ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

NGUYỄN THỊ THU HẰNG

Tên chuyên đề:

“THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG

VÀ PHÒNG TRỊ BỆNH TRÊN ĐÀN GÀ MÍA LAI LƯƠNG PHƯỢNG

TẠI TRẠI CHĂN NUÔI GIA CẦM KHOA CHĂN NUÔI THÚ Y"

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy

Chuyên ngành: Thú y

Khoa: Chăn nuôi Thú y

Khóa học: 2015 - 2019

Thái Nguyên, năm 2019

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

NGUYỄN THỊ THU HẰNG

Tên chuyên đề:

“THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG

VÀ PHÒNG TRỊ BỆNH TRÊN ĐÀN GÀ MÍA LAI LƯƠNG PHƯỢNG

TẠI TRẠI CHĂN NUÔI GIA CẦM KHOA CHĂN NUÔI THÚ Y"

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy

Chuyên ngành: Thú y

Lớp: K47 - TY - N04

Khoa: Chăn nuôi Thú y

2015 - 2019

Khóa học: Giảng viên hướng dẫn: TS. Trần Thị Hoan

Thái Nguyên, năm 2019

i

LỜI CẢM ƠN

Trong thời gian học tập và rèn luyện tại trường Đại học Nông Lâm Thái

Nguyên cũng như trong thời gian thực tập tại Trại gia cầm khoa Chăn nuôi

Thú y trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, em đã nhận được sự giúp đỡ

quý báu của các thầy giáo, cô giáo trong Ban Giám hiệu, Ban Chủ nhiệm

khoa Chăn nuôi Thú y cùng toàn thể các thầy cô giáo trong Khoa đã tận tình

giảng dạy, dìu dắt em hoàn thành tốt chương trình học, tạo cho em có được

lòng tin vững bước trong cuộc sống và công tác sau này.

Em xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu trường Đại học Nông lâm Thái

Nguyên, Ban Chủ nhiệm Khoa Chăn nuôi Thú y cùng toàn thể thầy giáo, cô giáo

của Khoa đã giúp em có một kì thực tập thành công tốt đẹp, tạo bước đệm về

kiến thức chuyên môn cũng như thực tế cho bản thân em để sẵn sàng đương đầu

với những thử thách mới trong công việc cũng như cuộc sống sau này.

Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc đến giáo viên

hướng dẫn TS. Trần Thị Hoan, đã quan tâm, giúp đỡ tận tình và tạo mọi điều

kiện giúp em trong suốt quá trình thực tập và hoàn thành khóa luận.

Qua đây, em xin bày tỏ lòng biết ơn tới gia đình, bạn bè và những

người thân đã thường xuyên tạo mọi điều kiện giúp đỡ, dành những tình cảm

và sự động viên vô cùng quý báu cho em trong suốt thời gian học tập, nghiên

cứu và trong quá trình hoàn thành bản khóa luận này.

Cuối cùng, em xin kính chúc các thầy giáo, cô giáo luôn mạnh khỏe,

hạnh phúc, thành công trong cuộc sống, đạt nhiều kết quả tốt trong giảng dạy

và nghiên cứu khoa học.

Thái Nguyên, ngày 18 tháng 12 năm 2019

Sinh viên

Nguyễn Thị Thu Hằng

ii

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN .................................................................................................... i

MỤC LỤC ......................................................................................................... ii

DANH MỤC CÁC BẢNG............................................................................... iv

DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT ........................................................ v

Phần 1. MỞ ĐẦU ............................................................................................ 1

1.1. Đặt vấn đề................................................................................................... 1

1.2. Mục tiêu và yêu cầu của chuyên đề ........................................................... 2

1.2.1. Mục tiêu................................................................................................... 2

1.2.2. Yêu cầu .................................................................................................... 2

Phần 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU ................................................................. 3

2.1. Điều kiện cơ sở nơi thực tập ...................................................................... 3

2.1.1. Điều kiện tự nhiên ................................................................................... 3

2.1.2. Đối tượng và kết quả sản xuất ................................................................. 4

2.2. Cơ sở khoa học của chuyên đề ................................................................... 4

2.2.1. Một số hiểu biết về sự di truyền của các tính trạng ở gia cầm ............... 4

2.2.2. Khả năng sinh trưởng và các yếu tố ảnh hưởng sinh trưởng .................. 7

2.2.3. Sức sống và khả năng cảm nhiễm bệnh ................................................ 11

2.3. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước .............................................. 15

2.3.1. Tình hình nghiên cứu trong nước .......................................................... 15

2.3.2. Tình hình nghiên cứu ngoài nước ......................................................... 16

2.4. Giới thiệu vài nét về gà lai (Mía x Lương Phượng) ................................. 17

Phần 3. ĐỐI TƯỢNG NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH ...... 19

3.1. Đối tượng, thời gian và địa điểm tiến hành.............................................. 19

3.2. Nội dung thực hiện ................................................................................... 19

3.3. Phương pháp thực hiện............................................................................. 19

iii

3.3.1. Phương pháp theo dõi ........................................................................... 19

3.3.2. Quy trình chăm sóc nuôi dưỡng và phòng bệnh ................................... 19

3.3.3. Chỉ tiêu theo dõi .................................................................................... 22

3.3.4. Phương pháp theo dõi các chỉ tiêu ........................................................ 22

Phần 4. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN......................................................... 23

4.1. Kết quả chăm sóc, nuôi dưỡng đàn gà thịt ............................................... 23

4.2. Kết quả theo dõi tỉ lệ nuôi sống, khả năng sinh trưởng và tiêu thụ thức ăn

của đàn gà ........................................................................................................ 25

4.2.1. Tỷ lệ nuôi sống của đàn gà trực tiếp theo dõi ....................................... 25

4.2.2. Sinh trưởng tích lũy của đàn gà trực tiếp theo dõi ................................ 27

4.2.3. Khả năng thu nhận thức ăn.................................................................... 28

4.3. Kết quả thực hiện quy trình phòng bệnh cho gà thịt ................................ 30

4.3.1. Kết quả thực hiện quy trình phòng bệnh cho gà thịt bằng vắc xin ....... 30

4.3.2. Công tác vệ sinh phòng bệnh ................................................................ 33

4.4. Kết quả áp dụng quy trình chẩn đoán một số bệnh trên gà trong thời gian

thực tập ............................................................................................................ 36

4.4.1. Một số triệu chứng lâm sàng điển hình của các bệnh trên đàn gà trong

thời gian thực tập ............................................................................................. 36

4.4.2. Một số bệnh tích điển hình của gà mắc một số bệnh thường gặp ......... 38

4.4.3. Kết quả chẩn đoán bệnh trên gà tại trại ................................................. 42

4.5. Kết quả điều trị gà mắc bệnh trong quá trình thực tập ............................. 42

Phần 5. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ ............................................................. 44

5.1. Kết luận .................................................................................................... 44

5.2. Kiến nghị .................................................................................................. 45

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

iv

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Cơ cấu đàn gà của trại gia cầm Khoa Chăn nuôi Thú y từ năm

2017 đến nay ..................................................................................... 4

Bảng 3.1. Sơ đồ theo dõi đàn gà ..................................................................... 19

Bảng 3.2. Thời gian và cường độ chiếu sáng .................................................. 20

Bảng 3.3. Thành phần giá trị dinh dưỡng trong thức ăn của gà từ 1 - 21 ngày tuổi ..... 20

Bảng 3.4. Khẩu phần và giá trị dinh dưỡng của gà từ 22 ngày tuổi đến xuất bán ...... 21

Bảng 4.1. Kế hoạch cho ăn .............................................................................. 25

Bảng 4.2. Tỷ lệ nuôi sống của gà giai đoạn 1 - 11 tuần tuổi .......................... 26

Bảng 4.3. Sinh trưởng tích lũy của gà từ 01 đến 11 tuần tuổi ........................ 28

Bảng 4.4. Khả năng tiêu thụ thức ăn của đàn gà trực tiếp theo dõi ................ 29

Bảng 4.5. Kết quả thực hiện phòng bệnh bằng vắc xin và thuốc cho gà ........ 31

Bảng 4.6. Kết quả phòng bệnh bằng phương pháp vệ sinh, sát trùng tại trại . 36

Bảng 4.7. Các triệu trứng lâm sàng điển hình của gà bị bệnh ........................ 37

Bảng 4.8. Bệnh tích mổ khám của gà nhiễm bệnh .......................................... 39

Bảng 4.9. Một số phác đồ sử dụng điều trị bệnh cho đàn gà đạt hiệu quả ..... 43

v

DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT

Cs : Cộng sự

KHKT : Khoa học kỹ thuật

Nxb : Nhà xuất bản

TĂ : Thức ăn

TB : Trung bình

TTTĂ : Tiêu tốn thức ăn

1

Phần 1

MỞ ĐẦU

1.1. Đặt vấn đề

Trong những năm gần đây, ngành chăn nuôi đang và đã trở thành

ngành mũi nhọn trong việc phát triển kinh tế của các hộ nông dân trong cả

nước, cùng với sự phát triển nhanh của khoa học kỹ thuật thì ngành chăn nuôi

đã cung cấp một lượng lớn thực phẩm giá trị dinh dưỡng cao cả về số lượng

cũng như chất lượng cho xã hội và đem lại hiệu quả kinh tế không nhỏ. Trong

đó chăn nuôi gia cầm đang được chú trọng và khuyến khích tới các hộ nông

dân trong cả nước.

Xã hội phát triển kinh tế ngày càng đi lên thì cuộc sống của nhân dân

ngày càng được cải thiện. Do đó những đòi hỏi về nhu cầu thực phẩm như:

thịt, trứng, sữa ngày càng cao. Đứng trước nhu cầu thực tiễn sản xuất, nước ta

đã tiến hành lai tạo ra một số giống gà lông màu có khả năng sinh trưởng tốt,

thích nghi với khí hậu của Việt Nam, trong đó có giống gà Mía lai Lương

Phượng. Gà Lương Phượng có đặc điểm dễ nuôi, nhanh lớn, ít bệnh, năng

suất cao, thích nghi tốt với khí hậu nhiệt đới, song chất lượng thịt ít được ưa

chuộng bởi lượng mỡ dưới da cũng như mỡ bụng nhiều. Gà Mía là giống gà

địa phương, có năng suất đẻ không cao, sinh trưởng chậm, năng suất thịt thấp

nhưng tầm vóc tương đối to, có khả năng chống chịu tốt với khí hậu địa

phương, ít bệnh, thịt mịn, thơm ngon, hợp thị hiếu người tiêu dùng được

nhiều người ưa chuộng.

Nhiều nghiên cứu cho thấy việc lai tạo giữa 2 giống gà trên đã tạo ra con

lai có sức sản xuất cao, phù hợp chăn nuôi với mọi hình thức, chất lượng thịt

thơm ngon, khắc phục được những nhược điểm của giống gốc. Đã có nhiều

nghiên cứu đánh giá sức sản xuất thịt của con lai và đều khẳng định con lai

2

(Mía x Lương Phượng) có khả năng sinh trưởng tốt trong các điều kiện. Liệu

các quy trình nuôi dưỡng khác nhau trong nông hộ, các địa phương có ảnh

hưởng tới sức sản xuất thịt của con lai hay không? Và để có thêm số liệu khoa

học khuyến cáo cho hộ chăn nuôi, xuất phát từ thực tế trên, em thực hiện

chuyên đề: “Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh

trên đàn gà Mía lai Lương Phượng tại trại gia cầm Khoa Chăn nuôi Thú y".

1.2. Mục tiêu và yêu cầu của chuyên đề

1.2.1. Mục tiêu

- Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng cho đàn gà thịt thương

phẩm (Mía x Lương Phượng)

- Thực hiện quy trình phòng, trị bệnh cho đàn gà thịt thương phẩm (Mía

x Lương Phượng).

1.2.2. Yêu cầu

- Thực hiện được quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng cho đàn gà Mía lai

Lương Phượng.

- Áp dụng được quy trình phòng và trị bệnh cho đàn gà Mía x Lương Phượng.

3

Phần 2

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1. Điều kiện cơ sở nơi thực tập

2.1.1. Điều kiện tự nhiên

Trại gia cầm khoa Chăn nuôi thú y được xây dựng trên nền của khu trại

gà cũ của trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên theo mô hình chăn nuôi gà

đẻ an toàn sinh học từ năm 2013.

Vị trí:

- Phía Đông giáp Bệnh xá thú y.

- Phía Tây giáp vườn ươm viện nghiên cứu.

- Phía Nam giáp đường dân sinh vào khu Giáo dục quốc phòng.

- Phía Bắc giáp khoa Công nghệ sinh học và Công nghệ thực phẩm .

Khu chăn nuôi quy hoạch tại Trại gia cầm cũ với diện tích là

3.000m2. Gồm 2 dãy chuồng với diện tích 316,6m2 và 2 kho rộng 40m2,

phần diện tích còn lại dùng để chăn thả và trồng cây bóng mát. Toàn bộ

khu vực được rào bằng lưới thép B40 với tổng chiều dài 220m, đảm bảo

ngăn cách với các khu vực khác.

Khu nhà điều hành và nhà ở cho sinh viên có diện tích là 48m2 được

chia làm 4 phòng, gồm phòng điều hành, bếp nấu và 2 phòng ở cho sinh viên.

Hố sát trùng và phòng thay đồ có tổng diện tích là 30m2. Trong đó hố

sát trùng 20m2, khu nhà thay quần áo bảo hộ lao động 10m2.

Khu nhà xưởng và công trình phụ trợ có diện tích 120m2. Trong đó có

các công trình như:

- 01 kho thuốc, dụng cụ thú y: 20m2

- 01 phòng ấp trứng gia cầm (máy ấp điện): 30m2

- 01 kho chứa và chế biến thức ăn chăn nuôi: 50m2

4

- 01 kho dụng cụ (máng ăn, uống, đệm lót…..): 20m2

Diện tích đất còn lại là 3.960m2 được quy hoạch để trồng cây thức ăn

bổ sung cho gà.

2.1.2. Đối tượng và kết quả sản xuất

Sau thời gian xây dựng lại cơ sở hạ tầng, trại tiến hành đưa vào nuôi gà

đẻ trứng và gà thịt thương phẩm.

Hiện nay trại đang có 400 con gà thương phẩm Mía lai Lương Phượng,

500 con gà Ác lai Ai Cập, 100 con gà sinh sản, và khoảng 100 con gà thương

phẩm các giống H’Mông, gà Chọi.

Bảng 2.1: Cơ cấu đàn gà của trại gia cầm Khoa Chăn nuôi Thú y

từ năm 2017 đến nay

Số lượng đàn gà của trại (con)

Loại gà Năm 2017 Năm 2018 Tháng 11/2019

1000 124 100 Gà đẻ

300 900 1000 Gà thịt

1300 1024 1100 Tổng số

Bảng 2.1 cho thấy, số lượng đàn gà của năm 2018 giảm hơn so với năm

2017 là 276 con, đến năm 2019 lại tăng so với năm 2018 là 76 con.

2.2. Cơ sở khoa học của chuyên đề

2.2.1. Một số hiểu biết về sự di truyền của các tính trạng ở gia cầm

Khi nghiên cứu các tính trạng sản xuất của gia cầm, các nhà khoa học

không những nghiên cứu về đặc điểm di truyền mà còn nghiên cứu đến các

yếu tố ngoại cảnh tác động lên tính trạng đó.

Theo quan điểm di truyền học thì hầu hết các tính trạng về năng suất

của gia cầm như: sinh trưởng, sinh sản, cho lông, cho trứng, cho thịt…đều là

những tính trạng số lượng (quantitative character) và do các gen nằm trên

5

cùng nhiễm sắc thể qui định. Tính trạng số lượng là những tính trạng mà ở đó

sự sai khác nhau về mức độ giữa các cá thể rõ nét hơn là sự sai khác về chủng

loại. Sự sai khác nhau này chính là nguồn vật liệu cho chọn lọc tự nhiên cũng

như chọn lọc nhân tạo. Các tính trạng số lượng được qui định bởi nhiều gen,

các gen điều khiển tính trạng số lượng phải có môi trường phù hợp mới được

biểu hiện hoàn toàn.

Theo Dương Mạnh Hùng và cs (2017) [5], thì giá trị đo lường của tính

trạng số lượng trên một cá thể được gọi là giá trị kiểu hình (phenotypic value)

của cá thể đó. Các giá trị có liên quan đến kiểu gen là giá trị kiểu gen

(genotypic value) và giá trị có liên quan đến môi trường là sai lệch môi trường

(environmental deviation). Như vậy kiểu gen qui định một giá trị nào đó của

kiểu hình và môi trường gây ra một sự sai lệch với giá trị kiểu gen theo hướng

này hoặc hướng khác. Quan hệ đó được biểu thị như sau:

P = G + E

Trong đó: P: Là giá trị kiểu hình

G: Là giá trị kiểu gen

E: Là sai lệch môi trường

Tuy nhiên, khác với tính trạng chất lượng, giá trị kiểu gen của tính

trạng số lượng do nhiều gen nhỏ (minorgene) cấu tạo thành. Đó là hiệu ứng

riêng biệt của từng gen thì rất nhỏ, nhưng tập hợp nhiều gen nhỏ sẽ ảnh hưởng

rõ rệt đến tính trạng nghiên cứu. Hiện tượng này gọi là hiện tượng đa gen

(polygene) gồm các thành phần: cộng gộp, trội, tương tác gen nên được biểu

thị theo công thức sau:

6

G = A+ D + I

Trong đó: G: Là giá trị kiểu gen

A: Là giá trị cộng gộp

D: Là giá trị sai lệch trội

I: Là giá trị sai lệch tương tác

Trong đó giá trị cộng gộp (A) là do giá trị giống quy định, là thành phần

quan trọng nhất của kiểu gen vì nó ổn định, có thể xác định được và di truyền lại

cho thế hệ sau, có ý nghĩa trong chọn dòng thuần, là cơ sở cho việc chọn giống.

Hai thành phần sai lệch trội (D) và tương tác gen (I) cùng có vai trò quan

trọng, là giá trị giống đặc biệt chỉ có thể xác định được thông qua con đường

thực nghiệm. D và I không di truyền được và phụ thuộc vào vị trí và sự tương tác

giữa các gen. Chúng là cơ sở của việc lai giống, đồng thời tính trạng số lượng

cũng chịu ảnh hưởng của môi trường chung và môi trường riêng:

Sai lệch môi trường chung (general environmental) (Eg) là sai lệch do

các yếu tố tác động lên toàn bộ các cá thể trong nhóm vật nuôi. Loại này có

tính chất thường xuyên không cục bộ như: thức ăn, khí hậu…do vậy đó là sai

lệch giữa các nhóm, giữa các cá thể và giữa các thành phần khác nhau trên

một cơ thể.

Sai lệch môi trường riêng (environmental deviation) (Es) là các sai lệch

do các yếu tố môi trường tác động riêng rẽ lên từng nhóm cá thể vật nuôi hoặc

một giai đoạn nào đó trong đời một con vật hay các phần khác nhau của con

vật. Loại này có tính chất không thường xuyên và cục bộ như: thay đổi về

thức ăn, khí hậu, trạng thái sinh lý gây ra…

Như vậy, quan hệ của kiểu hình (P), kiểu gen (G), môi trường (E) của

một cá thể biểu hiện như sau:

P = A + D + I + Eg + Es

7

Do đó để đạt được năng suất, chất lượng cao trong chăn nuôi (giá trị

kiểu hình như mong muốn) chúng ta cần phải có giống tốt và tạo ra môi

trường thích hợp để phát huy hết tiềm năng của giống.

2.2.2. Khả năng sinh trưởng và các yếu tố ảnh hưởng sinh trưởng

2.2.2.1. Khái niệm về sinh trưởng

Ở vật nuôi từ khi hình thành phôi đến khi trưởng thành khối lượng và

thể tích cơ thể tăng lên. Điều này trước tiên là tế bào tăng lên về số lượng, các

cơ quan bộ phận trong cơ thể đều có sự tăng lên về khối lượng và kích thước.

Từ đó, dẫn đến khối lượng và thể tích của cơ thể tăng lên. Sự lớn lên của cơ

thể là do sự tích luỹ các chất hữu cơ thông qua việc trao đổi chất. Tác giả

Nguyễn Hải Quân và cs (2005) [9], đã khái quát: “Sinh trưởng là một quá

trình tích luỹ các chất hữu cơ thông qua trao đổi chất, là sự tăng lên về chiều

cao, chiều dài, bề ngang, khối lượng của từng cơ quan, bộ phận cũng như toàn

bộ cơ thể trên cơ sở tính di truyền có từ đời trước”. Sinh trưởng của vật nuôi

nói chung và sinh trưởng của gà nói riêng chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố,

quan trọng nhất là yếu tố giống, dinh dưỡng và các điều kiện chăm sóc nuôi

dưỡng khác.

2.2.2.2. Các yếu tố ảnh hưởng tới sinh trưởng và sức cho thịt của gia cầm

*Ảnh hưởng của giống

Mỗi giống có một tốc độ sinh trưởng nhất định. Sự khác nhau về tốc độ

sinh trưởng đó là do bản chất di truyền quy định. Đặc điểm di truyền của

giống và ngoại cảnh có tác động qua lại với nhau, nghĩa là cùng một kiểu gen

nhưng ở các môi trường khác nhau thì có tốc độ sinh trưởng khác nhau. Cho

nên việc cần thiết là phải tạo ra môi trường phù hợp với kiểu gen đó để phát

huy tối đa tiềm năng di truyền của giống. Jaap và Moris (1997) [16] đã phát

hiện ra những sai khác trong cùng một giống về cường độ sinh trưởng.

8

Theo Trần Thanh Vân và cs (2015) [11] cho biết, gà con ở 40 ngày tuổi

khối lượng tăng gấp 10 lần so với 01 ngày tuổi, trong khi đó vịt con chỉ cần

20 ngày tuổi để tăng gấp 10 lần khối lượng so với lúc 01 ngày tuổi. Khảo sát

khả năng sinh trưởng của 3 dòng gà Plymouth Rock thì dòng TĐ9 có khả

năng sinh trưởng tốt nhất. Đến tuần tuổi thứ 8, dòng TĐ9 có khối lượng sống

vượt dòng TĐ8 12,90% và vượt TĐ3 17,40% (Lê Hồng Mận và cs, 1996 [8]).

Sự sai khác nhau về sinh trưởng và khối lượng cơ thể còn chịu ảnh

hưởng của tính biệt, thông thường con trống phát triển hơn con mái: ở gà

hướng thịt giai đoạn 60 - 70 ngày tuổi con trống nặng hơn con mái 180 - 250

(g), (Trần Thanh Vân và cs (2015) [11]).

Theo tài liệu của Chambers J.R (1990) [13], cho biết: Có nhiều gen ảnh

hưởng tới sự sinh trưởng chung, có gen ảnh hưởng đến một vài tính trạng

riêng lẻ. Godfry E.P và Raap R.G [14], và nhiều tác giả khác cho rằng có

nhiều hơn 15 gen qui định tốc độ sinh trưởng.

Như vậy, các nhà nghiên cứu đã chứng tỏ sự khác biệt về tốc độ sinh

trưởng do di truyền, mà cơ sở di truyền là do gen, có ít nhất một gen về sinh

trưởng liên kết giới tính cho nên con trống thường lớn hơn con mái. Điều này

chứng tỏ di truyền có ảnh hưởng rất lớn tới quá trình sinh trưởng của gia cầm.

*Ảnh hưởng của chế độ dinh dưỡng

Chế độ dinh dưỡng ảnh hưởng tới sự phát triển của từng mô khác nhau

gây nên sự biến động trong quá trình phát triển và có sự khác nhau giữa mô

này với mô khác. Chế độ dinh dưỡng không những ảnh hưởng tới sinh trưởng

mà còn làm biến động di truyền về sinh trưởng.

Nguyễn Duy Hoan (2010) [4] cho biết nhu cầu protein thích hợp cho gà

broiler cho năng suất cao đã được xác định, các tác giả nhấn mạnh tỷ lệ giữa

năng lượng và protein trong thức ăn cũng rất quan trọng, để phát huy được

khả năng sinh trưởng tối đa cần phải cung cấp đầy đủ dinh dưỡng với sự cân

bằng nghiêm ngặt giữa protein, axit amin với năng lượng.

9

Chi phí thức ăn chiếm tới 70% giá thành trong chăn nuôi gà broiler, nên

bất cứ yếu tố nào nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng thức ăn đều đưa lại hiệu

quả kinh tế cao cho ngành chăn nuôi gà broiler. Do vậy, để có năng suất cao

trong chăn nuôi gia cầm, đặc biệt để phát huy được tiềm năng sinh trưởng thì

trong những vấn đề căn bản là lập ra những khẩu dinh dưỡng hoàn hảo, cân

đối, trên cơ sở tính toán nhu cầu của gia cầm trong từng giai đoạn nuôi.

* Ảnh hưởng của chăm sóc

Bên cạnh các yếu tố nêu trên thì sinh trưởng của gà còn chịu ảnh hưởng

của nhiều yếu tố môi trường như chăm sóc nuôi dưỡng, nhiệt độ, ẩm độ, độ

thông thoáng, mật độ nuôi.

* Ảnh hưởng của nhiệt độ

Theo Bùi Đức Lũng, Lê Hồng Mận (2003) [7] thì nhiệt độ chuồng nuôi

gà sau 28 ngày thích hợp là 18 - 200C. Nhiệt độ ảnh hưởng rất lớn tới nhu cầu

năng lượng trao đổi (ME) và protein thô (CP) của gà broiler, do vậy tiêu thụ

thức ăn của gà chịu sự chi phối nhiều của nhiệt độ môi trường. Trong điều

kiện nhiệt độ khác nhau thì mức tiêu tốn thức ăn của gà cũng khác nhau.

Theo Cerniglia J.A và Herrtand A.B Walt (1983) [12], thì nhiệt độ

chuồng nuôi thay đổi 100C tiêu thụ năng lượng của gà biến đổi tương đương 2

kcal, mà nhu cầu về năng lượng và các vật chất dinh dưỡng khác cũng bị thay

đổi theo nhiệt độ môi trường.

Wash Burn K.W (1992) [17], cho biết nhiệt độ cao làm gà sinh trưởng

chậm, tăng tỷ lệ chết, gây thiệt hại kinh tế lớn ở các khu vực chăn nuôi gà

broiler công nghiệp vùng khí hậu nhiệt đới. Nir I. (1992) [15], qua nghiên cứu

đã chỉ ra rằng với nhiệt độ môi trường 350C ẩm độ tương đối 66 % đã làm

giảm quá trình tăng khối lượng cơ thể 30 - 35% ở gà trống 20 - 30 % ở gà mái

so với điều kiện thích hợp về khí hậu. Thông thường khi nhiệt độ cao khả

năng ăn của gia cầm giảm. Để khắc phục điều này, đảm bảo khả năng sinh

10

trưởng của gà người ta đã sử dụng thức ăn cao năng lượng tất nhiên trên cơ sở

cân bằng tỷ lệ ME/CP cũng như axit amin/ME và tỷ lệ khoáng, vitamin trong

thức ăn cũng cần phải cao hơn để đảm bảo dinh dưỡng mà gà tiếp nhận được

không thấp hơn nhu cầu của chúng.

Vì vậy, trong điều kiện khí hậu ở nước ta, tuỳ theo mùa vụ, căn cứ vào

nhiệt độ của từng giai đoạn mà điều chỉnh mức ME và tỷ lệ ME/CP cho phù

hợp để đạt hiệu quả kinh tế cao nhất trong chăn nuôi gia cầm nói chung và gà

thịt nói riêng.

*Ảnh hưởng của ẩm độ và độ thông thoáng

Ẩm độ là yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới sự sinh trưởng của gia cầm.

Khi ẩm độ tăng làm cho chất độn chuồng dễ ẩm ướt, thức ăn dễ bị ẩm mốc

làm ảnh hưởng xấu tới gà, đặc biệt là khí NH3 do vi khuẩn phân huỷ axit uric

trong phân và chất độn chuồng làm tổn thương đến hệ hô hấp của gà, tăng khả

năng nhiễm bệnh cầu trùng, Newcastle, CRD dẫn tới làm giảm khả năng sinh

trưởng của gà.

Độ thông thoáng trong chuồng nuôi có vai trò quan trọng trong việc

giúp gà đủ O2, thải CO2 và các chất độc khác. Thông thoáng làm giảm ẩm độ,

điều chỉnh nhiệt độ chuồng nuôi từ đó hạn chế bệnh tật.

Tốc độ gió và nhiệt độ không khí có ảnh hưởng tới tăng khối lượng của

gà, gà con nhạy cảm hơn gà trưởng thành. Đối với gà lớn cần tốc độ lưu thông

không khí lớn hơn gà nhỏ.

*Ảnh hưởng của chế độ chiếu sáng

Theo Trần Thanh Vân và cs (2015) [11], với gà broiler giết thịt sớm 38

- 42 ngày tuổi, thời gian chiếu sáng như sau: 3 ngày đầu chiếu sáng 24/24 giờ,

cường độ chiếu sáng 20 lux/m2, ngày thứ tư đến kết thúc, thời gian chiếu sáng

giảm xuống còn 23/24 giờ, cường độ chiếu sáng còn 5 lux/m2.

11

Khi cường độ chiếu sáng cao, gà hoạt động nhiều do đó làm giảm tốc

độ tăng khối lượng. Với chuồng nuôi thông thoáng tự nhiên, mùa hè cần che

ánh nắng mặt trời chiếu thẳng vào chuồng nhưng vẫn đảm bảo thông thoáng,

ánh sáng được phân bố đều trong chuồng, hoặc có thể sử dụng bóng đèn có

cùng công suất để tránh gà tụ tập vào nơi có ánh sáng mạnh hơn.

+ Ảnh hưởng của mật độ nuôi nhốt

Mật độ nuôi nhốt cũng là một yếu tố quan trọng để chăn nuôi đạt hiệu

quả cao, nếu mật độ nuôi nhốt cao thì chuồng nhanh bẩn, lượng khí thải NH3,

CO2, H2S cao và quần thể vi sinh vật phát triển mạnh làm ảnh hưởng tới khả

năng tăng khối lượng và sức khoẻ của đàn gà, gà dễ bị cảm nhiễm với bệnh,

tỷ lệ đồng đều thấp, tỷ lệ chết cao, cuối cùng làm giảm hiệu quả trong chăn

nuôi. Ngược lại mật độ nuôi nhốt thấp thì chi phí chuồng trại cao.

2.2.3. Sức sống và khả năng cảm nhiễm bệnh

Sức sống của gia cầm là một chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật giúp ta đánh giá

được khả năng thích nghi và chống đỡ bệnh tật của đàn gia cầm. Sức sống

cũng là tính trạng di truyền số lượng, nó đặc trưng cho từng loài, giống và

từng cá thể. Sức sống được biểu hiện ở tỷ lệ nuôi sống qua các giai đoạn, từ

sơ sinh đến lúc giết thịt. Sức sống phụ thuộc nhiều vào điều kiện ngoại cảnh

như: điều kiện thời tiết, khí hậu, thức ăn, nước uống, quá trình chăm sóc, nuôi

dưỡng và vệ sinh thú y. Nếu một trong các yếu tố nói trên đột ngột thay đổi sẽ

có ảnh hưởng xấu đến sức sống của gia cầm. Ngoài ra, nó còn phụ thuộc vào

khả năng di truyền giống, nếu mức độ giao phối cận huyết tăng lên cũng làm

giảm khả năng thích ứng, giảm khả năng chống đỡ bệnh tật, làm cho sức sống

giảm rõ rệt.

Một yếu tố nữa ảnh hưởng đến tỷ lệ nuôi sống của gia cầm đó là sức sống

của đàn gà bố mẹ. Nếu đàn gà bố mẹ khoẻ mạnh, sạch bệnh, sinh sản tốt thì tỷ lệ

nuôi sống của đàn con cao và ngược lại. Khi nghiên cứu về khả năng thích nghi

của gia cầm, ta thấy gà là loài vật có khả năng thích nghi tương đối cao.

12

* Các bệnh thường gặp trên gà thịt

Trong thời gian nuôi dưỡng hàng ngày phải theo dõi tình hình sức khỏe

của đàn gà để chẩn đoán, phát hiện bệnh và có những hướng điều trị kịp thời.

Trong thời gian nuôi gà thường gặp bệnh như sau:

 Bệnh Bạch lỵ

- Nguyên nhân:

Do vi khuẩn gram âm Salmonella gallinarum và Salmonella pullorum

gây ra, lây nhiễm chủ yếu thông qua đường tiêu hoá và hô hấp. Gà đã khỏi

bệnh vẫn tiếp tục thải vi khuẩn ra theo phân, đây là nguồn lây lan quan trọng và

nguy hiểm nhất.

- Triệu chứng:

+ Ở gà con: gà bị bệnh nặng từ mới nở đến 2 tuần tuổi, tỷ lệ mắc bệnh

cao nhất vào lúc 24 - 28 giờ sau khi nở. Biểu hiện: gà yếu, bụng trễ do lòng

đỏ không tiêu, tụ tập thành từng đám, kêu xáo xác, ủ rũ, lông xù, ỉa chảy,

phân trắng mùi hôi khắm có bọt trắng, có khi lẫn máu, phân bết quanh hậu

môn, gà chết sau 2 - 3 ngày kể từ khi phát bệnh.

+ Ở gà lớn: gà thường bị bệnh ở dạng ẩn (mãn tính). Biểu hiện: gầy

yếu, ủ rũ, xù lông, niêm mạc, mào, yếm nhợt nhạt…

- Bệnh tích: ở gà con mổ khám thấy gan, lách bị viêm sưng có màu đỏ

tím; ở lách, tim, phổi có các dấu hiệu hoại tử.

- Phòng bệnh:

+ Nhập giống từ cơ sở gà bố mẹ đảm bảo nguồn gốc.

+ Chăm sóc, nuôi dưỡng tốt để tăng sức đề kháng cho gà.

+ Thức ăn trên máng phải thường xuyên sàng qua để loại bỏ những

phân gà dính bám vào thức ăn có mang mầm bệnh.

+ Giữ gìn vệ sinh chuồng trại để làm giảm nguy cơ lây lan bệnh.

+ Dùng dung dịch formol 2% để sát trùng toàn bộ khu chuồng nuôi và

khu vực xung quanh.

13

- Điều trị:

+ Dùng nofacoli pha vào nước hoặc trộn vào thức ăn, vitamin B -

complex: 1g/1 lít nước, vitamin C: 1g/1 lít nước. Dùng liên tục 3 - 5 ngày.

+ Hoặc dùng thuốc colistin: liều 1g/2 lít nước cho gà uống liên tục

trong 4 - 5 ngày.

 Bệnh CRD (Chonic Respiratory Disease)

- Nguyên nhân:

Do Mycoplasma gallisepticum gây ra.

Gà 2 - 12 tuần tuổi và gà sắp đẻ dễ bị nhiễm hơn các lứa tuổi khác,

thường hay phát bệnh khi trời có mưa phùn, gió mùa, độ ẩm không khí cao.

- Triệu chứng:

+ Thời gian ủ bệnh từ 6 - 21 ngày.

+ Gà trưởng thành và gà đẻ: tăng khối lượng chậm, thở khò khè, chảy

nước mũi, ăn ít, gà trở nên gầy ốm, gà đẻ giảm sản lượng trứng nhưng vẫn

duy trì ở mức độ thấp.

+ Gà thịt: xảy ra giữa 3 - 8 tuần tuổi với triệu chứng nặng hơn so với các

loại gà khác do kết hợp với các mầm bệnh khác (thường với E. coli). Vì vậy

trên gà thịt còn gọi là thể kết hợp E. coli - CRD (C - CRD) với các triệu chứng:

âm ran khí quản, chảy nước mũi, ho, sưng mặt, sưng mí mắt, viêm kết mạc.

- Phòng bệnh: thực hiện tốt quy trình vệ sinh thú y, chuồng thông

thoáng, mật độ hợp lý, nhiệt độ thích hợp, chăm sóc và nuôi dưỡng tốt, cho

uống thuốc để phòng bệnh.

- Điều trị:

+ CRD-Stop: liều 1g/lít nước, uống liên tục: 3 - 5 ngày.

+ Tiamulin: liều 1g/4 lít nước, uống liên tục: 3 - 5 ngày.

+ Gia cầm và thủy cầm: liều 1g/2 - 4 lít nước uống.

14

 Bệnh Cầu trùng

- Nguyên nhân:

Do các loại cầu trùng thuộc giống Eimeria gây ra. Gà con 9 - 10 ngày

tuổi bắt đầu nhiễm bệnh nhưng tỷ lệ nhiễm cao nhất ở giai đoạn từ 15 - 45

ngày tuổi. Gà bị nhiễm do nuốt phải noãn nang cầu trùng có trong thức ăn,

nước uống. Bệnh xảy ra quanh năm nhưng trầm trọng nhất là vào vụ xuân hè

khi thời tiết nóng ẩm.

- Triệu chứng:

+ Gà bệnh ủ rũ, ăn ít, uống nhiều nước, xù lông, cánh sã, chậm chạp,

phân dính quanh hậu môn, phân loãng, sệt, có màu socola hoặc đen như bùn.

+ Nếu gà bị bệnh nặng thì phân lẫn máu tươi, gà mất thăng bằng, cánh

tê liệt, niêm mạc nhợt nhạt, da và mào tái nhợt do mất máu. Tỷ lệ nhiễm cao,

nhiều gà chết.

- Bệnh tích:

+ Cầu trùng manh tràng: manh tràng sưng to và chứa đầy máu.

+ Cầu trùng ruột non: ruột non căng phồng, xuất huyết bề mặt ruột và

có nhiều đốm hoại tử màu trắng xám, bên trong ruột có dịch nhầy màu hồng.

- Điều trị:

+ Dùng coxymax: liều 1g/1 lít nước hoặc 100g/500 kg thể trọng, dùng

liên tục trong 3 ngày, nghỉ 2 ngày sau đó dùng liệu trình mới nếu gà chưa khỏi.

+ Dùng colistin: liều 1g/2 lít nước cho gà uống liên tục trong 4 - 5

ngày. Kết hợp tiêm bắp vitamin chống mất máu và cho uống vitamin C để

tăng sức đề kháng cho gà.

 Bệnh do E.coli (Colibacillosis)

- Nguyên nhân:

Do vi khuẩn Escherichia coli (E.coli) gây ra.

Gà ở mọi lứa tuổi đều có thể mắc bệnh, đặc biệt là giai đoạn gà con 3 -

15

15 ngày tuổi, tỷ lệ chết 20 - 60 %, gà lớn thường bị bệnh ở thể nhẹ và ít

chết. Truyền bệnh trực tiếp từ gà mẹ sang trứng, lây bệnh nhanh chóng

trong lò ấp, ngoài ra có thể lây bệnh gián tiếp qua thức ăn, nước uống và

qua vết hở của rốn.

- Triệu chứng:

+ Đầu ổ dịch gà bệnh thường chỉ kém ăn, sức lớn cả đàn chậm lại, sau

đó bệnh có thể tiến triển cấp tính ở những đàn gia cầm con.

+ Gà bị bệnh thường ủ rũ, xù lông, gầy rạc. Một số con có triệu chứng

sốt, sổ mũi và khó thở. Sau vài ngày gà ỉa chảy, phân lỏng có dịch nhầy màu

nâu, trắng, xanh, đôi khi lẫn máu rồi chết hàng loạt. Một vài trường hợp gà có

hiện tượng sưng khớp.

- Bệnh tích:

+ Gan sưng và xuất huyết, gan và màng bao tim có lớp nhầy trắng.

Màng túi khí có nốt xuất huyết nhỏ. Niêm mạc ruột sưng đỏ, gà ỉa phân trắng.

Gia cầm ở thời kỳ đẻ, buồng trứng bị vỡ và teo.

- Điều trị:

+ Ampi-Coli: liều 1g/lít nước, uống liên tục 5 - 7 ngày.

+ Bio-Norfloxacin: liều 2g/lít nước, uống liên tục 5 - 7 ngày.

2.3. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước

2.3.1. Tình hình nghiên cứu trong nước

Ngành chăn nuôi gia cầm ở Việt Nam đã có từ lâu đời với quy mô nhỏ,

mỗi gia đình chỉ nuôi vài con đến vài chục con, chăn nuôi theo phương thức

quảng canh nên năng suất thấp.

Trong những năm gần đây, do áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật

vào sản xuất, ngành chăn nuôi gia cầm nước ta đã phát triển nhanh và đạt

được những tiến bộ rõ rệt.

16

Để đáp ứng thị hiếu của người tiêu dùng muốn có giống gà có chất

lượng thịt thơm ngon, săn chắc, ngoại hình giống với gà địa phương và thích

nghi tốt với khí hậu, các nhà khoa học nước ta đã dày công lai tạo các giống gà

lông màu nhập nội với gà địa phương nhằm tạo ra con lai có tốc độ tăng trưởng

nhanh nhưng phải đáp ứng được nhu cầu và thị hiếu của người tiêu dùng.

Gần đây có rất nhiều những công trình nghiên cứu khoa học về vấn đề

này, một trong những công trình đó là công trình nghiên cứu về: “Đặc điểm

ngoại hình và khả năng sinh trưởng cho thịt của gà lai F1 (Mía x Kabir), nuôi

nhốt và nuôi bán chăn thả tại Thái Nguyên” của tác giả: Nguyễn Văn Đại và cs

(2001) [2], sau khi nghiên cứu, các tác giả đã đưa ra kết luận: gà lai F1 - MK có

màu lông phong phú, chân, da, mỏ vàng, gà rắn chắc, ham chạy nhảy, đến 12

tuần tuổi khối lượng trung bình là: 1.851,24 g ở phương thức nuôi nhốt. Gà lai

có tốc độ sinh trưởng tuyệt đối cao nhất ở giai đoạn 8 - 9 tuần tuổi, đạt 33,92

g/con/ngày ở phương thức bán chăn thả và đạt 35,49 g/con/ngày ở phương thức

nuôi nhốt. Sinh trưởng tương đối cao nhất ở tuần 0 - 1 đạt 37,35 % ở phương

thức nuôi bán chăn thả và 67,02 % ở phương thức nuôi nhốt, thấp nhất là ở 11 -

12 tuần tuổi đạt tương ứng là 6,74 % và 6,41 %.

Theo Đào Văn Khanh (2000) [6], các giống gà lông màu được nuôi tại

Thái Nguyên như: Kabir, Lương Phượng, Tam Hoàng đều thích nghi với điều

kiện nuôi chăn thả và có tỷ lệ nhiễm bệnh thấp, dễ nuôi, giống Kabir có sức

sinh trưởng nhanh nhất sau đó đến Lương Phượng, Tam Hoàng, tiêu tốn thức

ăn của cả 3 đều thấp, phù hợp với điều kiện chăn nuôi ở nông thôn.

2.3.2. Tình hình nghiên cứu ngoài nước

Tình hình ngành sản xuất chăn nuôi gia cầm tăng lên, các nước trên thế

giới không ngừng cải tiến con giống cũng như dinh dưỡng để đưa năng suất

chất lượng chăn nuôi gia cầm phát triển vượt bậc, đáp ứng nhu cầu ngày càng

lớn nhưng khắt khe của thị trường.

17

Gia cầm nói chung, gà nói riêng có nguồn gốc từ chim hoang dã. Qua

quá trình thuần hóa, nuôi dưỡng hàng nghìn năm, con người đã tạo nên các

giống gia cầm ngày nay.

Hầu hết các nhà khoa học nghiên cứu về gia cầm trên thế giới đều cho

rằng tổ tiên của gia cầm sống hoang dã. Bằng chứng là gà hoang miền Bắc Ấn

Độ hay gà Banquiva (Gallus Gallus murghi) - một trong bốn loại hình của gà

rừng được thuần hóa đầu tiên.

Với việc đưa các giống gà siêu thịt như: Hybro (Hv 85 - Hà lan), AA

(Abor Acres, Mỹ) Avian (Mỹ), Lohman meat (Đức)… các giống hướng trứng

như: Goldline 54 (Hà Lan), Leghorn (Italia)… giống gà kiêm dụng: Tam

Hoàng, Lương Phượng (Trung Quốc), Sasso (Pháp), Kabir (Israel)… vào nuôi

thâm canh đã đưa năng suất chăn nuôi lên rất cao, song các giống gà trên chỉ

thích nghi trong một số điều kiện nhất định của môi trường.

Sau những thành công về chăn nuôi công nghiệp ở trình độ cao, từ năm

1980 trở lại đây một số nước như: Nhật Bản, Pháp, Israel… có xu hướng thay

đổi phương thức chăn nuôi để sản phẩm gia cầm có mùi vị thơm ngon hơn.

Việc lai tạo các giống gà với nhau cũng được thúc đẩy mạnh mẽ nhằm giữ lại

các đặc điểm quý, cải thiện những tính trạng còn hạn chế và dần hình thành

một số giống mới có khả năng sản xuất tốt, đáp ứng nhu cầu nhiều mặt của

con người.

2.4. Giới thiệu vài nét về gà lai (Mía x Lương Phượng)

Gà Lương Phượng được nhập khẩu vào nước ta qua cửa khẩu quốc tế

Quảng Ninh năm 1998. Trung tâm nghiên cứu gia cầm Vạn Phúc đã nhập 1900

con nuôi tại trại nuôi thí nghiệm và được nhân dân ta nuôi ở nhiều nơi.

Theo tài liệu Trần Thanh Vân và cs (2015) [11], gà Lương Phượng dễ

nuôi, có tính thích nghi cao, chịu đựng tốt với khí hậu nóng ẩm, đòi hỏi chế

độ dinh dưỡng không cao, có thể nuôi nhốt bán công nghiệp hay thả vườn. Do

18

có những ưu điểm trên hiện nay gà Lương Phượng đã được nuôi nhiều ở các

trang trại và hộ gia đình ở nông thôn cũng như thành thị và được người chăn

nuôi ưa chuộng.

Gà Mía có nguồn gốc xuất xứ từ thôn Đường Lâm huyện Ba Vì tỉnh Hà

Tây (nay là Thành phố Hà Nội). Tầm vóc tương đối to, mào đơn (mào cờ), gà

trống có lông màu đen, gà mái có màu nâu sẫm và có yếm ở lườn, ở tuổi

trưởng thành con trống có khối lượng 3 - 3,4 kg. Con mái từ 2 - 2,5kg, khả

năng sinh sản thấp, gà mái đẻ trứng muộn, sản lượng trứng đạt từ 55 - 60

quả/mái/năm.

Gà lai (Mía x Lương Phượng) được tạo ra từ công thức lai gà trống Mía

lai với gà mái Lương Phượng. Gà lai có màu lông đẹp, tỷ lệ nuôi sống từ 1 -

19 tuần tuổi là 89 - 91 %, khối lượng cơ thể lúc 19 tuần tuổi đạt 1,9 - 2,2 kg.

Gà lai thương phẩm nuôi nhốt đến 12 tuần tuổi có tỷ lệ nuôi sống 95 - 97%,

khối lượng cơ thể 1,7 - 2,0 kg/con; tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng cơ thể

là 3,2 - 3,3 kg. Nuôi bán chăn thả đến 12 tuần tuổi có tỷ lệ nuôi sống đạt 94 -

96%, khối lượng cơ thể 1,8 - 2,1 kg/con; tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng

cơ thể là 2,8 - 3,0 kg, chất lượng thịt ngon như gà Ri.

19

Phần 3

ĐỐI TƯỢNG NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH

3.1. Đối tượng, thời gian và địa điểm tiến hành

- Đối tượng: Gà lai (Mía x Lương Phượng)

- Thời gian: Từ ngày 18 tháng 5 đến 25 tháng 11 năm 2019.

- Địa điểm: Trại gia cầm khoa Chăn nuôi Thú y, trường Đại học Nông

Lâm Thái Nguyên.

3.2. Nội dung thực hiện

- Thực hiện quy trình nuôi dưỡng và chăm sóc đàn gà Mía x Lương Phượng.

- Thực hiện quy trình phòng và trị bệnh trên đàn gà Mía x Lương Phượng.

3.3. Phương pháp thực hiện

3.3.1. Phương pháp theo dõi

Bảng 3.1. Sơ đồ theo dõi đàn gà

Diễn giải Đơn vị Lô gà theo dõi

Gà nuôi TN Mía x Lương Phượng

Tuổi bắt đầu TN Ngày 01

Khối lượng TN Gam 39,73

Thời gian TN Ngày 77

Số con/lô Con 400

Phương thức nuôi Nhốt, chuồng hở

3.3.2. Quy trình chăm sóc nuôi dưỡng và phòng bệnh

3.3.2.1. Chăm sóc và nuôi dưỡng

Nhiệt độ 28C trong chuồng và 32 - 33C dưới chụp sưởi. Sau mỗi tuần

nhiệt độ giảm 2 - 3C. Sau 3 tuần, nhiệt độ 21 - 24C.

20

Chế độ chiếu sáng

Bảng 3.2. Thời gian và cường độ chiếu sáng

Cường độ chiếu sáng Thời gian Chế độ chiếu sáng (w/m2 nền chuồng)

1 - 3 tuần tuổi 24 giờ/ngày đêm 3,5 - 4

4 - 5 tuần tuổi 23 giờ/ngày đêm 2

Sau 5 tuần tuổi 23 - 22 giờ/ ngày đêm 0,2 - 0,4

Nuôi dưỡng: Thức ăn và nước uống được cung cấp tự do theo nhu cầu

của gà

Bảng 3.3. Thành phần giá trị dinh dưỡng trong thức ăn của gà

từ 1 - 21 ngày tuổi

Thành phần

Đạm tối thiểu (min %) 19

Ẩm độ (max %) 14

Ca (min-max %) 0,7 - 1,5

P (min%) 0,45 - 1,2

Xơ (max %) 5

Năng lượng trao đổi ME (min Kcal/kg) 3.000

Lysine tổng số ( min %) 1

Methionine + Cystine tổng số (min %) 0,65

21

Bảng 3.4. Khẩu phần và giá trị dinh dưỡng của gà từ 22 ngày tuổi

đến xuất bán

Nguyên liệu 22 - 56 ngày tuổi 57 - xuất

Ngô vàng 56,0 59,0

Cám gạo loại 1 10,0 10,0

Bột cá - 60% 10,0 6,0

KDĐT - 44% 18,5 18,5

Dầu thực vật 2,0 2,7

Methionin 0,1 0,1

DCP 1,4 1,2

0,5 1,0 CaCO3

Muối ăn 0,5 0,5

Premix khoáng 0,5 0,5

Premix VTM 0,5 0,5

Tổng 100,0 100,0

Giá trị dinh dưỡng

ME 2999 3052

CP 20,18 18,09

EE 3,24 4,13

CF 3,39 3,47

Lysin 1,20 1,03

Methionin 0,47 0,40

Ca 1,23 1,14

0,67 0,58 Pđt

22

3.3.3. Chỉ tiêu theo dõi

Để thực hiện được nội dung trên cần tiến hành theo dõi các chỉ tiêu sau:

- Tỷ lệ nuôi sống (%).

- Sinh trưởng tích luỹ (g/con)

-Lượng thức ăn tiêu thụ (gam/con/ngày).

3.3.4. Phương pháp theo dõi các chỉ tiêu

* Tỷ lệ nuôi sống: Hàng ngày kiểm tra sức khỏe đàn gà trên mỗi lô,

phát hiện những con ốm, loại trừ các con bị ốm chết do nguyên nhân khác,

xác định số con bị nhiễm bệnh đang theo dõi, ghi chép lại đầy đủ, từ đó theo

dõi tỷ lệ nuôi sống của mỗi lô gà đến 11 tuần tuổi theo công thức sau:

Tổng số gà cuối kỳ

Tỷ lệ nuôi sống (%) = x 100

Tổng số gà đầu kỳ

* Chỉ tiêu về sinh trưởng

Cân 100 % số gà có trong mỗi lô thí nghiệm lúc sơ sinh, hàng tuần và

lúc 11 tuần tuổi. Cân vào buổi sáng sớm trước khi cho ăn (chỉ cho uống

nước). Cố định loại cân và người cân. Ở lúc sơ sinh, tuần 1, tuần 2 gà thí

nghiệm được cân bằng cân Ohous của Mỹ với độ chính xác 0,1 gam. Từ tuần thứ

3 đến tuần 11 cân bằng cân đồng hồ Nhơn Hòa có độ chính xác từ 5 - 10 gam.

 Khối lượng gà được cân (g)

Khối lượng trung bình của gà (g) =

Số gà được cân (con)

* Khả năng tiêu thụ và chuyển hóa thức ăn

Tổng tiêu thụ thức ăn trong tuần (g) Tiêu thụ thức ăn (g/con/ngày) = Tổng số gà bình quân trong tuần x 7

23

Phần 4

KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

4.1. Kết quả chăm sóc, nuôi dưỡng đàn gà thịt

Trong quá trình thực tập tại trại Chăn nuôi gia cầm khoa Chăn nuôi Thú

y, trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, được sự giúp đỡ tận tình của chủ

trang trại, cùng với sự cố gắng, nỗ lực của bản thân, em đã học hỏi được

những kinh nghiệm quý báu và đạt được một số kết quả như sau:

- Công tác chuẩn bị chuồng trại nuôi gà

Trước khi nhận gà vào nuôi, chuồng đã được để trống 15 ngày, chuồng

được quét dọn sạch sẽ bên trong và bên ngoài, hệ thống cống rãnh thoát nước,

nền chuồng, vách ngăn được quét xi măng đặc. Sau đó được tiến hành phun

thuốc sát trùng bằng dung dịch Iodine với tỷ lệ pha loãng là 2%. Cây cỏ xung

quanh khu vực nuôi được phát quang, đặt các miếng dính chuột để hạn chế sự

tiếp xúc của các tác nhân gây bệnh.

Dải trấu làm đệm lót dày từ 5 - 7 cm, phun thuốc sát trùng đệm lót. Tất

cả các dụng cụ chăn nuôi như: khay ăn, máng ăn, máng uống… đều được cọ

rửa sạch sẽ, ngâm thuốc sát trùng, sau đó được tráng rửa dưới vòi nước sạch

và phơi nắng trước khi đưa vào chuồng nuôi.

- Công tác chọn giống

Tiến hành chọn những con giống khỏe mạnh, nhanh nhẹn, mắt sáng,

lông mượt, chân bóng, không hở rốn, khoèo chân, vẹo mỏ, đảm bảo khối

lượng trung bình lúc mới nhập chuồng là 35g trở lên. Những con gà yếu, quá

nhỏ không đảm bảo tiêu chuẩn tiến hành loại bỏ.

- Công tác chăm sóc và nuôi dưỡng

Tùy theo từng giai đoạn phát triển của gà mà ta áp dụng quy trình nuôi

dưỡng cho phù hợp.

24

+ Giai đoạn úm gà con: trước khi nhập chúng em đã chuẩn bị sẵn nước

uống và thức ăn cho gà tập ăn, bật bóng hồng ngoại sao cho nhiệt độ trong

chuồng ấm trước khi thả gà vào 1 tiếng. Nước uống của gà là nước sôi để

nguội đã pha đường glucose với tỉ lệ 5g/lít. Khi nhập gà về, chúng em tiến

hành cân khối lượng, ghi chép lại sau đó cho gà con vào ô úm đã có sẵn nước,

sau khi gà uống nước và nghỉ ngơi được 2 giờ đồng hồ thì tiến hành cho thức

ăn vào khay ăn.

Giai đoạn này yếu tố nhiệt độ rất quan trọng, nhiệt độ trong ô úm phải

đảm bảo 33 - 350C, sau một tuần tuổi nhiệt độ chuồng nuôi giảm dần theo

ngày tuổi (3 ngày giảm 10C) và khi gà từ 3 tuần tuổi trở đi nhiệt độ của

chuồng đạt 22 - 250C.

Thường xuyên theo dõi đàn gà để điều chỉnh nhiệt độ cho phù hợp với

sự phát triển của gà. Ô úm, máng uống, máng ăn đều được điều chỉnh phù hợp

theo ngày của tuổi gà, ánh sáng được đảm bảo cho gà hoạt động bình thường.

+ Giai đoạn nuôi thịt: ở giai đoạn này máng ăn nhỏ và khay tập ăn được

thay dần bằng máng ăn lớn. Những dụng cụ được thay thế phải được cọ rửa,

sát trùng và phơi nắng trước khi sử dụng. Hàng ngày vào các buổi sáng sớm

và đầu giờ chiều tiến hành cọ rửa máng uống, thu dọn máng ăn đảm bảo máng

ăn, máng uống luôn sạch sẽ. Nhu cầu nước uống, thức ăn của gà tăng dần theo

lứa tuổi. Lượng thức ăn còn thay đổi theo sức khỏe của gà và thời tiết.

- Chế độ chiếu sáng

Ở giai đoạn úm gà, gà cần nhiều ánh sáng để phát triển do đó chế độ

chiếu sáng ở giai đoạn này thường lớn. Tuy nhiên khi gà lớn thì chế độ chiếu

sáng cần ít đi. Vì ánh sáng mạnh sẽ kích thích gà vận động làm giảm khả năng

tích lũy của gà, do đó phải giảm ánh sáng để gà tăng trưởng nhanh hơn và

tránh hiện tượng gà mổ nhau.

25

Thức ăn cho gà: đây là trang trại phục vụ cho thực tập, thực hành và rèn

nghề nên thức ăn sử dụng chủ yếu là tự phối trộn với kế hoạch cho ăn cụ thể

như sau:

Bảng 4.1. Kế hoạch cho ăn

Ngày tuổi Lượng thức ăn Thức ăn (từ ngày - đến ngày) (gam/con/ngày)

1 - 7 G500 Ăn tự do

8 - 21 G500 Ăn tự do

22 - 56 Tự phối trộn Ăn tự do

57 - xuất Tự phối trộn Ăn tự do

Ở mỗi giai đoạn tuần tuổi khác nhau nhu cầu đáp ứng dinh dưỡng cho gà

cũng khác nhau. Do đó thức ăn giai đoạn úm trại thường sử dụng thức ăn phối

trộn hoàn chỉnh của Công ty thức ăn chăn nuôi Phú Sỹ, từ giai đoạn sau 21

ngày tuổi trở đi thì thức ăn được tự phối trộn đảm bảo đầy đủ về tiêu chuẩn về

dinh dưỡng theo giai đoạn.

4.2. Kết quả theo dõi tỉ lệ nuôi sống, khả năng sinh trưởng và tiêu thụ

thức ăn của đàn gà

4.2.1. Tỷ lệ nuôi sống của đàn gà trực tiếp theo dõi

Trong thời gian thực tập 6 tháng tại cơ sở, em được trực tiếp thực hiện

hoàn chỉnh quy trình nuôi gà Mía lai Lương Phượng. Qua theo dõi và ghi

chép tỷ lệ nuôi sống của gà từng ngày, ở các tuần tuổi, em đã đánh giá được

một phần của hiệu quả nuôi gà thịt giai đoạn từ 1 - 11 tuần tuổi. Kết quả được

trình bày tại bảng 4.2.

26

Bảng 4.2. Tỷ lệ nuôi sống của gà giai đoạn 1 - 11 tuần tuổi

Tuần Số con còn sống Trong tuần Cộng dồn

Tuổi (con) (%) (%)

Ss 400 100 100

1 398 99,5 99,50

2 394 98,99 98,50

3 394 100 98,50

4 394 100 98,50

5 394 100 98,50

6 390 98,98 97,50

7 389 99,74 97,25

8 387 99,48 96,75

9 387 100 96,75

10 382 98,70 95,50

Kết quả bảng 4.2 cho thấy: thông qua kết quả theo dõi tỷ lệ sống của

11 382 100 95,50

đàn gà, với tổng số gà /lần nuôi là 400 con. Gà còn sống khi kết thúc 3 tuần

tuổi đạt 98,50 %. Kết quả này cho thấy hoàn toàn phù hợp với quy định cho

phép của giống. Trong giai đoạn từ 1 ngày tuổi đến 3 tuần tuổi trại cũng áp

dụng theo đúng quy định trong chăn nuôi gà lông màu mà em đã được học đó

là: đối với những gà chết trong thời gian 1 - 3 ngày tuổi và những gà yếu,

không đạt tiêu chuẩn thì được loại trực tiếp. Căn cứ vào kết quả theo dõi đàn

gà mà em trực tiếp nuôi, đây là trại nuôi gà chuồng hở, nên các các yếu tố về

tiểu khí hậu chuồng nuôi chưa được đáp ứng đúng chuẩn theo lý thuyết đưa

ra. Vì vậy, tỷ lệ hao hụt của gà đến khi xuất chuồng vẫn cao, chiếm 4,5%.

27

Qua thời gian làm trực tiếp tại trại, em cũng rút ra được những lưu ý

quan trọng trong quá trình úm gà đó là:

- Luôn luôn kiểm tra nhiệt độ của chuồng nuôi: nhiệt độ chuồng nuôi

ngày đầu tiên là 33 - 350C; lúc 7 ngày tuổi thì nhiệt độ là 30 0C và 14 ngày thì

nhiệt độ là 27 0C. Nhiệt độ chuồng nuôi phải được điều chỉnh phù hợp với

thời tiết và mùa vụ. Ngoài ra, thường xuyên theo dõi tập tính của gà để xác

định và điều chỉnh nhiệt độ thích hợp cho đàn gà.

- Cần kiểm tra chất lượng không khí chuồng nuôi: chất thải từ phân của

gà, từ chất độn chuồng có thể sẽ làm ảnh hưởng không tốt đến chất lượng

không khí của chuồng nuôi và ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của đàn gà.

Ngoài việc bố trí các thiết bị hỗ trợ đo lượng CO2, NH3 ở trong chuồng nuôi,

người chăn nuôi còn phải sử dụng những kinh nghiệm để đánh giá bằng cảm

quan, nếu lượng NH3 thải ra trong phân gà nhiều sẽ ảnh hưởng đến sự thông

thoáng của chuồng nuôi. Đối với gà con giai đoạn nuôi úm nếu hàm lượng

này quá cao, sẽ cản trở việc hấp thu khí O2 và có hại cho gà con. Chính vì vậy

cần phải theo dõi thường xuyên.

- Quản lý tốt về thức ăn, nước uống: cần phải làm sạch và sát trùng đường

nước trước khi sử dụng cho gà. Vì nước là dinh dưỡng thiết yếu tác động mạnh

đến tất cả các chức năng sinh lý của cơ thể động vật. Thức ăn cũng phải đảm bảo

về dinh dưỡng và chất lượng cho gà ở từng giai đoạn tuổi. Đối với gà nuôi giai

đoạn úm, kỹ thuật quan trọng nhất đó là phải thường xuyên kiểm tra lượng thức

ăn trong diều của gà bằng cách dùng tay sờ diều để kiểm tra lượng thức ăn trong

diều gà. Từ đó, đánh giá được tình trạng sức khỏe và khả năng thu nhận thức ăn

của gà và có những điều chỉnh kịp thời nhất.

4.2.2. Sinh trưởng tích lũy của đàn gà trực tiếp theo dõi

Trong 11 tuần theo dõi khả năng sinh trưởng của gà, em tiến hành cân gà

từ lúc sơ sinh đến 11 tuần tuổi, cố định 1 ngày trong tuần để cân, cân trước khi

28

cho gà ăn. Kết quả sinh trưởng tích lũy của đàn gà trung bình em trực tiếp theo

dõi được thể hiện tại bảng 4.3

Bảng 4.3. Sinh trưởng tích lũy của gà từ 01 đến 11 tuần tuổi

Khối lượng trung bình (gam) Tuần tuổi

SS 39,73

1 84,98

2 157,60

3 228,08

4 405,02

5 517,16

6 692,09

7 729,76

8 1005,36

9 1349.01

10 1567,37

11 1800,38

Bảng 4.3 cho biết sinh trưởng tích lũy của đàn gà từ 01 đến 11 tuần

tuổi. Trong suốt thời gian theo dõi gà từ 01 đên 11 tuần tuổi, chúng em tiến

hành cân gà định kì vào mỗi thứ 2 hàng tuần. Từ 01 - 05 tuần tuổi cân toàn

bộ đàn lấy số liệu, từ 06 tuần tuổi trở đi thì cân 30% số lượng gà của đàn vì

lúc này gà đã to, rất khó bắt và việc quây bắt rất có hại tới sức khỏe và sự phát

triển của đàn gà. Trung bình gà đạt 1800,38g vào lúc 11 tuần tuổi.

4.2.3. Khả năng thu nhận thức ăn

Thức ăn cho gà là thức ăn tự phối trộn và được theo dõi về số lượng

thức ăn tiêu thụ theo hàng tuần. Sáng thứ 2 hàng tuần sau khi tiến hành cân gà

để theo dõi sinh trưởng tích lũy chúng em sẽ thống kê và tính toán lượng thức

29

ăn đã tiêu thụ trong tuần, đơn vị tính là gam/con/tuần. Tính đến thời điểm 11

tuần tuổi, trung bình mỗi gà tiêu thụ hết 5254,34g thức ăn và khối lượng

trung bình đạt 1800,38g. Lượng thức ăn tiêu thụ trong tuần của gà được trình

bày ở bảng 4.4.

Bảng 4.4. Khả năng tiêu thụ thức ăn của đàn gà trực tiếp theo dõi

Tuần tuổi g/con/ngày Lô gà theo dõi (gam/con/tuần)

1 11,82 82,74

2 20,36 142,52

3 32,92 230,44

4 41,52 290,64

5 43,78 306,46

6 62,98 440,86

7 71,01 497,07

8 113,32 793,24

9 114,35 800,45

10 117,94 825,58

11 120,62 844,34

Em đã theo dõi và tính được lượng thức ăn thu nhận hàng ngày của gà

Tổng 750,62 5254,34

khảo nghiệm qua các tuần tuổi được thể hiện ở bảng 4.4. Lượng thức ăn tiêu

thụ của gà thí nghiệm tăng dần theo tuần tuổi, giai đoạn sau tổng lượng thức

ăn tiêu thụ của một gà sau khi kết thúc thí nghiệm là: 5.254,34 g.

Trong thời gian thực tập tại trại, từ những kiến thức lý thuyết được

trang bị trong trường, qua sách vở, tài liệu và qua trải nghiệm của bản thân từ

thực tế sản xuất, bản thân em nhận thấy rằng: đối với chăn nuôi gà thịt, một

trong những giai đoạn quyết định đến sự thành công đem lại hiệu quả kinh tế

30

cho chăn nuôi chính là giai đoạn úm gà. Đây là giai đoạn đầu tiên của vòng

đời gà thịt và được xem là thời kỳ dễ bị tổn thương nhất bởi gà con thay đổi

từ chế độ điều chỉnh nhiệt chưa hoàn thiện đến chế độ điều chỉnh thân nhiệt

của con vật trưởng thành. Chính vì vậy, chăm sóc giai đoạn úm tốt sẽ làm cho

độ đồng đều của đàn tốt hơn. Độ đồng đều là điều then chốt cho kết quả tốt và

ổn định.

4.3. Kết quả thực hiện quy trình phòng bệnh cho gà thịt

4.3.1. Kết quả thực hiện quy trình phòng bệnh cho gà thịt bằng vắc xin

Phát triển chăn nuôi đem lại hiệu quả kinh tế cao, an toàn cho môi

trường, đảm bảo sức khoẻ cho con người trong tình hình dịch bệnh ngày càng

nhiều, diễn biến phức tạp là một trong những mong muốn mà người chăn

nuôi, người quản lý hướng tới. Sử dụng vắc xin phòng bệnh cho gia cầm là

một trong những yếu tố làm hạn chế dịch bệnh và công tác quản lý dịch bệnh

được tốt hơn, góp phần thúc đẩy phát triển chăn nuôi, giúp cho người dân

chăn nuôi theo hướng an toàn sinh học và đảm bảo vệ sinh môi trường.

Trong thực tế chăn nuôi, với thời gian nuôi gà dài ngày thì gà có thể

mắc phải một số bệnh gây thiệt hại lớn đến kinh tế như: Newcastle, Gumboro,

cầu trùng... Do đó trại tiến hành phòng bệnh cho gà với những bệnh trên.

31

Bảng 4.5. Kết quả thực hiện phòng bệnh bằng vắc xin và thuốc cho gà

Tác dụng

Tuổi (ngày)

Loại vắc xin và thuốc

Phương pháp sử dụng

Giới thiệu thuốc và vắc xin

Kết quả thực hiện

Tỷ lệ an toàn (%)

Kháng sinh

1

400

100

Kháng sinh

2

Úm gia cầm. Colistin

Chống nhiễm khuẩn do vận chuyển, tăng sức đề kháng cho gà

Kháng sinh

3

Pha nước cho uống Pha nước cho uống Pha nước cho uống

Nhỏ mắt

399

100

Vắc xin ND-IB (Vắc xin sống)

ND-IB

5

398

100

Vitamin + chất điện giải

Pha nước cho uống

Điện giải + Vitamin C

7

398

100

Gum lần1 Glucovit C

Vắc xin Gumboro (vắc xin sống) Đậu gà

Nhỏ miệng Chủng màng cánh

14

394

100

Nhỏ miệng Nhỏ mắt

Gum lần 2 Glucovit C

Vắc xin Gumboro (vắc xin sống) Vắc xin ND_IB

Phòng được bệnh Dịch tả (ND) + Viêm phế quản truyền nhiễm(IB) Giảm stress do làm vắc xin Phòng được bệnh Gumboro Phòng được bệnh đậu gà Phòng được bệnh Gumboro Phòng bệnh Dịch tả (ND) + Viêm phế quản truyền nhiễm(IB)

394

100

14 - 16 Cầu trùng

Phòng được bệnh cầu trùng

Pha nước uống

ANTI - COCCID Gluco K-C

394

100

Vắc xin H5N1

28

Phòng cúm gia cầm

Tiêm dưới da cổ

Trong thực tiễn sản xuất mà em đã được tiếp xúc, phụ thuộc tình hình

dịch tễ, giống, thời gian nuôi, số lượng nuôi,... mà trang trại sẽ có những quy

trình vắc xin và thuốc phòng bệnh khác nhau (tiêm vắc xin tái tổ hợp K-NEW

32

H5 dạng nhũ dầu phòng bệnh Newcastle và Cúm gia cầm cho gà vào 7 ngày

tuổi, tiêm vắc xin Cozyra phòng bệnh sưng phù đầu cho gà vào 43 ngày

tuổi...). Xét tình hình dịch tễ và thực tiễn sản xuất tại trại, chúng em tiến hành

phòng bệnh cho đàn gà Mía lai Lương Phượng theo qui trình vắc xin trên và

vẫn đảm bảo được sức khỏe của gà cũng như an toàn dịch bệnh.

Cũng qua đợt thực tế này, bản thân em được trực tiếp tham gia làm vắc

xin cho gà nuôi tại trang trại, em đã rút ra được một số kinh nghiệm trong quá

trình làm vắc xin để đạt hiệu quả cao, cụ thể như:

- Thực hiện nghiêm ngặt lịch làm vắc xin, tuyệt đối không được bỏ qua

một giai đoạn làm vắc xin nào thì hiệu quả vắc xin mới phát huy được tác

dụng cao nhất. Hạn chế tối đa việc xê dịch ngày làm vắc xin.

- Chỉ nên sử dụng vắc xin cho đàn gà khỏe mạnh, trong trường hợp

phát hiện đàn gà đang bị bệnh thì không nên sử dụng vắc xin phòng bệnh, nếu

dùng vắc xin phải có sự kiểm soát và cố vấn của kỹ thuật.

- Để giảm stress cho gà, trước và sau khi làm vắc xin nên cho gà uống

thêm điện giải. Tuyệt đối không cho đàn gà uống nước có sử dụng thuốc sát

trùng (nước máy thường có chất sát trùng).

- Khi pha vắc xin thao tác pha phải nhẹ nhàng, không lắc mạnh tay, khi

pha nên sử dụng dung dịch pha có sự tương đồng về nhiệt độ với nhiệt độ của

vắc xin.

- Chúng em thường pha vắc xin rồi nhỏ trực tiếp cho từng con gà. Khi pha

vắc xin cần tính toán sao cho lượng thuốc đã pha dùng hết trong vòng 2 giờ, nếu

quá thời gian trên mà vẫn còn gà thì tiến hành pha đợt mới rồi làm tiếp, tránh

việc vắc xin pha quá lâu làm ảnh hưởng đến tác dụng của vắc xin.

- Đối với vắc xin phải sử dụng theo đường tiêm, đối và nuôi với số

lượng lớn nên sử dụng xi lanh tự động để tiêm cho đảm bảo đúng liều lượng

và tiết kiệm được thời gian.

33

- Khi sử dụng vắc xin phải khử trùng dụng cụ pha chế bằng cách luộc

sôi 5 - 10 phút. Vắc xin vừa lấy ở tủ lạnh bảo quản ra, nên có thời gian hoạt

hoá vi rút trong điều kiện mát (15 - 25 0C) ít nhất 30 phút.

- Sau khi sử dụng vắc xin 2 - 4 giờ, gia cầm có biểu hiện hội chứng

"nhiễm vắc xin", chậm chạp, ăn kém trong 6 - 12 giờ thì mới tốt.

- Trước và sau khi sử dụng vắc xin ít nhất 12 giờ không được sử dụng

các loại thuốc kháng sinh khác cho gia cầm (uống hoặc tiêm) để không ảnh

hưởng tới hiệu quả của vắc xin. Hai loại vắc xin khác nhau nên dùng cách

nhau ít nhất là 48 giờ.

4.3.2. Công tác vệ sinh phòng bệnh

Việc vệ sinh chuồng trại và môi trường xung quanh trang trại là việc

làm cần thiết và thường xuyên để ngăn chặn và hạn chế những tác động xấu

nhất từ môi trường bên trong cũng như bên ngoài chuồng nuôi. Do đó việc

thực hiện vệ sinh sát trùng thường xuyên rất quan trọng để hạn chế dịch bệnh

và tạo cho gà môi trường nuôi tốt nhất trong quá trình nuôi dưỡng. Công tác

vệ sinh chuồng trại ở trại gia cầm được thực hiện như sau:

- Vệ sinh sát trùng trước khi vào gà: dọn, rửa sạch sẽ toàn bộ chất thải

của những lứa trước trong và bên ngoài chuồng. Làm cỏ sạch sẽ bên ngoài

chuồng. Phun thuốc sát trùng Iodine vào trấu khi chuẩn bị đệm lót. Cách hai

ngày từ lần phun 1 thì tiến hành đảo trấu và phun sát trùng lần 2. Quét xi

măng toàn bộ xung quanh chuồng và lối đi. Trước khi vào chuồng phải nhúng

chân qua hố khử trùng ở cửa chuồng.

- Sau khi vào gà: hàng ngày quét dọn kho thức ăn, đường đi lại. Hàng

tuần phun khử trùng toàn bộ khu vực quanh chuồng trại, đường đi. Phun toàn

bộ những phương tiện ra vào trại. Phun khử trùng khu vực chuồng nuôi 2

ngày 1 lần.

Với phương châm phòng bệnh hơn chữa bệnh nên việc phòng bệnh cho

gà được thực hiện hết sức nghiêm túc và đúng quy trình kỹ thuật.

34

* Một số kiến thức đã tiếp thu được thông qua việc thực hành vệ

sinh sát trùng chuồng nuôi gà trong thời gian thực tập tại cơ sở.

Phân gà có mùi hôi khó chịu, gây ô nhiễm môi trường, do đó cần có kế

hoạch vệ sinh chuồng trại nuôi gà. Trong vệ sinh chuồng nuôi gà thường chia

ra làm hai nhóm công việc khác nhau.

- Những việc vệ sinh chuồng trại nuôi gà cần làm hàng ngày:

Những công việc vệ sinh chuồng nuôi hàng ngày tuy không nặng nhọc

nhưng rất nhiều.

+ Hàng ngày, khi vào chuồng nuôi gà, người chăn nuôi phải kéo rèm

xung quanh chuồng nuôi gà để đón ánh nắng mặt trời. Mục đích của việc làm

này là làm cho không khí trong chuồng được ấm và nhờ đó tiêu diệt được các

loại vi trùng, ký sinh trùng ẩn náu trong các góc của chuồng nuôi, dưới lớp

lông vũ của gà (chỉ trừ ngày mưa bão, quá lạnh thì không mở bạt). Vào buổi

tối, các bạt này lại được đóng kín để tránh gió lạnh từ bên ngoài tràn vào khiến

gà bị lạnh.

+ Vệ sinh máng ăn, máng uống

Máng đựng thức ăn và máng đựng nước uống của gà mỗi sáng cần được

đem ra cọ rửa sạch và phơi nắng sát trùng vì đã quá dơ bẩn, không thể để vậy

dùng tiếp được. Phải thay vào đó máng mới sạch sẽ và đã được sát trùng để cho gà

ăn uống. Các máng bẩn phải đem ra cọ rửa và phơi nắng để dùng vào hôm sau.

+ Thu dọn thức ăn vương vãi trên nền

Do tập tính lấy thức ăn của gà dùng mỏ quẹt qua quẹt lại vào thành

máng, mục đích là cố tìm thức ăn khoái khẩu để ăn trước nên thức ăn mới bị

văng ra ngoài. Ít con gà nào chịu khó nhặt nhạnh từng hột rơi hột rụng đó,

nên ta cần phải năng thu dọn cho sạch sẽ. Nếu cứ để vương vãi như vậy, kiến

gián sẽ nhanh chóng đánh hơi kéo đế và gây hại cho sức khoẻ của gà.

+ Quét dọn chuồng trại

Những lối đi trong chuồng gà và hành lang xung quanh khu vực

chuồng gà cần phải được quét dọn sạch sẽ hàng ngày. Có như vậy mới ngăn

ngừa được những mầm bệnh từ bên ngoài xâm nhập vào khu vực chăn nuôi.

35

- Những việc vệ sinh sát trùng hàng tuần, hàng tháng:

+ Tẩy uế các dụng cụ trong chuồng trại: những dụng cụ trong chuồng

trại nuôi gà như cuốc xẻng, xe rùa, thau, xô, thúng rổ, chổi… cần được tẩy uế

sau mỗi lần sử dụng mới hợp vệ sinh. Nhưng thường thì ta chỉ rửa qua loa cho

sạch đất cát sau đó khi cần lại lấy ra dùng tiếp. Vì vậy, định kì phải tẩy uế

những dụng cụ này một lần bằng các loại thuốc sát trùng hay chỉ đơn giản là

chế nước sôi lên sau khi đã cọ rửa sạch sẽ, rồi đưa ra phơi nắng.

+ Tẩy mùi hôi thối: mùi này không những gây khó chịu cho người chăn

nuôi mà còn có hại đến sức khoẻ của gà, vì gà rất mẫn cảm với mùi khí này,

dễ bị bệnh đường hô hấp. Trong quá trình chăn nuôi nếu làm đúng kỹ thuật,

chuồng gà lúc nào cũng được thông thoáng và giữ gìn vệ sinh tốt thì sẽ hạn

chế được mùi hôi do quá trình nuôi gây nên.

+ Ngăn ngừa mầm bệnh xâm nhập bằng vôi bột là một cách giữ gìn vệ

sinh chuồng trại nuôi gà tránh được mầm bệnh xâm nhập rất hữu hiệu. Ngay

cửa vào chuồng nên đặt một khay chứa vôi bột để tất cả những ai có phận sự

vào chuồng gà đều phải giẫm chân (cả giày dép đang mang) lên đó để tiệt

trùng trước. Nên bổ sung vôi hàng ngày và sau một tuần nên bỏ hết vôi cũ

(thường đã vón cục), thay vôi mới vào.

+ Để ngăn ngừa mầm bệnh xâm nhập vào chuồng gà, chỉ những người

có phận sự như quét dọn, cho gà ăn uống… mới được phép ra vào, còn người

không có phận sự thì hạn chế tối đa. Hạn chế tối đa khách thăm quan, đối với

khách thăm quan trước khi đi vào khu vực nuôi gà cũng phải bước vào khay

vôi, nhúng giày dép để khử trùng như cách làm của các nhân viên của trại.

- Những việc cần làm hàng quý

Phát quang và khai thông cống rãnh: xung quanh khu vực chuồng trại,

cứ ba tháng một lần nên chặt phá, đốn bỏ hết những cây tạp và làm sạch cỏ

dại, vun thành đống rồi đốt để ngăn ngừa ruồi muỗi, chuột bọ. Ngoài ra, còn

phải khai thông các mương rãnh để nước rửa chuồng, nước mưa có lối thoát,

không tù đọng dơ bẩn.

36

Bảng 4.6. Kết quả phòng bệnh bằng phương pháp vệ sinh,

sát trùng tại trại

Kết quả so với

Đơn vị

Số

STT

Công việc

nhiệm vụ được

tính

lượng

giao (%)

1 Vệ sinh chuồng trại hàng ngày

Lượt/ngày

2

100

Sát trùng định kỳ xung quanh

2

Lượt/tuần

2

100

chuồng trại

3 Quét và rắc vôi, xi măng

Lượt/tuần

1

100

Kết quả bảng 4.6 cho thấy, trong 6 tháng thực tập, chúng em luôn nỗ

lực hoàn thành tốt tất cả các công việc được giao. Vệ sinh sát trùng được xem

là một khâu hết sức quan trọng, nhận thức được điều này, chúng em đã cố

gắng thực hiện theo qui định và kế hoạch của trại đề ra nhằm đạt được hiệu

quả cao nhất trong công tác phòng bệnh. Qua đó, em đã biết được cách thực

hiện việc vệ sinh, sát trùng trong chăn nuôi như thế nào cho hợp lý nhằm hạn

chế được dịch bệnh cũng như nâng cao sức đề kháng cho vật nuôi.

Tóm lại, khâu vệ sinh chuồng trại nuôi gà cần phải được quan tâm hàng

đầu. Có như vậy mới bảo đảm được sức khoẻ cho gà vì mọi mầm bệnh đều

được ngăn chặn từ bên ngoài khu vực nuôi. Nếu chểnh mảng trong khâu này,

việc chăn nuôi sẽ không tránh khỏi thất bại.

4.4. Kết quả áp dụng quy trình chẩn đoán một số bệnh trên gà trong thời

gian thực tập

4.4.1. Một số triệu chứng lâm sàng điển hình của các bệnh trên đàn gà

trong thời gian thực tập

Trong thời gian thực tập tại trại, em đã được tham gia cùng cán bộ kỹ

thuật của trại chẩn đoán cho gà bị bệnh. Kết quả được trình bày ở bảng 4.6.

Kết quả ở bảng 4.7 cho thấy: Trong số các bệnh thường gặp có 3 bệnh

điển hình thường gặp là bệnh Cầu trùng, Bạch lỵ gà và bệnh đường hô hấp

mãn tính (CRD).

37

Đối với bệnh Bạch lỵ, chủ yếu xảy ra ở những tuần tuổi đầu, gà thường

có triệu chứng điển hình là gà vận động chậm chạp, yếu, gà bỏ ăn hoặc ăn ít,

thường đứng ủ rũ một chỗ, phần lớn gà đi ỉa lúc đầu phân có màu xanh sau

chuyển sang màu sáng, một số con có phân lẫn máu.

Bảng 4.7. Các triệu trứng lâm sàng điển hình của gà bị bệnh

Số lượng gà Số gà có triệu Tên STT Triệu chứng lâm sàng kiểm tra chứng bệnh bệnh (con) (con)

Gà thường đứng ủ rũ. 398 18

Gà bỏ ăn hoặc ăn ít 398 18

Bạch Gà đi lảo đảo 398 18 1 lỵ gà Phân lúc đầu xanh nhạt,

sau trắng, đặc cứng. 398 6

Phân lẫn máu 398 4

Gà đi ỉa, phân lẫn máu 394 26

Gà gầy, bỏ ăn, hoặc ăn ít 394 26

Cầu Thiếu máu: mào, da nhợt

trùng 2 nhạt 394 23

Xù lông, sã cánh xuống

sát nền 394 25

Chảy nước mắt nước mũi,

kêu xao xác 382 8

Gà kéo dài cổ ra để thở,

sau đó chết 382 3 3 CRD

Da màu xanh tím 382 3

Dính 2 mí mắt lại, do

viêm kết mạc 382 4

38

Đối với bệnh cầu trùng, đây là bệnh phổ biến thường gặp nhất ở tất cả

các loại gà và ở tất cả các lứa tuổi. Triệu chứng lâm sàng điển hình nhất để

phân biệt và nhận biết được gà bị cầu trùng đó là dựa vào quan sát trạng thái

phân gà, đối với gà bị cầu trùng 100 % số gà quan sát đều có hiện tượng đi ỉa,

phân có màu nâu thẫm, hoặc lẫn máu tươi, gà thường rất gầy, đối với những

gà chết, khi quan sát xác chết 100 % số gà này đều rất gầy, do gà ăn ít hoặc

không ăn, mất máu. Bệnh thường không gây chết đột ngột, mà kéo dài và làm

cho gà suy kiệt sức khỏe rồi dẫn đến chết, tỷ lệ chết có thể lên đến 70 - 80%.

Một trong những bệnh rất điển hình ở gà thịt đó là ệnh đường hô hấp

mãn tính ở gà. Những gà bị bệnh thường hay có triệu chứng điển hình khi

quan sát là gà chảy nước mắt nước mũi, khó thở, hoặc thở khò khè. Mắt có

hiện tượng lèm nhèm, dính lại với nhau do quá trình bị viêm kết mạc mắt nên

hai mí mắt dính chặt vào nhau. Một số gà chết, xác chết thường có màu xanh

do gà bị thiếu oxi.

Trong quá trình chẩn đoán lâm sàng, chúng em chỉ dựa vào những triệu

chứng lâm sàng điển hình để phân biệt bệnh. Tuy nhiên, để có thể chẩn đoán

chính xác được bệnh và có phác đồ điều trị hiệu quả thì cần phải mổ khám

bệnh tích để có kết luận chính xác nhất.

4.4.2. Một số bệnh tích điển hình của gà mắc một số bệnh thường gặp

Để có phác đồ điều trị chính xác, ngoài việc kiểm tra triệu chứng lâm sàng

trên gà mắc bệnh, em còn mổ khám gà để kiểm tra các cơ quan bên trong. Kết

quả mổ khám bệnh tích của gà mắc bệnh được trình bày ở bảng 4.10.

Bệnh Bạch lỵ ở gà, đối với gà 1 ngày tuổi khi mổ khám chủ yếu thấy

gan và phổi xung huyết đỏ bầm. Gà ở 2 tuần tuổi thì tim và phổi có nhiều

điểm hoại tử trắng xám nhạt. Lách sưng to, thận xung huyết đỏ.

Đối với gà 1 - 3 ngày tuổi khi mổ khám thấy phần lớn bụng chướng to

có hơi, lòng đỏ không tiêu, và lỗ huyệt có phân dính khô lại làm cho gà không

thải phân được.

39

Bệnh Bạch lỵ chủ yếu xảy ra ở gà từ khi mới nở đến 2 tuần tuổi, tỷ lệ mắc

bệnh cao nhất từ lúc 24 - 48h sau khi nở, còn gà lớn mắc bệnh chỉ ở thể mạn

tính. Vì vậy để phòng tránh bệnh nên phòng từ trạm ấp bằng cách vệ sinh thú y

tổng hợp trạm ấp để tránh truyền dọc từ gà mẹ bị bệnh sang trứng giống, nên khi

mới nở ra gà con sẽ nhiễm bệnh hoặc sẽ chết ngay từ giai đoạn ấp cuối.

Bảng 4.8. Bệnh tích mổ khám của gà nhiễm bệnh

Số lượng

Số lượng gà

Cơ quan,

gà mổ

có bệnh tích

Tỷ lệ

Tên

bộ phận

Biểu hiện bệnh tích

(%)

bệnh

của gà

khám (con)

điển hình (con)

Không sưng, có vệt hoại

Ruột

6

6

100,00

tử màu trắng

Bệnh

Sung huyết đỏ bầm hoặc

bạch

Gan, phổi

6

4

66,67

có điểm hoại tử trắng

lỵ

Lách

Sưng to

6

4

66,67

Thận

Sung huyết

6

3

50,00

Thành

Sưng dày lên, có những

7

7

100,00

ruột

nốt xuất huyết

Manh

Phình to, chứa đầy hơi

7

4

57,14

Bệnh

tràng

và máu, viêm xuất huyết

cầu

Niêm mạc

Trên bề mặt có nhiều

7

5

71,43

trùng

ruột non

điểm hoại tử trắng xám

Niêm mạc

Trên bề mặt có nhiều

7

3

42,86

ruột già

điểm hoại tử trắng

Mắt gà sưng, chảy nước

Đầu, mắt

5

4

80,00

mắt, nước mũi

Phù thũng, viêm

5

2

4,00

Phổi, túi khí

Bệnh

CRD

Viêm

5

5

100,00

Màng bao tim

Khí quản

5

5

100,00

Nhiều dịch viêm có màu hơi vàng

40

Đối với bệnh cầu trùng của gà, đây là bệnh điển hình nhất có thể chẩn

đoán bằng lâm sàng. Khi mổ khám sẽ giúp người chăn nuôi biết chính xác

tình trạng của bệnh. Bệnh tích điển hình nhất của bệnh khi khám cơ quan tiêu

hóa đó là toàn bộ bề mặt của ruột non bị sung huyết, có các mạch máu nổi lên

trên bề mặt. Nếu gà bị nặng tình trạng này nhìn rất rõ. Hai manh tràng phình

to, chứa đầy hơi và có máu, Khi cắt ruột ra để kiểm tra niêm mạc ruột sẽ thấy

trên bề mặt ruột non có nhiều điểm trắng xám, xuất huyết rõ rệt, chất chứa

trong manh tràng chủ yếu là máu. Phần ruột già khi kiểm tra niêm mạc thấy

có thể có hiện tượng hoại tử đối với trường hợp gà bị cầu trùng nặng.

Bệnh Cầu trùng có thể mắc ở tất cả các loại gà và lứa tuổi khác nhau, vì vậy

việc dùng thuốc để phòng cầu trùng cho gà trong thời gian nuôi là rất cần thiết.

Đối với bệnh đường hô hấp mãn tính, ngoài triệu chứng lâm sàng như

mắt gà sưng, mắt, mũi chảy nước, thì khi mổ khám cơ quan hô hấp thấy bệnh

tích điển hình biểu hiện trên cơ quan hô hấp như: đường dẫn khí có nhiều dịch

màu hơi vàng, phổi và túi khí có hiện tượng viêm, phù thũng, một số gà khi

kiểm tra màng bao tim có hiện tượng viêm màng bao tim.

Trong thực tế cho thấy bệnh CRD thường hay ghép với bệnh E. coli, khi

gà bị CRD ghép với E. coli thì gà thường sốt cao, tỷ lệ chết có thể lên đến 30%.

Bệnh thường xảy ra lúc giao mùa hoặc khi thời tiết thay đổi, hoặc khi

gà bị stress, vì vậy biện pháp phòng bệnh cần được thực hiện đầy đủ đó là vệ

sinh chuồng trại và sử dụng kháng sinh để điều trị và kết hợp với sử dụng

thuốc tăng sức đề kháng cho gà.

Trong quá trình thăm khám chẩn đoán bệnh cho gà ở trang trại, phương

pháp khám mà em thường sử dụng như sau:

* Phương pháp chẩn đoán lâm sàng đối với gà bị bệnh

- Phương pháp quan sát: đây là phương pháp khám bệnh đơn giản

nhưng chính xác, được sử dụng trong khám lâm sàng thú y. Khi quan sát

41

đàn gà cần quan sát cẩn thận để nhận biết được trạng thái sức khỏe của đàn

gà, cách đi đứng, màu sắc và tình trạng lông, da, niêm mạc và các triệu

chứng khác của con vật. Ngoài ra quan sát trạng thái và màu sắc của phân

trên nền chuồng. Từ đó có thể giúp ta sàng lọc được những con có nghi vấn

mắc bệnh. Khi quan sát đàn gà nên quan sát từ xa đến gần, nên quan sát

dưới ánh sáng ban ngày.

- Phương pháp nghe: để chẩn đoán gà bị bệnh đường hô hấp, sử dụng

phương pháp nghe, dùng tai, áp sát gần vào cơ thể gà để nghe tiếng thở, nhịp

thở của gà.

* Phương pháp mổ khám chẩn đoán bệnh trên gà: việc này sẽ mang lại

hiệu quả cao cho việc điều trị đàn gia cầm.

- Khám tổng thể bên ngoài.

+ Kiểm tra thể trạng của gà nghi mắc bệnh xem gầy hay béo.

+ Kiểm tra phần đầu: dịch mũi, mào, màu sắc mào, dịch nhầy ở mắt và miệng.

+ Khám lông, da.

- Mổ khám:

+ Làm chết gia cầm bằng phương pháp cắt tiết.

+ Làm ướt lông và da của gia cầm.

+ Đặt gia cầm nằm ngửa: mở mỏ, cắt dọc cổ theo thực quản để kiểm tra

hầu họng. Sau đó cắt vùng da tiếp giáp giữa lườn và đùi, bẻ doãng chân ra hai

bên, mở xác gia cầm quan sát, tạo một lỗ khuyết áo ở cuối chạc xương đòn,

rạch thẳng qua xương đòn, cắt dọc theo xương sườn, nâng chạc xương đòn về

phía đầu, quan sát túi khí và các cơ quan (tim và gan), quan sát các cơ quan

trước khi tiến hành mổ phanh và lấy mẫu.

+ Quan sát cơ quan tiêu hóa: cần quan sát dạ dày tuyến và dạ dày cơ,

quan sát niêm mạc, chất chứa và tìm những bệnh tích xuất huyết hay lở loét,

tiếp đến quan sát manh tràng, hồi tràng, trực tràng (quan sát niêm mạc và chất

42

chứa trong ruột). Kiểm tra gan và túi mật, độ rắn chắc của túi mật, quan sát

hình dáng, màu sắc của tuyến tụy.

+ Quan sát cơ quan hô hấp: quan sát trạng thái của khí quản, quan sát

phổi và khám các túi khí vùng ngực, bụng.

+ Quan sát hệ thống sinh dục: quan sát buồng trứng, ống dẫn trứng đối với

con mái và quan sát tinh hoàn, vị trí, màu sắc, kích thước đối với con trống.

+ Quan sát cơ quan miễn dịch: quan sát hình dáng, màu sắc, kích thước

và độ rắn chắc của lách.

+ Quan sát túi fabricius ở gần lỗ huyệt: quan sát hình dáng, kích thước

và màng nhày của túi fabricius...

4.4.3. Kết quả chẩn đoán bệnh trên gà tại trại

Trong qua trình thực tập, chúng em đã vận dụng kiến thức đã học vào

công tác chẩn đoán bệnh cho gà và đã chẩn đoán, điểu trị một số bệnh như:

Cầu trùng, Bạch lỵ, CRD. Sau khi chẩn đoán bệnh, chúng em tiến hành điều

trị theo phác đồ tại bảng 4.9 dưới đây.

4.5. Kết quả điều trị gà mắc bệnh trong quá trình thực tập

Trong quá trình thăm khám và mổ khám một số gà mắc bệnh, trên cơ

sở các bệnh tích điển hình của gà mắc bệnh, với sự hướng dẫn của kỹ thuật,

em đã xác định được đúng bệnh và đưa ra phác đồ điều trị hiệu quả đối với

một số bệnh. Kết quả được trình bày ở bảng 4.9.

43

Bảng 4.9. Một số phác đồ sử dụng điều trị bệnh cho đàn gà đạt hiệu quả

Số gà

Kết quả

Tên

Thuốc điều trị

Liệu trình

được điều

điều trị

bệnh

trị (con)

Bạch

RTD - AMOXY - COMBY

1g/lít nước uống

394

An toàn

lỵ gà

Kết hợp Bcomplex,

liên tục 5 ngày

con

điện giải.

1g/lít, uống liên

Cầu

ANTI COCCID

tục trong

390

An toàn

trùng

Bổ sung thêm vitamin K

5 - 7 ngày

0.3ml/lít nước

CRD

BIO - TILMICOSIN

uống 3 - 5 ngày

382

An toàn

liên tục

Kết quả ở bảng 4.9 cho thấy: về nguyên tắc khi phát hiện trong đàn gà

có một số gà có biểu hiện mắc bệnh, và khi đã xác định được đúng bệnh,

trang trại dùng thuốc để điều trị cho toàn đàn gà. Vì vậy khó có thể tính toán

được tỷ lệ phần trăm một cách chính xác tỷ lệ khỏi bệnh của đàn gà, cũng như

không thể kết luận đàn gà “sạch bệnh”, do đó kết quả ở bảng 4.9 không có tỷ

lệ khỏi bệnh.

Trong quá trình theo dõi, tùy thuộc vào đặc điểm của bệnh mà mức độ

mắc bệnh của đàn gà, thì thời gian điều trị của từng đàn có thể khác nhau. Tuy

nhiên, khi áp dụng phác đồ điều trị ở bảng 4.9 thì số gà mắc bệnh giảm đi rõ

rệt, thông qua thăm khám lâm sàng không còn thấy các triệu chứng của gà

mắc bệnh, số gà chết rải rác không còn sau khi được điều trị, từ đó có thể đưa

ra kết luận chung là đàn gà an toàn.

44

Phần 5

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

5.1. Kết luận

Qua đợt thực tập này, em nhận thấy mình đã trưởng thành hơn về nhiều

mặt và bằng sự nỗ lực của bản thân em đã hoàn thành nhiệm vụ đề ra. Điều

quan trọng hơn là em đã rút ra được bài học kinh nghiệm bổ ích về chuyên

môn từ thực tiễn sản xuất. Cụ thể là:

- Biết cách chăm sóc, nuôi dưỡng và quản lý trong chăn nuôi gà.

- Biết cách sử dụng một số loại vaccine phòng bệnh và thuốc điều trị

bệnh trong chăn nuôi.

- Chẩn đoán và đưa ra phác đồ điều trị một số bệnh thông thường.

- Hiểu biết về xã hội, cách sống và quan hệ trong một tập thể.

- Nâng cao niềm tin và lòng yêu nghề của bản thân.

Từ kết quả thu được qua theo dõi đàn gà, chúng em sơ bộ rút ra một số

kết luận sau:

- Tình hình chăm sóc nuôi dưỡng gà tại trang trại:

Tỷ lệ nuôi sống của gà từ 1 - 11tuần tuổi đạt là 95,50%

Sinh trưởng tích lũy của gà lúc 11 tuần tuổi đạt 1800,38g, tiêu thụ hết

5254,34g thức ăn.

Áp dụng quy trình phòng bệnh cho đàn gà, đã đạt được một số kết quả

như sau:

+ Phòng các bệnh Newcastle, Gumboro, Bệnh đường hô hấp mãn tính

và bổ sung thêm thuốc tăng sức đề kháng và phòng một số bệnh. Kết quả đều

an toàn.

+ Trại chăn nuôi áp dụng nghiêm ngặt quy trình phòng bệnh bằng

vệ sinh, sát trùng chuồng nuôi và khu vực chăn nuôi, tạo vành đai chăn

nuôi an toàn.

45

- Áp dụng quy trình chẩn đoán lâm sàng và bệnh tích một số bệnh trên

gà thịt.

Các bệnh thường gặp tại trại đó là: Bệnh bạch lỵ, Cầu trùng, CRD. Mỗi

bệnh đều có triệu chứng lâm sàng và bệnh tích điển hình và rất rõ rệt.

- Kết quả điều trị một số bệnh thường gặp: về nguyên tắc là điều trị cho toàn

đàn, kết quả sau điều trị đều được đánh giá là an toàn và bảo hộ được đàn gà.

5.2. Kiến nghị

Tiếp tục cho các lớp sinh viên được tham gia thực tập nhiều hơn tại cơ

sở chăn nuôi, để sinh viên được trải nghiệm và học tập thực tiễn nhiều hơn.

Từ đó, củng cố kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp một cách hiệu quả nhất.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

I. Tài liệu trong nước

1. Trương Hữu Dũng, Phan Đình Thắm, Trần Văn Thăng (2018), Giáo trình

phương pháp thí nghiệm trong chăn nuôi - thú y, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội.

2. Nguyễn Văn Đại, Trần Thanh Vân, Trần Long, Đặng Đình Hanh (2001),

“Đặc điểm ngoại hình và khả năng sinh trưởng, cho thịt của gà lai F1

(Trống Mía x mái Kabir) nuôi nhốt và bán chăn thả tại Thái Nguyên”.

Tạp chí chăn nuôi số 5 - 2001.

3. Từ Quang Hiển, Trần Văn Phùng, Phan Đình Thắm, Trần Thanh Vân, Từ

Trung Kiên (2013), Dinh dưỡng và thức ăn chăn nuôi, Nxb Nông

nghiệp Hà Nội.

4. Nguyễn Duy Hoan (2010), Dinh dưỡng protein gia cầm, Nxb Đại học Thái Nguyên.

5. Dương Mạnh Hùng, Trần Huê Viên, Phan Đình Thắm, Nguyễn Mạnh Hà,

Nguyễn Hưng Quang, Hồ Thị Bích Ngọc (2017), Chọn lọc và nhân

giống vật nuôi, Nxb Nông nghiệp.

6. Đào Văn Khanh (2000), “Nghiên cứu năng suất thịt gà broiler giống Tam

Hoàng 882 nuôi ở các mùa vụ khác nhau của vùng sinh thái Thái

Nguyên’’. Kết quả nghiên cứu Khoa học và chuyển giao Công nghệ

nhân dịp kỷ niệm 30 năm thành lập trường ĐHNL, Nxb Nông Nghiệp.

7. Bùi Đức Lũng, Lê Hồng Mận (2003), Nuôi gà Broiler đạt năng suất cao,

Nxb Nông nghiệp, trang 21 - 23.

8. Lê Hồng Mận, Nguyễn Duy Nhị, Ngô Giản Luyện, Nguyễn Huy Đạt,

NguyễnVăn Trung, Nguyễn Thành Đồng (1996), “Chọn lọc và nhân

thuần 10 đời các dòng gà thịt thuần chủng Plymouth Rock”, Tuyển tập

công trình nghiên cứu khọc kỹ thuật gia cầm, Liên hiệp xí nghiệp gia

cầm Việt Nam 1986 - 1996.

9. Nguyễn Hải Quân, Đặng Vũ Bình, Đinh Văn Chỉnh, Ngô Đoan Trinh

(2005), Chọn giống và nhân giống gia súc, Nxb Nông Nghiệp.

10. Phùng Đức Tiến (1996), “Nghiên cứu một số tổ hợp lai gà broiler giữa các

dòng gà hướng thịt giống Ross 208 và Hybro HV 85”, Luận án PTS

khoa học Nông nghiệp - Viện KHKT Nông nghiệp Việt Nam.

11. Trần Thanh Vân, Nguyễn Duy Hoan, Nguyễn Thị Thúy Mỵ (2015), Giáo

trình chăn nuôi gia cầm, Nxb Nông Nghiệp Hà Nội.

II. Tài liệu nước ngoài

12. Cerniglia J.A, Herrtand A.B Walt (1983), “The effect of constant ambient

temperature and ration on the performance of Sussex broiler”. Poultry

Science 62.

13. Chambers J.R (1990), Genetic of growth and Meat production in chicken,

Edited by R.D Craw ford - Elsevier - Amsterdam - Oxford - Tokyo, pp.9.

14. Godfry E.F and Jaap R.G (1992), Evirence of breed and sex differnces in

the weight of chicken hat cher from eggs sinrilar weight, Pouitry Sci,

pp. 22.

15. Nir I. (1992), “Israel optimization of poultry diets in hot climates”.

Proceedings world Poultry congress vol 2, pp. 71 - 75.

16. Jaap and Morris (1997), “Genetic differences in eight weeks of weight”

Poultry Science 16, Page 44, 48.

17. Wash Bun K.W (1992), “Influence of body weight on response to a heat stress

environment”, World's Poultry Congress No 9 vol 2/1992, pp.53 - 56.

PHỤ LỤC

Một số ảnh trong quá trình thực tập

Hình 1: Thu dọn chất độn chuồng

Hình 2: Úm gà

Hình 3: Cân gà

Hình 4: Trực tiếp làm vắc xin phòng bệnh cho gà

Hình 5: Đảo trấu

Hình 6: Dung dịch sát trùng được sử dụng tại trại

Hình 7: Vắc xin Gumboro Hình 8: Vắc xin đậu gà

Hình 9: Vắc xin ND-IB