BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO

TRƢỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG ---o0o---

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

ĐỀ TÀI:

NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG

VỐN TỪ TIỀN GỬI TIẾT KIỆM DÂN CƢ TẠI NGÂN HÀNG TMCP QUỐC TẾ VIỆT NAM CHI NHÁNH PHẠM NGỌC THẠCH

SINH VIÊN THỰC HIỆN MÃ SINH VIÊN CHUYÊN NGÀNH

: PHẠM HÀ CHÂU : A15473 : TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG

HÀ NỘI - 2013

BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO

TRƢỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG ---o0o---

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

ĐỀ TÀI:

NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG

VỐN TỪ TIỀN GỬI TIẾT KIỆM DÂN CƢ TẠI NGÂN HÀNG TMCP QUỐC TẾ VIỆT NAM CHI NHÁNH PHẠM NGỌC THẠCH

Giáo viên hƣớng dẫn : TS. Nguyễn Thị Thúy Sinh viên thực hiện Mã sinh viên Chuyên ngành

: Phạm Hà Châu : A15473 : Tài chính - Ngân hàng

HÀ NỘI - 2013

LỜI CÁM ƠN

Để hoàn thành khóa luận này, em xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cô

TS. Nguyễn Thị Thúy, đã tận tình hướng dẫn trong suốt quá trình viết khóa luận tốt

nghiệp.

Em chân thành cảm ơn quý Thầy, Cô trong khoa Quản lý, trường Đại học Thăng Long đã tận tình truyền đạt kiến thức trong 4 năm học tập. Với vốn kiến thức được tiếp

thu trong quá trình học không chỉ là nền tảng cho quá trình nghiên cứu khóa luận mà còn là hành trang quý báu để em bước vào đời một cách vững chắc và tự tin.

Em chân thành cảm ơn Ban giám đốc và các anh chị trong Ngân hàng VIB chi

nhánh Phạm Ngọc Thạch đã cho phép và tạo điều kiện thuận lợi để em thực tập tại Chi

nhánh, giúp đỡ em trong quá trình thu thập số liệu.

Cuối cùng em kính chúc quý Thầy, Cô dồi dào sức khỏe và thành công trong sự

nghiệp, đồng kính chúc các cô, chú, anh, chị trong Chi nhánh luôn dồi dào sức khỏe,

đạt được nhiều thành công tốt đẹp trong công việc.

Sinh viên

Phạm Hà Châu

MỤC LỤC

CHƢƠNG 1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG

TIỀN GỬI TIẾT KIỆM DÂN CƢ CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI ....................................................................................................... 1

1.1. Hoạt động huy động tiền gửi tiết kiệm dân cƣ của ngân hàng thƣơng mại .... 1

1.1.1. Khái niệm vốn huy động và hoạt động huy động vốn của ngân hàng thương

mại ................................................................................................................................... 1

1.1.2. Khái niệm dân cư ..................................................................................................... 1

1.1.3. Khái niệm tiền gửi và tiền gửi tiết kiệm ................................................................. 1

1.1.4. Đặc trưng của tiền gửi tiết kiệm huy động từ dân cư ........................................... 2

1.1.5. Phân loại tiền gửi tiết kiệm dân cư ........................................................................ 4

1.1.6. Ý nghĩa của nguồn vốn huy động từ tiền gửi tiết kiệm dân cư .......................... 12

1.1.7. Một số quy định về huy động tiền gửi tiết kiệm ................................................... 16

1.1.8. Ý nghĩa và quy chế bảo hiểm tiền gửi .................................................................. 17

1.2. Hiệu quả hoạt động huy động tiền gửi tiết kiệm dân cƣ của ngân hàng

thƣơng mại ................................................................................................................... 19

1.2.1. Khái niệm hiệu quả huy động tiền gửi tiết kiệm ................................................. 19

1.2.2. Các chỉ tiêu thể hiện hiệu quả hoạt động huy động tiền gửi tiết kiệm từ dân cư

................................................................................................................................. 20

1.2.3. Các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả hoạt động huy động tiền gửi tiết kiệm dân

cư của ngân hàng thương mại ......................................................................................... 27

CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG TIỀN

GỬI TIẾT KIỆM DÂN CƢ TẠI NGÂN HÀNG TMCP QUỐC TẾ

VIỆT NAM – VIB CHI NHÁNH PHẠM NGỌC THẠCH ........... 35

2.1. Khái quát về Ngân hàng Thƣơng mại Cổ phẩn Quốc tế Việt Nam – Chi nhánh Phạm Ngọc Thạch ............................................................................................ 35

2.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển .......................................................................... 35

2.1.2. Các hoạt động kinh doanh chính ......................................................................... 35

2.1.3. Bộ máy cơ cấu tổ chức và chức năng từng bộ phận ........................................... 35

2.2. Tình hình hoạt động kinh doanh tại Ngân hàng Thƣơng mại Cổ phần Quốc tế Việt Nam – Chi nhánh Phạm Ngọc Thạch ............................................................ 37

2.2.1. Hoạt động huy động vốn ....................................................................................... 38

2.2.2. Hoạt động sử dụng vốn (chủ yếu là cho vay) ...................................................... 39

2.2.3. Kết quả hoạt động kinh doanh ............................................................................. 41

2.3. Thực trạng hiệu quả hoạt động huy động tiền gửi tiết kiệm dân cƣ tại Ngân hàng Thƣơng mại Cổ phần Quốc tế Việt Nam – Chi nhánh Phạm Ngọc Thạch .. 44

2.3.1. Chỉ tiêu định tính ................................................................................................... 44

2.3.2. Chỉ tiêu định lượng ............................................................................................... 45

2.3.3. Đánh giá chung về hiệu quả hoạt động huy động tiền gửi tiết kiệm dân cư của

Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quốc tế Việt Nam – Chi nhánh Phạm Ngọc Thạch . ................................................................................................................................. 57

CHƢƠNG 3. GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG HUY

ĐỘNG TIỀN GỬI TIẾT KIỆM DÂN CƢ TẠI NGÂN HÀNG

THƢƠNG MẠI CỔ PHẦN QUỐC TẾ VIỆT NAM – CHI NHÁNH PHẠM NGỌC THẠCH .................................................... 63

3.1. Định hƣớng phát triển của Ngân hàng Thƣơng mại Cổ phần Quốc tế Việt

Nam – Chi nhánh Phạm Ngọc Thạch ........................................................................ 63

3.1.1. Mục tiêu phấn đấu chung ..................................................................................... 63

3.1.2. Các mục tiêu cụ thể ............................................................................................... 64

3.2. Các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động huy động tiền gửi tiết kiệm dân

cƣ tại Ngân hàng Thƣơng mại Cổ phần Quốc tế Việt Nam – Chi nhánh Phạm Ngọc Thạch ................................................................................................................... 65

3.2.1. Gắn liền công tác huy động nguồn vốn tiền gửi tiết kiệm dân cư với sử dụng

vốn có hiệu quả ................................................................................................................. 65

3.2.2. Đa dạng hóa các hình thức huy động tiền gửi tiết kiệm dân cư ........................ 65

3.2.3. Tăng cường hoạt động quảng cáo, tiếp thị .......................................................... 67

3.2.4. Chú trọng chính sách khách hàng, phát huy tối đa yếu tố con người .............. 68

3.2.5. Hiện đại hóa công nghệ ngân hàng ..................................................................... 69

3.3. Một số kiến nghị, đề xuất ................................................................................... 70

3.3.1. Kiến nghị đối với Chính phủ ................................................................................ 70

3.3.2. Kiến nghị đối với Ngân hàng Nhà nước .............................................................. 72

3.3.3. Kiến nghị đối với Ngân hàng Thương mại cổ phần Quốc tế Việt Nam ............ 74

DANH MỤC VIẾT TẮT

Ký hiệu viết tắt BHTG NH Tên đầy đủ Bảo hiểm tiền gửi Ngân hàng

NHNN Ngân hàng nhà nước

NHTM Ngân hàng thương mại

TCTD TGTK Tổ chức tín dụng Tiền gửi tiết kiệm

TMCP USD Thương mại cổ phần Đô la Mỹ

VND Việt Nam đồng

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ

Bảng 1.1. Lãi suất tiết kiệm có kì hạn tại VIB ................................................................ 6

Bảng 1.2. Bậc lãi suất tiết kiệm bậc thang theo thời gian gửi tại Agribank .................... 9 Bảng 1.3. Mức khuyến khích của tiết kiệm bậc thang theo số dư tiền gửi tại Agribank

...................................................................................................................... 10

Bảng 2.1. Một số chỉ tiêu phản ánh kết quả hoạt động kinh doanh của chi nhánh VIB

Phạm Ngọc Thạch ........................................................................................ 37 Bảng 2.2. Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh chi nhánh VIB Phạm Ngọc Thạch . 41

Bảng 2.3. Tình hình huy động vốn tại chi nhánh VIB Phạm Ngọc Thạch ................... 45 Bảng 2.4. Tỷ lệ khách hàng rút tiền đột xuất ................................................................ 47

Bảng 2.5. Huy động vốn từ tiền gửi tiết kiệm theo loại tiền tại chi nhánh VIB Phạm

Ngọc Thạch .................................................................................................. 48

Bảng 2.6. Huy động tiền gửi tiết kiệm theo kỳ hạn tại chi nhánh VIB Phạm Ngọc

Thạch ............................................................................................................ 49

Bảng 2.7. Quy mô huy động vốn tiền gửi tiết kiệm và quy mô cho vay

tại chi nhánh VIB Phạm Ngọc Thạch .......................................................... 52

Bảng 2.8. Huy động tiền gửi tiết kiệm ngắn hạn và cho vay ngắn hạn

tại chi nhánh VIB Phạm Ngọc Thạch .......................................................... 53

Bảng 2.9. Huy động tiền gửi tiết kiệm trung và dài hạn và cho vay trung và dài hạn tại

chi nhánh VIB Phạm Ngọc Thạch ............................................................... 54

Bảng 2.10. Chi phí trả lãi TGTK tại VIB chi nhánh Phạm Ngọc Thạch ...................... 56

Biểu đồ 2.1. Tình hình huy động vốn tại chi nhánh VIB Phạm Ngọc Thạch giai đoạn

2010-2012 ................................................................................................ 38

Biểu đồ 2.2. Tình hình cho vay tại chi nhánh VIB Phạm Ngọc Thạch giai đoạn 2010-

2012 ..................................................................................................... 40

Biểu đồ 2.3. Cơ cấu nguồn vốn huy động từ tiền gửi tiết kiệm theo loại tiền tại chi

nhánh VIB Phạm Ngọc Thạch ............................................................ 48 Biểu đồ 2.4. Cơ cấu nguồn vốn huy động từ tiền gửi tiết kiệm theo kì hạn tại chi nhánh VIB Phạm Ngọc Thạch ....................................................................... 50

Biểu đồ 2.5. Huy động tiền gửi tiết kiệm ngắn hạn và cho vay ngắn hạn

tại chi nhánh VIB Phạm Ngọc Thạch ................................................. 53 Biểu đồ 2.6. Huy động tiền gửi tiết kiệm trung và dài hạn và cho vay trung và dài hạn

tại chi nhánh VIB Phạm Ngọc Thạch ................................................. 55 Sơ đồ 2.1. Mô hình cơ cấu tổ chức Ngân hàng TMCP Quốc tế chi nhánh Phạm Ngọc Thạch ............................................................................................................ 36

LỜI MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Không khó để nhận thấy rằng, với bất kỳ một doanh nghiệp hay một tổ chức kinh

tế nào, để có tiền đề xây dựng cơ sở vật chất kĩ thuật, phát triển hoạt động kinh doanh

thì nguồn vốn luôn đóng một vai trò rất quan trọng. Đối với các ngân hàng thương

mại, với chức năng là các trung gian hoạt động trong lĩnh vực tiền tệ thì nguồn vốn càng khẳng định vị trí hết sức quan trọng không thể thiếu. Bản thân hoạt động huy

động vốn cũng luôn là một trong các nghiệp vụ cơ bản nhất của các ngân hàng.

Các ngân hàng thương mại ở Việt Nam huy động vốn thông qua nhiều kênh khác

nhau, với nhiều hình thức đa dạng phong phú. Trong đó, huy động vốn từ tiền gửi tiết

kiệm của các tầng lớp dân cư là một hoạt động huy động vốn truyền thống, phổ biến

và ngày càng phát triển, phù hợp với xu hướng chung của thế giới và xu hướng phát

triển của nền kinh tế xã hội.

Vấn đề cần quan tâm đối với công tác huy động vốn từ tiền gửi tiết kiệm dân cư

không chỉ là quy mô vốn huy động là bao nhiêu hay các phương thức, cách thức huy

động như thế nào, mà hiệu quả của hoạt động huy động tiền gửi tiết kiệm đó ra sao

cũng là một vấn đề quan trọng các ngân hàng thương mại cần quan tâm chú ý và

nghiên cứu, nhằm đưa ra các chiến lược thích hợp giúp phát triển hoạt động kinh

doanh của ngân hàng.

Xuất phát từ thực tiễn đó, kết hợp với quá trình thực tập nghiên cứu tại Ngân

hàng Thương mại Cổ phần Quốc tế Việt Nam – Chi nhánh Phạm Ngọc Thạch, em đã

chọn đề tài “Nâng cao hiệu quả hoạt động huy động vốn từ tiền gửi tiết kiệm dân cư tại

Ngân hàng thương mại Cổ phần Quốc tế Việt Nam – Chi nhánh Phạm Ngọc Thạch” để

thực hiện khóa luận tốt nghiệp của mình.

2. M c tiêu nghiên c u

Thông qua việc nghiên cứu lý luận về hiệu quả hoạt động huy động vốn từ tiền

gửi tiết kiệm dân cư của ngân hàng thương mại và thực trạng hiệu quả huy động tiền

gửi tiết kiệm của Ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam – Chi nhánh Phạm Ngọc Thạch

trong giai đoạn 2010 - 2012 nhằm tìm ra những điểm mạnh, điểm yếu trong hiệu quả huy động tiền gửi tiết kiệm dân cư của chi nhánh, từ đó đề xuất những giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động huy động vốn từ tiền gửi tiết kiệm dân cư cho chi nhánh trong thời gian tới.

3. Đối tƣ ng và phạm vi nghiên c u

- Đối tượng nghiên cứu: Hiệu quả hoạt động huy động vốn từ tiền gửi tiết kiệm

dân cư của NHTM.

- Phạm vi nghiên cứu: Hiệu quả hoạt động huy động vốn từ tiền gửi tiết kiệm dân cư của Ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam - Chi nhánh Phạm Ngọc Thạch trong giai đoạn 2010 – 2012.

4. Phƣơng pháp nghiên c u

Phương pháp thống kê, phương pháp suy luận, phương pháp phân tích và so sánh

số liệu qua một số năm gần đây tại Ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam - Chi nhánh Phạm Ngọc Thạch

5. ết cấu của uận v n

Ngoài phần lời mở đầu, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục các từ viết tắt,

danh mục bảng biểu, sơ đồ, tài liệu tham khảo và kết luận, luận văn có bố cục gồm 3

chương:

Chƣơng 1: Lý luận chung về hiệu quả hoạt động huy động tiền gửi tiết

kiệm dân cƣ của ngân hàng thƣơng mại

Chƣơng 2: Thực trạng hiệu quả hoạt động huy động tiền gửi tiết kiệm

dân cƣ tại Ngân hàng Thƣơng mại Cổ phần Quốc tế Việt Nam

– Chi nhánh Phạm Ngọc Thạch

Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động huy động tiền gửi tiết

kiệm dân cƣ tại Ngân hàng Thƣơng mại Cổ phần Quốc tế Việt

Nam – Chi nhánh Phạm Ngọc Thạch

CHƢƠNG 1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG TIỀN GỬI TIẾT KIỆM DÂN CƢ CỦA NGÂN HÀNG

THƢƠNG MẠI

1.1. Hoạt động huy động tiền gửi tiết kiệm dân cƣ của ngân hàng thƣơng mại

1.1.1. hái niệm vốn huy động và hoạt động huy động vốn của ngân hàng thƣơng

mại

Hoạt động huy động vốn của các ngân hàng thương mại là hoạt động mà trong đó

các ngân hàng này tìm kiếm nguồn vốn khả dụng từ các chủ thể khác nhau nhằm mục

đích kinh doanh và đảm bảo sự vận hành bình thường, hiệu quả của bản thân nó theo

đúng các quy định pháp luật (Trích “Giáo trình Ngân hàng thương mại (2009)”,, PGS

– TS Nguyễn Văn Tiến).

Hoạt động huy động vốn của ngân hàng càng hiệu quả sẽ góp phần tăng trưởng

nguồn vốn của NHTM, là tiền đề để tiến hành hoạt động sử dụng vốn.

1.1.2. hái niệm dân cƣ

Khái niệm “dân cư” được hiểu chung là “Toàn bộ những người đang cư trú trên

một địa bàn lãnh thổ nhất định,một cách tự nhiên qua lịch sử và phát triển không

ngừng” (Trích vi.oldict.com). Trong phạm vi khách hàng của một ngân hàng thì “dân

cư” được hiểu là những cá nhân, chủ thể riêng lẻ, không đại diện cho một tổ chức, cơ

quan hay doanh nghiệp nào.

1.1.3. hái niệm tiền gửi và tiền gửi tiết kiệm

Theo quy định tại khoản 9 điều 20 Luật Các tổ chức tín dụng, đã đưa ra một định

nghã khá cụ thể về tiền gửi, cụ thể: “Tiền gửi là số tiền của tổ chức, cá nhân gửi tại tổ

chức tín dụng hoặc các tổ chức khác có hoạt động ngân hàng dưới hình thức tiền gửi

không kì hạn, tiền gửi có kì hạn, tiền gửi tiết kiệm và các hình thức khác. Tiền gửi

được hưởng lãi hoặc không hưởng lãi và phải được hoàn trả cho người trả tiền”.

Về khái niệm “tiền gửi tiết kiệm”, theo quy định của khoản 1 Điều 6 Quyết định

số 1160/2004/QĐ-NHNN về viêc ban hành Quy chế về tiền gửi tiết kiệm vào ngày 13

tháng 9 năm 2004 của Thống đốc Ngân hàng nhà nước Việt Nam: “Tiền gửi tiết kiệm là khoản tiền của cá nhân được gửi vào tài khoản tiền gửi tiết kiệm, được xác nhận trên thẻ tiết kiệm, được hưởng lãi theo quy định của tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm và được bảo hiểm theo quy định của pháp luật về bảo hiểm tiền gửi.”

Các tầng lớp dân cư đều có các khoản thu nhập tạm thời chưa sử dụng (các khoản tiền tiết kiệm). Trong điều kiện có khả năng tiếp cận được với ngân hàng, họ đều có thể

gửi tiết kiệm nhằm thực hiện mục tiêu an toàn và sinh lời đối với các khoản tiền tiết kiệm, đặc biệt là nhu cầu an toàn. Nhằm thu hút ngày càng nhiều tiền tiết kiệm, các ngân

hàng đều khuyến khích dân cư thay đổi thói quen giữ tiền mặt tại nhà bằng cách mở

1

rộng mạng lưới huy động vốn, đưa ra các hình thức huy động đa dạng và lãi suất cạnh

tranh hấp dẫn. Sổ tiết kiệm này không dùng để thanh toán tiền hàng và các dịch vụ của ngân hàng song có thể thể thế chấp vay vốn nếu được sự cho phép của ngân hàng.

Nhìn chung, tiền gửi tiết kiệm là loại tiền gửi do các cá nhân kí gửi vào tổ chức

tín dụng nhằm mục đích cất giữ hộ hoặc hưởng lãi theo định kì. Đây là loại hình kí

thác rất đa dạng và phổ biến trong nền kinh tế trên toàn thế giới.

Từ các mục 1.1.1, 1.1.2 và 1.1.3 ta rút ra kết luận về khái niệm hoạt động huy

động tiền gửi tiết kiệm dân cư. Vậy, hoạt động huy động vốn từ tiền gửi tiết kiệm dân

cư của các ngân hàng thương mại là việc các ngân hàng thương mại tìm kiếm nguồn

vốn khả dụng từ các khoản tiền tiết kiệm của các cá nhân trong xã hội,bằng nhiều

cách thức khác nhau với cam kết nắm giữ an toàn cũng như hoàn trả gốc và lãi đúng

thời hạn, nhằm kinh doanh và đảm bảo sự vận hành bình thường, hiệu quả của ngân

hàng theo đúng các quy định pháp luật.

1.1.4. Đặc trƣng của tiền gửi tiết kiệm huy động từ dân cƣ

Tất cả loại tiền gửi đều góp phần làm tăng tổng lượng tiền của hệ thống ngân

hàng trong đó tiền gửi của dân cư là nổi trội hơn cả. Đây là thị trường đầy tiềm năng,

mở ra nhiều cơ hội lớn cho ngân hàng.

Nguồn tiền gửi tiết kiệm dân cư có hai đặc trưng chính. Thứ nhất, đây là một

nguồn vốn vô cùng dồi dào, tiềm năng đối với các ngân hàng thương mại. Có thể lý

giải điều này là do dân cư luôn là bộ phận chiếm số lượng đông đảo nhất trong nền

kinh tế, dù ít hay nhiều thì thông thường họ cũng đều có những khoản tiết kiệm nhất

định, tích lũy dần để phục vụ cho những nhu cầu trong tương lai. Khi xã hội ngày càng

phát triển, mức sống chung tăng lên, cũng như nhận thức của người dân được nâng

cao, họ ngày càng có ý thức hơn đối với những khoản tiền tiết kiệm của chính mình.

Với mong muốn tìm kiếm một nơi cất giữ an toàn và hơn thế nữa là sinh lời cho khoản

tiết kiệm của mình, người dân tìm đến các ngân hàng thương mại. Khi ngân hàng

thương mại tập trung được những khoản tiết kiệm nhỏ lẻ từ bộ phận dân cư đông đảo thì lại tạo thành một nguồn vốn có quy mô lớn và ngân hàng có thể sử dụng chúng để

phục vụ cho hoạt động kinh doanh của mình.

Thứ hai, đây là nguồn vốn nhìn chung có tính ổn định cao hơn so với các nguồn

vốn khác của ngân hàng thương mại, do thực chất đây thường là nguồn thu nhập ổn định của người dân từ tiền lương hoặc thu nhập từ hoạt đông sản xuất kinh doanh và họ thường gửi tiết kiệm với mục đích tích lũy cho những nhu cầu cụ thể trong tương lai, thường có kế hoạch và có thể dự báo được. Trong khi đó,nguồn vốn huy động từ các tổ chức tín dụng, các tổ chức kinh tế thường không ổn định do sự chuyển động liên tục của dòng tiền trong nền kinh tế. Nguồn vốn huy động từ tiền gửi tiết kiệm dân cư có lúc, có nơi, có thời gian chiếm 30 - 40% nguồn vốn cho vay của ngân hàng, còn

2

bình quân nó chiếm khoảng từ 25% - 30% nguồn vốn hoạt động của các tổ chức tín

dụng trong cả nước (Nguồn : Số liệu thống kê đến hết tháng 12 năm 2012 của Ngân hàng Nhà nước về Tổng phương tiện thanh toán, tiền gửi và tốc độ tăng trưởng).

Nguồn tiền gửi tiết kiệm dân cư là sở hữu của từng cá nhân, họ có quyền quyết định

gửi vào, lĩnh ra, không ai được xâm phạm quyền đó trừ trường hợp đặc biệt khi có

quyết định của pháp luật.

Vì khách hàng là cá nhân mà ngân hàng không có điều kiện nghiên cứu từng cá

nhân do đó buộc phải đa dạng hóa các hình thức gửi tiết kiệm để mỗi cá nhân lựa chọn

một hình thức cho phù hợp. Lượng tiền gửi của các cá nhân là không nhiều (trong mỗi

lần gửi) xét về giá trị, các khoản tiết kiệm thường nhỏ hơn so với các tài loại tiền gửi

khác nhưng đây là nguồn tiền thường xuyên và liên tục, hầu như tạo ra luồng vốn chảy

vào ngân hàng một cách đều đặn, vì vậy, nếu xét về tổng thể, đây vẫn là một nguồn

vốn khá tiềm năng của các ngân hàng thương mại, là hướng đi tốt đối với ngân hàng.

Mỗi ngân hàng phải làm sao để tạo ra tiện ích và tín nhiệm tuyệt đối với người gửi thì

số dư tiền gửi tiết kiệm sẽ dễ dàng tăng lên khi nền kinh tế hàng hoá đang ngày càng

đổi mới và phát triển.

Trên thực tiễn, các sản phẩm tiền gửi tiết kiệm rất phong phú và đa dạng, đây là

một phương cách thu hút lượng khách hàng của các ngân hàng thương mại, đáp ứng

nhu cầu đa dạng và biến đổi thường xuyên của nhóm khách hàng đông đảo này. Ta có thể xem xét ví dụ cụ thể về các sản phẩm tiền gửi tiết kiệm tại một số ngân hàng

thương mại ở Việt Nam : Ngân hàng ACB liên kết với Công ty Bảo hiểm Prévoir Việt

Nam cung cấp tới khách hàng sản phẩm tiết kiệm-bảo hiểm Lộc Bảo Toàn là sản phẩm

tiết kiệm có kỳ hạn mà theo đó khách hàng không những được hưởng lãi suất tiết kiệm

hấp dẫn mà đặc biệt còn được hưởng thêm quyền lợi bảo hiểm nhân thọ và hỗ trợ viện

phí với mức bảo hiểm tối đa lên tới 200% số tiền gửi tiết kiệm trong trường hợp tử

vong hoặc thương tật toàn bộ vĩnh viễn do mọi nguyên nhân,với kỳ hạn 12 hoặc 13

tháng. Ngoài ra, để đáp ứng các khách hàng có nhu cầu xác nhận khả năng tài chính

của bản thân hoặc thân nhân đi du lịch, học tập, … ở nước ngoài, ACB cung cấp sản

phẩm Tiết kiệm tích lũy tuần bằng USD với những tiện ích như nhận lãi hàng tuần, khi tài khoản duy trì đủ 5 tuần liên tục, ACB tặng khách hàng thêm 0.5%/năm lãi suất cho khoản thời gian 5 tuần đã duy trì và trên số vốn gốc ban đầu mở tài khoản.

Ngân hàng BIDV có sản phẩm tiết kiệm dành cho trẻ em mang tên “Tiết kiệm lớn lên cùng yêu thương” là sản phẩm tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn (từ 2-15 năm) được

mở đứng tên của trẻ như một món quà ý nghĩa mà cha mẹ hoặc người thân của trẻ dành cho con em mình. Khách hàng nộp tiền vào tài khoản theo định kỳ hoặc bất kỳ khi nào có nhu cầu để tích luỹ cho trẻ một khoản tiền lớn hơn trong tương lai, phục vụ

cho những nhu cầu của trẻ như học tập, du lịch, mua sắm, sinh hoạt…

3

Ngân hàng Quân đội MBBank có sản phẩm tiết kiệm tích lũy dành riêng cho cán

bộ công nhân viên của doanh nghiệp lớn, đây là các đối tượng khách hàng làm việc tại các doanh nghiệp lớn, có một mức thu nhập ổn định nhưng chưa có kế hoạch sử dụng

tiền lương của mình một cách hiệu quả. Bên cạnh đó, MBBank còn cung cấp gói Tiết

kiệm Quân nhân dành riêng cho các đối tượng là quân nhân đang công tác trong các

đơn vị quân đội hoặc các doanh nghiệp trực thuộc Bộ Quốc Phòng. Đây là sản phẩm tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn, theo đó, khách hàng có thể nộp thêm tiền vào tài khoản

Tiết kiệm Quân nhân bất cứ khi nào có nhu cầu để hưởng lãi suất hấp dẫn và hướng tới

mục tiêu tích lũy dài hạn cho các kế hoạch tương lai.

Các ví dụ trên đã phần nào thể hiện sự phong phú về các sản phẩm tiền gửi tiết

kiệm của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam nhằm đáp ứng nhu cầu của các

nhóm khách hàng khác nhau với sự đa dạng về độ tuổi, nghề nghiệp, thu nhập…,

chứng tỏ phần lớn các NHTM đều có sự quan tâm chú trọng tới mảng hoạt động huy

động vốn từ TGTK dân cư.

1.1.5. Phân oại tiền gửi tiết kiệm dân cƣ

1.1.5.1. Phân loại theo kì hạn

a. Tiền gửi tiết kiệm không kì hạn

Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn là một sản phẩm mà ngân hàng cung ứng để

giúp khách hàng có tiền nhàn rỗi muốn gửi vào ngân hàng vì mục tiêu an toàn và sinh lời nhưng không thiết lập được mục tiêu sử dụng trong tương lai. Vì chưa xác định

được cụ thể các kế hoạch tương lai cần chi dùng tiền của bản thân hay gia đình, nhu

cầu về tiền để đáp ứng cho những kế hoạch, tình huống đột xuất có thể phát sinh bất

cứ lúc nào, không định trước, nên họ phù hợp với hình thức tiết kiệm mà theo đó có

thể rút tiền theo yêu cầu vào bất cứ lúc nào, hết sức linh hoạt và tiện lợi. Tuy nhiên,

các giao dịch này không thường xuyên, chủ yếu là giao dịch gửi tiền và rút tiền trực

tiếp. Do tính chất không ổn định nên lãi suất của tiền gửi tiết kiệm này rất thấp. Kể từ

ngày 1/1/2013, lãi suất tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn của một số ngân hàng như sau:

Đông Á: 1,2%/năm, Sacombank: 1%/năm, VIB: 2%/năm (Nguồn: dongabank.com.vn,

sacombank.com.vn, vib.com.vn). Mặc dù mức lãi suất dành cho người gửi tiền không cao nhưng do tính chất linh hoạt về thời điểm gửi tiền và rút tiền như đã nêu trên, nên tiền gửi tiết kiệm không kì hạn vẫn là một sản phẩm không thể thiếu của NHTM, nhằm đáp ứng nhu cầu của một bộ phận người dân.

Các cá nhân trong quá trình hoạt động muốn thực hiện giao dịch với ngân hàng

thương mại nào đòi hỏi họ phải mở tài khoản tại ngân hàng thương mại đó, cá nhân muốn sử dụng sản phẩm TGTK không kì hạn phải mở tài khoản tiết kiệm không kì hạn tại ngân hàng. Việc mở tài khoản này nhằm giúp khách hàng bảo quản an toàn tiền vốn

đồng thời qua đó khách hàng có thể nhận được các dịch vụ tài chính từ ngân hàng

4

thương mại. Do khách hàng không phải trực tiếp nắm giữ khoàn tiết kiệm của mình

dưới dạng tiền mặt nên không lo rủi ro về mất mát, mặt khác còn được ngân hàng cam kết quản lý khoản TGTK đó một cách an toàn, chính xác và bảo mật, ngoài ra còn

được cung cấp các sản phẩm, dịch vụ về TGTK phù hợp với nhu cầu của bản thân và

các điều kiện của ngân hàng. Về phía ngân hàng thương mại, việc mở và gửi tiền gửi

vào các tài khoản TGTK của các khách hàng giúp cho ngân hàng thương mại có thể sử dụng được nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi từ nguồn tiền tiết kiệm của dân cư để bổ sung

vốn tín dụng. Mặt khác, giúp ngân hàng thương mại có thể bán được các dịch vụ tài

chính của mình.

TGTK không kì hạn của người dân là nguồn vốn khó sử dụng do tính chất thiếu

ổn định, nhưng lại có ưu điểm là nguồn vốn có chi phí rẻ do lãi suất thấp, ngân hàng

khi huy động nguồn vốn này vẫn có khả năng sử dụng cho các hoạt động đầu tư thu lợi

tức thời. Vì vậy trong nghiệp vụ huy động vốn TGTK thì TGTK không kì hạn cũng

đóng góp một vai trò nhất định. Ví dụ với Ngân hàng Bưu điện Liên Việt, tính đến

ngày 31/12/2012, nguồn vốn ngân hàng huy động được từ tiền gửi tiết kiệm đạt 11.469

tỉ đồng, trong đó TGTK không kì hạn chiếm 6,32% (Nguồn: Báo cáo tài chính hợp

nhất năm 2012 của NH Bưu điện Liên Việt). b. Tiền gửi tiết kiệm có kì hạn

Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn là tiền gửi tiết kiệm mà người gửi tiền chỉ có thể rút tiền sau một kỳ hạn gửi tiền nhất định theo thỏa thuận với tổ chức nhận tiền gửi tiết

kiệm. Khi gửi tiền tiết kiệm có kỳ hạn khách hàng cũng được giao giữ một sổ tiết

kiệm. (Trích Giáo trình Ngân hàng thương mại (2009), PGS – TS Nguyễn Văn Tiến)

Điểm khác biệt giữa TGTK có kì hạn và TGTK không kì hạn là tài khoản tiền

gửi tiết kiệm không kì hạn không được sử dụng để phát hành séc và thực hiện các công

cụ dịch vụ thanh toán bằng các công cụ thanh toán không dùng tiền mặt để chi trả cho

người khác, trừ trường hợp tài khoản tiền gửi tiết kiệm bằng đồng Việt Nam của người

cư trú được sử dụng để chuyển khoản thanh toán tiền vay của Chính chủ sở hữu tiền

gửi tiết kiệm hoặc đồng chủ sở hữu tiền gửi tiết kiệm tại tổ chức nhận tiền gửi tiết

kiệm đó; hoặc chuyển khoản sang tài khoản khác do chính chủ sở hữu tiền gửi tiết kiệm hoặc đồng chủ sở hữu tiền gửi tiết kiệm là chủ tài khoản tại tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm đó.

Khách hàng gửi tiền vì mục tiêu an toàn và sinh lời. Họ chủ yếu là những cá nhân có thu nhập ổn định và thường xuyên, thường là công chức, viên chức hoặc người đã

nghỉ hưu. Do vậy, lãi suất đóng vai trò quan trọng để thu hút đối tượng khách hàng này. Việc đưa ra chiến lược lãi suất như thế nào để thu hút được vốn nhiều và kinh doanh có lãi là yếu tố quan trọng, phản ánh khả năng cạnh tranh của các ngân hàng

thương mại.

5

Lãi suất mà ngân hàng trả cho loại này thường là cao. Lý do là khi người gởi

thống nhất với ngân hàng rằng sẽ gởi tiền trong khoảng thời gian cụ thể nào đó. Do vậy ngân hàng thương mại hoàn toàn yên tâm khi sử dụng nguồn tiền này để cho vay.

Với khoản cho vay ổn định ngân hàng sẽ kiếm được nhiều lợi nhuận hơn, vì thế tiền

thù lao nó trả cho người gởi cũng phải cao hơn để kích thích việc gởi tiền hơn nữa. Ví

dụ: lãi suất cho tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn 1 – 3 năm của ngân hàng VCB là 8%/năm, của ngân hàng Đông Á: 12 tháng -8,5%, 13 tháng: 8,7% (nếu lĩnh lãi cuối kỳ) (Nguồn:

vietcombank.com.vn, dongabank.com.vn).

Tiền gửi có kỳ hạn được hưởng lãi suất cố định. Tiền gửi có kỳ hạn với thời gian

càng lâu lãi suất sẽ càng lớn bởi vì ngân hàng hoàn toàn có thể dùng tiền gửi này đem

đầu tư vào những dịch vụ hoặc sản xuất có tính lâu dài hơn và lợi tức ổn định hơn.

Kỳ hạn tiền gửi tiết kiệm của NHTM rất đa dạng, bao gồm nhiều mức kỳ hạn

khác nhau như: kỳ hạn 10 ngày, 20 ngày, kỳ hạn theo tháng : 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng,

9 tháng, 12 tháng, 18 tháng, 24 tháng,… và được trả lãi đầu kỳ, cuối kỳ, trả lãi hàng

tháng.

Dưới đây là biểu lãi suất tiết kiệm có kì hạn theo hình thức tiết kiệm thường của

Ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam VIB, thể hiện rõ mức lãi suất mà khách hàng

nhận được tương ứng với từng kì hạn gửi tiền.

Bảng 1.1. Lãi suất tiết kiệm có kì hạn tại VIB

Kỳ hạn VND (%/n m) USD (%/n m)

Không kỳ hạn

1 tuần 1,20 0,50

2 tuần 1,20 0,50

3 tuần 1,20 0,50

1 tháng 7,00 1,25

2 tháng 7,00 1,25

3 tháng 7,00 1,25

4 tháng 7,00 1,25

5 tháng 7,00 1,25

6 tháng 7,00 1,25

7 tháng 7,00 1,25

8 tháng 7,00 1,25

9 tháng 7,00 1,25

10 tháng 7,00 1,25

11 tháng 7,00 1,25

12 tháng 8,25 1,25

6

Kỳ hạn VND (%/n m) USD (%/n m)

15 tháng 8,00 1,25

18 tháng 8,00 1,25

24 tháng 8,00 1,25

(Nguồn: vib.com.vn)

1.1.5.2. Phân loại theo hình thức tiết kiệm

a. Tiết kiệm gửi góp (tiết kiệm tích lũy)

Lâu nay, để gửi tiết kiệm tại ngân hàng, khách hàng phải có sẵn số tiền tương đối

lớn và thường chỉ gửi trong kỳ hạn ngắn. Tuy nhiên, thời gian gần đây, các ngân hàng

và tổ chức tài chính trong nước đã tung ra một gói sản phẩm dịch vụ tiết kiệm rất hấp dẫn, đó là Tiết kiệm gửi góp hay tiết kiệm tích lũy.

Vậy thế nào là Tiết kiệm gửi góp?

Giả sử một gia đình mỗi tháng sau khi chi tiêu có số dư còn lại là 1 triệu đồng để

gửi góp. Số tiền này sau 10 năm sẽ là 163.197.000 đồng. Như vậy, số tiền lãi từ tiết

kiệm là 43.197.000 đồng, tỷ lệ sinh lãi 35,99% sau 10 năm.

Từ ví dụ trên, chúng ta có thể hiểu rằng tiết kiệm gửi góp là loại hình tiết kiệm

mà trong thời hạn gửi tiền, người gửi gửi khoản tiền cố định theo thời gian đăng ký ở

lần gửi đầu tiên. Đến hạn rút tiền, nếu khách không rút tiền thì lãi tiền gửi được nhập

gốc và chuyển sang loại tiết kiệm không kỳ hạn. Với hình thức tiết kiệm này, người

gửi có thể để dành tiền dần dần tuỳ theo thu nhập và số dư để lại hàng tháng của mình.

Tính đến nay, trong hệ thống ngân hàng, đã có các ngân hàng như Sài Gòn

Thương tín (Sacombank), Kỹ thương Việt Nam (Techcombank), Quốc tế Việt Nam

(VIB) triển khai loại hình tiết kiệm này. Tại mỗi ngân hàng, chương trình lại có các tên

gọi khác nhau như Tiết kiệm tích luỹ, Tiết kiệm vì tương lai, Tiết kiệm gửi góp, nhưng

dựa vào mục tiêu đa dạng của khách hàng nên đều cung cấp nhiều loại kỳ hạn, có thể

gửi trong ngắn hạn từ 1 năm hoặc kéo dài đến 15 năm. Tuỳ theo điều kiện của mình,

người gửi lựa chọn số tiền gửi và nộp dần theo một định kỳ chọn trước là hàng tháng,

hàng 3 tháng hoặc hàng 6 tháng; loại tiền tiết kiệm có thể là tiền đồng hoặc đô la Mỹ (USD).

Tại Sacombank đang áp dụng hình thức tiết kiệm gửi góp theo mức lãi suất. Cách thức tiết kiệm như vậy giúp khách hàng có thu nhập thấp hoặc trung bình có thể tích luỹ dài hạn. Ðến đáo hạn, số tiền đủ lớn để thực hiện được những dự định tài chính

trong tương lai như cất nhà, mua xe, tạo vốn cho con cái v.v. Nếu vì lý do nào đó mà

khách hàng chưa nộp kịp vào ngày định kỳ nộp tiền, ngân hàng đồng ý cho nộp trễ từ

15, 30 hoặc 45 ngày tuỳ theo định kỳ nộp tiền. Quá thời hạn trên, nếu khách hàng vẫn chưa nộp được, ngân hàng đồng ý gia hạn hoãn định kỳ nộp tiền. Số định kỳ được

7

hoãn tối đa bằng số định kỳ đã nộp trước đó. Trong thời gian hoãn, số dư vốn gốc tại

sổ vẫn được hưởng lãi. (Nguồn: sacombank.com.vn)

Còn đối với Ngân hàng TMCP quốc tế Việt Nam (VIB), tiết kiệm gửi góp cũng

là loại tiết kiệm theo định kỳ nhưng có thể gửi được cả bằng tiền đồng Việt Nam hoặc

đô la Mỹ. Số tiền gửi mỗi kỳ có thể cố định hay linh hoạt tuỳ theo tích luỹ của khách

hàng. Ngoài ra, khách hàng có thể chuyển nhượng hoặc thay đổi người thụ hưởng hay cầm cố, thế chấp sổ tiết kiệm với lãi suất. Sổ tiết kiệm gửi góp ở đây cũng có thể được

thanh toán hết (tất toán) trước thời hạn. Tại VIB, khách hàng cũng có thêm lựa chọn

khác: số tiền gửi mỗi kỳ có thể cố định hoặc linh hoạt tuỳ theo sự tích luỹ của khách

hàng, tuy nhiên mức tối thiểu mỗi kỳ là 50.000 đồng hoặc 10 USD. Ðiều này tạo thuận

tiện cho các khách hàng có thu nhập để lại hàng tháng không ổn định. (Nguồn:

vib.com.vn)

Về mức lãi suất: Lãi suất đối với tiết kiệm gửi góp được các ngân hàng công bố

theo từng thời điểm nhưng đối với khách hàng, lãi suất này cố định trong suốt kỳ hạn

gửi tiền tính từ thời điểm mở sổ. Tiền lãi được tính trên số dư vốn gốc luỹ kế, tức là

trên tổng số tiền mà khách hàng đã nộp tính đến thời điểm tính lãi.

Về hình thức hỗ trợ: Bên cạnh đó, do kỳ hạn gửi quá dài nên với loại hình này, các ngân hàng đều đưa

ra một số hình thức hỗ trợ tài chính cho khách hàng giải quyết khó khăn đột xuất. Tuỳ

theo từng ngân hàng, nhưng thông thường nếu sổ tiết kiệm đã đóng tiền từ 2 năm trở

lên, khách hàng có thể thế chấp sổ để vay vốn ngân hàng khi cần tiền vào một mục tiêu đột xuất của mình. Mức vay vốn có thể từ 80 – 100% số dư vốn gốc tại sổ tiết kiệm

hoặc bằng số dư vốn gốc cộng lãi vay phải trả.

Tại Techcombank, khách hàng tham gia tiết kiệm gửi góp còn được cung cấp

hình thức bảo hiểm tai nạn 24/24 miễn phí. Tuy nhiên, đối tượng được nhận khuyến

mãi này phải có số tiền tham gia tiết kiệm từ 12 triệu đồng/năm trở lên. Tuỳ theo mức

tiền gửi mỗi năm mà số tiền bảo hiểm tai nạn từ 5 - 20 triệu đồng/năm.

Mặt khác, người gửi cũng có thể thanh lý sổ tiết kiệm trước hạn vào bất kỳ thời

điểm nào. Khi thanh lý trước hạn, khách hàng sẽ hưởng lãi theo một mức tỷ lệ với thời gian tham gia tiết kiệm. Tại VIB, khách hàng chỉ có thể thanh lý sổ tiết kiệm trước hạn khi đã thực hiện tối thiểu 1/3 số định kỳ gửi góp trên tổng số kỳ đã cam kết; nếu rút trước thời điểm tối thiểu, khách hàng không được hưởng lãi. Đối với những sổ tiết kiệm có thời hạn từ 2 năm trở lên, nếu đã thực hiện được tối thiểu một năm thì khách

hàng khi cần thiết có thể thay đổi cam kết, chẳng hạn có thể thay đổi về định kỳ gửi tiền, số tiền gửi mỗi kỳ, thời hạn gửi…

Ngoài ra, đối với loại hình này tại các ngân hàng nói trên, khách hàng đều có thể

chuyển nhượng hoặc thay đổi người thụ hưởng sổ tiết kiệm. (Nguồn: sgtt.vn)

8

b. Tiền gửi tiết kiệm bậc thang

Tiết kiệm bậc thang là sản phẩm tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn mang lại nhiều tiện ích cho khách hàng với mức lãi suất tăng dần (Nguồn: smartfinance.vn). Ưu điểm của

tiền gửi tiết kiệm bậc thang là khách hàng có thể rút gốc nhiều lần và hưởng lãi theo

bậc thang tương ứng, được chuyển quyền sở hữu sổ tiết kiệm. Mặt khác, sổ tiết kiệm

được phép cầm cố vay vốn, hoặc bảo lãnh cho người thứ ba vay vốn tại bất kỳ chi nhánh nào thuộc ngân hàng và các TCTD khác và có thể dùng để xác nhận khả năng

tài chính cho khách hàng hoặc thân nhân đi du lịch, học tập,… ở nước ngoài.

Hiện nay, các ngân hàng đang huy động tiền gửi tiết kiệm bậc thang theo 2 cách:

Tiết kiệm hưởng lãi bậc thang theo thời gian gửi và tiết kiệm hưởng lãi bậc thang theo

số dư tiền gửi.

Tiết kiệm hưởng lãi bậc thang theo thời gian gửi: Tiết kiệm hưởng lãi bậc thang theo thời gian gửi là sản phẩm tiết kiệm có kỳ hạn

mà lãi suất khách hàng được hưởng được xác định tương ứng với thời gian gửi thực tế,

thời gian gửi càng dài, lãi suất càng cao. Đồng tiền được sử dụng trong giao dịch là

VND, USD, EUR với số tiền gửi tối thiểu phụ thuộc vào quy định của từng ngân hàng.

Ví dụ tại NH Agribank, số tiền gửi tối thiểu là 1.000.000 VND, 100 USD, 100 EUR.

Khách hàng thực hiện gửi tiền một lần vào tài khoản và được phép rút tiền gốc

nhiều lần từ số dư tài khoản tại quầy giao dịch của chi nhánh mở tài khoản hoặc tại chi nhánh khác trong cùng hệ thống (tài khoản gửi, rút nhiều nơi). Phí dịch vụ áp dụng

theo biểu phí hiện hành của ngân hàng, đặc biệt có mức phí ưu đãi dành cho khách

hàng tất toán sổ tiết kiệm sớm. Ngoài ra, nếu bạn gửi tiết kiệm theo hình thức này thì

mức lãi suất phụ thuộc vào kì hạn bạn gửi. Lãi suất của mỗi bậc được ngân hàng công

bố công khai tại các điểm giao dịch và được ghi ngay vào sổ tiết kiệm khi khách hàng

gửi tiền. Ví dụ, Ngân hàng Agribank huy động tiết kiệm này quy định các bậc lãi suất

mà khách hàng được hưởng với số tiền tối thiểu 1 triệu đồng trở lên như sau:

Bảng 1.2. Bậc lãi suất tiết kiệm bậc thang theo thời gian gửi tại Agribank

Bậc Thời gian (t) Lãi suất

t < 3 tháng không kỳ hạn Bậc 1

3 tháng ≤ t < 6 tháng 3 tháng Bậc 2

6 tháng ≤ t < 9 tháng 6 tháng Bậc 3

9 tháng ≤ t < 12 tháng 9 tháng Bậc 4

12 tháng ≤ t < 24 tháng 12 tháng Bậc 5

t > 24 tháng 24 tháng Bậc 6

(Nguồn: agribank.com.vn)

9

Như vậy, cách tính lãi là Tiền lãi = Số tiền gốc rút x Bậc lãi suất x thời gian thực

gửi. Nếu bạn gửi ở bậc 5, lãi suất được hưởng tương đương 12 tháng là 6,5%/năm (tính đến tháng 6/2013). Vậy tiền lãi được hưởng là 500.000.000 * 6,5%/12 * 12 =

32.500.000 VND. Lãi được trả theo số gốc khách hàng rút, ngân hàng chỉ tính và trả

lãi khi khách hàng rút gốc. Nếu đến hết thời gian gửi mà khách hàng chưa đóng tài

khoản, ngân hàng sẽ tự động nhập lãi vào gốc, chuyển sang kỳ hạn bậc thang mới áp dụng lãi suất bậc thang theo các bậc và mức lãi suất tại thời điểm chuyển.

Tiết kiệm hưởng lãi bậc thang theo số dư tiền gửi: Đây là sản phẩm tiết kiệm có kỳ hạn mà lãi suất khách hàng được hưởng được

xác định tương ứng với số dư thực gửi. Số dư thực gửi càng lớn, lãi suất được hưởng

càng cao. Đồng tiền được sử dụng trong giao dịch là VND hoặc USD với số tiền gửi

tối thiểu do từng ngân hàng quy định, ví dụ ở ngân hàng Vietinbank là 40.000.000

VND/ 3.000 USD.

Giống như tiết kiệm hưởng lãi bậc thang theo thời gian gửi, khách hàng cũng

thực hiện gửi tiền một lần vào tài khoản tiết kiệm bậc thang theo số dư tiền gửi tại

quầy giao dịch nhưng chỉ rút tiền một lần từ tài khoản tại quầy giao dịch của chi nhánh

mở tài khoản hoặc các chi nhánh trong cùng hệ thống (với tài khoản gửi nhiều nơi, rút

nhiều nơi). Phí dịch vụ theo quy định hiện hành của từng ngân hàng và cũng có mức

phí ưu đãi cho khách hàng đóng sớm. Mức lãi suất cho dịch vụ tiết kiệm này là lãi suất tiết kiệm trả lãi sau toàn bộ cộng với mức khuyến khích. Lãi suất của mỗi bậc được

ngân hàng công bố công khai tại các điểm giao dịch và được ghi ngay vào sổ tiết kiệm

khi khách hàng gửi tiền. Ví dụ về mức khuyến khích tại ngân hàng Agribank (năm

2013):

Bảng 1.3. M c khuyến khích của tiết kiệm bậc thang theo số dƣ tiền gửi tại

Agribank

Bậc Số dƣ M c khuyến khích tối đa

Bậc 1 200 triệu VNĐ đến dưới 500 triệu VNĐ 0,01%/tháng

Bậc 2 500 triệu VNĐ đến dưới 1 tỷ VNĐ 0,02%/tháng

Bậc 3 Trên 1 tỷ VNĐ 0,03%/tháng

(Nguồn: agribank.com.vn) Cuối kỳ, nếu khách hàng rút vốn đúng hạn, họ sẽ được hưởng toàn bộ tiền lãi mà ngân hàng đã cam kết. Nếu rút vốn trước hạn, khách hàng được trả lãi theo lãi suất không kỳ hạn tại thời điểm rút cho số tiền thực nộp và thời gian thực gửi. Còn nếu đến hạn mà khách hàng chưa rút vốn, ngân hàng sẽ tự động chuyển toàn bộ gốc và lãi (lãi nhập gốc) sang kỳ hạn mới tương ứng và áp dụng lãi suất hiện hành cho kỳ hạn mới.

10

Trường hợp không có kỳ hạn tương ứng thì áp dụng lãi suất của kỳ hạn thấp hơn liền

kề. c. Tiết kiệm dự thưởng

Đây là một thể thức tiết kiệm mới nhằm tăng thêm tính hấp dẫn, tạo điều kiện

thuận lợi cho khách hàng chưa có kế hoạch sử dụng số tiền hiện có, đồng tiền gửi vào

ngân hàng sẽ giúp quý khách có mức sinh lời cao nếu trúng thưởng. Đối tượng được phép tham gia thể thức tiết kiệm này là mọi công dân Việt Nam, người nước ngoài cư

trú trên lãnh thổ Việt Nam. Khi ngân hàng có một chương trình khuyến mãi nào đó thì

khách hàng tham gia gửi tiết kiệm sẽ được nhận một mã số dự thưởng hoặc phiếu dự

thưởng tương ứng với từng quy định cụ thể của chương trình đó. Về lãi suất thường sẽ

áp dụng với từng kì hạn tiết kiệm mà ngân hàng đó đang niêm yết và mã số dự thưởng

này là một phần tách rời với lãi suất (Nguồn: laisuat.vn).

Đối với sổ tiết kiệm có kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng, khách hàng tham gia

chương trình phải cam kết không được rút tiền trước kỳ hạn. Trường hợp có nhu cầu

cấp thiết về tài chính, khách hàng có thể cầm cố sổ tiết kiệm để vay vốn tại ngân hàng,

nếu sổ Tiết kiệm dự thưởng trúng giải thì khách hàng vẫn được nhận giải thưởng. Đối

với kỳ hạn từ 6 tháng trở lên, khách hàng được tất toán trước hạn sau khi đã gửi quá

2/3 thời gian của sổ tiết kiệm và không phải hoàn trả lại quà tặng.

Nếu đến hết kỳ hạn gửi tiền Tiết kiệm dự thưởng, khách hàng không đến rút tiền thì ngân hàng sẽ tự động chuyển toàn bộ số tiền gốc sang Tiết kiệm thông thường với

kỳ hạn tương ứng trả lãi sau theo lãi suất tại thời điểm đó. Nếu tại thời điểm đó ngân

hàng không huy động tiết kiệm theo thời gian tương ứng thì áp dụng trả lãi sau theo kỳ

hạn thấp hơn liền kề.

Để khuyến khích khách hàng gửi tiền tiết kiệm, các hàng loạt các ngân hàng đã

mở các chương trình khuyến mại rất hấp dẫn. Cụ thể như Ngân hàng TMCP Sài Gòn

Thương Tín (Sacombank) đã triển khai chương trình khuyến mại "Hè rộn ràng - Ngàn

niềm vui" dành cho các khách hàng cá nhân tham gia gửi tiết kiệm, mở thẻ mới và sử

dụng dịch vụ Ngân hàng điện tử (Internet Banking) tại các điểm giao dịch của

Sacombank trên toàn quốc. Chương trình bắt đầu từ ngày 8/4/2013 đến ngày 30/6/2013, với tổng giá trị giải thưởng lên đến 17 tỷ đồng. Theo đó, với mỗi mức gửi tiết kiệm 5 triệu đồng hoặc 500 đô la Mỹ, kỳ hạn từ 1 tháng trở lên, khách hàng sẽ nhận được 1 phiếu bốc thăm may mắn trúng ngay những phần quà bao gồm tiền mặt, nón bảo hiểm, balo trẻ em, túi kéo du lịch. Ngoài ra, khách hàng khi tham dự còn được

tham gia chương trình quay số khi kết thúc khuyến mại với cơ cấu giải thưởng gồm: 4 giải đặc biệt là thẻ tiết kiệm trị giá 500 triệu đồng/thẻ, 15 giải nhất là chuyến du lịch Nhật Bản trị giá 50 triệu đồng/giải, 22 giải nhì là chuyến du lịch Singapore – Malaysia

11

trị giá 20 triệu đồng/giải, 121 giải ba là thẻ tiết kiệm trị giá 10 triệu đồng/giải và 355

giải may mắn là thẻ tiết kiệm trị giá 2 triệu đồng/giải.

Ngoài ra, Ngân hàng Eximbank cũng dùng ô tô để hấp dẫn khách hàng trong

chương trình tiết kiệm dự thưởng "Hè vạn lộc, triệu niềm vui" từ ngày 2/4/2013 đến

ngày 29/6/2013. Đây là chương trình tiết kiệm dự thưởng có tổng giá trị lớn lên đến 7

tỷ đồng và hơn 176.000 giải thưởng hấp dẫn, dành riêng cho khách hàng cá nhân gửi tiền tại các điểm giao dịch, hoặc gửi tiền trên các kênh Internet banking, Mobile

banking của Eximbank. Đặc biệt, khách hàng tham gia quay số dự thưởng cuối chương

trình có cơ hội trúng giải nhất là một xe ô tô Ford Fiesta hoặc thẻ tiết kiệm trị giá 550

triệu đồng, 2 giải nhì là chuyến du lịch Ấn Độ 7 ngày 6 đêm hoặc thẻ tiết kiệm 40 triệu

đồng. 12 giải ba là ti vi Led Samsung 32 inches kết nối Internet hoặc thẻ tiết kiệm 10

triệu đồng. Ngoài ra, cứ mỗi 100 triệu đồng hoặc 5.000 USD tiền gửi, tiết kiệm mở tại

các điểm giao dịch Eximbank, khách hàng được tham gia quay số trúng ngay nhiều

giải thưởng hấp dẫn, với số lần quay số bằng với số tháng của kỳ hạn gửi. d. Tiết kiệm có mục đích

Tiết kiệm có mục đích là hình thức tiết kiệm trung và dài hạn nhằm mục đích xây

dựng nhà ở. Ngoài hưởng lãi thì người gửi tiền còn được ngân hàng cho vay nhằm bổ

sung thêm vốn cho mục đích xây dựng nhà ở. Mức cho vay tối đa bằng số dư tiền gửi

tiết kiệm. Hiện nay ở Việt Nam có NH Sacombank đã triển khai loại hình tiết kiệm này.

1.1.6. Ý nghĩa của nguồn vốn huy động từ tiền gửi tiết kiệm dân cƣ

a. Đối với ngân hàng

Vốn huy động trong đó có nguồn vốn từ tiền gửi tiết kiệm dân cư là nguồn lực

chính để ngân hàng tiến hành các nghiệp vụ kinh doanh của mình. Bởi vì nó không chỉ

lớn về quy mô mà còn đa dạng về thời hạn và so với các nguồn vốn khác thì nó có

nhiều ưu điểm hơn.

Xét về vốn tự có (hay vốn điều lệ) của ngân hàng, ta thấy nó chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong tổng nguồn vốn của ngân hàng. Ví dụ như Ngân hàng Đầu tư và Phát triển

Việt Nam BIDV, tính đến hết ngày 31/12/2012, có tổng nguồn vốn đạt 484.983 tỷ đồng, trong đó vốn điều lệ là 26.480 tỷ đồng chỉ chiếm 5,46% tổng nguồn vốn.

(Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh năm 2012 NH Đầu tư và phát triển Việt Nam) . Hơn nữa việc tăng vốn tự có là không dễ vì vốn tự có được hình thành chủ yếu từ lợi nhuận và đóng góp của chủ sở hữu. Nguồn vốn này chỉ đủ để tài trợ cho các hoạt động như xây dựng trụ sở,mua sắm trang thiết bị…của ngân hàng. Xét về phần vốn vay từ NHTW và các NHTM khác thì cũng chỉ đáp ứng được một lượng vốn nhỏ, bị giới hạn về cả quy mô và thời hạn, chịu ràng buộc về các quy định của NHNN, và đây chỉ là nguồn vốn vay nhằm đáp ứng nhu cầu thanh khoản tạm thời, cân đối vốn trong ngắn

12

hạn hay đáp ứng tỷ lệ dự trữ bắt buộc của Ngân hàng Nhà nước tại thời điểm đi vay

chứ không thể đáp ứng nhu cầu vốn về kinh doanh của ngân hàng. Theo Báo cáo của Kiểm toán Nhà nước trình Đại biểu Quốc hội cho biết trong năm 2011, có nhiều thời

điểm xuất hiện các giao dịch cho vay, gửi tiền liên ngân hàng với lãi suất cao bất

thường. Tháng 3/2011 có giao dịch với lãi suất 23% một năm còn tháng 10 ghi nhận

giao dịch với lãi suất 30% một năm. Chưa dừng lại ở đó, tháng 11 có giao dịch trên thị trường liên ngân hàng với mức lãi suất 37,5% một năm. Tại thời điểm này, lãi suất huy

động trên thị trường dân cư tối đa là 14% một năm theo quy định của Ngân hàng Nhà

nước. Cũng theo ghi nhận của Kiểm toán Nhà nước, lãi suất các ngân hàng gửi và cho

nhau vay liên tục tăng từ tháng 3 đến tháng 11 của năm 2011 (Nguồn:

http://kinhdoanh.vnexpress.net/tin-tuc/ebank/ngan-hang/). Khi nền kinh tế xảy ra

những biến động bất thường như vậy, sẽ gây áp lực lớn ảnh hưởng đến lãi suất cho vay

nền kinh tế và trước hết là ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động kinh doanh của ngân hàng

do nếu đi vay trên thị trường liên ngân hàng thì phải chịu mức lãi suất quá cao.

Từ một số phân tích trên,ta có thể thấy để duy trì và phát triển hoạt động kinh

doanh của mình, ngân hàng thương mại khó có thể dựa vào vốn tự có hay vốn đi vay

NHTW và các tổ chức tín dụng khác mà phải dựa vào động lực chính là nguồn vốn

huy động trong đó có vốn huy động từ tiền gửi tiết kiệm dân cư.

Các ngân hàng thương mại đều chú trọng tới việc thu hút nguồn vốn từ những đối tượng khác nhau và bằng nhiều cách thức khác nhau,bởi đây là một trong những

nghiệp vụ cơ bản quan trọng nhất của ngân hàng thương mại. Trong xã hội thì dân cư

luôn là nhóm đối tượng chiếm số lượng đông đảo nhất, chính vì thế đây cũng là đối

tượng huy động rộng nhất của hầu hết các NHTM, là đối tượng chủ yếu mà các

NHTM hướng tới. Trong các hình thức huy động tiền gửi dân cư thì huy động tiền gửi

thanh toán chiếm tỷ trọng nhỏ, chủ yếu là nguồn vốn từ tiền gửi tiết kiệm. Ví dụ với

Ngân hàng Đông Á, tính đến ngày 31/12/2012, nguồn vốn ngân hàng này huy động

được từ TGTK dân cư đạt 120.684 tỉ đồng, trong đó tiền gửi thanh toán chỉ chiếm 15%

tương ứng với 18.103 tỉ đồng, tiền gửi tiết kiệm chiếm 85% tương ứng với 102.581

(Nguồn: Báo cáo tài chính năm 2012 của NH Đông Á). Với vai trò là nguồn vốn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn huy động của NHTM, vậy nguồn vốn huy động từ tiền gửi tiết kiệm dân cư sẽ có tác động thế nào đối với hoạt động của các NHTM? Khi NHTM huy động được càng nhiều vốn từ tiền gửi tiết kiệm thì sẽ góp phần gia tăng quy mô vốn của ngân hàng, quy mô vốn càng lớn thì ngân hàng càng có

khả năng đa dạng hóa hoạt động kinh doanh của mình, mở rộng mạng lưới chi nhánh, không những tại Việt Nam mà thậm chí còn có thể vươn ra tầm khu vực. Có thể minh họa cho luận điểm này với ví dụ về Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam

(BIDV). Tính đến ngày 31/12/2012, tổng nguồn vốn của BIDV đạt 484.983 tỉ đồng,

13

trong đó tiền gửi tiết kiệm huy động được đạt 181.480 tỉ đồng chiếm 37,42% tổng

nguồn vốn. (Nguồn: Báo cáo tài chính hợp nhất năm 2012 của NH TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam). Với quy mô vốn lớn như vậy, BIDV đã triển khai hoạt động của

mình ra tầm khu vực với các chi nhánh tại Lào, Campuchia, Mianma.

Nguồn vốn huy động được từ tiền gửi tiết kiệm dân cư góp phần tăng khả năng

thanh toán, giảm thiểu rủi ro thanh khoản cho ngân hàng. Khả năng thanh toán được đảm bảo góp phần tạo niềm tin của khách hàng đối với ngân hàng, như vậy lại có thể

nâng cao uy tín và giúp tăng khả năng cạnh tranh của ngân hàng trên thị trường. b. Đối với khách hàng

Hoạt động huy động vốn từ tiền gửi tiết kiệm dân cư cung cấp cho khách hàng

một kênh tiết kiệm và đầu tư nhằm cho tiền của họ sinh lời, tạo cơ hội cho họ có thể

gia tăng tiêu dùng trong tương lai. Mặt khác, hoạt động này còn cung cấp cho khách

hàng một nơi an toàn để họ cất trữ, tích lũy vốn tạm thời nhàn rỗi của mình. Nhiều

người gửi tiền cho rằng, trong thời điểm các kênh đầu tư chứng khoán, vàng còn biến

động thất thường, kênh tiết kiệm này vẫn giữ sức hấp dẫn. Dù lãi suất giảm 0,5%

nhưng không ảnh hưởng nhiều đến quyết định gửi tiền của khách hàng.

Các NHTM ở Việt Nam hiện nay đã đưa ra rất nhiều gói sản phẩm tiền gửi tiết

kiệm cho dân cư rất hấp dẫn. Từ ngày 28/05/2009, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển

Việt Nam (BIDV) chính thức triển khai sản phẩm tiền gửi tiết kiệm liên kết ngân hàng - bảo hiểm mang tên “Tiết kiệm Tích lũy Bảo an” (TLBA), theo đó Khách hàng gửi

một khoản tiền cố định đều đặn theo một định kỳ gửi trong một thời hạn gửi nhất định

để có một khoản tiền lớn hơn cho các dự định trong tương lai như mua nhà, mua ô tô,

du học,… Đồng thời, Khách hàng sẽ được BIDV tặng sản phẩm Bảo hiểm “BIC - An

sinh toàn diện” của Công ty bảo hiểm BIDV (BIC), theo đó BIC sẽ thay mặt Khách

hàng tiếp tục gửi tiền theo cam kết trong suốt thời gian còn lại trong trường hợp chủ tài

khoản gặp rủi ro. Lãi suất thả nổi và được điều chỉnh theo quý, thời hạn gửi tối đa 15

năm, việc giao dịch gửi/rút tiền thuận tiện, dễ dàng tại tất cả các điểm giao dịch của

BIDV. Bên cạnh đó, khách hàng còn được sử dụng số dư trên tài khoản TLBA để cầm

cố vay vốn tại BIDV và nộp tiền cho các kỳ tiếp theo; được sử dụng các dịch vụ gia tăng như dịch vụ tin nhắn BSMS, BIDV-DirectBanking… (Nguồn: bidv.com.vn)

Đối với những khách hàng bận rộn không có thời gian ra ngân hàng để gửi tiền tiết kiệm hoặc những khách hàng lo lắng khi mang quá nhiều tiền mặt trong túi…, thì với Tiết kiệm Online của Techcombank, mọi vấn đề đều được giải quyết ổn thỏa. Đây

là sản phẩm tiết kiệm mới của Techcombank với nhiều tiện ích vượt trội dành cho khách hàng. Theo đó, khách hàng có tài khoản tại Techcombank có thể gửi tiết kiệm bằng cách chuyển tiền từ tài khoản cá nhân sang tài khoản Tiết kiệm Online qua dịch

vụ Internet Banking (F@st i-bank) chỉ với một cú nhấp chuột hoặc dùng thẻ thanh toán

14

tại 1,248 máy ATM của Techcombank mà không cần phải tới ngân hàng thực hiện

giao dịch. Ở bất kỳ nơi đâu, bất kỳ thời gian nào, khách hàng cũng có thể gửi Tiết kiệm Online với lãi suất cực kỳ hấp dẫn và nhiều kỳ hạn phong phú, đặc biệt độ an tàn

và bảo mật là tuyệt đối. Số tiền gửi tối thiểu là 1.000.000 VND với lãi suất cố định

trong suốt thời gian gửi. Khi rút tiền trước hạn, khách hàng được hưởng lãi suất không

kỳ hạn. Sản phẩm phù hợp với các khách hàng thường xuyên sử dụng internet, giới văn phòng-công sở, những người có công việc bận rộn, không có nhiều thời gian tới

ngân hàng để gửi tiết kiệm. Sản phẩm này đã giúp tiết kiệm thời gian, công sức, tiền

bạc cho khách hàng, giảm chi phí giao dịch của khách hàng và ngân hàng (Nguồn:

techcombank.com.vn).

Trên đây là hai trong số rất nhiều sản phẩm tiền gửi tiết kiệm dân cư trong hệ

thống NHTM, là ví dụ tiêu biểu về tiện ích từ sản phẩm này đối với khách hàng. Với

tài khoản tiền gửi tiết kiệm cá nhân, người dân thay vì tự cất giữ số tiền đó tại nhà hay

chi tiêu hoặc đầu tư vàng, bất động sản, kinh doanh ở hiện tại, không những bỏ qua

một khoản lợi nhuận chắc chắn của lãi tiết kiệm mà còn có nguy cơ gặp rủi ro, trong

trường hợp nền kinh tế đi xuống, giá vàng giảm, thị trường bất động sản đóng băng,…

Việc so sánh giữa lợi ích và chi phí trong hai trường hợp sẽ giúp người dân quyết định

tham gia vào hoạt động huy động vốn qua tài khoản tiền gửi tiết kiệm cá nhân của

ngân hàng. Lựa chọn đó mang lại thu nhập chắc chắn cho người dân và quan trọng hơn là số tiền nhàn rỗi của họ được bảo đảm an toàn. c. Đối với nền kinh tế

Tiết kiệm và đầu tư là hai nhân tố của nền kinh tế, cố mối quan hệ sâu sắc với

nhau theo chiều hướng: tiết kiệm thúc đẩy đầu tư và đầu tư sinh lời dẫn tới khuyến

khích tiết kiệm. Tỷ lệ đầu tư là một trong những nhân tố quan trọng nhất xác định tỷ lệ

tăng trưởng bền vững. Tuy nhiên, đầu tư có thể được thực hiện bằng hai nguồn tiết

kiệm trong nước và tiết kiệm nước ngoài; trong đó vốn trong nước thường chiếm tỷ

trọng áp đảo. Vì vậy, tiết kiệm trong nước là phần tử quan trọng của quá trình tăng

trưởng kinh tế. Kinh nghiệm tại các nước đang phát triển cũng như lập luận của các lý

thuyết kinh tế đều cho thấy, tiền gửi tiết kiệm của dân cư luôn luôn chiếm tỷ trọng cao trong tiết kiệm trong nước; và nguồn chủ yếu hình thành nên loại tiền gửi tiết kiệm này là thu nhập của các gia đình.

Việt Nam vẫn đang trong giai đoạn khuyến khích người dân gửi tiết kiệm. Theo PTS Lê Thẩm Dương (trưởng khoa quản trị kinh doanh Đại học Ngân hàng TP.HCM)

thì “tiền gửi tiết kiệm là nguồn chủ lực cho hoạt động đầu tư sản xuất kinh doanh. Ngân hàng gom tiền gửi tiết kiệm của dân rồi cho vay lại để doanh nghiệp đầu tư. Tiền tiết kiệm là dòng tiền được đưa vào sản xuất kinh doanh một cách có định hướng,

đúng địa chỉ, có sự kiểm soát rủi ro.” (Nguồn: vinaresearch.net). Chính vì vậy, việc

15

huy động được nguồn tiết kiệm của dân cư sẽ góp phần tăng nguồn vốn cho ngân

hàng, khiến cho việc cho vay sản xuất kinh doanh của các ngân hàng được thuận tiện hơn, từ đó góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Nguyên nhân là do nó có thể đáp

ứng nhu cầu vốn để đảm bảo quá trình tái sản xuất được thực hiện liên tục và mở rộng

quy mô sản xuất. NHTM thông qua hoạt động huy động vốn nói chung và huy động vốn

từ tiền gửi tiết kiệm dân cư nói riêng đã biến vốn nhàn rỗi không hoạt động thành nguồn vốn hoạt động có hiệu quả, kích thích quá trình luân chuyển vốn, thúc đẩy sản xuất kinh

doanh phát triển.

Theo ông Lê Hoàng Châu - chủ tịch Hiệp hội Bất động sản TP.HCM, Việt Nam

là một trong số ít những quốc gia trên thế giới không đánh thuế thu nhập cá nhân trên

thu nhập từ tiền gửi tiết kiệm. Với mặt bằng lãi suất trong năm 2012, một khoản tiền

tiết kiệm 10 tỉ đồng sẽ cho thu nhập hơn 1 tỉ đồng nhưng họ không phải đóng thuế.

Trong khi đó, nếu số tiền này được đưa vào sản xuất kinh doanh sẽ tạo thêm công ăn

việc làm, đem lại nguồn thu cho ngân sách thông qua thuế và bản thân người có tiền.

Như vậy, chúng ta không thu thuế thu nhập trên thu nhập từ tiền gửi tiết kiệm vô hình

trung sẽ khuyến khích người dân gửi tiết kiệm nhiều hơn. Điều này góp phần gián tiếp

cải thiện nền kinh tế vì lượng tiền huy động qua ngân hàng, kênh dẫn vốn cho nền kinh

tế, dồi dào và hoạt động tốt thì nền kinh tế sẽ ổn định và vững chắc.

Bên cạnh đó, nghiệp vụ huy động vốn còn giúp quản lý lượng tiền mặt lưu thông trong dân cư, điều hòa lượng vốn giữa khách hàng có vốn và những khách hàng thiếu

vốn do NHTM đóng vai trò là trung gian tài chính ở trên thị trường. Từ đó, hoạt động

này góp phần tăng tốc độ lưu chuyển tiền tệ.

Theo báo cáo của Ủy ban Kinh tế Quốc hội, tốc độ vòng quay của tiền tệ đã bị

chậm lại đáng kể trong năm 2012: vòng quay tiền đạt 0,92 năm 2008 và tiếp tục giảm

mạnh xuống chỉ còn ở mức 0,8 lần năm 2012 (Nguồn: cafef.vn). Điều này phản ánh sự

trì trệ của nền kinh tế và sự sụt giảm lòng tin của thị trường (giữa các nhà đầu tư, giữa

các NHTM, giữa ngân hàng và doanh nghiệp, giữa các nhà đầu tư trong nước và ngoài

nước) đối với ổn định kinh tế vĩ mô; giữa niềm tin của người tiêu dùng đối với triển

vọng phục hồi kinh tế trong năm 2013. Với thực trạng như vậy, việc tập trung những nguồn vốn nhỏ lẻ trên thị trường, đặc biệt là khuyến khích người dân tích cực gửi tiền vào ngân hàng, là nhiệm vụ quan trọng và cấp thiết của của các NHTM hiện nay nhằm giúp các doanh nghiệp phục hồi và mở rộng sản xuất kinh doanh, giúp nền kinh tế phát triển bền vững.

1.1.7. Một số quy định về huy động tiền gửi tiết kiệm

Theo Quyết định số 47/2006/QĐ-NHNN ngày 25/9/2006 của Thống đốc NHNN Việt Nam về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế về tiền gửi tiết kiệm, ban hành kèm theo với Quyết định số 1160/2004/QĐ-NHNN, quy định như sau:

16

a. Đối tượng.

- Đối tượng gửi tiền gửi tiết kiệm bằng đồng Việt Nam là các cá nhân Việt Nam

và cá nhân nước ngoài đang sinh sống và hoạt động hợp pháp tại Việt Nam.

- Đối tượng gửi tiền gửi tiết kiệm bằng ngoại tệ là các cá nhân người cư trú.

b. Phạm vi áp dụng.

- Ngân hàng thương mại, Ngân hàng phát triển, Ngân hàng đầu tư, Ngân hàng chính sách, Ngân hàng hợp tác, Quỹ tín dụng nhân dân được nhận tiền gửi tiết kiệm

của mọi cá nhân theo các loại kỳ hạn khác nhau.

- Đối với chi nhánh ngân hàng nước ngoài, ngân hàng liên doanh, phạm vi nhận tiền gửi tiết kiệm được thực hiện theo quy định hiện hành của Thống đốc NHNN về

đối tượng gửi tiền, kỳ hạn và mức huy động tối đa.

- Các tổ chức khác có hoạt động ngân hàng được nhận tiền gửi tiết kiệm theo quy định tại giấy phép hoạt động và các văn bản pháp luật khác có liên quan về

TGTK.

- Việc nhận TGTK bằng ngoại tệ chỉ áp dụng đối với các tổ chức nhận TGTK được phép hoạt động ngoại hối và phải phù hợp với quy định hiện hành của Chính phủ

và NHNN về quản lý ngoại hối.

1.1.8. Ý nghĩa và quy chế bảo hiểm tiền gửi

1.1.8.1. Ý nghĩa của quy chế bảo hiểm tiền gửi

Như chúng ta đã biết, tiền gửi tiết kiệm là “của cải” thuộc sở hữu dân cư, là lợi

ích của họ. Tuy nhiên, họ có những hạn chế nhất định trong việc tiếp cận và phân tích

thông tin về hoạt động của tổ chức huy động tiền gửi. Đời sống của những người gửi

tiền thuộc tầng lớp dân cư có thu nhập thấp thường bị tác động nhiều hơn các khách

hàng gửi tiền khác khi có đổ bể ngân hàng xảy ra. Vì lo lắng sẽ bị ảnh hưởng khi có đổ

bể ngân hàng và vì bị hạn chế về khả năng có được thông tin chính xác về hoạt động

của các tổ chức tín dụng nên tầng lớp người gửi tiền có thu nhập thấp thường hay có

các "ứng xử quá đỗi" khi có thông tin đồn đại thất thiệt về ngân hàng. Chẳng hạn, khi

có một thông tin đồn đại xấu về ngân hàng nào đó thì họ có thể ồ ạt rút tất cả tiền gửi

tại ngân hàng này mặc dù nhu cầu chi tiêu chủ quan của họ chưa nhất thiết phải làm như vậy. Hiện tượng rút tiền ồ ạt vì một thông tin thất thiệt ở Ngân hàng TMCP Á Châu tại Việt Nam trong tháng 10/2003 là một minh chứng cụ thể. Các hiện tượng đó nếu không được xử lý kịp thời có thể là nguyên nhân dẫn đến sự đổ vỡ ngân hàng hàng loạt, Chính vì vậy, sự ra đời của BHTG là rất cần thiết nhằm hạn chế những hậu quả

này.

Bảo hiểm tiền gửi là cam kết công khai của tổ chức BHTG đối với tổ chức tham gia BHTG và người gửi tiền về việc tổ chức BHTG sẽ chi trả tiền gửi được bảo hiểm

17

cộng với tiền lãi nhập gốc cho người gửi tiền khi tổ chức tham gia BHTG bị chấm dứt

hoạt động và mất khả năng thanh toán cho người gửi tiền.

Bảo hiểm tiền gửi có vai trò rất quan trọng đối với sự ổn định phát triển kinh tế -

xã hội. Nó góp phần bảo vệ người gửi tiền, đảm bảo sự an toàn lành mạnh hoạt động

ngân hàng, thúc đẩy huy động vốn phục vụ phát triển và xử lý khủng hoảng tài chính.

1.1.8.2. Một số điều khoản trong quy chế bảo hiểm tiền gửi

- Tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi có trách nhiệm nộp cho tổ chức bảo hiểm

tiền gửi các báo cáo theo quy định của tổ chức bảo hiểm tiền gửi.

- Tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi phải báo cáo ngay với tổ chức bảo hiểm

tiền gửi trong những trường hợp sau đây:

Một là, gặp khó khăn về khả năng chi trả Hai là, khi thay đổi các thành viên Hội đồng quản trị, Ban Kiểm soát, Tổng Giám

đốc (Giám đốc).

Trong thời hạn 90 ngày, kể từ ngày kết thúc năm tài chính, tổ chức tham gia bảo

hiểm tiền gửi có trách nhiệm gửi cho tổ chức bảo hiểm tiền gửi các báo cáo tài chính

năm.

Khi phát hiện tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi vi phạm các quy định về an

toàn trong hoạt động ngân hàng, tổ chức bảo hiểm tiền gửi có quyền yêu cầu tổ chức

tham gia bảo hiểm tiền gửi thực hiện các biện pháp chấn chỉnh, đồng thời báo cáo

bằng văn bản với NHNN.

Trong trường hợp xét thấy hoạt động của tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi có

nguy cơ dẫn đến mất khả năng chi trả, thất thoát lớn về tài sản hoặc có tác động

nghiêm trọng tới các tổ chức tín dụng khác, thì tổ chức bảo hiểm tiền gửi có quyền yêu

cầu tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi có biện pháp chấn chỉnh kịp thời, đồng thời

báo cáo NHNN có biện pháp xử lý khẩn cấp.

Tổ chức bảo hiểm tiền gửi có trách nhiệm cung cấp theo định kỳ các thông tin

liên quan đến tình hình hoạt động của các tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi cho NHNN và các cơ quan nhà nước có thẩm quyền liên quan.

Tổ chức bảo hiểm tiền gửi được quyền tiến hành kiểm tra việc chấp hành các qui

định của các tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi.

Thanh tra NHNN có trách nhiệm cung cấp kết quả thanh tra, giám sát các tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi cho tổ chức bảo hiểm tiền gửi; phối hợp xử lý kịp thời các tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi có nguy cơ mất khả năng chi trả, vi phạm các quy định về an toàn trong hoạt động ngân hàng, có tỷ lệ nợ quá hạn cao.

Trường hợp tổ chức tín dụng bị đặt trong tình trạng kiểm soát đặc biệt, Ban Kiểm soát đặc biệt có trách nhiệm thông báo định kỳ về tình hình hoạt động của tổ chức đó cho tổ chức bảo hiểm tiền gửi để phối hợp xử lý. 18

Trong trường hợp tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi có nguy cơ mất khả năng

chi trả nhưng chưa đến mức đặt trong tình trạng kiểm soát đặc biệt, tổ chức bảo hiểm tiền gửi có thể hỗ trợ dưới các hình thức sau:

- Thứ nhất, cho vay hỗ trợ để chi trả tiền gửi được bảo hiểm - Thứ hai, bảo lãnh cho các khoản vay đặc biệt để có nguồn chi trả tiền gửi được

bảo hiểm

- Thứ ba, mua lại nợ trong trường hợp khoản nợ đó có tài sản bảo đảm. Việc hỗ trợ này do Hội đồng quản trị tổ chức bảo hiểm tiền gửi xem xét quyết

định.

Tổ chức bảo hiểm tiền gửi chỉ tiến hành các biện pháp hỗ trợ sau khi xác định

rằng việc tiếp tục hoạt động của các tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi đang gặp khó

khăn có vai trò quan trọng đối với sự bảo đảm an toàn của toàn hệ thống và sự ổn định

chính trị, kinh tế và xã hội.

Khi tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền có

văn bản chấm dứt hoạt động và tổ chức đó mất khả năng thanh toán, tổ chức bảo hiểm

tiền gửi có trách nhiệm chi trả tiền gửi được bảo hiểm của người gửi tiền tại tổ chức

tham gia bảo hiểm tiền gửi.

Số tiền gửi (gồm gốc và lãi) vượt quá mức tối đa được tổ chức bảo hiểm tiền gửi

chi trả sẽ được trả cho người gửi tiền trong quá trình thanh lý tài sản của tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi phù hợp với qui định của Luật Phá sản.

Việc chi trả tiền bảo hiểm cho người gửi tiền được thực hiện thông qua các ngân

hàng, hoặc theo thoả thuận với người gửi tiền.

Việc chi trả tiền bảo hiểm cho người gửi tiền hoặc người được ủy quyền hợp

pháp, được thực hiện căn cứ vào danh sách những người gửi tiền do tổ chức bảo hiểm

tiền gửi phối hợp với tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi lập và căn cứ vào các chứng

từ hợp lệ.

Trong trường hợp vốn hoạt động của tổ chức bảo hiểm tiền gửi tạm thời không

đủ để hỗ trợ các tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi gặp khó khăn về khả năng chi trả

hoặc để chi trả tiền bảo hiểm cho người gửi tiền tại tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi bị phá sản, tổ chức bảo hiểm tiền gửi phải báo cáo NHNN để NHNN trình Thủ tướng Chính phủ xem xét cho phép tổ chức bảo hiểm tiền gửi được vay của tổ chức tín dụng hoặc tổ chức khác có bảo lãnh của Chính phủ.

1.2. Hiệu quả hoạt động huy động tiền gửi tiết kiệm dân cƣ của ngân hàng

thƣơng mại

1.2.1. hái niệm hiệu quả huy động tiền gửi tiết kiệm

Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, ngân hàng cũng như các tổ chức tín dụng

khác đang phải đối mặt với các cuộc cạnh tranh khốc liệt. Bất kỳ biến động nào dù nhỏ

19

hay lớn đều ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh của ngân hàng nói chung và hoạt

động huy động vốn nói riêng, trong đó có huy động vốn từ tiền gửi tiết kiệm của dân cư. Vì vây, hiệu quả trong hoạt động huy động tiền gửi tiết kiệm không chỉ góp phần

đánh giá chính xác đúng đắn hoạt động huy động vốn nói riêng mà còn phản ánh khả

năng thích nghi và khẳng định sự phát triển trên thị trường của ngân hàng.

- Theo “Đại từ điển Tiếng Việt” thì “hiệu quả” là “ kết quả đích thực” - Theo “Đại từ điển kinh tế thị trường”, hiệu quả kinh tế còn gọi là hiệu ích kinh tế “, đó là sự so sánh giữa chiếm dụng và tiêu hao trong hoạt động kinh tế với thành

quả có ích đạt được. Phạm trù hiệu qủa phản ánh mối quan hệ tương hỗ giữa mục đích,

kết quả, chi phí, nguồn lực trong huy động, hay một quá trình được nghiên cứu.

Nói một cách đơn giản, hiệu quả là sự so sánh giữa kết quả đạt đc và chi phí bỏ

ra. Ta có thể đưa ra khái niệm về hiệu quả huy động tiền gửi tiết kiệm dân cư như sau :

Hiệu quả huy động vốn từ tiền gửi tiết kiệm dân cư của NHTM là sự so sánh giữa

kết quả đạt được từ công tác huy động và chi phí ngân hàng phải bỏ ra để huy động

được nguồn vốn đó.

Hiệu quả này càng cao khi kết quả đạt được càng cao và chi phí bỏ ra càng thấp.

Hiệu quả huy động vốn từ tiền gửi tiết kiệm dân cư còn được thể hiện ở khả năng đáp

ứng cao nhất nhu cầu sử dụng vốn của ngân hàng. Đó chính là sự đáp ứng kịp thời, đầy

đủ, nhu cầu sử dụng vốn với chi phí hợp lý.

Hiệu quả huy động vốn từ tiền gửi tiết kiệm góp phần quan trọng tạo nên lợi

nhuận ngân hàng, tạo sự ổn định của nguồn vốn, thúc đẩy tăng trưởng và hạn chế rủi

ro trong kinh doanh ngân hàng.

Khi so sánh giữa kết quả và chi phí thì cần phải so sánh dưới dạng thương số,

hoặc kết quả/chi phí hoặc chi phí/kết quả.

Khái niệm hiệu quả như trên cho thấy rằng trong hoạt động huy động vốn từ tiền

gửi tiết kiệm, chỉ khi nào đạt đc kết quả cao nhất trong điều kiện chi phí thấp nhất mới

được coi là có hiệu quả. Tuy nhiên trên thực tế, việc xác định kết quả nào là cao nhất

với chi phí thấp nhất là rất khó.

1.2.2. Các chỉ tiêu thể hiện hiệu quả hoạt động huy động tiền gửi tiết kiệm từ dân

1.2.2.1. Chỉ tiêu định tính

Chỉ tiêu định tính là những chỉ tiêu không thể đo lường được thông qua các con số cụ thể,tuy nhiên chúng cũng không kém phần quan trọng đối với công tác đánh giá

mà các ngân hàng ngày càng quan tâm nhằm phát triển hoạt động kinh doanh của mình,mang lại cho khách hàng những giá trị tốt nhất.Bởi lẽ khách hàng luôn là những đối tượng quan trọng nhất mà ngân hàng hướng tới,khách hàng cung cấp vốn và mang

tới nguồn thu cho ngân hàng thông qua các hoạt động hết sức đa dạng và phong

20

phú.Nếu ngân hàng không thể làm thoả mãn khách hàng của mình thì không thể nói là

ngân hàng đó hoạt động có hiệu quả. a. Khả năng đáp ứng tốt nhu cầu của khách hàng

Một trong những chỉ tiêu chúng ta có thể đề cập tới đó là khả năng đáp ứng tốt

nhu cầu của khách hàng.Hiệu quả mà ngân hàng hướng tới ở đây là việc làm thoả mãn

nhu cầu của các khách hàng khi họ quyết định gửi những khoản tiết kiệm của mình tại ngân hàng. Hay nói cách khác là mức độ hài lòng của khách hàng đối với các sản

phẩm dịch vụ ngân hàng cung cấp ở mức cao, trung bình hay thấp. Các khách hàng gửi

tiền tiết kiệm tại ngân hàng có độ tuổi, trình độ, mức thu nhập, mục đích gửi tiền

vv...là khác nhau, bởi vậy điều cần thiết là đội ngũ nhân viên của ngân hàng phải tư

vấn cho khách hàng một hình thức tiết kiệm hợp lý nhất, với một thái độ thân

thiện,nhiệt tình,hướng dẫn, tư vấn cụ thể, chính xác và dễ hiểu. Ví dụ như khách hàng

lần đầu tới giao dịch với ngân hàng, họ chưa nắm bắt được quy trình làm việc như thế

nào, nhân viên cần chỉ bảo tận tình, và tạo uy tín ngay lần giao dịch đầu tiên. Đặc biệt

với tiền gửi tiết kiệm dân cư, nếu là khách hàng ở vùng nông thôn thì trình độ văn hóa,

khả năng nhận thức của họ chưa cao,… chính vì vậy thái độ ứng xử của nhân viên

ngân hàng cần hết sức khéo léo, và gây ấn tượng tốt với khách hàng. Thủ tục gửi và

rút tiền cần đơn giản, thuận tiện, tránh việc rườm rà không cần thiết. Đặc biệt không

để xảy ra việc gửi vào thì dễ nhưng khi rút ra thì gây khó cho khách hàng, như vậy sẽ làm mất uy tín của ngân hàng. b. Tính hấp dẫn của các ưu đãi dành cho khách hàng

Bên cạnh những điều kiện cơ bản về gửi tiết kiệm tại ngân hàng, không ít khách

hàng còn quan tâm tới các ưu đãi, chương trình khuyến mại, các tiện ích đi kèm vv...

mà mình được hưởng khi gửi tiền ở ngân hàng đó. Nếu các chương trình đó có tính

hấp dẫn cao thì sẽ làm tăng mức độ hài lòng, thoả mãn của khách hàng và còn có khả

năng thu hút thêm các khách hàng mới. Lý do là bởi người dân trước khi đưa ra quyết

định lựa chọn ngân hàng để gửi tiết kiệm thường có sự tìm hiểu về ngân hàng đó qua

nhiều kênh khác nhau như báo chí, interner … qua đó họ nắm bắt được các thông tin

về sản phẩm tiền gửi tiết kiệm của ngân hàng, kèm theo đó là các ưu đãi, tiện ích của từng hình thức tiết kiệm của ngân hàng. Mặt khác, họ còn tham khảo ý kiến của người thân, bạn bè từng sử dụng dịch vụ này, nếu những người này hài lòng với ngân hàng nào thì sẽ có phản hồi tốt và có thể giới thiệu về việc gửi tiết kiệm tại ngân hàng đó. Trái lại, nếu khách hàng hiện tại của ngân hàng không cảm thấy hài lòng sẽ dẫn đến

các phản hồi xấu và họ sẽ không giới thiệu bạn bè, người thân của mình sử dụng dịch vụ gửi tiết kiệm tại ngân hàng đó. Bởi vậy, ngân hàng nào có thể mang tới cho khách hàng những ưu đãi hấp dẫn và thiết thực chứng tỏ ngân hàng đó có khả năng thu hút và

21

đáp ứng tốt nhu cầu khách hàng, đó cũng là một tiêu chí thể hiện hiệu quả trong công

tác huy động nguồn tiền gửi tiết kiệm của ngân hàng.

Ngân hàng VIB đã đưa ra nhiều chương trình khuyến mại hấp dẫn dành cho

khách hàng gửi tiền tiết kiệm tại ngân hàng. Có thể kể tới một số chương trình như “80

ngày chọn quà ưng ý” với tổng giá trị giải thưởng lên tới hơn 19 tỷ đồng, quay số

trúng thưởng với giải nhất được tặng bộ đồ điện tử gia đình có giá trị, kèm theo thẻ ATM VIB trị giá 100 triệu VND hoặc 1 chuyến du lịch nước ngoài trị giá 150 triệu

VND và 1 thẻ Master prepaid 50 triệu VND.Hay chương trình “3 cơ hội trong tay

nhận ngay quà Tết” với tổng giá trị giải thưởng hơn 3,5 tỷ đồng, giải thưởng cao nhất

là 1kg vàng SJC 9999. (Nguồn: vib.com.vn)

Các ngân hàng có thể đưa ra các ưu đãi,giải thưởng nhằm tri ân khách hàng hiện

tại và thu hút thêm khách hàng mới, tuy nhiên cũng cần lưu ý tính toán chi phí phù hợp

cho các khoản mục này, chi phí bỏ ra phải hợp lý so với kết quả đạt được, tránh gây

lãng phí mà không mang lại hiệu quả. c. Uy tín của ngân hàng

Uy tín là một dạng quan hệ xã hội đặc biệt, trong đó có sự tôn trọng, tin tưởng từ

phía công chúng đối với cá nhân hay tổ chức có kiến thức, kinh nghiệm và phẩm chất.

Như vậy,uy tín của ngân hàng là khái niệm để chỉ sự tôn trọng, tin tưởng của khách

hàng dành cho ngân hàng do họ đánh giá đó là một ngân hàng tốt. Đương nhiên việc đánh giá này ở mỗi người có thể là khác nhau, tùy thuộc vào quan điểm cá nhân, các

tiêu chí đánh giá khác nhau và nhiều yếu tố chi phối khác.

Uy tín của ngân hàng có tính chất vô hình, nó là điều kiện để đảm bảo cho hoạt

động kinh doanh của ngân hàng và là sự tín nhiệm, tin tưởng của khách hàng đối với

ngân hàng.

Có thể nói, một ngân hàng được đánh giá là uy tín thì điều đó thể hiện ngân hàng

đó hoạt động có hiệu quả, xét chung cho tổng thể các nghiệp vụ của ngân hàng và

nghiệp vụ huy động tiền gửi tiết kiệm từ dân cư nói riêng. Vì một ngân hàng uy tín là

ngân hàng đáp ứng được những điều kiện sau

Thứ nhất là vị thế của ngân hàng, dựa trên mức độ hoạt động ổn định, chiến lược kinh doanh, hoạt động kinh doanh tập trung vào một vài lĩnh vực hay đa dạng hóa lĩnh vực. Kinh nghiệm điều hành, mức độ chấp nhận rủi ro và khả năng ban quản trị thực hiện được kế hoạch kinh doanh cũng là một điểm quan trọng tạo lập vị thế của ngân hàng.

Thứ hai là vốn và lợi nhuận. Đánh giá khả năng của ngân hàng chịu được lỗ trong kinh doanh dựa trên việc có đáp ứng được tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu cùng với chất lượng vốn và lợi nhuận. Điều kiện tiên quyết là ngân hàng phải đáp ứng được tỷ

lệ an toàn vốn tối thiểu. Nếu chưa đáp ứng được, ngân hàng không nên được phép tăng

22

trưởng tín dụng cao trong năm, vì điều này sẽ càng làm giảm tỷ lệ an toàn vốn tối

thiểu. Chất lượng vốn và lợi nhuận cũng hết sức quan trọng. Nếu vốn cấp 1 chiếm tỷ lệ không cao, vốn của ngân hàng có khả năng giảm mạnh khi trái phiếu tăng vốn cấp 2

đến hạn và phải mua lại hoặc trái phiếu chuyển đổi đến hạn mà không được chuyển

đổi thành cổ phiếu.

Thứ ba là mức độ rủi ro. Đánh giá cách ngân hàng tăng trưởng và thay đổi mức độ rủi ro trong kinh doanh, rủi ro của việc tập trung và đa dạng hóa kinh doanh, nợ xấu

và tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ.

Thứ tư là nguồn vốn và thanh khoản. Xem xét cách ngân hàng huy động vốn cho

hoạt động kinh doanh và mức độ nhạy cảm của nguồn vốn (tăng hay giảm) gây ảnh

hưởng lên khả năng duy trì hoạt động và đáp ứng nhu cầu thanh toán khi thị trường

biến động xấu. NHNN có thể xem xét tỷ lệ dư nợ trên tổng tiền gửi, tỷ lệ vốn trung

hạn, sự phụ thuộc vào vốn ngắn hạn từ thị trường liên ngân hàng và cơ cấu nguồn vốn.

Những ngân hàng có lịch sử hoạt động lâu đời, cơ sở vật chất trang thiết bị hiện

đại, mạng lưới chi nhánh rộng khắp tiếp cận sát với cuộc sống của người dân, hoạt

động kinh doanh tăng trưởng ổn định tạo nên một danh tiếng, lòng tin đối với dân

chúng thì dễ dàng thu hút vốn hơn. Yếu tố an toàn được đa số người dân quan tâm khi

lựa chọn ngân hàng để gửi tiền tiết kiệm. Khi đó uy tín của ngân hàng sẽ là yếu tố để

họ dựa vào đó đưa ra quyết định lựa chọn của mình.

Ngân hàng có đội ngũ nhân viên năng động, giàu kinh nghiệm, trình độ nghiệp

vụ cao, thái độ phục vụ chuyên nghiệp sẽ làm tăng mức độ hài lòng và sự tin tưởng

của khách hàng khi họ giao dịch với ngân hàng, điều này tạo thêm điều kiện thuận lợi

cho ngân hàng trong việc thu hút vốn từ tiền gửi tiết kiệm của dân cư.

Thực tế tại Việt Nam cho thấy, các ngân hàng đạt hiệu quả cao trong kinh doanh

là những ngân hàng có uy tín, được đông đảo khách hàng tin tưởng và lựa chọn. Cụ

thể, theo Bảng xếp hạng năng lực cạnh tranh của 32 ngân hàng Việt Nam trong “Báo

cáo thường niên chỉ số tín nhiệm Việt Nam 2012”, có 9 ngân hàng được xếp hạng A

đó là: ACB, BIDV, DongA Bank, Eximbank, MB, Sacombank, Techcombank,

Vietcombank và VietinBank. Nhóm B gồm: Bac A Bank, HDBank, Maritime Bank, OCB, Saigonbank, Southern Bank, PG Bank, VIB và VietABank. Đây là nhóm những ngân hàng có khả năng cạnh tranh khá, có sức mạnh thị trường tốt, năng lực tài chính hợp lý và hoạt động kinh doanh ổn định với tiềm năng phát triển tốt, thể hiện tính hiệu quả trong các hoạt động của ngân hàng, trong đó có hoạt động huy động tiền gửi tiết

kiệm dân cư.

1.2.2.2. Chỉ tiêu định lượng

a. Tỉ trọng vốn huy động từ tiền gửi tiết kiệm trên tổng nguồn vốn huy động của ngân hàng thương mại

23

Tỉ trọng vốn huy động từ TGTK trên tổng nguồn vốn huy động của NHTM cho

biết mức độ tác động của nguồn vốn TGTK tới hoạt động kinh doanh của ngân hàng là nhiều hay ít. Chỉ số này có mối quan hệ tỷ lệ thuận với khả năng ảnh hưởng của nguồn

vốn huy động từ TGTK dân cư đối với hiệu quả hoạt động tạo vốn của NHTM.

Tỉ trọng này lớn thể hiện mức độ huy động vốn bằng nguồn từ TGTK là cao, cũng

có nghĩa là sự thay đổi của lượng TGTK huy động được sẽ ảnh hưởng lớn tới tổng nguồn vốn huy động của ngân hàng. Ngược lại, nếu tỉ trọng này nhỏ có nghĩa là mức

độ huy động vốn bằng nguồn từ TGTK là không cao, khi đó sự thay đổi của nguồn huy

động TGTK không làm ảnh hưởng nhiều tới tổng nguồn vốn ngân hàng huy động

được.

Trong hoạt động ngân hàng thì nguồn vốn huy động phải đảm bảo đủ lớn để sử

dụng trong hoạt động tín dụng và trong các hoạt động khác của ngân hàng. Với tỉ trọng

lớn của nguồn vốn huy động từ TGTK, ngân hàng sẽ giảm được chi phí sử dụng các

nguồn vốn khác, mà thông thường các nguồn vốn đó có chi phí rất cao (ví dụ như vay

trên thị trường liên ngân hàng). Từ đó có thể thấy rằng tỉ trọng vốn huy động từ TGTK

trên tổng nguồn vốn huy động của NHTM là một chỉ tiêu thể hiện hiệu quả hoạt động

huy động TGTK dân cư, vì nó không chỉ biểu hiện kết quả huy động vốn của NHTM

mà còn ảnh hưởng tới chi phí huy động ngân hàng phải bỏ ra. b. Quy mô, sự tăng trưởng và tính ổn định của nguồn vốn huy động từ tiền gửi tiết kiệm

Vấn đề đầu tiên được quan tâm đến khi xem xét kết quả huy động tiền gửi tiết

kiệm của một NHTM chính là quy mô vốn, hay độ lớn của lượng TGTK mà ngân hàng

đó huy động được.

Quy mô vốn TGTK là một chỉ số tuyệt đối và nếu chỉ được dùng đơn lẻ, nó

không phản ánh được đầy đủ khả năng huy động TGTK của một ngân hàng. Dựa vào

chỉ tiêu quy mô, nhiều chỉ số tương đối được xác định. Các chỉ số này cho thấy một

cách đầy đủ hơn khả năng huy động TGTK của NHTM. Nếu quy mô nguồn TGTK

cho biết độ lớn của lượng TGTK ngân hàng huy động được thì tốc độ tăng trưởng

phản ánh sự tăng (giảm) của nguồn vốn từ TGTK tại các thời điểm khác nhau cũng như sự tăng (giảm) đó là nhiều hay ít.

Tốc độ tăng trưởng > 100: quy mô vốn từ TGTK của ngân hàng tăng.

Tốc độ tăng trưởng < 100: quy mô vốn từ TGTK của ngân hàng giảm.

Một hình thức huy động vốn TGTK được đánh giá là tốt ngoài những yếu tố như đáp ứng nhu cầu với chi phí thấp cần phải có sự ổn định, tức là không có sự thay đổi

24

đột ngột trong thời gian sử dụng nguồn vốn đó của ngân hàng, điều này cũng đúng với

hoạt động huy động TGTK nói riêng.

Nguồn vốn này phải có sự tăng trưởng ổn định về mặt số lượng để thoả mãn nhu

cầu tín dụng cũng như nhu cầu của các hoạt động khác. Mặt khác nó cũng cần phải có

sự ổn định về thời gian. Chẳng hạn như nếu ngân hàng huy động được một nguồn vốn

lớn từ TGTK dân cư, đáp ứng được yêu cầu tín dụng nhưng lại không đánh giá,dự báo được khả năng ổn định của nguồn vốn đó sẽ làm ảnh hưởng đến hoạt động của ngân

hàng, tạo cho ngân hàng những rủi ro khó lường trước được. Ngược lại, nếu ngân hàng

chỉ huy động được nguồn vốn từ TGTK nhỏ nhưng ổn định về thời gian sẽ làm cho

việc đầu tư từ nguồn này trở nên an toàn hơn, đem lại lợi nhuận cho ngân hàng.

Tính ổn định hay thiếu ổn định của nguồn vốn huy động từ TGTK còn thể hiện ở tỉ

lệ rút tiền đột xuất trên tổng nguồn TGTK huy động được, nó thể hiện phần trăm

lượng vốn TGTK có khả năng bị rút ra không theo dự tính của ngân hàng. Qua đó có

thể giúp ngân hàng có thể trích lập các quỹ dự phòng bù đắp nguồn vốn cho kịp thời,

phù hợp, tránh thiếu khả năng thanh toán dẫn tới tính thanh khoản giảm, cũng tránh

trích lập quá nhiều dẫn tới việc sử dụng nguồn vốn kém hiệu quả làm giảm sút kết quả

kinh doanh. c. Cơ cầu nguồn vốn huy động từ tiền gửi tiết kiệm

Cơ cấu TGTK là tỉ trọng mỗi loại tiền gửi trên tổng nguồn vốn TGTK huy động. Việc xác định cơ cấu TGTK phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Ngân hàng định hướng đầu

tư hoặc cho vay vào lĩnh vực nào, với quy mô tương ứng bao nhiêu thì cũng sẽ có kế

hoạch xây dựng cơ cấu nguồn vốn TGTK tương ứng. Ngoài ra, cơ cấu TGTK còn chịu

tác động bởi mục đích gửi tiền của khách hàng, tình hình kinh tế, khả năng chống đỡ

rủi ro của ngân hàng,…

Cơ cấu nguồn vốn huy động từ TGTK là một chỉ tiêu thể hiện hiệu quả hoạt động

huy động TGTK vì mỗi loại tiền khác nhau ngân hàng huy động được sẽ có quy mô

khác nhau cũng như mức lãi suất khác nhau, cho nên sự thay đổi trong cơ cấu nguồn

vốn TGTK sẽ làm thay đổi chi phí của ngân hàng. Ví dụ như trong cơ cấu TGTK theo

kì hạn, khi tỉ trọng TGTK không kì hạn giảm xuống, tỉ trọng TGTK có kì hạn tăng lên có thể làm chi phí trả lãi của ngân hàng tăng vì TGTK có kì hạn thường có mức lãi suất cao hơn so với TGTK không kì hạn. d. Tương quan giữa huy động vốn từ tiền gửi tiết kiệm và sử dụng vốn

Tương quan giữa huy động vốn và sử dụng vốn là một chỉ tiêu quan trọng thể hiện

hoạt động kinh doanh của ngân hàng có hiệu quả hay không. Có một nguyên tắc đó là giữa vốn huy động và sử dụng vốn phải có sự tương đương nhau. Ngân hàng có thể huy động vốn từ nhiều nguồn khác nhau và sử dụng một tỉ lệ nhất định nguồn vốn này

cho các hoạt động tín dụng mà chủ yếu là cho vay. Đối với chi nhánh VIB Phạm Ngọc

25

Thạch thì nguồn vốn chủ yếu và quan trọng nhất chính là vốn huy động từ TGTK dân

cư, các nguồn vốn khác chỉ chiếm tỉ trọng nhỏ hoặc rất nhỏ. Đây cũng là nguồn vốn chính để chi nhánh cho vay và thực hiện các hoạt động tín dụng khác. Vì vậy, trong

phạm vi khóa luận này, ta có thể coi việc xét tương quan giữa huy động vốn và sử

dụng vốn tại chi nhánh chính là tương quan giữa huy động vốn từ nguồn TGTK dân cư

và sử dụng vốn. Cụ thể thường có 3 trường hợp xảy ra:

Nguồn tiền gửi tiết kiệm tương đương với nhu cầu sử dụng vốn Nếu bất cứ NHTM nào thực hiện được nguyên tắc này thì hoạt động kinh doanh

của ngân hàng đó chắc chắn sẽ rất có hiệu quả. Vì ngân hàng huy động được vốn và

cũng sử dụng được số vốn đã huy động, lợi nhuận ngân hàng thu về chính là khoản

chênh lệch giữa lãi suất huy động và lãi suất cho vay.

Nguồn tiền gửi tiết kiệm lớn hơn nhu cầu sử dụng vốn Trong trường hợp này, sẽ có rủi ro xảy ra vì ngân hàng đã không đầu tư và không

cho vay được. Ngân hàng đã phải trả lãi suất cho số vốn huy động trong khi lại không

thể thu được lãi suất từ việc sử dụng vốn đó. Như vậy, ngân hàng chắc chắn sẽ lỗ vốn.

Giải pháp được đặt ra ở đây là ngân hàng cần phải tìm cách đầu tư, cho vay hoặc

chuyển số vốn đã huy động được lên ngân hàng trung ương.

Nguồn tiền gửi tiết kiệm nhỏ hơn nhu cầu sử dụng vốn Nếu tình hình kinh doanh của ngân hàng rơi vào trường hợp này có nghĩa là ngân hàng không huy động được vốn , không đáp ứng được nhu cầu sử dụng vốn. Biện pháp

tốt nhất là phải tìm cách tăng vốn huy động, tăng vòng quay vốn. Bên cạnh đó phải

nhanh chóng thu hồi các khoản nợ đến hạn, giảm rủi ro đến mức tối thiểu.

Bên cạnh mối tương quan về quy mô, ta cũng cần quan tâm tới tương quan về kì

hạn giữa các khoản TGTK ngân hàng huy động được với các hoạt động sử dụng vốn

của ngân hàng. Các nguồn vốn huy động nói chung và nguồn vốn huy động tiền gửi

nói riêng được phân chia vào danh mục tài sản của ngân hàng như: tiền mặt, tiền gửi

ngân hàng khác, cho vay, mua chứng khoán,…Thông thường, các ngân hàng vẫn sử

dụng một phần nguồn vốn có thời hạn ngắn để đầu tư vào các tài sản có thời hạn dài

hơn nhưng chỉ ở một tỷ lệ nhất định vì nếu tỷ lệ này quá lớn, tức là sử dụng vốn ngắn hạn để cho vay thời hạn dài thì đến một thời điểm nào đó các ngân hàng sẽ phải chịu sức ép về khả năng thanh toán. Ngược lại, nếu ngân hàng sử dụng nguồn vốn dài hạn để cho vay ngắn hạn thì sẽ khó đảm bảo chênh lệch lãi suất và không hiệu quả, vì nguồn vốn dài hạn có chi phí cao hơn trong khi lãi suất cho vay ngắn hạn thường thấp

hơn lãi suất cho vay trung và dài hạn. Tìm hiểu về mối tương quan kì hạn này sẽ giúp chúng ta phân tích sự phù hợp giữa nguồn vốn và sử dụng vốn, từ đó giúp ngân hàng đề ra những chiến lược quản trị và phát triển hợp lí. e. Chi phí huy động tiền gửi tiết kiệm của ngân hàng

26

Chi phí huy động vốn từ tiền gửi tiết kiệm dân cư chủ yếu là chi phí trả lãi.Ngoài

ra còn có chi phí bảo hiểm tiền gửi, chi phí quản lý, chi phí cho hoạt động marketing, quảng cáo để thu hút khách hàng gửi tiền, chi phí mua máy móc thiết bị,… và các chi

phí khác liên quan đến hoạt động huy động vốn này.

Chi phí trả lãi mà ngân hàng trả cho khách hàng là chi phí trả lãi dựa trên lãi suất

danh nghĩa, lãi suất ngân hàng công bố cho khách hàng. Chi phí này phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như kỳ hạn, loại tiền gửi,chiến lược kinh doanh của ngân hàng trong từng

thời ký, tiện ích kèm theo,… Tuy nhiên, lãi suất thực tế của nguốn vốn huy động từ

tiền gửi tiết kiệm dân cư đối với ngân hàng là cao hơn bởi vì ngoài chi phí trả lãi, ngân

hàng còn phải bỏ ra nhiều loại chi phí khác nữa. Vi vậy, chỉ tiêu chi phí huy động

TGTK/tổng vốn huy động được từ TGTK chia nhỏ ra làm hai chỉ tiêu khác. Đó là:

Chi phí trả lãi/ tổng vốn huy động từ tiền gửi tiết kiệm dân cư cho thấy để huy

động được một đồng vốn từ tiền gửi tiết kiệm dân cư thì ngân hàng cần phải trả bao

nhiêu tiền dựa trên lãi suất công bố cho khách hàng.

Chi phí trả lãi/tổng vốn huy dộng từ tiền gửi tiết kiệm dân cư cho thấy một đồng

vốn huy động được từ tiền gửi tiết kiệm dân cư thì ngân hàng cần bỏ ra chi phí là bao

nhiêu cho việc quản lý, cất giữ, bảo quản,…

Tóm lại chi phí huy động TGTK/tổng vốn huy động được từ TGTK được dùng

để đánh gíá xem một đồng TGTK ngân hàng huy động được cần phải bỏ ra bao nhiêu chi phí.

Như vậy, khi xem xét hiệu quả huy động vốn từ tiền gửi tiết kiệm dân cư, cần

chú ý chi phí cho một đồng vốn phải hợp lý, đảm bảo các khoản thu nhập có thể bù

đắp được chi phí này và có lợi nhuận cho ngân hàng. Chỉ tiêu này càng thấp thì huy

động vốn càng có hiệu quả. Tuy nhiên cũng phải thấy rằng để giảm chi phí huy động

thì cần phải giảm lãi suất huy động và có các chi phí quản lý, bảo quản, dự trữ vốn huy

dộng được từ tiền gửi tiết kiệm một cách tối ưu nhất. Việc đưa ra một lãi suất huy

động hợp lý là rất quan trọng, lãi suất không quá cao- đảm bảo lợi ích ngân hàng,

không quá thấp- thu hút được khách hàng gửi tiền. Đồng thời giảm các chi phí phi trả

lãi cũng sẽ làm cho hiệu quả của hoạt động huy động TGTK của ngân hàng hiệu quả hơn.

1.2.3. Các nhân tố ảnh hƣởng tới hiệu quả hoạt động huy động tiền gửi tiết kiệm

dân cƣ của ngân hàng thƣơng mại

1.2.3.1. Nhân tố kiểm soát được

a. Lãi suất huy động tiền gửi tiết kiệm của ngân hàng

Lãi suất là tỉ lệ của tổng số tiền phải trả so với tổng số tiền vay trong một khoảng thời gian nhất định. Cụ thể hơn thì bản chất của lãi suất là giá mà người vay phải trả để

27

được sử dụng tiền không thuộc sở hữu của họ và là lợi tức của người cho vay có được

đối với việc trì hoãn chi tiêu.

Lãi suất huy động tiền gửi tiết kiệm của NHTM là giá mà ngân hàng trả cho

người gửi tiết kiệm tại ngân hàng để được sử dụng nguồn vốn đó cho các hoạt động

kinh doanh của mình, đồng thời đó cũng là khoản tiền mà khách hàng nhận được khi

gửi tiết kiệm tại ngân hàng.

Sở dĩ nói lãi suất huy động có ảnh hưởng tới hiệu quả huy động tiền gửi tiết kiệm

dân cư trước hết là do lãi suất huy động ảnh hưởng tới quy mô nguồn vốn huy động từ

tiền gửi tiết kiệm, bởi tiết kiệm là một hàm tỉ lệ thuân với lãi suất, cụ thể khi lãi suất

giảm thì người dân muốn dùng tiền để đầu tư hoặc tiêu dùng hơn là tiết kiệm, do đó họ

hạn chế gửi tiền tiết kiệm tại ngân hàng. Ngược lại khi lãi suất tăng sẽ có tác dụng

khuyến khích tiết kiệm, người dân muốn gửi tiền vào ngân hàng hơn là đầu tư sản xuất

kinh doanh. Bên cạnh yếu tố an toàn thì yếu tố sinh lời cũng rất được người dân quan

tâm khi gửi tiết kiệm tại ngân hàng. Lãi suất huy động tiền gửi tiết kiệm của ngân hàng

càng cao thì người gửi tiền càng được hưởng nhiều lợi tức, điều này thúc đẩy gia tăng

số lượng người dân gửi tiết kiệm tại ngân hàng cũng như lượng tiền mà họ đem gửi, từ

đó làm tăng quy mô vốn huy động từ tiền gửi tiết kiệm dân cư – là một trong những

chỉ tiêu thể hiện hiệu quả của hoạt động huy động vốn từ tiền gửi tiết kiệm.

Tuy nhiên, lãi suất huy động càng cao đồng nghĩa với việc chi phí trả lãi ngân hàng phải trả cho khách hàng càng lớn. Khi xem xét hiệu quả huy động tiền gửi tiết

kiệm, ta không chỉ quan tâm đến quy mô vốn huy động được mà còn phải xem xét nó

trong tương quan với chi phí bỏ ra để có được nguồn vốn ấy. Do vậy, để đảm bảo hoạt

động huy động tiền gửi tiết kiệm của mình là có hiệu quả, ngân hàng cần cân nhắc ấn

định mức lãi suất cạnh tranh, thực hiện những ưu đãi về giá cho các khách hàng lớn,

gửi tiền thường xuyên, tuy nhiên lãi suất cũng phải linh hoạt phù hợp với quy mô

nguồn vốn cũng như chi phí mà ngân hàng phải trả cho người gửi tiền, đảm bảo hoạt

động kinh doanh hợp lý, đem lại các khoản thu nhập cao nhất cho ngân hàng để bù đắp

được các khoản chi phí đã bỏ ra và vẫn mang lại lợi nhuận cho ngân hàng. b. Mạng lưới huy động vốn của ngân hàng

Mạng lưới huy động vốn của ngân hàng bao gồm hệ thống các chi nhánh, phòng giao dịch … Mạng lưới hoạt động của ngân hàng càng rộng khắp và các hình thức huy động tiền gửi tiết kiệm càng đa dạng, phong phú thì càng tạo điều kiện thuận lợi cho người dân đến gửi tiền. Các ngân hàng có nhiều chi nhánh hay phòng giao dịch có vị

trí thuận lợi, đặt tại những khu vực tập trung dân cư đông đúc và có điều kiện kinh tế phát triển thì tạo sự thuận tiện cho người dân khi gửi tiền vì họ có thể tiết kiệm thời gian,chi phí đi lại. Với một mạng lưới rộng khắp, tạo ra sự dễ dàng trong việc tiếp cận

ngân hàng của người dân thì ngân hàng sẽ dễ dàng thu hút được các khoản tiền gửi tiết

28

kiệm. Trái lại, nếu việc tiếp cận với ngân hàng khó khăn sẽ tạo ra cho khách hàng tâm

lý ngại đến ngân hàng. Bên cạnh đó, cở sở vật chất kĩ thuật tại các chi nhánh hay phòng giao dịch này cũng có thể ảnh hưởng đến quyết định của người dân trong việc

lựa chọn địa chỉ để gửi gắm những khoản tiết kiệm của mình.

Như vậy có thể rút ra kết luận rằng mạng lưới huy động vốn của ngân hàng có

ảnh hưởng đến số lượng khách hàng gửi tiết kiệm tại ngân hàng, mà đây lại là một trong những nhân tố quyết định sự tăng hay giảm, nhiều hay ít (tức là quy mô và sự

tăng trưởng) của nguồn vốn tiền gửi tiết kiệm mà ngân hàng huy động được. Chính vì

thế mà nó lại tác động tới hiệu quả hoạt động huy động tiền gửi tiết kiệm bởi quy mô

và sự tăng trưởng của nguồn vốn tiền gửi tiết kiệm là một trong các chỉ tiêu định lượng

thể hiện hiệu quả này.

Không chỉ ảnh hưởng đến quy mô huy động tiền gửi tiết kiệm dân cư, sự phát

triển của mạng lưới ngân hàng còn ảnh hưởng tới chi phí ngân hàng phải bỏ ra, cụ thể

là chi phí xây dựng, mua sắm thiết bị, cơ sở vật chất, chi phí quản lý … nhằm phục vụ

cho các hoạt động của chi nhánh hay phòng giao dịch ngân hàng. Mở rộng mạng lưới

cũng đồng nghĩa với việc những chi phí này sẽ tăng lên. Vì chi phí cũng là một trong

các chỉ tiêu thể hiện hiệu quả hoạt động hoạt động huy động tiền gửi tiết kiệm cho nên

khi việc mở rộng mạng lưới ngân hàng làm tăng chi phí thì điều này sẽ tác động tới

hiệu quả huy động vốn nói chung và hiệu quả huy động tiền gửi tiết kiệm nói riêng. c. Chiến lược quảng bá, truyền thông của ngân hàng

Như chúng ta đã biết, xúc tiến hỗn hợp là một trong bốn công cụ thực hiện chiến

lược marketing nói chung và chiến lược marketing ngân hàng nói riêng.

Xúc tiến hỗn hợp đối với sản phẩm tiền gửi tiết kiệm bao gồm tập hợp các hoạt

động nhằm kích thích việc người dân sử dụng các sản phẩm tiền gửi tiết kiệm hiện tại

và sản phẩm mới, đồng thời làm tăng mức độ trung thành của khách hàng hiện tại, thu

hút khách hàng tương lai, tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng tham gia vào quá

trình cung ứng dịch vụ.

Chiến lược quảng bá, truyền thông của ngân hàng là một trong các hoạt động của

chương trình xúc tiến hỗn hợp, chúng tương đối phong phú và có những ảnh hưởng nhất định tới hiệu quả của hoạt động huy động tiền gửi tiết kiệm dân cư.

Các chương trình quảng cáo, các hoạt động xã hội của ngân hàng như quan hệ công chúng, tài trợ, làm từ thiện … nếu được thực hiện một cách hiệu quả sẽ góp phần thu hút sự chú ý, tăng cường hiểu biết của người dân về ngân hàng, tăng cường uy tín

và hình ảnh của ngân hàng. Thực tế tại Việt Nam cho thấy các ngân hàng ngày càng quan tâm nhiều hơn tới các hoạt động này. Chỉ xét riêng quảng cáo trên truyền hình đã khá phong phú, trong đó có một số quảng cáo được đánh giá là hay, thu hút được sự

chú ý và tạo thiện cảm cho người xem, xây dựng được hình ảnh đẹp cho ngân hàng

29

như quảng cáo của Ngân hàng Á Châu ACB, Ngân hàng TMCP Hàng hải Việt Nam

Maritime Bank, Ngân hàng Quốc tế VIB. Các hoạt động thể hiện trách nhiệm xã hội, trách nhiệm cộng đồng cũng được nhiều ngân hàng tích cực triển khai. Có thể kể đến

một số ví dụ như Ngân hàng Bưu điện Liên Việt – LienViet Post Bank, với phương

châm “Gắn xã hội trong kinh doanh”, cam kết tích cực đóng góp cho cộng đồng và xã

hội thông qua các hoạt động xã hội trực tiếp, các hoạt động tài trợ, các phong trào từ thiện như : đã tài trợ trên 40 tỷ đồng cho Quỹ vì người nghèo các tỉnh Hậu Giang, Cần

Thơ, Quảng Ngãi, Bến Tre, tham gia sáng lập và tài trợ trên 20 tỷ đồng cho 06 quỹ

khuyến học – khuyến tài, tài trợ cho Đội bóng chuyền nữ Thông tin –

LienVietPostBank từ năm 2009 với mức tài trợ hàng năm trên 3 tỷ đồng. ( Nguồn :

lienvietpostbank.com.vn) Làm cho người dân có thiện cảm và đặt niềm tin vào ngân

hàng là một trong các nhân tố thúc đẩy họ sử dụng các sản phẩm dịch vụ của ngân

hàng, trong đó có việc sử dụng các sản phẩm tiền gửi tiết kiệm mà ngân hàng cung

ứng, tạo thuận lợi để ngân hàng duy trì và tăng trưởng quy mô tiền gửi tiết kiệm huy

động từ dân cư. Mỗi hình thức quảng cáo như quảng cáo trên báo chí, quảng cáo trên

truyền hình, trên internet, mỗi hoạt động xã hội khác nhau như tham gia tài trợ cho các

quỹ, tài trợ cho các chương trình văn hóa – nghệ thuật, xây dựng trường học, cơ sở y

tế…đều tốn những mức chi phí khác nhau. Ngân hàng là đối tượng phải chịu những

chi phí này. Bởi vậy, ngân hàng cần cân nhắc triển khai các chương trình này một cách hợp lý sao cho chi phí bỏ ra tương xứng với kết quả đạt được, nhằm nâng cao hiệu quả

kinh doanh, trong đó có hiệu quả huy động vốn từ tiền gửi tiết kiệm. d. Tổ chức nhân sự

Mặc dù trong thời đại ngày nay, khoa học công nghệ đã hỗ trợ đắc lực cho sản

xuất và đời sống, nhưng con người vẫn luôn khẳng định vị trí trung tâm của mình, vừa

là chủ thể vừa là mục tiêu cuối cùng của mọi hoạt động sản xuất kinh doanh. Với đặc

thù vừa là ngành kinh doanh dịch vụ nên con người là nhân tố quan trọng quyết định

sự thành bại trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại cũng như hoạt

động huy động vốn của ngân hàng, trong đó có huy động vốn từ tiền gửi tiết kiệm.

Ngân hàng có đội ngũ cán bộ nhân viên đông đảo về số lượng, có trình độ chuyên môn tốt, tác phong chuyên nghiệp sẽ góp phần nâng cao uy tín ngân hàng, tạo cho khách hàng cảm giác an tâm, tin tưởng khi gửi tiền tại ngân hàng. Có thể lấy ví dụ về Ngân hàng TMCP Việt Nam Vietcombank. Vietcombank là ngân hàng thuộc tốp 4 NHTM đứng đầu trong hệ thống ngân hàng về quy mô vốn, uy tín, trình độ chuyên

môn của đội ngũ nhân viên. Hiện nay, đội ngũ cán bộ của Vietcombank có 10.500 người trong đó có gần 8000 cán bộ tốt nghiệp đại học, hơn 600 cán bộ là Thạc sĩ, Tiến sĩ. Kết quả đáng khích lệ đó là nhờ công tác tuyển dụng cán bộ, công tác đào tạo bồi

dưỡng cán bộ, và công tác quy hoạch cán bộ. Sự quan tâm đối với công tác cán bộ đã

30

đem lại kết quả tích cực, góp phần củng cố, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ của

Vietcombank. Vietcombank tự hào là ngân hàng có một đội ngũ cán bộ nói chung và cán bộ lãnh đạo nói riêng có trình độ chuyên môn, ngoại ngữ, được đào tạo cơ bản và

chuyên sâu ở trong và ngoài nước, trẻ trung, năng động, nhiệt huyết với công việc, có

đạo đức nghề nghiệp (Nguồn: www.vietcombank.com.vn). Cán bộ nhân viên có chuyên

môn nghiệp vụ vững vàng là yếu tố quan trọng quyết định tới thành công của hoạt động kinh doanh ngân hàng nói chung và hoạt động huy động vốn nói riêng.

Đối với hoạt động huy động tiền gửi tiết kiệm, tổ chức nhân sự mà biểu hiện cụ

thể nhất là đội ngũ nhân viên, giao dịch viên ngân hàng càng đóng vai trò quan trọng

hơn vì họ là những người trực tiếp tiếp xúc với khách hàng, trước hết là người nắm bắt

những nhu cầu cụ thể của khách hàng về việc gửi tiết kiệm. Ví dụ khách hàng đó muốn

gửi tiết kiệm cho bản thân hay cho cha mẹ, con cái họ, họ muốn gửi bao nhiêu tiền hay

những mong muốn về mức lãi suất được hưởng, các tiện ích đi kèm như các chương

trình tiết kiệm dự thưởng vv… Sau đó giao dịch viên sẽ giới thiệu một số sản phẩm

tiền gửi tiết kiệm hiện có tại ngân hàng, nêu lên những ưu điểm nổi bật, những tiện ích

hấp dẫn của sản phẩm, từ đó tư vấn cho khách hàng sản phẩm tiết kiệm phù hợp nhất

với nhu cầu cũng như khả năng của khách hàng, hướng dẫn khách hàng các thủ tục gửi

tiết kiệm cũng như tư vấn thêm, đưa ra các hướng dẫn cần thiết khác. Từ lần đầu giao

dịch cho tới khi đến ngân hàng rút tiền theo quy định, khách hàng đều phải tiếp xúc với giao dịch viên, những nhân viên này là những người có thể thu thập thông tin phản

hồi của khách hàng một cách trực tiếp, nhanh chóng và kịp thời. Chính vì thế, việc xây

dựng được hình ảnh đẹp về đội ngũ cán bộ có năng lực, được đào tạo một cách bài

bản, có chuyên môn nghiệp vụ cao, nhiệt tình, thân thiện, chuyên nghiệp sẽ giúp ngân

hàng giữ chân được khách hàng, đồng thời còn có thể thu hút thêm khách hàng mới, từ

đó nâng cao hiệu quả huy động tiền gửi tiết kiệm của người dân bằng cách tăng số

lượng người dân gửi tiết kiệm, tăng quy mô nguồn vốn huy động từ tiền gửi tiết kiệm.

Mặt khác, tổ chức nhân sự hợp lý tạo nên một chi phí hợp lý đối với nguồn nhân

lực cũng giúp cho hiệu quả huy động vốn của ngân hàng được nâng cao. Tổ chức nhân

sự hợp lý cần cân đối giữa số lượng nhân viên với nhu cầu của ngân hàng, thiếu nhân viên gây thiếu sót trong việc phục vụ khách hàng, thừa nhân viên gây lãng phí. Tuy nhiên, nguồn nhân lực không những cần đảm bảo về mặt số lượng mà còn phải là nguồn nhân lực có chất lượng, chi phí tiền lương, chi phí đào tạo cán bộ ngân hàng … phải tương xứng với kết quả đạt được trong hoạt động của họ, như vậy mới đảm bảo

tính hiệu quả của hoạt động huy động vốn, trong đó có huy động tiền gửi tiết kiệm dân cư.

1.2.3.2. Nhân tố không kiểm soát được

a. Khách hàng

31

Khách hàng mà ngân hàng hướng tới trong hoạt động huy động nguồn vốn từ

tiền gửi tiết kiệm chính là dân cư. Mà dân cư bao gồm một phạm vi rất rộng, đa dạng về độ tuổi, trình độ, nghề nghiệp, thu nhập... đa dạng về nhu cầu sử dụng các sản phẩm

tiền gửi tiết kiệm khác nhau. Thói quen tiêu dùng của người dân ảnh hưởng tới nhu

cầu sử dụng dịch vụ ngân hàng, chính vì thế mà nó có ảnh hưởng tới kết quả huy động

vốn nói chung và huy động vốn tiền gửi tiết kiệm nói riêng của ngân hàng. Ở những nước phát triển, người dân hạn chế sử dụng tiền mặt, khi có những khoản tiền để tích

lũy, họ thường tới ngân hàng mở một tài khoản tiết kiệm. Ở Việt Nam, thói quen tích

trữ tiền mặt còn khá phổ biến, mặc dù xu hướng gửi tiết kiệm tại ngân hàng ngày càng

phổ biến hơn nhưng cũng mới chỉ tương đối phát triển ở một vài thành phố lớn và tập

trung vào nhóm đối tượng là những công nhân viên chức, tiểu thương có thu nhập

tương đối ổn định. Tại các vùng ngoại thành hay nông thôn thì người dân theo thói

quen từ lâu đời vẫn quen với việc sử dụng tiền mặt và tích lũy tiền mặt tại gia đình.

Tuy khoản tiết kiệm của từng gia đình là không lớn so với quy mô vốn của ngân hàng,

nhưng khi tập hợp toàn bộ thì lại tạo nên một nguồn vốn hết sức dồi dào. Điều này có

nghĩa là đang có một nguồn vốn từ tiền gửi tiết kiệm vô cùng tiềm năng mà các ngân

hàng vẫn chưa thể khai thác triệt để do thói quen, tâm lý của người dân. Mặc dù thay

đổi thói quen này là việc không đơn giản nhưng nếu ngân hàng có thể xây dựng và

triển khai những chiến lược về khách hàng một cách hợp lý, có hiệu quả thì sẽ thu hút nguồn tiền gửi ngày càng lớn, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động huy động vốn từ

tiền gửi tiết kiệm.

Mặt khác, khách hàng còn có tác động tới chi phí huy động vốn của ngân hàng,

vì khách hàng là người đưa ra quyết định cuối cùng về lựa chọn đối với sản phẩm tiền

gửi tiết kiệm, cụ thể là các quyết định về hình thức tiết kiệm, kì hạn gửi tiền ... Mỗi sản

phẩm tiền gửi tiết kiệm ngân hàng phải chịu các mức chi phí huy động khác nhau, chủ

yếu là chi phí trả lãi dựa vào kì hạn và loại hình gửi tiết kiệm, điều này có tác động tới

hiệu quả hoạt động huy động tiền gửi tiết kiệm vì bên cạnh quy mô nguồn vốn thì chi

phí huy động cũng là một trong những chỉ tiêu để đánh giá hiệu quả này. b. Môi trường kinh tế - xã hội, khoa học công nghệ

Hoạt động của hệ thống ngân hàng thương mại bị các chỉ tiêu kinh tế như tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế, thu nhập quốc dân, tốc độ chu chuyển vốn, tỷ lệ lạm phát,… tác động trực tiếp. Quá trình toàn cầu hóa có ảnh hưởng mạnh mẽ tới nền kinh tế của các quốc gia. Toàn cầu hóa mang lại nhiều cơ hội hội nhập, phát triển kinh tế.

Tuy nhiên nó cũng đi kèm với nhiều thách thức, ví dụ như khủng hoảng kinh tế tại các quốc gia lớn,vốn có nền kinh tế phát triển và là các trụ cột kinh tế thế giới có thể gây ra hàng loạt các ảnh hưởng tiêu cực thậm chí nghiêm trọng tới nền kinh tế của các

quốc gia khác, trong đó có hoạt động của hệ thống ngân hàng. Khi nền kinh tế trong

32

thời kỳ hưng thịnh, có tốc độ phát triển nhanh, thu nhập quốc dân cao, dân cư sẽ có

nguồn tiền gửi dồi dào vào ngân hàng. Ngược lại, trong điều kiện kiện tình hình kinh tế bất ổn, nền kinh tế trì trệ, tỷ lệ thất nghiệp cao, tỷ lệ lạm phát cao thì việc huy động

vốn của ngân hàng nói chung và hoạt động huy động tiền gửi tiết kiệm nói riêng sẽ gặp

nhiều khó khăn, lượng tiền tiết kiệm gửi vào ngân hàng giảm, ảnh hưởng đến quy mô

nguồn vốn tiền gửi tiết kiệm, trong khi đây lại là một yếu tố liên quan tới hiệu quả hoạt động huy động nguồn tiền này.

Bên cạnh môi trường kinh tế, môi trường xã hội cũng là yếu tố quan trọng ảnh

hưởng tới hoạt động của ngân hàng nói chung và hoạt động huy động tiền gửi tiết kiệm

nói riêng.

Phân bố dân cư, thu nhập của người dân là một nguồn lực tiềm tàng có thể khai

thác nhằm tăng quy mô huy động vốn từ tiền gửi tiết kiệm của ngân hàng thương mại.

Vì vậy những khu vực đông dân cư, với thu nhập cao thì sẽ dễ dàng hơn trong việc thu

hút nguồn vốn từ TGTK, góp phần nâng cao hiệu quả huy động nguồn vốn này.

Môi trường văn hóa như tập quán, tâm lý, thói quen sử dụng tiền mặt của dân cư

ảnh hưởng nhiều đến quyết định về tiêu dùng và tiết kiệm của người dân, ví dụ như họ

có xu hướng thích gửi tiền vào các tổ chức tín dụng hay quyết định chi tiêu số tiền

nhàn rỗi của mình vào đầu tư bất động sản, động sản, chứng khoán.

Ngoài ra, cũng cần kể tới ảnh hưởng của các yếu tố khoa học – công nghệ đối với hiệu quả hoạt động huy động tiền gửi tiết kiệm của ngân hàng. Sự tiến bộ nhanh chóng

của khoa học – công nghệ đã hỗ trợ đắc lực cho ngân hàng trong quá trình tiếp nhận và

xử lý các giao dịch với khách hàng có nhu cầu gửi hay rút tiền tiết kiệm một cách

nhanh chóng, chính xác và bảo mật, giúp cho các giao dịch viên có thể xử lý yêu cầu

của một số lượng khách hàng lớn hơn so với việc phải xử lý thủ công. Chi phí đầu tư

cho các thiết bị máy móc công nghệ hiện đại ban đầu có thể lớn nhưng lại mang tới

cho ngân hàng những lợi ích thiết thực và lâu dài, nên cũng có thể coi đó là sự đầu tư

cần thiết và có hiệu quả. c. Môi trường pháp lý

Ngân hàng thương mại là doanh nghiệp kinh doanh hàng hóa đặc biệt, hàng hóa tiền tệ nên chịu tác dụng bởi nhiều chính sách, các quy định của Chính Phủ và của Ngân hàng Nhà nước. Sự thay đổi chính sách của nhà nước, của Ngân hàng Nhà nước về tài chính, tiền tệ, tín dụng, lãi suất sẽ ảnh hưởng đến khả năng thu hút vốn cũng như chất lượng của nguồn vốn của ngân hàng thương mại. Sự ổn định về chính trị hay về

chính sách ngoại giao cũng tác động đến nguồn vốn của một ngân hàng thương mại với các quốc gia khác trong khu vực và trên thế giới.

33

KẾT LUẬN CHƢƠNG 1

Qua việc nghiên cứu các lý luận chung về mặt lí thuyết, ta có thể thấy huy động vốn từ tiền gửi tiết kiệm dân cư là một nghiệp vụ quan trọng, có ảnh hưởng không nhỏ

tới hoạt động huy động vốn nói riêng và hoạt động kinh doanh nói chung của các

NHTM. Trong một môi trường kinh doanh ngày càng phức tạp như hiện nay, hoạt

động huy động vốn từ tiền gửi tiết kiệm luôn phải chịu tác động của nhiều yếu tố, bao gồm cả yếu tố có thể kiểm soát và không thể kiểm soát. Do đó, việc phân tích, đánh

giá một cách toàn diện, đầy đủ và chính xác tính hiệu quả của hoạt động huy động tiền

gửi tiết kiệm là hết sức quan trọng và cần thiết, nhằm nhận thức rõ các kết quả đạt

được cũng như các mặt còn tồn tại, từ đó đưa ra các biện pháp, chiến lược phù hợp

giúp ngân hàng nâng cao hiệu quả hoạt động huy động vốn từ tiền gửi tiết kiệm dân

cư.

34

CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG TIỀN GỬI TIẾT KIỆM DÂN CƢ TẠI NGÂN HÀNG TMCP QUỐC

TẾ VIỆT NAM – VIB CHI NHÁNH PHẠM NGỌC THẠCH

2.1. hái quát về Ngân hàng Thƣơng mại Cổ phẩn Quốc tế Việt Nam – Chi

nhánh Phạm Ngọc Thạch

2.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển

Ngân hàng Thương mại cổ phẩn Quốc tế Việt Nam (tên viết tắt là Ngân hàng

Quốc tế VIB) - Chi nhánh Phạm Ngọc Thạch được thành lập vào ngày 8/2/2005 theo

quyết định số 21/NHQT của Chủ tịch Hội đồng quản trị VIB, có trụ sở tại số 88 Phạm

Ngọc Thạch, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội. Một điểm đặc biệt của Ngân hàng

Quốc tế VIB so với nhiều ngân hàng khác đó là VIB phân chia các chi nhánh thành hai loại hình đặc thù là chi nhánh chỉ phục vụ khách hàng cá nhân và chi nhánh chỉ phục

vụ khách hàng doanh nghiệp. Chi nhánh Phạm Ngọc Thạch là chi nhánh chỉ chuyên phục vụ mảng khách hàng cá nhân.

Từ khi thành lập đến nay, chi nhánh không ngừng nỗ lực phấn đấu để tự hoàn

thiện và nâng cao năng lực phục vụ, cũng như năng lực cạnh tranh của mình. Đội ngũ

cán bộ nhân viên chi nhánh luôn đoàn kết phát huy sức mạnh tập thể, quán triệt

phương châm kinh doanh của VIB với quyết tâm “Trở thành ngân hàng luôn sáng tạo

và hướng đến khách hàng nhất tại Việt Nam”. Chi nhánh luôn nỗ lực phục vụ khách

hàng một cách chu đáo, nhanh chóng và an toàn, luôn ý thức một cách sâu sắc về mối

quan hệ đồng hành và cộng hưởng với khách hàng, xem lợi ích của khách hàng là lợi

ích của ngân hàng và của chi nhánh. Tập thể cán bộ nhân viên của chi nhánh luôn có

thái độ ứng xử với khách hàng một cách vui vẻ, hoà nhã, thể hiện sự trân trọng khách

hàng và xem đó cũng là mục tiêu kinh doanh của chi nhánh.

2.1.2. Các hoạt động kinh doanh chính

- Huy động vốn và cho vay vốn. - Mua bán ngoại tệ, thanh toán quốc tế, bảo lãnh, chiết khấu, tái chiết khấu bộ chứng từ và các dịch vụ khác về ngoại hối theo chính sách quản lý ngoại hối của Chính phủ, NHNN và Ngân hàng TMCP Quốc tế VIB.

- Cung ứng các dịch vụ thanh toán và ngân quỹ, gồm: cung ứng các phương tiện thanh toán, thực hiện các dịch vụ thanh toán trong nước cho khách hàng, các dịch vụ thu – chi và phát triển tiền mặt cho khách hàng...

- Kinh doanh các dịch vụ Ngân hàng khác, tư vấn tài chính, tín dụng cho khách

hàng; Bảo lãnh cho vay, bảo lãnh thanh toán, bảo lãnh thực hiện hợp đồng...

- Các hoạt động khác theo quy định của NHNN và Ngân hàng VIB.

2.1.3. Bộ máy cơ cấu tổ ch c và ch c n ng từng bộ phận

35

Sơ đồ 2.1. Mô hình cơ cấu tổ ch c Ngân hàng TMCP Quốc tế chi nhánh Phạm Ngọc Thạch

Giám đốc

Phó giám đốc Phó giám đốc

Phòng Kế

Phòng

Phòng

Phòng

Bàn tiết

Phòng

Phòng

Phòng

Phòng

hoạch tổng

Phòng quản lý

DVKH

Phòng QHKH

QHKH

QHKH

kiệm số

quản

Quản

Tổ

Tài

và dịch

3,4,5,7,8,

lý rủi

trị tín

chính

2

3

1

hợp(Tổ điện toán

chức hành

9

ro

dụng

kế toán

trực thuộc)

vụ kho quỹ

chính

Khối trực thuộc Khối quản lý rủi ro Khối quản lý tác nghiệp Khối quản lý nội bộ Khối Quan hệ khách hàng

: Quan hệ Chỉ đạo

: Quan hệ tác nghiệp

36

Ch c n ng của từng bộ phận - Giám đốc: Là người trực tiếp điều hành và chịu trách nhiệm về mọi công việc của Ngân hàng. Giám sát, kiểm tra hầu hết các phòng ban, theo quy định trong điều lệ

và trước pháp luật.

- Phó Giám đốc: Là người thực hiện các chỉ đạo của Giám đốc về các vấn đề liên quan đến người lao động và công tác hành chính văn phòng, trực tiếp chỉ đạo và chịu trách nhiệm về nghiệp vụ hạch toán kinh doanh và nghiệp vụ Ngân hàng.

- Khối quản lý và rủi ro: Thực hiện kiểm tra độ an toàn của các khoản cho vay

và thực hiện quản lý.

- Khối quản lý nội bộ: Thực hiện kiểm tra, kiểm toán nội bộ các phòng ban

trong ngân hàng.

- Khối quan hệ khách hàng: Thực hiện các nghiệp vụ cho vay, tư vấn và các

nghiệp vụ khác với khách hàng cá nhân.

- Khối quản lý tác nghiệp: Thực hiện kiểm tra giám sát các nghiệp vụ giao dịch được thực hiện, theo dõi và đảm bảo tình hình kho quỹ, tín dụng cũng như quản trị các

vấn đề liên quan đến dịch vụ khách hàng.

- Khối trực thuộc: Trực tiếp thực hiện các giao dịch với khách hàng cá nhân.

2.2. Tình hình hoạt động kinh doanh tại Ngân hàng Thƣơng mại Cổ phần Quốc

tế Việt Nam – Chi nhánh Phạm Ngọc Thạch

Trong bối cảnh khó khăn của nền kinh tế nói chung và hệ thống ngân hàng nói

riêng, tình hình hoạt động kinh doanh của ngân hàng TMCP Quốc tế VIB cũng như

chi nhánh VIB Phạm Ngọc Thạch cũng khó có thể tránh khỏi sự bất ổn định, lúc thăng

lúc trầm trong suốt giai đoạn 2010 – 2012.

Dưới đây là tổng hợp một số chỉ tiêu chủ yếu về tình hình hoạt động kinh doanh

của chi nhánh VIB Phạm Ngọc Thạch trong giai đoạn này:

Bảng 2.1. Một số chỉ tiêu phản ánh kết quả hoạt động kinh doanh của chi nhánh

VIB Phạm Ngọc Thạch

Đơn vị: Triệu đồng

Chỉ tiêu N m 2010 N m 2011 N m 2012 2011/2010 (+/-) 2012/2011 (+/-)

Huy động vốn 311.606 368.906 298.977

Cho vay 103.270 134.072 29,83% 120.134 (10,4%)

2.766 8.577 210,08% 6.576 (23,33%) Lợi nhuận trước thuế

(Nguồn: Báo cáo tổng hợp chi nhánh VIB Phạm Ngọc Thạch năm 2010-2012)

37

Qua bảng 2.1, để hiểu sâu hơn tình hình hoạt động của chi nhánh VIB Phạm Ngọc

Thạch, ta cùng đi vào những phân tích và đánh giá từng chỉ tiêu như sau:

2.2.1. Hoạt động huy động vốn

Hoạt động huy động vốn là một hoạt động cơ bản của NH Quốc tế VIB nói

chung và của chi nhánh VIB Phạm Ngọc Thạch nói riêng. Chi nhánh Phạm Ngọc Thạch luôn tích cực đẩy mạnh công tác huy động vốn bằng cách đa dạng hóa hình

thức, các kênh huy động vốn từ dân cư thông qua các chương trình khuyến mãi hấp

dẫn tới khách hàng như “Gửi tiết kiệm tại VIB – An tâm đón xuân bình yên”, ’80 ngày

chọn quà ưng ý”, “Mát mùa hè, ngọt yêu thương”…. Bên cạnh đó, với vị trí địa lí của chi nhánh nằm ngay trong trung tâm dân cư đông đúc và nhìn chung có mức sống khá

nên đây cũng là một lợi thế lớn để chi nhánh tận dụng huy động được những nguồn

tiền gửi đầy tiềm năng.

Dưới đây là biểu đồ thể hiện sự tăng trưởng của nguồn vốn huy động tại chi

nhánh trong giai đoạn 2010 – 2012:

Biểu đồ 2.1. Tình hình huy động vốn tại chi nhánh VIB Phạm Ngọc Thạch giai

đoạn 2010-2012

Đơn vị: Triệu đồng

(Nguồn: Báo cáo tổng hợp chi nhánh VIB Phạm Ngọc Thạch năm 2010-2012)

Từ bảng 2.1 và biểu đồ 2.1 ta có thể nhận thấy sự biến động thất thường của nguồn vốn huy động tại chi nhánh VIB Phạm Ngọc Thạch. Năm 2010 chi nhánh huy động được 311.606 triệu đồng, sang tới năm 2011 nguồn vốn huy động đã tăng lên đáng kể, đạt 368.906 triệu đồng tương ứng với mức tăng 18,39%. Tuy nhiên, sang tới

38

năm 2012, nguồn vốn huy động của chi nhánh chỉ đạt mức 298.977 triệu đồng, tức là

giảm 18,96% so với năm 2011.

Nguyên nhân của sự tăng giảm nguồn vốn này là do những tháng cuối năm 2010

và đầu năm 2011, NH Quốc tế VIB cũng như nhiều ngân hàng TMCP khác bước vào

cuộc đua cạnh tranh lãi suất huy động vốn để thu hút những khoản tiền gửi của khách

hàng. Các ngân hàng đưa ra những mức lãi suất cao, hấp dẫn nên đã thu hút thêm khách hàng, khiến cho khối lượng vốn huy động tăng lên đáng kể. Song kể từ khi

NHNN ban hành Thông tư 02/TT-NHNN ngày 3/3/2011 quy định về trần lãi suất huy

động, cùng với những chế tài xử phạt nghiêm khắc đối với các ngân hàng có hành vi

“vượt rào lách luật” lãi suất huy động, đã giảm nhiệt được đáng kể cuộc đua lãi suất.

Sang năm 2012, nền kinh tế ngày càng gặp nhiều khó khăn, VIB cũng không thể

tiếp tục duy trì mức lãi suất cao mà phải điều chỉnh cho phù hợp với quy định của

NHNN, điều này ảnh hưởng tới khả năng huy động vốn của chi nhánh. Kèm theo đó là

những diễn biến bất ổn trên thị trường vàng khiến cho các chi nhánh trong hệ thống

VIB nói chung và chi nhánh Phạm Ngọc Thạch nói riêng gặp khó khăn trong việc phát

hành chứng chỉ vàng để huy động vốn. Đây là các nguyên nhân lí giải tại sao lượng

huy động vốn năm 2012 của chi nhánh VIB Phạm Ngọc Thạch lại sụt giảm khá mạnh

so với năm 2011.

2.2.2. Hoạt động sử d ng vốn (chủ yếu là cho vay)

Hoạt động sử dụng vốn nói chung và hoạt động cho vay nói riêng là hoạt động

hết sức quan trọng đối với mỗi ngân hàng thương mại, nó là một trong những hoạt

động sinh lợi chủ yếu của các ngân hàng, do đó nếu biết cách sử dụng vốn, cho vay

một cách hợp lý thì sẽ giúp các NHTM nâng cao được hiệu quả hoạt động kinh doanh

của mình. Nhận thức được điều này mà chi nhánh VIB Phạm Ngọc Thạch đã không

ngừng tìm mọi cách để thu hút khách hàng vay vốn như: đầu tư, phát triển các yếu tố

nhằm nâng cao chất lượng của công tác tín dụng, thường xuyên đa dạng hóa các loại

hình cho vay, đảm bảo kinh doanh có hiệu quả và an toàn vốn.

Trong những năm vừa qua, do diễn biến phức tạp của nền kinh tế trong nước,

hoạt động cho vay của chi nhánh VIB Phạm Ngọc Thạch cũng có nhiều biến động được thể hiện cụ thể ở biểu đồ tổng khối lượng cho vay trong giai đoạn 2010 – 2012

dưới đây:

39

Biểu đồ 2.2. Tình hình cho vay tại chi nhánh VIB Phạm Ngọc Thạch giai đoạn

2010-2012

(Nguồn: Báo cáo tổng hợp chi nhánh VIB Phạm Ngọc Thạch năm 2010-2012)

Cũng giống với tình hình huy động vốn, tình hình cho vay của chi nhánh VIB

Phạm Ngọc Thạch có sự biến động không đồng đều qua các năm. Cụ thể, năm 2010

khối lượng cho vay của chi nhánh là 103.270 triệu đồng, tới năm 2011 tổng mức cho

vay tăng khá mạnh, đạt 134.072 triệu đồng tương ứng với mức tăng 29,83%. Tuy

nhiên, sang tới năm 2012 tổng mức cho vay của chi nhánh lại giảm xuống còn 120.134

triệu đồng, tương ứng với mức giảm 10,4%.

Lí giải cho các diễn biến này, có thể thấy tuy năm 2011 là một năm khó khăn đối

với toàn nền kinh tế nhưng ngay những tháng đầu năm ngân hàng VIB cũng như chi

nhánh VIB Phạm Ngọc Thạch đã áp dụng chính sách tăng tốc tín dụng cùng với đó là

hạn mức tăng trưởng tín dụng được khai thác linh động, kịp thời và khá hiệu quả,

chính sách cho vay linh hoạt cho từng nhóm khách hàng theo hướng thắt chặt và nâng

cao độ an toàn đã góp phần đưa tổng lượng cho vay trong năm 2011 tăng trưởng mạnh và bền vững hơn so với năm 2010. Sang tới năm 2012, tình hình kinh tế ngày càng khó khăn, xuất hiện nhiều diễn biến tiêu cực. Thu nhập của người dân không đủ bù đắp tốc độ lạm phát nên nhiều người không có khả năng trả nợ hoặc không vay vốn tại ngân hàng. Tỉ lệ nợ xấu tăng cao khiến cho VIB cũng như nhiều ngân hàng khác càng có xu hướng kiểm soát tín dụng chặt chẽ hơn. Chính vì vậy tổng lượng cho vay năm 2012

của chi nhánh cũng khó có thể tránh khỏi giảm sút so với năm 2011.

40

Trước thực trạng chất lượng tín dụng toàn ngành đi xuống, VIB nói chung và chi

nhánh Phạm Ngọc Thạch nói riêng đã tập trung nhiều nguồn lực cho công tác phân tích nguyên nhân và cảnh báo nguy cơ phát sinh nợ quá hạn của hệ thống đồng thời

thực thi rất quyết liệt công tác đốc thúc, xử lý thu hồi nợ. Với các nỗ lực đó, rủi ro tín

dụng nhìn chung vẫn trong tầm kiểm soát, các chỉ số nợ tuy ở mức cao hơn năm trước

nhưng chỉ mang tính thời điểm, các khoản nợ có vấn đề đều có tài sản đảm bảo nên không gây ảnh hưởng quá lớn tới khả năng thu hồi nợ của ngân hàng cũng như của chi

nhánh.

2.2.3. ết quả hoạt động kinh doanh

Kết quả hoạt động kinh doanh của chi nhánh đóng vai trò quan trọng giúp bản

thân chi nhánh nhận thức được tình hình hoạt động kinh doanh của mình trong một thời kì nhất định, qua đó xác định được đường hướng hoạt động thích hợp cho chi

nhánh trong tương lai. Dưới đây là bảng kết quả hoạt động kinh doanh rút gọn của chi nhánh VIB Phạm Ngọc Thạch.

Bảng 2.2. Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh

chi nhánh VIB Phạm Ngọc Thạch

Đơn vị: Triệu đồng

2011/2010 (+/-) 2012/2011 (+/-)

Chỉ tiêu N m 2010 N m 2011 N m 2012

32.083 63.243 31.160

98,67 50.291

(12.952)

(20,48)

Số tuyệt đối Số tuyệt đối Số tƣơng đối (%) Số tƣơng đối (%)

8.792 25.013 16.221

184,49 21.624

(3.389)

(13,55)

1.Thu nhập từ lãi

23.291 38.230 14.939

64,14 28.667

(9.563)

(25,01)

Trong đó: Thu lãi cho vay

624

801

177

28,37

914

113

14,11

Thu lãi điều chuyển vốn

356

481

125

35,11

625

144

29,94

2. Thu từ các khoản khác

32.707 64.044 31.337

95,81 51.205

(12.839)

(20,05)

Trong đó: Thu từ phí dịch vụ

24.303 46.293 21.990

90,48 37.665

(8.628)

(18,64)

I.Tổng Thu nhập

519

399

(120)

(23,12)

908

509

127,57

1.Chi phí trả lãi

2.Chi phí dự phòng

41

2011/2010 (+/-) 2012/2011 (+/-)

Chỉ tiêu N m 2010 N m 2011 N m 2012

2.202

4.117

1.915

86,97

3.225

(892)

(21,67)

Số tuyệt đối Số tuyệt đối Số tƣơng đối (%) Số tƣơng đối (%)

27.024 50.809 23.785

88,01 41.798

(9.011)

(17,74)

3.Chi phí khác

5.683 13.235

7.552

132,89

9.407

(3.828)

(28,92)

II. Tổng chi phí

III. L i nhuận trƣớc thuế

(Nguồn: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh chi nhánh VIB Phạm Ngọc Thạch năm 2010-2012)

Qua bảng trên ta có thể nhận thấy 3 chỉ tiêu chính là tổng thu nhập, tổng chi phí và lợi nhuận trước thuế của chi nhánh VIB Phạm Ngọc Thạch có biến động không đều

qua các năm. Đi sâu vào phân tích từng khoản mục chính ta có: a. Tổng thu nhập

rất mạnh, tăng 31.337 triệu đồng, đạt 64.044 triệu đồng, tức là tăng đến 95,81% so với

Tổng thu nhập của chi nhánh năm 2010 đạt 32.707, tới năm 2011 tổng thu nhập tăng

năm 2010. Tuy nhiên, sang năm 2012, chỉ tiêu này lại giảm xuống còn 51.205 triệu

đồng, tương đương với mức giảm 20,05%.

Chi nhánh đạt được sự tăng trưởng mạnh về thu nhập trong năm 2011 như vậy là

do có sự tăng trưởng đồng loạt của các nguồn thu từ lãi cho vay, thu từ lãi điều chuyển

vốn cùng những nguồn thu khác như: thu từ hoạt động dịch vụ, thu từ hoạt động kinh

doanh ngoại hối,… và đặc biệt là sự tăng trưởng mạnh của nguồn thu từ lãi cho vay

với mức tăng tới 184,49%. Sang năm 2012, nền kinh tế ảm đạm hơn, các doanh nghiệp

khó khăn trong kinh doanh, thu hẹp sản xuất, gây ảnh hưởng tiêu cực tới thu nhập của

người dân nên chi nhánh thắt chặt cho vay hơn vì vậy mà nguồn thu cũng bị giảm sút

đáng kể.

Cần chú ý nguồn thu từ phí dịch vụ của chi nhánh đã tăng đều qua ba năm chứng tỏ chi nhánh đang có xu hướng phát triển nguồn thu ngoài lãi này. Nguồn thu này bao gồm thu phí dịch vụ từ tiền gửi của khách hàng, thu từ bộ phận tín thác hay thu từ các dịch vụ khác của chi nhánh. Từ bảng 2.2 ta thấy tổng mức thu phí dịch vụ tại chi

nhánh không ngừng tăng lên, từ mức 356 triệu đồng năm 2010 tới 481 triệu đồng năm 2011 và sang năm 2012 đã đạt 625 triệu đồng. Để đạt được kết quả này, chi nhánh đã không ngừng tăng cường đầu tư trang thiết bị và con người để phục vụ tốt nhất tới từng khách hàng, ngoài ra ngân hàng còn áp dụng nhiều chính sách mở rộng các danh

mục dịch vụ, đặc biệt là các dịch vụ giao dịch online trực tuyến qua internet, qua điện

42

thoại di động giúp khách hàng có thể tìm hiểu thông tin, thực hiện giao dịch mọi lúc

mọi nơi. Trong tương lai, chi nhánh nên tiếp tục đẩy mạnh hoạt động thu phí dịch vụ vì với với sự phát triển ngày càng mạnh mẽ và đa dạng hóa các danh mục dịch vụ của

ngân hàng thì đây là một kênh đầy hứa hẹn trong việc đẩy mạnh hiệu quả kinh doanh,

đa dạng hóa các nguồn thu, góp phần hạn chế ảnh hưởng của biến động lãi suất tới thu

nhập.

Ngoài ra, xét cơ cấu nguồn thu của chi nhánh VIB Phạm Ngọc Thạch, ta thấy

chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng nguồn thu trong 3 năm luôn là chỉ tiêu thu lãi từ

điều chuyển vốn, tiếp theo mới là thu từ lãi cho vay. Điều này chứng tỏ hoạt động cho

vay tại chi nhánh vẫn còn ở mức hạn chế, nguồn vốn lớn huy động được chưa được tận

dụng nhiều để cho vay sinh lời mà hầu hết là điều chuyển tới các chi nhánh khác trong

hệ thống để hưởng mức lãi điều chuyển. Mặc dù nguồn thu từ điều chuyển vốn khá an

toàn, song việc tối đa hóa vấn đề sử dụng vốn thông qua đầu tư, cho vay ra thị trường

vẫn là hướng đi có lợi hơn cho chi nhánh nói riêng và nền kinh tế nói chung. b. Tổng Chi phí

Tổng chi phí của chi nhánh năm 2010 là 27.024 triệu đồng, năm 2011 chỉ tiêu

này tăng mạnh lên 50.809 triệu đồng, tương ứng với mức tăng 88,01%. Sang tới năm

2012, tổng chi phí lại giảm còn 41.798 triệu đồng, tức là giảm 17,74% so với năm

2011. Chiếm tỉ trọng lớn nhất trong tổng chi phí luôn là chi phí trả lãi, sau đó tới các chi phí khác bao gồm : chi phí từ hoạt động dịch vụ, chi phí từ hoạt động kinh doanh

ngoại hối, chi phí hoạt động, chi phí dự phòng, …

Chi phí dự phòng tuy chỉ chiếm tỉ trọng nhỏ trong tổng chi phí, song sự biến

động của nó có thể cho chúng ta thấy được hiệu quả hoạt động tín dụng của một ngân

hàng. Năm 2010, chi phí dự phòng của chi nhánh VIB Phạm Ngọc Thạch là 519 triệu

đồng và tới năm 2011 đã giảm xuống còn 399 triệu đồng tương ứng với giảm 23,12%

chứng tỏ trong giai đoạn này chi nhánh đã có những biện pháp thu hồi nợ tốt, chi phí

dự phòng phải bỏ ra để bù đắp cho những khoản nợ phải thu khó đòi là thấp và giảm

xuống. Tuy nhiên, sang tới năm 2012 tình hình lại có chiều hướng xấu đi khi mức chi

phí dự phòng mà chi nhánh phải bỏ ra lớn hơn rất nhiều so với năm 2011, ở mức 908 triệu đồng và so với năm 2011 tăng lên tới 127,57%. Có thể nói con số này rất đáng báo động với chi nhánh khi mà tỷ lệ nợ xấu, nợ khó đòi tăng lên rất cao như vậy sẽ ảnh hưởng không nhỏ tới lợi nhuận của chi nhánh VIB Phạm Ngọc Thạch. c. Lợi nhuận trước thuế

Với những biến động về thu nhập và chi phí như trên thì lợi nhuận của chi nhánh VIB Phạm Ngọc Thạch biến động cụ thể như sau: từ năm 2010 tới năm 2011, lợi nhuận của chi nhánh đã tăng trưởng một cách mạnh mẽ từ 5.683 triệu đồng lên 13.235

triệu đồng, tương đương với mức tăng tuyệt đối là 7.552 triệu đồng và mức tăng tương

43

đối là 132.89%. Để đạt được mức lợi nhuận cao như vậy không thể không kể tới tác

dụng của chính sách tăng tốc tín dụng đã được VIB áp dụng trong toàn hệ thống, trong đó có nhi nhánh Phạm Ngọc Thạch. Chính sách này đã được triển khai từ đầu năm với

hàng loạt những chương trình ưu đãi vốn vay, đi kèm với rất nhiều dịch vụ tiện ích

được cung cấp tới tận tay khách hàng. Sang tới năm 2012, do khó khăn chung của toàn

ngành cũng như của toàn nền kinh tế nên lợi nhuận của chi nhánh cũng không thể tránh khỏi giảm sút. Lợi nhuận năm 2012 đạt mức 9.407 triệu đồng, tương ứng với mức giảm 28,92% so với năm 2011.

2.3. Thực trạng hiệu quả hoạt động huy động tiền gửi tiết kiệm dân cƣ tại Ngân hàng Thƣơng mại Cổ phần Quốc tế Việt Nam – Chi nhánh Phạm Ngọc

Thạch

2.3.1. Chỉ tiêu định tính

Trong 3 năm qua, chi nhánh VIB Phạm Ngọc Thạch luôn là một trong mười đơn

vị đứng đầu có nhiều đóng góp cho hệ thống, được đánh giá là hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao. Toàn thể cán bộ nhân viên chi nhánh quán triệt tinh thần làm việc

nghiêm túc, nhiệt tình, mang tới khách hàng chất lượng dịch vụ tốt nhất. Mọi người

dân đến chi nhánh có nhu cầu tìm hiểu về các hình thức gửi tiết kiệm đều được đội ngũ

nhân viên tại đây tận tình giải đáp, tư vấn các sản phẩm TGTK phù hợp nhất với mỗi

khách hàng bằng một tác phong chuyên nghiệp, lịch sự, nhã nhặn, nhìn chung tạo được

ấn tượng tốt đối với khách hàng. Người dân lần đầu làm thủ tục gửi tiết kiệm tại chi

nhánh luôn được hướng dẫn chi tiết, tư vấn dễ hiểu nhưng chính xác. Thủ tục gửi và

rút tiền đơn giản, thuận tiện, tính an toàn được đảm bảo tuyệt đối, không xảy ra các sai

sót lớn trong quá trình giao dịch.

Chi nhánh luôn tích cực triển khai các chương trình khuyến mại, ưu đãi của VIB

dành cho khách hàng mở tài khoản TGTK. Do không phải người dân nào gửi tiết kiệm

ở chi nhánh cũng biết về những chương trình này nên các giao dịch viên sẽ đóng vai

trò giới thiệu với khách hàng về tính hấp dẫn của chúng, các ưu đãi hay những phần

quà có giá trị khách hàng có thể được hưởng. Bên cạnh đó, chi nhánh còn cho dán áp

phích tại trụ sở, ở mỗi quầy giao dịch đều có hộp đựng tờ rơi giới thiệu về các chương trình khuyến mại, bốc thăm, quay số trúng thưởng …nhằm giúp cho khách hàng nắm bắt được thông tin và có cơ hội được hưởng những lợi ích, giá trị vật chất và tinh thần từ những chương trình này.

Về mặt uy tín đối với khách hàng, chi nhánh được hưởng thuận lợi từ uy tín chung của Ngân hàng TMCP Quốc tế VIB. VIB được xếp vào nhóm B là nhóm những ngân hàng có khả năng cạnh tranh khá, có sức mạnh thị trường tốt, năng lực tài chính hợp lý và hoạt động kinh doanh ổn định với tiềm năng phát triển tốt (Theo Bảng xếp

hạng năng lực cạnh tranh của 32 ngân hàng Việt Nam - trích “Báo cáo thường niên

44

chỉ số tín nhiệm Việt Nam 2012”) . Nhưng điều quan trọng hơn đó là chính bản thân

chi nhánh Phạm Ngọc Thạch với đội ngũ cán bộ nhân viên có trình độ chuyên môn cao, phẩm chất đạo đức tốt, tác phong chuyên nghiệp, luôn nỗ lực mang tới cho khách

hàng những giá trị tốt nhất, đã xây dựng nên uy tín của chi nhánh, đem đến sự hài

lòng, tin cậy và yên tâm cho khách hàng.

Theo số liệu từ cuộc nghiên cứu vào tháng 8 năm 2012 do bộ phận nghiên cứu thị trường chi nhánh VIB Phạm Ngọc Thạch thực hiện thì có tới 82% khách hàng gửi tiết

kiệm tại chi nhánh đánh giá đây là một chi nhánh uy tín. 78% khách hàng có mức độ

từ hài lòng đến rất hài lòng đối với các dịch vụ của chi nhánh. Cũng theo nghiên cứu

này thì có tới 38% người dân trên địa bàn khi được hỏi về việc lựa chọn chi nhánh hay

phòng giao dịch của ngân hàng nào để gửi tiết kiệm đã chọn chi nhánh ViB Phạm

Ngọc Thạch. Đây đều là những con số rất tích cực thể hiện người dân có ấn tượng tốt

và mức độ hài lòng cao đối với chi nhánh. Tuy nhiên, cũng có tới 52% số người được

hỏi cho rằng chi nhánh nên mở thêm các gói sản phẩm tiết kiệm mới bên cạnh các sản

phẩm truyền thống. Đây là điều chi nhánh cần lưu tâm và kiến nghị lên ngân hàng VIB

để có thể đáp ứng tốt hơn nhu cầu đa dạng của khách hàng.

2.3.2. Chỉ tiêu định ƣ ng

2.3.2.1. Tỉ trọng vốn huy động từ tiền gửi tiết kiệm trên tổng nguồn vốn huy động

Huy động vốn từ các đối tượng là khách hàng cá nhân luôn là một trong những hoạt động cơ bản và chủ yếu của chi nhánh VIB Phạm Ngọc Thạch. Hiện nay chi

nhánh đang tiến hành huy động vốn qua ba hình thức chính, đó là phát hành giấy tờ có

giá, huy động từ nguồn tiền gửi thanh toán và huy động từ nguồn tiền gửi tiết kiệm.

Bảng sau cho ta biết các số liệu chi tiết về tình hình huy động vốn của chi nhánh trong

giai đoạn 2010-2012.

Bảng 2.3. Tình hình huy động vốn tại chi nhánh VIB Phạm Ngọc Thạch

Đơn vị: Triệu đồng

2011/2010 (+/-)

2012/2011 (+/-)

Chỉ tiêu

N m 2010

N m 2011

N m 2012

Tuyệt đối

Tuyệt đối

Tƣơng đối (%)

Tƣơng đối (%)

311.606

368.906 57.300

18,39

298.977

(69.929)

(18.95)

Tổng nguồn vốn huy động

Vốn huy động từ TGTK

182.171

189.854

7.683

4,21

218.008

14,82

28.154

45

2011/2010 (+/-)

2012/2011 (+/-)

Chỉ tiêu

N m 2010

N m 2011

N m 2012

Tuyệt đối

Tuyệt đối

Tƣơng đối (%)

Tƣơng đối (%)

69.339

89.021 19.682

28,39

61.220

(27.801)

(31,23)

Vốn huy động từ tiền gửi thanh toán

60.096

90.031

29.935

49,81

19.749

(70.282)

(70,06)

Vốn huy động từ phát hành giấy tờ có giá

58,46%

51,46%

72,91%

Tỷ trọng vốn huy động từ TGTK trên tổng nguồn vốn huy động

(Nguồn: Báo cáo tổng hợp chi nhánh VIB Phạm Ngọc Thạch năm 2010-2012)

Từ bảng 2.3 ta thấy nguồn vốn huy động từ tiền gửi tiết kiệm dân cư luôn chiếm

tỉ trọng lớn nhất trong cơ cấu nguồn vốn huy động của chi nhánh VIB Phạm Ngọc

Thạch trong 3 năm qua. Nhìn chung tỉ trọng nguồn vốn huy động từ tiền gửi tiết kiệm

trên tổng nguồn vốn huy động của chi nhánh có xu hướng tăng lên, từ 58,46% năm

2010 lên 72,91% năm 2012. Tuy nhiên cần chú ý từ năm 2010 sang tới năm 2011, mặc

dù khối lượng nguồn vốn huy động từ tiền gửi vẫn tăng, song tỉ trọng nguồn vốn tiền

gửi tiết kiệm trên tổng nguồn vốn huy động lại giảm xuống ở mức 51,46% so với mức

58,46% của năm 2010. Lý giải cho điều này ta có thể thấy nguồn vốn huy động tiền

gửi tiết kiệm ở năm 2010 so với năm 2011 có tốc độ tăng chậm hơn so với tốc độ tăng

trưởng mạnh mẽ của nguồn vốn huy động từ giấy tờ có giá, mà chủ yếu là việc phát

hành chứng chỉ vàng. Trong khoảng thời gian trước tháng 4 năm 2011 hoạt động huy

động và cho vay vàng đối với các tổ chức tín dụng ở nước ta phát triển khá mạnh mẽ

và chưa có sự quản lý chặt chẽ từ phía NHNN, xuất hiện xu hướng các ngân hàng bằng

nhiều cách thức đã đẩy mạnh hoạt động huy động được vàng, và VIB cũng không nằm ngoài xu hướng này. Chính vì thế mà tỷ trọng phát hành chứng chỉ vàng để huy động vàng tại chi nhánh VIB Phạm Ngọc Thạch trong thời gian này cũng tăng lên đáng kể trong tổng nguồn vốn huy động. Song sang tới năm 2012, với việc NHNN chủ trương “chống vàng hóa nền kinh tế”, ban hành thông tư 11 vào tháng 4 năm 2011 yêu cầu các tổ chức tín dụng ngừng huy động và cho vay bằng vàng, khiến cho tỉ trọng nguồn

vốn huy động từ giấy tờ có giá của chi nhánh cũng giảm hẳn xuống và đẩy tỉ trọng nguồn vốn huy động tiền gửi tiết kiệm tăng cao lên tới 72,91%.

2.3.2.2. Quy mô, sự tăng trưởng và tính ổn định của nguồn vốn huy động từ tiền

gửi tiết kiệm 46

Từ bảng 2.3 ta thấy trong 3 năm qua nguồn vốn huy động từ TGTK dân cư của

chi nhánh VIB Phạm Ngọc Thạch có sự biến động theo chiều hướng tăng lên. Nếu năm 2010 nguồn vốn huy động tiền gửi tiết kiệm đạt mức 182.171 triệu đồng thì tới

năm 2011 đã tăng lên mức 189.854, như vậy là tăng 7.683 triệu đồng tương ứng tăng

4,21%. Sang năm 2012 nguồn vốn tiền gửi tiết kiệm tăng 14,82% so với năm 2011,

ứng với mức tăng 28.154 triệu đồng và đạt 218.008 triệu đồng. Trong bối cảnh khó khăn chung của nền kinh tế, của toàn hệ thống ngân hàng cũng như những thay đổi

trong chính sách lãi suất của NHNN song chi nhánh VIB Phạm Ngọc Thạch vẫn duy

trì được mức tăng trưởng cao đối với nguồn huy động từ tiền gửi tiết kiệm dân cư. Đạt

được kết quả này là do ban giám đốc chi nhánh đã có tầm nhìn thích hợp với những

định hướng đúng đắn trong phát triển nghiệp vụ huy động vốn nói chung và huy động

nguồn vốn từ tiền gửi tiết kiệm nói riêng. Chi nhánh đã tận dụng được lợi thế vị trí địa

lí thuận lợi nằm trong lòng khu dân cư đông đúc, có đời sống kinh tế cao, đồng thời

đưa ra nhiều chương trình ưu đãi dành cho khách hàng. Ngoài ra, chính sách khách

hàng mềm dẻo, phong cách phục vụ khách hàng tận tâm,ngày càng chuyên nghiệp của

từng cán bộ ngân hàng tại chi nhánh cũng là một nguyên nhân chính thu hút khách

hàng gửi tiền và “giữ chân” họ lại với ngân hàng.

Để đánh giá tính ổn định của nguồn vốn huy động từ TGTK dân cư tại chi nhánh,

ta xem xét tỉ lệ phần trăm khách hàng rút tiền đột xuất trong 3 năm qua, cụ thể như sau

Bảng 2.4. Tỷ lệ khách hàng rút tiền đột xuất

Năm 2010 2011 2012

Tỷ lệ rút tiền đột xuất (%) 7,4 6,8 6,4

(Nguồn: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh chi nhánh VIB Phạm Ngọc Thạch năm

2010-2012)

Trong 3 năm từ 2010-2012, tỉ lệ khách hàng rút tiền đột xuất tại chi nhánh VIB

Phạm Ngọc Thạch luôn ở dưới mức 8% và có xu hướng giảm dần qua 3 năm. Đây là

một tín hiệu đáng mừng đối với chi nhánh vì mức tỉ lệ này có thể coi là không cao,

đồng thời lại có xu hướng giảm, thể hiện nguồn vốn huy động từ TGTK của chi nhánh

là tương đối ổn định, chứng tỏ chi nhánh đã có những chiến lược kinh doanh thích hợp và đúng đắn, tạo được uy tín đối với khách hàng.

2.3.2.3. Cơ cầu nguồn vốn huy động từ tiền gửi tiết kiệm

Cơ cấu theo loại tiền Có nhiều cách phân loại các hình thức huy động vốn khác nhau tùy thuộc theo các tiêu thức khác nhau. Huy động vốn TGTK theo loại tiền là một tiêu thức chính để các NHTM nói chung và chi nhánh VIB Phạm Ngọc Thạch nói riêng dễ phân chia và

47

đánh giá được tình hình huy động TGTK bằng nội tệ và ngoại tệ của mình, từ đó đưa

ra chính sách huy động vốn phù hợp với từng loại tiền.

Dưới đây là bảng và biểu đồ tổng kết về hoạt động huy động TGTK theo loại tiền

của chi nhánh VIB Phạm Ngọc Thạch trong giai đoạn 2010-2012:

Bảng 2.5. Huy động vốn từ tiền gửi tiết kiệm theo loại tiền tại chi nhánh VIB

Phạm Ngọc Thạch

Đơn vị: Triệu đồng

2011/2010 (+/-)

2012/2011 (+/-)

Chỉ tiêu

N m 2010

N m 2011

N m 2012

Tuyệt đối

Tuyệt đối

Tƣơng đối (%)

Tƣơng đối (%)

182.171 189.854

7.683

4,21 218.008

14,82

Huy động vốn từ TGTK

28.154

TGTK nội tệ (VND)

118.411 139.447 21.036 17,76 194.291 54.844 39,33

TGTK ngoại tệ

63.760 50.407 (13.353) (20,94) 23.717 (26.690) (52,95)

(Nguồn: Báo cáo tổng hợp chi nhánh VIB Phạm Ngọc Thạch năm 2010-2012)

Biểu đồ 2.3. Cơ cấu nguồn vốn huy động từ tiền gửi tiết kiệm theo loại tiền tại chi

nhánh VIB Phạm Ngọc Thạch

(Nguồn: Báo cáo tổng hợp chi nhánh VIB Phạm Ngọc Thạch năm 2010-2012)

48

Bảng 2.5 và biểu đồ 2.3 đã thể hiện rõ vốn huy động từ TGTK nội tệ luôn chiếm

tỉ trọng rất lớn trong tổng nguồn vốn huy động từ TGTK và ngày càng có xu hướng tăng lên. Mặt khác, tỉ trọng của nguồn vốn huy động từ TGTK ngoại tệ lại thấp và có

xu hướng giảm dần qua 3 năm. Cơ cấu tiền gửi nội tệ và ngoại tệ của chi nhánh như

vậy có thể được coi là tương đối hợp lí và cũng góp phần thúc đẩy việc chống “Đô la

hóa” trong nền kinh tế Việt Nam. Tuy nhiên chi nhánh cũng cần cân đối cơ cấu hợp lí để đảm bảo đáp ứng được nhu cầu cho vay ngoại tệ ngày càng cao của khách hàng.

Cơ cấu theo kì hạn

Nếu như phân tích huy động vốn TGTK theo loại tiền cho chúng ta biết được sự tăng trưởng huy động vốn TGTK của đồng nội tệ, ngoại tệ và cơ cấu loại tiền huy

động từ đó đưa ra giải pháp huy động tốt thì khi phân tích huy động TGTK theo kỳ

hạn sẽ giúp chi nhánh đưa ra các giải pháp sử dụng nguồn vốn này hiệu quả nhất.

Bảng 2.6. Huy động tiền gửi tiết kiệm theo kỳ hạn tại

chi nhánh VIB Phạm Ngọc Thạch

Đơn vị: Triệu đồng

2011/2010 (+/-) 2012/2011 (+/-)

Chỉ tiêu N m 2010 N m 2011 N m 2012

Số tuyệt đối Số tƣơng đối (%) Số tuyệt đối Số tƣơng đối (%)

182.171 189.854 7.683 4,22 218.008 28.154 14,83 Huy động vốn từ TGTK

9.585 10.952 1.367 14,26 12.880 1.929 17,61 TGTK không kì hạn

TGTK có kì hạn 172.586 178.902 6.316 3,66 205.128 26.225 14,66

163.957 169.285 5.329 3,25 191.902 22.617 13,36 TGTK có kì hạn < 12 tháng

8.629 9.617 988 11,44 13.226 3.609 37,53 TGTK có kì hạn ≥ 12 tháng

(Nguồn: Báo cáo tổng hợp chi nhánh VIB Phạm Ngọc Thạch năm 2010-2012)

49

Biểu đồ 2.4. Cơ cấu nguồn vốn huy động từ tiền gửi tiết kiệm theo kì hạn tại chi

nhánh VIB Phạm Ngọc Thạch

(Nguồn: Báo cáo tổng hợp chi nhánh VIB Phạm Ngọc Thạch năm 2010-2012)

Dựa vào bảng 2.6 và biểu đồ 2.4, ta thấy nguồn vốn huy động TGTK có kì hạn

chiếm tỉ trọng lớn hơn cả trong tổng nguồn vốn huy động TGTK và có xu hướng tăng

lên qua các năm. Năm 2010 TGTK có kì hạn tại chi nhánh đạt 172.586 triệu đồng.

Sang năm 2011, nguồn vốn này tăng 6.316 triệu đồng tương ứng với mức tăng 3.66% so với năm 2010, đạt mức 178.902 triệu đồng. Tới năm 2012 vốn huy động từ tiền gửi

tiết kiệm có kì hạn đã tăng lên mức 205.128 triệu đồng, tức là tăng 26.225 triệu đồng

tương đương 14.66% so với năm 2011. Tiền gửi tiết kiệm có kì hạn là một nguồn vốn

tuy có lãi suất cao hơn TGTK không kì hạn nhưng lại tương đối ổn định do hầu hết

khách hàng chỉ rút ra khi đáo hạn, vì thế với nguồn vốn này chi nhánh có thể hoạch

định chiến lược sử dụng vốn tương đối chắc chắn trong tương lai. Sở dĩ chỉ là tương

đối bởi trên thực tế nguồn TGTK có kì hạn này các khách hàng vẫn được ngân hàng

cho phép rút trước hạn, song sẽ phải chịu mức lãi suất thấp tương đương với lãi suất

TGTK không kì hạn, hoặc một mức lãi suất do ngân hàng quy định. Tuy nhiên, để đảm cho hoạt động kinh doanh của chi nhánh được ổn định dựa trên cơ sở xác định các kì hạn huy động và cho vay cụ thể, các cán bộ ngân hàng chịu trách nhiệm huy động vốn vẫn luôn hết sức chú ý tới công tác giới thiệu chi tiết, cụ thể đặc tính của sản phẩm TGTK có kì hạn để khách hàng nắm rõ và xác định cho khoản tiền định gửi của mình một kì hạn hợp lí, như vậy cả khách hàng và chi nhánh đều không bị những thiệt thòi không đáng có xảy ra khi khách hàng rút tiền trước hạn.

Nguồn vốn TGTK có kì hạn thường được chia ra làm hai loại chính là TGTK ngắn hạn (kì hạn nhỏ hơn 12 tháng) và TGTK trung và dài hạn (kì hạn từ 12 tháng trở

50

lên). Từ bảng 2.6 ta thấy TGTK ngắn hạn thường chiếm ưu thế hơn so với TGTK

trung và dài hạn. Điều này xuất phát từ thực tế đó là các khách hàng của chi nhánh chủ yếu là những công nhân viên chức và tiểu thương, thường khó xác định được trong dài

hạn chính xác khi nào lượng tiền tạm thời nhàn rỗi của mình sẽ cần dùng đến. Do vậy,

để đảm bảo việc hưởng lãi trong đầu tư gửi tiền ngân hàng của mình họ thường chọn

những gói sản phẩm tiền gửi với các kì hạn ngắn. Còn với những khoản tiền gửi với kì hạn dài thì thường tập trung vào tầng lớp hưu trí và những người có lượng tiền nhàn

rỗi nhưng không có mong muốn đầu tư vào những lĩnh vực cần sự linh động và ẩn

chứa nhiều rủi ro khác như bất động sản, chứng khoán, vàng, ngoại hối, …

TGTK không kì hạn chiếm một phần khá nhỏ trong tổng nguồn vốn huy động từ

TGTK của chi nhánh VIB Phạm Ngọc Thạch. Năm 2010 lượng TGTK không kì hạn ở

mức 9.585 triệu đồng, đến năm 2011 tăng lên mức 10.952 triệu đồng, tương ứng với

mức tăng tuyệt đối 1.367 triệu đồng và mức tăng tương đối là tăng 14,26%. Sang tới

năm 2012 lượng TGTK không kì hạn đã tăng lên 2.687 triệu đồng tương ứng tăng

17,26% lên mức 12.880 triệu đồng. Như vậy, có thể thấy tuy chỉ chiếm tỷ trọng khiêm

tốn trong tổng vốn huy động TGTK, nhưng xu hướng của nguồn vốn tiền TGTK

không kì hạn đang tăng lên với tốc độ tăng nhanh hơn so với tốc độ tăng của nguồn

TGTK có kì hạn. Tuy đây là lượng vốn huy động có tính ổn định không cao, song chi

phí trả lãi cho khoản tiền gửi này lại thấp nên chi nhánh vẫn có thể nghiên cứu kĩ lưỡng tận dụng nguồn vốn này hợp lí để không bị bỏ lỡ nhiều cơ hội đầu tư có lợi tức

thời.

2.3.2.4. Tương quan giữa huy động vốn từ tiền gửi tiết kiệm và sử dụng vốn

Tương quan về quy mô

Xét quy mô giữa nguồn vốn TGTK huy động và nguồn vốn cho vay giúp ta nhìn

nhận được việc sử dụng nguồn vốn huy động TGTK đầu vào của chi nhánh có hợp lí

hay không. Nếu chênh lệch giữa quy mô nguồn vốn TGTK đầu vào và đầu ra thấp

chứng tỏ chi nhánh đang cố gắng tận dụng nguồn TGTK để cho vay thu lợi nhuận cao,

bất chấp nhiều rủi ro tín dụng tiềm ẩn. Nhưng nếu chênh lệch này lớn thì lại cho thấy chi nhánh đang ở vào tình trạng ứ đọng vốn và sử dụng vốn không hiệu quả.

Ta cùng tìm hiểu bảng sau để thấy được mối tương quan về mặt quy mô giữa huy động TGTK và cho vay tại chi nhánh VIB Phạm Ngọc Thạch trong 3 năm 2010 - 2012

51

Bảng 2.7. Quy mô huy động vốn tiền gửi tiết kiệm và quy mô cho vay

tại chi nhánh VIB Phạm Ngọc Thạch

Đơn vị: Triệu đồng

2011/2010 (+/-) 2012/2011 (+/-) Chỉ tiêu N m 2010 N m 2011 N m 2012

Tuyệt đối

Tƣơng đối (%)

Tuyệt đối Tƣơng đối (%)

Tổng nguồn vốn

28.154

14,83

huy động từ 182.171 189.854 7.683 4,22 218.008

TGTK

Tổng cho vay 103.270 134.072 30.802 29,83 120.134 (13.938) (10,40)

Chênh lệch giữa

huy động vốn 78.901 55.782 (23.119) (29,30) 97.874 42.092 75,46

TGTK và cho vay

(Nguồn: Báo cáo tổng hợp chi nhánh VIB Phạm Ngọc Thạch năm 2010-2012)

Từ bàng 2.7 có thể thấy chênh lệch giữa quy mô huy động nguồn vốn TGTK và

cho vay của chi nhánh ở mức cao và có biến động tăng giảm không ổn định. Năm

2010 chênh lệch này ở mức 78.901 triệu đồng, sang năm 2011 chênh lệch giảm xuống

còn 55.782 triệu đồng tương ứng với mức giảm tương đối là 29.3%. Tới năm 2012

mức chênh lệch giữa huy động vốn từ TGTK và cho vay lại tăng lên đột biến tới

97.874 triệu đồng với mức tăng 42.092 triệu đồng ứng với tăng 75,46%.

Chênh lệch giữa huy động TGTK và cho vay của chi nhánh VIB Phạm Ngọc

Thạch ở mức tương đối cao như vậy cho thấy hoạt động cho vay của chi nhánh ở mức

trung bình, thông thường chi nhánh cho vay khoảng 60% nguồn vốn đầu vào đạt được

từ hoạt động huy động TGTK dân cư. Phần vốn còn lại, chi nhánh chủ yếu điều

chuyển tới các chi nhánh khác trong hệ thống để hưởng mức lãi suất điều chuyển. Mặc

dù vậy, ta cũng có thể thấy được chi nhánh VIB Phạm Ngọc Thạch đang từng bước

nâng quy mô hoạt động cho vay lên, nếu năm 2010 quy mô cho vay chỉ ở mức 103.270 triệu đồng thì tới năm 2011 đã tăng lên mức 134.072 triệu đồng. Sang tới năm 2012, tình hình kinh tế còn gặp nhiều khó khăn, nợ xấu ngân hàng tăng cao, đời sống của người dân bị ảnh hưởng khiến cho họ không đủ khả năng vay vốn, VIB nói chung và chi nhánh Phạm Ngọc Thạch nói riêng cũng rất khó khăn trong việc rà soát điều

kiện vay vốn của các khách hàng, bởi vậy mà cho vay trong năm 2012 khó tránh khỏi sụt giảm 10,40% so với năm 2011. Tuy nhiên trong tình hình khó khăn chung của nền kinh tế thì mức giảm này là không lớn và quy mô cho vay của chi nhánh trong năm

2012 so với năm 2010 thì vẫn lớn hơn.

52

Tương quan về kì hạn

Như đã phân tích về mặt lý thuyết, giữa hoạt động huy động vốn TGTK và sử

dụng vốn không những cần có mối tương quan hợp lý về quy mô mà còn phải có sự tương quan hợp lý về mặt kì hạn. Chi nhánh cần phân tích tương quan về kì hạn giữa

huy động nguồn vốn TGTK và sử dụng vốn để từ đó đưa ra những chiến lược phù hợp

nhất nhằm tăng tính hiệu quả cho hoạt động huy động TGTK dân cư. Ta cùng tìm hiểu

bảng và biểu đồ sau để phân tích rõ hơn mối tương quan đó.

Bảng 2.8. Huy động tiền gửi tiết kiệm ngắn hạn và cho vay ngắn hạn

tại chi nhánh VIB Phạm Ngọc Thạch

Đơn vị: Triệu đồng

2011/2010 (+/-)

2012/2011 (+/-)

Chỉ tiêu

N m 2012

N m 2010

N m 2011

Tuyệt đối

Tuyệt đối

Tƣơng đối (%)

Tƣơng đối (%)

173.542 180.232 6.690

3,85

204.782

24.550

13,62

Huy động TGTK ngắn hạn

Cho vay ngắn hạn

34.353 44.599 10.246 29,83 39.879 (4.720) (10,58)

(Nguồn:Báo cáo tổng hợp chi nhánh VIB Phạm Ngọc Thạch)

Biểu đồ 2.5. Huy động tiền gửi tiết kiệm ngắn hạn và cho vay ngắn hạn

tại chi nhánh VIB Phạm Ngọc Thạch

(Nguồn: Báo cáo tổng hợp chi nhánh VIB Phạm Ngọc Thạch)

53

Đối với việc đáp ứng nhu cầu đầu tư cho vay ngắn hạn, trong những năm gần đây

chi nhánh luôn đáp ứng được nhu cầu cho vay đối với các khoản vay này do phần lớn vốn huy động của chi nhánh là nguồn vốn ngắn hạn.

Qua bảng 2.8 và biểu đồ 2.5 cho thấy nhìn chung huy động vốn ngắn hạn của chi

nhánh luôn đáp ứng nhu cầu cho vay ngắn hạn và luôn ở mức an toàn. Với sự dồi dào

nguồn vốn ngắn hạn cho phép chi nhánh VIB Phạm Ngọc Thạch tránh được rủi ro trong thanh khoản khi khách hàng có nhu cầu rút tiền đột xuất, đảm bảo thực hiện các

dịch vụ của chi nhánh, nó cũng cho phép chi nhánh dễ dàng chuyển đổi một phần

nguồn vốn này để cho vay trung, dài hạn.

Đối lập với tình hình huy động tiền gửi và cho vay ngắn hạn, cho vay dài hạn tại

chi nhánh lại luôn ở mức cao hơn rất nhiều so với huy động TGTK dài hạn. Dưới đây

là bảng và biểu đồ thể hiện số liệu về huy động TGTK dài hạn và cho vay dài hạn

trong giai đoạn 2010-2011:

Bảng 2.9. Huy động tiền gửi tiết kiệm trung và dài hạn và cho vay trung và dài

hạn tại chi nhánh VIB Phạm Ngọc Thạch

Đơn vị: Triệu đồng

2011/2010 (+/-) 2012/2011 (+/-)

Chỉ tiêu N m 2010 N m 2011 N m 2012

Tuyệt đối Tƣơng đối (%) Tuyệt đối Tƣơng đối (%)

8.629 9.617 988 11,44 13.226 3.609 37,53

Huy động TGTK trung và dài hạn

68.917 89.473 20.556 29,83 80.255 (9.218) (10,30) Cho vay trung và dài hạn

(Nguồn: Báo cáo tổng hợp chi nhánh VIB Phạm Ngọc Thạch năm 2010-2012)

54

Biểu đồ 2.6. Huy động tiền gửi tiết kiệm trung và dài hạn và cho vay trung và dài

hạn tại chi nhánh VIB Phạm Ngọc Thạch

Đơn vị: Triệu đồng

(Nguồn: Báo cáo tổng hợp chi nhánh VIB Phạm Ngọc Thạch năm 2010-2012)

Qua bảng 2.9 ta có thể đưa ra nhận xét nguồn huy động TGTK trung và dài hạn

của chi nhánh VIB Phạm Ngọc Thạch không đủ đáp ứng nhu cầu cho vay trung và dài

hạn. Huy động TGTK trung và dài hạn qua 3 năm chỉ chiếm lần lượt 12,5%, 10,74%

và 16,48% so với nhu cầu vay trung và dài hạn, nghĩa là chỉ đáp ứng được một phần

nhỏ nhu cầu vay của khách hàng. Chính vì vậy chi nhánh phải sử dụng một phần vốn

huy động được từ TGTK ngắn hạn để cho vay trung và dài hạn. Việc này có mặt tích

cực và hạn chế. Mặt tích cực là dùng vốn huy động TGTK ngắn hạn để cho vay trung

và dài hạn sẽ tiết kiệm được một phần chi phí do huy động vốn TGTK ngắn hạn thường có lãi suất thấp trong khi cho vay trung và dài hạn thường có lãi suất cao hơn

cho vay ngắn hạn. Tuy nhiên, mặt tiêu cực là khi nguồn vốn TGTK huy động ngắn hạn

tới hạn hoàn trả, song vì đang được sử dụng để cho vay trung và dài hạn nên chưa kịp

thu hồi để tất toán cho khách hàng , rất có thể mang lại rủi ro mất khả năng thanh khoản tạm thời cho chi nhánh.

Biểu đồ 2.6 cho thấy rõ khoảng cách giữa huy động TGTK trung và dài hạn với cho vay trung và dài hạn tại chi nhánh là rất lớn. Nhận thức được vấn đề, chi nhánh VIB Phạm Ngọc Thạch cũng đã từng bước rút ngắn khoảng cách chênh lệch này bằng cách tăng cường huy động TGTK với thời hạn dài, kết quả cho thấy lượng TGTK trung và dài hạn đã tăng đều qua 3 năm từ 8.629 triệu đồng năm 2010 tăng lên 9.617 triệu đồng năm 2011 và sang năm 2012 tăng lên mức 13.226 triệu đồng. Đây là một hướng đi đúng đắn của chi nhánh, song tốc độ tăng của huy động vốn TGTK trung và

55

dài hạn vẫn chưa cao so với tốc độ tăng của cho vay trung và dài hạn. Vì vậy, việc

tăng nhanh tốc độ huy động TGTK trung và dài hạn cũng là một vấn đề mà chi nhánh cần phải giải quyết trong thời gian tới.

2.3.2.5. Chi phí huy động tiền gửi tiết kiệm

Chi phí huy động TGTK là một chỉ tiêu quan trọng đánh giá hiệu quả huy động

vốn từ tiền gửi tiết kiệm của ngân hàng bởi vì nó quyết định trực tiếp tới phương thức sử dụng nguồn vốn này và đặc biệt là lợi nhuận kinh doanh của NHTM. Chiếm tỷ

trọng lớn nhất trong tổng nguồn chi phí huy động TGTK luôn là chi phí trả lãi và dưới

đây là số liệu thống kê chi phí trả lãi cho việc huy động TGTK dân cư của chi nhánh

VIB Phạm Ngọc Thạch trong 3 năm trở lại đây:

Bảng 2.10. Chi phí trả lãi TGTK tại VIB chi nhánh Phạm Ngọc Thạch

2011/2010 (+/-) 2012/2011 (+/-)

Chỉ tiêu N m 2010 N m 2011 N m 2012 Tuyệt đối Tƣơng đối (%) Tuyệt đối Tƣơng đối (%)

182.171 189.854 7.683 4.22 218.008 28.154 14,83

Tổng huy động vốn từ TGTK

15.721 22.175 6.454 41.05 17.898 (4.276) (19,29) Chi phí trả lãi TGTK

8,63% 11,68% 8.21%

Tỷ lệ chi phí trả lãi TGTK trên tổng vốn huy động TGTK

(Nguồn: Báo cáo tổng hợp chi nhánh VIB Phạm Ngọc Thạch năm 2010-2012)

Từ bảng trên ta thấy chi phí trả lãi TGTK của chi nhánh VIB Phạm Ngọc Thạch

có sự biến động không đều trong giai đoạn 2010-2012. Năm 2010 chi phí trả lãi tiền

gửi của chi nhánh chỉ ở mức 15.721 triệu đồng, sang tới năm 2011 chi phí này đã tăng

khá mạnh lên mức 22.175 triệu đồng, tức là tăng 6.454 triệu đồng, tương ứng 41.05%. Năm 2012 chi phí huy động vốn TGTK giảm xuống còn 17.898 triệu đồng ứng với mức giảm 19.29%. Nguyên nhân chính giải thích cho sự tăng giảm trong chi phí trả lãi

TGTK tại chi nhánh là cuộc chạy đua lãi suất huy động giữa các NHTM ở nửa cuối năm 2010 và đầu năm 2011, cùng sự hạ nhiệt của nó sau các thông tư quyết định của NHNN về áp trần lãi suất huy động kết hợp với việc xử phạt nghiêm khắc các ngân hàng có dấu hiệu lách luật và chi nhánh cũng nhận thức được sự bất lợi giữa chênh lệch lãi suất đầu ra đầu vào nên đã có sự điểu chỉnh lại cho phù hợp. Đây cũng là lí do

56

giải thích cho sự biến động tăng giảm tương tự của tỉ lệ chi phí trả lãi TGTK trên tổng

nguồn vốn huy động TGTK.

Phân tích sâu hơn ta thấy từ năm 2010 tới năm 2011 cả tổng nguồn vốn và chi

phí trả lãi TGTK đều tăng lên, song mức tăng của chi phí trả lãi là khá cao, đạt 41.05%

trong khi tốc độ tăng của tổng nguồn vốn huy động từ TGTK lại thấp, chỉ ở mức

4.21%. Thực trạng này gây bất lợi cho chi nhánh VIB Phạm Ngọc Thạch, bởi để bù đắp cho khoản chi phí trả lãi đầu vào cao như vậy thì chi nhánh sẽ phải cân nhắc sử

dụng vốn thật hợp lí để vừa đảm bảo trả lãi huy động TGTK, nhưng cũng đồng thời

kiếm lời cho chi nhánh. Nhận thức được tình hình, chi nhánh đã thực hiện nhiều biện

pháp và chính sách hợp lí để sang tới năm 2012, tình hình nhìn chung đã khả quan hơn

khi tốc độ tăng trưởng nguồn vốn huy động từ TGTK đã tăng 14,82% so với năm

2011, trong khi đó chi phí trả lãi TGTK lại giảm xuống khá mạnh với mức giảm

19,29%.

Để huy động được nguồn vốn tiền gửi tiết kiệm, ngoài khoản chi phí trả lãi chiếm

phần lớn trong tổng chi phí huy động thì nguồn chi phí phi trả lãi như những khoản chi

cho trang thiết bị máy móc, chi phí quản lí, cất trữ, bảo quản, quảng cáo, quà tặng, …

cũng rất cần thiết để thúc đẩy huy động vốn từ TGTK phát triển. Trên thực tế, VIB chi

nhánh Phạm Ngọc Thạch đã thực hiện tương đối tốt việc sử dụng nguồn chi phí phi trả

lãi này sao cho tiết kiệm trên cơ sở hiệu quả nhất.

2.3.3. Đánh giá chung về hiệu quả hoạt động huy động tiền gửi tiết kiệm dân cƣ của Ngân hàng Thƣơng mại Cổ phần Quốc tế Việt Nam – Chi nhánh Phạm

Ngọc Thạch

2.3.3.1. Kết quả đạt được

a. Vốn huy động tiền gửi tiết kiệm tăng trưởng ổn định và hiệu quả

Qua số liệu thống kê của chi nhánh VIB Phạm Ngọc Thạch ba năm trở lại đây, ta

thấy chi nhánh đã biết phát huy năng lực của mình cũng như các ưu thế hiện có được

để huy động tiền gửi tiết kiệm một cách có hiệu quả, thể hiện ở chỗ nguồn vốn huy

động từ tiền gửi tiết kiệm năm sau luôn cao hơn năm trước và có xu hướng tăng nhanh.

Sự tăng trưởng về nguồn vốn này được thể hiện ở cả hình thức lẫn kỳ hạn gửi tiết kiệm hết sức phong phú và đa dạng. Nguồn vốn tiền gửi tiết kiệm huy động qua các năm tạo điều kiện thuận lợi cho chi nhánh thực hiện các nghiệp vụ cho vay và đầu tư, giúp cho chi nhánh có thể chủ động trong hoạt động kinh doanh của mình. b. Sự phong phú về loại tiền gửi tiết kiệm huy động

Trong bối cảnh nền kinh tế ngày càng hội nhập sâu rộng như hiện nay thì việc người dân sở hữu và lưu thông ngoại tệ càng trở nên phổ biến hơn. Nắm bắt được cơ hội đó, đồng thời cũng nhằm đáp ứng tốt nhất nhu cầu của người dân, chi nhánh VIB

Phạm Ngọc Thạch đã cung cấp các sản phẩm tiền gửi tiết kiệm cho phép khách hàng

57

gửi tiền không chì bẳng VND mà còn có thể gửi tiết kiệm bằng USD và EUR (đối với

hình thức tiết kiệm thường và tiết kiệm lũy tiến). Chính sách này đã tạo điều kiện cho chi nhánh có thể huy động nguồn tiền gửi tiết kiệm từ những cá nhân có người thân

sinh sống và làm việc ở nước ngoài, hoặc các kiều bào về nước, mặt khác lại đáp ứng

được nhu cầu tiết kiệm vừa an toàn vừa sinh lời trong tương lai cho những khoản tiền

nhàn rỗi của các nhóm đối tượng khách hàng nêu trên. c. Phát huy thế mạnh huy động vốn tiền gửi tiết kiệm có chi phí thấp

Trong những năm qua chi nhánh VIB Phạm Ngọc Thạch luôn chú trọng huy

động vốn tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn ngắn dưới 12 tháng. Dựa vào đặc điểm khách

hàng của chi nhánh đa phần là công nhân viên chức hoặc tiểu thương, thường lựa chọn

các sản phẩm tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn ngắn do không chắc chắn về mục tiêu sử

dụng tiền trong tương lai, chi nhánh đã nắm bắt tình hình thực tế và có những biện

pháp thiết thực nhằm thu hút người dân gửi tiền, tăng trưởng lượng vốn tiền gửi tiết

kiệm có kỳ hạn dưới 12 tháng. Thực tế nguồn vốn này đã không ngừng gia tăng với

tốc độ tương đối nhanh, năm 2011 tăng 5,22% so với năm 2010, năm 2012 tăng tới

11,42% so với năm 2011. Bên cạnh đó, nguồn tiền gửi tiết kiệm không kì hạn cũng có

xu hướng tăng nhanh. Đây là những nguồn vốn có chi phí huy động thấp hơn so với

tiền gửi tiết kiệm có kì hạn trên 12 tháng, chi nhánh có thể tận dụng đặc điểm này để

tạo nên một cơ cấu vốn tiền gửi tiết kiệm hợp lý, góp phần nâng cao hiệu quả huy động nguồn vốn này. d. Hiện đại hóa giao dịch ngân hàng

Hiện tại tất cả các bộ phận, vị trí mà đặc biệt là ở quầy giao dịch tại chi nhánh

đều được trang bị đầy đủ các trang thiết bị để phục vụ cho công tác giao dịch nhận tiền

gửi tiết kiệm của người dân được thuận tiện, nhanh chóng đồng thời góp phần vào việc

quản lí nguồn vốn huy động tiền gửi tiết kiệm được chính xác hơn, đơn giản hơn từ đó

góp phần nâng cao hiệu quả huy động vốn tiền gửi nói chung và hiệu quả huy động

vốn tiền gửi tiết kiệm nói riêng.

Bên cạnh đó, chi nhánh VIB Phạm Ngọc Thạch luôn làm tốt công tác thu chi tiền

mặt và thanh toán nhanh nhạy, an toàn, chính xác theo đúng yêu cầu của khách hàng. Chi nhánh cũng đã có nhiều biện pháp tích cực cải tiến quy trình nghiệp vụ, đổi mới tác phong giao dịch. Điều đó đã góp phần đưa tốc độ phát triển nguồn vốn huy động tiền gửi tiết kiệm của chi nhánh ngày một tăng cao.

Ngoài ra, chi nhánh còn có nhiều biện pháp tổ chức thực hiện các mục tiêu chiến

lược khách hàng như khuyến khích khách hàng bằng lợi ích vật chất, bằng cách tặng quà cho cho khách hàng đến gửi tiết kiệm với các chương trình tiết kiệm dự thưởng hấp dẫn. e. Chất lượng cán bộ, nhân viên ngày một nâng cao

58

Mặc dù nguồn nhân lực tại chi nhánh VIB Phạm Ngọc Thạch tương đối trẻ, song

biết phát huy thế mạnh của tuổi trẻ là sự nhiệt huyết, là sự quyết tâm học hỏi phấn đấu trong công việc mà các cán bộ, nhân viên của chi nhánh luôn luôn ý thức được tầm

quan trọng của việc nâng cao trình độ, năng lực của bản thân, đồng thời rèn luyện tác

phong chuyên nghiệp nhưng cũng rất gần gũi với từng khách hàng.

Bên cạnh đó, kết hợp với sự quản lý cứng rắn nhưng không kém phần mềm mỏng từ lãnh đạo chi nhánh và tinh thần đoàn kết của toàn bộ nhân viên mà chi nhánh

VIB Phạm Ngọc Thạch đã tương đối hoàn thành tốt công tác được giao và đạt được

2.3.3.2. Những mặt hạn chế và nguyên nhân

Bên cạnh những kết quả đã đạt được, trong quá trình thực hiện chính sách huy

động vốn tiền gửi của chi nhánh VIB Phạm Ngọc Thạch cũng gặp phải một số trở ngại, khó khăn có ảnh hưởng hạn chế đến kết quả hoạt động và vị trí, vai trò của chi

nhánh. Thứ nhất, sự bất cập trong tương quan về kì hạn giữa huy động vốn và sử dụng

vốn. Trong khi dư thừa nguồn TGTK ngắn hạn thì nguồn vốn TGTK huy động trong

trung và dài hạn vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu kinh doanh trung, dài hạn của chi

nhánh. Việc chuyển hoán nguồn để đầu tư, cho vay trung, dài hạn còn hạn chế vì để

làm điều này chi nhánh có thể phải đối mặt với rủi ro lãi suất, rủi ro thanh khoản.

Thứ hai, một số sản phẩm TGTK của chi nhánh chưa thực sự phát huy tác dụng

thu hút vốn khi không tạo được sự khác biệt nổi trội để tăng khả năng cạnh tranh của

mình. Công tác tuyên truyền quảng bá sản phẩm, quảng bá hình ảnh đã được chi nhánh

tiến hành song chưa thực sự mang lại hiệu quả cao như mong đợi.

Thứ ba, số lượng cán bộ và nhân viên tại chi nhánh còn tương đối hạn chế, đôi

khi khách hàng tới giao dịch tập trung trong một lúc còn phải chờ đợi tới lượt. Bên

cạnh đó vẫn còn một số nhân viên chưa chú ý tới sự đổi mới trong chính sách sản

phẩm, áp dụng quy trình nghiệp vụ còn cứng nhắc, thiếu linh hoạt.

Thứ tư, sự giới hạn đối tượng khách hàng của chi nhánh có thể khiến cho chi nhánh bị mất một số lượng khách hàng nhất định. Ở đây ta không đề cập tới đối tượng

khách hàng doanh nghiệp, do đặc thù của Ngân hàng TMCP Quốc tế VIB là phân chia các chi nhánh của mình thành 2 loại, theo đó chi nhánh Phạm Ngọc Thạch chỉ phục vụ

đối tượng khách hàng cá nhân. Tuy nhiên, không phải người dân nào cũng nắm rõ được cách phân chia chi nhánh của ngân hàng, ngay cả trên website của VIB cũng không có thông báo nào về việc này mà chỉ có danh sách kèm địa chỉ các chi nhánh, phòng giao dịch. Điều đó có nghĩa có thể người dân sẽ tìm đến các chi nhánh khác của VIB không phục vụ khách hàng cá nhân, đương nhiên những chi nhánh như vậy không thể đáp ứng yêu cầu của họ. Điều quan trọng lúc này là phương cách ứng xử của cán bộ nhân viên tại các chi nhánh nói trên. Họ nên giới thiệu cho người dân tới các chi

59

nhánh khác của VIB có phục vụ khách hàng cá nhân, tuy nhiên việc giới thiệu này là

không bắt buộc nên nếu nhân viên đó thiếu tinh thần hợp tác, cho rằng đó là việc không thuộc trách nhiệm của mình, không có sự liên kết đoàn kết giữa các chi nhánh,

điểm giao dịch trong toàn hệ thống VIB thì sẽ dẫn tới kết quả mất khách hàng, trong

đó hoàn toàn có thể có những khách hàng tiềm năng, khách hàng lớn. Đây là hạn chế

mà mọi chi nhánh của VIB đều gặp phải, trong đó có chi nhánh tại Phạm Ngọc Thạch. Thứ năm, công nghệ ngân hàng liên tục đổi mới và hoàn thiện song vẫn còn hạn

chế. Đôi lúc mạng nội bộ bị lỗi gây nên khó khăn cho các nhân viên chi nhánh cập

nhật những thông báo, chỉ thị mới nhất để áp dụng thực hiện đúng quy cách các nghiệp

vụ huy động TGTK nói riêng và các nghiệp vụ khác nói chung. Trang thiết bị của chi

nhánh tuy đã được đầu tư đầy đủ, song vẫn chưa thực sự hiện đại và cần nâng cấp, đổi

mới và bổ sung hơn nữa.

Nguyên nhân:

Nguyên nhân khách quan

Nguyên nhân đầu tiên phải kể tới đó là môi trường kinh tế - xã hội Việt Nam

trong giai đoạn 2010 - 2012 có nhiều biến động phức tạp và những diễn biến tiêu cực

với GDP tăng trưởng chậm, tỉ lệ lạm phát cao, chính sách tiền tệ thắt chặt. Cùng với đó

là thị trường chứng khoán bất ổn, bất động sản đóng băng, giá vàng tăng giảm thất

thường, tỷ giá USD tương đối ổn định song lãi suất huy động lại tương đối thấp đã tác động không nhỏ tới tâm lý người dân trong việc cân nhắc sử dụng đồng tiền nhàn rỗi

của mình.

Xu thế hội nhập của nền kinh tế Việt Nam vào nền kinh tế của khu vực và trên

thế giới đã tạo nhiều cơ hội cho các ngân hàng thương mại Việt Nam. Song bên cạnh

đó các ngân hàng cũng phải đối phó sự ra đời và nhập cuộc của các ngân hàng mới, tổ

chức tín dụng phi ngân hàng, quá trình mở rộng của các ngân hàng trong nước, một

phần tạo sự phát triển của hệ thống tài chính ở Việt Nam, nhưng mặt khác tạo ra sự

cạnh tranh sâu sắc giữa các ngân hàng, nguồn vốn trong xã hội bị chia sẻ, trong đó có

nguồn vốn từ TGTK dân cư. Dòng vốn sẽ chảy mạnh vào những ngân hàng có uy tín,

có sản phẩm dịch vụ đa dạng, phong phú, có công nghệ hiện đại… và tất yếu sẽ xảy ra tình trạng có ngân hàng phát triển đi lên, và tất nhiên cũng có những ngân hàng gặp khó khăn trong hoạt động kinh doanh. Các ngân hàng TMCP liên tục khai trương các chi nhánh, phòng giao dịch và tổ chức nhiều đợt khuyến mại, quảng cáo, liên tục tung ra các chiến dịch nhằm thu hút vốn. Trong quá trình cạnh tranh để giữ và mở rộng thị

phần, thu hút được vốn, các tổ chức này đua nhau tăng lãi suất huy động không dựa trên cơ sở cung cầu về vốn làm cho mặt bằng lãi suất trên thị trường tăng lên, gây khó khăn cho công tác tìm kiếm nguồn vốn huy động rẻ, trong đó có nguồn vốn huy động

từ TGTK. Sau khi NHNN áp trần lãi suất huy động, đồng thời có những biện pháp xử

60

lí nghiêm khắc đối với những NHTM có biểu hiện lách trần lãi suất thì nhìn chung mặt

bằng lãi suất huy động đã tương đối ổn định. Song, với áp lực tăng trưởng nguồn vốn mà nhiều ngân hàng bất chấp rủi ro bị xử phạt, vẫn sử dụng những biện pháp tăng lãi

suất ngầm để hút người gửi tiền làm ảnh hưởng tới sự ổn định và phát triển chung của

toàn ngành.

Bên cạnh đó, hệ thống pháp luật còn chưa đầy đủ, thiếu tính đồng bộ và nhất quán, chưa theo kịp với thực tế đầy sinh động trong hoạt động kinh tế, còn nhiều bất

cập so với yêu cầu hội nhập kinh tế ngân hàng. Văn bản NHNN ban hành trong thời

gian ngắn vẫn phải sửa đổi, bổ sung. Tính thiếu minh bạch của thông tin, đặc biệt là

các quy định về tài chính, kế toán, hợp đồng lao động, hợp đồng tín dụng và các chế

tài kinh tế khác gây nhiều khó khăn cho các ngân hàng, nhất là khi khả năng thực thi

của pháp luật còn chưa cao.

Mặt khác, tâm lý người dân vẫn ưa chuộng sử dụng tiền mặt, nhất là trong giai

đoạn lạm phát cao, họ giữ tiền mặt để thỏa mãn nhu cầu chi tiêu, hạn chế gửi tiết kiệm

ở ngân hàng.

Nguyên nhân chủ quan

Có thể nói trong những năm qua, bản thân chi nhánh chưa xác định và thực hiện

tốt chiến lược huy động nguồn vốn TGTK trung và dài hạn, dẫn tới sự thiếu hụt nguồn

vốn này, không đủ đáp ứng nhu cầu kinh doanh trung và dài hạn của chi nhánh.

Các sản phẩm TGTK của chi nhánh chủ yếu vẫn là sản phẩm truyền thống như

tiết kiệm thường, tiết kiệm lũy tiến, chưa tạo được sự khác biệt nổi trội so với các sản

phẩm tương tự của ngân hàng khác. Chi nhánh còn thiếu các sản phẩm mang tính đặc

thù, đáp ứng nhu cầu của từng nhóm đối tượng khách hàng riêng biệt như sản phẩm

TGTK dành cho học sinh sinh viên, cho người già, trẻ em… Các hình thức quảng cáo,

tuyên truyền của chi nhánh cũng chưa thực sự tạo được nét khác biệt đặc trưng nên

chưa gây được ấn tượng mạnh mẽ đối với công chúng, trong đó có những người dân

thuộc nhóm khách hàng mục tiêu của chi nhánh.

Điều kiện làm việc của cán bộ nhân viên chi nhánh đã được cải thiện song vẫn

chưa thật thuận lợi, cụ thể cần được đổi mới thêm và trang bị thêm các thiết bị kỹ thuật hiện đại. Ngoài ra, công tác triển khai áp dụng tin học và công nghệ mới chưa thực sự được chú trọng đúng mức, dẫn tới một số trường hợp cán bộ nhân viên chi nhánh thao tác xử lý giao dịch còn chậm, chưa nắm bắt và thực sự làm chủ công nghệ.

61

KẾT LUẬN CHƢƠNG 2

Chương 2 của khóa luận đã phân tích, đánh giá hiệu quả hoạt động huy động vốn từ TGTK dân cư đồng thời phân tích một số hạn chế và nguyên nhân của những hạn

chế còn tồn tại trong hoạt động huy động nguồn vốn TGTK tại Ngân hàng TMCP

Quốc tế Việt Nam - Chi nhánh Phạm Ngọc Thạch. Trong chương 3 của khóa luận sẽ

đưa ra một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động huy động vốn từ TGTK dân cư của chi nhánh.

62

CHƢƠNG 3. GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG TIỀN GỬI TIẾT KIỆM DÂN CƢ TẠI NGÂN HÀNG

THƢƠNG MẠI CỔ PHẦN QUỐC TẾ VIỆT NAM – CHI NHÁNH PHẠM NGỌC THẠCH

3.1. Định hƣớng phát triển của Ngân hàng Thƣơng mại Cổ phần Quốc tế Việt

Nam – Chi nhánh Phạm Ngọc Thạch

Mục tiêu phát triển lâu dài của VIB là “trở thành ngân hàng luôn sáng tạo và hướng đến khách hàng nhất tại Việt Nam, vượt trội trong việc cung cấp các giải pháp

sáng tạo nhằm thỏa mãn tối đa nhu cầu khách hàng”. Trên cơ sở đó, Chi nhánh cũng xác định mục tiêu chính của mình là “…xây dựng ngân hàng thành một chi nhánh

NHTM lớn, chủ lực, hiện đại, hoạt động kinh doanh có hiệu quả, lành mạnh về tài

chính, có kỹ thuật công nghệ cao, đa dạng về sản phẩm dịch vụ, chiếm thị phần lớn ở

Việt Nam, đủ sức cạnh tranh trong nước và chủ động hội nhập quốc tế…”

Năm 2013 được dự báo sẽ tiếp tục là năm khó khăn của thị trường tài chính Việt

Nam, khi dấu hiệu phục hồi kinh tế chưa thực sự rõ nét, Chính phủ và NHNN vẫn kiên

trì với chính sách tiền tệ chặt chẽ và thận trọng. Trên cơ sở kết quả kinh doanh năm

2012 và bối cảnh kinh tế còn khó khăn, gặp nhiều thách thức năm 2013, Ban lãnh đạo

VIB chi nhánh Phạm Ngọc Thạch quyết định duy trì một chính sách kinh doanh thận

trọng và thực hiện các giải pháp nhằm đảm bảo phát triển an toàn cho mình và duy trì

nền tảng vững chắc cho ngân hàng.

3.1.1. M c tiêu phấn đấu chung

Trên cơ sở đánh giá những thuận lợi và khó khăn trong hoạt động kinh doanh

trên địa bàn, Chi nhánh VIB Phạm Ngọc Thạch có biện pháp cụ thể, trong đó chú

trọng đến khai thác các loại nguồn vốn trên địa bàn, đặc biệt là nguồn vốn từ tiền gửi

tiết kiệm dân cư, để đầu tư cho các ngành kinh tế, mở rộng sản xuất kinh doanh góp

phần vào việc thúc đẩy phát triển kinh tế thủ đô.

- Tập trung huy động vốn, đặc biệt là nguồn vốn huy động từ tiền gửi tiết kiệm

dân cư. Chú trọng huy động nguồn vốn trung và dài hạn cả nội và ngoại tệ.

- Mở rộng cho vay các thành phần kinh tế làm ăn có hiệu quả, dự án khả thi, tình hình tài chính lành mạnh, đáp ứng đầy đủ quy định… Tiếp tục nâng cao chất lượng tín dụng, tập trung thu hồi nợ xấu.

- Tập trung triển khai nâng cao chất lượng các loại hình dịch vụ, sản phẩm dịch

vụ toàn diện có hiệu quả nhanh chóng, chính xác và thuận lợi trong cơ chế thị trường.

- Kiện toàn và ổn định bộ máy tổ chức, tiếp tục đào tạo, đào tạo lại toàn diện các mặt nghiệp vụ tín dụng, kế toán, thanh toán quốc tế… đặc biệt là nâng cao trình độ

ngoại ngữ, tin học. Bên cạnh đó, công tác thi đua, phát động phong trào thi đua của cơ

63

quan, các đoàn thể, công đoàn, đoàn thanh niên cần thường xuyên gắn liền với từng

đợt, kỳ hoạt động kinh doanh quý năm. Song phải đánh giá kết quả thông báo đến toàn thể cán bộ nhân viên từ đó nhân điển hình tốt trong toàn chi nhánh.

- Triển khai dịch vụ khách hàng vượt trội, thông qua việc tiếp tục xây dựng và duy trì văn hóa khách hàng và dịch vụ tại VIB chi nhánh Phạm Ngọc Thạch nói riêng

và hoàn thiện việc roll-up mô hình bán hàng và dịch vụ trên toàn hệ thống VIB nói chung.

- Tối ưu hóa chi phí hoạt động, thông qua việc giảm chi phí hoạt động trên tổng doanh thu thuần (CIR) theo định hướng tăng trưởng chi phí chậm hơn tăng trưởng

doanh thu và chuẩn hóa quy trình mua sắm.

- Quản lý rủi ro, thông qua việc triển khai dự án cải tổ tín dụng, tăng cường

chức năng kiểm tra kiểm soát nội bộ và xây dựng hệ thống công cụ quản lý rủi ro.

- Phát triển mạng lưới hoạt động, kể cả hệ thống chi nhánh và kênh phân phối

phi vật lý.

- Phát triển thương hiệu.

3.1.2. Các m c tiêu c thể

a. Phấn đấu đạt các chỉ tiêu kế hoạch kinh doanh năm 2013

STT Chỉ tiêu Kế hoạch 2013 Thực hiện 2012 % T ng

1 Huy động vốn 298.977 350.380 17,19

2 Dư nợ 120.134 140.150 16,66

b. Về huy động vốn từ tiền gửi tiết kiệm dân cư, Chi nhánh cũng đưa ra một số nhiệm vụ như sau:

- Tiếp tục coi HĐV từ tiền gửi tiết kiệm dân cư là nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu cần phải tập trung thực hiện, trong đó đặc biệt chú trọng HĐV nguồn vốn trung dài

hạn. Thông qua việc tăng cường tiếp thị nhóm khách hàng VIP để vừa tăng quy mô huy động, vừa tăng tính ổn định của nền vốn.

- Quán triệt chủ trương bình ổn lãi suất, bám sát các chỉ đạo điều hành về lãi suất của NHNN, theo dõi biến động thị trường, điều hành lãi suất huy động, cho vay theo hướng linh hoạt, thận trọng, vừa đảm bảo chênh lệch lãi suất đầu ra – đầu vào, vừa giữ vững được nền vốn và đảm bảo thực hiện theo đúng quy định.

- Tiếp tục triển khai tích cực, có hiệu quả các gói sản phẩm HĐV từ tiền gửi tiết

kiệm dân cư mới nhằm tăng thêm số lượng khách hàng, gia tăng nền vốn hiện có.

- Rà soát, đánh giá mạng lưới hoạt động để có kế hoạch sắp xếp lại nhằm nâng

cao hiệu quả HĐV từ tiền gửi tiết kiệm dân cư.

64

- Đổi mới phong cách giao dịch, giảm thiểu thời gian giao dịch, thường xuyên đào tạo cán bộ để tăng tính chuyên nghiệp trong HĐV nói riêng và tất cả các hoạt động của Chi nhánh nói chung, tạo ấn tượng tốt với khách hàng về VIB.

- Các đồng chí Phó Giám đốc tiếp tục tăng cường chỉ đạo, điều hành đối với việc thực hiện công tác HĐV của các đơn vị do mình phụ trách, có biện pháp chỉ đạo

kịp thời nhằm giữ vững tính ổn định của nền vốn.

- Trên cơ sở nhận định thị trường vốn sẽ biến động phức tạp, khả năng huy động vốn từ tiền gửi tiết kiệm dân cư sẽ khó khăn, Chi nhánh cần yêu cầu các bộ phận

tập trung cao độ, quyết liệt trong công tác HĐV, phấn đấu trước mắt giữ vững nền vốn

đã có trong năm 2012 và hoàn thành vượt mức kế hoạch HĐV quý I/2013 được giao.

- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, quảng cáo.

3.2. Các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động huy động tiền gửi tiết kiệm dân cƣ tại Ngân hàng Thƣơng mại Cổ phần Quốc tế Việt Nam – Chi nhánh

Phạm Ngọc Thạch

3.2.1. Gắn iền công tác huy động nguồn vốn tiền gửi tiết kiệm dân cƣ với sử

d ng vốn có hiệu quả

Công tác huy động vốn từ nguồn TGTK dân cư và sử dụng vốn của chi nhánh có

mối liên hệ mật thiết với nhau. Hoạt động kinh doanh của chi nhánh có tốt hay không

không chỉ dựa vào việc chi nhánh huy động được nhiều vốn hay không mà còn thể hiện qua cách chi nhánh sử dụng nguồn vốn đó như thế nào. Nếu chi nhánh không tận

dụng một cách có hiệu quả nguồn vốn TGTK huy động được sẽ dẫn tới thu nhập của

chi nhánh không đủ bù cho chi phí, làm giảm sút lợi nhuận kinh doanh.

Tùy từng giai đoạn, ban lãnh đạo chi nhánh cần đưa ra những phương hướng phù

hợp và cụ thể đối với công tác huy động vốn nói chung, huy động TGTK nói riêng và

công tác sử dụng vốn sao cho đảm bảo mối tương quan hợp lý và hiệu quả giữa các

hoạt động này, vừa tăng thêm lợi nhuận vừa góp phần giảm thiểu rủi ro kinh doanh

cho chi nhánh. Trong giai đoạn 2010-2012, nguồn huy động TGTK dài hạn của chi

nhánh chưa đủ đáp ứng nhu cầu vay dài hạn của khách hàng, chi nhánh phải sử dụng

một phần nguồn huy động TGTK ngắn hạn để cho vay nên có thể phải đổi mặt với rủi ro thanh khoản tạm thời. Bởi vậy, chi nhánh cần thường xuyên cân đối kì hạn huy động vốn với kì hạn sử dụng vốn, tránh dùng quá nhiều nguồn vốn huy động từ TGTK ngắn hạn để cho vay dài hạn nhằm ngăn chặn nguy cơ mất khả năng thanh khoản của chi nhánh.

3.2.2. Đa dạng hóa các hình th c huy động tiền gửi tiết kiệm dân cƣ

Đối tượng khách hàng là dân cư mà chi nhánh hướng tới vốn rất phong phú về thành phần cũng như những nhu cầu, mong muốn. Chi nhánh cần phải đáp ứng tốt

65

nhất các yêu cầu của nhóm đối tượng hết sức đa dạng này, nhằm nâng cao hiệu quả

huy động nguồn TGTK dồi dào và tiềm năng trong dân chúng, nâng cao hiệu quả kinh doanh cũng như khả năng cạnh tranh của chi nhánh nói riêng và của Ngân hàng TMCP

Quốc tế VIB nói chung. Chính vì vậy, việc đa dạng hóa các hình thức huy động TGTK

dân cư có ý nghĩa rất quan trọng khi mà thực tế là hiện nay các hình thức huy động

TGTK của chi nhánh vẫn còn chưa đáp ứng đầy đủ,kịp thời nhu cầu của khách hàng. Chi nhánh có thể xem xét một số giải pháp đa dạng hóa các hình thức huy động TGTK

dân cư như sau

Đối với TGTK không kì hạn, chi nhánh mở các loại tài khoản với các khách hàng

thường xuyên giao dịch, một khách hàng có thể mở hai, ba tài khoản để tạo điều kiện

thuận lợi nhất cho họ. Chi nhánh luôn tạo điều kiện và hướng dẫn chi tiết cho khách

hàng chuyển số dư từ tài khoản này sang tài khoản khác nếu có nhu cầu.

Đối với TGTK có kì hạn, hiện nay chi nhánh mới có các kì hạn gửi tiền từ 1 tuần

tới 24 tháng, bởi vậy chi nhánh cần bổ sung thêm các kì hạn theo ngày và các kì hạn

dài hạn hơn như 5 năm, 10 năm … vì khách hàng hoàn toàn có thể có nhu cầu gửi tiết

kiệm theo các kì hạn đó. Tương ứng với mỗi kì hạn, chi nhánh cần xác định một mức

lãi suất hợp lý. Đó là mức lãi suất hấp dẫn đối với khách hàng, đồng thời phải đảm bảo

nguyên tắc lãi suất trả cho TGTK có kì hạn dài cao hơn lãi suất trả cho kì hạn ngắn và

cần cân đối sao cho lãi suất không cao hơn lợi nhuận bình quân, tránh việc lãi suất đầu vào cao kéo theo lãi suất đầu ra cao, gây ảnh hưởng tới các hoạt động tín dụng, đầu tư

cũng như lợi nhuận của chi nhánh.

Đa dạng hóa các hình thức huy động TGTK còn thể hiện ở chỗ chi nhánh cung

cấp thêm các sản phẩm TGTK so với các gói sản phẩm truyền thống hiện tại, dựa trên

nghiên cứu nhu cầu, đặc điểm của dân cư trên địa bàn. Hiện nay có một số loại hình

tiết kiệm có ý nghĩa thiết thực, thu hút được nhiều người dân mà một số ngân hàng đã

áp dụng nhưng chưa được triển khai tại VIB, chi nhánh có thể tham khảo và đề xuất

ngân hàng mở thêm các loại hình này nhằm thu hút khách hàng. Ví dụ như :

- Hình thức tiết kiệm hưu trí: dành cho những người muốn để dành một phần thu nhập hiện tại để chi dùng trong tương lai khi về già bằng cách trích thu nhập hàng tháng gửi vào tài khoản TGTK mở tại ngân hàng.

- Hình thức tiết kiệm học đường : dành cho các bậc phụ huynh có con nhỏ, họ muốn tiết kiệm một khoản tiền cho con mình, phục vụ cho việc học đại học, đi du học… trong tương lai.

- Hình thức tiết kiệm nhà ở : dành cho những người có thu nhập thấp hoặc trung bình có nhu cầu mua nhà, họ có thể mở tài khoản TGTK tại chi nhánh với các kì hạn phù hợp theo nhu cầu. Khách hàng rút tiền đúng hạn mà vẫn chưa đủ số tiền cần thiết

để mua nhà thì chi nhánh có thể tạo điều kiện cho khách hàng vay với mức lãi suất ưu

66

đãi. Bên cạnh đó, chi nhánh còn có thể tăng cường tính hấp dẫn của hình thức tiết kiệm

này, thu hút thêm khách hàng bằng cách đứng ra làm trung gian môi giới giữa khách hàng với các tổ chức, doanh nghiệp cung cấp các sản phẩm nhà ở mà khách hàng có

nhu cầu, chi nhánh giới thiệu các sản phẩm có giá cả hợp lý,phù hợp với điều kiện của

khách hàng.

Ngoài ra, chi nhánh cũng nên xem xét việc đa dạng hóa các hình thức hưởng lãi dành cho khách hàng gửi tiết kiệm tại chi nhánh. Ví dụ khách hàng có nhu cầu rút một

phần tiền trước hạn thì có thể được hưởng lãi suất theo kì hạn gần nhất với kì hạn rút

tiền của khách hàng, thay vì việc chỉ được hưởng lãi suất không kì hạn như hiện nay.

3.2.3. T ng cƣờng hoạt động quảng cáo, tiếp thị

Hoạt động marketing nói chung và công tác quảng cáo, tiếp thị nói riêng ngày càng khẳng định được vị trí quan trọng không thể thiếu đối với việc xây dựng hình

ảnh, khẳng định uy tín và nâng tầm thương hiệu của mỗi ngân hàng. Thông qua các hoạt động này, ngân hàng gửi đi các thông điệp về những giá trị tốt đẹp mà khách hàng

được hưởng khi đến với ngân hàng. Đối với người dân, khi muốn gửi tiết kiệm, họ

thường lựa chọn các ngân hàng mà họ đánh giá là có chất lượng tốt, cung cấp các gói

tiết kiệm hấp dẫn, an toàn, uy tín và tin cậy. Để cung cấp các thông tin về ngân hàng,

về chi nhánh và tạo ấn tượng tốt với người dân thì quảng cáo, tiếp thị là một kênh hữu

hiệu nếu được thực hiện một cách đúng đắn, có tính toán cẩn thận, chính xác.

Hiện tại, công tác quảng cáo, tiếp thị đã được VIB cũng như chi nhánh Phạm

Ngọc Thạch triển khai tuy nhiên vẫn chưa thực sự đặc sắc, chưa gây được ấn tượng

mạnh đối với công chúng. Chính vì vậy,trong thời gian tới, ngân hàng cần đẩy mạnh

triển khai có hiệu quả hơn nữa các hình thức tuyên truyền, quảng bá hình ảnh cũng

như các sản phẩm của ngân hàng và của chi nhánh. Bộ phận phụ trách marketing cần

tự lên ý tưởng hoặc hợp tác với các công ty quảng cáo để thiết kế các đoạn quảng cáo

ngắn gọn dễ hiểu nhưng có khả năng cung cấp các thông tin có giá trị và thu hút được

sự chú ý của người dân, đặc biệt phải làm nổi bật được sự khác biệt so với các sản phẩm cùng loại của ngân hàng khác. Quảng cáo về các gói sản phẩm TGTK cần đưa

vào những hình ảnh phù hợp với từng nhóm đối tượng khách hàng cụ thể, tương ứng với các loại hình gửi tiết kiệm ngân hàng đã hoặc sẽ cung cấp tới khách hàng, ví dụ

quảng cáo về sản phẩm TGTK hưu trí sẽ có cách thể hiện khác so với sản phẩm TGTK học đường, quảng cáo các sản phẩm đặc thù sẽ khác so với quảng cáo về hình thức tiết kiệm thông thường… VIB nên tăng cường quảng cáo trên truyền hình vào các khung giờ vàng, đặc biệt với các sản phẩm TGTK của ngân hàng, vì đây là kênh mà hầu hết người dân đều dễ dàng tiếp cận. Bên cạnh đó, với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin như hiện nay thì ngân hàng cũng như chi nhánh rất nên tăng cường việc quảng cáo trên Internet vì đây là một kênh có tốc độ lan truyền thông tin nhanh chóng

67

mà chi phí lại thấp hơn so với quảng cáo trên truyền hình. Chi nhánh phát hành tờ rơi,

catalo, dán áp phích quảng cáo về các hình thức huy động TGTK dân cư của chi nhánh nhằm cung cấp tới người dân các thông tin về kì hạn, lãi suất, các ưu đãi và tiện ích

kèm theo khi gửi tiết kiệm tại chi nhánh. Ngoài ra, chi nhánh có thể thành lập riêng

một bộ phận chuyên trách công tác marketing trực tiếp, cụ thể là các hình thức như gọi

điện thoại, gửi thư, gửi email nhằm tiếp cận với khách hàng, giới thiệu các gói sản phẩm TGTK của chi nhánh, tư vấn, hướng dẫn tận tình nếu khách hàng có nhu cầu

hoặc tìm cách khơi gợi nhu cầu, thuyết phục khách hàng gửi tiết kiệm tại chi nhánh

nếu khách hàng chưa có kế hoạch cụ thể về việc sử dụng khoản tiền nhàn rỗi của mình

như thế nào.

3.2.4. Chú trọng chính sách khách hàng, phát huy tối đa yếu tố con ngƣời

Khách hàng là đối tượng mà mọi tổ chức, doanh nghiệp hoạt động kinh doanh

trên bất cứ lĩnh vực nào cũng phải hướng tới và làm thỏa mãn nhu cầu của họ. Đối với hoạt động ngân hàng thì khách hàng càng đóng vai trò quan trọng hơn vì họ vừa là

người cung cấp vốn, vừa là người tiêu thụ các dịch vụ của ngân hàng. Trong hoạt động

huy động TGTK dân cư, ngân hàng cần đặc biệt chú trọng chính sách khách hàng do

đây là nhóm đối tượng khách hàng cá nhân hết sức đa dạng và phức tạp về nhu cầu,

suy nghĩ, sở thích, cá tính. Chỉ một thay đổi nhỏ về mặt tâm lí cũng có thể khiến họ

thay đổi quyết định của mình và đôi khi các quyết định đó không có lợi cho ngân hàng,

ví dụ như khách hàng không tìm được sản phẩm TGTK như mong muốn, không được

tư vấn cụ thể, không hài lòng với thái độ phục vụ của nhân viên tại chi nhánh, vv…,họ

sẽ cảm thấy không hài lòng thậm chí có thể chuyển sang sử dụng dịch vụ của ngân

hàng khác. Bởi vậy mà chi nhánh luôn cần coi trọng và nâng cao tính hiệu quả của

chính sách khách hàng, nhằm thỏa mãn khách hàng, nâng cao uy tín cũng như khả

năng cạnh tranh của chi nhánh.

Để triển khai tốt hơn chính sách khách hàng, chi nhánh VIB Phạm Ngọc Thạch

cần thực hiện các biện pháp cụ thể sau :

Trước tiên cần nhận thức rõ vai trò quan trọng của nguồn nhân lực, đặc biệt là

đội ngũ giao dịch viên vì họ là những người trực tiếp làm việc với khách hàng nên những ấn tượng đầu tiên của khách hàng về chi nhánh thường xuất phát từ cảm nhận

về phong cách và thái độ phục vụ của nhân viên giao dịch. Đội ngũ nhân viên của chi nhánh hiện nay đa phần còn trẻ tuổi, chưa có nhiều kinh nghiệm nên có lúc còn chưa đáp ứng đầy đủ kịp thời yêu cầu công việc đặt ra, chính vì thế mà chi nhánh cần quan tâm chú trọng hơn nữa tới công tác đào tạo, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, đào tạo các kiến thức về nội qui, tác phong, văn hóa ngân hàng, cũng như các kĩ năng cần thiết khác nhằm xây dựng hình ảnh đội ngũ cán bộ nhân viên chi nhánh có trình độ chuyên môn cao, chuyên nghiệp, nhiệt tình, thân thiện, có khả năng đáp ứng tốt nhất

68

nhu cầu của khách hàng. Hình thức đào tạo có thể là tổ chức các khóa học ngắn hạn

trong nước hoặc cử nhân viên đi học hỏi kinh nghiệm tại một số nước trong khu vực có ngành ngân hàng phát triển, đặc biệt là về mảng huy động tiền gửi tiết kiệm dân cư.

Chi nhánh cần đưa ra các chính sách thưởng phạt phân minh đối với nhân viên, có các

hình thức khuyến khích nhân viên tự học tập nâng cao trình độ, sáng tạo một cách hợp

lý, khen thưởng các nhân viên làm việc tích cực có hiệu quả cũng như phê bình nhắc nhở các nhân viên còn gây ra thiếu sót trong quá trình tác nghiệp. Tất cả các biện pháp

nâng cao chất lượng đội ngũ nguồn nhân lực của chi nhánh đều nhằm mục tiêu củng

cố và hoàn thiện chính sách khách hàng theo hướng phục vụ tốt nhất, đáp ứng nhu cầu

khách hàng ở mức cao nhất. Chi nhánh nên thành lập phòng marketing nhằm phân loại

cũng như nghiên cứu sâu hơn về nhu cầu của từng nhóm dân cư trên địa bàn để có thể

đáp ứng khách hàng tốt hơn. Từ công tác nghiên cứu, chi nhánh có thể nhận biết và dự

đoán các xu hướng trong nhu cầu của khách hàng về các sản phẩm tiền gửi tiết kiệm,

xác định được sản phẩm nào được nhiều khách hàng quan tâm và lựa chọn, sản phẩm

nào cần thay đổi cho phù hợp hơn hay cần mở thêm các loại hình tiết kiệm nào để thỏa

mãn các yêu cầu, mong muốn cụ thể từ phía khách hàng.

Ngoài ra, chi nhánh nên có thêm nhiều chính sách chăm sóc khách hàng hấp dẫn

hơn, ví dụ như tặng quà giá trị cho khách hàng lớn, khách hàng quen thuộc vào các dịp

lễ tết hay vào sinh nhật của họ, tổ chức thêm các sự kiện quay số trúng thưởng, bốc thăm may mắn…vào các dịp đặc biệt. Các hình thức này thể hiện sự quan tâm, trân

trọng dành cho khách hàng, mặt khác còn thu hút và làm hài lòng khách hàng, góp

phần nâng cao hiệu quả hoạt động huy động tiền gửi tiết kiệm dân cư.

3.2.5. Hiện đại hóa công nghệ ngân hàng

Cùng với sự phát triển nhanh chóng của các ngành khoa học công nghệ nói

chung, công nghệ ngân hàng đã và đang khẳng định vai trò quan trọng và sự hỗ trợ đắc

lực đối với hoạt động kinh doanh của mọi ngân hàng. Khi mà các sản phẩm tương tự

nhau giữa các ngân hàng khó để tạo nên sự khác biệt nổi trội thì yếu tố công nghệ góp phần không nhỏ vào quyết định lựa chọn của khách hàng. Chi nhánh VIB Phạm Ngọc

Thạch luôn cần quan tâm chú ý, không ngừng nâng cao các tiện ích công nghệ ngân hàng nhằm cung cấp dịch vụ tốt nhất, mang lại sự hài lòng, yên tâm cho khách hàng.

Một số giải pháp về công nghệ ngân hàng có liên quan tới hoạt động huy động TGTK dân mà chi nhánh có thể thực hiện trong thời gian tới cụ thể là:

- Tiếp tục chú trọng hiện đại hóa công nghệ ngân hàng đặc biệt là công nghệ thông tin theo hướng tiên tiến, áp dụng các công nghệ mới trên thế giới nhằm giảm thời gian giao dịch, đảm bảo tính chính xác, an toàn bảo mật của từng giao dịch. Ví dụ chi nhánh nên trang bị hệ thống phát số tự động cho các khách hàng tới giao dịch. Tới lượt khách hàng nào sẽ có thông báo gọi khách hàng theo mã số đã được phát. Việc

69

này tạo nên một tác phong chuyên nghiệp, hiện đại, văn minh, đồng thời giúp cho giao

dịch viên không bị phân tán bởi các khách hàng khác, giúp cho giao dịch diễn ra chính xác và nhanh chóng hơn. Ngoài ra, mỗi khách hàng gửi tiết kiệm tại chi nhánh đều

được cung cấp một mã số khách hàng riêng, quản lý trên hệ thống phần mềm, thông

tin khách hàng được bảo mật tuyệt đối.

- Trang bị đầy đủ các thiết bị, phương tiện kĩ thuật cần thiết trong quá trình tác nghiệp của cán bộ nhân viên chi nhánh. Đồng thời cần có sự đào tạo bài bản để họ có

khả năng làm chủ công nghệ, không bị bỡ ngỡ trước các công nghệ mới. Xây dựng các

chiến lược về công nghệ trong dài hạn, bao gồm các chiến lược củng cố và phát triển

hệ thống hạ tầng mạng và viễn thông, hệ thống Data Center, hệ thống bảo mật, hệ

thống Call center, hệ thống giám sát và quản trị. Chi nhánh định kì duy trì việc bảo trì,

bảo dưỡng trang thiết bị công nghệ, hệ thống máy móc, phần mềm tại chi nhánh, phát

hiện và sửa chữa kịp thời các hỏng hóc hay lỗi kĩ thuật nếu có.

- Áp dụng hệ thống quản lý chất lượng ISO9000 cho các nghiệp vụ huy động vốn, cho vay, marketing, quản trị hành chính tại chi nhánh nhằm nâng cao hiệu quả

quản lí điều hành, tránh chồng chéo giữa các bộ phận nghiệp vụ, nâng cao tính tự chủ

của các phòng ban chuyên môn, hướng tới mục tiêu cao nhất là thỏa mãn yêu cầu của

khách hàng ở mức tốt nhất. Mặt khác, do huy động TGTK dân cư là hoạt động huy

động vốn chủ yếu và quan trọng của chi nhánh nên chi nhánh có thể xây dựng phần mềm dành riêng cho việc quản lí các khoản TGTK của khách hàng. Tuy nhiên,mọi sự

thay đổi hay phát triển công nghệ của chi nhánh đều phải đồng bộ và có sự thống nhất

trong cùng hệ thống Ngân hàng TMCP Quốc tế VIB, tránh việc tự trang bị công nghệ

hay xây dựng các giải pháp đơn lẻ, không phù hợp và gây lãng phí.

3.3. Một số kiến nghị, đề xuất

3.3.1. iến nghị đối với Chính phủ

Chính phủ là cơ quan có vai trò điều hành mọi hoạt động của nền kinh tế, do vậy

Chính phủ rất quan trọng trong việc điều hướng mọi hoạt động của một quốc gia.

Chính phủ là cơ quan thực hiện luật pháp hóa các chủ trương, chính sách và những

biện pháp cần thiết trong từng giai đoạn, thừng thời kỳ nhằm thể hiện ý chí của cả nước. Hơn thế, Chính phủ cũng cần nắm bắt kịp thời những chi tiết chưa đầy đủ hoặc chưa cụ thể trong hệ thống luật pháp để từ đó từ đó tiến hành bổ sung, tạo điều kiện xây dựng môi trường pháp lý hoàn thiện và ổn định, đảm bảo cho mọi người dân an tâm và tin tưởng khi sống và làm việc trên lãnh thổ Việt Nam.

Đối với lĩnh vực tiền tệ tín dụng cũng như lĩnh vực ngân hàng và hoạt động ngân hàng, đặc biệt là hoạt động huy động vốn từ tiền gửi tiết kiệm dân cư, vẫn cần tiếp tục nhận được sự quan tâm và hỗ trợ nhiều từ phía Chính phủ. a. Ổn định kinh tế vĩ mô

70

Môi trường kinh tế vĩ mô có ảnh hưởng rất lớn đến công tác huy động vốn từ tiền

gửi tiết kiệm dân cư của ngân hàng. Nó tạo điều kiện nhưng cũng gây không ít khó khăn, cản trở công tác huy dộng nguồn vốn này. Ổn định kinh tế vĩ mô là thành quả

của sự phối hợp nhiều chính sách như chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ, chính

sách đối ngoại… trong đó chính sách tiền tệ có vai trò quan trọng đối với ngân hàng.

Một trong những nội dung của việc tạo lập kinh tế vĩ mô chính là việc chống lạm phát, ổn định tiền tệ. Nó chính là điều kiện cần thiết cho việc thực hiện các giải pháp

có hiệu quả. Thực tế đã chứng tỏ rằng, Nhà nước và các ngành trong đó, trước hết là

Chính phủ đã thành công trong việc kiểm soát lạm phát, xu hướng tăng giá cao không

còn, kinh tế vĩ mô ổn định hơn. Những giải pháp nhằm giảm thiểu lạm phát, ổn định

thị trường tiền tệ, hạn chế tình trạng đô la hóa đã mang lại hiệu quả tích cực cho thị

trường tiền tệ 6 tháng đầu năm 2013.

Trong giai đoạn tới, một trong những giải pháp ổn định chủ yếu là phải kiểm soát

và điều chỉnh cơ cấu đầu tư sao cho nền kinh tế tăng trưởng cao trong thế ổn định bền

vững, đồng thời cũng là điều kiện phát huy tác dụng của chính sách tiền tệ trong việc

điều tiết khối lượng tiền tệ trong lưu thông, mở rộng hoặc thu hẹp khối lượng tiền tệ

cung ứng cho phù hợp với các mục tiêu và sự biến động của nền kinh tế.

b. Tạo lập môi trường pháp lý

Việc ban hành hệ thống pháp lý đồng bộ và rõ ràng không chỉ tạo niềm tin cho

dân chúng mà những quy định, khuyến khích của nhà nước sẽ tác động trực tiếp đến

việc điều chỉnh tiêu dùng và tiết kiệm, chuyển một bộ phận tiêu dùng chưa cần thiết

sang đầu tư, chuyển dần tài sản cất giữ từ vàng, ngoại tệ hoặc bất động sản sang đầu tư

trực tiếp vào sản xuất kinh doanh hoặc gửi tiền vào ngân hàng. Nhà nước nên tiếp tục

có những chính sách khuyến khích người dân gửi tiết kiệm hơn nữa nhưng trước hết

các cơ quan nhà nước phải là người đi đầu trong công tác này.

Ngày nay, chúng ta đang tiếp tục phát triển nền kinh tế đất nước theo cơ chế thị

trường. Theo cơ chế này thì các doanh nghiệp, thành phần kinh tế tự do cạnh tranh và

phát triển, hệ thống các NHTM cũng vậy. Các NHTM cũng phải được tự do cạnh

tranh, loại bỏ những cá thể yếu kém ra khỏi hệ thống giúp nâng cao uy tín, nâng cao

sức mạnh cạnh tranh của hệ thống ngân hàng. Do đó, các cơ quan nhà nước không nên can thiệp sâu vào hoạt động của các NHTM mà cần tạo điều kiện để các NHTM hoạt động tốt. Hệ thống ngân hàng được coi là mạch máu của nền kinh tế do đó giữ cho hệ thống ngân hàng hoạt động một cách ổn định, hài hòa là một điều cần thiết. Vì vậy, chính phủ phải ban hành một hệ thống các quy định về hoạt động của các NHTM một cách thống nhất, đầy đủ giúp các ngân hàng hoạt động một cách dễ dàng. Hệ thống các văn bản pháp quy đó phải thống nhất nhưng không được chồng chéo, giúp cho các ngân hàng dễ dàng khi áp dụng.

71

Hệ thống các văn bản pháp quy phải đầy đủ thống nhất, không được chồng chéo

giúp cho các ngân hàng dễ dàng khi áp dụng. Hiện nay, hệ thống pháp luật nước ta đang dần được sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện nhưng thực tế vẫn còn nhiều hạn chế.

Trung bình mỗi năm lại có thêm khoảng 4.000 văn bản quy phạm pháp luật mới. Với

khối lượng lớn như vậy, lại liên tục thay đổi trong quá trình hoàn thiện, đã gây rất

nhiều khó khăn không chỉ cho người dân mà cả các ngân hàng khi tìm kiếm và xác định hiệu lực của nó. Việc Ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua Pháp lệnh hợp nhất

văn bản quy phạm pháp luật lợi thì có lợi, nhưng mới chỉ dừng lại ở hình thức hợp

nhất các nội dung đã sửa đổi, bổ sung thành một văn bản pháp luật có tính chính xác

hoàn toàn, tức là cắt dán, sao chép, tổng hợp lại để tiện mục đích tra cứu. Trong khi

đó, điều người dân và các chuyên gia pháp luật mong mỏi hơn cả là sau quá trình thực

hiện hợp nhất, phải có cơ chế loại bỏ các quy định chồng chéo, mâu thuẫn, từ đó hoàn

thiện hệ thống pháp luật. Đây chính là nhiệm vụ cần thiết của Nhà nước hiện nay, tạo

điều kiện cho các NHTM hoạt động lành mạnh, đạt hiệu quả cao.

3.3.2. iến nghị đối với Ngân hàng Nhà nƣớc

Với chức năng là cơ quan quản lý các NHTM và là ngân hàng của các ngân hàng,

NHNN có tầm quan trọng rất lớn đối với các chiến lược huy động vốn của các ngân

hàng, đồng thời cũng định hướng cho các NHTM trong việc phát triển đất nước. Chính

sách hợp lý và cách thức điều hành đúng đắn sẽ là tiền đề có tác động tích cực đối với

công tác huy động vốn, đặc biệt là huy động vốn từ tiền gửi tiết kiệm dân cư. Trong

thời gian tới, NHNN cần tiếp tục thực hiện một số nội dung sau nhằm hỗ trợ cho các

NHTM. a. Về hệ thống văn bản pháp lý

Hiện nay, các văn bản pháp luật mà NHNN ban hành để điều chỉnh hoạt động

của các NHTM vẫn còn mang tính chung chung, chưa có sự quy định cụ thể, rõ ràng

đối với từng hoạt động cụ thể. Trong khi đó, hoạt động của các NHTM ngày càng đa

dạng, phong phú và có nhiều phức tạp, chính vì vậy còn nhiều khó khăn cho các NHTM khi hoạt động trong những lĩnh vực mới. NHNN nên rà soát lại những văn bản

hiện hành để điều chỉnh lại cho phù hợp với tình hình thực tế. Ngoài ra, đối với những văn bản đã không còn phù hợp với thực trạng của nền kinh tế và xu hướng của thị

trường thì nên được thay bằng những văn bản mới. b. Về chính sách lãi suất

Lãi suất là công cụ quan trọng để ngân hàng huy động vốn hiện có trong tất cả các đối tượng, đặc biệt là dân cư. Chính sách lãi suất chỉ phát huy hiệu lực của nó đối với huy động vốn trong điều kiện tiền tệ ổn định, giá cả ít biến động.

Sử dụng chính sách lãi suất hợp lý sẽ thu hút ngày càng nhiều nguồn tiền gửi tiết kiệm cá nhân để phục vụ có hiệu quả cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Chính sách

72

lãi suất phải được xây dựng trên cơ sở khoa học thực tiễn, phù hợp với điều kiện phát

triển kinh tế xã hội từng thời kỳ. Việc NHNN sử dụng lãi suất cơ bản để quy định trần giới hạn tối đa huy động và cho vay của các NHTM là hợp lý, tránh được hiện tượng

cạnh tranh không lành mạnh, gây ra những biến động lớn trong hệ thống ngân hàng.

Tuy nhiên, NHNN cần điều chỉnh lãi suất cho hợp lý, theo từng thời kỳ. NHNN sẽ

xem xét bỏ trần lãi suất huy động khi thị trường tiền tệ ổn định và thanh khoản của hệ thống TCTD cải thiện vững chắc.. Bên cạnh đó, NHNN cần điều hành các mức lãi suất

như lãi suất chiết khấu, tái chiết khấu cho phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô, tiền tệ,

đặc biệt là diễn biến của lạm phát.

Trong bối cảnh tình hình kinh tế còn đang gặp nhiều khó khăn và tình hình kinh

doanh của các DN bị ảnh hưởng nghiêm trọng như hiện nay, việc NHNN liên tục giảm

lãi suất huy động vốn đã phần nào cởi nút thắt cho thị trường tài chính vốn đang bị bó

chặt bởi chính sách tiền tệ của Nhà nước.

Tiếp tục kiềm chế lạm phát ở mức độ vừa phải như hiện nay, ổn định giá trị đồng

nội tệ. Điều này có tác dụng thu hút tiền gửi của dân cư vào ngân hàng, tránh việc tích

trữ vàng, ngoại tệ và đầu tư vào hoạt động bất động sản; mặt khác có tác dụng giảm áp

lực tăng lãi suất. Trường hợp lạm phát của năm 2013 được kiểm soát ở mức thấp hơn

năm 2012, NHNN tiếp tục điều hành theo hướng giảm mặt bằng lãi suất phù hợp với

diễn biến lạm phát. c. Chính sách tỷ giá

Tỷ giá hối đoái là yếu tố rất nhạy cảm, không những ảnh hưởng đến hoạt động

huy động vốn nói chung và huy động vốn bằng tiền gửi tiết kiệm nói riêng mà còn ảnh

hưởng đến toàn bộ nền kinh tế. Ngân hàng nhà nước cần có chính sách tỷ giá hợp lý

nhằm mục tiêu ổn định tỷ giá, tránh sự biến động mạnh gây sự biến động trong nguồn

vốn của ngân hàng. Ổn định tỷ giá là điều kiện quan trọng để huy động nguồn vốn

trong và ngoài nước. Khi tỷ giá biến động nhanh thì mặc dù lãi suất ngoại tệ có hạ

xuống và lãi suất nội tệ đang ở mức khác cao thì nguồn huy động VND từ tiền gửi tiết

kiệm dân cư cũng không tăng trưởng đáng kể. Trong điều kiện đó doanh nghiệp có

nhu cầu vay vốn lại chuộng nội tệ hơn. Điều này gây áp lực lớn lên thị trường làm cho việc khan hiếm nội tệ thêm căng thẳng. Tỷ giá biến động nhanh cũng khiến cho ngân hàng tối đa hóa trạng thái ngoại hối của mình. Và cũng như vậy các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế và cá nhân dè dặt trong việc chuyển đổi ngoại tệ thành nội tệ. Do đó sẽ gây khó khăn cho các NHTM khi huy động vốn bằng nội tệ, trừ khi chính phủ có

chính sách bình ổn giá. Nếu tỷ giá ổn định thì các NHTM sẽ huy động được nhiều nội tệ mà không phải tăng lãi suất.

Trên cơ sở chỉ đạo của Chính phủ, mục tiêu điều hành chính sách tiền tệ của

NHNN và dự báo các chỉ số vĩ mô chủ chốt, Thống đốc NHNN đã đưa ra thông điệp

73

về điều hành tỷ giá trong năm 2013 là ổn định, nhưng không cố định, nếu có dao động

cũng chỉ khoảng 2 - 3%, điều này đòi hỏi phải linh hoạt hơn nữa trong việc can thiệp vào thị trường đúng lúc và đúng mực, tránh gây ra những biến động mạnh lên tỷ giá

hối đoái gây ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Để điều hành cơ

chế này, NHNN cần:

- Xác định một cơ cấu dự trữ ngoại tệ hợp lý trên cơ sở đa dạng hoá rổ ngoại tệ mạnh, không nên quá tập trung vào đồng USD. Cần có chính sách khuyến khích người

dân đa dạng hoá cơ cấu tiền tệ trong giao dịch gửi tiền tiết kiệm.

- Theo dõi sát diễn biến kinh tế vĩ mô (lạm phát, XNK, nợ nước ngoài, đầu tư nước ngoài, cán cân TTQT...; biến thị trường quốc tế, thị trường tiền tệ, ngoại hối

trong nước, đặc biệt là diễn biến cung cầu ngoại tệ; và kỳ vọng, đặc biệt kỳ vọng lạm

phát) cũng như các yếu tố vi mô, thực hiện các biện pháp điều hành phù hợp nhằm đưa

ra định hướng điều hành rõ ràng về trung, dài hạn, định hình kỳ vọng cho các bên

tham gia thị trường, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp chủ động trong lập và thực

hiện kế hoạch kinh doanh.

- Tăng cường và tập trung hơn nữa vào công tác quản lý ngoại hối. - Quản lý chặt chẽ việc mua bán ngoại tệ trên thị trường tự do. Đảm bảo việc thi

hành nghiêm túc Pháp lệnh ngoại hối của các cá nhân, tổ chức.

- Tiếp tục vận hành cơ chế điều hành tỷ giá như hiện nay theo hướng ngày càng nới rộng kiểm soát, khách quan, hướng tỷ giá theo sát với tỷ giá thị trường theo quan

hệ cung cầu, đảm bảo đáp ứng đủ nhu cầu ngoại tệ của nền kinh tế. Ngân hàng Nhà

nước phải đủ khả năng can thiệp để tỷ giá không có biến động lớn, gây xáo trộn hoạt

động của các tổ chức tín dụng, các tổ chức kinh tế và doanh nghiệp. d. Thực hiện công tác thanh tra kiểm tra

Thực hiện công tác thanh tra kiểm tra có hiệu quả nhất. Để được như vậy NHNN

cần phải thực hiện tốt chức năng quản lý Nhà nước, tăng cường các hoạt động thanh

tra, kiểm tra, chấn chỉnh, xử lý kịp thời những hành vi, những biểu hiện sai trái làm

thất thoát nguồn vốn của Nhà nước, của nhân dân; đưa hoạt động của tổ chức tín dụng

đi vào nề nếp và có hiệu quả, không ngừng nâng cao uy tín của hệ thống ngân hàng trong nền kinh tế.

3.3.3. iến nghị đối với Ngân hàng Thƣơng mại cổ phần Quốc tế Việt Nam

Chi nhánh VIB Phạm Ngọc Thạch là một thành viên thuộc hệ thống Ngân hàng TMCP Quốc tế, chịu sự giám sát quản lý của Ngõn hàng TMCP Quốc tế. Để nâng cao hiệu quả huy động TGTK dân cư của chi nhánh, Ngân hàng TMCP Quốc tế cần có những biện pháp cụ thể như:

- Ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam cần tạo điều kiện giúp đỡ về mặt thủ tục, văn bản hướng dẫn thủ tục có liên quan khi Chi nhánh khai thác được những khách

74

hàng có tính chất hoạt động trên toàn hệ thống. Bên cạnh đó, VIB có ý kiến với Hiệp

hội Ngân hàng Việt Nam, với NHNN có sự can thiệp về giá trên từng địa bàn để giảm bớt thiệt hại cho ngân hàng.

- Thường xuyên kiểm tra, chỉ đạo từ trung ương đến cơ sở để phát hiện và xử lý kịp thời những sai sót, đồng thời qua đó cũng tuyên truyền giới thiệu những thành viên

có kết quả hoạt động kinh doanh an toàn và hiệu quả để phổ biến kinh nghiệm cho các thành viên khác học tập, đặc biệt về công tác huy động vốn của ngân hàng.

- Tham gia hỗ trợ chi nhánh trong công tác quảng cáo tiếp thị khi đưa ra một loại hình dịch vụ mới, hoặc một hình thức huy động TGTK mới trong toàn hệ thống,

để tạo ra một chiến lược tổng thể nâng cao hiệu quả hoạt động.

- Tạo điều kiện cho cán bộ công nhân viên có điều kiện học tập, nâng cao trình độ chuyên môn cả trong và ngoài nước, đặc biệt là các nghiệp vụ kinh doanh ngân

hàng hiện đại. Kịp thời có các văn bản làm căn cứ pháp lý và cơ sở nghiệp vụ để mở

rộng các dịch vụ, sản phẩm TGTK.

- Hỗ trợ các Chi nhánh về tài chính để xây dựng trụ sở, đặt phòng giao dịch và các quỹ tiết kiệm, có như vậy mới mang tính ổn định lâu dài, đó là điều kiện đầu tiên

để tạo sự tin tưởng đối với khách hàng. Bên cạnh đó, VIB cũng cần Tăng cường cơ sở

vật chất theo hướng hiện đại hóa các trang thiết bị kỹ thuật phục vụ cho hoạt động

kinh doanh.

KẾT LUẬN CHƢƠNG 3

Chương 3 đã hoàn tất khóa luân với việc nêu lên các mục tiêu phát triển của

Ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam – Chi nhánh Phạm Ngọc Thạch trong những năm

tới, đồng thời đưa ra những giải pháp cụ thể cũng như một số kiến nghị đối với Chính

phủ, Ngân hàng Nhà nước và Ngân hàng Quốc tế VIB với mong muốn có thể góp

phần nâng cao hiệu quả hoạt động huy động vốn từ TGTK dân cư tại Ngân hàng

TMCP Quốc tế Việt Nam – Chi nhánh Phạm Ngọc Thạch.

75

KẾT LUẬN

Hoạt động huy động tiền gửi tiết kiệm từ các tầng lớp dân cư đã và đang ngày càng khẳng định vai trò quan trọng không thể thiếu đối với công tác huy động vốn nói

riêng và hoạt động kinh doanh nói chung của các ngân hàng thương mại. Huy động

TGTK không chỉ tạo thuận lợi cho ngân hàng mà còn mang lại nhiều lợi ích cho người

dân với việc bảo đảm an toàn đồng thời còn sinh lời cho các khoản tiền nhàn rỗi của họ, từ đó góp phần tích cực vào công cuộc phát triển kinh tế xã hội của đất nước.

Việc nâng cao hiệu quả hoạt động huy động vốn từ TGTK dân cư là đòi hỏi

mang tính cấp thiết vì nó không những mang lại lợi nhuận cho Ngân hàng Quốc tế

VIB hay chi nhánh VIB Phạm Ngọc Thạch mà còn phục vụ thiết thực cho việc thúc

đẩy phát triển kinh tế quốc dân trên địa bàn. Để thực hiện được mục tiêu này đòi hỏi

sự nỗ lực và phối hợp đồng bộ từ nhiều phía, bao gồm bản thân chi nhánh, bản thân

ngân hàng và cả sự hỗ trợ của NHNN cũng như Chính phủ.

Trong quá trình thực tập tích lũy kinh nghiệm thực tế, em đã học hỏi và trang bị

được những kiến thức bổ ích, qua đó hoàn thành đề tài khóa luận “Nâng cao hiệu quả

hoạt động huy động vốn từ tiền gửi tiết kiệm dân cư tại Ngân hàng Thương mại Cổ

phần Quốc tế Việt Nam – Chi nhánh Phạm Ngọc Thạch”

Tuy nhiên, do thực tế kinh doanh phong phú, đa dạng, bản thân em hạn chế về

thời gian hơn nữa khả năng có hạn, nên khóa luận không thể tránh khỏi những thiếu sót về mặt nội dung cũng như hình thức, em rất mong nhận được sự đóng góp của thầy

cô và các bạn để khóa luận được hoàn thiện hơn.

Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn TS. Nguyễn Thị Thúy cùng các anh chị

tại chi nhánh VIB Phạm Ngọc Thạch đã nhiệt tình giúp đỡ em trong quá trình thực tập

và thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp.

Hà Nội, ngày 8 tháng 8 n m 2013

Sinh viên

Phạm Hà Châu

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Nguyễn Văn Tiến (2009), “Giáo trình ngân hàng thương mại”, Nhà xuất bản Thống

2. Lưu Thị Hương, Vũ Duy Hào (2007), “Giáo trình tài chính doanh nghiệp”, Nhà

xuất bản Đại học kinh tế quốc dân.

3. Luật Ngân hàng Nhà nước và Luật Các Tổ chức tín dụng (2010) 4. Báo cáo kết quả kinh doanh hàng năm của chi nhánh VIB Phạm Ngọc Thạch 5. Tạp chí Đầu tư – Phát triển, tháng 12, năm 2012 6. Thông tư 02/TT-NHNN ngày 3/3/2011 của Ngân hàng nhà nước 7. Frederic S.Mishkin, “Giáo trình tiền tệ, ngân hàng và thị trường tài chính”. 8. Một số tài liệu tham khảo khác