1
GIỚI THIỆU HỌC PHẦN
DƯỢC LÝ I
Đối tượng: CĐ Dược
- Số tín chỉ : 3(2/1)
- Số tiết: 60 tiết
+ Lý thuyết: 30 tiết
+ Thực hành: 30 tiết
+ Tự học: 75 giờ
- Thời điểm thực hiện: Học kỳ IV
MỤC TIÊU HỌC PHẦN
1. Trình bày phân tích được động học của các quá trình hấp thu, phân bố,
chuyển hóa và thải trừ của thuốc.
2. Trình bày phân tích được các cách tác dụng của thuốc các yếu tố ảnh
hưởng đến tác dụng của thuốc.
3. Phân tích được đặc điểm dược động học, tác dụng, cơ chế tác dụng, tác dụng
không mong muốn, tương tác thuốc, chỉ định, chống chỉ định, chế phẩm liều dùng
của một số thuốc thuộc các nhóm thuốc tác dụng trên các cơ quan.
4. Nhận dạng hướng dẫn sử dụng được một số thuốc - biệt dược của một số
nhóm thuốc tác dụng trên các cơ quan
5. Rèn luyện được thái độ thận trọng, tỉ mỉ, chính xác, an toàn trong tư vấn s
dụng thuốc cho người bệnh
6. Thể hiện được thái độ cầu thị trong việc cập nhật các kiến thức dược học mới
NỘI DUNG HỌC PHẦN
STT
Tên bài
Trang
LÝ THUYẾT
1
Bài mở đầu
Dược động học của thuốc
4
2
Dược lực học
21
3
Thuốc tác dụng trên hệ thần kinh trung ương
32
4
Thuốc tác dụng trên hệ thần kinh thực vật
58
5
Thuốc chống viêm Phi Steroid và thuốc điều trị gout
71
6
Vitamin
84
7
Thuốc kháng sinh
100
THỰC HÀNH
1
Thuốc tác dụng trên hệ thần kinh trung ương
138
2
Các thuốc tác dụng trên hệ thần kinh thực vật
160
3
Thuốc chống viêm phi steroid
170
4
Vitamin
178
5
Thuốc kháng sinh
189
Tổng số
199
2
ĐÁNH GIÁ
- Hình thức thi: Tự luận
- Thang điểm: 10
- Cách tính điểm
+ Điểm thường xuyên: 01 điểm hệ số 1
+ Điểm địnhl kỳ: 01 điểm hệ số 2 trọng số 30%
+ Điểm kết thúc học phần: 01 bài kiểm tra tự luận trọng số 70%
3
LỜI NÓI ĐẦU
Ngày nay, trên thị trường Việt Nam rất nhiều mặt hàng thuốc đang lưu hành.
Các thầy thuốc luôn đứng trước th thách rất lớn trong việc lựa chọn thuốc cho điều
trị nhằm thực hiện phương châm "sử dụng thuốc an toàn và hợp lý".
Thầy thuốc điều trị không "chạy" theo từng n thuốc cần phải hiểu tác
dụng của từng nhóm thuốc để hướng sử dụng cho đúng. Cuốn sách này được biên
soạn nhằm cung cấp cho sinh viên Cao đẳng Dược những kiến thức bản về chế
tác dụng của từng nhóm thuốc phân theo tác dụng sinh lý - bệnh lý - điều trị học. Trên
sở hiểu chế tác dụng, các thầy thuốc sẽ hiểu các áp dụng lâm sàng của
thuốc như chỉ định, chống chỉ định, tác dụng không mong muốn. Từ những kiến thức
bản này, trong quá trình thực hành, cùng với sự phát triển của các thuốc mới,
người đọc hoàn toàn thể hiểu thêm đặc điểm của các thuốc cụ thể để sử dụng được
"an toàn và hợp lý".
Khoa học kỹ thuật đang không ngừng phát triển. Các loại thuốc mới đang liên
tục xuất hiện. Thậm chí còn thuốc bị loại trừ sau vài năm được phép lưu hành.
vậy các thầy thuốc cần luôn cập nhật thông tin bằng các nguồn khác nhau. Cuốn sách
giáo khoa không thể làm được việc này vì sau vài năm mới tái bản một lần.
Chúng tôi cố gắng biên soạn những kiến thức dược học bản cho sinh viên
theo đúng chương trình quy định. Những kiến thức này đủ để làm sở cho sinh viên
dược cao đẳng thực hành và tự học ở trường và cả sau khi ra trường.
Chúng tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của đông đảo bạn đọc
và các thầy cô trong nhà trường.
BỘ MÔN HÓA DƯỢC- DƯỢC LÝ
4
Bài 1
BÀI MỞ ĐẦU VÀ DƯỢC ĐỘNG HỌC CỦA THUỐC
MỤC TIÊU
1. Phân biệt được vai trò của môn dược lý học mối quan hệ của các môn học
khác với môn Dược lý.
2. Phân tích được các quá trình hấp thu, phân bố, chuyển hóa, thải trừ thuốc
trong cơ thể.
3. Phân tích được ý nghĩa của sự thay đổi dược động học của thuốc đến tác
dụng của thuốc.
4. Vận dụng được các kiến thức đã học để vấn sử dụng thuốc an toàn, hiệu
quả và hợp lý.
NỘI DUNG
I. BÀI MỞ ĐẦU
Dược học (Pharmacology) theo tu từ học môn khoa học về thuốc. Nhưng
để tránh ý nghĩa quá rộng của từ này, Dược học chỉ bao hàm mọi nghiên cứu về sự
tương tác của thuốc với các hệ sinh học.
Thuốc các chất hoặc hợp chất tác dụng điều trị hoặc dphòng bệnh tật
cho người và súc vật, hoặc dùng trong chẩn đoán bệnh lâm sàng, dùng để khôi phục,
điều chỉnh các chức phận của cơ quan.
Thuốc thể có nguồn gốc từ thực vật (cây Canhkina, cây Ba gạc), từ động vật
(insulin chiết xuất từ tụy tạng bò, lợn), từ khoáng vật, kim loại (kaolin, thuỷ ngân,
muối vàng) hoặc là các chất bán tổng hợp, tổng hợp hóa học (ampicilin, sulfamid).
Đầu tiên, thuốc phải được nghiên cứu trên súc vật thực nghiệm để xác định
được tác dụng, chế tác dụng, độc tính, liều điều trị, liều độc, tác dụng gây đột biến,
gây quái thai, gây ung thư Đó đối tượng của môn Dược học thực nghiệm
(Experimental pharmacology). Những nghiên cứu này nhằm đảm bảo an toàn đến mức
tối đa cho người ng thuốc. Chỉ sau khi đủ số liệu đáng tin cậy về thực nghiệm
trên súc vật mới được áp dụng cho người.
Tuy nhiên, súc vật phản ứng với thuốc không hoàn toàn giống người; vì vậy sau
giai đoạn thực nghiệm trên súc vật, thuốc phải được thử trên nhóm người tình nguyện,
trên các nhóm bệnh nhân tại các cơ sở khác nhau, có so sánh với các nhóm dùng thuốc
kinh điển hoặc thuốc vờ (placebo), nhằm đánh g lại các tác dụng đã gặp trong thực
nghiệm đồng thời phát hiện các triệu chứng mới, nhất các tác dụng không mong
muốn chưa thấy hoặc không thể thấy được trên súc vật (buồn nôn, chóng mặt, nhức
đầu, phản ứng dị ứng v.v….). Những nghiên cứu này là mục tiêu của môn Dược lý học
lâm sàng (Clinical pharmacology).
Dược học luôn dựa trên những thành tựu mới nhất của các ngành khoa học
có liên quan như sinh lý, sinh hóa, sinh học, di truyền học, bào chế, hóa dược, sinh lý...
để ngày ng hiểu sâu về chế phân tcủa thuốc, giúp cho nghiên cứu sản xuất các
thuốc mới ngày càng có tính đặc hiệu, không ngng nâng cao hiệu quả điều trị.
Dược lý học còn chia thành:Dược lực học và Dược động học của thuốc
Mỗi thuốc, tuỳ theo liều dùng sẽ có tác dụng sớm, đặc hiệu trên một mô, một cơ
quan hay một hệ thống của cơ thể, được sử dụng để điều trị bệnh, được gọi là tác dụng
chính. Ngoài ra, mỗi thuốc còn thể có nhiều tác dụng khác, không được dùng để
điều trị, trái lại còn gây phiền cho người dùng thuốc (buồn nôn, chóng mặt, đánh
5
trống ngực…), được gọi tác dụng phụ, tác dụng không mong muốn hay tác dụng
ngoại ý. Tất cả các tác dụng đó là đối tượng nghiên cứu của Dược lực học.
Dược động học (Pharmacokinetics) nghiên cứu về tác động của thể đến
thuốc, đó động học của sự hấp thu, phân phối, chuyển hóa thải trừ thuốc. Người
thầy thuốc rất cần những thông tin này để biết cách chọn đường đưa thuốc vào th
(uống, tiêm bắp, tiêm tĩnh mạch…), số lần dùng thuốc trong ngày, liều lượng thuốc tuỳ
theo từng trường hợp (tuổi, trạng thái bệnh, trạng thái sinh lý…).
Dược lý thời khắc (Chronopharmacology) nghiên cứu ảnh hưởng của nhịp sinh
học trong ngày, trong năm đến tác động của thuốc. Hoạt động sinh lý của người và
động vật chịu ảnh hưởng rệt của các thay đổi của môi trường sống như ánh sáng,
nhiệt độ, độ ẩm … Các hoạt động này biến đổi nhịp nhàng, có chu kỳ, gọi nhịp sinh
học (trong ngày, trong tháng, trong m). c động của thuốc cũng ththay đổi
theo nhịp này. Người thầy thuốc cần biết để chọn thời điểm và liều lượng thuốc tối ưu.
Dược di truyền (Pharmacogenetics) nghiên cứu những thay đổi về tính cảm
thụ của thể, của gia đình hay chủng tộc với thuốc do nguyên nhân di truyền. dụ
người thiếu G6PD rất dễ bị thiếu máu tan máu do dùng sulfamid, thuốc chống sốt
rét… ngay cả với liều điều trị thông thường. thể nói Dược lý di truyền môn giao
thoa giữa Dược lý - Di truyền - Hóa sinh và Dược động học.
Dược cảnh giác hay Cảnh giác thuốc (Pharmacovigilance) chuyên thu thập
đánh giá một cách hệ thống các phản ứng độc hại liên quan đến việc dùng
thuốc trong cộng đồng. Phản ứng độc hại là những phản ứng không mong muốn (ngoại
ý) xảy ra một cách ngẫu nhiên với các liều thuốc vẫn dùng để dphòng, chẩn đoán
hay điều trị bệnh. Phenacetin thuốc hạ sốt, phải 75 m sau khi dùng phổ biến mới
phát hiện được tác dụng gây độc của thuốc; sau 30 năm mới thấy được chứng suy
giảm bạch cầu của amidopyrin.Những môn học trên những chuyên khoa sâu của
Dược học. Người thầy thuốc càng biết về thuốc càng nắm được “nghệ thuật”
đơn an toàn hợp lý. điều kiện thời gian khuôn khổ, cuốn sách này chủ yếu
cung cấp những kiến thức về dược lực học, dược động học với một số thuốc đặc
biệt, có lưu ý đến dược lý di truyền, dược lý cảnh giác…
II. DƯỢC ĐỘNG HỌC CỦA THUỐC
Dược động học (Pharmacokinetics) nghiên cứu các quá trình chuyển vận của
thuốc từ lúc được hấp thu vào thể cho đến khi bị thải trừ hoàn toàn. Các quá trình
đó là:
- Sự hấp thu (Absorption)
- Sự phân bố (Distribution)
- Sự chuyển hoá (Metabolism)
- Sự thải trừ (Excretion).
Để thực hiện được những quá trình này, thuốc phải vượt qua các màng tế bào.
Vì thế, trước khi nghiên cứu 4 quá trình này, cần nhắc lại các cơ chế vận chuyển thuốc
qua màng sinh học các đặc tính hoá của thuốc màng sinh học ảnh hưởng
đến các quá trình vận chuyển đó.
1. VẬN CHUYỂN THUỐC QUA MÀNG SINH HỌC
1.1. Cấu trúc màng sinh học:
Thuốc muốn di chuyển từ vị trí đưa thuốc vào máu hoặc từ máu vào tổ chức, từ
tổ chức thải ra ngoài... đều phải vượt qua hàng rào sinh học - đó là màng tế bào.
nhiều loại màng tế bào khác nhau nhưng chúng đều những thuộc tính
chức năng cơ bản giống nhau. Màng tế bào rất mỏng, bề dày từ 7.5-10 nm, tính
đàn hồi và tính thấm chọn lọc. Thành phần bản của màng protein và lipid.
Màng được chia thành 3 lớp.