ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM ---------------------------

NGUYỄN MINH CÔNG

Tên chuyên đề:

THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG, PHÒNG TRỊ BỆNH CHO ĐÀN LỢN NÁI SINH SẢN TẠI TRẠI LỢN LÊ DUY HIẾU, XÃ CÁT NÊ, HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN LIÊN KẾT VỚI CÔNG TY CỔ PHẦN DINH DƯỠNG HẢI THỊNH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chính quy

Hệ đào tạo: Chuyên ngành: Chăn nuôi Thú y Chăn nuôi Thú y Khoa: 2015 - 2019 Khóa học:

Thái Nguyên - năm 2019

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM ---------------------------

NGUYỄN MINH CÔNG

Tên chuyên đề:

THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG, PHÒNG TRỊ BỆNH CHO ĐÀN LỢN NÁI SINH SẢN TẠI TRẠI LỢN LÊ DUY HIẾU, XÃ CÁT NÊ, HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN LIÊN KẾT VỚI CÔNG TY CỔ PHẦN DINH DƯỠNG HẢI THỊNH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

CNTY 47 N02 Chăn nuôi Thú y 2015 - 2019

Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Chăn nuôi Thú y Lớp: Khoa: Khóa học: Giảng viên hướng dẫn: TS. Trần Thị Hoan

Thái Nguyên - năm 2019

i

Trong quá trình hướng tới thành công của mỗi con người luôn có sự

LỜI CẢM ƠN

giúp đỡ, hỗ trợ của những người xung quanh. Và để có được kết quả của ngày

hôm nay ngoài sự cố gắng nỗ lực của chính bản thân, em đã nhận được sự chỉ

bảo giúp đỡ của các thầy cô giáo khoa Chăn nuôi Thú y, trường Đại học

Nông Lâm Thái Nguyên cũng như sự giúp đỡ nhiệt tình của trại chăn nuôi Lê

Duy Hiếu, công ty cổ phần dinh dưỡng Hải Thịnh. Vì vậy em xin gửi lời cảm

ơn sâu sắc nhất tới:

Ban giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, ban chủ

nhiệm khoa cùng quý thầy cô Khoa Chăn nuôi Thú y đã tận tình truyền đạt

vốn kiến thức quý báu cho chúng em trong suốt quá trình học tập tại

trường. Xin chân thành cảm ơn trại chăn nuôi Lê Duy Hiếu xã Cát Nê, huyện

Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên, công ty cổ phần dinh dưỡng Hải Thịnh đã tạo điều

kiện giúp đỡ và chỉ bảo nhiều kiến thức thực tế, giúp em hoàn thành tốt quá

trình thực tập tại trại.

Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo TS. Trần Thị

Hoan đã luôn động viên, giúp đỡ và hướng dẫn chỉ bảo em tận tình trong

suốt quá trình thực hiện và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này.

Và cuối cùng em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới gia đình, bạn bè,

những người luôn ở bên và ủng hộ em, giúp đỡ em hoàn thành tốt nhất khóa

luận tốt nghiệp.

Thái Nguyên, ngày 22 tháng 5 năm 2019

Sinh viên

Nguyễn Minh Công

ii

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN .................................................................................................... i

MỤC LỤC ......................................................................................................... ii

DANH MỤC CÁC BẢNG............................................................................... iv

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT .................................................................. v

Phần 1. MỞ ĐẦU ............................................................................................ 1

1.1. Đặt vấn đề................................................................................................... 1

1.2. Mục đích và yêu cầu của chuyên đề .......................................................... 2

1.2.1. Mục đích của chuyên đề .......................................................................... 2

1.2.2. Yêu cầu của chuyên đề ............................................................................ 2

Phần 2. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU ......................................................... 3

2.1. Điều kiện cơ sở nơi thực tập ...................................................................... 3

2.1.1. Điều kiện của cơ sở ................................................................................. 3

2.2. Cơ sở tài liệu liên quan đến chuyên đề ...................................................... 6

2.2.1. Đặc điểm sinh lý, sinh dục của lợn nái ................................................... 6

2.2.2. Những hiểu biết về quy trình nuôi dưỡng và chăm sóc lợn nái sinh sản ..... 10

2.2.3. Những hiểu biết về phòng, trị bệnh cho vật nuôi .................................. 19

2.2.4. Một số bệnh thường gặp trên lợn nái sinh sản ...................................... 23

2.3. Tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước ...................................... 34

2.3.1. Các nghiên cứu trong nước ................................................................... 34

2.3.2. Tình hình nghiên cứu ngoài nước ......................................................... 36

Phần 3. ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH ..... 37

3.1. Đối tượng, địa điểm và thời gian thực hiện ............................................. 37

3.2. Nội dung thực hiện ................................................................................... 37

3.3. Các chỉ tiêu và phương pháp thực hiện .................................................... 37

3.3.1. Các chỉ tiêu thực hiện ............................................................................ 37

3.3.2. Phương pháp thực hiện.......................................................................... 37

iii

3.3.3. Phương pháp xác định các chỉ tiêu theo dõi ......................................... 38

Phần 4. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN......................................................... 39

4.1. Tình hình chăn nuôi lợn tại trang trại Lê Duy Hiếu xã Cát Nê, huyện Đại

Từ, tỉnh Thái Nguyên qua 2 năm từ năm 2018 đến tháng 5/2019 .................. 39

4.2. Kết quả thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng cho đàn lợn tại trang trại ...... 39

4.2.1. Kết quả quá trình chăm sóc và nuôi dưỡng đàn lợn nái sinh sản tại trại ...... 39

4.2.2. Thực hiện chăm sóc, nuôi dưỡng lợn con ............................................. 42

4.3. Kết quả thực hiện quy trình vệ sinh phòng bệnh cho đàn lợn tại trang trại ..... 44

4.3.1. Kết quả thực hiện các biện pháp vệ sinh phòng bệnh ........................... 44

4.3.2. Kết quả phòng bệnh bằng thuốc và vắc xin cho lợn nái và lợn con ..... 45

4.4. Kết quả chẩn đoán và điều trị bệnh cho lợn nái sinh sản và lợn con theo

mẹ tại trại lợn Lê Duy Hiếu ............................................................................ 47

4.4.1. Tình hình mắc bệnh ở đàn lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ tại trại

lợn Lê Duy Hiếu .............................................................................................. 47

4.4.2. Kết quả điều trị bệnh trên lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ ............ 48

Phần 5. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ........................................................ 51

5.1. Kết luận .................................................................................................... 51

5.2. Kiến nghị .................................................................................................. 52

TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 53

PHỤ LỤC

iv

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1. Những biểu hiện khi lợn nái sắp đẻ ................................................ 12

Bảng 4.1. Quy mô chăn nuôi của trại Lê Duy Hiếu trong 2 năm gần đây

(2018 – T5/2019) ............................................................................ 39

Bảng 4.2. Số lượng lợn nái và lợn con theo mẹ trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng

tại trại trong thời gian tháng thực tập .............................................. 40

Bảng 4.3. Kết quả thực hiện thao tác đỡ đẻ cho lợn tại trang trại .................. 41

Bảng 4.4. Kết quả thực hiện các thao tác xử lý trên đàn lợn con ................... 43

Bảng 4.5. Lịch sát trùng trại lợn nái ................................................................ 45

Bảng 4.6. Kết quả tiêm thuốc và vắc xin phòng bệnh cho đàn lợn tại trang trại ........ 46

Bảng 4.7. Tình hình mắc bệnh trên đàn lợn nái sinh sản và lợn con theo

mẹ tại trại ............................................................................... 48

Bảng 4.8. Kết quả trực tiếp điều trị bệnh trên đàn nái sinh sản và lợn con theo

mẹ tại trại ........................................................................................ 49

v

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Cs.: Cộng sự

E. coli: Escherichia Coli

kg: Kilogram

LMLM: Lở mồm long móng

MMA: Metritis Mastitis Agalactia

ml: Mililit

mg: Miligram

Nxb: Nhà xuất bản

TT: Thể Trọng

Tr: Trang

1

Phần 1

MỞ ĐẦU

1.1. Đặt vấn đề

Trong những năm gần đây, chăn nuôi lợn đã chuyển từ phương thức

chăn nuôi nông hộ nhỏ lẻ sang chăn nuôi tập trung trang trại, từ đó đã giúp

cho ngành chăn nuôi lợn phát triển không ngừng cả về chất lượng và số

lượng. Để đạt hiệu quả kinh tế cao cần đẩy mạnh việc áp dụng các biện pháp

kỹ thuật vào cải thiện giống, thức ăn, kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng... Đặc

biệt chú trọng đến công tác giống, giống tốt thì vật nuôi tăng trọng nhanh, khả

năng hấp thụ thức ăn tốt, thích nghi và chống chịu bệnh cao.

Để ngành chăn nuôi lợn phát triển hơn nữa ở nước ta, một trong những

khâu quan trọng góp phần quyết định đến sự thành công trong ngành chăn

nuôi lợn là chăn nuôi lợn nái. Đặc biệt là trong việc chăn nuôi lợn nái ở nước

ta để có đàn con nuôi thịt sinh trưởng và phát triển tốt, cho tỷ lệ nạc cao, và

đây cũng chính là mắt xích quan trọng để tăng nhanh đàn lợn cả về số lượng

và chất lượng. Để cung cấp giống cho nhu cầu chăn nuôi của các trang trại thì

việc phát triển đàn lợn nái sinh sản cần đặc biệt được quan tâm. Tuy nhiên,

một trong những nguyên nhân làm hạn chế khả năng sinh sản của lợn nái

đang nuôi ở các trang trại hiện nay là bệnh còn xảy ra rất nhiều, do khả năng

thích nghi của những giống lợn nái ngoại với khí hậu nước ta còn kém, đặc

biệt là bệnh như: viêm tử cung, viêm vú, đẻ khó và bại liệt sau đẻ... Các bệnh

này do nhiều yếu tố như điều kiện vệ sinh, chăm sóc nuôi dưỡng kém, thức

ăn, nước uống không đảm bảo vệ sinh, do vi khuẩn, virus gây nên... Chính vì

vậy mà việc nghiên cứu các quy trình chăm sóc và tìm hiểu về những bệnh

thường gặp trên đàn lợn nái sinh sản là rất cần thiết.

Xuất phát từ tình hình thực tế trên, được sự đồng ý của Ban chủ nhiệm

khoa Chăn nuôi thú y - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, cùng với sự

2

giúp đỡ của giáo viên hướng dẫn và cơ sở thực tập chúng em thực hiện

chuyên đề: “Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng, phòng trị bệnh cho

đàn lợn nái sinh sản tại trại lợn Lê Duy Hiếu xã Cát Nê, huyện Đại Từ, tỉnh

Thái Nguyên liên kết với công ty cổ phần dinh dưỡng Hải Thịnh”.

1.2. Mục đích và yêu cầu của chuyên đề

1.2.1. Mục đích của chuyên đề

- Thực hiện quy trình chăm sóc lợn nái sinh sản.

- Biết cách phòng và trị một số bệnh hay xảy ra đối với lợn nái sinh sản.

1.2.2. Yêu cầu của chuyên đề

- Ðánh giá được tình hình chăn nuôi lợn tại trại Lê Duy Hiếu, xã Cát

Nê, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.

- Áp dụng được quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng cho đàn lợn nái nuôi

tại trại Lê Duy Hiếu, xã Cát Nê, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.

- Xác định được tình hình nhiễm bệnh trên đàn nái sinh sản hiệu quả

của phác đồ điều trị bệnh.

3

Phần 2

TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

2.1. Điều kiện cơ sở nơi thực tập

2.1.1. Điều kiện của cơ sở

2.1.1.1. Vị trí địa lý

Trang trại chăn nuôi Lê Duy Hiếu nằm tại xã Cát Nê thuộc huyện Đại

Từ, tỉnh Thái Nguyên. Xã nằm ở phía nam của huyện Đại Từ và dựa lưng vào

dãy Tam Đảo. Xã nằm cách hồ Núi Cốc không xa. Tuyến tỉnh lộ 261 kết nối

hai huyện Phổ Yên và Đại Từ đi qua địa bàn xã. Xã Cát Nê giáp với xã Ký

Phú ở phía tây và tây nam; phía nam giáp với xã Quân Chu, phía đông nam

giáp với thị trấn Quân Chu tất cả đều thuộc huyện Đại Từ. Xã Cát Nê có diện

tích là 2689,8 ha (26,9 km²) và dân số là 4.013 người, mật độ dân số là 149,2

người/km² (số liệu năm 2011). Trại bắt đầu hoạt động từ năm 2015 là trại tư

nhân và do anh Lê Duy Hiếu làm chủ trại.

2.1.1.2. Đặc điểm khí hậu

Cát Nê là một xã thuộc huyện Đại Từ, nằm ở tỉnh Thái Nguyên, trong

vùng chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa, một năm có bốn mùa rõ

rệt: Xuân, Hạ, Thu, Đông.

Nhiệt độ: Trại có nhiệt độ cao, chênh lệch nhiệt độ giữa mùa đông và

mùa hạ khá lớn. Nhiệt độ trung bình hàng năm là: 23 - 240C, nhiệt độ cao nhất

vào tháng 7 là 390C, nhiệt độ thấp nhất vào tháng 1 là 100C. Có nét đặc trưng

nóng ẩm, mưa nhiều về mùa hè, hanh khô và lạnh kéo dài về mùa đông.

Tổng số giờ nắng trung bình hàng năm khoảng: 1450 giờ

Lượng mưa trung bình hàng năm vào khoảng 1400-1700mm nhưng

lượng mưa phân bố không đều trong năm, phân thành hai mùa rõ rệt đó là

mùa mưa và mùa khô.

4

+ Mùa mưa: Từ tháng 4-tháng 10, lượng mưa chiếm từ 80 - 82% tổng

lượng mưa của cả năm. Lượng mưa bình quân là 75mm/tháng.

+ Mùa khô: Từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, mùa khô trùng với các

tháng có nhiệt độ thấp trong năm. Lượng mưa bình quân là 25mm/tháng.

Độ ẩm không khí ở trại tương đối cao, trung bình từ 83 - 85%, tháng cao

nhất là 88% (tập trung vào các tháng 3 và tháng 4), tháng thấp nhất là: 65%

(tập trung vào tháng 12).

- Chế độ gió mùa: hướng gió chủ đạo về mùa đông là Đông - Bắc, về

mùa hè là Đông – Nam, vận tốc gió trung bình năm là 2,4 m/s. Vận tốc gió

cực đại có thể xảy ra theo chu kỳ thời gian 5 năm là 25 m/s; 10 năm là 32 m/s;

2.1.1.3. Tình hình chăn nuôi, phòng và trị bệnh tại cơ sở

* Quá trình thành lập

Trại lợn Lê Duy Hiếu được thành lập năm 2015, trang trại có cán bộ kỹ

thuật của công ty cổ phần dinh dưỡng Hải Thịnh tư vấn kỹ thuật.

* Cơ cấu tổ chức của trang trại

Cơ cấu tổ chức gồm :

- Chủ trại: Là người làm chủ và điều hành công việc chung.

- 2 Công nhân: Trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc đàn lợn.

- Với đội ngũ công nhân trên, trại phân ra làm các chuồng khác nhau

như: chuồng nái, chuồng cai sữa và chuồng thịt. Mỗi chuồng đều thực hiện

công việc hàng ngày một cách nghiêm túc, đúng quy định của trại.

* Cơ sở vật chất của trang trại

Trang trại có tổng diện tích là 3ha, nằm trên địa bàn xã Cát Nê, có địa

hình chủ yếu là đồi núi nhưng đường giao thông đã được nâng cấp, thuận tiện

cho việc đi lại, vận chuyển.

Để đảm bảo công tác phát triển sản xuất chăn nuôi và sinh hoạt của

công nhân, trại được trang bị đầy đủ cơ sở vật chất kỹ thuật gồm:

5

Khu nhà điều hành, khu nhà ở công nhân, bếp ăn, các công trình phục

vụ cho công nhân và các hoạt động khác của trại.

Khu chăn nuôi có hàng rào bao bọc xung quanh và có cổng vào riêng.

Chuồng trại được quy hoạch, bố trí xây dựng phù hợp với hướng chăn nuôi

công nghiệp, hệ thống chuồng nuôi lồng, nền sàn bê tông cho lợn nái, lợn

đực, sàn nhựa cho lợn con cùng với hệ thống vòi nước tự động và máng ăn:

Trong khu chăn nuôi được quy hoạch bố trí xây dựng hệ thống chuồng

trại cho 100 nái: bao gồm 1 chuồng đẻ tiếp giáp với chuồng bầu có vách ngăn

tường bê tông, có 26 ô chia làm 2 dãy, 1 chuồng bầu có 85 ô chia làm 2 dãy.

Có 3 ô lợn đực giống, 2 chuồng thương phẩm có sức chứa nuôi 450 lợn thịt

+ Phòng tinh, kho cám, kho thuốc có trang thiết bị vật tư đầy đủ, kho

cám xây ở cuối trại cạnh chuồng nái. Có tủ lạnh đựng vắc xin và tủ đựng tinh

riêng, có tủ đựng thực phẩm phục vụ cho sinh hoạt ăn uống tại trại.

* Thuận lợi và khó khăn của trại

- Thuận lợi

+ Trại xây dựng cách xa khu dân cư, nên hạn chế được dịch bệnh và

không làm ảnh hưởng đến các hộ xung quanh.

+ Vị trí của trại được xây gần với trục đường giao thông chính.

+ Trại được xây theo mô hình công nghiệp, trang thiết bị còn mới, hiện

đại thuận lợi cho công tác chăn nuôi.

- Khó khăn

+ Trại đang trong quá trình hoàn thiện nên còn hạn chế về quy mô và

các trang thiết bị.

+ Giá thức ăn chăn nuôi cao, giá lợn trên thị trường gần đây liên tục

giảm mạnh gây ảnh hưởng khá lớn tới hoạt động chăn nuôi của trang trại.

6

2.2. Cơ sở tài liệu liên quan đến chuyên đề

2.2.1. Đặc điểm sinh lý, sinh dục của lợn nái

2.2.1.1. Sự thành thục về tính và thể vóc

* Sự thành thục về tính

Tuổi thành thục về tính là: tuổi con vật bắt đầu có phản xạ sinh dục và

khả năng sinh sản. Khi gia súc đã hoàn thiện về tính, bộ máy sinh dục đã phát

triển hoàn thiện. Dưới tác dụng của thần kinh và nội tiết con vật bắt đầu có

những phản xạ về sinh dục. Con cái có hiện tượng động dục, con đực có phản

xạ giao phối.

Tuy nhiên lần động dục này chỉ là báo hiệu cho khả năng có thể sinh

sản của lợn cái.

* Biểu hiện của lợn cái khi thành thục về tính:

- Cơ thể đã phát triển đầy đủ, bộ máy sinh dục tương đối hoàn thiện,

con cái xuất hiện chu kỳ động dục lần đầu, con đực sinh tinh. Lúc này, tinh

trùng và trứng gặp nhau có khả năng thụ thai.

- Xuất hiện các đặc điểm sinh dục thứ cấp: bẹ vú phát triển và lộ rõ hai

hàng vú, âm hộ to lên hồng hào.

- Xuất hiện các phản xạ sinh dục: lợn có biểu hiện nhảy lên nhau, con

cái động dục, con đực có phản xạ giao phối.

- Thời điểm thành thục về tính: lợn cái bắt đầu khoảng 6 tháng tuổi (từ

4 - 8 tháng tuổi).

Các giống gia súc khác nhau thời gian thành thục về tính là khác nhau,

ở lợn nội thường từ 4 - 5 tháng (120 - 150 ngày), lợn ngoại 6 - 7 tháng (180 -

210 ngày).

* Các yếu tố ảnh hưởng tới sự thành thục về tính

Tuổi thành thục về tính phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: giống, di

truyền, thời tiết, khí hậu, mùa vụ, điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng…

7

+ Các yếu tố di truyền

Các giống khác nhau thì có tuổi thành thục về tính khác nhau. Thời

điểm rụng trứng lần đầu tiên xảy ra vào lúc 3 - 4 tháng tuổi đối với các giống

lợn thành thục sớm (lợn nội và một số giống lợn Trung Quốc) và 6-7 tháng

tuổi đối với hầu hết các giống lợn phổ biến ở các nước phát triển. Lợn lai F1

bắt đầu động dục lúc 6 tháng tuổi, khi khối lượng cơ thể đạt 50-55 kg. Lợn

ngoại động dục lần đầu muộn hơn so với lợn lai vào lúc 6-7 tháng tuổi, khi

lợn có khối lượng 65-68 kg. Còn đối với lợn nội tuổi thành thục về tính từ 4 -

5 tháng tuổi.

+ Các yếu tố ngoại cảnh

Bên cạnh yếu tố di truyền, các yếu tố ngoại cảnh như chế độ chăm sóc,

nuôi dưỡng, mùa vụ, khí hậu, nhiệt độ... tất cả đều có ảnh hưởng tới sự thành

thục của lợn nái.

* Chế độ chăm sóc nuôi dưỡng: Ảnh hưởng rất lớn đến tuổi thành thục về

tính của lợn cái. Thường những lợn được chăm sóc và nuôi dưỡng tốt thì tuổi

thành thục về tính sớm hơn những lợn nuôi trong điều kiện dinh dưỡng kém.

Nhu cầu dinh dưỡng đối với lợn cái hậu bị cần chú ý đến cách thức

nuôi dưỡng. Cho ăn tự do đến khi khối lượng đạt 80 - 90 kg, sau đó cho ăn

hạn chế đến lúc phối giống (chu kỳ động dục thứ 2 hoặc thứ 3) 2 kg/ ngày

(14% protein thô). Điều chỉnh mức ăn hợp lý để khối lượng đạt 120 - 140 kg

ở chu kỳ động dục thứ 3 và được phối giống. Trước phối giống 14 ngày, cho

ăn chế độ kích dục, tăng từ từ lượng thức ăn (1 - 2,5 kg), bổ sung thêm

khoáng và chất điện giải sẽ kích thích lợn cái ăn nhiều hơn và tăng số trứng

rụng từ 2 -2,1 trứng/lợn cái.

Trong quá trình nuôi dưỡng chăm sóc cần điều chỉnh chế độ ăn hợp lý

để đảm bảo sự phát triển tốt nhất cho lợn cái. Sau khi phối giống cần chuyển

chế độ ăn hạn chế và thay thế bằng mức năng lượng trung bình để hạn chế tối

thiểu tỷ lệ chết phôi, chết thai làm giảm số con sinh ra/ổ.

8

- Mùa vụ và thời gian chiếu sáng

Ở những lợn cái hậu bị được sinh ra trong mùa đông và mùa xuân thì

động dục lần đầu chậm hơn lợn cái hậu bị được sinh ra trong các mùa khác

trong năm. Ngoài ra, sự thành thục về tính bị chậm là do nhiệt độ trong ngày

cao hay thấp hoặc ngày quá ngắn. Do vậy cần tạo điều kiện để lợn cái hậu bị

được sống trong điều kiện nhiệt độ không quá cao hoặc quá thấp. Thời gian

chiếu sáng là một phần ảnh hưởng của mùa vụ tới tuổi thành thục về tính.

Bóng tối hoàn toàn làm chậm thành thục so với ánh sáng tự nhiên hoặc ánh

sáng nhân tạo 12 giờ mỗi ngày.

- Mật độ nuôi nhốt

Lợn cái hậu bị nếu nuôi nhốt với mật độ cao trên 1 đơn vị diện tích

trong suốt thời gian phát triển sẽ làm chậm tuổi động dục. Tuy nhiên, nếu

nuôi tách biệt từng cá thể cũng sẽ làm chậm sự thành thục về tính so với nuôi

nhốt theo nhóm. Bên cạnh đó, đực giống cũng ảnh hưởng tới sự động dục của

lợn cái.

* Sự thành thục về thể vóc

Thành thục về thể vóc là tuổi có sự phát triển về ngoại hình và thể vóc

đạt mức độ hoàn chỉnh, xương cốt hóa hoàn toàn, tầm vóc ổn định. Thời gian

thành thục về thể vóc thường chậm hơn thành thục về tính, nghĩa là sau khi

sinh, con vật được thành thục về tính thì vẫn tiếp tục lớn lên. Đây là đặc điểm

cần chú ý trong chăn nuôi không nên cho gia súc sinh sản quá sớm vì khi đó

cơ thể mẹ chưa phát triển đầy đủ về thể vóc sẽ gây ảnh hưởng xấu như: trong

thời gian mang thai có sự phân tán chất dinh dưỡng, ưu tiên phát triển cho bào

thai ảnh hưởng xấu đến sự phát triển cơ thể mẹ và cũng ảnh hưởng đến sự

phát triển của bào thai. Kết quả là mẹ yếu, con nhỏ.

Mặt khác, khung xương chậu chưa phát triển hoàn toàn, nhỏ hẹp làm

con vật khó đẻ. Cho nên việc quy định tuổi và khối lượng phối giống lần đầu

rất có ý nghĩa trong chăn nuôi. Các nhà khoa học khuyến cáo với lợn ngoại

9

nên bỏ qua 1 đến 2 chu kỳ động dục đầu, nên phối ở chu kỳ động dục thứ 2

hoặc thứ 3 tùy thuộc vào khối lượng đạt được. Với lợn ngoại khoảng 8 - 9

tháng tuổi và đạt 110 - 120 kg, lợn nội 6 - 7 tháng tuổi đạt 40 - 50kg (Lê Xuân

Cương (1986) [1]).

Khi lợn cái đã thành thục đầy đủ về tính đồng thời với sự thành thục về

thể vóc ở mức độ nhất định, đây là lúc phối giống thích hợp nhất. Việc xác

định thời gian phối giống thích hợp cho lợn cái nhằm tăng thời gian nuôi hữu

ích (giảm thời gian không sản xuất trước khi đẻ lứa đầu) không làm ảnh

hưởng đến năng suất của con vật ở giai đoạn sau.

2.2.1.2. Chu kỳ động dục

Chu kỳ động dục là một quá trình sinh lý phức tạp sau khi toàn bộ cơ

thể đã phát triển hoàn hảo, cơ quan sinh dục không có bào thai và không có

hiện tượng bệnh lý thì bên trong buồng trứng có quá trình phát triển của noãn

bào, noãn bào thành thục, trứng chín và thải trứng. Song song với quá trình

thải trứng thì toàn bộ cơ thể nói chung đặc biệt là cơ quan sinh dục có hàng

loạt các biến đổi về hình thái cấu tạo và chức năng sinh lý. Tất cả các biến đổi

đó được lặp đi, lặp lại có tính chất chu kỳ nên gọi là chu kỳ tính.

Theo Nguyễn Thiện và Nguyễn Tấn Anh (1993) [24], chu kỳ động dục

của lợn nái là 19 - 21 ngày. Thời gian động dục thường kéo dài khoảng 3 - 4

ngày (lợn nội) hoặc 4 - 5 ngày (lợn lai, lợn ngoại), và được chia làm ba giai

đoạn: Giai đoạn trước khi chịu đực (bắt đầu), giai đoạn chịu đực (phối giống),

giai đoạn sau chịu đực (kết thúc).

- Giai đoạn trước khi chịu đực: Lợn nái kêu rít, âm hộ xung huyết, chưa

cho phối và lợn chưa chịu đực. Thời gian rụng trứng khi có hiện tượng trên

đối với lợn ngoại và lợn nái lai là 35 - 40 giờ, với lợn nội là 25 - 30 giờ.

- Giai đoạn chịu đực: Lợn kém ăn, mê ì, lợn đứng yên khi ấn tay lên

lưng (gần mông), âm hộ giảm độ sưng, nước nhờn chảy ra, dính, đục, đứng

10

yên khi có đực đến gần và cho đực nhảy. Giai đoạn này kéo dài 2 ngày, nếu

được phối giống lợn sẽ thụ thai, lợn nội có thời gian ngắn hơn 28 - 30 giờ.

- Giai đoạn sau chịu đực: Lợn trở lại bình thường, âm hộ giảm độ nở,

đuôi cụp và không chịu đực

* Thời điểm phối giống thích hợp:

Trứng rụng tồn tại trong tử cung 2-3 giờ và tinh trùng sống trong âm

đạo lợn cái 30-48 giờ. Thời điểm phối giống thích hợp nhất đối với lợn nái

ngoại và lợn nái lai cho phối vào chiều ngày thứ 3 và sáng ngày thứ 4 tính từ

lúc bắt đầu động dục. Đối với lợn nái nội hơn một ngày vào cuối ngày thứ 2

và sáng ngày thứ 3 do thời gian động dục ở lợn nái nội ngắn hơn. Thời điểm

phối giống có ảnh hưởng đến tỷ lệ đậu thai và sai con. Phối sớm hoặc phối

chậm đều đạt kết quả kém, vì vậy việc cho nhảy kép hoặc thụ tinh nhân tạo

kép vào thời điểm tối ưu sẽ nâng cao hiệu quả phối giống.

2.2.2. Những hiểu biết về quy trình nuôi dưỡng và chăm sóc lợn nái sinh sản

2.2.2.1. Quy trình nuôi dưỡng và chăm sóc lợn nái đẻ

- Quy trình nuôi dưỡng:

Theo Trần Văn Phùng và cs. (2004) [17], thức ăn dùng cho lợn nái đẻ

phải là những thức ăn có giá trị dinh dưỡng cao, dễ tiêu hóa. Không cho lợn

nái ăn thức ăn có hệ số choán cao gây chèn ép thai gây ra đẻ non, đẻ khó,

hoặc ép thai chết ngạt. Một tuần trước khi lợn đẻ phải căn cứ vào tình trạng

sức khỏe cụ thể của lợn nái để có kế hoạch giảm dần lượng thức ăn. Đối với

những lợn nái có sức khỏe tốt thì một tuần trước khi đẻ giảm 1/3 lượng thức

ăn, đẻ trước 2 - 3 ngày giảm 1/2 lượng thức ăn. Đối với những lợn nái có sức

khỏe yếu thì không giảm lượng thức ăn mà giảm dung tích của thức ăn bằng

cách tăng cường cho ăn các loại thức ăn dễ tiêu hóa. Những ngày lợn đẻ phải

căn cứ vào thể trạng của lợn nái, sự phát dục của bầu vú mà quyết định chế độ

dinh dưỡng cho hợp lý. Ngày lợn nái cắn ổ đẻ, cho lợn nái ăn ít thức ăn tinh

(0,5 kg) hoặc không cho thức ăn tinh nhưng uống nước tự do. Ngày lợn nái đẻ

11

có thể không cho lợn nái ăn mà chỉ có uống nước ấm có pha muối hoặc ăn

cháo loãng. Sau khi đẻ 2 - 3 ngày không cho lợn nái ăn nhiều một cách đột

ngột mà tăng từ từ đến ngày thứ 4 - 5 thì cho ăn đủ tiêu chuẩn. Thức ăn cần

chế biến tốt, dung tích nhỏ, có mùi vị thơm ngon để kích thích tính thèm ăn

cho lợn nái.

- Quy trình chăm sóc:

Việc chăm sóc lợn nái mẹ có vai trò quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp

đến năng suất và sức khỏe của cả lợn mẹ và lợn con. Chuồng trại phải được

vệ sinh sạch sẽ. Trước khi lợn đẻ 10 - 15 ngày cần chuẩn bị đầy đủ chuồng đẻ.

Tẩy rửa vệ sinh, khử trùng toàn bộ ô chuồng, nền chuồng, sàn chuồng dùng

cho lợn con và lợn mẹ. Yêu cầu chuồng phải khô ráo, ấm áp, sạch sẽ, có đầy

đủ ánh sáng. Sau khi vệ sinh tiêu độc nên để trống chuồng từ 3 - 5 ngày trước

khi lợn nái vào đẻ. Chuồng đẻ cần phải trải đệm lót, có che chắn và thiết bị

sưởi ấm trong những ngày mùa đông giá rét. Trước khi đẻ 1 tuần, cần vệ sinh

lợn nái sạch sẽ, lợn nái được lau rửa sạch sẽ đất hoặc phân bám dính trên

người, dùng khăn thấm nước xà phòng lau sạch bầu vú và âm hộ. Làm như

vậy tránh được nguy cơ lợn con mới sinh bị nhiễm khuẩn do tiếp xúc trực tiếp

với lợn mẹ có vi khuẩn gây bệnh. Sau khi vệ sinh sạch sẽ cho lợn nái, chúng

ta chuyển nhẹ nhàng từ chuồng bầu sang chuồng đẻ để lợn quen dần với

chuồng mới.

Trong quá trình chăm sóc lợn nái đẻ, công việc cần thiết và rất quan

trọng đó là việc chuẩn bị ô úm lợn cho lợn con. Ô úm rất quan trọng đối với

lợn con, nó có tác dụng phòng ngừa lợn mẹ đè chết lợn con, đặc biệt những

ngày đầu mới sinh lợn con còn yếu ớt, mà lợn mẹ mới đẻ xong sức khỏe còn

rất yếu chưa hồi phục. Ô úm tạo điều kiện để khống chế nhiệt độ thích hợp

cho lợn con, đặc biệt là lợn con đẻ vào những tháng mùa đông. Ngoài ra, ô

úm tạo điều kiện thuận lợi cho việc tập ăn sớm cho lợn con (để máng ăn vào ô

úm cho lợn con lúc 7 - 10 ngày tuổi) mà không bị lợn mẹ húc đẩy và ăn thức

12

ăn của lợn con.

Theo dõi thường xuyên sức khỏe của lợn mẹ, quan sát bầu vú, thân

nhiệt lợn mẹ liên tục trong 3 ngày đầu sau khi đẻ để phát hiện sát nhau, sốt

sữa hoặc nhiễm trùng... và có biện pháp xử lý kịp thời khi xảy ra.

Bảng 2.1. Những biểu hiện khi lợn nái sắp đẻ

Trước khi đẻ Dấu hiệu

0 - 10 ngày Vú căng lên và cứng, âm hộ xung huyết

2 ngày Bầu vú cương cứng hơn và tiết ra chất lỏng trong

12 - 14 giờ Nái bồn chồn, tuyến vú bắt đầu tiết sữa

6 giờ Sữa tiết ra nhiều hơn qua 2 lỗ tia sữa

2 - 4 giờ Các vú đều có sữa non vọt thành tia dài

30 phút - 2 giờ Tăng nhịp thở, đi lại không yên

15 - 30 phút Âm hộ tiết ra dịch nhầy màu hồng có lẫn phân su

2.2.2.2. Quy trình nuôi dưỡng và chăm sóc lợn nái nuôi con

Nái nằm nghiêng 1 bên, hơi thở đứt quãng, ép bụng, 15 giây - 5 phút ép đùi, quẩy đuôi rặn đẻ

- Quy trình nuôi dưỡng:

Thức ăn cho lợn nái nuôi con phải là những thức ăn có tác động tốt đến

sản lượng và chất lượng sữa. Đó là các loại thức ăn xanh non như rau xanh,

các loại củ quả như bí đỏ, cà rốt, đu đủ. Thức ăn tinh tốt như gạo tấm, cám

gạo, bột mì, các loại thức ăn bổ sung đạm động: đạm thực vật, các loại

khoáng, vitamin... Không cho lợn nái nuôi con ăn các loại thức ăn thối mốc,

biến chất, hư hỏng. Thức ăn hỗn hợp cho lợn nái nuôi con dùng trong chăn

nuôi công nghiệp phải đảm bảo đủ protein, năng lượng và các thành phần

vitamin, khoáng theo đúng tiêu chuẩn quy định như năng lượng trao đổi 3100

kcal, protein 15%, Ca từ 0,9 - 1,0%, phospho 0,7%.

Lượng thức ăn cho lợn nái nuôi con cũng đóng vai trò quan trọng và

ảnh hưởng trực tiếp đến sinh trưởng và khả năng điều tiết sữa của lợn mẹ,

13

chính vì vậy ta cần phải có một khẩu phần ăn hợp lý và đầy đủ dinh dưỡng

cho lợn mẹ.

Trong quá trình nuôi con, lợn nái được cho ăn như sau:

- Đối với lợn nái ngoại

+ Ngày cắn ổ đẻ: cho lợn nái ăn ít thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh (0,5 kg)

hoặc không cho ăn, nhưng cho uống nước tự do.

+ Sau ngày đẻ thứ 1 và 2, cho ăn thức ăn hỗn hợp với lượng thức ăn từ

1 - 2 kg chia ra làm 2 bữa.

+ Ngày đẻ thứ 3 đến ngày đẻ thứ 6 cho ăn mỗi ngày tăng thêm 1kg thức

ăn hỗn hợp chia làm 3 bữa.

+ Một ngày trước ngày cai sữa lượng thức ăn của lợn mẹ giảm đi 20 - 30%.

+ Ngày cai sữa cho lợn nái ăn 0,5 kg (thức ăn sau khi tách con).

- Đối với lợn nái nội:

+ Công thức tính nhu cầu thức ăn cho lợn nái nội nuôi con/ 1 ngày đêm

Lợn nái nội có khối lượng cơ thể dưới 100kg, mức ăn trong 1 ngày đêm

được tính như sau:

Thức ăn tinh = 1,2 kg + (số lợn con theo mẹ x 0,18 kg).

Thức ăn thô xanh: 0,3 kg.

Lợn nái nội có khối lượng cơ thể từ 100kg trở lên, mức ăn cho 1 ngày

đêm giai đoạn nuôi con được tính như sau:

Thức ăn tinh = 1,4 kg + (số con theo mẹ x 0,18 kg).

Thức ăn thô xanh: 0,4 kg.

- Quy trình chăm sóc:

Vận động và tắm nắng là điều kiện tốt giúp cho lợn nái nhanh hồi phục

sức khỏe và nâng cao sản lượng sữa của lợn mẹ. Do vậy sau khi lợn đẻ được từ 3

-7 ngày, trong điều kiện chăn nuôi có sân vận động, nếu thời tiết tốt thì có thể

cho lợn nái vận động, thời gian vận động lúc đầu là 30 phút/ngày, sau tăng dần

số giờ vận động lên. Trong chăn nuôi công nghiệp, hầu hết lợn nái nuôi con đều

14

bị nhốt trong các cũi đẻ, không được vận động, vì vậy cần phải chú ý đến thành

phần dinh dưỡng của thức ăn, đặc biệt các chất khoáng và vitamin.

Chuồng trại của lợn nái nuôi con yêu cầu phải đảm bảo luôn khô ráo,

sạch sẽ, không có mùi hôi thối, ẩm ướt. Do vậy hàng ngày phải vệ sinh

chuồng trại, máng ăn, máng uống sạch sẽ. Chuồng lợn nái nuôi con phải có ô

úm lợn con và tập ăn sớm cho lợn con. Nhiệt độ chuồng nuôi thích hợp là 18

- 20 0C, độ ẩm 70 - 75%.

2.2.2.3. Đặc điểm của lợn con giai đoạn theo mẹ

* Đặc điểm về sinh trưởng, phát dục:

Đối với chăn nuôi lợn con nói riêng và gia súc nói chung, thời kỳ gia

súc mẹ mang thai được chăm sóc chu đáo thì bào thai sẽ phát triển tốt, sinh

con khỏe mạnh.

Theo Trần Văn Phùng và cs. (2004) [17], so với khối lượng sơ sinh thì

khối lượng lợn con lúc 10 ngày tuổi tăng gấp 2 lần, lúc 21 ngày tuổi tăng gấp

4 lần, lúc 30 ngày tuổi tăng gấp 5 - 6 lần, lúc 40 ngày tuổi tăng gấp 7 - 8 lần,

lúc 50 ngày tuổi tăng gấp 10 lần, lúc 60 ngày tuổi tăng gấp 12 - 14 lần.

Lợn con bú sữa sinh trưởng và phát triển nhanh nhưng không đồng đều

qua các giai đoạn, nhanh trong 21 ngày đầu sau đó giảm dần. Có sự giảm này

là do nhiều nguyên nhân, nhưng chủ yếu là do lượng sữa mẹ bắt đầu giảm và

hàm lượng hemoglobin trong máu của lợn con bị giảm. Thời gian bị giảm

sinh trưởng kéo dài khoảng 2 tuần hay còn gọi là giai đoạn khủng hoảng của

lợn con. Chúng ta hạn chế giai đoạn khủng hoảng này bằng cách cho ăn sớm.

Do lợn con sinh trưởng nhanh nên chúng đẩy mạnh quá trình tích lũy các chất

dinh dưỡng

Lợn con sau 3 tuần tuổi mỗi ngày có thể tích lũy được 9 - 14 gam

protein/1kg khối lượng cơ thể, trong khi đó lợn trưởng thành chỉ tích lũy được

0,3 - 0,4 gam protein/ 1kg khối lượng cơ thể.

15

Hơn nữa, để tăng 1 kg khối lượng cơ thể ở lợn con tiêu tốn năng lượng

ít hơn lợn trưởng thành. Vì vậy, cơ thể của lợn con chủ yếu là nạc, mà để sản

xuất ra 1 kg thịt nạc cần ít năng lượng hơn để tạo ra 1 kg mỡ.

- Đặc điểm phát triển của cơ quan tiêu hóa

Đặc điểm chung về giải phẫu cơ quan tiêu hóa của lợn: Miệng, hầu,

thực quản, dạ dày, ruột non, ruột già, hậu môn.

Cơ quan tiêu hóa của lợn con phát triển nhanh nhưng chưa hoàn chỉnh,

các tuyến tiêu hóa phát triển chưa đồng bộ, dung tích của bộ máy tiêu hóa còn

nhỏ, thời kỳ bú sữa cơ quan phát triển hoàn thiện dần.

Dung tích bộ máy tiêu hóa tăng nhanh trong 60 ngày đầu: Dung tích dạ

dày lúc 10 ngày tuổi gấp 3 lần, lúc 20 ngày tuổi gấp 8 lần và lúc 60 ngày tuổi

tăng gấp 60 lần so với lúc sơ sinh (dung tích dạ dày lúc sơ sinh khoảng 0,03

lít). Dung tích ruột non lúc 10 ngày tuổi gấp 3 lần lúc sơ sinh, lúc 20 ngày

tuổi gấp 6 lần, lúc 60 ngày tuổi gấp 50 lần (dung tích lúc sơ sinh khoảng 0,12

lít). Còn dung tích ruột già lúc 60 ngày tuổi tăng gấp 50 lần so với lúc sơ sinh.

Sự tăng về kích thước cơ quan tiêu hóa giúp lợn con tích lũy được nhiều thức

ăn và tăng khả năng tiêu hóa các chất.

Mặc dù vậy, ở lợn con, các cơ quan chưa thành thục về chức năng, đặc

biệt là hệ thần kinh. Do đó, lợn con phản ứng rất chậm chạp đối với các yếu tố

tác động lên chúng. Do chưa thành thục nên cơ quan tiêu hóa của lợn con

cũng rất dễ mắc bệnh, dễ rối loạn tiêu hóa.

Một đặc điểm cần lưu ý ở lợn con là có giai đoạn không có axit HCl

trong dạ dày. Giai đoạn này được coi như một tình trạng thích ứng tự nhiên.

Nhờ vậy nó tạo được khả năng thẩm thấu các kháng thể có trong sữa đầu của

lợn mẹ. Trong giai đoạn này dịch vị không có khả năng phân giải protein mà

chỉ có khả năng làm vón sữa đầu và sữa. Còn huyết thanh chứa albumin và

globulin được chuyển xuống ruột và thẩm thấu vào máu.

16

Ở lợn con từ 14 - 16 ngày tuổi, tình trạng thiếu axit HCl ở dạ dày

không còn gọi là trạng thái bình thường nữa. Việc tập cho lợn con ăn sớm có

tác dụng thúc đẩy bộ máy tiêu hóa của lợn con phát triển nhanh và sớm hoàn

thiện. Vì thế sẽ rút ngắn được giai đoạn thiếu HCl. Bởi vì khi được bổ sung

thức ăn thì thức ăn sẽ kích thích tế bào vách dạ dày tiết ra HCl ở dạng tự do

sớm hơn và tăng cường phản xạ tiết dịch vị (giai đoạn con non khác với con

trưởng thành là chỉ tiết dịch vị khi thức ăn vào dạ dày).

Hoàng Toàn Thắng và Cao Văn (2006) [21] cho rằng: lợn con dưới 1

tháng tuổi, dịch vị không có HCl tự do, lúc này lượng axit tiết ra rất ít và

nhanh chóng kết hợp với dịch nhầy của dạ dày, hiện tượng này gọi là

hyperhydric. Do dịch vị chưa có HCl tự do nên men pepsin trong dạ dày lợn

chưa có khả năng tiêu hóa protein của thức ăn. Vì HCl tự do có tác dụng kích

hoạt men pepsinogen không hoạt động thành men pepsin hoạt động và men

này mới có khả năng tiêu hóa protein.

Enzym trong dịch vị dạ dày lợn con đã có từ lúc mới đẻ, tuy nhiên lợn

trước 20 ngày tuổi không thấy khả năng tiêu hóa của dịch vị có enzym, sự tiêu

hao của dịch vị tăng theo tuổi một cách rõ rệt khi cho ăn các loại thức ăn khác

nhau, thức ăn hạt kích thích tiết ra dịch vị mạnh. Hơn nữa dịch vị thu được

khi cho thức ăn hạt kích thích HCl nhiều hơn và sự tiêu hóa nhanh hơn dịch vị

thu được khi cho uống sữa. Đây là cơ sở cho việc bổ sung sớm thức ăn và cai

sữa sớm cho lợn con.

Thực nghiệm còn xác nhận rằng nhiều loại vi khuẩn đường ruột đã sinh

ra các chất kháng sinh ức chế sự phát triển của vi khuẩn gây bệnh, khi lợn con

sinh ra hệ vi sinh vật đường ruột chưa phát triển đầy đủ số lượng vi khuẩn có

lợi, chưa có khả năng kháng lại vi khuẩn gây bệnh nên rất dễ nhiễm bệnh

đường tiêu hóa. Vi khuẩn gây bệnh phó thương hàn, vi khuẩn gây thối rữa ở

lợn con mới sinh.

17

- Đặc điểm về cơ năng điều tiết của lợn con

Cơ năng điều tiết thân nhiệt của lợn con chưa hoàn chỉnh vì vỏ đại não

của lợn con chưa phát triển hoàn thiện. Do đó việc điều tiết thân nhiệt và năng

lực phản ứng kém, dễ bị ảnh hưởng bởi môi trường (nhiệt độ, độ ẩm).

Theo Từ Quang Hiển và cs. (2001) [6] ở lợn con, khả năng sinh trưởng

và phát triển nhanh, yêu cầu về dinh dưỡng ngày càng tăng cao. Trong khi đó

sản lượng sữa của lợn mẹ tăng dần đến 2 tuần sau khi đẻ và sau đó giảm dần

cả về chất và lượng. Đây là mâu thuẫn giữa nhu cầu dinh dưỡng của lợn con

và khả năng cung cấp sữa của lợn mẹ. Nếu không kịp thời bổ sung thức ăn

cho lợn con thì lợn sẽ thiếu dinh dưỡng dẫn đến sức đề kháng yếu, gầy còm,

nhiều lợn con mắc bệnh. Vì vậy nên tiến hành cho lợn con tập ăn sớm để khắc

phục tình trạng khủng hoảng trong thời kỳ 3 tuần tuổi và giai đoạn sau cai sữa.

Lợn con dưới 3 tuần tuổi cơ năng điều tiết thân nhiệt chưa hoàn chỉnh nên

thân nhiệt chưa ổn định, nghĩa là sự thải nhiệt và sinh nhiệt chưa đạt cân bằng.

Khi còn là bào thai, các chất dinh dưỡng được mẹ cung cấp qua nhau

thai, điều kiện sống tương đối ổn định. Lợn con sơ sinh gặp điều kiện sống

hoàn toàn mới, nếu chăm sóc không tốt rất dễ mắc bệnh, còi cọc và chết.

Ngoài ra lớp mỡ dưới da của lợn con còn mỏng, lượng mỡ glycogen dự

trữ trong cơ thể lợn còn thấp, trên cơ thể lợn con lông còn thưa, mặt khác diện

tích bề mặt cơ thể so với khối lượng cơ thể chênh lệch tương đối cao nên lợn

con dễ bị mất nhiệt và khả năng cung cấp nhiệt cho lợn con chống rét còn

thấp dẫn đến lợn con rất dễ mắc bệnh khi thời tiết thay đổi.

Ở điều kiện nhiệt độ thấp, độ ẩm không khí cao gây ra hiện tượng tăng

tỏa nhiệt ở lợn con bằng phương thức bức xạ. Vì thế ở nước ta vào cuối mùa

đông đầu mùa xuân, khí hậu lạnh và ẩm, lợn con sẽ bị tỏa nhiệt theo phương

thức này, làm cho nhiệt lượng cơ thể mất đi, lợn bị lạnh. Đây là điều kiện

thuận lợi dẫn đến phát sinh bệnh, nhất là bệnh đường tiêu hoá.

18

- Đặc điểm về khả năng miễn dịch của lợn con

Phản ứng miễn dịch là khả năng đáp ứng của cơ thể. Phần lớn các chất

lạ là mầm bệnh. Mầm bệnh xâm nhập vào cơ thể lợn con tương đối dễ dàng,

do chức năng của các tuyến chưa hoàn chỉnh. Ở lợn con lượng enzym tiêu hoá

và lượng HCl tiết ra còn ít, chưa đủ để đáp ứng cho quá trình tiêu hoá, gây rối

loạn trao đổi chất, dẫn tới khả năng tiêu hoá kém, hấp thu kém. Trong giai

đoạn này các loại mầm bệnh (Salmonella spp, E. coli…) dễ dàng xâm nhập

vào cơ thể qua đường tiêu hoá và gây bệnh.

Lợn con mới đẻ ra trong cơ thể hầu như chưa có kháng thể. Lượng

kháng thể tăng rất nhanh sau khi lợn con được bú sữa đầu của lợn mẹ. Cho

nên khả năng miễn dịch của lợn con là hoàn toàn thụ động, phụ thuộc vào

lượng kháng thể hấp thu được nhiều hay ít từ sữa đầu của lợn mẹ.

Theo Trần Văn Phùng và cs. (2004) [17] trong sữa đầu của lợn mẹ hàm

lượng protein rất cao. Những ngày đầu mới đẻ, hàm lượng protein trong sữa

chiếm 18 - 19%, trong đó lượng γ - globulin chiếm số lượng khá lớn (30 -

35%). Nó có tác dụng tạo sức đề kháng, vì vậy sữa đầu có vai trò quan trọng

đối với khả năng miễn dịch của lợn con. Lợn con hấp thu lượng γ - globulin

bằng con đường ẩm bào. Quá trình hấp thu nguyên vẹn nguyên tử γ - globulin

giảm đi rất nhanh theo thời gian. Nó chỉ có khả năng hấp thu qua ruột non của

lợn con rất tốt trong 24 giờ đầu sau khi đẻ ra nhờ trong sữa đầu có kháng men

antitrypsin làm mất hoạt lực của men trypsin tuyến tụy đồng nhờ khoảng cách

tế bào vách ruột của lợn con khá rộng, cho nên 24 giờ sau khi được bú sữa

đầu, hàm lượng γ - globulin trong máu lợn con đạt tới 20,3 mg/100 ml máu.

Sau 24 giờ, lượng kháng men trong sữa đầu giảm dần và khoảng cách giữa

các tế bào vách ruột của lợn con hẹp dần, sự hấp thụ γ - globulin kém hơn,

hàm lượng γ - globulin trong máu lợn con tăng lên chậm hơn. Đến 3 tuần tuổi

chỉ đạt khoảng 24mg/100ml máu (máu bình thường của lợn trưởng thành có

khoảng 65 mg/100 ml máu), do đó lợn con cần được bú sữa đầu càng sớm

19

càng tốt. Nếu lợn con không được bú sữa đầu thì từ 20 - 25 ngày tuổi mới có

khả năng tự tổng hợp kháng thể, những lợn con không được bú sữa đầu thì

sức đề kháng kém, dễ mắc bệnh, tỷ lệ chết cao.

2.2.3. Những hiểu biết về phòng, trị bệnh cho vật nuôi

2.2.3.1. Phòng bệnh

Với phương châm: “Phòng bệnh hơn chữa bệnh”‚ nên khâu phòng bệnh

luôn được đặt lên hàng đầu, nếu phòng bệnh tốt thì có thể hạn chế hoặc ngăn

chặn được bệnh xảy ra. Các biện pháp phòng bệnh tổng hợp được đưa lên

hàng đầu, xoay quanh các yếu tố môi trường, mầm bệnh, vật chủ. Do vậy, việc

phòng và trị bệnh phải được thực hiện cùng nhau để hạn chế tối đa dịch bệnh.

- Phòng bệnh bằng vệ sinh và chăm sóc nuôi dưỡng tốt:

Theo Nguyễn Ngọc Phục (2005) [18] bệnh xuất hiện trong một đàn lợn

thường do nguyên nhân phức tạp, có thể là bệnh truyền nhiễm, hoặc không

truyền nhiễm hoặc có sự kết hợp cả hai. Có rất nhiều biện pháp đã được đưa

ra áp dụng nhằm kiểm soát các khả năng xảy ra bệnh tật trên đàn lợn. Phần

lớn các biện pháp này đều nhằm làm giảm khả năng lan truyền các tác nhân

gây bệnh và nâng cao sức đề kháng của đàn lợn.

Theo Lê Văn Tạo và cs. (1993) [19], vi khuẩn E. coli gây bệnh ở lợn là

vi khuẩn tồn tại trong môi trường, đường tiêu hoá của vật chủ. Khi môi

trường quá ô nhiễm do vê ̣sinh chuồng trại kém, nước uống thức ăn bi ̣nhiễm

vi khuẩn, điều kiện ngoại cảnh thay đổi, lợn giảm sức đề kháng dễ bi ̣cảm

nhiễm E. coli, bệnh sẽ nổ ra. Vì vậy, khâu vê ̣sinh, chăm sóc có một ý nghĩa

to lớn trong phòng bệnh. Trong chăn nuôi việc đảm bảo đúng quy trình kỹ

thuật là điều rất cần thiết, chăm sóc nuôi dưỡng tốt sẽ tạo ra những gia súc

khoẻ mạnh, có khả năng chống đỡ bệnh tật tốt và ngược lại. Ô chuồng lợn nái

phải được vê ̣sinh tiêu độc trước khi vào đẻ. Nhiệt đô ̣trong chuồng phải đảm

bảo 27 - 300C đối với lợn sơ sinh và 28 - 300C với lợn cai sữa. Chuồng phải

luôn khô ráo, không ẩm ướt, việc giữ gìn chuồng trại sạch sẽ kín, ấm áp vào

20

mùa đông và đầu xuân là cần thiết. Nên dùng các thiết bị sưởi điện hoặc đèn

hồng ngoại trong những ngày thời tiết lạnh ẩm để đề phòng bệnh lợn con

phân trắng mang lại hiệu quả cao trong chăn nuôi.

Theo Trần Văn Phùng và cs. (2004) [17] từ 3 - 5 ngày trước dự kiến đẻ,

ô chuồng lợn nái đã được cọ rửa sạch, phun khử trùng bằng hóa chất như

Crezin 5% hoặc bằng loại hóa chất khác nhằm tiêu độc khử trùng chuồng lợn

nái trước khi đẻ.

- Vệ sinh chuồng trại và thiết bị chăn nuôi: Chuồng trại phải đảm bảo

phù hợp với từng đối tượng vật nuôi, thoáng mát mùa hè, ấm áp mùa đông,

đảm bảo cách ly với môi trường xung quanh. Tẩy uế chuồng trại sau mỗi lứa

nuôi bằng phương pháp: rửa sạch, xả vôi để khô sau đó phun sát trùng bằng

các loại thuốc sát trùng và trống chuồng ít nhất 7 ngày với vật nuôi thương

phẩm, 10 ngày đối với vật nuôi sinh sản. Với những chuồng nuôi có vật nuôi

bị bệnh truyền nhiễm, cần phải vệ sinh tổng thể và triệt để bằng cách: Sau khi

đưa hết vật nuôi ra khỏi chuồng, xử lý theo hướng dẫn của thú y, cần phun sát

trùng kỹ (pha dung dịch sát trùng và phun theo hướng dẫn khi chống dịch)

toàn bộ chuồng nuôi từ mái, các dụng cụ và môi trường xung quanh, để khô

và dọn, rửa. Các chất thải rắn trong chăn nuôi cần thu gom để đốt hoặc ủ sinh

học, chất thải lỏng, nước rửa chuồng cần thu gom để xử lý, không thải trực

tiếp ra ngoài môi trường. Cần phun sát trùng 1 - 2 lần/tuần trong suốt thời

gian trống chuồng, ít nhất trong 10 ngày. Các thiết bị, dụng cụ chăn nuôi cần

rửa sạch, phơi khô, sát trùng và đưa vào kho bảo quản. Vệ sinh và phun sát

trùng xung quanh chuồng nuôi.

- Phòng bệnh bằng vắc xin: Đây là biện pháp phòng bệnh chủ động có

hiệu quả nhất.

Theo Nguyễn Bá Hiên và cs. (2012) [7], vắc xin là một chế phẩm sinh

học mà trong đó chứa chính mầm bệnh cần phòng cho một bệnh truyền nhiễm

nào đó (mầm bệnh này có thể là vi khuẩn, virus, độc tố hay vật liệu di truyền

21

như ARN, ADN…) đã được làm giảm độc lực hay vô độc bằng các tác nhân

vật lý, hóa học, sinh học hay phương pháp sinh học phân tử (vắc xin thế hệ

mới, vắc xin công nghệ gen). Lúc đó chúng không còn khả năng gây bệnh cho

đối tượng sử dụng, nhưng khi đưa vào cơ thể động vật nó sẽ gây ra đáp ứng

miễn dịch làm cho động vật có miễn dịch chống lại sự xâm nhiễm gây bệnh

của mầm bệnh tương ứng.

Khi đưa vắc xin vào cơ thể vật nuôi, chưa có kháng thể chống bệnh

ngay mà phải sau 7 - 21 ngày (tuỳ theo từng loại vắc xin) mới có miễn dịch.

2.2.3.2. Điều trị bệnh

Theo Nguyễn Bá Hiên và cs. (2012) [7]

- Nguyên tắc để điều trị bệnh là:

+ Toàn diện: Phải phối hợp nhiều biện pháp như hộ lý, dinh dưỡng,

dùng thuốc.

+ Điều trị sớm trên cơ sở chẩn đoán chính xác bệnh để sớm khỏi bệnh

và hạn chế lây lan.

+ Diệt căn bệnh là chủ yếu kết hợp chữa triệu chứng.

+ Tiêu diệt mầm bệnh phải đi đôi với tăng cường sức đề kháng của cơ

thể, làm cho cơ thể có khả chống lại mầm bệnh thì bệnh mới chóng khỏi, ít bị

tái phát và biến chứng, miễn dịch mới lâu bền.

+ Phải có quan điểm khi chữa bệnh, chỉ nên chữa những gia súc có thể

chữa lành mà không giảm sức kéo và sản phẩm. Nếu chữa kéo dài, tốn kém

vượt quá giá trị gia súc thì không nên chữa.

+ Những bệnh nguy hiểm cho người không có thuốc chữa thì không

nên chữa.

- Các biện pháp chữa bệnh truyền nhiễm là:

+ Hộ lý: Cho gia súc ốm nghỉ ngơi, nhốt riêng ở chuồng có điều kiện vệ

sinh tốt (thoáng mát, sạch sẽ, yên tĩnh). Theo dõi thân nhiệt, nhịp tim, hô hấp,

22

phân, nước tiểu. Phát hiện sớm những biến chuyển của bệnh để kịp thời đối

phó. Cho gia súc ăn uống thức ăn tốt và thích hợp với tính chất của bệnh.

+ Dùng kháng huyết thanh: Chủ yếu dùng chữa bệnh đặc hiệu vì vậy

thường dùng để can thiệp trong ổ dịch, chữa cho gia súc đã mắc bệnh. Chữa

bệnh bằng kháng huyết thanh là đưa vào cơ thể những kháng thể chuẩn bị sẵn,

có tác dụng trung hòa mầm bệnh hoặc độc tố của chúng (huyết thanh kháng

độc tố).

+ Dùng hóa dược: Phần lớn hóa dược được dùng để chữa triệu chứng

và một số hóa dược dùng chữa nguyên nhân vì có tác dụng đặc hiệu đến mầm

bệnh. Dùng hóa dược chữa bệnh phải tác động mạnh và sớm, vì nhiều loài vi

khuẩn có thể thích ứng với liều lượng nhỏ. Chúng có thể chống lại thuốc và

tính chất quen thuộc được truyền cho những thế hệ sau. Khi cần, có thể phối

hợp nhiều loại hóa dược để tăng hiệu quả điều trị, vì nếu một loại thuốc chưa

có tác dụng đến mầm bệnh thì có loại thuốc khác tác dụng tốt hơn.

+ Dùng kháng sinh: Kháng sinh là những thuốc đặc hiệu có tác dụng

ngăn cản sự sinh sản của vi khuẩn hoặc tiêu diệt vi khuẩn. Tuy nhiên, sử dụng

kháng sinh có thể gây nhiều tai biến do thuốc có tính độc, do phản ứng dị ứng,

do một lúc tiêu diệt nhiều vi khuẩn làm giải phóng một lượng lớn độc tố, làm

giảm phản ứng miễn dịch của cơ thể. Việc dùng kháng sinh bừa bãi còn gây

nên hiện tượng kháng thuốc, làm giảm thấp tác dụng chữa bệnh của kháng

sinh. Vì vậy, khi dùng thuốc cần lưu ý những nguyên tắc sau đây:

- Phải chẩn đoán đúng bệnh để dùng đúng thuốc, dùng sai thuốc sẽ

chữa không khỏi bệnh mà làm cho việc chẩn đoán bệnh về sau gặp khó khăn.

- Chọn loại kháng sinh có tác dụng tốt nhất đối với mầm bệnh đã xác

định. Dùng liều cao ngay từ đầu, những lần sau có thể giảm liều lượng.

- Không nên vội vàng thay đổi kháng sinh mà phải chờ một thời gian để

phát huy tác dụng của kháng sinh.

23

- Phải dùng phối hợp nhiều loại kháng sinh để làm giảm liều lượng và

độc tính của từng loại, làm diện tác động đến vi khuẩn rộng hơn, tăng tác

dụng điều trị và hạn chế hiện tượng vi khuẩn kháng thuốc.

- Phải tăng cường sức đề kháng của cơ thể gia súc như nuôi dưỡng tốt,

dùng thêm các vitamin, tiêm nước sinh lý...

2.2.4. Một số bệnh thường gặp trên lợn nái sinh sản

* Bệnh bại liệt sau đẻ

Là bệnh mà lợn mẹ mất khả năng vận động sau thời gian sổ thai.

* Nguyên nhân gây bệnh

- Do thai quá to, tư thế và chiều hướng của thai không bình thường.

- Quá trình thủ thuật kéo thai quá mạnh hay không đúng thao tác…

Từ đó gây tổn thương thần kinh tọa hoặc ảnh hưởng đến đám rối hông

khum dẫn đến lợn mẹ bị bại liệt.

* Biểu hiện bệnh

- Lúc đầu lợn mẹ đi lại khó khăn, về sau không đứng lên được mà nằm

bẹp 1 chỗ.

- Bệnh thường kế phát với 1 số bệnh ở hệ tiêu hóa, hô hấp như: chướng

bụng đầy hơi, viêm phế quản cấp.

- Nếu bệnh kéo dài, con vật dễ bị loét từng mảng da phía tiếp xúc với

nền chuồng.

- Sau 3 - 4 tuần con vật gầy dần và chết.

- Triệu chứng:

Ban đầu lợn nái không có triệu chứng toàn thân, không thấy vết thương

cục bộ nhưng đi lại khó khăn hay nằm bẹp một chỗ. Nếu bệnh kéo dài thì lợn

mẹ không đứng dậy được, rất có thể bị loét da do tiếp xúc với nền chuồng,

nếu kéo dài 3 - 4 tuần lợn gầy dần rồi chết.

* Biện pháp khắc phục

Tiêm bắp, điều trị liên tục 3 - 5 ngày.

- Thao tác can thiệp kịp thời, đúng kỹ thuật.

24

- Hằng ngày trở mình cho lợn mẹ, tránh bầm huyết, hoại tử da và kế

phát với chướng bụng, đầy hơi.

- Tăng cường thức ăn có bổ sung nguyên tố vi lượng nhất là canxi và

photpho.

- Tiêm Mg - calcium cho lợn. Đồng thời kết hợp với châm cứu.

Theo Ngô Đức (2018) [5] Trường hợp bệnh xảy ra có thể thực hiện các

bước sau:

Tiêm calcifore vào tĩnh mạch tai lợn, liều 5 - 10ml/ 20kg thể trọng,

ngày tiêm 1 lần, liên tục từ 3 - 5 ngày.

Lợn nái sau khi sinh có biểu hiện sốt, nên sử dụng thuốc hạ sốt và

kháng sinh chống phụ nhiễm như:

Anagin 25%: liều 1ml/ 15kg thể trọng, ngày tiêm 1 lần.

Navet-anagin 30%: liều 1ml/10 - 15kg TT, ngày tiêm 1 lần.

Navet-anagin C: liều 1ml/15kg TT, ngày tiêm 1 lần.

Navet-amoxy 15: liều 1ml/10kg TT, ngày tiêm 1 lần liên tục từ 3 - 5

ngày để phòng những bệnh nhiễm trùng gây bại liệt sau khi sinh và các bệnh

viêm vú, viêm tử cung, mất sữa.

* Biện pháp phòng bệnh

Bổ sung vitamin AD3E trong thời gian mang thai, các trại nên đưa vào

quy trình tiêm cho heo nái mang thai vitaject ade liều 1-6ml/con

Cung cấp đầy đủ nhu cầu Calci, phospho trong giai đoạn mang thai, bổ

sung vào thức ăn vitacalcium liều 10g/con/ngày cho ăn liên tục trong một

tuần lễ, mỗi tháng lặp lại 1 lần trong suốt quá trình mang thai.

Cẩn thận trong việc di chuyển heo trong giai đoạn mang thai, nền chuồng

phải sạch, tránh trơn trượt dễ gây liệt chân trong thời gian mang thai. Nên có ánh

sáng vào chuồng trại. Tiêm phòng đầy đủ các bệnh do virus và vi trùng.

* Hiện tượng đẻ khó

Lợn đẻ mà thời gian sổ thai kéo dài nhưng thai vẫn không được đẩy ra

ngoài. Bệnh biểu hiện dưới nhiều hình thức, diễn biến khác nhau. Nó không

25

những gây tổn thương cho cơ quan sinh dục lợn mẹ mà còn dẫn đến hiện

tượng vô sinh, thậm chí cả lợn mẹ và lợn con có thể chết.

* Nguyên nhân

- Đẻ khó do nguyên nhân cơ thể mẹ: khi chăm sóc, nuôi dưỡng không

tốt, thức ăn không đầy đủ, chất dinh dưỡng thiếu so với nhu cầu của lợn mang

thai dẫn đến cơ thể mẹ suy nhược, sức khỏe kém. Trong quá trình đẻ, sức rặn

đẻ của lợn yếu, thậm chí không rặn đẻ, cổ tử cung co bóp yếu nên không đẩy

thai ra ngoài. hoặc do, lợn mẹ ăn quá nhiều tinh bột, protein dẫn đến béo cũng

gây ra bệnh đẻ khó. Lợn quá gầy cũng dẫn đến đẻ khó.

- Do cấu tạo tổ chức các phần mềm như: cổ tử cung, âm đạo giãn nở

không bình thường có chỗ giãn quá mạnh, chỗ lại không giãn nên việc đẩy

con ra ngoài gặp khó khăn.

Khung xoang chậu bị biến dạng, khớp bán động háng phát triển không

bình thường, vôi hóa cột sống hay xoang chậu hẹp. Trong quá trình đẻ độ giãn

nở kém, thai bị mắc trước cửa xoang chậu không ra được. Khi quá trình rặn

đẻ kéo dài, sức co bóp lớn ép lợn con bị chết.

Ở thời gian có thai kỳ cuối, thai quá to, lợn nái vận động mạnh, chèn ép

tử cung làm tử cung bị xoắn vặn lại, tư thế tử cung thay đổi, đường sinh dục

trở nên không bình thường cũng gây đẻ khó.

Do rối loạn hormone tuyến sinh dục cái: kích tố nhau thai relaxin lúc đẻ

tiết ra ít nên không làm mất lớp canxi ở bán động háng, không giãn dây chằng

xương chậu (không sụt mông) hoặc prostaglandin tiết ít không đủ gây co bóp

tử cung nên không tống thai ra ngoài được.

Chế độ dinh dưỡng không phù hợp hoặc do quá ít thai, làm thai quá to

không phù hợp với kích thước của xương chậu và đường sinh dục của lợn mẹ.

Thai bị dị hình hay quái thai.

Đẻ khó do nguyên nhân bào thai thường chiếm 3/4, những nguyên nhân

và loại hình đẻ khó có thể xảy ra đơn độc hoặc kết hợp lại với nhau như bào

26

thai quá to mà xương chậu lại quá nhỏ, thai to cộng với tư thế thai không bình

thường… khi rặn đẻ thai bị kẹt không ra được.

* Triệu chứng

Lợn nái đến ngày đẻ, nước ối vỡ ra, trong nước ối có lẫn phân su nhưng

không thấy thai ra. Lợn nái có biểu hiện rặn nhiều lần, rặn mạnh, thậm chí lợn

nái còn rặn căng bụng, cong lưng, chân đạp vào thành chuồng để rặn nhưng

thai vẫn không ra. Do thời gian rặn đẻ mạnh và kéo dài mà thai vẫn không ra

làm cho lợn nái mệt mỏi. Nếu để lâu có thể dẫn đến hiện tượng thai bị ngạt

mà chết. Khi đưa tay vào đường sinh dục thấy khung xoang chậu hẹp, thai to

hoặc ở tư thế không bình thường nằm kẹt ở trước cửa xoang chậu.

* Hậu quả

Tử cung co bóp mạnh mà thai không ra, thai bị chèn ép, bị ngạt thở dẫn

đến lợn con bị chết.

Nếu mổ để lấy thai ra ngoài thì lợn mẹ hay bị chết hoặc không thể dùng

sinh sản lứa sau.

Do lợn nái rặn đẻ mạnh và kéo dài làm lợn nái mệt mỏi, kéo dài thời

gian đẻ, sức co bóp của tử cung giảm, gây ra hiện tượng sót nhau, sót con dẫn

đến viêm đường sinh dục.

Khi dùng biện pháp can thiệp không đúng cách, gây xây xát niêm mạc

tử cung, hoặc dụng cụ thủ thuật không đảm bảo vệ sinh làm lợn bị nhiễm một

số bệnh: viêm tử cung, viêm vú, sảy thai truyền nhiễm… khi đó, niêm mạc sẽ

có những vết sẹo gây cản trở cho quá trình thụ thai, thai làm tổ… dẫn đến sảy

thai, tiêu thai, đẻ non ở những lần sinh sản tiếp theo, thậm chí là vô sinh.

* Bệnh viêm tử cung

Bệnh viêm tử cung có thể xảy ra trên tất cả các giống lợn nội và ngoại.

Lợn nái đẻ ít lứa, nhiều lứa hay đang nuôi con đều có thể mắc bệnh song tỷ lệ

mắc bệnh phụ thuộc vào yếu tố vệ sinh, chăm sóc nuôi dưỡng. Khi gia súc

sinh đẻ nhất là trong trường hợp đẻ khó phải can thiệp bằng tay hoặc dụng cụ,

27

niêm mạc tử cung bị xây xát, bị tổn thương, vi khuẩn xâm nhập và phát triển

gây viêm. Mặt khác, một số bệnh truyền nhiễm như sảy thai truyền nhiễm,

phó thương hàn, bệnh lao… thường gây viêm tử cung.

* Nguyên nhân bệnh viêm tử cung

Do lợn nái chửa thiếu vận động, chuồng nuôi bẩn; do dinh dưỡng

không hợp lý (lợn quá béo hoặc quá gầy), thiếu vitamin A, D, E… và các

nguyên tố vi lượng cần thiết; do công tác vệ sinh, chăm sóc quá trình sau đẻ

không đảm bảo kỹ thuật.

Theo Phạm Sỹ Lăng và cs. (2002) [9], bệnh viêm tử cung ở lợn nái

thường do các nguyên nhân sau:

- Công tác phối giống không đúng kỹ thuật, nhất là phối giống bằng

phương pháp thụ tinh nhân tạo làm xây xát niêm mạc tử cung, dụng cụ dẫn

tinh không được vô trùng, khi phối giống có thể từ ngoài vào tử cung lợn nái

gây viêm.

- Lợn nái phối giống trực tiếp, lợn đực mắc bệnh viêm bao dương vật

hoặc mang vi khuẩn từ những con lợn nái khác (đã bị viêm tử cung, viêm âm

đạo) truyền sang cho lợn khoẻ.

- Lợn nái đẻ khó phải can thiệp bằng thủ thuật, gây tổn thương niêm

mạc tử cung, vi khuẩn xâm nhập gây nhiễm trùng, viêm tử cung kế phát.

- Lợn nái sau đẻ bị sát nhau xử lý không triệt để cũng dẫn đến viêm tử cung.

- Do kế phát từ một số bệnh truyền nhiễm như: sảy thai truyền nhiễm,

phó thương hàn, bệnh lao… gây viêm.

- Do vệ sinh chuồng đẻ, vệ sinh bộ phận sinh dục lợn nái trước và sau

đẻ không sạch sẽ, trong thời gian đẻ cổ tử cung mở vi sinh vật có điều kiện để

xâm nhập vào gây viêm.

Theo Đoàn Thị Kim Dung và Lê Thị Tài (2002) [3], nguyên nhân gây viêm

tử cung là do vi khuẩn tụ cầu vàng (Staphylococcus aureus), liên cầu dung huyết

(Streptococcus hemolitica) và các loại Proteus vulgais, Klebriella, E. coli….

28

Theo Lê Văn Năm và cs.(1999) [13], có rất nhiều nguyên nhân từ ngoại

cảnh gây bệnh như: do thức ăn nghèo dinh dưỡng, do can thiệp đỡ đẻ bằng

dụng cụ hay thuốc sản khoa sai kỹ thuật, dẫn đến các cơ quan sinh dục bị phá

hủy, kết hợp với việc chăm sóc, nuôi dưỡng bất hợp lý và thiếu vận động đã

làm chậm quá trình thu teo sinh lý của dạ con (trong điều kiện cai sữa bình

thường dạ con trở về khối lượng kích thước ban đầu khoảng 3 tuần sau đẻ).

Đây là điều kiện tốt để vi khuẩn xâm nhập vào tử cung gây bệnh. Biến chứng

nhiễm trùng do vi khuẩn xâm nhập vào dạ con gây nên trong thời gian động

dục (vì lúc đó tử cung mở) và do thụ tinh nhân tạo sai kỹ thuật.

Bệnh còn xảy ra do thiếu sót về dinh dưỡng và quản lý: khẩu phần

thiếu hay thừa protein, trong thời kỳ mang thai có ảnh hưởng đến viêm tử

cung. Lợn nái sử dụng quá nhiều tinh bột gây đẻ khó, viêm tử cung do xây

xát. Khoáng chất, vitamin cũng ảnh hưởng đến viêm tử cung.

* Triệu chứng

Sản dịch của lợn nái bình thường kéo dài trong vòng 4 - 5 ngày, cá biệt

tới 6 - 7 ngày, sản dịch có màu sắc hơi đỏ do lẫn máu, sau chuyển dần sang

vàng hay trắng và trong. Trong trường hợp viêm thì sản dịch có thể có màu

đen, hôi thối, mùi tanh rất khó chịu.

Bệnh viêm tử cung ở lợn nái được chia làm hai thể:

+ Thể cấp tính: con vật sốt 41 - 420C, trong vài ngày đầu âm môn sưng

tấy đỏ, dịch xuất tiết từ trong âm đạo chảy ra trắng đục, đôi khi có máu lờ lờ.

+ Thể mãn tính: không sốt, âm môn không sưng đỏ nhưng vẫn có dịch

nhầy trắng đục tiết ra từ âm đạo, dịch nhầy thường không liên tục mà chỉ chảy

ra từng đợt từ vài ngày đến 1 tuần. Lợn nái thường thụ tinh không có kết quả

hoặc khi đã có thai sẽ bị tiêu thai vì quá trình viêm nhiễm niêm mạc âm đạo

tử cung lan sang thai làm chết thai.

29

* Hậu quả

Theo Trần Thị Dân (2004) [2], khi lợn nái bị viêm tử cung sẽ dẫn tới

một số hậu quả chính sau:

+ Khi lợn bị viêm tử cung dễ dẫn đến sảy thai

Lớp cơ trơn ở thành tử cung có đặc tính co thắt. Khi mang thai, sự co

thắt của cơ tử cung giảm đi dưới tác dụng của progesterone, nhờ vậy phôi có

thể bám chặt vào tử cung.

Khi tử cung bị viêm cấp tính do nhiễm trùng, tế bào lớp nội mạc tử

cung tiết nhiều prostaglandin F2α (PGF2α), PGF2α gây phân huỷ thể vàng ở

buồng trứng bằng cách bám vào tế bào của thể vàng để làm chết tế bào và gây

co mạch hoặc thoái hoá các mao quản ở thể vàng, nên giảm lưu lượng máu đi

đến thể vàng. Thể vàng bị phá huỷ, không tiết progesterone nữa, do đó hàm

lượng progesterone trong máu sẽ giảm làm cho tính trương lực co của cơ tử

cung tăng, vì vậy gia súc chửa dễ bị sảy thai.

+ Lợn mẹ bị viêm tử cung thì bào thai cũng phát triển kém hoặc thai bị

chết lưu.

+ Sau khi sinh con lượng sữa giảm hoặc mất hẳn nên lợn con trong giai

đoạn theo mẹ thường bị tiêu chảy.

+ Theo Trần Thị Dân (2004) [2], lợn nái bị viêm tử cung mãn tính sẽ

không có khả năng động dục trở lại.

+ Tỷ lệ phối giống không đạt tăng lên ở đàn lợn nái viêm tử cung sau

khi sinh đẻ. Hiện tượng viêm tử cung âm ỉ kéo dài từ lứa đẻ trước đến lứa đẻ

sau là nguyên nhân làm giảm độ mắn đẻ. Mặt khác, viêm tử cung là một trong

các nguyên nhân dẫn đến hội chứng MMA (viêm tử cung, viêm vú và mất

sữa), từ đó làm cho tỷ lệ lợn con nuôi sống thấp. Đặc biệt, nếu viêm tử cung

kèm theo viêm bàng quang thì còn ảnh hưởng tới hoạt động của buồng trứng.

30

* Biện pháp phòng bệnh

Theo Nguyễn Tài Năng và cs. (2016) [14], vệ sinh chuồng trại sạch sẽ

một tuần trước khi lợn đẻ, rắc vôi bột hoặc nước vôi 20% sau đó rửa sạch

bằng nước thường, tắm cho lợn trước khi đẻ, vệ sinh sạch sẽ bộ phận sinh dục

và bầu vú.

Theo Lê Văn Năm (2009) [13], trong khi đỡ đẻ bằng tay phải sát trùng

kĩ bằng cồn, xoa trơn tay bằng vaseline hoặc dầu lạc.

Cho lợn nái chửa vận động, đảm bảo ăn uống đầy đủ, vệ sinh sạch sẽ.

Kiểm tra nghiêm ngặt đảm bảo dụng cụ dẫn tinh đúng quy định và

không để bị nhiễm khuẩn.

Không sử dụng lợn đực bị nhiễm khuẩn đường sinh dục để nhảy trực

tiếp hoặc lấy tinh.

Phòng bệnh truyền nhiễm Leptospirosis, Brucellosis… bằng cách dùng

vắc xin đúng quy định, đúng thời gian cho đàn lợn sinh sản tránh những

trường hợp bị sốt đột ngột gây sẩy thai.

- Điều trị

+ Điều trị cục bộ

Bơm rửa tử cung ngày 1 - 2 lần, mỗi lần 2 - 4 lít nước đun sôi để nguội

pha thuốc tím 0,1% hay nước muối sinh lý 0,9%, sau đó bơm hoặc đặt kháng

sinh như: penicilin 2 - 3 triệu UI; tetramycine hay sulfanilamid 2 - 5g hoặc

clorazol 4 - 6 viên vào tử cung để chống viêm.

+ Điều trị toàn thân

Tiêm thuốc hạ sốt analgin 2 - 3 ống/ngày.

Tiêm kháng sinh

Phác đồ 1: tiêm tetramycin, tiêm bắp liều 10 - 15mg/kg thể trọng, liên

tục 3 - 4 ngày. Kết hợp tiêm septotryl tiêm bắp hoặc tĩnh mạch 1 ml/ 10 - 15

kg thể trọng/ ngày. Liên tục 3 - 4 ngày.

31

Phác đồ 2: tylan + polysul: tiêm bắp hoặc tiêm tĩnh mạch 1 ml/ 5 - 10

kg thể trọng/ ngày. Liên tục 3 - 4 ngày.

Tiêm thuốc giảm viêm: hydrocortisone, dectancyl, prednisolone…

Tiêm thuốc trợ sức: vitamin B1, C, B12. Lưu ý khi pha thuốc tiêm

vitamin C không dùng chung với kháng sinh peniciline, sulfamid và vitamin

B12…

Tiêm thuốc tạo sữa: Thyroxine ngày 1 - 2 ống, liên tiếp 2 - 3 ngày, chỉ

dùng khi nhiệt độ cơ thể đã hạ xuống bình thường.

* Bệnh viêm khớp

- Nguyên nhân:

Streptococcus suis là vi khuẩn gram (+), Streptococcus suis gây viêm

khớp lợn cấp và mãn tính ở mọi lứa tuổi. Bệnh này thường gây ra trên đàn lợn

con từ 1 - 6 tuần tuổi. Vi khuẩn xâm nhập qua đường miệng, rốn, vết thương

trên da, đầu gối khi trà xát trên nền chuồng.

- Triệu chứng: Lợn đi khập khiễng, khớp chân sưng lên. Thường thấy

viêm khớp cổ chân, khớp háng và khớp bàn chân. Lợn ăn ít, hơi sốt, có hiện

tượng què, đi đứng khó khăn, chỗ khớp viêm tấy đỏ, sưng, sờ nắn vào có phản

xạ đau.

- Điều trị:

+ Shotapen. LA liều 1ml/ 10kg TT hoặc Genta - tylo liều 1ml/ 10kg TT.

+ Tiêm analgin: 1ml/ 10kg TT/ 1 lần/ ngày.

+ Vitamin B1: 1,5ml/ 10kg TT

Tiêm bắp, điều trị liên tục trong 3 ngày.

* Bệnh viêm vú

- Nguyên nhân:

Trầy xước vú do sàn, nền chuồng gồ ghề sắc nhọn, vi trùng xâm nhập

vào tuyến sữa. Hai loài vi trùng chính gây bệnh là Staphylococcus aureus và

Streptococcus agalactiae. Ngoài ra còn các nguyên nhân gây viêm như số con

32

quá ít không bú hết lượng sữa sản xuất, kế phát từ viêm tử cung nặng hoặc do

kỹ thuật cạn sữa không hợp lý trong trường hợp cai sữa sớm. Do vệ sinh

không đảm bảo, chuồng trại quá nóng hoặc quá lạnh. Do lợn mẹ sát nhau, lợn

con khi sinh ra không được bấm răng nanh ngay. Lợn mẹ ăn quá nhiều thức

ăn có hàm lượng dinh dưỡng cao làm sữa tiết ra quá nhiều, ứ đọng lại trong

vú tạo điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập phát triển mạnh mẽ về số lượng và

độc lực (Nguyễn Như Pho, 2002 [16]).

Triệu chứng:

Theo Ngô Nhật Thắng (2006) [22], viêm vú thường xuất hiện ở một vài

vú nhưng đôi khi cũng lan ra toàn bộ các vú. Vú có màu hồng, sưng đỏ, sờ

vào thấy nóng, hơi cứng ấn vào lợn nái có phản ứng đau. Lợn nái giảm ăn,

trường hợp nặng thì bỏ ăn, sốt cao 40,5 - 42oC kéo dài trong suốt thời gian

viêm, sản lượng sữa giảm, lợn nái thường nằm úp đầu vú xuống sàn, ít cho

con bú. Lợn con thiếu sữa, kêu la, chạy vòng quanh lợn mẹ đòi bú. Lợn con ỉa

chảy, xù lông, gầy sọp, tỷ lệ chết cao 30 - 100% (Lê Hồng Mận, 2002 [14]).

Vắt sữa ở những vú bị viêm thấy sữa loãng, trong sữa có những cặn hoặc cục sữa

vón lại, xuất hiện những mảnh cazein màu vàng, xanh lợn cợn, đôi khi có máu.

Theo Nguyễn Thị Liễu Kiều (2018) [8], lợn sau khi sinh 2 ngày xuất

hiện những vú sưng đỏ, thường thấy đối xứng giữa 2 hàng vú, sờ vào có cảm

giác nóng, ấn vào vú lợn mẹ có biểu hiện đau. Nếu viêm nặng thì lợn bỏ ăn,

không muốn cho con bú, sốt 40,5 – 420C, vắt sữa ở những vú viêm thấy vón

cục. Vú viêm lây sang các vú khác rất nhanh. Nếu điều trị không kịp thời, lợn

sẽ bị mất sữa.

Trường hợp hàm lượng canxi huyết thấp sau khi sinh dẫn đến nái bị sốt

sữa thì tất cả các vú đều bị viêm, sưng đỏ.

- Hậu quả

Khi bị viêm vú, sản lượng sữa của lợn nái nuôi con giảm, trong sữa có

nhiều dịch viêm, mủ, sữa không đủ đáp ứng nhu cầu của lợn con hoặc khi lợn

33

con bú sữa sẽ dẫn đến tiêu chảy, ốm yếu, sức đề kháng giảm, dễ mắc bệnh và

trọng lượng cai sữa thấp.

Nếu viêm vú nặng dẫn đến huyết nhiễm trùng, huyết nhiễm mủ thì khó

chữa, lợn nái có thể chết.

Viêm vú kéo dài dẫn đến teo đầu vú, vú hóa cứng, vú bị hoại tử ảnh

hưởng đến khả năng tiết sữa của lợn nái ở lứa đẻ sau.

- Điều trị

Nếu điều trị kịp thời lợn sẽ khỏi trong vòng 3 - 5 ngày.

Các loại kháng sinh thường dùng: dufamox 15% LA, ampicilline,

cephalexine, gentamycine, norfloxacine... và có thể dùng corticoide để giảm

viêm kết hợp với vitamin. Ngoài ra trong trường hợp nái đẻ bị viêm nặng

chúng ta có thể chườm cát nóng kết hợp xoa bóp bầu vú.

* Bệnh sót nhau.

- Nguyên nhân:

Theo Trịnh Đình Thâu và Nguyễn Văn Thanh (2010) [23], sau khi đẻ

tử cung co bóp yếu trong thời gian mang thai, nhất là giai đoạn cuối con vật

không được vận động đầy đủ. Trong thức ăn thiếu các chất khoáng, nhất là

canxi và phốt pho. Tử cung bị sa liệt, con vật quá gầy yếu hoặc quá béo, chửa

quá nhiều thai, thai quá to, hiện tượng khó đẻ, nước ối quá nhiều làm tử cung

giãn nở quá mức.

Do viêm niêm mạc tử cung trước lúc đẻ làm dính nhau với tử cung hoặc

nhau chưa ra hết thì người đỡ đẻ đã kéo đứt còn lại một ít sót lại trong tử cung.

Do lợn con còn sót lại ở trạng thái nằm sai vị trí làm tắc đường ra của nhau.

- Triệu chứng:

Sau khi đẻ 4 - 5 giờ không thấy nhau ra hoặc ra không hết là bị sót nhau.

Lợn nái rặn nhiều, đôi khi bỏ ăn, sốt cao liên tục 40 - 410C trong vòng

1 - 2 ngày, lợn mẹ cắn con, không để cho con bú, niêm dịch chảy ra màu đục,

lẫn máu.

34

- Điều trị:

Theo Trịnh Đình Thâu và Nguyễn Văn Thanh (2010) [23], can thiệp

kịp thời ngay khi nái có biểu hiện bệnh, không để quá muộn sẽ gây ra viêm tử

cung, can thiệp đúng kỹ thuật, không quá mạnh tay, tránh gây tổn thương.

Tiêm oxytoxin để kích thích co bóp tử cung cho nhau còn sót lại đẩy ra ngoài

hết. Sau khi nhau thai ra dùng nước muối sinh lý 0,9% để rửa tử cung trong

ba ngày liên tục .

2.3. Tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước

2.3.1. Các nghiên cứu trong nước

Ở Việt Nam đã có nhiều nghiên cứu về bệnh sinh sản trên lợn nái. Bệnh

sinh sản có ảnh hưởng rất lớn đến năng suất sinh sản của lợn nái, nó không

chỉ làm giảm sức sinh sản của lợn nái mà còn có thể làm cho nái mất khả

năng sinh sản, chậm sinh hay làm giảm khả năng sống sót của lợn con.

Nguyễn Văn Thanh và cs. (2015) [20], bệnh viêm tử cung ở gia súc nói

chung là một quá trình bệnh lý phức tạp được thể hiện dưới nhiều thể khác

nhau. Đây là một trong những nguyên nhân chính dẫn tới hiện tượng rối loạn

sinh sản, ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng sinh sản của gia súc cái sinh sản.

Theo Phạm Sỹ Lăng và cs. (2002) [9], bệnh viêm tử cung do vi khuẩn

Streptococcus và Colibacillus nhiễm qua cuống rốn của lợn con sang lợn mẹ

do đẻ khó, sát nhau, sảy thai hay qua dụng cụ thụ tinh nhân tạo cứng gây xây

xát tạo các ổ viêm nhiễm trong tử cung, âm đạo.

Theo Lê Minh và cs. (2017) [12], tùy theo mức độ tổn thương, loại vi

khuẩn, mức độ phát triển và hoạt động của vi khuẩn, sự rối loạn chức năng

sinh lý và nội tiết tử cung mà tử cung có biểu hiện các triệu chứng lâm sàng

khác nhau.

35

Theo Nguyễn Thị Ngân và cs. (2016) [15], đo thân nhiệt là một biện

pháp không thể thiếu được trong chẩn đoán bệnh. Thân nhiệt cao hay thấp

hơn bình thường được coi là triệu chứng bệnh quan trọng.

Theo Nguyễn Đức Lưu và Nguyễn Hữu Vũ (2004) [10], viêm tử cung

là một bệnh lý thường xảy ra ở gia súc cái sinh sản sau đẻ. Quá trình viêm

làm ảnh hưởng đến các tế bào tổ chức của các lớp hay các tầng tử cung làm

rối loạn sinh sản ở gia súc cái, gây ảnh hưởng lớn, thậm chí làm mất khả năng

sinh sản ở gia súc cái. Trong quá trình mang thai lợn ăn nhiều chất dinh

dưỡng, ít vận động hoặc bị nhiễm một số bệnh truyền nhiễm như: bệnh xoắn

khuẩn (Leptospirosis), bệnh sảy thai truyền nhiễm (Brucellosis) và một số

bệnh truyền nhiễm khác làm cơ thể lợn nái yếu dần, dẫn đến lợn sảy thai, đẻ

non, thai chết lưu từ đó dẫn đến viêm tử cung.

Đồng thời cũng có nhiều tác giả đã có những tổng kết về tỷ lệ mắc bệnh

viêm tử cung ở lợn:

Theo Nguyễn Như Pho (2002) [16], lợn Yorkshire, Landrace trong giai

đoạn nuôi con mắc bệnh viêm tử cung chiếm tỷ lệ 15%, chữa kịp thời có thể

khỏi 100%, song ảnh hưởng đến sức khỏe của lợn nái. Phần lớn nguyên nhân

là do những trường hợp đẻ khó dẫn tới viêm tử cung.

Theo Nguyễn Đức Lưu và Nguyễn Hữu Vũ (2004) [10], lợn nái sau khi

sinh bị viêm tử cung chiếm tỷ lệ 42,4%. Viêm tử cung trên nhóm thuần chiếm

25,48%; trên nhóm lai chiếm 50,48%. Viêm tử cung xảy ra cao nhất là ở lứa 1

và lứa 2. Tỷ lệ chậm động dục ở nhóm lợn bị viêm tử cung cao nhiều hơn so

với nhóm lợn không bị viêm tử cung.

Theo Trần Tiến Dũng và cs. (2002) [4], bệnh viêm đường sinh dục ở

lợn nái sinh sản chiếm tỷ lệ cao từ 30 - 50%, trong đó cơ quan ngoài chiếm

20%, còn lại 80% là viêm tử cung. Tỷ lệ viêm tử cung sau đẻ ở lợn nái ngoại

cũng cao từ 1,82 - 23,33%.

36

2.3.2. Tình hình nghiên cứu ngoài nước

Hiện nay, ngành chăn nuôi lợn trên thế giới đang rất phát triển, các

nước không ngừng đầu tư cải tạo chất lượng đàn giống và áp dụng các biện

pháp khoa học kỹ thuật tiên tiến nhằm nâng cao năng suất chăn nuôi. Jose

Bento và cs. (2012) [26] cho biết năng suất sinh sản của đàn lợn Landrace ở

Thụy Điển thu được từ 19 đàn hạt nhân bao gồm 20,27 lứa đẻ và 6,9 nái thuần

từ giai đoạn 1994 - 1997 như sau: số con sơ sinh/ổ là 11,61; số con sơ sinh

còn sống/ổ: 10; thời gian từ cai sữa đến phối giống: 5,6; tỷ lệ đẻ là 82,8%;

tuổi đẻ lứa đầu là 335,6 ngày.

Tuy nhiên vấn đề hạn chế bệnh sinh sản là một vấn đề tất yếu cần phải

giải quyết, đặc biệt là bệnh viêm đường sinh dục. Đã có rất nhiều nhà khoa

học nghiên cứu về bệnh viêm đường sinh dục và đã đưa ra các kết luận giúp

cho người chăn nuôi lợn nái hạn chế được bệnh này. Tuy vậy, tỷ lệ mắc bệnh

viêm đường sinh dục trên đàn lợn nái sinh sản vẫn rất cao.

Nguyên nhân của bệnh viêm đường sinh dục là do đường sinh dục bị

tổn thương, do hiện tượng sát nhau. Bệnh phát triển là do nuôi dưỡng không

tốt, do những dụng cụ, chất kích thích đẻ phá hoại hoặc làm kết tủa chất nhầy

ở bộ máy sinh dục.

Theo Trekaxova và cs. (1983) [25], chữa bệnh viêm vú cho lợn nái cần

sử dụng các phương pháp chữa bệnh kết hợp. Dùng novocain phong bế phối

hợp với điều trị bằng kháng sinh cho kết quả tốt. Để phong bế thần kinh tuyến

sữa, tác giả đã dùng dung dịch novocain 0,5% liều từ 30 - 40 ml cho mỗi túi

vú. Thuốc tiêm vào mỗi thuỳ vú bệnh, sâu 8 - 10 cm. Dung dịch novocain còn

được bổ sung 100 - 200 ngàn đơn vị penicillin hay kháng sinh khác. Đồng

thời, lợn nái còn được tiêm bắp cùng một loại kháng sinh trong novocain này,

từ 400 - 600 đơn vị, mỗi ngày 2 - 3 lần.

37

Phần 3

ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH

3.1. Đối tượng, địa điểm và thời gian thực hiện

- Đàn lợn nái sinh sản

- Địa điểm: Trang trại lợn Lê Duy Hiếu, xã Cát Nê, huyện Đại Từ, tỉnh

Thái Nguyên.

- Thời gian tiến hành: từ ngày 18/11/2018 - 18/5/2019.

3.2. Nội dung thực hiện

- Đánh giá tình hình chăn nuôi tại trang trại Lê Duy Hiếu, xã Cát Nê,

huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.

- Thực hiện quy trình chăm sóc lợn nái sinh sản.

- Áp dụng biện pháp phòng và trị bệnh cho lợn nái sinh sản.

3.3. Các chỉ tiêu và phương pháp thực hiện

3.3.1. Các chỉ tiêu thực hiện

- Tình hình sinh sản của đàn lợn nái nuôi tại trại Lê Duy Hiếu.

- Một số chỉ tiêu về số lượng lợn con của lợn nái sinh sản nuôi tại trại

Lê Duy Hiếu.

- Kết quả tiêm vắc xin của lợn nái tại cơ sở.

- Tình hình mắc bệnh của lợn nái tại cơ sở.

- Hiệu quả điều trị bệnh cho lợn nái của một số phác đồ.

3.3.2. Phương pháp thực hiện

- Phương pháp đánh giá tình hình chăn nuôi tại trang trại Lê Duy Hiếu:

để đánh giá tình hình chăn nuôi tại cơ sở chúng em tiến hành thu thập thông

tin từ cơ sở, kết hợp với kết quả theo dõi tình hình thực tế tại cơ sở.

- Trực tiếp thực hiện các quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng lợn tại cơ sở.

- Phương pháp xác định các chỉ tiêu về số lượng: trực tiếp theo dõi và

thông qua hệ thống sổ sách theo dõi của trại.

38

- Phương pháp chẩn đoán và điều trị bệnh cho lợn: Để xác định tình

hình nhiễm bệnh trên đàn lợn, tiến hành theo dõi lợn thông qua phương pháp

chẩn đoán lâm sàng. Quan sát các biểu hiện như: trạng thái cơ thể, bộ phận

sinh dục ngoài, dịch rỉ viêm, phân...ghi chép vào nhật ký thực tập. Từ các

triệu chứng thu thập được tiến hành chẩn đoán và điều trị bệnh cho lợn.

- Phương pháp hiệu quả điều trị bệnh cho lợn: Xác định hiệu quả của

các phác đồ điều trị bệnh cho lợn con theo mẹ bằng cách: theo dõi triệu chứng

lâm sàng của lợn, sau đó dùng thuốc theo đúng liệu trình (tùy từng bệnh cụ

thể), khi dùng hết liệu trình, quan sát lại những triệu chứng của lợn để đánh

giá và kết luận hiệu quả của các phác đồ.

3.3.3. Phương pháp xác định các chỉ tiêu theo dõi

Số liệu thu được được xử lý trên phần mềm Microsoft Excel 2010 với

các tham số như sau:

- Tỷ lệ lợn mắc bệnh:

∑ số lợn mắc bệnh Tỷ lệ lợn mắc bệnh (%) = x 100 ∑ số lợn theo dõi

- Tỷ lệ lợn khỏi:

Σ số con khỏi bệnh Tỷ lệ khỏi (%) = x 100 Σ số con điều trị

39

Phần 4

KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

4.1. Tình hình chăn nuôi lợn tại trang trại Lê Duy Hiếu xã Cát Nê, huyện

Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên qua 2 năm từ năm 2018 đến tháng 5/2019

Trong thời gian thực tập em đã tìm hiểu được một số thông tin về tình

hình chăn nuôi lợn tại trại qua 2 năm từ năm 2018 đến tháng 5 năm 2019

được trình bày cụ thể trong bảng 4.1.

Bảng 4.1. Quy mô chăn nuôi của trại Lê Duy Hiếu

trong 2 năm gần đây (2018 – T5/2019)

Năm STT Loại lợn

1 Lợn đực giống 2018 1 T5/2019 1

2 Lợn nái sinh sản 54 60

3 Lợn nái hậu bị 7 5

Qua bảng 4.1 cho thấy, số lợn đực giống, lợn nái sinh sản và lợn nái

4 Lợn con 1342 544

hậu bị gần như ổn định trong 2 năm, do số liệu mới theo dõi từ tháng 1 đến

tháng 5 năm 2019 nên số lượng lợn con thấp hơn so với năm 2018.

4.2. Kết quả thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng cho đàn lợn tại

trang trại

Trong sáu tháng thực tâp, em được phân công theo dõi, chăm sóc, nuôi

dưỡng đàn lợn tại chuồng lợn nái đẻ. Dưới đây là các kết quả thống kê liên

quan đến số lượng lợn nái và lợn con em đã trực tiếp chăm sóc tại cơ sở trong

sáu tháng thực tập.

4.2.1. Kết quả quá trình chăm sóc và nuôi dưỡng đàn lợn nái sinh sản tại trại

Trong sáu tháng thực tập, từ 18/11/2018 đến 18/05/2019 em được tiếp

nhận vào trại, vệ sinh bên ngoài chuồng trại thực hiện khâu cách ly, sau đó em

40

thực tập trong chuồng lợn bầu. Đến 01/12/2018 em được phân công thực tập

tại chuồng nái đẻ. Trong thời gian thực tập tại chuồng lợn nái đẻ em đã ghi chép

lại số lượng lợn nái và lợn con theo mẹ tại chuồng đẻ do em trực tiếp chăm sóc

nuôi dưỡng. Kết quả được trình bày lần lượt tại bảng 4.2 và bảng 4.3.

Bảng 4.2. Số lượng lợn nái và lợn con theo mẹ trực tiếp chăm sóc nuôi

dưỡng tại trại trong thời gian tháng thực tập

Lợn con theo mẹ Nái đẻ (con) Tháng (con)

12/2018 10 119

01/2019 9 107

02/2019 11 136

03/2019 10 121

04/2019 9 110

05/2019 6 70

Tổng 55 663

Số liệu bảng 4.2 cho biết số lợn nái đẻ, nái nuôi con và số lợn con theo

Trung bình 9,16 110,5 (con/ tháng)

mẹ em trực tiếp chăm sóc trong quá trình thực tập tại cơ sở. Trong thời gian

thực tập em làm việc ở chuồng đẻ đã trực tiếp chăm sóc 55 con lợn đẻ trung

bình 9,16 nái/tháng và trung bình 110,5 lợn con/tháng.

Quá trình chăm sóc lợn nái và lợn con theo mẹ được thực hiện theo sự

hướng dẫn của chủ trại và kĩ sư của trại. Trong quá trình chăm sóc, nuôi

dưỡng đàn lợn, em đã được hướng dẫn để thực hiện quy trình chăm sóc lợn

nái và lợn con giai đoạn theo mẹ như cách cho ăn, loại thức ăn cho từng loại

lợn, khẩu phần ăn của lợn nái trong từng thời kỳ, các thao tác kỹ thuật để

chăm sóc tốt lợn mẹ và lợn con.

41

Qua quá trình làm việc em cũng rút ra được nhiều kinh nghiệm như:

đối với lợn nái sau khi tách con cần áp dụng chế độ ăn tăng để tăng số trứng

rụng và tăng số con đẻ ra trên lứa; chuồng trại phải sạch sẽ, thoáng mát,

không nên tắm cho lợn vào những ngày lạnh, ẩm ướt vì sẽ làm ẩm chuồng, độ

ẩm không khí tăng, vi sinh vật dễ phát triển trong môi trường làm lợn nái dễ

nhiễm bệnh: Những ngày trời rét phải chuẩn bị ổ, bóng úm và thảm lót cho

lợn con. Đối với lợn mẹ sau khi đẻ phải cung cấp đầy đủ dinh dưỡng, giữ cho

chuồng trại luôn khô ráo, sạch sẽ, giữ ấm và tuyệt đối không tắm cho lợn .

Bảng 4.3. Kết quả thực hiện thao tác đỡ đẻ cho lợn tại trang trại

Đẻ bình Số con đẻ khó Tỷ lệ Tháng/năm Số con đẻ Tỷ lệ (%) thường phải can thiệp (%)

12/2018 10 9 90,00 1 10,00

01/2019 9 8 88,88 1 11,12

02/2019 11 11 100 0 0

03/2019 10 10 100 0 0

04/2019 9 9 100 0 0

05/2019 6 6 100 0 0

Tổng 55 53 96,36 2 3,64

Bảng 4.3 cho thấy trong 55 lợn nái đẻ theo dõi có 2 nái đẻ bình thường

chiếm tỷ lệ 96,36%, có 2 nái đẻ khó phải can thiệp chiếm tỷ lệ 3,64%. Lợn nái

đẻ khó phải can thiệp là do lợn đẻ ở những lứa đầu, do lợn ăn nhiều vào kỳ

cuối của thai kỳ làm thai quá to, do ngôi thai không thuận, do lợn mẹ ít được

vận động và do sức khỏe của lợn mẹ không tốt. Tỷ lệ đẻ khó trung bình trong

sáu tháng chỉ 3,64% tỷ lệ này ở mức thấp cho thấy trong quá trình nuôi dưỡng

đã thực hiện đúng quy trình về thức ăn, kỹ thuật chăm sóc cho lợn nái sinh

sản được thực hiện tốt

42

Khi đỡ lợn đẻ cần chuẩn bị tốt ô úm, vệ sinh sàn và vùng mông lợn nái

trước khi lợn đẻ. Người trực tiếp đỡ đẻ cần cắt ngắn móng tay, chú ý quan sát

biểu hiện của lợn nái khi đẻ và thời gian đẻ để kịp thời hỗ trợ can thiệp khi

lợn đẻ khó bằng cách tiêm oxytocin, xoa bóp bầu vú, kéo thai ra. Người thực

hiện tháo tác kéo thai cần vệ sinh tay sạch sẽ, bôi trơn, tháo tác đúng kỹ thuật.

4.2.2. Thực hiện chăm sóc, nuôi dưỡng lợn con

Trong thời gian thực tập tại trại, em vừa tham gia chăm sóc, nuôi

dưỡng đàn lợn nái đẻ vừa được học và làm một số các thao tác trên đàn lợn

con như đỡ lợn đẻ, mài nanh, cắt đuôi, thiến lợn đực.

* Đỡ đẻ lợn con: thao tác đỡ đẻ cho lợn con được em thực hiện như sau:

- Sau khi lợn mẹ đẻ, lấy lợn con chuồng từ trong ra.

- Vuốt hết dịch vùng đầu và mặt. Vỗ nhẹ vào thân để kích thích hô hấp.

- Vuốt hết màng bọc và nhớt ở phần thân và chân lợn. Dùng bột lăn rắc

lên lợn, lợn con phải khô và sạch trước khi cắt dây rốn.

- Cầm lợn con và dây buộc rốn, thắt dây rốn ở vị trí cách cuống rốn

2,5cm, dùng kéo cắt phần bên ngoài nút thắt một đoạn bằng 1/2 bên trong nút

buộc khoảng 1,5 cm. Sát trùng dây rốn, vùng cuống rốn bằng cồn iod.

- Cho lợn con vào lồng úm, nhiệt độ từ 33 – 350C.

- Trước khi cho lợn con ra bú cần lau sạch vú lợn mẹ, lót thảm cho lợn

con ra bú.

- Phải trực liên tục cho đến khi lợn nái đẻ xong hoàn toàn, nhau ra hết,

lợn nái trở về trạng thái yên tĩnh và cho con bú.

* Thao tác mài nanh, cắt đuôi và tiêm chế phẩm Fe-B12 cho lợn con:

lợn con sau khi bú mẹ sức khỏe tốt hơn, cứng cáp hơn sẽ được tiến hành mài

nanh, cắt đuôi, tiêm chế phẩm Fe-B12. Thường thì chế phẩm Fe-B12 sẽ được

tiêm vào từ 1 đến 3 ngày tuổi sau khi lợn con sinh với liều lượng 2ml/con,

nhưng để tránh gây stress cho lợn con và tiện cho các thao tác kỹ thuật thì trại

43

thực hiện các công việc đó cùng một lúc. Sắt sẽ được tiêm bổ sung lần 2 vào 7

- 10 ngày tuổi nếu thấy cần thiết.

* Thiến lợn đực: đối với lợn đực nuôi thịt ta cần thiến càng sớm càng

tốt. Thông thường, trong chăn nuôi lợn nái sinh sản người ta thường thiến lợn

vào 4-6 ngày tuổi. Nhưng thực tế trại chúng thực hiện thiến lợn đực vào ngày

thứ 5 sau khi sinh.

Trước khi thiến lợn đực cần chuẩn bị dụng cụ thiến đầy đủ gồm: dao

thiến, cồn sát trùng, panh, kẹp, bông gòn, khăn vải sạch, xi - lanh tiêm và

thuốc kháng sinh.

Thao tác: đầu tiên là tiêm cho lợn con 1ml/con kháng sinh

(amoxicillin). Sau đó người thiến ngồi ghế cao và kẹp lợn con vào giữa 2 đùi

sao cho đầu của lợn con hướng xuống dưới. Một tay nặn sao cho dịch hoàn

nổi rõ, tay còn lại cầm dao rạch hai vết đứt vào chính giữa của mỗi bên dịch

hoàn. Dùng 2 tay nặn dịch hoàn ra ngoài rồi lấy panh kẹp thừng dịch hoàn vào

giật dịch hoàn ra, dùng khăn sạch lau vùng dịch hoàn, bôi cồn vào vị trí thiến.

Trong thời gian thực tập tại trang trại em đã được tham gia chăm sóc và

nuôi dưỡng lợn con giai đoạn từ sơ sinh đến cai sữa. Kết quả một số chỉ tiêu

của đàn lợn và khối lượng công việc thực hiện được trình bày tại bảng 4.4.

Bảng 4.4. Kết quả thực hiện các thao tác xử lý trên đàn lợn con

Kết quả Số lượng Nội dung công việc (con) An toàn (con) Tỷ lệ (%)

Hộ lý lợn con mới sinh 673 663 98.51

Bấm nanh, cắt đuôi 663 663 10

Thiến lợn đực 320 320 100

Bảng 4.4 phản ánh khối lượng các thao tác kỹ thuật trên đàn lợn con tại

trang trại trong quy trình chăm sóc nuôi dưỡng mà em đã thực hiện trong thời

gian thực tập. Trực tiếp đỡ đẻ và hộ lý tại chỗ con mới sinh, số lượng 673 con

trong đó 663 con được xử lý an toàn đạt tỷ lệ 98,51%, có 10/673 lợn con bị

44

chết chiếm tỉ lệ 1,49%. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên là do lợn đẻ khó,

ngôi thai nghịch, nên một số lợn con bị chết ngạt do mắc kẹt lâu trong đường

sinh dục lợn mẹ. Để khắc phục tình trạng trên, chúng ta cần phải chú ý đến

khâu chăm sóc, theo dõi sức khỏe, thể trạng của lợn bầu từ đó đưa ra khẩu

phần ăn phù hợp để giảm hiện tượng khó đẻ. Công việc bấm nanh, bấm đuôi

con sinh được thực hiện sau khi lợn ra 12-24 giờ nhằm tránh gây tổn thương

núm vú lợn mẹ khi bú sữa và cơ thể lợn con khi chúng cắn nhau, số lượng

được thực hiện là 663 an toàn 100%. Tiến hành thiến lợn đực khi được 5 ngày

tuổi, số lượng đã thực hiện 320 con lợn đực, an toàn 100%.

4.3. Kết quả thực hiện quy trình vệ sinh phòng bệnh cho đàn lợn tại

trang trại

4.3.1. Kết quả thực hiện các biện pháp vệ sinh phòng bệnh

Công tác vệ sinh phòng bệnh giữ vai trò rất quan trọng trong chăn nuôi.

Vệ sinh hướng đến nhiều yếu tố: vệ sinh môi trường xung quanh, vệ sinh

nguồn nước, vệ sinh chuồng trại…

Trong thời gian sáu tháng thực tập tại trang trại chúng em đã tuân thủ

thực hiện nghiêm quy trình vệ sinh trong chăn nuôi. Hàng ngày, chúng em

được phân công thực hiện thu gom phân thải, rửa chuồng, quét lối đi lại giữa

các dãy chuồng. Định kỳ tiến hành phun thuốc sát trùng, quét vôi, phun thuốc

diệt muỗi, quét mạng nhện trong chuồng và rắc vôi bột ở cửa ra vào chuồng.

Khi rắc vôi bột dọc hành lang, đường trong chuồng tiến hành rắc ngược

từ hướng quạt thông gió tới giàn mát để tránh bột vôi bay lên bám vào người,

gây sặc. Sử dụng các dụng cụ bảo hộ như khẩu trang, găng tay để bảo vệ

đường hô hấp, hạn chế tổn thương da cho người thực hiện.

Việc vệ sinh, phun sát trùng được thực hiện vào cuối buổi sáng hoặc

cuối buổi chiều thường xuyên theo lịch vệ sinh chuồng trại.

Khi lượng người ra vào trại để thực hiện các công việc tăng lên hoặc khu

vực chăn nuôi lân cận có dịch bệnh thì việc phun sát trùng sẽ được tăng cường.

45

Bảng 4.5. Lịch sát trùng trại lợn nái

Trong chuồng

Ngoài khu

Ngoài

vực chăn

Thứ

Chuồng nái

Chuồng

Chuồng đẻ

chuồng

nuôi

chửa

cách ly

Phun sát

Phun sát

Quét hoặc rắc

Phun sát trùng

Phun sát

Thứ 2

trùng toàn bộ

trùng toàn

vôi đường đi

+ rắc vôi

trùng

khu vực

bộ khu vực

Phun sát trùng +

Quét hoặc

-

Thứ 3 Phun sát trùng

quét vôi đường

rắc vôi

-

đi

đường đi

-

Thứ 4

Phun sát trùng

Rắc vôi

Rắc vôi

Xả vôi xút gầm

Phun sát trùng

-

-

Thứ 5

Phun ghẻ

-

+ xả vôi xút gầm

Phun sát trùng

Phun sát

Phun sát

Thứ 6 Phun sát trùng

Phun sát trùng

+ rắc vôi

trùng

trùng

-

-

Thứ 7 Phun sát trùng Phun sát trùng

-

Vệ sinh tổng

Vệ sinh tổng

Vệ sinh tổng

Vệ sinh tổng

Chủ nhật

-

chuồng

chuồng

chuồng

khu

Những việc em đã tham gia vào vệ sinh phòng bệnh theo lịch sát trùng

của trại là: phun sát trùng chuồng đẻ, rắc vôi đường đi, đường lấy phân,

đường tra cám, xả vôi gầm và quét dọn vệ sinh toàn chuồng. Chủ nhật hàng

tuần sau khi đã làm xong các công việc trong chuồng, em cùng mọi người tiến

hành tổng vệ sinh bên trong và bên ngoài chuồng.

4.3.2. Kết quả phòng bệnh bằng thuốc và vắc xin cho lợn nái và lợn con

Quy trình phòng bệnh bằng thuốc và vắc xin cho đàn lợn tại trang trại

được thực hiện tích cực, thường xuyên và bắt buộc. Tiêm phòng cho đàn lợn

nhằm tạo ra trong cơ thể chúng một sức miễn dịch chủ động, chống lại sự

xâm nhập của vi khuẩn, tăng sức đề kháng cho cơ thể. Trong sáu tháng thực

46

tập em đã tham gia vào công tác tiêm thuốc và vắc xin phòng bệnh cho đàn

lợn nái và lợn con tại trang trại. Kết quả thu được trình bày tại bảng 4.6.

Bảng 4.6. Kết quả tiêm thuốc và vắc xin phòng bệnh cho đàn lợn

tại trang trại

Số lượng

Số lợn an

Thời điểm

Tỷ lệ

Loại lợn

Bệnh được phòng

con tiêm

toàn sau

phòng bệnh

(%)

(con)

tiêm (con)

65 - 75 ngày

Dịch tả

10

10

100

Lợn nái

trước đẻ

85 - 95 ngày

Lở mồm long móng

25

25

100

10 - 15 ngày

Sảy thai truyền nhiễm

28

28

100

Lợn nái

sau đẻ

20 - 23 ngày Tẩy ký sinh trùng + ADE

5

5

100

Tiêm chế phẩm Fe - B12

3 ngày tuổi

663

663

100

phòng bệnh thiếu máu

Cầu trùng

Lợn con

3 ngày tuổi

663

663

100

(cho uống)

18 - 21 ngày

Mycoplasma + còi cọc

390

390

100

tuổi

Bảng 4.6 là quy trình phòng bệnh cho đàn lợn con và lợn nái bằng vắc

xin của trại. Lợn con từ 3 ngày tuổi sẽ được tiêm chế phẩm Fe - B12 để phòng

bệnh thiếu máu ở lợn con, đồng thời tăng sức đề kháng cho lợn con và 100%

số lợn con ở trại đều phải được tiêm sắt và cho uống thuốc cầu trùng . Trong

thời gian thực tập, em đã tiêm Fe-B12 và cho uống cầu trùng được 663 con

lợn con đạt tỷ lệ là 100% tổng số lợn con trực tiếp chăm sóc. Lợn con 18 - 21

ngày tuổi sẽ được tiêm vắc xin respisure 1one phòng bệnh suyễn lợn và vắc

xin fostera PCV, em đã tiêm được cho 390 con. Nhưng để tránh stress cho lợn

con tại trại em tiến hành tiêm vắc xin phòng suyễn và vắc xin còi cọc cùng

một lúc ở 2 bên hốc tai lợn.

Đối với lợn nái, lợn nái chửa 85 - 95 vắc xin ngày tiêm phòng bệnh lở

mồm long móng, nái chửa 65 - 75 ngày tiêm vắc xin pest-vac phòng dịch tả.

47

Lợn nái nuôi con được 10 - 15 ngày sẽ được tiêm vắc xin sảy thai

truyền nhiễm, em đã được tiêm 28 con. Lợn nái được 20 - 23 ngày sẽ được

tiêm thuốc tẩy cầu trùng, em đã được tiêm 5 con.

Việc sử dụng vắc xin để phòng bệnh được thực hiện nghiêm túc theo

đúng lịch tiêm vắc xin của công ty cổ phần dinh dưỡng Hải Thịnh. Nhờ đó mà

khả năng miễn dịch của lợn được tăng lên, tỷ lệ số nái mắc các bệnh về sinh

sản giảm, số con sinh ra nhiều, lợn con đẻ ra khỏe mạnh ít bị bệnh, nâng cao

hiệu quả kinh tế.

4.4. Kết quả chẩn đoán và điều trị bệnh cho lợn nái sinh sản và lợn con

theo mẹ tại trại lợn Lê Duy Hiếu

4.4.1. Tình hình mắc bệnh ở đàn lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ tại

trại lợn Lê Duy Hiếu

Trong thời gian sáu tháng thực tập tại trại em đã được tham gia vào

công tác chẩn đoán và điều trị bệnh cho đàn lợn nái cùng với chủ trại và kỹ sư

của Công ty cổ phần dinh dưỡng Hải Thịnh. Qua đó chúng em đã được trau

dồi thêm kiến thức, kinh nghiệm về chẩn đoán một số bệnh thường gặp,

nguyên nhân gây ra bệnh và cách khắc phục, điều trị bệnh. Sau đây là kết quả

của công tác chẩn đoán bệnh dựa trên biểu hiện lâm sàng của con vật.

* Đẻ khó

Triệu chứng: Lợn nái có biểu hiện rặn nhiều lần, rặn mạnh, thậm chí

lợn nái còn rặn căng bụng, cong lưng, chân đạp vào thành chuồng để rặn nhưng

thai vẫn không ra. Khi đưa tay vào đường sinh dục thấy khung xoang chậu hẹp,

thai to hoặc ở tư thế không bình thường nằm kẹt ở trước cửa xoang chậu.

* Bệnh viêm tử cung

Triệu chứng: sau khi lợn đẻ 2 - 3 ngày, lợn sốt nhẹ 40,5 - 420C, giảm ăn

hay bỏ ăn, có dịch nhầy chảy ra từ âm hộ, màu trắng đục hoặc màu phớt vàng.

Lợn nái bỏ ăn, mệt mỏi.

Kết quả theo dõi tình hình mắc bệnh được trình bày ở bảng 4.7

48

Bảng 4.7. Tình hình mắc bệnh trên đàn lợn nái sinh sản và lợn con theo

mẹ tại trại

Đối tượng Chỉ tiêu theo dõi Tên bệnh Tỷ lệ (%)

Lợn mẹ Baị liệt sau đẻ Số con theo dõi (con) 55 Số con mắc bệnh (con) 1 1,81

Đẻ khó 55 2 3,64

Viêm tử cung 55 3 5,45

663 Lợn con Tiêu chảy 258 39,92

Bảng 4.7 cho thấy, số lợn mắc bệnh viêm tử cung với tỷ lệ 5,45%.

Nguyên nhân mắc bệnh viêm tử cung ở đàn lợn nái nuôi tại trại cao do trong thời

gian đầu thực tập sinh viên chưa có kinh nghiệm, các thao tác can thiệp hỗ trợ

lợn đẻ trong trường hợp đẻ khó chưa tốt dẫn tới viêm nhiễm đường sinh dục.

Lợn đẻ khó với tỉ lệ 3,64%, do lợn nái ít được vận động, ngôi thai

không thuận, thai quá to, sức khỏe lợn mẹ yếu

Tỷ lệ mắc các bệnh bại liệt sau đẻ và viêm khớp của đàn lợn nái tại trại

là 1,81%. Nguyên nhân chủ yếu là do điều kiện nuôi nhốt tập chung ít được

vận động, thiếu ánh sáng. Một phần do yếu tố cá thể lợn hấp thu dinh dưỡng

kém nên gầy yếu, thiếu hụt canxi dẫn tới dễ bị viêm khớp, bại liệt. Ngoài ra

do quá trình sinh đẻ chiều hướng thai không bình thường và quá trình can

thiệp hỗ trợ lợn đẻ khó chưa đúng kỹ thuật làm tổn thương dây thần kinh, lợn

mẹ tụt giảm canxi huyết trong thời gian nuôi con dẫn tới bại liệt.

Tỷ lệ lợn con bị tiêu chảy chiếm 39,92%. Nguyên nhân chủ yếu do thay

đổi thời tiết và do lợn mẹ kém sữa.

4.4.2. Kết quả điều trị bệnh trên lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ

Công tác điều trị bệnh cho đàn lợn nái và lợn con tại trang trại được

tiến hành dựa trên những nguyên tắc khoa học dưới sự chỉ dẫn của chủ trại và

kĩ sư trên cơ sở đảm bảo tính kinh tế.

49

Kết quả công tác điều trị được trình bày tại bảng 4.8.

Bảng 4.8. Kết quả trực tiếp điều trị bệnh trên đàn nái sinh sản và lợn con

theo mẹ tại trại

Chỉ tiêu Kết quả Thời

gian Thuốc điều Liều Đường Số con Số con dùng Tỷ lệ trị lượng tiêm điều trị khỏi thuốc (%) (con) (con) (ngày) Tên bệnh

Oxytocin 2ml/con Viêm tử Tiêm bắp 3 - 5 3 100 3 1 ml/20 cung Amoxgen kg TT

Bệnh bại liệt Calcium 15 ml/con Tiêm bắp 2 - 3 1 100 1

Đẻ khó Oxytocin 1,5 ml Tiêm bắp 1 2 100 2

Tiêm bắp Ampicolistin

0,5 - 2 và truyền Tiêu chảy 2 - 3 258 243 94,18 ml/con xoang Atropin

bụng

Qua bảng 4.8 cho thấy: trong 3 con mắc bệnh viêm tử cung điều trị

khỏi 3 con đạt tỷ lệ 100% do bệnh được phát hiện sớm và điều trị kịp thời. Có

1 con mắc bệnh bại liệt sau sinh điều trị khỏi 1 con đạt tỷ lệ khỏi là 100%. Do

khi lợn đã mắc bệnh, khả năng phục hồi cơ xương rất khó nên khả năng đi lại,

vận động kém hoặc mất khả năng vận động dẫn đến bị hoại tử phần tiếp xúc

với nền sàn chuồng, nếu để lâu lợn mẹ gầy yếu dẫn đến chết.

Có 2 lợn bị đẻ khó, can thiệp thành công 2 con, tỷ lệ khỏi đạt 100%.

50

Với bệnh bại liệt sau sinh trại dùng Calcium với liều 15ml/con, tiêm

bắp, điều trị trong 2 - 3 ngày kết hợp với kiểm tra thức ăn, hỗ trợ con vật trở

mình thường xuyên và vệ sinh sạch sẽ nền chuồng để tránh chỗ nằm lâu bị

thối loét.

Những con lợn con bị tiêu chảy do lợn mẹ kém sữa hoặc do thay đổi

thời tiết làm lợn con bị tiêu chảy. Với bệnh tiêu chảy lợn con trại dùng thuốc

Enrotil và nước muối sinh lý pha atropin. Có 258 con mắc bệnh, được điều trị

khỏi 243 con chiếm tỷ lệ là 94,18%. Số lợn con bị tiêu chảy điều trị không

khỏi là 15 con, do bị bệnh quá nặng, bỏ bú, gầy còm dẫn tới thể trọng quá nhỏ

nên em đã chủ động loại thải

51

Phần 5

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

5.1. Kết luận

Qua sáu tháng thực tập tốt nghiệp tại trại chăn nuôi Lê Duy Hiếu, em

có một số kết luận về trại như sau :

- Về hiệu quả chăn nuôi của trại:

+ Hiệu quả chăn nuôi của trại khá tốt.

+ Do năm nay giá lợn giảm mạnh nên việc xuất bán lợn bị chậm lại

- Về công tác thú y của trại:

+ Quy trình phòng bệnh cho đàn lợn tại trang trại luôn thực hiện

nghiêm ngặt, với sự giám sát chặt chẽ của chủ trại.

Quy trình phòng bệnh bằng vắc xin được trại thực hiện nghiêm túc, đầy

đủ và đúng kỹ thuật. Tỷ lệ tiêm phòng vắc xin cho đàn lợn đạt an toàn 100%.

- Những chuyên môn đã được học tại trại:

Qua sáu tháng thực tập tại trang trại em đã được chủ trang trại truyền

đạt kiến thức và hướng dẫn các thao tác kỹ thuật trong quy trình chăm sóc

nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho đàn lợn. Những công việc em đã được

hướng dẫn và thực hiện gồm có:

+ Đỡ đẻ cho 55 con lợn

+ Mài nanh, cắt đuôi, tiêm sắt và cho uống thuốc cầu trùng 663 con an

toàn 100%.

+ Thiến lợn đực cho 320 con an toàn 100%

+ Tham gia công tác vệ sinh phòng bệnh tại trang trại

+ Tham gia vào công tác tiêm thuốc và vắc xin phòng bệnh cho đàn lợn.

+ Tham gia công tác điều trị bệnh cho 3 con lợn nái bị viêm tử cung, 1

con bị bại liệt sau đẻ, can thiệp 2 ca khó đẻ cho đàn lợn nái tại trang trại và

điều trị cho 258 con lợn con bị tiêu chảy.

52

5.2. Kiến nghị

+ Cần thực hiện tốt hơn công tác vệ sinh trước, trong và sau khi đẻ.

+ Trang trại cần phải quản lý người ra vào trại chặt chẽ hơn, yêu cầu

thực hiện công tác vệ sinh sát trùng nghiêm ngặt.

+ Xây dựng và tuân thủ phác đồ điều trị khoa học để nâng cao hiệu quả

điều trị và đề phòng hiện tượng kháng thuốc có thể xảy ra.

+ Tăng cường công tác quản lý lợn con để hạn chế thấp nhất tình trạng

lợn con chết do bị đè và rơi xuống gầm.

+ Hướng dẫn cho công nhân chi tiết về các kỹ thuật cơ bản trong chăn

nuôi, nhất là có công nhân mới.

+ Cần chú ý tới việc sử dụng nước trong chuồng để chuồng luôn khô

ráo làm giảm tỷ lệ lợn con theo mẹ mắc bệnh tiêu chảy.

53

TÀI LIỆU THAM KHẢO

I. Tài liệu tiếng Việt

1. Lê Xuân Cương (1986), Năng suất sinh sản của lợn nái, Nxb Nông nghiệp,

Hà Nội

2. Trần Thị Dân (2004), Sinh sản heo nái và sinh lý heo con, Nxb Nông

nghiệp, tp Hồ Chí Minh.

3. Đoàn Thị Kim Dung, Lê Thị Tài (2002), Phòng và trị bệnh lợn nái để sản

xuất lợn thịt siêu nạc xuất khẩu, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội.

4. Trần Tiến Dũng, Dương Đình Long, Nguyễn Văn Thanh (2002), Sinh sản

gia súc, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội.

5. Ngô Đức (2018), Bệnh bại liệt trên heo nái, Báo Nông Nghiệp Việt Nam.

6. Từ Quang Hiển, Phan Đình Thắm, Ngôn Thị Hoán (2001), Giáo trình thức

ăn và dinh dưỡng học gia súc - gia cầm, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội

7. Nguyễn Bá Hiên, Huỳnh Thị Mỹ Lệ, Lê Văn Lãnh, Đỗ Ngọc Thúy

(2012), Giáo trình bệnh truyền nhiễm thú y, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội.

8. Nguyễn Thị Liễu Kiều (2018), Bệnh thường gặp trên heo nái sau sinh,

Trung tâm khuyến nông TP.HCM

9. Phạm Sỹ Lăng, Phan Địch Lân, Trương Văn Dung (2002), Bệnh phổ biến

ở lợn và biện pháp phòng trị, tập II, Nxb Nông nghiệp, Trang 44 - 52.

10. Nguyễn Đức Lưu, Nguyễn Hữu Vũ (2004), Một số bệnh quan trọng ở lợn,

Nxb Nông nghiệp, Hà Nội.

11. Lê Hồng Mận (2002), Chăn nuôi lợn nái sinh sản ở nông hộ, Nxb Nông

nghiệp, Hà Nội.

12. Lê Minh, Nguyễn Văn Quang, Phan Thị Hồng Phúc, Đỗ Quốc Tuấn, La

Văn Công (2017), Giáo trình thú y, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội.

54

13. Lê Văn Năm (2009), Hướng dẫn điều trị một số bệnh ở gia súc, gia cầm,

Nxb Nông nghiệp.

14. Nguyễn Tài Năng, Phạm Đức Chương, Cao Văn, Nguyễn Thị Quyên

(2016), Giáo trình Dược lý học thú y, Nxb Đại học Hùng Vương.

15. Nguyễn Thị Ngân, Phan Thị Hồng Phúc, Nguyễn Quang Tính (2016),

Giáo trình chẩn đoán bệnh gia súc, gia cầm, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội.

16. Nguyễn Như Pho (2002), ”Ảnh hưởng của việc tăng cường điều kiện vệ

sinh đến hội chứng MMA và năng suất sinh sản heo nái”, Khoa học kỹ

thuật thú y, tập IX (số 1), Tr 60 - 65.

17. Trần Văn Phùng, Từ Quang Hiển, Trần Thanh Vân, Hà Thị Hảo (2004),

Giáo trình chăn nuôi lợn, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội.

18. Nguyễn Ngọc Phục (2005), Công tác vệ sinh thú y trong chăn nuôi lợn,

Nxb lao động xã hội, Hà Nội.

19. Lê Văn Tạo, Khương Bích Ngọc, Nguyễn Thị Vui, Đoàn Băng Tâm

(1993), “Nghiên cứu chế tạo vắc xin E. coli uống phòng bệnh phân trắng

lợn con”, Tạp chí Nông nghiệp Thực phẩm, số 9, Tr 324 - 325.

20. Nguyễn Văn Thanh, Nguyễn Thị Thương, Giang Hoàng Hà (2015), Bệnh

thường gặp ở lợn nái sinh sản chăn nuôi theo mô hình gia trại, Nxb Nông

nghiệp, Hà Nội.

21. Hoàng Toàn Thắng, Cao Văn (2006), Giáo trình sinh lý học động vật

nuôi, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội.

22. Ngô Nhật Thắng (2006), Hướng dẫn chăn nuôi và phòng trị bệnh cho lợn,

Nxb Lao động và xã hội, Hà Nội.

23. Trịnh Đình Thâu, Nguyễn Văn Thanh (2010),” Tình hình bệnh viêm tử

cung trên đàn lợn nái ngoại và các biện pháp phòng trị”, Tạp chí khoa

học kỹ thuật Thú y tập 17.

55

24. Nguyễn Thiện, Nguyễn Tấn Anh (1993), Thụ tinh nhân tạo cho lợn ở Việt

Nam, Nxb Nông nghiệp Hà Nội.

25. Trekaxova A.V, Đaninko L.M, Ponomareva M.I, Gladon N.P (1983),

Bệnh của lợn đực và lợn nái sinh sản, (Nguyễn Đình Chí dịch), Nxb Nông

nghiệp, Hà Nội.

II. Tài liệu tiếng nước ngoài

26. Jose Bento S., Ferraz and Rodger K., Johnson (2012), “Animal Model

Estimation of Genetic Pamaeters and Response to Selection. For Litter

Size and Weight, Growth, and Backfat in Closed Seedstock Populations of

Large White and Landrace Swine”, Department of Animal Science,

December 4, 2012, University of Nebraska, Linciln 68583 - 0908.

PHỤ LỤC

MỘT SỐ HÌNH ẢNH TRONG QUÁ TRÌNH THỰC TẬP

Hình 1: Buộc chỉ rốn cho lợn con Hình 2: Thiến lợn đực

Hình 3: Cắt đuôi cho lợn con Hình 4 : Cắt nanh cho lợn con

Hình 5: Tiêm vắc-xin suyễn cho Hình 6: Xịt rửa lồng úm lợn con

Hình 7: Đàn lợn con mới sinh Hình 8: Đàn lợn con 10 ngày tuổi