BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TRƢỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG ---o0o---
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI: MỞ RỘNG CHO VAY ĐỐI VỚI LÀNG NGHỀ TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI CỔ PHẦN Á CHÂU CHI NHÁNH BẮC NINH
: A18654
SINH VIÊN THỰC HIỆN : TRẦN THỊ QUÝ MÃ SINH VIÊN CHUYÊN NGÀNH
: NGÂN HÀNG
HÀ NỘI – 2014
BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TRƢỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG ---o0o---
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI: MỞ RỘNG CHO VAY ĐỐI VỚI LÀNG NGHỀ TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI CỔ PHẦN Á CHÂU CHI NHÁNH BẮC NINH
Giáo viên hƣớng dẫn : TS. Nguyễn Thị Thúy Sinh viên thực hiện Mã sinh viên Chuyên ngành
: Trần Thị Quý : A18654 : Ngân hàng
HÀ NỘI – 2014
LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên em xin gửi lời cảm ơn đến toàn thể giáo viên Khoa Kinh tế - Quản lí
Trường Đại học Thăng Long đã giảng dạy, giúp em tích lũy được những kiến thức bổ
ích khi ngồi trên ghế nhà trường, giúp em có những kiến thức nền tảng về kinh tế, tài
chính ngân hàng để có thể hoàn thành được khóa luận này.
Em xin đặc biệt gửi tới TS. Nguyễn Thị Thúy, giáo viên hướng dẫn em hoàn thành khóa luận này lời cảm ơn sâu sắc. Cảm ơn cô đã tận tình hướng dẫn, sửa chữa để
em có thể thực hiện khóa luận tốt nghiệp một cách tốt nhất.
Tiếp đến em xin cảm ơn Ban lãnh đạo cùng các cô chú, anh chị nhân viên tại
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu Chi nhánh Bắc Ninh đã tạo điều kiện tốt nhất
cho em trong quá trình thực tập, giúp em học hỏi được nhiều kinh nghiệm đáng quý,
hơn nữa còn giúp em thu thập thông tin cho khóa luận và phân tích số liệu dễ dàng
hơn.
Cuối cùng em xin cảm ơn những thành viên gia đình đã luôn ở bên cạnh, cổ vũ
động viên em trong suốt quá trình làm khóa luận, để em có thể hoàn thành nó tốt nhất.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 26 tháng 10 năm 2014
Sinh viên
Trần Thị Quý
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan khóa luận tốt nghiệp này là do tự bản thân thực hiện có sự hỗ
trợ từ giáo viên hướng dẫn và không sao chép các công trình nghiên cứu của người
khác. Các dữ liệu thông tin thứ cấp sử dụng trong khóa luận là có nguồn gốc và được
trích dẫn rõ ràng.
Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan này!
Sinh viên
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MỞ RỘNG CHO VAY ĐỐI VỚI LÀNG
NGHỀ TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI ........................................................... 1
1.1. Tổng quan về làng nghề ............................................................................... 1
1.1.1. Khái niệm về làng nghề .......................................................................... 1
1.1.2. Đặc trưng của làng nghề ........................................................................ 2
1.1.3. Phân loại làng nghề ................................................................................ 5
1.1.4. Vai trò của làng nghề đối với sự phát triển kinh tế ............................... 5
1.1.5. Các yếu tố quyết định đến sự tồn tại và phát triển làng nghề .............. 8
1.2. Cho vay đối với làng nghề của ngân hàng thƣơng mại ........................... 10
1.2.1. Khái niệm cho vay đối với làng nghề ................................................... 10
1.2.2. Nguyên tắc cho vay đối với làng nghề ................................................. 11
1.2.3. Quy trình cho vay đối với làng nghề .................................................... 11
1.2.4. Các loại hình cho vay làng nghề .......................................................... 13
1.2.4.1. Căn cứ vào phương thức cho vay ....................................................... 14
1.2.4.2. Căn cứ vào thời hạn cho vay .............................................................. 15
1.2.4.3. Căn cứ vào hình thức đảm bảo của các khoản vay ............................ 15
1.2.5. Vai trò của cho vay đối với sự phát triển kinh tế ở các làng nghề ..... 16
1.3. Mở rộng cho vay đối với làng nghề của ngân hàng thƣơng mại ............ 17
1.3.1. Khái niệm mở rộng cho vay đối với làng nghề .................................... 17
1.3.2. Sự cần thiết phải mở rộng cho vay đối với làng nghề ......................... 17
1.3.3. Các chỉ tiêu đánh giá hoạt động cho vay của ngân hàng thương
mại ............................................................................................................... 18
1.3.3.1. Các chỉ tiêu định tính ......................................................................... 18
1.3.3.2. Các chỉ tiêu định lượng ...................................................................... 18
1.3.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến mở rộng cho vay đối với làng nghề tại ngân hàng thương mại ........................................................................................ 21
1.3.4.1. Nhân tố có thể kiểm soát được ........................................................... 21
1.3.4.2. Nhân tố không thể kiểm soát được ..................................................... 24
CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG CHO VAY ĐỐI VỚI LÀNG NGHỀ TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI CỔ PHẦN CHÂU CHI NH NH ẮC NINH ......... 26
2.1. Khái quát về Ngân hàng Thƣơng mại Cổ phần Á Châu ........................ 26
2.1.1. Sơ lược về Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu ........................ 26
2.1.2. Quá trình hình thành và phát triển của Ngân hàng Thương mại Cổ
phần hâu hi nhánh Bắc Ninh .................................................................... 26
2.1.3. ơ cấu tổ chức của Ngân hàng Thương mại Cổ phần hâu hi nhánh ắc Ninh ................................................................................................... 27
2.1.4. Chức năng, nhiệm vụ của từng bộ phận ............................................. 28
2.1.4.1. Ban Giám đốc ..................................................................................... 28
2.1.4.2. Phòng Kinh doanh .............................................................................. 28
2.1.4.3. Phòng Giao dịch Ngân quỹ ................................................................ 28
2.1.4.4. Phòng Hành chính – Kế Toán ............................................................ 29
2.1.5. Kết quả kinh doanh của Ngân hàng Thương mại ổ hần hâu
Chi nhánh Bắc Ninh ............................................................................................ 31
2.1.5.1. Hoạt động huy động vốn .................................................................... 31
2.1.5.2. Hoạt động cho vay .............................................................................. 33
2.1.5.3. Hoạt động kinh doanh khác................................................................ 37
2.1.5.4. Kết quả tài chính ................................................................................ 38
2.2. Đôi nét về các làng nghề tại Bắc Ninh ...................................................... 40
2.2.1. Giới thiệu chung về các làng nghề ...................................................... 40
2.2.2. Hoạt động sản xuất kinh doanh tại các làng nghề ............................. 41
2.2.2.1. Về thị trường ....................................................................................... 41
2.2.2.2. Hoạt động tổ chức sản xuất ................................................................ 42
2.2.2.3. Công nghệ trang thiết bị ..................................................................... 42
2.2.2.4. Các vấn đề về môi trường .................................................................. 43
2.2.2.5. Phương hướng sản xuất kinh doanh của các làng nghề tại Bắc Ninh ............................................................................................................ 43
2.3. Thực trạng cho vay đối với làng nghề tại Ngân hàng Thƣơng mại Cổ
phần Châu Chi nhánh ắc Ninh ........................................................................ 44
2.3.1. ác văn bản pháp lý điều chỉnh hoạt động cho vay làng nghề tại
Ngân hàng Thương mại Cổ phần hâu hi nhánh ắc Ninh ..................... 44
2.3.2. Một số quy định về chính sách cho vay đối với làng nghề tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu Chi nhánh Bắc Ninh ............................... 44
2.3.2.1. Nguyên tắc cho vay đối với làng nghề ............................................... 44
2.3.2.2. Điều kiện cho vay đối với làng nghề .................................................. 44
2.3.2.3. Thời hạn cho vay đối với làng nghề ................................................... 45
2.3.2.4. Mức cho vay đối với làng nghề .......................................................... 45
2.3.2.5. Các phương thức cho vay đối với làng nghề ..................................... 46
2.3.2.6. Lãi suất cho vay đối với làng nghề ..................................................... 47
2.3.2.7. Quy trình cho vay đối với làng nghề .................................................. 47
2.3.3. Các chỉ tiêu đánh giá mở rộng cho vay đối với làng nghề tại Ngân
hàng Thương mại Cổ phần hâu hi nhánh ắc Ninh ............................... 49
2.3.3.1. Các chỉ tiêu định tính ......................................................................... 49
2.3.3.2. Các chỉ tiêu định lượng ...................................................................... 50
2.4. Đánh giá mở rộng cho vay đối với làng nghề tại Ngân hàng Thƣơng
mại Cổ Phần Á Châu Chi nhánh Bắc Ninh .......................................................... 63
2.4.1. Kết quả đạt được ................................................................................... 63
2.3.4. Hạn chế ................................................................................................. 64
2.3.5. Nguyên nhân ......................................................................................... 65
CHƢƠNG 3. GIẢI PHÁP MỞ RỘNG CHO VAY ĐỐI VỚI LÀNG NGHỀ TẠI
NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI CỔ PHẦN Á CHÂU CHI NHÁNH BẮC
NINH ............................................................................................................ 67
Định hƣớng hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Thƣơng mại Cổ
3.1. phần Châu Chi nhánh ắc Ninh ........................................................................ 67
3.2. Định hƣớng mở rộng cho vay đối với àng nghề tại Ngân hàng Thƣơng
mại Cổ phần Châu Chi nhánh ắc Ninh .......................................................... 67
3.3. Giải pháp mở rộng cho vay đối với làng làng nghề của Ngân hàng
Thƣơng mại Cổ phần Á Châu Chi nhánh Bắc Ninh ............................................ 68
3.3.1. Tăng cư ng hoạt động huy động vốn .................................................. 68
3.3.2. ổ sung nguồn nhân lực, h ng ngừng nâng cao tr nh độ đội ng nhân sự ............................................................................................................... 70
3.3.3. ch nh sách ưu đ i về l i suất đối với hu vực làng nghề .............. 72
3.3.4. hát huy tối đa c ng tác marketing đối với hu vực làng nghề ......... 72
3.3.5. ở rộng mạng lưới hoạt động ............................................................. 73
3.3.6. Thực hiện cơ chế bảo đảm tiền vay linh hoạt ..................................... 74
3.3.7. hối hợp chặt ch hơn n a với ch nh quyền địa phương .................. 74
3.3.8. ở dịch vụ tư vấn cho hách hàng tại làng nghề .............................. 75
3.3.9. Đa dạng h a phương thức cho vay tại làng nghề ............................... 75
3.3.10. ần đảm bảo sự b nh đ ng trong quan hệ cho vay gi a các đối tượng
hách hàng tại làng nghề .................................................................................... 76
3.4. Một số kiến nghị ......................................................................................... 76
3.4.1. Kiến nghị đối với Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu ............ 76
3.4.2. Kiến nghị đối với Ngân hàng Nhà nước .............................................. 77
3.4.3. Kiến nghị đối với Nhà nước và chính quyền địa phương ................... 77
3.4.4. iến nghị đối với các làng nghề ........................................................... 78
KẾT LUẬN
DANH MỤC VIẾT TẮT
Ký hiệu viết tắt Tên đầy đủ
ATM Máy rút tiền tự động
CN Cá nhân
GTCG Giấy tờ có giá
HĐTD Hợp đồng tín dụng
HMTD Hạn mức tín dụng
KH Kỳ hạn
NHNN Ngân hàng nhà nước
NHTM Ngân hàng thương mại
TCKT Tổ chức kinh tế
TG Tiền gửi
DANH MỤC BẢNG BIỂU, ĐỒ THỊ, HÌNH VẼ
Bảng 2.1. Tình hình nguồn vốn huy động của Ngân hàng Châu Chi nhánh Bắc Ninh
giai đoạn 2011-2013 ...................................................................................................... 31
Bảng 2.2. Tình hình cho vay của Ngân hàng Châu Chi nhánh Bắc Ninh giai đoạn
2011-2013 ...................................................................................................................... 34
Bảng 2.3. Tình hình hoạt động thanh toán quốc tế và kinh doanh ngoại hối của Ngân hàng Châu Chi nhánh Bắc Ninh giai đoạn 2011 - 2013 ............................................ 37
Bảng 2.4. Kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng Châu Chi nhánh Bắc Ninh
giai đoạn 2011 – 2013 ................................................................................................... 38
Bảng 2.5. Doanh số cho vay tại làng nghề của Ngân hàng Châu Chi nhánh Bắc
Ninh giai đoạn 2011 - 2013 ........................................................................................... 51
Bảng 2.6. Dư nợ cho vay tại làng nghề của Ngân hàng Á Châu Chi nhánh Bắc Ninh
giai đoạn 2011 - 2013 .................................................................................................... 54
Bảng 2.7. Doanh số thu nợ tại làng nghề của Ngân hàng Châu Chi nhánh Bắc Ninh
giai đoạn 2011 – 2013 ................................................................................................... 57
Bảng 2.8. Số lượng khách hàng vay vốn tại làng nghề của Chi nhánh ACB Bắc Ninh
giai đoạn 2011 – 2013 ................................................................................................... 59
Bảng 2.9. T lệ nợ quá hạn tại làng nghề của Ngân hàng Á Châu Chi nhánh Bắc Ninh
giai đoạn 2011 – 2013 ................................................................................................... 60
Bảng 2.10. T lệ nợ xấu tại làng nghề của Ngân hàng Châu Chi nhánh Bắc Ninh
giai đoạn 2011 – 2013 ................................................................................................... 61
Bảng 2.11. T lệ thu nhập từ hoạt động cho vay đối với làng nghề tại Ngân hàng
Châu Chi nhánh Bắc Ninh giai đoạn 2011 – 2013 ........................................................ 62
Biểu đồ 2.1. Biểu đồ thể hiện t trọng dư nợ cho vay làng nghề trên tổng dư nợ của
Ngân hàng Á Châu Chi nhánh Bắc Ninh giai đoạn 2011 – 2013 .................................. 54
Sơ đồ 2.1 Cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Châu Chi nhánh Bắc Ninh ...................... 27
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam đang chuyển sang thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Trong đó “Đặc biệt coi trọng công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông
thôn là một trong những nội dung của công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta trong những năm tới. Một trong những trọng tâm của việc công nghiệp hóa, hiện đại hóa
nông nghiệp, nông thôn là khôi phục các làng nghề truyền thống, phát triển thêm
những làng nghề mới nhằm tạo ra nhiều việc làm, thu hút nguồn lao động nhàn rỗi
trong nông nghiệp vào hoạt động dịch vụ và sản xuất phi nông nghiệp trên địa bàn nông thôn. Từ đó nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống của người dân, và từng bước
chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thông theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hóa, góp
phần thực hiện chiến lược kinh tế mở, đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu, phát triển đất
nước giàu mạnh. Đây không những là nhiệm vụ có ý nghĩa kinh tế mà nó còn có ý
nghĩa chính trị - xã hội trong sự nghiệp phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Bắc Ninh – miền quê của những di sản lịch sử, văn hóa tiêu biểu. Hơn thế nữa,
nơi đây còn có rất nhiều làng nghề đang từng bước phát triển mạnh mẽ. Các làng nghề
tại Bắc Ninh đóng góp một phần không nhỏ vào sự nghiệp phát triển kinh tế của tỉnh
và cả nước. Theo thống kê từ Cục Thống kê tỉnh Bắc Ninh, trên địa bàn tỉnh hiện nay
có tới 62 làng nghề, đóng góp trên 30 DP cho tỉnh. Tuy nhiên các làng nghề này
vẫn còn rất nhiều hạn chế, bất cập. Đó chính là sự thiếu vốn đầu tư vào hoạt động sản
xuất kinh doanh của các hộ sản xuất, cơ sở sản xuất tại các làng nghề. Theo thống kê,
có tới 70 hộ, cơ sở sản xuất tại làng nghề thiếu vốn kinh doanh. Các làng nghề tại
đây chủ yếu hoạt động theo kiểu tự phát, sản xuất chưa ổn định, thiết bị sản xuất, công
nghệ vẫn còn rất thủ công, lạc hậu, khả năng tự chủ về vốn còn rất kém, khả năng các
làng nghề ngày càng bị mai một dần là rất cao. Điển hình như tại làng gốm Ph Lãng,
t lệ áp dụng công nghệ truyền thống lên tới 83,3 , hơn nữa, tại đây không có hệ thống xử lý nước thải, chất thải, gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Chính vì thế, để có thể đổi mới công nghệ, khắc phục những yếu kém trong sản xuất theo lối cũ, phát phát triển bền vững thì các hộ, cơ sở sản xuất nơi đây cần có vốn đầu tư để đổi
mới trang thiết bị, máy móc, công nghệ. Thế nhưng các NHTM do chưa thực sự có những chiến lược tiếp cận làng nghề cụ thể dẫn đến việc có quá ít thông tin về hoạt động kinh doanh của các hộ, cơ sở sản xuất kinh doanh tại làng nghề. hông chỉ vậy,
trình độ văn của người dân nơi tại các làng nghề còn thấp, việc tiếp xúc với ngân hàng
và các tổ chức tín dụng là không nhiều. Việc này dẫn đến ngân hàng không thể đáp ứng nguồn vốn kịp thời cho các hộ sản xuất tại làng nghề. Để khắc phục tình trạng
trên, các ngân hàng cần tìm ra những giải pháp thiết thực, có hiệu quả nhằm mục tiêu
mở rộng hoạt động tín dụng, đáp ứng được nhu cầu vốn vay của các hộ sản xuất tại
làng nghề. Do vậy, em đã mạnh dạn chọn “Mở rộng cho vay đối với làng nghề tại
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu Chi nhánh Bắc Ninh làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình.
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài
Thông qua quá trình nghiên cứu, khóa luận làm rõ 3 mục tiêu sau:
Mục tiêu 1: Làm rõ cơ sở lí luận về mở rộng cho vay đối với làng nghề tại ngân
hàng thương mại.
Mục tiêu 2: Phân tích, đánh giá thực trạng mở rộng cho vay đối với làng nghề tại
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu Chi nhánh Bắc Ninh. Từ đó rút ra được
những vấn đề còn tồn tại và nguyên nhân ảnh hưởng tới việc cho vay đối với làng nghề tại đơn vị.
Mục tiêu 3: Đưa ra những giải pháp mở rộng cho vay đối với làng nghề tại Ngân
hàng Thương mại Cổ phần Á Châu Chi nhánh Bắc Ninh.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu đề tài
Đối tượng nghiên cứu: ở rộng cho vay đối với làng nghề tại ngân hàng
thương mại.
Phạm vi nghiên cứu: ở rộng cho vay đối với làng nghề tại Ngân hàng Thương
mại Cổ phần Á Châu Chi nhánh Bắc Ninh giai đoạn năm 2011 – 2013.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để hoàn thành khóa luận, người viết đã kết hợp sử dụng các phương pháp thu
thập thông tin, phương pháp phân tích thông tin, phương pháp phân tích – tổng hợp,
phương pháp diễn giải quy nạp, phương pháp đối chiếu – so sánh, phương pháp mô tả – khái quát và phương pháp hệ thống hóa.
5. Kết cấu của khóa luận
Ngoài lời mở đầu, kết luận, danh mục tham khảo, danh mục viết tắt, danh mục bảng biểu và đồ thị. Kết cấu của khóa luận bao gồm ba chương với nội dung cơ bản như sau:
Chƣơng 1: Cơ sở lí luận về mở rộng cho vay đối với làng nghề tại ngân hàng
thƣơng mại.
Chƣơng 2: Thực trạng mở rộng cho vay đối với làng nghề tại Ngân hàng
Thƣơng mại Cổ phần Á Châu Chi nhánh Bắc Ninh.
Chƣơng 3: Giải pháp mở rộng cho vay đối với làng nghề tại Ngân hàng
Thƣơng mại Cổ phần Á Châu Chi nhánh Bắc Ninh.
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MỞ RỘNG CHO VAY ĐỐI VỚI LÀNG
NGHỀ TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI
1.1. Tổng quan về làng nghề
1.1.1. Khái niệm về làng nghề
Làng nghề Việt Nam đã có từ hàng trăm năm nay, gắn liền với bản sắc văn hóa
dân tộc cùng sự phát triển kinh tế của đất nước. Cho đến nay đã có rất nhiều làng nghề
đã được khôi phục. Các làng nghề đầu tư nhiều hơn vào trang thiết bị, công nghệ tiên
tiến để cho ra những sản phẩm làng nghề tốt nhất, phục vụ không chỉ nhu cầu trong nước mà còn đạt giá trị xuất khẩu rất lớn. Ví dụ như một số làng nghề sản xuất hàng
thủ công mỹ nghệ đã có sản phẩm xuất khẩu sang các nước Tây Âu, Mỹ đem lại nguồn
ngoại tệ cho đất nước, đồng thời đời sống vật chất và tinh thần của người dân làng
nghề đã có bước thay đổi. Các mặt hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam đã có chỗ đứng trên thị trường thế giới, được xuất khẩu trên 163 quốc gia.1 Cùng với sự thay đổi tích cực để hòa nhịp vào giai đoạn hội nhập kinh tế của đất nước, vẫn còn rất nhiều làng
nghề gặp thách thức lớn, trước nguy cơ mất dần của các làng nghề và ô nhiễm môi
trường, cùng với việc sức khỏe của người dân tại làng nghề và ngoài làng nghề bị ảnh
hưởng. Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, thống kê từ 38 tỉnh, thành năm
2009 cho thấy đã có 9 làng nghề bị phá sản, 124 làng nghề khác đang sản xuất cầm
chừng (chiếm khoảng 10% tổng số các làng nghề); 2.166 hộ sản xuất làng nghề có đăng ký kinh doanh đóng cửa; 468 doanh nghiệp làng nghề hoạt động cầm chừng (chiếm 16% tổng số doanh nghiệp làng nghề) 2.
Dù làng nghề đã có từ rất lâu đời, nhưng vẫn còn rất nhiều người chưa hiểu rõ về
nó. Vậy làng nghề là gì? Đã có rất nhiều những quan điểm khác nhau về làng nghề. Có
nhà nghiên cứu cho rằng “Làng nghề cần được hiểu là những làng nông thôn có các
1 Nguyễn Thị Thu Hường, Chính sách vốn và đầu tư đối với làng nghề thủ công mỹ nghệ, Tạp chí Tài chính, số tháng 12-2013 2 Trần Cao Cương (2009), Mở rộng thị trường mới cho làng nghề, www.nhandan.com.vn 3 Dương Bá Phượng (2001), Bảo tồn và phát triển các làng nghề trong quá trình công nghiệp hóa, Nxb. KHXN, HN, trang 16 4 Mai Thế Hởn – Hoàng Ngọc Hòa – Vũ Văn Phúc (2003), Phát triển làng nghề truyền thống trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, trang 13
ngành nghề phi nông nghiệp chiếm ưu thế về số hộ, số lao động và số thu nhập so với nghề nông 3. Có nhà nghiên cứu định nghĩa: “Làng nghề là một cụm dân cư sinh sống trong cùng một làng (thôn), có một hay một số nghề được hình thành có tính chất phi nông nghiệp và trước hết là tiểu thủ công nghiệp. Thu nhập và t lệ sử dụng lao động của những ngành nghề đó chiếm t lệ cao trong tổng số thu nhập và lao động của làng 4. Tựu chung lại, theo Thông tư số 116/2006/TT-BNN, ngày 18 tháng 12 năm 2006 về nội dung và các tiêu chí công nhận nghề truyền thống, làng nghề, làng nghề
1
truyền thống của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, khái niệm làng nghề được
định nghĩa như sau:
“Làng nghề là một hoặc nhiều cụm dân cư cấp thôn, ấp, bản, làng, buôn, phum,
sóc hoặc các điểm dân cư tương tự trên địa bàn một xã, thị trấn, có các hoạt động ngành nghề nông thôn, sản xuất ra một hoặc nhiều loại sản phẩm khác nhau.”
1.1.2. Đặc trưng của làng nghề
Tại Việt Nam, hiện có rất nhiều làng nghề khác nhau. Tuy nhiên các làng nghề
này đều có chung những đặc điểm sau:
Thứ nhất, các làng nghề tồn tại ở nông thôn và gắn bó mật thiết với nền sản xuất
nông nghiệp
Làng nghề tồn tại ở từng ấp, xã ở nông thôn. Theo nghiên cứu của GS. TS Đặng
Kim Chi nhằm bảo tồn và phát triển bền vững các làng nghề, hiện trong cả nước có 13% số hộ nông dân chuyên sản xuất nghề, 27% số hộ nông dân tham gia sản xuất
nghề.
Ban đầu người lao động ở nông thôn (chính là người nông dân) do nhu cầu việc
làm và thu nhập đã làm thêm nghề thủ công bên cạnh nghề làm ruộng, nghề chính là
làm ruộng, nghề phụ là thủ công nghiệp. Khi lực lượng sản suất phát triển, thủ công
nghiệp vươn lên trở thành nghề chính ở một số làng. Tuy họ làm nghề thủ công nhưng
họ vẫn canh tác trên mảnh đất của mình. Hầu hết họ giữ mảnh đất nông nghiệp để họ trồng trọt chăn nuôi, hay thuê người làm và sản phẩm từ những mảnh ruộng đó chủ
yếu chỉ đáp ứng được nhu cầu lương thực trong gia đình. Hoạt động sản xuất nông
nghiệp và sản xuất kinh doanh tiểu thủ công nghiệp trong các làng, xã đan xen nhau.
Từ đó, nghề thủ công bắt đầu ra đời đáp ứng nhu cầu sinh hoạt của nông dân, nông
nghiệp, thúc đẩy nhau cùng phát triển.
Thứ hai, sản xuất tại làng nghề vẫn chủ yếu theo phương pháp thủ công, thô sơ,
lạc hậu.
Công cụ lao động mà người thợ thủ công tại các làng nghề sử dụng vốn là những thứ thô sơ, sản xuất mang tính đơn chiếc. Số công cụ này chủ yếu do chính tay người thợ thủ công chế tạo ra (Đối với nghề làm gỗ, công cụ chủ yếu được sử dụng là đục,
d i đục, bàn mộc, búa, kìm được sản xuất thủ công). Chính vì vậy, các sản phẩm làm ra mang đặc điểm chủ quan của người thợ làm ra nó. Sản phẩm làm ra không chỉ thể hiện sự khéo léo, tỉ mỉ của người thợ thủ công, mà còn thể hiện được những kinh
nghiệm lâu năm được đúc kết. Hiện nay, đã có một số nghề cải tiến dây chuyền thiết
bị, công nghệ. Tuy nhiên phần lớn đều là thiết bị tự chế, lắp ráp thiếu tính đồng bộ. Phương pháp sản xuất tại các làng nghề vẫn còn rất lạc hậu. Ví dụ như tại làng nghề tái
2
chế chì Đông ai, người dân làng nghề thu mua ắc-quy hỏng, phá dỡ ắc-quy tại nhà,
và nấu chì bằng tay thủ công ngoài cánh đồng làng,
Thứ ba, hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh trong các làng nghề nông thôn
chủ yếu là theo hộ gia đình.
Khi mới hình thành, hình thức tổ chức kinh doanh của làng nghề là hộ gia đình,
hình thức này vẫn được duy trì cho tới ngày nay và chiếm t trọng lớn. Theo nghiên
cứu nhằm bảo tồn và phát triển bền vững các làng nghề của S. TS Đặng im Chi,
trong tổng số 40.500 cơ sở sản xuất ở các làng nghề trên cả nước thì có 80,1% là các hộ gia đình, 5,8% theo hình thức Hợp tác xã và 14,1% thuộc các dạng sở hữu khác.
Chủ gia đình hay chính là chủ cơ sở sản xuất thường trực tiếp quản lý toàn bộ khâu kỹ
thuật và tính toán kinh doanh. Ngoài ra, số công nhân phải thuê mướn là các lao động
nông nhàn tại các vùng lân cận. Hình thức kinh tế tiểu chủ xuất hiện ở các làng nghề có mô hình sản xuất tập trung, có quy mô. Các tiểu chủ đầu tư xây dựng xưởng và mua
sắm máy móc thiết bị, sau đó thuê lao động, hình thức sản xuất mang tính chất tiểu thủ
công nghiệp cá thể.
Thứ tư, phương pháp dạy nghề chủ yếu được thực hiện theo phương thức truyền
nghề.
Chính bởi hình thức tổ chức kinh doanh của các làng nghề nông thôn chủ yếu
theo hộ gia đình nên phương pháp dạy nghề chủ yếu là truyền lại nghề trong gia đình, dòng họ, làng, xã. Các làng nghề truyền thống thường có bí quyết gia truyền và có một
vị tổ nghề riêng. Trước đây phương thức truyền nghề chủ yếu là ở phạm vi gia đình
theo những quy định nghiêm ngặt. Tuy nhiên từ sau khi thực hiện cải cách công
thương nghiệp phương thức dạy nghề và truyền nghề trở nên đa dạng và phong phú
hơn. Thời gian dạy nghề thường dài ngắn khác nhau, phụ thuộc vào các ngành nghề
khác nhau. Một đặc điểm chung của việc đào tạo nghề tại các làng nghề là những
người thợ học nghề phải vừa học vừa làm để từ đó có thể tích lũy kinh nghiệm, nâng
cao tay nghề của mình. Ví dụ như tại thôn An Quang (Gia Bình, Bắc Ninh) nghề làm trống được coi như nghề gia truyền, chỉ truyền lại nghề cho con trai, con dâu. Họ tuyệt nhiên không truyền nghề cho con gái, con rể. Hơn thế nữa người được truyền nghề cũng phải được nhìn nhận có đức độ, chịu khó và cẩn trọng.
Thứ năm, sản phẩm của các làng nghề rất đa dạng.
Sản phẩm của các làng nghề truyền thống thường đơn chiếc, mang tính độc đáo cao, mang đậm bản sắc dân tộc Việt Nam. Sản phẩm ở mỗi làng nghề thường mang
những đặc trưng riêng, chỉ làng nghề đó có, các làng nghề khác, vùng khác đều không có. Gốm là một phát minh quan trọng của tổ tiên ta từ ngàn đời nay. Với sự khéo léo của người thợ gốm đã cho ra lò các sản phẩm gốm vô cùng tinh tế đẹp mắt. Cùng là
3
gốm nhưng gốm Bồ Bát mang sắc trắng, gốm Thổ Hà mang sắc đỏ, gốm Phù Lãng
mang sắc vàng thẫm. Điều này tạo lên sự đa dạng của các sản phẩm gốm. Bên cạnh
những sản phẩm mang tính truyền thống còn có rất nhiều sản phẩm của những làng
nghề mới làm cho các sản phẩm của các làng nghề ngày càng đa dạng, phong phú với nhiều chủng loại như các sản phẩm chiếu cói, đệm ghế cói của làng nghề Luật Ngoại,
sản phẩm chế biến từ nấm và mộc nhĩ của làng nghề Đoan Thượng, các sản phẩm
tượng từ làng nghề Bợ, Nhờ bám sát nhu cầu thị trường mà các mặt hàng của làng
nghề tăng lên nhanh chóng, chất lượng được nâng cao đáp ứng nhu cầu trường.
Thứ sáu, đại bộ phận thị trường nguyên vật liệu của các làng nghề thường là tại
chỗ.
Thị trường nguyên vật liệu đầu vào tại các làng nghề rất nhỏ hẹp. Trước đây, thị
trường này hầu hết là mua bán tại chỗ tại các chợ trong làng hay từ những hộ trong làng. Các làng nghề chế biến thực phẩm như làng bún ỳ Thủy, chè lam Thạch Xá,
bánh đa nem Thổ Hà tận dụng nguồn nguyên liệu là gạo có được từ quá trình sản xuất
nông nghiệp, làng nghề nước mắm Nghi Hải tận dụng được nguồn nguyên liệu như
tôm, cá, từ chính địa phương mình. Nay do quá trình sản xuất phát triển, thị trường
tại chỗ không đáp ứng đủ cho các làng nghề nên việc cung ứng nguyên vật liệu đã
được bổ sung từ nơi khác. Các làng nghề gỗ Đồng Kỵ, mây tre đan Ninh Sở do cần
một khối lượng lớn nguyên vật liệu để sản xuất các sản phẩm thủ công mỹ nghệ mà trong nước không đáp ứng được nhu cầu về nguyên liệu nên đã phải nhập khẩu từ
nước ngoài sang. Một số làng nghề tận dụng nguyên vật liệu đầu vào cơ bản từ phế
liệu như thép Đa Hội, giấy Phong Khê
Thứ bảy, thị trường tiêu thụ sản phẩm của các làng nghề hầu hết mang tính địa
phương, tại chỗ, nhỏ hẹp.
Sự ra đời của làng nghề vốn dĩ xuất phát từ việc đáp ứng nhu cầu hàng tiêu dùng
tại chỗ ở các địa phương. Cho đến nay thị trường tiêu thụ sản phẩm làng nghề cơ bản
vẫn là thị trường địa phương, là tỉnh hay liên tỉnh. Ví dụ như các sản phẩm nông cụ cầm tay đến các loại dao của làng rèn Bàn Mạch được làm ra để phục vụ đời sống sinh hoạt hằng ngày của người dân trong, ngoài xã và liên tỉnh. Thói quen chỉ thích hàng tiểu thủ công nghiệp ở một vùng nhất định, theo một mùa vụ nhất định đã hạn chế sức
tiêu thụ sản phẩm ở nông thôn. Làng nghề thủ công nghiệp trong một thời gian dài đã phát triển theo một lối mòn là đáp ứng thị hiếu thuộc phạm vi nhỏ hẹp, yếu tố cạnh tranh hầu như không có. Vì vậy khi nền kinh tế chuyển sang hoạt động theo cơ chế thị
trường, các làng nghề thủ công nghiệp này đứng trước những khó khăn không nhỏ.
Nhiều làng nghề đã lâm vào tình trạng điêu đứng như làng đúc Mỹ Đồng, làng thép Đa Hội Tuy nhiên, các sản phẩm thuộc hàng thủ công mỹ nghệ có thị trường tiêu thụ
4
phong phú, đa dạng và rộng lớn hơn. Chúng được xuất khẩu sang các nước Trung
Quốc, Hồng Kông, Singapore, thậm chí cả các thị trường khó tính như Nhật Bản, Hàn
Quốc, Hoa Kỳ, EU
Từ những đặc điểm cơ bản trên có thể nhận thấy rằng: Làng nghề không chỉ là mô hình kinh tế góp phần thực hiện mục tiêu sản xuất đáp ứng tiêu d ng trong nước
mà còn tạo ra các sản phẩm giá trị xuất khẩu lớn. Sản phẩm từ làng nghề là sự kết tinh
giữa đôi bàn tay khéo léo của người thợ thủ công với nền văn hóa đậm đà bản sắc dân
tộc. Đồng thời phát triển làng nghề cũng góp phần vào việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam.
1.1.3. Phân loại làng nghề
Trên những góc độ khác nhau, các làng nghề được phân ra thành các loại như
sau:
Phân loại theo quá trình hình thành và phát triển: Có các làng nghề truyền thống
và các làng nghề mới hình thành. Làng nghề truyền thống là những làng nghề xuất
hiện từ lâu đời trong lịch sử và còn tồn tại đến ngày nay, là những làng nghề đã tồn tại
hàng trăm, hàng nghìn năm. Làng nghề mới là những làng nghề xuất hiện do sự xuất
hiện lan tỏa của các làng nghề trong những năm gần đây, đặc biệt trong thời kỳ đổi
mới, thời kỳ chuyển sang nền kinh tế thị trường.
Phân loại theo ngành sản xuất, loại hình sản phẩm: Các làng nghề được chia
theo các nghề cụ thể như: làng dệt, làng rèn, làng gốm, làng mây tre đan
1.1.4. Vai trò của làng nghề đối với sự phát triển kinh tế
Phát triển làng nghề đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế, góp
phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng Công nghiệp hóa –
Hiện đại hóa.
Khái niệm Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá đã được đưa ra tại hội nghị Ban chấp
hành ở Trung Ương Đảng lần thứ VII. Đến Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII thì
khái niệm Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn đã được chỉ rõ hơn. Khái niệm này được cụ thể và rõ ràng hơn tại Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ IX. Tại Đại hội này Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá nông thôn đưa ra gồm những nội
dung: “Tăng cường sự chỉ đạo và huy động các nguồn lực cần thiết để đẩy nhanh Công nghiệp hoá – Hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn. Tiếp tục phát triển đưa nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp lên một trình độ mới bằng ứng dụng tiến bộ khoa học
và công nghệ nhất là công nghệ sinh học đẩy nhanh thu lợi hoá, cơ giới hoá, tiêu khí
hoá; quy hoạch sử dụng đất hợp lý đổi mới cơ cấu cây trồng cây nuôi tăng giá trị thu được trên đơn vị diện tích; giải quyết tốt vấn đề tiêu thụ nông sản hàng hoá. Đầu tư nhiều hơn cho phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế và xã hội ở nông thôn. Phát triển công 5
nghiệp, dịch vụ các ngành đa dạng, chú trọng công nghiệp chế biến, cơ khí phục vụ
nông nghiệp các làng nghề, chuyển đổi một bộ phận quan trọng lao động nông nghiệp
sang khu vực công nghiệp và dịch vụ, tạo nhiều việc làm mới, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cải thiện đời sống nhân dân và dân cư nông thôn. 5
Từ nội dung của Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ IX ta thấy quá trình
Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa nông thôn cũng chính là quá trình chuyển dịch cơ cấu
kinh tế từ nông nghiệp sang dần công nghiệp, dịch vụ. Sự phát triển các làng nghề có ý
nghĩa rất lớn trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nông thôn theo hướng Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa. Khi đó, trong cơ cấu kinh thế nông thôn t trọng công
nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ tăng, t trọng nông nghiệp giảm. Đến nay cơ
cấu kinh tế ở nhiều làng nghề đạt 60% - 80% cho công nghiệp và dịch vụ, 20% - 40% cho nông nghiệp6. Các làng nghề phát triển sẽ làm thay đổi cơ cấu lao động ở nông thôn, từ lao động nông nghiệp có năng suất thấp, thu nhập thấp sang lao động ngành
nghề có năng suất cao, thu nhập cao, góp phần không nhỏ cho sự phát triển kinh tế của
đất nước.
Làng nghề tạo ra các sản phẩm đa dạng, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước
và giá trị hàng hóa xuất khẩu cao.
Hiện nay, các sản phẩm được sản xuất từ làng nghề rất đa dạng và phong phú,
đáp ứng được nhu cầu tiêu d ng trong nước và thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa, mở rộng thị trường. Điển hình là làng nghề bánh tráng Phú Hòa Đông, mỗi tháng sản xuất
khoảng 1000 tấn bánh các loại. Trong đó có trên 600 tấn xuất khẩu sang các nước lớn như: Nhật, Pháp, Mỹ, Úc, Canada 7 Ngày càng nhiều các mặt hàng của các làng nghề được xuất khẩu như dệt, mây tre đan, điêu khắc, đồ gốm Nếu như năm 2000, kim
ngạch xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ mới đạt 274 triệu USD, thì năm 2006 đã đạt
khoảng 650 triệu USD. Năm 2007, có 714 triệu USD là xuất khẩu thủ công mỹ nghệ của làng nghề truyền thống.8
Phát triển làng nghề góp phần không nhỏ trong việc gìn giữ các giá trị văn hóa
truyền thống lâu đời, mang đậm bản sắc dân tộc Việt Nam
Làng nghề từ rất lâu đời, là nơi hội tụ và kết tinh những nét văn hóa truyền thống của Việt Nam. Việc phát triển làng nghề đồng nghĩa với việc bảo tồn, gìn giữ những
5 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội 2001, tr 92. 6 Quang Luân (2013), Chung tay đẩy lùi ô nhiễm làng nghề, www.hoinongdan.org.vn 7 Phi Long (2004), Xuất khẩu bánh tráng qua Nhật, Pháp, Úc, Mỹ, www.vietbao.vn 8 Trần Cao Cương (2009), Mở rộng thị trường mới cho làng nghề, www.nhandan.com.vn
nét văn hóa ấy. Mỗi làng nghề có lịch sử hình thành và phát triển riêng tạo nên bản sắc văn hóa riêng của từng làng nghề, chúng được thể hiện qua các lễ hội hàng năm tại
6
làng nghề, qua lễ tri ân với cụ Tổ làng nghề. Cảnh quan của làng nghề như cây đa, bến
nước, sân đình cũng mang đậm nét văn hóa của làng quê Việt Nam. Rất nhiều sản
phẩm của làng nghề đã đi vào thơ ca, các tác phẩm văn học như chiếu Nga Sơn, gạch
Bát Tràng, vải tơ Nam Định, lụa Hà Đông
Những sản phẩm từ làng nghề truyền thống mang tính nghệ thuật cao, vượt qua
giá trị hàng hoá đơn thuần, trở thành sản phẩm văn hoá như các sản phẩm trống đồng,
nón lá, Chúng được coi là biểu tượng của nét đẹp mang truyền thống dân tộc đã góp
phần không nhỏ vào việc giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc, vì văn hoá dân tộc có tính chất quyết định địa vị tồn tại của một dân tộc. Nhiều du khách nước ngoài đã biết đến
Việt Nam qua các sản phẩm thủ công mỹ nghệ như gốm Bát Tràng, lụa Hà Đông,
trống đồng Đông Sơn
Phát triển làng nghề góp phần xóa đói giảm nghèo, tăng thu nhập, nâng cao đời
sống vật chất tinh thần cho người dân.
Qua thực tế cho thấy, thu nhập của người lao động làm nghề bao giờ cũng cao
hơn so với thu nhập của người nông dân làm nông nghiệp. Thu nhập của người lao
động ở làng nghề hiện phổ biến khoảng 600.000 - 1.500.000 đồng, cao hơn nhiều so
với thu nhập từ làm ruộng. T lệ hộ nghèo ở khu vực có làng nghề cũng thấp hơn mức chung của cả nước, chỉ chiếm 3,7% trong khi mức bình quân cả nước là 10,4% 9. Thu nhập tăng khiến đời sống của họ được cải thiện. Họ có thể mua sắm những vật dụng cần thiết cho gia đình, chăm lo tốt hơn cho con cái, đảm bảo sức khỏe đời sống. Ngoài
ra, họ còn có một khoản tích luỹ lớn và ổn định. Nguồn tích luỹ này sẽ giúp người dân
có khoản phòng trừ rủ ro bất thường xảy ra mà còn là một nguồn ổn định giúp tạo điều
kiện phát triển làng nghề. Từ đó giúp thu hẹp dần khoảng cách về mức sống giữa
thành thị và nông thôn.
Phát triển làng nghề là cơ sở để tạo ra một nền kinh tế thị trường năng động, có
hiệu quả.
Hoạt động sản xuất tại các làng nghề đa phần là kinh tế hộ gia đình, doanh nghiệp tư nhân, thường là các cơ sở sản xuất loại vừa và nhỏ. Dây chuyền sản xuất giản đơn, có truyền thống lâu đời nên mối quan hệ về nguyên liệu và tiêu thụ sản phẩm thường là sẵn có, các nhà sản xuất có kinh nghiệm thường trực tiếp lao động. Chính vì
thế, tổ chức của nó gọn nhẹ, ưu điểm nổi bật là tính uyển chuyển, linh hoạt cả về mặt hàng và giá cả. Do vậy đáp ứng khá nhanh nhạy các nhu cầu phong phú, đa dạng hay thay đổi của thị trường, tạo ra sự sống động trong phát triển kinh tế, và đây cũng là
9 Trần Cao Cương (2009), Mở rộng thị trường mới cho làng nghề, www.nhandan.com.vn
những cơ sở để tạo ra một nền kinh tế thị trường năng động, có hiệu quả. Ví dụ sản phẩm của làng mộc Phú Hà chủ yếu là các vật dụng gia đình như: Giường, tủ, bàn ghế,
7
khung cửa các công trình xây dựng... Trước đây, nghề mộc của làng Phú Hà chủ yếu
mang tính chất thủ công nên năng suất không cao, các sản phẩm làm ra cũng chưa đạt
được độ tinh xảo để thu hút khách hàng. Nhận thức được điều này, những năm gần
đây, mỗi gia đình làm nghề ở làng Phú Hà đã tích cực đầu tư các trang thiết bị máy móc, tham gia các lớp đào tạo nâng cao trình độ tay nghề, đồng thời chủ động học hỏi
kinh nghiệm từ những người đi trước nhằm tạo ra các sản phẩm có chất lượng ngày
càng cao, đáp ứng nhu cầu của thị trường. Vì vậy sản phẩm của Phú Hà đã được nhiều
khách hàng biết đến. Nhiều hợp đồng đặt hàng có giá trị được ký kết đã tạo điều kiện để người dân trong làng có thêm nhiều việc làm, nâng cao thu nhập và làm giàu bằng chính nghề truyền thống của mình. 10
Làng nghề tạo ra công ăn việc làm cho người dân.
Phát triển làng nghề sẽ góp phần không nhỏ vào việc tạo công ăn việc làm, phân công lao động, thu hút lao động dư thừa ở nông thôn, phần nào hạn chế lối di dân tự do
sang địa phương khác khi người dân không có việc làm. Sau 5 năm thực hiện Nghị
định 66/2006/NĐ-CP ngày 7/7/2006 của Chính phủ về phát triển ngành nghề nông
thôn, hoạt động sản xuất làng nghề thu hút 30 lao động và tạo việc làm cho hơn 11
triệu lao động nông thôn. Có những làng nghề thu hút trên 60% lao động trong tổng số
lao động của địa phương vào hoạt động sản xuất phi nông nghiệp. Ngoài lao động
thường xuyên, các hộ, cơ sở ngành nghề còn thu hút thêm từ 2 đến 10 lao động thời vụ.11
Làng nghề là nơi thu hút nguồn vốn nhàn rỗi.
Phát triển làng nghề là giải pháp hết sức quan trọng nhằm huy động tối đa mọi
nguồn vốn lao động vào hoạt động sản xuất kinh doanh. Đặc biệt là tài năng, kinh
nghiệm lâu đời của người dân vào hoạt động sản xuất kinh doanh, làng nghề phát triển
sẽ tạo ra nhiều việc làm bằng vốn của dân, do dân tự lo là chính. Mặt khác, vốn đầu tư
ban đầu vào các làng nghề không lớn và chủ yếu là của dân, các nguồn vốn tài trợ khác
hầu như không có. Do vậy, làng nghề phát triển là nguồn tích luỹ nội bộ có ý nghĩa để phát triển kinh tế.
1.1.5. Các yếu tố quyết định đến sự tồn tại và phát triển làng nghề
Sự tồn tại và phát triển làng nghề phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố tác động đan
xen lẫn nhau:
10 Huyền Trang (2014), Tín hiệu vui từ làng nghề mộc Phú Hà, www.phutho.gov.vn 11 Hải Ngọc (2011), Hơn 11 triệu lao động có việc làm từ ngành nghề nông thôn, www.arid.gov.vn
a. Quy luật kinh tế
8
Đây là yếu tố khách quan, có vai trò vô cùng quan trọng đến sự tồn tại phát triển
của làng nghề. Kinh tế làng nghề chiếm một vị trí không nhỏ trong sự vận hành phát
triển chung của một nền kinh tế. Chính vì thế, nó cũng chịu sự chi phối của quy luật
kinh tế đang tác động đến quá trình phát triển của nền kinh tế quốc dân như: Quy luật cung cầu, quy luật giá trị, quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát
triển của lực lượng sản xuất... Trong nền kinh tế hàng hoá do sự tác động của các quy luật
này mà lợi ích của mỗi hộ sản xuất, mỗi doanh nghiệp trong làng nghề đạt mức tối đa (đặc
biệt là lợi nhuận) khi có sự quyết định đúng đắn trong các vấn đề: Sản xuất cái gì? Sản xuất như thế nào? Sản xuất cho ai? Đây cũng là quy luật đào thải khách quan. Ngành nghề
nào làm ăn có hiệu quả thì tồn tại và ngược lại không có hiệu quả thì sẽ bị loại bỏ.
b. Đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước
Đây là yếu tố chủ quan của chủ thể quản lý, nhưng lại ảnh hưởng đến sự kìm hãm hay phát triển của các làng nghề. Trước thời kì đổi mới, nước ta coi kinh tế ngoài
quốc doanh là kinh tế phi xã hội chủ nghĩa, cần phải loại bỏ. Chính vì vậy, không ít
các làng nghề đã bị xóa bỏ. iai đoạn 1986 – 1992 đánh dấu sự chuyển đổi từ cơ chế
quản lí bao cấp sang cơ chế thị trường, đây là giai đoạn quan trọng đối với sự phát
triển của làng nghề. Các chính sách kinh tế, đặc biệt là chính sách đổi mới quản lý
trong nông nghiệp và phát triển các thành phần kinh tế đã có tác động mạnh mẽ đến sự
phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn nói chung và với làng nghề nói riêng. Sở dĩ các làng nghề trong những năm gần đây phát triển mạnh là do Đường lối, chính sách
đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta. Trong số các chính sách đó phải kể đến Công văn
số 08/NHNN-TD ngày 4/1/2001 của NHNN về hướng dẫn thực hiện Quyết định
132/2000/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về một số chính sách khuyến khích phát
triển ngành nghề nông thôn, Nghị định 66/2006/NĐ-CP về phát triển ngành nghề nông
thôn, Quyết định 132/2000/QĐ-TTg về một số chính sách khuyến khích phát triển
ngành nghề nông thôn, Chỉ thị số 28/2007/CT-BNN ngày 18/4/2007 của Bộ Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn về đẩy mạnh thực hiện quy hoạch phát triển ngành
nghề nông thôn và phòng chống ô nhiễm môi trường làng nghề
c. Nhóm yếu tố xuất phát từ chính các làng nghề
Hiện nay, các làng nghề thường có nguồn vốn nhỏ lẻ và phân tán nên quy mô và
công nghệ các làng nghề hiện nay thường là lạc hậu và thô sơ. Các làng nghề muốn phát triển thì cần phải có sự hỗ trợ về vốn trong khi đó nguồn vốn từ ngân hàng lại là nguồn vốn có khả năng đáp ứng nhau cầu đó. Đây chính là thị trường đầy tiềm năng
mà các ngân hàng cần khai thác.
Xuất phát từ tính đặc thù của làng nghề là lối sản xuất thủ công truyền thống, sản phẩm đa dạng nhưng đơn chiếc. Để làng nghề duy trì và phát triển được thì phần lớn là
9
phải tự tạo ra thị trường. Chính là phải tạo ra sản phẩm đáp ứng được nhu cầu của thị
trường (bao gồm kiểu dáng, chất lượng và giá cả).
Gắn với thị trường tiêu thụ sản phẩm là thị trường cung cấp nguyên vật liệu,
nguyên vật liệu tạo ra sản phẩm ở các làng nghề phần lớn là từ chế liệu thu gom (trừ một số ngành như dệt, gỗ...) nhưng để có nguồn nguyên vật liệu thường xuyên đáp ứng
kịp cho việc tăng năng suất và cải tiến mẫu mã chất lượng, có thể cạnh tranh với thị
trường là vấn đề phải được quan tâm thường xuyên. Khi công nghệ sản xuất ngày càng
phát triển nhu cầu thị trường tiêu thụ ngày càng khắt khe thì đòi hỏi việc sử dụng nguyên vật liệu phải được tuyển chọn, đa dạng, thường xuyên mới đáp ứng kịp nhu
cầu sản xuất tại làng nghề.
Nguồn lao động của các làng nghề chủ yếu từ các hộ gia định tại làng nghề.
Phương thức dạy nghề theo lối gia truyền. Những người giàu kinh nghiệm sẽ dạy lại cho thế hệ người đi sau. Tuy nhiên trình độ truyền đạt của người truyền nghề là kém
dẫn đến việc hiệu quả từ việc truyền dạy nghề là không cao. Từ đó ảnh hưởng trực tiếp
đến chất lượng sản phẩm đầu ra của làng nghề.
Công nghệ sản xuất, trang thiết bị kĩ thuật ảnh hưởng rất lớn tới sự phát triển của
làng nghề. Ngày nay, khi những đòi hỏi của khách hàng về một sản phẩm ngày càng
nhiều thì các làng nghề cần phải cải thiện dây chuyền sản xuất, thay đổi công nghệ vốn
rất lạc hậu để có thể đáp ứng được những yêu cầu của thị trường. Đây là thách thức rất lớn đối với các hộ, cơ sở sản xuất kinh doanh tại làng nghề.
1.2. Cho vay đối với làng nghề của ngân hàng thƣơng mại
1.2.1. Khái niệm cho vay đối với làng nghề
Cho vay là hoạt động chủ yếu của ngân hàng. Thông qua hoạt động cho vay,
ngân hàng thực hiện điều hòa vốn trong nền kinh tế dưới hình thức phân phối nguồn
vốn tạm thời nhàn rỗi huy động được từ xã hội để đáp ứng nhu cầu về vốn để sản xuất
kinh doanh và phục vụ đời sống. Thực tế cho thấy lợi nhuận từ các khoản cho vay
chiếm phần lớn thu nhập của ngân hàng. Theo Quyết định 1627/2001 QĐ – NHNN ngày 31/12/2001 về quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng của NHNN, có thể định nghĩa về cho vay như sau:
“Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao dịch cho
khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thỏa thuận và nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.”
Hiện nay, chưa có văn bản pháp luật nào quy định về khái niệm “cho vay đối với
làng nghề . Tuy nhiên, từ khái niệm “cho vay và “làng nghề đã đưa ra ở trên, có thể định nghĩa về “cho vay đối với làng nghề như sau:
10
“Cho vay đối với làng nghề là cho vay các hộ gia đình, doanh nghiệp, hợp tác xã
có hoạt động sản xuất, kinh doanh tại làng nghề.
1.2.2. Nguyên tắc cho vay đối với làng nghề
Để đảm bảo cho ngân hàng duy trì sự tồn tại và phát triển ổn định thì biện pháp hàng đầu là ngân hàng phải tuân thủ nguyên tắc cho vay. Dựa theo điều 6 trong Quy
chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng Ban hành theo Quyết định số
1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của Thống đốc NHNN, ngân hàng chỉ cho
vay vốn khi khách hàng tại làng nghề đảm bảo được hai nguyên tắc:
a. Sử dụng vốn vay đúng mục đích đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng (để sản
xuất, khôi phục, phát triển các làng nghề truyền thống)
Đây là nguyên tắc cơ bản, vì có sử dụng vốn đúng mục đích thì khách hàng tại
làng nghề mới có thể thực hiện được dự án, phương án sản xuất kinh doanh theo dự kiến, đảm bảo tạo ra lợi nhuận, thu hồi được vốn và hoàn trả nợ cho ngân hàng. Do
vậy, trước khi cho vay, ngân hàng cần phải tìm hiểu rõ mục đích vay vốn của hộ sản
xuất làng nghề xem có đúng là để sản xuất, khôi phục, phát triển làng nghề hay không.
Và trong quá trình cho vay, ngân hàng cần giám sát chặt chẽ xem các hộ này có sử
dụng vốn vay đúng mục đích đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng hay không.
b. Khách hàng tại làng nghề phải hoàn trả cả gốc và lãi đúng thời hạn thỏa thuận
trong hợp đồng tín dụng
Bản chất của quan hệ tín dụng là quan hệ chuyển nhượng tạm thời quyền sử dụng
vốn vay nên sau một thời gian nhất định vốn vay phải được các hộ, cơ sở sản xuất kinh
doanh tại làng nghề hoàn trả cả gốc và lãi. Bên cạnh đó, nguồn vốn mà các ngân hàng
cho khách hàng tại làng nghề vay phần lớn được huy động từ tiền gửi của khách hàng.
Chính vì thế, sau một thời hạn nhất định, khách hàng vay vốn tại làng nghề phải hoàn
trả nợ cho ngân hàng để ngân hàng hoàn trả lại cho khách hàng gửi tiền.
Do vậy, hoàn trả gốc và lãi vay là nguyên tắc không thể thiếu khi ngân hàng cho
khách hàng tại làng nghề vay vốn. Nó đảm bảo phương châm hoạt động của ngân hàng là “đi vay để cho vay
1.2.3. Quy trình cho vay đối với làng nghề
Do hình thức sản xuất kinh doanh trong các làng nghề chủ yếu theo hộ gia đình nên ngân hàng vẫn áp dụng quy trình cho vay làng nghề tương tự quy trình cho vay hộ sản xuất, kinh doanh khác. Việc xây dựng được quy trình cho vay hợp lí sẽ góp phần
nâng cao hoạt động quản trị giúp ngân hàng hạn chế được những rủi ro có thể xảy ra
đối với các khoản cho vay và nâng cao lợi nhuận. Dựa trên quy trình cho vay chung trong giáo trình Nghiệp vụ Ngân hàng thương mại của PGS TS. Nguyễn inh iều, quy trình cho vay làng nghề đã được xây dựng, bao gồm những bước sau: 11
ƣớc 1: Tiếp nhận hồ sơ và thu thập thông tin về khách hàng tại làng nghề có
nhu cầu vay vốn
Khách hàng tại làng nghề có nhu cầu vay vốn gửi đến ngân hàng bộ hồ sơ xin
vay vay vốn bao gồm đầy đủ các loại như: iấy đề nghị vay vốn, hồ sơ pháp lí, hồ sơ hành chính, hồ sơ khoản vay, hồ sơ bảo đảm tiền vay, dự án, phương án sản xuất kinh
doanh và các giấy tờ khác liên quan đến việc vay vốn. Sau khi hồ sơ vay vốn của
khách hàng tại làng nghề được nộp, cán bộ tín dụng sẽ đến cơ sở sản xuất kinh doanh
của khách hàng tại làng nghề để đánh giá hoạt động sản xuất hay giá trị tài sản của khách hàng, đồng thời đặt ra các câu hỏi để có thể hiểu thêm về khách hàng.
ƣớc 2: Thẩm định hồ sơ vay vốn của khách hàng tại làng nghề
Các cán bộ thẩm định sẽ thu thập, xử lí thông tin một cách khoa học nhằm hiểu
rõ thêm về khách hàng và phương án sản xuất kinh doanh của khách hàng tại làng nghề để từ đó đưa ra và áp dụng chính sách cho vay của ngân hàng đối với khách hàng
tại làng nghề.
Phân tích tình hình tài chính của hộ, cơ sở sản xuất tại làng nghề có nhu cầu vay
vốn:
Hộ, cơ sở sản xuất làng nghề có tiềm lực tài chính mạnh là cơ sở quan trọng đảm
bảo tính tự chủ trong hoạt động kinh doanh, đảm bảo khả năng cạnh tranh trên thị
trường và khả năng hoàn trả các khoản nợ trong tương lai. Đây cũng là căn cứ quan trọng nhất ngân hàng xem xét có cho vay hay không? Mức cho vay là bao nhiêu?
Ngân hàng phân tích tình hình tài chính của khách hàng tại làng nghề dựa trên nhóm t
số phản ánh khả năng thanh toán, nhóm t số phản ánh tình hình hoạt động, nhóm t
số phản ánh hiệu quả kinh doanh, nhóm t số phản ánh cơ cấu tài chính.
Phân tích năng lực pháp lí của khách hàng tại làng nghề:
Khách hàng tại làng nghề vay vốn phải có tư cách pháp nhân, đây là điều kiện
tiên quyết để ngân hàng xem xét cho vay nhằm xác định trách nhiệm trước pháp luật
về việc hoàn trả nợ vay.
Phân tích uy tín của khách hàng tại làng nghề:
Đây là yếu tố hết sức quan trọng mà ngân hàng phải đánh giá, nó ảnh hưởng đến
việc thu hồi nợ của ngân hàng.
Thẩm định dự án vay vốn của hộ sản xuất làng nghề:
Cán bộ tín dụng phải điều tra kĩ lưỡng những thông tin hộ sản xuất làng nghề
cung cấp trong hồ sơ vay vốn.
12
Thẩm định đảm bảo nợ vay:
Cán bộ tín dụng phải thẩm định về điều kiện tài sản d ng để đảm bảo, thế chấp
xem tài sản đó có thuộc quyền sở hữu hợp pháp của hộ sản xuất làng nghề có nhu cầu
vay không?
ƣớc 3: Quyết định cho hộ sản xuất làng nghề vay và kí kết hợp đồng tín dụng
Sau khi thẩm định, kết quả thẩm định sẽ được thể hiện trong một bản báo cáo
tóm tắt để gửi cho những người có thẩm quyền theo quy định của ngân hàng để xem
xét quyết định cho vay. Nếu quyết định cho hộ sản xuất làng nghề vay thì ngân hàng và hộ sản xuất làng nghề sẽ kí hợp đồng tín dụng
ƣớc 4: Giải ngân
Sau khi hợp đồng tín dụng được ký kết, có hiệu lực, các bên có trách nhiệm phải
thực hiện đúng cam kết đã ký. Ngân hàng phát tiền vay cho khách hàng tại làng nghề trên cơ sở mức tín dụng đã kí kết trong hợp đồng. Mỗi lần nhận tiền vay khách hàng
phải xác nhận nợ (lập giấy nhận nợ). Thông thường ngân hàng sẽ tiến hành giải ngân
theo tiến độ của dự án.
ƣớc 5: Giám sát tiền vay
Định kì cán bộ tín dụng kiểm tra và phân tích nợ để phát hiện nợ quá hạn, nợ khó
đòi trong các khoản cho vay đối với làng nghề để đề nghị các biện pháp xử lí thích hợp
nhằm lành mạnh hóa quan hệ tín dụng.
Ngân hàng chú ý kiểm tra tài sản đảm bảo tiền vay của khách hàng tại làng nghề
để đảm bảo an toàn vốn vay.
ƣớc 6: Thanh lí hợp đồng tín dụng đối với khách hàng tại làng nghề
Khi thanh lý hợp đồng tín dụng khách hàng tại làng nghề phải thanh toán, trả hết
nợ vay cả gốc và lãi. Nếu trong quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng có những điều
chỉnh được hai bên thỏa thuận thống nhất thì việc thanh lý được tiến hành có tính trên
những điều chỉnh đó. Trong trường hợp khách hàng tại làng nghề còn tiếp tục vay nợ thì cán bộ tín dụng và khách hàng có thể thỏa thuận để tiếp tục quan hệ tín dụng. Tùy vào chất lượng của dư nợ và khả năng đảm bảo trả nợ của khách hàng tại làng nghề mà ngân hàng có thể chuyển sang hợp đồng nợ mới hoặc chuyển sang nợ quá hạn
1.2.4. Các loại hình cho vay làng nghề
Để có thể quản lí và sử dụng có hiệu quả các khoản cho vay tại làng nghề thì phân loại cho vay là việc cần thiết. Các khoản cho vay đối với làng nghề được phân
loại như sau:
13
1.2.4.1. Căn cứ vào phương thức cho vay
Dựa theo điều 16 trong Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng
Ban hành theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của Thống đốc
NHNN, các phương thức cho vay đối với làng nghề được chia ra như sau:
a. Cho vay làng nghề từng lần
Đây là loại hình cho vay mà mỗi lần vay, khách hàng tại làng nghề và ngân hàng
phải làm các thủ tục, giấy tờ cần thiết và kí kết hợp đồng tín dụng. Phương thức cho
vay này áp dụng cho các khách hàng tại làng nghề có nhu cầu vay vốn không thường xuyên. Mỗi lần có nhu cầu vay vốn, khách hàng lập hồ sơ vay vốn theo quy định của
ngân hàng.
b. Cho vay làng nghề theo hạn mức tín dụng
Là phương thức cho vay mà ngân hàng và khách hàng tại làng nghề xác định và thỏa thuận một hạn mức tín dụng được duy trì trong thời hạn nhất định hoặc theo chu
kì sản xuất kinh doanh. HMTD là mức dư nợ vay tối đa được duy trì trong một khoản
thời gian nhất định mà ngân hàng và khách hàng tại làng nghề đã thỏa thuận trong hợp
đồng tín dụng. Phương thức cho vay này thường được áp dụng đối với các khách hàng
có nhu cầu vay vốn – trả nợ thường xuyên, có đặc điểm sản xuất kinh doanh, luân
chuyển vốn không phù hợp với phương thức cho vay từng lần uy tín với ngân hàng.
c. Cho vay làng nghề tài trợ dự án đầu tư
Cho vay làng nghề tài trợ dự án đầu tư là khoản cho vay tài trợ cho việc đầu tư
nhà xưởng, máy móc, thiết bị phục vụ cho việc mở rộng, đầu tư mới phục vụ cho
hoạt động sản xuất kinh doanh của các hộ sản xuất tại làng nghề. Các khoản cho vay
theo dự án đầu tư thường mang tính chất dài hạn tài trợ cho những tài sản cố định được
dự tính sẽ mang lại thu nhập trong tương lai.
d. Cho vay làng nghề theo u thác
Do tầm quan trọng của việc phát triển làng nghề, Chính phủ, các tổ chức và cá
nhân có thể ủy thác các ngân hàng cho các hộ, cơ sở sản xuất tại làng nghề vay. Khi ngân hàng nhận được một khoản tiền nhất định sẽ tiến hành cho vay và hưởng phí u thác trên cơ sỏ đảm bảo b đắp chi phí, rủi ro và có lãi.
e. Cho vay làng nghề trả góp
Khi vay, khách hàng tại làng nghề và ngân hàng xác định và thỏa thuận số lãi vốn vay phải trả cộng với số nợ gốc được chia ra để trả theo nhiều kì hạn trong thời
gian cho vay sao cho phù hợp với khả năng trả nợ của khách hàng tại làng nghề.
14
f. Cho vay làng nghề thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng
Là phương thức cho vay mà ngân hàng chấp thuận cho khách hàng tại làng nghề
được sử dụng số vốn vay trong phạm vi HMTD để thanh toán tiền mua hàng hoá, dịch
vụ và rút tiền mặt tại máy rút tiền tự động hoặc điểm ứng tiền mặt là đại lý của tổ chức tín dụng. Khi cho vay phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, tổ chức tín dụng và khách
hàng tại làng nghề phải tuân theo các quy định của Chính phủ và NHNN về phát hành
và sử dụng thẻ tín dụng.
1.2.4.2. Căn cứ vào thời hạn cho vay
Dựa theo điều 8 trong Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng
Ban hành theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của Thống đốc
NHNN, cho vay làng nghề được phân loại theo thời hạn như sau:
Cho vay làng nghề ngắn hạn: Là những khoản vay có thời hạn tới 1 năm mà ngân hàng cho vay nhằm đáp ứng các nhu cầu về vốn cho sản xuất, kinh doanh, dịch
vụ, phục vụ đời sống của các hộ sản xuất tại làng nghề.
Cho vay làng nghề trung và dài hạn: Là những khoản vay có thời hạn trên 1 năm,
ngân hàng cho vay nhằm đầu tư vào tài sản cố định của hộ sản xuất làng nghề hoặc
đầu tư vào các dự án đầu tư của hộ sản xuất đó.
1.2.4.3. Căn cứ vào hình thức đảm bảo của các khoản vay
Căn cứ vào khoản 2 điều 2, và điều 19 nghị định số 178/1999/NĐ-CP của Chính phủ về bảo đảm tiền vay của các tổ chức tín dụng, cho vay đối với làng nghề được
phân loại theo hình thức đảm bảo của các khoản vay như sau:
a. Cho vay làng nghề có đảm bảo
Đây là những khoản cho vay của ngân hàng mà theo đó nghĩa vụ trả nợ của
khách hàng tại làng nghề được cam kết bảo đảm bàng tài sản cầm cố, thế chấp, tài sản
hình thành từ vốn vay của khách hàng vay hoặc bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba.
Hình thức cho vay này áp dụng với các khách hàng tại làng nghề có uy tín không cao
đối với ngân hàng. Tài sản đảm bảo này cũng là cơ sở pháp lí để ngân hàng có thể có được nguồn thu nợ thứ hai khi nguồn thu nợ thứ nhất (từ phương án sản xuất kinh doanh, hiệu quả dự án của hộ sản xuất làng nghề mang lại) không chắc chắn.
b. Cho vay làng nghề không có đảm bảo :
Là khoản cho vay mà khách hàng tại làng nghề vay vốn không có tài sản cầm cố, thế chấp hoặc không có bảo lãnh của người thứ ba, ngân hàng cho những khách hàng
này vay chỉ dựa vào uy tín của bản thân khách hàng để xem xét cho vay. Tuy nhiên để có thể vay vốn không cần tài sản đảm bảo thì khách hàng tại làng nghề cần đáp ứng được các điều kiện theo Nghị định 85/2002/NĐ-CP ngày 25/10/2003 của Chính phủ.
15
1.2.5. Vai trò của cho vay đối với sự phát triển kinh tế ở các làng nghề
Đối với sự phát triển kinh tế ở các làng nghề hiện nay, cho vay đóng vai trò vô
cùng quan trọng.
Cho vay đáp ứng nhu cầu vốn của các hộ, cơ sở sản xuất tại làng nghề giúp quá trình sản xuất kinh doanh được liên tục. Trong một thời điểm nào đó, các hộ, cơ sở sản
xuất kinh doanh thiếu vốn để mua nguyên vật liệu, trả lương công nhân do chưa thu
được tiền bán hàng. Lúc này, họ phải đi vay để duy trì quá trình sản xuất, họ có thể
vay bạn bè, người thân nhưng không phải lúc nào nhu cầu vay đó cũng đáp ứng được, chỉ có NHTM mới đáp ứng nhanh nhất và kịp thời nhất vốn cho họ để tiếp tục quá
trình sản xuất.
Hiện nay, một trong những vấn đề cấp thiết để có thể phát triển làng nghề bắt kịp
nhu cầu của thị trường, chính là sự đổi mới công nghệ, đầu tư vào trang thiết bị kĩ thuật. Cho vay góp phần đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất
kinh doanh và mở rộng sản xuất đối với các hộ, cơ sở sản xuất tại làng nghề. Chi phí
cho những hoạt động này là rất lớn và bản thân các hộ và cơ sở sản xuất này tại một
thời điểm không thể có đủ vốn để chi trả. Vốn vay ngân hàng sẽ giúp họ thực hiện
được trong khi bản thân họ chưa đủ vốn.
Cho vay góp phần nâng cao cơ sở hạ tầng tại làng nghề, góp phần xây dựng bộ
mặt nông thôn thêm đổi mới. Cơ sở hạ tầng bao gồm: Hệ thống đường xá, hệ thống cầu cống, điện, thông tin liên lạc Nhờ có nguồn vốn của ngân hàng mà tại các làng
nghề hiện nay, hầu hết hệ thống đường xá đã được bê tông hoá, hoặc đã được trải
nhựa, điện đã đáp ứng đầy đủ nhu cầu sản xuất kinh doanh trong làng, hệ thống thông
tin liên lạc phát triển, đáp ứng kịp thời quá trình sản xuất kinh doanh.
Ngân hàng trước khi cho các khách hàng tại làng nghề vay vốn thì đều phải xem
xét phương án kinh doanh mà họ đưa ra. Ngân hàng có thể tư vấn cho các khách hàng
này để phương án sản xuất kinh doanh của họ trở nên khả thi hơn. Hơn nữa trong khi
cho vay thì ngân hàng luôn giám sát, kiểm tra khoản vay đó của khách hàng đến khi hết hạn HĐTD. Bằng sự tư vấn và kiểm tra giám sát của mình, ngân hàng giúp các hộ sản xuất kinh doanh tại làng nghề có phương án sản xuất khả thi, đầu tư có hiệu quả hơn, từ đó góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế làng nghề.
Cho vay giúp các hộ, cơ sở sản xuất kinh doanh tại làng nghề có dịp giao lưu thương mại với quốc tế. Thật vậy, khi có đủ vốn, họ sản xuất các sản phẩm không chỉ đáp ứng nhu cầu trong nước mà còn đáp ứng được nhu cầu tại nước ngoài. Ngân hàng
cấp vốn để các hộ, cơ sở sản xuất đầu tư mở rộng sản xuất, tạo ra các sản phẩm đáp ứng nhu cầu tại thị trường nước ngoài. Khi có sản phẩm được tiêu thụ ở nước ngoài,
16
đây sẽ là cơ hội cho họ có thể giao lưu với thương mại quốc tế, đưa các sản phẩm từ
làng nghề Việt Nam vươn ra thị trường thế giới.
1.3. Mở rộng cho vay đối với làng nghề của ngân hàng thƣơng mại
1.3.1. Khái niệm mở rộng cho vay đối với làng nghề
Dựa trên khái niệm “cho vay đối với làng nghề đã đưa ra ở trên, khái niệm về
“mở rộng cho vay đối với làng nghề được hiểu như sau:
“Mở rộng cho vay đối với làng nghề là việc ngân hàng thương mại tăng cả khối
lượng và chất lượng các khoản cho vay đối với làng nghề nhằm thực hiện mục tiêu cuối cùng là lợi nhuận tăng, đảm bảo ngân hàng phát triển bền vững trong nền kinh tế
thị trường.”
Tuy nhiên, mở rộng cho vay của các tổ chức tín dụng đối với làng phải gắn liền
với sự tăng trưởng của nền kinh tế. Do đó trong bất cứ trường hợp nào, đã là mở rộng cho vay thì phải góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển phù hợp với định hướng,
mục tiêu của Nhà nước. Ngân hàng không thể cho vay thiếu sự tính toán, cân nhắc.
1.3.2. Sự cần thiết phải mở rộng cho vay đối với làng nghề
Như ta đã biết, mục tiêu hoạt động của các NHTM là lợi nhuận, hơn nữa cho vay
là hoạt động sinh lời cao nên mở rộng cho vay là vấn đề cần thiết mà các ngân hàng
đều phải thực hiện nhằm gia tăng lợi nhuận.
Mặt khác, khi ngân hàng mở rộng cho vay đã đáp ứng một phần nhu cầu vốn cho làng nghề. Thực tế cho thấy, không thể làm kinh tế nếu không có vốn. Chính sự hỗ trợ
vốn của NHTM đã giúp làng nghề mở rộng quy mô sản xuất, cải tiến kỹ thuật, bên
cạnh đó hoạt động cho vay của ngân hàng cũng giúp các hộ, cơ sở sản xuất quay vòng
vốn nhanh, sản phẩm ngày càng nhiều, tăng thu nhập cải thiện đời sống cho người dân.
Hơn nữa, khi ngân hàng mở rộng cho vay đối với làng nghề, không những mang
lại lợi ích kinh tế cao mà còn mang lại lợi ích chính trị, xã hội cho làng nghề. Việc mở
rộng cho vay này không những mang lại lợi ích kinh tế trực tiếp có thể thấy được qua
thực tế sản xuất kinh doanh và các con số mà nó gián tiếp mang lại các lợi ích chính trị và xã hội khác như: Tạo công ăn việc làm, giảm t lệ thất nghiệp,giảm thiểu thời gian nhàn rỗi, hạn chế các tệ nạn xã hội Qua đó có cơ sở củng cố tiềm lực kinh tế - quốc
phòng tại địa phương.
Không chỉ vậy, mở rộng cho vay của NHTM góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của làng nghề. Các hộ và cơ sở khi vay vốn của ngân hàng đều phải trả lãi,
họ bị thúc ép về nghĩa vụ tài chính, nên phải tính toán cẩn thận để làm ăn có hiệu quả.
Do vậy qua hoạt động cho vay, ngân hàng buộc khu vực này phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.
17
1.3.3. Các chỉ tiêu đánh giá hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại
1.3.3.1. Các chỉ tiêu định tính
a. Khả năng đáp ứng nhu cầu của khách hàng tại làng nghề
Mở rộng cho vay đối với làng nghề của ngân hàng có đạt hiệu quả không phụ
thuộc vào khả năng đáp ứng nhu cầu của khách hàng tại làng nghề.
Điều này thể hiện qua một số khía cạnh như: Thái độ tiếp đón lịch sự, tư vấn,
hướng dẫn nhiệt tình cho khách hàng tại làng nghề, thủ tục nhanh gọn, phục vụ nhanh
nhất cho khách hàng tại làng nghề trong phạm vi, thời gian quy định, đáp ứng kịp thời nhu cầu về vốn của hộ sản xuất tại làng nghề. Trong nền kinh tế thị trường đầy biến
động và có sự cạnh tranh gay gắt đòi hỏi ngân hàng phải sáng tạo, năng động hơn đáp
ứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng tại làng nghề. Như vậy mới có thể mở rộng
cho vay đối với làng nghề có hiệu quả. Ví dụ khi khách hàng tại làng nghề muốn vay vốn để mở rộng sản xuất kinh doanh, ngân hàng thẩm định phương án sản xuất kinh
doanh của khách hàng này và thấy không khả thi. Thay vì từ chối cho vay, ngân hàng
sẽ tư vấn cho khách hàng, sửa đổi phương án sản xuất kinh doanh cho phù hợp để cho
vay. Điều này khiến việc cho vay đối với làng nghề của ngân hàng được mở rộng.
b. Khả năng khách hàng tại làng nghề đáp ứng điều kiện vay vốn của ngân hàng
Mở rộng cho vay đối với làng nghề còn phụ thuộc vào việc khách hàng tại làng
nghề có đáp ứng được yêu cầu mà ngân hàng đặt ra hay không. Cụ thể như các khoản cho vay đối với làng nghề phải tuân thủ hai nguyên tắc: khách hàng tại làng nghề phải
sử dụng vốn vay đúng mục đích đã thỏa thuận với ngân hàng trong hợp đồng và khách
hàng phải hoàn trả nợ đúng thời hạn. Việc khách hàng tuân thủ nguyên tắc cho vay đối
với làng nghề của ngân hàng giúp ngân hàng là cơ sở để ngân hàng có thể tồn tại và
phát triển, từ đó việc mở rộng cho vay với làng nghề sẽ hiệu quả hơn.
1.3.3.2. Các chỉ tiêu định lượng
a. Nhóm chỉ tiêu phản ánh khối lượng cho vay
(1) Dƣ nợ cho vay, doanh số cho vay, oanh số thu nợ đối với làng nghề
Dư nợ cho vay đối với làng nghề là chỉ tiêu mà các ngân hàng d ng để phản ánh số tiền cho vay đối với làng nghề tại một thời điểm cụ thể, đây cũng là khoản mà ngân
hàng phải thu về. Đây là chỉ tiêu tích lũy qua từng thời kì. Lợi nhuận mà ngân hàng có được từ các khoản cho vay đối với làng nghề dựa vào dư nợ cho vay. Vì vậy số dư nợ cho vay tại làng nghề càng lớn và dư nợ cho vay tại làng nghề kỳ sau tăng hơn so với
kỳ trước là chỉ tiêu đúng nhất phản ánh mức độ mở rộng cho vay đối với làng nghề
càng nhiều.
18
Dư nợ cho vay làng nghề kì này = Dư nợ cho vay làng nghề kì trước + Doanh số
cho vay làng nghề trong kì – Doanh số thu nợ trong kì đối với làng nghề
Doanh số cho vay đối với làng nghề là chỉ tiêu phản ánh tất cả các khoản cho vay
đối với làng nghề trong một năm tài chính mà không tính đến việc khoản vay đối với làng nghề đó đã thu về hay chưa.
Doanh số thu nợ đối với làng nghề là chỉ tiêu phản ánh tất cả các khoản cho làng
nghề vay đã được thu về trong năm tài chính
Khi có sự gia tăng về dư nợ cho vay đối với làng nghề, dư nợ cho vay làng nghề kì này cao hơn dư nợ cho vay làng nghề kì trước, thì cho vay đối với làng nghề sẽ
được mở rộng. Có được kết quả này là do doanh số cho vay làng nghề trong kì lớn hơn
doanh số thu nợ tại làng nghề trong kì.
Khi doanh số cho vay làng nghề kì này tăng so với kì trước và lớn hơn doanh số thu nợ trong kì thì mở rộng cho vay đối với làng nghề cả về dư nợ cho vay và doanh số
cho vay tại làng nghề.
Khi doanh số cho vay làng nghề kì này không tăng hoặc nhỏ hơn kì trước, nhưng
doanh số thu nợ làng nghề trong kì này giảm so với kì trước thì vẫn có sự mở rộng cho
vay đối với làng nghề.
(2) Số khách hàng tại làng nghề vay vốn
Dư nợ đối với làng nghề = Số lượng khách hàng vay vốn tại làng nghề x Giá trị trung bình của các món vay tại làng nghề
Số lượng khách hàng tại làng nghề là chỉ tiêu đánh giá mở rộng cho vay đối với
làng nghề về quy mô. Số lượng khách hàng càng nhiều nghĩa là ngân hàng đã đáp ứng
được nhu cầu vốn của nhiều người hơn.
Nếu số lượng các khách hàng tại làng nghề vay vốn tăng, giá trị trung bình của
các món vay tại làng nghề cũng tăng lên thì dư nợ đối với làng nghề tăng, ngân hàng
có sự mở rộng cho vay đối với làng nghề cả về số lượng khách hàng và giá trị các món
vay.
b. Nhóm chỉ tiêu phản ánh chất lượng cho vay.
(1) Tỷ lệ nợ quá hạn tại làng nghề (%)
Nợ quá hạn tại làng nghề X 100%
T lệ nợ quá hạn tại làng nghề Tổng dư nợ tại làng nghề
Nợ quá hạn tại làng nghề là khoản nợ mà một phần hoặc toàn bộ nợ gốc, lãi hoặc lãi đã quá hạn. Căn cứ vào khoản 1 điều 10 trong số 02/2013/TT-NHNN của NHNN
Quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và 19
việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh
ngân hàng nước ngoài, nợ quá hạn tại làng nghề được phân loại như sau:
Nợ nhóm 2 (Nợ cần chú ý): Là các khoản nợ quá hạn từ 10 ngày đến 90 ngày;
Nợ nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn): Là các khoản nợ quá hạn từ 91 ngày đến
180 ngày;
Nợ nhóm 4 (Nợ nghi ngờ): Là các khoản nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360
ngày;
Nợ nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn): Là các khoản nợ quá hạn trên 360
ngày.
Đây không phải là chỉ tiêu phản ánh trực tiếp việc mở rộng cho vay đối với làng
nghề. Nhưng nó là tiêu quan trọng để phản ánh chất lượng mở rộng cho vay đối với
làng nghề. Mặc dù các ngân hàng muốn mở rộng cho vay đối với làng nghề nhưng không thể bất chấp cho làng nghề vay bằng mọi giá. Hoạt động cho vay của ngân hàng
phải đảm bảo tính an toàn và hiệu quả. Chỉ tiêu này cho biết, với 100 đồng ngân hàng
cho làng nghề vay thì có bao nhiêu đồng là nợ quá hạn. T lệ nợ quá hạn tại làng nghề
cao thể hiện chất lượng các khoản vay kém, khách hàng tại làng nghề không hoàn trả
nợ đúng hạn, ngân hàng không nên mở rộng cho vay tại làng nghề.
(2) Tỷ lệ nợ xấu tại làng nghề (%)
Nợ xấu là các khoản nợ dưới chuẩn, có thể quá hạn và bị nghi ngờ về khả năng
trả nợ lẫn khả năng thu hồi vốn của chủ nợ, điều này thường xảy ra khi các con nợ đã tuyên bố phá sản hoặc đã tẩu tán tài sản. Nợ xấu bao gồm các khoản nợ quá hạn trả lãi
hoặc gốc trên thường quá ba tháng căn cứ vào khả năng trả nợ của khách hàng để hạch
toán các khoản vay vào các nhóm thích hợp.
T lệ nợ xấu Nợ xấu tại làng nghề X 100%
tại làng nghề Tổng dư nợ tại làng nghề
Bên cạnh việc dùng chỉ tiêu t lệ nợ quá hạn để đánh giá chất lượng mở rộng cho vay đối với làng nghề của NHTM, người ta còn dùng chỉ tiêu t lệ nợ xấu. Chỉ tiêu này cho biết, với 100 đồng cho làng nghề vay thì có bao nhiêu đồng là nợ xấu. Nợ xấu
phản ánh khả năng thu hồi vốn tại các làng nghề của ngân hàng rất khó khăn. T lệ nợ xấu càng cao thì chất lượng các khoản vay tại làng nghề càng kém và ngược lại.
20
(3) Tỷ lệ thu nhập từ hoạt động cho vay đối với làng nghề (%)
T lệ thu nhập từ Thu nhập từ cho vay làng nghề X 100%
cho vay làng nghề Tổng thu nhập
Các NHTM đều hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận. Chính vì thế mở rộng cho vay đối với làng nghề không chỉ là để gia tăng dư nợ cho vay, doanh số cho vay làng nghề
mà còn là để kiếm thu nhập cho các ngân hàng. Hơn thế nữa, cho vay là hoạt động
mang lại nhiều rủi ro nhưng mang lại lợi nhuận rất lớn cho ngân hàng. Chỉ tiêu này
cho biết cứ 100 đồng thu nhập ngân hàng có được thì có bao nhiêu đồng thu được từ hoạt động cho vay đối với làng nghề. Lợi nhuận từ hoạt động cho vay làng nghề mang
lại chứng tỏ khoản vay mà ngân hàng cho làng nghề vay không những thu hồi được
mà còn sinh lời, đảm bảo an toàn cho vốn vay. Chỉ tiêu này càng cao thì càng tốt.
1.3.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến mở rộng cho vay đối với làng nghề tại ngân
hàng thương mại
Có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng đến sự mở rộng cho vay đối với làng nghề tại
NHTM. Các nhân tố này đan xen, tác động lẫn nhau. Rất khó có thể xác định được
nhân tố này quan trọng, nhân tố kia không quan trọng bởi mỗi giai đoạn khác nhau thì
mức độ ảnh hưởng của các nhân tố này là khác nhau. Chính vì thế, việc ngân hàng có
những nhận định sáng suốt để đưa ra những quyết định đúng đắn nhất là cần thiêt.
1.3.4.1. Nhân tố có thể kiểm soát được
a. Từ phía ngân hàng
(1) Mục tiêu hoạt động chung của ngân hàng
Vào mỗi thời kì nhất định, mỗi ngân hàng đều có những mục tiêu hoạt động khác
nhau. Những hoạt động kinh doanh của ngân hàng được diễn ra nhằm đạt được mục
tiêu hoạt động đã đề ra của nó. Nếu mục tiêu của ngân hàng là nâng cao chất lượng tín
dụng thì việc tăng trưởng tín dụng sẽ có chọn lọc, thận trọng hơn, giảm thiểu tối đa rủi
ro cho ngân hàng. Khi có mục tiêu hoạt động như vậy thì việc ngân hàng có mở rộng cho vay đối với làng nghề hay không sẽ được cân nhắc rất kĩ càng.
(2) Nguồn vốn huy động của ngân hàng
Ngân hàng chỉ có thể tiến hành mở rộng cho vay khi có quy mô nguồn vốn đủ. Thực tế cho thấy nguồn vốn tự có của ngân hàng là rất nhỏ nên để có thể mở rộng cho vay các ngân hàng phải tìm mọi cách huy động vốn trong nền kinh tế. Hoạt động huy động vốn đạt hiệu quả là điều kiện để ngân hàng tiến hành mở rộng cho vay.
21
(3) Quy trình, thủ tục, phƣơng thức cho vay của ngân hàng
Quy trình thủ tục nhanh gọn, hợp lí sẽ giúp khách hàng tại làng nghề có được
nguồn vốn nhanh chóng hớn, giúp tăng sự tín nhiệm của khách hàng dành cho ngân
hàng, mở rộng được cho vay. Hơn thế nữa, mỗi đối tượng khách hàng khác nhau có hoạt động sản xuất kinh doanh, nhu cầu vay vốn khác nhau nên những điều kiện và
yêu cầu để đáp ứng nhu cầu này ngân hàng đặt ra cũng khác nhau. Phương thức cho
vay của ngân hàng đa dạng, linh hoạt với các điều kiện hấp dẫn sẽ giúp khách hàng tại
làng nghề có thể chọn được phương thức vay phù hợp nhất với họ, khách hàng đến vay vốn nhiều hơn, tăng dự nợ cho vay. Tuy nhiên thực tế cho thấy, thủ tục vay vốn của
ngân hàng đối với các hộ sản xuất kinh doanh tại làng nghề vẫn còn rất phức tạp, rườm
rà. Gần đây, Chính phủ đã đề ra các loại gói kích cầu, hỗ trợ 4% lãi suất, phù hợp với
yêu cầu của doanh nghiệp làng nghề. Theo khảo sát của Hiệp hội Làng nghề Việt Nam ở nhiều địa phương, hiện chỉ có khoảng 10-15% doanh nghiệp làng nghề tiếp cận được
nguồn vốn này. Điều này ảnh hưởng tiêu cực đến việc mở rộng cho vay đối với làng nghề.12
(4) Chính sách tín dụng của ngân hàng
Chính sách tín dụng là hệ thống các biện pháp được đặt ra để đạt được mục tiêu
hoạt động của ngân hàng trong từng thời kì. Chính sách nới lỏng tín dụng hay thắt chặt
tín dụng ảnh hưởng đến sự mở rộng cho vay. Khi quyết định nới lỏng tín dụng thì ngân hàng sẽ cho vay nhiều hơn, thắt chặt tín dụng thì ngược lại. Chính sách tín dụng quyết
định sự thành công hay thất bại của một ngân hàng. Bất kì một chính sách tín dụng nào
để đảm bảo ba mục tiêu: Lợi nhuận của ngân hàng, hạn chế rủi ro, sự lành mạnh của
khoản tín dụng.
(5) Lãi suất cho vay
Lãi suất là công cụ ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập của ngân hàng. Tuy nhiên
việc sử dụng công cụ này như “con dao hai lưỡi . Nếu ngân hàng tăng lãi suất để tăng
thu nhập của mình lên thì khách hàng sẽ vay ít hơn, dư nợ cho vay sẽ giảm, ảnh hưởng đến việc mở rộng cho vay. Còn nếu ngân hàng giảm lãi suất, khách hàng sẽ đến vay vốn nhiều hơn, dẫn đến tăng dư nợ cho vay, mở rộng cho vay. Nhưng thu nhập của ngân hàng lại giảm. Ví dụ tại làng nghế giấy Phong Khê, một số hộ sản xuất không
12 Hương Loan (2009), Mới có hơn 10 doanh nghiệp làng nghề được vay vốn kích cầu, www.vneconomy.vn 22
tiêu thụ được sản phẩm, hàng tồn kho nhiều, lãi suất ngân hàng lại cao (dẫn đến việc không kịp trả nợ cho ngân hàng, nợ xấu tại làng nghề sẽ tăng, khiến ngân hàng không thể cho vay thêm dẫn đến thu hẹp cho vay tại các làng nghề.
(6) Trình độ nghiệp vụ của cán bộ tại ngân hàng
Yếu tố con người cũng đóng vai trò quan trọng trong việc mở rộng cho vay tại
làng nghề. Thái độ phục vụ, tiếp đón, trình độ hiểu biết của nhân viên là bộ mặt của
ngân hàng bởi khách hàng tiếp xúc với họ đầu tiên khi bước vào ngân hàng. Khi khách hàng có ấn tượng tốt với ngân hàng thì họ sẽ giới thiệu cho khách hàng khác tới ngân
hàng vay vốn khi có nhu cầu. Cán bộ tín dụng giỏi nghiệp vụ sẽ xác định được rủi ro
của khoản vay. Từ đó tạo sự tin tưởng của khách hàng đối với ngân hàng. Ngoài ra
việc nhân viên gặp gỡ, trao đổi, hướng dẫn khách hàng làm thủ tục tại ngân hàng, tư vấn giới thiệu cho khách hàng về các dịch vụ tiện ích của ngân hàng cũng làm thay đổi
tích cực đến sự mở rộng cho vay tại làng nghề.
(7) Mạng ƣới hoạt động
Thông thường trụ sở chính và các phòng giao dịch của ngân hàng thường đặt ở trung tâm quận, huyện, thị trấn, thị xã. Mà các làng nghề chủ yếu tại nông thôn, cách
xa trụ sở của ngân hàng. Khi khách hàng muốn vay vốn thì họ phải có những thông tin
cần thiết về lãi suất, phương thức cho vay, thủ tục, điều kiện vay,... Điều này vẫn tạo
ra sự khó khăn trong việc tiếp cận thông tin cho khách hàng, mặc d các phương tiện
thông tin đại chúng phát triển hơn.
Nhìn chung, việc ngân hàng có trụ sở tại làng nghề, hoặc gần làng nghề sẽ tạo
điều kiện tốt trong việc thu hút khách hàng vay vốn, thực hiện được mở rộng cho vay.
b. Từ phía khách hàng
(1) Phƣơng án sản xuất kinh doanh và tài sản đảm bảo của khách hàng tại làng nghề
Ngân hàng cho vay luôn quan tâm đến việc hoàn trả nợ của khách hàng tại làng
nghề sau này. Phương án sản xuất kinh doanh khả thi chính là cơ sở đầu tiên để ngân
hàng có thể thu nợ sau khi cho khách hàng tại làng nghề vay vốn. Tuy nhiên, hiện nay
các khách hàng tại đây hầu hết lập phương án sản xuất kinh doanh còn rất sơ sài, có
khách hàng còn không tự lập được phương án sản xuất của mình. Từ đó gây khó khăn cho công tác thẩm định của cán bộ tín dụng. Điều này dẫn đến việc khách hàng khó có thể tiếp cận được nguồn vốn của ngân hàng, ảnh hưởng tới việc mở rộng cho vay của ngân hàng.
Tài sản đảm bảo giúp ngân hàng hạn chế được các rủi ro từ hoạt động cho vay. Ngân hàng căn cứ vào tài sản đảm bảo để xác định mức cho vay đối với khách hàng tại
làng nghề. Khi khách hàng có tài sản đảm bảo có giá trị cao thì mức cho vay của ngân
hàng đối với khách hàng sẽ lớn. Tuy nhiên, tại các làng nghề, khách hàng vay vốn thường có tài sản đảm giá trị rất thấp và thấp hơn so với nhu cầu vay vốn của họ. Hơn nữa các khách hàng tại làng nghề lại chưa có đủ uy tín với ngân hàng để có thể vay tín 23
chấp. Điều này gây trở ngại cho quá trình tiếp cận vốn ngân hàng của khách hàng tại
làng nghề, gây ảnh hưởng tới việc ngân hàng mở rộng cho vay.
(2) Nhu cầu vay vốn của các hộ sản xuất tại làng nghề
Mỗi khách hàng tại làng nghề đầu tư sản xuất kinh doanh trong các lĩnh vực khác nhau như đồ thủ công mỹ nghệ, cơ khí, giấy lại có nhu cầu về nguồn vốn khác nhau.
Nhu cầu vay vốn của khách hàng tại làng nghề cao hay thấp ảnh hưởng tới doanh số
cho vay của ngân hàng tại làng nghề. Từ đó ảnh hưởng đến mở rộng cho vay đối với
làng nghề.
(3) Tƣ cách đạo đực, năng ực quản lí kinh doanh của khách hàng tại làng nghề
hách hàng có tư cách đạo đức tốt, thiện chí trả nợ đúng hạn sẽ gây được thiện
cảm cho ngân hàng, có được quan hệ tốt với ngân hàng và trở thành khách hàng lâu
năm và nhận được các ưu đãi lớn của khách hàng. Điều này có tác động tích cực tới việc mở rộng cho vay của ngân hàng.
Khi ngân hàng cho khách hàng vay vốn, đồng nghĩa sẽ giao cho khách hàng
quyền quản lí nguồn vốn đó. hách hàng có năng lực kinh doanh tốt sẽ nhận biết được
những chuyển biến của thị trường, có phương án kinh doanh hiệu quả, mang lại nguồn
trả nợ cho ngân hàng. Còn khách hàng không lường trước được chuyển biến thì trường
thì sẽ kinh doanh thua lỗ, không có khả năng trả nợ cho ngân hàng, ảnh hưởng đến
việc mở rộng cho vay của ngân hàng.
1.3.4.2. Nhân tố không thể kiểm soát được
a. ôi trường pháp lý
Các chính sách tín dụng của ngân hàng ảnh hưởng rất lớn từ những đường lối,
chính sách của Đảng và Nhà nước. hi nhà nước có chủ trương phát triển làng nghề
thì việc cho vay đối với làng nghề sẽ được mở rộng. Ngân hàng cần nắm bắt được xu
thế phát triển chung của làng nghề trong tương lai để đưa ra những chính sách tín dụng
phù hợp với làng nghề.
Ngoài ra, mỗi địa phương đều có những đặc điểm và hoạt động sản xuất kinh doanh riêng biệt. Các chính sách của địa phương đó cũng ảnh hưởng tới việc mở rộng cho vay. Ngân hàng cần căn cứ vào phướng hướng phát triển của đại phương để đưa ra
những biện pháp, chính sách tín dụng thích hợp.
Việc tạo ra khung pháp lí phù hợp và đồng bộ sẽ giúp cho khu vực làng nghề phát triển. Những người có vốn sẽ yên tâm đầu tư và ngân hàng cũng có thêm niềm tin
và căn cứ để có thể cho khách hàng vay vốn.
24
b. ôi trường kinh tế
Sự biến động của nền kinh tế ảnh hưởng tới việc mở rộng cho vay của ngân
hàng. Khi kinh tế tăng trưởng, thì ngân hàng sẽ có thể mở rộng cho vay dễ dàng. Khi
kinh tế suy thoái thì việc mở rộng cho vay sẽ trở nên khó khăn bởi lạm phát, khủng hoảng kinh tế sẽ tác động lớn đến thu nhập của khách hàng, ảnh hưởng trực tiếp đến
quá trình thu nợ của ngân hàng.
Trong môi trường cạnh tranh gay gắt giữa các ngân hàng như hiện nay, chính
sách tín dụng của đối thủ cạnh tranh cũng ảnh hưởng tới việc cho vay của ngân hàng được mở rộng. Bởi lẽ để có được lợi ích cao nhất cho mình, khách hàng sẽ chọn lựa
ngân hàng có lãi suất thấp và những ưu đãi đặc biệt để vay vốn. Do vậy, xem xét chính
sách tín dụng của đối thủ cạnh tranh để từ đó điều chỉnh chính sách tín dụng đang áp
dụng đối với làng nghề sao cho hợp lí nhất là điều rất quan trọng.
c. ôi trường chính trị xã hội
ôi trường chính trị ổn định sẽ thu hút các tập đoàn tài chính nước ngoài đầu tư
vào ngành ngân hàng tại Việt Nam (ví dụ như tập đoàn HSBC), thúc đẩy ngành ngân
hàng phát triển. Điều này có ảnh hưởng tích cực đến việc mở rộng cho vay đối với
làng nghề của các NHTM. Tại các làng nghề, tình hình chính trị xã hội ổn định, an
ninh được thắt chặt thì người dân mới có thể yên tâm hoạt động sản xuất kinh doanh.
Việc sản xuất kinh doanh của họ phải diễn ra rất thuận lợi thì ngân hàng mới có khả năng mở rộng cho vay được. Ví dụ thị trường chế biến gỗ của Việt Nam đang nổi lên
là một điểm đến ổn định được các nhà đầu tư nước ngoài hướng tới, bởi lẽ Việt Nam
có được tình hình chính trị ổn định, trong khi tình hình chính trị khu vực và thế giới
đang bất ổn. Điều này dẫn đến việc sản xuất tại các làng nghề chế biến gỗ như La
Xuyên, Canh Nậu, Phù Khê, được đẩy mạnh, nhu cầu vốn của hộ, cơ sở sản xuất
tăng lên khiến NHTM có thể mở rộng cho vay đối với làng nghề.
KẾT LUẬN CHƢƠNG 1
Qua việc phân tích cơ sở lí luận về mở rộng cho vay đối với làng nghề tại NHTM ở chương 1 nêu trên, khóa luận đã hoàn thành những mục tiêu nghiên cứu sau:
Hiểu được những lí luận cơ bản về làng nghề, mở rộng cho vay đối với làng nghề của NHTM. Khẳng định được mở rộng cho vay đối với làng nghề là cần thiết, không
chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà còn mang lại lợi ích chính trị, xã hội. Trên cơ sở đó, chỉ ra những nhân tố ảnh hưởng đến sự mở rộng cho vay đối với làng nghề. Đây là những kiến thức cơ bản để ban lãnh đạo tại các ngân hàng có những định hướng đúng đắn
cho việc mở rộng cho vay tại làng nghề. Nó cũng giúp các ngân hàng có thể sử dụng nguồn vốn hiệu quả, đúng đối tượng, đúng hướng nhằm phát triển kinh tế khu vực làng nghề.
25
CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG CHO VAY ĐỐI VỚI LÀNG NGHỀ TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI CỔ PHẦN Á CHÂU CHI NHÁNH BẮC
NINH
2.1. Khái quát về Ngân hàng Thƣơng mại Cổ phần Á Châu
2.1.1. Sơ lược về Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu
Tên ngân hàng: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu.
Tên gọi tắt: Ngân hàng Á Châu.
Tên giao dịch quốc tế: Asia Commercial Joint Stock Bank.
Tên viết tắt bằng Tiếng Anh: ACB.
Vốn điều lệ: 9.376.965.060.000 đồng
Địa chỉ: 442 Nguyễn Thị inh hai, Phường 05, Quận 3, Tp. Hồ Chí Minh.
Số điện thoại: (84.8) 3929 0999
Website: www.acb.com.vn
Ngân hàng Châu được thành lập theo Giấy phép số 0032/NH-GP do Ngân
hàng Nhà nước Việt Nam cấp ngày 24/4/1993, và Giấy phép số 533/GP-UB do Ủy ban
Nhân dân thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 13/5/1993. Ngày 04/6/1993, ACB chính
thức đi vào hoạt động. Lĩnh vực hoạt động của ngân hàng là huy động vốn ngắn hạn,
trung và dài hạn theo các hình thức tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi thanh toán, chứng chỉ
tiền gửi, tiếp nhận vốn u thác đầu tư, nhận vốn từ các tổ chức tín dụng trong và ngoài nước; cho vay ngắn, trung và dài hạn; chiết khấu thương phiếu, công trái và các giấy
tờ có giá; đầu tư vào các tổ chức kinh tế; làm dịch vụ thanh toán giữa các khách hàng;
kinh doanh ngoại tệ, vàng bạc; thanh toán quốc tế và cung cấp các dịch vụ ngân hàng
khác.
Trong quá trình hình thành và phát triển ACB đã dành được rất nhiều thành tự to
lớn. Năm 2008, ACB vinh dự nhận Huân chương lao động hạng nhì do Chủ tịch nước
trao tặng. Năm 2009 đạt danh hiệu “Ngân hàng tốt nhất Việt Nam do Asiamoney, Global Finance, Euromoney, The Banker, và The Asset trao tặng. Ngoài ra, ACB còn đạt rất nhiều giải thưởng khác.
Với những thành tựu đã đạt được, ACB đã và đang nỗ lực không ngừng để đóng góp một phần cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá và phát triển kinh tế của đất nước.
2.1.2. Quá trình hình thành và phát triển của Ngân hàng Thương mại Cổ phần
Châu hi nhánh Bắc Ninh
Tên Chi nhánh: Chi nhánh Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu Bắc Ninh.
26
Tên viết tắt: Ngân hàng Châu Chi nhánh Bắc Ninh.
Trụ sở: 242 Trần Phú – T.X Từ Sơn – Bắc Ninh.
Ngân hàng Châu Chi nhánh Bắc Ninh được thành lập vào ngày 1/10/2004, có
thể thực hiện được mọi nghiệp vụ của một NHTM hiện đại. Điều này mang lại sự thuận tiện rất lớn cho khách hàng.
Trải qua hơn 9 năm xây dựng và phát triển, Ngân hàng Á Châu Chi nhánh Bắc
Ninh đã và đang có được vị thế của mình, trong tương lai sẽ là đơn vị quan trọng trong
hệ thống ngân hàng tỉnh Bắc Ninh.
Tháng 09/2009, Ngân hàng Á Châu Chi nhánh Bắc Ninh mở rộng mạng lưới
thành lập phòng giao dịch Kinh Bắc tại số 202 Ngô Gia Tự, Phường Suối Hoa, Thành
phố Bắc Ninh. Tháng 07/2011, thành lập phòng giao dịch Tiên Du tại 54 Lý Thường
Kiệt, Thị trấn Lim, Tiên Du. Với 3 điểm giao dịch được phân bố tại 3 vị trí kinh tế trọng điểm tại tỉnh Bắc Ninh, Chi nhánh hoạt động rất hiệu quả. Hiện nay Chi nhánh
là một trong những ngân hàng mạnh tại tỉnh Bắc Ninh.
2.1.3. ơ cấu tổ chức của Ngân hàng Thương mại Cổ phần hâu hi nhánh Bắc
Ninh
Ngân hàng Châu Chi nhánh Bắc Ninh có quy mô nhỏ, chính vì vậy mô hình tổ
chức rất đơn giản. Chi nhánh chỉ bao gồm các phòng ban cơ bản sau: Phòng Kinh
doanh, Phòng Giao dịch Ngân quỹ, và Phòng Hành chính Kế toán.
Ban iám đốc
Phòng Kinh doanh
Phòng Hành chính ế toán
Phòng iao dịch Ngân quỹ
Bộ phận iao dịch
Bộ phận ế toán
Bộ phận Thanh toán quốc tế
Bộ phận Tín dụng
Bộ phận Quỹ
Bộ phận Hành chính Thông tin
Sơ đồ 2.1. Cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Châu Chi nhánh Bắc Ninh
(Nguồn: Phòng Hành chính – Kế toán Ngân hàng Châu Chi nhánh Bắc Ninh)
27
2.1.4. Chức năng, nhiệm vụ của từng bộ phận
2.1.4.1. Ban Giám đốc
(1) Giám đốc
Là đại diện pháp nhân của ngân hàng trước pháp luật và trong quan hệ với các doanh nhiệp, các tổ chức, các cá nhân khác trong và ngoài nước, điều hành mọi hoạt
động kinh doanh hàng ngày, có quyền quyết định những phương án kinh doanh cụ thể,
bố trí sắp xếp lao động theo yêu cầu kinh doanh của ngân hàng.
(2) Các Phó Giám đốc
Có nhiệm vụ tư vấn, tham mưu cho giám đốc và thực hiện giám sát các công việc
mà giám đốc u quyền, ra lệnh trong lĩnh vực mình phụ trách.
2.1.4.2. Phòng Kinh doanh
(1) Bộ phận Thanh toán quốc tế
Thực hiện các giao dịch nghiệp vụ thanh toán quốc tế theo quy định của ACB.
Hướng dẫn, tư vấn, hỗ trợ khách hàng trong các nghiệp vụ thanh toán quốc tế
nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ ngân hàng.
Lập các báo cáo hoạt động nghiệp vụ theo quy định.
Thực hiện nhiệm vụ đối ngoại của Chi nhánh với các ngân hàng nước ngoài
trong và ngoài nước.
Nghiên cứu, đề xuất và áp dụng các sản phẩm dịch vụ ngân hàng quốc tế.
Thực hiện công tác đào tạo nghiệp vụ thanh toán quốc tế cho các cán bộ làm
công tác thanh toán quốc tế.
(2) Bộ phận Tín dụng
Xem xét trình cấp có thẩm quyền quyết định cho vay, bảo lãnh, theo dõi quá
trình cho vay.
Quản lý giải ngân và hậu giải ngân.
Chuẩn bị các số liệu thống kê, các báo cáo về các khoản cho vay phục vụ cho mục đích quản lý nội bộ của Chi nhánh, của ACB và các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền; lập các báo cáo về tín dụng theo quy định.
Cung cấp các thông tin liên quan đến hoạt động tín dụng cho phòng thẩm định và
Quản lý tín dụng; tham gia xây dựng chính sách tín dụng.
2.1.4.3. Phòng Giao dịch Ngân quỹ
(1) Bộ phận Giao dịch
Dịch vụ khách hàng là cá nhân: Chịu trách nhiệm xử lý các giao dịch đối với
khách hàng là cá nhân, như sau:
28
Thực hiện công tác tiếp thị các sản phẩm đối với khách hàng.
Duy trì và kiểm soát các giao dịch đối với khách hàng.
Tiếp nhận các thông tin phản hồi từ khách hàng.
Thực hiện các giao dịch thanh toán, chuyển tiền, bán thẻ ATM, thẻ tín dụng
Thực hiện tất cả các giao dịch nhận tiền và rút tiền bằng nội, ngoại tệ của khách
hàng.
Thực hiện tất cả các giao dịch thu đổi và mua, bán ngoại tệ giao ngay đối với
khách hàng theo thẩm quyền được iám đốc giao.
Mở tài khoản tiền gửi, chịu trách nhiệm xử lý các yêu cầu của khách hàng về tàu
khoản hiện tại và tài khoản mới.
Thực hiện việc giải ngân vốn vay trên cơ sở hồ sơ giải ngân được duyệt.
Dịch vụ khách hàng là doanh nghiệp: Chịu trách nhiệm xử lý các giao dịch đối
với khách hàng là các doanh nghiệp, tổ chức khác như:
Thực hiện việc giải ngân vốn vay, mở tài khoản tiền gửi khách hàng và chịu trách
nhiệm xử lý các yêu cầu của khách hàng.
Thực hiện tất cả các giao dịch nhận tiền gửi và rút tiền.
Thực hiện các giao dịch mua ngoại tệ ngay đối với khách hàng doanh nghiệp,
thực hiện các giao dịch thanh toán, chuyển tiền
Tiếp nhận các thông tin phản hồi từ khách hàng, duy trì và kiểm soát các giao
dịch đối với khách hàng.
(2) Bộ phận Quỹ
Thực hiện và quản lý các nghiệp vụ tiền tệ, kho quỹ.
Thu chi tiền mặt; quản lý vàng bạc, đá quý, chứng từ có giá, hồ sơ tài sản thế
chấp, cầm cố.
Thực hiện xuất nhập tiền mặt, đào tạo nghiệp vụ ngân quỹ.
Công tác kho quỹ: Đảm bảo an toàn tuyệt đối kho tiền, quá trình vận chuyển tiền đến các Phòng Giao dịch, Quỹ tiết kiệm, đi nộp tiền và lấy tiền từ các ngân hàng khác; lập kế hoạch thu nộp, điều chuyển tiền mặt, ; làm dịch vụ cho các đơn vị; mở sổ sách
theo dõi xuất nhập và bảo quản các loại tiền, đá quý, chứng từ; tổng hợp báo cáo thống kê, điện báo tuần, kỳ, ; đề xuất kịp thời bằng văn bản.
2.1.4.4. Phòng Hành chính – Kế Toán
(1) Bộ phận Kế toán
Tổ chức, hướng dẫn thực hiện và kiểm tra công tác hạch toán kết toán và chế độ
báo cáo kế toán của các phòng và các đơn vị trực thuộc.
29
Hậu kiểm các chứng từ giao dịch phát sinh tại các phòng.
Lập các báo cáo tài chính, kế toán hàng tháng, hàng quý, hàng năm và các báo
cáo khác theo yêu cầu thực tế.
Thực hiện kế toán chi tiêu nội bộ.
Thực hiện tính, nộp thuế kinh doanh, thuế thu nhập cá nhân, trích lập và quản lý
sử dụng các quỹ.
Cung cấp thông tin về tình hình tài chính và các chỉ tiêu thanh khoản.
Tham mưu cho Ban iám đốc về việc thực hiện chế độ kế toán tài chính.
Thực hiện các nhiệm vụ khác do Ban iám đốc giao.
(2) Bộ phận Hành Chính – Thông tin
Bộ phận Hành chính
Tham mưu cho iám đốc trong công việc thực hiện các chủ trương, chính sách, chế độ Nhà nước và của Ngành: Tổ chức, đào tạo, lao động, bảo hiểm xã hội, tiền
lương
Quản lý về mặt hiện vật đối với tài sản, công cụ, phương tiện kinh doanh của Chi
nhánh.
Quản lý, tiếp nhận, lưu trữ công văn giấy tờ đi và đến.
Về công tác tổ chức cán bộ: Đề xuất việc mở rộng, sắp xếp mô hình tổ chức phù
hợp; nghiên cứu đề xuất ý kiến về công tác cán bộ, tuyển dụng, bổ nhiệm, miễn nhiệm;
tham mưu đề xuất với Ban iám đốc việc thực hiện các chính sách đối với người lao
động; duyệt kế hoạch nội dung chương trình đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp
vụ, ngoại ngữ tin học
Về công tác hành chính quản trị: Lập kế hoạch thực hiện việc mua sắm, sửa
chữa, quản lý tài sản, trên cơ sở tiết kiệm có hiệu quả; đầu mối cơ sở vật chất cho
các đơn vị thuộc Chi nhánh; quản lý và sử dụng con dấu; có trách nhiệm giữ gìn vệ
sinh sạch sẽ các nơi công cộng trong cơ quan, bảo vệ an ninh an toàn cho con người, tài sản và khách hàng đến giao dịch.
Là thành viên Hội đồng khen thưởng, k luật; Hội đồng lương, nâng lương; Hội
động tuyển dụng, Soạn thảo văn bản liên quan đến chức năng, nhiệm vụ và thực hiện các công việc khác do iám đốc giao cho.
Bộ phận C ng nghệ thông tin
Quản lý kỹ thuật và sử dụng toàn bộ hệ thống máy tính, thiết bị tin học và một số hệ thống khác liên quan trực tiếp hoặc kết nối vào hệ thống mạng máy tính; hướng dẫn
và hỗ trợ tất cả các cán bộ nghiệp vụ khác; tiếp nhận, triển khai và hướng dẫn sử dụng
30
các thiết bị tin học, ứng dụng tin học cho các bộ phận liên quan; nghiên cứu và phát
triển công nghệ thông tin tại Chi nhánh.
Tổ chức vận hành, quản lý thiết bị tin học: Quản lý vận hành bảo trì, bảo dưỡng
thiết bị; quản lý tài sản.
Tổ chức quản lý, vận hành các chương trình ứng dụng: Hỗ trợ vận hành các phần
mềm ứng dụng; quản trị các chương trình ứng dụng.
2.1.5. Kết quả kinh doanh của Ngân hàng Thương mại ổ hần Á Châu Chi
nhánh Bắc Ninh
2.1.5.1. Hoạt động huy động vốn
Nguồn vốn huy động d không thuộc sở hữu của các NHTM nhưng nó có vai trò
vô cùng quan trọng. Nó là nguồn vốn chủ yếu, chiếm t trọng lớn nhất trong tổng
nguồn vốn của ngân hàng. Tình hình huy động vốn của Chi nhánh được thể hiện qua bảng sau:
Bảng 2.1. Tình hình nguồn vốn huy động của Ngân hàng Á Châu Chi nhánh
ắc Ninh giai đoạn 2011 – 2013
ĐVT: T đồng
So sánh 2013/2012
So sánh 2012/2011
Chỉ tiêu
Năm 2011
Năm 2012
Năm 2013
Tuyệt đối
Tƣơng đối
Tuyệt đối
Tƣơng đối
223,55
285,47
309,34
61,92
27,70
23,87
8,36
TG của CN và các TCKT
Không KH
56,45
4,26
4,18
(52,19)
(92,45)
(0,08)
(1,88)
Có KH
167,10
281,21
305,16
114,11
68,29
23,95
8,52
126,48
66,81
45,91
(59,67)
(47,18)
(20,90)
(31,28)
220,87
302,59
337,03
81,72
37,00
34,44
11,38
570,90
654,87
692,28
83,97
14,71
37,41
5,71
Phát hành giấy tờ có giá Nhận vốn điều chuyển Tổng nguồn vốn huy động
(Nguồn: Bộ phận Kế toán Ngân hàng Châu Chi nhánh Bắc Ninh)
Qua bảng 2.1 ta thấy, nguồn vốn mà Ngân hàng Á Châu Chi nhánh Bắc Ninh huy
động được tăng qua các năm. Cụ thể:
Năm 2011 tổng nguồn vốn huy động được của Chi nhánh là 570,90 t đồng.
Trong đó, nguồn vốn huy động được từ TG của CN và các TCKT chiếm 39,16%. Bằng cách đưa ra các chương trình dự thưởng gắn với sản phẩm tiền gửi, tặng quà cho
các khách hàng lớn, đồng thời đa dạng hóa kì hạn gửi tiền, Chi nhánh đã thu hút được
31
rất nhiều khách hàng sử dụng các sản phẩm tiền gửi. Chính vì thế, Chi nhánh đã huy
động được lượng tiền lớn nhàn rỗi trong dân cư để phục vụ cho hoạt động cho vay của
mình.
Năm 2012 Chi nhánh đã huy động được 654,87 t đồng, tăng 83,97 t đồng (14,71%) so với năm 2011. Trong đó, T của CN và các TCKT vẫn chiếm t trọng
cao nhất là 43,59 , tăng 27,70 so với năm 2011. Có được điều này là do Ngân hàng
đã công khai báo cáo thường niên, hoạt động kết quả kinh doanh, các chỉ tiêu tài chính
quan trọng thông qua các phương tiện đại chúng. Điều này giúp khách hàng hiểu rõ hơn sự tăng trưởng, phát triển của Chi nhánh. Từ đó thu hút nhiều khách hàng gửi tiền
hơn. Tuy nhiên, năm 2012 các CN và TCKT gửi tiền không kì hạn đã rút tiền ồ ạt và
chuyển sang gửi tiết kiệm có kì hạn. Sở dĩ như vậy là vì các CN và TC T gửi tiền
không kì hạn chủ yếu để thanh toán giá trị hàng hóa thường xuyên, nhưng đến năm 2012 việc buôn bán bị trì trệ, nhu cầu thanh toán trở nên thưa dần. Họ chuyển sang gửi
tiền có H để hưởng lãi suất cao hơn, khi nào cần thanh toán tiền hàng hóa vẫn có thể
rút trước hạn với lãi suất của tiền gửi không KH. Chính vì thế trong TG của CN và
TCKT thì T của CN và các TC T không KH giảm 52,19 t đồng (92,45%) so với
năm 2011, T của CN và các TC T có H tăng 114,11 t đồng (68,29%) so với năm
2011. Việc khách hàng chuyển sang gửi tiền có KH nhiều hơn rất có lợi cho Chi
nhánh, Chi nhánh có thể dùng nguồn vốn có tính ổn định này để cho vay kiếm lời.
Năm 2013 tổng vốn huy động được lớn nhất, là 692,30 t đồng, tăng 83,97 t
đồng (5,71%) so với năm 2012. Trong đó, TG CN và các TCKT không KH giảm 0,08
t đồng (1,88%) so với năm 2012. Nguyên nhân là do sản xuất kinh doanh của khách
hàng tại địa bàn chưa được phục hồi, khách hàng ít mua nguyên vật liệu đầu vào hơn,
nhu cầu thanh toán tiền cho nhà cung cấp tiếp tục giảm. Tuy nhiên, Chi nhánh đã
thành công khi đưa ra những chương trình quảng cáo về các sản phẩm dịch vụ tiền gửi
thông qua phát tờ rơi, báo, truyền hình địa phương đồng thời có chính sách lãi suất ưu
đãi cho những doanh nghiệp có địa vị và tiềm năng phát triển lớn nhằm thu hút các
doanh nghiệp trên địa bàn gửi tiền. ết quả là, cuối năm 2013 tổng vốn huy động từ TG CN và cá TCKT của Chi nhánh đạt 309,34 t đồng, vẫn tăng 23,88 t đồng (8,37%) so với năm 2012.
Bắc Ninh là một tỉnh nằm trong khu vực kinh tế trọng điểm phía Bắc. Kinh tế Bắc Ninh phát triển rất mạnh mẽ, đứng top đầu về kinh tế miền Bắc cũng như cả nước. Do vậy, nhu cầu vốn của người dân tại địa bàn nhằm phát triển hoạt động sản xuất
kinh doanh rất cao, mà số vốn mà Chi nhánh huy động được không đủ để đáp ứng nhu
cầu ấy. Chính vì thế, Chi nhánh đã phải dùng nguồn vốn điều chuyển từ Hội Sở chính và các Chi nhánh ngân hàng khác cùng hệ thống. Nguồn vốn này giúp Chi nhánh có
32
thể đáp ứng tốt hơn nhu cầu vốn của khách hàng. Tuy nhiên đây là nguồn vốn có lãi
suất cao hơn nguồn vốn mà Chi nhánh huy động được, dẫn đến lợi nhuận của Chi
nhánh sẽ bị giảm đi. Lượng tiền có được từ điều chuyển tăng qua các năm. Cụ thể,
năm 2011 là 220,87 t đồng, năm 2012 là 302,59 t đồng tăng 81,72 t đồng (37,00%) so với năm 2011. Năm 2013 là 337,03 t đồng tăng 34,44 t đồng (11,38%) so với
năm 2012. Nguyên nhân do các cơ sở sản xuất kinh doanh trên địa bàn cần nhiều vốn
để mở rộng sản xuất và mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm trong khi lượng vốn huy
động từ TG của CN và các TCKT tại Chi nhánh không đáp ứng đủ nhu cầu vay vốn của khách hàng vì vậy mà Chi nhánh đã phải nhận một lượng vốn điều chuyển lớn.
Đây là một hạn chế rất lớn đối với hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Á Châu Chi
nhánh Bắc Ninh, làm cho Chi nhánh bị thiếu tính chủ động, phải phụ thuộc nhiều vào
nguồn vốn từ Hội Sở chính và các chi nhánh khác cùng hệ thống. Qua đó, Chi nhánh cần phải có những biện pháp như đưa ra những sản phẩm tiền gửi đa dạng, hấp dẫn,
đồng thời đa dạng biểu lãi suất, kì hạn gửi tiền nhằm thu hút nguồn vốn nhàn rỗi trên
địa bàn. Từ đó tạo tiền đề để Chi nhánh trở thành cầu nối trung gian đáp ứng nhu cầu
vay vốn của người dân trên địa bàn một cách tốt nhất.
Ngoài ra, Ngân hàng Châu Chi nhánh Bắc Ninh còn huy động một lượng vốn
nhỏ qua việc phát hành các GTCG. Năm 2011 huy động được 126,48 t đồng từ các
giấy tờ có giá chiếm 22,15%. Vốn huy động từ nguồn này giảm qua các năm đến năm 2012 chỉ còn 45,91 t đồng chiếm 6,63% trên tổng vốn huy động. Do người dân không
còn chuộng hình thức này như trước nữa mà chuyển sang dùng tiền để gửi tiết kiệm.
Bởi tính ổn định, an toàn của nó, hơn thế họ có thể dự đoán được lãi trong tương lai và
có thể rút tiền bất cứ lúc nào khi họ cần d ng đến.
Nhìn chung, tình hình huy động vốn qua ba năm gần đây của Chi nhánh đều tăng
nhưng không đáp ứng đủ nhu cầu cho vay mà phải sử dụng vốn điều chuyển nội bộ.
Ngân hàng Á Châu Chi nhánh Bắc Ninh cần có những biện pháp thích hợp nhằm thu
hút nhiều hơn nữa lượng vốn huy động tại địa phương nhằm tăng lợi nhuận của Chi
nhánh.
2.1.5.2. Hoạt động cho vay
Cho vay là nghiệp vụ sinh lời chủ yếu của NHTM. Hơn nữa cho vay còn thúc
đẩy phát triển các hoạt động khác của ngân hàng. Thật vậy, khi cho các khách hàng vay vốn để đầu tư cho hoạt động sản xuất kinh doanh, lợi nhuận thu được không chỉ giúp họ có tiền trả nợ ngân hàng mà còn dư tiền để gửi vào ngân hàng. Từ đó thúc đẩy
hoạt động huy động vốn phát triển. Mặt khác, việc sản xuất kinh doanh phát triển, xã
hội phát triển, kéo theo các hoạt động dịch vụ của ngân hàng cũng phát triển. Tình
33
hình cho vay của Ngân hàng Á Châu Chi nhánh Bắc Ninh trong những năm gần đây
được thể hiện qua bảng sau:
Bảng 2.2. Tình hình cho vay của Ngân hàng Châu Chi nhánh Bắc Ninh
giai đoạn 2011 – 2013
ĐVT: T đồng
So sánh 2012/2011
So sánh 2013/2012
Chỉ tiêu
Năm 2011
Năm 2012
Năm 2013
Tuyệt đối
Tuyệt đối
Tƣơng đối
Tƣơng đối (%)
494,53
535,69
638,72
41,16
8,32 103,03
19,23
Doanh số cho vay
Ngắn hạn
360,31
386,93
441,25
26,62
7,39
54,32
14,04
Trung, dài hạn
134,23
148,76
197,47
14,53
10,82
48,71
32,74
Doanh số thu nợ
245,39
255,13
270,71
9,74
3,97
15,58
6,11
Ngắn hạn
147,43
153,12
161,75
5,69
3,86
8,63
5,64
Trung, dài hạn
97,96
102,01
108,96
4,05
4,13
6,95
6,81
Dƣ nợ cho vay
249,15
280,57
368,01
31,42
12,61
87,44
31,17
Ngắn hạn
176,4
189,48
236,59
13,08
7,41
47,11
24,86
Trung, dài hạn
72,75
91,09
131,42
18,34
25,21
40,33
44,27
Nợ quá hạn
1,98
0,67
0,41
(1,31)
(66,16)
(0,26)
(38,81)
Ngắn hạn
0,8
0
0,41
(0,8)
100,00
0,41
-
Trung, dài hạn
1,18
0,67
0
(0,51)
(43,22)
(0,67)
100,00
(Nguồn: Bộ phận Kế toán Ngân hàng Châu Chi nhánh Bắc Ninh)
Từ bảng 2.2 ta thấy rằng:
Doanh số cho vay:
Doanh số cho vay năm 2011 trên địa bàn với các loại hình cho vay: Ngắn hạn, trung và dài hạn đạt 494,53 t đồng. Đến năm 2012 đạt 535,69 t đồng, tốc độ tăng so với năm 2011 đạt 8,32 . Năm 2013 tiếp tục tăng và đạt 638,73 t đồng, tăng 19,23%
so với năm 2012. Doanh số cho vay qua ba năm đều tăng và năm sau cao hơn năm trước. Cụ thể:
Doanh số cho vay ngắn hạn chiếm t trọng lớn (73,45%) trong tổng doanh số cho vay và tăng đều qua các năm. Năm 2011 doanh số cho vay ngắn hạn là 360,31 t đồng. Năm 2012 là 386,93 t đồng (chiếm 72,23 ), tăng 7,39 so với năm 2011. Năm 2013
là 441,25 t đồng (chiếm 69,08 ), tăng 14,04 so với năm 2012. Doanh số cho vay 34
ngắn hạn chiếm t trọng lớn và ngày càng tăng như vậy là do Chi nhánh chủ yếu cho
vay ngắn hạn. Với tình hình kinh tế khó khăn như hiện nay, các doanh nghiệp đều khó
có thể phát triển vượt bậc, một số doanh nghiệp hoạt động lại không có hiệu quả, việc
cho vay ngắn hạn nhiều giúp Chi nhánh bảo toàn nguồn vốn của mình tốt hơn, hạn chế tối đa các rủi ro gây thiệt hại cho Chi nhánh. Ngoài ra, doanh số cho vay ngắn hạn tăng
cao như vậy còn là do người dân tại địa bàn có nhu cầu vay vốn ngắn hạn cao hơn để
duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh được liên tục, quá trình lưu thông hàng hóa
được thông suốt.
Doanh số cho vay trung và dài hạn chiếm t trọng nhỏ hơn (26,55%) cũng tăng
đều qua các năm. Cụ thể, năm 2011 doanh số cho vay thuộc đối tượng này đạt 134,23
t đồng. Năm 2012 đạt 148,76 t đồng, tăng 10,83% so với năm 2011. Đến năm 2013
đạt 197,47 t đồng tốc độ tăng so với năm 2012 là 32,75%. Để ngày càng đáp ứng tốt hơn nhu cầu của khách hàng về sản phẩm, dịch vụ thì các doanh nghiệp cần phải đổi
mới công nghệ thiết bị nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ. Do đó, các doanh
nghiệp có nhu cầu cao hơn về nguồn trung và dài hạn để hiện đại hóa sản xuất. Dẫn
đến doanh số cho vay trung và dài hạn tăng đều qua các năm. Hơn nữa, trong thời gian
kinh tế phát triển không ổn định, thì nhiều doanh nghiệp đã có những giải pháp kinh
doanh để tìm kiếm nguồn thu nhập như chuyển đổi ngành nghề kinh doanh, mở rộng
thêm nhà xưởng, trang bị thêm máy móc hiện đại, đa dạng hóa sản phẩm và dịch vụ cung ứng dẫn đến việc vay vốn trung, dài hạn nhiều hơn. Điều này cũng giải thích cho
nguyên nhân doanh số cho vay trang và dài hạn của Chi nhánh tăng dần trong ba năm
trở lại đây.
Doanh số thu nợ:
Trong quá trình thực hiện cho vay, thu nợ là khâu chiếm vị trí quan trọng được
ngân hàng đặc biệt quan tâm. Nó không những thể hiện khả năng thẩm định khách
hàng của cán bộ tín dụng mà nó còn phản ánh đến hiệu quả sử dụng đồng vốn của
ngân hàng.
Doanh số thu nợ năm 2011 của Chi nhánh đạt 245,39 t đồng, năm 2012 là 255,13 t đồng tăng 3,97% so với năm 2011. Đến năm 2013 đạt 270,71 t đồng, so với năm 2012 tăng 6,11 . Qua ba năm, tình hình thu nợ đạt hiệu quả cao và tăng đều qua
các năm. Cụ thể:
Doanh số thu nợ ngắn hạn qua các năm trên địa bàn đều tăng. Năm 2011 đạt 147,43 t đồng, năm 2012 tăng 3,86% so với năm 2011. Đến năm 2013 doanh số thu
nợ đạt 161,75 t đồng tăng 5,64 so với năm 2012. Có được điều này là do các hộ sản xuất nông nghiệp gặp nhiều thuận lợi trong kinh doanh, giá nông sản cao, chi phí sản
35
xuất giảm thiểu nhờ áp dụng công nghệ kĩ thuật, khiến họ có tiền trả ngân hàng như
đúng hạn.
Doanh số thu nợ trung và dài hạn cũng tăng qua các năm. Năm 2012 so với năm
2011 tăng là 4,13 , năm 2013 đạt 108,96 t đồng tăng 6,81%. Nguyên nhân bởi các doanh nghiệp đã thành công trong việc đổi sang ngành nghề kinh doanh mới, các sản
phẩm, dịch vụ mới được khách hàng đón nhận, doanh nghiệp có nguồn thu ổn định để
trả nợ cho ngân hàng.
Ngoài ra, để đạt được kết quả trên là do công tác thẩm định, đánh giá rủi ro khoản vay của Chi nhánh được cán bộ tín dụng thực hiện khá tốt. Mặt khác, còn do
Chi nhánh đẩy nhanh công tác tuyên truyền, liên tục đôn đốc khách hàng trả nợ đúng
hạn để vừa nâng cao hiệu quả cho vay,vừa đạt doanh số thu nợ tốt.
Dư nợ cho vay:
Dư nợ cho vay trên địa bàn tăng qua các năm. Năm 2011 đạt 249,15 t đồng,
năm 2012 đạt 280,57 t đồng tăng 31,42 t đồng (12,61%) so với năm 2011. Năm
2013 đạt 368,01 t đồng, tăng so với năm 2012 là 87,44 t đồng (31,17%). Cụ thể từng
chỉ tiêu như sau:
Dư nợ cho vay ngắn hạn trong năm 2011 đạt 176,4 t đồng, năm 2012 đạt 189,48
t đồng, tăng 13,08 t đồng (7,41%) so với năm 2011. Năm 2013 đạt 236,59 t đồng
tăng 47,11 t đồng (24,86%) so với năm 2011. Từ nội dung của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ , việc phát triển nông, lâm, ngư nghiệp tại tỉnh tiếp tục được đẩy mạnh.
Cho vay ngắn hạn tăng bởi nhu cầu vay vốn phát triển nông nghiệp của người dân tại
địa bàn tăng. Thời gian sản xuất m a vụ ngắn, một vụ lúa từ 2,5 – 3 tháng, chăn nuôi
từ 4 – 6 tháng. Do việc nuôi trồng mang tính chất m a vụ nên người dân làm nông
nghiệp chủ yếu vay vốn ngắn hạn của ngân hàng để có thể trả gốc và lãi tr ng với thời
gian thu hoạch và tái sản xuất.
Mặc d dư nợ cho vay trung và dài hạn chiếm t trọng không lớn (26,55 ) trên
tổng dư nợ nhưng có mức tăng trưởng đều qua các năm. Cụ thể, năm 2011 dư nợ trung và dài hạn là 72,75 t đồng, năm 2012 là 91,09 t đồng, tăng 18,34 t đồng (25,21%) so với năm 2011. Năm 2013 dư nợ trung và dài hạn là 131,42 t đồng, tăng 40,33 t đồng (44,27%) so với năm 2012. Sở dĩ dư nợ trung dài hạn tăng như vậy là do ngày
càng nhiều người dân làm nông nghiệp tại địa bàn vay vốn để đầu tư máy móc, trang thiết bị hiện đại, ứng dụng công nghệ tiên tiến nhằm cơ giới hóa sản xuất nông nghiệp. Điều này cho thấy nguồn vốn của Ngân hàng Á Châu Chi nhánh Bắc Ninh ngày càng
tiếp cận nhiều với dân, đáp ứng nhiều hơn nhu cầu về vốn của người dân tại địa bàn.
36
Nợ quá hạn:
Trong hoạt động cho vay của ngân hàng thì nợ quá hạn là một vấn đề không thể
tránh khỏi. T lệ nợ quá hạn tại Ngân hàng Á Châu Chi nhánh Bắc Ninh là không đáng
kể. Tình hình nợ quá hạn cho vay trong những năm qua đều giảm liên tục từ 1,98 t đồng vào năm 2011, 0,67 t đồng năm 2012, xuống còn 0,41 t đồng vào năm 2013.
Điều này cho thấy chất lượng cho vay của Ngân hàng Á Châu Chi nhánh Bắc Ninh rất
tốt. Ta thấy rằng doanh số cho vay và dư nợ cho nay đều tăng qua các năm, nợ quá hạn
chiếm một lượng rất nhỏ mà còn ngày càng giảm. Qua đó cho thấy mục tiêu của Ngân hàng Á Châu Chi nhánh Bắc Ninh là cương quyết không để nợ quá hạn mới phát sinh
gần như đã thực hiện được.
2.1.5.3. Hoạt động kinh doanh khác
Ngoài hai hoạt động chủ yếu là huy động vốn và cho vay thì các ngân hàng còn thực hiện hoạt động thanh toán quốc tế và kinh doanh ngoại hối. Tình hình hoạt động
thanh toán quốc tế và kinh doanh ngoại hối của Ngân hàng Á Châu Chi nhánh Bắc
Ninh trong ba năm gần đây được thể hiện qua bảng sau:
Bảng 2.3. Tình hình hoạt động thanh toán quốc tế và kinh doanh ngoại hối của
Ngân hàng Châu Chi nhánh ắc Ninh giai đoạn 2011 – 2013
ĐVT: T đồng
Chỉ tiêu
Năm 2011
Năm 2012
Năm 2013
So sánh 2012/2011 Tƣơng đối Tuyệt (%) đối
So sánh 2013/2012 Tƣơng đối Tuyệt (%) đối
20,13
19,58
19,25
(0,55)
(2,73)
(0,33)
(1,69)
15,48
15,12
15,89
(0,36)
(2,33)
0,77
5,09
Thanh toán quốc tế Kinh doanh ngoại hối
(Nguồn: Bộ phận Kế toán Ngân hàng Á Châu Chi nhánh Bắc Ninh)
Từ bảng 2.3 ta thấy rằng:
Thanh toán quốc tế giảm dần qua các năm. Năm 2011 đạt 20,13 t đồng. Năm 2012 đạt 19,58 t đồng, giảm 0,55 t đồng, ứng với giảm 2,73% so với năm 2011. Năm 2013 đạt 19,25 t đồng, giảm 0,33 t đồng, ứng với giảm 1,69% so với năm 2012. Nhìn chung, hoạt động thanh toán quốc tế của Chi nhánh chưa thực sự đạt được
xứng với tiềm năng của Chi nhánh. Bởi tại Bắc Ninh có rất nhiều các công ty liên doanh, tập đoàn lớn như Samsung, Canon, Các tập đoàn này sản xuất các mặt hàng đồ điện tử như điện thoại di động, máy in, và cung cấp cho thị trường toàn thế giới.
Chính vì vậy nhu cầu thanh toán quốc tế là rất lớn. Ngoài ra, việc các mặt hàng thủ công mỹ nghệ như gỗ Đồng ỵ, gốm Ph Lãng xuất khẩu sang nhiều nơi như Trung
Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc, Châu u, cũng làm tăng nhu cầu thanh toán quốc tế
37
trên địa bàn. Hơn nữa hoạt động này nếu phát triển sẽ mang lại nguồn thu rất lớn cho
Chi nhánh. Vì vậy, Chi nhánh đẩy mạnh hoạt động này bằng cách tăng cường quan hệ
đại lý với các ngân hàng. Chi nhánh cần thường xuyên tổ chức các buổi giao lưu, các
chương trình tập huấn, trao đổi nhân viên với ngân hàng đại lý. Bên cạnh đó, định kì đánh giá các kết quả đạt được sau một khoảng thời gian hai bên đã hợp tác để có
những điều chỉnh và khắc phục kịp thời. Ngoài ra, để hoạt động thanh toán quốc tế
ngày một phát triển, Chi nhánh cần đảm bảo nguồn ngoại tệ đủ để cung ứng cho khách
hàng, tiếp tục hoàn thiện quy trình nghiệp vụ thanh toán quốc tế
Ngoài hoạt động thanh toán quốc tế ra, Chi nhánh còn kinh doanh ngoại hối.
Kinh doanh ngoại hối của Chi nhánh trong 3 năm gần đây cũng rất ổn định, không có
sự biến động nhiều. Năm 2012 giảm 02,33% so với năm 2011 ( từ 15,48 t đồng
xuống còn 15,12 t đồng). Năm 2013 từ 15,12 t đồng lên 15,89 t đồng, tăng 0,77 t đồng (5,09%) so với năm 2012. Nhu cầu về ngoại tệ của khách hàng ngày càng tăng
cao. Thế nhưng Chi nhánh cũng như các ngân hàng khác trên địa bàn đều ở trong tình
trạng khan hiếm ngoại tệ, không có đủ ngoại tệ để cung ứng cho khách hàng. Ngoài
những chính sách thắt chặt về ngoại tệ của NHNN thì Chi nhánh cũng cần thực hiện
các giao dịch quyền chọn mua, quyền chọn bán để tránh các rủi ro do biến động t giá.
2.1.5.4. Kết quả tài chính
Bảng 2.4. Kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng Châu Chi nhánh Bắc Ninh giai đoạn 2011 – 2013
ĐVT: T đồng
So sánh 2012/2011
So sánh 2013/2012
Chỉ tiêu
Năm 2011
Năm 2012
Năm 2013
Doanh thu
95,70
139,81
160,46
Tuyệt đối 44,11
Tƣơng đối 46,09
Tuyệt đối 20,65
Tƣơng đối 14,77
94,04
137,26
156,73
43,22
45,96
19,47
14,18
0,96
1,37
1,56
0,41
42,71
0,19
13,87
0,7
1,18
2,17
0,48
68,57
0,99
Thu nhập lãi Thu từ hoạt động dịch vụ Thu khác
83,9
Chi phí
76,63
116,98
131,21
40,35
52,66
14,23
12,16
68,12
101,45
114,97
33,33
48,93
13,52
13,33
0,11
0,13
0,14
0,02
18,18
0,01
7,69
8,4
15,4
16,1
7
83,33
0,7
4,55
19,07
22,83
29,25
3,76
19,72
6,42
28,12
Chi phí lãi Chi hoạt động dịch vụ Chi phí hoạt động Lợi nhuận trƣớc thuế
(Nguồn: Bộ phận Kế toán ngân hàng Châu Chi nhánh Bắc Ninh)
38
Từ bảng số liệu 2.4 ta thấy:
Doanh thu:
Doanh thu của Chi nhánh qua 3 năm đều tăng. Theo thống kê, thị phần tín dụng
của Chi nhánh chiếm hơn 10 thị phần trong hệ thống toàn thị xã Từ Sơn (trụ sở chính của Chi nhánh). Với số lượng hơn 10 ngân hàng trên địa bàn thì Ngân hàng Á
Châu Chi nhánh Bắc Ninh cũng được coi là có ưu thế về cho vay. Chính vì vậy, thu
nhập chính của đơn vị là thu từ hoạt động tín dụng. Ngoài ra còn có thu từ dịch vụ
thanh toán, chuyển tiền thu hoa hồng làm dịch vụ chi trả tiền nhanh cho tổ chức Western Union, các tổ chức bảo hiểm, thu phí đổi tiền không đủ tiêu chuẩn lưu
thông
Năm 2011, tổng doanh thu của Chi nhánh là 95,70 t đồng, năm 2012 đạt 139,81
t đồng tăng mạnh 44,11 t đồng, ứng với tăng 46.09 so với 2011. Và đến năm 2013 tổng doanh thu đạt 160,46 t đồng, tăng 20,65 t đồng, ứng với tăng 14,77 so với
năm 2012. Trong đó, thu từ hoạt động tín dụng là chủ yếu. Năm 2011 thu từ hoạt động
tín dụng đạt 94,04 t đồng, năm 2012 tăng 43,22 t đồng (45,96%) so với năm 2011,
năm 2013 tăng 19,47 t đồng ( 14,18%) so với năm 2012. Ta thấy nguồn thu nhập tăng
qua 3 năm mà chủ yếu là thu lãi tiền vay từ hoạt động tín dụng, điều này tương ứng
với tình hình dư nợ cho vay của Chi nhánh tăng dần qua các năm. Đồng thời tăng thu
dịch vụ, thu phí, hoa hồng cũng góp phần tăng thu nhập cho Chi nhánh.
Chi phí:
Khoản chi chủ yếu mà Chi nhánh phải trả là chi phí trả lãi. Bên cạnh đó, còn chịu
các khoản chi phí ngoài lãi như: chi phí vận chuyển bốc xếp tiền, chi nộp lệ phí, chi
khấu hao tài sản cố định, chi mua bảo hiểm, chi lương cán bộ công nhân viên, chi phụ
cấp, chi hội họp, mua sắm trang thiết bị Chi phí của Chi nhánh ở năm 2012 là
116,98 t đồng tăng so với năm 2011 là 40,35 t đồng (52,66%) và ở năm 2013 là
131,12 t đồng tăng 14,23 t đồng ( 12,16 ). Trong đó, chi phí trả lãi tiền gửi chiếm
nhiều nhất. Năm 2011, chi phí trả lãi tiền gửi là 68,12 t đồng, năm 2012 là 101,45 t đồng, năm 2013 là 114,97 t đồng. Nhìn chung, chi phí tăng nhanh qua 3 năm mà trong đó chi trả lãi tiền gửi là chính. Từ định hướng tập trung mọi nguồn lực để đẩy mạnh công nghiệp hóa – hiện đại hóa, phấn đấu đến năm 2015 cơ bản trở thành tỉnh
công nghiệp theo hướng hiện đại, thành phố trực thuộc Trung Ương vào năm 2020 của Đảng bộ và nhân dân Bắc Ninh, c ng với Quyết định 23/2010/QĐ-TTg ngày 06/01/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Phát triển thương mại nông
thôn giai đoạn 2010 - 2015 và định hướng đến năm 2020 , hoạt động sản xuất kinh doanh tại địa bàn tỉnh phát triển mạnh mẽ hơn. Điều này dẫn đến nhu cầu tín dụng tăng cao. Để có thể đáp ứng được nhu cầu tín dụng của khách hàng, ngân hàng phải nâng
39
mức vốn huy động do đó trả lãi nhiều hơn. Thêm vào đó là sự cạnh tranh gay gắt về lãi
suất giữa các ngân hàng trên c ng địa bàn hoạt động như Vietinbank, AgriBank,
Sacombank, Techcombank, Chi nhánh muốn huy động được vốn thì phải tăng lãi
suất huy động lên, khiến chi phí tăng. Chi phí tăng quá nhiều sẽ ảnh hưởng tới lợi nhuận của Chi nhánh.
Trong năm 2012, chi phí tăng cao so với năm 2011 do ngoài việc trả lãi tiền gửi
của khách hàng, Chi nhánh đã đầu tư thêm nhiều trang thiết bị mới để giúp hoạt động
của Chi nhánh trở nên hiệu quả hơn như máy vi tính, máy in, máy đếm tiền, bàn ghế văn phòng và sơn sửa lại trụ sở làm việc
Lợi nhuận:
Lợi nhuận là phần thu nhập còn lại sau khi trừ đi các khoản chi phí. Từ bảng số
liệu ta thấy Ngân hàng Á Châu Chi nhánh Bắc Ninh luôn tạo ra được khoản chênh lệch trong thu chi do hoạt động kinh doanh có hiệu quả. Qua ba năm, lợi nhuận đạt được
của Chi nhánh tương đối cao và ổn định, tốc độ tăng trưởng của lợi nhuận tăng dần. Cụ
thể, lợi nhuận năm 2012 đạt 22,83 t đồng tăng 19,72 so với năm 2011. Sang năm
2013, lợi nhuận đạt 29,25 t đồng tăng 28,12 so với năm trước.
Đạt được hiệu quả như vậy chính là nhờ sự chỉ đạo của Ban lãnh đạo và sự cố
gắng phấn đấu của toàn thể nhân viên Ngân hàng Châu Chi nhánh Bắc Ninh. Chi
nhánh đã đưa ra những chính sách ưu đãi về lãi suất, dịch vụ, khuyến mại bằng tiền gửi, hiện vật có giá trị, Không chỉ vậy, Chi nhánh còn liên tục rà soát liên tục các
khách hàng cá nhân và doanh nghiệp. Để từ đó phân loại khách hàng để triển khai các
gói dịch vụ tiền gửi, tiền vay, quản lý dòng tiền, tăng cường bán chéo các dịch vụ, sản
phẩm... C ng đó, Chi nhánh đẩy mạnh giới thiệu các sản phẩm dịch vụ mới, mở rộng
và đa dạng các phương thức thanh toán. Tổ chức nghiên cứu, đánh giá và chọn lựa các
sản phẩm, dịch vụ sẵn có để áp dụng phù hợp với từng khách hàng... Bên cạnh đó còn
sự hỗ trợ của các ngành, các cấp chính quyền địa phương trong việc đánh giá phân loại
khách hàng giúp Chi nhánh đầu tư tín dụng đúng đối tượng, tạo điều kiện đầu tư sản xuất kinh doanh cho cơ sở vay vốn giúp họ cải thiện mức sống, thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế xã hội ở địa phương.
2.2. Đôi nét về các làng nghề tại Bắc Ninh
2.2.1. Giới thiệu chung về các làng nghề
Bắc Ninh là một v ng đất văn hiến, giàu truyền thống văn hóa. hông chỉ thế, nơi đây còn có rất nhiều làng nghề nổi tiếng. Theo thống kê từ báo Bắc Ninh, hiện nay,
Bắc Ninh có 62 làng nghề, chủ yếu trong các lĩnh vực như đồ gỗ mỹ nghệ xuất khẩu, sản xuất giấy, gốm, sắt, thép tái chế, đúc đồng... Trong đó có 31 làng nghề truyền thống và 31 làng nghề mới, chiếm khoảng 10% tổng số làng nghề truyền thống của cả
40
nước. Các làng nghề tập trung chủ yếu ở thị xã Từ Sơn, huyện Yên Phong và huyện
ia Bình (3 nơi này có 42 làng nghề, chiếm gần 68% số làng nghề của tỉnh).
Trong số 62 làng nghề được công nhận ở Bắc Ninh, có thể phân thành 3 nhóm
như sau:
Số làng nghề phát triển tốt:
Gồm có 20 làng nghề, chiếm 32 . Trong đó bao gồm các làng nghề sản xuất đồ
gỗ mỹ nghệ, sắt, thép, đồng, giấy, dệt... Những làng nghề này sản xuất các sản phẩm
phù hợp với thị trường, luôn có sự đầu tư tăng cường năng lực sản xuất.
Số làng nghề hoạt động cầm chừng không phát triển được:
Gồm có 26 làng nghề, chiếm 42%, bao gồm những làng nghề sản xuất, chế biến
các sản phẩm từ nông nghiệp như chế biến từ gạo (mì, bún, bánh, nấu rượu...), nuôi
trồng, chế biến tơ tằm, mộc dân dụng...
Số làng nghề hoạt động ém, c nguy cơ mai một, mất nghề:
Gồm có 16 làng nghề, chiếm 26 . Đây là những làng nghề mà sản phẩm làm ra
không còn thích hợp với thị trường, do sự cạnh tranh gay gắt của các sản phẩm công
nghiệp như dụng cụ cầm tay, tranh dân gian
Các làng nghề phát triển đã góp phần quan trọng trong việc giải quyết công ăn
việc làm cho người dân trên địa bàn. Các làng nghề thu hút trên 72.000 lao động
thường xuyên và trên 10.000 lao động thời vụ. Mức thu nhập của người dân ở các làng nghề tại tỉnh cao gấp từ 3 đến 4,5 lần so với các làng thuần nông, nhờ vậy góp phần
giảm t lệ đói nghèo của tỉnh. Hơn thế nữa, làng nghề còn là nơi cung cấp nguồn hàng
xuất khẩu quan trọng. Kim ngạch xuất khẩu từ các làng nghề tại tỉnh từ 1.200 tỉ đến
1.500 tỉ đồng/ năm.
2.2.2. Hoạt động sản xuất kinh doanh tại các làng nghề
2.2.2.1. Về thị trường
a. Thị trường đầu vào
Các làng nghề như giấy, cơ khí tại tỉnh hiện nay vẫn chủ yếu sử dụng nguyên liệu đầu vào là phế liệu. Ví dụ tại làng nghề giấy Phong Khê sử dụng nguyên liệu đầu vào chủ yếu từ giấy tái sinh, chỉ một phần là bột nứa. Hay như làng thép Đa Hội, chủ yếu
sử dụng sắt thép thải ra từ các nhà máy để làm nguyên liệu đầu vào.
Các làng nghề như làng gỗ thủ công mỹ nghệ, nguyên liệu đầu vào chủ yếu là các loại gỗ như sưa, lim, hương, trắc Tuy nhiên nguồn cung cấp nguyên liệu trong nước
không đáp ứng đủ nhu cầu của các làng nghề này, nên các làng nghề này đã phải nhập gỗ từ các nước láng giềng như Lào, Campuchia,...
41
Một số làng nghề khác sử dụng nguyên vật liệu tại chỗ ở địa phương. Đây là
nguồn nguyên liệu đầu vào khá ổn định. Ví dụ làng Vân sử dụng gạo nếp để nấu rượu,
làng Trà Lâm sử dụng đỗ tương để làm đậu phụ
b. Thị trường đầu ra
Thị trường đầu ra của các sản phẩm từ làng nghề phụ thuộc rất nhiều vào chất
lượng của chúng. Chúng có thể được tiêu thụ ngay tại địa phương, liên tỉnh hay tại
nước ngoài. Ví dụ như các sản phẩm như vải thô, khăn mặt, màn từ làng nghề Tương
Giang, hay các sản phẩm từ làng nghề Phong hê, thép Đa Hội chủ yếu được tiêu thụ tại tỉnh và các vùng lân cận do chất lượng của chúng chỉ đạt mức trung bình. Ngược
lại, với các sản phẩm gỗ thủ công mỹ nghệ mang tính thẩm mĩ cao, độc đáo, tỉ mỉ từ
làng nghề Đồng Kỵ, Phù Khê, hay sản phẩm gốm Phù Lãng thì có thị trường tiêu thụ
rất rộng lớn. Chúng không chỉ đáp ứng nhu cầu tiêu d ng trong nước mà còn được xuất khẩu sang các nước Đài Loan, alaysia, Hàn Quốc,
2.2.2.2. Hoạt động tổ chức sản xuất
Các làng nghề tại Bắc Ninh vẫn tổ chức sản xuất theo hộ sản xuất, doanh nghiệp,
các công ty trách nhiệm hữu hạn và hợp tác xã. Trong đó hộ sản xuất chiếm số lượng nhiều nhất (95%), hợp tác xã và doanh nghiệp chỉ chiếm t trọng nhỏ (5%).13 Chính vì tổ chức sản xuất của các làng nghề tại Bắc Ninh chủ yếu theo hộ gia đình nên rất nhiều
làng nghề hiện nay rơi vào tình trạng thiếu vốn, quy mô nhỏ lẻ, Các doanh nghiệp tại làng nghề hầu hết là các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Tuy nhiên các doanh nghiệp này
có quy mô sản xuất lớn hơn nhiều so với hộ gia đình. Thực tế cho thấy, các doanh
nghiệp tại làng nghề dễ tiếp cận nguồn vốn hơn, có khả năng mở rộng quy mô sản
xuất, đầu tư trang thiết bị hiện đại, thiết kế sản phẩm sao cho phù hợp với thị hiếu của
khách hàng. Còn các hợp tác xã làng nghề tại Bắc Ninh như hợp tác xã gốm Phù Lãng,
Hiệp hội gỗ mỹ nghệ Đồng Kỵ hiện nay vẫn chưa tìm được mô hình hoạt động có hiệu
quả.
2.2.2.3. Công nghệ trang thiết bị
Nhìn chung, công nghệ sản xuất, trang thiết bị và công cụ ở các làng nghề tỉnh Bắc Ninh vẫn còn rất lạc hậu, thô sơ. Chằng hạn tại làng nghề sản xuất giấy Phong Khê, chỉ có khâu xeo giấy là do máy móc thiết bị thực hiện, còn lại các khâu khác như
nạp nhiên liệu, vận chuyển sản phẩm vẫn là thủ công. Hơn thế nữa, trang thiết bị sử dụng tại đây phần lớn đã cũ kĩ, lỗi thời, không đồng bộ, tự chế lắp, và có nguồn gốc từ Trung Quốc. Tại làng nghề sản xuất thép Đa Hội, các lò nấu thép hầu hết được nhập từ
13 Lê Xuân Tâm, Nguyễn Tất Thắng, Phát triển làng nghề tỉnh Bắc Ninh trong bối cảnh xây dựng nông thôn mới, Tạp chí Khoa học và Phát triển 2013, tập 11, số 8: 1214-1222
Trung Quốc về, nhưng chúng đều được sản xuất từ năm 1997 trở về trước. Chính vì
42
thế nên công suất nhỏ, tiêu hao điện năng lớn, khó điều chỉnh các chỉ số về cơ, lý tính
trong thành phần cấu tạo thép dẫn đến chất lượng sản phẩm không cao. Làng nghề gỗ
Đồng Kỵ, Hương ạc vấn sử dụng các công cụ thô sơ do chính người dân chế tạo ra
như d i, đục, bào Do vậy, đổi mới công nghệ nhằm khắc phục những yếu kém trong sản xuất là vấn đề bức thiết tại các làng nghề tại Bắc Ninh hiện nay.
2.2.2.4. Các vấn đề về môi trường
Công nghệ sản xuất yếu kém đã dẫn tới việc môi trường tại các làng nghề Bắc
Ninh bị ô nhiễm nặng nề. Theo kết quả xét nghiệm của Viện Khoa học và Công nghệ môi trường thuộc Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội thì 100% số mẫu nước thải ở các
làng nghề thuộc tỉnh Bắc Ninh đều vượt quá tiêu chuẩn cho phép. Nước mặt, nước
ngầm đều có dấu hiệu ô nhiễm. Ô nhiễm không khí lại tập trung chủ yếu ở các làng
nghề sản xuất vật liệu xây dựng, gốm sứ, nhựa, sơn mài... Còn theo kết quả khảo sát của Sở Tài nguyên - ôi trường Bắc Ninh cho thấy, mỗi ngày làng nghề thép Đa Hội
thải ra 40 - 50 tấn xỉ than, xỉ kim loại, 2.600 - 2.700 m3 nước, 255 - 260 tấn khí (chủ
yếu là CO2) và khoảng 6 tấn bụi. ôi trường đất bị chịu tác động của các chất độc hại
từ các nguồn thải đổ bừa bãi và nước mưa bị nhiễm bẩn ngấm xuống. Ước tính trong
5 - 7 năm tới, diện tích mặt nước và đất canh tác liền kề các hộ sản xuất tại đây sẽ bị
san lấp hoàn toàn hoặc không sử dụng được. Chính vì thế khắc phục tình trạng ô
nhiễm môi trường tại các làng nghề Bắc Ninh nói riêng và các làng nghề trong cả nước nói chung hiện đang là vấn đề nan giải nhằm tạo sự cân bằng giữa mục tiêu phát triển
kinh tế và bảo vệ môi trường.
2.2.2.5. Phương hướng sản xuất kinh doanh của các làng nghề tại Bắc Ninh
Kế hoạch của tỉnh Bắc Ninh trong những năm tới là phát triển làng nghề phải đặt
trong quy hoạch phát triển kinh tế xã hội và phát triển công nghiệp của tỉnh.
Cần có những khu công nghiệp tập trung sản xuất ở các làng nghề để tạo thuận
lợi cho các cơ sở sản xuất đầu tư trang thiết bị, mở rộng sản xuất, phát triển hoạt động
sản xuất kinh doanh.
Ưu tiên áp dụng công nghệ tiên tiến, hiện đại, kết hợp với công nghệ truyền thống trong các làng nghề để giúp lao động tại các làng nghề bớt làm việc nặng nhọc hơn.
Song song với việc phát triển các làng nghề tỉnh Bắc Ninh, vấn đề về ô nhiễm môi trường cần phải được quan tâm đặc biệt. Tỉnh cần di dời các cơ sở sản xuất gây ô nhiễm môi trường nằm xen kẽ trong các khu dân cư sang khu sản xuất tập trung để xử
lí các vấn đề ô nhiễm, đảm bảo sức khỏe của người dân làng nghề.
43
Luôn nghiên cứu thị trường để tạo ra các sản phẩm vừa đáp ứng được nhu cầu
của thị trường, vừa cạnh tranh được với các sản phẩm cùng loại được sản xuất trong
nước và nước ngoài.
2.3. Thực trạng cho vay đối với làng nghề tại Ngân hàng Thƣơng mại Cổ phần
Châu Chi nhánh Bắc Ninh
2.3.1. ác văn bản pháp lý điều chỉnh hoạt động cho vay làng nghề tại Ngân hàng
Thương mại Cổ phần hâu Chi nhánh Bắc Ninh
Hoạt động cho vay làng nghề tại Chi nhánh được điều chỉnh bằng các văn bản
pháp lý sau:
Quyết định số 164/NVQĐ-KDN.05 ngày 07/07/2005 của Ngân hàng Thương mại
Cổ phần Á Châu.
Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (Luật số: 47/2010/QH12).
Quyết định số 2868/QĐ-NHNN ban hành ngày 29/11/2010, về mức lãi suất cơ
bản bằng đồng Việt Nam.
Thông tư 02/2010/TT-NHNN ban hành ngày 22/01/2010, quy định chi tiết thi
hành việc hỗ trợ lãi suất vay vốn ngân hàng trong năm 2010 để mua máy móc, thiết bị,
vật tư phục vụ sản xuất nông nghiệp và vật liệu xây dựng nhà ở khu vực nông thôn.
Thông tư 05/2011/TT-NHNN ban hành ngày 10/03/2011, quy định về thu phí
cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng.
2.3.2. Một số quy định về chính sách cho vay đối với làng nghề tại Ngân hàng
Thương mại Cổ phần Á Châu Chi nhánh Bắc Ninh
2.3.2.1. Nguyên tắc cho vay đối với làng nghề
Khách hàng tại làng nghề vay vốn của Chi nhánh phải đảm bảo nguyên tắc sau:
Sử dụng vốn đúng mục đích đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng.
Hoàn trả nợ gốc và lãi tiền vay đúng hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng
hay các khế ước nhận nợ.
2.3.2.2. Điều kiện cho vay đối với làng nghề
Chi nhánh xem xét và quyết định cho vay khi khách hàng tại làng nghề có đủ
điều kiện sau:
Có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự và chịu trách nhiệm dân
sự theo quy định của pháp luật.
Mục đích sử dụng vốn vay hợp pháp.
Có khả năng tài chính đảm bảo trả nợ trong thời hạn cam kết.
44
Có dự án đầu tư, phương án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ khả thi và có hiệu quả,
hoặc có dự án đầu tư, phương án phục vụ đời sống khả thi.
Thực hiện các quy định về bảo đảm tiền vay theo quy định của Chính phủ,
NHNN và hướng dẫn của Ngân hàng Châu Chi nhánh Bắc Ninh.
2.3.2.3. Thời hạn cho vay đối với làng nghề
Ngân hàng Châu Chi nhánh Bắc Ninh và khách hàng vay vốn tại làng nghề
thỏa thuận về thời hạn cho vay căn cứ vào:
Chu kỳ sản xuất kinh doanh của khách hàng tại làng nghề.
Thời hạn thu hồi vốn của phương án/dự án đầu tư của khách hàng.
Khả năng trả nợ của khách hàng tại làng nghề.
Nguồn vốn cho vay của Ngân hàng Á Châu Chi nhánh Bắc Ninh.
Thời hạn cho vay được chia thành 2 loại như sau:
Cho vay ngắn hạn: Là các khoản vay có thời hạn cho vay đến 12 tháng.
Cho vay trung hạn dài hạn: là các khoản vay có thời hạn cho vay từ trên 12 tháng
trở lên.
2.3.2.4. Mức cho vay đối với làng nghề
Ngân hàng Châu Chi nhánh Bắc Ninh đã quy định mức cho vay đối với khách
hàng tại làng nghề dựa trên sổ tay tín dụng của Chi nhánh như sau:
a. Mức cho vay đối với khách hàng tại làng nghề được xác định dựa vào các căn cứ
sau:
Nhu cầu vốn của khách hàng tại làng nghề: Căn cứ phương án kinh doanh, dự án
đầu tư của khách hàng (được ngân hàng thẩm định).
Tối đa 70 giá trị tài sản thế chấp, cầm cố được xác định và ghi trên hợp đồng
thế chấp, cầm cố, trừ các trường hợp tài sản cầm cố là: giấy tờ trị giá bằng tiền đang
còn thời hạn hiệu lực thanh toán (sổ tiết kiệm, kỳ phiếu, chứng chỉ tiền gửi; trái phiếu
do doanh nghiệp, ngân hàng hoặc Chính Phủ phát hành và các giấy tờ trị giá bằng tiền khác).
Khả năng trả nợ của khách hàng tại làng nghề.
Khả năng nguồn vốn của Ngân hàng Á Châu.
Tổng dư nợ cho vay đối với 1 khách hàng tại làng nghề tại ngân hàng không vượt
quá 15% vốn tự có của Ngân hàng Á Châu.
b. Các trường hợp cho vay vượt quá 70% giá trị tài sản thế chấp/cầm cố phải được
Hội đồng Tín dụng hoặc Ban Tín dụng Hội Sở chấp thuận.
45
2.3.2.5. Các phương thức cho vay đối với làng nghề
Trên cơ sở nhu cầu vay vốn của khách hàng và sự giám sát, kiểm tra của ngân
hàng, Ngân hàng Châu Chi nhánh Bắc Ninh đã thỏa thuận với khách hàng về việc
lựa chọn các phương thức cho vay sau đây:
a. Cho vay làng nghề từng lần
Mỗi lần vay vốn khách hàng tại làng nghề và Ngân hàng Châu Chi nhánh Bắc
Ninh thực hiện thủ tục vay vốn, ký kết, giải ngân, thu nợ theo từng HĐTD.
Việc rút vốn vay có thể thực hiện một lần hay nhiều lần phù hợp với tiến độ sử dụng vốn vay thực tế của khác hàng tại làng nghề nhưng tổng số tiền của các lần rút
vốn không được vượt quá số tiền cho vay ghi trong HĐTD.
Trong trường hợp khoản vay được giải ngân nhiều lần, mỗi lần rút vốn khách
hàng phải ký khế ước nhận nợ và gửi kèm theo các bản sao tài liệu chứng minh mục đích sử dụng vốn (nếu không có quy định nào khác trong HĐTD). T y từng trường
hợp cụ thể, Chi nhánh có thể đồng ý cho khách hàng tại làng nghề bổ sung các bản sao
tài liệu chứng minh mục đích sử dụng vốn sau khi giải ngân.
b. Cho vay theo hạn mức tín dụng
Phương thức cho vay này áp dụng đối với khách hàng tại làng nghề có nhu cầu
vay bổ sung vốn lưu động thường xuyên, quá trình vay vốn, trả nợ diễn ra nhiều lần
trong thời hạn cho vay của HĐTD.
Theo phương thức cho vay này, khách hàng tại làng nghề được Ngân hàng
Châu Chi nhánh Bắc Ninh cấp một HMTD duy trì trong một khoảng thời gian nhất
định.
Trong thời hạn rút vốn, khách hàng tại làng nghề có thể rút vốn và/hoặc trả vốn
nhiều lần nhưng tổng mức dư nợ vay tại bất kỳ thời điểm nào cũng phải ≤ H TD đã
được cấp.
Mỗi lần rút vốn khách hàng tại làng nghề phải ký khế ước nhận nợ và gửi kèm theo các bản sao tài liệu chứng minh mục đích sử dụng vốn (nếu không có quy định nào khác trong HĐTD). Tùy từng trường hợp cụ thể, Chi nhánh có thể đồng ý cho khách hàng bổ sung các bản sao tài liệu chứng minh mục đích sử dụng vốn sau khi giải
ngân.
Thời hạn cho vay của HĐTD hạn mức: Là khoảng thời gian được tính từ ngày khoản vay được giải ngân lần đầu tiên cho đến ngày trả nợ cuối cùng được ghi trên khế
ước nhận nợ.
46
Thời hạn cho vay của số tiền nhận nợ của từng lần rút vốn:
Được ghi trên từng khế ước nhận nợ và phải phù hợp với chu kỳ ngân quỹ (dòng
tiền thu nhập trả nợ của từng phương án kinh doanh cụ thể) của khách hàng tại làng
nghề.
Thời hạn cho vay của từng khế ước nhận nợ tối đa không quá 12 tháng.
Hợp đồng tín dụng hạn mức chỉ hết hiệu lực khi khách hàng trả hết vốn, lãi vay
và chi phí khác (nếu có) của tất cả khế ước nhận nợ phát sinh từ HĐTD hạn mức.
c. Cho vay làng nghề trả góp
Phương thức cho vay này áp dụng đối với khách hàng tại làng nghề có nguồn thu
nhập định kỳ (hàng tháng, hàng quý, 06 tháng/ lần hoặc định kỳ khác).
Khi vay vốn, Ngân hàng Châu Chi nhánh Bắc Ninh và khách hàng tại làng
nghề xác định và thỏa thuận số lãi vốn vay phải trả cộng với số nợ gốc được chia ra để trả nợ theo nhiều kỳ hạn trong thời hạn cho vay.
2.3.2.6. Lãi suất cho vay đối với làng nghề
Lãi suất cho vay đối với làng nghề thực hiện theo quy định của Hội Sở trong
từng thời kỳ.
Cho vay làng nghề theo hạn mức tín dụng thì lãi suất áp dụng tại thời điểm nhận
nợ.
Trường hợp gia hạn nợ, giảm nợ thì lãi suất cho vay đối với làng nghề áp dụng
theo thỏa thuận ghi trên hợp đồng tín dụng.
Lãi suất nợ quá hạn tại làng nghề bằng 150% lãi suất cho vay đối với làng nghề.
2.3.2.7. Quy trình cho vay đối với làng nghề
Dựa theo sổ tay tín dụng của Ngân hàng Châu Chi nhánh Bắc Ninh, Chi nhánh
đã áp dụng quy trình cho vay đối với làng nghề như sau:
ƣớc 1: Hướng dẫn thủ tục vay vốn và tiếp nhận hồ sơ vay vốn của khách hàng
tại làng nghề
Khách hàng tại làng nghề có nhu cầu vay vốn liên hệ với Bộ phận Tín dụng của
Chi nhánh để được hướng dẫn thủ tục vay vốn.
Nhân viên tư vấn tài chính, nhân viên dịch vụ khách hàng được phân công chịu trách nhiệm hướng dẫn đầy đủ, chi tiết các thủ tục, điều kiện và giấy tờ cần thiết về việc vay vốn cho khách hàng tại làng nghề.
ƣớc 2: Thẩm định hồ sơ vay của khách hàng tại làng nghề và lập tờ trình
Ngay sau khi nhận đầy đủ hồ sơ đề nghị vay vốn từ khách hàng hoặc từ nhân viên dịch vụ khách hàng, nhân viên tư vấn tài chính tiến hành gửi hồ sơ tài sản đảm
47
bảo cho nhân viên định giá tài sản để định giá tài sản thế chấp, cầm cố; đồng thời thẩm
định khách hàng vay vốn tại làng nghề.
ƣớc 3: Quyết định cho vay và thông báo kết quả cho khách hàng tại làng nghề
Nhân viên tư vấn tài chính sau khi lập tờ trình trưởng bộ phận tín dụng xem xét
và ký vào tờ trình thẩm định khách hàng tại làng nghề.
Sau khi tờ trình thẩm định khách hàng tại làng nghề đã được trưởng bộ phận tín
dụng thông qua, nhân viên tư vấn tài chính tiến hành photo tờ trình gửi cho thư ký Ban
Tín dụng để gửi đến cho các thành viên Ban Tín dụng.
Tại buổi họp Ban Tín dụng:
Nhân viên tư vấn tài chính trình bày với các thành viên của buổi họp về nhân
thân, nhu cầu vay vốn của khách hàng vay vốn tại làng nghề cũng như phân tích đưa ra
quan điểm của mình về khoản vay mà khách hàng đã đề nghị. Tương tự nhân viên phân tích trình bày tờ trình của mình và nêu lên quan điểm của mình về khoản vay
(nếu có).
Các thành viên của Ban Tín dụng trực tiếp phỏng vấn các vấn đề có liên quan
đến khách hàng vay đối với nhân viên tư vấn tài chính và nhân viên phân tích.
Các thành viên Ban Tín dụng trao đổi, bàn bạc và đi đến thống nhất có cho vay
đối với khách hàng tại làng nghề đó hay không và điều kiện cho vay như thế nào.
Thông báo kết quả cho khách hàng tại làng nghề tối đa 2 ngày làm việc kể từ ngày Ban Tín dụng ra quyết định cho vay hoặc không cho vay, nhân viên tư vấn tài
chính phải thông báo về việc cho vay cho khách hàng tại làng nghề.
ƣớc 4: Hoàn tất thủ tục pháp lý về tài sản đảm bảo nợ vay, nhận và quản lý tài
sản đảm bảo của khách hàng tại làng nghề
Căn cứ vào kết quả phê duyệt của Ban Tín dụng, nhân viên tư vấn tài chính
chuyển hồ sơ cho nhân viên pháp lý chứng từ chịu trách nhiệm hoàn tất các thủ tục
pháp lý về tài sản đảm bảo cho khoản vay.
Khi khách hàng tại làng nghề đã hoàn tất thủ tục pháp lý về tài sản đảm bảo nợ vay, nhân viên định giá tài sản tiến hành thủ tục nhận và quản lý tài sản thế chấp, cầm cố.
ƣớc 5: Lập hợp đồng tín dụng/ khế ước nhận nợ, tạo tài khoản vay và giải ngân
Khi khách hàng tại làng nghề có nhu cầu rút tiền vay, nhân viên tư vấn tài chính căn cứ vào nhu cầu thực tế của khách hàng và kết quả phê duyệt của Ban Tín dụng,
tiến hành soạn thảo hợp đồng tín dụng/ khế ước nhận nợ.
Sau khi soạn xong, nhân viên tư vấn tài chính chuyển cho khách hàng tại làng
nghề và bên liên quan ký, sau đó trình cho cấp có thẩm quyền của Chi nhánh ký.
48
Căn cứ hợp đồng tín dụng/ khế ước nhận nợ, nhân viên dịch vụ khách hàng chịu
trách nhiệm thực hiện thủ tục tạo tài khoản vay thích hợp cho khách hàng tại làng
nghề.
Sau khi tạo các thông tin của tài khoản vay và kết nối với các tài khoản về tài sản đảm bảo xong, nhân viên dịch vụ khách hàng phụ trách tín dụng phối hợp cùng với
nhân viên kiểm soát hiệu lực hóa khoản vay.
Sau đó nhân viên giao dịch tài khoản thực hiện giải ngân cho khách hàng tại làng
nghề.
ƣớc 6: Lưu trữ hồ sơ
Trong quá trình khách hàng tại làng nghề đang vay vốn, nhân viên tư vấn tài
chính lưu trữ hồ sơ tín dụng (bản chính) và các hồ sơ khác có liên quan.
ƣớc 7: Kiểm tra, theo dõi khoản vay – thu nợ gốc và lãi vay
Theo dõi quá trình trả lãi, vốn và đôn đốc thu hồi nợ (gốc + lãi).
Kiểm tra thường xuyên tình hình hoạt động của khách hàng tại làng nghề.
Kiểm tra, đánh giá lại tài sản thế chấp hoặc cầm cố bảo lãnh.
2.3.3. Các chỉ tiêu đánh giá mở rộng cho vay đối với làng nghề tại Ngân hàng
Thương mại Cổ phần hâu Chi nhánh Bắc Ninh
2.3.3.1. Các chỉ tiêu định tính
Các chỉ tiêu định tính cần được đánh giá, xem xét mức độ ảnh hưởng của nó tới
việc mở rộng cho vay tại làng nghề. Cụ thể như sau:
a. Khả năng Ngân hàng Châu Chi nhánh Bắc Ninh đáp ứng nhu cầu của khách
hàng tại làng nghề
Ngân hàng Châu Chi nhánh Bắc Ninh đã tổ chức khảo sát mức độ hài lòng của
khách hàng tại làng nghề theo quý. ỗi khách hàng tại làng nghề khi đến Chi nhánh
giao dịch sẽ được phát một phiếu điều tra. Chi nhánh dựa vào kết quả đó để thấy được
mức độ hài lòng của khách hàng. Từ đó, đưa ra những điều chỉnh ph hợp. ết quả khảo sát cho thấy hầu hết khách hàng rất hài lòng về ngân hàng. Chi nhánh đã có thái độ tiếp đón rất lịch sự, nhã nhặn đối với các khách hàng tại làng nghề. hi khách hàng tại làng nghề đến Chi nhánh, d chỉ có nhu cầu biết thêm thông tin về các sản phẩm,
dịch vụ của Chi nhánh mà chưa có nhu cầu vay vốn thì những nhân viên tư vấn tài chính của Chi nhánh cũng tiếp đón rất đôn hậu, giải thích cặn kẽ cho khách hàng hiểu, và cung cấp đầy đủ thông tin cho khách hàng. Từ đó, khách hàng sẽ có thiện cảm với
Chi nhánh và rất có thể khi có nhu cầu vay vốn sẽ đến Chi nhánh để vay. Có được niềm tin của khách hàng là chìa khóa để giúp Chi nhánh có được hoạt động kinh doanh thành công.
49
Chi nhánh đã xây dựng được quy trình cho vay tại làng nghề hợp lí, bỏ bớt những
thủ tục không cần thiết. hách hàng tại làng đến vay vốn chỉ cần thực hiện theo đúng
quy trình vay vốn mà Chi nhánh đã đề ra. hông chỉ vậy, việc liên tục cập nhật mới hệ
thống công nghệ ngân hàng, gần đây nhất là việc hợp tác với công ty Open Solutions (OSI) – Thiên Nam để nâng cấp hệ thống core banking sẵn có, làm cho giao dịch diễn
ra nhanh chóng, tránh gây mất thời gian cho khách hàng tại làng nghề.
Tuy nhiên, Chi nhánh vẫn còn chưa khai thác hết tiềm năng đối với làng nghề,
chưa đáp ứng hết được nhu cầu vay vốn của khách hàng tại đây bởi Chi nhánh chủ yếu dựa vào tài sản đảm bảo để cho vay. Trong khi, nhiều các khách hàng tại làng nghề
thường d ng nhà xưởng, nhà ở làm thủ tục thế chấp. Để có thể vay vốn, khách hàng
cần phải có giấy chứng minh quyền sử dụng đất do UBND tỉnh cấp. Thế nhưng, thủ
tục chứng thực tài sản đảm bảo quá phức tạp, thời gian quá lâu, nhiều khi đến tận 2-3 tháng sau, dẫn đến việc khách hàng không vay được vốn của ngân hàng. Ngoài ra, do
đặc điểm các làng nghề thường ở v ng nông thôn, cách xa thị trấn, thị xã, nên các bất
động sản tại làng nghề đem đi thế chấp có giá trị thấp, khách hàng vay được rất ít vốn
từ ngân hàng.
b. Khả năng đáp ứng của khách hàng đối với yêu cầu mà Ngân hàng Châu Chi
nhánh Bắc Ninh đã đặt ra.
Các khách hàng tại làng nghề vay vốn của Chi nhánh chủ yếu để bổ sung vốn lưu động, trả lương nhân viên, đổi mới công nghệ, mở rộng sản xuất. Để giám sát, kiểm tra
việc sử dụng vốn tại làng nghề, Chi nhánh đã thường xuyên cử cán bộ tín dụng về các
làng nghề để theo dõi hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng tại đây. ết quả
cho thấy cho thấy, khách hàng sử dụng vốn đúng mục đích ghi trong hợp đồng tín
dụng mà Chi nhánh và khách hàng đã thỏa thuận.
Việc hoàn trả nợ của khách hàng tại làng nghề cũng rất đúng hạn. Bởi khách
hàng tại làng nghề luôn ý thức được rằng việc trả nợ đúng hạn có ý nghĩa quan trọng.
Đối với họ, ngân hàng là đơn vị uy tín, đáp ứng được số tiền họ muốn vay vốn để sản xuất kinh doanh. Việc khách hàng tại làng nghề trả nợ đúng hạn sẽ tạo được quan hệ tín dụng tốt với ngân hàng. Điều này khiến việc vay vốn lần sau của họ sẽ trở nên dễ dàng hơn.
2.3.3.2. Các chỉ tiêu định lượng
a. Nhóm các chỉ tiêu phản ánh khối lượng cho vay tại làng nghề
(1) Doanh số cho vay
Đây là chỉ tiêu thể hiện số vốn mà ngân hàng cho khách hàng tại làng vay trong một thời gian nhất định thường là một năm. Doanh số cho vay được luỹ kế từ đầu năm đến cuối năm. Từ doanh số cho vay tại làng nghề ta có thể nhận định được hoạt động 50
cho vay tại làng nghề của Chi nhánh trong năm đó. Doanh số cho vay làng nghề của
Chi nhánh trong ba năm gần đây được thể hiện qua bảng sau:
Bảng 2.5. Doanh số cho vay tại làng nghề của Ngân hàng Châu Chi nhánh Bắc
Ninh giai đoạn 2011 – 2013
ĐVT: T đồng
So sánh 2012/2011 So sánh 2013/2012
Nội ung
Năm 2011
Năm 2012
Năm 2013
Tuyệt đối
Tƣơng đối (%)
Tuyệt đối
Tƣơng đối (%)
119,66 128,46 175,25
7,35
46,79
36,42
8,8
119,66 128,46 175,25
7,35
46,79
36,42
8,8
Tổng oanh số cho vay Theo thời hạn cho vay
Ngắn hạn
76,46
82,69
99,59
6,23
8,15
16,9
20,44
Trung, dài hạn
43,2
45,77
75,66
2,57
5,95
29,89
65,3
119,66 128,46 175,25
7,35
46,79
36,42
8,8
54,7
58,5
76,85
6,95
18,35
31,37
3,8
42,45
44,64
58,96
2,19
5,16
14,32
32,08
22,51
25,32
39,44
2,81
12,48
14,12
55,77
Theo phƣơng thức cho vay Cho vay từng lần Cho vay theo HMTD Cho vay trả góp
(Nguồn: Bộ phận Kế toán Ngân hàng Châu Chi nhánh Bắc Ninh)
Từ bảng số liệu 2.5 ta thấy rằng:
Doanh số cho vay tại làng nghề qua ba năm đều tăng và năm sau cao hơn năm
trước. Doanh số cho vay năm 2011 trên địa bàn làng nghề đạt 119,66 t đồng. Đến
năm 2012 đạt 128,46 t đồng, tăng 8,8 t đồng, ứng với tăng 7,35 so với năm 2011.
Đến năm 2013 tiếp tục tăng mạnh và đạt 175,25 t đồng, tăng 46,79 t đồng (36,42%)
so với năm 2012. Cụ thể:
Xét theo th i hạn cho vay:
Doanh số cho vay ngắn hạn tại làng nghề đạt 76,46 t đồng năm 2011, năm 2012
đạt 82,69 t đồng, tăng 8,15 so với năm 2011, và năm 2013 tăng 20,44 , đạt 99,59 t đồng. Nguyên nhân bởi Chi nhánh đã thực hiện tốt công tác quản lí tín dụng bằng cách phân loại nợ tại làng nghề để làm cơ sở cho việc đánh giá chất lượng cho vay và
trích lập dự phòng rủi ro. Hơn nữa, qua việc tổ chức hội nghị khách hàng diễn ra tại
thành phố Bắc Ninh vào 25/11 hàng năm, ngoài ý nghĩa tri ân đến khách hàng còn nhằm mục đích nâng tầm mối quan hệ phát triển giữa Ngân hàng Châu Ngân hàng
51
Châu Chi nhánh Bắc Ninh với khách hàng. Trong buổi hội nghị ấy, có rất nhiều
khách hàng tại làng nghề tham dự. Họ được biết nhiều thông tin hơn về ngân hàng,
đồng thời được giải đáp thắc mắc về các điều kiện, thủ tục vay vốn. Từ đó, họ vay vốn
ngắn hạn của Ngân hàng nhiều hơn. Ngoài ra, qua việc phát hành thẻ ATM miễn phí Chi nhánh đã củng cố và quảng bá được hình ảnh của mình, đồng thời tạo được lòng
tin đối với khách hàng, khiến khách hàng đến ngân hàng vay vốn ngắn hạn nhiều hơn.
Doanh số cho vay trung và dài hạn cũng tăng đều qua các năm. Cụ thể năm 2011
doanh số cho vay thuộc đối tượng này đạt 43,2 t đồng, năm 2012 đạt 45,77 t đồng tăng 2,57 t đồng, ứng với tăng 5,95% so với năm 2011. Năm 2013 tiếp tục tăng
mạnh, đạt 75,66 t đồng tăng 29,89 t đồng (65,30%). Vốn trung và dài hạn chủ yếu là
để đáp ứng nhu cầu mở rộng sản xuất, trang thiết bị tại làng nghề. Việc này là cần thiết
bởi tỉnh Bắc Ninh đã và đang có định hướng phát triển các cụm, khu công nghiệp làng nghề. Chính vì vậy khách hàng tại làng nghề đầu tư nhiều hơn vào tài sản cố định,
từng bước xây dựng cơ sở hạ tầng hỗ trợ cho quá trình sản xuất. Ví dụ tại làng nghề
giấy Phong hê, một dây chuyền sản xuất giấy hiện đại có giá đến 1-2 t đồng, số tiền
này quá lớn, nên các hộ, cơ sở sản xuất kinh doanh tại đây phải vay vốn trung và dài
hạn của Chi nhánh để mua dây chuyền này, nhằm cải tiến chất lượng sản phẩm đầu ra.
T trọng doanh số cho vay ngắn hạn luôn chiếm t trọng cao trong tổng doanh số
cho vay tại làng nghề. Năm 2011 và năm 2012 là 64 , năm 2013 giảm xuống còn 57%. Sở dĩ t trọng doanh số cho vay ngắn hạn tại làng nghề cao như vậy là do khách
hàng tại làng nghề có nhu cầu bổ sung vốn lưu động khá lớn. T trọng doanh số cho
vay trung và dài hạn đối với làng nghề dù chiếm t trọng thấp hơn nhưng có xu hướng
ngày càng tăng, tăng từ 36 năm 2011 lên 43 năm 2013. Điều này cho thấy, khách
hàng tại làng nghề ngày càng có nhu cầu nhiều hơn vào đầu tư mua sắm tài sản cố
định, đổi mới công nghệ đã lạc hậu, xây dựng cơ sở hạ tầng khang trang nhằm phát
triển sản xuất kinh doanh, đáp ứng nhu cầu của thị trường hàng hóa trong thời kì hội
nhập kinh tế, đồng thời góp phần vào công cuộc Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa đất
nước. Nó cũng cho thấy rằng, Ngân hàng Á Châu Chi nhánh Bắc Ninh đã mạnh dạn hơn trong cho vay trung và dài hạn. Đây là các khoản vay mang lại lợi nhuận lớn cho Chi nhánh. Chính vì thế, Chi nhánh nên cho vay trung dài hạn nhiều hơn. Tuy nhiên
nhưng đây cững là những khoản cho vay chứa đựng rất nhiều rủi ro. Do đó, để có thể tăng trưởng doanh số cho vay trung dài hạn hiệu quả nhất, Chi nhánh cần thực hiện công tác thẩm định phương án sản xuất kinh doanh một cách kĩ lưỡng. Đồng thời cần
thẩm định thái độ của khách hàng đối với việc trả nợ vay theo mô hình 5C, 5P và theo
hệ số CA PAR để có thể đưa ra quyết định cho vay đúng đắn nhất đối với từng đối tượng khách hàng nhằm giảm thiểu tối đa rủi ro cho Chi nhánh.
52
Xét theo phương thức cho vay:
Phương thức cho vay từng lần vẫn được áp dụng nhiều hơn cả tại địa bàn làng
nghề. Bởi hoạt động sản xuất kinh doanh tại làng nghề thường không ổn định, phụ
thuộc nhiều vào các đơn đặt hàng, nguyên liệu đầu vào nên phần lớn khách hàng tại làng nghề có nhu cầu vay vốn không thường xuyên. Hơn nữa, khi áp dụng phương
thức cho vay này, Chi nhánh còn có thể dễ dàng giám sát, kiểm tra quản lí việc sử
dụng vốn vay của các khách hàng tại làng nghề chặt chẽ và an toàn. Doanh số cho vay
từng lần tăng đều qua các năm. Năm 2011 doanh số cho vay theo hình thức này đạt 54,7 t đồng, năm 2012 là 58,5 t đồng tương đương với 44,64 tăng 2,19 t đồng,
ứng với tăng 5,16 so với năm 2011, năm 2013 đạt 76,85 t đồng tăng 18,35 t đồng,
ứng với tăng 31.37 so với năm 2012.
Năm 2011 doanh số cho vay theo HMTD tại làng nghề đạt 42,45 t , năm 2012 đạt 44,64 t đồng tăng 5,16 so với năm 2011, đến năm 2013 đạt 58, 96 t đồng, tăng
32,08% với năm trước. Qua 3 năm ta thấy doanh số cho vay theo H TD tăng qua các
năm. Nguyên nhân là do tổ chức sản xuất của các làng nghề tại Bắc Ninh chủ yếu theo
hộ gia đình, quy mô nhỏ lẻ nên năng suất thấp, lợi nhuận không cao. Việc khách hàng
vay vốn ngân hàng theo phương thức cho vay này sẽ tiết kiệm một khoản chi phí trả lãi
cho các khách hàng tại làng nghề bởi lãi suất của phương thức cho vay theo H TD
thấp hơn hơn so với phương thức cho vay từng lần. Chi nhánh chủ yếu cho các doanh nghiệp tại làng nghề gỗ Đồng ỵ, thép Đa Hội vay vốn theo hình thức này. Bởi các
doanh nghiệp này còn có hoạt động sản xuất ổn định, vốn luân chuyển nhanh. hông
chỉ vậy, việc sản xuất thép và thủ công mỹ nghệ cần rất nhiều vốn để nhập phế liệu,
các loại gỗ, để làm nguyên liệu đầu vào dẫn đến nhu cầu vay vốn của các doanh
nghiệp này rất thường xuyên. Cho khách hàng tại làng nghề vay theo H TD còn giúp
Chi nhánh giảm thiểu được các chi phí phát sinh liên quan đến khoản vay như chi phí
thẩm định tài sản, chi phí hồ sơ, giấy tờ liên quan.
Doanh số cho vay theo trả góp cũng tăng qua các năm. Năm 2011 doanh số cho
vay trả góp đạt 22,51 t đồng. Năm 2012 đạt 25,32 t đồng tương đương, tăng 12,48 so với năm trước. Đến năm 2013 đạt doanh số khá cao là 39,44 t đồng, tăng 55,77% so với năm 2012. Nguyên nhân doanh số cho vay làng nghề theo trả góp tăng cao như
vậy là do Chi nhánh đã có chương trình quảng cáo trên báo điện tử Bắc Ninh, những băng-rôn, áp phích trên đường phố về các sản phẩm cho vay trả góp tại làng nghề nhằm thu hút khách hàng tại làng nghề. Qua việc cho vay theo phương thức này, Chi
nhánh tăng thêm phần thu nhập, bởi lợi nhuận cho vay trả góp thường cao. hông chỉ
vậy, còn giúp Chi nhánh mở rộng quan hệ khách hàng, từ đó làm tăng khả năng huy động tiền gửi.
53
(2) Dƣ nợ cho vay tại làng nghề
Bảng 2.6. Dƣ nợ cho vay tại làng nghề của Ngân hàng Á Châu Chi nhánh
Bắc Ninh giai đoạn 2011 – 2013
ĐVT: T đồng
So sánh 2012/2011
So sánh 2013/2012
Nội ung
Năm 2011
Năm 2012
Năm 2013
Tuyệt đối
Tƣơng đối (%)
Tuyệt đối
Tƣơng đối (%)
Tổng ƣ nợ
59,79
63,74
83,72
3,95
6,61
19,98
31,35
59,79
63,74
83,72
3,95
6,61
19,98
31,35
Theo thời hạn cho vay
Ngắn hạn
43,69
45,01
49,99
1,32
3,02
4,98
11,06
Trung, dài hạn
16,1
18,73
33,73
2,63
16,34
15
80,09
59,79
63,74
83,72
3,95
6,61
19,98
31,35
Theo phƣơng thức cho vay
Cho vay từng lần
28,54
31,34
36,85
2,8
9,81
5,51
17,58
17,46
18,25
27,54
0,79
4,52
9,29
50,9
Cho vay theo HMTD
Cho vay trả góp
13,79
14,15
19,33
0,36
2,61
5,18
36,61
(Nguồn: Bộ phận Kế toán Ngân hàng Á Châu Chi nhánh Bắc Ninh)
Biểu đồ 2.1. iểu đồ thể hiện tỷ trọng ƣ nợ cho vay làng nghề trên tổng ƣ nợ
của Ngân hàng Á Châu Chi nhánh Bắc Ninh giai đoạn 2011 – 2013
100%
100%
100%
100
80
60
40
24%
22,75%
22,72%
20
0
Năm 2011
Năm 2012
Năm 2013
Dư nợ cho vay làng nghề Tổng dư nợ
Từ bảng 2.6 và biểu đồ 2.1 cho thấy, tổng dư nợ cho vay tại làng nghề tăng qua các năm. Năm 2011 tổng dư nợ cho vay tại làng nghề đạt 59,79 t đồng. Năm 2012 đạt
63,74 t đồng, tăng 3,95 t đồng, ứng với tăng 6,61 so với năm 2011. Đến năm 2013 54
tổng dư nợ cho vay tại làng nghề tăng mạnh, tăng 19,98 t đồng, ứng với tăng 31,35
so với năm 2012, đạt mức 83,72 t đồng. Tuy nhiên t trọng cho vay đối với làng nghề
trên tổng dư nợ cho vay của Chi nhánh vẫn ở mức thấp, chưa thực có nhiều biến động
trong ba năm gần đây. Năm 2011 đạt 24%, năm 2012 đạt 22,72 , năm 2013 đạt 22,75%. Cùng với các chính sách nhằm thúc đẩy Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa
nông nghiệp nông thôn nói chung và phát triển các làng nghề nói riêng của Đảng và
Nhà nước ta trong thời gian gần đây, có thể thấy làng nghề có tiềm năng phát triển rất
lớn. Do đó, làng nghề có thể coi là thị trường màu mỡ để các NHT đầu tư cho vay. Chính vì thế Chi nhánh cần có những biện pháp cụ thể để tiếp cận làng nghề như tổ
chức các buổi gặp gỡ, trò chuyện, giải đáp thắc mắc của cán bộ tín dụng với người dân
tại làng nghề. Chi nhánh cùng nên đề ra những chính sách tín dụng riêng dành cho khu
vực này như chính sách về giảm lãi suất, tài sản đảm bảo, nhằm khai thác tối đa tiềm năng phát triển mảng cho vay đối với làng nghề. Điều này vừa làm tăng thu nhập
cho Ngân hàng Á Châu Chi nhánh Bắc Ninh, vừa đáp ứng nhu cầu vốn cho người dân
tại làng nghề, hơn nữa còn thúc đẩy sự phát triển của đất nước.
Cụ thể như sau:
Xét theo th i hạn cho vay:
Do đặc điểm của cho vay ngắn hạn là thời gian luân chuyển ngắn, mau thu hồi
vốn, hạn chế được các rủi ro do lạm phát, biến động của nền kinh tế nên Chi nhánh chủ yếu cho khách hàng tại làng nghề vay ngắn hạn. Dư nợ ngắn hạn tại làng nghề
tăng qua các năm. Trong đó, năm 2011 đạt 59,79 t đồng, năm 2012 đạt 63,74 t đồng
tăng 3,02% so với năm 2011. Năm 2013 đạt 83,72 t đồng, tốc độ tăng so với năm
2012 là 11,06%. Sở dĩ tổng dư nợ ngắn hạn tăng qua các năm là do doanh số cho vay
ngắn hạn tại làng nghề qua các năm đều tăng để đáp ứng nhu cầu vay vốn bổ sung vốn
lưu động của khách hàng tại làng nghề. Nhờ có nguồn vốn này của ngân hàng, các
khách hàng tại làng nghề có thể sản xuất liên tục, không bị gián đoạn. Việc kinh doanh
thuận lợi không chỉ giúp họ có tiền đủ để trả nợ cho Chi nhánh, giúp Chi nhánh có
thêm lợi nhuận mà còn có tiền để gửi tiết kiệm, làm tăng hiệu quả huy động vốn của Chi nhánh.
Dư nợ cho vay trung và dài hạn tại làng nghề mặc d ít hơn nhưng cũng tăng qua
các năm. Năm 2011 dư nợ cho vay trung và dài hạn tại làng nghề đạt 16,1 t đồng, năm 2012 đạt 18,73 t đồng, tăng 16,34 so với năm 2011. Tiếp tục tăng, đến năm 2013 đạt 33,73 t đồng, ứng với tăng 80,09 so với năm 2013. Qua số liệu trên, ta
thấy rằng, công tác cho vay trung và dài hạn đối với làng nghề của Chi nhánh đang có
chiều hướng hoạt động tốt, mức tăng trưởng tương đối cao trong 2 năm trở lại đây. Chi nhánh cần có những biện pháp để thẩm định khách hàng, khoản vay chính xác, hiệu
55
quả nhằm đẩy mở rộng cho vay trung, dài hạn đối với làng nghề hơn nữa, bởi lợi
nhuận từ các khoản cho vay này rất cao.
Xét theo phương thức cho vay:
Theo phương thức cho vay, dư nợ cho vay đối với làng nghề từng lần năm 2011 đạt 28,54 t đồng, năm 2012 là 31,34 t đồng, tăng 9,81% so với năm 2011. Năm 2013
dư nợ tại làng nghề theo hình thức cho vay này đạt 36,85 t đồng tăng 17,58% so với
năm 2012. Đây là phương thức cho vay chủ yếu của Chi nhánh đối với khách hàng tại
làng nghề Bắc Ninh. ặt khác, việc cho khách hàng tại làng nghề vay từng lần, với mức phát tiền vay cụ thể, hạn trả nợ cụ thể nên Chi nhánh có thể tính toán được hiệu
quả kinh tế của khoản cho vay tại làng nghề. Từ đó, Chi nhánh có thể lên kế hoạch cho
khách hàng tại làng nghề vay các khoản tiếp theo một cách hợp lí, tránh ứ đọng vốn và
tăng hiệu quả sử dụng vốn.
Dư nợ cho vay làng nghề theo H TD tăng qua các năm. Năm 2011 đạt 17,46 t
đồng, đến năm 2012 tăng lên 27,54 t đồng. Đây là phương thức cho vay phổ biến thứ
hai tại làng nghề, sau phương thức cho vay từng lần. Nguyên nhân tăng lên là do
phương thức này vô c ng tiện lợi cho các khách hàng tại làng nghề có nhu cầu vay vốn
thường xuyên để thanh toán nguyên vật liệu cho nhà cung cấp. Bởi thủ tục vay rất đơn
giản, chỉ phải làm thủ tục vay vốn lần đầu tiên. Ngân hàng Á Châu Chi nhánh Bắc
Ninh và khách hàng tại làng nghề thỏa thuận một HMTD duy trì trong một thời gian nhất định trong hợp đồng tín dụng. H TD này được xác định trên cơ sở giá trị tài sản
đảm bảo của khách hàng tại làng nghề, khả năng hoàn trả nợ của khách hàng tạ làng
nghề và khả năng nguồn vốn của Chi nhánh. Việc xác định HMTD sẽ giúp Chi nhánh
tránh được việc cho vay quá nhu cầu vốn lưu động của khách hàng tại làng nghề, dẫn
đến việc khó kiểm soát mục đích sử dụng vốn vay của khách hàng. Đồng thời cũng
tránh được việc cho vay quá ít, không đáp ứng đủ nhu cầu vay vốn của khách hàng tại
làng nghề, dẫn đến mất khách hàng. Tuy nhiên, khi cho vay làng nghề theo H TD,
Chi nhánh phải luôn duy trì một H TD nhất định để đáp ứng nhu cầu vay vốn của
khách hàng tại làng nghề, điều này làm Chi nhánh mất thế chủ động về nguồn vốn. hi khách hàng tại làng nghề không sử dụng hết H TD, nguồn vốn của Chi nhánh sẽ bị ứ đọng, làm giảm hiệu quả nguồn vốn.
Dư nợ cho vay trả góp tại làng nghề cũng tăng qua các năm. Năm 2011 dư nợ cho vay trả góp tại làng nghề đạt 13,79 t đồng. Đến năm 2013 đã đạt mức 19,33 t đồng. Với phương thức cho vay trả góp, ACB tung ra sản phẩm cho vay trả góp mua
ôtô. Khách hàng tại làng nghề sử dụng sản phẩm này được hỗ trợ lãi suất và các khoản
phí liên quan trong c ng theo các chương trình ưu đãi của ACB theo từng thời kì. Hơn nữa, khách hàng tại làng nghề có thể d ng chính chiếc xe ô tô muốn mua làm tài sản
56
đảm bảo khoản vay. Sản phẩm này đang được các khách hàng tại làng nghề đón nhận
nồng nhiệt. Bởi họ rất muốn mua ô tô để dễ dàng đi lại, vận chuyển hàng hóa nguyên
vật liệu, giúp quá trình sản xuất kinh doanh được thuận lợi. Tuy nhiên giá ô tô lại cao,
họ không có đủ tiền để mua. Sản phẩm cho vay trả góp mua ô tô tại làng nghề đã đáp ứng được nhu cầu cấp thiết của khách hàng dẫn đến dư nợ cho vay trả góp tại làng
nghề tăng qua các năm.
(3) Doanh số thu nợ
Tình hình doanh số thu nợ cho vay tại làng nghề phản ánh rõ tất cả các khoản cho vay tại làng nghề đã được thu về trong năm tài chính. Việc khách hàng tại làng nghề
sử dụng số tiền vay vốn có hiệu quả sẽ mang lại kết quả tốt, làm ngân hàng thu hồi
được nợ, khách hàng trả nợ cả gốc và lãi. Từ đó giúp ngân hàng có thể mở rộng cho
vay đối với làng nghề. Doanh số thu nợ cho vay tại làng nghề trong ba năm gần đây của Ngân hàng Á Châu Chi nhánh Bắc Ninh được thể hiện qua bảng sau:
Bảng 2.7. Doanh số thu nợ tại àng nghề của Ngân hàng Châu Chi nhánh ắc
Ninh giai đoạn 2011 – 2013
ĐVT: T đồng
So sánh 2012/2011
So sánh 2013/2012
Nội ung
Năm 2011
Năm 2012
Năm 2013
Tuyệt đối
Tƣơng đối (%)
Tuyệt đối
Tƣơng đối (%)
55,58
60,24
79,88
4,66
8,38
19,64
32,6
55,58
60,24
79,88
4,66
8,38
19,64
32,6
Tổng oanh số thu nợ Theo thời hạn cho vay
Ngắn hạn
40,32
42,25
47,78
1,93
4,79
5,53
13,09
Trung, dài hạn
15,26
17,99
32,1
2,73
17,89
14,11
78,43
55,58
60,24
79,88
4,66
8,38
19,64
32,6
26,45
29,46
34,28
3,01
11,38
4,82
16,36
16,57
17,76
26,91
1,19
7,18
9,15
51,52
Theo phƣơng thức cho vay Cho vay từng lần Cho vay theo HMTD
Cho vay trả góp
12,56
13,02
18,69
0,46
3,66
5,67
43,55
(Nguồn: Phòng ế toán ngân hàng Châu Chi nhánh Bắc Ninh
Qua bảng 2.7 có thể thấy rằng:
Doanh số thu nợ tại năm 2011 ở các đối tượng cho vay trên địa bàn làng nghề đạt
55,58 t đồng, năm 2012 đạt 60,24 t đồng tăng so với năm 2010 là 8,38%. Đến năm 2013 đạt 79,88 t đồng tăng 41.44 . Qua ba năm, tình hình thu nợ đạt hiệu quả cao và tăng đều qua các năm. Cụ thể như sau:
57
Xét theo th i hạn cho vay:
Doanh số thu nợ ngắn hạn tại làng nghề qua các năm bàn đều tăng. Năm 2011
đạt 40,32 t đồng, năm 2012 tăng 4,79% so với năm 2011 đạt 42,25 t đồng. Đến năm
2013, doanh số thu nợ ngắn hạn tại làng nghề đạt 47,78 t đồng tăng 13,09% so với năm 2012. ần đây, UBND tỉnh Bắc Ninh đã phê duyệt đề án Quy hoạch phát triển
các khu thương mại dịch vụ làng nghề tỉnh Bắc Ninh đến năm 2020, định hướng đến
năm 2030 khiến cho việc sản xuất kinh doanh tại làng nghề phát triển mạnh mẽ. Các
sản phẩm khăn mặt, chăn, thảm, từ làng nghề Tương iang được tiêu thụ mạnh trên khắp cả nước. Chính vì thế người dân tại đây có nguồn thu nhập để trả nợ đúng hạn
cho ngân hàng. Dẫn đến doanh số thu nợ ngắn hạn tăng qua các năm.
Doanh số thu nợ trung và dài hạn cũng tăng đều qua các năm, năm 2012 đạt
17,99 t đồng, so với năm 2011 tăng 17,89 , năm 2013 đạt 32,1 t đồng tăng 78,43% so với năm 2012. Chi nhánh cho khách hàng tại làng nghề vay vốn trung hạn thường
3-4 năm sau mới thu nợ. Năm 2013 doanh số thu nợ trung và dài hạn tăng mạnh như
vậy bởi vì các khách hàng tại làng nghề giấy Phong hê vay vốn trung dài hạn để đầu
tư trang thiết bị, ứng dụng công nghệ tiên tiến vào sản xuất giấy. Năng suất sản phẩm
tăng lên, chi phí giảm đi, giá thành sản phẩm giảm nhiều mặc d chất lượng sản phẩm
tốt hơn. Dẫn đến việc tiêu thụ sản phẩm ngày càng mạnh mẽ. Nguồn thu nhập mang lại
cho khách hàng rất lớn, họ có thể trả ngay nợ cho ngân hàng ngay trong năm 2013.
Xét theo phương thức cho vay:
Doanh số thu nợ tại làng nghề theo phương thức cho vay cũng tăng qua các năm.
Doanh số thu nợ tại làng nghề theo phương thức cho vay từng lần năm 2011 đạt 26,45
t đồng, năm 2012 đạt 29,46 t đồng tăng 11,38 so với năm 2011. Năm 2013 đạt
34,28 t đồng tăng 16,36% so với năm 2012. Nguyên nhân do Chi nhánh cho khách
hàng tại làng nghề vay vốn từng lần khiến việc quản lí nợ dễ dàng hơn, từ đó việc thu
nợ cũng trở nên dễ dàng.
Doanh số thu nợ theo phương thức cho vay theo HMTD tại làng nghề tăng từ 16,57 t đồng năm 2011 lên 26,91 t đồng năm 2013. hách hàng tại làng nghề Đồng ỵ, Đa Hội vay theo hạn mức để thanh toán cho nhà cung cấp nguyên vật liệu. Việc kinh doanh của họ có lợi nhuận, hơn nữa bản thân họ là những khách hàng có tư cách
đạo đức, ý thức trả nợ tốt nên đã trả nợ cho Chi nhánh đúng thời hạn dẫn đến doanh số thu nợ tăng qua các năm.
Theo phương thức cho vay trả góp, doanh số thu nợ năm 2011 đạt 12,56 t đồng,
năm 2012 là 13,02 t đồng, đến năm 2013 đạt 18,69 t đồng tăng 43,55% so với năm 2012. Các mặt hàng như gỗ Đồng ỵ, thép Đa Hội thường rất cồng kềnh và nặng, để có thể vận chuyển, tiêu thụ trên khắp cả nước đòi hỏi mất chi phí rất cao. hách hàng
58
tại làng nghề vay trả góp để mua ô tô làm giảm bớt chi phí vận chuyển, tăng thêm lợi
nhuận, việc trả nợ cho Chi nhánh cũng nhanh chóng hơn.
Đạt được kết quả thu nợ trên một phần là do doanh số cho vay tăng qua các năm.
Bên cạnh đó phải kể đến công tác thẩm định, đánh giá rủi ro các khoản cho vay tại làng nghề được cán bộ tín dụng ở Ngân hàng Châu Chi nhánh Bắc Ninh thực hiện
khá tốt, công tác quản lý và thu hồi nợ mà cán bộ tín dụng đã cố gắng nỗ lực. Họ đã
phải đi sâu vào tìm hiểu các hộ sản xuất, doanh nghiệp tại làng nghề sử dụng vốn vay
đầu tư có hiệu quả không, có đúng mục đích không để tránh gặp khó khăn trong việc thu hồi nợ, tránh thất thoát nguồn vốn của Chi nhánh.
(4) Số ƣợng khách hàng vay vốn tại làng nghề
Bảng 2.8. Số ƣợng khách hàng vay vốn tại làng nghề của Ngân hàng Á Châu Chi
nhánh Bắc Ninh giai đoạn 2011 – 2013
ĐVT: hách hàng
So sánh 2012/2011
So sánh 2013/2012
Chỉ Tiêu
Năm 2011
Năm 2012
Năm 2013
Tuyệt đối
Tƣơng đối
Tuyệt đối
Tƣơng đối
Tổng số
235
267
289
32
13,62
22
8,24
Hộ gia đình
204
221
241
17
8,33
20
9,05
31
46
48
15
48,39
2
4,35
Doanh nghiệp, hợp tác xã
(Nguồn: Bộ phận Kế toán Ngân hàng Á Châu Chi nhánh Bắc Ninh)
Qua bảng số liệu 2.8 ta thấy, số lượng khách hàng vay vốn tại làng nghề tăng dần qua các năm. Cụ thể, số lượng khách hàng vay vốn tại làng nghề năm 2011 là 235
khách hàng, năm 2012 là 267 khách hàng, tăng 32 khách hàng so với năm 2011, năm
2013 là 289 khách hàng, tăng 22 khách hàng so với năm 2012.
Trong đó, số lương khách hàng là hộ gia đình là chủ yếu và cũng tăng qua các
năm. Năm 2011 số khách hàng là hộ gia đình tại làng nghề vay vốn là 204 khách hàng, cho đến năm 2013 là 241 khách hàng. Số lượng doanh nghiệp và hợp tác xã d ít hơn nhưng cũng tăng dần qua các năm. Năm 2011 số khách hàng là doanh nghiệp và hợp tác xã tại làng nghề vay vốn là 31 khách hàng, đến năm 2013 con số này đã tăng lên
đến 48 khách hàng.
Các chính sách của Nhà nước đã thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh tại làng nghề ngày càng phát triển, dẫn đến nhu cầu vốn để sản xuất cần nhiều hơn. Trong đó phải kể đến một số chính sách như Quyết định 132/2000/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về một số chính sách khuyến khích phát triển ngành nghề nông thôn, Chỉ thị số 28/2007/CT-BNN ngày 18/4/2007 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn 59
về Đẩy mạnh thực hiện quy hoạch phát triển ngành nghề nông thôn và phòng chống ô
nhiễm môi trường làng nghề, Một số sản phẩm làng nghề như tre trúc uân Lai,
mây tre đan Du Tràng đã có chỗ đứng trên thị trường Châu u. Chính vì thế nhu cầu
vốn để gia tăng sản xuất các mặt hàng này để xuất khẩu tăng cao. Tuy nhiên khách hàng tại đây không vay được người thân, bạn bè số vốn cần thiết nên đã đến ngân hàng
vay, dẫn đến số khách hàng tại làng nghề vay vốn tăng. Không chỉ vậy, số khách hàng
vay vốn tại làng nghề tăng còn do Chi nhánh đã thực hiện tiếp cận các làng nghề như
đồng Đại Bái, tre trúc Xuân Lai , nói chuyện tư vấn cho khách hàng tại đây về những sản phẩm cho vay đối với làng nghề. Từ đó giúp cho các khách hàng tại đây hiểu thêm
những thông tin cần thiết về các sản phẩm và sử dụng những sản phẩm này. Việc số
khách hàng vay vốn tăng sẽ giúp Chi nhánh có được quan hệ khách hàng rộng, thuận
lợi cho việc giới thiệu các sản phẩm, dịch vụ tiện ích mới của Chi nhánh mà không phải mất quá nhiều chi phí để tìm kiếm khách hàng mới.
b. Nhóm chỉ tiêu phản ánh chất lượng mở rộng cho vay
(1) Tỷ ệ nợ quá hạn tại làng nghề
Nợ quá hạn là chỉ tiêu phản ánh chất lượng cho vay tại làng nghề. Nó phản ánh
tính an toàn, khả năng thu hồi vốn của khoản vay. T lệ nợ quá hạn tại làng nghề được
thể hiện qua bảng sau:
Bảng 2.9. Tỷ ệ nợ quá hạn tại làng nghề của Ngân hàng Á Châu Chi nhánh Bắc Ninh giai đoạn 2011 – 2013
ĐVT: T đồng
So sánh 2012 2011
So sánh 2013/2012
Nội ung
Năm 2011
Năm 2012
Năm 2013
Tuyệt đối
Tƣơng đối (%)
Tuyệt đối
Tƣơng đối (%)
0,6
0,41
0,32
(0,19)
(31,67)
(0,09)
(21,95)
59,79 63,74 83,72
3,95
6,61
19,98
31,35
Nợ quá hạn tại làng nghề Dư nợ tại làng nghề
T lệ (%)
1,00
0,64
0,38
(0,36)
(36)
(0,26)
(40,63)
(Nguồn: Bộ phận Kế toán Ngân hàng Châu Chi nhánh Bắc Ninh)
Từ bảng 2.9 ta thấy, t trọng nợ quá hạn tại làng nghề của Chi nhánh giảm dần trong ba năm trở lại đây. Năm 2011 t lệ nợ quá hạn là 1 , năm 2012 là 0,64 , giảm 0,36% so với năm 2011. Đến năm 2013 t lệ này giảm xuống còn 0,38%.
T lệ nợ quá hạn tại làng nghề cho thấy cứ 100 đồng Chi nhánh cho vay tại làng
nghề thì có 1 đồng nợ quá hạn năm 2011, có 0,64 đồng nợ quá hạn năm 2012, năm 2013 có 0,38đ là nợ quá hạn. Dư nợ tại làng nghề trong ba năm gần đây tăng liên tục,
60
trong khi t lệ nợ quá hạn tại làng nghề lại giảm dần, cho thấy chất lượng cho vay tại
làng nghề rất tốt. Trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng, tăng trưởng tín dụng và
chất lượng tín dụng là hai mục tiêu cần đạt được đồng thời. Vì nếu tăng trưởng tín
dụng nhanh mà chất lượng tín dụng không tốt, nhiều khoản nợ không thu hồi được, nợ quá hạn cao sẽ gây ra rủi ro cho ngân hàng. Nhận thức được rõ điều này ngay từ khi
bắt đầu triển khai cho vay đối với làng nghề, có thể nói việc kiểm soát rủi ro của Ngân
hàng Châu Chi nhánh Bắc Ninh rất chặt chẽ. Việc theo dõi và đốc thúc nợ diễn ra
thường xuyên việc thu nợ gốc và lãi diễn ra rất nghiêm túc. Dẫn đến số nợ quá hạn tại làng nghề trên tổng số dư nợ cho vay tại làng nghề chiếm tỉ trọng rất nhỏ. Tuy nhiên,
Chi nhánh nên quản lí nợ chặt chẽ như trong năm 2013 để tránh tình trạng số nợ quá
hạn gia tăng trong các năm tiếp theo. Bằng cách liên tục cử cán bộ tín dụng vào từng
làng nghề có khách hàng vay vốn để khảo sát việc sản xuất kinh doanh của họ diễn ra như thế nào, để có những biện pháp xử lí kịp thời tránh rủi ro, gây tổn hại cho Chi
nhánh.
(2) Tỷ ệ nợ xấu tại làng nghề
Bảng 2.10. Tỷ ệ nợ xấu tại làng nghề của Ngân hàng Châu Chi nhánh
Bắc Ninh giai đoạn 2011 – 2013
ĐVT: T đồng
So sánh 2012 2011
So sánh 2013 2012
Nội ung
Năm 2011
Năm 2012
Năm 2013
Tuyệt đối
Tƣơng đối (%)
Tuyệt đối
Tƣơng đối (%)
0,13
0,11
0,08
(0,02)
(15,38)
(0,03)
(37,5)
59,79 63,74 83,72
3,95
6,61
19,98
31,35
Nợ xấu tại làng nghề Dư nợ tại làng nghề
T lệ (%)
0,22
0,17
0,10
(0,05)
(22,73)
(0,07)
(41.18)
(Nguồn: Bộ phận Kế toán Ngân hàng Châu Chi nhánh Bắc Ninh)
Từ bảng 2.10 ta thấy:
ặc d trong ba năm gần đây, Ngân hàng Á Châu Chi nhánh Bắc Ninh chưa trích lập dự phòng rủi ro cho các khoản nợ xấu tại làng nghề, nhưng Chi nhánh đã tìm
cách giãn nợ, đảo nợ, dịch chuyển nợ ngắn hạn sang nợ trung và dài hạn. Điều này nhằm kéo dài thời hạn thanh toán do chủ nợ tại làng nghề không thể trả nợ đúng hạn. Tuy không phải là biện pháp hạ t lệ nợ xấu bền vững nhưng việc đảo nợ sẽ giúp khách hàng tại làng nghề có nhiều thời gian hơn để chuẩn bị nguồn tài chính trả nợ,
đồng thời Chi nhánh cũng có cơ hội hạn chế đáng kể việc gia tăng t lệ nợ xấu. Nhờ vậy, nợ xấu tại làng nghề còn rất ít. à dư nợ cho vay tại làng nghề tăng dần qua các
năm. Do đó, t lệ nợ xấu tại làng nghề của Chi nhánh rất thấp và giảm dần qua các 61
năm. Năm 2011 t lệ này là 0,22%, đến năm 2013 giảm xuống còn 0,10%. T lệ nợ
xấu tại làng nghề cho biết cứ 100 đồng Chi nhánh cho vay tại làng nghề thì trong đó có
0,22 đồng nợ xấu năm 2011, có 0,17 đồng nợ xấu năm 2012, có 0,10 đồng nợ xấu năm
2013. Để hạn chế việc gia tăng nợ xấu, Chi nhánh cần thực hiện đúng quy trình cho vay đối với làng nghề, thường xuyên cập nhật những thông tin về khách hàng tại làng
nghề, thực hiện tốt công tác chấm điểm, xếp loại khách hàng. Đồng thời, Chi nhánh
cần phải xác định số lượng khách hàng tại làng nghề và dư nợ tại làng nghề ph hợp
với năng lực, trình độ, kinh nghiệm quản lý của cán bộ tín dụng. Công tác quản lí nợ của Chi nhánh cũng cần được tăng cường hơn bằng cách thực hiện phân loại nợ và
trích lập dự phòng rủi ro thống nhất và đồng bộ, kiểm tra, giám sát liên tục sau khi cho
vay để có thể duy trì mức nợ xấu tại làng nghề ở mức thấp như vậy trong tương lai,
làm tăng chất lượng cho vay làng nghề của Chi nhánh.
(3) Tỷ ệ thu nhập từ hoạt động cho vay đối với làng nghề
Bảng 2.11. Tỷ ệ thu nhập từ hoạt động cho vay đối với làng nghề tại Ngân hàng
Châu Chi nhánh ắc Ninh giai đoạn 2011 – 2013
ĐVT: T đồng
So sánh 2012/2011
So sánh 2013/2012
Chỉ tiêu
Năm 2011
Năm 2012
Năm 2013
Tuyệt đối
Tuyệt đối
Tƣơng đối (%)
Tƣơng đối (%)
94,04 137,26 156,73
45,96
19,47
14,18
Doanh thu từ lãi vay của toàn bộ dư nợ
43,22
15,56
16,7
22,78
1,14
7,33
6,08
36,41
Doanh thu từ lãi vay của dư nợ cho vay tại làng nghề
T lệ ( )
16,55
12,17
15,43
(4,38)
(26,47)
3,26
26,79
(Nguồn: Bộ phận Kế toán Ngân hàng Châu Chi nhánh Bắc Ninh)
Qua bảng 2.11 ta thấy, t lệ thu nhập cho vay tại làng nghề có sự biến động nhiều. Cụ thể, năm 2011 t lệ thu nhập cho vay tại làng nghề là 16,55 , năm 2012 là 12,17%, giảm 4,38% so với năm 2011, do mức tăng trưởng tổng doanh thu lớn hơn
mức tăng trưởng doanh thu cho vay tại làng nghề. Tuy nhiên đến năm 2013 t lệ thu nhập cho vay tại làng tăng lên 26,79% so với năm 2012. Sở dĩ có được kết quả này là do Chi nhánh đã chú trọng việc cho vay đối với làng nghề và cho vay nhiều hơn. Như đã phân tích ở trên, trình độ dân trí của khách hàng vay vốn tại làng nghề còn thấp dẫn
đến việc không hiểu thấu đáo được quy trình vay vốn, các nguyên tắc, điều kiện vay vốn của ngân hàng. Khi khách hàng đến Chi nhánh, nhân viên tư vấn tài chính tại Ngân hàng Châu Chi nhánh Bắc Ninh có sự hướng dẫn, tư vấn tận tình giúp khách 62
hàng hiểu rõ việc vay vốn, gây được sự thiện cảm cho khách hàng. Từ đó giúp tăng
lượng khách hàng đến Chi nhánh vay vốn và làm tăng thu nhập cho Chi nhánh.
2.4. Đánh giá mở rộng cho vay đối với làng nghề tại Ngân hàng Thƣơng mại Cổ
Phần Á Châu Chi nhánh Bắc Ninh
2.4.1. Kết quả đạt được
Qua ba năm 2011, 2012 và 2013, hoạt động cho vay đối với làng nghề của Ngân
hàng Châu Chi nhánh Bắc Ninh đã có những chuyển biến tích cực và được những
thành tựu sau:
Quy mô mở rộng cho vay dối với làng nghề:
Cả về dư nợ cho vay, doanh số cho vay, doanh số thu nợ đều tăng đã góp phần
vào mở rộng cho vay đối với làng nghề. Hơn thế nữa, tốc độ tăng trưởng dư nợ cho
vay, doanh số cho vay, doanh số thu nợ tại làng nghề năm sau đều cao hơn năm trước cho thấy sự mở rộng cho vay đối với khu vực làng nghề diễn ra tương đối nhanh.
Trong đó, dư nợ cho vay đối với làng nghề năm 2011 là 59,79 t đồng, năm 2012 là
63,74 t đồng tăng 6,61 so với năm 2011, năm 2013 là 83,72 t đồng, tăng 31,35
so với năm 2012. Doanh số cho vay tại làng nghề năm 2011 là 119,66 t đồng, năm
2012 tăng 7,35 so với năm 2011, đến năm 2013 là 175,25 t đồng, tăng 36,42 so
với năm 2012. Doanh số thu nợ tại làng nghề năm 2011 đạt 55,88 t đồng, năm 2012
tăng 8,38% so với năm 2011, đến năm 2013 đã đạt 79,88 t đồng, tăng 32,6% so với năm 2012. Điều này thể hiện sự tin tưởng của khách hàng đối với Chi nhánh ngân
hàng và sự cố gắng nỗ lực không ngừng tiếp cận thị trường làng nghề của Chi nhánh.
Ngoài ra là do các làng nghề tại tỉnh Bắc Ninh hiện nay đang ngày càng phát triển.
Chính vì thế Chi nhánh đã có nhận định đúng đắn rằng thị trường làng nghề là một thị
trường đầu tư tiềm năng cần mở rộng cho vay.
Số lượng khách hàng tại làng nghề vay vốn cũng ngày càng tăng. Cụ thể năm
2011 có 235 khách hàng, năm 2012 có 267 khách hàng, năm 2013 có 289 khách hàng.
Có được điều này là do khách hàng tại làng nghề khi đến Chi nhánh có cảm giác thân thiện, gần gũi nên đã duy trì việc vay vốn tại Chi nhánh. Với số lượng khách hàng tại làng nghề vay vốn ngày càng đông, Chi nhánh đã và đang tạo điều kiện thuận lợi giúp họ giải quyết vấn đề vốn, góp phần làm tăng năng suất, tăng thu nhập. Được vay vốn
từ Ngân hàng Á Châu Chi nhánh Bắc Ninh ngoài việc giúp khách hàng tại làng nghề tránh được tình trạng vay nặng lãi, chủ động trong khâu tiêu thụ sản phẩm, mở rộng thị trường trong nước và ra nước ngoài.
Chất lượng mở rộng cho vay đối với làng nghề:
Qua các chỉ tiêu phản ánh nợ quá hạn, nợ xấu tại làng nghề ta thấy được chất lượng cho vay đối với làng nghề của Chi nhánh rất tốt. T lệ nợ quá hạn, t lệ nợ xấu 63
tại làng nghề rất thấp, giảm dần qua các năm. Đến năm 2013, t lệ nợ quá hạn chỉ ở
mức 0,38%, t lệ nợ xấu 0,1%. Đây là con số đáng mơ ước mà bất kì một ngân hàng
nào khi cho vay vốn đều mong muốn đạt được. Có được điều này cũng là do cán bộ tín
dụng tại Chi nhánh có công tác thẩm định, đánh giá chính xác. ột phần cũng là do khách hàng vay vốn tại làng nghề có chất lượng rất tốt. Điều này hạn chế rủi ro cho
Ngân hàng Châu Chi nhánh Bắc Ninh. Chi nhánh cần có những biện pháp để duy trì
chất lượng cho vay đối với làng nghề như trong năm 2013.
Lợi nhuận từ hoạt động cho vay làng nghề của Chi nhánh cũng tăng qua các năm. Năm 2011 là 15,56 t đồng, năm 2012 là 16,7 t đồng, năm 2013 là 22,78 t đồng. Lợi
nhuận này giúp Chi nhánh duy trì hoạt động và đảm bảo an toàn cho vốn vay. Nó
chứng tỏ các khoản mà Chi nhánh cho khách hàng tại làng nghề vay có chất lượng tốt,
không những thu hồi được mà còn sinh lời, làm tăng thu nhập cho Chi nhánh.
Nhìn chung, nguồn vốn của Chi nhánh góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế làng
nghề, nông thôn, mở rộng sản xuất tạo ra khối lượng hàng hóa lớn, chất lượng cao,
mẫu mã đa dạng đáp ứng nhu cầu tiêu d ng trong nước và tạo nguồn xuất khẩu thu
ngoại tệ, góp phần thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Nguồn vốn của Chi nhánh cung cấp cho các làng nghề góp phần tạo việc làm
cho lao động làng nghề và lao động từ các vùng khác, nâng cao thu nhập, nâng cao
phúc lợi xã hội của khách hàng tại làng nghề, ổn định kinh tế, tạo nền tảng cho sự ổn định chính trị xã hội.
2.3.4. Hạn chế
Mặc dù hoạt động cho vay đối với làng nghề của Ngân hàng Châu Chi nhánh
Bắc Ninh đã đạt được những thành tựu nhất định nhưng nó vẫn còn những mặt hạn
chế:
Cơ cấu cho vay của Chi nhánh chưa thực sự phù hợp. Trong khi các khách hàng
tại làng nghề có nhu cầu về vốn dài hạn rất lớn thì Chi nhánh lại cho vay ngắn hạn
nhiều hơn. Điều này được thể hiện trong bảng dư nợ của Chi nhánh đối với làng nghề.
Chi nhánh chưa có những ưu đãi về lãi suất đối với làng nghề.
Nhu cầu vay vốn của khách hàng tại làng nghề là rất lớn. Thế nhưng, Chi nhánh
vẫn chưa đáp ứng hết được. Bởi Chi nhánh chủ yếu cho vay dựa trên tài sản bảo đảm mà nhiều khách hàng tại làng nghề lại không có tài sản đảm bảo hoặc tài sản đảm bảo có giá trị thấp hơn nhu cầu vay.
D dư nợ cho vay tại làng nghề ngày càng tăng, nhưng t trọng cho vay tại làng
nghề hiện nay mới chỉ ở mức 22,75 . Đây là nhóm khách hàng rất tiềm năng, nên Chi nhánh cần có những chính sách khai thác hợp lý.
64
Chi nhánh mới chỉ cho vay theo 3 trong 6 phương thức cho vay tại làng nghề của
NHTM.
2.3.5. Nguyên nhân
a. Nguyên nhân có thể kiểm soát được
Công tác huy động vốn chưa đủ để đáp ứng nhu cầu vốn của khách hàng, Chi
nhánh không có đủ để cho vay và phải huy động vốn từ Hội Sở chính và các chi nhánh
khác cùng hệ thống chuyển ra. Điều này dẫn tới việc Chi nhánh thiếu chủ động trong
kinh doanh, chi phí hoạt động cho vay lại tăng lên do phải điều chuyển vốn, dẫn đến việc cho vay chưa đạt hiệu quả cao.
Cán bộ tín dụng tại Ngân hàng Châu Chi nhánh Bắc Ninh còn thiếu. Trong
năm 2013 có biến động về nhân viên tín dụng (01 người xin nghỉ việc, 01 chuyển sang
chuyên trách Pháp lý chứng từ) trong khi đó việc tuyển nhân viên tín dụng tại địa bàn gặp nhiều khó khăn (ít người thi tuyển, chất lượng thí sinh không cao...). Chi nhánh
chưa có Trưởng phòng kinh doanh chuyên trách. Hơn nữa, còn có 2 nhân viên giao
dịch đang trong chế độ thai sản càng khiến hoạt động của Chi nhánh khó khăn hơn nếu
không điều chuyển nhân viên nội bộ về hay tuyển thêm nhân viên.
Lãi suất cho vay đối với làng hiện nay của Ngân hàng Á Châu Chi nhánh Bắc
Ninh là tương đối cao (cho vay ngắn hạn khoảng 1- 1,2%/ tháng, cho vay trung và dài
hạn 12% - 15 / năm) và với quan điểm tín dụng chặt chẽ nên thời gian giải quyết hồ sơ cho vay thường kéo dài hơn so với ngân hàng khác. Trong đó đa phần các doanh
nghiệp trên địa bàn có tình hình kinh doanh tốt, thời gian hoạt động dài đều đã có quan
hệ với các tổ chức tín dụng khác.
Marketing tại Chi nhánh vẫn chưa được đẩy mạnh, đặc biệt là khâu tìm kiếm
khách hàng, nên đã bỏ lỡ nhiều khách hàng tiềm năng.
Đối tượng cho vay tại làng nghề của Ngân hàng Châu Chi nhánh Bắc Ninh chủ
yếu tập trung vào các khách hàng ở có tài sản thế chấp lớn. Nhưng ở các làng nghề có
những khách hàng do gặp phải vấn đề quy mô sản xuất nhỏ nên họ chỉ có nhu cầu vay những món nhỏ lẻ, nhiều khi ngân hàng ngại về các thủ tục giấy tờ dẫn đến không đáp ứng được nhu cầu vốn cho họ. Do đó ảnh hưởng tới mở rộng cho vay đối với làng nghề, làm giảm hiệu quả hoạt động của Chi nhánh.
Khách hàng tại làng nghề tiếp cận thông tin về vay vốn tại Chi nhánh chưa nhiều bởi trụ sở chính của Chi nhánh, cùng các phòng giao dịch ở trung tâm thị xã Từ Sơn,
huyện Tiên Du và thành phố Bắc Ninh. Trong khi các làng nghề lại cách xa những nơi
đó.
Do trình độ dân trí thấp, việc hạch toán sổ sách của các khách hàng tại làng nghề thường rất sơ sài, lộn xộn, không rõ ràng gây khó khăn cho công tác thẩm định của cán 65
bộ tín dụng. Nhiều khách hàng còn không thể tự lập được phương án sản xuất kinh
doanh, dẫn đến việc không thể vay vốn của Chi nhánh.
Hoạt động sản xuất kinh doanh tại các làng nghề thường không ổn định, phụ
thuộc vào nguyên liệu đầu vào và các đơn đặt hàng, sản xuất nhỏ lẻ, phân tán. Do đó nhu cầu vốn của các khách hàng tại làng nghề ở mỗi giai đoạn lại khác nhau, dẫn đến
việc Chi nhánh khó dự đoán được nhu cầu vốn để có được những chính sách hỗ trợ
vốn kịp thời.
b. Nguyên nhân không thể kiểm soát được
Việc thực hiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với các doanh nghiệp
diễn ra tương đối chậm, đối với các hộ thì giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được
cấp cho từng hộ nên việc hoàn tất các thủ tục pháp lý đối với tài sản đảm bảo tương
đối phức tạp. Nhiều khách hàng sau khi đã được Chi nhánh phê duyệt cho vay nhưng việc giải ngân không thực hiện được do vướng các thủ tục pháp lý đối với tài sản đảm
bảo, mức cho vay không đáp ứng được nhu cầu hoặc nhận được những điều kiện ưu
đãi hơn từ các ngân hàng khác.
Việc thực hiện công tác kiểm tra, kiểm soát chương trình tín dụng ưu đãi của Nhà
nước đối với hộ sản xuất còn hạn chế mặc d chương trình ưu đãi thì nhiều nhưng áp
dụng vào thực tế lại chưa hiệu quả, nhiều tổ chức cá nhân mưu lợi cá nhân gây thất
thoát vốn.
Một số cơ quan chính quyền địa phương còn lơ là về tinh thần trách nhiệm, e
ngại trong việc ký xác nhận, chưa có sự cộng tác nhiệt tình với tổ chức tín dụng.
Người lãnh đạo tại các làng nghề là hàng xóm, có khi là họ hàng với khách hàng nên
khi nhân viên tín dụng đi thẩm định thì thông tin nhiều khi không chính xác, họ có thể
nói tốt cho khách hàng tại làng nghề hoặc cung cấp những thông tin không hoàn toàn
đúng. Điều này gây bất lợi cho Chi nhánh trong quá trình ra quyết định cho vay đối
với làng nghề.
KẾT LUẬN CHƢƠNG 2
Chương 2 khóa luận đã tập trung phân tích tình hình hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Á Châu Chi nhánh Bắc Ninh, thực trạng mở rộng cho vay đối với làng
nghề trong giai đoạn 2011-2013. Đồng thời khóa luận cũng đã nêu ra những nhận xét và đánh giá về những kết quả mà Chi nhánh đã đạt được, những hạn chế, nguyên nhân gây nên hạn chế trong quá trình mở rộng cho vay đối với làng nghề của Chi nhánh.
66
CHƢƠNG 3. GIẢI PHÁP MỞ RỘNG CHO VAY ĐỐI VỚI LÀNG NGHỀ TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI CỔ PHẦN Á CHÂU CHI
NHÁNH BẮC NINH
3.1. Định hƣớng hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Thƣơng mại Cổ phần
Châu Chi nhánh Bắc Ninh
Tập trung chỉ đạo thực hiện tốt công tác huy động vốn. Coi “Huy động vốn là
nhiệm vụ sống còn của toàn Chi nhánh và quyết định vị thế của Chi nhánh trên địa bàn
hoạt động. Việc này được thực hiện bằng cách đa dạng hóa các hình thức huy động vốn, mở rộng hệ thống mạng lưới, có những chính sách lãi suất hợp lí cho từng nhóm
khách hàng, có sự ưu đãi đặc biệt cho những khách hàng có số dư tiền gửi lớn thường
xuyên
Về công tác tín dụng, thực hiện theo phương châm “Tăng trưởng tín dụng phải gắn chặt với kết quả huy động vốn, đồng thời phải kiểm tra, kiểm soát, bảo đảm an
toàn vốn và nâng cao chất lượng tín dụng. Phân tích các loại nợ, kể cả nợ ngoại bảng,
nhất là nợ đã xử lý rủi ro để đưa ra biện pháp xử lý nợ hiệu quả hơn. ặt khác, đa
dạng hóa các phương thức cho vay để đáp ứng được những đặc th riêng của đối
tượng vay vốn.
Tiếp tục coi mỗi nhân viên là một tuyên truyền viên trực tiếp quảng bá thương
hiệu Ngân hàng Châu đến từng khách hàng. Sự tiếp đón chu đáo, hướng dẫn tận tình c ng với thái độ quan tâm, biết lắng nghe ý kiến khách hàng của nhân viên Chi nhánh
là yếu tố vô c ng quan trọng để thu hút được khách hàng đến với Chi nhánh.
Quan tâm thường xuyên đến việc tu sửa, bảo dưỡng trang thiết bị, máy móc, cơ
sở vật chất, cập nhật công nghệ ngân hàng để phục vụ khách hàng một cách tốt nhất.
Bồi dưỡng nghiệp vụ và các văn bản pháp luật cần thiết theo từng chuyên đề
ngay tại Chi nhánh cho nhân viên nhằm củng cố, cập nhật kiến thức chuyên môn để có
thể tư vấn, giải đáp mọi thắc mắc của khách hàng, ngày càng phục vụ khách hàng tốt
hơn.
Cải tiến quy trình, giảm bớt thủ tục hành chính không cần thiết giúp khách hàng
thuận lợi hơn khi giao dịch.
3.2. Định hƣớng mở rộng cho vay đối với àng nghề tại Ngân hàng Thƣơng mại
Cổ phần Châu Chi nhánh ắc Ninh
Quan điểm mở rộng cho vay đối với làng nghề dựa trên nguyên tắc: ở rộng cho
vay đối với làng nghề phải đi đôi với bảo đảm chất lượng cho vay, phát triển cho vay đối với làng nghề trong phạm vị kiểm soát và quản lý nợ.
67
Mở rộng cho vay đối với làng nghề phải gắn liền với định hướng phát triển làng
nghề của Nhà nước và phải góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả sản xuất kinh
doanh của làng nghề.
Tăng trưởng dư nợ cho vay đối với làng nghề theo nguyên tắc cân đối t lệ tăng trưởng nguồn vốn, đảm bảo an toàn sử dụng vốn, sử dụng vốn có hiệu quả kinh doanh.
Không ngừng gia tăng số khách hàng tại làng nghề vay vốn, đa dạng hóa các
phương thức cho vay đối với làng nghề.
Đảm bảo t lệ nợ quá hạn, t lệ nợ xấu tại làng nghề luôn thấp và thấp hơn t lệ
nợ xấu của toàn Chi nhánh.
Đảm bảo mức trích lập dự phòng rủi ro thấp, công tác thu nợ được thực hiện tốt,
các khoản nợ gốc và lãi được thu về đúng hạn.
Chuẩn hóa quy trình cho vay đối với làng nghề, tuân thủ cam kết khách hàng (thời gian, thủ tục, giấy tờ ) theo đúng tiêu chuẩn SO nhằm nâng cao chất lượng
phục vụ khách hàng tại làng nghề.
Tổ chức xếp loại khách hàng tại làng nghề theo quy định để làm cơ sở xét duyệt
cho vay hợp lý nhằm khuyến khích khách hàng tại làng nghề mạnh dạn đến vay vốn
ngân hàng.
Đẩy mạnh chiến lược marketing, quảng bá hình ảnh nhằm tạo được sự tin tưởng
của khách hàng tại làng nghề dành cho Chi nhánh, cũng như giới thiệu sản phẩm cho vay đối với làng nghề của Chi nhánh đến nhiều khách hàng tại làng nghề hơn.
3.3. Giải pháp mở rộng cho vay đối với làng làng nghề của Ngân hàng Thƣơng
mại Cổ phần Á Châu Chi nhánh Bắc Ninh
3.3.1. Tăng cư ng hoạt động huy động vốn
Như đã phân tích ở trên, lượng tiền huy động được thấp hơn nhu cầu cho vay tại
địa bàn dẫn đến việc Ngân hàng Châu Chi nhánh Bắc Ninh phải điều chuyển vốn từ
Hội sở chính và các Chi nhánh ngân hàng khách c ng hệ thống. Hơn thế nữa, Chi nhánh thiếu nguồn vốn trung, dài hạn nên gây ra sự mất cân đối trong cơ cấu cho vay đối với làng nghề. ặc d , nhu cầu vay vốn trung dài hạn nhằm đầu tư trang thiết bị, máy móc, đổi mới công nghệ sản xuất, xây dựng nhà xưởng của khách hàng tại làng
nghề là rất lớn nhưng Chi nhánh cho khách hàng tại làng nghề vay trung, dài hạn ít hơn hẳn cho vay ngắn hạn. Để khắc phục điều này, trước hết Chi nhánh cần tăng cường hơn nữa hoạt động huy động vốn.
hi có nguồn vốn lớn, Ngân hàng Châu Chi nhánh Bắc Ninh sẽ đáp ứng được nhu cầu vay vốn cả ngắn hạn và trung, dài hạn của khách hàng tại làng nghề mà không phải lo sợ thiếu vốn hay bỏ lỡ những khách hàng tốt do thiếu vốn. Để tăng cường công
68
tác huy động vốn, Ngân hàng Châu Chi nhánh Bắc Ninh cần thực hiện đồng bộ
những biện pháp sau đây:
Thứ nhất, Chi nhánh cần nâng cao chất lượng dịch vụ huy động tiền gửi. Ngân
hàng huy động vốn chủ yếu từ tiền gửi dân cư, chính vì lẽ đó nên chất lượng dịch vụ huy động tiền gửi ảnh hưởng trực tiếp đến quy mô vốn của ngân hàng. Trước khi đưa
ra bất cứ một sản phẩm dịch vụ mới nào để huy động tiền gửi, ngân hàng cần cân nhắc
kĩ lưỡng. Bởi khi đã tung sản phẩm ra thị trường đồng nghĩa với việc ngân hàng rất
khó rút lui, ngân hàng phải chịu tổn thất rất lớn về chi phí. Tăng cường tiện ích các sản phẩm dịch vụ tiền gửi giúp nâng cao chất lượng huy động tiền gửi. Đối với khách
hàng, gửi tiền không chỉ để nhận lãi suất mà còn để hưởng những những tiện ích mà
sản phẩm mang lại. Chính vì vậy, những tiện ích và dịch vụ đi kèm sẽ vô c ng cần
thiết nhằm làm tăng sự hài lòng của khách hàng. Chi nhánh cần có những chế độ chăm sóc đặc biệt dành riêng cho khách hàng quan trọng như: Gửi thiệp, tặng quà cho khách
hàng vào những dịp lễ, tặng thẻ V P cho khách hàng có số dư tài khoản gửi tiền lớn
trong thời gian dài. Chất lượng dịch vụ huy động tiền gửi tốt còn được thể hiện bằng
việc nhân viên tư vấn tận tình cho khách hàng, giải đáp mọi thắc mắc của khách hàng
về các sản phẩm dịch vụ tiền gửi, thái độ tiếp đón nồng hậu, thân thiện, phục vụ khách
hàng chu đáo. Qua những hành động, cử chỉ ấy sẽ làm khách hàng cảm thấy gắn bó
với Ngân hàng, tăng sự tin tưởng của họ dành cho Ngân hàng. hi khách hàng đã tin tưởng Ngân hàng, họ sẽ gửi tiền nhiều hơn, Ngân hàng sẽ gia tăng được nguồn vốn
huy động từ tiền gửi. Hơn nữa, chính những khách hàng này là lực lượng marketing
không chuyên, sẽ quảng bá cho những khách hàng khác về ngân hàng c ng các sản
phẩm tiền gửi. Điều này cũng làm nguồn vốn huy động của Chi nhánh tăng.
Thứ hai, Chi nhánh cần đưa ra những sản phẩm dịch vụ đa dạng, hấp dẫn, thu hút
khách hàng. Cần đa dạng hóa các biểu lãi suất, kì hạn, phương thức phát hành, gia tăng
các khuyến mại khi huy động vốn như các chương trình rút thăm trúng thưởng. p
dụng mức lãi suất bậc thang cho các khách hàng gửi tiền thanh toán, áp dụng rộng rãi
tài khoản cá nhân thực hiện chế độ thanh toán linh hoạt để mọi người có thể gửi và rút thuận lợi. Với xu hướng mua sắm điện tử ngày trở nên phổ biến, Chi nhánh cũng cần đa dạng các tiện ích của thẻ thanh toán giúp khách hàng thanh toán dễ dàng, đồng thời
cũng gia tăng nguồn vốn huy động cho Chi nhánh. Ngoài ra, Chi nhánh cũng cần phát hành thêm các loại thẻ để đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của khách hàng.
Thứ ba, Chi nhánh cần tăng cường huy động vốn bằng vàng và ngoại tệ. Hiện
nay, vẫn còn một bộ phận dân cư chưa thật sự tin tưởng vào sự ổn định giá cả của
đồng Việt Nam nên không gửi tiền tiết kiệm, mà tích trữ bằng vàng và ngoại tệ. Chi nhánh cần mở rộng hoạt động ngoại hối nhằm thu hút tiền gửi và thanh toán ngoại tệ
69
từ bộ phận dân cư nước ngoài gửi về, hoặc tiền thu về từ bán, xuất khẩu hàng hoá. Các
hình thức huy động vốn đa dạng sẽ tạo niềm tin đối với người dân trong và ngoài
nước, giúp Chi nhánh có thêm được nguồn vốn huy động.
Ngoài ra, để tăng nguồn vốn trung, dài hạn, Chi nhánh có thể phát hành thêm giấy tờ có giá trung, dài hạn, phát triển các khoản vay trung, dài hạn từ các tổ chức tài
chính khác.
3.3.2. ổ sung nguồn nhân lực, h ng ngừng nâng cao tr nh độ đội ng nhân sự
Nguồn nhân lực chất lượng cao là yếu tố quan trọng quyết định tới sự thành công của ngân hàng. Với sự phát triển đồng đều về công nghệ ngân hàng, các sản phẩm
thường giống nhau do sản phẩm của ngân hàng rất dễ bắt chước, thì yếu tố con người
sẽ là yếu tố then chốt, quyết định sự thành công hay thất bại của ngân hàng.
Ngân hàng Châu Chi nhánh Bắc Ninh giai đoạn gần đây đang thiếu nguồn nhân lực dẫn đến hoạt động của Chi nhánh chưa thực sự hiệu quả. Để thu hút nhân tài
tuyển dụng vào làm việc tại Chi nhánh thì Chi nhánh cần xây dựng được quy trình
tuyển dụng chuyên nghiệp. Ngân hàng cần đầu tư trong việc thiết kế, trình bày các
thông tin tuyển dụng, lập kế hoạch đăng tin tuyển dụng chi tiết, hấp dẫn trên các
website tuyển dụng. Các tiêu thức tuyển dụng như tiêu thức về sức khỏe, năng lực
chuyên môn, năng lực quản lý, kinh nghiệm làm việc, phải được đưa ra rõ ràng, cụ
thể. Các ứng viên dễ dàng so sánh khả năng của mình với các tiêu thức đó, rồi mới quyết định có nộp hồ sơ ứng tuyển hay không. Điều này giúp Ngân hàng giảm được số
hồ sơ không đạt yêu cầu, nâng cao chất lượng ứng viên. Bên cạnh đó, Ngân hàng cần
xây dựng được văn hóa tuyển dụng. Văn hóa tuyển dụng thể hiện phong cách nhà quản
lý tuyển dụng nhân viên. Đây là cách đầu tiên mà Chi nhánh để lại ấn tượng tốt đẹp
trong lòng ứng viên, tạo niềm tin và tiền đề cho sự hợp tác, gắn bó lâu dài với Chi
nhánh. Chi nhánh cũng nên thiết kế các mẫu phỏng vấn riêng cho từng vị trí, tránh bỏ
sót những thông tin quan trọng về ứng viên, giảm tính chủ quan trong phỏng vấn.
Công tác tuyển dụng cần được thực hiện với quy mô lớn. Chi nhánh có thể liên kết với các trường đại học các chuyên ngành kinh tế trong cả nước tổ chức các buổi hội thảo về ngân hàng, giải đáp và cung cấp thêm thông tin về ngân hàng, quy trình tuyển dụng, kinh nghiệm phỏng vấn, thi tuyển cho sinh viên. Tạo sự ấn tượng cho sinh viên khi
vẫn còn trên ghế nhà trường là một chiến lược đúng đắn. Với đam mê và mong muốn gắn bó với ngành ngân hàng, những sinh viên này rất có thể trở thành những nhân viên của Ngân hàng trong tương lai. Ngân hàng cũng tuyển dụng thực tập sinh là các sinh
viên năm cuối các trường đại học chuyên ngành kinh tế trên cả nước. Sinh viên là
những người được hưởng lợi nhiều nhất trong các chương trình thực tập này. hi được lựa chọn, sinh viên vừa có cơ hội được đào tạo, được làm việc và được trả thù lao
70
xứng đáng. Đây cũng là cơ hội để Ngân hàng phát hiện, bồi dưỡng những sinh viên có
tố chất và năng lực trở thành cán bộ nhân viên chính thức sau khi kết thúc quá trình
thực tập. Ngoài ra, Chi nhánh cũng cần xây dựng các chính sách, chế độ đãi ngộ tốt
hơn đối với nhân viên. Ví dụ như trả mức lương cạnh tranh so với các ngân hàng khác, tương xứng với vị trí công việc, trình độ, kinh nghiệm công tác, sự đóng góp của mỗi
nhân viên, thưởng thêm vào các dịp lễ, nhận quà kỉ niệm, thưởng lương tháng 13,
Số lượng nhân viên được bổ sung thêm có năng lực sẽ đóng góp một phần cho sự phát
triển của ngân hàng đồng thời giảm thiểu rủi ro, tăng khả năng cạnh tranh cho Ngân hàng.
Bên cạnh đó, đội ngũ nhân viên là bộ mặt của Chi nhánh. Họ chính là những
người làm việc trực tiếp với khách hàng và khách hàng thường đánh giá Ngân hàng
thông qua tác phong, kĩ năng là việc của nhân viên. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến việc khách hàng có quay lại ngân hàng giao dịch. Chính vì vậy, Ngân hàng Châu
Chi nhánh Bắc Ninh cần phải nâng cao trình độ đội ngũ nhân sự. Đây là yếu tố chiến
lược trong phát triển thương hiệu cho Chi nhánh. Để làm được điều đó, Chi nhánh cần
phải có kế hoạch đào tạo đáp ứng tiêu chuẩn năng lực cho từng vị trí, kết hợp các loại
đào tạo trên lớp, e-learning và đào tạo tại chỗ, kịp thời đào tạo về sản phẩm mới, quy
trình mới, công nghệ mới ngay sau khi ban hành, Đối với nhân viên mới tuyển, Chi
nhánh sẽ cho tham gia lớp học “Hội nhập môi trường làm việc . Lớp học sẽ trang bị cho nhân viên những kiến thức cơ bản về môi trường làm việc, điều kiện làm việc và
những thông tin cần thiết liên quan đến các họat động trong ngân hàng. Chi nhánh tạo
điều kiện cho các học viên được tiếp thu kiến thức thực tế thông qua việc học hỏi kinh
nghiệm của những nhân viên đi trước. Cuối mỗi năm, tất cả nhân viên đều được đánh
giá thành tích công việc. Những mục tiêu phát triển nghề nghiệp mà nhân viên đã đăng
ký từ đầu năm được thảo luận giữa nhân viên với trưởng đơn vị nhằm xác định những
điểm cần cải thiện và những điểm nổi bật. Nhân viên sẽ cải thiện các điểm yếu thông
qua nhiều hình thức đào tạo. Chi nhánh cũng nên tổ chức các lớp bồi dưỡng chuyên
môn nghiệp vụ cho nhân viên nhằm trang bị những kiến thức chuyên sâu như: Nghiệp vụ tín dụng, nghiệp vụ thanh toán quốc tế, do các giảng viên có kinh nghiệm và nghiệp vụ chuyên môn cao trong ngân hàng trực tiếp giảng dạy. Các lớp học này sẽ có
hai hình thức đào tạo: Tại trung tâm đào tạo của ACB và e-learning. Việc học trực tuyến (e-learning) tạo thuận tiện rất nhiều cho học viên, giúp họ tiết kiệm được chi phí, linh hoạt về thời gian, không bị giới hạn về khoảng cách địa lý. Ngoài ra, Chi nhánh cần tiến hành các cuộc kiểm tra, thi sát hạch về nghiệp vụ để biết được chất lượng
nhân viên. Qua việc kiểm tra, sát hạch, Chi nhánh một mặt khen thưởng, khích lệ với những nhân viên có thành tích tốt. ặt khác rút ra được những yếu kém hiện tại để có
kế hoạch điều chỉnh sao cho ph hợp. Đồng thời, gia tăng các cuộc trò chuyện chia sẻ
71
kinh nghiệm giữa nhân viên cấp quản lí và các nhân viên khác nhằm xử lý các khủng
hoảng truyền thông một cách hiệu quả nhất.
3.3.3. ch nh sách ưu đ i về l i suất đối với hu vực làng nghề
Lãi suất cho vay đối với làng nghề của Ngân hàng Châu Chi nhánh Bắc Ninh liên quan trực tiếp đến chi phí mà khách hàng tại làng nghề phải bỏ ra để vay vốn. Nó
ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của các khách hàng tại làng nghề. Chính vì thế, họ
thường xem xét mức lãi suất của các ngân hàng, và chọn ngân hàng có mức lãi suất
thấp, có lợi nhất để vay vốn. Để thu hút khách hàng tại làng nghề vay vốn, Chi nhánh cần có chính sách ưu đãi về lãi suất đối với khu vực làng nghề.
Hiện nay, chính sách lãi suất của Chi nhánh vẫn rất cứng nhắc. Chi nhánh vẫn áp
dụng mức lãi suất đối với làng nghề là mức lãi suất chung cho mọi đối tượng.
Ngân hàng Châu Chi nhánh Bắc Ninh nên giảm lãi suất cho các khách hàng tại
làng nghề bằng cách:
Hạ lãi suất theo hạn mức cho vay: Đối với các khoản vay tại làng nghề có giá trị
>=500 triệu, Chi nhánh sẽ giảm 0,25 lãi suất so với mức lãi suất hiện hành.
Hạ lãi suất theo đối tượng cho vay: Đối với các khách hàng là doanh nghiệp, nhu
cầu vay vốn lớn, Chi nhánh sẽ giảm 0,5 lãi suất so với lãi suất hiện hành, hay các hộ
gia đình có quan hệ tín dụng tốt, lâu năm với ngân hàng khi vay <500 triệu thì sẽ được
giảm 0,1 lãi suất so với lãi suất hiện hành.
Đồng thời giảm 0,35% lãi suất so với lãi suất hiện hành với các dự án nằm trong
chương trình, định hướng phát triển của trung ương và địa phương. Ví dụ như các dự
án xử lý môi trường của làng nghề cần được quan tâm xử lý như: nước thải, rác thải ,
các dự án đổi mới máy móc thiết bị công nghệ và các dự án phát triển vùng nguyên
liệu, tạo ra sự ổn định lâu dài cho sự phát triển làng nghề.
Chi nhánh cũng cần tìm hiểu thông tin của các đối thủ cạnh tranh. Đây là việc
quan trọng giúp cho ngân hàng có thể so sánh, đánh giá chính sách lãi suất đối với làng
nghề của mình với các ngân hàng khác. Từ đó đưa ra những quyết định kịp thời và hợp lý, để từng bước thu hút thêm những khách hàng tiềm năng cho ngân hàng.
Việc xây dựng được một chính sách lãi suất linh hoạt, có lợi cho cả khách hàng
và Chi nhánh sẽ giúp Chi nhánh nhanh chóng chiếm lĩnh thị trường cho vay đối với làng nghề.
3.3.4. hát huy tối đa c ng tác marketing đối với hu vực làng nghề
arketing đóng vai trò vô c ng quan trọng trong việc tạo dựng thương hiệu Ngân hàng Châu. Tại Bắc Ninh hiện nay có rất nhiều các ngân hàng thương mại như Vietinbank, Vietcombank, LienViet Post Bank, AgriBank, nên sự cạnh tranh diễn ra
72
rất gay gắt. Chính vì thế, việc chú trọng đẩy mạnh và phát triển công tác marketing đối
với khu vực làng nghề là vô c ng cần thiết nhằm giúp các khách hàng tại làng nghề
biết đến, hiểu rõ hơn về các sản phẩm cho vay đối với làng nghề tại Ngân hàng
Châu Chi nhánh Bắc Ninh. Các giải pháp về marketing đối với làng nghề như sau:
Đầu tiên, Chi nhánh cần tăng cường quảng cáo. Tình hình hiện nay cho thấy,
khách hàng tại làng nghề vẫn chưa nắm được các thông tin về Chi nhánh, các sản
phẩm dịch vụ của Chi nhánh. Chi nhánh cần quảng cáo các sản phẩm cho vay đối với
làng nghề nhiều hơn trên các phương tiện truyền thông đại chúng như báo, đài,.. đặc biệt là tivi và internet. êu cầu về chất lượng của các quảng cáo này là dễ đọc, dễ hiểu,
dễ nhận biết và dễ nhớ. Việc sử dụng video quảng cáo với hình ảnh và nhạc điệu độc
đáo sẽ gây được ấn tượng đối với các khách hàng tại làng nghề, giúp khách hàng ghi
nhớ về ngân hàng c ng sản phẩm cho vay đối với làng nghề của ngân hàng.
Thứ hai, cần tăng cường công tác nghiên cứu thị trường làng nghề. Chi nhánh có
thể thực bằng cách kết hợp với chính quyền địa phương tổ chức các buổi gặp gỡ, nói
chuyện giữa các bộ tín dụng Chi nhánh và người dân tại các làng nghề. Trong buổi nói
chuyện, cán bộ tín dụng sẽ phổ biến về chính sách khuyến khích khách hàng làng nghề
vay vốn của ngân hàng Châu Chi nhánh Bắc Ninh, phổ biến các điều kiện để vay
vốn, thủ tục, quy trình vay, ưu điểm của vốn vay ngân hàng so với các nguồn vay
khác... hông chỉ vậy, cán bộ tín dụng sẽ trực tiếp giải đáp những thắc mắc của người dân tại làng nghề. Bên cạnh đó, cần thiết phải thu thập ý kiến phản hồi của người dân
làng nghề, tạo điều kiện cho họ đưa ra những mong muốn, đề xuất của mình về quy
trình, thủ tục, điều kiện cho vay...cũng như các ý kiến khác. Đây là nguồn thông tin
quan trọng giúp Ngân hàng thiết kế được sản phẩm cho vay phù hợp với mong muốn,
nhu cầu của khách hàng tại làng nghề.
3.3.5. ở rộng mạng lưới hoạt động
Với định hướng quy hoạch phát triển khu thương mại dịch vụ làng nghề đến năm
2030 của UBND tỉnh Bắc Ninh, các làng nghề tại Bắc Ninh sẽ ngày càng phát triển. C ng với việc số lượng làng nghề tại tỉnh vô c ng lớn, có tới 62 làng nghề, nhu cầu vay vốn sẽ rất lớn, cho thấy khu làng nghề là thị trường tiềm năng để Ngân hàng Châu Chi nhánh Bắc Ninh mở rộng hoạt động cho vay của mình. Tuy nhiên, mới chỉ
có 2 Phòng giao dịch tại Tiên Du và Từ Sơn c ng với trụ sở chính Chi nhánh cách xa các làng nghề làm cho khách hàng khó khăn trong việc đi lại, tăng chi phí khi muốn vay vốn của Chi nhánh. Điều này cho thấy, Ngân hàng Châu Chi nhánh Bắc Ninh
chưa phục vụ tốt cho mọi đối tượng là khách hàng tại làng nghề. Để khắc phục điều
này, Chi nhánh mở rộng thêm các phòng giao dịch tại làng nghề, gần làng nghề là điều vô c ng cần thiết.
73
3.3.6. Thực hiện cơ chế bảo đảm tiền vay linh hoạt
Hiện nay, Ngân hàng Châu Chi nhánh Bắc Ninh thường lấy tài sản đảm bảo
làm làm căn cứ để cho khách hàng tại làng nghề vay vốn. Tuy nhiên, nhiều khách hàng
tại làng nghề, d có nhu cầu vay vốn ngân hàng rất lớn, nhưng không có tài sản đảm bào hoặc giá tài sản đảm bảo thấp. Chính vì lẽ đó, Chi nhánh cần thực hiện cơ chế bảo
đảm tiền vay linh hoạt, dựa trên cả giá trị tài sản đảm bảo và tính khả thi của phương
án sản xuất kinh doanh của khách hàng tại làng nghề.
Trước đây, có quy định mức cho vay tối đa không cần tài sản đảm bảo là 30 triệu đồng đối với một số đối tượng đặc biệt theo QĐ 67/Ttg của Thủ tướng Chính phủ,
công văn 320 của NHNN. Sau khi nghị định 178/1999/NĐ-CP ngày 29/12/1999
NHNN đã cho phép các tổ chức tín dụng tự quyết định mức cho vay này. Điều này tạo
thuận lợi cho ngân hàng, đồng thời tạo sự thông thoáng và công bằng hơn với các đối tượng vay vốn. Cho vay không có tài sản đảm bảo được mở rộng cho phép ngân hàng
lựa chọn khách hàng tại làng nghề để cho vay khi không có tài sản đảm bảo nếu khách
hàng đó có đủ điều kiện.
Ngân hàng cần chấm điểm tín dụng và xếp loại khách hàng dựa vào bảng tiêu
chuẩn đánh giá các tiêu chí, bảng các chỉ số tài chính chuẩn để tìm ra những khách
hàng tốt. Đối với các khách hàng tại làng nghề có tư cách đạo đức tốt, Ngân hàng có
thể cho vay không cần tài sản đảm bảo. Đối với những khách hàng tại làng nghề đã có quan hệ tín dụng với Ngân hàng, có uy tín, có khả năng tài chính lành mạnh, có năng
lực quản lý, sản xuất kinh doanh đang ở giai đoạn phát triển, Ngân hàng có thể dựa
vào uy tín của họ để cho vay không có tài sản đảm bảo. Ngân hàng cũng nên mạnh dạn
sử dụng hình thức đảm bảo tiền vay hình thành từ vốn vay hoặc bảo lãnh của bên thứ
ba nếu khách hàng tại làng nghề không có tài sản bảo đảm đối với khách hàng có quan
hệ tín dụng lần đầu, có phương án sản xuất kinh doanh khả thi. Có như vậy mới tạo
điều kiện cho khách hàng ở làng nghề có điều kiện vay vốn và Ngân hàng Á Châu Chi
nhánh Bắc Ninh cũng có điều kiện mở rộng cho vay đối với làng nghề.
3.3.7. hối hợp chặt ch hơn n a với ch nh quyền địa phương
Bất kể một ngân hàng hay một tổ chức kinh tế nào hoạt động ở đâu thì cũng có mối quan hệ với chính quyền địa phương, Ngân hàng Châu Chi nhánh Bắc Ninh
cũng không phải là ngoại lệ. Sự chỉ đạo, quan tâm giũp đỡ của chính quyền địa phương là cơ sở để Chi nhánh nâng cao hiệu quả hoạt động của mình. Do đó, Chi nhánh cần tranh thủ sự giúp đỡ của chính quyền địa phương. Đồng thời cũng cần chú ý
tới các chương trình phát triển kinh tế của tỉnh, các quy định và các chính sách ưu đãi của địa phương trong lĩnh vực ngân hàng để đưa ra quyết định cho vay và huy động vốn hợp lý.
74
Chi nhánh phải tuân thủ theo những quy định về kinh doanh của tỉnh, tránh tình
trạng vi phạm, gây chú ý giám sát của chính quyền. Và khi gặp khó khăn trong quá
trình thẩm định hay thu hồi vốn, Chi nhánh có thể nhờ giúp đỡ của cơ quan có thẩm
quyền trong tỉnh.
3.3.8. ở dịch vụ tư vấn cho hách hàng tại làng nghề
Do trình độ dân trí của khách hàng tại làng nghề thường thấp, những hiểu biết về
hoạt động cho vay của ngân hàng còn thấp. Chính vì vậy, thật cần thiết nếu ngân hàng
mở dịch vụ tư vấn riêng cho các khách hàng tại làng nghề.
Nhiều khi, khách hàng tại làng nghề đến vay vốn còn thiếu một số loại giấy tờ
như chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy phép đăng ký kinh doanh, đăng ký chất lượng
sản phẩm... Trong trường hợp này, Ngân hàng Châu Chi nhánh Bắc Ninh có thể tư
vấn cho khách hàng phải làm gì, đến cơ quan nào để được giải quyết.
Vẫn còn nhiều khách hàng tại làng nghề không biết lập phương án sản xuất kinh
doanh như thế nào. Chi nhánh có thể tư vấn giúp đỡ họ, cho họ mượn những bộ hồ sơ
mẫu, những phương án sản xuất kinh doanh khả thi đã được Chi nhánh lập để tham
khảo. Ngoài ra, các khách hàng tại làng nghề vẫn tự hạch toán sổ sách dẫn đến ghi
chép rất sơ sài, gây khó khăn cho cán bộ tín dụng của Chi nhánh trong công tác thẩm
định. Ngân hàng Châu Chi nhánh Bắc Ninh sẽ hướng dẫn cho khách hàng tại làng
nghề cách hạch toán sao cho chi tiết, dễ hiểu nhất hoặc giới thiệu nhân viên kế toán với khách hàng.
Đối với những khách hàng tại làng nghề có vốn tự có lớn, hoạt động sản xuất
kinh doanh phát triển, có nhu cầu mở rộng sản xuất, Chi nhánh có thể tư vấn cho họ về
thuế, các qui định pháp luật về xuất nhập khẩu, nguồn nguyên liệu, thị hiếu của người
tiêu dùng...
3.3.9. Đa dạng h a phương thức cho vay tại làng nghề
Hiện nay, Chi nhánh mới áp dụng ba phương thức cho vay tại làng nghề là: Cho
vay từng lần, cho vay theo hạn mức tín dụng, cho vay trả góp. Chính vì vậy Chi nhánh cần đa dạng hóa hơn nữa các phương thức cho vay tại làng làng nghề nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu về vốn của khách hàng tại làng nghề. Hơn nữa, việc đa dạng các phương thức cho vay cũng giúp Chi nhánh phân tán rủi ro, mở rộng cho vay tại làng
nghề. Do đó, Chi nhánh cần đưa những phương thức cho vay còn lại áp dụng cho các khách hàng tại làng nghề. Đặc biệt là phương thức cho vay đối với làng nghề thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng. Viêc sử dụng thẻ tín dụng ngày càng
trở nên phổ biến. Phương thức này ph hợp với xu hướng phát triển của xã hội ngày nay, tăng tính cạnh tranh với các ngân hàng khác trên c ng địa bàn. Tuy nhiên, Chi
75
nhánh cần phối hợp chặt chẽ với Ngân hàng Châu để việc phát hành và sử dụng thẻ
được triển khai trong toàn bộ hệ thống Ngân hàng Châu.
3.3.10. ần đảm bảo sự b nh đ ng trong quan hệ cho vay gi a các đối tượng hách
hàng tại làng nghề
Trong thời gian qua, việc Chi nhánh phân biệt đối xử với các khách hàng tại làng
nghề vẫn xảy ra. Chi nhánh tập trung cho vay đối với những khách hàng tại làng nghề
có tài sản thế chấp lớn, đôi khi xem nhẹ có khách hàng có nhu cầu vay vốn nhỏ lẻ.
Do đó, Chi nhánh phải thực hiện việc đối xử bình đẳng đối với đối tượng là khách hàng tại làng nghề. Chi nhánh cần cho vay dựa trên tính hiệu quả của phương án
sản xuất kinh doanh của khách hàng tại làng nghề để nâng cao chất lượng cho vay
đồng thời để mở rộng cho vay tại làng nghề đạt kết quả cao nhất.
3.4. Một số kiến nghị
Thực tế cho thấy, những khó khăn trong hoạt động cho vay đối với làng nghề của
Chi nhánh không chỉ do nguyên nhân có thể kiểm soát được, mà còn do nguyên nhân
không thể kiểm soát được. Chính vì thế, Chi nhánh cần phải kiến nghị lên cấp trên
nhằm giải quyết những khó khăn ấy.
3.4.1. Kiến nghị đối với Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu
Ngân hàng Châu là cơ quan quản lí trực tiếp của Ngân hàng Châu Chi nhánh
Bắc Ninh. ọi chỉ đạo, thay đổi của Ngân hàng Châu cũng sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động của Ngân hàng Châu Chi nhánh Bắc Ninh. Chính vì lẽ đó, Ngân hàng
Châu cũng cần có những thay đổi, điều chỉnh thích hợp như:
Cần có những chính sách ưu đãi lãi suất đối với khu vực làng nghề, điều chỉnh
mức lãi suất linh hoạt, mềm dẻo, ph hợp với từng đối tượng vay vốn là các khách
hàng tại làng nghề nhằm thu hút nhiều khách hàng hơn.
Ngân hàng Châu cần nâng cao công tác kiểm soát và kiểm toán nội bộ ngân
hàng, tiến dần đến tiêu chuẩn quốc tế.
Ban hành những hướng dẫn để thực hiện các chủ trương, chính sách của Chính
phủ và NHNN kịp thời, đảm bảo sự tiếp nhận kịp thời các chủ trương, chính sách ấy.
Ban hành những hướng dẫn thực hiện những quy chế, quy định của ACB. Tuy
nhiên ACB cần thực hiện việc này một cách đồng bộ, ph hợp với thực tế, tránh việc chỉnh sửa, thay đổi quá thường xuyên.
Ngân hàng Á Châu nên đầu tư thêm cho hoạt động marketing ở mỗi Chi nhánh.
Ngân hàng cần hỗ trợ các chi nhánh thành lập nên phòng marketing riêng, nhằm chuyên môn hóa công tác marketing, hoặc tăng nguồn ngân sách cho việc quảng cáo, chăm sóc khách hàng. Việc này có vai trò quan trọng đối với sự mở rộng cho vay đối
76
với làng nghề cũng như các hoạt động chung khác, giúp Chi nhánh chủ động thực hiện
các chiến lược nhằm phát triển sản phẩm cho vay đối với làng nghề, cũng như hoàn
thành tốt các mục tiêu đã đề ra.
Thực hiện đồng bộ hóa công nghệ ngân hàng hiện đại. Việc này sẽ giúp Chi nhánh dễ dàng hơn trong việc tìm kiếm thông tin về khách hàng tại làng nghề, quản lí
hồ sơ vay vốn, tiết kiệm thời gian trong quá trình cho vay đối với làng nghề.
3.4.2. Kiến nghị đối với Ngân hàng Nhà nước
Ngân hàng Nhà nước là cơ quan quản lí cao nhất của hệ thống ngân hàng tại Việt Nam. Để hoạt động tín dụng của các ngân hàng nói chung và hoạt động cho vay đối
với làng nghề tại Ngân hàng Châu Chi nhánh Bắc Ninh nói riêng phát triển hơn thì
NHNN cũng cần có những biện pháp như:
Thứ nhất, NHNN phải tiếp tục rà soát lại các cơ chế, quy định hiện hành về hoạt động của NHTM nói chung và hoạt động cho vay đối với làng nghề nói riêng. Giảm
bớt sự bất hợp lý, tr g lặp, không phù hợp với các văn bản pháp luật của Chính phủ và
các Bộ ngành khác.
Thứ hai, NHNN cần thực hiện các chính sách tiền tệ thận trọng nhằm ổn định
kinh tế vĩ mô, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Thứ ba, tăng cường công tác thanh tra theo hướng giám sát từ xa đối với hoạt
động của các ngân hàng thương mại. Điều này nhằm ngăn chặn tối đa những sai sót có thể xảy ra, và NHNN có thể đưa ra những biện pháp khắc phục vi phạm, điều chỉnh sai
sót kịp thời tạo ra sự bình đẳng trong cạnh tranh, phòng ngừa tổn thất.
Thứ tư, NHNN cần nâng cao chất lượng Trung tâm thông tin tín dụng (C C). Hầu
hết các NHT sử dụng thông tin tín dụng của C C để hỗ trợ cho hoạt động cho vay
của mình. Đây là nguồn thông tin đáng tin cậy, giúp giảm sự không cân xứng về thông
tin giữa người vay và người cho vay. Qua đó, ngân hàng có cơ sở đánh giá rủi ro chính
xác hơn, nâng cao hiệu quả của hoạt động cho vay. Để nâng cao chất lượng thông tin
tín dụng, NHNN cần có những chính sách tuyển dụng, đào tạo những quản trị viên quản lí mạng C C không những giỏi về công nghệ thông tin mà còn có khả năng thu thập, tìm kiếm thông tin. Thanh tra NHNN cũng nên giám sát, kiểm tra việc các NHT cung cấp, báo cáo thông tin đồng thời xử lí kiên quyết đối với trường hợp ngân
hàng cung cấp thông tin còn thiếu, sai lệch.
3.4.3. Kiến nghị đối với Nhà nước và chính quyền địa phương
Nhà nước cần thống nhất trong việc cấp phát giấy tờ chứng minh quyền sử dụng
tài sản, thu gọn các thủ tục đăng kí, công chứng nhằm đảm bảo quyền lợi của khách hàng tại làng nghề và ngân hàng khi cho vay dựa trên tài sản đảm bảo.
77
Các quy chế, chính sách của Nhà nước phải là cơ sở pháp lý, tạo điều kiện thuận
lợi cho hoạt động cho vay của ngân hàng đối với hộ, cơ sở sản xuất kinh doanh tại làng
nghề cũng như với các thành phần kinh tế khác.
U ban nhân dân tỉnh cần xây dựng khung giá nhà đất sát với giá thị trường nhằm bảo vệ quyền lợi của khách hàng tại làng nghề và ngân hàng trong công tác định
giá tài sản khi sử dụng bất động sản làm tài sản đảm bảo nợ vay.
Các cấp chính quyền địa phương cần phối hợp với ngân hàng bằng cách đưa ra
những thông tin chính xác nhất về khách hàng tại làng nghề. Điều này có vai trò vô c ng quan trọng trong công tác thẩm định khách hàng, kiểm tra quá trình thu nợ tại
làng nghề của Ngân hàng Châu Chi nhánh Bắc Ninh. Nó tạo điều kiện cho ngân
hàng có thể thu hồi vốn một cách nhanh chóng, đảm bảo sự phát triển lành mạnh cho
Ngân hàng Á Châu Chi nhánh Bắc Ninh.
3.4.4. Kiến nghị đối với các làng nghề
Người dân tại làng nghề phải tạo điều kiện cho cán bộ Ngân hàng Á Châu Chi
nhánh Bắc Ninh trong quá trình định giá tài sản, thẩm định phương án sản xuất kinh
doanh để đưa ra quyết định cho vay đối với làng nghề.
Cần nâng cao trình độ văn hóa của người dân tại làng nghề nhằm nâng cao nhận
thức của họ về quan hệ tín dụng ngân hàng, đồng thời nâng cao trình độ quản lý của họ
để họ có thể sử dụng nguồn vốn vay ngân hàng hiệu quả, thúc đẩy sự phát triển của làng nghề, tránh gây tổn thất cho Chi nhánh.
ẾT LUẬN CHƢƠNG 3
Từ những cơ sở lý luận về mở rộng cho vay đối với làng nghề tại ngân hàng
thương mại trong chương 1, và thực trạng mở rộng cho vay đối với làng nghề, những
hạn chế và nguyên nhân gây nên hạn chế đã phân tích đánh giá ở chương 2; khóa luận
khẳng định sự cần thiết phải mở rộng cho vay đối với làng nghề tại Ngân hàng Châu
Chi nhánh Bắc Ninh. Thực hiện được điều này, trước hết đòi hỏi phải có định hướng
về mở rộng cho vay đối với làng nghề tại Ngân hàng Châu Chi nhánh Bắc Ninh.
Sau khi đã xác định những định hướng về mở rộng cho vay đối với làng nghề, khóa luận đã đưa ra giải pháp và các kiến nghị nhằm mở rộng cho vay phát triển làng
nghề đối với Ngân hàng Châu Chi nhánh Bắc Ninh.
78
ẾT LUẬN
Phát triển làng nghề ở nông thôn có vai trò vô c ng quan trọng. Nó là biện pháp
nhằm giải quyết việc làm tại chỗ cho lao động dư thừa, nâng cao mức sống của người
dân làng nghề. hông chỉ vậy, phát triển làng nghề là điều kiện thuận lợi để thực hiện
chương trình “xóa đói giảm nghèo , giảm dần cách biệt giữa nông thôn và thành thị.
ặc d Ngân hàng Châu Chi nhánh Bắc Ninh đã nhận thấy tiềm năng phát
triển của hoạt động cho vay đối với các làng nghề và cũng đã có những chủ trương
nhằm mở rộng cho vay đối với thị trường này và đã đạt được một số kết quả. Thế
nhưng hoạt động cho vay đối với làng nghề của Ngân hàng Châu Chi nhánh Bắc Ninh vẫn còn nhiều hạn chế.
Trong phạm vi khóa luận, em đã đưa ra một số giải pháp nhằm mở rộng cho vay
đối với làng nghề. Tuy nhiên những giải pháp đó vẫn chỉ là trên lý thuyết. Để đánh giá
mức độ ứng dụng vào thực tế của những giải pháp này thì Ngân hàng Á Châu Chi
nhánh Bắc Ninh phải lên kế hoạch, triển khai chi tiết các việc cần làm, hay áp dụng
thử để đánh giá kết quả. Điều quan trọng hơn cả là Ngân hàng phải được phép gỡ bỏ
một số qui tắc cứng nhắc, chủ động áp dụng linh hoạt những quy định chung của Ngân
hàng Châu sao cho ph hợp hơn với khu vực kinh tế đặc biệt này.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, NXB
Chính trị quốc gia, Hà Nội 2001, tr 92.
2. Đặng Kim Chi (2005), Làng nghề Việt Nam và môi trường, Nhà xuất bản Khoa
học Kỹ thuật.
3. Dương Bá Phượng (2001), Bảo tồn và phát triển các làng nghề trong quá trình
công nghiệp hóa, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, trang 16.
4. Lê uân Nghĩa (2001), Ngân hàng thương mại, Nhà xuất bản Tài chính.
5. Lê Xuân Tâm, Nguyễn Tất Thắng (2013), Phát triển làng nghề tỉnh Bắc Ninh trong bối cảnh xây dựng nông thôn mới, Tạp chí Khoa học và Phát triển, tập 11,
số 8: 1214-1222
6. Mai Thế Hởn – Hoàng Ngọc Hòa – Vũ Văn Phúc (2003), Phát triển làng nghề truyền thống trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Nhà xuất bản Chính
trị quốc gia, Hà Nội, trang 13.
7. ai Văn Bạn (2011), Nghiệp vụ ngân hàng thương mại, Nhà xuất bản Tài chính.
8. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (1998), Luật ngân hàng Nhà nước, Nhà xuất bản
Chính trị Quốc gia.
9. Nguyễn Minh Kiều (2009), Nghiệp vụ ngân hàng thương mại, Nhà xuất bản
Thống Kê.
10. Nguyễn Minh Kiều (2011), Tiền tệ và ngân hàng, Nhà xuất bản Lao động xã
hội.
11. Nguyễn Thị Thu Hường (2013), Chính sách vốn và đầu tư đối với làng nghề thủ
công mỹ nghệ, Tạp chí Tài chính, số tháng 12.
12. Hải Ngọc (2011), Hơn 11 triệu lao động có việc làm từ ngành nghề nông thôn,
www.arid.gov.vn,
13. Hương Loan (2009), ới có hơn 10 doanh nghiệp làng nghề được vay vốn
kích cầu, www.vneconomy.vn
14. Huyền Trang (2014), Tín hiệu vui từ làng nghề mộc Phú Hà,
www.phutho.gov.vn
15. Quang Luân (2013), Chung tay đẩy lùi ô nhiễm làng nghề,
www.hoinongdan.org.vn
16. Trần Cao Cương (2009), Mở rộng thị trường mới cho làng
nghề,www.nhandan.com.vn

