intTypePromotion=1
ADSENSE

Khoá luận tốt nghiệp Đại học: Thực hiện quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc đàn gà thịt Mía x Lương phượng tại trại ông Mai Văn Quy liên kết với tập đoàn Đức Hạnh BMG

Chia sẻ: _ _ | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:56

18
lượt xem
0
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Mục đích nghiên cứu của khoá luận này là thực hiện quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc đàn gà thịt. Thực hiện quy trình phòng và trị bệnh trên đàn gà thịt. Thực tế chăn nuôi cho thấy, gà là một vật nuôi rất mẫn cảm với bệnh truyền nhiễm như: H5N1, Newcastle, CRD… Những bệnh này có ảnh hưởng rất lớn tới số lượng và chất lượng đàn gà. Mời các bạn cùng tham khảo!

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Khoá luận tốt nghiệp Đại học: Thực hiện quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc đàn gà thịt Mía x Lương phượng tại trại ông Mai Văn Quy liên kết với tập đoàn Đức Hạnh BMG

  1. ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM PHẠM VĂN SỸ Chuyên đề: THỰC HIỆN QUY TRÌNH NUÔI DƯỠNG, CHĂM SÓC ĐÀN GÀ THỊT MÍA X LƯƠNG PHƯỢNG TẠI TRẠI ÔNG MAI VĂN QUY LIÊN KẾT VỚI TẬP ĐOÀN ĐỨC HẠNH BMG KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y Khoa: Chăn nuôi Thú y Khóa học: 2014 - 2018 Thái Nguyên - năm 2018
  2. ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM PHẠM VĂN SỸ Chuyên đề: THỰC HIỆN QUY TRÌNH NUÔI DƯỠNG, CHĂM SÓC ĐÀN GÀ THỊT MÍA X LƯƠNG PHƯỢNG TẠI TRẠI ÔNG MAI VĂN QUY LIÊN KẾT VỚI TẬP ĐOÀN ĐỨC HẠNH BMG KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y Lớp: TY46 - N02 Khoa: Chăn nuôi Thú y Khóa học: 2014 - 2018 Giảng viên hướng dẫn: PGS.TS. Từ Trung Kiên Thái Nguyên - năm 2018
  3. i LỜI CẢM ƠN Được sự phân công của quý thầy cô khoa Chăn nuôi Thú y, Trường Đại học Nông Lâm, sau sáu tháng thực tập em đã hoàn thành Khóa luận tốt nghiệp Để hoàn thành nhiệm vụ được giao, ngoài sự nỗ lực học hỏi của bản thân còn có sự hướng dẫn tận tình của cô, chú chủ trại trong trại và Ban lãnh đạo Công ty, đặc biệt là các thầy giáo, cô giáo khoa Chăn nuôi Thú y Em chân thành cảm ơn thầy giáo PGS.TS. Từ Trung Kiên người đã hướng dẫn cho em trong suốt thời gian thực tập, thầy đã chỉ dẫn em, định hướng cho em, để em hoàn thành tốt nhiệm vụ. Một lần nữa em chân thành cảm ơn thầy và chúc thầy dồi dào sức khoẻ. Xin cảm ơn tất cả các bạn bè đã đồng hành cùng em trong suốt thời gian qua. Cảm ơn bố, mẹ, anh, chị đã luôn sát cánh, hỗ trợ con trong những lúc khó khăn nhất Em xin chân thành cảm ơn. Thái Nguyên, ngày…....tháng…...năm 2018 Sinh viên Phạm Văn Sỹ
  4. ii DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT Từ viết tắt Ý nghĩa Cs Cộng sự FCR Hệ số chuyển hóa thức ăn G- Gram (-) G+ Gram (+) ME Năng lượng trao đổi MG Mycoplasma MS Mycoplasma synoviae Nxb Nhà xuất bản P Thể trọng
  5. iii DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng 4.1. Cách chọn gà con ............................................................................ 30 Bảng 4.2. Chương trình sử dụng vaccine ........................................................ 32 Bảng 4.3. Kết quả thực hiện công tác phòng vaccine cho gà tại cơ sở........... 32 Bảng 4.4. Lịch dùng thuốc tăng sức đề kháng ................................................ 33 Bảng 4.5. Chế độ dinh dưỡng cho gà từ 1 ngày tuổi đến xuất bán ................. 35 Bảng 4.6. Thời gian và cường độ chiếu sáng .................................................. 36 Bảng 4.7. Tổng hợp kết quả công tác chăm sóc, nuôi dưỡng ......................... 37 Bảng 4.8. Tỷ lệ nuôi sống của gà khảo nghiệm qua các tuần tuổi.................. 38 Bảng 4.9. Sinh trưởng tích lũy của gà khảo nghiệm ....................................... 39 Bảng 4.10. Khả năng chuyển hoá và sử dụng thức ăn .................................... 40 Bảng 4.11. Tình hình nhiễm bệnh trên đàn gà ................................................ 41 Bảng 4.12. Kết quả điều trị bệnh .................................................................... 42
  6. iv MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN .................................................................................................... i DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT ............................................................................ ii DANH MỤC CÁC BẢNG............................................................................... iii MỤC LỤC ........................................................................................................ iv Phần 1. MỞ ĐẦU ............................................................................................ 1 1.1. Đặt vấn đề ............................................................................................... 1 1.2. Mục đích và yêu cầu của chuyên đề ....................................................... 2 1.2.1. Mục đích của chuyên đề ................................................................... 2 1.2.2. Yêu cầu của chuyên đề ..................................................................... 2 Phần 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU ................................................................. 3 2.1. Điều kiện cơ sở nơi thực tập ................................................................... 3 2.1.1. Điều kiện tự nhiên............................................................................. 3 2.1.2. Địa hình đất đai ................................................................................. 3 2.1.3. Đặc điểm khí hậu thời tiết................................................................. 3 2.1.4. Giao thông thủy lợi ........................................................................... 4 2.1.5. Điều kiện kinh tế xã hội .................................................................... 4 2.2. Tổng quan và các nghiên cứu trong và ngoài nước ................................ 5 2.2.1. Cơ sở khoa học ................................................................................. 5 2.2.2. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước..................................... 22 Phần 3. ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH.......27 3.1. Đối tượng tiến hành .............................................................................. 27 3.2. Địa điểm và thời gian tiến hành ............................................................ 27 3.3. Nội dung tiến hành ................................................................................ 27 3.4. Phương pháp tiến hành và các chỉ tiêu theo dõi ................................... 27 3.4.1. Phương pháp theo dõi, thu thập thông tin....................................... 27
  7. v 3.4.2. Các chỉ tiêu theo dõi ....................................................................... 28 3.4.3. Phương pháp xử lý số liệu .............................................................. 28 Phần 4. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN......................................................... 29 4.1. Kết quả công tác nuôi dưỡng và chăm sóc ........................................... 29 4.1.1. Công tác vệ sinh và phòng bệnh ..................................................... 29 4.1.2. Nuôi dưỡng và chăm sóc ................................................................ 34 4.2. Kết quả chẩn đoán và điều trị một số bệnh trên đàn gà tại trại ............ 41 4.2.1. Tình hình mắc bệnh trên đàn gà thịt ............................................... 41 4.2.2. Hiệu quả điều trị bệnh trên gà thịt .................................................. 42 4.3. Công tác khác ........................................................................................ 42 Phần 5. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ ............................................................. 44 5.1. Kết luận ................................................................................................. 44 5.2. Đề nghị .................................................................................................. 44 TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 45 MỘT SỐ HÌNH ẢNH CHO CHUYÊN ĐỀ
  8. 1 Phần 1 MỞ ĐẦU 1.1. Đặt vấn đề Trong những năm gần đây, ngành chăn nuôi có xu hướng phát triển mạnh mẽ, đặc biệt là ngành chăn nuôi gia cầm đang giữ một vai trò quan trọng trong việc cung cấp các sản phẩm có giá trị như: Thịt, trứng,...cho nhu cầu của xã hội, cùng với sự phát triển của nền kinh tế, đời sống xã hội ngày càng cao, nhu cầu thực phẩm đòi hỏi lớn hơn, ngon hơn. Do đó đã thúc đẩy chăn nuôi nói chung và ngành chăn nuôi gia cầm nói riêng phát triển đạt năng suất cao, sản lượng lớn, đáp ứng nhu cầu thực phẩm tiêu dùng. Trong những năm gần đây, ngành chăn nuôi nước ta đã có những bước phát triển đáng kể cả về số lượng cũng như chất lượng, đặc biệt là chăn nuôi gia cầm do nhu cầu thực phẩm ngày càng tăng cao. Theo số liệu điều tra chăn nuôi của tổng cục Thống kê Việt Nam năm 2017 có hơn 295 triệu con, tăng 6,5% so với năm 2016. Trong đó đàn gà thịt có mức tăng tốt hơn so với gà lấy trứng (mức tăng của gà lấy thịt là 6,9%, còn lại là gà lấy trứng 5,0%). Xét về thị phần, gà lấy thịt hiện đang chiếm 77,5% tổng đàn gà trên cả nước. Nước ta nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm quanh năm là điều kiện phát triển tốt cho các mầm bệnh. Gia cầm nói chung và gà nói riêng là loài vật nuôi mẫn cảm, đặc biệt là các bệnh truyền nhiễm. Thực tế chăn nuôi cho thấy, gà là một vật nuôi rất mẫn cảm với bệnh truyền nhiễm như: H5N1, Newcastle, CRD… Những bệnh này có ảnh hưởng rất lớn tới số lượng và chất lượng đàn gà. Từ đó gây thiệt hại nghiêm trọng đến kinh tế và sự phát triển của chăn nuôi gà, đặc biệt là chăn nuôi gà công nghiệp. Trên cơ sở đó, được sự phân công của khoa Chăn nuôi Thú y, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên cùng với sự giúp đỡ của giáo viên hướng dẫn và cơ sở nơi thực tập, em tiến hành thực hiện chuyên đề:
  9. 2 "Thực hiện quy trình chăm sóc và nuôi dưỡng đàn gà thịt Mía x Lương Phượng tại trại ông Mai Văn Quy liên kết với Tập đoàn Đức Hạnh BMG”. 1.2. Mục đích và yêu cầu của chuyên đề 1.2.1. Mục đích của chuyên đề - Thực hiện quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc đàn gà thịt. - Thực hiện quy trình phòng và trị bệnh trên đàn gà thịt 1.2.2. Yêu cầu của chuyên đề - Thực hiện được quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc đàn gà thịt. - Thực hiện được quy trình phòng và trị bệnh trên đàn gà thịt
  10. 3 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1. Điều kiện cơ sở nơi thực tập 2.1.1. Điều kiện tự nhiên Xã Tân Cương là một trong những đơn vị hành chính của tỉnh Thái Nguyên Phía bắc giáp với huyện Đại Từ Phía nam giáp với huyện Đại Từ Phía đông giáp với thành phố Thái Nguyên Phía tây giáp với huyện Đại Từ Trại gà ông Mai Văn Quy thuộc xóm Soi Vàng nằm ở phía Nam xã Tân Cương thuộc thành phố Thái Nguyên, cách trung tâm xã 2 km. 2.1.2. Địa hình đất đai Toàn bộ diện tích đất tự nhiên của trại rộng tới 10.000 m2 trong đó: - Diện tích đất trồng cây: 5.000 m2 - Diện tích đất xây dựng: 5000 m2 trong đó: + Diện tích nhà ở: 300 m2 + Diện tích chuồng trại: 3000 m2 + Kho + Công trình phụ 2.1.3. Đặc điểm khí hậu thời tiết Xóm Soi Vàng, xã Tân Cương nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa. Mùa mưa nhiều kéo dài từ tháng 4 đến tháng 9: nhiệt độ trung bình (210C - 290C), ẩm độ (81 - 86%). Tháng 7 là tháng nóng nhất (28,50C), tháng 1 lạnh nhất (13,50C). Tổng số giờ nắng trong năm là 1628 giờ, năng lượng bức xạ đạt 115 Kcal/cm2. Mùa khô từ tháng 10 năm trước đến tháng 3 năm sau: nhiệt độ trung bình (13,50C - 24,80C). Với điều kiện khí hậu như vậy, nhìn chung thuận lợi
  11. 4 cho phát triển nông nghiệp cả về trồng trọt và chăn nuôi. Tuy nhiên, vẫn có những giai đoạn khí hậu thay đổi thất thường như hạn hán, lũ lụt trong vùng, mùa hè có ngày nhiệt độ rất cao (38 - 390C), mùa đông có ngày nhiệt độ cũng rất thấp (60C) nên ảnh hưởng xấu đến chăn nuôi cũng như trồng trọt. 2.1.4. Giao thông thủy lợi Xóm Soi Vàng nằm ở phía Nam xã Tân Cương, cách trung tâm xã 2km, cách trung tâm thành phố 9 km, đường vào xã đã được dải nhựa hoàn toàn. Đường thôn xóm đều đã được bê tông hóa. Với hệ thống giao thông như vậy rất thuận lợi cho việc trao đổi vận chuyển hàng hóa, tiêu thụ sản phẩm… 2.1.5. Điều kiện kinh tế xã hội 2.1.5.1. Tình hình dân cư, văn hóa - xã hội Xóm Soi Vàng đóng trên địa bàn xã Tân Cương, đây là một xã sản xuất nông nghiệp thuộc thành phố Thái Nguyên, cho nên dân cư xung quanh trại chủ yếu là nông dân, sống định cư bằng nghề nông nghiệp với loại cây trồng chủ yếu là chè đã có thương hiệu và đã được công nhận. Ngành tiểu thủ công nghiệp cũng khá phát triển. Nhìn chung tình hình dân trí xung quanh trại khá cao, người dân đoàn kết đây cũng là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của trại. 2.1.5.2. Điều kiện của cơ sở vật chất của trại Với sự đầu tư cơ sở vật chất hiện đại phục vụ cho quá trình sản xuất nhằm nâng cao hiệu quả và giảm công sức lao động trang trại đã có những đầu tư về cơ sở vật chất như sau: Trang trại được xây mới và hoạt động từ tháng 12 năm 2012. Trại được thiết kế xa khu dân cư, có hàng rào bao quanh. Được trang bị máng ăn, hệ thống nước uống tự động, nền trại bê tông được lợp bằng ngói Fibro xi măng. Có 1 kho thức ăn, 2 máy phát điện, mỗi chuồng 4 quạt thông gió và có 3 lò sưởi hơi.
  12. 5 Hệ thống nước cung cấp cho chăn nuôi và sinh hoạt được sử dụng bằng nước giếng khoan và có các bể chứa khử nước. Hệ thống điện trại sử dụng dòng điện 3 pha và được lắp thiết bị cảnh báo mất điện. Sân trại được bê tông hóa và trang trại được lắp chuông báo dộng theo dõi. 2.1.5.3. Cơ cấu tổ chức của trại Cơ cấu của trại tổ chức như sau: - Diện tích chuồng trại là 3000 m2 (chia 2 khu). - Gồm 3 dãy chuồng, mỗi chuồng nuôi khoảng 3.000 con. - Chuồng 1 có chiều dài 35 m, chiều rộng 20 m, chuồng 2 dài 40 m, rộng 30 m và chuồng 3 có chiều dài 40 m, chiều rộng 28 m. - Hệ thống bảo vệ xung quanh được xây tường rào bao quanh và lắp chuông báo động. - Đội ngũ cán bộ, quản lý, kĩ thuật, công nhân gồm: 01 chủ trang trại 01 kĩ sư 02 công nhân 01 sinh viên thực tập - Trong quá trình thực tập tại cơ sở, trại tạo điều kiện cho chỗ ở và sinh hoạt theo gia đình chủ trại. 2.2. Tổng quan và các nghiên cứu trong và ngoài nước 2.2.1. Cơ sở khoa học 2.2.1.1. Đặc điểm sinh lý tiêu hóa ở gà Gia cầm có tốc độ trao đổi chất và năng lượng cao hơn so với động vật có vú. Cường độ tiêu hoá mạnh ở gia cầm được xác định bằng tốc độ di chuyển của thức ăn qua ống tiêu hoá. Ở gà còn non, tốc độ này là 30 - 39 cm trong 1 giờ, ở gà lớn hơn là 32 – 40 cm và ở gà trưởng thành là 40 – 42 cm. Chiều dài của ống tiêu hoá gia cầm không lớn, thời gian mà khối thức ăn
  13. 6 được giữ lại trong đó không vượt quá 2 - 4 giờ, ngắn hơn rất nhiều so với động vật khác. Do đó để quá trình tiêu hoá thức ăn diễn ra thuận lợi và có hiệu quả cao, thức ăn cần phải phù hợp về với tuổi và trạng thái sinh lý, được chế biến thích hợp, đồng thời có hàm lượng xơ ở mức ít nhất (Hội Chăn nuôi Việt Nam, 2001 [3]). Tiêu hóa ở miệng Gia cầm không có môi và răng, hàm ở dạng mỏ, chỉ có tác dụng lấy thức ăn, chứ không có tác dụng nghiền nhỏ. Vịt, ngỗng có các răng ngang ở mép nhỏ chứa nhiều tận cùng dây thần kinh lâm ba, có tác dụng cảm giác. Khi thức ăn đi qua khoang miệng thì được thấm ướt bởi nước bọt, các tuyến nước bọt của gia cầm kém phát triển, thành phần chủ yếu của nước bọt là dịch nhầy. Trong nước bọt có chứa một số ít men amilaza nên có ít tác dụng tiêu hóa. Động tác nuốt ở gia cầm được thực hiện nhờ chuyển động rất nhanh của lưỡi, khi đó thức ăn được chuyển rất nhanh vào vùng trên của hầu vào thực quản. Trong thành thực quản có các tuyến nhầy hình ống, tiết ra chất nhầy, cũng có tác dụng làm ướt và trơn thức ăn khi nuốt. Tiêu hóa ở diều Diều là là bộ phận phình to của thực quản, nằm tiếp giáp giữa ngực và cổ, ở dưới da mặt trước cổ. Diều gà rất phát triển hình thành một túi chứa thức ăn, diều vịt và ngỗng kém phát triển, chỉ là phần phình to của thực quản. Diều không có tuyến tiết dịch tiêu hoá, nó chỉ có tác dụng dự trữ, thấm ướt và làm mềm thức ăn nhờ niêm dịch. Tuy vậy, thức ăn trong diều vẫn được tiêu hoá một phần nhờ men amylaza của nước bọt xuống và hoạt động của vi sinh vật, mặc dù không đáng kể. Khi gia cầm ăn, một phần thức ăn dừng lại ở diều, phần khác thì đi thẳng xuống dạ dày. Thời gian thức ăn dừng lại ở diều khoảng 3 - 4 giờ đến 16 - 18 giờ. Diều co bóp đẩy thức ăn xuống dạ dày nhưng khi dạ dày đầy thức ăn thì diều ngừng co bóp.
  14. 7 Hoạt động của diều do dây thần kinh mê tẩu chi phối, nếu cắt bỏ dây mê tẩu hai bên cổ làm co bóp của diều dừng lại. Gà bị cắt diều sẽ mất tính thèm ăn, tỷ lệ tiêu hoá thức ăn giảm rõ rệt. Tiêu hóa ở dạ dày tuyến Dạ dày tuyến giống như cái bao túi, gồm 3 lớp: màng nhầy, màng cơ, màng thanh dịch. Màng nhầy rất phát triển. Ở đây các tuyến tiết ra pepsin và axit muối. Vì vậy tiêu hóa ở dạ dày tuyến có phản ứng axit, độ pH 3,1 – 4,5. Dịch dạ dày được tiết vào trong khoang của dạ dày tuyến, có axit clohydric, enzim và musin. Cũng như ở động vật có vú, pepsin được tiết ra ở dạng không hoạt động - pepsinogen và được hoạt hoá bởi axit clohydric. Các tế bào hình ống của biểu mô màng nhầy bài tiết ra một chất nhầy đặc rất giàu musin, chất này phủ lên bề mặt niêm mạc của dạ dày. Sự tiết dịch dạ dày ở gia cầm là liên tục, sau khi ăn thì tốc độ tiết tăng lên. Dạ dày tuyến có dung tích nhỏ, nhưng thành của nó dày. Trong thành niêm mạc dạ dày tuyến có tuyến dịch vị (khoảng 30 - 40 tuyến). Dịch vị do tuyến tiết ra chứa men pepxin và axit chlohydric (HCl), độ pH là 3,1 - 4,5). Lượng dịch vị tiết ra sau 30 phút của gà là 11,3 ml, nhiều nhất là một giờ sau khi ăn. Nếu cho thức ăn giàu protein thì dịch vị tiết ra nhiều hơn so với cho ăn thức ăn thực vật. Trong khẩu phần chứa 15 - 20% protein tiêu hoá thì dịch vị tiết ra nhiều nhất. Nếu lượng protein tăng lên quá mức thì quá trình tiết dịch giảm xuống. Khi gia cầm ở giai đoạn đẻ trứng với cường độ cao thì dịch vị tiết ra nhiều, còn khi thay lông thì ngược lại. Thức ăn chỉ ở lại dạ dày tuyến một thời gian ngắn nên không được tiêu hoá ở đây. Dịch vị do dạ dày tuyến tiết ra sẽ theo thức ăn xuống dạ dày cơ. Tiêu hoá ở dạ dày cơ Dạ dày cơ là cơ quan tiêu hoá phát triển nhất của gia cầm. Nó có hình tròn, dẹt như hai chiếc đĩa nhỏ úp vào nhau, do lớp cơ dày rắn tạo thành. Nó có thể xem như hạ vị của dạ dày loài có vú và có chức năng đặc biệt.
  15. 8 Lớp trong niêm mạc dạ dày cơ có nhiều tuyến nhỏ. Chúng tiết ra chất keo dính phủ lên lớp biểu bì niêm mạc của dạ dày cơ một lớp màng sừng dai cứng gọi là mô sừng (cutin), có tác dụng bảo vệ niêm mạc thành dạ dày khỏi bị tổn thương khi nghiền nát thức ăn cứng như thóc, sạn sỏi. Màng sừng này luôn luôn bị bong ra do cọ xát khi hoạt động và cũng luôn được bổ sung do sản phẩm của tuyến tiết ra. Chức năng chủ yếu của dạ dày cơ là nghiền nát thức ăn ngũ cốc. Trong dạ dày cơ thường có một số lương nhất định các hạt cát, sạn, sỏi nhỏ. Những hạt này giúp cho việc nghiền nát thức ăn ngũ cốc dễ dàng khi dạ dày cơ co bóp. Sự co bóp của dạ dày cơ diễn ra có chu kỳ, bình quân cứ 20 - 30 giây co bóp một lần. Khi đói nhịp co bóp chậm, khi no co bóp tăng lên. Áp lực xoang dạ dày cơ khi co bóp tăng lên rất cao, đạt tới 140 mmHg ở gà, 100 mmHg ở vịt, 265 mmHg ở ngỗng, tạo thuận lợi cho việc nghiền nát thức ăn cứng. Dạ dày cơ không có tuyến dịch vị, sự tiêu hoá hoá học ở đây do tác dụng của dịch vị từ dạ dày tuyến xuống. Dưới tác dụng của axit HCl trong dạ dày cơ, các tế bào thực vật bị phá huỷ, protein phồng và xốp lên. Dưới tác dụng của men pepxin, protein phân giải thành pepton. Trong dạ dày cơ còn có quá trình phân giải hydratcacbon dưới ảnh hưởng của vi khuẩn có trong thức ăn. Tiêu hóa ở ruột Quá trình tiêu hoá các chất dinh dưỡng đều xảy ra ở ruột non gia cầm. Các men tiêu hoá quan trọng nhất là từ dịch dạ dày, cùng với mật đi vào manh tràng, chất tiết của các tuyến ruột có ý nghĩa kém hơn. Các men trong ruột hoạt động trong môi trường axit yếu, kiềm yếu; pH dao động trong những phần khác nhau của ruột. Dịch ruột là một chất lỏng đục, có phản ứng kiềm yếu (pH là 7,42) với tỷ trọng 1,0076. Trong thành phần dịch ruột có các men proteolytic, aminolytic và lypolytic và cả men enterokinaza.
  16. 9 Dịch tuỵ là một chất lỏng không màu, hơi mặn, có phản ứng hơi toan hoặc hơi kiềm (pH 7,2 - 7,5). Trong chất khô của dịch, ngoài các men, còn có các axit amin, lipit và các chất khoáng (NaCl, CaCl2, NaHCO3...). Dịch tuỵ của gia cầm trưởng thành có chứa các men tripsin, cacbosipeptidaza, amilaza, mantaza, invertaza và lipaza. Tripsin được bài tiết ra ở dạng chưa hoạt hoá là tripsinogen, dưới tác động của men dịch ruột enterokinaza, nó được hoạt hoá, phân giải các protein phức tạp ra các axit amin. Men proteolytic khác là các cacbosipeptidaza được tripsin hoạt hoá cũng có tính chất này. Các men amilaza và mantaza phân giải các polysacarit đến các monosacarit như glucoza, lipaza được dịch mật hoạt hoá, phân giải lipit thành glyserin và axit béo. Các quá trình tiêu hoá và hấp thu ở ruột non xảy ra đặc biệt tích cực. Sự phân giải các chất dinh dưỡng không chỉ có trong khoang ruột (tiêu hoá ở khoang), mà cả ở trên bề mặt các lông mao của các tế bào biểu bì (sự tiêu hoá ở màng). Các cấu trúc phân tử và trên phân tử của thức ăn có kích thước lớn được phân giải dưới tác động của các men trong khoang ruột, tạo ra các sản phẩm trung gian nhỏ hơn, chúng đi vào vùng có nhiều nhung mao của các tế bào biểu mô. Trên các nhung mao có các men tiêu hoá, tại đây diễn ra giai đoạn cuối cùng của sự thuỷ phân để tạo ra sản phẩm cuối cùng như axit amin, monosacarit chuẩn bị cho việc hấp thu. Khả năng tiêu hoá chất xơ của gia cầm rất hạn chế. Cũng như ở động vật có vú, các tuyến tiêu hoá của gia cầm không tiết ra một men đặc hiệu nào để tiêu hoá xơ. Một lượng nhỏ chất xơ được phân giải trong manh tràng bằng các men do vi khuẩn tiết ra. Những gia cầm nào có manh tràng phát triển hơn như đà điểu, ngan, ngỗng... thì các chất xơ được tiêu hoá nhiều hơn.
  17. 10 2.2.1.2. Đặc điểm sinh lý và giải phẫu cơ quan hô hấp của gà Theo Trần Thanh Vân và cs (2015) [13] cho biết: hệ hô hấp của gia cầm gồm: lỗ mũi, xoang mũi, khí quản, 2 phế quản, 2 phổi, 9 túi khí. Hai lỗ mũi nằm ở gốc mỏ và có đường kính rất nhỏ. Ở gà, phía ngoài hai lỗ mũi có “van mũi hoá sừng bất động” và xung quanh lỗ mũi có lông cứng nhằm ngăn ngừa bụi và nước. Xoang mũi được phát triển từ xoang miệng sơ cấp ở ngày ấp thứ 7. Xoang mũi ngắn, chia ra 2 phần: phần xương và phần sụn. Xoang mũi nằm ở mỏ trên. Xoang mũi là cơ quan thu nhận và lọc khí rồi chuyển vào khí quản, ở gà thanh quản dưới có hai nếp gấp liên kết, hai nếp gấp đó bị dao động bởi không khí và tạo nên âm thanh. Khí quản là ống tương đối dài bao gồm nhiều vòng sụn và nhiều vòng hoá xương. Số vòng khí quản ở gà là 110 - 120 và hầu hết là sụn, còn ở thuỷ cầm hầu hết đã hoá xương. Khí quản tương đối cong queo, thành khí quản được cấu tạo bởi màng nhầy, màng xơ đàn hồi và màng thanh dịch ngoài. Khí quản chia ra làm hai phế quản ở xoang ngực phía sau xương ngực. Mỗi phế quản dài 6 - 7 cm và có đường kính 5 - 6 mm. Một ống phế quản nối với lá phổi bên trái, còn một ống nối với lá phổi bên phải. Thành phế quản cấu tạo bởi màng nhầy (ở đó có nhiều tuyến nhỏ tạo ra các dịch nhầy, màng xơ đàn hồi), có các bán khuyên sụn trong suốt và thanh dịch ngoài. Phổi và phế quản được hình thành từ các nếp gấp ống hầu ở cuối khí quản vào ngày ấp thứ 4, ở ngày ấp thứ 5 xuất hiện túi phổi có màu dạng phế quản. Ở ngày ấp thứ 9 phổi đang phát triển và chia ra mạng lưới phế quản, ở phần cuối của nó hình thành các ống hô hấp. Phổi của gia cầm màu đỏ tươi, cấu trúc xốp, có dạng bọc nhỏ kéo dài, ít đàn hồi. Phổi nằm ở xoang ngực phía trục xương sống từ trục xương sườn thứ nhất đến mép trước của thận. Trọng lượng của phổi vào khoảng 1/180 thể trọng gia cầm, phụ thuộc vào tuổi và loài. Chức năng chính của phổi là làm nhiệm vụ trao đổi khí.
  18. 11 Túi khí là tổ chức mỏng bên trong chứa đầy khí. Các túi khí là sự mở rộng và tiếp dài của phế quản. Cơ thể gia cầm có 9 túi khí chính, trong đó có 4 đôi xếp đối xứng, còn 1 túi khí đơn. Các đôi túi khí xếp đối xứng là đôi túi khí xương đòn, đôi túi khí ngực trước, đôi túi khí ngực sau, đôi túi khí bụng. Túi khí đơn là túi khí cổ. Các túi khí thực ra không phải là xoang tận cùng của phế quản sơ cấp và phế quản thứ cấp mà tất cả chỉ là phế nang khổng lồ. Theo Trần Thanh Vân và cs (2015) [13]: tần số hô hấp dao động trong khoảng rất lớn, nó phụ thuộc vào loài, tuổi, sức sản xuất, trạng thái sinh lý của gia cầm và điều kiện thức ăn, nuôi dưỡng, nhiệt độ, độ ẩm, thành phần không khí. Trong điều kiện nuôi dưỡng tốt, tần số hô hấp tương đối ổn định. Gia cầm càng lớn thì tần số hô hấp càng nhỏ. Ban đêm tần số hô hấp giảm chậm xuống 30 - 40%. Nhiệt độ tăng tần số hô hấp cũng tăng. Nếu nhiệt độ tăng tới 370C thì nhịp thở của gà lên tới 150 lần/phút. Tần số hô hấp ở gà trưởng thành là 25 - 45 lần/phút. Gà từ 4 - 20 ngày tuổi là 30 - 40 lần/phút. Cơ chế hô hấp của gia cầm gồm động tác hít vào và động tác thở ra với sự hoạt động của phổi và hệ thống 9 túi khí chính. Vận động của xương sườn đóng vai trò quan trọng trong cử động hô hấp. Lúc giãn, không khí xoang ngực giãn và mở rộng làm cho áp lực xoang ngực thấp hơn áp lực bên ngoài, do đó không khí từ ngoài đi vào trong phổi. Lúc hít vào, không khí qua phổi vào các nhánh nhỏ và vào các túi khí. Lúc thở ra thì ngược lại, không khí đi từ các túi khí đi ra ngoài qua phổi lần thứ hai, vì vậy người ta gọi là cơ chế hô hấp kép. Vì phổi gia cầm nhỏ nhưng do không khí tuần hoàn hai lần nên lượng oxygen cung cấp vẫn đảm bảo. Trong thời gian ngủ quá trình trao đổi chất nói chung giảm xuống 50%. Trong thời gian hoạt động mạnh (bay, chạy, nhảy…) quá trình trao đổi chất tăng lên và mức độ trao đổi khí tăng lên 60 - 100%. Hoạt động của phổi và túi khí của gia cầm bao gồm: khí lưu thông, khí hít vào thêm, khí thở ra thêm. Hoạt động của phổi và túi khí nói lên khả năng hô hấp lớn nhất của gia cầm.
  19. 12 Sau khi thở ra thêm, trong phổi vẫn còn một lượng khí nhỏ lưu lại gọi là khí cặn. Hoạt động phổi và túi khí của gà tổng cộng là 169 cm3. Một lượng nhỏ khí O2 được hòa tan vào máu và theo máu đến các mô bào, còn phần lớn kết hợp với hemoglobin trong hồng cầu để tạo Oxy - hemoglobin vận chuyển theo tuần hoàn máu. Lượng O2 tối đa kết hợp với hemoglobin gọi là dung lượng O2 máu, dao động trong khoảng 12 - 21 cm3 (Trần Thanh Vân và cs, 2015) [13]. 2.2.1.3. Nhu cầu dinh dưỡng của gà thịt Năng lượng: gà có khả năng chuyển hoá năng lượng từ những carbonhydrate đơn giản, một vài carbonhydrate phức tạp như dầu và mỡ, nhưng những carbonhydrate quá phức tạp như cellulose thì gà không thể sử dụng được. Mặc dù vậy nhưng gà cũng cần môt lượng cellulose nhất định để làm chất đệm giúp quá trình tiêu hoá được dễ dàng. Tỷ lệ chất xơ trong khẩu phần không được vượt quá 4%. Nhu cầu về năng lượng cho các mục đích trao đổi rất khác nhau, do vậy nếu thiếu năng lượng sẽ ảnh hưởng đến hầu hết các quá trình sản xuất. Đối với gà nuôi lấy thịt nhu cầu năng lượng thường cao hơn đẻ. Protein: đây là một chỉ số dinh dưỡng quan trọng có ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe, sức sản xuất và chất lượng sản phẩm. Người ta cho rằng 20 -25% sức sản xuất của gia cầm ảnh hưởng trực tiếp bởi dinh dưỡng protein. Gà thịt cần tỉ lệ protein tương đối cao trong khẩu phần để hỗ trợ tăng trưởng nhanh. Khối lượng của gà thịt thương phẩm sẽ tăng lên gấp 50 – 55 lần trong 6 tuần sau khi nở. Một phần lớn của việc tăng trọng này là tăng trưởng các mô có nhiều protein. Nước: chính là một thành phần dinh dưỡng quan trọng cho bất kỳ cơ thể sống nào kể cả gia cầm. Nước không những là chất dẫn giúp vật hấp thu chất dinh dưỡng tốt hơn mà nước còn giúp cơ thể đào thải độc tố, giúp các tế bào hoạt động khỏe mạnh hơn… Hầu hết các động vật khác kể cả gà sẽ cần
  20. 13 một lượng nước khoảng 50 ml/kg trọng lượng cơ thể mỗi ngày. Khi thời tiết ấm áp, nhu cầu này có tăng lên một chút và tương tự, khi thời tiết lạnh, lượng nước gà cần sẽ giảm hơn so với bình thường. Khoáng chất: là phần vô cơ trong thành phần thức ăn chăn nuôi gia cầm, thường chiếm một tỷ lệ rất nhỏ trong khẩu phần thức ăn, tuy nhiên khoáng chất có một vai trò vô cùng quan trọng đối với gia cầm. + Khoáng đa lượng: Canxi, photpho: trong cơ thể canxi chiếm 1,3 – 1,8% khối lượng cơ thể, photpho chiếm 0,8 – 1% khối lượng cơ thể. + Khoáng vi lượng: các khoáng vi lượng gồm có đồng, kẽm, sắt, iodine và selenium cũng rất cần thiết cho sự phát triển của gia cầm. Trong cơ thể vật nuôi và con người khoáng chất có vai trò quan trọng trong quá trình hình thành các tổ chức trong cơ thể như xương, răng, máu, mô thịt…, một số chất khoáng có vai trò trong quá trình tạo các kênh ion như natri, kali… một số khác lại có tác dụng trong việc kích thích sự hoạt động của các enzyme, khoáng chất còn có tác dụng trong việc tham gia hệ thống đệm trong cơ thể … 2.2.1.4. Các yếu tố ảnh hưởng tới quá trình sinh trưởng, phát triển của gà thịt - Ảnh hưởng của dòng giống Trong cùng điều kiện chăn nuôi, mỗi giống khác nhau sẽ có khả năng sinh trưởng khác nhau. Tác giả Chanbers (1990) [15] cho biết, nhiều gen ảnh hưởng đến sự phát triển của gà. Có gen ảnh hưởng đến sự phát triển chung hoặc ảnh hưởng tới sự phát triển theo nhóm tính trạng hay một vài tính trạng riêng lẻ. - Ảnh hưởng của tính biệt và tốc độ mọc lông Sự khác nhau về tốc độ sinh trưởng và khối lượng của cơ thể gà do yếu tố tính biệt quy định trong đó con trống có tốc độ sinh trưởng nhanh hơn con mái. Tốc độ mọc lông có liên hệ với chất lượng thịt gia cầm, những gia cầm có tốc độ mọc lông nhanh thường có chất lượng thịt tốt hơn.
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2