
BỘ LAO ĐỘNG - THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI
TRƯNG CAO ĐNG ĐẠI VIỆT SÀI GÒN
GIO TRNH
MÔN HC: PHP LUẬT
NGÀNH: ĐIỀU DƯỠNG
TRNH Đ": CAO ĐNG
(Lưu hành nội bộ)

GIỚI THIỆU HC PHẦN
PHP LUẬT
Đối tượng: Cao đẳng
- Số tín chỉ: 02 (2/0)
- Phân bố thời gian:
- Lên lớp: 30 tiết (2 tiết/tuần)
+ Giảng lý thuyết: 18 tiết
+ Thảo luận: 10 tiết
+ Kiểm tra/ đánh giá: 02 tiết
- Tự học: 60 giờ
- Trình độ: Sinh viên năm thứ nhất
MỤC TIÊU HC PHẦN
1. Trình bày được các kiến thức cơ bản về lý luận Nhà nước và Pháp luật, nội dung
của những ngành luật thông dụng.
2. Vận dụng được những kiến thức pháp luật vào ứng xử trong cuộc sống, công việc,
phù hợp với quy định của pháp luật. Biết viết các văn bản thông thường đúng quy định. 3.
Xây dựng được ý thức tôn trọng pháp luật, sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật,
tích cực vận động mọi người cùng thực hiện pháp luật.
N"I DUNG HC PHẦN
STT Tên bài Trang số
1 Những vấn đề lý luận cơ bản về Nhà nước 3
2 Những vấn đề cơ bản về Pháp luật 25
3 Luật nhà nước 64
4 Luật hành chính 77
5 Luật hình sự 85
6 Luật Lao động 94
7 Luật dân sự 104
8 Luật hôn nhân và gia đình 117
9 Pháp luật Chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân 128
10 Pháp luật phòng chống tham nhũng 133

11 Những vấn đề lý luận về pháp luật bảo vệ quyền lợi
người tiêu dùng Việt Nam 145
12 Thảo luận
13 Kiểm tra
TỔNG 153
1
ĐNH GI:
- Hình thức thi: Trắc nghiệm
- Thang điểm: 10
- Cách tính điểm:
+ Kiểm tra thường xuyên: 01 bài kiểm tra, tính hệ số 1 (Kiểm tra bằng hình thức tự
luận. Dự kiến thời gian kiểm tra: tuần thứ 8)
+ Kiểm tra định kỳ: 01 bài kiểm tra, tính hệ số 2 (Kiểm tra bằng hình thức tự
luận. Dự kiến thời gian kiểm tra: tuần thứ 15)
+ Thi kết thúc học phần: 01 bài thi trắc nghiệm, trọng số 70%
Công thức tính::
ÐKTTX + (ÐKTÐK x 2)x 30% + Điểm KTHP x 70%
3

2
BÀI 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NHÀ NƯỚC
MỤC TIÊU
1. Trình bày được những lí luận cơ bản về nhà nước như : Nguồn gốc, bản chất,
đặc trưng, chức năng, bộ máy nhà nước và Nhà nước pháp quyền.
2. Vận dụng đươc kiến thức để tìm hiểu về Nhà nước CHXHCN Việt nam
N"I DUNG
I. NGUỒN GỐC NHÀ NƯỚC
Nhà nước và pháp luật là những hạt nhân chính trị pháp lý của thượng tầng kiến trúc
xã hội, có mối quan hệ mật thiết, tồn tại không thiếu nhau. Nhà nước ban hành pháp luật,
đảm bảo cho pháp luật được thực thi trong đời sống thực tiễn. Pháp luật thể hiện ý thức của
nhà nước, là công cụ quản lý xã hội hữu hiệu nhất của nhà nước. Do vậy, muốn hiểu được
những vấn đề lý luận liên quan đến pháp luật, trước hết chúng ta phải làm sáng tỏ các vấn
đề lý luận liên quan đến nhà nước.
Tiếp cận các vấn đề lý luận liên quan đến nhà nước, điều cần lý giải đầu tiên chính là
nguồn gốc nhà nước - các nguyên nhân dẫn đến sự ra đời của nhà nước. Bởi vì, có nhận thức
một cách đúng đắn và khoa học về nguồn gốc nhà nước, chúng ta mới có thể nhận thức đúng
về bản chất, vai trò và những quy luật vận động, phát triển của nhà nước.
Về nguồn gốc nhà nước, không riêng gì khoa học pháp lý, có nhiều ngành khoa học
cũng nghiên cứu về nó, chẳng hạn như triết học, chính trị học… Mỗi một nghành khoa học
nghiên cứu sự ra đời của nhà nước ở những góc độ khác nhau, trên những lập trường và
phương pháp luận khác nhau. Ngay trong khoa học pháp lý cũng có nhiều cách lý giải khác
nhau về sự xuất hiện của nhà nước, tuy nhiên tựu chung lại, chúng ta có thể khái quát chúng
trong hai trường phái cơ bản: quan điểm phi mác xít và quan điểm của chủ nghĩa Mác -
Lênin.
Với phương pháp luận là chủ nghĩa duy vật (bao gồm duy vật lịch sử và duy vật biện
chứng), trên cơ sở xem xét toàn bộ tiến trình hiện thực của lịch sử xã hội loài người từ chế
độ cộng sản nguyên thủy không có nhà nước cho đến khi nhà nước ra đời, tồn tại và phát
triển cũng như xem xét mối quan hệ biện chứng giữa nhà nước với những sự vật hiện tượng
xung quanh, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin đã khắc phục được những hạn
chế của các quan điểm phi mác - xít và lần đầu tiên đã giải thích một cách đúng đắn, khoa
học về nguồn gốc nhà nước.
Những luận điểm khoa học về sự xuất hiện nhà nước được Ph.Ănghen trình bày
trong tác phẩm nổi tiếng “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước”
( Mác-Ănghen toàn tập - Tập 21) và được Lê nin phát triển thêm trong tác phẩm “Nhà nước
và cách mạng”.
3
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, cộng sản nguyên thủy là hình thái kinh

tế xã hội đầu tiên của loài người. Ở đó xã hội chưa có giai cấp, chưa có nhà nước và pháp
luật, nhưng những nguyên nhân dẫn đến sự ra đời của nhà nước và pháp luật lại nảy sinh
trong chính xã hội này. Do vậy, tìm hiểu về xã hội cộng sản nguyên thủy là cơ sở để giải
thích nguyên nhân ra đời của nhà nước.
1. Chế độ cộng sản nguyên thủy và tổ chức thị tộc, bộ lạc
Khi tìm hiểu về chế độ cộng sản nguyên thủy cũng như tìm hiểu bất kỳ một chế độ
nào, chúng ta cần xem xét cơ sở kinh tế và tổ chức xã hội với quyền lực của nó. - Cơ sở kinh
tế của chế độ cộng sản nguyên thủy.
Thời kỳ cộng sản nguyên thủy tồn tại chế độ sở hữu chung về tư liệu sản xuất và sản
phẩm lao động. Do trình độ phát triển của lực lượng sản xuất thấp kém, cộng cụ lao động
thô sơ, nhận thức và kinh nghiệm của con người vô cùng hạn chế, con người sống phụ
thuộc và hoàn toàn bất lực trước những tai họa của thiên nhiên nên năng suất lao động thấp,
sản phẩm tạo ra trong xã hội chỉ đủ phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt tối thiểu của con người,
không có của cải dư thừa. Địa vị kinh tế của con người trong xã hội nguyên thủy là ngang
nhau, mọi người cùng chung sống, cùng lao động và cùng hưởng thụ thành quả lao động.
Nguyên tắc phân phối sản phẩm lao động đặc trưng cho thời kỳ này là nguyên tắc bình
quân. Mọi người đều bình đẳng trong lao động và hưởng thụ, không ai có tài sản riêng,
không có kẻ giàu người nghèo, chưa có sở hữu tư nhân, xã hội chưa có hình thành giai cấp
và không có đấu tranh giai cấp.
- Hình thức tổ chức xã hội và quyền lực xã hội của chế độ cộng sản nguyên thủy. Tế
bào cơ sở của xã hội cộng sản nguyên thủy là thị tộc. Do bất lực trước thiên nhiên, con
người luôn sống trong tình trạng mềm yếu, hoảng sợ, vì vậy họ không thể sống riêng biệt
mà phải dựa vào nhau, sống thành bầy đàn để có đủ sức mạnh chống chọi với thiên nhiên và
sự tấn công của thú dữ từ đó hình thành nên thị tộc. Sự xuất hiện của thị tộc là kết quả của
quá trình tiến hóa lâu dài và nó là bước tiến trong lịch sử phát triển nhân loại, đặt nền móng
cho việc hình thành hình thái kinh tế xã hội cộng sản nguyên thủy. Thị tộc đơn thuần là một
cộng đồng lao động và sản xuất, được tổ chức theo quan hệ huyết thống (lúc đầu là chế độ
mâu thuẫn, sau chuyển sang chế độ phụ hệ). Công cụ điều chỉnh giữa quan hệ các thành
viên trong thị tộc là những quy tắc trong xã hội mà chủ yếu là tập quán và tín điều tôn giáo.
Các quy tắc xã hội trên thể hiện ý chung của các thành viên trong thị tộc, được thực hiện
trên cơ sở thói quen và niềm tự nhiên, đôi lúc bằng cả những biện pháp cưỡng chế do cộng
đồng đặt ra và cùng thực hiện. Trong thị tộc, tư liệu sản xuất và sản phẩm lao động thuộc sở
hữu chung, mọi người đều tự do, bình đẳng, không ai có quyền đặc lợi. Điều chỉnh quan hệ
hôn nhân giữa các thành viên trong thị tộc là tập quan quần hầu. Thị tộc đã có sự phân công
lao động, nhưng là sự phân công lao động tự nhiên giữa đàn ông - đàn bà, giữa người già -
người trẻ để thực hiện các loại công việc khác nhau mà chưa mang tính xã hội.
4
Với tổ chức đơn giản và quyền lực xã hội như vậy là biểu hiện rõ nét nhất của chế độ
tự quản nguyên thủy hay nền dân chủ nguyên thủy và nó phù hợp với một xã hội mà ở đó
chưa có sự xuất hiện của chế độ tư hữu, chưa có sự phân hóa giàu nghèo, sự phân hóa giai
cấp. Lúc đó “ không có một hạng người riêng biệt, hạng người chuyên môn để thống trị”.
2. Sự tan rã của chế độ cộng sản nguyên thủy và sự xuất hiện nhà nước Lịch sử phát

