
trong thực tế, có nhiều người cùng sản xuất một loại hàng hóa, nhưng điều kiện
sản xuất, trình độ tay nghề, năng suất lao động khác nhau, do đó thời gian lao
động hao phí để sản xuất ra hàng hóa đó là khác nhau, tức là có mức hao phí lao
động cá biệt khác nhau. Thế nhưng lượng giá trị của hàng hóa không phải do
mức hao phí lao động cá biệt hay thời gian lao động cá biệt quy định, mà nó
được đo bởi thời gian lao động xã hội cần thiết.
Thời gian lao động xã hội cần thiết là thời gian lao động cần để sản xuất ra
một hàng hóa nào đó trong những điều kiện sản xuất bình thường của xã hội với
một trình độ trang thiết bị trung bình, với một trình độ thành thạo trung bình và
một cường độ lao động trung bình trong xã hội đó.
Thực chất, thời gian lao động xã hội cần thiết chính là mức hao phí lao
động xã hội trung bình (thời gian lao động xã hội trung bình) để sản xuất ra hàng
hóa. Thông thường thời gian lao động xã hội cần thiết gần sát với thời gian lao
động cá biệt (mức hao phí lao động cá biệt) của người sản xuất hàng hóa nào
cung cấp đại bộ phận hàng hóa đó trên thị trường.
Thời gian lao động xã hội cần thiết là một đại lượng không cố định, vì trình
độ thành thạo trung bình, cường độ lao động trung bình, điều kiện trang bị kỹ
thuật trung bình của xã hội ở mỗi nước khác nhau là khác nhau và thay đổi theo
sự phát triển của lực lượng sản xuất. Khi thời gian lao động xã hội cần thiết thay
đổi (cao hay thấp) thì lượng giá trị của hàng hóa cũng sẽ thay đổi.
Như vậy, chỉ có lượng lao động xã hội cần thiết, hay thời gian lao động xã
hội cần thiết để sản xuất ra một hàng hóa, mới quyết định đại lượng giá trị của
hàng hóa ấy.
b) Những yếu tố ảnh hưởng đến lượng giá trị của một đơn vị hàng
hóa
Tất cả những yếu tố ảnh hưởng tới thời gian lao động xã hội cần thiết đều
ảnh hưởng tới lượng giá trị của hàng hóa. Chúng ta xem xét ba yếu tố cơ bản: năng
suất lao động, cường độ lao động và mức độ giản đơn hay phức tạp của lao động.
- Năng suất lao động là sức sản xuất của lao động. Nó được đo bằng lượng
sản phẩm sản xuất ra trong một đơn vị thời gian hoặc lượng thời gian lao động hao
phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm.
Năng suất lao động tăng lên có nghĩa là cũng trong một thời gian lao động,
nhưng khối lượng hàng hóa sản xuất ra tăng lên làm cho thời gian lao động cần
thiết để sản xuất ra một đơn vị hàng hóa giảm xuống. Do đó, khi năng suất lao
động tăng lên thì giá trị của một đơn vị hàng hóa sẽ giảm xuống và ngược lại.
Như vậy, giá trị của hàng hóa tỷ lệ nghịch với năng suất lao động.
Năng suất lao động lại phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: trình độ khéo léo
40

(thành thạo) trung bình của người công nhân, mức độ phát triển của khoa học -
kỹ thuật, công nghệ và mức độ ứng dụng những thành tựu đó vào sản xuất, trình
độ tổ chức quản lý, quy mô và hiệu suất của tư liệu sản xuất, và các điều kiện tự
nhiên. Muốn tăng năng suất lao động phải hoàn thiện các yếu tố trên.
- Cường độ lao động là đại lượng chỉ mức độ hao phí sức lao động trong
một đơn vị thời gian. Nó cho thấy mức độ khẩn trương, nặng nhọc hay căng
thẳng của lao động.
Cường độ lao động tăng lên tức là mức hao phí sức cơ bắp, thần kinh trong
một đơn vị thời gian tăng lên, mức độ khẩn trương, nặng nhọc hay căng thẳng
của lao động tăng lên. Nếu cường độ lao động tăng lên thì số lượng (hoặc khối
lượng) hàng hóa sản xuất ra tăng lên và sức hao phí lao động cũng tăng lên tương
ứng, vì vậy giá trị của một đơn vị hàng hóa vẫn không đổi. Tăng cường độ lao
động thực chất cũng như kéo dài thời gian lao động cho nên hao phí lao động
trong một đơn vị sản phẩm không đổi.
Tăng năng suất lao động và tăng cường độ lao động giống nhau ở chỗ:
chúng đều dẫn đến lượng sản phẩm sản xuất ra trong một đơn vị thời gian tăng
lên. Nhưng chúng khác nhau ở chỗ: tăng năng suất lao động làm cho lượng sản
phẩm (hàng hóa) sản xuất ra trong một đơn vị thời gian tăng lên, nhưng làm cho
giá trị của một đơn vị hàng hóa giảm xuống. Hơn nữa, tăng năng suất lao động có
thể phụ thuộc nhiều vào máy móc, kỹ thuật, do đó, nó gần như là một yếu tố có
"sức sản xuất" vô hạn; còn tăng cường độ lao động, làm cho lượng sản phẩm sản
xuất ra tăng lên trong một đơn vị thời gian, nhưng giá trị của một đơn vị hàng
hóa không đổi. Hơn nữa, tăng cường độ lao động phụ thuộc nhiều vào thể chất và
tinh thần của người lao động, do đó, nó là yếu tố của "sức sản xuất" có giới hạn
nhất định. Chính vì vậy, tăng năng suất lao động có ý nghĩa tích cực hơn đối với
sự phát triển kinh tế.
- Mức độ phức tạp của lao động cũng ảnh hưởng nhất định đến lượng giá trị
của hàng hóa. Theo mức độ phức tạp của lao động, có thể chia lao động thành lao
động giản đơn và lao động phức tạp.
Lao động giản đơn là lao động mà một người lao động bình thường không
cần phải trải qua đào tạo cũng có thể thực hiện được. Lao động phức tạp là lao
động đòi hỏi phải được đào tạo, huấn luyện mới có thể tiến hành được.
Trong cùng một thời gian, lao động phức tạp tạo ra nhiều giá trị hơn lao
động giản đơn. Lao động phức tạp thực chất là lao động giản đơn được nhân lên.
Trong quá trình trao đổi hàng hóa, mọi lao động phức tạp đều được quy về lao
động đơn giản trung bình, và điều đó được quy đổi một cách tự phát sau lưng
những hoạt động sản xuất hàng hóa, hình thành những hệ số nhất định thể hiện
trên thị trường.
41

III- Tiền tệ
1. Nguồn gốc và bản chất của tiền
Nguồn gốc và bản chất của tiền thể hiện ở quá trình phát triển của hình thái
giá trị trao đổi, hay nói cách khác, các hình thái biểu hiện của giá trị.
Có bốn hình thái biểu hiện của giá trị:
a) Hình thái giản đơn hay ngẫu nhiên của giá trị
Hình thái này xuất hiện khi xã hội nguyên thuỷ tan rã, và "chỉ thường gặp ở
những mầm mống đầu tiên của trao đổi, khi mà các sản phẩm lao động chỉ biến
thành hàng hóa trong những hành vi đơn nhất và ngẫu nhiên".
Thí dụ: 20 vuông vải = 1 cái áo
ở đây, giá trị của hàng hóa này (20 vuông vải) chỉ biểu hiện đơn nhất ở một
hàng hóa khác (1 cái áo) và quan hệ trao đổi mang tính chất ngẫu nhiên, trực tiếp
hàng lấy hàng, tỷ lệ trao đổi cũng ngẫu nhiên được hình thành.
Hàng hóa thứ hai (cái áo) đóng vai trò vật ngang giá, là hình thái phôi thai
của tiền tệ.
Mặc dù, lúc đầu quan hệ trao đổi mang tính chất ngẫu nhiên, nhưng dần dần
nó trở thành quá trình xã hội đều đặn, thường xuyên thúc đẩy sản xuất hàng hóa
ra đời và phát triển. Khi đó, xuất hiện hình thái thứ hai:
b) Hình thái đầy đủ hay mở rộng của giá trị
Hình thái này xuất hiện trong thực tế khi mà một sản phẩm lao động nào đó,
như 20 vuông vải chẳng hạn, được trao đổi với nhiều hàng hóa khác một cách
thông thường, phổ biến.
Thí dụ: 20 vuông vải = 1 cái áo
= 10 đấu chè
= 40 đấu cà phê
= 0, 2 gam vàng
ở đây, giá trị của một hàng hóa (20 vuông vải) được biểu hiện ở nhiều hàng
hóa khác nhau đóng vai trò làm vật ngang giá. Đồng thời tỷ lệ trao đổi không còn
mang tính chất ngẫu nhiên nữa mà dần dần do lao động quy định, bởi vì ngay từ
đầu người ta đã sản xuất ra những vật phẩm trên với mục đích là để mang trao
đổi. Do đó, trong trao đổi họ phải tính toán đến mức lao động đã hao phí.
Tuy nhiên, hình thái này cũng có những nhược điểm của nó như: giá trị
hàng hóa được biểu hiện còn chưa hoàn tất, thống nhất mà bằng một chuỗi
vô tận của các hàng hóa khác; đồng thời vẫn là trao đổi trực tiếp hàng lấy
hàng, do đó khi nhu cầu trao đổi giữa những người chủ hàng hóa không phù
hợp sẽ làm cho trao đổi không thực hiện được. Chẳng hạn, người có vải cần
42

đổi lấy áo, nhưng người có áo lại không cần vải mà cần chè... Do đó, khi sản
xuất và trao đổi hàng hóa phát triển hơn đòi hỏi phải có một vật ngang giá
chung, khi đó xuất hiện hình thái thứ ba.
c) Hình thái chung của giá trị
Thí dụ: 1 cái áo =
10 đấu chè =
40 đấu cà phê = 20 vuông vải
0, 2 gam vàng =
ở đây, giá trị của mọi hàng hóa đều được biểu hiện ở một hàng hóa đóng vai
trò làm vật ngang giá chung, "vật ngang giá phổ biến" - 20 vuông vải. Tức, các
hàng hóa đều được đổi lấy vật ngang giá chung trước, sau đó mới mang đổi lấy
hàng hóa cần dùng, do đó khắc phục được nhược điểm của hình thái trao đổi trực
tiếp hàng lấy hàng và vật ngang giá chung trở thành môi giới, thành phương tiện
trong trao đổi hàng hóa.
Tuy nhiên, ở hình thái này vật ngang giá chung chưa cố định ở một hàng hóa
nào cả, khi thì là hàng hóa này, khi thì là hàng hóa khác, và "bất kỳ hàng hóa nào
cũng có thể có được hình thái đó", miễn là nó được tách ra làm vật ngang giá chung.
Khi sản xuất và trao đổi hàng hóa phát triển hơn nữa, đặc biệt là khi nó
được mở rộng giữa các vùng đòi hỏi phải có một vật ngang giá chung thống nhất,
thì vật ngang giá chung được "gắn một cách vững chắc với một số loại hàng hóa
đặc thù"1, khi đó xuất hiện hình thái thứ tư:
d) Hình thái tiền
Thí dụ: 20 vuông vải =
1 cái áo = 0, 2 gam vàng
10 đấu chè =
40 đấu cà phê =
ở đây, giá trị của tất cả mọi hàng hóa đều được biểu hiện ở một hàng hóa đóng
vai trò tiền tệ.
Lúc đầu, có nhiều loại hàng hóa đóng vai trò tiền tệ như lông cừu, vỏ
sò…và "những dân du mục là những người đầu tiên phát triển hình thái tiền"2.
Nhưng dần dần vai trò tiền tệ được chuyển sang các kim loại quý (tiền kim loại)
như đồng rồi bạc và cuối cùng là ở vàng.
Khi hai vật ngang giá, ví dụ, bạc và vàng, đồng thời làm chức năng vật
ngang giá thì chế độ tiền tệ được gọi là chế độ song bản vị. Khi chỉ còn một vật
1. Sđd, tr. 139.
2. Sđd, tr. 139.
43

ngang giá là vàng độc chiếm vai trò tiền tệ thì chế độ tiền tệ được gọi là chế độ
bản vị vàng.
Tại sao vàng và bạc, đặc biệt là vàng, lại có được vai trò tiền tệ như vậy?
Thứ nhất, nó cũng là một hàng hóa, cũng có giá trị sử dụng và giá trị. Giá
trị sử dụng của vàng như dùng làm đồ trang sức, hàn răng thủng... Giá trị của
vàng cũng được đo bằng lượng lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra nó (để tìm
kiếm, khai thác và chế tác vàng. Do đó nó có thể mang trao đổi với các hàng hóa
khác, và với tư cách là hàng hóa, vàng cũng đã từng đóng vai trò vật ngang giá
như các hàng hóa khác trong hình thái thứ nhất và thứ hai.
Thứ hai, nó có những ưu thế (từ thuộc tính tự nhiên) đặc biệt thích hợp với
vai trò tiền tệ như: thuần nhất, dễ chia nhỏ, bền, dễ bảo quản, hơn nữa với một
lượng và thể tích nhỏ nhưng có giá trị cao (vì vàng là kim loại hiếm phải tốn
nhiều công sức mới có được). Do đó, nó có thể đo lường giá trị của mọi loại hàng
hóa. Chính vì vậy mà vàng được xã hội trao cho một giá trị sử dụng xã hội đặc
biệt: đóng vai trò là vật ngang giá chung cho tất cả các hàng hóa khác.
Như vậy, tiền ra đời là kết quả của sự phát triển lâu dài của sản xuất và trao
đổi hàng hóa.
Tiền là hàng hóa đặc biệt được tách ra từ thế giới hàng hóa làm vật ngang
giá chung cho tất cả các hàng hóa.
Tiền là sự thể hiện chung của giá trị, đồng thời cũng biểu hiện quan hệ sản
xuất giữa những người sản xuất hàng hóa.
2. Các chức năng của tiền
a) Thước đo giá trị
Tiền dùng để đo lường và biểu hiện giá trị của các hàng hoá khác.
Khi tiền thực hiện chức năng thước đo giá trị, thì giá trị của hàng hóa được
biểu hiện bằng một lượng tiền nhất định gọi là giá cả hàng hóa.
Giá cả hàng hóa là hình thức biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hóa.
Như vậy, giá trị là nội dung, là cơ sở của giá cả. Trong các điều kiện khác
không đổi, giá trị của hàng hóa càng cao thì giá cả của nó cũng càng cao và
ngược lại. Giá cả của hàng hoá có thể lên xuống xoay xung quanh giá trị nhưng
tổng số giá cả vẫn bằng tổng số giá trị.
Khi tiền thực hiện chức năng thước đo giá trị không đòi hỏi phải có tiền mặt
trên thực tế, gọi là tiền thật (vàng thoi, bạc nén, tiền đúc, tiền giấy...) mà chỉ cần
một lượng tiền tưởng tượng.
b) Phương tiện lưu thông
44

