
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ NGOẠI THƯƠNG
CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ NGOẠI THƯƠNG
-------***-------
KHÓA LUẬN TỐT
NGHIỆP
Đề tài:
QUAN HỆ KINH TẾ- THƯƠNG MẠI VIỆT NAM-
NHẬT BẢN TRONG BỐI CẢNH QUỐC TẾ MỚI
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
Giáo viên hướng dẫn : TS. BÙI NGỌC SƠN
Sinh viên thực hiện : NGUYỄN THỊ THU TRANG
Lớp : A9 - K41C - KTNT
HÀ NỘI - 2006

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ NGOẠI THƯƠNG
-------***-------
KHÓA LUẬN TỐT
NGHIỆP
Đề tài:
QUAN HỆ KINH TẾ- THƯƠNG MẠI VIỆT NAM-
NHẬT BẢN TRONG BỐI CẢNH QUỐC TẾ MỚI:
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
Giáo viên hướng dẫn : TS. BÙI NGỌC SƠN
Sinh viên thực hiện : NGUYỄN THỊ THU TRANG
Lớp : A9 - K41C - KTNT
HÀ NỘI - 2006

Khoá luận tốt nghiệp
LỜI NÓI ĐẦU
Ngược dòng lịch sử chúng ta có thể thấy Việt Nam và Nhật Bản vốn đã
có quan hệ thương mại từ hàng trăm năm nay. Ngay từ thế kỷ 16 đã có nhiều
thương gia Nhật Bản đến kinh doanh ở Việt Nam. Sử sách nói rằng, lúc đông
nhất có tới hơn 600 thương nhân người Nhật định cư tại Việt Nam và hình
thành nên “ Khu phố Nhật Bản”, xây cầu Nhật Bản tại Hội An. Gần năm thế kỷ
qua đi, trải qua nhiều cuộc chiến tranh quan hệ hai nước cũng đã có nhiều biến
động thăng trầm. Kể từ khi quan hệ ngoại giao Việt Nam - Nhật Bản chính thức
được thiết lập vào tháng 9/1973, quan hệ thương mại giữa hai nước có điều kiện
phát triển. Đặc biệt kể từ khi Việt Nam thực hiện chính sách đổi mới, mở cửa
thị trường trong nước, phát triển kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ
nghĩa( năm 1986) thì quan hệ thương mại đã được mở rộng sang lĩnh vực đầu
tư. Đến năm 1991, Nhật Bản nối lại viện trợ cho Việt Nam đánh dấu một bước
tiến quan trọng trong quan hệ kinh tế- thương mại giữa hai nước.
Công cuộc đổi mới của Việt Nam với các chính sách phát triển kinh tế
đối ngoại năng động, phù hợp với xu thế phát triển thời đại và lợi ích của cả hai
bên Việt Nam - Nhật Bản cộng với một môi trường quốc tế thuận lợi là những
nhân tố căn bản nhất, quan trọng nhất thúc đẩy quan hệ kinh tế- thương mại
giữa hai nước phát triển ngày càng mạnh mẽ, sôi động và đi vào thế ổn định
hơn. Hiện nay Nhật Bản đang là đối tác thương mại lớn thứ hai của Việt Nam
sau Mỹ với tổng kim ngạch xuất nhập khẩu năm 2005 đạt 8.504 triệu USD, là
nhà cung cấp ODA lớn nhất của Việt Nam với lượng viện trợ cam kết tính đến
năm 2005 đạt 11 tỷ USD, chiếm 30% tổng khối lượng ODA mà cộng đồng quốc
tế dành cho Việt Nam. Bên cạnh đó Nhật còn đóng vai trò là nhà đầu tư FDI lớn
thứ ba của Việt Nam sau Singapore và Đài Loan với tổng số vốn đầu tư đăng ký
tính đến tháng 8/2006 đạt 6,8tỷ USD nhưng lại đứng đầu với số vốn thực hiện:
4,7 tỷ USD. Hiện tại Việt Nam đang đón chờ làn sóng đầu tư lớn thứ hai từ
Nhật Bản. Lần này là từ các công ty vừa và nhỏ hoạt động trong lĩnh vực lắp
ráp, sản xuất thiết bị, các công ty phụ trợ cho các tập đoàn lớn vốn đã kinh
doanh thành công tại Việt Nam trong thời gian qua. Chuyến thăm chính thức

Khoá luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Thu Trang- A9- K41 C
2
của Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng sang Nhật Bản từ ngày 18-22/10/2006 vừa
qua đã nâng mối quan hệ giữa hai nước vốn đã tốt đẹp hiện nay lên một tầm cao
mới. Với việc là vị nguyên thủ quốc gia đầu tiên mà tân Thủ tướng Nhật ông
Shinzo Abe tiếp đón tại xứ sở hoa anh đào, là vị Thủ tướng duy nhất của năm
được mời đến chào Nhật Hoàng Akihito, là vị Thủ tướng Việt Nam đầu tiên
phát biểu trước Quốc hội Nhật Bản đã cho thấy mối quan tâm đặc biệt của Nhật
Bản trong quan hệ với Việt Nam nói chung và trong quan hệ kinh tế - thương
mại nói riêng.
Trước bối cảnh gia tăng xu thế toàn cầu hoá; nền kinh tế công nghiệp
hiện đại đã vào giai đoạn chín muồi để nhường chỗ cho một nền kinh tế mới-
nền kinh tế tri thức; tiến trình liên kết khu vực đang diễn ra mạnh mẽ tại các
nước Đông á với sự xuất hiện của các liên kết song phương, liên kết đa phương
với vai trò trung tâm của ASEAN, sự lớn mạnh nhanh chóng của Trung Quốc
trên tất cả lĩnh vực kinh tế, chính trị, khoa học kỹ thuật đang đe doạ vị trí dẫn
đầu trong mô hình “đàn sếu bay” của Nhật; tương lai thành công của khu vực
mậu dịch tự do ASEAN ( AFTA) thì quan hệ kinh tế - thương mại giữa hai
nước không tránh khỏi những ảnh hưởng nhất định. Đây cũng chính là lý do em
lựa chọn đề tài “ Quan hệ kinh tế- thương mại Việt Nam - Nhật Bản trong bối
cảnh quốc tế mới: thực trạng và giải pháp” làm đề tài cho Khoá luận tốt nghiệp
của mình.
Mục đích nghiên cứu của khoá luận là vận dụng những kiến thức đã
tích luỹ được để phân tích thực trạng quan hệ kinh tế-thương mại Việt Nam-
Nhật Bản trong thời gian qua để từ đó đề xuất các giải pháp nhằm thúc đẩy mối
quan hệ đó trong bối cảnh kinh tế, chính trị đầy biến động.
Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của khoá luận chủ yếu là quan hệ
thương mại, đầu tư trực tiếp và ODA của Nhật Bản dành cho Việt Nam trong
những năm qua.
Phƣơng pháp nghiên cứu: Khoá luận được xây dựng bằng việc sử
dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu trong đó chủ yếu là phương pháp
duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, quan điểm của nhà nước về thương mại,

Khoá luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Thu Trang- A9- K41 C
3
đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam & quy chế tiếp nhận, quản lý và sử
dụng ODA. Bên cạnh đó người viết còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu
tổng hợp như: phân tích tổng hợp, thống kê, so sánh.
Kết cấu của khoá luận:
Khoá luận bao gồm 3 chương chính
Chương I: Sự cần thiết khách quan của việc thúc đẩy quan hệ kinh tế -
thương mại Việt Nam - Nhật Bản trong bối cảnh quốc tế mới
Chương II : Thực trạng quan hệ kinh tế - thương mại Việt Nam - Nhật
Bản trong những năm qua
Chương III: Giải pháp thúc đẩy quan hệ kinh tế - thương mại Việt Nam -
Nhật Bản trong những năm tới
Em hy vọng bài khoá luận này sẽ góp phần đưa ra cái nhìn tổng quan về
quan hệ Việt Nam- Nhật Bản trên các khía cạnh thương mại, đầu tư trực tiếp và
ODA, chỉ ra chính xác các nguyên nhân dẫn tới những biến động đồng thời
phần nào đề xuất được những giải pháp phù hợp góp phần thúc đẩy quan hệ
kinh tế giữa hai nước. Là một sinh viên sắp tốt nghiệp, em rất mong rằng bài
khoá luận này sẽ là công trình nghiên cứu giúp em hoàn thành tốt chương trình
đào tạo của trường Đại học Ngoại thương.
Trong quá trình thực hiện đề tài này, em đã nhận được sự hướng dẫn và
chỉ bảo tận tình của Thầy giáo TS. Bùi Ngọc Sơn, cùng sự giúp đỡ quý báu của
các Cán bộ của Trung tâm thông tin Bộ Thương Mại và Viện Nghiên Cứu Nhật
Bản và Đông Bắc á. Em xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn đến Thầy giáo, và
các cá nhân, tổ chức, những người đã giúp em hoàn thành bài khóa luận này.
Sinh viên
Nguyễn Thị Thu Trang

