
BỘ XÂY DỰNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY DỰNG MIỀN TRUNG
KHOA XÂY DỰNG
------ oOo ------
SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
ĐỀ TÀI: NGHIÊN CỨU VỀ KHẢ NĂNG CHỊU TẢI
TRỌNG, PHƯƠNG PHÁP THI CÔNG TOP-BASE
GVHD : Ths. NGÔ NGỌC CƯỜNG
SVTH : ĐOÀN HOÀNG PHÚC
DƯƠNG KIM TRUNG
Lớp : D23XDK3
Đắk Lắk, tháng 04 năm 2026

MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU...................................................................................................................1
Chương 1. Tổng quan......................................................................................................2
1.1. Đặt vấn đề..................................................................................................................2
1.2. Tổng quan về công nghệ thi công Top-Base............................................................2
1.3. Hình dáng và kích thước của Top-Block.................................................................3
1.4. Ưu điểm và hạn chế của công nghệ thi công bê tông cốt thép ứng lực trước........4
1.4.1. Ưu điểm của công nghệ thi công bê tông cốt thép ứng lực trước.........................4
1.4.2. Hạn chế của công nghệ thi công bê tông cốt thép ứng lực trước..........................4
1.5. Thực trạng công nghệ thi công bê tông cốt thép ứng lực trước hiện nay..............5
Chương 2. Công nghệ thi công bê tông cốt thép ứng lực trước..................................11
2.1. Phương pháp căng trước........................................................................................11
2.1.1. Ưu điểm và nhược điểm của phương pháp căng trước.......................................11
2.1.2. Quy trình thi công phương pháp căng trước.......................................................12
2.2. Phương pháp căng sau............................................................................................18
2.2.1. Ưu điểm và nhược điểm của phương pháp căng sau..........................................19
2.2.2. Quy trình thi công phương pháp căng sau..........................................................20
2.2.3. Các sự cố thường gặp khi thi công bê tông cốt thép ứng lực trước căng sau và cách
khắc phục.....................................................................................................................41
KẾT LUẬN.....................................................................................................................42
KIẾN NGHỊ....................................................................................................................43
TÀI LIỆU THAM KHẢO.............................................................................................44

GVHD: NGÔ NGỌC CƯỜNG
LỜI MỞ ĐẦU
Công nghiệp xây dựng Việt Nam đang ở giai đoạn phát triển mạnh mẽ nhằm đáp
ứng yêu cầu của đất nước trong quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá. Thực tiễn đó
thúc đẩy sự sáng tạo và áp dụng các công nghệ xây dựng mới đồng thời phải luôn cố
gắng cải tiến các công nghệ xây dựng hiện có để phù hợp hơn với yêu cầu mới.
Trong những năm gần đây, các công nghệ, phương pháp xử lý nền đất mới đã được
đưa vào áp dụng rộng rãi ở Việt Nam. Nhưng hầu hết các công nghệ này chỉ mới chú
trọng tới những công trình cao tầng có tải trọng lớn.
Với sự quan tâm đặc biệt tới những công trình thấp tầng có tải trọng trung bình, trên
nền đất yếu, tới môi trường tôi đã tìm hiểu và tiếp cận với Phương pháp TOP-BASE
(TOP-BASE Method). Trong phạm vi đề tài này, tôi xin giới thiệu Phương pháp TOP-
BASE cũng như sự nghiên cứu và ứng dụng nó trong điều kiện địa chất ở Việt Nam.
KHẢ NĂNG CHỊU TẢI TRỌNG PHƯƠNG PHÁP THI CÔNG TOP-BASE 1

GVHD: NGÔ NGỌC CƯỜNG
Chương 1. Tổng quan
1.1. Đặt vấn đề
Một phương án móng mới gần đây được gọi là Phương pháp TOP-BASE đã thu hút
sự quan tâm của các kỹ sư Nhật Bản và Hàn Quốc. Nó được sử dụng trên nền đất yếu để
giảm độ lún cố kết và tăng khả năng chịu tải của nền.
Phương pháp Top-base là phương pháp đặt các khối bê tông hình phễu trong nền đá
dăm lên lớp đất yếu. Phương pháp Top-base đổ bê tông tại chỗ cho thấy độ lún cố kết
giảm từ 1/10 ÷ 1/2 hoặc nhiều hơn, đồng thời tăng khả năng chịu tải của nền từ 50% -
200% hoặc nhiều hơn so với nền đất ban đầu chưa được xử lý.
Phương pháp Top-base có tác dụng ngăn cản chuyển vị ngang của lớp đất yếu và
làm giảm khả năng giãn nở dẫn đến giảm độ lún móng công trình, và phân phối ứng suất
bên dưới đáy móng đều hơn dẫn đến tăng khả năng chịu lực của nền.
Do sự gia tăng dân số, sự thiếu thốn về đất đai, và nhu cầu sử dụng đất yếu để xây
dựng công trình đã thúc đẩy các kỹ sư xây dựng tìm ra các giải pháp cải thiện các khu
vực nền đất yếu phục vụ công tác xây dựng sao cho tiết kiệm chi phí vật liệu và chi phí
xây dựng, phương pháp này chỉ nên dùng cải thiện nền đất bề mặt và ngay dưới bề mặt.
Gần đây, một phương pháp mới được phát minh mà liên kết các khối bê tông hình
phễu và đặt chúng lên trên nền đất. Các nhóm Top-block có thể được sử dụng như
phương án móng nông để thay thế móng cọc. Nó được gọi là “Móng Top-base”. Thực tế
cho thấy nhiều công trình xây dựng ứng dụng phương pháp này đem lại hiệu quả mạnh
mẽ trong việc giảm độ lún và tăng khả năng chịu lực của nền đất.
Phương pháp móng cải tiến, Top-base, được sử dụng thành công nhằm cải thiện nền
đất yếu trong hơn 10 năm qua tại Hàn Quốc. Có 2 loại móng Top- base: loại thứ 1 được
đúc sẵn trong nhà máy, loại thứ 2 là đổ bê tông tại chỗ. Mặc dù cả 2 loại móng này có đặc
tính như nhau, tuy nhiên phương pháp Top-base đúc tại công trường thi công dễ dàng
hơn và chi phí rẻ hơn so với phương pháp Top-base sản xuất sẵn trong nhà máy. Vì vậy,
hầu hết các kỹ sư nhận định rằng phương pháp móng Top-base đổ tại chỗ mà được phát
KHẢ NĂNG CHỊU TẢI TRỌNG PHƯƠNG PHÁP THI CÔNG TOP-BASE 2

GVHD: NGÔ NGỌC CƯỜNG
triển và cải thiện bởi công ty Banseok Top-Base Co., Ltd là phương án móng tối ưu hơn
cả.
1.2. Tổng quan về công nghệ thi công Top-Base
Phương pháp TOP-BASE được sử dụng lần đầu tiên tại Nhật Bản vào những năm
80 của thế kỷ XX. Trong thời gian đầu thì giải pháp này không được quan tâm nghiên
cứu và phát triển.
Sau trận động đất lớn ở Chibahien Nhật Bản vào năm 1987, người Nhật nhận thấy
sự bền vững của những công trình được sử dụng phương pháp TOP- BASE. Từ đó họ bắt
đầu tập trung nghiên cứu và phát triển chúng.
Sự khác nhau cơ bản giữa bê tông cốt thép và bê tông cốt thép ứng lực trước ở chỗ
trong khi bê tông cốt thép chỉ là sự kết hợp đơn thuần giữa bê tông và cốt thép để chúng
làm việc một cách bị động thì bê tông ứng lực trước là sự kết hợp một cách tích cực, có
chủ ý giữa bê tông cường độ cao và cốt thép cường độ cao. Để có thể tạo nên lực căng
lớn thì cần phải sử dụng cốt thép cường độ cao. Mặc khác, để có thể giảm kích thước tiết
diện và từ đó giảm trọng lượng bản thân cấu kiện, đồng thời để tăng khả năng chịu ứng
suất tập trung ở vùng neo cần phải sử dụng bê tông cường độ cao. Ngoài ra, bê tông
cường độ cao còn có modun đàn hồi cao hơn, biến dạng do từ biến ít hơn, do đó ứng suất
trước trong thép sẽ bị mất ít hơn. Như vậy, bê tông cốt thép ứng lực trước là sự kết hợp lý
tưởng giữa hai loại vật liệu hiện đại có cường độ cao.
Vào những năm 80 của thế kỉ XX, phương pháp TOP-BASE là sáng kiến kỹ thuật
đặc biệt của Nhật Bản và đã trở thành một thuật ngữ quốc tế dưới tên gọi Phương pháp
móng cọc dài phễu (TOP-BASE Method). Với việc chế tạo hàng loạt những top-block
bằng bê tông trong nhà máy, Phương pháp TOP- BASE dễ dàng được sử dụng trong
nhiều công trình tại Nhật Bản. Tuy nhiên, mỗi top-block nặng khoảng 75kg, việc vận
chuyển chúng đến công trường rất phức tạp và đòi hỏi thi công bằng các thiết bị lớn.
Nhận thấy tính ưu việt của Phương pháp TOP-BASE, các kỹ sư Hàn Quốc nhanh
chóng nghiên cứu, ứng dụng và cải tiến mạnh mẽ công nghệ này. Thay cho việc đúc sẵn
trong nhà máy, top-block được đổ ngay tại hiện trường với những khuôn nhựa được làm
KHẢ NĂNG CHỊU TẢI TRỌNG PHƯƠNG PHÁP THI CÔNG TOP-BASE 3

