LUẬN VĂN:
Hoàn thiện kế toán tập hợp chi phí và tính
giá thành sản phẩm trong các doanh
nghiệp xây lắp
Lời nói đầu
Thực hiện đường lối mà Đảng ta đã đề ra từ sau Đại hội Đảng lần thứ VI,
nền kinh tế nước ta đã có những chuyển biến lớn, từ một nền kinh tế tập trung quan
liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước, từ đó hoà
nhập nền kinh tế nước ta với kinh tế thế giới. Cùng với sự thay da đổi thịt của đất
nước, ngành xây dựng cơ bản đã không ngừng phát triển và lớn mạnh. Một yêu cầu
đặt ra của Đảng ta đối với ngành Xây dựng cơ bản là "Tiền ít mà làm được nhiều
việc". Để đạt được yêu cầu đó, vấn đề đặt ra là làm sao để quản lý vốn một cách có
hiệu quả nhất, khắc phục tình trạng lãng phí, thất thoát vốn trong điều kiện sản xuất
kinh doanh xây lắp phải trải qua nhiều khâu như thiết kế, lập dự toán, thi công,
nghiệm thu. Chính vì vậy việc hạch toán chi phí sản xuất (CPSX) và tính giá thành
sản phẩm là một phần việc cơ bản của công tác hạch toán kế toán, có ý nghĩa quan
trọng đối với các công ty xây lắp nói riêng và nền kinh tế nói chung.
Trong điều kiện kinh tế xã hội hiện nay, chúng ta cần phải tăng cường công
tác thẩm tra dự toán, kiểm tra trong xây dựng cơ bản trước khi thanh quyết toán
công trình, kiên quyết loại bỏ các khoản chi phí không hợp lý nhằm tiết kiệm mọi
khoản chi phí trong quá trình thi công, có như vậy doanh nghiệp xây dựng mới hạ
được giá thành công trình, tăng được lợi nhuận.
Việc thực hiện tốt công tác hạch toán CPSX và tính giá thành sản phẩm là cơ
sở để giám đốc các hoạt động, từ đó khắc phục những sai sót, phát huy những tiềm
năng đảm bảo cho công ty tồn tại và phát triển trong cơ chế hạch toán kinh doanh
của nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay. Còn đối với nhà nước, công tác hạch
toán CPSX và tính giá thành sản phẩm ở các công ty xây lắp là cơ sở để nhà nước
kiểm soát vốn đầu tư xây dựng cơ bản và giám sát việc thực hiện nộp các khoản
thuế của công ty vào ngân sách nhà nước.
Để thực hiện được điều trên đòi hỏi công tác hạch toán chi phí sản xuất và
tính giá thành sản phẩm ngày càng được hoàn thiện và nâng cao.
Xuất phát từ những vấn đề trên và với mong muốn nghiên cứu tình hình thực
tế công tác tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm hiện nay trong các doanh
nghiệp xây lắp, tôi mạnh dạn đi vào nghiên cứu đề tài: "Hoàn thiện kế toán tập
hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp xây lắp" trên
cơ sở thực tế tại Công ty xây dựng công trình giao thông 810 thuộc Tổng công ty
công trình giao thông 8- Bộ giao thông vận tải.
Mục tiêu của chuyên đề là vận dụng lý luận về hạch toán CPSX và tính giá
thành sản phẩm để nghiên cứu phân tích thực tiễn công tác hạch toán kế toán ở
Công ty công trình giao thông 810, từ đó rút ra những tồn tại trong công tác hạch
toán CPSX tại cơ sở, nhằm tìm ra phương hướng hoàn thiện công tác hạch toán kế
toán ở đơn vị.
Chuyên đề nghiên cứu gồm 3 chương.
Chương I: Những lý luận chung về kế toán tập hợp chi phí sản xuất, tính giá thành
sản phẩm tại các công ty xây lắp trong điều kiện hiện nay.
ChươngII: Thực trạng công tác kế toán hạch toán chi phí và tính giá thành sản
phẩm xây lắp tại Công ty công trình giao thông 810.
Chương III: Các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác hạch toán chi phí và tính giá
thành sản phẩm tại công ty Công trình giao thông 810.
Trong quá trình nghiên cứu về lý luận và thực tiễn ở công ty để hoàn thành
chuyên đề, em đã nhận được sự giúp đỡ tận tâm, nhiệt tình của cô giáo Nguyễn Quý
và các cô chú, anh chị trong phòng Tài chính kế toán và các phòng ban khác trong
Công ty. Cùng với sự nỗ lực của bản thân, nhưng do nhận thức và trình độ còn hạn
chế, đặc biệt là các vấn đề trong thực tế phát sinh, hơn nữa thời gian thực tế chưa
nhiều nên chuyên đề tốt nghiệp của em không tránh khỏi những thiếu sót và hạn
chế. Em rất mong nhận được sự chỉ bảo, góp ý của các thầy cô giáo để em có điều
kiện bổ xung nâng cao kiến thức cho mình nhằm phục vụ tốt hơn công tác thực tế
sau này.
Cuối cùng em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới cô giáo Nguyễn Quý,
các cô chú, các anh chị trong phòng Tài chính kế toán và các phòng ban khác trong
công ty đã giúp em hoàn thành chuyên đề tốt nghiệp này.
Chương I
những vấn đề chung về kế toán tập hợp chi phí sản xuất, tính giá thành sản phẩm tại
các doanh nghiệp xây lắp trong điều kiện hiện nay
I. Đặc điểm của sản xuất xây lắp ảnh hưởng đến công tác kế toán tập hợp chi
phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp
Xây dựng cơ bản là một ngành sản xuất mang tính chất công nghiệp. So
với các ngành khác, xây dựng cơ bản có những đặc điểm kỹ thuật đặc trưng, được
thể hiện rất rõ ở sản phẩm xây lắp và quá trình sáng tạo ra sản phẩm của ngành.
Sản phẩm của ngành xây dựng cơ bản đảm bảo việc mở rộng và tái sản xuất
tài sản cố định cho nền kinh tế quốc dân thông qua các hình thức như : Xây dựng
mới, xây dựng lại khôi phục và sửa chữa các công trình dân dụng như đường xá,
cầu cống, bến cảng, sân bay, nhà ga, trường học, bệnh viện...
Đặc điểm của ngành xây lắp là sản phẩm có qui mô lớn, kết cấu phức tạp,
thời gian sử dụng lâu dài, giá trị lớn... Sản phẩm xây lắp rất đa dạng nhưng lại mang
tính đơn chiếc, mỗi công trình được xây lắp theo một thiết kế kỹ thuật riêng, có giá
trị dự toán riêng và tại một địa điểm cố định .
Quá trình từ khởi công xây lắp cho đến khi công trình hoàn thành bàn giao
đưa vào sử dụng thường là rất dài; nó phụ thuộc vào qui mô và tính chất phức tạp
của công trình. Quá trình thi công được chia thành nhiều giai đoạn: chuẩn bị điều
kiện thi công, thi công xây dựng, lắp đặt kết cấu và các thiết bị kỹ thuật phục vụ cho
đối tượng đầu tư, hoàn thiện công trình ...
Mỗi gian đoạn thi công lại bao gồm nhiều công việc khác nhau, khối lượng
công việc thi công chủ yếu được tiến hành ở ngoài trời nên chịu ảnh hưởng lớn của
các điều kiện thiên nhiên như: mưa, gió, bão, lụt. Quá trình và điều kiện sản xuất
trong thi công không ổn định, có tính lưu động cao, luôn biến động theo địa điểm
xây lắp và theo từng gian đoạn thi công của từng công trình.
Những đặc điểm trên làm cho việc tổ chức, quản lý và hạch toán trong xây
dựng cơ bản khác với quá trình này ở các ngành kinh tế khác. Cụ thể là mỗi công
trình đều được tiến hành thi công theo đơn đặt hàng riêng, phụ thuộc vào yêu cầu
của khách hàng và thiết kế kỹ thuật của công trình đó. Sản phẩm xây lắp phải lập dự
toán, quá trình sản xuất phải so sánh với dự toán, lấy dự toán làm thước đo. Khi
thực hiện các đơn đặt hàng của khách hàng đơn vị xây lắp phải đảm bảo bàn giao
đúng tiến độ, đúng thiết kế kỹ thuật, đảm bảo chất lượng công trình.
II. chi phí sản xuất và phân loại chi phí sản xuất
1. Chi phí sản xuất
Quá trình sản xuất kinh doanh của công ty xây dựng là quá trình biến đổi
một cách có ý thức, có mục đích của các yếu tố đầu vào, sản xuất tạo thành các
công trình, hạng mục công trình nhất định.
Các yếu tố về tư liệu sản xuất, đối tượng lao động (biểu hiện cụ thể là các
hao phí về lao động vật hoá) dưới sự tác động có mục đích của sức lao động (biểu
hiện là hao phí về lao động sống) qua quá trình biến đổi sẽ trở thành các sản phẩm.
Để đo lường các hao phí mà doanh nghiệp đã bỏ ra trong từng thời kỳ hoạt động là
bao nhiêu nhằm tổng hợp, xác định kết quả đầu ra, phục vụ yêu cầu quản lý thì mọi
hao phí cuối cùng đều được biểu hiện bằng thước đo tiền tệ và được gọi là CPSX
kinh doanh.
Quá trình sử dụng các yếu tố cơ bản trong sản xuất đồng thời là quá trình
doanh nghiệp phải chi những chi phí sản xuất tương ứng; tương ứng với việc sử
dụng TSCĐ là chi phí khấu hao TSCĐ; tương ứng với việc sử dụng nguyên, nhiên
vật liệu là những chi phí về nguyên, nhiên, vật liệu; tương ứng với việc sử dụng lao
động là tiền lương, các khoản trích theo lương (BHXH, BHYT, KPCĐ).
Như vậy, CPSX trong công ty xây lắp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ hao
phí về lao động sống, lao động vật hoá và các chi phí khác mà công ty đã bỏ ra để
tiến hành hoạt động sản xuất thi công trong một thời kỳ nhất định.
Về mặt lượng chi phí sản xuất phụ thuộc vào 2 yếu tố :
- Khối lượng lao động và tư liệu sản xuất đã bỏ ra trong từng thời kỳ nhất
định.
- Tiền lương của một đơn vị lao động đã hao phí và giá cả tư liệu sản xuất đã
tiêu hao trong quá trình sản xuất.
Trong nền kinh tế thị trường với điều kiện giá cả thường xuyên biến động,
muốn lập dự toán chi phí sản xuất không bị lạc hậu thì việc đánh giá chính xác chi
phí sản xuất là tất yếu khách quan, hơn nữa việc xác định chi phí sản xuất phù hợp
với giá thành thực tế sẽ giúp cho công ty bảo toàn vốn theo yêu cầu của chế độ quản
lý kinh tế hiện nay.
2. Phân loại chi phí sản xuất
Đối với một công ty xây lắp, chi phí sản xuất bao gồm nhiều loại và có nội
dung kinh tế khác nhau, mục đích và công dụng của chúng trong quá trình sản xuất
thi công cũng khác nhau, yêu cầu quản lý đối với từng loại chi phí cũng khác nhau.
Việc quản lý sản xuất, tài chính, quản lý chi phí sản xuất không chỉ dựa vào số liệu
phản ánh tổng hợp chi phí sản xuất mà còn phải căn cứ vào số liệu cụ thể của từng
loại chi phí riêng biệt, để phục vụ cho yêu cầu kiểm tra và phân tích toàn bộ chi phí
sản xuất hoặc từng yếu tố chi phí ban đầu của chúng theo từng công trình, hạng mục
công trình, theo từng nơi phát sinh chi phí và từng nơi chịu chi phí.
Phân loại chi phí một cách hợp lý, khoa học không những có ý nghĩa quan
trọng đối với công tác kế toán chi phí sản xuất, mà còn là cơ sở của kế hoạch hoá,
kiểm tra và phân tích chi phí sản xuất của toàn công ty, thúc đẩy việc tiết kiệm hợp
lý chi phí sản xuất, phát huy hơn nữa vai trò của kế toán đối với sự phát triển của
công ty.
Tùy theo yêu cầu quản lý, đối tượng cung cấp thông tin mà chi phí sản xuất
được phân loại theo các cách sau :
2.1 Phân loại chi phí sản xuất theo nội dung, tính chất kinh tế của chi phí
Theo cách phân loại này, người ta dựa vào nội dung kinh tế và hình thái
nguyên thuỷ để sắp xếp chúng vào mục đích và đặc điểm chịu phí. Các yếu tố chi
phí sản xuất được qui định thống nhất riêng cho mỗi ngành kinh tế, và được chia
thành các yếu tố chi phí cơ bản sau:
- Chi phí nguyên liệu, vật liệu bao gồm toàn bộ chi phí về các loại nguyên
vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu, phụ tùng thay thế... mà công ty đã
dùng để sản xuất trong kỳ (loại trừ giá trị dùng không hết nhập lại kho và
phế liệu thu hồi cùng với nhiên liệu, động lực).
- Chi phí nhân công bao gồm toàn bộ số tiền công phải trả, các khoản trích
theo lương (BHXH, BHYT, KPCĐ) của cán bộ công nhân viên tham gia
hoạt động sản xuất trong công ty.
- Chi phí khấu hao TSCĐ phản ánh tổng số khấu hao TSCĐ phải trích
trong kỳ của tất cả TSCĐ sử dụng cho sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp.
- Chi phí dịch vụ mua ngoài bao gồm toàn bộ số tiền công ty phải bỏ ra để
chi trả cho khối lượng lao vụ, dịch vụ mua và thuê ngoài như tiền điện,
tiền nước.
- Chi phí khác bằng tiền là toàn bộ số chi phí phát sinh trong quá trình hoạt
động sản xuất kinh doanh ngoài 4 yếu tố chi phí đã nêu trên.
Phân loại chi phí sản xuất theo nội dung, tính chất kinh tế của chi phí có tác
dụng rất lớn trong quản lý chi phí sản xuất, nó cho biết kết cấu, tỷ trọng của từng
yếu tố chi phí sản xuất để phân tích, đánh giá tình hình thực hiện dự toán chi phí sản
xuất, lập báo cáo chi phí sản xuất theo yếu tố chi phí ở bảng thuyết minh báo cáo tài
chính, cung cấp tài liệu tham khảo để lập dự toán chi phí sản xuất, lập kế hoạch
cung ứng vật tư, kế hoạch quỹ lương, tính toán nhu cầu vốn lưu động cho kỳ sau.
2.2 Phân loại chi phí theo mục đích và công dụng của chi phí
Hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị
trường bao gồm nhiều lĩnh vực hoạt động khác nhau. Do vậy căn cứ vào mục đích,
công dụng của từng chi phí trong quá trình sản xuất kinh doanh, toàn bộ chi phí sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp được chia thành :
- Chi phí chế tạo sẩn phẩm là toàn bộ chi phí liên quan đến việc quản lý
phục vụ sản xuất trong phạm vi các phân xưởng, tổ đội sản xuất bao gồm
chi phí vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất
chung.
- Chi phí bán hàng là toàn bộ chi phí liên quan đến việc tiêu thụ, bán sản
phẩm hàng hoá. Các chi phí này phát sinh ngoài quá trình sản xuất nên
còn được gọi là chi phí ngoài sản xuất.
- Chi phí quản lý doanh nghiệp là toàn bộ chi phí phục vụ và quản lý chung
các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp như chi phí quản lý
kinh doanh, quản lý hành chính và những chi phí quản lý khác.
- Chi phí hoạt động khác là toàn bộ chi phí phát sinh trong quá trình tiến
hành các hoạt động khác ngoài hoạt động sản xuất kinh doanh cơ bản của
doanh nghiệp bao gồm chi phí hoạt động tài chính và chi phí hoạt động
bất thường.
Hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tập trung
vào 4 nội dung cụ thể của chi phí sản xuất. Trong công ty xây lắp,
nội dung cụ thể của từng chi phí đó như sau:
+ Chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp: Là toàn bộ những chi phí đã tính
đến hiện trường xây lắp của các nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, vật kết cấu,
vật liệu luân chuyển (ván, khuôn, đà giáo...), bán thành phẩm cần thiết để tạo nên
sản phẩm xây lắp. Chi phí vật liệu trực tiếp không bao gồm chi phí vật liệu đã xuất
dùng cho sản xuất chung.
+ Chi phí nhân công trực tiếp: Bao gồm tiền lương cơ bản, các khoản phụ
cấp lương, lương phụ có tính chất ổn định của công nhân sản xuất trực tiếp cần
thiết cho việc hoàn thành sản phẩm xây lắp.
+ Chi phí sản xuất chung: Là những chi phí phục vụ cho quản lý sản xuất
kinh doanh phát sinh trong quá trình sản xuất, chế tạo sản phẩm hoặc thực hiện các
loại lao vụ, dịch vụ ở các tổ đội sản xuất. Các khoản trích BHXH, BHYT, KPCĐ
tính trên tổng số tiền lương phải trả cho toàn bộ công nhân viên chức từng bộ phận,
từng đội và toàn bộ tiền ăn ca của đội, bộ phận.
Do đặc thù là ngành xây dựng cơ bản nên ngoài các khoản mục chi phí trên ở
các công ty xây lắp còn có thêm khoản mục chi phí máy thi công. (Theo quyết định
số 1864-1998/BTC ngày 16/12/1998).
+ Chi phí máy thi công: Là các khoản chi phí cho việc sử dụng xe, máy thi
công để hoàn thành sản phẩm xây lắp, gồm chi phí khấu hao máy thi công, chi phí
thường xuyên máy thi công, động lực, tiền lương của công nhân điều khiển máy và
chi phí khác của máy thi công.
Phân loại chi phí theo mục đích và công dụng kinh tế có tác dụng phục vụ
cho yêu cầu quản lý chi phí sản xuất theo định mức, cung cấp số liệu cho công tác tính
giá thành sản phẩm, phân tích tình hình thực hiện kế hoạch giá thành, làm tài liệu tham
khảo để thành lập định mức chi phí sản xuất và lập kế hoạch giá thành sản phẩm cho kỳ
sau.
Ngoài 2 cách phân loại chủ yếu trên, chi phí sản xuất còn được phân loại
theo những tiêu thức khác như :
+ Phân loại chi phí theo mối quan hệ với qui mô sản xuất, khối lượng sản
phẩm của công việc trong kỳ. Theo cách phân loại này thì chi phí sản xuất được
chia làm 2 loại: chi phí khả biến và chi phí bất biến .
- Chi phí khả biến là những chi phí thay đổi về tổng số, về tỷ lệ so với khối
lượng công việc hoàn thành, chẳng hạn như chi phí nguyên vật liệu, chi
phí nhân công trực tiếp. Cần lưu ý rằng, các chi phí biến đổi nếu tính trên
một đơn vị sản phẩm thì lại có tính cố định.
- Chi phí bất biến là những chi phí không đổi về tổng số so với khối lượng
công việc hoàn thành, chẳng hạn các chi phí về khấu hao TSCĐ, chi phí
thuê mặt bằng, phương tiện kinh doanh. Các chi phí này nếu tính cho một
đơn vị sản phẩm thì lại biến đổi nếu số lượng sản phẩm thay đổi.
Cách phân loại này có tác dụng lớn đối với các nhà quản trị, phân tích điểm
hoà vốn và phục vụ cho việc ra quyết định quản lý cần thiết để hạ giá thành sản
phẩm, tăng hiệu quả kinh doanh.
+ Nếu phân loại chi phí sản xuất theo phương pháp tập hợp chi phí sản xuất
và mối quan hệ với đối tượng chứa chi phí thì chi phí sản xuất bao gồm chi phí trực
tiếp và chi phí gián tiếp. Cách phân loại này có ý nghĩa đối với vệc xác định phương
pháp kế toán tập hợp và phân bổ chi phí cho các đối tượng một cách đúng đắn, hợp
lý.
+ Khi phân loại chi phí theo nội dung cấu thành, chi phí sản xuất được chia
làm 2 loại: chi phí đơn nhất và chi phí tổng hợp. ý nghĩa của cách phân loại này là
giúp cho việc nhận thức vị trí của từng loại chi phí trong việc hình thành sản phẩm
để tổ chức công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất thích hợp với từng loại.
Mỗi cách phân loại chi phí sản xuất có ý nghĩa riêng phục vụ cho từng yêu
cầu quản lý và từng đối tượng cung cấp thông tin cụ thể nhưng chúng luôn bổ xung
cho nhau nhằm quản lý có hiệu quả nhất về toàn bộ chi phí sản xuất trong phạm vi
doanh nghiệp ở từng thời kỳ nhất định .
III. Giá thành sản phẩm và phân loại giá thành sản phẩm
1 Giá thành sản phẩm xây lắp
Trong cơ chế thị trường hiện nay, các doanh nghiệp muốn đứng vững trong
cạnh tranh và muốn có điều kiện để phát triển sản xuất đều phải quan tâm tới giá
thành và chất lượng sản phẩm dể làm sao cho chất lượng sản phẩm tốt, giá thành
sản phẩm hạ. Trong các công ty xây lắp, giá thành dự toán chính là giá tiêu thụ sản
phẩm. Vì vậy, bằng mọi cách công ty phải cố gắng hạ giá thành thực tế để tăng lợi
nhuận.
Giá thành sản phẩm xây lắp là biểu hiện bằng tiền toàn bộ hao phí và lao
động vật hoá phát sinh trong quá trình sản xuất có liên quan tới khối lượng xây lắp
đã hoàn thành. Sản phẩm xây lắp có thể là kết cấu công việc hoặc giai đoạn công
việc có thiết kế và tính dự toán riêng, có thể là công trình, hạng mục công trình
hoàn thành toàn bộ. Giá thành công trình, hạng mục công trình hoàn thành toàn bộ
là giá thành sản phẩm cuối cùng của sản xuất xây lắp.
Giá thành của sản phẩm là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh chất lượng hoạt
động sản xuất, kết quả sử dụng vật tư, tài sản, tiền vốn trong quá trình sản xuất,
cũng như các giải pháp kinh tế kỹ thuật mà doanh nghiệp đã thực hiện nhằm đạt
được mục đích sản xuất khối lượng sản phẩm nhiều nhất với chi phí sản xuất tiết
kiệm và giá thành hạ.
2. Phân loại giá thành sản phẩm xây lắp
Cũng như chi phí sản xuất, để nâng cao chất lượng quản lý giá thành và tổ
chức công tác tính giá thành sản phẩm một cách chính xác, nhanh chóng, kịp thời,
trong lý luận cũng như trong thực tiễn, người ta phân loại giá thành theo nhiều tiêu
thức khác nhau. Tùy thuộc vào yêu cầu quản lý và tiêu thức sử dụng, ta có các loại
giá thành tương ứng. Nếu dựa vào thời điểm và nguồn số liệu tính giá thành, chỉ
tiêu giá thành trong xây lắp được phân ra thành 3 loại.
2.1. Giá thành dự toán (giá thành định mức)
Giá thành dự toán là tổng số các chi phí dự toán để hoàn thành khối lượng
xây lắp công trình. Nó được xác định trên cơ sở định mức qui định của nhà nước
với khung giá được qui định áp dụng cho từng vùng lãnh thổ. Giá thành dự toán nhỏ
hơn giá trị dự toán ở phần lãi định mức.
Giá thành dự toán = Giá tri dự toán - Phần lãi định mức
Giá trị dự toán: là chi phí cho công tác xây dựng, lắp ráp các kết cấu kiến
trúc, lắp đặt máy móc thiết bị... bao gồm chi phí trực tiếp, chi phí chung và lãi định
mức. Lãi định mức là chỉ tiêu Nhà nước qui định để tích luỹ cho xã hội do ngành
xây dựng sáng tạo ra.
2.2. Giá thành kế hoạch
Giá thành kế hoạch là loại giá thành được xuất phát từ những điều kiện cụ
thể ở một công ty xây lắp nhất định trên cơ sở các biện pháp thi công, các định mức
và đơn giá áp dụng trong nội bộ doanh nghiệp. Giá thành kế hoạch được lập trước
khi tiến hành thi công.
Giá thành kế hoạch = Giá thành dự toán - Mức hạ giá thành dự toán
Giá thành kế hoạch cho phép ta thấy được chính xác những chi phí phát sinh
trong giai đoạn kế hoạch cũng như hiệu quả của các biện pháp kỹ thuật làm hạ giá
thành dự toán. Giá thành kế hoạch được xem là mục tiêu phấn đấu của toàn doanh
nghiệp để tiết kiệm chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm, tăng thu nhập cho
doanh nghiệp. Nó còn được coi là gốc so sánh với thực tế để tính mức độ hoành
thành giá thành kế hoạch, tìm nguyên nhân chủ quan, khách quan tác động đến việc
thực hiện giá thành và kế hoạch hạ giá thành.
2.3. Giá thành thực tế
Giá thành thực tế phản ánh toàn bộ các chi phhí thực tế để hoàn thành và bàn
giao khối lượng xây lắp mà công ty đã nhận thầu. Giá thành này bao gồm tất cả các
chi phí theo định mức, vượt định mức như: các khoản thiệt hại trong sản xuất, các
khoản bội chi lãng phí về vật tư, nhân công, tiền vốn trong quá trình sản xuất và
quản lý của doanh nghiệp được phép tính vào giá thành.
Giá thành thực tế được xác định theo số liệu kế toán tập hợp được. Giá thành
thực tế phải nhỏ hơn giá thành kế hoạch để có mức tiết kiệm hạ giá thành kế hoạch
công trình, hạng mục công trình.
Do thi công xây lắp là quá trình sản xuất có chu kỳ dài, khối lượng sản
phẩm xây lắp lớn nên giá thành thực tế xây lắp công trình được nghiên cứu theo hai
chỉ tiêu :
+ Giá thành sản xuất là giá thành của sản phẩm xây lắp, nó chỉ bao gồm
những chi phí phát sinh liên quan đến việc xây dựng hay lắp đặt sản phẩm xây lắp
(chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất
chung, chi phí sử dụng máy thi công).
+ Giá thành toàn bộ là giá thành toàn bộ sản phẩm xây lắp bao gồm giá
thành sản xuất sản phẩm xây lắp cộng với các chi phí bán hàng, chi phí quản lý
doanh nghiệp phân bổ cho sản phẩm xây lắp.
IV. Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất và đối tượng tính giá thành sản
phẩm
1 Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất
Xác định tập hợp chi phí sản xuất là khâu đầu tiên cần thiết của kế toán
tập hợp chi phí sản xuất. Có xác định đối tượng tập hợp chi phí sản xuất đúng
đắn, phù hợp với đặc điểm tình hình sản xuất, yêu cầu quản lý của doanh nghiệp
thì mới tổ chức đúng công tác tập hợp chi phí sản xuất từ khâu hạch toán ban
đầu, tổng hợp số liệu, tổ chức tài khoản, tiểu khoản, sổ chi tiết theo đúng đối
tượng tập hợp chi phí sản xuất đã xác định.
Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất là các loại chi phí được tập hợp trong một
giới hạn nhất định nhằm phục vụ cho việc kiểm tra, phân tích chi phí và tính giá
thành sản phẩm.
Hoạt động sản xuất của doanh nghiệp có thể tiến hành ở nhiều nơi, nhiều
phân xưởng, nhiều tổ đội và ở từng địa điểm khác nhau lại có thể sản xuất và chế
biến nhiều sản phẩm khác nhau, công việc lao vụ khác nhau. Do đó, chi phí sản xuất
của doanh nghiệp cũng phát sinh ở nhiều địa điểm, nhiều bộ phận khác nhau. Việc
xác định đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất là khâu đầu tiên cần thiết của
công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất. Thực chất của việc xác định đối tượng tập
hợp chi phí là xác định nơi phát sinh chi phí và đối tượng chịu chi phí.
Do đặc diểm của ngành XDCB là sản phẩm đơn chiếc, thời gian xây dựng
lâu dài, mỗi công trình, hạng mục công trình đều có dự toán thiết kế riêng, có đặc
điểm riêng. Vì vậy, đối tượng tập hợp chi phí thường là các hạng mục công trình
xây lắp, các giai đoạn công việc của hạng mục công trình hoặc nhóm hạng mục
công trình cùng loại theo đơn đặt hàng. Trong công ty xây lắp, căn cứ vào đối tượng
tập hợp chi phí, vào điều kiện bảo quản vật tư lao động, trình độ quản lý và hạch
toán của đơn vị để áp dụng phương pháp hạch toán chi phí thích hợp .
2.Đối tượng tính giá thành
Xác định đối tượng tính giá thành là công việc đầu tiên của toàn bộ công tác
tính giá thành trong đơn vị xây lắp và nó có ý nghĩa quan trọng trong việc tính toán
chính xác giá thành sản phẩm xây lắp.
Đối tượng tính giá thành là loại sản phẩm, công việc, lao vụ, do doanh
nghiệp sản xuất ra cần phải tính được tổng giá thành và giá thành đơn vị.
Xuất phát từ đặc điểm của xây dựng cơ bản là sản phẩm mang tính đơn
chiếc, mỗi sản phẩm đều có dự toán riêng và yêu cầu phải quản lý chi phí theo dự
toán. Do vậy, đối tượng tính giá thành trong xây dựng cơ bản là các công trình,
hạng mục công trình đã hoàn thành, các khối lượng xây lắp có dự toán riêng đã
hoàn thành.
Đối tượng tính giá thành có nội dung khác đối tượng kế toán tập hợp chi phí
sản xuất. Xác định đối tượng tính giá thành là căn cứ để kế toán giá thành tổ chức
các bảng tính giá thành - phương pháp tính giá thành thích hợp để phục vụ cho việc
quản lý, kiểm tra tình thực hiện giá thành và tính toán hiệu quả kinh doanh của
doanh nghiệp.
V. Phương pháp tập hợp chi phí sản xuất
1- Phương pháp kế toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp .
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp được phản ánh vào TK 621"Chi phí nguyên
vật liệu trực tiếp". Tài khoản này dùng để phản ánh các chi phí nguyên vật liệu phát
sinh liên quan trực tiếp đến việc xây dựng hay lắp đặt các công trình. TK 621 được
mở chi tiết theo từng công trình xây dựng, lắp đặt (công trình, hạng mục công trình,
các giai đoạn công việc, khối lượng xây lắp có dự doán riêng). Các thiết bị đưa vào
lắp đặt do chủ đầu tư bàn giao không phản ánh ở tài khoản này mà phản ở TK 002
"Vật tư,hàng hoá giữ hộ , gia công". TK 621 có kết cấu phản ánh tương tự các
doanh nghiệp sản xuất kinh doanh khác.
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp chiếm tỷ trọng lớn nhất trong chi phí sản
xuất xây lắp, vật liệu là một trong ba yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất, là cơ sở
vật chất để hình thành nên sản phẩm mới. Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp bao gồm
giá trị thực tế của vật liệu chính, vật liệu phụ, các cấu kiện, các bộ phận rời lẻ, (trừ
vật liệu dùng cho máy thi công) dùng cho việc xây dựng và lắp đặt công trình như:
Gạch, đá, cát, sỏi, xi măng, nhựa đường. Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp trong sản
xuất không bao gồm giá trị vật liệu xuất dùng cho quản lý hành chính, vật liệu cho
chi phí tạm như chi phí xây dựng lán trại và giá trị máy móc thiết bị nhận để lắp đặt
Sơ đồ kế toán chi phí NVL trực tiếp
TK 152 TK 621 TK 152
Trị giá NVL Trị giá NVL chưa
Cho TT sx sử dụng
TK 111-112 TK 164
Trị giá NVL Trị giá NVL
Mua ngoài sử dụng TTSX
TK 331
Dùng TTSX
2. Phương pháp kế toán chi phí nhân công trực tiếp.
Chi phí nhân công trực tiếp được phản ánh vào TK 622- "Chi phí nhân công
trực tiếp". Phản ánh các khoản thù lao lao động phải trả cho công nhân trực tiếp xây
lắp các công trình, công nhân phục vụ thi công (kể cả công vận chuyển, bốc dỡ vật
tư trong phạm vi mặt bằng thi công xây lắp và công nhân chuẩn bị cho thi công và
thu dọn hiện trường không phân biệt công nhân trong danh sách hay thuê ngoài).
Khi hạch toán ,TK 622 cũng được mở chi tiết theo từng công trình, hạng mục công
trình, giai đoạn công việc. Kết cấu của TK 622 cũng có kết cấu giống các doanh
nghiệp kinh doanh khác. Tuy nhiên cần chú ý rằng, các khoản trích KPCĐ, BHXH,
BHYT, tính theo tiền lương phải trả công nhân trực tiếp xây lắp và tiền ăn ca của
công nhân xây lắp không hạch toán vào TK 622 mà hạch toán ở TK 627 "Chi phí
sản xuất chung".
Chi phí nhân công bao gồm : Tiền lương phải trả theo thời gian, trả theo
sản phẩm, trả làm thêm giờ. Chi phí nhân công trực tiếp không bao gồm tiền
lương của công nhân xây lắp, vận chuyển vật liệu ngoài cự ly thi công. Chi phí
nhân công trực tiếp được tính vào giá thành từng công trình, hạng mục công
trình hay từng công việc xây lắp.
Sơ đồ kế toán chi phí nhân công trực tiếp
TK 334 TK 622 TK 154
Lương và các khoản p/trả K/c chi phí NCTT
Cho CNTT SX cho các đối tượng chịuCP
TK 335
Trích trước TL của
CN SX
TK 338
Trích BHXH, BHYT, KPCĐ
Theo lương của NCTT SX
3.Phương pháp kế toán chi phí sử dụng máy thi công
Máy móc thi công là các loại xe máy có động cơ được sử dụng trực tiếp để
thi công xây lắp các công trình xây dựng như : máy trộn bê tông, hồ vữa, máy đào
đất, xúc đất, máy đóng cọc, ô tô vận chuyển đất đá trong công trường... Các loại
phương tiện máy thi công này doanh nghiệp xây lắp có thể thuê ở bên ngoài hoặc tự
trang bị để khai thác sử dụng lâu dài trong quá trình sản xuất thi công.
Chi phí sử dụng máy thi công được phản ánh vào TK 623 "Chi phí sử dụng
máy thi công". Tài khoản này dùng để tập hợp và phân bổ chi phí sử dụng xe, máy
thi công phục vụ trực tiếp xây, lắp công trình theo phương thức thi công hỗn hợp
vừa thủ công vừa kết hợp bằng máy. Mặt khác, các khoản trích KPCĐ, BHXH,
BHYT, tính theo tiền lương phải trả công nhân sử dụng máy thi công và tiền ăn ca
cũng không hạch toán vào tài khoản này mà phản ánh ở TK 627 "Chi phí sản xuất
chung" .Kết cấu của tài khoản này được phản ánh như sau:
Bên nợ: Tập hợp chi phí sử dụng máy thi công thực tế phát sinh.
Bên có : Kết chuyển hoặc phân bổ chi phí sử dụng máy thi công cho các
công trình, hạng mục công trình .
TK623 cuối kỳ không có số dư và được chi tiết làm 6 tiểu khoản .
+TK6231:"chi phí nhân công" +TK6234:"CF khấu hao máy thi công"
+TK6232:"chí phí vật liệu " +TK6237:"chi phí dịch vụ mua ngoài"
+ TK 6233:"chi phí DCSX " +TK 6238:"chi phí bằng tiền khác"
Sơ đồ kế toán chi phí sử dụng máy thi công
TK 111,334 TK 623 TK
154
TL, tiền công phải trả Chi phí sử dụng máy thi công
cho NV điều khiển máy tính cho từng công trình
133
152, 153, 141, 111...
Khi xuất mua VLP
cho máy thi công
214
CP khấu hao
Máy thi công
111, 112, 331
CP dịch vụ mua ngoài
CP bằng tiền khác
113
4.Phương pháp kế toán chi phí sản xuất chung
Chi phí sản xuất chung được phản ánh vào TK 627 "Chi phí sản xuất chung".
Tài khoản này dùng để phản ánh những chi phí phục vụ xây lắp tại các đội và các
bộ phận sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp xây lắp. Đây là những chi phí phát
sinh trong từng bộ phận , từng đội xây lắp, ngoài chi phí vật liệu, chi phí nhân công
trực tiếp (kể cả những khoản trích cho các quỹ KPCĐ, BHXH, BHYT trên tiền
lương phải trả cho cán bộ công nhân viên chức từng bộ phận, từng đội xây lắp và
toàn bộ tiền ăn ca của đội, bộ phận).
TK 627 được mở chi tiết cho từng bộ phận xây lắp (xí nghiệp trực thuộc, đội
xây lắp...). TK 627 chi tiết thành 6 tiểu khoản và có kết cấu giống như các doanh
nghiệp sản xuất kinh doanh khác.
Chi phí sản xuất chung của doanh nghiệp xây lắp bao gồm : Tiền lương của
công nhân quản lý đội, các khoản BHXH, BHYT, KPCĐ, trích theo tỷ lệ qui định
trên tổng số tiền lương phải trả cho công nhân xây lắp và nhân viên quản lý đội, chi
phí khấu hao TSCĐ dùng trong phạm vi đội, chi phí dịch vụ mua ngoài (điện, nước
, điện thoại,...) và các chi phí bằng tiền khác phát sinh trong phạm vi đội .
Khoản mục chi phí sản xuất chung thường được hạch toán riêng theo từng
địa điểm phát sinh ( tổ, đội ) , sau đó tiến hành phân bổ cho từng đối tượng chịu chi
phí liên quan. Khoản chi phí sản xuất chung phát sinh tại công trình, hạng mục công
trình nào thì tập hợp trực tiếp cho công trình, hạng mục công trình đó. Đối với chi
phí sản xuất chung cần phân bổ thì phải lựa chọn tiêu thức phân bổ cho phù hợp.
Tuỳ theo điều kiện sản xuất đặc thù của mình mà doanh nghiệp xây lắp có thể lựa
chọn một trong các phương pháp phân bổ sau:
- Đối với các đơn vị thi công bằng biện pháp thủ công hoặc bằng máy thì
chi phí sản xuất chung được phân bổ tỷ lệ với tiền lương chính của công
nhân sản xuất hoặc tỷ lệ với chi phí sử dụng máy thực tế của từng công
trình, hạng mục công trình.
- Đối với những đơn vị thi công sử dụng cả các biện pháp thủ công và máy
móc thì chi phí sản xuất chung được phân bổ tỷ lệ với tiền lương chính
của công nhân sản xuất và chi phí sử dụng máy thực tế.
Trong thực tế nếu quá trình thi công xây lắp không thể tách biệt một cách rõ
ràng từng phần việc thi công thì việc phân bổ chi phí sản xuất chung có thể tỷ lệ với
chi phí chung trong dự toán công trình, hạng mục công trình
Sơ đồ kế toán chi phí sản xuất chung
TK 111,334 TK 627 TK
154
TL, tiền công phải trả K/c chi phí SX chung
cho NV phân xưởng
152, 153, 141, 111...
Khi xuất VL, DC
Dùng cho phân xưởng
338
Trích BHXH, BHYT,
KPCĐ trên lương
214
CP khấu hao
111, 112, 331
CP dịch vụ mua ngoài
CP bằng tiền khác
113
5. Tổng hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
Kế toán tổng hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp thường
được tiến hành lúc cuối tháng trên cơ sở các bảng tính toán phân bổ chi phí vật liệu
trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sử dụng máy thi công và chi phí sản
xuất chung cho các đối tượng tập hợp chi phí đã xác định.
Việc tổng hợp chi phí sản xuất trong xây lắp được tiến hành theo từng đối
tượng (công trình, hạng mục công trình) và chi tiết theo từng đối tượng vào bên Nợ
TK154(1541) chi phí sản xuất kinh doanh dở dang của hoạt động xây lắp và các thẻ
tính giá thành sản phẩm xây lắp
sơ đồ kế toán CPSX và tính giá thành sản phẩm xây lắp
(Theo phương pháp kê khai thường xuyên)
TK152, 331... TK 621 TK154
CP nguyên kết chuyển chi phí nguyên,
TK632
vật liệu T. tiếp vật liệu trực tiếp
TK 623
CN sử dụng kết chuyển chi phí sử dụng kết chuyển
Máy thi công máy thi công giá thành
công
TK 334 TK 622 trình hoàn
thành
Tiền Công nhân Kết chuyển chi phí bàn giao
cho
Lương trực tiếp xây lắp công nhân trực tiếp chủ đầu tư
hay
Phải Nhân viên TK 627 chờ tiêu
thụ
Trả phân xưởng Tập hợp
TK 241,338,111 chi phí
112,142,335,.. SX chung phân bổ ( hoặc
Chi phí SXC khác k/c ) CPXSC
VI. Phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang
1. Đánh giá sản phẩm dở dang theo chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Phương pháp này được áp dụng trong trường hợp chi phí nguyên vật liệu
trrực tiếp chiếm tỷ trọng lớn và chủ yếu trong giá thành của sản phẩm và số sản
phẩm dở dang là nhỏ và không chênh lệch nhiều giữa các kỳ.
Theo phương pháp này, chi phí sản xuất dở dang cuối kỳ chỉ tính chi phí
nguyên vật liệu trực tiếp còn các chi phí khác tính hết cho thành phẩm.Việc tính đó
dựa vào chi phí nguyên vật liệu trực tiếp dùng cho sản xuất và số lượng thành phẩm
hoàn thành, số lượng sản phẩm làm dở .
Công thức tính:
Chi phí Chi phí NVL
sản phẩm + trực tiếp phát sinh
Chi phí sản làm dở đầu kỳ trong kỳ Số lượng SP
phẩm làm dở = X dở dang
cuối kỳ Số lượng SP Số lượng SP cuối kỳ
hoàn thành + dở dang
trong kỳ cuối kỳ
Đánh giá sản phẩm dở dang theo phương pháp này có ưu điểm là tính toán
đơn giản, khối lượng công việc tính toán ít nhưng lại có độ chính xác không cao.
2. Đánh giá sản phẩm dở dang theo sản lượng tương đương
Phương pháp này được áp dụng ở các doanh nghiệp mà tỷ trọng nguyên vật
liệu trực tiếp chiếm tỷ trọngkhông lớn trong giá thành sản phẩm, các chi phí khác
chiếm tỷ trọng tương đối đồng đều và dáng kể trong giá thành sản phẩm, khối lượng
sản phẩm dở dang lớn và không đều giữa các kỳ.
Theo phương pháp này, trước hết căn cứ vào khối lượng sản phẩm làm dở
dang và mức độ hoàn thành tương đương. Nếu chi phí bỏ ra một lần cho cả quá
trình sản xuất thì phân bổ đều cho cả thành phẩm và sản phẩm dở dang như nhau.
Nếu chi phí bỏ nhều lần theo tiến độ sản xuất thì phân bổ theo số thành phẩm và sản
phẩm dở dang qui đổi ra thành phẩm hoàn thành tương đương.
Công thức tính :
SP dở dang cuối kỳ Khối lượng Tỷ lệ hoàn thành
qui đổi thành SP hoàn = sản phẩm dở X theo xác định
thành tương đương dang cuối kỳ (%)
Chi phí SP dở dang CP phát sinh
đầu kỳ (khoản + trong kỳ(khoản
CP SP dở dang mục tương ứng) mục tương ứng Số thành
cuối kỳ(đốivớiCP = X phẩm làm
bỏ ra một lần) Số lượng TP Số thành phẩm dở cuối
kì
hoàn thành + làm dở
trong kì cuối kì
CP SP DD CP phát sinh
đầu kỳ (khoản + trong kỳ (khoản
CP SP DD cuối mục tương ứng) mục tương ứng) Số SP làm
kỳ (đối với CP bỏ dần = X dở cuối kỳ theo
tiến độ sản xuất) Số lượng TP Số TP làm dở cuối qui đổi
hoàn thành + kỳ qui đổi theo theo SP HT
trong kỳ SP hoàn thành
3. Đánh giá sản phẩm dở dang theo chi phí sản xuất định mức
Phương pháp này áp dụng với những sản phẩm đã xây dựng được định mức
chi phí sản xuất hợp lý hoặc đã thực hiện phương pháp tính giá thành theo định
mức.
Phương pháp này thường áp dụng cho các doanh nghiệp xây lắp. Nếu sản
phẩm xây lắp qui định chỉ bàn giao thanh toán sau khi đã hoàn thành toàn bộ. Trong
kỳ kế toán, công trình ,hạng mục công trình chưa bàn giao thanh toán được coi là
sản phẩm xây lắp dở dang, toàn bộ chi phí sản xuất đã phát sinh thuộc công trình
hoặc hạng mục công trình đó đều là chi phí của sản phẩm dở dang . Khi công trình
hoặc hạng mục công trình hoàn thành được bàn giao thanh toán thì toàn bộ chi phí
sản xuất đã phát sinh sẽ được tính vào giá thành sản phẩm.
Nếu những công trình hoặc hạng mục công trình được bàn giao thanh toán
theo từng giai đoạn xây dựng, lắp đặt, thì những giai đoạn xây lắp dở dang chưa bàn
giao thanh toán là sản phẩm dở dang. Chi phí sản xuất tập hợp trong kỳ sẽ được tính
toán một phần cho sản phẩm dở dang cuối kỳ theo tỷ lệ với dự toán công trình .
Công thức tính:
Chi phí của sản Chi phí SX
phẩm dở dang + phát sinh
Chi phí của đầu kỳ trong kỳ Giá dự toán của
sản phẩm dở = X giai đoạn XD
dang cuối kỳ Giá dự toán của Giá dự toán của dở dang cuối kỳ
các giai đoạn + các giai đoạn XD
XD hoàn thành dở dang cuối kỳ
VII. các phương pháp tính giá thành chủ yếu
Phương pháp tính giá thành, là phương pháp sử dụng số liệu chi phí sản xuất
đã tập hợp trong kỳ, để tính toán tổng giá thành và giá thành đơn vị theo từng khoản
mục chi phí quy định cho các đối tượng tính giá thành đã xác định.
Có nhiều phương pháp sử dụng để tính giá thành. Tuỳ theo đặc điểm tập hợp
chi phí, qui trình công nghệ sản xuất và đối tượng tính giá thành để sử dụng phương
pháp tính giá thành cho phù hợp.
1. Phương pháp tính giá thành sản phẩm theo đơn đặt hàng
Phương pháp tính giá thành theo đơn đặt hàng phù hợp với những doanh
nghiệp lắp máy và doanh nghiệp xây lắp. Đối tượng tính giá thành là từng đơn đặt
hàng. Kỳ tính giá thành không phù hợp với kỳ báo cáo mà chỉ khi nào đơn đặt hàng
sản xuất xong mới tính giá thành. Hàng tháng, căn cứ vào chi phí sản xuất đã tập
hợp được ghi vào theo từng đơn đặt hàng trong sổ kế toán chi tiết để ghi sang bảng
tính giá thành có liên quan. Khi nhận được chứng từ xác minh đơn đặt hàng đã hoàn
thành, kế toán chỉ cần cộng chi phí sản xuất đã tập hợp được ở bảng tính giá thành
sẽ tính được giá thành và giá thành đơn vị của sản phẩm thuộc đơn đặt hàng đó.
2.Phương pháp tính giá thành trực tiếp.
Đây là phương pháp được sử dụng phổ biến nhất trong các doanh nghiệp
hiện nay, bởi vì do sản xuất sản phẩm mang tính chất đơn chiếc, đối tượng tập hợp
chi phí phù hợp với đối tượng tính giá thành. Kỳ tính giá thành phù hợp với kỳ báo
cáo, quy trình sản xuất công nghệ đơn giản ổn định.
Khi quá trình sản xuất kết thúc, nếu không có sản phẩm làm dở hoặc có quá
ít thì tổng số chi phí sản xuất đã tập hợp theo từng đối tượng cũng là tổng giá thành
của sản phẩm kỳ đó.
Ta có công thức :
Tổng giá thành = Tổng chi phí sản xuất
sản phẩm đã được tập hợp
Tổng giá thành sản phẩm
Giá thành đơn vị =
Sản phẩm Khối lượng sản phẩm đã hoàn thành
Trong trường hợp công trình, hạng mục công trình chưa hoàn thành toàn bộ
mà có khối lượng xây lắp hoàn thành bàn giao cần phải tính giá thành thực tế
Giá thành thực tế = CF thực tế + CF thực tế _ CF thực tế
của KL bàn giao DD đầu kỳ PS trong kỳ DD cuối kỳ
Giá thành đơn vị Giá thành T.tế của KLXL hoàn thành bàn giao
của KLXL hoàn =
thành bàn giao Khối lượng sản phẩm hoàn thành
Mặt khác, trong trường hợp chi phí sản xuất được tập hợp theo cả công trình
nhưng giá thành thực tế phải tính riêng cho từng hạng mục công trình thì kế
toán có thể căn cứ vào chi phí sản xuất của cả nhóm và hệ số phân bổ kỹ thuật và
qui định cho từng hạng mục công trình để tính giá thành thực tế cho hạng mục công
đó. Khi đó, giá thành thực tế của từng hạng mục công trình được tính như sau:
Zthực tế = Gdti x H
C
Khi đó : H = x 100
Gdt
Trong đó: Gdti : Giá trị dự toán của hạng mục công trình thứ i
Gdt : Là tổng dự toán của tất cả các hạng mục công trình
C : Là chi phí thực tế của hạng mục công trình đó
Zthực tế : Giá thành thực tế của từng hạng mục công trình
H : Hệ số phân bổ kỹ thuật
1. Phương pháp tính giá thành định mức.
Bước 1: Tính giá thành định của sản phẩm xây lắp
Căn cứ các định mức kinh tế, kỹ thuật hiện hành và các dự toán chi phí được
duyệt để tính giá thành định mức. Nó bao gồm giá định mức của các chi tiết cấu
thành nên sản phẩm xây lắp hoặc giá thành sản phẩm của từng giai đoạn công trình,
hạng mục công trình.
Bước 2 : Xác định hệ số thay đổi định mức
Khi có thay đổi định mức kinh tế, kỹ thuật sẽ dẫn đến thay đổi về chi phí sản
xuất theo định mức và giá thành định mức của sản phẩm. Bộ phận giá thành phải
căn cứ vào chi phí định mức mới để tính lại giá thành của sản phẩm theo định mức
mới. Bộ phận kế toán giá thành phải căn cứ vào chi phí định mức mới để tính số
chênh lệch chi phí cho thay đổi định mức(nếu có). Việc thay đổi định mức thường
tiến hành vào đầu tháng, nên việc tính toán số chênh lệch do thay đổi định chỉ cần
tính đối với số sản phẩm dở dang đầu kỳ, chính là cuối kỳ trước.
Số thay đổi định mức = Định mức cũ - Định mức mới
(tính theo khoản mục)
Sau khi đã hoàn thành được các bước trên, giá thành thực tế của sản phẩm
xây lắp được tính theo công thức sau.
Giá thành T.tế Giá thành định chênh lệch chênh lệch
của sản phẩm = mức sản phẩm + do thay đổi + do thoát ly
xây lắp xây lắp định mức định mức
áp dụng phương pháp này, có tác dụng kiểm tra tình hình thực hiện định mức
dự toán chi phí sản xuất. Tình hình sử dụng hợp lý, tiết kiệm hiệu quả, hay lãng phí
ngay cả khi sản phẩm chưa hoàn thành. Ngoài ra còn giảm bớt được khối lượng tính
toán của kế toán nhằm nâng cao hiệu quả công tác kế toán trong
các doanh nghiệp xây lắp .
2. Tính giá thành theo phương pháp tỷ lệ.
Phương pháp này thích hợp đối với những doanh nghiệp có qui trình công
nghệ sản xuất từng nhóm sản phẩm cùng loại nhưng có quy cách phẩm cấp và
chủng loại khác nhau. Trong trường hợp này, đối tượng tập hợp chi phí sản xuất là
từng nhóm sản phẩm, còn đối tượng tính giá thành là từng qui cách, kích cỡ trong
nhóm sản phẩm đó. Trình tự tiến hành của phương pháp này như sau:
- Trước hết, căn cứ vào chi phí sản xuất đã tập hợp được theo từng nhóm
sản phẩm và lựa chọn một tiêu chuẩn hợp lý để tính ra tỷ lệ phân bổ giá
thành cho cả nhóm. Tuỳ theo đặcđiểm tình hình cụ thể của từng doanh
nghiệp mà tiêu chuẩn phân bổ có thể là giá thành định mức, giá thành kế
hoạch, giá bán hoặc khối lượng sản phẩm sản xuất ra. Sau đó, tính ra tỷ lệ
phân bổ giá thành giá thành của từng loại quy cách sản phẩm .
Giá thành thực tế = giá thành kế hoạch (hoặc định mức) Tỷ lệ
đơn vị SP từng loại đơn vị sản phẩm từng loại chi phí
Tỷ lệ = Tổng giá thành thực tế của các loại sản phẩm X 100
chi phí Tổng giá thành kế hoạch (hoặc định mức) của các loại SP
3. Tính giá thành theo phương pháp tổng cộng chi phí.
Phương pháp này vận dụng thích hợp với đối tượng tính giá thành là loại
hình sản phẩm phức tạp, quá trình sản xuất có thể chia ra cho các đội sản xuất khác
nhau. Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất có thể là từng khối lượng công việc xây
lắp có dự toán thiết kế riêng, có bộ phân riêng đảm nhận, nhưng việc tính giá thành
phải là giá thành thực tế của sản phẩm ở khâu cuối cùng.
Zthực tế = Dđk+ C1 + C2 + ......+ Cn - Dck
Trong đó: Dđk : Sản phẩm sản xuất xây lắp dở dang đầu kỳ.
Dck : Sản phẩm sản xuất xây lắp dở dang cuối kỳ.
Ci (i = 1,n) : Chi phí sản xuất của từng giai đoạn thi công (hoặc CPSX ở
từng đội sản xuất hay hạng mục công trình.
chương II
thực tế công tác kế toán chi phí sản xuấtvà tính giá thành sản phẩm xây lắptại công
ty xây dựng công trình giao thông 810
I. đặc điểm chung của công ty
1. Quá trình hình thành và phát triển của công ty
Công ty xây dựng công trình giao thông 810 là doanh nghiệp nhà nước trực
thuộc Tổng công ty xây dựng công trình giao thông 8, thành lập năm 1967. Trải qua
các thời kỳ kiện toàn bộ máy và thay đổi tổ chức, công ty được thành lập lại theo
văn bản số 132/TB ngày 29/4/1993 của VP Chính phủ Quyết định số 1097/QĐ -
TCCB - LĐ ngày 2/6/1993 của5 Bộ GTVT, Đến nay công ty đã có bề dày thành
tích hoạt động hơn 30 năm, trở thành một công ty xây dựng chuyên ngành lớn,
phạm vi hoạt động rộng khắp cả nước được vinh dự đón nhận huy chương lao động
Hạng 3 - Hạng 2 - Hạng Nhất của nhà nước trao tặng. Năm 2000 vừa qua công ty
một lần nữa vinh dự được xét duyệt đơn vị Anh hùng, đay là nguồn động viên lớn
đối với cán bộ công nhân viên toàn công ty.
Hiện nay Công ty có 410 cán bộ công nhân viên trong đó :
- Nữ cán bộ công nhân viên là 143 người chiếm 34,87%.
- Số cán bộ tốt nghiệp đại học là : 52 người.
- Số cán bộ trung cấp và tương đương là : 37 người.
- Công nhân kỹ thuật là : 166 người.
- Công nhân lao động phổ thông là : 111 người.
- Nhân viên phục vụ, cán bộ chuyên trách đoàn thể là 44 người.
Tổng nguồn vốn của công ty là : 12790 triệu đồng.
Trong đó : Nguồn vốn Ngân sách cấp : 3617 triệu đồng.
+ Vốn cố định : 1589 triệu đồng.
+ Vốn lưu động : 2028 triệu đồng.
Nguồn vốn tự bổ sung : 9173 triệu đồng.
Kết quả hoạt động kinh doanh trong 3 năm gần đây và kế hoạch năm 2001 của
công ty là :
Bảng 1: kết quả hoạt động kinh doanh trong 3 năm và kh năm 2001
Chỉ tiêu Đơn Năm1998 Năm1999 KH 2001 Năm
2000 vị
1.Giá trị sản lượng thực Tr.đ 78.280 78.800 85.500 95.400
hiện
2. Doanh thu thực hiện Tr.đ 71.497 71.320 73.401,7 78.335
3. Vốn kinh doanh Tr.đ 12.575 12.879.7 14.819,8 15.026,4
4. Nộp Ngân sách 1.106 4.572,34 4.406,41 4.700,53 Tr.đ
5. Lao động bình quân 404 410 519 687 Ngưò
i
6. Thu nhập bình quân Đồng 912.000 1.009.500 1.094.000 1.471.000
Cùng với quá trình đổi mới của đất nước Công ty xây dựng công trình giao
thông 810 đã có những bước phát triển vượt bậc. Công ty đã mạnh dạn đầu tư và
thu được những kết quả khả quan. Lợi nhuận, sản lượng, khoản nộp nghĩa vụ với
Ngân sách Nhà nước cũng như thu nhập bình quân của công nhân viên trong Công
ty ngày một tăng. Mặc dù Công ty là đơn vị có số lao động khá đông, nhưng Công
ty đã cố gắng tìm kiếm việc làm đảm bảo thu nhập cho người lao động, cải thiện
điều kiện làm việc, thực hiện tốt các chế độ đối với cán bộ cho công nhân viên như
mua bảo hiểm thân thể, BHYT, BHXH, đầy đủ.
2. Nhiệm vụ và đặc điểm hoạt động SXKD của công ty
Nhiệm vụ chính của công ty là xây dựng, sửa chữa các công trình giao thông
trong phạm vi cả nước.
Công ty chuyên xây dựng, mở rộng, nâng cấp các công trình giao thông.
Trong 3 năm gần đây Công ty đã tham gia các dự án lớn do Tổng công ty xây dựng
công trình giao thông 8 thắng thầu giao cho như: Đường quốc lộ 5A Km 47 Km62
- công trình đã hoàn thành và bàn giao đưa vào sử dụng được Nhà nước cấp chứng
chỉ chất lượng đạt huy chương vàng; Quốc lộ 1A HĐ NH 1- R 100 Km 1786 - Km
1890 (Xuân Lộc- Cầu Sài Gòn); Quốc lộ 18 đoạn Km 35 - Km 53 Chí Linh - Đông
Triều được hội đồng nghiệm thu Nhà nước khen ngợi về chất lượng. Hiện nay công
ty đang thi công công trình Quốc lộ 1A dự án 1A-2 (Pháp Vân - Thường Tín),
đường xuyên á. Ngoài ra Công ty đã thắng thầu và thi công nhiều công trình ở Hà
Nội và các tỉnh Quảng Ninh, Hoà Bình, Tuyên Quang, Thanh Hoá như: cải tạo hành
lang đường Lê Duẩn đoạn nút giao thông ngã tư Vọng đến Pháp Vân, rải mặt cầu
Giẽ và cầu Giẽ vượt (Thường Tín- Hà Tây) v...v. Giá trị sản lượng thực hiện, vốn
kinh doanh ngày càng tăng, đồng thời số nộp Ngân sách cũng tăng theo, thu nhập
bình quân năm sau cao hơn năm trước.
Trong những năm tới Công ty sẽ tiếp tục thực hiện các dự án lớn. Khai thác
và sử dụng tốt công suất máy móc thiết bị. Quản lý sử dụng lao động hợp lý đảm
bảo đời sống cho cán bộ công nhân viên trong Công ty ngày càng được nâng cao và
ổn định.
3.Đặc điểm tổ chức quản lý và sản xuất trong công ty
Công ty xây dựng công trình giao thông 810 thuộc Tổng công ty công trình
giao thông 8 - Bộ giao thông vận tải - là một doanh nghiệp nhà nước hoạt động với
đầy đủ tư cách pháp nhân, hạch toán kinh tế độc lập, có con dấu riêng, có bộ máy kế
toán riêng và được phép mở tài khoản tại Ngân hàng (kể cả các tài khoản tại Ngân
hàng Ngoại thương).
Công ty được tổ chức thành 8 đơn vị thành viên trực thuộc gồm: 1 xí nghiệp
và 6 đội sản xuất, 1 văn phòng công ty. Bộ máy sản xuất của Công ty được tổ chức
theo mô hình trực tuyến chức năng thành các phòng ban thực hiện các chức năng
của mình. (Sơđồ bộ máy tổ chức quản lý ở trang bên).
Ban giám đốc : Gồm có 1 giám đốc và 2 phó giám đốc.
- Giám đốc là người đứng đầu bộ máy quản lý của Công ty, chịu trách
nhiệm chỉ huy toàn bộ máy quản lý và là người chịu trách nhiệm trước
cấp trên về toàn bộ tình hình hoạt động kinh doanh của Công ty.
- Phó giám đốckỹ thuật: phụ trách về thi công và an toàn thi công. Phó
giám đốc kỹ thuật trực tiếp phụ trách phòng kỹ thuật.
- Phó giám đốc phụ trách vật tư thiết bị, kỹ thuật xe, máy và nội chính của
Công ty, trực tiếp phụ trách phòng vật tư thiết bị.
Nhiệm vụ của 2 phó giám đốc là giúp việc cho giám đốc và trực tiếp chỉ huy
các bộ phận được phân công uỷ quyền.
Các phòng ban chức năng được tổ chức theo yêu cầu của việc quản lý sản
xuất kinh doanh, chịu sự chỉ huy trực tiếp hoặc gián tiếp của giám đốc bao gồm có 6
phòng ban với các chức năng và nhiệm vụ :
Phòng kế hoạch - tiếp thị :
- Lập kế hoạch sản xuất kinh doanh ngắn hạn, trung hạn và dài hạn cho
toàn bộ hoạt động của Công ty.
- Tìm kiếm việc làm, tham gia đấu thầu các công trình, ký các hợp đồng thi
công các công trình.
- Thanh quyết toán các công trình với bên A và nội bộ Công ty.
*Phòng kỹ thuật :
- Căn cứ vào thiết kế kỹ thuật của bên A, tổ chức kiểm tra hồ sơ va các chỉ tiêu kế
hoạch và vạch ra phương án thi công tối ưu nhất vừa đảm bảo đúng thiết kế kỹ thuật
đồng thời đảm bảo an toàn trong thi công. Trong khi kiểm tra nếu phát hiện các lỗi
kỹ thuật, phải có trách nhiệm báo cho bên A biết để có biện pháp sử lý kịp thời.
- Giám sát thi công và nghiệm thu các công trình về mặt kỹ thuật.
- Thanh quyết toán về khối lượng và lập hồ sơ hoàn công.
Phòng tổ chức - lao động tiền lương.
- Tổ chức tuyển chọn lao độngtheo kế hoạch được giao.
- Giải quyết chính sách, chế độ cho người lao động theo đúng chế độ quy
định của Nhà nước như lương, thưởng, phúc lợi, đào tạo.
- Lập định mức lao động tiền lương, các chế độ bảo hộ lao động, kế hoạch
đào tạo.
- Quản lý hồ sơ, nhận xét cán bộ, lập tờ trình để khen thưởng, bổ nhiệm, đề
bạt..
- Ngoài ra phòng tiền lương của Công ty xây dựng công trình giao thông
810 còn đảm nhận các vấn đề về an ninh, trật tự, quân sự, tự vệ.
Phòng vật tư thiết bị.
- Trên cơ sở kế hoạch sản xuất do phòng tiếp thị lập ra, phòng vật tư thiết
bị lập kế hoạch đầu tư cho sản xuất.
- Mua sắm vật tư thiết bị theo yêu cầu cho các công trình.
- Thanh quyết toán về vật tư.
Phòng hành chính - y tế
Phòng hành chính - y tế chịu trách về các vấn:
- Chỗ ăn ở, làm việc của công nhân viên.
- Văn thư lưu trữ.
- Tổ chức các hội nghị, cuộc họp, tiếp khách.
- Theo dõi sức khỏe, khám chữa bệnh và thực hiện các chế độ bảo hiểm y tế
cho cán bộ công nhân viên trong toàn Công ty.
Phòng tài chính - kế toán.
- Tổ chức thực hiện toàn bộ công tác kế toán trong toàn Công ty.
- Giúp lãnh đạo những thông tin kinh tế cần thiết, hướng dẫn chỉ đạo kiểm
tra các bộ phận trong đơn vị thực hiện đầy đủ các chính sách như chế độ
ghi chép ban đầu, chế độ hạch toán, chế độ quản lý kinh tế tài chính.
- Lập kế hoạch tài chính hàng năm cho đầu tư chiều sâu trong quá trình sản
xuất
- Hạch toán, quyết toán làm báo cáo quyết toán theo chế độ báo cáo kế
toán của Nhà nước.
Đối với các đội công trình, chủ nhiệm công trình và đội trưởng căn cứ vào
nhiệm vụ và khả năng thi công của đội mình để tiến hành phân công nhiệm vụ cho
các tổ đội sản xuất. Cuối tháng hoặc khi kết thúc công trình (hoặc hợp đồng làm
khoán), đội tiến hành tổng kết nghiệm thu đánh giá công việc về số lượng và chất
lượng đã hoàn thành của các tổ để từ đó làm cơ sở thanh quyết toán tiền lương theo
đơn giá trong hợp đồng giao khoán.
sơ đồ qui trình công nghệ của công ty
- Dây chuyền làm đường mới
Lu rèn
Trồn g đá hộc
Rải đá 4x6
Rải đá 1x2
Tưới nhựa nhũ tương 2 lớp
Đào khuôn đường
-Vá sửa đường
Lu rèn
Rải đá 4x6
Rải đá 1x2
Vệ sinh mặt đường
Cuốc sửa vuông chỗ vá
Tưới nhựa nhũ tương 2 lớp
- Rải thảm đường bê tông Alphalt
Lu bánh lốp
Đập mép đường
Vệ sinh mặt đường
Bổ lỗ chân chim
Tưới nhựa dính bám
Rải bê tông alpha
Lu nặng 10 tấn
Đặc điểm tổ chức quản lý sản xuất và đặc điểm kinh tế kỹ thuật của công
ty chi phối đến việc kế toán tập hợp chi phí và giá thành sản phẩm xây
lắp.
ở Công ty công trình giao thông 810 việc tổ chức khoán cho các đội sản xuất
được quy định như sau:
- Về vật tư chủ yếu là dựa trên kế hoạch dự toán được giao các đội tự mua,
đối với thiết bị vật tư thì Công ty cấp.
- Về máy thi công thì Công ty giao, cấp máy đến từng công trình, trường
hợp thiếu đội có thể trực tiếp ký hợp đồng thuê máy nhưng phải thông
qua ban giám đốc.
- Về nhân công thì chủ yếu là sử dụng nhân công của Công ty, trường hợp
cần thiết phải thuê ngoài thì phải được phép của ban giám đốc và theo
một tỷ lệ nhất định kèm theo hợp đồng lao động
- Về chất lượng công trình thì đội trưởng và chủ nhiệm thi công có trách
nhiệm cá nhân trước giấm đốc Công ty về chất lượng công trình và an
toàn lao động. Nếu có sai phạm về kỹ thuật dẫn đến phải sửa chữa hoặc
phá đi làm lại thì toàn bộ chi phí đội phải chịu mà chịu trách nhiệm chính
là đội trưởng và chủ nhiệm công trình.
- Về an toàn và bảo hiểm lao động thì đội có trách nhiệm thực hiện công
tác an toàn bảo hiểm lao động theo chế độ hiện hành của Nhà nước và
quy định của Công ty. Đội phải mua sắm trang thiết bị bảo hiểm lao động
phát cho cán bộ công nhân viên tham gia lao động sản xuất. Kinh phí bảo
hộ lao động được hạch toán vào giá thành công trình.
Những đặc điểm nêu trên có tác động đến công tác hạch toán kế toán, đặc
biệt là có ảnh hưởng đến phương pháp tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản
phẩm xây lắp của Công ty.
Đặc điểm tổ chức bộ máy công tác kế toán của Công ty
Niên độ kế toán của Công ty được thực hiện trong một năm bắt đầu từ ngày 01
tháng 01 đến ngày 31 tháng 12 hàng năm. Công ty áp dụng phương pháp kế toán
hàng tồn kho theo phương pháp kê khai thường xuyên. Công ty nộp thuế giá trị gia
tăng theo phương pháp khấu trừ.
Công ty áp dụng loại hình tổ chức kế toán tập trung nửa phân tán theo chế độ kế
toán hiện hành. Tại các đội công trình không tổ chức bộ máy kế toán mà chỉ bố trí
từ 1 đến 2 nhân viên hạch toán kinh tế làm nhiệm vụ hướng dẫn, kiểm tra công tác
hạch toán ban đầu hay nói cách khác là làm công tác kế toán thống kê: thu thập, ghi
chép sổ sách hạch toán đơn giản, cuối tháng chuyển chứng từ về phòng tài chính kế
toán. ở các đội công trình, việc nhận cấp phát vật liệu tuỳ thuộc vào nhu cầu sản
xuất thi công và kế hoạch cung ứng vật tư của Công ty cho từng công trình. Việc
Nhập - Xuất vật tư đều phải cân đo cụ thể, từ đó lập các phiếu Nhập - Xuất kho và
làm thủ tục thanh toán nộp về phòng kế toán, các phiếu Nhập - Xuất kho được tập
hợp làm cơ sở cho việc kiểm kê cuối kỳ. Các đội trưởng, tổ trưởng sản xuất quản lý
và theo dõi tình hình lao động trong đội, trong tổ, lập bảng chấm công, bảng thanh
toán tiền công, bảng theo dõi chi phí nhân công, chi phí nhân viên quản lý đội, chi
phí cho máy thi công.
Các chứng từ ban đầu nói trên ở các đội công trình sau khi được tập hợp, phân
loại sẽ được đính kèm với "Giấy đề nghị thanh toán" do đội trưởng hoặc kế toán đội
lập có xác nhận của phòng kỹ thuật Công ty gửi lên phòng kế toán xin thanh toán
cho các đối tượng được thanh toán. ở phòng kế toán sau khi nhận được các chứng từ
ban đầu, kế toán tiến hành kiểm tra, phân loại xử lý chứng từ, ghi sổ, tổng hợp, hệ
thống hoá các số liệu và cung cấp thông tin kế toán phục vụ cho yêu cầu quản lý.
Đồng thời, dựa trên báo cáo mà phòng đã lập tiến hành phân tích các hoạt động kinh
tế giúp ban giám đốc trong công việc quản lý và điều hành hoạt động sản xuất kinh
doanh.
Phòng tài chính kế toán của Công ty gồm 9 người được tổ chức theo mô hình
sau đây:
Kế toán trưởng
Phó phòng Kế toán tổng hợp
Kế toán thuế
Kế toán ngân hàng
Kế toán TSCĐ, quỹ
Kế toán thanh toán nội bộ
Bộ máy kế toán của XNGT 3
Kế toán vật liệu thanh toán với người bán
Kế toán lương bảo hiểm, tạm ứng
- Đứng đầu là kế toán trưởng kiêm trưởng phòng kế toán có nhiệm vụ giúp
giám đốc tổ chức, chỉ đạo toàn bộ công tác kế toán thống kê, thông tin
kinh tế và hạch toán kinh tế ở Công ty theo cơ chế quản lý mới, điều hành
các công việc trong phòng đồng thời làm nhiệm vụ kiểm soát tình hình
kinh tế tài chính ở Công ty cũng như dưới các đội công trình và Xí nghiệp
hạch toán phụ thuộc.
- Phó phòng kế toán điều hành trực tiếp công việc đến từng phần hành khi
trưởng phòng đi vắng, phụ trách phần kế toán tổng hợp, tập hợp chi phí
và tính giá thành, lập các báo cáo kế toán.
- Kế toán phụ trách phần kế toán vật liệu và thanh toán với người bán làm
nhiệm vụ theo dõi tình hình Nhập - Xuất vật tư theo từng công trình và
theo dõi việc thanh toán chi tiết cho từng người bán, theo dõi thanh toám
với người mua.
- Kế toán TSCĐ chuyên theo dõi tình hình tăng giảm tài sản cố định và
tính trích khấu hao cho từng đối tượng tài sản. Kế toán TSCĐ còn
kiêm cả nghiệp vụ về quỹ tiền mặt.
- Kế toán tiền lương, bảo hiểm và thanh toán tạm ứng có nhiệm vụ tính
lương cho toàn bộ nhân viên văn phòng, tổng hợp lương, bảo hiểm cho
các đơn vị phụ thuọc và theo dõi phần thanh toán tạm ứng với toàn bộ cán
bộ công nhân viên trong Công ty.
- Kế toán phụ trách thanh toán nội bộ chịu trách nhiệm theo dõi chi phí
phát sinh cho từng công trình, thanh quyết toán với từng đơn vị nội bộ.
- Kế toán Ngân hàng phụ trách việc giao dịch với Ngân hàng, theo dõi các
khoản tiền vay ở Ngân hàng, lập nhu cầu vay theo kỳ và từng công trình.
- Kế toán theo dõi thuế chịu trách nhiệm lập bảng kê, lập báo cáo thuế,
theo dõi phát sinh trong kỳ về thuế giá trị gia tăng đầu vào, đầu ra và các
loại thuế khác.
- Kế toán đội làm nhiệm vụ hướng dẫn và hạch toán ban đầu, thu thập kiểm tra
chứng từ có liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh ở các bộ phận đơn vị phụ
thuộc vào doanh nghiệp, định kỳ cuối tháng gửi chứng từ về phòng TCKT để kế
toán doanh nghiệp tiến hành toàn bộ công tác kế toán theo chế độ nhà nước ban
hành.
Hình thức kế toán.
Trên cơ sở lựa chọn hệ thống tài khoản, việc xây dựng nên hình thức
sổ kế toán thích hợp cho quá trình thực hiện công tác kế toán là điều kiện vô cùng
quan trọng trong công tác tổ chức hạch toán. Do đặc điểm sản xuất kinh doanh của
Công ty có qui mô, có nhu cầu phân công lao động hạch toán, vì vậy từ năm 1996
Công ty bắt đầu sử dụng hình thức sổ " Chứng từ ghi sổ" thay cho hình thức " Nhật
ký chứng từ" đã sử dụng trước đây. Theo hình thức này số lượng sổ sách sử dụng tại
Công ty bao gồm đầy đủ các loại sổ tổng hợp, chi tiết đúng theo mẫu qui định của
Bộ tài chính và một số mẫu biểu do Công ty tự lập để tập hợp:
- Phiếu định khoản kế toán (Bảng kê chứng từ) được lập theo định kỳ hàng
tháng, riêng cho từng phần hành và mỗi tài khoản ghi riêng phần Nợ hoặc
Có.
- Phiếu phân tích tài khoản kế toán là bảng tổng hợp số phát sinh được lập
căn cứ vào dòng tổng cộng của các phiếu định khoản bên Nợ hoặc bên Có
của một tài khoản.
- Chứng từ ghi sổ là hình thức sổ tờ rời được mở riêng cho từng tài khoản
theo định kỳ mỗi tháng một lần, căn cứ vào chứng từ phát sinh theo từng
loại để lên chứng từ ghi sổ.
- Sổ đăng ký chứng từ ghi sổ là sổ kế toán tổng hợp dùng để ghi chép các
nghiệp vụ kinh tế phát sinh theo trình tự thời gian. Sổ này vừa dùng để
đăng ký các nghiệp vụ kinh tế phát sinh, quản lý chứng từ ghi sổ vừa để
kiểm tra, đối chiếu với số liệu trên bảng cân đối phát sinh.
- Sổ cái được mở riêng cho từng tài khoản. Mỗi tài khoản được mở một
trang hay một số trang tuỳ theo số lượng ghi chép các nghiệp vụ kinh tế
phát sinh nhiều hay ít của từng tài khoản.
- Các sổ thẻ kế toán chi tiết dùng để phản ánh chi tiết các nghiệp vụ kinh tế
phát sinh theo từng đối tượng kế toán riêng biệt mà trên sổ kế toán tổng
hợp chưa phản ánh được. Số liệu kế toán trên sổ kế toán chi tiết cung cấp
các chỉ tiêu về tình hình tài sản, vật tư, tiền vốn, tình hình hoạt động và
kết quả sản xuất kinh doanh của Công ty, là căn cứ để báo cáo tài chính.
Các sổ, thẻ kế toán chi tiết được mở bao gồm :
+ Sổ tài sản cố địnhvà sổ đăng ký khấu hao tài sản cố định do Cục quản
lý vốn duyệt.
+ Sổ chi tiết vật tư.
+ Sổ chi phí sản xuất.
+ Sổ chi tiết chi phí trả trước, chi phí phải trả.
+ Sổ chi tiết tiền gửi, tiền vay.
+ Sổ chi tiết thanh toán với người bán, người mua.
+ Sổ thanh toán với nội bộ, với Ngân sách nhà nước.
+ Sổ chi tiết thanh toán tạm ứng.
+ Sổ theo dõi thuế GTGT đầu vào, đầu ra, được hoàn lại, được miễn giảm.
(Trình tự ghi sổ theo hình thức chúng từ ghi sổ được mô tả theo sơ đồ trang bên)
trình tự ghi sổ theo hình thức chứng từ ghi sổ
Chứng từ gốc (bảng tổng hợp Chứng Từ Gốc)
Sổ (thẻ) hạch toán chi tiết
1
1
2
Sổ quỹ
Chứng từ ghi sổ
5
3
4
8
Sổ cái
Sổ đăng ký chứng từ ghi sổ
Bảng tổng hợp chi tiết
1
9
6
Ghi hàng
7
Bảng cân đối tài khoản
7
ngày Ghi cuối tháng
Báo cáo kế toán
II.thực tế công tác kế toán
1. Đối tượng và phương pháp tập hợp chi phí sản xuất
Do đặc điểm sản phẩm của ngành xây lắp là các công trình, hạng mục công
trình nên việc tiến hành thi công xây dựng được Công ty áp dụng hình thức khoán
gọn cho từng đội sản xuất. Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất thường là các công
trình, hạng mục công trình hoàn chỉnh.
Công ty áp dụng phương pháp trực tiếp để tập hợp chi phí sản xuất. Chi phí
sản xuất trực tiếp được tính toán và quản lý chặt chẽ cụ thể cho từng công trình,
hạng mục công trình. Hàng tháng, các chi phí trực tiếp như chi phí nguyên vật liệu,
chi phí nhân công, chi phí máy thi công phát sinh ở công trình,hạng mục công trình
nào thì được hạch toán trực tiếp vào công trình, hạng mục công trình đó
Những chi phí có liên quan đến nhiều công trình, hạng mục công trình như
chi phí quản lý doanh nghiệp... thì tập trung toàn Công ty, sau đó đến cuối tháng, kế
toán tiến hành phân bổ cho các công trình, hạng mục công trình theo tiêu thức thích
hợp.
Việc tập hợp chi phí sản xuất theo phương pháp trực tiếp tạo điều kiện thuận
lợi cho việc tính giá thành sản phẩm. Các chi phí sản xuất được tập hợp hàng tháng
theo từng khoản mục và chi tiết cho từng đối tượng sử dụng. Vì thế, khi công trình,
hạng mục công trình hoàn thành, kế toán chỉ cần tổng cộng chi phí sản xuất ở các
tháng từ lúc khởi công cho tới khi hoàn thành sẽ được giá thành thực tế của sản
phẩm theo từng khoản mục chi phí.
Công tác tập hợp chi phí sản xuất ở công ty xây dựng công trình giao thông
810 được lập theo 4 khoản mục chi phí.
- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp.
- Chi phí nhân công trực tiếp.
- Chi phí sử dụng máy thi công.
- Chi phí sản xuất chung.
(Nghiên cứu, tìm hiểu phương pháp tập hợp chi phí sản xuất công trình Q.lộ1A-2)
2. Kế toán tập hợp chi phí sản xuất
2.1 Kế toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Công ty xây dựng công trình giao thông 810 là đơn vị xây dựng cơ bản nên
chi phí về nguyên vật liệu chiếm tới 70% giá trị công trình. Do đó đặt ra cho Công
ty một nhiệm vụ hết sức nặng nề trong công tác quản lý và hạch toán các quá trình
thu mua, vận chuyển, bảo quản, dự trữ và sử dụng nguyên liệu, vật liệu. Do điều
kiện nền kinh tế thị trường có nhiều thuận lợi trong việc thu mua các loại nguyên
liệu, vật liệu cần thiết và chủ yếu trong thi công các công trình cùng với chính sách
khoán sản phẩm đến từng đội sản xuất nên Công ty không bố trí hệ thống kho tàng
như thời bao cấp mà chỉ có những bãi dự trữ nguyên vật liệu phục vụ cho nhu cầu
của từng công trình được tổ chức ngay tại chân từng công trình đó và chỉ dự trữ một
lượng vừa đủ theo yêu cầu.
Vật liệu của Công ty bao gồm rất nhiều loại và có nội dung, công dụng khác
nhau. Để có thể quản lý một cách chặt chẽ và tổ chức hạch toán tổng hợp cũng như
hạch toán chi tiết tới từng loại phục vụ cho nhu cầu sản xuất, kế toán cần phân loại
nguyên liệu, vật liệu theo nội dung kinh tế và tác dụng của từng loại như sau :
- Nguyên liệu, vật liệu chính chủ yếu bao gồm : nhựa đường, đá các loại,
cát vàng, cát đen, xi măng, sắt thép .
- Vật liệu phụ chủ yếu bao gồm phụ gia bê tông, gỗ, đất đèn, dầu mỡ bôi
trơn.
Nguyên vật liệu sử dụng trong thi công công trình có thể do các đội trực tiếp mua
ngoài xuất dùng cũng có thể là do Công ty xuất thẳng tới công trình và theo giá
thành thực tế.
Giá thành vật tư = Giá mua ghi trên + Chi phí vận
thực tế xuất dùng hoá đơn ( không có VAT) chuyển
Đối với vật tư xuất tại kho thì giá thực tế vật liệu xuất dùng được tính theo
phương pháp nhập trước xuất trước. Việc xuất kho vật liệu được tiến hành theo
trình tự sau :
Đầu tiên, phòng kế hoạch căn cứ vào dự toán thiết kế hoặc hồ sơ thầu của từng
công trình để lập bản giao khoán cho các đơn vị thi công. Phòng kỹ thuật căn cứ
vào bản giao khoán và khối lượng công việc thực hiện của các đơn vị thi công trong
tháng cho từng đội công trình từ đó lập phương án thi công, tiến độ thi công, lập kế
hoạch cung cấp vật tư cho từng công trình, hạng mục công trình. Do đặc thù là
ngành xây dựng cơ bản - chi phí NVL chiếm tỉ trọng lớn trong giá thành công trình,
việc dự trữ NVL sẽ làm ứ đọng một nguồn vốn lớn điều này sẽ gây khó khăn về vấn
đề tài chính cho Công ty. Vì vậy, Công ty không tổ chức hệ thống kho tàng dự trữ
và theo dõi trên thẻ kho mà căn cứ vào nhu cầu vật tư của từng đội, từng công trình,
hạng mục công trình, phòng vật tư có trách nhiệm cung cấp vật tư trên cơ sở căn cứ
vào hoá đơn mua vật liệu để làm thủ tục "Nhập kho" đồng thời lập " Phiếu xuất
kho" ngay cho các đội theo đúng yêu cầu của tiến độ thi công. Trường hợp vật tư
xin lĩnh ngoài kế hoạch thì phải được Giám đốc ký duyệt. Phiếu xuất vật tư được
lập thành 3 liên :
- Liên 1 lưu tại phòng vật tư thiết bị.
- Liên 2 được chuyển cho phòng tài chính kế toán để ghi sổ.
- Liên 3 người nhân giữ để ghi sổ kế toán bộ phận sử dụng (kế toán đội).
Căn cứ vào chứng từ gốc (Phiếu xuất kho : Mẫu 02- VT) do phòng vật tư
chuyển xuống, phòng Tài chính kế toán lập phiếu Định khoản kế toán (Bảng kê xuất
vật liệu). Từ bảng kê xuất tổng hợp xuất, kế toán lập bảng phân bổ chi tiết vật liệu
cho từng công trình, hạng mục công trình theo từng khoản mục chi phí. Sau đó vào
chứng từ ghi sổ, sổ đăng ký chứng từ ghi sổ và vào sổ cái.
Chứng từ ghi sổ
Ngày 31 tháng 12 năm 2000 Số : 268
Chứng từ Trích yếu shtk Số tiền (đồng)
Số Ngày Nợ có
Bảng Tháng Xuất vật liệu dùng cho các đối 152
PBVL 12/00 tượng
- Chi phí sửa chữa lớn 241 1.459.575
- Thay xích guồng vật liệu, thanh 335 68.000.000
gạt máy rải
621 -Dùng cho sản xuất trực tiếp 10.274.255.997
+ QLộ 1 dự án 1A2 5.038.857.857
...........
- Dùng cho máy thi công 623 1.004.129.096
+ QLộ 1 dự án 1A2 533.733.178
...........
- Chi phí sản xuất chung 627 3.837.343
- Chi phí quản lý doanh nghiệp 642 11.039.907
Kèm theo chứng từ gốc Kế toán trưởng
Người lập
2.2 Hạch toán chi phí nhân công trực tiếp
Đối với các doanh nghiệp xây lắp nói chung và Công ty xây dựng công trình
giao thông 810 nói riêng thì chi phí nhân công trực tiếp chiếm tỷ trọng lớn thứ hai
sau chi phí nguyên vật liệu vì vậy việc hạch toán đúng, đủ chi phí nhân công có ý
nghĩa quan trọng trong việc tính toán hợp lý, chính xác giá thành sản phẩm. Đồng
thời nó còn có ý nghĩa quan trọng trong việc tính toán lương, thanh toán lương được
thoả đáng, kịp thời, bảo đảm quyền lợi cho người lao động.
Chi phí nhân công trực tiếp của công trình, hạng mục công trình nào thì tính
vào giá thành sản phẩm của công trình, hạng mục công trình đó và bao gồm
- Lương chính của công nhân trực tiếp sản xuất.
- Lương làm thêm ngoài giờ.
- Lương trả cho công nhân thuê ngoài.
- Lương phụ.
- Các khoản trợ cấp.
Hiện nay, công ty áp dụng hai hình thức trả lương. Đó là hình thức trả lương
theo thời gian đối với khối nhân viên văn phòng và hình thức trả lương khoán đối
với công nhân trực tiếp sản xuất.
Đối với hình thức trả lương theo thời gian được áp dụng cho bộ phận quản lý
sản xuất và công nhân trong trường hợp không có khối lượng giao khoán cụ thể.
Việc trả lương theo thời gian phải căn cứ trên cấp bậc của cán bộ công nhân viên,
căn cứ vào số ngày công thực tế làm việc trong tháng.
Tiền lương Mức lương cơ bản x Hệ số lương Số ngày thực tế
phải trả = x làm việc
trong tháng Số ngày công trong tháng(24) trong tháng
Hệ số lương của từng người là do ban giám đốc công ty quyết định. Cơ sở để
tính lương theo thời gian là bảng chấm công, bảng này dùng để theo dõi thời gian
làm việc trong tháng của cán bộ công nhân viên do từng phòng ban ghi hàng ngày
theo qui định về chấm công, cuối tháng nộp cho phòng Tổ chức lao động tiền
tlương để làm căn cứ tính lương phải trả trong tháng.
Đối với hình thức trả lương theo khối lượng công việc giao khoán sản
phẩm được áp dụng để trả lương cho công nhân trực tiếp lao động sản xuất. Hình
thức trả lương này chiếm một tỷ lệ lớn vì nó có hiệu quả cao. Tiền lương trả theo
hình thức này có thể tính cho từng người lao động, có thể chung cho cả nhóm
người lao động hoặc theo khối lượng công việc hoàn thành. Tiền lương phải trả
theo hình thức này được tính theo công thức.
Tiền lương = khối lượng công x Đơn giá
phải trả việc giao khoán tiền lương
Hiện nay, trong qui định về công tác tổ chức lao động, Giám đốc công ty đã
đề ra qui định : các đội sau khi nhận công trình các đội công trình phải huy động lực
lượng công nhân biên chế trong danh sách đội quản lý, đội chỉ được phép thuê
ngoài trong trường hợp thật cần thiết. Trước khi thuê phải tính toán cụ thể về khối
lượng công việc, đơn giá và thời gian thuê, sau đó thông qua phòng Tổ chức lao
động và phòng Kế hoạch tiếp thị xem xét rồi đưa lên giám đốc ký duyệt. Sau khi
được duyệt, đội công trình mới được triển khai ký hợp đồng thuê ngoài.
Tiền lương theo hình thức này không nhất thiết phải trả theo từng tháng mà
tùy vào khối lượng công việc hoàn thành. Cơ sở để tính lương theo hình thức này là
các "Bản giao khoán thi công" và " Biên bản nghiệm thu khối lượng hoàn thành"
trong tháng. Bản giao khoán thi công được ký theo từng phần công việc hoặc được
ký theo cả công trình thi công mà thời gian thực hiện thi công có thể là 1 tháng hoặc
dài hơn. Bản giao khoán thi công được lập thành hai bản, một bản giao cho bên
nhận khoán giữ, một bản bên giao khoán giữ lại để theo dõi tình hình thực hiện
công việc.
Căn cứ vào bản nghiệm thu khối lượng công việc đã hoàn thành trong tháng,
Phòng tổ chức lao động tiền lương tính đơn giá tiền lương công trình. Phòng Tài
chính kế toán căn cứ vào bảng chấm công theo mẫu số 02- LĐTL để tính lương và
thanh toán tiền lương cho từng đội công trình.
Kế toán tiền lương căn cứ vào chứng từ gốc (bảng thanh toán lương và
phiếu đề nghị tạm ứng lương) của từng công trình, hạng mục công trình để lập bảng
phân bổ tiền lương trong tháng cho từng công trình, hạng mục công trình. Từ bảng
phân bổ tiền lương, kế toán tiền lương lập chứng từ ghi sổ và vào sổ cái.
Từ bảng phân bổ tiền lương kế toán tiền lương lập chứng từ ghi sổ để nộp cho kế
toán phụ trách tổng hợp chi phí và giá thành sản phẩm vào sổ đăng ký chứng từ ghi
sổ và sổ cái.
Chứng từ ghi sổ
Ngày 5 tháng 1 năm 2001 Số : 257
Chứng từ Trích yếu Shtk Số tiền
(đồng) Số Ngày Nợ Có
Bảng Tháng Căn cứ vào bảng phân bổ tiền lương T/12 334
PBTL 12/00 năm 2000 để ghi Nợ cho các đối tượng sử
dụng
1. Tiền lương + phụ cấp CN SCL 241 9.602.015
2.Tền lương + phụ CB Đoàn 338 739.800
3. Tiền lương + phụ cấp CNSX trực tiếp 622 194.435.605
+ QLộ 1 dự án 1A-2 78.650.800
...................
4. Tiền lương + phụ cấp CN gián tiếp 627 70.588.000
32.196.000
5. Tiền lương + phụ cấp CN lái xe, máy 623 138.267.950
+ QLộ 1 dự án 1A-2 77.860.310
...................
6Tiền lương + phụ cấp lương khối VP 642 119.498.596
Kèm theo chứng từ gốc Kế toán trưởng
Người lập
2.3 Hạch toán chi phí máy thi công
Chi phí sử dụng máy thi công của công ty bao gồm các chi phí về về
tièn lương, tiền công công nhân lái máy, chi phí về nguyên vật liệu phục vụ
máy thi công, chi phí khấu hao TSCĐ, chi phí sửa chữa máy thi công thuê
ngoài, và các chi phí bằng tiền khác.
Máy thi công của công ty xây dựng công trình giao thông 810 gồm có máy
trộn bê tông, máy đầm, máy đào đất, xúc đất, máy đóng cọc, ôtô vận chuyển đất đá
trong công trường, máy rải nhựa đường.Công ty không tổ chức đội xe, máy riêng
mà tuỳ theo nhu cầu thi công của các đội công trình để giao cho các đội tự quản lý
điều hành xe, máy thi công, có sự giám sát của các phòng ban trực tiếp quản lý.
Trong trường hợp để đảm bảo cho tiến độ thi công, cần phải thuê máy thi công thì
đội công trình phải lập bản ký "Hợp đồng thuê máy thi công", khi hợp đồng thuê
máy kết thúc, phải có "Biên bản thanh lý hợp đồng thuê máy", kế toán căn cứ vào
chứng từ được tập hợp để tiến hành thanh toán tiền thuê máy cho bên cho thuê. Máy
thi công thi công cho công trình nào thì tập hợp chi phí trực tiếp cho công trình,
hạng mục công trình đó. Việc hạch toán chi phí máy thi công không có cán bộ kế
toán chuyên trách mà được tập hợp từ tất cả các chứng từ có liên quan cho kế toán
tổng hợp.
ở công ty khấu hao cơ bản được tính vào chi phí sử dụng máy thi công (đối
với máy móc thi công) và chi phí quản lý doanh nghiệp đối với TSCĐ sử dụng ở
văn phòng công ty như nhà cửa, thiết bị máy móc phục vụ cho văn phoàn công ty,
không tính khao hao cơ bản vào chi phí sản xuất chung. Hàng tháng kế toán TSCĐ
lập bảng khấu hao theo từng loại máy riêng và lập bảng phân bổ khấu hao cho từng
đội công trình. Riêng tháng 12/00 công ty không trích nữa vì số chi sửa chữa không
hết . Bảng trích khấu hao TSCĐ của công ty được lập theo mẫu sau:
2.4 Hạch toán chi phí sản xuất chung
Chi phí sản xuất chung của công ty bao gồm :
- Tiền lương nhân viên quản lý đội xây dựng.
- Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn trích theo tỷ lệ 19%
trên tiền lương phải trả của công nhân trực tiếp sản xuất (thuộc biên chế doanh
nghiệp) và nhân viên quản lý đội.
- Tiền công tác phí, giao thông phí.
- Chi phí về công cụ, dụng cụ.
- Chi phí về dịch vụ mua ngoài.
- Chi phí khác bằng tiền.
Cũng như chi phí máy thi công, việc hạch toán chi phí sản xuất chung không
có kế toán chuyên trách phụ trách hạch toán mà được tập hợp trên các phiếu định
khoản, bảng phân bổ vật liệu, tiền lương (hoặc các bảng kê xuất vật liệu, chi tiền
mặt, tiền gửi Ngân hàng, tạm ứng...) để tổng hợp chi phí sản xuất chung và từ các
chứng từ ghi sổ có liên quan kế toán tổng hợp vào sổ cái TK 627.
Trong chi phí sản xuất chung, chi phí sản xuất liên quan trực tiếp đến công
trình, hạng mục công trình nào thì được tập hợp ngay cho công trình, hạng mục
công trình đó như chi phí điện nước của từng công trình, chi phí giao dịch tiếp
khách bên A của từng công trình, chi phí phô tô bản vẽ, tài liệu của công trình...
Trường hợp chi phí sản xuất chung có liên quan đến nhiều công trình, kế toán tổng
hợp sẽ tiến hành phân bổ chi phí sản xuất chung cho các công trình theo tỷ lệ thích
hợp.
Đối với tiền lương nhân viên quản lý đội công trình thì được áp dụng
phương pháp tính lương theo thời gian. Căn cứ vào bảng chấm công ở
các bộ phận gửi lên và phương án phân phối quỹ tiền lương của từng đội
công trình mà lập bảng tổng hợp thanh toán lương cho bộ phận quản lý
đội (bộ phận gián tiếp) theo mẫu đã qui định.
Hàng ngày kế toán căn cứ vào các chứng từ gốc để vào sổ chi tiết chi phí đội
công trình theo từng khoản mục chi phí.
Đối với các khoản tiền trích như BHXH, BHYT thì kế toán tiền lương
căn cứ theo lương cấp bậc của từng cán bộ công nhân viên, riêng tiền
trích KPCĐ theo tổng quỹ lương trực trả để lập bảng kê trích theo từng
khoản mục chi tiết rồi tập hợp theo từng đội công trình sau đó lên chứng
từ ghi sổ và vào sổ cái. Mức trích theo qui định của Bộ Lao động thương
binh xã hội : 20% BHXH, 3% BHYT, 2% KPCĐ trong đó trừ vào lương
cán bộ công nhân viên là 6%, còn tính vào chi phí sản xuất chung là 19%.
Trích Bảng kê trích 20% BHXH tháng 12 năm 2000
Tên đơn vị Lương cấp Số tiền Ghi Nợ cho các TK S
bậc và phụ phải trích T TK 136 TK334 TK627 TK642
cấp TN T
1 Đội công 25.714.800 5.142.960 1.285.740 3.857.220
trình 1
2 Đội công 15.361.200 3.072.240 768.060 2.304.180
trình 2
3 XN giao 24.618.600 4.923.720 4.923.72
0 thông 3
4 Văn phòng 2.9626.470 5.925.294 1.745.694 4.179.600
Cty
... ... ... ... ... ... ... ..
.
Cộng 180.173.790 36.034.75 4.923.72 7.566.314 19.365.124 4.179.600
8 0
Kế toán lập Kế toán trưởng
Đã ký
Chứng từ ghi sổ
Ngày 31 tháng 12 năm 2001 Số : 266
Chứng từ Trích yếu shtk Số tiền
(đồng) Số Ngày Nợ Có
Bảng Thán Căn cứ vào bảng kê trích BHXH T/12 338
PBTL g năm 2000 để ghi Nợ cho các đối tượng sử
12/00 dụng
1. Ghi Nợ cho XNGT 3 136 4923720
2. Trừ 5% qua lương 334 7566314
3. Trích 15% BHXH vào chi phí SXC 627 19365124
4. Trích 15% BHXH của khối VP 642 4179600
Kèm theo chứng từ gốc Kế toán trưởng
Người lập
Việc trích BHYT và KPCĐ được tiến hành như trích BHXH sau đó kế toán
tiền lương chuyển các chứng từ ghi sổ có liên quan cho kế toán tổng hợp vào sổ cái
TK622.
Các khoản chi phí sản xuất chung khác phát sinh được kế toán theo dõi tập
hợp chi phí từng đội công trình theo từng công trình, hạng mục công trình trên sổ
chi tiết chi phí đội. Cuối tháng kế toán lên bảng tổng hợp chi phí SXC của từng
công trình, hạng mục công trình theo mẫu sau:
2.5 Kế toán tập hợp chi phí toàn đơn vị
Chi phí sản xuất sau khi tập hợp riêng từng khỏan mục chi phí NVL trực tiếp, chi phí NC trực tiếp, chi phí máy
thi công, chi phí sản xuất chung được kết chuyển để tập hợp chi phí sản xuất của toàn đơn vị và chi tiết theo từng đối
tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất.
Định kỳ kế toán tổng hợp tiến hành tính GTSP xây lắp, các chi phí sản xuất tập hợp ở phần trên cuối cùng sẽ được
tổng hợp vào bên Nợ TK 154- Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang.
Cuối tháng căn cứ vào bảng tổng hợp chi phí sản xuất theo từng khoản mục chi phí của từng công trình, hạng mục
công trình, kế toán tổng hợp lập sổ chi tiết chi phí sản xuất cho từng công trình, hạng mục công trình theo mẫu:
Chứng từ ghi sổ tk 154
Ngày 31 tháng 12 năm 2000
Chứng từ
Trích yếu
shtk
Số tiền
(đồng)
Số Ngày
Nợ Có
Tháng
- Chi phí sản xuất kinh doanh dở
154
3.009.666.543
12/00
dang
- Chi phí NVL trực tiếp
621
10.274.255.997
+ QLộ 1 1A-2
5.038.857.857
............
- Chi phí nhân công trực tiếp
622
194.435.605
+ QLộ 1 1A-2
78.650.800
............
- Chi phí máy thi công
623
1.962.734.119
+ QLộ 1 1A-2
701.307.987
............
- Chi phí sản xuấtchung
627
541.115.358
+ QLộ 1 1A-2
160.226.837
............
Kèm theo chứng từ gốc Kế toán trưởng
Người lập
3. Mở sổ cái các tài khoản
Sổ cái tk 621
Tháng 2 năm 2001
Ngày
Chứng từ
Số tiền
tháng
Số Ngày
TK
Có
Nợ
Diễn giải
ghi sổ
tháng
ĐƯ
2/12
31/12 Chi phí NVL trực tiếp
152
10.274.255.99
7
QLộ 1A2
5.038.857.857
QLộ 18
4.517.100
..........
K/c chi phí NVL trực
154
10.274.255.99
tiếp
7
QLộ 1A2
5.038.857.857
QLộ 18
4.517.100
......
Sổ cái tk 622
Tháng 2 năm 2001
Ngày
Chứng từ
TK
Số tiền
tháng
Số Ngày
ĐƯ
Nợ
Có
Diễn giải
ghi sổ
tháng
2/01
257 31/02 Chi phí nhân công trực tiếp
334
194.435.60
5
QLộ 1A2
78.650.800
.........
.........
K/c chi phí NC trực tiếp
154
194.435.60
5
QLộ 1A2
78.650.800
.........
.........
Căn cứ vào các chứng từ ghi sổ số 245, 247, 248, 249,...kế toán tổng hợp lên sổ cái tài khoản 623.
Sổ cái tk623
Tháng 12 năm 2000
Ngày
Chứng từ
Diễn giải
TK
Số tiền (đồng)
ĐƯ
tháng
Nợ
Có
Số Ngày
ghi sổ
tháng
12/00
245 12/00 Chi phí sử dụng máy thi
111
97.450.830
công
23.218.851
QLộ dự án 1A-2
............
............
247
-
Chi phí sử dụng máy thi
112
44.237.735
công
10.013.635
QLộ dự án 1A-2
............
............
889.680
248
-
Chi phí sử dụng máy thi
311
công
450.000
QLộ dự án 1A-2
............
............
249
-
Chi phí sử dụng máy thi
141
18.212.550
công
QLộ dự án 1A-2
10.266.100
............
............
257
-
Phân bổ tiền lương tháng 12 334
381.799.540
QLộ dự án 1A-2
77.860.310
............
............
262
-
Chi phí sử dụng máy thi
336
246.074.603
công
QLộ dự án 1A-2
23.223.400
............
............
264
-
Thanh toán tiền s/chữa th/ bị 141
3.601.606
QLộ dự án 1A-2
10.266.100
............
............
267
-
Chi phí sử dụng máy thi
331
62.587.013
công
QLộ dự án 1A-2
16.987.013
............
............
268
- VL xuất dùng cho máy t/
152
1.004.129.09
công
6
QLộ dự án 1A-2
533.773.178
............
............
274
-
Trích KH TSCĐ tháng 12
214
103.706.300
QLộ dự án 1A-2
5.515.500
............
............
284
-
K/c chi phí sử dụng máy thi
154
1.962.734.11
công
9
Định kỳ cuối tháng kế toán căn cứ vào các chứng từ ghi sổ để vào sổ cái TK627 - chi phí sản xuất chung.
Sổ cái tk627
Tháng 12 năm 2000
Ngày
Chứng từ
Số tiền
TK
tháng
Diễn giải
ĐƯ
Số Ngày
ghi sổ
Nợ
Có
tháng
12/00
245
12/00 Chi phí sản xuất chung
111
74.092.166
QLộ dự án 1A-2
31.157.123
............
247
Chi phí sản xuất chung
112
47.654.601
-
QLộ dự án 1A-2
10.737.840
............
-
Chi phí sản xuất chung
311
8.237.400
248
-
Chi phí sản xuất chung
152
3837343
268
-
Chi phí sản xuất chung
141
92.282.184
249
QLộ dự án 1A-2
10.266.100
............
256
-
Phân bổ tiền lương tháng 12
334
238.708.610
QLộ dự án 1A-2
32.196.000
............
-
Chi phí các đơn vị thi công
336
6.083.646
262
Phải trả phải nộp khác
338
48.848.008
266
QLộ dự án 1A-2
35.854.351
............
267
-
Chi tiền thuê máy thi công
331
21.371.400
QLộ dự án 1A-2
40.015.423
............
284
-
K/c chi phí sản xuất chung
154
541.115.358
Sổ cái tk 154
Tháng 12 năm 2000
Ngày
Chứng từ
Số tiền
TK
tháng
Diễn giải
ĐƯ
Số Ngày
Nợ
ghi sổ
tháng
Có
12/00
12/00
- Chi phí NVL trực tiếp
621
10.274.255.997
+ QLộ 1 /1A-2
5.038.857.857
............
- Chi phí nhân công trực tiếp
622
194.435.605
+ QLộ 1 /1A-2
78.650.800
............
- Chi phí máy thi công
623
1.962.734.119
+ QLộ 1 /1A-2
701.307.987
............
- Chi phí sản xuấtchung
627
541.115.358
+ QLộ 1/ 1A-2
160.226.837
............
Tổng chi phí sản xuất
12.972.531.079
K/c giá vốn công trình QLộ 1
632
5.973.527.99
/1A-2
9
4. Kiểm kê đánh giá sản phẩm dở dang và tính giá thành sản phẩm
ở công ty xây dựng công trình giao thông 810 việc thanh toán sản phẩm xây dựng hoàn thành là theo điểm dừng kỹ
thuật hợp lý, kỳ tính giá thành xây dựng hoàn thành là cuối năm 31/12 hàng năm, nên để xác định được thực tế khối
lượng xây lắp hoàn thành trong năm phải tính được chi phí thực tế của khối lượng xây lắp dở dang cuối năm. Khối lượng
xây lắp dở dang cuối năm là khối lượng xây lắp chưa đạt tới điểm dừng kỹ thuật hợp lý đã qui định và được xác định
bằng phương pháp kiểm kê.
Cuối năm, cán bộ kỹ thuật công ty, kỹ sư công trình, đội trưởng đội công trình, cán bộ phòng kế hoạch tiếp thị
cùng tiến hành xác định kiểm kê khối lượng công việc dở dang thực tế tại từng công trình. Sau đó phòng kế hoach tiếp thị
căn cứ vào khối lượng xác định lập bảng tính kinh phí theo khối lượng kiểm kê dở dang cho từng công trình, hạng mục
công trình để gửi cho phòng tài chính kế toán như sau:
Bảng tính kinh phí theo khối lượng kiểm kê dở dang
Công trình đường QLộ 1 dự án 1A-2 (đoạn Pháp Vân –Thường Tín)
Đơn vị thi công : đội CT1 - CT6 - CT8
TT
Hạng mục
Đ.vị
Khối
Đơn giá
Thành tiền
tính
lượng
(đồng)
(đồng)
2.8.05 Đắp gia tải
2.762
18.801
51.928.362
2.6.01 Đắp nền thông thường
3.930
27.093
106.475.490
2.8.03 Đắp cát thoát nước
2.500
57.888
144.720.000
3.16.02 Lớp Base
00
132.669
00
3.6.01 Lớp sub base
1.525
107.583
164.064.075
2.6.01 Lpứo subgrade
3.186
27.093
86.318.298
2.4.1 Đào nền
1.796
4.401
16.884.196
m3 m3 m3 m3 m3 m3 m3 ha m3
2.2.1 Dọn dẹp cuốc sới
1,3
5.165.329
6.714.928
Đắp đất bao
6.700
22.264
149.168.800
7.9.01 Đắp đất ở dải phân cách
m3
900
19.791
17.811.900
6.5.05 Bê tông đầu cống tròn
7,56
692.668
5.236.570
m3
2.8.08 ống thoát nước
900 79.161,81
71.245.629
m
2.8.07 Giếng bom
139,5 89.057,15
12.423.472
2.8.04 Vải địa KT của ống thoát
1.068
6.779
7.239.972
m m2
nước
6.7.04 Đắp đá hộc cống
300
118.743
35.622.900
2.8.04 Vải địa kỹ thuật cống hộp
300
6.779
2.033.700
5.2.05 Bê tông đệm vỉa loại D
228
732.250
166.953.000
m3 m2 m3
3.000
39.581
118.743.000
m
7.4.01 Vỉa phân cách 4.3.01 Nhựa dính bám 0,25lít/ m2
15.686
3.364
52.767.704
lít
4.4.02 Bê tông nhựa thô
1.537
257.322
395.503.914
tấn
4.4.01 Nhựa thấm MC 70
5.418
4.601
24.928.218
lít
Cộng
163.684.128
T. phòng kế hoạch tiếp thị
Đã ký
Phòng kế toán khi nhận được "Bảng tính kinh phí khối lượng kiểm kê dở dang" của các công trình tiến hành xác
định chi phí thực tế của khối lượng xây lắp dở dang cuối kỳ cho từng công trình, hạng mục công trình theo công thức.
Chi phí của KL Chi phí SX
sản phẩm dở + phát sinh
Chi phí của dangđầu kỳ trong kỳ Giá dự toán của
sản phẩm dở = X khối lượng XL
dang cuối kỳ Giá dự toán của Giá dự toán của dở dang cuối kỳ
KL HT bàn + khối lượng XL
giao trong kỳ dở dang cuối kỳ
Ví dụ : Dựa trên số liệu ở "Bảng tính kinh phí theo khối lượng kiểm kê dở dang" và các sổ kế toán liên quan
của công trình QLộ 1 dự án 1A-2, chi phí thực tế của khối lượng xây lắp dở dang cuối kỳ của công trình QLộ 1 dự
án 1A-2 được xác định như sau:
- Giá dự toán KLXL hoàn thành bàn giao trong kỳ là 11.595.743.000 đ
- Chi phí thực tế phát sinh trong kỳ (số liệu ở cột 4 sổ chi tiết CPSX công trình QLộ 1 dự án 1A-2 hàng cộng phát
sinh trong kỳ) là :10.164.352.830đ
- Chi phí thực tế khối lượng xây dựng dở dang đầu kỳ ( số liệu ở báo cáo CPSX và giá thành xây dựng hoàn thành
năm 1999) là 300.966.534 đ
- Giá trị dự toán của khối lượng XD dở dang cuối kỳ ( số liệu ở bảng tính kinh phí theo khối lượng kiểm kê dở
dang cuối kỳ) là 1.636.784.128 đ
Trong đó : Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp : 1.276.691.620đ
Chi phí nhân công trực tiếp : 147.310.571đ
Chi phí máy thi công : 108.195.594đ
Chi phí sản xuất chung : 104.586.343đ
Vậy giá trị thực tế khối lượng xây dựng dở dang cuối kỳ của công trình QLộ 1 dự án 1A-2 là :
Giá trị thực tế của 3.009.666.534 + 10.164.352.830
khối lượng xây dựng = x 1.636.784.128
dở dang cuối kỳ 11.595.743.000 + 1.636.784.128
= 1.629.547.069đ
Căn cứ vào hệ số H, chi phí dự oán từng khoản mục trong khối lượng xây dựng dở dang từng công trình, hạng mục
công trình kế toán tính:
Chi phí dở dang thực tế từng khoản mục = H x chi phí dự toán
1.629.547.069
H = = 0,99557849
1.636.784.128
Chương III
Nhận xét và đóng góp ý kiến về công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại công ty xây dựng
công trình giao thông 810
I . Đánh giá quá trình kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại công ty xây dựng công trình
giao thông 810
Trải qua hơn ba mươi năm xây dựng và trưởng thành, cùng với sự phát triển và lớn mạnh của ngành XDCB, công
ty xây dựng công trình giao thông 810 đã không ngừng lớn mạnh cả về qui mô và trình độ chuyên môn sản xuất mà còn
tiến bộ rất nhiều trong công tác quản lý đặc biệt là công tác hạch toán kế toán Tài chính đơn vị. Công ty là một đơn vị tiêu
biểu trong các đơn vị xây dựng công trình giao thông của Tổng công ty xây dựng công trình giao thông 8.
Qua thời gian nghiên cứu thực tập ở công ty, với sự quan tâm giúp đỡ của các cô các chú ở các phòng ban, đặc biệt
là các cô chú, anh chị trong phòng Tài chính kế toán đã tạo điều kiện cho em nghiên cứu, làm quen với thực tế, củng cố
thêm kiến thức học ở trường và liên hệ thực tiễn với công tác kế toán. Mặc dù thời gian thực tập còn ngắn ngủi, hiểu biết
về thực tế chưa nhiều em xin mạnh dạn đưa ra một số ý kiến nhận xét và một vài kiến nghị nhằm góp một phần nhỏ để
hoàn thiện hơn nữa công tác công tác hạch toán kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại công ty.
1. Những ưu điểm
Trước hết, công ty đã xây dựng được một bộ máy quản lý gọn nhẹ, các phòng ban chức năng phục vụ có hiệu quả
trong việc giám sát sản xuất thi công, quản lý kinh tế, công tác tổ chức sản xuất. Đặc biệt sự phân công nhiệm vụ rõ ràng
đã góp phần đắc lực vào công tác hạch toán và quản lý kinh tế của công ty. Cụ thể công ty áp dụng hình thức khoán
xuống các Tổ - đội công trình là phù hợp với đặc điểm và tình hình sản xuất thi công ở công ty. Do các công trình thi
công chủ yếu là công trình lớn, địa bàn rộng nên hình thức khoán gọn từng công trình có kết hợp với sự giám sát kiểm tra
tập trung đã gắn liền trách nhiệm vật chất của đội thi công với tiến độ và chất lượng thi công công trình từ đó tạo nền
tảng cho việc tiết kiệm chi phí và hạ giá thành sản phẩm .
Ngoài ra, công ty đã xây dựng được mô hình quản lý và hạch toán khoa học, hợp lý, phù hợp với yêu cầu của thị
trường, chủ động trong sản xuất kinh doanh. Từ công việc hạch toán ban đầu đến việc kiểm tra tính hợp lệ của các chứng
từ gốc được tiến hành khảo sát cẩn thận, đảm bảo các số liệu hạch toán là có căn cứ pháp lý tránh được sự phản ánh sai
lệch các nghiệp vụ kinh tế phát sinh. Mặt khác, phòng kế toán của công ty đã xây dựng được một hệ thống sổ sách kế toán
phù hợp với yêu cầu, mục đích của chế độ kế toán mới.
- Các chứng từ ban đầu sử dụng cho việc hạch toán tương đối hợp lý, đúng chế độ nhà nước yêu cầu.
- Hệ thống sổ sách kế toán sử dụng cho việc hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm theo hình thức
chứng từ ghi sổ tương đối đầy đủ và hợp lý. Trình tự hạch toán tương đối khoa học, chặt chẽ các chi phí phát
sinh được tập hợp và phản ánh rõ ràng. Số liệu tập hợp được có khả năng sử dụng để đánh giá hoạt động sản
xuất kinh doanh của công ty, tính toán được hiệu quả kinh tế.
- Việc tập hợp chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm mà đơn vị đang áp dụng tương đối phù hợp tình hình, đặc
điểm và nhiệm vụ sản xuất của công ty. Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm mà công
ty xác định là hợp lý, tao điều kiện thuận lợi cho việc tính giá thành sản phẩm được nhanh gọn, đúng kỳ.
- Công tác kiểm kê khối lượng xây dựng dở dang được tiến hành tổ chức một cách khoa học, cung cấp số liệu
chính xác, kịp thời phục vụ cho công tác tính giá thành.
Bên cạnh những ưu điểm cơ bản trên, công tác quản lý và hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm ở
công ty xây dựng công trình giao thông 810 vẫn còn một số tồn tại nhất định.
2. Những mặt còn tồn tại
Đối với việc hạch toán, công ty chưa đi vào hạch toán chi tiết theo từng tiểu khoản chi phí (TK cấp 2), điều này
cũng gây ảnh hưởng đến việc theo dõi chi tiết các nghiệp vụ phát sinh, khó phát hiện ra những khoản chi phí bất hợp lý
một cách kịp thời. Mặt khác công ty chưa lập sổ theo dõi chi từng khoản mục chi phí cho từng công trình, hạng mục công
trình (Sổ chi tiết các TK621, 622, 623, 627).
Đối với việc trích khấu hao cơ bản, theo chế độ kế toán hiện hành, chi phí khấu hao cơ bản của máy thi công phục
vụ cho công tác thi công công trình được hạch toán vào chi phí sử dụng máy thi công (TK623) còn chi phí khấu hao
TSCĐ sử dụng cho từng đội công trình thì tính vào chi phí sản xuất chung. Nhưng công ty hạch toán tất cả các khoản chi
phí trích khấu TSCĐ vào chi phí sử dụng máy thi công (TK623) trừ các khoản trích khấu hao TSCĐ phục vụ cho quản lý
doanh nghiệp ( được hạch toán vào chi phí quản lý doanh nghiệp TK642). Điều này là chưa đúng với chế độ kế toán hiện
hành. Do những mặt còn tồn tại trên đã làm cho quá trình tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm chưa được thuận
tiện, dễ dàng và chính xác tuyệt đối.
II. Một số ý kiến đóng góp để hoàn thiện công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản xuất
sản phẩm tại công ty
Sau khi tìm hiểu và nắm bắt thực tế, đối chiếu với lý luận đã được học, với momg muốn được đóng góp một số ý
kiến của cá nhân em vào việc hoàn thiện hơn nữa công tác hạch toán kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
tại công ty. Em xin mạnh dạn đè xuất các ý kiến sau :
ý kiến thứ nhất
Đối với việc hạch toán chi phí sử dụng máy thi công, công ty nên tổ chức theo dõi lý trình hoạt động theo giờ ca xe
máy thi công cho từng công trình, hạng mục công trình riêng biệt.
Sau đó, từ các chứng từ gốc có liên quan, kế toán mở sổ theo dõi chi tiết "Chi phí sử dụng máy thi công" theo mẫu
:
Sổ chi tiết chi phí sử dụng máy thi công
Chứng từ
Diễn
TK
Các khoản mục chi tiết
Tổng
giải
ĐƯ
cộng
SH
NT
6231
6232
6233
6234
6237
6328
...
...
...
...
...
...
...
...
...
Tổng
cộng
Sổ này được mở cho từng tháng. Cuối tháng căn cứ vào các " phiếu theo dõi hoạt động của xe máy thi công, kế
toán lập bảng tổng hợp và phân bổ chi phí sử dụng máy thi công phục vụ cho việc tổng hợp chi phí sản xuất và tính giá
thành sản phẩm xây lắp được thuận tiện.
Bảng phân bổ chi phí sử dụng máy thi công
Tên xe
Tổng
Số ca
Số chi
Công trình A
Công trình B
Tổng
S
máy thi
số chi
(giờ
phí phân
cộng
T
Số ca
CP máy
Số ca
CP
công
phí
máy)
bổ cho 1
T
(giờ)
thi công
(giờ)
máy thi
phân
hoạt
ca (giờ)
phân bổ
công
bổ
động
phân
bổ
3
4
5= 3 : 4
7= 5x6
9=5x8
6
8
1
2
...
...
...
...
...
...
...
...
..
...
.
Cộng
Lập , ngày ... tháng ... năm ...
Người lập bảng Kế toán trưởng
Việc lập sổ chi tiết chi phí sử dụng máy thi công và bảng phân bổ chi phí sử dụng máy thi công sẽ giúp kế toán
tổng hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây dựng được thuận tiện trong việc tính toán chính xác các khoản
chi phí cho đúng đối tượng sử dụng.
ý kiến thứ hai
Về việc sử dụng tài khoản hạch toán, công ty nên hạch toán chi tiết theo từng tiểu khoản, như vậy sẽ dễ dàng trong
việc tìm ra những chi phí bất hợp lý trong quá trình sản xuất thi công.
Đối TK 627 : chi phí sản xuất chung, công ty nên hạch toán chi tiết theo từng tiểu khoản theo qui định như :
- TK 6271 : chi phí lương nhân viên phân xưởng.
- TK 6272 : chi phí vật liệu.
- TK 6273 : chi phí dụng cụ SX.
- TK 6274 : chi phí khấu hao TSCĐ.
- TK 6277 : chi phí dịch vụ mua ngoài.
- TK6278 : chi phí bằng tiền khác.
Và cũng giống như đối với việc hạch toán chi phí sản xuất thi công, chi phí sản xuất chung cũng cần phải được mở
sổ chi tiết để theo dõi cho từng công trình, hạng mục công trình hoặc theo từng đội sản xuất, cuối tháng nếu cần phải phân
bổ thì tiến hành lập bảng phân bổ cho từng công trình, hạng mục công trình.
Sổ chi tiết "chi phí sản xuất chung"
Công trình , đội công trình
Chứng từ
Diễn
TK
Các khoản mục chi tiết
Tổng
giải
ĐƯ
cộng
SH
NT
6271
6272
6273
6274
6277
6378
...
...
...
...
...
...
...
...
...
Tổng
cộng
Cuối tháng, lập bảng phân bổ chi phí sản xuất chung để phục vụ cho việc tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành
sản phẩm xây lắp.
Bảng phân bổ chi phí sản xuất chung.
A. Tổng chi phí sản xuất chung phân bổ kỳ này ..............................đồng
B. Tiêu thức phân bổ ....................................................................
C. Tỷ lệ phân bổ ..........................................................................
Đối tượng phân bổ
Tiêu thức phân bổ
Số tiền
1
2
3
...
ý kiến thứ ba
Đối với việc trích khấu hao cơ bản, công ty nên phân bổ đúng cho đối tượng chịu chi phí. Đối với TS dùng cho
hoạt động của tổ đội sản xuất thì phải hạch toán vào chi phí sản xuất chung, chỉ hạch toán vào chi phí sử dụng máy thi
công những chi phí khấu hao cho xe, máy thi công. Như vậy mới đảm bảo đúng nguyên tắc hạch toán mà Bộ Tài chính
qui định đối với các doanh nghiệp xây lắp.
bảng tính chi phí thực tế khối lượng xây dựng dở dang cuối kỳ theo từng khoản mục chi phí CT QLộ 1 dự án 1A-2
H
Chi phí dự toán khối lượng xây dựng dở dang
Chi phí thực tế khối lượng xây dựng dở dang
TK621
TK622
TK623
TK627
Cộng
TK621
TK622
TK623
TK627
Cộng
0,99557
1.276.691.
14.730.5
108.195.5
104.586.3
1.636.748.
1.271.046.
146.659.3
107.717.1
104.123.9
1.629.547.
84
620
71
94
43
128
600
22
73
74
069
Từ các kết quả tính toán ra được kế toán tổng hợp đưa vào "Bảng tổng hợp chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây lắp
của công trình QLộ 1 dự án 1A-2 năm 2000
Bảng tổng hợp chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây lắp công trình QLộ 1 dự án 1A-2 năm 2000
Chi phí sản xuất
Chi phí sản xuất
Chi phí sản
Giá thành khối lượng xây lắp hoàn
TT
Khoản mục
dở dang đầu kỳ
phát sinh trong kỳ
xuất dở dang
thành trong kỳ
cuối kỳ
Thực tế
Dự toán
1
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
2.534.837.002
7.767.585.896
1.271.046.600
9.031.376.298
9.025.731.278
2
Chi phí nhân công trực tiếp
140.305.045
396.931.528
146.659.322
390.577.251
389.926.002
3
Chi phí sử dụng máy thi công
244.202.877
1.083.009.762
107.717.173
1.219.495.466
121.901.045
4
Chi phí sản xuất chung
90.321.610
916.825.644
104.123.974
903.023.280
902.860.911
5
Cộng
3.009.666.534
10.164.352.830
1.629.547.069
11.544.472.295
11.537.271.236
Nhận xét của công ty
trích bảng phân bổ nguyên liệu vật liệu
Tháng 12 năm 2001
Cộng
TK 152
Số
TK 152
TK 1521
TK1523
TK1522
TT
1.459.575
I TK 241: Chi phí sửa chữa lớn TSCĐ
68.000.000
II TK 335: Sửa chữa lớn TSCĐ
10.274.255.997
III TK 621: Chi phí NVL trực tiếp
8.219.404.798
2.054.851.199
5.038.857.857
1 Qlộ 1 dự án 1-A2 Pháp Vân Thường Tín
4.031.086.286
1.077.771.571
4.517.100
2 Qlộ 18 Móng Cái- Trà Cổ
3.613.680
903.420
...
IV TK 623: Chi phí sử dụng máy thi công
1.004.129.096
1.004.129.096
1 Qlộ 1 dự án 1-A2 Pháp Vân Thường Tín
533.773.178
533.773.178
2 Rải bê tông sân NH Nông nghiệp
161.465
161.465
...
V TK 627: Chi phí sản xuất chung
2.302.406
1.534.937
3.837.343
1 Thi công đường ô tô xã Vạn Ninh
465.030
310.020
775.050
2 Cải tạo đê Thờng Tín
1.527.356
1.018.237
2.545.593
VI TK 642: Chi phí quản lí doanh nghiệp
11.039.907
11.039.907
Cộng
8.219.404.798
2.068.193.512
1.005.664.003
11.361.221.918
Sơ đồ tổ chức bộ máy của công ty
Ban giám đốc
Bộ phận gián tiếp
Bộ phận trực tiếp
Phòng tiếp thị
Phòng kỹ thuật
Xí nghiệp XDct gt3
đội cơ khí ct8
Phòng Vật tư thiết bị
Phòngtổ chức lao động
Các đội công trình 1,2,5,6,7
Phòng Tài chính kế toán
Phòng Hành chính y tế
Trích bảng phân bổ tiền lương và bảo hiểm xã hội
Tháng 12 năm 2001
TK 338: Phải trả phải nộp khác
TK344: PT
Số
CNV
Số Tiền
KPCĐ
BHXH
BHYT
Cộng có
Tổng cộng
T
(3382)
(3383)
(3383)
TK 338
334 & 338
T
TK 2413 : Sửa chữa lớn TSCĐ
9.602.015
192.040
1.440.302
192.040
1.824.382 11.426.397
I
TL+ phụ cấp lươngCN sửa chữa
9.602.015
192.040
1.440.302
192.040
1.824.382 11.426.397
1
lớn
II
TK338 : Các khoản phải trả
739.800
14.796
110.970
14.796
140562
880.362
khác
1
TL + phụ cấp của CB chuyên
739.800
14.796
110.970
14.796
140562
880.362
trách CĐ
III TK622 : TL + phụ cấp CN SXTT
194.435.605
3.888.712 29.165.341
3.888.712 36.942.765 231.378.37
0
1 Khôi phục QLộ1 dự án 1A-2
78.650.800
1.573.016 11.797.620
1.573.016 14.943.652 93.594.452
IV TK623 : TL+ phụ cấp CN lái
138.267.950
2.765.359 20.740.192
2.765.359 26.271.911 164.539.86
1
măy
1 Khôi phục QLộ1 dự án 1A-2
77.860.310
1.557.206 11.679.047
1.557.206 14.793.459 92.653.769
V
TK627 : TL+ phụ cấp CN gián
70.588.000
1.411.176 10.588.200
1.411.176 13.411.720 83.999.720
tiếp
1 Khôi phục QLộ1 dự án 1A-2
32.196.000
643.920
4.829.400
643.920
6.112.110 38.281.110
VI TK642 : TL + phụ cấp lương
119.498.596
2.389.972 17.920.789
2.389.972 22.704.733 142.203.32
9
khối VP
533.131.966 10.662.639 79.969.795
10.662.639 101.295.07
634.427.03
Cộng
3
9
ằng chữ : Năm trăm ba mươi ba triệu một trăm ba mươi mốt nghìn chín trăm sáu mươi sáu đồng ./.
Kế toán lập Ngày 5 tháng 1 năm 2001
Đã ký Kế toán trưởng
Đã ký
trích bảng trích khấu hao máy thi công tháng 12 năm 2000 đội CT6
Tên tài sản
Nguyên giá
Thời gian sử
Luỹ kế khấu
Giá trị còn lại
KH cơ bản trích trong
dụng
hao
tháng
1.Máy Lu 01
130.000.000
130.000.000
0
-
0
2. Máy đầm cóc MTR03
15.000.000
8.437.500
6.562.500
5
273.600
3. Máy lu rung ML 19
400.000.000
339.708.200
60.291.800
7
1.675.000
4. Máy xúc MX 08
330.000.000
249.810.000
80.190.000
7
2.227.500
...
...
...
...
...
.....
Cộng
5.515.500
Cuối tháng căn cứ vào các phiếu định khoản (ghi CóTK111, 311, 112, 331, 141, 336, 152), kế toán lập bảng tổng
hợp chi phí cho máy thi công theo từng công trình, hạng mục công trình.
Trích Bảng tổng hợp chi phí máy thi công Nợ TK623
Tháng 12 năm 2000 Có TK …
Chi phí chi tiết theo từng tài khoản
Tên
Tổng số
công
tiền
TK152
TK334
TK111
TK112
TK311 TK331
TK141
TK336
TK214
trình
(đồng)
1. QLộ1
701.307.98
533.773.17
77.860.31
23.218.8
10.013.6
450.00
16.987.0
10.266.1
23.223.40
5.515.500
dự án
7
8
0
51
35
0
13
00
0
1A-2
...
...
...
...
...
...
...
...
...
...
...
Cộng 1.962.734.
1.004.129.
381.799.5
97.450.8
44.237.7
889.68
62.587.0
21.814.1
246.074.6
103.706.3
119
096
40
30
35
0
13
56
03
00
Đội công trình 6 Mẫu số 02-LĐTL
Tổ gián tiếp trích bảng tổng hợp thanh toán lương
Tháng 12 năm 2000
ST
Lương
Lương thời gian
Phụ
Các khoản khấu trừ
Thực lĩnh
T
Họ và tên
cấp bậc
cấp
Phép
Tổng
BHXH
BHY
Tiền
Ký
Tiền
TN
cộng
Công
Tiền
5%
T 1%
điện
1 Nguyễn Đức
581.400
26 2.341.000 72.000
2.413.000 63.800 32.670 6.534 2.277.996
Quân
2 Hoàng Trung
626.400
26 2.280.000 54.000
2.334.000
34.020 6.804 2.293.176
Tính
3
Trịnh Thị Hồng
435.600
22 1.270.000
84.00
1.354.000
21.780 4.356 1.327.864
0
...
...
...
...
...
...
...
...
...
...
...
...
Cộng
3.177.00
152 10.005.00
126.00
84.00
10.650.60
63..80
165.15
33.03
10.388.62
0
0
0
0
0
0
0
0
0
Kế toán thanh toán Kế toán trưởng
(ký, họ tên)
Trích Bảng tổng hợp chi phí sản xuất chung Nợ TK627
Tháng 12 năm 2000 Có TK …
Tên công Tổng số Chi phí chi tiết theo từng tài khoản
trình tiền TK152 TK334 TK111 TK112 TK311 TK331 TK141
(đồng)
1. QLộ1 160.226.83 0 32.196.000 31.157.12 10.737.84 0 40.015.42 10.266.10
dự án 1A-2 7 0 3 3
... ... ... ... ... ... ... ... ...
Cộng 541.115.35 3.837.34 238.708.61 74.092.16 47.654.60 8.237.40 21.371.40 92.282.18
8 3 0 1 0 6 0
Sổ chi tiết cpsx công trình qlộ 1 dự án 1a-2
Ghi có TK154
Chứng từ Diễn giải Tổng số tiền Ghi Nợ cho các TK
(đồng) SH NT TK621 TK622 TK623 TK627
1 2 3 4 5 6 7 8
1/1/ Dư đầu 3.009.666.534 2.534.837.002 140.305.045 244.202.877 90.321.610
kỳ
P/s trong
kỳ
... ... ... ... ... ... ...
31/12 QLộ1-A2 5.973.527.999 5.038.857.875 78.650.800 701.307.987 160.226.837 BT
H
... ... ... ... ... ... ...
Cộng p/s 10.164.352.83 7.767.585.896 396.931.528 1.083.009.76 916.825.644
trong kỳ 0 2
Cộng 13.174.019.36 10.302.422.89 637.236.573 1.227.212.63 1.007.147.25
cuối kỳ 8 4 9
Mục lục
Trang
Lời nói đầu 3
Chương I :Những vấn đề chung về kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành
sản phẩm tại các doanh nghiệp xây lắp trong điều kiện hiện nay
5
I. Đặc điểm của sản xuất xây lắp ảng hưởng đến công tác kế toán tập hợp chi
phí và tính giá thành sản phẩm xây lắp 5
II. Chi phí sản xuất và phân loại chi phí sán xuất 7
1. Chi phí sản xuất 7
2. Phân loại chi phí sản xuất 10
III. Giá thành sản phẩm và phân loại giá thành sản phẩm 13
1.Giá thành sản phẩm xây lắp 13
2.Phân loại giá thành sản phẩm xây lắp 16
IV. Đối tượng tập hợp CPSX và đối tượng tính giá thành sản phẩm 15
1. Đối tượng tập hợp CPSX 17
2. Đối tượng tính giá thành sản phẩm 20
V. Phương pháp tập hợp chi phí sản xuất 22
1. Phương pháp kế toán chi phí nhân công trực tiếp 24
2. Phương pháp kế toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp 25
3. Phương pháp kế toán chi phí sử dụng máy thi công 25
4. Phương pháp kế toán chi phí sản xuất chung 26
5. Tổng hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm 27
VI. Các phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang 27
1. Đánh giá sản phẩm dở dang theo chi phí nguyên vật liệu trực tiếp 32
2. Đánh giá sản phẩm dở dang theo sản lượng tương đương 32
3. Đánh giá sản phẩm dở dang theo chi phí sản xuất định mức 32
VII. Các phương pháp tính giá thành chủ yếu 33
1. Phương pháp tính giá thành theo đơn đặt hàng 33
2. Phương pháp tính giá thành trực tiếp
3. Phương pháp tính giá thành định mức
4. Phương pháp tính giá thành tỷ lệ
5. Phương pháp tính giá thành tổng cộng chi phí
Chương II: Thực trạng kế toán tập hợp CPSX và tính GTSP xây lắp tại công ty
xây dựng công trình giao thông 810.
I. Đặc điểm chung của công ty
1. Quá trình hình thành và phát triển của công ty 35
2. Nhiệm vụ và đặc điểm hoạt động SXKD của công ty
3. Đặc điểm tổ chức công tác quản lý và sản xuất trong công ty 36
II. Thực tế công tác kế toán ở công ty 40
1. Đối tượng và phương pháp tập hợp chi phí sản xuất 46
2. Kế toán tập hợp chi phí sản xuất 46
3.Mở sổ cái các tài khoản 54
4. Đánh giá sản phẩm dở dang và tính giá thành sản phẩm 61
62
Chương III: Nhận xét và đóng góp ý kiến về công tác kế toán tập hợp CPSX và
tính giá thành sản phẩm tại công ty xây dựng CTGT 810
76
I. Đánh giá quá trình kế toán tập hợp CPSX và tính giá thành sản phẩm tại
công ty xây dựng CTGT 810 76
1. Những ưu diểm 76
2. Những mặt còn tồn tại 77
II. Một số ý kiến đóng góp để góp phần hoàn thiện công tác kế toán tập hợp
chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại công ty.
78
Kết luận 83

