ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM ----------------------

TRIỆU THỊ CHÂM

Tên chuyên đề:

“THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG VÀ PHÒNG TRỊ BỆNH TRÊN ĐÀN GÀ MÍA LAI LƯƠNG PHƯỢNG TẠI TRẠI CHĂN NUÔI GIA CẦM KHOA CHĂN NUÔI THÚ Y TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN”

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy

Chuyên ngành: Chăn nuôi Thú y

Khoa: Chăn nuôi Thú y

Khóa học: 2015 - 2019

Thái Nguyên, năm 2019

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM ----------------------

TRIỆU THỊ CHÂM

Tên chuyên đề:

“THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG VÀ PHÒNG TRỊ BỆNH TRÊN ĐÀN GÀ MÍA LAI LƯƠNG PHƯỢNG TẠI TRẠI CHĂN NUÔI GIA CẦM KHOA CHĂN NUÔI THÚ Y TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN” KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy

Chuyên ngành: Chăn nuôi Thú y

Khoa: Chăn nuôi Thú y

Lớp: K47 CNTY Marpha

2015 - 2019

Khóa học: Giảng viên hướng dẫn: ThS. Nguyễn Hữu Hòa

Thái Nguyên, năm 2019

i

LỜI CẢM ƠN

Trong thời gian học tập và rèn luyện tại trường Đại học Nông Lâm Thái

Nguyên cũng như trong thời gian thực tập tại Trại gia cầm khoa Chăn nuôi

Thú y trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, em đã nhận được sự giúp đỡ

quý báu của các thầy giáo, cô giáo trong Ban Giám hiệu, Ban Chủ nhiệm

khoa Chăn nuôi Thú y cùng toàn thể các thầy cô giáo trong Khoa đã tận tình

giảng dạy, dìu dắt em hoàn thành tốt chương trình học, tạo cho em có được

lòng tin vững bước trong cuộc sống và công tác sau này.

Nhân dịp này, em xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu nhà trường, Ban

Chủ nhiệm Khoa Chăn nuôi Thú y cùng toàn thể các thầy giáo, cô giáo trường

Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã tận tình dạy bảo em trong toàn khóa học.

Em xin chân thành cảm ơn PGS.TS Từ Trung Kiên – chủ trại đã tạo điều kiện và

giúp đỡ em trong thời gian em thực tập tại trại.

Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc đến giáo viên

hướng dẫn, thầy giáo Th.S Nguyễn Hữu Hòa đã quan tâm, giúp đỡ tận tình và

tạo điều kiện giúp em trong suốt quá trình thực tập và hoàn thành khóa luận.

Qua đây, em xin bày tỏ lòng biết ơn tới gia đình, bạn bè, đồng nghiệp

và những người thân đã thường xuyên tạo mọi điều kiện giúp đỡ, dành những

tình cảm và sự động viên vô cùng quý báu cho em trong suốt thời gian học tập

nghiên cứu và trong quá trình hoàn thành bản khóa luận này.

Cuối cùng, em xin kính chúc các thầy giáo, cô giáo luôn mạnh khỏe,

hạnh phúc, thành công trong công tác, đạt nhiều kết quả tốt trong giảng dạy

và nghiên cứu khoa học.

Em xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày 18 tháng 11 năm 2018

Sinh viên

Triệu Thị Trâm

ii

Trang

Bảng 4.1. Kế hoạch cho ăn .............................................................................. 23

Bảng 4.2. Thành phần dinh dưỡng của thức ăn hỗn hợp CP501 cho gà từ 1 –

21 ngày tuổi ..................................................................................... 23

Bảng 4.3. Khẩu phần và thành phần giá trị dinh dưỡng ................................. 24

Bảng 4.4. Tỷ lệ nuôi sống của gà giai đoạn 1- 10 tuần tuổi ........................... 25

Bảng 4.5. Kết quả thực hiện phòng bệnh bằng vaccin và thuốc cho gà ......... 28

Bảng 4.6. Kết quả phòng bệnh bằng phương pháp /vệ sinh, sát trùng tại trại .. 1

Bảng 4.7. Các triệu trứng lâm sàng điển hình của gà bị bệnh .......................... 2

Bảng 4.8. Bệnh tích mổ khám của gà nhiễm bệnh ............................................ 4

Bảng 4.9. Một số phác đồ sử dụng điều trị bệnh cho đàn gà đạt hiệu quả ....... 7

iii

DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT

Cs : Cộng sự

KHKT : Khoa học kỹ thuật

Nxb : Nhà xuất bản

TĂ : Thức ăn

TB : Trung bình

TTTĂ : Tiêu tốn thức ăn

iv

MỤC LỤC

Trang

LỜI CẢM ƠN .................................................................................................... i

DANH MỤC BẢNG .......................................................................................... i

DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT ....................................................... iii

MỤC LỤC ........................................................................................................ iv

Phần 1. MỞ ĐẦU ............................................................................................ 1

1.1. Đặt vấn đề................................................................................................... 1

1.2. Mục đích và yêu cầu của chuyên đề .......................................................... 2

1.2.1 Mục đích ............................................................................................................. 2

1.2.2. Yêu cầu .............................................................................................................. 2

Phần 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU ................................................................. 3

2.1. Điều kiện cơ sở nơi thực tập ...................................................................... 3

2.1.1. Điều kiện tự nhiên ............................................................................................. 3

2.1.2. Đối tượng và kết quả sản xuất ........................................................................... 4

2.2. Cơ sở khoa học của chuyên đề ................................................................... 4

2.2.1. Một số hiểu biết về sự di truyền của các tính trạng ở gia cầm .......................... 4

2.2.2. Khả năng sinh trưởng và các yếu tố ảnh hưởng sinh trưởng ............................ 7

2.2.3. Sức sống và khả năng nhiễm bệnh .................................................................. 11

2.3. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước .............................................. 16

2.3.1. Tình hình nghiên cứu trong nước .................................................................... 16

2.3.2. Tình hình nghiên cứu ngoài nước ................................................................... 17

2.4. Giới thiệu vài nét về gà lai (Mía lai Lương Phượng) ............................... 18

Phần 3. ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH 19

3.1. Đối tượng ................................................................................................. 19

3.2. Địa điểm và thời gian tiến hành ............................................................... 19

3.3. Nội dung thực hiện ................................................................................... 19

v

3.4. Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi ...................................................... 19

3.4.1. Các chỉ tiêu theo dõi ........................................................................................ 19

3.4.2. Phương pháp theo dõi ..................................................................................... 20

3.5. Phương pháp xử lý số liệu ........................................................................ 20

Phần 4. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN......................................................... 21

4.1. Kết quả chăm sóc, nuôi dưỡng đàn gà thịt ............................................... 21

4.2. Kết quả thực hiện quy trình phòng bệnh cho gà thịt ................................ 27

4.2.1. Kết quả thực hiện quy trình phòng bệnh cho gà thịt bằng vaccin ................... 27

4.2.2. Công tác vệ sinh phòng bệnh .......................................................................... 29

4.3. Kết quả chẩn đoán một số bệnh trên gà trong thời gian thực tập .............. 1

4.3.1. Một số triệu chứng lâm sàng điển hình của các bệnh trên đàn gà trong thời

gian thực tập ................................................................................................................ 1

4.3.2. Một số bệnh tích điển hình của gà mắc một số bệnh thường gặp ..................... 3

4.4. Kết quả điều trị gà mắc bệnh trong quá trình thực tập ............................... 7

Phần 5. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ ............................................................... 9

5.1. Kết luận ...................................................................................................... 9

5.2. Kiến nghị .................................................................................................. 10

TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 11

PHỤ LỤC

Phần 1

MỞ ĐẦU

1.1. Đặt vấn đề

Trong những năm gần đây ngành chăn nuôi đang trở thành ngành mũi

nhọn trong việc phát triển kinh tế của các hộ nông dân trong cả nước, cùng

với sự phát triển nhanh của khoa học kỹ thuật thì ngành chăn nuôi đã cung

cấp một lượng lớn thực phẩm giá trị dinh dưỡng cao cả về số lượng cũng như

chất lượng cho xã hội và đem lại hiệu quả kinh tế không nhỏ. Trong đó chăn

nuôi gia cầm đang được chú trọng và khuyến khích tới các hộ nông dân trong

cả nước.

Xã hội phát triển, kinh tế ngày càng đi lên thì cuộc sống của nhân dân

ngày càng được cải thiện. Do đó những đòi hỏi về nhu cầu thực phẩm như:

thịt, trứng, sữa ngày càng cao.

Đứng trước nhu cầu thực tiễn sản xuất trên, thì nước ta đã nhập một số

giống gà lông màu có khả năng sinh trưởng tốt, thích nghi với khí hậu của

Việt Nam, trong đó có giống gà Mía lai Lương Phượng.

Gà Lương Phượng có đặc điểm dễ nuôi, nhanh lớn, ít bệnh, năng suất

cao, thích nghi tốt với khí hậu nhiệt đới, song chất lượng thịt ít được ưa

chuộng bởi lượng mỡ dưới da cũng như mỡ bụng nhiều...

Gà Mía là giống gà địa phương, có sức sản xuất không cao, sinh trưởng

chậm, tầm vóc nhỏ bé, năng suất thịt thấp, nhưng có khả năng chống chịu tốt

với khí hậu địa phương, ít bệnh, thịt mịn, thơm ngon hợp thị hiếu người tiêu

dùng được nhiều người ưa chuộng.

Nhiều nghiên cứu cho thấy việc lai tạo giữa 2 giống gà trên đã tạo ra

con lai có sức sản xuất cao, phù hợp chăn nuôi với mọi hình thức, chất lượng

thịt thơm ngon, khắc phục được những nhược điểm của giống gốc. Đã có

nhiều nghiên cứu đánh giá sức sản xuất thịt của con lai và đều khẳng định con

lai (Mía lai Lương Phượng) có khả năng sinh trưởng tốt trong các điều kiện.

Liệu các quy trình nuôi dưỡng khác nhau trong nông hộ, các địa phương có

ảnh hưởng tới sức sản xuất thịt của con lai hay không? và để có thêm số liệu

khoa học khuyến cáo cho hộ chăn nuôi. Xuất phát từ thực tế trên, chúng tôi

thực hiện chuyên đề: “Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng

trị bệnh trên đàn gà Mía lai Lương Phượng tại trại gia cầm Khoa Chăn

nuôi Thú y trường đại học Nông Lâm Thái Nguyên".

1.2. Mục đích và yêu cầu của chuyên đề

1.2.1 Mục đích

- Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng cho đàn gà Mía lai Lương

Phượng

- Thực hiện quy trình phòng, trị bệnh cho đàn gà Mía lai Lương Phượng

1.2.2. Yêu cầu

- Thực hiện được quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng cho đàn gà Mía lai

Lương Phượng

- Áp dụng được quy trình phòng, trị bệnh cho đàn gà Mía lai Lương Phượng

Phần 2

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1. Điều kiện cơ sở nơi thực tập

2.1.1. Điều kiện tự nhiên

Trại gia cầm khoa Chăn nuôi thú y được xây dựng trên nền của khu trại

gà cũ của trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên theo mô hình chăn nuôi gà

đẻ an toàn sinh học từ năm 2013.

Vị trí:

- Phía đông giáp ao nuôi trồng thủy sản.

- Phía tây giáp vườn ươm viện nghiên cứu.

- Phía nam giáp đường dân sinh vào khu Giáo dục quốc phòng.

- Phía bắc giáp khoa Công nghệ thực phẩm và Công nghệ sinh học

Khu chăn nuôi quy hoạch tại Trại gia cầm cũ với diện tích là

3.000m2. Gồm 2 dãy chuồng với diện tích 316,6m2 và 2 kho rộng 40m2,

phần diện tích còn lại dùng để chăn thả và trồng cây bóng mát. Toàn bộ

khu vực được rào bằng thép B40 với tổng chiều dài 220m, đảm bảo ngăn

cách với các khu vực khác.

Khu nhà điều hành và nhà ở cho sinh viên có diện tích là 48 m2 được

chia làm 4 phòng, gồm phòng điều hành, bếp nấu và 2 phòng ở cho sinh viên.

Hố sát trùng và phòng thay đồ có tổng diện tích là 30m2. Trong đó hố

sát trùng 20m2, khu nhà thay quần áo bảo hộ lao động 10m2.

Khu nhà xưởng và công trình phụ trợ có diện tích 120m2. Trong đó có

các công trình như:

- 01 kho thuốc, dụng cụ thú y: 20m2

- 01 phòng ấp trứng gia cầm (máy ấp điện): 30m2

- 01 kho chứa và chế biến thức ăn chăn nuôi: 50m2

- 01 kho dụng cụ (máng ăn, uống, đệm lót…..): 20m2

Diện tích đất còn lại là 3.960m2 được quy hoạch để trồng cây thức ăn

bổ sung cho gà.

2.1.2. Đối tượng và kết quả sản xuất

Sau thời gian xây dựng lại cơ sở hạ tầng, trại tiến hành đưa vào nuôi

800 gà thương phẩm Mía lai Lương Phượng và gà Ác lai Ai Cập. Ngoài ra,

trại còn nuôi khoảng 180 con gà các giống như: Gà chọi, gà rừng, gà đa cựa,

gà đa ngón nhằm nghiên cứu đặc điểm sinh học và bảo tồn các giống gà này.

Hiện nay trại đang có 500 con gà thương phẩm Mía lai Lương Phượng,

300 con gà Ác lai Ai cập, 124 con gà sinh sản, và khoảng 100 con gà thương

phẩm các giống H’Mông, gà Chọi.

Bảng 2.1. Cơ cấu đàn gà của trại gia cầm Khoa CNTY từ năm 2017 đến nay

Số lượng đàn gà của trại (con)

Loại gà Tháng 11/2017 Tháng 5/ 2018 Tháng 11/2018

Gà đẻ 1000 30 124

Gà thịt 300 150 900

Tổng số 1300 180 1024

Bảng 2.1 cho thấy, số lượng đàn gà của trại giảm do thời gian để trống

chuồng dài. Số lượng gà thịt nhiều hơn số lượng gà đẻ tính đến tháng 11/2018.

2.2. Cơ sở khoa học của chuyên đề

2.2.1. Một số hiểu biết về sự di truyền của các tính trạng ở gia cầm

Khi nghiên cứu các tính trạng sản xuất của gia cầm, các nhà khoa học

không những nghiên cứu về đặc điểm di truyền mà còn nghiên cứu đến các

yếu tố ngoại cảnh tác động lên tính trạng đó.

Theo quan điểm di truyền học thì hầu hết các tính trạng về năng suất

của gia cầm như: Sinh trưởng, sinh sản, cho lông, cho trứng, cho thịt…đều là

những tính trạng số lượng (quantitative character) và do các gen nằm trên

cùng nhiễm sắc thể (NST) qui định. Tính trạng số lượng là những tính trạng

mà ở đó sự sai khác nhau về mức độ giữa các cá thể rõ nét hơn là sự sai khác

về chủng loại. Sự sai khác nhau này chính là nguồn vật liệu cho chọn lọc tự

nhiên cũng như chọn lọc nhân tạo. Các tính trạng số lượng được qui định bởi

nhiều gen, các gen điều khiển tính trạng số lượng phải có môi trường phù hợp

mới được biểu hiện hoàn toàn.

Theo Nguyễn Văn Thiện (1995) [8], thì giá trị đo lường của tính trạng

số lượng trên một cá thể được gọi là giá trị kiểu hình (Phenotypic value) của

cá thể đó. Các giá trị có liên quan đến kiểu gen là giá trị kiểu gen (Genotypic

value) và giá trị có liên quan đến môi trường là sai lệch môi trường

(Environmental deviation). Như vậy kiểu gen qui định một giá trị nào đó của

kiểu hình và môi trường gây ra một sự sai lệch với giá trị kiểu gen theo hướng

này hoặc hướng khác. Quan hệ đó được biểu thị như sau:

P = G + E

Trong đó: P: Là giá trị kiểu hình

G: Là giá trị kiểu gen

E: Là sai lệch môi trường

Tuy nhiên khác với tính trạng chất lượng, giá trị kiểu gen của tính trạng

số lượng do nhiều gen nhỏ (minorgene) cấu tạo thành. Đó là hiệu ứng riêng

biệt của từng gen thì rất nhỏ, nhưng tập hợp nhiều gen nhỏ sẽ ảnh hưởng rõ

rệt đến tính trạng nghiên cứu. Hiện tượng này gọi là hiện tượng đa gen

(Polygene) gồm các thành phần: Cộng gộp, trội, tương tác gen nên được biểu

thị theo công thức sau:

G = A+ D + I

Trong đó: G: Là giá trị kiểu gen

A: Là giá trị cộng gộp

D: Là giá trị sai lệch trội

I: Là giá trị sai lệch tương tác.

Trong đó giá trị cộng gộp (A) là do giá trị giống quy định, là thành phần

quan trọng nhất của kiểu gen vì nó ổn định, có thể xác định được và di truyền lại

cho thế hệ sau, có ý nghĩa trong chọn dòng thuần, là cơ sở cho việc chọn giống.

Hai thành phần sai lệch trội (D) và tương tác gen (I) cùng có vai trò quan

trọng, là giá trị giống đặc biệt chỉ có thể xác định được thông qua con đường

thực nghiệm. D và I không di truyền được và phụ thuộc vào vị trí và sự tương tác

giữa các gen. Chúng là cơ sở của việc lai giống. Đồng thời tính trạng số lượng

cũng chịu ảnh hưởng của môi trường chung và môi trường riêng:

Sai lệch môi trường chung (General environmental) (Eg) là sai lệch do

các yếu tố tác động lên toàn bộ các cá thể trong nhóm vật nuôi. Loại này có

tính chất thường xuyên không cục bộ như: Thức ăn, khí hậu…do vậy đó là sai

lệch giữa các nhóm, giữa các cá thể và giữa các thành phần khác nhau trên

một cơ thể.

Sai lệch môi trường riêng (Environmental deviation) (Es) là các sai lệch

do các yếu tố môi trường tác động riêng rẽ lên từng nhóm cá thể vật nuôi hoặc

một giai đoạn nào đó trong đời một con vật hay các phần khác nhau của con

vật. Loại này có tính chất không thường xuyên và cục bộ như: thay đổi về

thức ăn, khí hậu, trạng thái sinh lý gây ra…

Như vậy, quan hệ của kiểu hình (P), kiểu gen (G), môi trường (E) của

một cá thể biểu hiện như sau:

P = A+ D+I + Eg + Es.

Do đó để đạt được năng suất, chất lượng cao trong chăn nuôi (giá trị

kiểu hình như mong muốn) chúng ta cần phải có giống tốt và tạo ra môi

trường thích hợp để phát huy hết tiềm năng của giống.

Trong đề tài này chúng tôi sẽ nghiên cứu ảnh hưởng của môi trường (E)

đến giá trị kiểu hình, từ đó tìm ra mức độ ảnh hưởng cũng như tạo ra môi

trường thích hợp để tiềm năng của giống (G) được thể hiện ra giá trị kiểu hình

(P) có lợi cho người chăn nuôi.

2.2.2. Khả năng sinh trưởng và các yếu tố ảnh hưởng sinh trưởng

2.2.2.1. Khái niệm về sinh trưởng

Ở vật nuôi từ khi hình thành phôi đến khi trưởng thành khối lượng và

thể tích cơ thể tăng lên. Điều này trước tiên là tế bào tăng lên về số lượng, các

cơ quan bộ phận trong cơ thể đều có sự tăng lên về khối lượng và kích thước.

Từ đó, dẫn đến khối lượng và thể tích của cơ thể tăng lên. Sự lớn lên của cơ

thể là do sự tích luỹ các chất hữu cơ thông qua việc trao đổi chất. Tác giả

Trần Đình Miên và Nguyễn Kim Đường (1992) [7], đã khái quát: “Sinh

trưởng là một quá trình tích luỹ các chất hữu cơ thông qua trao đổi chất, là sự

tăng lên về chiều cao, chiều dài, bề ngang, khối lượng của từng cơ quan, bộ

phận cũng như toàn bộ cơ thể trên cơ sở tính di truyền có từ đời trước”. Sinh

trưởng của vật nuôi nói chung và sinh trưởng của gà nói riêng chịu ảnh hưởng

của nhiều yếu tố, quan trọng nhất là yếu tố giống, dinh dưỡng và các điều

kiện chăm sóc nuôi dưỡng khác.

2.2.2.2. Các yếu tố ảnh hưởng tới sinh trưởng và cho thịt của gia cầm

*Ảnh hưởng của giống

Mỗi giống có một tốc độ sinh trưởng nhất định. Sự khác nhau về tốc độ

sinh trưởng đó là do bản chất di truyền quy định. Đặc điểm di truyền của

giống và ngoại cảnh có tác động qua lại với nhau, nghĩa là cùng một kiểu gen

nhưng ở các môi trường khác nhau thì có tốc độ sinh trưởng khác nhau. Cho

nên việc cần thiết là phải tạo ra môi trường phù hợp với kiểu gen đó để phát

huy tối đa tiềm năng di truyền của giống. Jaap và Moris (1997) [15] đã phát

hiện ra những sai khác trong cùng một giống về cường độ sinh trưởng.

Theo Nguyễn Duy Hoan, Trần Thanh Vân (1998) [2] cho biết, gà con ở

40 ngày tuổi khối lượng tăng gấp 10 lần so với 01 ngày tuổi, trong khi đó vịt

con chỉ cần 20 ngày tuổi để tăng gấp 10 lần khối lượng so với lúc 01 ngày

tuổi. Khảo sát khả năng sinh trưởng của 3 dòng gà Plymouth Rock thì dòng

TĐ9 có khả năng sinh trưởng tốt nhất. Đến tuần tuổi thứ 8, dòng TĐ9 có khối

lượng sống vượt dòng TĐ8 12,90% và vượt TĐ3 17,40% (Lê Hồng Mận và

cs, 1996 [5]).

Sự sai khác nhau về sinh trưởng và khối lượng cơ thể còn chịu ảnh

hưởng của tính biệt, thông thường con trống phát triển hơn con mái: Ở gà

hướng thịt giai đoạn 60-70 ngày tuổi con trống nặng hơn con mái 180-250

(g), (Nguyễn Duy Hoan, Trần Thanh Vân (1998) [2]).

Theo tài liệu của Chambers (1990) [11], cho biết: Có nhiều gen ảnh

hưởng tới sự sinh trưởng chung, có gen ảnh hưởng đến một vài tính trạng

riêng lẻ. Godfry và Raap [12], và nhiều tác giả khác cho rằng có nhiều hơn 15

gen qui định tốc độ sinh trưởng.

Như vậy, các nhà nghiên cứu đã chứng tỏ sự khác biệt về tốc độ sinh

trưởng do di truyền, mà cơ sở di truyền là do gen, có ít nhất một gen về sinh

trưởng liên kết giới tính cho nên con trống thường lớn hơn con mái. Điều này

chứng tỏ di truyền có ảnh hưởng rất lớn tới quá trình sinh trưởng của gia cầm.

*Ảnh hưởng của chế độ dinh dưỡng

Chế độ dinh dưỡng ảnh hưởng tới sự phát triển của từng mô khác nhau

gây nên sự biến động trong quá trình phát triển và có sự khác nhau giữa mô

này với mô khác. Chế độ dinh dưỡng không những ảnh hưởng tới sinh trưởng

mà còn làm biến động di truyền về sinh trưởng.

Lê Hồng Mận và cs (1993) [6] cho biết nhu cầu protein thích hợp cho

gà broiler cho năng suất cao đã được xác định, các tác giả nhấn mạnh tỷ lệ

giữa năng lượng và protein trong thức ăn cũng rất quan trọng, để phát huy

được khả năng sinh trưởng tối đa cần phải cung cấp đầy đủ dinh dưỡng với sự

cân bằng nghiêm ngặt giữa protein, axit amin với năng lượng.

Chi phí thức ăn chiếm tới 70% giá thành trong chăn nuôi gà broiler, nên

bất cứ yếu tố nào nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng thức ăn đều đưa lại hiệu

quả kinh tế cao cho ngành chăn nuôi gà broiler. Do vậy, để có năng suất cao

trong chăn nuôi gia cầm, đặc biệt để phát huy được tiềm năng sinh trưởng thì

trong những vấn đề căn bản là lập ra những khẩu phần dinh dưỡng hoàn hảo,

cân đối, trên cơ sở tính toán nhu cầu của gia cầm trong từng giai đoạn nuôi.

* Ảnh hưởng của chăm sóc

Bên cạnh các yếu tố nêu trên thì sinh trưởng của gà còn chịu ảnh hưởng

của nhiều yếu tố môi trường như chăm sóc nuôi dưỡng, nhiệt độ, ẩm độ, độ

thông thoáng, mật độ nuôi.

* Ảnh hưởng của nhiệt độ

Theo Bùi Đức Lũng, Lê Hồng Mận (1993) [4] thì nhiệt độ chuồng nuôi

gà sau 28 ngày thích hợp là 18 – 200C. Nhiệt độ ảnh hưởng rất lớn tới nhu cầu

năng lượng trao đổi (ME) và protein thô (CP) của gà broiler, do vậy tiêu thụ

thức ăn của gà chịu sự chi phối nhiều của nhiệt độ môi trường. Trong điều

kiện nhiệt độ khác nhau thì mức tiêu tốn thức ăn của gà cũng khác nhau.

Theo Cerniglia và Herrtand Walt (1983) [10], thì nhiệt độ chuồng nuôi

thay đổi 100C tiêu thụ năng lượng của gà biến đổi tương đương 2 kcal, mà

nhu cầu về năng lượng và các vật chất dinh dưỡng khác cũng bị thay đổi theo

nhiệt độ môi trường.

Wash Burn (1992) [16], cho biết nhiệt độ cao làm gà sinh trưởng chậm,

tăng tỷ lệ chết, gây thiệt hại kinh tế lớn ở các khu vực chăn nuôi gà broiler

công nghiệp vùng khí hậu nhiệt đới. Nir (1992) [14], qua nghiên cứu đã chỉ ra

rằng với nhiệt độ môi trường 350C ẩm độ tương đối 66 % đã làm giảm quá

trình tăng khối lượng cơ thể 30 - 35% ở gà trống 20 – 30 % ở gà mái so với

điều kiện thích hợp về khí hậu. Thông thường khi nhiệt độ cao khả năng ăn

của gia cầm giảm. Để khắc phục điều này đảm bảo khả năng sinh trưởng của

gà người ta đã sử dụng thức ăn cao năng lượng tất nhiên trên cơ sở cân bằng

tỷ lệ ME/CP cũng như axit amin/ME và tỷ lệ khoáng, vitamin trong thức ăn

cũng cần phải cao hơn để đảm bảo dinh dưỡng mà gà tiếp nhận được không

thấp hơn nhu cầu của chúng.

Vì vậy, trong điều kiện khí hậu ở nước ta, tuỳ theo mùa vụ, căn cứ vào

nhiệt độ của từng giai đoạn mà điều chỉnh mức ME và tỷ lệ ME/CP cho phù

hợp để đạt hiệu quả kinh tế cao nhất trong chăn nuôi gia cầm nói chung và gà

thịt nói riêng.

*Ảnh hưởng của ẩm độ và thông thoáng

Ẩm độ là yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới sự sinh trưởng của gia cầm.

Khi ẩm độ tăng làm cho chất độn chuồng dễ ẩm ướt, thức ăn dễ bị ẩm mốc

làm ảnh hưởng xấu tới gà, đặc biệt là NH3 do vi khuẩn phân huỷ axit uric

trong phân và chất độn chuồng làm tổn thương đến hệ hô hấp của gà, tăng khả

năng nhiễm bệnh Cầu trùng, Newcastle, CRD dẫn tới làm giảm khả năng sinh

trưởng của gà.

Độ thông thoáng trong chuồng nuôi có vai trò quan trọng trong việc

giúp gà đủ O2, thải CO2 và các chất độc khác. Thông thoáng làm giảm ẩm độ,

điều chỉnh nhiệt độ chuồng nuôi từ đó hạn chế bệnh tật.

Tốc độ gió lùa và nhiệt độ không khí có ảnh hưởng tới tăng khối lượng

của gà, gà con nhạy cảm hơn gà trưởng thành. Đối với gà lớn cần tốc độ lưu

thông không khí lớn hơn gà nhỏ.

*Ảnh hưởng của chế độ chiếu sáng

Theo Nguyễn Duy Hoan, Trần Thanh Vân (1998) [2], với gà broiler

giết thịt sớm 38 - 42 ngày tuổi, thời gian chiếu sáng như sau: 3 ngày đầu chiếu

sáng 24/24 giờ, cường độ chiếu sáng 20 lux /m2, ngày thứ tư đến kết thúc thời

gian chiếu sáng giảm xuống còn 23/24 giờ, cường độ chiếu sáng còn 5lux/m2.

Khi cường độ chiếu sáng cao, gà hoạt động nhiều do đó làm giảm tốc

độ tăng khối lượng. Với chuồng nuôi thông thoáng tự nhiên, mùa hè cần che

ánh nắng mặt trời chiếu thẳng vào chuồng nhưng vẫn đảm bảo thông thoáng,

ánh sáng được phân bố đều trong chuồng, hoặc có thể sử dụng bóng đèn có

cùng công suất để tránh gà tụ tập vào nơi có ánh sáng mạnh hơn.

*Ảnh hưởng của mật độ nuôi nhốt

Mật độ nuôi nhốt cũng là một yếu tố quan trọng để chăn nuôi đạt hiệu

quả cao, nếu mật độ nuôi nhốt cao thì chuồng nhanh bẩn, lượng khí thải NH3,

CO2, H2S cao và quần thể vi sinh vật phát triển ảnh hưởng tới khả năng tăng

khối lượng và sức khoẻ của đàn gà, gà dễ bị nhiễm với bệnh, tỷ lệ đồng đều

thấp, tỷ lệ chết cao, cuối cùng làm giảm hiệu quả trong chăn nuôi. Ngược lại

mật độ nuôi nhốt thấp thì chi phí chuồng trại cao.

2.2.3. Sức sống và khả năng nhiễm bệnh

Sức sống của gia cầm là một chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật giúp ta đánh giá

được khả năng thích nghi và chống đỡ bệnh tật của đàn gia cầm. Sức sống

cũng là tính trạng di truyền số lượng, nó đặc trưng cho từng loài, giống và

từng cá thể. Sức sống được biểu hiện ở tỷ lệ nuôi sống qua các giai đoạn, từ

sơ sinh đến lúc giết thịt. Sức sống phụ thuộc nhiều vào điều kiện ngoại cảnh

như: Điều kiện thời tiết, khí hậu, thức ăn, nước uống, quá trình chăm sóc,

nuôi dưỡng và vệ sinh thú y. Nếu một trong các yếu tố nói trên đột ngột thay

đổi sẽ có ảnh hưởng xấu đến sức sống của gia cầm. Ngoài ra, nó còn phụ

thuộc vào khả năng di truyền giống, nếu mức độ giao phối cận thân tăng lên

cũng làm giảm khả năng thích ứng, giảm khả năng chống đỡ bệnh tật, làm cho

sức sống giảm rõ rệt.

Một yếu tố nữa ảnh hưởng đến tỷ lệ nuôi sống của gia cầm đó là sức sống

của đàn gà bố mẹ. Nếu đàn gà bố mẹ khoẻ mạnh, sạch bệnh, sinh sản tốt thì tỷ lệ

nuôi sống của đàn con cao và ngược lại. Khi nghiên cứu về khả năng thích nghi của

gia cầm, ta thấy gà là loài vật có khả năng thích nghi tương đối cao.

* Một số bệnh thường gặp trên gà thịt

Trong thời gian nuôi dưỡng hàng ngày phải theo dõi tình hình sức khỏe

của đàn gà để chẩn đoán, phát hiện bệnh và có những hướng điều trị kịp thời.

Trong thời gian nuôi gà thường gặp bệnh như sau:

 Bệnh Bạch lỵ

- Nguyên nhân:

Do vi khuẩn gram âm Salmonella gallinarum và Salmonella pullorum

gây ra, chủ yếu thông qua đường tiêu hoá và hô hấp. Gà đã khỏi bệnh vẫn tiếp

tục thải vi khuẩn ra theo phân, đây là nguồn lây lan quan trọng và nguy hiểm nhất.

- Triệu chứng:

+ Ở gà con: gà bị bệnh nặng từ mới nở đến 2 tuần tuổi, tỷ lệ mắc bệnh

cao nhất vào lúc 24 – 28 giờ sau khi nở. Biểu hiện: gà yếu, bụng trễ do lòng

đỏ không tiêu, tụ tập thành từng đám, kêu xáo xác, ủ rũ. Lông xù, ỉa chảy,

phân trắng mùi hôi khắm có bọt trắng, có khi lẫn máu, phân bết quanh hậu

môn, gà chết 2 – 3 ngày sau khi phát bệnh.

+ Ở gà lớn: gà thường bị bệnh ở dạng ẩn (mãn tính). Gà biểu hiện gầy

yếu, ủ rũ, xù lông, niêm mạc, mào, yếm nhợt nhạt…

- Bệnh tích: ở gà con mổ khám thấy gan, lách bị viêm sưng có màu đỏ,

tím ở lách, tim, phổi có các hoại tử.

- Phòng bệnh:

+ Nhập giống từ cơ sở gà bố mẹ đảm bảo nguồn gốc.

+ Nuôi dưỡng chăm sóc tốt để tăng sức đề kháng cho gà.

+ Thức ăn trên máng phải thường xuyên sàng qua để loại bỏ những phân

gà dính bám vào thức ăn có mang mầm bệnh.

+ Giữ gìn vệ sinh chuồng trại để làm giảm nguy cơ lây lan bệnh.

+ Dùng dung dịch Formol 2-5% để sát trùng toàn bộ khu chuồng nuôi và

khu vực xung quanh.

- Điều trị:

+ Dùng nofacoli pha vào nước hoặc trộn vào thức ăn, vitamin B –

complex: 1g/1 lit nước, vitamin C: 1g/1 lít nước. Dùng liên tục 3 – 5 ngày.

+ Hoặc dùng thuốc colistin: liều 1g/2lít nước cho gà uống liên tục trong

4 – 5 ngày.

 Bệnh CRD

- Nguyên nhân:

Do Mycoplasma gallisepticum gây ra.

Gà 2 – 12 tuần tuổi và gà sắp đẻ dễ bị nhiễm hơn các lứa tuổi khác,

thường hay phát bệnh khi trời có mưa phùn, gió mùa, độ ẩm không khí cao.

- Triệu chứng:

+ Thời gian ủ bệnh từ 6 – 21 ngày.

+ Gà trưởng thành và gà đẻ: tăng khối lượng chậm, thở khò khè, chảy

nước mũi, ăn ít, gà trở nên gầy ốm, gà đẻ giảm sản lượng trứng nhưng vẫn

duy trì ở mức độ thấp.

+ Gà thịt: xảy ra giữa 3 – 8 tuần tuổi với triệu chứng nặng hơn so với các

loại gà khác do kết hợp với các mầm bệnh khác (thường với E.coli). Vì vậy

trên gà thịt còn gọi là thể kết hợp E. coli-CRD (C - CRD) với các triệu chứng:

âm ran khí quản, chảy nước mũi, ho, sưng mặt, sưng mí mắt, viêm kết mạc.

- Phòng bệnh: thực hiện tốt quy trình vệ sinh thú y, chuồng thông thoáng,

mật độ hợp lý, nhiệt độ thích hợp, chăm sóc và nuôi dưỡng tốt, cho uống

thuốc để phòng bệnh.

- Điều trị:

+ CRD-Stop: liều 1 g/lít nước, uống liên tục: 3 - 5 ngày.

+ Tiamulin: liều 1 g/4 lít nước, uống liên tục: 3 - 5 ngày.

+ Gia cầm và thủy cầm: liều 1g/ 2 – 4 lít nước uống.

 Bệnh Cầu trùng

- Nguyên nhân:

Do các loại cầu trùng thuộc giống Eimeria gây ra. Gà con 9 - 10 ngày

tuổi bắt đầu nhiễm bệnh nhưng tỷ lệ nhiễm cao nhất ở giai đoạn từ 15 - 45

ngày tuổi. Gà bị nhiễm do nuốt phải noãn nang cầu trùng có trong thức ăn,

nước uống. Bệnh xảy ra quanh năm nhưng trầm trọng nhất là vào vụ xuân hè

khi thời tiết nóng ẩm.

- Triệu chứng:

+ Gà bệnh ủ rũ, ăn ít, uống nhiều nước, xù lông, cánh sã, chậm chạp,

phân dính quanh hậu môn, phân loãng, sệt, có màu socola hoặc đen như bùn.

+ Nếu gà bị bệnh nặng thì phân lẫn máu tươi, gà mất thăng bằng, cánh tê

liệt, niêm mạc nhợt nhạt, da và mào tái nhợt do mất máu. Tỷ lệ ốm cao, nhiều

gà chết.

- Bệnh tích:

+ Cầu trùng manh tràng: manh tràng sưng to và chứa đầy máu.

+ Cầu trùng ruột non: ruột non căng phồng, xuất huyết bề mặt ruột có

nhiều đốm trắng xám, bên trong ruột có dịch nhầy màu hồng.

- Điều trị:

+ Dùng coxymax: liều 1g/1 lít nước hoặc 100g/500 kg P, dùng liên tục

trong 3 ngày, nghỉ 2 ngày sau đó dùng liệu trình mới nếu gà chưa khỏi.

+ Dùng colistin: liều 1g/2lít nước cho gà uống liên tục trong 4 - 5 ngày.

Kết hợp tiêm bắp vitamin chống mất máu và cho uống vitamin C để tăng sức

đề kháng cho gà.

 Bệnh do E.coli (Colibacillosis)

- Nguyên nhân:

Do vi khuẩn Escherichia coli (E.coli) gây ra.

Em thấy gà ở mọi lứa tuổi đều có thể mắc bệnh, đặc biệt là giai đoạn gà

con 3 - 15 ngày tuổi, tỷ lệ chết 20 - 60 %, gà lớn bệnh ở thể nhẹ và ít chết.

Truyền bệnh trực tiếp qua trứng bệnh, lây bệnh nhanh chóng trong lò ấp,

ngoài ra có thể lây bệnh gián tiếp qua thức ăn, nước uống và qua vết hở

của rốn.

- Triệu chứng:

+ Đầu ổ dịch gà bệnh thường chỉ kém ăn, sức lớn cả đàn chậm lại, sau đó

bệnh có thể tiến triển cấp tính ở những đàn gia cầm con.

+ Gà bị bệnh thường ủ rũ, xù lông, gầy rạc. Một số con có triệu chứng

sốt, sổ mũi và khó thở. Sau vài ngày gà ỉa chảy, phân lỏng có dịch nhầy màu

nâu, trắng, xanh, đôi khi lẫn máu rồi chết hàng loạt. Đôi khi gà có hiện tượng

sưng khớp.

- Bệnh tích:

+ Gan sưng và xuất huyết, gan sưng đỏ, gan và màng bao tim có lớp

nhầy trắng. Màng túi khí có nốt xuất huyết nhỏ. Niêm mạc ruột sưng đỏ, ỉa

phân trắng. Gia cầm ở thời kỳ đẻ, buồng trứng bị vỡ và teo.

- Điều trị:

+ Ampi-Coli: liều 1g/lít nước cho uống liên tục 5-7 ngày.

+ Bio-Norfloxacin: liều 2g/lít nước, uống liên tục 5 - 7 ngày.

2.3. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước

2.3.1. Tình hình nghiên cứu trong nước

Ngành chăn nuôi gia cầm ở Việt Nam đã có từ lâu đời với quy mô nhỏ,

mỗi gia đình chỉ nuôi vài con đến vài chục con, chăn nuôi theo phương thức

quảng canh nên năng suất thấp.

Trong những năm gần đây, do áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật

vào sản xuất, ngành chăn nuôi gia cầm nước ta đã phát triển nhanh và đạt

được những tiến bộ rõ rệt.

Để đáp ứng thị hiếu của người tiêu dùng muốn có giống gà có chất

lượng thịt thơm ngon, săn chắc và ngoại hình giống với gà địa phương, các

nhà khoa học nước ta đã dày công lai tạo các giống gà lông màu nhập nội với

gà địa phương nhằm tạo ra con lai có tốc độ tăng trưởng nhanh nhưng phải

đáp ứng được nhu cầu thị hiếu người tiêu dùng.

Gần đây có rất nhiều những công trình nghiên cứu khoa học về vấn đề

này, một trong những công trình đó là công trình nghiên cứu về: “Đặc điểm

ngoại hình và khả năng sinh trưởng cho thịt của gà lai F1 (Mía x Kabir), nuôi

nhốt và nuôi bán chăn thả tại: Thái Nguyên” của tác giả: Nguyễn Văn Đại và

cs (2001) [1], sau khi nghiên cứu, các tác giả đã đưa ra kết luận. Gà lai F1 -

MK có màu lông phong phú, chân, da, mỏ vàng, gà rắn chắc, ham chạy nhảy,

đến 12 tuần tuổi khối lượng trung bình là: 1.851,24 g ở phương thức nuôi

nhốt. Gà lai có tốc độ sinh trưởng tuyệt đối cao nhất ở giai đoạn 8 – 9 tuần

tuổi, đạt 33,92 g/con/ngày ở phương thức bán chăn thả và đạt 35,49

g/con/ngày ở phương thức nuôi nhốt. Sinh trưởng tương đối cao nhất ở tuần 0

- 1 đạt 37,35 % ở phương thức nuôi bán chăn thả và 67,02 % ở phương thức

nuôi nhốt, thấp nhất là ở 11 - 12 tuần tuổi đạt tương ứng là 6,74 % và 6,41 %.

Theo Đào Văn Khanh (2000) [3], các giống gà lông màu được nuôi tại

Thái Nguyên như: Kabir, Lương Phượng, Tam Hoàng được nuôi ở các địa

phương đều thích nghi với điều kiện nuôi chăn thả và có mức nhiễm bệnh

thấp, dễ nuôi, giống Kabir có sự sinh trưởng nhanh nhất sau đó đến Lương

Phượng, Tam Hoàng, tiêu tốn thức ăn của cả 3 đều thấp, phù hợp với điều

kiện chăn nuôi ở nông thôn.

2.3.2. Tình hình nghiên cứu ngoài nước

Tình hình ngành sản xuất chăn nuôi gia cầm tăng lên, các nước trên thế

giới không ngừng cải tiến con giống cũng như dinh dưỡng để đưa năng suất

chất lượng chăn nuôi gia cầm phát triển vượt bậc, đáp ứng nhu cầu ngày càng

lớn nhưng khắt khe của thị trường.

Gia cầm nói chung, gà nói riêng có nguồn gốc từ chim hoang dã. Qua

quá trình thuần hóa, nuôi dưỡng hàng nghìn năm, con người đã tạo nên các

giống gia cầm ngày nay.

Theo Huţu, Ioan şi col. 2006 [13], với việc đưa các giống gà siêu thịt

như: Hybro (Hv 85 – Hà lan), AA (Abor Acres, Mỹ) Avian (Mỹ), Lohman

meat (Đức)… các giống hướng trứng như: Goldline 54 (Hà Lan), Leghorn

(Italia)… giống gà kiêm dụng: Tam Hoàng, Lương Phượng (Trung Quốc),

Sasso (Pháp), Kabir (Israel)… vào nuôi thâm canh đã đưa năng suất chăn nuôi

lên rất cao, song các giống gà trên chỉ thích nghi trong một số điều kiện nhất

định của môi trường.

Sau những thành công về chăn nuôi công nghiệp ở trình độ cao, từ năm

1980 trở lại đây một số nước như: Nhật Bản, Pháp, Israel…có xu hướng thay

đổi phương thức chăn nuôi để sản phẩm gia cầm có mùi vị thơm ngon hơn.

Việc lai tạo các giống gà với nhau cũng được thúc đẩy mạnh mẽ nhằm giữ lại

các đặc điểm quý, cải thiện những tính trạng còn hạn chế và dần hình thành

một số giống mới có khả năng sản xuất tốt, đáp ứng nhu cầu nhiều mặt của

con người.

2.4. Giới thiệu vài nét về gà lai (Mía lai Lương Phượng)

Gà Lương Phượng được nhập khẩu vào nước ta qua cửa khẩu quốc tế

Quảng Ninh năm 1998. Trung tâm nghiên cứu gia cầm Vạn Phúc đã nhập 1900

con nuôi tại trại nuôi thí nghiệm và được nhân dân ta nuôi ở nhiều nơi.

Theo tài liệu Nguyễn Duy Hoan, Trần Thanh Vân (1998) [2], gà Lương

Phượng dễ nuôi, có tính thích nghi cao, chịu đựng tốt với khí hậu nóng ẩm,

đòi hỏi chế độ dinh dưỡng không cao, có thể nuôi nhốt bán công nghiệp hay

thả vườn. Do có những ưu điểm trên hiện nay gà Lương Phượng đã được nuôi

nhiều ở các trang trại và hộ gia đình ở nông thôn cũng như thành thị và được

người chăn nuôi ưa chuộng.

Gà Mía có nguồn gốc xuất xứ từ thôn Đường Lâm huyện Ba Vì tỉnh Hà

Tây. Tầm vóc tương đối to mào đơn (mào cờ), gà trống có lông màu đen, gà

mái có màu nâu sẫm và có yếm ở lườn, ở tuổi trưởng thành con trống có khối

lượng 3- 3,4 kg. con mái từ 2- 2,5kg, khả năng sinh sản thấp gà mái đẻ trứng

muộn, sản lượng trứng đạt từ 55-60 quả/mái/năm.

Gà lai (Mía lai Lương Phượng) được tạo ra từ công thức lai gà trống

Mía lai với gà mái Lương Phượng. Gà lai có màu lông đẹp, tỷ lệ nuôi sống từ

1-19 tuần tuổi là 91 %, khối lượng cơ thể lúc 19 tuần tuổi đạt 1,9 - 2,2 kg. Gà

lai thương phẩm nuôi nhốt đến 12 tuần tuổi có tỷ lệ nuôi sống 97%, khối

lượng cơ thể 1,7 - 2,0 kg/con; tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng cơ thể là

3,2 kg. Nuôi bán chăn thả đến 12 tuần tuổi có tỷ lệ nuôi sống đạt 96%, khối

lượng cơ thể 1,8-2,1 kg/con; tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng cơ thể là 3,0

kg, chất lượng thịt ngon như gà Ri.

Phần 3

ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH

3.1. Đối tượng

Đàn gà Mía lai Lương Phượng từ 01 đến 70 ngày tuổi.

3.2. Địa điểm và thời gian tiến hành

- Địa điểm: Trại gia cầm Khoa Chăn nuôi Thú y trường đại học Nông

Lâm Thái Nguyên.

- Thời gian: 18/5/2018 đến 18/11/2018.

3.3. Nội dung thực hiện

- Thu thập thông tin về chuồng trại, trang thiết bị chăn nuôi và cơ cấu

đàn gà tại cơ sở.

- Đánh giá tình hình chăn nuôi gà tại cơ sở.

- Thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng gà tại cơ sở. Trực tiếp thực

hiện đúng kỹ thuật cho ăn, cho uống của gà ở từng giai đoạn.

- Thực hiện các khâu phòng và trị bệnh cho từng loại gà tại cơ sở.

3.4. Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi

3.4.1. Các chỉ tiêu theo dõi

- Tỷ lệ nuôi sống:

Số gà cuối kỳ (con) Tỷ lệ nuôi sống (%) = x100 Số gà đầu kỳ (con)

- Tỷ lệ mắc bệnh:

Tỷ lệ mắc bệnh (%) = x100 Số gà mắc bệnh (con) Số gà theo dõi (con)

- Tỷ lệ khỏi bệnh:

Số gà được điều trị khỏi (con) Tỷ lệ khỏi bệnh (%) = x100 Số gà mắc bệnh được điều trị (con)

- Số lượng gà chăm sóc

- Số lượng gà được phòng bệnh

- Khối lượng công việc thực tập trong thời gian thực tập

3.4.2. Phương pháp theo dõi

- Cập nhật thông tin thông qua sổ sách của cơ sở

- Trực tiếp hỏi thông tin và tự tìm hiểu qua các nguồn khác

- Trực tiếp thực hiện các khâu trong quy trình chăm sóc và nuôi dưỡng

gà (cho ăn, uống, vệ sinh chuồng trại, điều trị bệnh, quản lý đàn…)

- Quan sát trực tiếp đàn gà hàng ngày.

- Theo dõi tình hình mắc bệnh để kịp thời xử lý và điều trị bệnh (Theo

dõi phát hiện con mắc bệnh để kịp thời điều trị hoặc loại bỏ).

3.5. Phương pháp xử lý số liệu

Số liệu thu được chúng tôi tiến hành xử lý theo phương pháp thống

kê sinh vật học của Nguyễn Văn Thiện và cs (2002) [9], với các tham số

thống kê sau:

- Tính số trung bình mẫu:

Trong đó:

: Số trung bình cộng

x1, x2, …xn : Giá trị của các biến số

: Dung lượng mẫu. n

Phần 4

KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

4.1. Kết quả chăm sóc, nuôi dưỡng đàn gà thịt

Trong quá trình thực tập tại trại Chăn nuôi gia cầm khoa Chăn nuôi Thú

y, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, được sự giúp đỡ tận tình của chủ

trang trại. Cùng với sự cố gắng, nỗ lực của bản thân, em đã học hỏi được

những kinh nghiệm quý báu và đạt được một số kết quả như sau:

- Công tác chuẩn bị chuồng trại nuôi gà

Trước khi nhận gà vào nuôi, chuồng đã được để trống 20 ngày (yêu cầu

là 12 - 15 ngày), chuồng được quét dọn sạch sẽ bên trong và bên ngoài, hệ

thống cống, rãnh thoát nước, nền chuồng, vách ngăn được quét xi măng đặc.

Sau đó được tiến hành phun thuốc sát trùng bằng dung dịch formol với tỷ lệ

pha loãng là 2%.

Dải chấu làm đệm lót dày từ 4 - 5 cm, phun thuốc sát trùng đệm lót. Tất

cả các dụng cụ chăn nuôi như: khay ăn, máng ăn, máng uống… đều được cọ

rửa sạch sẽ, ngâm thuốc sát trùng, sau đó được tráng rửa dưới vòi nước sạch

và phơi nắng trước khi đưa vào chuồng nuôi.

- Công tác chọn giống

Tiến hành chọn những con giống phải khỏe mạnh, nhanh nhẹn, mắt sáng,

lông mượt, chân bóng, không hở rốn, khoèo chân, vẹo mỏ, đảm bảo khối

lượng trung bình lúc mới nhập chuồng là 35 - 42g. Những con gà yếu, quá

nhỏ không đảm bảo tiêu chuẩn tiến hành loại bỏ.

- Công tác chăm sóc và nuôi dưỡng

Tùy theo từng giai đoạn phát triển của gà mà ta áp dụng quy trình nuôi

dưỡng cho phù hợp.

+ Giai đoạn úm gà con: trước khi nhập gà ta phải sẵn nước uống và thức

ăn cho gà tập ăn, bật bóng hồng ngoại sao cho nhiệt độ trong chuồng ấm trước

khi thả gà vào 1 tiếng. Khi nhập gà về chúng tôi tiến hành cân khối lượng, ghi

chép lại sau đó cho gà con vào ô úm đã có sẵn nước, sau khi gà uống nước

được 2 giờ đồng hồ thì tiến hành cho thức ăn vào khay ăn.

Giai đoạn này yếu tố nhiệt độ rất quan trọng, nhiệt độ trong ô úm đảm

bảo 33 - 350C, sau một tuần tuổi nhiệt độ chuồng nuôi giảm dần theo ngày

tuổi và khi gà lớn nhiệt độ của chuồng đạt 22 - 250C.

Thường xuyên theo dõi đàn gà để điều chỉnh nhiệt độ cho phù hợp với sự

phát triển của gà. Ô úm, máng uống tự động, máng ăn đều được điều chỉnh

phù hợp theo tuổi gà (độ lớn của gà), ánh sáng được đảm bảo cho gà hoạt

động bình thường.

+ Giai đoạn nuôi thịt: ở giai đoạn này máng ăn nhỏ và khay tập ăn được

thay dần bằng máng ăn lớn. Những dụng cụ được thay thế phải được cọ rửa,

sát trùng và phơi nắng trước khi sử dụng. Hàng ngày vào các buổi sáng sớm

và đầu giờ chiều tiến hành cọ rửa máng uống, thu dọn máng ăn đảm bảo máng

ăn, máng uống luôn sạch sẽ. Nhu cầu nước uống, thức ăn của gà tăng dần theo

lứa tuổi. Lượng thức ăn còn thay đổi theo sức khỏe của gà và thời tiết.

- Chế độ chiếu sáng

Ở giai đoạn úm gà, gà cần nhiều ánh sáng để phát triển do đó chế độ

chiếu sáng ở giai đoạn này thường lớn. Tuy nhiên khi gà lớn thì chế độ chiếu

sáng cần ít đi. Vì ánh sáng mạnh sẽ kích thích gà vận động làm giảm khả năng

tích lũy của gà, do đó phải giảm ánh sáng để gà tăng trưởng nhanh hơn và

tránh hiện tượng gà mổ nhau.

- Thức ăn cho gà

Đây là trang trại phục vụ cho thực tập, thực hành và rèn nghề nên thức

ăn sử dụng chủ yếu là tự phối trộn với kế hoạch cho ăn cụ thể như sau:

Bảng 4.1. Kế hoạch cho ăn

Liều lượng Ngày tuổi Thức ăn cho ăn (gam/con/ngày)

1 - 7 CP501 Ăn tự do

8 - 21 CP501 Ăn tự do

22 – 56 Tự phối trộn Ăn tự do

57 – xuất Tự phối trộn Ăn tự do

Ở mỗi giai đoạn tuần tuổi khác nhau nhu cầu đáp ứng dinh dưỡng cho gà

cũng khác nhau. Do đó thức ăn giai đoạn úm trại thường sử dụng thức ăn phối

trộn hoàn chỉnh của Công ty CP, từ giai đoạn sau 21 ngày tuổi trở đi thì thức

ăn được tự phối trộn đảm bảo đầy đủ về tiêu chuẩn về dinh dưỡng theo giai

đoạn. Thành phần giá trị dinh dưỡng được thể hiện tại bảng 4.2 và bảng 4.3.

Bảng 4.2. Thành phần dinh dưỡng của thức ăn hỗn hợp CP501 cho gà từ 1 – 21 ngày tuổi

Thành phần

Đạm tối thiểu (min %) 19

Ẩm độ (max %) 14

Ca (min-max %) 0,7 - 1,5

P (min%) 0,45

Xơ (max %) 5

Năng lượng trao đổi ME (min Kcal/kg) 3.000

Lysine tổng số ( min %) 1

Methionine +Cystine tổng số (min %) 0,65

Bảng 4.3. Khẩu phần và thành phần giá trị dinh dưỡng (%)

Nguyên liệu

22- 56 ngày tuổi 56,0

57 – xuất 59,0

Ngô vàng

Cám gạo loại 1 10,0 10,0

Bột cá - 60% 10,0 6,0

KDĐT - 44% 18,5 18,5

Dầu thực vật 2,0 2,7

Methionin 0,1 0,1

DCP 1,4 1,2

0,5 1,0 CaCO3

Muối ăn 0,5 0,5

Premix khoáng 0,5 0,5

Premix VTM 0,5 0,5

100,0

Tổng

100,0 Giá trị dinh dưỡng

ME (Cal) 2999 3052

CP (%) 20,18 18,09

EE (%) 3,24 4,13

CF (%) 3,39 3,47

Lysin (%) 1,20 1,03

Methionin (%) 0,47 0,40

Ca (%) 1,23 1,14

0,67 0,58 P (%)

Trong thời gian thực tập tại trại, từ những kiến thức lý thuyết được trang

bị trong trường, qua sách vở, tài liệu và qua trải nghiệm của bản thân từ thực

tế sản xuất. Bản thân em nhận thấy rằng: Đối với chăn nuôi gà thịt, một trong

những giai đoạn quyết định đến sự thành công đem lại hiệu quả kinh tế cho

chăn nuôi chính là giai đoạn úm gà. Giai đoạn đầu tiên của vòng đời gà thịt

được xem là thời kỳ dễ bị tổn thương nhất, bởi gà con thay đổi từ chế độ điều

chỉnh nhiệt chưa hoàn thiện đến chế độ điều chỉnh thân nhiệt của con vật

trưởng thành. Chính vì vậy, quản lý giai đoạn úm tốt sẽ luôn dẫn đến độ đồng

đều của đàn tốt hơn. Độ đồng đều là điều then chốt cho kết quả tốt và ổn định.

Trong thời gian thực tập 6 tháng tại cơ sở, em được trực tiếp thực hiện

hoàn chỉnh quy trình nuôi gà Mía lai Lương Phượng. Qua theo dõi và ghi

chép tỷ lệ nuôi sống của gà từng ngày, ở các tuần tuổi, em đã đánh giá được

một phần của hiệu quả nuôi gà thịt giai đoạn từ 1- 10 tuần tuổi. Kết quả được

trình bày tại bảng 4.4.

Bảng 4.4. Tỷ lệ nuôi sống của gà giai đoạn 1- 10 tuần tuổi (n=500 con)

Tỷ lệ nuôi sống

Tuần tuổi Số con còn sống (con)

Ss 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 500 483 474 473 472 472 472 470 469 469 469 Trong tuần (%) 100 96,6 98,1 99,8 99,8 100 100 99,6 99,8 100 100 Cộng dồn (%) 100 96,6 94,8 94,6 94,4 94,4 94,4 94 93,8 93,8 93,8

Kết quả bảng 4.4. cho thấy: Với tổng số gà/lần nuôi là 500 con, tỷ lệ gà

còn sống khi kết thúc 3 tuần tuổi đạt 94,6 %. Kết quả này cho thấy hoàn toàn

phù hợp với quy định cho phép của trại. Giai đoạn nuôi úm đối với gà lông

màu từ 1 ngày tuổi đến hết 3 tuần tuổi, trong thời gian từ 1-3 tuần tuổi trại

cũng áp dụng theo đúng quy định trong chăn nuôi gà lông màu mà em đã

được học đó là: đối với những gà yếu, không đạt tiêu chuẩn và những gà chết

trong 1-3 ngày đầu thì được loại trực tiếp. Tỷ lệ nuôi sống của đàn gà khi xuất

bán (10 tuần tuổi) đạt 93,8% theo quy định của trại, tỷ lệ chết của đàn gà cho

phép đến khi xuất bán nằm trong khoảng 5-7% tổng số gà đưa vào nuôi ban

đầu. Căn cứ vào kết quả theo dõi của đàn gà mà em trực tiếp nuôi, tỷ lệ hao

hụt của gà đến khi xuất chuồng vẫn cao, chiếm 6,2%.

Qua thời gian làm trực tiếp tại trại, em cũng rút ra được những lưu ý

quan trọng trọng quá trình úm gà đó là:

Luôn luôn kiểm tra nhiệt độ của chuồng nuôi: nhiệt độ chuồng bắt đầu là

33 oC; lúc 7 ngày tuổi thì nhiệt độ là 30 oC và 14 ngày thì nhiệt độ là 27 oC.

Ngoài ra, thường xuyên theo dõi tập tính của gà để xác định và điều chỉnh

nhiệt độ thích hợp cho đàn gà.

Cần kiểm tra chất lượng không khí chuồng nuôi: Chất thải từ phân của

gà, từ chất độn chuồng có thể sẽ làm ảnh hưởng không tốt đến chất lượng

không khí của chuồng nuôi và ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của đàn gà.

Ngoài việc, bố trí các thiết bị hỗ trợ đo lượng C02, NH3 ở trong chuồng nuôi,

người chăn nuôi còn phải sử dụng những kinh nghiệm để đánh giá bằng cảm

quan, thông qua lượng NH3 thải ra trong phân gà nhiều, sẽ ảnh hưởng đến sự

thông thoáng của chuồng nuôi. Đối với gà con giai đoạn nuôi úm nếu hàm

lượng này quá cao, sẽ cản trở lượng O2 trong không khí, và có hại cho gà con.

Chính vì vậy cần phải theo dõi thường xuyên.

Quản lý tốt về thức ăn, nước uống: Cần phải làm sạch và sát trùng đường

nước trước khi sử dụng cho gà. Vì nước là dinh dưỡng thiết yếu tác động mạnh

đến tất cả các chức năng sinh lý của cơ thể động vật. Thức ăn cũng phải đảm bảo

về dinh dưỡng và chất lượng cho gà ở từng giai đoạn tuổi. Đối với gà nuôi giai

đoạn úm, kỹ thuật quan trọng nhất đó là phải thường xuyên kiểm tra lượng thức

ăn trong diều của gà bằng cách dùng tay sờ diều, để kiểm tra lượng thức ăn trong

diều gà. Từ đó, đánh giá được tình trạng sức khỏe và khă năng thu nhận thức ăn

của gà và có những điều chỉnh kịp thời nhất.

4.2. Kết quả thực hiện quy trình phòng bệnh cho gà thịt

4.2.1. Kết quả thực hiện quy trình phòng bệnh cho gà thịt bằng vaccin

Để phát triển chăn nuôi đem lại hiệu quả kinh tế, an toàn cho môi

trường, đảm bảo sức khoẻ cho con người trong tình hình dịch bệnh ngày càng

nhiều, diễn biến phức tạp là một trong những mong muốn mà người chăn

nuôi, người quản lý hướng tới. Tiêm phòng vaccin cho gia cầm là một trong

những yếu tố làm hạn chế dịch bệnh cũng như công tác quản lý dịch bệnh

được tốt hơn, góp phần thúc đẩy phát triển chăn nuôi, hình thành cho người

dân chăn nuôi theo hướng an toàn sinh học và đảm bảo vệ sinh môi trường.

Trong thực tế chăn nuôi với thời gian nuôi gà dài ngày thì gà có thể mắc

phải một số bệnh gây thiệt hại lớn đến kinh tế như: Newcastle, Gumboro, Cầu

trùng... Do đó trại đã tiến hành phòng bệnh cho gà với những bệnh trên.

Bảng 4.5. Kết quả thực hiện phòng bệnh bằng vaccin và thuốc cho gà

Mục đích

Tuổi (ngày)

Loại vaccin và thuốc

Phương pháp sử dụng

Pha nước cho uống

Số lượng (con) 500

Tỷ lệ an toàn (%) 99,00

1

2

Pha nước cho uống

495

98,99

Chống nhiễm khuẩn do vận chuyển

3

Pha nước cho uống

490

99,18

Úm gia cầm Kháng sinh (Colistin) + Úm gia cầm Kháng sinh (Colistin) + Úm gia cầm

Nhỏ mắt

Vaccin ND-IB (vaccin sống)

Dịch tả (ND) + Viêm phế quản truyền nhiễm(IB)

5

486

99,18

Chủng màng cánh

Ngừa đậu gà

Pha nước cho uống

Giảm stress do làm vaccine

7

Phòng Gumboro

483

99,38

14

Phòng Gumboro

480

99,38

Pha nước cho uống hoặc nhỏ miệng, mắt Pha nước cho uống hoặc nhỏ miệng, mắt

14 -16

Pha nước uống

Phòng cầu trùng

476

99,17

Nhỏ miệng

Phòng ND

Đậu gà (Fowlpox) Vitamin C + chất điện giải Vaccin Gumboro 1 (vaccin sống) Glucovit C Vaccin Gumboro 2 (vaccin sống) Glucovit C Cầu trùng ANTI – COCCID Vitamin K + C ND (vaccin sống) Dòng Lasota

18

474

99,58

Glucovit C

Pha nước cho uống

Giảm stress do làm vaccine

Cũng qua đợt thực tế này, bản thân em được trực tiếp tham gia làm

vaccin cho gà nuôi tại trang trại, em đã rút ra được một số kinh nghiệm trong

quá trình làm vaccin để đạt hiệu quả cao cụ thể như:

Thực hiện nghiêm ngặt lịch làm vaccin, tuyệt đối không được bỏ qua

một giai đoạn làm vaccin nào thì vaccin mới phát huy được tác dụng. Hạn chế

tối đa việc xê dịch ngày làm vaccin.

Chỉ nên sử dụng vaccin cho đàn gà khỏe mạnh, trong trường hợp phát

hiện đàn gà đang bị bệnh thì không nên sử dụng vaccin phòng bệnh, nếu dùng

vaccin phải có sự kiểm soát và cố vấn của kỹ thuật.

Để giảm stress cho gà, trước và sau khi làm vaccin nên cho gà uống

thêm điện giải. Tuyệt đối không cho đàn gà uống nước có sử dụng thuốc sát

trùng (nước máy thường có chất sát trùng).

Khi pha vaccin thao tác pha phải nhẹ nhàng, không lắc mạnh tay, khi pha

nên sử dụng dung dịch pha có sự tương đồng về nhiệt độ với nhiệt độ của vaccin.

Trang trại thường pha vaccin rồi nhỏ trực tiếp cho từng con gà. Lượng

vaccin pha phải tính toán cho cả đàn gà làm trong vòng 2 giờ, nếu quá thời gian

trên thì tiến hành pha đợt mới để tránh làm ảnh hưởng đến tác dụng của vaccin.

Đối với vaccin phải sử dụng theo đường tiêm, đối với trang trại nuôi với

số lượng lớn nên sử dụng xi lanh tự động để tiêm cho đảm bảo đúng liều

lượng và tiết kiệm được thời gian.

Khi sử dụng vaccin phải khử trùng dụng cụ pha chế bằng cách luộc sôi 5

- 10 phút. Vaccin vừa lấy ở tủ lạnh bảo quản, nên có thời gian hoạt hoá vi rút

trong điều kiện mát (15 - 25 0C) ít nhất 30 phút.

Sau khi sử dụng vaccin 2 - 4 giờ, gia cầm có biểu hiện hội chứng "nhiễm

vaccin", chậm chạp, ăn kém trong 6 - 12 giờ thì mới tốt.

Trước và sau khi sử dụng vaccin ít nhất 12 giờ không được sử dụng các

loại thuốc kháng sinh khác cho gia cầm (uống hoặc tiêm) để không ảnh hưởng

tới hiệu quả của vaccin. Hai loại vaccin khác nhau nên dùng cách nhau ít nhất

là 48 giờ.

4.2.2. Công tác vệ sinh phòng bệnh

Việc vệ sinh chuồng trại và môi trường xung quanh trang trại là việc làm

cần thiết và thường xuyên để ngăn chặn hạn chế những tác động xấu nhất từ

môi trường bên trong cũng như bên ngoài chuồng nuôi. Do đó việc thực hiện

vệ sinh sát trùng thường xuyên rất quan trọng để hạn chế dịch bệnh và tạo cho

gà môi trường nuôi tốt nhất trong quá trình nuôi dưỡng. Công tác vệ sinh

chuồng trại ở trại gia cầm được thực hiện như sau:

Vệ sinh sát trùng trước khi vào gà: dọn, rửa sạch sẽ toàn bộ chất thải của

những lứa trước trong và bên ngoài chuồng. Làm cỏ sạch sẽ bên ngoài

chuồng. Phun thuốc sát trùng RTD - Iodine vào chấu khi chuẩn bị đệm lót.

Quét xi măng toàn bộ xung quanh chuồng và lối đi.

Sau khi vào gà: Hàng ngày, quét dọn kho thức ăn, đường đi lại. Hàng

tuần phun khử trùng toàn bộ khu vực quanh chuồng trại, đường đi. Phun toàn

bộ những phương tiện ra vào trại.

Với phương châm phòng bệnh hơn chữa bệnh. Chính vì vậy việc phòng

bệnh cho gà được thực hiện nghiêm túc và đúng quy trình kỹ thuật.

* Một số kiến thức đã tiếp thu được thông qua việc thực hành vệ

sinh sát trùng chuồng nuôi gà trong thời gian thực tập tại cơ sở.

Phân gà có mùi hôi khó chịu, gây ô nhiễm môi trường, do đó cần phải vệ

sinh chuồng trại nuôi gà có kế hoạch. Trong vệ sinh chuồng nuôi gà thường

chia ra làm hai nhóm công việc khác nhau.

- Những việc vệ sinh chuồng trại nuôi gà cần làm hàng ngày:

Những công việc vệ sinh chuồng nuôi hàng ngày tuy không nặng nhọc

nhưng rất nhiều.

Hàng ngày, khi vào chuồng nuôi gà, người chăn nuôi phải kéo rèm xung

quanh chuồng nuôi gà để đón ánh nắng mặt trời. Mục đích của việc làm này là

làm cho không khí trong chuồng được ấm và nhờ đó tiêu diệt được các loại vi

trùng, ký sinh trùng ẩn náu trong các góc của chuồng nuôi, dưới lớp lông vũ

của gà (chỉ trừ ngày mưa bão, quá lạnh thì không mở bạt). Vào buổi tối, các bạt

này lại được đóng kín để tránh gió lạnh từ bên ngoài tràn vào khiến gà bị lạnh.

Vệ sinh máng ăn, máng uống

Máng đựng thức ăn và máng đựng nước uống của gà mỗi sáng cần được

đem ra cọ rửa sạch và phơi nắng sát trùng vì đã quá dơ bẩn, không thể để vậy

dùng tiếp được. Phải thay vào đó máng mới sạch sẽ và đã được sát trùng cho gà

ăn uống. Các máng bẩn phải đem ra cọ rửa và phơi nắng để dùng vào hôm sau.

Quét dọn thức ăn vương vãi trên nền

Do tập tính lấy thức ăn của gà dùng mỏ quẹt qua quẹt lại vào thành

máng, mục đích là cố tìm thức ăn khoái khẩu để ăn trước nên thức ăn mới bị

văng tung toé ra ngoài. Ít con gà nào chịu khó nhặt nhạnh từng hột rơi

hột rụng đó, nên ta cần phải năng quét dọn cho sạch sẽ. Nếu cứ để vương vãi

như vậy, kiến gián sẽ nhanh chóng đánh hơi kéo đến… càng gây hại cho sức

khoẻ của gà.

Quét dọn chuồng trại

Những lối đi trong chuồng gà và hành lang chung quanh khu vực chuồng

gà cần phải được quét dọn sạch sẽ luôn. Có như vậy mới ngăn ngừa được

những mầm mống bệnh từ bên ngoài xâm nhập vào khu vực chăn nuôi …

- Những việc vệ sinh sát trùng hàng tuần, hàng tháng

Tẩy uế các dụng cụ trong chuồng trại: Những dụng cụ trong chuồng trại

nuôi gà như cuốc xẻng, xe rùa, thau, sô, thúng rổ, chổi… cần được tẩy uế sau

mỗi lần sử dụng mới hợp vệ sinh. Nhưng thường thì ta chỉ rửa qua loa cho

sạch đất cát sau đó khi cần lại lấy ra dùng tiếp. Vì vậy, lâu lâu phải tẩy uế

những dụng cụ này một lần bằng các loại thuốc sát trùng hay chỉ đơn giản là

chế nước sôi lên sau khi đã cọ rửa sạch sẽ, rồi đưa ra phơi nắng.

Tẩy mùi hôi thối, chuồng gà nếu làm đúng kỹ thuật, lúc nào cũng được

thông thoáng mát và giữ gìn vệ sinh tốt thì mùi hôi thối cũng không đến nỗi

quá nồng nặc, khó ngửi.

Mùi hôi thối không những gây khó chịu cho người chăn nuôi mà còn có

hại đến sức khoẻ của gà, vì gà rất mẫn cảm với mùi khí này, dễ bị bệnh đường

hô hấp. Ngăn ngừa mầm bệnh xâm nhập bằng vôi bột là một cách giữ gìn vệ

sinh chuồng trại nuôi gà tránh được mầm bệnh xâm nhập vào chuồng gà là

ngay cửa vào chuồng nên đặt một khay chứa vôi bột để tất cả những ai có

phận sự vào chuồng gà đều phải giẫm chân (cả giày dép đang mang) lên đó để

tiệt trùng trước. Bổ sung vôi hàng ngày và sau một tuần nên bỏ hết vôi cũ

(thường đã vón cục), thay vôi mới vào.

Để ngăn ngừa mầm bệnh xâm nhập vào chuồng gà, chỉ những người có

phận sự như quét dọn, cho gà ăn uống… mới được phép ra vào, còn người

không có phận sự thì hạn chế tối đa. Hạn chế tối đa khách thăm quan, đối với

khách thăm quan trước khi đi vào khu vực nuôi gà cũng phải bước vào khay

vôi, nhúng giày dép để khử trùng như cách làm của các công nhân của trại.

- Những việc cần làm hàng quý

Phát quang và khai thông cống rãnh: Xung quanh khu vực chuồng trại,

cứ ba tháng một lần nên chặt phá, đốn bỏ hết những cây tạp và làm sạch cỏ

dại, vun thành đống rồi đốt để ngăn ngừa ruồi muỗi, chuột bọ. Ngoài ra, còn

phải khai thông các mương rãnh để nước rửa chuồng, nước mưa có lối thoát,

không tù đọng dơ bẩn.

Bảng 4.6. Kết quả phòng bệnh bằng phương pháp vệ sinh, sát trùng tại

trại

STT

Công việc

Đơn vị tính

Số lượng

1

Lượt/ngày

2

Kết quả so với nhiệm vụ được giao (%) 100

2

Lượt/tuần

1

100

3

Vệ sinh chuồng trại hàng ngày Sát trùng định kỳ xung quanh chuồng trại Quét và rắc vôi, xi măng

Lượt/tuần

1

100

Kết quả bảng 4.6 cho thấy, trong 6 tháng thực tập, chúng em luôn nỗ lực

hoàn thành tốt tất cả các công việc được giao. Vệ sinh sát trùng được xem là

một khâu hết sức quan trọng, nhận thức được điều này, chúng em đã cố gắng

thực hiện, mặc dù đây cũng là một trong những công việc vất vả, với một khối

lượng công việc lớn như vậy mà trước khi vào trang trại, chúng em chưa từng

phải thực hiện. Qua đó, em đã biết được cách thực hiện việc vệ sinh, sát trùng

trong chăn nuôi như thế nào cho hợp lý nhằm hạn chế được dịch bệnh cũng

như nâng cao sức đề kháng cho vật nuôi.

Tóm lại, khâu vệ sinh chuồng trại nuôi gà cần phải được quan tâm hàng

đầu. Có như vậy mới bảo đảm được sức khoẻ cho gà vì mọi mầm mống bệnh

đều được ngăn chặn từ bên ngòai khu vực nuôi. Nếu chểnh mảng trong khâu

này, việc chăn nuôi sẽ không tránh khỏi thất bại.

4.3. Kết quả chẩn đoán một số bệnh trên gà trong thời gian thực tập

4.3.1. Một số triệu chứng lâm sàng điển hình của các bệnh trên đàn gà

trong thời gian thực tập

Trong thời gian thực tập tại trại, em đã được tham gia cùng cán bộ kỹ

thuật của trại chẩn đoán cho gà bị bệnh. Kết quả được trình bày ở bảng 4.7.

Kết quả ở bảng 4.7 cho thấy: Trong số các bệnh thường gặp có 3 bệnh

điển hình thường gặp là bệnh Cầu trùng, Bạch lỵ gà và bệnh Viêm thanh khí

quản truyền nhiễm.

Đối với bệnh bạch lỵ, chủ yếu xẩy ra ở những tuần tuổi đầu, gà thường

có triệu chứng điển hình là gà vận động chậm chạp, yếu, gà bỏ ăn hoặc ăn ít,

thường đứng ủ rũ một chỗ, phần lớn gà đi ỉa lúc đầu có phân mầu xanh sau

chuyển sang mầu sáng, một số con có phân lẫn máu.

Bảng 4.7. Các triệu trứng lâm sàng điển hình của gà bị bệnh

STT

Triệu chứng lâm sàng

Tên bệnh

Tỷ lệ (%)

Số lượng gà mắc bệnh kiểm tra

Số gà có triệu chứng bệnh

15

Gà thường đứng ủ rũ.

15

100

15

15

Gà bỏ ăn hoặc ăn ít

100

15

15

1

Gà đi lảo đảo

100

Bạch lỵ gà

15

3

Phân lúc đầu xanh nhạt, sau trắng, đặc cứng.

20,00

15

2

Phân lẫn máu

13,33

20

20

Gà đi ỉa, phân lẫn máu

100

20

20

Gà gầy, bỏ ăn, hoặc ăn ít

100

20

16

2

Nằm tụm đống kêu khác lạ.

80,00

Cầu trùng

20

17

Thiếu máu: mào, da nhợt nhạt

85,00

20

15

Xù lông, sã cánh xuống sát nền

75,00

10

10

Chảy nước mắt nước mũi, kêu xao xác

100

10

5

Gà kéo dài cổ ra để thở, sau đó chết

50,00

3

CRD

10

2

Da màu xanh tím

20,00

10

2

Dính 2 mắt lại, do viêm kết mạc

20,00

Đối với bệnh Cầu trùng, đây là bệnh phổ biến thường gặp nhất ở tất cả

các loại gà và ở tất cả các lứa tuổi. Triệu chứng lâm sàng điển hình nhất để

phân biệt và nhận biết được gà bị cầu trùng đó là dựa vào quan sát trạng thái

phân gà, đối với gà bị cầu trùng 100 % số gà quan sát đều có hiện tượng đi ỉa,

phân có mầu nâu thẫm, hoặc lẫn máu tươi, gà thường rất gầy, đối với những

gà chết, khi quan sát xác chết 100 % số gà này đều rất gầy, do gà ăn ít hoặc

không ăn, mất máu, nên xác chết rất gầy. Bệnh thường không gây chết đột

ngột, mà kéo dài và làm cho gà suy kiệt sức khỏe rồi dẫn đến chết, tỷ lệ chết

có thể lên đến 70 - 80 %.

Một trong những bệnh rất điển hình ở gà thịt đó là bệnh viêm thanh khí

quản truyển nhiễm của gà. Những gà bị bệnh thường hay có triệu chứng điển

hình khi quan sát là gà chẩy nước mắt nước mũi, khó thở, hoặc thở khò khè.

Mắt có hiện tượng lèm nhèm, dính lại với nhau do quá trình bị viêm kết mạc

mắt nên hai mắt dính chặt vào nhau. Một số gà chết, xác chết thường có mầu

xanh do gà bị thiếu oxi.

Trong quá trình chuẩn đoán lâm sàng, chúng em chỉ dựa vào những triệu

chứng lâm sàng điển hình để phân biệt bệnh. Tuy nhiên, để có thể chẩn đoán

chính xác được bệnh và có phác đồ điều trị hiệu quả thì cần phải mổ khám

bệnh tích để có kết luận chính xác nhất.

4.3.2. Một số bệnh tích điển hình của gà mắc một số bệnh thường gặp

Để có phác đồ điều trị chính xác, ngoài việc kiểm tra triệu chứng lâm sàng

trên gà mắc bệnh, em còn mổ khám gà để kiểm tra các cơ quan bên trong. Kết

quả mổ khám bệnh tích của gà mắc bệnh được trình bày ở bảng 4.8.

Bệnh Bạch lỵ ở gà, đối với gà 1 ngày tuổi khi mổ khám chủ yếu thấy gan

và phổi xung huyết đỏ bầm. Gà ở lứa tuổi 2 tuần tuổi thì tim và phổi có nhiều

điểm hoại tử trắng xám nhạt. Lách sưng to, thận xung huyết đỏ.

Đối với gà 1-3 ngày tuổi khi mổ khám thấy phần lớn bụng chướng to có

hơi, lòng đỏ không tiêu, và lỗ huyệt có phân dính khô lại làm cho gà không

thải phân được.

Bệnh Bạch lỵ chủ yếu gây ra ở gà từ khi mới nở đến 2 tuần tuổi rất

nhiều, tỷ lệ mắc bệnh cao nhất từ lúc 24-48h sau khi nở, còn gà lớn mắc bệnh

chỉ ở thể mạn tính. Vì vậy để phòng tránh bệnh nên phòng từ trạm ấp bằng

cách vệ sinh thú y tổng hợp trạm ấp để tránh truyền dọc từ gà mẹ bị bệnh sang

trứng giống, nên khi mới nở ra gà con sẽ nhiễm bệnh hoặc sẽ chết ngay từ giai

đoạn ấp cuối.

Bảng 4.8. Bệnh tích mổ khám của gà nhiễm bệnh

Biểu hiện bệnh tích

Tên bệnh

Tỷ lệ (%)

Cơ quan, bộ phận của gà

Số lượng gà mổ khám

Số lượng gà có bệnh tích điển hình

4

Ruột

Không sưng to, có vệt trắng

5

80,00

5

3

60,00

Gan, phổi

Sung huyết đỏ bầm hoặc có điểm hoại tử trắng

Bệnh bạch lỵ

5

3

60,00

Lách

Sưng to

5

2

40,00

Thận

Sung huyết

5

5

100,00

Thành ruột

Sưng dày lên, có những nốt xuất huyết

5

4

80,00

Manh tràng

Phình to, chứa đầy hơi và máu, viêm xuất huyết

Bệnh cầu trùng

5

3

60,00

Niêm mạc ruột non

Trên bề mặt có nhiều điểm trắng xám

5

3

60,00

Niêm mạc ruột già

5

4

80,00

Đầu, mắt

Trên bề mặt có nhiều điểm trắng, có thể bị hoại tử Mắt gà sưng, chảy nước mắt, nước mũi

5

3

60,00

Phổi, túi khí

Phù thũng, viêm

Bệnh CRD

5

4

80,00

Viêm

Màng bao tim

5

4

80,00

Khí quản

Nhiều dịch viêm có màu hơi vàng

Đối với bệnh cầu trùng của gà, đây là bệnh điển hình nhất có thể chẩn

đoán bằng lâm sàng. Khi mổ khám sẽ giúp người chăn nuôi biết chính xác

tình trạng của bệnh. Bệnh tích điển hình nhất của bệnh khi khám cơ quan tiêu

hóa đó là toàn bộ bề mặt của ruột non bị sung huyết, có các mạch máu nổi lên

trên bề mặt. Nếu gà bị nặng tình trạng này nhìn rất rõ. Hai manh tràng phình

to, chứa đầy hơi và có máu, Khi cắt ruột ra để kiểm tra niêm mạc ruột sẽ thấy

trên bề mặt ruột non có nhiều điểm trắng xám, xuất huyết rõ rệt, chất chứa

trong manh tràng chủ yếu là máu. Phần ruột già khi kiểm tra niêm mạc thấy

có thể có hiện tượng hoại tử đối với trường hợp gà bị cầu trùng nặng.

Bệnh cầu trùng có thể mắc ở tất cả các loại gà và lứa tuổi khác nhau, vì vậy

việc dùng thuốc để phòng cầu trùng cho gà trong thời gian nuôi là rất cần thiết.

Đối với bệnh viêm thanh khí quản truyền nhiễm. Ngoài triệu chứng lâm

sàng như mắt gà sưng, mắt, mũi chẩy nước, thì khi mổ khám cơ quan hô hấp

thấy bệnh tích điển hình biểu hiện trên cơ quan hô hấp như: Đường dẫn khí có

nhiều dịch mầu hơi vàng, phổi và túi khí có hiện tượng viêm, phù thũng, một

số gà khi kiểm tra màng bao tim có hiện tượng viêm màng bao tim.

Trong thực tế cho thấy bệnh CRD thường hay ghép với bệnh E.coli, khi

gà bị CRD ghép với E.coli thì gà thường sốt cao, tỷ lệ chết có thể lên đến 30%.

Bệnh thường xảy ra lúc giao mùa hoặc khi thời tiết thay đổi, hoặc khi gà

bị stress, vì vậy biện pháp phòng bệnh cần được thực hiện đầy đủ đó là vệ

sinh chuồng trại và sử dụng kháng sinh để điều trị và kết hợp với sử dụng

thuốc tăng sức đề kháng cho gà.

Trong quá trình thăm khám chẩn đoán bệnh cho gà ở các trang traị,

phương pháp khám mà em thường sử dụng như sau:

* Phương pháp chẩn đoán lâm sàng đối với gà bị bệnh

Phương pháp quan sát: đây là phương pháp khám bệnh đơn giản

nhưng chính xác, được sử dụng trong khám lâm sàng thú y. Khi quan sát

đàn gà cần quan sát cẩn thận để nhận biết được trạng thái sức khỏe của đàn

gà, cách đi đứng, màu sắc và tình trạng lông, da, niêm mạc và các triệu

chứng khác của con vật. Ngoài ra quan sát trạng thái và mầu sắc của phân

trên nền chuồng. Từ đó có thể giúp ta sàng lọc được những con có nghi vấn

mắc bệnh. Khi quan sát đàn gà nên quan sát từ xa đến gần, nên quan sát

dưới ánh sáng ban ngày.

Phương pháp nghe: Để chẩn đoán gà bị bệnh đường hô hấp, sử dụng

phương pháp nghe, dùng tai, áp sát gần vào cơ thể gà để nghe tiếng thở, nhịp

thở của gà.

* Phương pháp mổ khám chẩn đoán bệnh trên gà

Việc này sẽ mang lại hiệu quả cao cho việc điều trị đàn gia cầm.

- Khám tổng thể bên ngoài.

Kiểm tra thể trạng của gà nghi mắc bệnh xem gầy hay béo.

Kiểm tra phần đầu: dịch mũi, mào, mầu sắc mào, dịch nhầy ở mắt và miệng.

Khám lông da.

- Mổ khám.

Làm chết gia cầm bằng cách bẻ cổ, sau đó cắt tiết

Làm ướt lông và da của gia cầm

Đặt gia cầm nằm ngửa: mở mỏ, cắt dọc cổ theo thực quản để kiểm tra

hầu họng. Sau đó cắt vùng da tiếp giáp giữa lườn và đùi, bẻ doãng chân ra hai

bên, mở xác gia cầm quan sát, tạo một lỗ khuyết áo ở cuối chạc xương đòn,

rạch thẳng qua xương đòn, cắt dọc theo xương sườn, nâng chạc xương đòn về

phía đầu, quan sát túi khí và các cơ quan (tim và gan), quan sát các cơ quan

trước khi tiến hành mổ xẻ và lấy mẫu.

Quan sát cơ quan tiêu hóa: cần quan sát dạ dày tuyến và dạ dày cơ, quan

sát niêm mạc, chất chứa và tìm những bệnh tích xuất huyết hay lở loét, tiếp

đến quan sát manh tràng, hồi tràng, trực tràng (quan sát niêm mạc và chất

chứa trong ruột). Kiểm tra gan và túi mật, độ rắn chắc của túi mật, quan sát

hình dáng, mầu sắc của tuyến tụy.

Quan sát cơ quan hô hấp: quan sát trạng thái của khí quản, quan sát phổi

và khám các túi khí vùng ngực, bụng.

Quan sát hệ thống sinh dục: quan sát buồng trứng, ống dẫn trứng đối với

con mái. Và quan sát tinh hoàn, vị trí, mầu sắc, kích thước đối với con trống.

Quan sát cơ quan miễn dịch: quan sát hình dáng, mầu sắc, kích thước và

độ rắn chắc của lách.

Quan sát túi fabricius ở gần lỗ huyệt: Quan sát hình dáng, kích thước và

màng nhày của túi fabricius...

4.4. Kết quả điều trị gà mắc bệnh trong quá trình thực tập

Trong quá trình thăm khám và mổ khám một số gà mắc bệnh, trên cơ sở

các bệnh tích điển hình của gà mắc bệnh, với sự hướng dẫn của kỹ thuật, em

đã xác định được đúng bệnh và đưa ra phác đồ điều trị hiệu quả đối với một

số bệnh. Kết quả được trình bày ở bảng 4.9.

Bảng 4.9. Một số phác đồ sử dụng điều trị bệnh cho đàn gà đạt hiệu quả

Thuốc điều trị Liệu trình Kết quả điều trị Tên bệnh

Số gà được điều trị (con)

472 An toàn 1g/lít nước uống liên tục 5 ngày. Bạch lỵ gà con

474 An Toàn Cầu trùng 1g/lít, uống liên tục trong 5-7 ngày.

495 An toàn CRD RTD - AMOXY - COMBY Kết hợp Bcomplex, điện giải. ANTI COCCID Bổ sung thêm vitamin K BIO - TILMICOSIN 0.3ml/lít nước uống 3-5 ngày liên tục.

Kết quả ở bảng 4.9 cho thấy: về nguyên tắc khi phát hiện trong đàn gà có

một số gà có biểu hiện mắc bệnh, và khi đã xác định được đúng bệnh, trang

trại dùng thuốc để điều trị cho toàn đàn gà. Vì vậy khó có thể tính toán được

tỷ lệ phần trăm một cách chính xác tỷ lệ khỏi bệnh của đàn gà, cũng như

không thể kết luận đàn gà “sạch bệnh”. Trong quá trình theo dõi, tùy thuộc

vào đặc điểm của bệnh và mức độ mắc bệnh của đàn gà, thì thời gian điều trị

của từng đàn có thể khác nhau. Tuy nhiên, khi áp dụng phác đồ điều trị ở

bảng 4.9 thì số gà mắc bệnh giảm đi rõ rệt, thông qua thăm khám lâm sàng

không còn thấy các triệu chứng của gà mắc bệnh, số gà chết rải rác không còn

sau khi được điều trị, từ đó có thể đưa ra kết luận chung là đàn gà an toàn.

Phần 5

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

5.1. Kết luận

Qua đợt thực tập này, em nhận thấy mình đã trưởng thành hơn về nhiều

mặt và bằng sự nỗ lực của bản thân em đã hoàn thành nhiệm vụ đề ra. Điều

quan trọng hơn là em đã rút ra được bài học kinh nghiệm bổ ích về chuyên

môn từ thực tiễn sản xuất. Cụ thể là:

Biết cách chăm sóc, nuôi dưỡng và quản lý trong chăn nuôi gà.

Biết cách sử dụng một số loại vaccin phòng bệnh và thuốc điều trị bệnh

trong chăn nuôi.

Chẩn đoán và đưa ra phác đồ điều trị một số bệnh thông thường.

Hiểu biết về xã hội, cách sống và quan hệ trong một tập thể.

Nâng cao niềm tin và lòng yêu nghề của bản thân.

Từ kết quả thu được qua theo dõi đàn gà, chúng em sơ bộ rút ra một số

kết luận sau:

- Tình hình chăm sóc nuôi dưỡng gà tại trang trại:

Tỷ lệ nuôi sống của gà từ 1-10 tuần tuổi đạt là 93,8%

Áp dụng quy trình phòng bệnh cho đàn gà, đã đạt được một số kết quả

như sau:

+ Phòng các bệnh Newcastle, Gumboro, viêm thanh khí quản truyền

nhiễm và bổ sung thêm thuốc tăng sức đề kháng và phòng một số bệnh. Kết

quả đều an toàn.

+ Trại chăn nuôi áp dụng nghiêm ngặt quy trình phòng bệnh bằng vệ

sinh, sát trùng chuồng nuôi và khu vực chăn nuôi, tạo vành đai chăn nuôi

an toàn.

- Áp dụng quy trình chẩn đoán lâm sàng và bệnh tích một số bệnh trên

gà thịt

Các bệnh thường gặp tại trại đó là: Bệnh bạch lỵ, Cầu trùng, CRD. Mỗi

bệnh đều có triệu chứng lâm sàng và bệnh tích điển hình rất rõ rệt.

- Kết quả điều trị một số bệnh thường gặp

Về nguyên tắc là điều trị cho toàn đàn, kết quả sau điều trị đều được

đánh giá là an toàn và bảo hộ được đàn gà.

5.2. Kiến nghị

- Tiếp tục cho các lớp sinh viên được tham gia thực tập nhiều hơn tại cơ sở

chăn nuôi, để sinh viên được trải nghiệm và học tập thực tiễn nhiều hơn. Từ

đó, củng cố kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp một cách hiệu quả nhất.

- Tiếp tục nghiên cứu thêm về bệnh trên gà cũng như đưa ra các biện pháp

phòng trị thích hợp. Tìm ra các loại thuốc mới có tác dụng cao đối với bệnh

để hạn chế tác hại của bệnh cũng như giảm thiệt hại về kinh tế cho người chăn

nuôi và nâng cao năng suất, chất lượng thịt.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

I. Tài liệu trong nước

1. Nguyễn Văn Đại, Trần Thanh Vân, Trần Long, Đặng Đình Hanh (2001),

“Đặc điểm ngoại hình và khả năng sinh trưởng, cho thịt của gà lai F1 (Trống

Mía x mái Kabir) nuôi nhốt và bán chăn thả tại Thái Nguyên”. Tạp chí chăn

nuôi số 5 - 2001.

2. Nguyễn Duy Hoan, Trần Thanh Vân (1998), Giáo trình chăn nuôi gia cầm.

Nxb Nông nghiệp, Hà Nội.

3. Đào Văn Khanh (2000), “Nghiên cứu năng suất thịt gà broiler giống Tam

Hoàng 882 nuôi ở các mùa vụ khác nhau của vùng sinh thái Thái Nguyên’’.

(Kết quả nghiên cứu Khoa học và chuyển giao Công nghệ nhân dịp kỷ niệm

30 năm thành lập trường ĐHNL), Nxb Nông Nghiệp.

4. Bùi Đức Lũng, Lê Hồng Mận (1993), Nuôi gà Broiler đạt năng suất cao,

Nxb Nông nghiệp, trang 21- 23.

5. Lê Hồng Mận, Nguyễn Duy Nhị, Ngô Giản Luyện, Nguyễn Huy Đạt,

NguyễnVăn Trung, Nguyễn Thành Đồng (1996), “Chọn lọc và nhân thuần 10

đời các dòng gà thịt thuần chủng Plymouth Rock”. Tuyển tập công trình

nghiên cứu khoa học kỹ thuật gia cầm, Liên hiệp xí nghiệp gia cầm Việt Nam

1986 - 1996.

6. Lê Hồng Mận, Bùi Đức Lũng, Phạm Quang Hoán (1993), “Yêu cầu Protein

trong thức ăn hỗn hợp nuôi tách gà trống mái gà HV 85 từ 1 - 63 ngày tuổi”.

Thông tin gia súc gia cầm số 1 tháng 3/1993, trang 17, 29.

7. Trần Đình Miên, Nguyễn Kim Đường (1992), Chọn giống và nhân giống

gia súc, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội.

8. Nguyễn Văn Thiện (1995), Di truyền học số lượng ứng dụng trong chăn

nuôi, Nxb Nông Nghiệp.

9. Nguyễn Văn Thiện, Nguyễn Khánh Quắc, Nguyễn Duy Hoan (2002), Giáo

trình phương pháp thí nghiệm trong chăn nuôi, Nxb Nông nghiệp Hà Nội.

II. Tài liệu nước ngoài

10. Cerniglia J.A, Herrtand A.B Walt (1983), “The effect of constant ambient

temperature and ration on the performance of Sussex broiler”. Poultry

Science 62.

11. Chambers J.R (1990), Genetic of growth and Meat production in chicken,

Edited by R.D Craw ford- Elsevier- Amsterdam- Oxford- Tokyo, pp.9.

12. Godfry E.F, Jaap R.G (1992), “Evirence of breed and sex differnces in the

weight of chicken hat cher from eggs sinrilar weight”, Pouitry Sci, pp. 22.

13. Huţu, Ioan şi col. 2006: “Creşterea puilor pentru Carne”, ediţia a III-a

revăzută şi adăugită, Ed. Mirton, Timişoara.

14. Nir I. (1992), “Israel optimization of poultry diets in hot climates”.

Proceedings world Poultry congress vol 2, pp. 71 - 75.

15. Jaap, Morris (1997), “Genetic differences in eight weeks of weight”

Poultry Science 16, Page 44, 48.

16. Wash Bun K.W (1992), “Influence of body weight on response to a heat stress

environment”, World's Poultry Congress No 9 vol 2/1992, pp.53 - 56.

MỘT SỐ HÌNH ẢNH CỦA ĐỀ TÀI

Hình 1. Vệ sinh chuồng trại

Hình 2. Úm gà con Hình 3. Cân gà con

Hình 4. Một số loại kháng sinh thường dùng trong quá trình chăn nuôi

Hình 5. Làm Vắc xin gà Hình 6. Cho gà ăn