ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

NGUYỄN THỊ UYÊN

Tên chuyên đề:

ÁP DỤNG QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG, PHÒNG VÀ TRỊ BỆNH TRÊN ĐÀN GÀ THỊT NUÔI TẠI TRẠI GÀ NGUYỄN VĂN TIẾN, THỊ TRẤN TRẠI CAU, HUYỆN ĐỒNG HỶ, TỈNH THÁI NGUYÊN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy

Chuyên ngành: Thú y

Khoa: Chăn nuôi Thú y

Khóa học: 2015 - 2019

Thái Nguyên - năm 2019

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

NGUYỄN THỊ UYÊN

Tên chuyên đề:

ÁP DỤNG QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG, PHÒNG VÀ TRỊ BỆNH TRÊN ĐÀN GÀ THỊT NUÔI TẠI TRẠI GÀ NGUYỄN VĂN TIẾN, THỊ TRẤN TRẠI CAU, HUYỆN ĐỒNG HỶ, TỈNH THÁI NGUYÊN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy

Chuyên ngành: Thú y

K47 - TY - N03 Lớp:

Chăn nuôi Thú y Khoa:

Khóa học: 2015 - 2019

Giảng viên hướng dẫn: TS. Phùng Đức Hoàn

Thái Nguyên - năm 2019

i

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt thời gian học tập tại trường, em đã nhận được sự giúp đỡ

tận tình và chu đáo của các thầy cô trong trường, đặc biệt là các thầy cô trong

khoa Chăn nuôi Thú y, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên. Đến nay em

đã hoàn thành chương trình học và thực tập tốt nghiệp.

Nhân dịp này em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và lời cảm ơn sâu

sắc tới Nhà trường, các thầy cô giáo, bạn bè trong khoa Chăn nuôi Thú y. Đặc

biệt em xin gửi lời cảm ơn đến TS. Phùng Đức Hoàn đã hướng dẫn trong thời

gian thực tập để em hoàn thành chuyên đề tốt nghiệp này.

Tôi xin chân thành cảm ơn cán bộ công nhân viên trại gà thịt Nguyễn

Văn Tiến thị trấn Trại Cau - huyện Đồng Hỷ - tỉnh Thái Nguyên đã tạo điều

kiện giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực tập tại cơ sở.

Tôi xin cảm ơn bạn bè và người thân đã tạo điều kiện giúp đỡ, động

viên tôi trong suốt thời gian học tập, thực tập để hoàn thành chuyên đề này.

Do trình độ bản thân còn hạn chế và thời gian thực tập có hạn nên đề tài

không tránh khỏi những thiếu sót. Em rất mong nhận được sự đóng góp của

các thầy cô, các bạn để đề tài của em được hoàn thiện hơn.

Em xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày tháng năm 2019

Sinh viên

Nguyễn Thị Uyên

ii

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1. Khẩu phần ăn cho gà....................................................................... 28

Bảng 3.2. Thành phần và giá trị dinh dưỡng của thức ăn ............................... 29

Bảng 3.3. Lịch vệ sinh sát trùng chuồng trại .................................................. 30

Bảng 3.4. Lịch phòng bệnh của gà .................................................................. 31

Bảng 4.1. Kết quả vệ sinh sát trùng ................................................................ 34

Bảng 4.2. Kết quả phòng bệnh cho gà bằng vắc xin ....................................... 35

Bảng 4.3. Tỷ lệ nuôi sống của gà tại trại ......................................................... 37

Bảng 4.4. Tỷ lệ mắc bệnh của gà .................................................................... 39

Bảng 4.5. Phác đồ điều trị bệnh cho gà ........................................................... 40

Bảng 4.6. Kết quả điều trị bệnh cho gà ........................................................... 40

Bảng 4.7. Bảng hoạch toán chi phí chăn nuôi đàn gà tại cơ sở ...................... 41

Bảng 4.8. Kết quả các cộng việc khác ............................................................ 42

iii

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

: Protein thô CP

: Cộng sự Cs

FCR : Hệ số chuyển hóa thức ăn

: gam G

: gram (-) G-

: gram (+) G+

: Năng lượng trao đổi ME

: Mycoplasma MG

: Mycoplasma synoviae MS

: Thể trọng P

: Sơ sinh SS

VTM : Vitamin

iv

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN .................................................................................................... i

DANH MỤC CÁC BẢNG................................................................................ ii

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT ........................................................................... iii

MỤC LỤC ........................................................................................................ iv

Phần 1. MỞ ĐẦU ............................................................................................ 1

1.1. Đặt vấn đề................................................................................................... 1

1.2. Mục đích và yêu cầu của chuyên đề .......................................................... 2

1.2.1. Mục đích của chuyên đề .......................................................................... 2

1.2.2. Yêu cầu của chuyên đề ............................................................................ 2

Phần 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU ................................................................. 3

2.1. Điều kiện cơ sở nơi thực tập ...................................................................... 3

2.1.1 Điều kiện tự nhiên .................................................................................... 3

2.1.2. Điều kiện kinh tế xã hội của thị trấn Trại Cau ........................................ 3

2.1.3. Điều kiện cơ sở vật chất của trại ............................................................. 4

2.1.4. Cơ cấu tổ chức của trại ............................................................................ 5

2.1.5. Thuận lợi, khó khăn ................................................................................ 5

2.2. Tổng quan tài liệu ....................................................................................... 6

2.2.1. Cơ sở khoa học ........................................................................................ 6

2.2.2. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước ........................................... 19

Phần 3. ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN ..... 26

3.1. Đối tượng và phạm vi thực hiện ............................................................... 26

3.2. Địa điểm và thời gian thực hiện ............................................................... 26

3.3. Nội dung thực hiện ................................................................................... 26

3.4. Phương pháp nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi ................................... 26

3.4.1. Công tác chăm sóc ................................................................................ 26

v

3.4.2. Công tác vệ sinh phòng bệnh ................................................................ 29

3.4.3. Thu thập thông tin ................................................................................. 32

3.4.4. Các chỉ tiêu theo dõi .............................................................................. 32

3.4.5. Phương pháp xử lý số liệu ..................................................................... 32

Phần 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ............................................................. 33

4.1. Kết quả chăm sóc, nuôi dưỡng, vệ sinh và phòng bệnh cho gà ............... 33

4.1.1. Công tác phòng bệnh tại trại bằng vệ sinh sát trùng ............................. 33

4.1.2. Thực hiện làm vắc xin tại trại ............................................................... 35

4.2. Tỷ lệ nuôi sống của gà qua các tuần tuổi ................................................. 36

4.3. Công tác chẩn đoán và điều trị bệnh ở gà ................................................ 38

4.4. Kết quả điều trị gà mắc các bệnh thông thường ...................................... 39

4.4.1. Tình hình mắc bệnh của đàn gà tại cơ sở .............................................. 39

4.4.2. Hiệu quả điều trị bệnh trên gà tại cơ sở ................................................ 40

4.5. Kết quả thực hiện công tác khác tại cơ sở ................................................ 41

Phần 5. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ ............................................................. 43

5.1. Kết luận .................................................................................................... 43

5.2. Đề nghị ..................................................................................................... 44

TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 45

MỘT SỐ HÌNH ẢNH TRONG QUÁ TRÌNH THỰC TẬP

1

Phần 1

MỞ ĐẦU

1.1. Đặt vấn đề

Trong những năm gần đây, ngành chăn nuôi nước ta đã có những bước

phát triển đáng kể cả về số lượng cũng như chất lượng, đặc biệt là chăn nuôi

gia cầm do nhu cầu thực phẩm ngày càng tăng cao. Nghề chăn nuôi gia cầm

của nước ta đã có lịch sử rất lâu đời chiếm vị trí quan trọng trong nghành chăn

nuôi của Việt Nam. Chăn nuôi gia cầm cung cấp thực phẩm cho con người,

đồng thời cung cấp một lượng lớn phân bón cho ngành trồng trọt và một phần

sản phẩm của nó là nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến. Chăn nuôi

gia cầm đã giúp cho người dân tăng thêm nguồn thực phẩm tự cung, tự cấp và

góp phần tăng thêm thu nhập cho người dân.

Theo số liệu điều tra vào tháng 1/4/2018 của Tổng cục Thống kê, đàn gia

cầm cả nước đã đạt khoảng 386,1 triệu con, tăng 5,9% so với cùng thời điểm

năm 2017, sản lượng thịt gia cầm hơi xuất chuồng đạt 103 triệu tấn, tăng 7,3%,

sản lượng trứng gia cầm đạt 10,6 triệu quả, tăng 16,2% so với cùng thời điểm

năm 2017. Một số tỉnh có sản lượng trứng gia cầm lớn tăng cao là: Thái Nguyên

tăng 33,04%, Bắc Giang tăng 15,2%, Phú Thọ tăng 41,58%, Thanh Hóa tăng

14,86%, Hà Tĩnh tăng 19,48%, Bình Định 27,81%, Lâm Đồng tăng 18,23%,

Long An tăng 26,97%, Tiền Giang tăng 20,47% và Sóc Trăng tăng 38,99%.

Nước ta nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm quanh

năm là điều kiện phát triển tốt cho các mầm bệnh. Gia cầm nói chung và gà

nói riêng là loài vật nuôi mẫn cảm, đặc biệt là các bệnh truyền nhiễm. Thực tế

chăn nuôi cho thấy, gà là một vật nuôi rất mẫn cảm với bệnh truyền nhiễm

như: H5N1, Newcastle, CRD,… Những bệnh này có ảnh hưởng rất lớn tới số

2

lượng và chất lượng đàn gà. Từ đó gây thiệt hại nghiêm trọng đến kinh tế và

sự phát triển của chăn nuôi gà, đặc biệt là chăn nuôi gà công nghiệp.

Bên cạnh đó xã hội ngày càng phát triển, nhu cầu của con người về

thực phẩm như thịt, trứng... ngày càng cao vì vậy các nhà chăn nuôi gia cầm

phải không ngừng áp dụng những tiến bộ vào quy trình chăm sóc nuôi dưỡng

gia cầm góp phần đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội.

Xuất phát từ thực tiễn trên, chúng tôi tiến hành thực hiện chuyên đề:

“Áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng, phòng và trị bệnh trên đàn gà

thịt nuôi tại trại gà của ông Nguyễn Văn Tiến, thị trấn Trại Cau, Đồng Hỷ,

Thái Nguyên”.

1.2. Mục đích và yêu cầu của chuyên đề

1.2.1. Mục đích của chuyên đề

- Thực hiện được quy trình chăm sóc nuôi dưỡng gà thịt.

- Biết được lịch phòng bệnh trên gà thịt.

- Xác định được tình hình nhiễm bệnh trên đàn gà thịt nuôi tại trang trại

của ông Nguyễn Văn Tiến, thị trấn Trại Cau, Đồng Hỷ, Thái Nguyên

- Đưa ra phác đồ điều trị bệnh cho gà thịt.

1.2.2. Yêu cầu của chuyên đề

- Nắm được các đặc điểm về sinh lý, dinh dưỡng ở gà thịt.

- Nắm được quy trình chăm sóc và nuôi dưỡng gà thịt.

- Biết cách phòng bệnh, cách chẩn đoán và điều trị bệnh cho gà.

3

Phần 2

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1. Điều kiện cơ sở nơi thực tập

2.1.1 Điều kiện tự nhiên

Đồng Hỷ là một huyện lớn có diện tích tự nhiên: 427,73 . Dân số:

trên 10 vạn người, gồm có 15 xã: Cây Thị, Hóa Thượng, Hóa Trung, Hòa Bình,

Hợp Tiến, Khe Mo, Minh Lập, Nam Hòa, Quang Sơn, Tân Lợi, Tân Long, Văn

Hán, Văn Lăng và 2 thị trấn: Trại Cau, Sông Cầu.

Địa hình đất đai: huyện Đồng Hỷ thuộc vùng trung du Bắc Bộ, có đồi

 Nhiệt độ trung bình hàng năm là 22°C, vào mùa hè, tiết trời nóng bức,

núi xen kẽ với đồng bằng và ngả thấp dần về phía nam.

nhiệt độ trung bình từ 25 - 27°C, mùa đông tiết trời giá lạnh, ít mưa, nhiệt độ

 Độ ẩm trung bình năm 85,1%, tháng cao nhất là 91%, tháng thấp

dao động từ 12 - 15°C.

 Lượng mưa trung bình hàng năm là 1577 mm, tháng lớn nhất là

nhất là 78%.

305 mm, tháng nhỏ nhất 24 mm.

Khí hậu tại Thái Nguyên mang đậm tính chất nhiệt đới ẩm gió mùa, kiểu

thời tiết đặc trưng ở miền Bắc Việt Nam: mùa hè nóng ẩm mưa nhiều, mùa

đông lạnh khô. Tuy nhiên, so với Hà Nội thì khí hậu tại đây luôn nhỏ hơn, do

các khối khí nóng ẩm từ biển thổi vào, chính vì thế mùa hè mát hơn và mùa

đông thì lạnh hơn.

2.1.2. Điều kiện kinh tế xã hội của thị trấn Trại Cau

Những năm gần đây, kinh tế của huyện Đồng Hỷ tận dụng tối đa các thế

mạnh của một vùng đất giàu tiềm năng kinh tế, đa dạng về nghành nghề và

nắm bắt thời cơ, khai thác tối đa những tiềm năng sẵn có. Trên cơ sở đó,

4

nhanh chóng xác định các nghành kinh tế mũi nhọn để đầu tư phát triển, tích

cực chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại

hóa bước đầu đã thu được những kết quả tốt đẹp.

Chăn nuôi gia súc, gia cầm được chú trọng, đàn lợn, gia cầm tăng theo

hướng sản suất hàng hóa, phát triển mạnh về số lượng và quy mô. Bên cạnh

chăn nuôi, huyện đã tiến hành quy hoạch các vùng nuôi trồng thủy sản, lập

các dự án nuôi tập trung theo phương pháp bán thâm canh và công nghiệp.

Có thể nói, bức tranh kinh tế Đồng Hỷ trong giai đoạn gần đây đã có

những gam màu sáng, hoạt động kinh tế sôi động hơn đã mang lại hơi thở mới

trong cuộc sống của người dân nơi đây. Đời sống vật chất cũng như tinh thần

của người dân Đồng Hỷ được cải thiện rõ rệt nhờ các biện pháp chăm lo đầu

tư cơ sở hạ tầng, phát triển văn hóa giáo dục.

Người dân chủ yếu là làm tại các nhà máy trên địa bàn huyện và các cơ

quan hành chính Nhà nước, số còn lại trực tiếp sản xuất nông nghiệp, chăn

nuôi tại địa phương dân số và một số hộ kinh doanh nhỏ lẻ.

2.1.3. Điều kiện cơ sở vật chất của trại

Trang trại được xây dựng từ năm 2016. Là trại mới được xây dựng nên

cơ sở vật chất, đường sá đang dần được cải thiện.

- Diện tích chuồng trại là 1000 m2 (1 chuồng, 1 tầng).

- Gồm 1 dãy chuồng, mỗi chuồng nuôi khoảng 3.000 - 4.000 con.

- Mỗi chuồng có chiều dài 30 m, chiều rộng 15 m, chiều cao 2,7 m.

- Hệ thống bảo vệ xung quanh được xây tường rào bao quanh và lắp 2

camera theo dõi quanh khu vực trại.

- Trại được thiết kế xa khu dân cư, có hàng rào bao quanh.

- Trang trại gồm 2 chuồng cách nhau 30 mét, mỗi chuồng gồm có 1 tầng.

- Hệ thống máng ăn được lắp đặt và sử dụng thủ công, toàn bộ là sử dụng

sức lao động của con người. Trại sử dụng máng uống nước tự động, chuồng gồm

5

5 dãy máng ăn và 4 đường nước uống. Nền trại là bê tông, mái được lợp bằng

tấm lợp fibro xi măng có một lớp chấu dày 5 - 7 cm để cách nhiệt.

- Có 1 kho cám, 1 máy phát điện, mỗi chuồng có 6 cái quạt.

- Chuồng chưa lắp đạt nhiệt kế theo dõi nhiệt độ chuồng

- Hệ thống nước cung cấp cho chăn nuôi và sinh hoạt được sử dụng

bằng nước giếng khoan công nghiệp.

- Hệ thống điện trại sử dụng dòng điện 3 pha và được lắp thiết bị cảnh

báo mất điện.

2.1.4. Cơ cấu tổ chức của trại

Cơ cấu của trại tổ chức như sau:

- Đội ngũ cán bộ, quản lý, kỹ thuật, công nhân gồm:

01 chủ trại (kỹ sư)

01 sinh viên thực tập

2.1.5. Thuận lợi, khó khăn

2.1.5.1. Thuận lợi

- Trại được xây dựng xa khu dân cư, giao thông thuận tiện.

- Đội ngũ quản lý, cán bộ kỹ thuật có trình độ chuyên môn cao, tâm

huyết với nghề, có tinh thần trách nhiệm cao trong công việc.

- Trong đợt thực tập tại cơ sở sinh viên đã được học hỏi kinh nghiệm

chăn nuôi và phòng trị một số bệnh trên thường thấy trên đàn gà thịt

- Sinh viên và công nhân tại trại được bố trí chỗ ở và sinh hoạt theo gia

đình chủ trại.

- Đội ngũ công nhân có tay nghề cao, năng động, nhiệt tình và có trách

nhiệm cao trong công việc.

- Trại có quy mô lớn cùng với đó trại đã áp dụng các công nghệ tiên tiến

hiện đại vào chăn nuôi nên rất phù hợp với chăn nuôi công nghiệp hiện nay.

6

2.1.5.2. Khó khăn

- Khi mô hình chăn nuôi gà thả vườn phát triển mạnh mẽ và trở thành

một nghề chuyên nghiệp với quy mô, số lượng ngày một lớn cũng là lúc các

loại dịch bệnh ngày càng phức tạp, khó lường hơn.

- Do thân nhiệt của gà cao, đang chăn thả gặp phải trời mưa lạnh, nhiệt

độ thay đổi đột ngột nên dễ bị bệnh.

- Giá thức ăn chăn nuôi mỗi ngày một tăng khiến chi phí thức ăn tăng

cao, gây ảnh hưởng không nhỏ tới chăn nuôi của trang trại và các hộ chăn

nuôi thuộc hợp tác xã.

2.2. Tổng quan tài liệu

2.2.1. Cơ sở khoa học

2.2.1.1. Một số đặc điểm của gà Ri L

+ Gà có thân hình vững chắc, hướng thân thịt, chân, da vàng, lườn ức

dày, thịt săn thơm ngon như gà ta nguyên thủy, phù hợp với thị hiếu người

tiêu dùng.

+ Độ đồng đều và sức đề kháng cao. Thích nghi khí hậu mọi vùng miền.

* Chỉ tiếu kinh tế, kỹ thuật:

+ Thời gian sinh trưởng: 105 ngày. Tỷ lệ nuôi sống 98 - 99%. Trọng lượng

bình quân: 1,8 - 2,8 kg/con. Tiêu tốn thức ăn từ 2,7 - 2,9 kg cho 1kg tăng trọng.

2.2.1.2. Đặc điểm sinh lý tiêu hóa ở gà

Gia cầm có tốc độ trao đổi chất và năng lượng cao hơn so với động vật

có vú. Cường độ tiêu hoá mạnh ở gia cầm được xác định bằng tốc độ di

chuyển của thức ăn qua ống tiêu hoá. Ở gà còn non, tốc độ này là 30 - 39 cm

trong 1 giờ; ở gà lớn hơn là 32 - 40 cm và ở gà trưởng thành là 40 - 42 cm.

Chiều dài của ống tiêu hoá gia cầm không lớn, thời gian mà khối thức ăn

được giữ lại trong đó không vượt quá 2 - 4 giờ, ngắn hơn rất nhiều so với

động vật khác. Do đó để quá trình tiêu hoá thức ăn diễn ra thuận lợi và có

7

hiệu quả cao, thức ăn cần phải phù hợp với tuổi và trạng thái sinh lý, được chế

biến thích hợp, đồng thời có hàm lượng xơ ở mức ít nhất (Hội chăn nuôi Việt

Nam, (2001) [4]).

* Tiêu hóa ở miệng

Gia cầm không có môi và răng, hàm ở dạng mỏ, chỉ có tác dụng lấy

thức ăn, chứ không có tác dụng nghiền nhỏ.

Khi thức ăn đi qua khoang miệng thì được thấm ướt bởi nước bọt, các

tuyến nước bọt của gia cầm kém phát triển, thành phần chủ yếu của nước bọt

là dịch nhầy. Trong nước bọt có chứa một số ít men amilaza nên có ít tác

dụng tiêu hóa.

Động tác nuốt ở gia cầm được thực hiện nhờ chuyển động rất nhanh

của lưỡi, khi đó thức ăn được chuyển rất nhanh vào vùng trên của hầu vào

thực quản. Trong thành thực quản có các tuyến nhầy hình ống tiết ra chất

nhầy, cũng có tác dụng làm ướt và trơn thức ăn khi nuốt.

* Tiêu hóa ở diều

Diều là khoảng mở rộng của thực quản ở khoang ngực. Diều dự trữ và

chuẩn bị tiêu hóa thức ăn, thức ăn ở diều được thấm ướt, mềm ra trộn kĩ với

một phần tinh bột được thủy phân.

* Tiêu hóa ở dạ dày

- Tiêu hóa ở dạ dày tuyến

Dạ dày tuyến giống như cái bao túi, gồm 3 lớp: màng nhầy, màng cơ,

màng thanh dịch. Màng nhầy rất phát triển, ở đây các tuyến tiết ra pepsin và

axit muối. Vì vậy tiêu hóa ở dạ dày tuyến có phản ứng axit, độ pH 3,1 - 4,5.

Dịch dạ dày được tiết vào trong khoang của dạ dày tuyến, có axit

clohydric, enzim và musin. Cũng như ở động vật có vú, pepsin được tiết ra ở

dạng không hoạt động - pepsinogen và được hoạt hoá bởi axit clohydric. Các

tế bào hình ống của biểu mô màng nhầy bài tiết ra một chất nhầy đặc rất giàu

8

musin, chất này phủ lên bề mặt niêm mạc của dạ dày. Sự tiết dịch dạ dày ở

gia cầm là liên tục, sau khi ăn thì tốc độ tiết tăng lên.

- Tiêu hóa ở dạ dày cơ

Dạ dày cơ có hình dạng như hai chiếc đĩa nhỏ úp vào nhau có thành rất

dày, có màu đỏ sẫm. Dạ dày cơ nằm ở bên trái của gan.

Thức ăn được đưa qua đám rối vị giác (lưỡi và cổ) để phân biệt thức ăn

(đắng, chua)  Thức ăn được thấm ướt nhờ dịch tiết (thực quản và diều).

Nước qua diều tới dạ dày tuyến, dạ dày cơ rồi vào ruột. Nếu gia cầm đói, thức

ăn đi thẳng vào dạ dày tuyến và dạ dày cơ (sau khi đầy rồi mới tích lại ở diều).

Dưới ảnh hưởng của men amilaza của tuyến nước bọt, tinh bột được

đường hóa do quá trình vi sinh vật phân giải ở diều. Thời gian thức ăn ở diều

phụ thuộc vào khối lượng thức ăn, khối lượng nhỏ thức ăn qua diều 2 - 5 phút

còn khối lượng lớn thì vài giờ.

Thức ăn qua dạ dày tuyến tương đối nhanh (hầu như không dừng lại ở

đây), tại đây có phản ứng axit và dịch vị của dạ dày tuyến tiết ra khoảng 30

phút: gà 11,3 ml còn ở ngỗng là 24 ml ở giờ thứ nhất sau khi ăn dịch vị tiết

nhiều hơn.

* Tiêu hóa ở ruột

Ruột non là cơ quan chính nơi tiêu hóa và hấp thụ các chất dinh dưỡng.

Các men tiêu hoá quan trọng nhất là từ dịch dạ dày, cùng với mật đi vào manh

tràng, chất tiết của các tuyến ruột có ý nghĩa kém hơn (Nguồn The ponltry

new, 2018) [24].

Quá trình tiêu hoá các chất dinh dưỡng đều xảy ra ở ruột non gia cầm.

Các men tiêu hoá quan trọng nhất là dịch dạ dày, cùng với mật đi vào manh

tràng, chất tiết của các tuyến ruột có ý nghĩa kém hơn.

Các men trong ruột hoạt động trong môi trường axit yếu, kiềm yếu; pH

dao động trong những phần khác nhau của ruột.

9

Dịch ruột là một chất lỏng đục, có phản ứng kiềm yếu (pH là 7,42) với

tỷ trọng 1,0076. Trong thành phần dịch ruột có các men proteolytic,

aminolytic và lypolytic và cả men enterokinaza.

Dịch tuỵ là một chất lỏng không màu, hơi mặn, có phản ứng hơi toan

hoặc hơi kiềm (pH 7,2 - 7,5). Trong chất khô của dịch, ngoài các men, còn có

các axit amin, lipit và các chất khoáng (NaCl, CaCl2, NaHCO3...).

Dịch tụy của gia cầm trưởng thành có chứa các men tripsin, amilaza,

mantaza, cacbosipeptidaza, invertaza và lipaza.

Tripsin được bài tiết ra ở dạng chưa hoạt hoá là tripsinogen, dưới tác

động của men dịch ruột enterokinaza, nó được hoạt hoá, phân giải các protein

phức tạp ra các axit amin. Men proteolytic khác là các cacbosipeptidaza được

tripsin hoạt hoá cũng có tính chất này.

Các men amilaza và mantaza phân giải các polysacarit đến các

monosacarit như glucoza, lipaza được dịch mật hoạt hoá, phân giải lipit thành

glyserin và axit béo.

Các quá trình tiêu hoá và hấp thu ở ruột non xảy ra đặc biệt tích cực. Sự

phân giải các chất dinh dưỡng không chỉ có trong khoang ruột (tiêu hoá ở

khoang), mà cả ở trên bề mặt các lông mao của các tế bào biểu bì (sự tiêu hoá

ở màng). Các cấu trúc phân tử và trên phân tử của thức ăn có kích thước lớn

được phân giải dưới tác động của các men trong khoang ruột, tạo ra các sản

phẩm trung gian nhỏ hơn, chúng đi vào vùng có nhiều nhung mao của các tế

bào biểu mô. Trên các nhung mao có các men tiêu hoá, tại đây diễn ra giai

đoạn cuối cùng của sự thuỷ phân để tạo ra sản phẩm cuối cùng như axit amin,

monosacarit chuẩn bị cho việc hấp thu.

Khả năng tiêu hoá chất xơ của gia cầm rất hạn chế. Cũng như ở động

vật có vú, các tuyến tiêu hoá của gia cầm không tiết ra một men đặc hiệu nào

để tiêu hoá xơ. Một lượng nhỏ chất xơ được phân giải trong manh tràng bằng

10

các men do vi khuẩn tiết ra. Những gia cầm nào có manh tràng phát triển hơn

như đà điểu, ngan, ngỗng... thì các chất xơ được tiêu hoá nhiều hơn.

2.2.1.3. Đặc điểm sinh lý và giải phẫu cơ quan hô hấp của gà

Theo Trần Thanh Vân và cs. (2015) [13] cho biết: hệ hô hấp của gia

cầm gồm: lỗ mũi, xoang mũi, khí quản, 2 phế quản, 2 phổi, 9 túi khí.

- Hai lỗ mũi nằm ở gốc mỏ và có đường kính rất nhỏ. Ở gà, phía ngoài

hai lỗ mũi có “van mũi hoá sừng bất động” và xung quanh lỗ mũi có lông

cứng nhằm ngăn ngừa bụi và nước.

- Xoang mũi được phát triển từ xoang miệng sơ cấp ở ngày ấp thứ 7.

Xoang mũi ngắn, chia ra 2 phần: phần xương và phần sụn. Xoang mũi nằm ở

mỏ trên. Xoang mũi là cơ quan thu nhận và lọc khí rồi chuyển vào khí quản, ở

gà thanh quản dưới có hai nếp gấp liên kết, hai nếp gấp đó bị dao động bởi

không khí và tạo nên âm thanh.

- Khí quản là ống tương đối dài bao gồm nhiều vòng sụn và nhiều vòng

hoá xương. Số vòng khí quản ở gà là 110 - 120 và hầu hết là sụn, còn ở thuỷ

cầm hầu hết đã hoá xương. Khí quản tương đối cong queo, thành khí quản

được cấu tạo bởi màng nhầy, màng xơ đàn hồi và màng thanh dịch ngoài.

- Khí quản chia ra làm hai phế quản ở xoang ngực phía sau xương

ngực. Mỗi phế quản dài 6 - 7 cm và có đường kính 5 - 6 mm. Một ống phế

quản nối với lá phổi bên trái, còn một ống nối với lá phổi bên phải. Thành phế

quản cấu tạo bởi màng nhầy (ở đó có nhiều tuyến nhỏ tạo ra các dịch nhầy,

màng xơ đàn hồi), có các bán khuyên sụn trong suốt và thanh dịch ngoài.

- Phổi và phế quản được hình thành từ các nếp gấp ống hầu ở cuối khí

quản vào ngày ấp thứ 4, ở ngày ấp thứ 5 xuất hiện túi phổi có màu dạng phế

quản. Ở ngày ấp thứ 9 phổi đang phát triển và chia ra mạng lưới phế quản, ở

phần cuối của nó hình thành các ống hô hấp. Phổi của gia cầm màu đỏ tươi,

cấu trúc xốp, có dạng bọc nhỏ kéo dài, ít đàn hồi.

11

Phổi nằm ở xoang ngực phía trục xương sống từ trục xương sườn thứ

nhất đến mép trước của thận. Trọng lượng của phổi vào khoảng 1/180 thể

trọng gia cầm, phụ thuộc vào tuổi và loài. Chức năng chính của phổi là làm

nhiệm vụ trao đổi khí.

- Túi khí là tổ chức mỏng bên trong chứa đầy khí. Các túi khí là sự mở

rộng và tiếp dài của phế quản. Cơ thể gia cầm có 9 túi khí chính, trong đó có 4

đôi xếp đối xứng, còn 1 túi khí đơn. Các đôi túi khí xếp đối xứng là đôi túi khí

xương đòn, đôi túi khí ngực trước, đôi túi khí ngực sau, đôi túi khí bụng. Túi

khí đơn là túi khí cổ. Các túi khí thực ra không phải là xoang tận cùng của phế

quản sơ cấp và phế quản thứ cấp mà tất cả chỉ là phế nang khổng lồ.

Theo Trần Thanh Vân và cs. (2015) [13] tần số hô hấp dao động trong

khoảng rất lớn, nó phụ thuộc vào loài, tuổi, sức sản xuất, trạng thái sinh lý của

gia cầm và điều kiện thức ăn, nuôi dưỡng, nhiệt độ, độ ẩm, thành phần không

khí. Trong điều kiện nuôi dưỡng tốt, tần số hô hấp tương đối ổn định, gia cầm

càng lớn thì tần số hô hấp càng nhỏ, ban đêm tần số hô hấp giảm chậm xuống

30 - 40 %. Nhiệt độ tăng tần số hô hấp cũng tăng. Nếu nhiệt độ tăng tới 370C

thì nhịp thở của gà lên tới 150 lần/phút. Tần số hô hấp ở gà trưởng thành là 25

- 45 lần/phút. Gà từ 4 - 20 ngày tuổi là 30 - 40 lần/phút.

Cơ chế hô hấp của gia cầm gồm động tác hít vào và động tác thở ra với

sự hoạt động của phổi và hệ thống 9 túi khí chính.

Vận động của xương sườn đóng vai trò quan trọng trong cử động hô

hấp. Lúc giãn, không khí xoang ngực giãn và mở rộng làm cho áp lực xoang

ngực thấp hơn áp lực bên ngoài, do đó không khí từ ngoài đi vào trong phổi.

Lúc hít vào, không khí qua phổi vào các nhánh nhỏ và vào các túi khí. Lúc

thở ra thì ngược lại, không khí đi từ các túi khí đi ra ngoài qua phổi lần thứ

hai, vì vậy người ta gọi là cơ chế hô hấp kép. Vì phổi gia cầm nhỏ nhưng do

không khí tuần hoàn hai lần nên lượng oxygen cung cấp vẫn đảm bảo.

12

Trong thời gian ngủ quá trình trao đổi chất nói chung giảm xuống 50%.

Trong thời gian hoạt động mạnh (bay, chạy, nhảy…) quá trình trao đổi chất

tăng lên và mức độ trao đổi khí tăng lên 60 - 100%.

Hoạt động của phổi và túi khí của gia cầm bao gồm: Khí lưu thông, khí

hít vào thêm, khí thở ra thêm. Hoạt động của phổi và túi khí nói lên khả năng

hô hấp lớn nhất của gia cầm.

Sau khi thở ra thêm, trong phổi vẫn còn một lượng khí nhỏ lưu lại gọi

là khí cặn. Hoạt động phổi và túi khí của gà tổng cộng là 169 cm3.

Một lượng nhỏ khí O2 được hòa tan vào máu và theo máu đến các mô

bào, còn phần lớn kết hợp với hemoglobin trong hồng cầu để tạo Oxy -

hemoglobin vận chuyển theo tuần hoàn máu. Lượng O2 tối đa kết hợp với

hemoglobin gọi là dung lượng O2 máu, dao động trong khoảng 12 - 21 cm3

(Trần Thanh Vân và cs. (2015) [13]).

2.2.1.4. Nhu cầu dinh dưỡng của gà thịt

Năng lượng: Gà có khả năng chuyển hoá năng lượng từ những

carbonhydrate đơn giản, một vài carbonhydrate phức tạp như dầu và mỡ,

nhưng những carbonhydrate quá phức tạp như cellulose thì gà không thể sử

dụng được. Mặc dù vậy nhưng gà cũng cần môt lượng cellulose nhất định để

làm chất đệm giúp quá trình tiêu hoá được dễ dàng. Tỷ lệ chất xơ trong khẩu

phần không được vượt quá 4%. Nhu cầu về năng lượng cho các mục đích trao

đổi rất khác nhau, do vậy nếu thiếu năng lượng sẽ ảnh hưởng đến hầu hết các

quá trình sản xuất. Đối với gà nuôi lấy thịt nhu cầu năng lượng thường cao

hơn gà đẻ.

Protein: Đây là một chỉ số dinh dưỡng quan trọng có ảnh hưởng trực

tiếp đến sức khỏe, sức sản xuất và chất lượng sản phẩm. Người ta cho rằng 20

- 25 % sức sản xuất của gia cầm ảnh hưởng trực tiếp bởi dinh dưỡng protein.

Gà thịt cần tỉ lệ protein tương đối cao trong khẩu phần để hỗ trợ tăng trưởng

13

nhanh. Khối lượng của gà thịt thương phẩm sẽ tăng lên gấp 50 - 55 lần trong

6 tuần sau khi nở. Một phần lớn của việc tăng trọng này là tăng trưởng các mô

có nhiều protein.

Nước: Chính là một thành phần dinh dưỡng quan trọng cho bất kỳ cơ

thể sống nào kể cả gia cầm. Nước không những là chất dẫn giúp vật hấp thu

chất dinh dưỡng tốt hơn mà nước còn giúp cơ thể đào thải độc tố, giúp các tế

bào hoạt động khỏe mạnh hơn… Hầu hết các động vật khác kể cả gà sẽ cần

một lượng nước khoảng 50ml/kg trọng lượng cơ thể mỗi ngày. Khi thời tiết

ấm áp, nhu cầu này có tăng lên một chút và tương tự, khi thời tiết lạnh, lượng

nước gà cần sẽ giảm hơn so với bình thường.

Khoáng chất: Là phần vô cơ trong thành phần thức ăn chăn nuôi gia

cầm, thường chiếm một tỷ lệ rất nhỏ trong khẩu phần thức ăn, tuy nhiên

khoáng chất có một vai trò vô cùng quan trọng đối với gia cầm.

+ Khoáng đa lượng: Ca, P trong cơ thể Ca chiếm 1,3 - 1,8% khối lượng

cơ thể, P chiếm 0,8 - 1% khối lượng cơ thể.

+ Khoáng vi lượng: Các khoáng vi lượng gồm có đồng, kẽm, sắt,

iodine và selenium cũng rất cần thiết cho sự phát triển của gia cầm.

Trong cơ thể vật nuôi và con người khoáng chất có vai trò quan trọng

trong quá trình hình thành các tổ chức trong cơ thể như xương, răng, máu, mô

thịt…, một số chất khoáng có vai trò trong quá trình tạo các kênh ion như Na,

K… một số khác lại có tác dụng trong việc kích thích sự hoạt động của các

enzyme, khoáng chất còn có tác dụng trong việc tham gia hệ thống đệm trong

cơ thể …

2.2.1.5. Các yếu tố ảnh hưởng tới quá trình sinh trưởng, phát triển của gà thịt

- Ảnh hưởng của dòng giống

Trong cùng điều kiện chăn nuôi, mỗi giống khác nhau sẽ có khả năng

sinh trưởng khác nhau.

14

Theo tài liệu của Chambers J. R. (1990) [15]cho biết, thì nhiều gen ảnh

hưởng đến sự phát triển của gà. Có gen ảnh hưởng đến sự phát triển chung

hoặc ảnh hưởng tới sự phát triển theo nhóm tính trạng hay một vài tính trạng

riêng lẻ.

- Ảnh hưởng của tính biệt và tốc độ mọc lông

Sự khác nhau về tốc độ sinh trưởng và khối lượng của cơ thể gà do yếu

tố tính biệt quy định trong đó con trống có tốc độ sinh trưởng nhanh hơn con mái.

Tốc độ mọc lông có liên hệ với chất lượng thịt gia cầm, những gia cầm

có tốc độ mọc lông nhanh thường có chất lượng thịt tốt hơn.

- Ảnh hưởng của chế độ dinh dưỡng

Chế độ dinh dưỡng đóng vai trò quan trọng đối với sinh trưởng của gia

cầm. Việc cung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng và cân đối giữa các chất sẽ

giúp cho gia cầm phát huy cao tiềm năng di truyền về sinh trưởng.

Dinh dưỡng là một trong những nhân tố quan trọng quyết định đến khả

năng sinh trưởng của gia cầm, khi đáp ứng đủ nhu cầu dinh dưỡng thì thời

gian đạt khối lượng tiêu chuẩn sẽ giảm xuống.

Chambers J. R.(1990) [15] cho biết, tương quan giữa khối lượng của gà

và hiệu quả sử dụng thức ăn khá cao (r = 0,5 - 0,9). Để phát huy khả năng

sinh trưởng của gia cầm không những cần cung cấp đủ năng lượng, thức ăn

theo nhu cầu mà còn phải đảm bảo cân bằng protein, acid amin và năng

lượng. Do vậy, khẩu phần ăn cho gà phải hoàn hảo trên cơ sở tính toán nhu

cầu của gia cầm.

- Ảnh hưởng của môi trường

Điều kiện môi trường có ảnh hưởng lớn đến quá trình sinh trưởng của

gia cầm. Nếu điều kiện môi trường là tối ưu cho sự sinh trưởng của gia cầm thì

gia cầm khỏe mạnh, lớn nhanh, nếu điều kiện môi trường không thuận lợi thì tạo

điều kiện cho vi sinh vật phát triển gây bệnh ảnh hưởng đến sức khỏe gia cầm.

15

Nhiệt độ cao làm cho gà ăn ít, sinh trưởng chậm, tăng tỷ lệ chết. Nhiệt

độ thấp gà ăn nhiều nhưng chậm lớn vì tiêu tốn 1 phần năng lượng để tỏa

nhiệt giữ ấm cơ thể, dễ mắc nhiều bệnh về hô hấp, tăng tỷ lệ chết gây thiệt hại

kinh tế lớn cho người chăn nuôi.

Chế độ chiếu sáng cũng ảnh hưởng tới khả năng sinh trưởng vì gà rất

nhạy cảm với ánh sáng, do vậy chế độ chiếu sáng là một vấn đề cần quan tâm.

Ngoài ra trong chăn nuôi cũng bị tác động bởi nhiều yếu tố khác nhau như: độ

ẩm, độ thông thoáng, tốc độ gió lùa và ảnh hưởng của mật độ nuôi nhốt đến

khả năng sinh trưởng của gia cầm.

Sinh trưởng của gia súc, gia cầm luôn gắn với phát dục, đó là quá trình

thay đổi chất lượng, là sự tăng lên và hoàn chỉnh về tính chất, chức năng hoạt

động của cơ thể. Hai quá trình đó liên quan mật thiết và ảnh hưởng lẫn nhau

tạo nên sự hoàn thiện cơ thể gia súc, gia cầm. Sinh trưởng và phát dục của cơ

thể gia súc, gia cầm tuân theo tính quy luật và theo giai đoạn.

2.2.1.6. Một số bệnh thường gặp trên gà thịt

Trong thời gian nuôi dưỡng hàng ngày phải theo dõi tình hình sức khỏe

của đàn gà để chẩn đoán, phát hiện bệnh và có những hướng điều trị kịp thời.

Trong thời gian nuôi gà thường gặp bệnh như sau:

 Bệnh bạch lỵ

- Nguyên nhân:

Do vi khuẩn gram âm Salmonella gallinarum và Salmonella pullorum

gây ra. Bệnh thường gặp phổ biến nhất ở gà con, gà mới nở. Mầm bệnh này

có thể tồn tại trong đất trong khoảng thời gian khá dài, lên đến 1 năm.

Bệnh có 2 con đường lây lan là theo phương thức truyền dọc và truyền

ngang. Truyền dọc là cách truyền từ mẹ sang trứng. truyền ngang là cách thức

trực tiếp từ gà khỏe sang gà ốm hoặc qua các vật trung gian như máng ăn,

máng uống, chuồng trại, dụng cụ chăn nuôi…

16

- Triệu chứng:

+ Ở gà con: gà bị bệnh nặng từ mới nở đến 2 tuần tuổi, tỷ lệ mắc bệnh

cao nhất vào lúc 24 - 28 giờ sau khi nở. Biểu hiện: gà yếu, bụng trễ do lòng

đỏ không tiêu, tụ tập thành từng đám, kêu xáo xác, ủ rũ. Lông xù, ỉa chảy,

phân trắng mùi hôi khắm có bọt trắng, có khi lẫn máu, phân bết quanh hậu

môn, gà chết 2 - 3 ngày sau khi phát bệnh.

+ Ở gà lớn: gà thường bị bệnh ở dạng ẩn (mãn tính). Gà biểu hiện gầy

yếu, ủ rũ, xù lông, niêm mạc, mào, yếm nhợt nhạt…

- Bệnh tích: ở gà con mổ khám thấy gan, lách bị viêm sưng có màu đỏ,

tím ở lách, tim, phổi có các hoại tử.

- Phòng bệnh:

+ Nhập giống từ cơ sở gà bố mẹ đảm bảo nguồn gốc.

+ Nuôi dưỡng chăm sóc tốt để tăng sức đề kháng cho gà.

+ Thức ăn trên máng phải thường xuyên sàng qua để loại bỏ những phân

gà dính bám vào thức ăn có mang mầm bệnh.

+ Giữ gìn vệ sinh chuồng trại để làm giảm nguy cơ lây lan bệnh.

+ Dùng dung dịch formol 2 - 5% để sát trùng toàn bộ khu chuồng nuôi

và khu vực xung quanh.

- Điều trị:

+ Dùng nofacolipha vào nước hoặc trộn vào thức ăn, vitamin B -

complex: 1g/1 lit nước, vitamin C: 1g/1 lít nước. Dùng liên tục 3 - 5 ngày.

+ Hoặc dùng thuốc colistin: liều 1g/2lít nước cho gà uống liên tục trong

4 - 5 ngày.

 Bệnh CRD

- Nguyên nhân:

Do Mycoplasma gallisepticum gây ra.

Gà 2 - 12 tuần tuổi và gà sắp đẻ dễ bị nhiễm hơn các lứa tuổi khác,

17

thường hay phát bệnh khi trời có mưa phùn, gió mùa, độ ẩm không khí cao.

- Triệu chứng:

+ Thời gian ủ bệnh từ 6 - 21 ngày.

+ Gà trưởng thành và gà đẻ: tăng khối lượng chậm, thở khò khè, chảy

nước mũi, ăn ít, gà trở nên gầy ốm, gà đẻ giảm sản lượng trứng nhưng vẫn

duy trì ở mức độ thấp.

+ Gà thịt: xảy ra giữa 3 - 8 tuần tuổi với triệu chứng nặng hơn so với các

loại gà khác do kết hợp với các mầm bệnh khác (thường với E.coli). Vì vậy

trên gà thịt còn gọi là thể kết hợp E. coli-CRD (C - CRD) với các triệu chứng:

âm ran khí quản, chảy nước mũi, ho, sưng mặt, sưng mí mắt, viêm kết mạc.

- Phòng bệnh: thực hiện tốt quy trình vệ sinh thú y, chuồng thông

thoáng, mật độ hợp lý, nhiệt độ thích hợp, chăm sóc và nuôi dưỡng tốt, cho

uống thuốc để phòng bệnh.

- Điều trị:

+ Tilmicosin: liều 0,3ml/lít nước, uống liên tục: 3 - 5 ngày.

+ Doxy (50%): liều 25 mg/kg thể trọng, uống liên tục: 3 - 5 ngày.

+ Mổ khám thấy nhiều dịch nhầy trong đường hô hấp bổ sung cho uống

brom hexine.

 Bệnh viêm ruột hoại tử

- Nguyên nhân:

Bệnh do vi khuẩn Clostridium perfringens type A và type C gây nên.

Bệnh có thể lây qua đường tiêu hóa do thức ăn, nước uống, dụng cụ chăn nuôi

bị nhiễm vi khuẩn này. Ngoài ra, vi khuẩn này cũng có sẵn trong đường ruột

của gà. Bệnh có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi, nhưng chủ yếu xảy ra ở gà trên 3

tuần tuổi.

- Triệu chứng:

+ Gà bệnh thường giảm ăn, chậm lớn, chậm chạp. Gà tiêu chảy phân

nước có nhiều bọt, xuất hiện phân sống, có khi màu nâu đen, chứa dịch nhầy.

18

+ Gà nằm gục đầu, xã cánh, không thể đi lại được. Tỷ lệ chết có thể lên

tới 25% nếu không điều trị kịp thời.

- Bệnh tích:

+ Ruột non căng phồng, chứa đầy hơi, bên trong ruột có bọt khí, lớp

niêm mạc bề mặt trong ruột thấy sần sùi, chất chứa trong ruột màu nâu xám.

+ Manh tràng sưng phồng, chứa phân sáp, kiểm tra trên bề mặt thấy

những nốt sần.

+ Gan sưng, sung huyết, xuất hiện hoại tử kéo dài trên bề mặt gan.

- Phòng bệnh:

Thực hiện an toàn trong vệ sinh chăn nuôi, sử dụng nguồn nước sạch cho

gà uống. Hạn chế thay đổi thức ăn đột ngột. Việc kiểm soát tốt bệnh cầu trùng

là cần thiết để phòng bệnh viêm ruột hoại tử.

- Điều trị:

+ Dùng Enrofloxacin 50 %: liều 1g/50 kg thể trọng cho uống 3 - 5 ngày, bổ

sung thêm vitamin C với liều 1g/ lít nước cho uống 2 - 3 giờ liên tục 3 - 5 ngày.

+ Hoặc dùng Amoxilis với liều 25mg/ kg thể trọng cho uống 3 - 5 ngày.

 Bệnh do E.coli (Colibacillosis)

- Nguyên nhân:

Do vi khuẩn Escherichia coli (E.coli) và độc tố của chúng gây ra.

Em thấy gà ở mọi lứa tuổi đều có thể mắc bệnh, đặc biệt là giai đoạn gà

con 3 - 15 ngày tuổi, tỷ lệ chết 20 - 60 %, gà lớn bệnh ở thể nhẹ và ít chết.

Truyền bệnh trực tiếp qua trứng bệnh, lây bệnh nhanh chóng trong lò ấp,

ngoài ra có thể lây bệnh gián tiếp qua thức ăn, nước uống và qua vết hở

của rốn.

- Triệu chứng:

+ Thời gian ủ bệnh từ 1 - 3 ngày và gây nhiễm trùng huyết từ 5 - 7 ngày

sau khi nhiễm bệnh.

19

+ Đầu ổ dịch gà bệnh thường chỉ kém ăn, sức lớn cả đàn chậm lại, sau đó

bệnh có thể tiến triển cấp tính ở những đàn gia cầm con.

+ Gà bị bệnh thường ủ rũ, xù lông, gầy rạc. Một số con có triệu chứng

sốt, sổ mũi và khó thở. Sau vài ngày gà ỉa chảy, phân lỏng có dịch nhầy màu

nâu, trắng, xanh, đôi khi lẫn máu rồi chết hàng loạt. Đôi khi gà có hiện tượng

sưng khớp.

- Bệnh tích:

+ Gan sưng và xuất huyết, gan sưng đỏ, gan và màng bao tim có lớp

nhầy trắng. Màng túi khí có nốt xuất huyết nhỏ. Niêm mạc ruột sưng đỏ, ỉa

phân trắng. Gia cầm ở thời kỳ đẻ, buồng trứng bị vỡ và teo.

- Phòng bệnh:

+ Kiểm soát chất lượng trứng.

+ Vệ sinh nhà máy ấp.

+ Kiểm soát xe vận chuyển trúng gà.

- Điều trị:

+ Tiêm gentamycine với liều 8 mg/ kg khối lượng cơ thể.

+ Hoặc cho uống Florfenicol 20% liều 1 ml/10 kg khối lượng cơ thể.

+ Bổ sung vitamin C với liều 1g/ lít nước để nâng cao sức đề kháng.

2.2.2. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước

2.2.2.1. Tình hình nghiên cứu trong nước

Ngành chăn nuôi gia cầm ở Việt Nam đã có từ lâu đời với quy mô nhỏ,

mỗi gia đình chỉ nuôi vài con đến vài chục con, chăn nuôi theo phương thức

quảng canh nên năng suất thấp. Trong những năm gần đây, do áp dụng những

tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, ngành chăn nuôi gia cầm nước ta đã

phát triển nhanh và đạt được những tiến bộ rõ rệt. Để đáp ứng thị hiếu của người

tiêu dùng muốn có giống gà có chất lượng thịt thơm ngon, săn chắc và ngoại

hình giống với gà địa phương, các nhà khoa học nước ta đã dày công lai tạo các

20

giống gà lông màu nhập nội với gà địa phương nhằm tạo ra con lai có tốc độ

tăng trưởng nhanh nhưng phải đáp ứng được nhu cầu thị hiếu người tiêu dùng.

Theo Đào Văn Khanh (2000) [5] các giống gà lông màu được nuôi tại

Thái Nguyên như: Kabir, Lương Phượng, Tam Hoàng được nuôi ở các địa

phương đều thích nghi với điều kiện nuôi chăn thả và có mức nhiễm bệnh

thấp, dễ nuôi, giống Kabir có sự sinh trưởng nhanh nhất sau đó đến Lương

Phượng, Tam Hoàng, tiêu tốn thức ăn của cả 3 đều thấp, phù hợp với điều

kiện chăn nuôi ở nông thôn.

Tuy nhiên chăn nuôi gà phát triển mạnh thì ảnh hưởng của dòng giống,

mùa vụ và dịch bệnh xảy ra cũng là một vấn đề lớn cần giải quyết vì nó ảnh

hưởng trực tiếp tới ngành chăn nuôi.

Ở nước ta các công trình nghiên cứu mức độ ảnh hưởng của mùa vụ đối

với gà thịt cũng được quan tâm đến.

Phan Cự Nhân và Trần Đình Miên (1998) [10] cho biết, tốc độ mọc

lông là tính trạng di truyền liên kết với giới tính, trong cùng một dòng gà thì

gà mái có tốc độ mọc lông đều hơn gà trống, đó là hormone tác dụng ngược

chiều với gen liên kết giới tính. Trong cùng một giống, cùng giới tính, ở gà có

tốc độ mọc lông nhanh thì có tốc độ sinh trưởng, phát triển tốt hơn.

Ảnh hưởng của dịch bệnh là điều mà tất cả mọi người đều rất quan tâm

vì nó không chỉ ảnh hưởng trực tiếp tới vật nuôi mà còn lây lan dịch bệnh,

giảm hiệu quả chăn nuôi và gây thiệt hại kinh tế.

Theo Nguyễn Hữu Vũ, Nguyễn Đức Lưu (2001) [14], tác nhân gây bệnh

CRD là Mycoplasma gallisepticum, tỷ lệ nhiễm bệnh ở miền Bắc Việt Nam là

51,6% ở gà thương phẩm, còn gà giống là 10%, tỷ lệ đẻ trứng giảm 20 - 30%.

Phạm Sỹ Lăng và Trương Văn Dung (2002) [9] cho biết, bệnh CRD có

thể làm giảm tỷ lệ đẻ trứng xuống tới 30%, giảm tỷ lệ ấp nở tới 14% và giảm

trọng lượng của gà thịt thương phẩm tới 16%. Ngoài ra bệnh còn kết hợp với

21

các bệnh khác như: Newcastle, viêm phế quản truyền nhiễm, tụ huyết trùng,

bệnh do E.coli,... đã gây nên những vụ dịch với tỷ lệ chết cao.

 Bệnh CRD

- Nguyên nhân:

Theo Trần Thị Thủy (2017) [25], bệnh do Mycoplasma gallisepticum

gây ra.

Gà 2 - 12 tuần tuổi và gà sắp đẻ dễ bị nhiễm hơn các lứa tuổi khác,

thường hay phát bệnh khi trời có mưa phùn, gió mùa, độ ẩm không khí cao.

- Triệu chứng:

+ Thời gian ủ bệnh từ 6 - 21 ngày.

+ Gà trưởng thành và gà đẻ: Tăng khối lượng chậm, thở khò khè, chảy

nước mũi, ăn ít, gà trở nên gầy ốm, gà đẻ giảm sản lượng trứng nhưng vẫn

duy trì ở mức độ thấp.

+ Gà thịt: Xảy ra giữa 3 - 8 tuần tuổi với triệu chứng nặng hơn so với các

loại gà khác do kết hợp với các mầm bệnh khác (thường với E.coli). Vì vậy

trên gà thịt còn gọi là thể kết hợp E.Coli - CRD (C - CRD) với các triệu chứng:

âm ran khí quản, chảy nước mũi, ho, sưng mặt, sưng mí mắt, viêm kết mạc.

- Phòng bệnh: Thực hiện tốt quy trình vệ sinh thú y, chuồng thông

thoáng, mật độ hợp lý, nhiệt độ thích hợp, chăm sóc và nuôi dưỡng tốt, cho

uống thuốc để phòng bệnh.

- Điều trị:

+ Doxycycline: Liều 1 g/lít nước, uống liên tục: 3 - 5 ngày.

+ Flofenicol: Liều 1 g/lít nước, uống liên tục: 3 - 5 ngày.

Hoàng Huy Liệu (2002) [23] cho biết, bệnh CRD do 3 loài Mycoplasma

gây ra: M.gallisepticum, M.synoviae, M.meleagridis. Nhưng chủ yếu là loài

M.gallisepticum. Mycoplasma có nghĩa là “dạng nấm”, nhìn dưới kính hiển vi

thì giống như tế bào động vật nhỏ, không nhân; gallisepticum có nghĩa là

22

“gây độc cho gà mái”. Điều này được thấy rõ tỷ lệ nhiễm bệnh ở gà đẻ trứng

rất cao và sản lượng trứng bị giảm đáng kể.

Hoàng Hà (2009) [22] cho biết, trong tự nhiên thời gian ủ bệnh CRD từ

3 - 8 tuần tuổi. Bệnh CRD rất phổ biến ở gà và tỷ lệ gà bị nhiễm bệnh này là

rất cao: 10 - 15% (ở đàn gà giống), 30 - 40% (ở đàn gà thịt) và 70 - 80% (ở

đàn gà đẻ).

Nguyễn Lân Dũng và cs. (2007) [2] cho biết, năm 1898, E.Nocard và cs

lần đầu tiên phân lập được Mycoplasma từ bò bị bệnh viêm phổi màng phổi

truyền nhiễm. Khi đó được gọi là vi sinh vật viêm màng phổi (PPO:

Pleuropneumonia organism). Về sau người ta tiếp tục phân lập được PPO từ

các động vật khác và đổi tên là vi sinh vật loại viêm màng phổi (PPLO:

Pleuropneumonia like organism). Từ năm 1955, PPO và PPLO được chính

thức đổi thành Mycoplasma.

Trường Giang (2008) [21] cho biết, trên gà thịt: Bệnh hay xảy ra lúc

đàn gà được 4 - 8 tuần, triệu chứng thường nặng hơn so với các loại gà khác

do sự phụ nhiễm các loại vi trùng khác mà thông thường nhất là E.coli, vì vậy

trên gà thịt người ta còn gọi là thể kết hợp E.coli - CRD (C-CRD) với các

triệu chứng giảm ăn, chảy nước mũi, xuất hiện âm rale khí quản, ho, viêm kết

mạc mắt, chảy nước mắt, sưng đầu, gà ủ rũ và chết sau khi mắc bệnh 3 - 4

ngày, tử số có thể lên đến 30%, số còn lại chậm lớn. Trên gà trưởng thành - gà

đẻ, bệnh phát ra khi thay đổi thời tiết, tiêm phòng, chuyển chuồng, cắt mỏ…,

các triệu chứng chính vẫn là chảy nước mũi, thở khò khè, ăn ít, gà trở nên gầy

ốm, gà đẻ giảm sản lượng trứng, trứng ấp nở cho ra các gà con yếu ớt. Ở một

số đàn gà đẻ đôi khi chỉ thấy xuất hiện sự giảm sản lượng trứng, gà con yếu,

tỷ lệ ấp nở kém, còn các triệu chứng khác không thấy xuất hiện.

Theo Dương Công Thuận (1995) [12] có 4 loài cầu trùng gây bệnh ở

các trại gà: E.tenella, E.maxima, E.necatrix, E.mitis.

23

Theo Dương Công Thuận (1995) [12] có 4 loài cầu trùng gây bệnh ở

các trại gà: E.tenella, E.maxima, E.necatrix, E.mitis.

Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [7] khẳng định: Bệnh cầu trùng

thường gây bệnh nặng ở gà con, gà lớn thường mang căn bệnh và là nguồn

gieo truyền căn bệnh làm ô nhiễm môi trường. Vì vậy biện pháp quan trọng là

phòng bệnh cho gà con không bị nhiễm cầu trùng.

Theo Trần Văn Hòa (2001) [3] gà nhiễm cầu trùng bằng con đường

duy nhất là miệng thông qua những chất mà gà thường xuyên tiếp xúc như:

thức ăn, chất độn chuồng, phân, bụi... Mặc dù bình thường, bệnh cầu trùng

gắn liền với chăn nuôi thâm canh cải tiến trong đó một số lượng lớn gà nuôi

chung với nhau. Điều quan trọng là phải biết rằng bất kỳ điều kiện nào dẫn tới

việc nuôi quá đông và tích tụ ô nhiễm phân trong môi trường đều có thể là

tiền đề của căn bệnh quan trọng này, vì vậy các ổ dịch bệnh cầu trùng có thể

xảy ra ở thôn xóm cũng như ở các xí nghiệp hiện đại.

Theo Nguyễn Lân Dũng và cs. (1995) [2] E.coli có sức đề kháng kém,

bị diệt ở nhiệt độ 550C trong 1 giờ và ở 600C trong vòng 30 phút. Các chất sát

trùng thông thường như nước gia ven 0,5%, Phenol 0,5% diệt được E.coli sau

2 - 4 phút.

2.2.2.2. Tình hình nghiên cứu thế giới

Tình hình ngành sản xuất chăn nuôi gia cầm tăng lên, các nước trên thế

giới không ngừng cải tiến con giống cũng như dinh dưỡng để đưa năng suất

chất lượng chăn nuôi gia cầm phát triển vượt bậc, đáp ứng nhu cầu ngày càng

lớn nhưng khắt khe của thị trường.

Với việc đưa các giống gà siêu thịt như: Hybro (Hv 85 - Hà lan), AA

(Abor Acres, Mỹ) Avian (Mỹ), Lohman meat (Đức)… các giống hướng trứng

như: Goldline 54 (Hà Lan), Leghorn (Italia)… giống gà kiêm dụng: Tam

Hoàng, Lương Phượng (Trung Quốc), Sasso (Pháp), Kabir (Israel)… vào nuôi

24

thâm canh đã đưa năng suất chăn nuôi lên rất cao, song các giống gà trên chỉ

thích nghi trong một số điều kiện nhất định của môi trường. Sau những thành

công về chăn nuôi công nghiệp ở trình độ cao, từ năm 1980 trở lại đây một số

nước như: Nhật Bản, Pháp, Israel… có xu hướng thay đổi phương thức chăn

nuôi để sản phẩm gia cầm có mùi vị thơm ngon hơn. Việc lai tạo các giống gà

với nhau cũng được thúc đẩy mạnh mẽ nhằm giữ lại các đặc điểm quý, cải

thiện những tính trạng còn hạn chế và dần hình thành một số giống mới có

khả năng sản xuất tốt, đáp ứng nhu cầu nhiều mặt của con người.

Bên cạnh những nghiên cứu về giống cũng có nhiều nghiên cứu về sự

sinh trưởng và các bệnh mà gà thường mắc phải.

Brandsch và Billchel (1978) [1] tốc độ mọc lông là tính trạng di truyền

liên quan tới đặc điểm trao đổi chất, sinh trưởng và phát triển của gia cầm.

Gia cầm có tốc độ mọc lông nhanh, thành thục về thể vóc sớm thì chất lượng

thịt tốt hơn.

Kojima và cs (1997) [06] đã sử dụng phương pháp PCR để phát hiện

mầm bệnh thuộc 9 loài Mycoplasma của gia cầm trong vắc xin sống tạo từ

phôi gà với độ nhạy cảm khá cao. Tuy nhiên, chưa có một cặp mồi nào được

khẳng định là đặc trưng cho toàn bộ lớp mollicus mà không nhân lên các loại

vi khuẩn khác.

Woese và cs (1980) [9] đã phân tích, so sánh trình tự gen 16S rARN

của đại diện các giống Mycoplasma, Spiroplasma, Acholeaplasma và họ cho

rằng, các giống này được tiến hóa ngược từ một nhánh vi khuẩn yếm khí là tổ

tiên của họ Bacillus và Lactobacillus ngày nay.

Yogev và cs. (1988) [20] đã sử dụng mẫu dò trên gen rARN để phát

hiện sự khác nhau bên trong và giữa hai loài MG và loài MS.

Phạm Sỹ Lăng và Trương Văn Dung (2002) [9] cho biết, năm 1984

Glison và Kleven đã nghiên cứu về hiệu quả sử dụng vắc xin nhược độc và

25

vắc xin chết nhằm khống chế lây truyền MG qua trứng.

Theo tài liệu của Chambers J. R (1990) [15] thì nhiều gen ảnh hưởng

đến sự phát triển của gà. Có gen ảnh hưởng đến sự phát triển chung hoặc ảnh

hưởng tới sự phát triển theo nhóm tính trạng hay một vài tính trạng riêng lẻ.

Theo Siegel và Dumington (1978) [17] thì những alen quy định tốc độ

mọc lông nhanh phù hợp với tăng khối lượng cao. Trong cùng một dòng gà

mọc lông nhanh thì gà mái mọc lông nhanh hơn gà trống.

Kolapxki và Paskin (1980) [6] cho biết, bệnh cầu trùng gà là một bệnh

ở gà con từ 10 - 18 ngày tuổi. Đôi khi bệnh cũng có ở gà 4 - 6 tháng tuổi.

Trong điều kiện các cơ sở chăn nuôi gia cầm, gà 3 - 4 tuần tuổi nhạy cảm và

nhiễm cầu trùng nặng nhất với tỷ lệ chết cao.

Theo Orlow (1975) [11] cho biết, bệnh cầu trùng chủ yếu ở gia cầm

non. E.tenella là loài gây bệnh mạnh nhất, phổ biến nhất ở gà một tháng tuổi.

E.maxima gây bệnh cho gà từ 1,5 - 2 tháng tuổi. Gia cầm non mắc bệnh, gia

cầm lớn là vật mang trùng. Chuồng trại chật, ẩm ướt, thức ăn thiếu dinh

dưỡng sẽ tạo điều kiện cho mầm bệnh phát triển, diễn biến bệnh nặng thêm.

Các ổ dịch cầu trùng thường thấy vào mùa xuân và mùa thu.

Winkler G và Weinberg M. D (2002) [18] cho biết, các nhà vi trùng

học đã phân loại hơn 170 nhóm huyết thanh E.coli khác nhau. Trong mỗi một

nhóm có 1 hay nhiều serotype. E.coli O157H7 được trung tâm giám sát dịch

bệnh của Mỹ phát hiện đầu tiên vào năm 1975, sau 8 năm E.coli O157H7 mới

xác định chắc chắn là nguyên nhân gây bệnh viêm ruột. Đặc biệt năm 1982,

một số ổ dịch ngộ độc thực phẩm bao gồm cả trường hợp bị dung huyết dạ

dày, ruột. Với kết quả này, người ta xác định rõ E.coli O157H7 là vi khuẩn gây

dung huyết.

26

Phần 3

ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN

3.1. Đối tượng và phạm vi thực hiện

- Nghiên cứu trên gà Ri Dabaco nuôi thả vườn.

- Chuyên đề được tiến hành ở hai vụ khác nhau: vụ Hè và Thu

3.2. Địa điểm và thời gian thực hiện

- Địa điểm: trại gà tư nhân ông Nguyễn Văn Tiến thị trấn Trại Cau -

huyện Đồng Hỷ - tỉnh Thái Nguyên.

- Thời gian tiến hành: từ ngày 12/02/2019 đến ngày 26/05/2019.

3.3. Nội dung thực hiện

- Thực hiện được quy trình chăm sóc nuôi dưỡng gà

- Thực hiện được biện pháp phòng bệnh

- Chẩn đoán và điều trị bệnh cho gà

3.4. Phương pháp nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi

3.4.1. Công tác chăm sóc

 Công tác chăn nuôi

- Công tác chuẩn bị chuồng trại nuôi gà.

Trước khi nhận gà vào nuôi, chuồng đã được để trống từ 3 - 7 ngày

(yêu cầu là 12 - 15 ngày), chuồng được quét dọn sạch sẽ bên trong và bên

ngoài, hệ thống cống rãnh thoát nước, nền chuồng, vách ngăn được quét vôi.

Sau đó được tiến hành phun thuốc sát trùng bằng dung dịch ASI - CIDE với

nồng độ 1: 400 và xông chuồng bằng thuốc tím với formol 2%.

Dải trấu làm đệm lót dày từ 10 - 15 cm, phun thuốc sát trùng đệm lót.

Tất cả các dụng cụ chăn nuôi như: khay ăn, máng ăn, máng uống… đều được

cọ rửa sạch sẽ, ngâm thuốc sát trùng, sau đó được tráng rửa dưới vòi nước

sạch và phơi nắng trước khi đưa vào chuồng nuôi.

27

- Công tác chọn giống

Tiến hành chọn những con giống phải khỏe mạnh, nhanh nhẹn, mắt

sáng, lông mượt, chân bóng, không hở rốn, khoèo chân, vẹo mỏ, đảm bảo

khối lượng trung bình lúc mới nhập chuồng là 43 - 45g. Những con gà yếu,

quá nhỏ không đảm bảo tiêu chuẩn tiến hành loại bỏ.

- Công tác chăm sóc và nuôi dưỡng

Tùy theo từng giai đoạn phát triển của gà mà ta áp dụng quy trình nuôi

dưỡng cho phù hợp.

+ Giai đoạn úm gà con: Trước khi nhập gà ta phải sẵn nước uống và

cám cho gà tập ăn, đốt lò than (bật bóng úm) sao cho nhiệt độ trong chuồng

ấm trước khi thả gà vào 1 tiếng. Khi nhập gà về chúng tôi tiến hành cân khối

lượng, ghi chép lại sau đó cho gà con vào ô úm đã có sẵn nước và thức ăn.

Giai đoạn này yếu tố nhiệt độ rất quan trọng, nhiệt độ trong ô úm đảm

bảo 33 - 35 0C, sau một tuần tuổi nhiệt độ chuồng nuôi giảm dần theo ngày

tuổi và khi gà lớn nhiệt độ của chuồng đạt 22 - 25 0C.

Thường xuyên theo dõi đàn gà để điều chỉnh nhiệt độ cho phù hợp với

sự phát triển của gà. Quây úm, máng uống tự động, máng ăn đều được điều

chỉnh phù hợp theo tuổi gà (độ lớn của gà), ánh sáng được đảm bảo cho gà

hoạt động bình thường.

+ Giai đoạn nuôi thịt: Ở giai đoạn này máng ăn nhỏ và khay tập ăn

được thay dần bằng máng lớn. Những dụng cụ được thay thế phải được cọ

rửa, sát trùng và phơi nắng trước khi sử dụng. Hàng ngày vào các buổi sáng

sớm và đầu giờ chiều tiến hành cọ rửa máng uống, thu dọn máng ăn đảm bảo

máng ăn, máng uống luôn sạch sẽ. Nhu cầu nước uống, thức ăn của gà tăng dần

theo lứa tuổi. Lượng thức ăn còn thay đổi theo sức khỏe của gà và thời tiết.

28

- Chế độ chiếu sáng

Chúng tôi điều chỉnh chế độ chiếu sáng thích hợp để thúc đẩy cho gà ăn

nhiều hơn. Ở giai đoạn úm gà, gà cần nhiều ánh sáng để phát triển do đó chế

độ chiếu sáng ở giai đoạn này thường lớn. Tuy nhiên khi gà lớn thì chế độ

chiếu sáng cần ít đi. Vì ánh sáng mạnh sẽ kích thích gà vận động làm giảm

khả năng tích lũy của gà, do đó phải giảm ánh sáng để gà tăng trưởng nhanh

hơn, và tránh hiện tượng gà mổ nhau.

Giống gà nhập về phần lớn là giống gà Ri nhập taih Công ty

TNHHMTV gà giống Dabaco tại Tiên Du - Bắc Ninh nên có thời gian nuôi từ

100 - 105 ngày mới xuất bán nên thức ăn sử dụng chính là thức ăn do Công ty

DABACO sản xuất và gà được ăn theo từng giai đoạn như sau:

Bảng 3.1. Khẩu phần ăn cho gà

Liều lượng Ngày tuổi Thức ăn cho ăn (gam/con/ngày)

1 - 20 J - 1 Ăn tự do

21 - 60 J - 2 Ăn tự do

61 - Xuất bán J - 3 Ăn tự do

Ở mỗi giai đoạn tuần tuổi khác nhau nhu cầu đáp ứng dinh dưỡng cho gà

cũng khác nhau. Do đó thức ăn của Công ty DABACO đảm bảo đầy đủ về tiêu

chuẩn này. Được thể hiện thông qua bảng 3.2.

29

Bảng 3.2. Thành phần và giá trị dinh dưỡng của thức ăn

Giai đoạn

Giai đoạn

Giai đoạn 61

Đơn vị

Thành phần

1 - 20

21 - 60

ngày tuổi -

tính

ngày tuổi

ngày tuổi

xuất bán

Năng lượng trao đổi

Kcal/kg

3050

3100

3100

Đạm tối thiểu

%

20,5

18

21,5

Xơ thô (Max)

%

4,6

4,8

4,6

Béo(Min)

%

5,4

5,1

4,5

Canxi trong khoảng

0,9 - 1,15

0,9 - 1,16

0,85 - 1,1

%

0,72

0,73

Photpho(Min)

%

0,7

Muối trong khoảng

0,3 - 0,44

0,32 - 0,45

0,36 - 0,46

%

Lysine tổng số tối thiểu

%

1

0,94

1,1

Methyonin + cystin % 0,7 0,6 0,76 tổng số tối thiểu

Độ ẩm tối đa % 13 13 13

Chlotetracyline Mg/kg 50 0 50

3.4.2. Công tác vệ sinh phòng bệnh

Việc vệ sinh chuồng trại và môi trường xung quanh trang trại là việc

làm cần thiết và thường xuyên để ngăn chặn hạn chế những tác động xấu nhất

từ môi trường bên trong cũng như bên ngoài chuồng nuôi. Do đó việc thực

hiện vệ sinh sát trùng thường xuyên rất quan trọng để hạn chế dịch bệnh và

tạo cho gà môi trường nuôi tốt nhất trong quá trình nuôi dưỡng. Công tác vệ

sinh chuồng trại được thể hiện rõ qua bảng 3.3.

30

Bảng 3.3. Lịch vệ sinh sát trùng chuồng trại

Thời gian Trong chuồng Ngoài chuồng

Sát trùng Dung dịch xút (NaOH) tỉ lệ 1/30 Dùng Omnicide nồng độ trước tưới trên nền chuồng. Phun sát 1/400, làm sạch cỏ, dọn khi vào trùng bằng omnicide nồng độ rác quanh khuôn viên trại gà 1/200.

Quét dọn khuôn viên trại Quét dọn, Dùng Omnicide phun và phun Omnicide nồng độ Thứ 2 sát trùng nồng độ 1/200 1/400

Quét dọn khu vực dàn mát, Quét dọn khuôn viên trại, Thứ 3 đường đi, cửa chuồng nuôi. kho cám,...

Quét dọn, phun sát trùng Thứ 4 Phun sát trùng nền chuồng xung quanh tường trại.

Quét dọn, phát quang cỏ Thứ 5 quanh trại.

Quét dọn, rắc vôi đường đi trong Quét dọn kho cám đường Thứ 6 đi lại trại.

Thứ 7 Quét lau dọn toa thức ăn.

Phun thuốc sát trùng đầu dàn Phun sát trùng quanh trại. Chủ nhật mát.

Trong chăn nuôi quy tắc phòng bệnh hơn chữa bệnh. Chính vì vậy việc

phòng bệnh cho gà được thực hiện nghiêm túc và đúng quy trình kỹ thuật.

Trong thực tế chăn nuôi với thời gian 45 ngày gà có thể mắc phải một

số bệnh truyền nhiễm nguy hiểm, gây thiệt hại lớn đến kinh tế như:

Newcastle, Gumboro, Cầu trùng. Do đó chúng tôi chỉ tiến hành phòng bệnh

cho gà với những bệnh trên.

31

Lịch phòng và sử dụng các loại vắc xin:

Bảng 3.4. Lịch phòng bệnh của gà

Loại vắc xin

Phòng bệnh

Ngày tuổi

1

Marek

Marek

3

Scovac4

Cầu trùng

5

Ibird + CevacBIL

IB biến chủng + Newcastle, viêm phế quản truyền nhiễm

10

Hipra SHS

Hội chứng sưng đầu do virus (APV)

12

Gumboro + Pox

Gumboro + đậu

15

CevacBIL

Newcastle, viêm phế quản truyền nhiễm

20

Gumboro

Gumboro

ILT

28

Viêm thanh khí quản truyền nhiễm

Cúm gia cầm

Cúm gia cầm

30

News

Newcastle

35

Cách dùng và liều lượng Tiêm dưới da cổ 0,2ml/con Nhỏ miệng hoặc pha nước uống cùng bột pha riêng Nhỏ mắt, mũi hoặc cho uống cùng Cevamune Nhở mắt, mũi hoặc cho uống cùng Cevamune Nhỏ miệng + chủng màng cánh Nhỏ mắt, mũi hoặc cho uống cùng Cevamune Nhỏ miệng hoặc cho uống cùng Cevamune Nhỏ mũi hoặc cho uống cùng Cevamune Tiêm bắp hoặc dưới da liều 0.5 ml/con Tiêm bắp hoặc dưới da liều 0.5 ml/con

Hipra SHS

50

Pha nước uống cùng

Hội chứng sưng đầu do virus (APV)

70

Avinew

Newcastle

Cho uống

32

Sử dụng vắc xin cho gà sẽ hạn chế được dịch bệnh nổ ra trên đàn gà.

Khi sử dụng lưu ý công đoạn bảo quản, nếu bảo quản sai cách hoặc không

đảm bảo vắc xin có thể bị hư hỏng, không có tác dụng,…

3.4.3. Thu thập thông tin

- Hằng ngày theo dõi lượng thức ăn cho ăn, phát hiện những con mắc

bệnh, chẩn đoán và điều trị.

- Hàng tuần cân gà vào sáng sớm trước khi cho ăn. Trước khi cân quây

và bắt ngẫu nhiên (cân bằng cân nhơn hòa 5 kg sai số tối thiểu: ± 2,5 g - tối

đa: ± 5 g, loại 20 kg tối thiểu: ± 25 g - tối đa ± 50 g).

- Theo dõi khả năng sinh trưởng của đàn gà.

3.4.4. Các chỉ tiêu theo dõi

* Tỷ lệ nuôi sống(%)

∑ số gà cuối kỳ (con) Tỷ lệ nuôi sống = x100 ∑ số gà đầu kỳ (con)

* Theo dõi tình hình mắc bệnh của gà

∑ số gà bị nhiễm bệnh Tỷ lệ nhiễm bệnh (%) = x100 ∑ số gà theo dõi

3.4.5. Phương pháp xử lý số liệu

Số liệu thu được được tính toán bằng các công thức toán học thông

thường, và phần mềm excel 2003

33

Phần 4

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4.1. Kết quả chăm sóc, nuôi dưỡng, vệ sinh và phòng bệnh cho gà

Trong quá trình thực tập tại trại gà gia công của ông Nguyễn Văn Tiến

thị trấn Trại Cau - huyện Đồng Hỷ - tỉnh Thái Nguyên, được sự giúp đỡ tận

tình của chủ trại. Cùng với sự cố gắng, nỗ lực của bản thân. Em đã học hỏi

được những kinh nghiệm quý báu và đạt được một số kết quả như sau:

4.1.1. Công tác phòng bệnh tại trại bằng vệ sinh sát trùng

- Quy trình khi ra vào trại: Trước cổng ra vào trại phương tiện giao

thông cần được phun sát trùng trước. Trước khi vào khu sản xuất lội ủng qua

thùng đựng dung dịch sát trùng mới đến khu sản xuất.

- Vệ sinh chuồng trại trong chăn nuôi: Hàng ngày vệ sinh máng ăn,

máng uống trước khi cho gà ăn. Sau mỗi buổi cho ăn quét dọn sạch sẽ khu

thức ăn, hiên hè, rèm lưới, cống rãnh. Hàng tháng cọ rửa và sát trung máng ăn

luân phiên, quét nước vôi nồng độ 20% và dung dịch xút 2% nền hiên tường

xung quanh nhà nuôi và bệ hố thoát nước, quét mạng nhện trần lưới. Định kỳ

phát quang cắt cỏ xung quanh chuồng nuôi 2 tuần 1 lần. Phun thuốc sát trùng

1tháng/2 lần trong chuồng nuôi và sân chơi.

Trộn kháng sinh vào thức ăn cho gà để phòng bệnh, một số kháng sinh

hay dùng trong trại như Amoxycol WS, MG-200, Enrofloxacin,…

Trong thời gian xảy ra dịch bệnh, ngày nào cũng phải phun sát trùng.

Phân gà sau 1 đợt nuôi sẽ được công ty đến lấy và dọn chuồng.

Đối với gà chết nếu do bệnh dịch nguy hiểm phải báo cáo chính quyền,

tiêu hủy theo hướng dẫn. Nếu chết do các bệnh thông thường nên rắc vôi sau

đó mới chôn gà.

Kết quả công tác phòng bệnh được trình bày ở bảng 4.1

34

Bảng 4.1. Kết quả vệ sinh sát trùng

Tổng số Số lượng Thực hiện lần thực Tỷ lệ Nội dung công việc thực hiện được hiện trong (%) (lần/tuần) (lần/tuần) 15 tuần

Vệ sinh quét dọn 7 105 100 7 chuồng trại

Vệ sinh máng ăn, 14 210 100 14 máng uống

Sát trùng trước khi 7 105 100 7 vào trại

Xử lý gà chết 3 33 100 3

Đảo trấu ,thêm trấu 1 15 100 1

Phun sát trùng định

kỳ xung quanh 1 15 100 1

chuồng trại

Rắc vôi và quét 1 15 100 1 đường đi

Tổng 34 34 498 100

V

Qua bảng 4.1 cho thấy công tác vệ sinh sát trùng tại trại được thực hiện

100 %, và công tác vệ sinh máng ăn, máng uống được thực hiện nhiều nhất

với số lượng là 14 lần/tuần. Em đã tham gia vệ sinh quét dọn chuồng trại 168

lần, đảo trấu và thêm trấu 15 lần, phun sát trùng định kỳ 15 lần và rắc vôi,

quét vôi đường đi 15 lần, xử lý 121 con gà chết và trong thời gian thực tập là

15 tuần em đã tham gia vào thực hiện công tác vệ sinh sát trùng với tất cả các

công việc tổng 498 lần và đạt tỷ lệ là 100%.

35

4.1.2. Thực hiện làm vắc xin tại trại

Trong chăn nuôi quy tắc phòng bệnh hơn chữa bệnh. Chính vì vậy việc

phòng bệnh cho gà được thực hiện nghiêm túc và đúng quy trình kỹ thuật.

Thực tế trong quá trình chăn nuôi với thời gian 105 ngày tuổi chúng em

thường phòng vắc xin cho đàn gia cầm chủ động để đảm bảo an toàn dịch

bệnh. Trước khi sử dụng vắc xin không pha thuốc kháng sinh vào nước uống

trong vòng từ 8 - 12h, pha vắc xin phải đúng theo tỷ lệ quy định. Chúng em

đã làm lịch phòng và sử dụng các loại vắc xin cho đàn gà như sau:

Bảng 4.2. Kết quả phòng bệnh cho gà bằng vắc xin

Loại vắc xin

Phòng bệnh

Ngày tuổi

Số con tiêm phòng (con)

An toàn (con)

Tỷ lệ an toàn (%)

1

Marek

Marek

4000

4000

100

3

Scovac

Cầu trùng

4000

3765

94,12

5

Ibird + CevacBIL

4000

4000

100

Hipra SHS

4000

4000

100

10

IB biến chủng + Newcastle,viêm phế quản truyền nhiễm Hội chứng sưng đầu do virus (APV)

Gumboro + Pox

Gumboro + đậu

4000

4000

100

12

CevacBIL

4000

4000

100

15

Newcastle, viêm phế quản truyền nhiễm

Gumboro

Gumboro

4000

4000

100

20

ILT

4000

4000

100

28

Viêm thanh khí quản truyền nhiễm

Cúm gia cầm

Cúm gia cầm

4000

4000

100

30

News

Newcastle

4000

4000

100

35

Hipra SHS

4000

4000

100

50

Hội chứng sưng đầu do virus (APV)

Avinew

Newcastle

4000

4000

100

70

36

Qua bảng 4.2 cho thấy tỷ lệ an toàn khi phòng bệnh cho gà bằng vắc

xin là khá cao. Tuy nhiên tỷ lệ an toàn của bệnh cầu trùng vẫn chưa cao. Với

vắc xin marek phòng bệnh marek được tiêm vào 1 ngày tuổi tại trại trước khi

đưa về cơ sở nuôi với số lượng tiêm là 4000 con, vắc xin Ibird, cevacBIL

phòng bệnh IB biến chủng, Newcastle, viêm phế quản truyền nhiễm với số

lượng tiêm là 4000 con, vắc xin Hipra SHS phòng bênh hội chứng sưng đầu

do virus với số lượng 4000 con, vắc xin gumboro, pox phòng bệnh gumboro,

đậu với số lượng tiêm là 4000 con, vắc xin ILT phòng bệnh viêm thanh khí

quản truyền nhiễm với số lượng tiêm 4000 con, vắc xin cúm gia cầm phòng

bệnh cúm gia cầm với số lượng tiêm là 4000 con, tỷ lệ an toàn khi tiêm vắc

xin đều đạt kết quả là 100%, chỉ có vắc xin scovac phòng bệnh cầu trùng đạt

tỷ lệ chưa tuyệt đối (94,12%).

Như vậy bảng 4.2 cho thấy được rằng tuy trại đã áp dụng mọi biện

pháp để ngăn chặn mầm bệnh nhưng bệnh vẫn có thể xảy ra cụ thể trên bảng

số liệu tiêm bệnh cầu trùng vẫn không đạt an toàn 100%, có thể trong quá

trình nhỏ vắc xin cho gà đã không cẩn thận nhỏ ra ngoài nên gà không có

kháng thể để chống lại do vậy gà vẫn có thể mắc bình thường. Còn các bệnh

còn lại đều đạt tỷ lệ an toàn cao.

4.2. Tỷ lệ nuôi sống của gà qua các tuần tuổi

Để đánh giá được tỷ lệ nuôi sống của gà qua các tháng tuổi chúng em

tiến hành theo dõi trên tổng đàn gà 4000 con tại trại qua 15 tuần tuổi. Kết quả

thu được thể hiện qua bảng 4.3

37

Bảng 4.3. Tỷ lệ nuôi sống của gà tại trại

Tổng Số con Trong tuần Cộng dồn Tuần

Tuổi đàn (%) chết (%)

Ss 4000 100,00 0 100,00

1 4000 99,12 35 99,12

2 3965 99,75 10 98,87

3 3955 99,87 5 98,74

4 3950 99,75 10 98,49

5 3940 99,62 15 98,12

6 3925 99,90 4 98,02

7 3921 99,72 11 97,74

8 3810 99,70 12 97,44

9 3898 100,00 0 97,44

10 3898 100,00 0 97,44

11 3898 99,92 3 97,36

12 3895 99,87 5 97,23

13 3890 99,72 11 96,95

14 3879 100 0 96,95

15 3879 100 0 96,95

Vì giống gà em chăm sóc, nuôi dưỡng là gà Ri thời gian nuôi kéo dài

lên đến 15 tuần mới xuất bán, nên trong thời gian thực tập tại trại em chỉ trực

tiếp nuôi và theo dõi hoàn chỉnh được 1 đàn thời gian nuôi kéo dài từ đầu

xuân đến đầu hạ (tháng 2 - 5).

Qua bảng 4.3 cho thấy tỷ lệ nuôi sống của đàn gà Ri khá cao. Tính cộng

dồn khi kết thúc thí nghiệm ở 15 tuần tuổi tỷ lệ nuôi sống đạt 96,95 %.

38

Qua thực tế chăn nuôi chúng em thấy tỷ lệ chết là 3,05 %. Tỷ lệ gà chết

trong giai đoạn sơ sinh đến 2 tuần tuổi là khá cao, một số nguyên nhân chính

là do khâu chọn lọc loại không triệt để những con gà yếu ở giai đoạn đầu và

đến giai đoạn sau mới chết. Những con gà yếu không bị loại này có thể là

nguồn mang trùng hoặc dễ mắc bệnh lây cho cả đàn, chúng sử dụng thức ăn

làm tăng FCR nhưng giảm hiệu quả kinh tế. Ở giai đoạn 4 - 5 tuần tuổi tỷ lệ

chết khá cao, do thời điểm đó gà mắc bệnh cầu trùng nên chết rất nhiều. Đối

với giai đoạn 7 - 8 tuần tuổi gà chết khá nhiều do mắc bệnh CRD. Giai đoạn

tuần 11 - 13 gà chết do mắc bệnh viêm ruột hoại tử.

4.3. Công tác chẩn đoán và điều trị bệnh ở gà

Trong chăn nuôi, bệnh tật có ảnh hưởng rất lớn tới quá trình chăn nuôi,

chúng làm giảm số lượng đàn gà, chất lượng đàn gà, thức ăn và chi phí thuốc

điều trị…

Trong quá trình chăm sóc nuôi, dưỡng tại trại. Khi theo dõi đàn gà phát

hiện những con có những biểu triệu chứng của bệnh chúng em tiến hành nhặt

ra một ô riêng để chẩn đoán và điều trị. Tại trại chúng em thường gặp một số

bệnh như CRD, cầu trùng, viêm ruột hoại tử.

Qua quá trình quan sát em thấy gà có những biểu hiện điển hình như sau:

Bệnh cầu trùng:

+ Gà tất cả các lứa tuổi đều có thể mắc cầu trùng, nhưng tuổi hay bị

bệnh nhất là 2 - 3 tuần tuổi với các triệu chứng điển hình là: Gà bỏ ăn, khát

nước, lông xù, thường ngồi trên hai chân, đi lại loạng choạng, phân loãng, ban

đầu có màu xanh, sau đó có màu nâu rồi tiêu chảy, phân dính quanh hậu môn,

phân lẫn máu hay toàn máu tươi và chết.

Bệnh CRD:

+ Gà thịt: xảy ra giữa 3 - 8 tuần tuổi với triệu chứng nặng hơn so với các

loại gà khác do kết hợp với các mầm bệnh khác (thường với E.Coli). Vì vậy trên

39

gà thịt còn gọi là thể kết hợp E.coli - CRD (C - CRD) với các triệu chứng: âm

ran khí quản, chảy nước mũi, ho, sưng mặt, sưng mí mắt, viêm kết mạc.

Bệnh viêm ruột hoại tử:

+ Chủ yếu xảy ra ở gà trên 3 tuần tuổi, gà giảm ăn, chậm chạp, gà tiêu

chảy phân nước có nhiều bọt, xuất hiện phân sống, có khi màu nâu đen, chứa

dịch nhầy. Gà nằm gục đầu, xã cánh, không thể đi lại được.

4.4. Kết quả điều trị gà mắc các bệnh thông thường

4.4.1. Tình hình mắc bệnh của đàn gà tại cơ sở

Trong quá trình chăn nuôi, có rất nhiều yếu tố gây ảnh hưởng xấu tới kết

quả chăn nuôi như mùa vụ, môi trường nuôi, dịch bệnh, chế độ chăm sóc làm

ảnh hưởng tới sức sản xuất và hiệu quả kinh tế.

Bảng 4.4. Tỷ lệ mắc bệnh của gà

Số gà theo dõi Số gà mắc bệnh Tỷ lệ STT Tên bệnh (con) (con) (%)

Cầu trùng 1 4000 100 4,00

CRD 2 4000 250 6,25

Viêm ruột hoại tử 3 4000 90 2,25

Qua bảng 4.4 cho thấy tỷ lệ mắc các bệnh trên đàn gà là không cao. Trong

đó bệnh cầu trùng có tỷ lệ mắc bệnh là 4,00% với 100 con nguyên nhân là do

nền thời tiết nóng ẩm, nền chuống ẩm thấp. Bệnh CRD với tỷ lệ mắc bệnh là

6,25% với số lượng mắc bênh là 250 con, nguyên nhân chủ yếu do thời tiết thay

đổi đột ngột và chế độ dinh dưỡng cho gà kém. Bệnh viêm ruột hoại tử với tỷ lệ

mắc bệnh là 2.25% với số gà mắc bệnh là 90 con nguyên nhân gây nên bệnh là

do mật độ nuôi nhốt chật hẹp, bên cạnh đó quá trình vệ sinh sát trùng vẫn còn

chưa triệt để nên tạo điều kiện cho mầm bệnh phát triển nên gà dễ bị mắc bệnh.

40

4.4.2. Hiệu quả điều trị bệnh trên gà tại cơ sở

Khi theo dõi ở đàn gà, nếu phát hiện gà có những biểu hiện, triệu chứng

bệnh, chúng em thường tiến hành điều trị toàn đàn theo phác đồ như sau:

Bảng 4.5. Phác đồ điều trị bệnh cho gà

STT Tên bệnh Tên thuốc Liều lượng Cách dùng

1 Cầu trùng Coccivet 1ml/20kgTT Cho uống

FlorfenCare + 2 CRD 1g/4 lít nước Cho uống DoxyCare

3 Viêm ruột hoại tử Moxcolis 1g/2 lít nước Cho uống

Trong quá trình điều trị, nhờ chẩn đoán bệnh chính xác và điều trị bệnh

kịp thời nên kết quả điều trị bệnh trên đàn gà đạt kết quả tốt. Sau 3 - 5 ngày điều

trị, đàn gà có những chuyển biến tích cực. Ăn, uống vận động dần trở lại bình

thường. Sau 5 ngày, hầu hết biểu hiện của bệnh trên đàn gà không đáng kể. Kết

quả điều trị bệnh được thể hiện qua bảng 4.6.

Bảng 4.6. Kết quả điều trị bệnh cho gà

Số gà điều trị Thời gian điều Số gà khỏi Tỷ lệ khỏi STT Tên bệnh bệnh (con) trị (ngày) bệnh (con) bệnh (%)

100 5 77 77,00 Cầu trùng 1

250 5 225 90,00 CRD 2

Viêm ruột 90 5 79 87,77 3 hoại tử

Qua bảng 4.6 cho thấy hiệu quả điều trị bệnh trên đàn gà đạt kết quả khá

cao ở CRD là 90,00%, cầu trùng là 77,00%, viêm ruột hoại tử 87,77%.

Việc phát hiện sớm và sử dụng thuốc có hiệu quả trong điều trị khi gà

nhiễm bệnh cho kết quả tốt. Những con yếu thường bị những con khỏe tranh

41

thức ăn nước uống nên cơ thể yếu dẫn tới giảm sức đề kháng của gà nên kết

quả điều trị kém và dẫn tới gà bị chết.

Trong chăn nuôi việc phòng và trị bệnh cho đàn gà là rất quan trọng

trong quá trình chăn nuôi. Vì vậy, việc chăm sóc tốt cho đàn gà sẽ hạn chế

nhưng ảnh hưởng xấu tới cơ thể gà nhằm hạn chế thấp nhất dịch bệnh và chi

phí thuốc thuốc điều trị để làm giảm chi phí cho một đơn vị sản phẩm để tăng

hiệu quả kinh tế.

Bảng 4.7. Bảng hoạch toán chi phí chăn nuôi đàn gà tại cơ sở

Đơn vị: VNĐ

STT Nội dung Thành tiền

1.Mọi chi phí trong chăn nuôi

1.1 Con giống 40.000.000

1.2 Thức ăn:

Tiêu tốn hết 1040 bao cám (25kg/bao). Vậy tiêu thụ 286.000.000 1 hết 26 tấn cám với giá 11.000 đồng/kg

1.3 Thuốc thú y 36.800.000

Chi phí khác: điện, nước, trấu, lương công nhân 51.000.000

Tổng chi phí: 413.800.000

2. Mọi doang thu trong khi nuôi

2.1 Bán gà: 2 Tổng bán được 8,533 tấn gà/3879 con với giá 59000 503.477.000

đồng/kg

3 3. Lãi suất 89.677.000

Qua bảng 4.7 cho thấy chi phí cho chăn nuôi cho 4000 gà hết

413.800.000 đồng và thu được 503.477.000trừ hết các khoản chi phí thì cơ sở

thu về được 89.677.000 đồng.

42

4.5. Kết quả thực hiện công tác khác tại cơ sở

Ngoài công tác chăm sóc trực tiếp nuôi dưỡng gà em còn tham gia một

số công tác khác như:

Bảng 4.8. Kết quả các cộng việc khác

STT Nội dung công việc Số lượt

Đi hỗ trợ các trại khác làm vắc xin 1 50

Phát quang cỏ, vệ sinh xung quanh trại 2 20

Trồng một số cây ăn quả, cây bóng mát 3 5

Ngoài công việc hỗ trợ các anh chị ở trại em còn được học thêm nhiều

về các công tác hỗ trợ các trại khác làm vắc xin hạn chế xảy ra dịch bệnh giữa

các trại quanh khu vực thị trấn Trại Cau và một số công việc khác như:

+ Làm khuôn giàn mướp, trồng mướp, trồng thêm nhiều cây xanh để che

nắng cho gà mỗi khi trời nắng

+ Phát quang cây cỏ dại, vệ sinh xung quanh trại để giảm được các vật

chủ trung gian truyền bệnh.

+ Rào bao quanh khu vực chuồng trại để ngăn chặn được dịch bệnh lây

lan, an toàn dịch bệnh.

Trong quá trình thực tập tại cơ sở nhờ những hoạt động này, đã giúp

chúng em có cơ hội học hỏi, trau dồi và tiếp thu được nhiều kiến thức, nâng

cao năng lực bản thân, giúp em tự tin hơn về tay nghề của mình.

43

Phần 5

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

5.1. Kết luận

Qua thời gian thực tập tại cơ sở, thực hiện quy chăm sóc, nuôi dưỡng

phòng và điều trị bệnh với đối tượng là gà Ri theo phương thức nuôi nhốt

chuồng hở em rút ra một số kết luận như sau:

+ Nắm rõ được các công tác chuẩn bị chuồng trại và kiểm tra gà con

khi nhập chuồng và thực hiện nghiêm ngặt (ánh sáng, độ ẩm, nhiệt độ phải

phù hợp).

+ Thức ăn cho gà được cung cấp đầy đủ và mỗi giai đoạn có chế độ

dinh dưỡng riêng nên nâng cao được khả năng nuôi sống.

+ Kết quả về vệ sinh sát trùng tại cơ sở thực hiện đạt 100% (vệ sinh sát

trùng chuồng trại, phun sát trùng xung quanh chuồng trại, vệ sinh máng ăn

uống....)

+ Kết quả phòng bệnh bằng vắc xin cho gà đạt tỷ lệ 100%.

+ Tỷ lệ nuôi sống của đàn gà tại trại tỷ lệ nuôi sống của gà Ri khá cao.

Tính cộng dồn đến tuần thứ 15 có tỷ lệ sống là 97,41%.

+ Tình hình gà mắc bệnh ở trại qua tháng em thực tập có 1 số bệnh điển

hình như: Bệnh cầu trùng, bệnh CRD, bệnh tiêu chảy do E.coli.

+ Kết quả điều trị bệnh cho gà. Trong quá trình điều trị bệnh cho gà

nhờ chẩn đoán chính xác bệnh và điều trị kịp thời nên kết quả điều trị đạt kết

quả tốt, sau 3 - 5 ngày được điều trị gà có những biểu hiện tích cực

+ Ngoài ra trong quá trình thực tập tại cơ sở em có thực hiện 1 số công

tác khác như: Rào xung quanh chuồng trại, sửa chữa bóng điện bị hỏng, sửa

chữa máng uống tự động....

44

+ Chú ý cân gà thường xuyên mỗi tuần 1 lần và tính toán số lượng thức

ăn chăn gà để theo dõi tỷ lệ tăng trọng của gà và điều chỉnh khối lượng thức

ăn hợp lý.

5.2. Đề nghị

Tiếp tục thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng gà Ri Lai và làm thí

nghiệm tại cơ sở, thời điểm khác nhau trong năm, với số gà lớn hơn để có

những kết luận chính xác hơn. Tiếp tục nghiên cứu thêm về bệnh trên gà cũng

như đưa các biện pháp phòng trị thích hợp. Tìm ra các loại thuốc mới có tác

dụng cao đối với bệnh để hạn chế được những tác hại của bệnh gây ra đối với

đàn gà nâng cao kinh tế hiệu quả.

45

TÀI LIỆU THAM KHẢO

I. Tài liệu Tiếng Việt

1. Brandsch H. và Biilchel H. (1978), Cơ sở của sự nhân giống và di truyền

giống ở gia cầm, Nguyễn Chí Bảo dịch, Nxb Khoa học và Kỹ thuật, tr 7.

2. Nguyễn Lân Dũng và Cs (1995), Một số phương pháp nghiên cứu vi sinh

vật, Tập I. Nxb Nông nghiệp Hà Nội.

3. Trần Văn Hòa, Vương Trung Sơn, Đặng Văn Khiêm (2001), 101 câu hỏi

thường gặp trong sản xuất nông nghiệp, Nxb Trẻ.

4. Hội chăn nuôi Việt Nam (2001), Cẩm nang chăn nuôi gia cầm, tập II, Nxb

Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 9 - 15.

5. Đào Văn Khanh (2000), Nghiên cứu năng suất thịt gà broiler giống Tam

Hoàng 882 nuôi ở các mùa vụ khác nhau của vùng sinh thái Thái

Nguyên, Kết quả nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ nhân

dịp kỷ niệm 30 năm thành lập trường Đại học Nông Lâm- Đại học Thái

Nguyên, Nxb Nông Nghiệp, tr 40 - 45.

6. Kolapxki N.A. Paskin P.I. (1980), Bệnh cầu trùng ở gia súc gia cầm,

(Nguyễn Đình Chí dịch), Nxb Nông Nghiệp.

7. Nguyễn Thị Kim Lan, Nguyễn Văn Quang, Nguyễn Quang Tuyên (2008),

Giáo trình ký sinh trùng thú y, Nxb Nông Nghiệp

8. Nguyễn Sĩ Lăng, Phan Địch Lân (2002), Bệnh ký sinh trùng ở gia cầm,

Nxb Nông Nghiệp.

9. Phạm Sỹ Lăng, Trương Văn Dung, (2002), Một số bệnh mới do vi khuẩn và

Mycoplasma ở gia súc, gia cầm nhập nội và biện pháp phòng trị, Nxb

Nông nghiệp tr 109 - 129.

10. Phan Cự Nhân, Trần Đình Miên, (1998), Di truyền học tập tính, Nxb Giáo

dục Hà Nội, tr 60.

46

11. Orlow P.G.S. (1975), Bệnh gia cầm, Nxb Khoa học kỹ thuật Nông Nghiệp.

12. Dương Công Thuận (1995), Phòng và trị bệnh ký sinh trùng cho gà nuôi

gia đình, Nxb Nông Nghiệp, Hà Nội.

13. Trần Thanh Vân, Nguyễn Duy Hoan, Nguyễn Thị Thúy Mỵ (2015), Giáo

trình chăn nuôi gia cầm, Nxb Nông Nghiệp Hà Nội.

14. Nguyễn Hữu Vũ, Nguyễn Đức Lưu (2001), Bệnh gia cầm, Nxb Nông

nghiệp, Hà Nội.

II. Tài liệu tiếng Anh

15. Chambers J. R. (1990), Genetic of growth and meat production in

chicken, Poultry breeding and genetics, R. D. Cawforded Elsevier

Amsterdam - Holland, pp. 627 - 628.

16. Kojima A., Takahashi T., Kijima M., Ogikubo Y., Nishimura M., Nishimura

S., Harasawa R., Tamura Y., (1997), Detection of Mycoplasma in avian

live virus vắc xin by polymerase chain reaction. Biologicals, 25: 365 - 371.

17. Siegel P. B. and Dumington (1978), Selection for growth in chicken, C. R.

Rit Poultry Biol. 1, pp. 1 – 24.

18. Winkler G., Weingberg M. D. (2002), More aboutother food borne

illnesses, Healthgrades.

19. Woese C.R., Maniloff J. Zablen L.B. (1980) Phylogenetic analysis of the

mycoplasma. Proc. Natl. Acad. Sci USA.77: 494 - 498.

20. Yogev D., Levisohn S., Kleven S.H., Halachmi D., Razin S. (1988).

Ribosomeal RNA gene probes to detect intraspecies heterogeneity in

Mycoplasma gallisepticum and M. Synoviae. Avian Dis. 32: 220-231.

III. Tài liệu Internet

21. Trường Giang (2008), Bệnh hô hấp mãn tính (CRD) ở gà

(http://agriviet.com/home/showthread.php?t=2665).

47

22. Hoàng Hà (2002), Chủ động phòng trị bệnh cho gà thả vườn

(http://chonongnghiep.com/forum.aspx?g=posts&t=14 cập nhập ngày

25/6/200906).

23. Hoàng Huy Liệu (2002), Bệnh viêm đường hô hấp mãn tính ở gà

(http:/www.vinhphucnet.vn/TTKHCN/TTCN/7/23/20/9/14523.doc).

24. The ponltry new (2018), The digestive system of chicken,

(https://www.thepoultrynews.com/2018/01/28/the-digestive-system-of-

chicken/

25. Trần Thị Thủy (2017), 25 căn bệnh phổ biến của gà, cách nhận biết,

phòng và điều trị (http://nhachannuoi.vn/25-can-benh-pho-bien-cua-

ga-cach-nhan-biet-phong-va-dieu-tri/)

MỘT SỐ HÌNH ẢNH TRONG QUÁ TRÌNH THỰC TẬP

Ảnh 1: Tiêm vắc xin newcastle Ảnh 2: Chủng đậu cho gà

cho gà

Ảnh 3: Cà mỏ cho gà Ảnh 4: Gà bị mắc bệnh cầu trùng

Ảnh 5: Thuốc FlorenCafe Ảnh 6: Bệnh Newcastle trên gà

điều trị bệnh CRD

Ảnh 7: Thuốc DoxyCare điều trị Ảnh 8: Thuốc coccivet

CRD