Ghi điện cơ và điện thần kinh
(Kỳ 2)
2.2. Phương pháp ghi điện cơ (EMG = Electromyography):
2.2.1. Điện cơ thông thường:
+ Chỉ định:
- Chẩn đoán các tổn thương cơ do thần kinh, do hoặc các bệnh lý khác.
- Xác định các cơ tổn thương để điều trị chứng co cứng cơ.
+ Ý nghĩa:
- Điện cho người ta biết những hoạt động điện xảy ra tại cơ vân khi
chúng nghỉ ngơi hoặc ở trạng co cơ với các mức độ khác nhau.
- Điện không cho biết những thông tin về quá trình co cơ cũng như sức
co của cơ.
- Người ta thdùng điện cực hoặc điện cực kim để ghi điện cơ. Ngày
nay điện cực kim đồng tâm (concentric needel) thường được sử dụng trong khi ghi
điện cơ.
+ Quy trình ghi:
- Bước 1: chuẩn bị bệnh nhân: (thăm khám lâm sàng, m các xét nghim
thường quy, chuẩn b ởng, hướng dẫn bệnh nhân phối hợp trong khi ghi điện
cơ, t trùng vị trí chọc kim), chuẩn bị máy ã được cài đặt sẵn các thông số như
tốc độ quét, độ phóng đại, giới hạn tần số cao và thấp).
- Bước 2: đâm kim qua da và dừng lại lớp bề mặt nông của (ngay sau
khi đâm thấy xuất hiện điện thế đâm kim tồn tại trong khoảng thời gian không dài
hơn 1 giây). Vừa đâm kim vừa đánh gmật đcơ sau đó chờ xem điện thế tự
phát không.
- Bước 3: ghi các điện thế đơn vị vận động riêng rẽ, bệnh nhân co nh
cần khám (bệnh nhân cần phối hợp tốt khi thầy thuốc yêu cầu co chủ động)
trong khi bệnh nhân co thầy thuốc đâm kim về nhiều hướng khác nhau để u
ghi càng nhiều càng tốt các điện thế đơn vị vận động (Motorunit potential =
MUPs). Tiếp theo yêu cầu bệnh nhân co ng dần đến co cơ tối đa để quan sát
quá trình tập cộng các MUPs và hoạt động điện cơ giao thoa.
+ Nhận xét kết quả: 2 tiêu chí đnhận xét kết quả là hình dáng điện thế
EMG và tín hiệu âm thanh khi cơ co.
- EMG bình thường:
. Có điện thế chọc kim (không có điện thế chọc kim là biểu hiện bệnh lý).
. Điện thế tự phát (thông thường không có điện thế tự phát).
. Khi cho bệnh nhân co cơ nhẹ ghi được các MUPS đơn lẻ.
Các MUPS sđược phân tích định lượng (khi cần) theo các tiêu chí: hình
dáng, thời khoảng, biên độ và điện thế tập cộng.
- EMG bệnh lý: EMG không cho một chẩn đoán cụ thể về một bệnh nhất
định mà chỉ phản ánh các hiện tượng sau:
. Điện thế tự phát: co giật sợi cơ (bao giờ ng bắt đầu bằng pha dương),
sóng nhọn dương, co giật bó cơ.
. Khi co cơ nhẹ:
Những thay đổi do (myogen): biên độ giảm rõ rệt, thời khoảng ngắn đi,
tlệ điện thế đa pha tăng. Gặp trong bệnh , thiếu máu cơ, chấn thương gây
hoại tử, nhược cơ, hội chứng Lambert – Eaton, Botulism.
Những thay đổi do thần kinh (neurogen) là quá trình tái phân bthần kinh
được biểu hiện dưới 2 dạng: tái phân bố sợi trục biểu hiện là đa pha, thời
khoảng rộng. Tái phân bố sợi trục qua các sợi bên biu hiện đa pha, bao giờ cũng
đi theo sau một đơn vị vận động bình thường (điện thế mẹ). Thay đổi neurogen th-
ường gặp trong các bệnh thần kinh gây tổn thương cơ.
. Khi co tăng dần tới cực đại: nguyên tắc c mẫu bị phá vỡ, các đơn vị
vận động lớn hơn xuất hiện sớm, có hiện tượng tăng tốc, có khoảng trống điện cơ.
2.2.2. Các phương pháp ghi điện cơ đặc biệt:
+ Ghi điện sợi (SFEMG = single fiber electromyography): hình thức
ghi điện thế hoạt động chỉ của một số sợi cơ, ý nghĩa trong đánh giá chức năng
tấm cùng vận động.
+ Ghi điện lớn (Macro-electromyography): khảo sát một số lượng lớn
các đơn vị vận động.