
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KỸ THUẬT CÔNG NGHỆ TP. HCM
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
XÁC ĐỊNH THỜI GIAN THU HOẠCH SÂU CHẾT ĐỂ
THU NHẬN VIRUS NPV TRÊN SÂU KHOANG ĂN TẠP
SPODOPTERA LITURA
Ngành: CÔNG NGHỆ SINH HỌC
Chuyên ngành: CÔNG NGHỆ SINH HỌC
Giảng viên hướng dẫn : TS. NGUYỄN THỊ HAI
Sinh viên thực hiện : NGUYỄN THỊ DIỄM CHI
Lớp: 11HSH02 MSSV: 1191111006
TP. Hồ Chí Minh, 2013

Đồ án tốt nghiệp
Trang 1
LỜI MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Việt Nam là một nước nông nghiệp có khí hậu nhiệt đới nóng ẩm nên rất thuận
tiện cho cây trồng phát triển. Đồng thời với cây trồng phát triển là sâu bệnh hại
cũng phát sinh, chúng gây hại đáng kể đến năng suất. Theo thống kê của Cục Bảo
vệ thực vật, hàng năm các loại dịch hại, bệnh hại đã làm giảm 35 – 40 % tổng sản
lượng, mặt khác làm giảm phẩm chất của nông sản. Để bảo vệ cây trồng thì mức chi
phí cho công tác bảo vệ thực vật, phòng trừ dịch hại đã không ngừng tăng lên trong
phạm vi toàn quốc. Trong đó, đáng đề cập đến là loài sâu khoang ăn tạp
(Spodoptera litura), theo ước tính loài sâu này có thể gây hại trên 290 loại cây trồng
thuộc 99 họ thực vật. Ở nước ta chúng là loài gây hại quan trọng trên các loại rau họ
thập tự, cà chua, đậu đũa, bầu bí, rau muống, khoai lang, thuốc lá, bông, thầu dầu,
điền thanh,… (Nguyễn Đức Khiêm, 2006).
Để phòng trừ và làm giảm thiệt hại gây ra do sâu, bệnh hại nói chung và loài
sâu khoang ăn tạp (Spodoptera litura) nói riêng người nông dân đã sử dụng nhiều
biện pháp phòng trừ như canh tác thủ công, luân canh, chuyên canh, chọn tạo giống
mới, dùng thuốc hóa học. Trong đó biện pháp sử dụng thuốc hóa học được xem là
phổ biến vì dễ áp dụng, có hiệu quả ngay, kịp thời và hiệu quả cao mà giá thành lại
rẻ. Nhưng việc sử dụng thuốc trừ sâu hóa học gây ô nhiễm môi trường trầm trọng,
để lại dư chất hóa học trong nông sản, giảm số lượng sinh vật có ích, làm mất cân
bằng sinh thái trong tự nhiên, làm tăng tính kháng thuốc của sâu bệnh,…đã làm cho
việc phòng trừ sâu hại trở nên kém hiệu quả: Riêng đối với loài thiên địch, El zen,
G.W.et al (1987) cho thấy thuốc hoá học trừ sâu có gốc lân hữu cơ và caramat rất
độc, gây chết 100% ong Microphilitis Croleipes (một loài ký sinh của sâu xanh). Ở
việt nam, các tác giả Vũ Quang Côn và ctv (1993), Nguyễn Thị Hai (1996), Phạm
Hữu Nhược (1996) đều cho rằng phun thuốc hoá học làm giảm mật độ của các loài
ăn thịt, ong mắt đỏ và các loài ong ký sinh khác.

Đồ án tốt nghiệp
Trang 2
Việc phân tích các thí nghiệm ở California đã chỉ ra rằng sử dụng thuốc hoá
học một cách không thận trọng đã kìm hãm sự phát triển tự nhiên của sâu hại, là
nguyên nhân làm cho sâu hại tái phát, mật độ sâu sau khi xử lý thuốc cao hơn trước
khi xử lý (Mariechel, J. Navarro, (1985). Tình hình sâu xanh tái phát cũng đã phát
hiện ở trung quốc: Theo tổng kết của Sheng, C.F (1993), sau một năm sử dụng
thuốc học đơn độc để trừ sâu, mật độ sâu xanh năm 1992 mật độ sâu xanh lên cao
hơn 40 lần so với năm 1982. Ở Việt Nam, Nguyễn Thơ (1993), cũng có nhận xét
nếu phun thuốc không đúng quy định sẽ tiêu diệt ong mắt đỏ cũng như các loài
thiên địch khác ngoài tự nhiên và lập tức sâu xanh bùng phát thành dịch. Một tác hại
lớn của thuốc hoá học trừ sâu hiện nay mà toàn thế giới đang quan tâm đó là: việc
sử dụng thuốc hoá học liên tục đã làm tăng sự sự chọn lọc gen của quần thể sâu hại
và làm cho sâu ngày càng chịu đựng với thuốc. Tính đến năm 1986 cả thế giới đã có
447 loài sâu kháng thuốc, trong đó có 264 loài phá hoại trong nông nghiệp (Nguyễn
Thiện Thuật, 1996).
Ở Việt Nam, Sâu tơ hại bắp cải (Plutella xylostella St.) đã kháng hầu hết các
loài thuốc trừ sâu thông dụng (Lê Trường,1981).
Tồn dư của thuốc hoá học trừ sâu đã gây ô nhiễm lớn cho nguồn nước, nhiễm
độc cho thức ăn. Frisbie, R. et al (1991) cho biết sự phun thuốc hoá học trừ sâu ở
Mỹ đã làm nhiễm độc nặng cho nguồn nước và thức ăn. Ở Việt Nam, Bùi Sĩ Oanh
và ctv (1995) đã cho biết dư lượng thuốc Cypermerthin trên các loài đậu đỗ đã lên
tới 0,4 -0,7 mg/kg, vượt xa so với mức tồn dư cho phép.
Do vậy, việc sử dụng thuốc hóa học chỉ là biện pháp tình thế.
Đứng trước thực trạng đó thì biện pháp sinh học là một giải pháp được đánh
giá là có hiệu quả cao, vì nó không những không gây hại cho người, an toàn cho gia
súc, không ảnh hưởng đến các loài sinh vật có ích mà còn góp phần cải thiện môi
trường,… Trong số này, đáng kể nhất là virus đa diện nhân (NPV). Virus đa diện
nhân Nucleopolyhedrovirus (NPV) là một tác nhân gây bệnh rất phổ biến trên sâu
ăn tạp, được công nhận là một tiềm năng cho việc quản lý côn trùng, có hiệu quả
tiêu diệt cao do tính chất lây lan virus NPV trong quần thể sâu, đồng thời virus sẽ

Đồ án tốt nghiệp
Trang 3
nhân nhanh sinh khối trong cơ thể sâu khoang làm tăng tính chất tiêu diệt sâu, nó
đặc biệt hấp dẫn bởi tính an toàn đối với môi trường và các sinh vật khác. Ưu điểm
quý giá của NPV là không ảnh hưởng xấu đến các loài thiên địch, ở Mỹ, các nghiên
cứu trong phòng cũng cho thấy chuồn chuồn cỏ và các loài ong không bị nhiễm
NPV (Heins, K.M. et al, 1995., Nitt. L. et al, 1995). Ngoài tác động diệt sâu tức
thời, NPV còn có khả năng truyền sang các thế hệ sau (Khaire, V.M. et al, 1986).
Do có nhiều ưu điểm, NPV đã được nghiên cứu để trừ sâu hại trên nhiều loại cây
trồng. Bertucci, B.M (1985) đã sử dụng NPV trừ ruồi đục thân (Neodiprion sertifer)
trên cây tùng tại Ý. Rabindra, R.J. et al (1985) nghiên cứu sử dụng HaNPV trừ sâu
xanh hại hướng dương ở Ấn Độ. Virus được nghiên cứu trừ sâu hại trên các vườn
cây ở Nhật và nhiều nước khác (Sato t.,1989). Trần Quang Tấn và ctv (1995)
nghiên cứu sử dụng NPV trừ sâu dóm hại thông ở Việt Nam. Tất cả các công trình
nghiên cứu của các tác giả trên đều cho kết quả: NPV có tác dụng trừ sâu hại trên
các loại hoa màu tương đương hoặc cao hơn thuốc hoá học. Một trong những bước
đầu tiên và quan trọng nhất là phải nhân nuôi và thu nhận sinh khối lớn NPV nhằm
phục vụ cho việc sản xuất chế phẩm virus NPV. Nhưng thời gian thu nhận sâu chết
đã nhiễm virus đóng vài trò quan trọng trong quy trình sản xuất NPV nói chung và
NPV sâu khoang nói riêng (Senthil và cộng sự, 2010). Bởi vì, nếu ta thu nhận quá
sớm, lượng virus sẽ không cao, ngược lại nếu thu nhận quá trễ, xác sâu vỡ ra lượng
virus thất thoát ra môi trường cũng đáng kể. Vì vậy, việc xác định thời điểm thu
nhận cho sản lượng virus cao nhất, hiệu quả kinh tế nhất là rất cần thiết để giảm chi
phí, hạ giá thành sản xuất chế phẩm. Xuất phát từ nhu cầu trên, sinh viên tiến hành
đề tài: “xác định thời gian thu hoạch sâu chết để thu nhận virus NPV trên sâu
khoang ăn tạp Spodoptera litura”.
2. Mục đích của đề tài
Xác định thời điểm thu nhận để có lượng PIBs cao nhất
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Đề tài cung cấp những dữ liệu khoa học là cơ sở cho việc xác định thời gian
thu nhận sâu chết để thu nhận NPV trên sâu khoang ăn tạp Spodoptera litura thích

Đồ án tốt nghiệp
Trang 4
hợp trong quy trình sản xuất sinh khối lớn NPV nhằm cung cấp cho quá trình sản
xuất chế phẩm NPV trên quy mô lớn.
4. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi đề tài
Đối tượng nghiên cứu
Nuclear polyhedrosis virus – NPVgây chết sâu khoang thu được từ tự nhiên và
nhân lên trong điều kiện phòng thí nghiệm.
Nguồn sâu khoang ăn tạp Spodoptera litura dùng để nhân nhiễm virus NPV
được bắt từ tự nhiên đem về nhân nuôi để thu được F1.
Địa điểm
Các thí nghiệm được tiến hành nghiên cứu tại phòng thí nghiệm Khoa môi
trường và công nghệ sinh học, trường đại học Kỹ thuật Công nghệ thành phố Hồ
Chí Minh.
5. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nhân nhiễm virus NPV trên bề mặt thức ăn nhân tạo của
McKInley (1985)
Số liệu thí nghiệm được đưa vào xử lý thống kê, bằng chương trình Microsoft
Excel, Statgraphic centurion.

