BỘ LAO ĐỘNG - THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI
TRƯNG CAO ĐNG ĐẠI VIỆT SÀI GÒN
GIO TRNH
MÔN HC: GIẢI PHẪU
NGÀNH: ĐIỀU DƯỠNG
TRNH Đ": CAO ĐNG
(Lưu hành nội bộ)
Bài 1
GIỚI THIỆU MÔN GIẢI PHẪU HC Ở
NGƯI Số tiết LT: 01
Đối tượng: Cao đẳng điều dưỡng đa khoa
I. Giải phẫu học và các phân môn của giải phẫu học
Giải phẫu học người (Human Anatomy) là ngành khoa học nghiên cứu cấu trúc cơ thể
người. Tuỳ thuộc vào phương tiện quan sát, giải phẫu học được chia thành hai phân n:
giải phẫu đại thể (Gross Anatomy hay Macroseopic Anatomy) nghiên cứu các cấu trúc có thể
quan sát bằng mắt thường giải phẫu vi thể (Microscopic Anatomy hay Histology) nghiên
cứu các cấu trúc nhỏ chỉ có thể nhìn thấy qua kính hiển vi.
II. Các phương thức mô tả giải phẫu
Tuỳ theo mục đích nghiên cứu, có nhiều cách mô tả giải phẫu khác nhau. Ba cách tiếp
cận chính trong nghiên cứu giải phẫu giải phẫu hthống, giải phẫu vùng giải phẫu bề
mặt.
1. Giải phẫu hệ thống (Systemic Anatomy) là cách mô tả mà ở đó cấu trúc của từng hệ
quan (thực hệin một chức năng nào đó của thể) được trình bày riêng biệt. Giải phẫu hệ
thống thích hợp với mục đích giúp người học hiểu được chức năng của từng hệ quan. Các
hệ cơ quan của cơ thế có: hệ da, hệ xương, hệ khớp, hệ cơ, hệ thần kinh, hệ tuần hoàn, hệ tiêu
hoá, hệ hô hấp, hệ tiết niệu, hệ sinh dục và hệ nội tiết. Các giác quan là một phần của hệ thần
kinh.
2. Giải phẫu vùng (Regional Anatomy) hay giải phẫu định khu (Topographical
Anatony) là nghiên cứu và mô tả giải phẫu của tất cả các cấu trúc (thuộc các hệ cơ quan khác
nhau) trong một vùng, bao gồm cả những liên quan của chúng với nhau. Cơ thể được chia
thành những vùng lớn sau đây: ngực, bụng, đáy chậu và chậu hông, chi dưới, chi trên, lưng,
đầu và cổ. Mỗi vùng này lại được chia thành những vùng nhỏ hơn.
3. Giải phẫu bề mặt (Surface Anatamy) tả hình dáng bề mặt thể người, đặc
biệt là những liên quan của bề mặt cơ thể với những cấu trúc ở sâu hơn như các xương và các
cơ. Mục đích chính của giải phẫu bề mặt là giúp người học hình dung ra những cấu trúc nằm
dưới da. Ví dụ, ở những người bị vết thương do dao đâm, thầy thuốc phải hình dung ra những
cấu trúc bên dưới vết thương có thể bị tổn thương.
III. Vị trí của môn giải phẫu học trong y học
Trong y học, giải phẫu đóng vai trò của một môn học sở. Kiến thức giải phẫu học
người kiến thức nền tảng, giúp ta hiểu được hoạt động của thể người (sinh học).
Fernel nói rằng “Giải phẫu học cần cho sinh học giống như môn địa cần cho môn lịch
sử”. Giải phẫu học cũng là nền tảng kiến thức căn bản của tất cả các chuyên ngành lâm sàng.
1
1. Tư thế giải phẫu
Tất c các tả giải phẫu được trình y trong mối liên quan với tế giải phẫu để
đảm bảo rằng các tả đó được ràng chính xác. Một người thế giải phẫu một
người đứng thẳng với: đầu, mặt và các ngón chân hướng ra trước, c gót chân các ngón
chân áp sát nhau, và hai tay buông thõng ở hai bên với các gan bàn tay hướng ra trước.
2. Các mặt phẳng giải phẫu
Nhưng mô tả giải phải được dựa trên bốn loại mặt phẳng giải phẫu cắt qua cơ thể ở
thế giải phẫu. nhiều mặt phẳng đứng dọc, đứng ngang nằm ngang nhưng chỉ một
mặt phẳng đứng dọc giữa. Tác dụng chính của các mặt phẳng giải phẫu để tả các mặt
cắt và các hình ảnh của cơ thể.
Mặt phẳng đứng dọc giữa (Medial Sagittal Plane) là mặt phẳng thẳng đứng đi dọc
qua trung tâm của cơ thể, chia cơ thể thành các nửa phải và trái.
Các mặt phẳng đứng dọc (Sagittal Planes) là những mặt phẳng thẳng đứng đi qua cơ
thể song song với mặt phẳng đứng dọc giữa.
Các mặt phẳng đứng ngang (Coronal/ Frontal Planes) những mặt phẳng thẳng
đứng đi qua cơ thể vuông góc với mặt phẳng đứng dọc giữa, chia cơ thể thành các phần trước
và sau.
Các mặt phẳng nằm ngang (Horizontal Planes) là các mặt phẳng đi qua cơ thể vuông
góc với mặt phẳng đứng dọc giữa đứng ngang. Một mặt phẳng nằm ngang chia thể
thành các phần trên và dưới.
3. Các từ chỉ mối quan hệ vị trí và so sánh:
nhiều tính từ được sử dụng để tả mối liên hệ về vị trí của các phần thể
thế giải phẫu bằng cách so sánh vị trí tương đối của hai cấu trúc với nhau, một cấu trúc đơn lẻ
với bề mặt hoặc đường giữa, hay một cấu trúc với các cực thể. Dưới đây là những từ
thường được sử dụng:
Trên (Superior/cranial/cephalic) là nằm gần hơn về phía đầu; ví dụ nói “Tim nằm trên
cơ hoành” nghĩa là nói tim nằm gần đầu hơn cơ hoành, nói cái gì đó đi về phía đầu tức nói
đi về phía trên.
Dưới (Inferior/cauda) là nằm gần hơn về phía bàn chân; ví dụ nói “Dạ dày nằm dưới
tim” nghĩa là nói dạ dày nằm gần bàn chân hơn so với tim.
Trước (Anterior) là ở gần mặt trước cơ thể hơn.
Sau (Posterior) là nằm ở gần mặt sau cơ thể hơn.
Bên (Lateral) giữa (Medial). Bên nằm xa mặt phng dọc giữa hơn, giữa thì
ngược lại. Gần nghĩa nằm gần thân hoặc điểm nguyên uỷ (điểm gốc) của một mạch
máu, thần kinh, chi hoặc cơ quan.......hơn; xa có nghĩa ngược lại.
2
Nông (Superficial) là nằm gần bề mặt hơn và sâu (deep) là nằm xa bề mặt hơn.
Bên trong (Internal) là ở gần về phía trung tâm của một cơ quan hay khoang rỗng,
bên ngoài (External) thì ngược lại.
3
Bài 2
HỆ XƯƠNG
Số tiết LT: 04; TH: 05
Đối tượng: Cao đẳng điều dưỡng đa khoa
MỤC TIÊU
1. Trình bày được những kiến thức chung nhất về hệ xương: sự phân chia, đặc điểm
cấu tạo của mỗi loại xương, sự hình thành và phát triển của các xương.
2. Mô tả được những đặc điểm hình thể chính của các xương: các mặt khớp, các chỗ
bám của cơ, các mốc bề mặt.
3. Gọi đúng được tên của các chi tiết chính trên các phương tiện thực hành giải phẫu
hệ xương.
1. Đại cương:
Xương những quan được cấu tạo chủ yếu bằng xương, một loại nhỏ liên kết
rắn. Bộ xương đảm nhiệm các chức năng: nâng đỡ thể, bảo vệ làm chỗ dựa cho các
quan, và vận động (cùng hệ cơ - khớp); bộ xương cũng là nơi sản sinh ra các tế bào máu và là
kho dự trữ chất khoáng và chất béo (Hình 2.1).
4
1.1. Hình thể ngoài:
Dựa vào hình thể ngoài cấu tạo thể chia xương thành các loại như xương dài
(Long Bone), xương ngắn (Short bone), xương dẹt (Flat bone), xương không đều (Irregular
bone), xương hốc khí (Pneumatized bone) xương vừng (Sesamoid bone). Các loại
xương với những hìnhthể khác nhau kể trên thích ứng với các chức năng riêng biệt, ví dụ như
xương dài khả năng vận động với động tác rộng i, xương dẹt thiên về chức năng bảo
vệ ...........Các xương dài có một thân xương hai đầu xương. xương chưa trưởng thành,
thân và mỗi đầu xương dài được ngăn cách nhau bằng một sụn xương.
1.2. Cấu tạo:
1.2.1. Cấu tạo chung của các loại xương:
Bất kỳ một xương nào cũng được cấu tạo bằng các phần sau đây, kể từ ngoài vào
trong: màng ngoài xương, mô xương đặc, mô xương xốp tuỷ. xương thuộc loại
liên kết, bao gồm các tế bào bị vây quanh bởi chất căn bản rắn đặc. Chất căn bản của xương
bao gồm 25% nước, 25% sợi Protein 50% muối khoáng. Các loại tế bào của xương
tạo cốt bào, huỷ cốt bào và tế bào xương.
Màng ngoài xương (Periosteum) một màng liên kết dai giàu mạch máu bọc
quanh bề mặt xương (trừ nơi sụn khớp). Màng này gồm hai lớp: lớp ngoài sợi, lớp
trong chứa các tế bào sinh xương (Osteogenic cells). Màng ngoài xương giúp xương phát
triển về chiều rộng. cũng tác dụng bảo vvà nuôi dưỡng xương, giúp liền xương gãy
nơi bám cho các dây chằng và gân. Sụn khớp một lớp sụn trong bao phủ mặt khớp
của các xương. Nó làm giảm ma sát và làm giảm sự va chạm tại những khớp hoạt dịch.
Xương đặc (Compact bone) là thành phần đóng vai trò chính trong chức năng bảo bệ,
nâng đỡ kháng lại lực nén ép của trọng lực hay sự vận động. xương đặc được tổ chức
thành những đơn vị được gọi là các hệ thống Havers. Mỗi hệ thống Havers bao gồm một ống
Havers ở trung tâm chứa các mạch máu, mạch bạch huyết và thần kinh. Bao quanh ống này là
các xương đồng tâm. Giữa các xương những khoang nhỏ (gọi các hồ) chứa các tế
bào xương dịch ngoại bào. ống Havers các hồ được nối liền bằng những kênh nhỏ gọi
các tiểu quản xương. Vùng nằm giữa các hệ thống Havers chứa các ơng kẽ. Các
xương bao quanh xương ở ngay dưới màng xương là các lá chu vi ngoài.
Xương xốp (Spongy bone) do nhiều xương bắt chéo nhau chằng chịt tạo nên một
mạng lưới vây quanh các khoang nhỏ, trông n bọt biển. Khoang nằm giữa các xương
chứa tuỷ đỏ (Red bone marrow), nơi sản xuất các tế bào máu. Mỗi của xương xốp cũng
được cấu tạo bằng các lá xương, các hồ chứa các tế bào xương và các tiểu quản nhưng không
có các hệ thống Havers thực sự.
tuỷ (Medullary cavity) khoang rỗng bên trong thân xương dài chứa tuỷ vàng
(Yellow bone marrow). Thành tuỷ được lót bằng nội cốt mạc (Endosteum). Tuỷ vàng chứa
nhiều tế bào mỡ.
1.2.2. Đặc điểm cấu tạo riêng của mỗi loại xuương (Hình 2.2):
5
Xương dài. ở thân xương (Diaphysis), lớp xương đặc dày ở giữa và mỏng dần về phía
hai đầu; lớp xương xốp thì ngược lại. ở hai đầu xương (Epiphysis), lớp xương đặc chỉ còn
một lớp mỏng, bên trong là khối xương xốp chứa tủy đỏ.
Xương ngắn có cấu tạo giống như đầu xương dài. Xương dẹt gồm hai bản xương đặc
kẹp ở giữa là một lớp xương xốp.