
189
ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
TP HỒ CHÍ MINH
ĐỔI MỚI TỔ CHỨC SẢN XUẤT VÀ THÖC ĐẨY
NÔNG NGHIỆP ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ CAO TRONG XÂY DỰNG
NTM Ở VÙNG ĐÔNG NAM BỘ
1. Đặt vấn đề
Đến nay, chặng đường 10 năm thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây
dựng nông thôn mới (NTM)giai đoạn 2010-2020 đã gần kết thúc.Mục tiêu của chương
trình này nhằm nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người dân, giúp các địa
phương có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội phù hợp; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ
chức sản xuất hợp lý, gắn phát triển nông nghiệp với công nghiệp, dịch vụ; gắn phát
triển nông thôn với đô thị; xã hội dân chủ, ổn định, giàu bản sắc dân tộc; môi trường
sinh thái được bảo vệ; quốc phòng và an ninh, trật tự được giữ vững; giảm nghèo bền
vững, góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế và an sinh xã hội. Chương trình
xây dựng NTM đã được triển khai chính thức trên phạm vi gần 9.000 xã của cả Việt
Nam, bằng nguyên tắc phát huy vai trò chủ thể của cộng đồng dân cư nông thôn. Theo
kế hoạch, đến hết năm 2020, cả nước có trên 50% số xã đạt chuẩn nông thôn mới theo
bộ tiêu chí quốc gia. TừQuyết định số 899, ngày 10/03/2013,của Thủ tướng Chính phủ
vềviệc thực hiện tái cơ cấu ngành nông nghiệp, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông
thôn đã xây dựng, phê duyệt 6 đề án và 6 giải pháp thực hiện nhằm rà soát và hoàn
thiện cơ chế chính sách, đổi mới và phát triển hình thức tổ chức và tăng cường công
tác khoa học công nghệ trong sản xuất nông nghiệp. Đến ngày 17/4/2015, Thủ tướng
Chính phủ đã ban hành Quyết định số 508 về việc hỗ trợ cho ngành nông nghiệp để
thực hiện nhanh tiến độ tái cơ cấu ngành nông nghiệp. Suốt thời gian qua, bên cạnh
các cơ chế, chính sách, hướng dẫn từ các Bộ ngành TW thì các tỉnh thành của vùng
Đông Nam Bộ cũng đã chủ động ban hành nhiều văn bản, đề án, kế hoạch hành động
nhằm triển khai thực hiện đổi mới tổ chức sản xuất nông nghiệp của địa phương. Do
đó, nội dung chuyên đề này trước hết mô tả kết quả thực hiện tổng quát về Chương
trình xây dựng NTM của vùng Đông Nam Bộ. Sau đó, tập trung phân tích những đổi
mới tổ chức sản xuất nông nghiệp, thực trạng thúc đẩy ứng dụng nông nghiệp công
nghệ cao trong suốt thời gian xây dựng NTM. Từ đó, chuyên đề sẽ góp phần cung cấp
thông tin, giúp các nhà hoạch định chính sách nhận diện vấn đề trọng tâm, nhằmrút ra
bài học kinh nghiệm cho 10 năm thực hiện xây dựng NTM vừa qua, đồng thời định
hướng chính sách cho chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTMgiai đoạn tiếp
theo.
2. Tổng quan về vùng Đông Nam Bộ
Đông Nam Bộ là vùng đất tập trung nhiều khu đô thị, là đầu mối giao lưu quan
trọng của các tỉnh phía nam với cả nước và quốc tế. Về vị trí địa lý, phía Tây Bắc của
vùng Đông Nam Bộ giáp với nước Campuchia, đặc biệt có cửa khẩu lớn ở Tây Ninh
tạo mối giao thương với các nước lân cận. Tương tự, phía Nam Tây Nam giáp với vựa
lúa lớn của cả nước là vùng Đồng bằng Sông Cửu Long.Phía Đông Đông Nam giáp
với biển Đông, nơi có tài nguyên hải sản, dầu mỏ, khí đốt và thuận lợi xây dựng các
cảng biển vận chuyển hàng hóa. Cuối cùng, phía Bắc và Đông Bắc của vùng Đông

190
Nam Bộ giáp với tỉnh của vùng Tây nguyên và Duyên hải Nam Trung Bộ, vùng này có
tài nguyên đất đai, rừng và khoáng sản.
Bản 1. Diện tích sử dụn đất tại các tỉnh của vùn Đ n Nam Bộ
(tính đến 31/12/2017)
ĐVT: Nghìn ha
Địa điểm
(Tỉnh/thành/vùng)
Tổng diện
tích đất
Đất sản xuất
nông nghiệp
Đất lâm
nghiệp
Đất chuyên
dùng
Đất
ở
1.Bình Phước
687,68
445,71
172,78
46,41
6,53
2.Tây Ninh
440,13
270,64
71,95
24,23
9,13
3.Bình Dương
269,46
195,22
10,54
36,88
13,47
4.Đồng Nai
589,78
277,28
181,84
48,42
17,68
5.Bà Rịa - Vũng Tàu
198,10
105,16
33,79
33,12
7,13
6.TP.Hồ Chí Minh
209,54
66,00
35,68
34,49
28,17
Vùng Đông Nam Bộ
2.394,68
1.360,01
506,59
223,54
82,12
Nguồn: Niên giám thống kê các tỉnh vùng Đông Nam Bộ, 2018
Vùng Đông Nam Bộ có 6 đơn vị tỉnh thành, gồm tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, Bình
Dương, Bình Phước, Đồng Nai, Tây Ninh và thành phố Hồ Chí Minh. Theo tổng cục
thống kê Việt Nam, tính đến ngày 31/12/2017, toàn vùng Đông Nam Bộ có 5 thành
phố trực thuộc tỉnh, 19 quận, 8 thị xã, 40 huyện, 374 phường, 33 thị trấn và 465 xã.
Đông Nam Bộ nằm trên vùng bình nguyên rộng, chuyển tiếp từ cao nguyên Nam
Trung Bộ đến Đồng bằng sông Cửu Long.Địa hình thuận lợi cho phát triển nông
nghiệp, công nghiệp đô thị và giao thông vận tải.Về hiện trạng sử dụng đất, theo số
liệu tổng hợp từ niên giám thống kê 2018 của các tỉnh, tính đến ngày 31/12/2017, vùng
Đông Nam Bộ có diện tích tự nhiên 2.394,68 nghìn ha chiếm gần 7% tổng diện tích
đất cả nước. Trong phạm vi của vùng Đông Nam Bộ, đất dành cho sản xuất nông
nghiệp là 1.361,01 nghìn ha (chiếm 56,8%), đất lâm nghiệp là 506,59 nghìn ha (chiếm
21,2%), đất chuyên dùng là 223,54 nghìn ha (chiếm 9,4%) và đất ở là 82,12 nghìn ha
(chiếm 3,4%).Trong vùng Đông Nam Bộ, tỉnh Bình Phước và Đồng Nai có diện tích
đất tự nhiên, đất sản xuất nông nghiệp, đất lâm nghiệp và đất chuyên dùng lớn nhất
vùng. Ngược lại, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu và thành phố Hồ Chí Mính là hai địa phương
có diện tích đất tự nhiên và đất sản xuất nông nghiệp nhỏ nhất khu vực. Thành phố Hồ
Chí Minh là trung tâm đô thị lớn nên diện tích đất ở là 28,17 nghìn ha, cao nhất khu
vực Đông Nam Bộ, chiếm tỷ lệ 13,4% diện tích toàn thành phố.

191
Bảng 2. Khí hậu và dân số của vùng Đông Nam Bộ (Số liệu thống kê năm 2017)
Tỉnh/thành/
vùng
Nhiệt độ
bình quân
năm (oC)
Số giờ
nắng
(giờ)
Lượng
mưa
(mm)
Độ ẩm
không
khí (%)
Dân số trung
bình (nghìn
người)
Mật độ
dân số
(người/km2)
1.Bình Phước
27,20
2.434
2.537
77,70
969
141
2.Tây Ninh
28,10
2.415
2.140
80,00
1.126
279
3.Bình Dương
27,83
2.206
2.454
88,83
2.071
769
4.Đồng Nai
26,30
2.164
2.263
83,00
3.027
513
5.Bà Rịa -
Vũng Tàu
27,97
2.571
1.738
78,33
1.102
556
6.TP.Hồ Chí
Minh
28,50
2.073
2.738
74,00
8.643
4.126
Vùng Đông
Nam Bộ
27,65
2.311
2.312
80,31
16.938
707
Nguồn: Niên giám thống kê các tỉnh vùng Đông Nam Bộ, 2018
Vùng Đông Nam Bộ có khí hậu cận xích đạo, tổng lượng bức xạ cao và ổn
định, nhiệt độ cao đều quanh năm với mức bình quân là 27,65oC, số giờ nắng là 2.311
giờ/năm, độ ẩm không khí là 80,31% và lượng mưa 2.312 mm/năm. Điểm hạn chế
trong chế độ mưa là lượng mưa phân bố không đều trong năm, các tháng mùa mưa
thường có những cơn mưa tập trung, cường độ lớn gây xói mòn, rửa trôi và bạc màu
đất ở những vùng có địa hình cao và gây ngập úng ở vùng có địa hình thấp. Ngược lại,
vào mùa khô, nguồn nước khan hiếm, gây hạn hán, nếu nơi nào không có thủy lợi thì
sẽ thiếu nước sản xuất nông nghiệp. Tính đến ngày 31/12/2017, dân số toàn vùng
Đông Nam Bộ gần 16,94 triệu người. Trong đó, thành phố Hồ Chí Minh là nơi đông
dân nhất với số lượng là 8,64 triệu người, chiếm 51% tổng dân số cả vùng Đông Nam
Bộ. Tiếp theo, tỉnh Đồng Nai có dân số là 3,03triệu người (chiếm 18% tổng dân số cả
vùng), tỉnh Bình Dương là 2,07 triệu người (chiếm 12% tổng dân số cả vùng), riêng
tỉnh Bình Phước thì có số lượng dân số ít nhất, chỉ chiếm khoảng 6% dân số cả vùng.
Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm đô thị lớn của cả nước nên mật độ dân số lên đến
4.126 người/km2.Mật độ dân số của thành phố Hồ Chí Minh cao hơn từ 5 - 8 lần so với
các tỉnh Bình Dương, Bà Rịa Vũng Tàu và Đồng Nai, cao hơn 15 lần so với Tây Ninh
và cao hơn 29 lần so với tỉnh Bình Phước.
Năm 2002, vùng Đông Nam Bộ có thu nhập bình quân đầu người theo giá hiện
hành là 667 nghìn đồng/người/năm. Nếu lấy năm 2002 làm gốc, đến năm 2012, chỉ
tiêu thu nhập bình quân đầu người này của vùng Đông Nam Bộ tăng gần 5 lần và đến
năm 2016 thì tăng gấp 7 lần. Nhìn chung, giai đoạn 2002-2016, thu nhập bình quân
đầu người của vùng Đông Nam Bộ cao hơn 1,6 lần nếu so với cả nước. Vùng Đông
Nam Bộ có tỷ lệ hộ nghèo giảm dần qua các năm, cụ thể năm 2002 là 8,2%, năm 2012
là 1,3% và đến hết năm 2016, tỷ lệ hộ nghèo chỉ còn 0,6%. Nếu so sánh với cả nước
thì vùng Đông Nam Bộ có tỷ lệ hộ nghèo thấp hơn gần 5 lần.

192
Bảng 3. Thu nhập đầu ngƣời và tỷ lệ hộ nghèo vùng Đông Nam Bộ
(Số liệu tính đến 31/12/2017)
Tiêu chí
Năm
2002
2004
2006
2008
2010
2012
2014
2016
1.Thu nhập (Nghìn đ/người)
+Cả nước
356
484
636
995
1.387
2.000
2.637
3.098
+Đông Nam Bộ
667
893
1.146
1.773
2.304
3.173
4.125
4.662
2.Tỷ lệ hộ ngh o (%)
+Cả nước
28,9
18,1
15,5
13,4
14,2
11,1
8,4
5,8
+Đông Nam Bộ
8,2
4,6
3,1
2,5
2,3
1,3
1,0
0,6
Nguồn: Tổng cục thống kê
Bảng 4. Tổng sản phẩm trên địa bàn theo giá hiện hành
tại vùng Đông Nam Bộ, năm 2017
Tiêu chí
Tổng sản
phẩm trên
địa bàn
GRDP
Nông,
lâm,
thủy sản
Công
nghiệp
và XD
Dịch vụ
Thuế SP
trừ trợ
cấp SP
a. GRDP (tỷ đồng)
1.Bình Phước
51.405
13.417
18.513
17.866
1.609
2.Tây Ninh
64.043
15.967
24.239
21.249
2.588
3.Bình Dương
247.989
9.293
158.188
58.513
21.995
4.Đồng Nai
279.646
24.793
166.854
63.408
24.591
5.Bà Rịa - Vũng Tàu
274.845
14.161
204.830
38.115
17.739
6.TP.Hồ Chí Minh
1.060.618
8.589
262.772
618.773
170.534
Đông Nam Bộ
1.978.547
86.220
835.396
817.924
239.056
b.Cơ cấu giá trị (%)
1.Bình Phước
100
26,10
36,01
34,75
3,13
2.Tây Ninh
100
24,93
37,85
33,18
4,04
3.Bình Dương
100
3,75
63,79
23,59
8,87
4.Đồng Nai
100
8,87
59,67
22,67
8,79
5.Bà Rịa - Vũng Tàu
100
5,15
74,53
13,87
6,45
6.TP.Hồ Chí Minh
100
0,81
24,78
58,34
16,08
Đông Nam Bộ
100
4,36
42,22
41,34
12,08
Nguồn: Niên giám thống kê

193
Tính đến 31/12/2017, tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP31) của cả năm 2017
của vùng Đông Nam Bộ là 1.987.330 tỷ đồng. Trong đó, thành phố Hồ Chí Minh là
cao nhất, chiếm 54% tổng giá trị của cả vùng; thấp nhất là tỉnh Bình Phước và Tây
Ninh, lần lượt chiếm tỷ lệ 2,6% và 3,2% tổng giá trị vùng Đông Nam Bộ. Xét về cơ
cấu giá trị tổng sản phẩm, vùng Đông Nam Bộ có sự đóng góp chủ yếu từ ngành công
nghiệp xây dựng và dịch vụ, chiếm tỷ lệ trên 83,5%. Riêng lĩnh vực nông nghiệp,
thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm đô thị nên đóng góp của nông, lâm, ngư nghiệp
chỉ 0,81% tổng sản phẩm toàn thành. Còn tỉnh Bình Phước và Tây Ninh, lĩnh vực
nông, lâm, ngư nghiệp đóng góp khoảng ¼ tổng sản phẩm trên địa bàn. Nhìn chung,
cơ cấu kinh tế của các tỉnh vùng Đông Nam Bộ phụ thuộc nhiều vào lĩnh vực công
nghiệp, xây dựng và dịch vụ, nhờ vào sự phát triển mạnh mẽ các khu công nghiệp và
trung tâm thương mại đô thị. Ngay cả tỉnh Đồng Nai có ngành nông nghiệp phát triển
hàng đầu của cả nước thì tỷ lệ đóng góp của ngành này cũng chỉ 8,87% tổng sản phẩm
trên địa bàn tỉnh.
Một khía cạnh khác, nếu tính GRDP theo giá so sánh 2010 thì tốc độ tăng tổng
sản phẩm trên địa bàn GRDP năm 2017 của tỉnh Bình Dương tăng 9,15% so với năm
2016, tỉnh Đồng Nai 7,65%, tỉnh Tây Ninh là 7,91%, thành phố Hồ Chí Minh là 8,25%
và Bình Phước là 8,14%. Riêng tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu thì tăng trưởng âm 4,02 (do sự
sụt giảm giá trị tổng sản phẩm công nghiệp và xây dựng).
3. Tổng quan về chính sách và thể chế xây dựng NTM tại Việt Nam và
vùng Đông Nam Bộ
Theo nghiên cứu của Bùi Quang Dũng và cộng sự (2015), Nghị quyết 26 tại
Hội nghị lần thứ 7 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về Nông nghiệp,
nông dân, nông thôn (gọi tắt là Nghị quyết 26) ngày 5 tháng 8 năm 2008 được xem là
khởi đầu cho Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới của Việt Nam.
Tuy nhiên, quá trình hình thành tư tưởng xây dựng nông thôn mới đã có manh nha ở
nhiều cuộc họp và văn bản chính sách trước đó.Nghị quyết số 41-NQ/TW năm 1981,
tư tưởng về nông thôn mới là cải tạo quan hệ sản xuất cũ, đem quan hệ sản xuất mới
vào nông thôn kết hợp với nâng cao đời sống vật chất và văn hóa cho nhân dân. Giai
đoạn này, nông thôn mới tuy được nhắc tới nhưng còn chung chung, chưa rõ về nội
hàm khái niệm. Các năm tiếp theo, thuật ngữ về nông thôn mới rất ít được nhắc đến,
thậm chí ngay cả đại hội đổi mới 1986, cụm từ nông thôn mới cũng không thấy xuất
hiện trong các văn kiện. Đến năm 1988, nghị quyết 10-NQ/TW (khoán 10) đã có đề
cập đến xây dựng nông thôn mới. Từ 2001-2005, Ban kinh tế Trung ương và Bộ
NN&PTNT đã chỉ đạo, thí điểm phát triển nông thôn cho 18 xã điểm theo hướng công
nghiệp hóa, hiện đại hóa, hợp tác hóa và dân chủ hóa. Từ năm 2006-2009, Bộ
NN&PTNT đã chỉ đạo, thí điểm xây dựng nông thôn mới cho 19 thôn bản dựa theo
Nghị quyết 26. Giai đoạn 2009-2011, thí điểm cho 11 xã điểm xây dựng nông thôn
mới thời kỳ đẩy nhanh công nghiệp hóa – hiện đại hóa theo bộ tiêu chí NTM (QĐ
491/QĐ-TTg). Từ năm 2010-2020, đây là giai đoạn triển khai chính thức xây dựng
nông thôn, triển khai trên phạm vi toàn quốc. Ở giai đoạn đầu khi triển khai chính
thức, việc xây dựng NTM dựa theo Bộ tiêu chí của Quyết định số 800/QĐ-TTg. Đến
tháng 8/2016, Quyết định số 1600/QĐ-TTg được Thủ tướng phê duyệt, theo đó cả
31GRDP (Gross Regional Domestic Product): Tổng cục Thống kê hướng dẫn và khái niệm như sau: GRDP là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp, phản
ánh toàn bộ kết quả cuối cùng của các hoạt động sản xuất của tất cả các đơn vị thường trú trong nền kinh tế của tỉnh trong một thời kỳ nhất
định (thường là một năm); chỉ tiêu này phản ánh các mối quan hệ trong quá trình sản xuất, phân phối thu nhập, sử dụng cuối cùng sản phẩm
hàng hóa và dịch vụ trong nền kinh tế địa phương.

