  có xúc  ứng động. Bầu nhụy  lớn, hình trụ, phình ở giữa, lá noãn 1 với kiểu đính noãn gắn trụ. 5.3.4. Quả và hạt Quả mọng hay quả hạch, màu xanh lơ, gần hình cầu, đường kính 6  – 7 mm, đầu quả có núm nhỏ do đầu nhụy còn tồn tại. Quả có một hạt, là loại không có nội nhũ với các phôi lớn, màu nâu đen  dài khoảng 3 mm 5.4. Nghiên cứu đặc điểm sinh thái của loài 5.4.1. Đặc điểm sinh học và sinh thái học Mùa hoa Hoàng liên ô rô vào các tháng 2 – 4, ra quả tháng 4 – 6.
  14. Cây ra hoa kết quả  nhiều, chủ  yếu tái sinh tự  nhiên bằng hạt, có  khả năng tái sinh chồi sau khi bị chặt phát. Đây là đặc điểm cho thấy loài  có khả năng nhân giống từ hạt và nhân giống vô tính từ hom khá tốt. Cây mọc hoang ở vùng núi cao lạnh, thường gặp ở ven rừng một số  núi cao như Lang biang (Lâm Đồng) và Phăng xi păng (Lào Cai). Quả thu  hái về mùa hạ. Thân và lá thu hái quanh năm, rửa sạch, phơi khô. Hoàng liên ô rô là cây ưa ẩm, lúc nhỏ chịu bóng, sau ưa sáng. Thích   nghi với vùng khí hậu ôn hòa, điều kiện khí hậu ẩm mát quanh năm, nhiệt   độ  trung bình 15 ­ 16°C, lượng mưa 1600 – 2800 mm/năm, độ   ẩm không  khí trên 80%, quanh năm sương mù. (Đà Lạt, Lang Bian). Thường mọc rải   rác  ở  ven rừng hoặc dưới tán rừng kín thường xanh  ẩm  ở độ  cao 1700 –  1900 m. Hiện nay ở theo Sách đỏ Việt Nam, 2007, loài Hoàng liên ô rô có phân bố  tại 6 tỉnh bao gồm Lâm Đồng, Lào Cai, Lai Châu, Sơn La, Hà Giang và  Cao Bằng 5.4.2. Giá trị của loài Với tên “Thập đại công lao”: với vị  đắng, tính hàn, quy kinh phế,   trừ  ho, hạ  nhiệt, bổ  âm hư, trị  đau ngực, đau gối, chóng mặt, ù tai, viêm  gan, vàng da, tiêu chảy, kiết lỵ. Chúng cũng được chứng minh có tác dụng  kháng sinh đối với Staphylococcus aureus, Escherichia coli, Pseudomonas  aeruginosa…    Đây là loài cây có nguồn gen quý hiếm và độc đáo của Việt Nam  và có giá trị  rất lớn về  dược liệu: từ  rễ  và thân có thể  chiết suất lấy   berberin dùng làm thuốc chữa bệnh đường ruột, rễ hoặc gỗ thân sắc uống 
  15. chữa rối loạn tiêu hóa, kiết lỵ, viêm ruột, đau mắt đỏ, viêm da dị   ứng,  mẩn ngứa, mụn nhọt...        Tính vị, tác dụng: Hoàng liên ô rô có vị  đắng, tính mát, có tác   dụng thanh nhiệt ở phế vị, can thận.  Ở  Ấn Độ, quả  được xem như  là lợi  tiểu và làm dịu kích thích.     Công dụng, chỉ định và phối hợp: Thường dùng chữa ho lao, sốt   cơn, khạc ra máu, lưng gối yếu mỏi, chóng mặt ù tai, mất ngủ, Chữa  viêm ruột,  ỉa chảy, viêm da dị   ứng, viêm gan vàng da, mắt đau sưng đỏ,   dùng rễ  hay cây khô sắc uống, dùng riêng hay phối hợp với các vị  thuốc  khác. 5.5. Đề xuất phương thức bảo tồn ­ Bảo tồn tai chỗ ( nội vi ) Ínitu Với những giá trị mà cây Hoàng Liên ô rô mang lại hiện nay cây đang bị  khai thác một cách cạn kiệt và có nguy cơ suy thoái nghiêm trọng nên cần  có những biện pháp bảo tồn tại chỗ trong điều kiện tự nhiên tại vườn  quốc gia Hoàng Liên nhằm phát triển nguồn gen. Đối với loài cây Hoàng Liên ô rô thì sẽ tiến hành bảo tồn trong vùng tự  nhiên như: vườn quốc gia hoặc khu bảo tồn thiên nhiên nơi có loài này  phân bố tự nhiên VQG Ba Vì, VQG Bạch Mã, khu bảo tồn thiên nhiên  Hoàng Liên. Khi đã điều tra được nơi sống, điều kiện sống, phân bố tiến  hành bảo tồn theo các phương thức: + Bảo tồn loài Hoàng Liên ô rô ở dưới tán rừng nơi có loài phân bố tự  nhiên tại khu bảo tồn Hoàng Liên. Loài  được bảo tồn ngoài tự nhiên hoặc  trong các vườn ươm, các lâm trường. Tại đây loài sẽ được trồng, chăm 
  16. sóc và các cán bộ kĩ thuật tiến hành nhân giống bằng phương pháp gieo  ươm hạt hoặc la giâm hom. + Bảo tồn loài do người dân: thực hiện trên đất rừng được giao khoán.  Được sự hướng dẫn của các cán bộ lâm nghiệp về kĩ thuật nhân giống,  trồng, cũng như chăm sóc. Mở các lớp tập huấn cho người dân về bảo vệ  và phát triển nguồn tài nguyên rừng. Đối với những cây đã lớn thì có thể  bảo tồn nơi nó mọc tự nhiên. Đối với những cây còn non, nhỏ thì có thể  đưa về vườn nhà của người dân để ươm. ­ Bảo tồn chuyển chỗ ( ngoại vi ) Ex­Situ + Xây dựng các vườn thực vật, khu rừng thực nghiệm, vườn cây thuốc di  dời các cây Hoàng Liên ô rô trong môi trường tự nhiên ở khu bảo tồn thiên  nhiên Hoàng Liên vào môi trường sống mới. Các vườn thực vật đảm bảo  điều kiện sống thích hợp như nơi loài có phân bố tự nhiên. Sau thời gian  loài đã được thích nghi với điều kiện sống ở vườn tiến hành nghiên cứu  và gây trồng nhân tạo. Thực tế đã cho thấy việc nhân giống cây Hoàng  Liên ô rô đã khá thành công. Trạm nghiên cứu và gây trồng cây thuốc ở  Tam Đảo và Sa Pa, bước đầu cũng khẳng định khả năng nhân giống bằng  hạt của cây là khá tốt. Ngoài ra nhóm nghiên cứu này cũng tiến hành thử  nghiệm nhân giống vô tính bằng cách giâm hom và đã cho trồng thử  nghiệm hang trăm cây trên núi đá vôi tại Hà Giang. . Loài cây này cũng  được thu thập về trồng tại vườn của Trung tâm cây thuốc Đà Lạt (Viện  Dược liệu) với mục đích bảo tồn ngoại vi (Ex situ), cây sinh trưởng phát  triển tốt. Bên cạnh đó, năm 2009, Trung tâm nghiên cứu khoa học sản  xuất lâm nghiệp vùng Tây Bắc (Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam) đã  tiến hành điều tra sơ bộ phân bố loài cây này tại vùng núi cao Cò Mạ, 
  17. huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La và huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai cho thấy cây  phân bố ở rừng thứ sinh và phân bố ở độ cao trên 1000m, số lượng cá thể  phân bố còn rất ít, số cây mẹ nhân giống rất hiếm gặp.  + Bảo tồn ở các ngân gen hàng hạt. Hạt thu hai về được bảo quản theo  hai phương pháp chính: . Ở nơi có điều kiện hạt thu hái về sẽ được bảo quản lạnh . Bảo tồn tại các ngân hàng hạt cộng đồng. Người dân thu hái hạt về sẽ  bảo quản theo phương pháp truyền thống và dựa theo phương thức của  địa phương. 5.6. Các bước trong bảo tồn nguồn gen      ­  Điều tra khảo sát       + Đặc điểm sinh vật       + Đặc điểm phân bố       + Đặc điểm kinh tế xã hội      ­  Đánh giá hiện trạng        + Phân hạng        + Tác động từ tự nhiên, con người        + Khai thác, tái sinh      ­  Triển khai bảo tồn       + Bảo tồn tại chỗ       + Bảo tồn chuyển chỗ        + Giải pháp tổng hợp       ­ Sử dụng, nhân rộng         + Nhân rộng         + Sử dụng nguồn gen
  18. 5.7. Thử nghiệm nhân giống, trồng phục vụ mục tiêu bảo tồn và  phát triển loài ­ Thử nghiệm nhân giống vô tính: bằng phương thức giâm hom ­ Thử nghiệm nhân giống hữu tính bằng hạt 5.8. Thử nghiệm trồng, theo dõi, đánh giá sinh trưởng          Trần Ngọc Hải và nhóm nghiên cứu của Trường Đại học Lâm  nghiệp đã triển khai đề tài nghiên cứu, thu thập nguồn gen thực vật của  một số loài ở vùng lòng hồ thủy điện Sơn La về trồng tại Vườn sưu tập  của Lâm viên Sơn La từ 2007­2009. Kết quả là đã sưu tập và trồng được  trên 30 loài cây với diện tích 6ha, hiện nay vẫn còn một số loài cây đang ở  vườn huấn luyện và vườn ươm. Nhìn chung, các cây có tỷ lệ sống tương  đối cao, nhiều loài trong số đó sinh trưởng tốt, bước đầu thể hiện sự  thành công của bảo tồn chuyển chỗ, trong đó có loài HLOR. Loài cây này  được lấy mẫu từ Tủa Chùa (Lai Châu), rồi đưa về  gây trồng thử nghiệm.  Sau gần 2 năm, bước đầu khẳng định, loài cây này có khả năng gây trồng  ở dưới tán rừng, tuy nhiên cây sinh trưởng rất chậm. Để thử nghiệm nhân  giống vô tính, nhóm nghiên cứu đã vào rừng tự nhiên đào tách cây con (cây  mọc lên từ chồi của cây trưởng thành), dùng bùn nhão hồ vào gốc và đem  giâm trong nơi có bóng râm, sau một thời gian chăm sóc, tỷ lệ cây sống và  ra rễ khá cao và có thể đem trồng. Cũng trong nghiên cứu này, một lô hạt  giống HLOR được thử nghiệm gieo cũng cho tỷ lệ nảy mầm 50­55%. Bên  cạnh đó, nhóm nghiên cứu cũng đã bước đầu thử nghiệm nhân giống vô  tính loài cây này nhưng kết quả nhân giống bằng hom cành không khả  quan, chỉ hom thân của loài cây này đã ra rễ và có khả năng phát triển
  19. Tuy nhiên, khi thử nghiệm nhân giống loài cây này tại Lâm Đồng bằng  hom thân và cành từ 2008 đến nay, cành hom có thể ra rễ khi dùng các  chất kích thích ra rễ như IBA và IAA. Kết quả bước đầu cho thấy, sau 4­ 5 tháng giâm, những hom sống đã mọc 3­6 lá. Hiện nay, các thí nghiệm  đang được tiếp tục theo dõi, đánh giá. Trung tâm cũng đã tiến hành thu hái  hạt giống và gieo ươm nhưng tỷ lệ nảy mầm của hạt thấp, chỉ đạt 40%,  do chất lượng hạt kém. Đây được xem là những kết quả ban đầu về nhân  giống HLOR. Qua đó khẳng định rằng, việc nhân giống vô tính loài cây  này có triển vọng. Cần tiếp tục thử nghiệm nhằm tạo ra nguồn giống  thích hợp phục vụ công tác trồng rừng bằng loài cây này tại Tây Nguyên,  trong đó có Vườn Quốc gia Bidoup ­ Núi Bà và những nơi có điều kiện  tương đồng. Trung tâm nghiên cứu khoa học sản xuất lâm nghiệp vùng  Tây Bắc cũng đang tiến hành thử nghiệm nhân giống và bảo tồn chuyển  chỗ loài cây này tại Sơn La nhằm xác định giống có khả năng gây trồng và  sinh trưởng nhanh để bổ sung vào tập đoàn cây trồng của khu vực Tây  Bắc. *Sau đây xin trình bày các bước nhân giống vô tính cho loài Hoàng Liên ô  rô: + Lấy hom giống: Chọn những cây sinh trưởng và chất lượng tốt nhất, có  nhiều cành bánh tẻ, không bị sâu bệnh hại để lấy hom cành. Số lượng  hom lấy trên một cây không quá nhiều để tránh gây tổn thất cho cây. + Cách lấy hom: hom được lấy ở những cây mẹ trên 2 tuổi, có thân và tán  đẹp, sinh trưởng tốt. Hom cành được lấy từ cành bánh tẻ hoặc đoạn thân  thẳng, mỗi đoạn hom có 2­3 đốt (vị trí có thể ra mầm). Hom được lấy ở  đầu cành hoặc giữa cành.
  20. + Cách cắt hom: dùng dao sắc để cắt, cắt vát 45 độ, không để đầu hom  dập nát, trầy xước. Chiều dài hom từ 10­12 cm, sau đó dùng kéo cắt bớt  một phần lá để giảm bớt sự thoát hơi nước cho hom.  + Xử lý thuốc chống nấm bằng nước vôi trong (1%) trước khi xử lý thuốc  kích thích ra rễ. + Xử lý chất kích thích ra rễ và cắm hom:  ­ Lựa chọn chất kích thích ra rễ: Sử dụng IAA và IBA. ­ Nhúng hom vào dung dịch chất kích thích ra rễ rồi cấy vào nền giá thể  đã được chuẩn bị. Độ sâu cắm hom khoảng 4­5 cm, hom được cắm đứng. ­ Mùa giâm hom: mùa Xuân (tháng 1 đến tháng 4). + Chăm sóc hom sau khi giâm: hom được giâm trong nhà lưới. Định kỳ  tưới nước hàng ngày. Đặt một nhiệt kế và máy đo độ ẩm không khí trong  luống giâm hom để theo dõi thường xuyên. Tùy thuộc vào nhiệt độ, độ  ẩm không khí hàng ngày mà điều chỉnh lượng nước tưới và khoảng thời  gian tưới cho hợp lý.  + Khi hom ra rễ và ra lá mới (2­3 lá) thì chuyển sang bầu đất. Thành phần  ruột bầu cho tất cả các cây hom, gồm 85­90% đất tầng mặt hoặc tầng B,  8­12% phân chuồng hoai, 1­2% phân NPK. Bầu được xếp thành luống,  trên có dàn che, tưới nước đủ ẩm hàng ngày. 6. Phương pháp 6.1. Phương pháp chung. ­ Điều tra, đo đếm trực tiếp các chỉ  tiêu nghiên cứu về  rừng và loài  Hoàng Liên ô rô ngay tại rừng nơi có cây Hoàng Liên ô rô phân bố  trong các ô tiêu chuẩn (OTC) điển hình và cây tiêu chuẩn điển hình. 
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2