1 | Trn C ô n g H n D u l c h K 0 7
ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP KINH T CHÍNH TR MÁC LÊ-NIN
Câu 1: Điu kin ra đời, đặc trưng ưu thế ca sn xut hàng hoá?
Lch s phát trin ca nn sn xut xã hội đã và đang tri qua hai kiu t chc kinh tế, đó là sản
xut t cp t túc và sn xut hàng hóa. Sn xut t cp t túc là kiu t chc kinh tế mà sn phm do
lao đng to ra là nhm đ tha mãn trc tiếp nhu cu của người sn xut.
Sản xuất hàng hóa kiểu tổ chức kinh tế đó sản phẩm được sản xuất ra để trao đổi hoặc
mua bán trên thị trường.
Sản xuất hàng hóa ra đời bước ngoặt căn bản trong lịch sử phát triển của hội loài người,
đưa loài người thoát khỏi tình trạng "mông muội", xóa bỏ nền kinh tế tự nhiên, phát triển nhanh chóng
lực lượng sản xuất và nâng cao hiệu quả kinh tế của xã hội.
1.1. Sản xuất hàng hóa chỉ ra đời khi có đủ hai điêu kiện sau đây:
1.1.1.Phân công lao động xã hội
Phân công lao động hội sự phân chia lao động hội thành các ngành, nghề khác nhau.
Phân công lao động hội tạo ra sự chuyên môn hóa lao động, do đó dẫn đên chuyên môn hóa sản
xuất. Do phân công lao động hội nên mỗi người sản xuất chỉ tạo ra một hoặc một vài loại sản phẩm
nhất định. Để thỏa mãn nhu cầu, đòi hòi họ phải mối liên hệ phthuộc vào nhau, phải trao đổi sản
phẩm cho nhau. Ví ddo sự chuyên môn hóa trong sản xuất mỗi nhà sản xuất chỉ sản xuất một loại sản
phẩm mình làm tốt nhất nguồn tài nguyên để làm: sự phân chia công nghiệp thành công
nghiệp khai khoáng, công nghiệp luyện kim, công nghiệp sản xuất từng loại hàng tiêu dùng
Tuy nhiên, phân công lao động hội mới chỉ điều kiện cần nhưng chưa đủ để sản xuất hàng
hóa ra đời tồn tại. C.Mác viết: "Trong công Ấn Độ thời cổ đại, lao động đã sự phân công
hội, nhưng các sản phẩm lao động không trở thành hàng hóa... Chỉ có sản phẩm của những lao động tư
nhân độc lập không phụ thuộc vào nhau mới đối diện với nhau như những hàng hóa". vậy,
muốn sản xuất hàng hóa ra đời và tồn tại phải có điều kiện thứ hai.
1.1.2.Sự tách biệt tương đối về mặt kinh tế của những người sản xuất
2 | Trn C ô n g H n D u l c h K 0 7
Sự tách biệt này do các quan hệ sở hữu khác nhau về liệu sản xuất, khởi thủy chế đ
hữu nhỏ về liệu sản xuất, đã xác định người sở hữu liệu sản xuất người sở hữu sản phẩm lao
động.
Như vậy, chính quan hệ sở hữu khác nhau về liệu sản xuất đã làm cho những người sản xuất
độc lập, đối lập với nhau, nhưng họ lại nằm trong hệ thống phân công lao động xã hội nên họ phụ thuộc
lẫn nhau về sản xuất tiêu dùng. Trong điều kiện y người này muốn tiêu dùng sản phẩm cùa người
khác phải thông qua việc mua - bán hàng hóa, tức phải trao đổi dưới những hình thái hàng hóa. Sản
xuất hàng hóa chỉ ra đời khi có đồng thời hai điều kiện nói trên, nếu thiếu một trong hai điều kiện ấy thì
không có sản xuất hàng hóa và sản phẩm lao động không mang hình thái hàng hóa.
1.2. Đặc trưng và ưu thế của sản xuất hàng hoá:
1.2.1. Đặc trưng của sản xuất hàng hóa
Thứ nhất, sản xuất ng hóa sản xuất để trao đổi, mua bán, không phải để người sản xuất ra tiêu
dùng. Thứ hai, lao động của người sản xuất hàng hóa vừa mang tính chất nhân, vừa mang tính
hội. Mâu thuẫn giữa lao động nhân lao động hội sở, mầm mống của khủng hoảng trong
kinh tế hàng hóa. Thứ ba, mục đích của sản xuất hàng hóa giá trị, là lợi nhuận chứ không phải là giá
trị sử dụng.
1.2.2.Ưu thế của sản xuất hàng hóa
Một là, sự phát triển sản xuất hàng hóa m cho phân công lao động hội ngày càng sâu sắc, chuyên
môn hóa, hợp tác hóa ngày càng tăng, mối liên hệ giữa các ngành, các vùng ngày càng chặt chẽ. Từ đó,
nó xóa tính tự cấp, ttúc, bảo thủ, trì trệ của nền kinh tế, đẩy mạnh quá trình hội hóa sản xuất
lao động.
Hai là, tính tách biệt về kinh tế đòi hỏi người sản xuất hàng hóa phải năng động trong sản xuất - kinh
doanh để sản xuất và tiêu thụ hàng hóa. Muốn vậy, họ phải ra sức cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất,
nâng cao chất lượng, cải tiến quy trình, mẫu hàng a, tổ chức tốt quá trình tiêu thụ... Từ đó làm
tăng năng suất lao động xã hội, thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển.
Ba là, sản xuất hàng hóa quy lớn ưu thế so với sản xuất tự cấp tự túc về quy mô, trình độ kỹ
thuật, Công nghệ, về khả năng thỏa mãn nhu cầu... vậy, sản xuất hàng hóa quy lớn hình thức
tổ chức kinh tế xã hội hiện đại phù hợp với xu thế thời đại ngày nay.
Bốn là, sản xuất hàng hóa hình kinh tế mở, thúc đẩy giao lưu kinh tế, giao lưu văn hóa, tạo điều
kiện nâng cao, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của xã hội.
Tuy nhiên, bên cạnh mặt tích cực như đã nêu trên, sản xuất hàng hóa cũng những mặt trái của
như phân hóa giàu - nghèo giữa những người sản xuất hàng hóa, tiềm ẩn những khả ng khủng hoảng
kinh tế - xã hội, phá hoại môi trường sinh thái, v.v..
Ý nghĩa nghiên cứu:
Biết được các đặc trưng và ưu thế của sản xuất hàng hóa từ đó ra sức thúc đẩy nền sản xuất hàng
hóa phát triển để tận dụng các ưu thế đó mang lại lợi nhuận cao cho nhà sản xuất, thúc đẩy nền
sản xuất chung của xã hội phát triển.
Tạo động lực để thúc đẩy khoa học kthuật phát triển, hợp lý hóa sản xuất, tăng năng suất lao
động xã hội.
3 | Trn C ô n g H n D u l c h K 0 7
Thúc đẩy việc trao đổi hàng hóa, không chỉ trên phạm vi trong nước mở rộng ra phạm vi
quốc tế, tạo nên một nền kinh tế chung luôn vận động thúc đẩy các ngành còn lại cùng phát triển
theo.
Câu 2: Lượng giá trị của hàng hoá, các nhân tố ảnh hưởng ?
Giá trị hàng hóa được xét cả về mặt chất và mặt lượng: Chất giá trị hàng hóa là lao động trừu
tượng của người sản xuất hàng hóa kết tinh trong hàng hóa. Vậy, lượng giá trị của hàng hóa là lượng
lao động hao phí để sản xuất ra hàng hóa đó quyểt định.
2.1. Thước đo lượng giá trị của hàng hóa.
Đo lượng lao động hao phí để tạo ra hàng hóa bằng thước đo thời gian như: một giờ lao động,
một ngày lao động, v.v.. Do đó, lượng giá trị của hàng hóa cũng do thời gian lao động quyết định. Như
vậy, thước đo lượng giá trị của hàng hóa được tính bằng thời gian lao động xã hội cần thiết.
Thời gian lao động xã hội cần thiết là thời gian cần thiết để sản xuất ra một hàng hóa trong điều
kiện bình thường của xã hội, tức là với một trình độ kỹ thuật trung bình, trình độ khéo léo trung bình và
cường độ lao động trung bình so với hoàn cảnh xã hội nhất định.
Trong một xã hội có hàng triệu người sản xuất hàng hóa, với thời gian lao động cá biệt hết sức
khác biệt nhau, thì thông thường thời gian lao động xã hội cần thiết gần sát với thời gian lao động cá
biệt của những người sản xuất và cung cấp đại bộ phận một loại hàng hóa nào đó trên thị trường.
2.2.Các nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị hàng hóa
Do thời gian lao động xã hội cần thiết luôn thay đổi, nên lượng giá trị của hàng hóa cũng là một
đại lượng không cố định. Sự thay đổi lượng giá trị của hàng hóa tùy thuộc vào những nhân tố:
Thứ nhất, năng suất lao động.
Năng suất lao động là năng lực sản xuất của lao động, được tính bằng số lượng sản phấm sản xuất ra
trong một đơn vị thời gian hoặc số lượng thời gian cần thiết đế sản xuất ra một đơn vị sản phẩm.
Có hai loại năng suất lao động: năng suất lao động cá biệt và năng suất lao động xã hội. Trên thị
trường, hàng hóa được trao đổi không phải theo giá trị cá biệt mà là giá trị xã hội. Vì vậy, năng suất lao
động có ảnh hưởng đến giá trị xã hội của hàng hóa chính là năng suất lao động xã hội.
Năng suất lao động xã hội càng tăng, thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra hàng hóa càng
giảm, lượng giá trị của một đơn vị sản phẩm càng ít và ngược lại.
Năng suất lao động lại tùy thuộc vào nhiều nhân tố như: trình độ khéo léo của người lao động, sự phát
triển của khoa học - kỹ thuật và trình độ ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, sự kết hợp xã hội của
sản xuất, hiệu quả của tư liệu sản xuất và các điều kiện tự nhiên.
Thứ hai, cường độ lao động
Cường độ lao động: Cường độ lao động là khái niệm nói lên mức độ khẩn trương, là sự căng thẳng mệt
nhọc của người lao động trong một đơn vị thời gian.
Cường độ lao động được đo bằng sự tiêu hao lao động trong 1 đơn vị thời gian và thường được tính
bắng số calo hao phí trong 1 đơn vị thời gian.
4 | Trn C ô n g H n D u l c h K 0 7
Tăng cường độ lao động: là tăng sự hao phí lao động trong 1 thời gian lao động nhất định. Cường độ
lao động tăng giá trị một đơn vị sản phẩm không đổi .
Cường độ lao động cũng phụ thuộc:
+ Trình độ tổ chức quản lý
+ Quy mô và hiệu suất của tư liệu sản xuất
+ Thể chất, tinh thần của người lao động
Tăng năng suất lao động và tăng cường độ lao động tác động khác nhau đối với lượng giá trị hàng hóa.
Vì vậy, khi cường độ lao động tăng lên, thì lượng lao động hao phí trong cùng một đơn vị thời gian
cũng tăng lên và lượng sản phẩm được tạo ra cũng tăng lên tương đương, còn lượng giá trị của một đơn
vị sản phẩm thì không đổi. Xét về bản chất, tăng cường độ lao động cũng giống như kéo dài thời gian
lao động.
Thứ ba, mức độ phức tạp của lao động.
Mức độ phức tạp của lao động cũng ảnh hưởng nhất định đến số lượng giá trị của hàng hóa. Theo mức
độ phức tạp của lao động có thể chia lao động thành lao động giản đơn và lao động phức tạp.
Lao động giản đơn là lao động mà bất kỳ một người bình thường nào có khả năng lao động cũng có thể
thực hiện được. Lao động phức tạp là lao động đòi hỏi phải được đào tạo, huấn luyện thành lao động
chuyên môn lành nghề mới có thể tiến hành được.
Trong cùng một đơn vị thời gian lao động như nhau, lao động phức tạp tạo ra được nhiều giá trị hơn so
với lao động giản đơn. Lao động phức tạp là lao động giản đơn được nhân gấp bội lên. Để cho các hàng
hóa do lao động giản đơn tạo ra có thể quan hệ bình đẳng với các hàng hóa do lao động phức tạp tạo ra,
trong quá trình trao đổi người ta quy mọi lao động phức tạp thành lao động giản đơn trung bình.
Như vậy, ợng giá trị của hàng hóa được đo bằng thời gian lao động hội cần thiết, giản đơn trung
bình.
2.3. Cấu thành lượng giá trị hàng hóa
Để sản xuất ra hàng hóa cần phải chi phí lao động, bao gồm lao động quá khứ tồn tại trong các
yếu tố tư liệu sản xuất như máy móc, công cụ, nguyên vật liệu và lao động sống hao phí trong quá trình
chế biến liệu sản xuất thành sản phẩm mới. Trong quá trình sản xuất, lao động cụ thể của người sản
xuất vai trò bảo tồn và di chuyển giá trcủa liệu sản xuất vào sản phẩm, đây bphận giá tr
trong sản phẩm (ký hiệu c), còn lao động trừu tượng (biểu hiện shao phí lao động sống trong quá
trình sản xuất ra sản phẩm) vai trò m tăng thêm giá trị cho sản phẩm, đây là bộ phận giá trị mới
trong sản phẩm (ký hiệu là v + m).Vì vậy, cấu thành lượng giá trị hàng hóa bao gồm hai bộ phận: giá trị
cũ tái hiện và giá trị mới.
Ý nghĩa nghiên cứu
Tạo khung luận giúp nhà sản xuất hiểu được cơ chế ảnh hưởng tới lượng giá trị của hàng hóa
từ đó có những cải tiến phù hợp nhằm tăng lượng giá trị của hàng hóa với một thời gian sản xuất
như cũ thông qua hợp lý hóa sản xuất, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật…
Hiểu được chế hình thành giá cả thị trường mà cố gắng giảm thời gian tăng năng suất lao
động cá biệt.
Giúp người công nhân nắm được lượng giá trị mình đã sản xuất ra kết tinh trong hàng hóa như
thế nào để đấu tranh đòi mức tiền công phù hợp, bước đầu nắm được nguồn gốc giá trị thặng
do bốc lột lao động không công của công nhân.
5 | Trn C ô n g H n D u l c h K 0 7
Câu 3: Quy luật giá trị, nội dung yêu cầu, tác động?
Quy luật giá trị là quy luật kinh tế căn bản của sản xuất và lưu thông hàng hóa, ở đâu có sản xuất
và trao đổi hàng hoá thì ở đó có sự tồn tại và phát huy tác dụng của quy luật giá trị.
Yêu cầu của quy luật giá trị:
+ Thứ nhất, theo quy luật y, sản xuất hàng hóa được thực hiện theo hao phí lao động xã hội cần thiết,
nghĩa là cần tiết kiệm lao động (cả lao động qkhứ lao động sống) nhằm: đối với một hàng hóa thì
giá trị của phải nhỏ hơn hoặc bằng thời gian lao động hội cần thiết để sản xuất ra hàng hóa đó,
tức là giá cả thị trường của hàng hóa.
+ Thứ hai, trong trao đổi phải tuân theo nguyên tắc ngang giá, nghĩa phải đảm bảo đắp được chi
phí chí người sản xuất (tất nhiên chi phí đó phải dựa trên cơ sở thời gian lao động xã hội cần thiết, chứ
không phải bất kỳ chi phí cá biệt nào) và đảm bảo có lãi để tái sản xuất mở rộng.
Sự tác động, hay biểu hiện sự hoạt động của quy luật giá trị được thể hiện thông qua sự vận động của
giá cả hàng hoá. giá trị sở của giá cả, còn giá cả sự biểu hiện bằng tiền của gtrị, nên trước
hết giá cả phụ thuộc vào giá trị.
Trên thị trường, ngoài giá trị, giá cả còn phụ thuộc vào các nhân tố khác như: cạnh tranh, cung - cầu,
sức mua của đồng tiền. Sự tác động của các nhân tố y làm cho giá cả hàng hoá trên thị trường tách
rời giá trị và lên xuống xoay quanh trục giá trị của nó. Sự vận động giá cả thị trường của hàng hoá xoay
quanh trục giá trị của hình chế hoạt động của quy luật giá trị. Thông qua sự vận động của giá
cả thị trường mà quy luật giá trị phát huy tác dụng.
Tác động của quy luật giá trị
Thứ nhất, điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hoá.
Điều tiết sản xuất tức điều hoà, phân bổ các yếu tố sản xuất giữa các ngành, các lĩnh vực của nền
kinh tế. Tác lộng y của quy luật giá trị thông qua sự biến động của giá cả hàng hoá trên thị trường
dưới tác động của quy luật cung - cầu.
Nếu cung nhỏ hơn cầu, thì giá cả lớn hơn giá trị, nghĩa hàng hóa sản xuất ra lãi, bán chạy.
Giá cả cao hơn giá trị sẽ kích thích mở rộng đẩy mạnh sản xuất để tăng cung; ngược lại cầu
giảm vì giá tăng.
Nếu cung lớn hơn cầu, sản phẩm sản xuất ra quá nhiều so với nhu cầu, giá cả thấp hơn giá trị,
hàng hóa khó bán, sản xuất không lãi. Thực tế đó, tự người sản xuất ra quyết định ngừng
hoặc giảm sản xuất; ngược lại, giá giảm sẽ kích thích tăng cầu, tự nhân tlàm cho cung
tăng.
Cung cầu tạm thời cân bằng; giá cả trùng hợp với giá trị. Bề mặt nền kinh tế người ta thường gọi
là “bão hòa”.
Tuy nhiên nền kinh tế luôn luôn vận động, do đó quan hệ giá cả cung cầu cũng thường xuyên biến
động liên tục.
Như vậy, sự tác động trên của quy luật giá trị đã dẫn đến sự di chuyển sức lao động liệu sản xuất
giữa các ngành sản xuất khác nhau. Đây là vai trò điều tiết sản xuất của quy luật giá trị.