
185 CHƯƠNG IV MARPOL73/78
185
CHƯƠNG IV :MARPOL 73/78 – Công ước về ngăn ngừa ô nhiễm biển do
dầu năm 1973, sửa đổi bổ sung năm 1978
( International Convention for the Prevention of Marine Pollution from Ships,
1973 as modified by the Protocol of 1978)
IV.1 Giới thiệu chung về công ước MARPOL 73/78
Dầu làm ô nhiễm biển là vấn đề đã được đưa ra xem xét thảo luận từ ngay đầu thế kỷ 20
và nhiều quốc gia đã có những quy định để kiểm tra và kiểm soát việc xả dầu ở vng nước của
mình.
Năm 1921, tại Anh, đại diện các chủ tàu, ngành công nghiệp dầu mỏ và các cảng vụ đã tổ
chức hội nghị đầu tiên về vấn đề ô nhiễm do dầu gây ra và các biện pháp phòng ngừa.
Năm 1926, tại Oashington đã tổ chức một hội nghị quốc tế về ngăn ngừa ô nhiễm do dầu.
Trong hội nghị này đã đưa ra những qui định về các vng biển và bờ biển mà tàu thuỷ không
được phép xả dầu; đồng thời yêu cầu việc trang bị các thiết bị phân ly – lc nước lẫn dầu buồng
máy trên tàu. Tuy nhiên các qui định này không được các đại diện tham gia hội nghị chấp nhận
Năm 1954, đại diện của 33 quốc gia có tổng dung tích đội tàu trên 100.000 và 10 quan sát
viên đã nhóm hp hội nghị về ngăn ngừa ô nhiễm do dầu. Tại hội nghị này, ngày 12/05/1954
Công ước quốc tế đầu tiên về ngăn ngừa ô nhiễm do dầu gây ra (Công ước OILPOL 54) đã được
thông qua. Công ước có hiệu lực vào ngày 26/07/1958. Các yêu cầu quan trng nhất của
OILPOL 54 là:
- Qui định các vng ven biển được xả dầu phải cách bờ tối thiểu là 50 hải lý.
- Qui định trên tàu phải có nhật ký ghi nhận các công việc liên quan đến dầu (nhận dầu
hàng, dầu nhiên liệu, trả dầu hàng, thải dầu cặn, nước lẫn dầu, v.v…).
Từ khi chính thức được thành lập (năm 1959), nhiệm vụ cập nhật và bổ sung sửa đổi
Công ước OILPOL 54 được chuyển giao cho IMO. IMO đã thực hiện 1 trong những nhiệm vụ
đầu tiên của mình là tiến hành điều tra trên phạm vi toàn thế giới mức độ ô nhiễm dầu, hiện trạng
của các phương tiện tiếp nhận trên bờ và kết quả nghiên cứu các biện pháp chống lại ô nhiễm
dầu. Từ kết quả của đợt điều tra này, IMO đã triệu tập một hội nghị vào năm 1962 để bổ sung
sửa đổi Công ước OILPOL 54, nhằm mục đích tăng cường phạm vi ứng dụng của Công ước đối
với các tàu nhỏ hơn và mở rộng vng cấp thải dầu.
Công ước OILPOL 54 cấm tất cả các tàu biển, trừ tàu chở dầu có tổng dung tích nhỏ hơn
150 và tàu hàng có tổng dung tích nhỏ hơn 500, thải cố ý dầu hoặc hỗn hợp dầu ra các khu vực
đặc biệt gi là “vng cấm thải”. Nói chung các vng cấm thải là tất cả các vng nằm cách bờ
trong phạm vi 50 hải lý. Có một số vng cấm thải được qui định là nằm cách bờ trong phạm vi
100 hải lý hoặc hơn nữa, như Địa Trung Hải, Vng Vịnh, Biển Đỏ, bờ biển nước Uc, Madagaca,

186 CHƯƠNG IV MARPOL73/78
186
và một số vng khác. Công ước yêu cầu các quốc gia tham gia ký kết phải trang bị các phương
tiện tiếp nhận dầu cặn hoặc hỗn hợp dầu từ các tàu.
Tháng 11 năm 1969, một lần nữa Công ước OILPOL 54 được bổ sung sửa đổi trên qui
mô lớn, nội dung chính của các bổ sung sửa đổi này là:
-Tàu chỉ được phép thải nước lẫn dầu khi đang chạy.
-Cường độ thải dầu tức thời không được quá 60lít/hải lý.
-Hàm lượng dầu trong nước thải ra từ buồng máy không được vượt quá 100mg/lít
và phải thải càng xa bờ càng tốt.
-Giới hạn lượng dầu được phép thải của tàu chở dầu trên chuyến đi chạy dằn là
không quá 1/15.000 tổng lượng dầu hàng mà tàu vận chuyển.
-Cấm thải bất kỳ dầu hay hỗn hợp dầu nào từ khu vực chứa hàng của tàu dầu
trong vng 50 hải lý tính từ bờ gần nhất.
Trong năm 1971, IMO đã phê chuẩn hai bổ sung sửa đổi tiếp theo của Công ước OILPOL
54. Một bổ sung sửa đổi đưa ra yêu cầu về giới hạn bảo vệ đối với vng Great Berrier Reef do
tầm quan trng khoa hc của vng này. Bổ sung sửa đổi thứ hai qui định giới hạn kích thước của
các khoang hàng trên siêu tàu dầu, nhằm mục đích giới hạn lượng dầu tràn trong trường hợp xảy
ra đâm va hay mắc cạn. Giới hạn lượng dầu tràn thay đổi tuỳ thuộc vào một số thông số khác
nhau như, kích thước tàu, việc bố trí các két hàng, tàu có hay không có đáy đôi, bố trí các két
nước dằn sạch, v.v… Ví dụ: tàu dầu trng tải đến 422.000 tấn, kết cấu vỏ đơn, vng chứa hàng
có hai vách dc, thì kích thước của két hàng ở tâm tàu giới hạn ở 30.000m3 và két hàng mạn là
15.000 m3.
Công ước quốc tế về ngăn ngừa ô nhiễm do tàu gây ra, 1973, được bổ sung sửa đổi bởi
Nghị định thư 1978 (Công ước MARPOL 73/78):
Công ước MARPOL 73/78 là sự kết hợp của hai hiệp định quốc tế là Công ước quốc tế
về ngăn ngừa ô nhiễm do tàu gây ra được thông qua năm 1973 và Nghị định thư của Công ước
được thông qua năm 1978, hiện nay đã được gộp chung thành một văn kiện duy nhất.
Khái quát về Công ước MARPOL 73/78:
Mặc d IMO đã thực hiện được nhiều biện pháp hiệu quả để giải quyết vấn đề ô nhiễm
do dầu gây ra nhưng thực tiễn chỉ ra rằng cần thiết phải có các biện pháp tiếp theo. Theo một
quyết định của Đại hội đồng đưa ra năm 1969, năm 1973 (từ ngày 08/10 đến ngày 02/11) IMO
đã tổ chức một hội nghị quốc tế nhằm mục đích thông qua một hiệp định quốc tế mới về chống
lại ô nhiễm do tàu gây ra, đó là Công ước quốc tế về ngăn ngừa ô nhiễm do tàu gây ra, 1973
(Công ước MARPOL 73).
Công ước MARPOL 73 bao gồm tất cả các khía cạnh về ô nhiễm do tất cả các loại tàu
gây ra, ngoại trừ các vấn đề sau:

187 CHƯƠNG IV MARPOL73/78
187
-Ô nhiễm do việc nhấn chìm xuống biển các chất thải và các chất khác, theo qui
định của Công ước quốc tế về ngăn ngừa ô nhiễm do nhấn chìm các chất thải và các chất
khác được ký tại Luân Đôn năm 1972.
-Ô nhiễm do việc giải phóng các chất độc hại phát sinh trực tiếp từ việc thăm dò,
khai thác và các quá trình công nghệ sử lý ngoài khơi các khoáng sản ở đáy biển.
-Ô nhiễm do việc giải phóng các chất độc hại để tiến hành nghiên cứu khoa hc
chính đáng với mục đích phòng chống hoặc kiểm soát ô nhiễm.
Công ước MARPOL 73 bao gồm 20 điều, một Nghị định về việc báo cáo các sự việc liên
quan đến thải các chất độc hại do tai nạn, thải các chất độc hại ở dạng bao gói hoặc thải các chất
độc hại vượt quá mức độ Công ước cho phép, một Nghị định thư về thủ tục trng tài trong
trường hợp xảy ra tranh chấp liên quan đến việc giải thích và/hoặc áp dụng Công ước; và 5 Phục
lục đưa ra các yêu cầu kỹ thuật về ngăn ngừa các dạng ô nhiễm khác nhau do tàu gây ra. Trong
đó Phụ lục I và II là bắt buộc đối với tất cả các nước tham gia Công ước, còn các Phụ lục còn lại
là tự nguyện lựa chn
Tại Hội nghị quốc tế về an toàn tàu dầu và ngăn ngừa ô nhiễm do IMO tổ chức từ ngày
06 đến ngày 17/02/1978, một loạt các biện pháp quan trng đã được thông qua đối với các Công
ước SOLAS và MARPOL. Hội nghị đã thông qua Nghị định thư 1978 đối với Công ước
MARPOL 73, Nghị định thư này có hiệu lực từ ngày 02/10/1983. Tại thời điểm tổ chức hội nghị,
Công ước MARPOL 73 chưa có hiệu lực. Các vấn đề ngăn cản các Chính phủ phê chuẩn Công
ước chủ yếu nằm ở Chương II.
Các thay đổi quan trng đối với Công ước MARPOL 73 được hội nghị thông qua phần
lớn liên quan đến Phụ lục I, đồng thời Hội nghị cũng quyết định cho phép các Chính phủ tham
gia ký kết được hoãn việc thực hiện Phụ lục II của Công ước đến thời hạn 3 năm sau ngày có
hiệu lực của Nghị định thư 1978. đến thời điểm đó, người ta hy vng rằng các vần đề kỹ thuật
liên quan đến Phụ lục II có thể được giải quyết triệt để.
Nghị định thư 1978 đã đưa ra một số đáng kể các thay đổi đối với Phụ lục I. Két nước
dằn cách ly (segregated ballast tank -SBT) được yêu cầu với tất cả các tàu dầu mới có trng tải từ
20.000 tấn trở lên (trong Công ước 1973 chỉ yêu cầu SBT đối với các tàu dầu có trng tải từ
70.000 tấn trở lên). Nghị định thư 1978 cũng yêu cầu SBT phải bố trí sao cho có tác dụng bảo
vệ, tức là các két SBT phải được bố trí sao cho chúng có thể bảo vệ được các két hàng trong
trường hợp tàu bị mắc cạn hay đâm va.
Một vấn đề quan trng mới khác được đề cập trong Nghị định thư 1978 là bố trí rửa két
hàng bằng dầu thô (crude oil washing – COW), tức là két hàng được rửa không phải bằng nước
mà bằng chính dầu thô được chuyển chở. COW được chấp nhận là giải pháp thay thế cho SBT
trên các tàu dầu hiện có và là yêu cầu bổ sung đối với tàu dầu mới.
Đối với tàu chở dầu thô hiện có, một giải pháp thay thế khác đối với két nước dằn cách ly
là sử dụng các két nước dằn sạch (delicated clean ballast tank – CBT), tức là một số các két hàng

188 CHƯƠNG IV MARPOL73/78
188
sau khi đã trả hết hàng được rửa sạch và dng chứa nước dằn. Phương pháp này r tiền hơn bố trí
các SBT vì tận dụng được hệ thống bơm và đường ống hiện có. Tuy nhiên phương pháp này chỉ
được phép sử dụng trong thời hạn 2 năm kể từ khi Công ước MARPOL 73/78 có hiệu lực đối với
tàu chở dầu thô có trng tải trên 70.000 tấn và 4 năm đối với tàu có trng tải từ 40.000 đến
70.000 tấn.
Nghị định thư 1978 còn bao gồm các yêu cầu mới đối với bố trí hút khô và thải nhằm
mục đích tăng cường hiệu quả của hệ thống vét hàng, giảm thiểu lượng dầu thải ra biển qua hoạt
động rửa két hàng và dằn tàu.
Công ước MARPOL 73 và Nghị định thư 1978 của nó đã được hợp nhất thành một văn
kiện đó là Công ước MARPOL 73/78.
Theo sự phát triển không ngừng của khoa hc - công nghệ, cũng như các vấn đề phát
sinh trong thực tiễn hoạt động của ngành hàng hải (các tai nạn tràn dầu, các vấn đề ô nhiễm mới
nãy sinh, v.v…), các yêu cầu kỹ thuật của Công ước MARPOL 73/78 đã được bổ sung và sửa
đổi liên tục. Cho đến nay Công ước đã bao gồm 6 Phụ lục như sau:
Phụ lục I - Các qui định về việc ngăn ngừa ô nhiễm do dầu
Phụ lục I có hiệu lực vào ngày 2 tháng 10 năm 1983, giữa các Thành viên của MARPOL
73/78, thay thế cho Công ước quốc tế về ngăn ngừa ô nhiễm Biển do Dầu 1954, được sửa đổi
năm 1962 và 1969, đã có hiệu lực vào thời điểm đó.
Phụ lục II - Các qui định về kiểm soát ô nhiễm do chở xô chất lỏng độc
Phụ lục III - Các qui định về việc ngăn ngừa ô nhiễm do việc chở các chất độc hại
trong bao gói
Phụ lục IV - Các qui định về việc ngăn ngừa ô nhiễm do nước thải từ tàu
Phụ lục IV có hiệu lực vào ngày 27 tháng 9 năm 2003.
Phụ lục V – Các qui định về việc Ngăn ngừa ô nhiễm do rác thải từ tàu
Phụ lục V có hiệu lực vào ngày 31 tháng 12 năm 1988.
Phụ lục VI - Các qui định về ngăn ngừa ô nhiễm do khí thải từ tàu
Phụ lục VI được kèm theo Nghị định thư 1997 để bổ sung sửa đổi Công ước quốc tế về
ngăn ngừa ô nhiễm do tàu gây ra 1973, được sửa đổi bổ sung bằng nghị định thư 1978 liên quan,
được Hội nghị các Thành viên của MARPOL 73/78 thông qua tháng 9 năm 1997. Phụ lục VI có
hiệu lực vào ngày 19 tháng 5 năm 2005
Ngày 10/10/1990 Văn phòng Hội Đồng Bộ Trưởng (Nay là Văn Phòng Chính Phủ) đã có
văn bản số 3319-KTĐN, đồng ý với đề nghị của Bộ Giao thông vận tải và Bưu điện: nước ta
chính thức tham gia “ Công ước quốc tế về ngăn ngừa ô nhiễm biển do tàu gây ra (MARPOL-73-
78). Ta tham gia phụ lục I, II và bảo lưu việc tham gia các phụ lục III, IV, V.” và ngày

189 CHƯƠNG IV MARPOL73/78
189
22/01/1991 Tổng thư ký IMO qua văn bản Ref. A1/0/2.03 đã gửi cho nước ta cũng như các nước
thành viên về việc Việt Nam gia nhập công ước MARPOL 73/78 như sau :
“Tổng Thư ký của IMO hân hạnh nhắc đến Công ước quốc tế về ngăn ngừa ô nhiễm do tàu
gây ra, 1973 và tuyên bố rằng, văn bản xin gia nhập của Cộng Hoà Xã Hội Chủ Ngha Việt Nam
đã được nhận để lưu giữ vào ngày 18/12/1990 ph hợp với điều khoản 13.
Văn bản xin gia nhập có tuyên bố như sau:
Chính phủ nước CHXHCNVN tuyên bố rằng nó không bị ràng buộc bởi phụ lục III, IV,
và V của công ước này.
Điều 15 (1) quy định rằng công ước sẽ có hiệu lực sau 12 tháng kể từ khi có 15 nước mà
đội tàu buôn của h chiếm không ít hơn 50% tổng dung tích đội tàu buôn thế giới trở thành
thành viên của nó, theo điều 13.
Tới nay, có 19 nước thành viên, nhưng tổng dung tích chưa đạt”.
IV.2 Các quy định về ngăn ngừa ô nhiễm do dầu
IV.2.1 Qui định chung
Định nghĩa
Trong Phụ lục này:
1 Dầu là dầu mỏ dưới bất kỳ dạng nào, kể cả dầu thô, dầu đốt, dầu cặn, dầu thải và các sản
phẩm dầu mỏ đã được lc (không phải là những hoá chất tính dầu áp dụng theo các điều khoản
của Phụ lục II Công ước này) và bao gồm cả những chất nêu trong phụ chương I của Phụ lục
này, không hạn chế tính chất chung nêu trên.
2 Dầu thô là bất kỳ hợp chất hydro carbon lỏng nào có trong tự nhiên trên trái đất, có thể
được xử lý hoặc không xử lý để ph hợp cho việc vận chuyển và bao gồm:
.1 dầu thô có một số thành phần chưng cất có thể đã được lấy đi; và
.2 dầu thô có một số thành phần chưng cất có thể đã được thêm vào
3 Hỗn hợp dầu là hỗn hợp chứa một hàm lượng dầu bất kỳ.
4 Dầu nhiên liệu là bất kỳ loại dầu nào được dng làm nhiên liệu cho máy chính và máy
phụ của tàu, được chở theo tàu.
5 Tàu dầu là tàu được đóng hoặc hoán cải cho mục đích chính là chở xô dầu trong các két
hàng và bao gồm cả tàu hàng hỗn hợp và “tàu NLS” bất kỳ như định ngha trong Phụ lục II của
Công ước này; và tàu chở khí bất kỳ như định ngha ở qui định 3.20 chương II-1/SOLAS 74 (đã
được sửa đổi) khi sử dụng để chở xô hàng là dầu hoặc một phần hàng là dầu.

