TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐÀ LẠT

KHOA SINH HỌC

  

TẠ KIỀU OANH

KHẢO SÁT HIỆU QUẢ

CỦA THANH TRÙNG LÊN MỘT SỐ

CHỈ TIÊU CHẤT LƯỢNG CỦA RƯỢU VANG

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC KHOÁ 29

NGÀNH CÔNG NGHỆ SINH HỌC

Đà Lạt/05/2009

TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐÀ LẠT

KHOA SINH HỌC

***

KHẢO SÁT HIỆU QUẢ

CỦA THANH TRÙNG LÊN MỘT SỐ

CHỈ TIÊU CHẤT LƯỢNG CỦA RƯỢU VANG

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC KHOÁ 29

NGÀNH CÔNG NGHỆ SINH HỌC

Cán bộ hướng dẫn: GV. Đào Trọng Phương

Sinh viên thực hiện: Tạ Kiều Oanh

Đà Lạt/05/2009

LỜI CAM ĐOAN

oOo

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi. Những kết quả và số liệu

trong khóa luận chưa được ai công bố dưới bất kỳ hình thức nào.

Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước nhà trường về sự cam đoan này.

Đà Lạt, ngày 03 tháng 06 năm 2009

Người cam kết

Tạ Kiều Oanh

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ quý báu, sự

chỉ bảo tận tình cùng những điều kiện tốt nhất từ quý thầy cô, gia đình, anh chị và các

bạn học. Tất cả, đã và đang là nguồn động viên, động lực to lớn cho tôi tự tin và vững

bước trên con đường học vấn đầy khó khăn. Sau đây, tôi xin gởi lời cảm ơn chân thành

đến:

Ban Giám hiệu trường Đại học Đà Lạt và các phòng ban đã tạo điều kiện thuận

lợi cho tôi hoàn thành tốt chương trình học ở trường.

Quý thầy cô khoa Sinh học trường Đại học Đà Lạt đã dạy dỗ và truyền đạt

nhiều kiến thức quý báu cho tôi trong suốt bốn năm học vừa qua.

Thầy Đào Trọng Phương – Giảng viên trường Đại học Đà Lạt đã trực tiếp giảng

dạy, hướng dẫn và chỉ bảo tận tình giúp tôi hoàn thành luận văn này.

Quý thầy cô trong công ty Cổ phần rượu bia Đà Lạt (Beco Đà Lạt), quý cán bộ,

công nhân viên khoa xét nghiệm – trung tâm Y tế Dự phòng Lâm Đồng đã tạo điều

kiện cho tôi về cơ sở vật chất cũng như sự giúp đỡ tận tình trong suốt quá trình thực

hiện đề tài này.

Bố, mẹ và gia đình luôn ủng hộ, là chỗ dựa tinh thần và cùng tôi chia sẻ những

khó khăn, thách thức trên bước đường học vấn.

Cuối cùng, tôi xin cảm ơn các anh chị khóa trên và các bạn học đã nhiệt tình

giúp đỡ để tôi hoàn thành khóa luận này.

Một lần nữa, tôi xin chân thành cảm ơn!

Sinh viên: Tạ Kiều Oanh

MỤC LỤC

Trang

Lời cảm ơn

MỞ ĐẦU

Phần 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Giới thiệu về rượu vang .....................................................................1

1.2. Phân loại rượu vang ..........................................................................2

1.2.1. Phân loại theo độ ngọt

1.2.2. Phân loại theo quá trình lên men

2

1.2.3. Phân loại theo lượng CO

1.2.4. Phân loại theo màu

1.2.5. Phân loại theo nơi sản xuất

1.3. Một số thành phần trong rượu vang ...................................................4

1.3.1. Tanin

1.3.2. Acid hữu cơ

1.3.3. Ethanol

1.3.4. Hệ nấm men, nấm mốc

1.3.5. Đường

1.3.6. Vitamin

1.3.7. Muối khoáng

1.3.8. Chất thơm

1.4. Tiêu chuẩn Việt Nam đối với chất lượng rượu vang ..........................7

1.4.1. Các chỉ tiêu hóa học của rượu vang ........................................7

1.4.1.1. Methanol

1.4.1.2. Acid bay hơi

2

1.4.1.3. SO

1.4.1.4. Xianua

1.4.2. Các chỉ tiêu vi sinh vật của rượu vang ....................................9

1.4.2.1. Vi sinh vật hiếu khí

1.4.2.2. E. coli

1.4.2.3. Coliform

1.4.2.4. Clostridium perfringens

1.4.2.5. Staphylococcus aureus

1.4.2.6. Nấm men, nấm mốc

1.5. Tình hình sản xuất rượu vang trên thế giới

và ngành rượu vang ở Việt Nam ...................................................... 13

1.5.1. Thị trường rượu vang ............................................................ 13

1.5.2. Ngành rượu vang ở Việt Nam ............................................... 14

1.6. Sơ đồ quy trình sản xuất rượu vang ở công ty

cổ phần rượu bia Đà Lạt .................................................................. 15

Phần 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu ...................................................................... 16

2.2. Phương pháp nghiên cứu ................................................................. 16

1.2.1. Thu lấy mẫu và bảo quản mẫu .............................................. 16

1.2.2. Đồng nhất mẫu và pha loãng mẫu ......................................... 16

1.2.3. Phương pháp phân tích các chỉ tiêu vi sinh vật ...................... 17

1.2.3.1. Kiểm tra tổng số vi khuẩn hiếu khí

1.2.3.2. Kiểm tra tổng số nấm men, nấm mốc

1.2.3.3. Kiểm tra Coliform

1.2.3.4. Kiểm tra E. coli

1.2.3.5. Kiểm tra tụ cầu khuẩn

1.2.3.6. Kiểm tra vi khuẩn kỵ khí

1.2.4. Phương pháp phân tích các chỉ tiêu hóa lý ............................ 22

1.2.4.1. Phương pháp xác định độ cồn

1.2.4.2. Phương pháp xác định hàm lượng acid tổng số

1.2.4.3. Phương pháp xác định hàm lượng acid bay hơi

1.2.4.4. Phương pháp xác định hàm lượng aldehyde

Phần 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Các chỉ tiêu vi sinh vật .................................................................... 26

3.2. Các chỉ tiêu hóa lý ........................................................................... 32

3.2.1. Nồng độ cồn ......................................................................... 32

3.2.2. Hàm lượng acid tổng số, acid bay hơi và aldehyde ............... 32

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Khoá luận tốt nghiệp

MỞ ĐẦU

Trái cây tươi không những là sản phẩm có giá trị dinh dưỡng cao, mà còn là

thực phẩm tươi phục vụ trực tiếp trong đời sống hàng ngày như cung cấp vitamin, acid

hữu cơ, muối khoáng ... cho con người. Nước ta có khí hậu nhiệt đới ẩm nên việc bảo

quản trái cây tươi là rất khó, dễ bị thối, hỏng sau khi thu hoạch và vận chuyển làm

giảm phẩm chất ban đầu của trái cây, do đó bên cạnh việc bảo quản trái cây tươi, việc

chế biến các loại trái cây cũng có ý nghĩa hết sức quan trọng nhằm nâng cao giá trị sử

dụng của các loại trái cây và phù hợp với nhu cầu, thị hiếu của người tiêu dùng, đồng

thời tạo ra ngành sản xuất mới góp phần tạo việc làm ổn định và tăng thu nhập cho

người sản xuất và đóng góp vào sự phát triển của nền kinh tế quốc dân.

Từ lâu chúng ta đã biết chế biến trái cây bằng nhiều phương pháp tạo ra các sản

phẩm khác nhau nhưng vẫn giữ được giá trị dinh dưỡng và cung cấp năng lượng cho

con người như: sản phẩm trái cây ướp đường, trái cây nấu chín, mứt trái cây sấy khô,

dịch trái cây lên men để tạo ra các sản phẩm rượu, đặc biệt là rượu vang trái cây. Mỗi

loại trái cây sau khi lên men đều có hương vị thơm ngon riêng biệt cho ta cảm giác

sảng khoái. Nước ta là xứ sở của các loại trái cây nhiệt đới như: nho, xoài, dứa, mít…

có thể nói đây là nguồn nguyên liệu đa dạng, phong phú cho việc nghiên cứu và chế

biến các loại rượu vang trái cây.

Việc gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO đã tạo ra cho Việt Nam nhiều

cơ hội phát triển các ngành công nghiệp, trong đó có công nghiệp sản xuất rượu bia.

Hiện nay trên thị trường Việt Nam xuất hiện nhiều loại rượu vang trái cây. Trước đây

phần lớn là sản xuất ở quy mô gia đình, ngày nay đã phát triển ở quy mô công nghiệp.

Một số nhà máy lớn đã sử dụng dịch quả mơ, dâu, táo... để sản xuất như: rượu vang

Thăng Long, vang Gia Lâm, vang Đà Lạt, vang nho Dalat Beco… Ngoài ra, một số địa

phương như Vĩnh Phú tận dụng nguồn quả tự nhiên như chuối, dứa, mận, mơ... sản

xuất vang đạt tiêu chuẩn chất lượng cao. Ở một số cơ sở nhỏ như công ty ong Hà Nội,

công ty ong Nam Hà ... đã có những sản phẩm rượu vang đặc trưng. Đặc biệt Đà Lạt

nổi tiếng với các loại vang trắng, vang đỏ đã tạo được uy tín thương hiệu và chỗ đứng

Tạ Kiều Oanh – CS_K29

Khoá luận tốt nghiệp trên thị trường trong và ngoài nước. Tuy nhiên, trong điều kiện kinh tế xã hội hiện nay,

ngành công nghiệp sản xuất rượu bia nước ta đang phải đối mặt với những khó khăn,

thách thức không nhỏ. Tình hình ngộ độc thực phẩm, ngộ độc rượu bia đang là vấn đề

nhức nhối được xã hội quan tâm và cũng là một trong những khó khăn lớn mà ngành

công nghiệp sản xuất rượu bia Việt Nam phải vượt qua.

Chỉ trong vài ngày đầu Xuân Kỷ Sửu 2009 (từ ngày 29 đến ngày mùng 3 Tết

Âm Lịch), nhiều địa bàn đóng trên thành phố Hà Nội đã tiếp nhận hàng trăm ca cấp

cứu, chiếm đa phần trong số này là những trường hợp cấp cứu do ngộ độc rượu, bia.

Đáng chú ý, có không ít trường hợp đã tử vong do không được cấp cứu kịp thời. Bệnh

viện đa khoa Xanh Pôn, trong 5 ngày (24/01 đến 28/01) có 21 ca điều trị, cấp cứu liên

quan đến ngộ độc bia, rượu. Theo thống kê của Trung tâm chống độc – Bệnh viện

Bạch Mai, ngoài số ca nhập viện như ngày bình thường thì vào dịp Tết, có thêm 15

bệnh nhân bị trúng độc, ngộ độc mà nguyên nhân là do sử dụng rượu, bia Tết. Số bệnh

nhân nhiễm độc do rượu, bia chiếm gần 50% tổng số bệnh nhân.

Tình trạng bùng phát của các cơ sở sản xuất rượu giả, rượu không đúng tiêu

chuẩn chất lượng đã làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến ngành công nghiệp sản xuất

rượu bia còn nhỏ bé và mới phát triển ở nước ta. Rượu giả, rượu nhái không chỉ làm

ảnh hưởng đến uy tín, thương hiệu của các nhà sản xuất rượu chân chính mà còn gây

ra những hậu quả vô cùng nghiêm trọng, đặc biệt là đến sức khoẻ của người tiêu dùng.

Ở nước ta hiện nay, rượu giả, rượu nhái ngày càng nhiều và tinh vi đến trình độ “giả

như thật”. Bất kể loại rượu dù là trong nước hay nhập khẩu, một khi được thị trường

ưa chuộng là lập tức bị làm giả.

Kết quả phân tích một số lọai rượu giả thu được, nồng độ các chất, đặc biệt

lượng methanol khá cao. Trung tâm Y tế dự phòng Cần Thơ thông báo kết quả kiểm

nghiệm cho biết hàm lượng methanol có trong các mẫu rượu (thu được từ các quán có

rượu gây chết người) cao hơn nhiều so với hàm lượng cho phép . Đặc biệt có nhiều

hiệu rượu có tiếng tại Việt Nam (thí dụ Safoco) bị phát hiện là có chứa nồng độ cồn

methanol rất cao (17.2%) . Như thế, chỉ với 25ml loại rượu này cũng đủ làm chết

người.

Tạ Kiều Oanh – CS_K29

Khoá luận tốt nghiệp

Một thử thách nữa với ngành công nghiệp rượu bia ở nước ta là tình trạng rượu

ngoại xuất hiện ở khắp nơi, chiếm lĩnh thị trường rượu bia Việt Nam. Hàng loạt sản

phẩm rượu vang nổi tiếng có mặt tại thị trường Việt Nam đã và đang trở thành một

trong những món đồ uống yêu thích của người tiêu dùng: rượu vang Pháp, vang Mỹ,

vang Argentina, rượu vang Italia...

Để có thể vượt qua được những khó khăn, thử thách nói trên nhằm đưa ngành

công nghiệp sản xuất rượu bia phát triển, rất nhiều biện pháp đã được đưa ra và áp

dụng. Trong các biện pháp đó, việc nghiên cứu một số chỉ tiêu chất lượng quan trọng

của rượu vang, hoàn thiện quy trình sản xuất nhằm nâng cao chất lượng rượu vang nội

có ý nghĩa quyết định. Xuất phát từ lý do trên, tôi thực hiện đề tài: “Khảo sát hiệu quả

của thanh trùng lên một số chỉ tiêu chất lượng của rượu vang”.

Mục tiêu cụ thể của đề tài là: so sánh và phân tích các chỉ tiêu vi sinh, hóa lý

của rượu vang trước và sau khi thanh trùng, trên cơ sở đó đánh giá tác động c ủa khâu

thanh trùng lên chất lượng của rượu vang thành phẩm.

Do tiến hành trong thời gian hạn hẹp và bước đầu làm quen với công tác nghiên

cứu nên khó tránh khỏi thiếu sót. Kính mong ý kiến đóng góp từ quý thầy, cô và các

bạn quan tâm.

Tạ Kiều Oanh – CS_K29

Tổng Quan Tài Liệu

Khoá luận tốt nghiệp

1.1. GIỚI THIỆU VỀ RƯỢU VANG

Rượu vang là sản phẩm đuợc ưa chuộng nhiều trên thế giới vì hầu hết trong tất

cả các buổi lễ hội, các buổi tiệc gia đình, nó là một trong những đồ uống không thể

thiếu được. Rượu vang trái cây đã trở thành thức uống truyền thống từ xa xưa của

người Âu - Mỹ. Hiện nay, người châu Á cũng đã làm quen với rượu vang trái cây

trong mỗi bữa ăn.

Rượu vang (theo tiếng Pháp là vin) là từ được dùng để chỉ loại rượu lên men từ

dịch ép trái cây (nho, dâu, thơm, táo, lê, mơ, mận…). Một đặc điểm của rượu vang là

không qua chưng cất nên có hương vị của trái cây tự nhiên, có độ cồn nhẹ, là loại nước

giải khát thơm ngon, giàu chất bổ dưỡng.

Nguyên liệu chính để sản xuất rượu vang được s ử dụng phổ biến nhất vẫn là

nho nên nhiều người quen gọi rượu vang là rượu chát hoặc rượu nho. Trong số các loài

nho trồng thuộc giống Vitis thì loài Vitis vinifera, L. ssp vinifera xuất xứ từ châu Âu là

loài quan trọng nhất , người ta đã biết tới trên 8000 loại giống khác nhau. Vùng trồng

nho nổi tiếng và lâu đời nhất là vùng Địa Trung Hải.

Rượu đã được con người sản xuất và sử dụng từ rất lâu, vào khoảng 6000 năm

trước công nguyên (TCN), trong đó, rượu vang xuất hiện vào khoảng 4500 năm TCN,

đầu tiên là ở các nước châu Âu và phổ biến nhất là ở Hy Lạp cổ đại. Ngày nay các

nước Italia, Pháp và Tây Ban Nha nằm trong số các nước hàng đầu về sản xuất rượu

vang trên thế giới. Ngoài ra, còn có một số nước khác sản xuất rượu vang nhiều như

Argentina, Nga và Mỹ.

Hiện nay, trên thế giới xuất hiện khá nhiều nhãn hiệu vang nổi tiếng với những

đặc điểm tạo sự riêng biệt cho các loại rượu như: rượu vang Pháp (Vang Alsace,

Médoc, Haut Médoc, Graves Barsac, Sauternes, St Emillion, Pomerol, Cérons,

Loupiac, Fronsac, Bourg,…), vang Mỹ (Vang California Burgundy,…), vang Ruca

Malen của Argentina, Santa Cristina của Italia...

1

Tạ Kiều Oanh – CS_K29

Tổng Quan Tài Liệu

Khoá luận tốt nghiệp

Cùng với sự phát triển đó, Việt Nam nói chung và Đà Lạt nói riêng cũng đang

cố gắng thuyết phục thị trường phong phú này với các loại vang mang phong cách của

riêng mình với một số công ty như rượu vang của công ty Beco Đà Lạt, công ty

Langbiang, công ty Vĩnh Tiễn,…

1.2. PHÂN LOẠI RƯỢU VANG

Rượu vang có thể được phân loại theo nhiều tiêu chí khác nhau: phân loại theo

, theo màu rượu, theo nơi sản xuất. độ ngọt, theo quá trình lên men, theo lượng CO2

1.2.1. Phân loại theo độ ngọt

- Vang khô (Dry wine): được lên men toàn bộ đường có trong trái cây, hàm

lượng đường còn sót lại tối đa là 9 g/l.

- Vang bán ngọt (Semi – dry wine): có hàm lượng đường khoảng 9 – 18 g/l.

- Vang ngọt (Sweet wine): có hàm lượng đường cao hơn 25 g/l.

1.2.2. Phân loại theo quá trình lên men

- Rượu vang tự nhiên (Natural wine): không bổ sung thêm ethanol.

- Rượu vang cao độ (Fortified wine): bổ sung thêm ethanol.

2

1.2.3. Phân loại theo lượng CO

- Rượu vang không có gas (Table wine).

- Rượu vang có gas (Sparkling wine): gồm 2 loại là:

o Rượu vang có gas tự nhiên (Champagne): hình thành trong quá trình lên

men rượu.

trong quá o Rượu vang có gas nhân tạo (Carbonate wine): bổ sung CO2

trình sản xuất.

2

Tạ Kiều Oanh – CS_K29

Tổng Quan Tài Liệu

Khoá luận tốt nghiệp

1.2.4. Phân loại theo màu

- Rượu vang trắng (White wine): lên men từ nước ép quả và không có xác quả, ví

dụ như: Chablis, Chardonnay, Pinot Blanc, Rhine wine, Riesling…

- Rượu vang hồng (Rose wine): Rose, Vonorosso…

- Rượu vang đỏ (Red wine): lên men từ nước ép và vỏ quả , ví dụ như: Barbera,

Cabernet Sauvignon, Claret, Carnelian, Gamay, George, Pinot Noir, Merlot,…

1.2.5. Phân loại theo nơi sản xuất

- Phân loại theo quốc gia: rượu vang Pháp, rượu vang Úc, rượu vang Tây Ban

Nha, rượu vang Ý . . .

- Phân loại theo vùng: Bordeaux, Burgandy, California, Chianti, Chablis. . .

Theo giới tiêu dùng thì rượu vang được phân làm bốn loại: rượu vang bàn, rượu

vang sủi tăm, rượu vang mạnh, rượu vang mùi. [20]

- Rượu vang bàn (Vin de Table), gồm 3 loại: vang đỏ, vang trắng và vang hồng

có hàm lượng cồn từ 9% - 14%, thường được dùng trong các bữa ăn gia đình.

Rượu vang bàn được sản xuất từ sự lên men của dịch trái nho.

- Rượu vang sủi tăm (Vin mousseux) – còn có tên khác là rượu Sâm – banh

(Champagne), có từ 8% - 12% hàm lượng cồn, thường dùng vào những dịp liên

, được hoan hoặc bữa ăn sang trọng. Rượu vang sủi tăm là do bổ sung thêm CO2

sản xuất từ các giống nho trồng ở vùng Champagnes thuộc nước Pháp.

- Rượu vang nặng (Vin Fortifie) - là loại rượu vang được pha thêm rượu mạnh

Brandy để tăng hàm lượng cồn, thường từ 17% - 22%. Rượu vang nặng thay

đổi nồng độ giữa loại ngọt và không ngọt. Loại không ngọt có nồng độ cồn cao

hơn thì dùng làm vang khai vị, còn loại ngọt thì dùng để tráng miệng.

- Rượu vang mùi (Vin aromatisé): rượu vang mùi là loại rượu có hàm lượng cồn

từ 15% - 20% và có thêm mùi thơm.

3

Tạ Kiều Oanh – CS_K29

Tổng Quan Tài Liệu

Khoá luận tốt nghiệp

Nước Pháp sử dụng một hệ thống để chỉ định nơi xuất xứ (hệ thống

appellation), phân ra bốn cấp độ chất lượng như sau: [22]

- Vin de Table (rượu vang bàn): không chỉ định xuất xứ.

- Vin de Pays (rượu vang địa phương): được phép chỉ định xuất xứ.

- Vin Délimité de Qualité Superieure (rượu vang được xác định chất lượng

cao), thường viết tắt là VDQS.

- Appellation d’Origine Contrôlée (nhãn hiệu xuất xứ được kiểm soát), thường

viết tắt là AOC: rượu vang được sản xuất và kiểm định theo những tiêu chuẩn

khắt khe nhất.

1.3. MỘT SỐ THÀNH PHẦN TRONG RƯỢU VANG

Giá trị và chất lượng của rượu vang được đánh giá theo hàm lượng các thành

phần có mặt trong rượu vang:

1.3.1. Tanin

Tanin là một loại polyphenol, có được từ hạt, vỏ và cuống nho. Đây là một

chất bảo quản tự nhiên có trong nho. Tanin có vị chát và là một phần chính của rượu.

Trong rượu vang trắng, thành phần tanin không quá 0.2g/l, còn vang đỏ là 1 – 2g/l.

[20]

Hàm lượng tanin trong rượu sẽ quyết định thời gian ủ rượu trong quá trình

bảo quản. Trong rượu mới, tanin sẽ lấn át mùi vị của các hợp chất khác, nhưng theo

thời gian, càng bảo quản lâu, tanin sẽ nhạt dần đến khi mức độ tanin đạt tới độ cân

bằng, rượu lúc đó là lý tưởng nhất để uống.

1.3.2. Acid hữu cơ

Trong tất cả các loại trái cây đều chứa ít nhiều một lượng acid hữu cơ vì nó là

một chất làm nên vị chua đặc trưng cho từng loại quả. Trong rượu vang chứa nhiều

4

Tạ Kiều Oanh – CS_K29

Tổng Quan Tài Liệu

Khoá luận tốt nghiệp

acid hữu cơ như acid Tartric, acid Malic, acid Oxalic,… Hàm lượng acid tổng số

trong rượu vang khoảng 4 – 7g/l. [6]

Một số loại vang có lượng acid cao thường được sản xuất ở xứ lạnh như phía

Bắc nước Pháp, nước Anh hay New Zealand. Rượu có lượng acid thấp thường thuộc

các nước có thời tiết ấm hơn như Úc.

1.3.3. Ethanol

Ethanol (Cồn) là sản phẩm của quá trình lên men đường tự nhiên trong nho.

Hàm lượng đường trong nho sẽ quyết định nồng độ cồn của rượu. Độ cồn của rượu vang có thể dao động trong khoảng 8 – 180, nhưng nồng độ cồn t rong rượu vang cũng không quá 150 vì nấm men trong rượu sẽ ngưng phát triển ở nồng độ cồn là 140. Những rượu có độ cồn vượt quá 150 thường là do bổ sung thêm ethanol. [4]

1.3.4. Hệ nấm và men

Nấm sợi Botrytis cynerea là một loại nấm mốc có lợi cho nho, sinh sống trên

vỏ nho chín. Nho bị nhiễm nấm này thường bị bạc màu vỏ và nhăn nheo. Loại nấm

này có tác dụng làm giảm lượng nước và tăng lượng đường trong nho nên rượu có độ

cồn cao. Nấm này thường xuất hiện ở những vùng có nhiều nước và sương mù như

Sauternes ở Bordeaux, vùng Neusiederlersee ở Úc. Rượu được làm từ loại nho này

có mùi rất thơm của trái cây, ngọt và sánh như rượu của vùng Sauternes. [20]

Hệ nấm men trong sản xuất rượu vang bao gồm:

- Nấm men tự nhiên (Wild Yeast): Candida colliculosa, Candida pulcherrima,

Hansennula anomala, Kloeckera apiculata.

- Nấm men vang (Wine Yeast): Saccharomyces cerevisiae, Saccharomyces

oviformis, Saccharomyces ellipsoideus, Saccharomyces uvarum.

5

Tạ Kiều Oanh – CS_K29

Tổng Quan Tài Liệu

Khoá luận tốt nghiệp

1.3.5. Đường

Thành phần không thể thiếu trong rượu vang là đường. Đường trong vang chủ

yếu là đường fructose, glucose và một ít đường galactose. Vang khô chứa ít hơn 4g/l.

Các đường pentose có mặt trong vang đã lên men gồm 0.05 – 0.13% arabinose, 0.02

– 0.04% rhamnose và xylose ở dạng vết. Nếu trong rượu vang thành phẩm có đường

saccharose thì đường này đã được pha thêm vào sau khi lên men. Vị của rượu phụ

thuộc vào sự cân đối giữa độ cồn và độ ngọt của rượu vang. Lượng cồn cao tương

ứng với lượng đường khử cao có thể gây cảm giác ngon hơn cho người uống. [6]

1.3.6. Vitamin

Rượu vang được đánh giá là loại rượu bổ dưỡng là do trong thành phần của

nó có rất nhiều loại vitamin: vitamin C, vitamin B, vitamin PP,... Thực tế thì quá

trình lên men rượu là một quá trình điều chỉnh lại thành phần vitamin và là kỹ thuật

để giữ lại vitamin trong trái cây. Sau quá trình lên men thì một số vitamin được giữ

lại, một số khác bị mất đi, đồng thời một số vitamin sẽ được bổ sung thêm.

1.3.7. Muối khoáng

Trong rượu vang chứa rất nhiều các loại muối vi lượng , là muối của các

nguyên tố: P, S, K, Na, Ca, Fe, Cu, Mn,… Thông thường, lượng tro trong rượu vang

thường dao động vào khoảng 1.5 – 3.0g/l, nhưng có tác dụng làm tăng hương vị của

rượu và tăng giá trị dinh dưỡng cho rượu, cung cấp vi lượng cho cơ thể.

1.3.8. Chất thơm

Chất thơm là tên dùng để gọi các thành phần dễ bay hơi trong rượu non.

Trong quá trình chín và bảo quản, chúng được chuyển hoá thành các chất tạo hương

vị cho vang, hàm lượng dao động trong khoảng 0.8 – 1.2g/l, một phần bắt nguồn từ

nho (chất thơm sơ cấp), một phần được tạo thành trong quá trình lên men (chất thơm

thứ cấp).

6

Tạ Kiều Oanh – CS_K29

Tổng Quan Tài Liệu

Khoá luận tốt nghiệp 1.4. TIÊU CHUẨN VIỆT NAM (TCVN) ĐỐI VỚI CHẤT LƯỢNG VANG

1.4.1. Các chỉ tiêu hoá học của rượu vang [1,9]

Tên chỉ tiêu

Mức

1. Hàm lượng ethanol (cồn) ở 200

C, % (V/V)

6 – 18

2. Hàm lượng methanol trong 1 lít ethanol 100 0

, g/l, không lớn hơn

3.0

3. Hàm lượng acid bay hơi, tính theo acid acetic, g/l, không lớn hơn

1.5

, mg/l, không lớn hơn

350

4. Hàm lượng SO 2

5. Xianua và các phức xianua +, mg/l, không lớn hơn

0.1

Theo tiêu chuẩn đã

6. Hàm lượng CO

được công bố của

2

nhà sản xuất

1.4.1.1. Methanol

Methanol (methyl alcohol: CH3OH) là một rượu có tính độc. Nó ức chế đến hệ

thần kinh trung ương (gồm não và tủy sống). Nếu uống vào, tùy liều lượng, sẽ gây

nhức đầu, ngây ngất , ói mửa, mù mắt (do gây hư hoại tế bào võng mạc và sợi thần

kinh thị giác), hôn mê, và tử vong. Một khi vào trong cơ thể sẽ được thải trừ ra rất

chậm. Biểu hiện triệu chứng không rõ ràng.

7

Tạ Kiều Oanh – CS_K29

Tổng Quan Tài Liệu

Khoá luận tốt nghiệp

Não của người chết vì uống rượu nhiễm methanol

Liều lượng của rượu ảnh hưởng đến sự tỉnh táo của con người thay đổi tùy từng

cá nhân. Theo tài liệu của Đại học Cambridge cho biết, chỉ với 10ml methanol (bằng

hai muỗng cà phê) có thể gây mù mắt, và 30ml gây tử vong. [21]

Ngoài tác động ức chế đến hệ thần kinh trung ương tương tự như rượu ethanol,

cồn methanol còn rất độc vì nó được phân hủy trong cơ thể (ở gan) do enzyme alcohol

dehydrogenase để cho ra formaldehyde (H 2CO: đây là “hóa chất ư ớp xác”). Chất này

), là chất độc hại chính (chất này là tác lại được oxy hóa cho ra acid formic (CH2O2

nhân chính trong nọc độc của ong và kiến). Acid formic gây tăng độ acid (acidosis)

trong máu, dẫn đến suy hô hấp và ngưng thở.

1.4.1.2. Acid bay hơi

Trong rượu vang, acid bay hơi gồm phần lớn acid acetic ở dạng tự do hoặc ở

dạng liên kết (trong muối). Để tránh rượu vang bị hỏng trong quá trình lưu thông hoặc

bảo quản, lượng acid bay hơi phải nhỏ hơn 0.98 g/l đối với rượu vang chất lượng cao,

1.0 g/l đối với rượu vang bàn, 1.2 – 1.5 g/l đối với vang trắng. [13]

8

Tạ Kiều Oanh – CS_K29

Tổng Quan Tài Liệu

Khoá luận tốt nghiệp

2

1.4.1.3. SO

2 (sulfur dioxit) tồn tại trong rượu vang ở dạng tự do và liên kết. Nó không

SO

chỉ có vai trò là chất chống oxy hoá, sát khuẩn, mà còn ảnh hưởng đến tính hoà tan của

các chất khác trong dung dịch cũng như tính chất cảm quan của rượu. Nhưng khi hàm

quá cao, nó có thể gây độc đối với người sử dụng. lượng SO2

1.4.1.4. Xianua

Xianua là một muối của acid xianhydric (HCN), có tính khử. Nó còn được gọi

O có trong không là chất độc mùi hạnh nhân vì khi muối tác dụng dần với CO 2 và H2

khí tạo ra khí HCN có mùi hạnh nhân đặc trưng. Xianua là chất cực độc, có thể nhiễm

vào cơ thể con người qua đường hô hấp, tiêu hoá hay qua da. Khi bị nhiễm độc nhẹ,

người bệnh cảm thấy nhức đầu, nôn mửa, tim đập mạnh. Khi bị nặng dẫn đến mất cảm

giác, ngạt thở, có thể đi đến ngừng hô hấp và tim ngừng đập. Nó là chất có thể tan

trong nước, ether và rượu với bất kì tỉ lệ nào.

1.4.2. Các chỉ tiêu vi sinh vật của rượu vang [1,9]

Tên chỉ tiêu

Giới hạn tối đa

1. Tổng số vi sinh vật hiếu khí, số khuẩn lạc trong 1 ml sản phẩm

102

2. E.Coli, số vi khuẩn trong 1 ml sản phẩm

0

3. Coliforms, số vi khuẩn trong 1 ml sản phẩm

10

4. Cl. Perfringens, số vi khuẩn trong 1 ml sản phẩm

0

5. S. aureus, số vi khuẩn trong 1 ml sản phẩm

0

6. Tổng số nấm men – nấm mốc, số khuẩn lạc trong 1 ml sản phẩm

10

1.4.2.1. Vi sinh vật hiếu khí

Vi khuẩn hiếu khí là những vi khuẩn sinh trưởng và phát triển trong điều kiện

có oxy phân tử, tức là cho khuẩn lạc trong môi trường nuôi dưỡng có oxy phân tử.

9

Tạ Kiều Oanh – CS_K29

Tổng Quan Tài Liệu

Khoá luận tốt nghiệp

Tổng số vi khuẩn hiếu khí hiện diện trong mẫu chỉ thị mức độ vệ sinh của mẫu.

Chỉ số này được xác định bằng phương pháp đếm khuẩn lạc mọc trên môi trường

thạch dinh dưỡng từ một lượng mẫu xác định trên cơ sở xem một khuẩn lạc là sinh

khối phát triển từ một tế bào hiện diện trong mẫu.

Chỉ tiêu tổng số vi sinh vật hiếu khí được dùng để đánh giá chất lượng của mẫu

về vi sinh vật, nguy cơ hư hỏng, thời hạn bảo quản của sản phẩm, mức độ vệ sinh

trong quá trình chế biến, bảo quản sản phẩm.

1.4.2.2. E. coli

Ngành (phylum): Proteobacteria; Lớp (class): Gamma Proteobacteria; Bộ

(order): Enterobacterialse; Họ (family): Enterobacteriaceae; Chi (genus):

Escherichia; Loài (species): E. coli. [14]

Từ năm 1700 người ta đã phát hiện E. coli là một loài vi sinh vật gây bệnh (Niel

M.A. Tarr P.I, 1994). Năm 1885 nhà khoa học người Đức là Theodor Escherich đã

tách được loài vi sinh vật này từ phân trẻ em bị bệnh. Sau này vi khuẩn này được mang

tên ông. Năm 1971 người ta xếp chúng vào nhóm các vi sinh vật gây bệnh trong th ực

phẩm và là một vi sinh vật chỉ thị nhiễm trùng thực phẩm. [12]

E. coli là trực khuẩn ngắn, gram (-), không tạo bào tử, chịu được nhiệt, không bị hủy khi đun nóng 1000C trong 2 giờ, có thể kháng cồn, không bị phá hủy khi tiếp xúc

với cồn 50%, mà bị hủy bởi formone 5%, có khả năng phát triển ở nhiệt độ từ 30 tới 500C, nhiệt độ phát triển tối ưu của chúng là 370 C, phát triển ở pH tối thích là 4.4. E.

coli sống trong ruột già của người và động vật, có khả năng lên men nhiều loại đường,

sinh hơi, có khả năng khử nitrate thành nitrite. Khả năng gây bệnh rất đa dạng và nguy

hiểm. [12]

1.4.2.3. Coliforms

Coliforms là những trực khuẩn hình que, gram âm (-), không sinh bào tử, hiếu khí hoặc kị khí tuỳ ý. Chúng có khả năng phát triển ở phổ nhiệt độ rất rộng từ -20C đến 500C, pH trong khoảng 4.4 đến 9.0. Coliforms hiện diện rộng rãi trong tự nhiên, ở ruột

10

Tạ Kiều Oanh – CS_K29

Tổng Quan Tài Liệu

Khoá luận tốt nghiệp người và động vật, có khả năng lên men lactose sinh acid và sinh hơi ở 370C trong 24

– 48 giờ. Khi số Coliforms trong rượu cao kéo theo khả năng hiện diện của các vi sinh

vật gây bệnh khác cũng cao. [12]

Coliforms chịu nhiệt là những Coliforms có khả năng lên men lactose trong 24 giờ khi ủ ở nhiệt độ 440C trong môi trường EC. Coliforms phân là Coliforms chịu nhiệt có khả năng sinh indole khi được ủ 24 giờ ở 45 .50 C trong canh Trypton. Coliforms

phân là một thành phần của hệ vi sinh vật đường ruột ở người và các động vật máu

nóng khác và được sử dụng để chỉ thị mức độ vệ sinh trong quá trình chế biến, bảo

quản, vận chuyển thực phẩm, nước uống.

1.4.2.4. Clostridium perfringens

Giới: Bacteria; Ngành (phylum): Firmicutes; Lớp (class): Clostridia; Bộ

(order): Clostridiales; Họ (family): Clostridiaceae; Chi (genus): Clostridium; Loài

(species): C. perfringens. [14]

Clostridium là các vi khuẩn gram (+), hình que, kị khí bắt buộc, sinh bào tử,

không di động, có thể thủy giải saccharide và protein trong các hoạt động thu nhận

C làm chậm hoặc làm ngưng sự phát triển của vi khuẩn này. Ở năng lượng tạo ra các sản phẩm như acid acetic, butyric, rượu, tạo ra các mùi khó chịu trong sản phẩm. Clostridium có thể sinh trưởng ở nhiệt độ 550C, nhiệt độ tối ưu là 43 – 470C. Nhiệt độ 15 – 200

pH trên 9.0 và NaCl 5% sự sinh trưởng của Clostridium bị ức chế hoàn toàn.

Trong tự nhiên, Clostridium có mặt trong đất, một số loài trong nhóm này gây

bệnh cho người và động vật, một số loài khác gây hư hỏng thực phẩm, khử sulphite

thành sulphur tạo ra màu đen và gây mùi khó chịu.

1.4.2.5. Staphylococcus aureus

Giới (kingdom): Eubacteria; Ngành (phylum): Firmicutes; Lớp (class): Cocci;

Bộ (order): Bacillales; Họ (family): Staphylococcaceae; Chi (genus): Staphylococcus;

Loài (species): S. aureus. [22]

11

Tạ Kiều Oanh – CS_K29

Tổng Quan Tài Liệu

Khoá luận tốt nghiệp

Năm 1894, I. Denys là người đầu tiên nghiên cứu về Staphylococcus và các độc

tố của chúng trong thực phẩm. Năm 1914, Barber và sau đó 1930, GM. Dack tìm thấy

Staphylococcus trong sữa. Hiện nay, người ta đã tìm thấy tất cả 31 loài

Staphylococcus.

Staphylococcus là loại cầu khuẩn gram (+), các tế bào của chúng liên kết thành

hình chùm cho. Khi phát triển trong môi trường, Staphylococcus có khả năng tạo ra

sắc tố từ màu trắng đến vàng sậm, nhiệt độ 20 – 250C thích hợp nhất cho chúng tạo

C chúng vẫn sống được màu. Staphylococcus không di động, không tạo bào tử, nhiệt độ thích hợp cho sự phát triển là 370C, chịu được sự khô hạn, hơi nóng (ở nhiệt độ 500

trong 30 phút), có khả năng sống ở nồng độ muối 9 – 10%. Staphylococcus phát triển

ở phổ pH rất rộng (pH từ 4.0 tới 9.8). Khoảng pH tối ưu của chúng là 6 – 7. [12]

Staphylococcus được phân bố khắp nơi nhưng chủ yếu được phân lập từ da và

màng nhầy của người và động vật máu nóng , có khả năng lên men và sinh acid từ

manitol, trehalose, sucrose. Staphylococcus có thể nhiễm vào nước và thực phẩm qua

con đường tiếp xúc với người thao tác trong quá trình chế biến thực phẩm. Sự hiện

diện với mật độ cao của Staphylococcus trong mẫu chỉ thị điều kiện vệ sinh và kiểm

soát nhiệt độ kém của quá trình chế biến.

1.4.2.6. Nấm men, nấm mốc

Nấm men và nấm mốc là nhóm vi sinh vật nhân thật, rất đa dạng, có vách tế bào

và lớp vỏ chitin, có nhân và các bào quan khác. Tất cả các loài nấm men, nấm mốc đều

thuộc nhóm vi sinh vật dị dưỡng. Chúng chỉ có khả năng nhận các chất dinh dưỡng ở

dạng hoà tan. Trong quá trình trao đổi chất xảy ra ở tế bào, chúng có khả năng chuyển

hoá các chất hoà tan thành các chất không hoà tan như lignocellulose,… Ngoài ra,

chúng còn có thể tạo ra các chất độc, các chất độc đó được gọi chung là độc tố vi nấm

(mycotoxins). Tiêu biểu có Asp. flavus, Asp. parasiticus, Asp. moninus, P. italicum, P.

digitatum, P. roquefortii, P. cammenbertii. [12]

12

Tạ Kiều Oanh – CS_K29

Tổng Quan Tài Liệu

Khoá luận tốt nghiệp

Trong rượu vang, sự hiện diện của nấm men, nấm mốc có thể làm đổi màu

rượu, gây cặn, phát sinh mùi vị lạ, thay đổi cấu trúc của rượu, một số có thể tạo độc tố

gây ngộ độc.

1.5. TÌNH HÌNH SẢN XUẤT RƯỢU VANG TRÊN THẾ GIỚI VÀ NGÀNH RƯỢU

VANG Ở VIỆT NAM

1.5.1. Thị trường rượu vang (theo số liệu thống kê năm 2001)

NƯỚC TIÊU THỤ NƯỚC TIÊU THỤ

Pháp 41.7% Úc 4.8%

Italia 17.2% Bồ Đào Nha 4.3%

Tây Ban Nha 9.2% Đức 4.3%

Dưới đây là bảng số liệu so sánh sức tiêu thụ rượu vang của một số quốc gia

trên thế giới năm 2003 và 2007 (theo số liệu thống kê năm 2009)

13

Tạ Kiều Oanh – CS_K29

Tổng Quan Tài Liệu

Khoá luận tốt nghiệp

1.5.2. Ngành rượu vang ở Việt Nam

Trước đây, ngành rượu vang ở Việt Nam còn non trẻ, các cơ sở sản xuất rượu

vang trong nước chưa nhiều và công nghệ chế biến không cao nên chưa chiếm được

thị trường trong nước và thế giới. Nhưng hiện nay, khi con người nhận thức được vai

trò và lợi ích củ a rượu vang trong cuộc sống thì đã có nhiều nhà máy sản xuất rượu

vang mọc lên với quy mô công nghiệp cùng kỹ thuật và trang thiết bị tân tiến hơn:

công ty Ladofoods (Lâm Đồng), Beco Đà Lạt, Vĩnh Tiến, vang Biên Hoà,… Việt Nam

có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển công nghệ sản xuất rượu vang.

Với 85 triệu dân, đây là thị trường đầy tiềm năng với sản phẩm rượu vang. Mặt

khác, do chính sách mở cửa và giao lưu văn hóa, người Việt Nam bước đầu làm quen

với văn hóa châu Âu trong đó có văn hóa ẩm thực, rượu vang. Ngành du lịch phát triển

cũng là một yếu tố thúc đẩy ngành công nghiệp sản xuất rượu vang. Trong xu thế tòan

cầu nền kinh tế thế giới, hàng hóa của Việt Nam trong đó có rượu vang có điều kiện

thâm nhập thị trường các nước và các nhãn hiệu rượu vang nổi tiếng thế giới vào Việt

Nam đòi hỏi rượu vang Việt Nam ngày càng phải nâng cao chất lượng.

Sự kiện hội nghị APEC tại Việt Nam sử dụng vang Đà Lạt để tiếp khách và

Cuộc thi rượu vang quốc tế tại Việt Nam 2007, chứng tỏ thương hiệu rượu vang Việt

Nam đã bắt đầu có chỗ đứng trên thị trường trong nước và thế giới.

Nhưng bên cạnh những thế mạnh đó, Việt Nam cũng có những khó khăn không

nhỏ để phát triển ngành công nghiệp sản xuất rượu vang. Chúng ta không có vùng

nguyên liệu chuyên canh và giống nho tốt để đáp ứng sản xuất rượu vang ở quy mô

công nghiệp, chúng ta cũng không có truyền thống trong ngành sản xuất vốn đòi hỏi

rất nhiều bí quyết để tạo ra sản phẩm có chất lượng cao này. Điều kiện khí hậu nhiệt

đới vốn không thuận lợi cho quá trình sản xuất rượu vang cũng là một bất lợi cho

ngành sản xuất rượu vang.

Mặc dù có thị trường giàu tiềm năng, nhưng người dân chưa có thói quen sử

dụng rượu vang như thức uống khai vị trong bữa ăn hàng ngày. Chúng ta cũng chưa có

chính sách về thuế đối với rượu vang sản xuất trong nước và rượu vang nhập khẩu để

14

Tạ Kiều Oanh – CS_K29

Tổng Quan Tài Liệu

Khoá luận tốt nghiệp thúc đẩy ngành sản xuất rượu vang trong nước. Tình trạng rượu giả tràn lan trên thị

trường gây khó khăn không nhỏ đối với rượu vang nội địa.

1.6. SƠ ĐỒ QUY TRÌNH SẢN XUẤT RƯỢU VANG Ở CÔNG TY CỔ PHẦN RƯỢU

BIA ĐÀ LẠT (BECO ĐÀ LẠT)

Nguyên liệu

Phân loại

Làm sạch Nước Hoá chất diệt khuẩn

Xay, nghiền

Trích ly

Thanh trùng

Làm lạnh

Men giống Lên men chính

10 – 20 ngày

18 – 220C

Len men phụ

15 – 180C

15 – 20 ngày

Xác men Tàng trữ

Lọc, phối chế

Đóng chai

Thành phẩm

15

Tạ Kiều Oanh – CS_K29

Khoá luận tốt nghiệp

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

2.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

- Đối tượng: Mẫu rượu vang được lấy ngay tại các tank ở giai đoạn trích ly

(rượu vang bán thành phẩm) và giai đoạn đóng chai (rượu vang thành phẩm)

của quá trình sản xuất rượu vang.

- Xuất xứ của mẫu: Công ty cổ phần rượu bia Đà Lạt (Dalat Beco).

- Tiêu chuẩn chọn mẫu: mẫu được lấy một cách ngẫu nhiên và đủ lớn để có thể

tiến hành thí nghiệm kiểm tra tất cả các chỉ tiêu vi sinh và chỉ tiêu hoá lý.

- Địa điểm tiến hành thí nghiệm: Phòng thí nghiệm Hoá Sinh – khoa Sinh học

– trường Đại học Đà Lạt và phòng thí nghiệm vi sinh – thực phẩm, phòng thí

nghiệm hoá lý – khoa xét nghiệm tổng hợp – Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh

Lâm Đồng.

2.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.2.1. Thu lấy mẫu và bảo quản mẫu

Lượng mẫu thu lấy đảm bảo độ tin cậy, có tính đại diện và đủ số lượng cần thiết

cho thí nghiệm. Mẫu lấy phân tích phải đảm bảo không bị nhiễm vi sinh vật từ bên

ngoài trong quá trình lấy mẫu và vận chuyển mẫu, không có sự phát triển thêm của vi

sinh vật có sẵn trong mẫu, hoặc số lượng vi sinh vật tiêu hao trong mẫu không ả nh

hưởng nhiều đến kết quả thí nghiệm. Mẫu được phân tích trong vòng 6 giờ sau khi thu

mẫu để đảm bảo độ chính xác. [12]

Mẫu lấy về có thể bảo quản được trong vòng 2 ngày ở điều kiện thường. Nếu

không sử dụng ngay thì phải bảo quản trong tủ lạnh (0 – 50 C), bảo quản được trong

vòng 1.5 tuần. [2]

2.2.2. Đồng nhất và pha loãng mẫu

16

Tạ Kiều Oanh – CS_K29

Khoá luận tốt nghiệp

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Để đảm bảo tính đồng đều của mẫu, sau khi lấy, mẫu được lắc đều trong 5 phút.

Trước khi phân tích các chỉ tiêu vi sinh vật, mẫu cần phải pha lõang bằng nước muối

sinh lý hoặc nước muối peptone có thành phần như bảng sau:

Thành phần Nước muối sinh lý Nước muối peptone

NaCl (g) 8.5 8.5

Peptone (g) - 1

Nước cất (ml) 1000 1000

Dịch pha loãng được phân phối vào ống nghiệm (9ml/ống) và trong bình tam

C trong 15'. giác (90ml/bình). Sau đó, hấp khử trùng ở nhiệt độ 1210

Trộn lẫn 10ml mẫu vào 90ml dịch pha loãng ta được dung dịch mẫu có nồng độ -1. Lấy 1ml dung dịch mẫu ở nồng độ pha loãng 10 -1 trộn lẫn với 9.0ml pha loãng là 10 dịch pha loãng ta có dung dịch mẫu có nồng độ pha loãng là 10-2. Tiếp theo lấy 1ml dung dịch mẫu nồng độ pha loãng 10-2 cho vào 9.0ml dung dịch pha loãng nhận được mẫu có độ pha loãng là 10-3 . Với cách làm tương tự ta sẽ có mẫu với độ pha loãng

thích hợp. Thời gian pha loãng mẫu tới khi cấy không quá 20'.

2.2.3. Phương pháp phân tích các chỉ tiêu vi sinh vật

2.3.3.1. Kiểm tra tổng số vi khuẩn hiếu khí

Nguyên tắc: Trên cơ sở số lượng mẫu xác định và coi một khuẩn lạc là điểm

C trong 24 – xuất phát đầu tiên cho một vi sinh vật sống. Đếm số khuẩn lạc đã mọc trên môi trường thạch dinh dưỡng từ các nồng độ pha loãng sau khi nuôi cấy ở 30 – 370

48h. Tính số khuẩn lạc trong 1ml mẫu. Từ đó suy ra số lượng tế bào sống có trong

mẫu phân tích. Thực hiện theo kỹ thuật hộp đổ. [2]

Môi trường: Thạch dinh dưỡng.

Thực hiện: Cho vào mỗi đĩa petri 15ml môi trườn g thạch dinh dưỡng có nhiệt độ 44 - 460C. Dùng pipette cho vào các đĩa 1ml mẫu có độ pha loãng tương ứng, t rộn

đều bằng cách xoay đĩa petri nhẹ nhàng theo chiều kim đồng hồ và ngược chiều kim

17

Tạ Kiều Oanh – CS_K29

Khoá luận tốt nghiệp

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

C trong 24 – 48h. [2,3] đồng hồ. Khi môi trường đã đông hẳn, úp ngược đĩa petri, gói giấy báo và ủ ở nhiệt độ 29 – 310

Tính kết quả: Sau 24h, đọc kết quả sơ bộ. Sau 48h, đếm tất cả các khuẩn lạc có

trên các đĩa thạch đã nuôi cấy và lấy kết quả chính thức. Chọn các đĩa có số khuẩn lạc

từ 15 – 300 để tính giá trị trung bình của các nồng độ pha loãng rồi tính ra số lượng vi

=

A CFU ml

(

/

)

N + + ...

n Vf i

i

n Vf 1 1

khuẩn trong 1ml mẫu. Tính số vi khuẩn hiếu khí theo công thức: [10]

số tế bào (đơn vị hình thành khuẩn lạc) vi khuẩn trong 1ml mẫu. A

N tổng số khuẩn lạc đếm được trên các đĩa đã chọn.

số lượng đĩa cấy tại độ pha loãng thứ i. ni

V thể tích dịch mẫu (ml) cấy vào trong mỗi đĩa.

độ pha loãng tương ứng. fi

2.3.3.2. Kiểm tra tổng số nấm men, nấm mốc

Nguyên tắc: Sử dụng kỹ thuật hộp đổ trên môi trường thạch sau khi ủ hiếu khí

28 ± 10 C. Sau thời gian từ 3 – 7 ngày, số lượng bào tử nấm men, nấm mốc trong 1ml

mẫu được tính theo số khuẩn lạc đếm được trên môi trường thạch theo các nồng độ

pha loãng khác nhau. [2]

Môi trường: Thạch Saboraud.

Nuôi cấy: Hút 1ml mẫu hoặc 1ml nồ ng độ pha loãng vào giữa đĩa petri, sau đó cho vào 15ml môi trường thạch dinh dưỡng (44 - 460C). Trộn đều bằng cách xoay đĩa

nhẹ nhàng theo cùng và ngược chiều kim đồng hồ. Để các đĩa thạch đông tự nhiên. Khi thạch đã đông, g ói giấy báo và để tủ ấm ở 27 – 290C hoặc nhiệt độ phòng thí

nghiệm trong 5 – 7 ngày. [2]

18

Tạ Kiều Oanh – CS_K29

Khoá luận tốt nghiệp

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Tính kết quả: Sau 3 ngày, đọc kết quả sơ bộ, đếm tổng số khuẩn lạc mọc trên

môi trường đã nuôi cấy. Sau 5 – 7 ngày đếm kết quả chính thức. Chọn tất cả các đĩa có

=

N

×

d

C )

(

∑ + n 2

n 1

không quá 150 khóm nấm để tính kết quả. [2]

C∑ Tổng số khuẩn lạc đếm được trên tất cả các đĩa.

N Tổng số nấm men, nấm mốc trong 1ml mẫu.

Số đĩa đếm ở nồng độ pha loãng thứ 1, thứ 2. n1; n2

d Hệ số pha loãng

2.3.3.3. Kiểm tra Coliform

Nguyên tắc: Xác định bằng phương pháp MPN với nguyên tắc mẫu được pha

loãng thành một dãy thập phân (hai nồng độ kế tiếp nhau khác nhau 10 lần) (hệ 9 ống

nghiệm). Ghi nhận số ống nghiệm dương tính ở mỗi nồng độ pha loãng và dựa vào

bảng MPN để suy ra số lượng nhóm vi sinh vật tương ứng hiện diện trong 1ml mẫu

ban đầu. [2]

Môi trường sử dụng: Môi trường LSB và canh trường mật bò BGBL 2%.

Nuôi cấy: Hút 1ml mẫu cho vào 3 ống nghiệm khác nhau. Hút 10ml môi trường

LSB cho vào 3 ống đó. Thực hiện tương tự với các nồng độ pha loãng khác nhau, từ 3 đến 5 nồng độ pha loãng liên tiếp. Ủ ống nghiệm ở tủ ấm 370 C trong 48h. [2,3,13]

Tính kết quả: Sau 48h, ghi nhận số ống có sinh hơi (+). Nếu môi trường bị đục

mà không sinh hơi là âm tính (-). Dùng que cấy vòng chuyển dịch mẫu từ các ống LSB

(+) sang các ống có chứa canh BGBL (mỗi ống 1 khuyên cấy). Các ống được ủ ở nhiệt 0C trong 48h. Ghi nhận số ống có sinh hơi ứng với mỗi nồng độ pha loãng. Ở độ 30

mỗi nồng độ pha loãng của mẫu, dùng bảng MPN thích hợp để tính ra mật độ vi sinh

vật trong mẫu và biểu diễn dưới dạng trị số MPN/ml. [2,10,13]

19

Tạ Kiều Oanh – CS_K29

Khoá luận tốt nghiệp

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

2.3.3.4. Kiểm tra E. coli

Nguyên tắc: Định lượng E. coli bằng phương pháp MPN như nguyên tắc định

lượng Coliform.

Môi trường: Canh trường BGBL, thạch EMB, môi trường indole, thạch thường,

nước peptone, môi trường MR – VP, môi trường Simmon Citrate.

Kỹ thuật: Ria 1 khuyên cấy từ ống BGBL (+) sang môi trường thạch EMB và

để tủ ấm 370C trong 24h. Sau thời gian nói trên, c họn các khuẩn lạc điển hình của

C trong 24h. Nếu môi trường sinh hơi thì E. coli (khuẩn lạc hình tròn, mặt phẳng hoặc hơi lồi, có ánh kim) cấy vào môi trường thạch thường, tiếp tục nuôi cấy ở nhiệt độ 370

thực hiện phản ứng IMViC. [2,10,13]

1)

Phản ứng sinh indol: Cấy vi khuẩn từ môi trường thạch thường vào môi trường nước peptone, nuôi cấy ở nhiệt độ 370 C trong 24 – 48h. Cho 5 giọt thuốc thử

Kowac’s vào môi trường có vi khuẩn vừa cấy , để yên vài phút. Phản ứng (+)

khi có vòng nhẫn màu đỏ cánh sen trên môi trường.

2)

Phản ứng MR (Methyl Red): Cấy vi khuẩn từ môi trường thạch thường sang môi trường MR – VP. Đặt ở tủ ấm 370 C trong 24 – 48h. Lấy 5ml MR – VP có

vi khuẩn vào ống nghiệm khác để thực hiện phản ứng VP. Canh khuẩn MR –

VP còn lại : cho 5 giọt methyl đỏ 0.2% vào. Phản ứng (+) khi môi trường có

α

màu đỏ ngay sau khi cho thuốc thử.

Phản ứng VP (Voges – Proskauer): Cho 1.8 ml Naphthol 5% cùng 0.6ml 3)

KOH 40% vào canh khuẩn MR – VP. Phản ứng (+) khi có màu đỏ xuất hiện

trong vòng 5 – 10' sau khi cho thuốc thử vào. Một số loài cho phản ứng (+)

chậm nên phải hơ nóng nhẹ.

20

Tạ Kiều Oanh – CS_K29

Khoá luận tốt nghiệp

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

4) Phản ứng Citrate: Cấy chuyển vi khuẩn ngờ từ thạch thường vào môi trường

C trong 18 – 24h. Phản ứng (+) khi môi Simmon Citrate. Nuôi ở tủ ấm 37 0

trường chuyển sang màu xanh dương.

Tính kết quả: Xác định E. coli gây bệnh khi phát hiện vi khuẩn gram (-) bằng

phương pháp nhuộm gram với đặc tính sinh hoá như sau: [2,10]

Indol MR VP Citrate

E. coli type I + + - -

E. coli type II - + - -

2.3.3.5. Kiểm tra tụ cầu khuẩn

Nguyên tắc: Nuôi cấy mẫu thử trong môi trường TSTC, sau đó nuôi cấy trên

C trong 24 – 48h, nhận định sự có mặt môi trường Chapman trong đĩa petri. Nuôi ở 370

của Staphylococcus aureus theo các đặc điểm nuôi cấy, hình thái và các đặc tính sinh

hoá. [13]

Môi trường: Môi trường TSTC, Chapman, môi trường dextrose.

Các bước tiến hành: Hút 1ml dịch mẫu cấy vào môi trường TSTC, lắc nhẹ để

trộn đều mẫu. Nuôi ở tủ ấm 370 C trong 24h. Nếu thấy môi trường trong ống nghiệm bị

đổi màu thì cấy chuyền bằng cách ria cấy trên bề mặt môi trường Chapman. Khi đó,

St. aureus sẽ hình thành các khuẩn lạc tròn, lồi, bóng, đường kính 1 – 3mm. Sau 24h,

khuẩn lạc và môi trường xung quanh chúng có màu vàng sáng hoặc hơi sẫm. Sau 48h,

đường kính của khuẩn lạc tăng lên, màu của khuẩn lạc và môi trường xung quanh vàng

sẫm hơn.

Chọn vài khuẩn lạc đặc trưng làm tiêu bản, nhuộm gram (phụ lục 1), soi kính

hiển vi. Nếu thấy hình thái tế bào vi khuẩn điển hình hoặc nghi ngờ thì cấy chuyền vào 0C trong 24h để thử phản ứng coaglucaza. Sau 24h lấy môi trường dextrose. Nuôi ở 37

0.1ml dịch cấy trên chuyển vào ống nghiệm có sẵn 0.3 – 0.5ml huyết tương thỏ. Lắc để trộn đều mẫu và nuôi cấy ở 370C. Song song với mẫu thí nghiệm làm một ống

21

Tạ Kiều Oanh – CS_K29

Khoá luận tốt nghiệp

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

nghiệm đối chứng có 0.1ml canh thang vô khuẩn với cùng lượng 0.3 – 0.5ml huyết

tương thỏ.

Sau 2h, 4h, 6h, đọc kết quả. Nếu phản ứng (-) thì để những ống nghiệm trên ở

nhiệt độ phòng trong 24h và tiếp tục quan sát. Nếu St. aureus cho phản ứng (+) thì

huyết tương trong ống nghiệm phải được thử đông lại. [2]

Tính kết quả: Khi phát hiện các khuẩn lạc đặc trưng thì làm tiêu bản, n huộm

gram và soi kính hiển vi. Vi khuẩn St. aureus có hình cầu, xếp thành hình chùm nho,

thành đám hay cặp, gram (+), lên men đường mannitol, chuyển màu môi trường

Chapman từ đỏ sang vàng. [2]

2.3.3.6. Kiểm tra vi khuẩn kỵ khí

Nguyên tắc: Nuôi cấy 10ml mẫu thử hay dịch pha loãng trong ống môi trường dịch chọn lọc (nuôi cấy sâu), xử lý nhiệt độ ở 750C trong 10' sau khi cấy mẫu, làm lạnh ngay và đưa vào nuôi trong tủ ấm 37 0 C trong 24 – 72h. Nhận định sơ bộ sự có mặt của

Clostridium perfringens qua đặc điểm hình thái, tính sinh hoá. [2]

Môi trường: Môi trường Wilson – Blair cải tiến.

C trong 24 – 72h. [2] Các bước tiến hành: Hút 1ml mẫu hoặc dịch pha loãng vào 2 ống nghiệm có môi trường Wilson – Blair (đã đun tan chảy, để nguội 45 – 500C), lắc đều, sau đó đun cách thuỷ ở 800C trong 10'. Lấy mẫu ra và làm lạnh ngay dưới vòi nước (hay để trong tủ lạnh). Khi thạch đông, nuôi trong tủ ấm ở 370

Tính kết quả: Sau 24h, lấy ra đọc kết quả sơ bộ. Cl. perfringens tạo khuẩn lạc

tròn, màu đen, đường kính 1mm. Sau 72h, khuẩn lạc s ẽ lớn hơn (đường kính 4 –

6mm), có thể có vết nứt hay cột thạch có bọt khí (do sự sinh hơi). Nếu môi trường xuất

hiện nhiều khuẩn lạc tạp hoặc nghi ngờ thì thuần khiết giống và kiểm tra tiêu bản qua

kính hiển vi. Đồng thời, làm các phép thử tính di động, khả năng khử nitrate… [2]

2.2.4. Phương pháp phân tích các chỉ tiêu hóa lý

2.2.4.1. Phương pháp xác định độ cồn

22

Tạ Kiều Oanh – CS_K29

Khoá luận tốt nghiệp

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Nguyên tắc: Mẫu sau khi qua chưng cất, được đo bằng cồn kế ở 20 0C. Hàm

C. [13] lượng ethanol trong 100ml mẫu chính là độ rượu của mẫu ở 200

Quy trình: Lấy 500ml mẫu rượu, cho vào bình cất với vài viên đá bọt. Lắp hệ

thống chưng cất hoàn chỉnh và chưng cất cho đến khi được 2/3 thể tích bình hứng

(200ml) thì ngưng cất. Định mức lượng cồn thu được tới 250ml, lắc đều. [13]

C. [13] Tính kết quả: Dùng alcoholmeter để đo độ cồn và nhiệt kế để đo nhiệt độ của dung dịch. Nếu nhiệt độ không ở 200C thì tra bảng hiệu chỉnh (tra bảng) để quy đổi về độ rượu ở 200

2.2.4.2. Phương pháp xác định hàm lượng acid tổng số

Nguyên tắc của phương pháp: trong rượu vang chứa rất nhiều loại acid hữu cơ

khác nhau được tạo thành trong quá trình lên men. Acid tổng số là tổng các acid được

tự do và liên kết không được chuẩn độ khi đưa pH của rượu vang về 7.0. H2CO3, SO2

tính trong acid tổng số. [5]

Lượng acid trong mẫu được chuẩn độ bằng NaOH với chỉ thị bromothymol blue.

Tiến hành thí nghiệm: dùng pipette hút 100ml rượu thử (không qua chưng cất)

vào bình tam giác. Cho vào 5 giọt bromothymol blue, chuẩn độ bằng NaOH 0.1N tới

khi dung dịch chuyển sang màu xanh, bền trong 30 giây. [13]

Nếu sự chuyển màu của mẫu khó quan sát, cần pha loãng mẫu 1.5 – 2 lần. Việc

pha loãng mẫu không gây ảnh hưởng đến kết quả chuẩn độ.

Tính kết quả: lượng acid tổng số trong mẫu được biểu thị bằng acid acetic (mg)

× ×

3 n

100 A

trong 100ml rượu quy về độ cồn 1000 theo công thức: [13]

3 Số mg acid acetic ứng với 1ml NaOH 0.1N.

n Thể tích NaOH 0.1N dùng để chuẩn độ (ml).

23

Tạ Kiều Oanh – CS_K29

Khoá luận tốt nghiệp

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

A Độ cồn của rượu

100 A

. Hệ số để chuyển rượu có độ cồn A thành rượu có độ cồn 1000

2.2.4.3. Phương pháp xác định hàm lượng acid bay hơi

Nguyên tắc của phương pháp: Acid bay hơi được tách ra bằng phương pháp

chưng cất lôi cuốn theo hơi nước. Dịch acid ngưng tụ được chuẩn độ bằng kiềm. Các

không được tính là acid bay hơi. [5] acid được tạo thành từ CO2 và SO2

Quy trình: Cho vào bình tam giác dung tích 250ml, lấy 100ml rượu cất được

0 cùng với 3 giọt thuốc thử PP (Phenol phtalein 1% trong rượu 60

). Chuẩn độ bằng

NaOH 0.1N tới khi dung dịch xuất hiện màu hồng nhạt, bền trong 30 giây. [13]

Tính kết quả: hàm lượng acid bay hơi trong mẫu (g/l) được tính th eo acid

=

×

X

0.006

V

1000 V 0

acetic. [13]

V Thể tích dung dịch NaOH 0.1N đã chuẩn độ (ml)

Thể tích mẫu đem đi chuẩn độ (ml) V0

1000 Hệ số quy về 1l.

0.006 Hệ số chuyển ra acid acetic (hệ số hiệu chỉnh dung dịch NaOH: F = 1)

1ml NaOH 0.1N tương ứng với 0.006g acid acetic

2.2.4.4. Phương pháp xác định hàm lượng aldehyde

Nguyên tắc: Aldehyde trong rượu được định phân bằng iod dựa vào nguyên tắc

cộng bisunfit nhóm aldehyde. Quá trình có 4 giai đoạn:

- Qxy hóa rượu trong môi trường acid loãng tạo aldehyde ở dạng tự do.

24

Tạ Kiều Oanh – CS_K29

Khoá luận tốt nghiệp

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

- Cộng nhóm bisunfit vào nhóm aldehyde (acetaldehyde) ở pH = 7.0.

- Chuẩn độ lượng bisunfit thừa bằng iod ở pH = 2.0.

- Định lượng aldehyde kết hợp bằng iod ở pH: 9.0 – 9.5. [5]

Quy trình: Cho vào bình tam giác 500ml thứ nhất (bình thí nghiệm) 50ml rượu

cất được, 250ml nước cất và 10ml dung dịch Natri metabisunfit, đậy kín, lắc đều, để

yên 15'. Tiếp tục cho vào hỗn hợp nói trên 10ml phosphate – EDTA (pH = 7.0), đậy

kín, lắc đều, để yên 15'. Tiếp tục cho vào 10ml dung dịch HCl 25% (pH ≤ 2.0) và 1ml

hồ tinh bột.

Cho từng giọt iod 0.1N vào tới khi dung dịch trong bình chuyển màu xanh tím.

Tiếp theo cho vào 10ml dung dịch Borat kiềm (pH: 9.0 – 9.5), dung dịch sẽ mất màu.

Dùng iod 0.01N chuẩn độ dung dịch cho tới khi dung dịch chuyển sang màu xanh tím,

bền trong 30 giây.

Cho vào bình tam giác 500ml thứ hai (bình kiểm tra) các thành phần như bình

thí nghiệm nhưng thay dung dịch rượu bằng ethanol không có aldehyde có độ cồn gần

bằng độ cồn của mẫu thử. Các bước tiến hành tương tự như bình thí nghiệm. [13]

Tính kết quả: Ghi lượng iod 0.01N đã chuẩn độ ở 2 bình. Lượng aldehyde tổng

=

×

×

X

0.22

)

( − V V 1 0

1000 100 × A

V

) tính theo acetaldehyde: [13] cộng (mg/l rượu 1000

Thể tích iod 0.01N đã chuẩn độ mẫu thử (ml). V1

0

V Thể tích iod 0.01N đã chuẩn độ mẫu trắng (ml).

V Thể tích mẫu thử đem thí nghiệm (ml)

C. A Độ rượu của mẫu thử ở 200

0 rượu.

100 Hệ số chuyển về 100 1000 Hệ số chuyển về 1l rượu.

25

Tạ Kiều Oanh – CS_K29

Khoá luận tốt nghiệp

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

1ml iod 0.01N tương ứng với 0.22mg acetaldehyde

26

Tạ Kiều Oanh – CS_K29

Khoá luận tốt nghiệp

Kết Quả Nghiên Cứu

3.1. CÁC CHỈ TIÊU VI SINH VẬT

Sự có mặt của vi sinh vật trong thực phẩm là dấu hiệu để nhận biết thực phẩm

bị ô nhiễm và giảm chất lượng. Chúng tôi tiến hành phân tích các chỉ tiêu vi sinh vật

trong các mẫu rượu vang, kết quả được trình bày ở bảng 1.

Bảng 1: Các chỉ tiêu vi sinh vật thu được sau 24 giờ nuôi cấy 2 mẫu rượu vang.

Mẫu TVKHK (CFU/ml) Coliform – E. coli S. aureus Cl. perfringens

2 5.7 x 10

Mẫu 1 - - -

2

Mẫu 2 <10 - - -

Từ số liệu bảng 1, chúng tôi nhận thấy tổng số vi khuẩn hiếu khí ở mẫu 1 nhiều

hơn mẫu 2 sau 24 giờ nuôi cấy, cũng tức là mẫu rượu bán thành phẩm có sự hiện diện

của nhiều vi khuẩn hiếu khí nhiều hơn. Bên cạnh đó, không phát hiện thấy xuất hiện

dấu hiệu của Coliforms, E. coli, cũng như S. aureus ở cả 2 mẫu rượu. Tuy nhiên, chỉ

nuôi cấy mẫu sau 24 giờ vẫn chưa thể khẳng định được trong mẫu có các vi sinh vật

trên hay không. Để kiểm tra kết quả nhận được, chúng tôi tiến hành xác định chỉ tiêu

vi sinh vật của 2 mẫu nói trên sau 48 giờ nuôi cấy. Kết quả thể hiện ở bảng 2.

Bảng 2: Các chỉ tiêu vi sinh vật thu được sau 48 giờ nuôi cấy 2 mẫu vang trên.

Mẫu TVKHK (CFU/ml) Coliform – E. coli S. aureus Cl. perfringens

2 6.4 x 10

Mẫu 1 - - -

2

Mẫu 2 <10 - - +

Số liệu trong bảng 2 cho thấy, ở mẫu 1 tổng số vi khuẩn hiếu khí tăng không

đáng kể sau 48 giờ nuôi cấy. Kết quả cho thấy rõ có sự tương ứng giữa chỉ tiêu vi sinh

vật ở các mẫu rượu vang sau 24 giờ và 48 giờ nuôi cấy. Tổng số vi khuẩn hiếu khí ở

mẫu 1 lớn hơn mẫu 2. Sau 48 giờ nuôi cấy, chúng tôi cũng không phát hiện thấy

Coliform, E. coli cũng như S. aureus. Như vậy ở cả mẫu rượu vang thành phẩm và bán

thành phẩm đều đạt tiêu chuẩn Việt Nam về chất lượng của rượu vang. Kết quả này

26

Tạ Kiều Oanh – CS_K29

Khoá luận tốt nghiệp

Kết Quả Nghiên Cứu

cũng chứng minh rằng trong quá trình chế biến và bảo quản rượu vang đảm bảo các

điều kiện về vệ sinh an toàn thực phẩm.

Tổng số vi khuẩn hiếu khí là một chỉ tiêu quan trọng đánh giá chất lượng sản

phẩm. Do mẫu 1 và 2 ở trên có tổng số vi khuẩn hiếu khí khá lớn, chúng tôi tiến hành

xác định tổng số vi khuẩn hiếu khí ở cả mẫu 1 và 2. Kết quả biểu diễn ở bảng 3.

Bảng 3: Số khuẩn lạc của vi khuẩn hiếu khí trong 2 mẫu rượu vang.

KẾT QUẢ (số khuẩn lạc)

Sau 24h Sau 48h Mẫu Đĩa thí nghiệm

10

-1

10

-2

10

-3

10

-1

10

-2

10

-3

Đĩa 1 32 0 53 18 5 26 Mẫu 1 Đĩa 2 30 3 55 27 6 27

Đĩa 1 3 0 7 3 1 0 Mẫu 2 Đĩa 2 4 0 6 5 0 2

Hình 1. Khuẩn lạc vi khuẩn hiếu khí của mẫu 1 được nuôi cấy trên môi trường thạch dinh dưỡng. Khuẩn lạc có màu trắng, hình tròn.

27

Tạ Kiều Oanh – CS_K29

Khoá luận tốt nghiệp

Kết Quả Nghiên Cứu

Phù hợp với kết quả ở bảng 1 và 2, số khuẩn lạc vi khuẩn hiếu khí đều có ở cả

mẫu 1 và 2 với số lượng đáng kể, tuy nhiên số khuẩn lạc ở mẫu 1 nhiều hơn mẫu 2.

Chúng tôi cũng nhận thấy sau 48 giờ nuôi cấy, số khuẩn lạc của vi khuẩn hiếu

: 26 – 18,… khí đều cao hơn nhiều so với sau 24 giờ nuôi cấy, các số liệu tương ứng thể hiện điều đó là ở nồng độ pha loãng 10-1: 32 – 53, 30 – 55; ở nồng độ pha loãng 10-2

Từ đó, chúng tôi rút ra nhận xét là muốn đánh giá chính xác tổng số vi khuẩn hiếu khí,

cần phải tiến hành nuôi cấy sau 48 giờ.

Sau 24 và 48 giờ nuôi cấy trong điều kiện thích hợp, cả 2 mẫu rượu đều cho kết

quả âm tính đối với chỉ tiêu E. coli và Coliform. Đối với mẫu 1, môi trường nuôi cấy

bị đục nhưng không có hiện tượng sinh hơi tức là chưa có sự xuất hiện của Coliform,

mẫu 2 môi trường không bị đục và không sinh hơi. Như vậy, rượu bán thành phẩm và

rượu thành phẩm đều không có sự xuất hiện của vi khuẩn gây bệnh đường ruột.

Hình 2. Môi trường LSB (-) Hình 3. Môi trường BGBL (-)

Với vi khuẩn kị khí Cl. perfringens, sau 24 giờ nuôi cấy thì cả 2 mẫu đều không

thể hiện sự xuất hiện của vi khuẩn này, nhưng sau 48 giờ nuôi cấy thì mẫu 2 (mẫu

rượu thành phẩm) lại thấy xuất hiện sự tồn tại của Cl. perfringens. Thí nghiệm trên

mẫu rượu thành phẩm chưa pha loãng, sau 48 giờ nuôi cấy, thấy xuất hiện 7 khuẩn lạc của Cl. perfringens, ở nồng độ pha loãng 10 -1 có 4 khuẩn lạc và ở nồng độ pha loãng 10-2 có 3 khuẩn lạc. Điều này chứng tỏ quá trình khử trùng không tiêu diệt hết bào tử

của vi khuẩn Cl. perfringens hoặc do quá trình vận chuyển làm nhiễm vi khuẩn từ môi

28

Tạ Kiều Oanh – CS_K29

Khoá luận tốt nghiệp

Kết Quả Nghiên Cứu

trường ngoài vào. Như vậy, rượu thành phẩm không đạt chất lượng theo quy định về

chất lượng rượu vang của TCVN 7045:2002.

Hình 4. Khuẩn lạc của Clostridium perfringens của mẫu 2. Khuẩn lạc có hình tròn, màu đen

Cùng với việc phân tích các chỉ tiêu vi sinh vật nói trên, chúng tôi cũng tiến

hành xác định sự có mặt của nấm men và nấm mốc trong rượu vang. Kết quả trình bày

ở bảng 4.

Bảng 4: Tổng số nấm men, nấm mốc thu được sau 3 – 6 ngày nuôi cấy.

Mẫu Sau 3 ngày (CFU/ml) Sau 6 ngày (CFU/ml)

2 10.4 x 10

2 21.2 x 10

Mẫu 1

Mẫu 2 <10 <10

Sau 3 ngày nuôi cấy ở điều kiện thích hợp, số nấm men trong mẫu 2 ít hơn

trong mẫu 1 là do quá trình lên men tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển và hoạt

động của men vang. Sau 6 ngày nuôi cấy, tế bào nấm men nhân sinh khối mạnh, tổng

số nấm men vang tăng gần gấp đôi so với 3 ngày trước đó. So với mẫu 1, số nấm men

và nấm mốc ở mẫu 2 ít hơn nhiều (<10 CFU/ml). Vì rượu thành phẩm thông qua giai

đoạn khử trùng sản phẩm nên sự sinh trưởng và phát triển của nấm men, nấm mốc bị

ức chế bởi các chất khử trùng.

29

Tạ Kiều Oanh – CS_K29

Khoá luận tốt nghiệp

Kết Quả Nghiên Cứu

Để kiểm tra kết quả ở bảng 4, chúng tôi tiến hành xác định số khuẩn lạc của

nấm men và nấm mốc. Số liệu thu được biểu diễn trong bảng 5.

Bảng 5: Số khuẩn lạc của nấm men, nấm mốc sau 3 – 6 ngày nuôi cấy.

KẾT QUẢ (số khuẩn lạc)

Sau 3 ngày Sau 6 ngày Mẫu Đĩa thí nghiệm

10

-1

10

-2

10

-3

10

-2

10

-3

10

-1

Đĩa 1 77 42 20 105 85 58 Mẫu 1 Đĩa 2 60 50 18 89 78 54

Đĩa 1 3 0 0 10 3 1 Mẫu 2 Đĩa 2 4 1 0 15 4 0

Kết quả ở bảng 5 cho thấy sau 6 ngày nuôi cấy số khuẩn lạc nấm men, nấm mốc

đều nhỏ hơn nhiều sau 3 ngày nuôi cấy ở tất cả các nồng độ pha loãng, ở nồng độ pha loãng 10-1 là 77 – 105, 60 – 89; ở nồng độ pha loãng 10-2 là 42 – 85, 50 – 78;… Chúng

tôi cũng nhận thấy mẫu 2 có số khuẩn lạc nấm men, nấm mốc ít hơn rất nhiều so với số khuẩn lạc của mẫu 1 ở cùng một nồng độ pha loãng, ở nồng độ pha loãng 10-1 mẫu 1 có 77 khuẩn lạc trong khi mẫu 2 có 3 khuẩn lạc, ở nồng độ 10 -2 mẫu 1 có 42 khuẩn

lạc, mẫu 2 không có khuẩn lạc nào.

Hình 5. Khuẩn lạc nấm men vang trên môi trường thạch Saboraud

30

Tạ Kiều Oanh – CS_K29

Khoá luận tốt nghiệp

Kết Quả Nghiên Cứu

Quan sát thấy trên đĩa thạch xuất hiện 2 dạng khuẩn lạc khác nhau: một dạng có

khuẩn lạc có hình tròn, dạng thứ 2 có hình ba cạnh nhọn. Làm tiêu bản, nhuộm gram,

soi kính hiển vi để định danh nấm men (phụ lục 1), xác định được có 2 loài là

Saccharomyces oviformis (tạo khuẩn lạc nhọn) và Saccharomyces cerevisiae (tạo

khuẩn lạc tròn).

Hình 6. Saccharomyces oviformis quan sát dưới kính hiển vi quang học

Hình 7. Saccharomyces cerevisiae quan sát dưới kính hiển vi quang học

Cùng với các chỉ t iêu vi sinh vật, các chỉ tiêu hóa lý là các chỉ tiêu rất quan

trọng để đánh giá chất lượng rượu vang.

31

Tạ Kiều Oanh – CS_K29

Khoá luận tốt nghiệp

Kết Quả Nghiên Cứu

3.2. CÁC CHỈ TIÊU HÓA LÝ

3.2.1. Nồng độ cồn

Kết quả phân tích hàm lượng ethanol ở mẫu 1 và 2 thể hiện ở bảng 6.

Bảng 6: Nồng độ cồn trong rượu.

Quy đổi về độ rượu ở 200C

C Mẫu 1

0 13.8 0

Độ rượu ở nhiệt độ thực 140 ở 210 90 ở 230 C 8.4 Mẫu 2

Từ bảng trên, chúng tôi rút ra một số nhận xét sau. Nồng độ cồn ở mẫu 1 cao

hơn mẫu 2. Khi kết thúc quá trình lên men phụ, nồng độ cồn lý thuyết nằm trong

khoảng 12 – 15%. Độ cồn của mẫu rượu bán thành phẩm (mẫu 1) là 13.8 độ, tức là

đang ở giai đoạn cuối của quá trình lên men. Nồng độ cồn ở mẫu rượu thành phẩm chỉ

đạt 8.4 độ, mà ở độ cồn này, rượu khó bảo quản được lâu vì xảy ra hiện tượng chua

O2 (điều kiện hiếu khí)

rượu do quá trình lên men acid acetic theo phương trình phản ứng:

O 2CH3CH2OH 2CH3COOH + 2H2

Để ức chế quá trình lên men acetic người ta phải bổ sung thêm cồn vào trong

rượu trước khi đóng chai. Trên thực tế, nồng độ cồn được ghi trên nhãn chai rượu của

công ty Beco Đà Lạt là 12.5 độ, vì rượu này đã hiệu chỉnh để đạt độ cồn thích hợp.

3.2.2. Hàm lượng acid tổng số, acid bay hơi và aldehyde trong rượu

Trong các chỉ tiêu hóa lý của rượu, người ta quan tâm nhiều đến lượng acid và

đặc biệt là hàm lượng aldehyde vì đây chính là nguyên nhân số một gây ngộ độc rượu.

Kết quả phân tích các chỉ tiêu này trình bày ở bảng 7.

Bảng 7: Hàm lượng acid tổng số, acid bay hơi và aldehyde trong rượu.

Acid bay hơi Aldehyde Acid tổng cộng

(mg/100ml) (g/l) (mg/l)

291.52 0.18 95.65 Mẫu 1

535.36 0.92 20.95 Mẫu 2

32

Tạ Kiều Oanh – CS_K29

Khoá luận tốt nghiệp

Kết Quả Nghiên Cứu

Lượng acid tổng cộng và acid bay hơi của mẫu 2 nhiều hơn mẫu 1 tức là sau khi

lên men, hàm lượng các acid trong rượu đã tăng lên. Điều đó chứng tỏ khử trùng

không tiêu diệt hết các vi sinh vật sinh acid làm lượng acid của mẫu rượu thành phẩm

nhiều hơn hàm lượng acid của mẫu rượu bán thành phẩm. Lượng acid bay hơi càng

nhỏ, rượu vang càng bảo quản được lâu.

Các mẫu rượu được lấy ở các giai đoạn khác nhau, m ẫu 1 (vang bán thành

phẩm): lấy ngày 20/04/2009 ở tank X, giai đoạn đang lên men, chưa qua thanh trùng;

mẫu 2 (vang thành phẩm): lấy ngày 27/04/2009 ở tank XVIII, giai đoạn sau lên men,

đã qua thanh trùng.

* TVKHK: Tổng số vi khuẩn hiếu khí

33

Tạ Kiều Oanh – CS_K29

Khoá luận tốt nghiệp

Kết Luận và Đề Nghị

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

I. KẾT LUẬN

Qua các thí nghiệm, chúng tôi rút ra một số kết luận như sau:

1. Do kết quả của giai đoạn khử trùng, rượu vang thành phẩm đều đạt tiêu chuẩn

vi sinh vật và các chỉ tiêu hóa lý quan trọng.

2. Trong quá trình lên men, khi lượng đường còn lại trong dịch lên men là 7 Bx thì

tiến hành khử trùng là hiệu quả nhất. Tác nhân khử trùng tốt nhất là Na2SO3

C trong 10phút,… với liều lượng 70 – 120mg/l, hoặc có thể dùng SO2 với liều lượng từ 30 đến 120mg/l hay khử trùng bằng nhiệt: hấp ở 600

II. ĐỀ NGHỊ

1. Giai đoạn khử trùng là cần thiết và đóng vai trò quan trọng trong việc tạo thành

sản phẩm đạt chất lượng cao. Tuy nhiên, để sản phẩm đạt được chất lượng tốt

nhất nên kết hợp khử trùng với một số phương pháp xử lý khác: sử dụng nhiệt

độ, các tác nhân vật lý,…

2. Quá trình lên men sản xuất rượu vang trải qua nhiều giai đoạn khác nhau, vì

vậy cần có các nghiên cứu về hiệu quả của thanh trùng ở từng giai đoạn để sản

phẩm đạt chất lượng tốt nhất.

Tạ Kiều Oanh – CS_K29

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Kiều Hữu Ảnh (1999), Vi sinh vật học công nghiệp, NXB Khoa học và Kỹ thuật.

[2] Bộ Y tế, Quy định về vệ sinh an toàn đối với bia hơi và rượu lên men độ cồn

thấp, số 3542.

[3] Công ty cổ phần rượu bia Đà Lạt, Hướng dẫn kiểm tra các chỉ tiêu vi sinh.

[4] Trần Xuân Hiển (2007), Đánh giá chất lượng thực phẩm , Khoa Nông nghiệp &

TNTN.

[5] Phạm Thành Hổ (2005), Nhập môn Công nghệ Sinh học, NXB Giáo dục.

[6] Lê Thanh Mai, Nguyễn Thị Hiền, Phạm Thu Thuỷ, Nguyễn Thanh Hằng, Lê Thị

Lan Chi (2006), Các phương pháp phân tích ngành công nghệ lên men, NXB Khoa

học và kỹ thuật, Hà Nội.

[7] Lê Thị Mai (2005), Luận văn tốt nghiệp, Đại học Đà Lạt.

[8] Lương Đức Phẩm (1998), Công nghệ vi sinh vật học, NXB Nông nghiệp

[9] TCVN 7045:2002, Rượu vang – Quy định kỹ thuật.

[10] Trần Thị Thanh (2003), Công nghệ vi sinh, NXB Giáo dục.

[11] Trần Linh Thước (2008), Phương pháp phân tích vi sinh vật trong nước, thực

phẩm và mĩ phẩm, NXB Giáo dục.

[12] Trung tâm Y tế dự phòng Lâm Đồng, Hướng dẫn kiểm nghiệm các chỉ tiêu vi

sinh và hoá lý của rượu vang.

[13] Đào Xuân Vinh (2008), Giáo trình các kỹ thuật kiểm nghiệm thực phẩm , Đại

học Đà Lạt.

Các website

[14] http://en.wikipedia.org

[15] http://namgioi.timnhanh.com

[16] http://www.medinet.hochiminhcity.gov.vn

[17] http://phacheruou.wordpress.com

[18] http://vi.wikipedia.org

[19] http://vietbao.vn/Suc-khoe

[20] http://www.vietnamnet.vn

[21] http://www.wineworld.vn

[22] http://www.wonderquest.com

Khoá luận tốt nghiệp

Phụ lục

PHỤ LỤC

1. Môi trường thạch dinh dưỡng

Cao thịt 5g Glucose 1g

Peptone 10g Agar 12 – 15g

NaCl 5g Nước cất 1000ml

. Đun sôi và khuấy đều cho tan. Phân phối vào ống nghiệm

C/15'. pH: 6.8 0.2± (15ml/ống). Hấp ướt ở 1210

2. Môi trường thạch Saboraud:

Glucose 20g Agar 10 – 15g

Peptone 10g Nước cất 1000ml

pH: 4.5 – 5.5. Phân phối vào ống nghiệm (15ml/ống). Khử trùng ở nhiệt độ

C/30'. 1100

3. Môi trường tăng sinh chọn lọc LSB (Lauryl Sulphate Broth)

Trypton 20g Lactose 5g

4

4

2.75g 2.75g K2HPO KH2PO

NaCl 5g Natri lauryl sulphate 0.1g

Nước cất 1000ml

pH: 6.8 0.2± . Trộn đều và khuấy cho tan. Phân phối vào ống nghiệm có chứa

C/15'. Môi trường LSB tổng hợp: 35.6g /l. ống Durham (10ml/ống). Hấp ở 1210

4. Canh trường mật bò BGBL 2% (Brilliant green 2% Bile Broth)

Peptone 10g Lactose 10g

Mật bò 20g Brilliant Green 0.0133g

Nước cất 1000ml

Hấp ở pH = 7.2. Phân phối vào ống nghiệm có ống Durham (5ml/ống).

C/20'. Môi trường tổng hợp: 40g/l. 1150

Tạ Kiều Oanh – CS_K29

Khoá luận tốt nghiệp

Phụ lục

5. Môi trường EMB (Eosin Methylrn Blue lactose agar)

Dipotassium 2g Peptone 10g

Lactose 5g Sucrose 5g

Eosin và Yellowish 0.4g Methyl blue 0.07g

Agar 13.5g Nước cất 1000ml

pH = 7.1. Phân phối vào ống nghiệm có ống Durham (20ml/ống) . Hấp khử

trùng ở 1210 C/15'. Môi trường tổng hợp: 36g/l.

6. Môi trường Indole

L-tryptophan 1g NaCl 1g

4

4

3.13g 0.27g K2HPO KH2PO

Nước cất 200ml

pH 7.2 0.2± . Hoà tan các thành phần. Phân phối vào ống nghiệm 13 x 100mm

C/15'. có nắp (1ml/ống). Nhiệt độ hấp là 1210

7. Môi trường MR – VP (Methyl Red Voges – Proskauer Broth)

4

Peptone 5g 5g KH2PO

D (+) Glucose 5g Nước cất 1000ml

pH 6.9 0.2± . Đun tan các thành phần. Phân phối vào ống nghiệm (5ml/ống).

Nhiệt độ hấp là 1210C/15'. Bảo quản 2 – 80 C cho tới khi sử dụng. Môi trường tổng

hợp: 17g/l.

8. Môi trường Simmon Citrate

4

4

1g 1g NH4H2PO K2HPO

3

NaCl 5g 2g Na2SO

4

MgSO 0.2g Bromothymol blue 0.08g

Agar 13g Nước cất 1000ml

pH 6.6 0.2± . Đun cho tan. Phân phối vào ống nghiệm (15ml/ống). Nhiệt độ hấp

C/15'. Môi trường tổng hợp: 22.3g/l. Đổ thạch nghiêng. 1210

Tạ Kiều Oanh – CS_K29

Khoá luận tốt nghiệp

Phụ lục

9. Môi trường nước peptone

Peptone 10g NaCl 10g

Nước cất 1000ml

pH 7.0 0.2± . Đun tan. Phân phối vào ống nghiệm (10ml/ống). Hấp 1210 C/15'.

10. Môi trường thạch thường

Peptone 10g Cao thịt 3g

Agar 12g NaCl 5g

Nước cất 1000ml

C/15'. pH 7.0 0.2± . Đun tan. Phân phối vào ống nghiệm (15ml/ống). Hấp 1210

11. Môi trường dextrose

Cao thịt 3g Peptone 10g

NaCl 5g 1000ml

C/15'. pH: 7.0 0.2± Nước cất . Đun tan. Phân phối vào ống nghiệm (10ml/ống). Hấp ở 1210

12. Môi trường TSTC (Staphylococcus Enrichment Broth)

Peptone từ thịt 8g Peptone từ casein 2g

Cao nấm men 1g Cao thịt 5g

Sodium pyruvate 10g Glycine 12g

Lithium chloride 5g Nước cất 1000ml

. Đun tan các thành phần. Phân phối vào ống nghiệm (10ml/ống).

C/15'. Môi trường tổng hợp: 55g/l. pH: 6.6 0.2± Nhiệt độ hấp 1210

13. Môi trường Chapman (Mannitol salt phenol – red agar)

Peptone 10g Cao thịt 1g

NaCl 75g D (-) Mannitol 10g

Đỏ phenol 0.025g Agar 12g

Nước cất 1000ml

Tạ Kiều Oanh – CS_K29

Khoá luận tốt nghiệp

Phụ lục

pH: 7.4 0.2±

. Đun tan các thành phần. Phân phối vào ống nghiệm (20ml/ống). Môi trường tổng hợp: 108g/l. Hấp để nguội ở 500C rồi cho 10ml dung dịch egg york vào. Hấp khử trùng ở 1210 C/15'. Đổ đĩa petri.

14. Môi trường Wilson – Blair cải tiến:

Cao thịt 5g Glucose 20g

Peptone 10g Agar 15g

NaCl 5g Nước cất 1000ml

pH: 7.7 0.2±

. Đun tan các thành phần. Phân phối vào ống nghiệm (20ml/ống). Thanh trùng ở 121 0C/15'. Trước khi sử dụng thì đem đun tan chảy rồi thêm vào 2ml

20% và 5 giọt phèn sắt amoni 5% (thao tác ở điều kiện vô trùng). dung dịch Na2SO3

15. Thuốc thử Methyl red

0.1g Methyl Red

300ml Ethanol 95%

500ml Nước cất

Hoà tan methyl red vào ethanol. Thêm nước cất vào cho đủ thể tích 500ml.

16. Thuốc thử Kowac’s

Paradimethyl aminobenzaldehyt 5g

75ml Cồn Amilic (hoặc izoamilic)

25ml HCl

Hoà Paradimethyl aminobenzaldehyt trong cồn Amilic, khi hoà tan cho dần

HCl vào. Nên đặt lọ dùng để pha thuốc thử trong 1 chậu nước lạnh. Trước khi cho acid

vào không được nút lọ thuốc thử bằng nút cao su vì một số loại cao su có thể hoà tan

trong cồn Amilic. Phải để thuốc thử trong chai nâu, đậy kín, bảo quản lạnh.

17. Dung dịch Crystal violet

Dung dịch A Dung dịch B

Crystal violet 20g Ammonium oxalate 8g

0

Ethanol 95 200ml Nước cất 800ml

Tạ Kiều Oanh – CS_K29

Khoá luận tốt nghiệp

Phụ lục

Trộn đều 2 dung dịch A và B lại với nhau, để yên 24h. Sau đó, đem lọc rồi để

vào chai nâu.

18. Dung dịch Lugol

Iod 20g

KI 100g

Nước cất 900ml

Hoà KI trong nước cất cho tan rồi thêm iod vào, định mức tới 1000ml.

19. Dung dịch Fuchsin

0

Fuchsin 1g

Ethanol 95 100ml

Nước cất 900ml

Hoà tan fuchsin trong ethanol. Sau đó thêm nước cất cho đủ 1000ml, lọc qua

giấy lọc, bảo quản trong chai nâu.

20. Cồn iod

0

100ml Ethanol 95

2 – 4ml Dung dịch iod 10%

21. Dung dịch acid acetic 5N

28.75ml Acid glacial acetic

71.25ml Nước cất

Đậy kín và bảo quản trong chai đen hoặc nâu.

22. Dung dịch αNaphthol

αNaphthol Acid acetic 5N

1g

200ml

Đậy kín và bảo quản trong chai đen hoặc nâu.

Tạ Kiều Oanh – CS_K29

Khoá luận tốt nghiệp

Phụ lục

23. Dung dịch Natri metabisunfit:

Hoà tan 15g Natri metabisunfit vào nước cất, cho thêm 70ml HCl đặc, thêm

nước cất cho đủ 1l.

24. Dung dịch phosphate – EDTA:

4

71.7g KH2PO

NaOH 42g

EDTA 4.5g

Hoà tan các chất trên, thêm nước cất cho đủ 1l.

25. Dung dịch Borat kiềm

) với 170g NaOH. Định mức nước cất tới 1l. Hoà 100g acid boric (H3BO3

Phụ lục 1: Phương pháp nhuộm gram.

Nhỏ mẫu thử lên lame kính, để khô, sau đó cố định bằng cồn và hơ nóng nhẹ.

Nhuộm bằng dung dịch crystal violet trong 1 – 2'.

Đổ hết thuốc nhuộm đi, nhỏ dung dịch lugol lên và để trong 1'. Rửa bằng nước,

nhúng vào cồn iod trong 30 – 40". Rửa bằng nước, nhuộm bổ sung bằng fuchsin loãng

trong 0.5 – 1'. Rửa, để khô và soi trên kính hiển vi.

Vi khuẩn gram (+) bắt màu tím, gram (-) bắt màu đỏ.

Tạ Kiều Oanh – CS_K29