ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC

NGUYỄN THỊ HỒNG ÁNH

THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG BÁO CÁO PHẢN ỨNG

CÓ HẠI CỦA THUỐC TẠI BỆNH VIỆN E VÀ THUỐC HOÁ TRỊ TẠI TRUNG TÂM UNG BƯỚU - BỆNH VIỆN E GIAI ĐOẠN 2022-2023 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC (NGÀNH DƯỢC HỌC)

Hà Nội – 2023

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC

Người thực hiện: NGUYỄN THỊ HỒNG ÁNH

THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG BÁO CÁO PHẢN ỨNG CÓ HẠI CỦA THUỐC TẠI BỆNH VIỆN E VÀ THUỐC HOÁ TRỊ TẠI TRUNG TÂM UNG BƯỚU -

BỆNH VIỆN E GIAI ĐOẠN 2022-2023 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC (NGÀNH DƯỢC HỌC)

Khoá: QH.2018.Y

Người hướng dẫn 1: TS. VŨ THỊ THU HƯƠNG

Người hướng dẫn 2: Ths. TĂNG QUỐC HÙNG

Hà Nội – 2023

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và sự kính trọng của tôi tới TS. Vũ Thị Thu Hương - phó trưởng Khoa Dược Bệnh viện E và Ths. Tăng Quốc Hùng

- giảng viên bộ môn Quản lý - Kinh tế Dược tại Trường Đại học Y dược - Đại học

Quốc gia Hà Nội, là những thầy cô đã định hướng, dìu dắt từng bước và cho tôi những

nhận xét quý báu trong suốt quá trình tôi thực hiện khóa luận này.

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc tới dược sỹ Hoàng Thị Ngoan –

dược sỹ lâm sàng tại Khoa dược – Bệnh viện E đã trực tiếp hướng dẫn cũng như thực

hiện đề tài này cùng tôi trong suốt quá trình tiến cứu diễn ra tại Trung tâm Ung bướu,

cũng như đã có những góp ý quý giá và tạo điều kiện để tôi hoàn thành đề tài này.

Xin trân trọng cảm ơn Bệnh viện E, cụ thể là phòng Khoa học Công nghệ, Truyền thông và Hợp tác Quốc tế, khoa Dược và Trung tâm Ung bướu, cũng như toàn

thể cán bộ, nhân viên y tế tại đây đã tận tình giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi

trong thời gian làm đề tài tại bệnh viện.

Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới gia đình và bạn bè đã luôn bên

cạnh, động viên tôi trong lúc khó khăn cũng như trong quá trình thực hiện khóa luận

này.

Hà Nội, ngày 24 tháng 05 năm 2023

Sinh viên

Nguyễn Thị Hồng Ánh

DANH MỤC BẢNG

STT Tên bảng Trang

1 Bảng 1.1. Quy trình giám sát ADR tại Bệnh viện E 19

2 Bảng 3.1. Số lượng báo cáo ADR của Bệnh viện E 25

3 Bảng 3.2 Các khoa phòng tham gia báo cáo ADR tại Bệnh viện E 26

4 Bảng 3.3. Lý do sử dụng thuốc phân loại theo ICD-10 27

Bảng 3.4. Phân loại thuốc nghi ngờ gây ADR theo đường dùng 5 27 thuốc của Bệnh viện E

6 Bảng 3.5. Các họ dược lý được báo cáo nhiều nhất của Bệnh viện E 28

7 Bảng 3.6. Điểm chất lượng báo cáo trung bình của Bệnh viện E 29

8 Bảng 3.7. Số lượng báo cáo ADR của TTUB 30

9 Bảng 3.8. Số lượng báo cáo ADR nghiêm trọng của TTUB 31

Bảng 3.9. Phân loại thuốc nghi ngờ gây ADR theo đường dùng 10 32 thuốc của TTUB

11 Bảng 3.10. Các thuốc nghi ngờ gây ADR được báo cáo tại TTUB 32

12 Bảng 3.11. Các biểu hiện ADR được ghi nhận tại TTUB 34

13 35 Bảng 3.12. Kết quả đánh giá mối liên quan giữa thuốc – ADR của TTUB

14 Bảng 3.13. Phân loại mức độ nặng của ADR tại TTUB 36

15 Bảng 3.14. So sánh điểm chất lượng báo cáo trung bình của TTUB 37

DANH MỤC SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ

STT Tên hình Trang

1 Hình 1.1: Số lượng báo cáo ADR từ năm 2003 đến 2022 16

2 Hình 3.1. Thời gian trì hoãn gửi báo cáo trung bình (ngày) 25

của Bệnh viện E

3 Hình 3.2. Chất lượng báo cáo ADR của Bệnh viện E 29

4 Hình 3.3. Số lượng báo cáo ADR của TTUB theo từng tháng 30

5 Hình 3.4. Thời gian trì hoãn gửi báo cáo trung bình (ngày) của 31

TTUB

6 Hình 3.5. Chất lượng báo cáo ADR của TTUB 36

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

ADR Phản ứng có hại của thuốc (Adverse Drug Reaction)

STT Số thứ tự

Trung tâm DI&ADR Quốc gia Trung tâm Quốc gia về Thông tin thuốc và Theo dõi

phản ứng có hại của thuốc

TTUB Trung tâm Ung bướu

WHO Tổ chức Y tế Thế giới (World Health Organization)

MỤC LỤC

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

ĐẶT VẤN ĐỀ ............................................................................................................ 1

Chương 1. TỔNG QUAN ......................................................................................... 3

1.1. Hoạt động cảnh giác dược trong bệnh viện .................................................... 3

1.1.1. Định nghĩa và mục tiêu của cảnh giác dược .......................................... 3

1.1.2. Các đối tác tham gia hoạt động cảnh giác dược .................................... 3

1.1.3. Các hoạt động theo dõi ADR bệnh viện ................................................ 8

1.2 . Hệ thống báo cáo tự nguyện ........................................................................ 14

1.2.1. Định nghĩa ............................................................................................ 14

1.2.2. Ưu điểm, hạn chế ................................................................................. 14

1.2.3. Tình hình báo cáo ADR ở Việt Nam ................................................... 15

1.3. Hoạt động Cảnh giác Dược với thuốc điều trị ung thư ................................ 17

1.3.1. Sự cần thiết triển khai hoạt động Cảnh giác Dược với các bệnh viện/khoa phòng về ung bướu ........................................................................ 17

1.3.2. Các ADR thường gặp của thuốc điều trị ung thư ................................ 18

1.4. Giới thiệu về Trung tâm Ung bướu - Bệnh viện E ....................................... 18

1.4.1. Vài nét về Bệnh viện E ........................................................................ 18

1.4.2. Giới thiệu về Trung tâm Ung bướu - Bệnh viện E .............................. 19

1.4.3. Quy trình giám sát ADR tại Bệnh viện E ............................................ 19

Chương 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ....................... 21

2.1. Đối tượng nghiên cứu ................................................................................... 21

2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu ................................................................ 21

2.3. Phương pháp nghiên cứu .............................................................................. 21

2.4. Chỉ tiêu nghiên cứu ....................................................................................... 22

2.4.1. Mô tả thực trạng báo cáo phản ứng có hại của thuốc tại Bệnh viện E giai đoạn 01/2022 – 03/2023 .......................................................................... 22

2.4.2. Mô tả thực trạng báo cáo phản ứng có hại của thuốc hoá trị tại Trung tâm Ung bướu – Bệnh viện E giai đoạn 01/2022 – 05/2023.......................... 23

2.5. Phương pháp xử lý số liệu ............................................................................ 24

Chương 3. KẾT QUẢ ............................................................................................. 25

3.1. Mô tả thực trạng báo cáo phản ứng có hại của thuốc tại Bệnh viện E giai đoạn 01/2022 – 03/2023 ...................................................................................... 25

3.1.1. Thông tin về báo cáo ............................................................................ 25

3.1.2. Thông tin về thuốc nghi ngờ gây ADR ................................................ 26

3.1.3. Đánh giá chất lượng báo cáo ADR ...................................................... 28

3.2. Mô tả thực trạng báo cáo phản ứng có hại của thuốc hoá trị tại Trung tâm Ung bướu – Bệnh viện E giai đoạn 01/2022 – 05/2023. ..................................... 29

3.2.1. Thông tin về báo cáo ............................................................................ 29

3.2.2. Thông tin về thuốc nghi ngờ gây ADR ................................................ 32

3.2.3. Thông tin về ADR ................................................................................ 33

3.2.4. Đánh giá chất lượng báo cáo ADR ...................................................... 36

Chương 4. BÀN LUẬN ........................................................................................... 38

4.1. Bàn luận về thực trạng báo cáo ADR của Bệnh viện E giai đoạn 01/2022 – 03/2023 ................................................................................................................ 38

4.2. Bàn luận về thực trạng báo cáo ADR trong hoá trị liệu của Trung tâm Ung bướu – Bệnh viện E 01/2022 - 05/2023............................................................... 39

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT .................................................................................... 43

KẾT LUẬN ......................................................................................................... 43

ĐỀ XUẤT ............................................................................................................ 45

TÀI LIỆU THAM KHẢO

ĐẶT VẤN ĐỀ

Tổ chức Y tế thế giới (WHO) năm 2002 định nghĩa “Phản ứng có hại của thuốc

là phản ứng độc hại, không được định trước, xuất hiện ở liều thường dùng cho người

để phòng bệnh, chẩn đoán hay chữa bệnh hoặc nhằm thay đổi một chức năng sinh lý. Định nghĩa này không bao gồm các trường hợp thất bại trị liệu, quá liều, lạm dụng

thuốc, không tuân thủ và sai sót trong trị liệu [1]. Đối với bệnh nhân điều trị ung thư,

ADR rất phổ biến và có thể dự đoán được đến mức chúng được chấp nhận như một phần không thể tránh khỏi [2].

Với mục đích đảm bảo sử dụng thuốc hợp lý trong phòng và điều trị bệnh,

Cảnh giác dược là một hoạt động chuyên môn quan trọng chăm sóc sức khỏe bệnh

nhân [3]. Trong điều trị ung thư, cảnh giác dược có vai trò thiết yếu do đa số các thuốc điều trị ung thư được biết đến với khoảng điều trị hẹp và độc tính cao. Theo

một nghiên cứu của Nhật Bản, dược sỹ chịu trách nhiệm phòng ngừa và điều trị chứng trên bệnh nhân ung thư (nôn, bệnh thần kinh ngoại vi, hội chứng tay chân, viêm niêm

mạc, đau cục bộ, táo bón, đau mạch máu, dị ứng, tăng đường huyết, tiêu chảy và các

tình trạng khác) đã nghiên cứu khả năng ngăn chặn các phản ứng ở bệnh nhân ung

thư và phát hiện ra rằng: 53% các phản ứng như rụng tóc không thể ngăn ngừa được,

trong khi đó 45% phản ứng có thể ngăn ngừa và 2% còn lại chắc chắn có thể ngăn

ngừa [2]. Mặc dù các phản ứng bất lợi này được coi là vấn đề không tránh khỏi, hoạt

động cảnh giác dược đã và đang giữ vai trò cực kỳ quan trọng trong việc phát hiện

nguy cơ liên quan đến thuốc và có can thiệp kịp thời [4].

Trong hoạt động Cảnh giác Dược, báo cáo phản ứng có hại của thuốc tự

nguyện là phương pháp phổ biến nhất được áp dụng tại nhiều quốc gia trên thế giới

để phát hiện và giám sát các phản ứng có hại của thuốc [5]. Bên cạnh những ưu điểm

như dễ dàng để thiết lập với chi phí tiết kiệm, hệ thống báo cáo ADR tự nguyện cũng gặp phải một số hạn chế nhất định, đó là tình trạng báo cáo thiếu và chất lượng báo cáo kém [6]. Vì vậy việc phân tích hoạt động báo cáo ADR tự nguyện để đưa ra được cái nhìn tổng quan cũng như nâng cao số lượng và chất lượng báo cáo là cần thiết.

Trong năm 2021 và 2022, nhóm thuốc điều trị ung thư đều đứng vị trí thứ 8 trong số 10 nhóm dược lý được báo cáo ADR nhiều nhất, chiếm tỉ lệ lần lượt là 4,7% và 3,5% trên tổng số báo cáo được gửi tới Trung tâm DI & ADR Quốc gia [7, 8].

1

Trung tâm Ung bướu - Bệnh viện E là một trong những đơn vị điều trị ung

bướu cho bệnh nhân, dù được thành lập và đi vào hoạt động trong thời gian gần đây,

nhưng với cơ sở vật chất, trang bị hiện đại, Trung tâm Ung bướu - Bệnh viện E đã trở

thành một địa chỉ để sẻ chia giúp đỡ các bệnh nhân ung thư. Vì vậy, chúng tôi lựa chọn Trung tâm Ung bướu - Bệnh viện E để thực hiện đề tài “Thực trạng hoạt động

báo cáo phản ứng có hại của thuốc tại Bệnh viện E và thuốc hoá trị tại Trung tâm Ung

bướu - Bệnh viện E giai đoạn 2022 - 2023” với mục tiêu:

- Mô tả thực trạng báo cáo phản ứng có hại của thuốc tại Bệnh viện E giai đoạn

01/2022 – 03/2023.

- Mô tả thực trạng báo cáo phản ứng có hại của thuốc hoá trị tại Trung tâm

Ung bướu – Bệnh viện E giai đoạn 01/2022 – 05/2023.

2

Chương 1. TỔNG QUAN

1.1. Hoạt động cảnh giác dược trong bệnh viện

1.1.1. Định nghĩa và mục tiêu của Cảnh giác Dược

Cảnh giác Dược là khoa học và các hoạt động liên quan đến phát hiện, đánh giá, hiểu biết và phòng ngừa các tác dụng phụ hoặc bất kỳ vấn đề nào liên quan

đến thuốc có thể khác. Gần đây, phạm vi của Cảnh giác Dược mở rộng ra bao gồm

cả dược liệu, thuốc cổ truyển, thuốc bổ sung và thay thế, chế phẩm từ máu, thuốc có nguồn gốc sinh học, trang thiết bị y tế và vắc-xin [9].

Các mục tiêu cụ thể của Cảnh giác Dược là:

- Cải thiện việc chăm sóc và sự an toàn cho bệnh nhân trong mối liên quan

sử dụng thuốc với can thiệp của điều trị và hỗ trợ điều trị trên người bệnh

- Cải thiện sức khỏe cộng đồng và sự an toàn trong việc sử dụng thuốc.

- Phát hiện các vấn đề liên quan đến việc sử dụng thuốc và truyền đạt các

phát hiện trong một thời gian kịp thời.

- Đóng góp vào việc đánh giá lợi ích, tác hại, hiệu quả và nguy cơ của thuốc,

tiền đề cho việc ngăn ngừa tác hại và tối đa hóa lợi ích của thuốc.

- Khuyến khích sử dụng thuốc an toàn, hợp lý và hiệu quả hơn (bao gồm cả

yếu tố về kinh tế).

- Thúc đẩy sự hiểu biết, giáo dục và đào tạo lâm sàng trong Cảnh giác Dược

và tuyên truyền hiệu quả tới cộng đồng [3].

1.1.2. Các đối tác tham gia hoạt động Cảnh giác Dược

Triển khai hoạt động giám sát ADR trong cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cần

có sự tham gia của nhiều đối tác đa ngành bao gồm người đứng đầu cơ sở khám

bệnh, chữa bệnh, Hội đồng Thuốc và điều trị (nếu có), các phòng chức năng, các khoa lâm sàng (hoặc khoa, phòng khám bệnh), khoa, phòng cận lâm sàng và khoa Dược (hoặc bộ phận Dược lâm sàng). Giám sát phản ứng có hại của thuốc là trách nhiệm của tất cả các nhân viên y tế bao gồm bác sĩ, dược sĩ, điều dưỡng viên, hộ sinh viên, kỹ thuật viên và các nhân viên y tế khác có liên quan đến sử dụng thuốc tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh [10].

Mỗi đối tác tham gia hoạt động Cảnh giác Dược lại đảm nhận những nhiệm

vụ, vai trò riêng, cụ thể:

3

1.1.2.1. Người đứng đầu cơ sở khám bệnh, chữa bệnh

Người đứng đầu cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có nhiệm vụ:

- Tổ chức và triển khai hoạt động giám sát ADR trong đơn vị.

- Giám sát việc lập kế hoạch, triển khai và đánh giá các kế hoạch giám sát

và giảm thiểu ADR.

- Chỉ đạo xây dựng và triển khai các hoạt động dự phòng phản ứng có hại

của thuốc và các vấn đề liên quan đến thuốc dựa trên các hướng dẫn thực hành, khuyến cáo từ y văn, báo cáo về sai sót, các công cụ giám sát an toàn thuốc và

phân tích dữ liệu an toàn thuốc của đơn vị.

- Chỉ đạo việc đảm bảo quản lý, sử dụng thuốc và an toàn cho người bệnh

là cốt lõi của chiến lược đảm bảo chất lượng điều trị của đơn vị.

- Chỉ đạo việc xây dựng “văn hóa an toàn” thông qua đào tạo, tập huấn và

truyền thông các “bài học kinh nghiệm” trong đơn vị.

- Chỉ đạo việc đảm bảo tuân thủ các quy định của pháp luật và quy chế

chuyên môn về an toàn thuốc [10].

1.1.2.2. Tiểu ban giám sát ADR - Hội đồng Thuốc và điều trị/Bộ phận

Dược lâm sàng tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh không tổ chức khoa Dược

- Xây dựng quy trình phát hiện, đánh giá, xử trí, dự phòng ADR và các sai

sót trong chu trình cung ứng, sử dụng thuốc tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh từ giai

đoạn xây dựng danh mục thuốc đến kê đơn của bác sĩ, chuẩn bị và cấp phát thuốc

của dược sĩ, thực hiện y lệnh và hướng dẫn sử dụng của điều dưỡng, sự tuân thủ

điều trị của người bệnh nhằm bảo đảm an toàn cho người bệnh trong quá trình điều

trị.

- Tổ chức giám sát ADR, ghi nhận và rút kinh nghiệm các sai sót trong điều

trị.

- Triển khai hệ thống báo cáo ADR trong cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.

- Thông tin cho nhân viên y tế trong cơ sở khám bệnh, chữa bệnh về ADR,

sai sót trong sử dụng thuốc để kịp thời rút kinh nghiệm chuyên môn.

- Xác định danh mục thuốc có nguy cơ cao cần giám sát để đảm bảo an toàn

trong quá trình sử dụng thuốc và xây dựng quy trình theo dõi, hướng dẫn sử dụng

các thuốc này tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.

4

- Cập nhật, bổ sung, sửa đổi danh mục thuốc của cơ sở khám bệnh, chữa

bệnh, hướng dẫn điều trị và các quy trình chuyên môn khác dựa trên thông tin về

ADR và sai sót trong sử dụng thuốc ghi nhận được tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh

và từ các cảnh báo của các cơ quan quản lý và chuyên môn của Bộ Y tế.

- Tổ chức tập huấn định kỳ cho nhân viên y tế của cơ sở khám bệnh, chữa

bệnh về kỹ năng phát hiện, xử trí ADR, kỹ năng điền báo cáo ADR đúng và đầy

đủ thông tin [10].

1.1.2.3. Khoa Dược

- Cập nhật thông tin sử dụng thuốc, thông tin về thuốc mới, thông tin về an

toàn thuốc gửi đến nhân viên y tế và người bệnh trong cơ sở khám bệnh, chữa bệnh

dưới nhiều hình thức như tư vấn chuyên môn trực tiếp, sinh hoạt khoa học, cung cấp bản tin, thông tin về thuốc và các tài liệu chuyên môn thông tin thuốc khác.

- Giám sát chất lượng thuốc trong quá trình sử dụng thuốc tại bệnh viện.

- Tham gia xây dựng và sửa đổi quy trình giám sát và báo cáo ADR tại đơn

vị.

- Xác định các thuốc có nguy cơ cao và người bệnh có nguy cơ cao xuất

hiện ADR tại đơn vị.

- Trong quá trình thực hiện hoạt động chuyên môn, thông qua xem bệnh án

hoặc duyệt thuốc tại Khoa Dược, phát hiện ADR dựa trên các thuốc có khả năng

được sử dụng để xử trí phản ứng có hại của thuốc, biểu hiện lâm sàng và kết quả

xét nghiệm cận lâm sàng bất thường. Ưu tiên xem xét bệnh án của người bệnh có

nguy cơ cao và người bệnh sử dụng thuốc có nguy cơ cao xảy ra ADR.

- Trao đổi với bác sĩ, điều dưỡng nếu phát hiện ADR khi thực hiện hoạt

động Dược lâm sàng tại khoa phòng để có biện pháp xử trí phù hợp.

- Cung cấp thông tin về thuốc trong quá trình xác định và xử trí ADR theo

yêu cầu của nhân viên y tế.

- Phân tích/đánh giá các báo cáo ADR và tổng kết định kỳ dữ liệu báo cáo

ADR tại đơn vị.

- Phổ biến các thông tin thu được thông qua chương trình giám sát ADR

cho nhân viên y tế và người bệnh, đặc biệt các ADR nghiêm trọng và ADR không

định trước.

5

- Hướng dẫn, hỗ trợ bác sĩ và điều dưỡng viên hoàn thiện đầy đủ và chính

xác các thông tin cần thiết trong mẫu báo cáo phản ứng có hại của thuốc.

- Dược sĩ có thể trực tiếp thu thập thông tin và viết báo cáo ADR.

- Lưu thư cảm ơn đã nhận được báo cáo và thư phản hồi kết quả thẩm định báo cáo ADR của Trung tâm Quốc gia hoặc Trung tâm khu vực về Thông tin thuốc

và Theo dõi phản ứng có hại của thuốc gửi cho nhân viên y tế đã tham gia báo cáo

[10].

1.1.2.4. Phòng Quản lý chất lượng

- Xây dựng kế hoạch và nội dung hoạt động quản lý chất lượng trong cơ sở

khám bệnh, chữa bệnh.

- Phối hợp với Phòng Kế hoạch tổng hợp và các đơn vị có liên quan để thực hiện, theo dõi, kiểm tra, đánh giá các hoạt động liên quan đến cải tiến chất lượng

và an toàn người bệnh.

- Phối hợp với các đơn vị kiểm tra, đánh giá việc tuân thủ quy định, quy chế

chuyên môn.

- Tổ chức đánh giá chất lượng cơ sở khám bệnh, chữa bệnh dựa trên các bộ

tiêu chí do Bộ Y tế ban hành, bao gồm các tiêu chí liên quan đến an toàn thuốc

[10].

1.1.2.5. Phòng Kế hoạch tổng hợp

- Phối hợp với các khoa/phòng tổ chức, theo dõi, đánh giá hiệu quả việc

thực hiện kế hoạch đảm bảo an toàn trong sử dụng thuốc tại bệnh viện.

- Tổng kết đánh giá công tác chuyên môn, triển khai nghiên cứu khoa học

liên quan an toàn thuốc.

- Phối hợp tổ chức đào tạo liên tục cho nhân viên y tế về hoạt động giám sát

phản ứng có hại của thuốc và các vấn đề liên quan đến thuốc [10].

1.1.2.6. Khoa lâm sàng, khoa, phòng khám bệnh và khoa cận lâm sàng

- Phát hiện và xử trí ADR.

- Khoa lâm sàng, khoa, khòng khám bệnh: tuân thủ các hướng dẫn về đảm

bảo an toàn trong sử dụng thuốc theo quy định.

6

- Khoa cận lâm sàng: phối hợp với khoa lâm sàng và khoa Dược để giám

sát các phản ứng có hại của thuốc và các vấn đề liên quan đến thuốc thông qua kết

quả xét nghiệm cận lâm sàng hoặc kết quả chẩn đoán hình ảnh [10].

1.1.2.7. Nhân viên y tế

Tùy theo chức năng, nhiệm vụ cụ thể, các nhân viên y tế liên quan có trách

nhiệm triển khai thực hiện:

- Tuân thủ chỉ định, chống chỉ định, thận trọng, liều dùng của thuốc, chú ý tiền sử dị ứng (bao gồm tiền sử dị ứng thuốc) của người bệnh, tương tác thuốc

trong kê đơn và thực hiện đầy đủ việc giám sát theo dõi người bệnh trong quá trình

điều trị để đảm bảo kê đơn thuốc hợp lý.

- Tuân thủ cảnh báo và thận trọng khi kê đơn sử dụng các thuốc có nguy cơ

cao hoặc kê đơn trên đối tượng người bệnh có nguy cơ cao.

- Tuân thủ quy trình bảo quản và sử dụng thuốc cho người bệnh.

- Kiểm tra tương tác thuốc, chống chỉ định, trùng lặp hoạt chất/nhóm dược

lý trong quy trình cấp phát và sử dụng thuốc.

- Báo cáo ADR theo quy định khi phát hiện, ghi nhận phản ứng xảy ra trên

người bệnh.

- Đánh giá mức độ nghiêm trọng của ADR để quyết định hướng xử trí lâm

sàng phù hợp.

- Phân tích nguyên nhân để xác định thuốc nghi ngờ. Giảm liều hoặc ngừng

thuốc nghi ngờ gây ADR trong điều kiện lâm sàng cho phép.

- Kịp thời thực hiện các biện pháp điều trị triệu chứng, điều trị hỗ trợ, đảm

bảo chức năng sống còn cho người bệnh.

- Thực hiện theo các hướng dẫn chuyên môn của Bộ Y tế có liên quan nếu

việc xử trí ADR thuộc phạm vi các hướng dẫn đó.

- Trong trường hợp cần thiết, trao đổi hướng xử trí với đồng nghiệp, tổ chức hội chẩn chuyên môn, tham khảo thêm thông tin về ADR từ bộ phận Dược lâm sàng hoặc các Trung tâm về Thông tin thuốc và Theo dõi phản ứng có hại của thuốc.

7

- Giám sát chặt chẽ người bệnh trong trường hợp bắt buộc sử dụng lại thuốc

nghi ngờ gây ADR khi không có thuốc thay thế hoặc khi lợi ích của thuốc vượt

trội hơn nguy cơ.

- Đảm bảo thông tin của phản ứng có hại nghi ngờ do thuốc được ghi chép vào hồ sơ bệnh án, bao gồm cả hệ thống cấp phát và kê đơn điện tử (nếu có) [10].

1.1.3. Các hoạt động theo dõi ADR bệnh viện

Chương trình giám sát ADR là một trong các nội dung quan trọng trong chu trình sử dụng thuốc của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh. Có 06 nhiệm vụ chính trong

hoạt động giám sát ADR tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh bao gồm:

- Phân công bộ phận/người phụ trách giám sát ADR.

- Xây dựng và triển khai quy trình giám sát ADR.

- Phát hiện ADR.

- Báo cáo ADR.

- Đánh giá ADR.

- Dự phòng ADR [10].

1.1.3.1. Phân công bộ phận/người phụ trách giám sát ADR

- Đối với các bệnh viện, Tiểu ban giám sát ADR theo quy định tại Điều 12

Thông tư số 21/2013/TT-BYT ngày 08 tháng 8 năm 2013 của Bộ Y tế Quy định

về tổ chức và hoạt động của Hội đồng Thuốc và điều trị trong bệnh viện có trách

nhiệm triển khai giám sát ADR tại bệnh viện. Thành phần trong Tiểu ban giám sát

ADR có thể bao gồm: lãnh đạo bệnh viện (Trưởng Tiểu ban), đại diện khoa Dược

(ưu tiên dược sĩ làm công tác dược lâm sàng), đại diện phòng Điều dưỡng, đại diện

phòng Kế hoạch tổng hợp, đại diện phòng Quản lý chất lượng, đại diện các Khoa lâm sàng và thành viên khác (nếu có, ví dụ: công nghệ thông tin).

- Đối với các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh khác, người chịu trách nhiệm chuyên môn của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thực hiện hoặc phân công nhiệm vụ cụ thể cho nhân viên y tế (bộ phận Dược lâm sàng) phụ trách hoạt động giám sát ADR tại đơn vị [10].

1.1.3.2. Xây dựng và triển khai quy trình giám sát ADR

- Việc xây dựng và triển khai quy trình giám sát ADR có vai trò quan trọng

trong việc tăng cường hoạt động báo cáo ADR trong cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.

8

Trong đó, dược sĩ lâm sàng (hoặc nhân viên y tế khác được người đứng đầu cơ sở

khám bệnh, chữa bệnh phân công) là đầu mối xây dựng và triển khai quy trình này.

Quy trình giám sát ADR cần được xây dựng phù hợp với điều kiện của từng cơ sở

điều trị với các nội dung chính bao gồm: phát hiện, báo cáo, đánh giá và dự phòng ADR.

- Để triển khai hiệu quả quy trình giám sát ADR trong cơ sở khám bệnh,

chữa bệnh cần đảm bảo sự cam kết của người đứng đầu cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, các phòng chức năng và các khoa lâm sàng, đảm bảo sự phối hợp đa ngành,

phối hợp hoạt động báo cáo - phản hồi cho người báo cáo và ra quyết định phù

hợp. Ngoài ra, khuyến khích các đơn vị đa dạng hóa các cách tiếp cận, áp dụng

công nghệ thông tin để hoạt động giám sát ADR được triển khai kịp thời, hiệu quả [10].

1.1.3.3. Phát hiện ADR

Việc phát hiện các biến cố bất lợi liên quan đến thuốc và nguyên nhân gây

ra biến cố bất lợi là bước đầu tiên trong hoạt động giám sát ADR nhằm cải thiện

an toàn người bệnh thông qua xây dựng các chiến lược dự phòng và tối ưu hóa

việc sử dụng thuốc trong mỗi giai đoạn của quy trình khám bệnh, chữa bệnh.

Phát hiện ADR thông qua hoạt động thường quy

- Theo dõi và ghi nhận lại những biểu hiện lâm sàng và cận lâm sàng bất

thường xảy ra trên người bệnh dựa trên các thông tin do người bệnh cung cấp và

các triệu chứng ghi nhận được trong quá trình chăm sóc, điều trị và theo dõi người

bệnh.

- Kiểm tra lại tất cả các thuốc thực tế người bệnh đã dùng.

- Kiểm tra chất lượng cảm quan mẫu thuốc được lưu lại xem có biểu hiện

gì về chất lượng thuốc.

- Kiểm tra lại một số thông tin sau: Người bệnh có tiền sử dị ứng, đặc biệt là dị ứng thuốc không? Việc sử dụng thuốc có phù hợp tình trạng bệnh lý, có cân nhắc đến các bệnh mắc kèm và chống chỉ định trên người bệnh hay không? Liều dùng thuốc đã theo như khuyến cáo chưa?

- Xem xét sự phù hợp về thời điểm dùng thuốc nghi ngờ và thời điểm xuất

hiện ADR.

9

- Xác định diễn biến phản ứng có hại sau khi ngừng sử dụng và tái sử dụng

thuốc nghi ngờ (nếu có).

- Kiểm tra lại xem phản ứng có hại được ghi nhận đã từng xảy ra với thuốc

nghi ngờ hay chưa? có liên quan đến tác dụng dược lý đã biết của thuốc không?

Phát hiện ADR thông qua giám sát tích cực

- Có nhiều cách tiếp cận khác nhau để khuyến khích nhân viên y tế phát

hiện và báo cáo một cách tự nguyện các vấn đề liên quan đến thuốc (báo cáo ADR), tuy nhiên tình trạng “báo cáo thiếu” vẫn rất phổ biến nên cần có các phương pháp

bổ sung phát hiện các biến cố liên quan đến thuốc trong toàn bộ chu trình sử dụng

thuốc, kể cả khi biến cố liên quan đến thuốc chưa tác động tới người bệnh (biến cố

bất lợi tiềm tàng của thuốc). Khảo sát các biến cố bất lợi tiềm tàng của thuốc giúp xác định biến cố xảy ra ở khâu nào trong hệ thống và xác định khâu nào trong hệ

thống kiểm soát đã hoạt động hiệu quả hoặc chưa hiệu quả.

- Bên cạnh phát hiện và báo cáo ADR tự nguyện, các phương pháp giám sát

tích cực thường được sử dụng trong cơ sở khám bệnh, chữa bệnh bao gồm giám

sát có chủ đích, giám sát thông qua bộ công cụ tín hiệu phát hiện ADR, rà soát toàn

bộ bệnh án, quan sát trực tiếp và hoạt động của dược sĩ tại khoa lâm sàng. Tuy

nhiên, không có phương pháp nào có thể phát hiện tất cả các biến cố liên quan đến

thuốc mà thường có giá trị bổ sung cho nhau. Do đó, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh

có thể cân nhắc triển khai một hoặc một số phương pháp phát hiện biến cố bất lợi

liên quan đến thuốc phù hợp với điều kiện thực tế của đơn vị mình [10].

1.1.3.4. Báo cáo ADR

Đối tượng viết báo cáo

- Người trực tiếp viết báo cáo ADR là bác sĩ, dược sĩ, điều dưỡng viên, hộ

sinh viên, kỹ thuật viên và các nhân viên y tế khác. Khuyến khích sự phối hợp của các nhân viên y tế trong việc hoàn thiện báo cáo.

- Thông tin về người báo cáo, bệnh nhân và đơn vị báo cáo ghi trong phiếu báo cáo phản ứng có hại của thuốc được các Trung tâm về Thông tin thuốc và Theo dõi phản ứng có hại của thuốc bảo mật theo quy định hiện hành.

Các trường hợp cần báo cáo

- Báo cáo tất cả các biến cố bất lợi xảy ra trong quá trình điều trị nghi ngờ

là phản ứng có hại gây ra bởi:

10

+ Thuốc hóa dược, thuốc dược liệu, thuốc cổ truyền, vắc xin và sinh phẩm.

+ Dược liệu, vị thuốc cổ truyền.

- Ưu tiên báo cáo:

+ Các phản ứng có hại nghiêm trọng.

+ Phản ứng có hại của thuốc xảy ra trên bệnh nhân nhi, người bệnh cao tuổi,

phụ nữ có thai và phụ nữ cho con bú.

+ Phản ứng có hại của các hoạt chất hoặc thuốc mới được sử dụng tại cơ sở

khám bệnh, chữa bệnh.

+ Phản ứng có hại mới, chưa được biết đến với thuốc.

+ Phản ứng có hại xảy ra liên tục với một thuốc hoặc một lô thuốc trong

thời gian ngắn tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.

+ Phản ứng có hại xảy ra liên quan thất bại điều trị, sử dụng thuốc không

đạt hiệu lực mong muốn.

+ Phản ứng có hại xảy ra liên quan đến tương tác thuốc hay quá liều thuốc.

- Khuyến khích nhân viên y tế báo cáo các vấn đề về chất lượng thuốc và

sai sót trong sử dụng thuốc.

Thời gian gửi báo cáo

- Báo cáo cần được gửi trong thời gian sớm nhất có thể sau khi phát hiện ra

phản ứng, ngay cả khi thông tin thu được chưa đầy đủ (báo cáo ban đầu). Trong

trường hợp này, có thể bổ sung báo cáo nếu thu thập được thêm thông tin (báo cáo

bổ sung).

- Báo cáo trong khi người bệnh chưa xuất viện giúp khai thác đủ thông tin,

thực hiện các xét nghiệm cần thiết để xác định nguyên nhân gây ADR.

- Bảo đảm việc gửi báo cáo tới Trung tâm về Thông tin thuốc và Theo dõi

phản ứng có hại của thuốc đúng thời hạn.

- Báo cáo từ khoa/phòng lâm sàng tới khoa Dược hoặc đơn vị đầu mối được phân công tập hợp báo cáo ADR tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cần được gửi trong thời gian sớm nhất có thể sau khi xảy ra phản ứng. Thời hạn gửi theo quy

định tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, tùy thuộc vào tình hình thực tế nhưng không

11

quá thời hạn gửi báo cáo tới Trung tâm Quốc gia hoặc Trung tâm khu vực về Thông

tin thuốc và Theo dõi phản ứng có hại của thuốc.

Hình thức gửi báo cáo ADR

- Với các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có Khoa Dược: Nhân viên y tế gửi báo cáo ADR tới Khoa Dược là đầu mối tập hợp báo cáo trong bệnh viện. Trong

trường hợp cần thiết, có thể gửi báo cáo trực tiếp đến Trung tâm Quốc gia về Thông

tin thuốc và Theo dõi phản ứng có hại của thuốc hoặc các Trung tâm khu vực, sau đó thông báo lại cho khoa Dược.

- Với các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh không tổ chức Khoa Dược: Nhân

viên y tế gửi báo cáo đến bộ phận Dược lâm sàng là đầu mối tập hợp báo cáo tại

đơn vị hoặc có thể gửi trực tiếp đến Trung tâm Quốc gia về Thông tin thuốc và Theo dõi phản ứng có hại của thuốc hoặc các Trung tâm khu vực.

- Báo cáo ADR được điền vào mẫu báo cáo theo quy định và gửi về Trung

tâm Quốc gia hoặc Trung tâm khu vực về Thông tin thuốc và Theo dõi phản ứng

có hại của thuốc bằng một trong 4 hình thức sau:

Cách 1: Gửi qua bưu điện

Cách 2: Gửi qua thư điện tử (email)

Cách 3: Báo cáo ADR trực tuyến

+ Truy cập vào trang web: http://canhgiacduoc.org.vn.

+ Đọc và làm theo hướng dẫn trên trang web.

Cách 4: Điện thoại báo cáo trực tiếp cho Trung tâm trong trường hợp khẩn

cấp. Thông tin sau đó cần được điền vào mẫu báo cáo và gửi về Trung tâm theo

một trong ba cách nêu trên.

Phản hồi báo cáo từ phía Trung tâm Quốc gia và các Trung tâm Khu vực về Thông tin thuốc và Theo dõi phản ứng có hại của thuốc

- Khi nhận được báo cáo ADR, Trung tâm Quốc gia hoặc Trung tâm khu

vực sẽ gửi thư xác nhận cảm ơn tới đơn vị/cá nhân đã gửi báo cáo.

- Các báo cáo ADR sẽ được Trung tâm Quốc gia hoặc Trung tâm khu vực

thẩm định theo Quy trình xử lý báo cáo ADR của Trung tâm.

12

- Định kỳ hàng năm, Trung tâm Quốc gia tổ chức tổng kết, phân loại báo

cáo ADR, gửi báo cáo tổng kết công tác báo cáo ADR về Bộ Y tế, Y tế Ngành, các

Sở Y tế và các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.

- Trong trường hợp cần phản hồi nhanh, đặc biệt với các ADR nghiêm trọng, Trung tâm Quốc gia hoặc Trung tâm khu vực sẽ nhanh chóng tiến hành thu thập

thông tin và thẩm định để gửi phản hồi cho nhân viên y tế, cơ sở khám bệnh, chữa

bệnh đã gửi báo cáo [10].

1.1.3.5. Đánh giá ADR

Trước khi quy kết biến cố bất lợi xảy ra có liên quan đến thuốc không, các

hoạt động đánh giá sẽ dựa trên thông tin của biến cố bất lợi ghi nhận được. Khái

niệm biến cố bất lợi được dùng thay cho ADR [10].

Đánh giá ADR bao gồm các hoạt động:

- Đánh giá mức độ nghiêm trọng.

- Đánh giá mức độ nặng.

- Đánh giá mối quan hệ nhân quả.

- Đánh giá khả năng phòng tránh được của ADR.

- Tổng kết dữ liệu ADR định kỳ [10].

1.1.3.6. Dự phòng ADR

- Nhiều phản ứng có hại của thuốc có thể ngăn ngừa được bằng các biện

pháp dự phòng trong quá trình sử dụng thuốc cho người bệnh. Để dự phòng ADR,

trước hết các đối tác tham gia hoạt động giám sát ADR trong cơ sở khám bệnh,

chữa bệnh cần tổ chức thực hiện hoạt động giám sát ADR theo Phần IV của Hướng

dẫn này.

- Bên cạnh đó, theo chu trình của hoạt động giám sát ADR trong cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, sau khi đánh giá ADR, khoa Dược (hoặc bộ phận Dược lâm sàng), phòng Kế hoạch tổng hợp, phòng Quản lý chất lượng hoặc đơn vị đầu mối được phân công cần tư vấn cho Hội đồng Thuốc và điều trị và người đứng đầu cơ sở khám bệnh, chữa bệnh phê duyệt và triển khai kế hoạch giám sát và giảm thiểu ADR để giúp hạn chế xuất hiện lại các ADR có thể phòng tránh được [10].

13

1.2 . Hệ thống báo cáo tự nguyện

1.2.1. Định nghĩa

Hệ thống báo cáo tự nguyện về ADR được định nghĩa là: “một hệ thống mà

các báo cáo về các phản ứng có hại của thuốc được các cán bộ y tế và các công ty dược phẩm thu thập và gửi tới cho cơ quan có thẩm quyền quản lý về các phản ứng

có hại của thuốc một cách tự nguyện” [3].

Sự thành công hay thất bại của bất kỳ hoạt động Cảnh giác Dược nào cũng đều phụ thuộc vào hệ thống báo cáo ADR tự nguyện. Cho đến nay, cán bộ y tế vẫn

là đối tượng báo cáo tự nguyện chủ yếu của hoạt động này [3].

1.2.2. Ưu điểm, hạn chế

Hệ thông báo cáo tự phát được sử dụng rộng rãi phổ biến ở nhiều quốc gia,

bởi những ưu điểm [6, 11]:

- Trong tất cả các nguồn dữ liệu theo dõi an toàn thuốc, hệ thống báo cáo tự

nguyện cung cấp lượng thông tin nhiều nhất với chi phí thấp nhất.

- Phát hiện các ADR mới, hiếm gặp và nghiêm trọng vẫn chưa được phát

hiện trong các thử nghiệm lâm sàng trước khi đưa ra thị trường.

- Hỗ trợ việc phát hiện sớm các vấn liên quan đến thuốc hoặc cách mà bệnh

nhân sử dụng chúng. Xác định sớm các tín hiệu và việc xây dựng các giả thuyết,

dẫn đến các nghiên cứu bổ sung hoặc đôi khi là đưa ra các cảnh báo và thay đổi

thông tin về sản phẩm.

- Báo cáo tự nguyện diễn ra trong suốt vòng đời của một loại thuốc, bắt đầu

từ ngày nó được tung ra thị trường. Nó cung cấp thông tin từ thực tế lâm sàng thay

vì các thử nghiệm nghiên cứu (các cá nhân dễ bị tổn thương không được lựa chọn

để thử nghiệm và thời gian điều trị bị hạn chế).

Tuy nhiên, báo cáo tự nguyện cũng có một số hạn chế [11]:

- Thực trạng báo cáo thiếu dẫn đến tỷ lệ báo cáo tự phát là còn thấp so với số lượng mắc ADR thực tế, gây khó khăn cho việc ước tính tỷ lệ và tần suất của ADR thông qua báo cáo tự nguyện.

- Hệ thống báo cáo nguyện là một phương pháp giám sát thụ động chỉ dựa

vào các cán bộ y tế để phát hiện và chủ động báo cáo ADR. Việc báo cáo thay đổi

14

tùy theo kỹ năng và kinh nghiệm, mức độ hiểu biết của họ về hệ thống báo cáo tự

nguyện cũng như khối lượng công việc của họ.

1.2.3. Tình hình báo cáo ADR ở Việt Nam

Trung tâm DI&ADR Hà Nội trực thuộc Cục Quản lý Dược được thành lập năm 1994, năm 1998 Trung tâm DI & ADR phía Nam đặt tại Thành phố Hồ Chí

Minh được thành lập với nhiệm vụ chính là thu thập và tổ chức thẩm định báo cáo

ADR.. Đến năm 1999 Việt Nam đã được gia nhâp hệ thống mạng lưới của Tổ chức Giám sát thuốc toàn cầu UMC (Upssala Monitoring Centre) [12].

Theo quyết định 991/QĐ-BYT ngày 24/03/2009 của Bộ trưởng Bộ Y tế,

Trung tâm DI & ADR Quốc gia được thành lập. Trung tâm đã chính thức khai

trương và đi vào hoạt động ngày 09/06/2009. Trung tâm là một đơn vị sự nghiệp có thu trực thuộc trường Đại học Dược Hà Nội, có tư cách pháp nhân, có con dấu

và tài khoản riêng theo qui định của pháp luật [12].

Trung tâm DI & ADR Quốc gia tổ chức và hoạt động theo Quy chế tổ chức

hoạt động của Trung tâm Quốc gia về Thông tin thuốc và Theo dõi phản ứng có

hại của thuốc do Trường Đại học Dược Hà Nội ban hành theo quyết định số 11/NQ-

HĐTDHN ngày 10/3/2022 [13].

Trong giai đoạn 1994 – 2006, hoạt động của 2 Trung tâm này đã đạt một số

kết quả quan trọng:

- Tiếp nhận: 6.164 báo cáo ADR trong giai đoạn 2004-2008 (trước đó không

có số liệu thống kê).

- Thẩm định: hoàn thành thẩm định 2.805 báo cáo ADR trong giai đoạn

2004-2006, đang thẩm định báo cáo năm 2007, 2008 (trước đó không có số liệu

thống kê).

- Gửi báo cáo ADR tới Trung tâm theo dõi ADR của WHO: 2 đợt (đợt 1

năm 2001, đợt 2 năm 2006).

- Tổ chức tập huấn DI&ADR: khoảng 60 lớp cho cán bộ y tế.

- Xuất bản một số tài liệu, poster về ADR [14].

Hội nghị Cảnh giác Dược 2018 chỉ ra thực trạng của hệ thống báo cáo

AE/SAE (phản ứng bất lợi/phản ứng bất lợi nghiêm trọng) tại các tổ chức nhận thử

ở Việt Nam:

15

- Chưa hoàn thiện về tổ chức quản lý.

- Thiếu chính sách chuyên biệt, các qui trình kỹ thuật.

- Chưa được đào tạo đặc thù về báo cáo SAE [15].

Hình 1.1: Số lượng báo cáo ADR từ năm 2003 đến 2022

Số lượng báo cáo ADR tự nguyện ghi nhận tại Việt Nam nhìn chung tăng

dần trong giai đoạn 2003 – 2022 và đạt tới 19591 báo cáo vào năm 2022 (hình 1.1),

tương đương với tỷ lệ 199 báo cáo/ 1 triệu dân [8]. Có thể thấy tỷ lệ này đã khá

tương đồng với tỷ lệ tiêu chuẩn của một hệ thống thu thập báo cáo ADR tự nguyện

có hiệu quả mà Tổ chức Y tế thế giới đã đề ra (200 báo cáo/ 1 triệu dân) [16].

Tổng kết công tác báo cáo ADR năm 2022 cho thấy trong số các báo cáo

đã tiếp nhận, có có 19352 (98,75%) báo cáo về biến cố bất lợi của thuốc, 109

(0,6%) báo cáo về chất lượng thuốc, 15 (0,08%) báo cáo về sai sót trong sử dụng thuốc và 132 (0,67%) báo cáo về các vấn đề khác (báo cáo liên quan đến thiết bị y

tế, sử dụng với chỉ định chưa được phê duyệt…) [8]. Ngoài ra thì tỷ lệ báo cáo vẫn chưa đồng đều giữa các địa phương, khu vực và các tuyến bệnh viện [8].

Việc gửi báo cáo ADR nhiều khi vẫn mang tính hình thức còn thể hiện ở chất lượng báo cáo. Luận văn tốt nghiệp “Phân tích thực trạng báo cáo SAE trong

TNLS thuốc tại VN giai đoạn 2014-2017” của Điều Huy Anh Quân đã chỉ ra rằng

trong năm 2017 có tới 123 báo cáo (32%) không đủ thông tin xác định người báo

16

cáo, 55 báo cáo (14%) không đủ thông tin xác định thuốc nghiên cứu, 334 báo cáo

(87%) không có thông tin về thuốc dùng kèm [15].

Như vậy, hoạt động báo cáo ADR tự nguyện ở Việt Nam đã có những kết

quả tích cực nhưng vẫn còn nhiều hạn chế cả về số lượng và chất lượng báo cáo cần được khắc phục.

1.3. Hoạt động Cảnh giác Dược với thuốc điều trị ung thư

1.3.1. Sự cần thiết triển khai hoạt động Cảnh giác Dược với các bệnh viện/khoa phòng về ung bướu

Ở Úc, 11% các ADR tại bệnh viện có liên quan đến thuốc chống ung thư và

thuốc ức chế miễn dịch đối với thuốc chống ung thư là tác nhân phổ biến nhất cho

lí do nhập viện liên quan đến thuốc [17]. Ngoài ra, các bệnh nhân ung thư gặp ít nhất một ADR khi nhập viện hoặc trong thời gian nằm viện, và hơn 40% bệnh

nhân gặp phải 3 ADR hoặc nhiều hơn, 88% các ADR này được đánh giá là có thể

dự đoán được [17].

Một nghiên cứu ở Ấn Độ diễn ra trong vòng 2 năm, 1008 bệnh nhân ung

thư được điều trị bằng hóa trị liệu, kết quả thu được 591 báo cáo về ADR (58,6%),

trong đó 12,9% ADR được đánh ở mức độ nghiêm trọng [17], tỉ lệ này cũng được

ghi nhận là 8,2% ở một nghiên cứu khác [18]. Cùng với đó, tỉ lệ ADR có thể phòng

ngừa được là 49% [18], con số này lần lượt là 45,3% và 52,2% ở 2 nghiên cứu

khác diễn ra ở Ấn Độ và Nepal [19, 20]. Thang điểm Naranjo được sử dụng để

đánh giá mối liên quan giữa thuốc và ADR trong quá trình nghiên cứu, kết quả là

80% các ADR có thể xảy ra (điểm 1-4) [17], phù hợp với kết quả của một số nghiên

cứu khác là 86,7% và 66% [19, 20]. Qua đây nhấn mạnh vai trò của hoạt động

giám sát như một công cụ để phát hiện sớm, đánh giá và quản lí kịp thời ADR ở

bệnh nhân phải trải qua hóa trị liệu [21].

Theo một nghiên cứu ở Mỹ, phản ứng có hại của thuốc trung bình làm tăng thời gian nằm viện của mỗi bệnh nhân lên 2.2 ngày, khiến sự gia tăng chi phí lên tới 3244 đô-la Mỹ (với thời giá đô-la năm 1997) [21].

Nhiều nghiên cứu trên thế giới cho thấy việc đào tạo và tập huấn về hoạt động Cảnh giác Dược để nâng cao kiến thức, thái độ và thực hành cho cán bộ y tế

giúp cải thiện tích cực số lượng cũng như chất lượng báo cáo ADR nói chung [22], [23, 24], và đặc biệt trong điều trị ung thư nói riêng [25].

17

Như vậy, hoạt động Cảnh giác Dược trong bệnh viện là rất quan trọng, đặc

biệt là hoạt động báo cáo ADR tự nguyện, giúp phát hiện và giảm thiểu những

phản ứng có hại của thuốc, đảm bảo sự an toàn cho người bệnh, đồng thời giảm

bớt gánh nặng về chi phí và thời gian điều trị bệnh, đặc biệt là đối với ung thư, khi mà đa số các thuốc điều trị đều có khoảng điều trị hẹp và độc tính cao.

1.3.2. Các ADR thường gặp của thuốc điều trị ung thư

Thuốc điều trị ung thư thường tác động không phân biệt đối với tế bào bình thường hay tế bào ung thư nên thường gây nhiều tác dụng phụ và độc tính. Một số

tác dụng phụ thường gặp như: nôn và buồn nôn, ức chế tủy xương, tiêu chảy, viêm

loét niêm mạc, giảm bạch cầu, giảm tiểu cầu, thiếu máu, thoát mạch,...[26].

Một nghiên cứu tại Ấn Độ trong vòng 2 năm đã cho thấy hệ thống bị ảnh hưởng nhiều nhất bởi ADR do hoá trị là tiêu hóa (43,7%), tiếp theo là da liễu

(24,9%) và huyết học (23,2%), cụ thể các ADR thường gặp bao gồm buồn nôn và

nôn (25,5%), rụng tóc (20,9%), giảm bạch cầu (18,6%), sau đó là tiêu chảy (7,1%),

viêm dạ dày (3,4%) [17]. Ở một nghiên cứu khác, thiếu máu là ADR phổ biến nhất

với 42,6%, tiếp đó là giảm bạch cầu trung tính (31,1%), yếu cơ (29,5%) và táo bón

(28,7%) [19].

1.4. Giới thiệu về Bệnh viện E và Trung tâm ung bướu

1.4.1. Vài nét về Bệnh viện E

Bệnh viện E là bệnh viện đa khoa trung ương hạng I trực thuộc Bộ Y tế,

được thành lập theo Quyết định số 175/TTg-Vg của Thủ tướng Chính phủ ngày 17

tháng 10 năm 1967 [27].

Trong những năm gần đây, Bệnh viện được Đảng, Nhà nước và Bộ Y tế

quan tâm, tạo điều kiện đầu tư về cơ sở vật chất, trang thiết bị chuyên môn, kỹ

thuật, đào tạo và nghiên cứu khoa học... Nhiều khoa, phòng, trung tâm mới được thành lập. Đội ngũ y, bác sĩ của Bệnh viện E đã làm chủ nhiều kỹ thuật tiên tiến về phẫu thuật và can thiệp tim mạch, phẫu thuật thần kinh sọ não, chấn thương chỉnh

hình, nội soi can thiệp tiêu hóa... Đến nay, bệnh viện đã phát triển với quy mô hơn 1.000 giường bệnh (gồm Trung tâm Tim mạch và 62 khoa phòng chức năng) trên diện tích 41.000 m2 với khuôn viên rộng rãi, thoáng mát, xanh, sạch, đẹp. Đội ngũ nhân viên y tế có trình độ chuyên môn cao được đào tạo bài bản, tâm huyết với Bệnh viện. Quan hệ hợp tác ngày càng phát triển, tạo cơ hội cho bệnh viện tiếp cận

được những kỹ thuật cao ngang tầm khu vực và thế giới. Chất lượng dịch vụ khám,

18

chữa bệnh được nâng cao, cảnh quan bệnh viện xanh, sạch, đẹp. Uy tín và thương

hiệu của Bệnh viện được khẳng định. Người bệnh đến khám và điều trị ngày một

tăng lên [27].

1.4.2. Giới thiệu về Trung tâm Ung bướu - Bệnh viện E

Chuyên ngành ung bướu đang có sự phân bố không đều và chưa đáp ứng

nhu cầu khám chữa bệnh của người dân [27]. Trung tâm Ung bướu - Bệnh viện E

là một trong những đơn vị điều trị ung bướu dù được thành lập và đi vào hoạt động

trong thời gian gần đây, nhưng với cơ sở vật chất, trang bị hiện đại, Trung tâm Ung

bướu - Bệnh viện E sẽ trở thành một địa chỉ khám chữa bệnh giúp nhiều người

bệnh được điều trị tốt hơn trong tương lai [27].

GS.TS Lê Ngọc Thành – Giám đốc Bệnh viện E khẳng định: Mục tiêu sự

hợp tác, hỗ trợ giữa Bệnh viện E và Bệnh viện Bạch Mai nhằm hướng tới việc khám chữa bệnh chuyên ngành ung bướu được chuyên nghiệp, giúp người bệnh

được khám, tư vấn và điều trị một cách tốt nhất. Cơ sở vật chất, trang thiết bị của

Bệnh viện E được trang bị hiện đại chắc chắn sẽ đáp ứng mọi nhu cầu điều trị của

người bệnh ung bướu [27].

Ngoài ra, GS Thành cũng mong muốn, các khoa chuyên ngành ung bướu

của Bệnh viện E không chỉ là nơi khám chữa bệnh cho người dân mà phải là nơi

đào tạo cho sinh viên, học viên, nghiên cứu sinh… của các trường Đại học: Y Hà

Nội, Y dược – Đại học QGHN… [27].

1.4.3. Quy trình giám sát ADR tại Bệnh viện E

Quy trình giám sát ADR tại Bệnh viện E được trình bày trong bảng 1.1.

Bảng 1.1. Quy trình báo cáo ADR của Bệnh viện E

Mô tả/ Tài liệu liên quan Trách nhiệm Các bước thực hiện

- Theo dõi và phát hiện những biểu hiện lâm sàng và cận lâm sàng bất thường xảy ra trên người bệnh dựa trên các thông tin do người bệnh cung cấp và các triệu chứng ghi nhận được trong quá trình chăm sóc, theo dõi người bệnh.

- Thông báo ngay cho bác sĩ điều trị và Khoa Dược về tình trạng bất thường của người bệnh. Điều dưỡng viên, hộ sinh viên, kỹ thuật viên

- Ghi lại các thông tin liên quan tới các thuốc mà người bệnh đã sử dụng vào mẫu báo cáo ADR

19

lưu tại khoa các mục: 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 12, 13, 14, 15, 16

- Giữ lại vỏ bao bì thuốc, vỉ thuốc mà người bệnh đã sử dụng để tham khảo trong trường hợp cần thêm thông tin. Phát hiện ADR Xử trí ADR

- Trong trường hợp khẩn cấp, có thể ngừng sử dụng thuốc nghi ngờ gây ảnh hưởng tới tính mạng người bệnh trước khi thông báo cho bác sĩ.

- Kiểm tra lại tất cả các thuốc thực tế người bệnh đã sử dụng: chất lượng, chỉ định thuốc, liều dùng, tiền sử dị ứng thuốc của BN, thời điểm dùng thuốc.

- Kiểm tra lại tình trạng và các xét nghiệm của bệnh nhân. Đánh giá và xử trí ADR

Bác sỹ - Đánh giá mức độ nghiêm trọng của ADR để quyết định hướng xử trí lâm sàng phù hợp đánh giá theo mục 11, 12 trong mẫu báo cáo.

- Giám sát chặt chẽ người bệnh trong trường hợp bắt buộc sử dụng lại thuốc nghi ngờ gây ADR khi không có thuốc thay thế hoặc khi lợi ích của thuốc vượt trội hơn nguy cơ.

- Tra cứu xem ADR đã được ghi nhận trong tờ hướng dẫn sử dụng thuốc hay các tài liệu y văn về thuốc chưa.

- Hoàn thiện các nội dung về thuốc trên mẫu báo cáo ADR (nhà sản xuất, số lô mục 13, 18)

Dược sỹ Hoàn thiện báo cáo ADR - Gửi báo cáo đến Trung tâm thông tin thuốc Quốc gia.

- Gửi bản sao đến Phòng Quản lý chất lượng Bệnh viện E.

- Gửi báo cáo đến Trung tâm thông tin thuốc Quốc gia. Dược sỹ

- Gửi bản sao đến Phòng Quản lý chất lượng Bệnh viện E. Gửi báo cáo ADR

20

Chương 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

Các báo cáo ADR của Bệnh viện E gửi tới Trung tâm DI & ADR Quốc gia

giai đoạn 2022 – 2023.

2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu

Thời gian nghiên cứu: từ tháng 11/2022 - 05/2023

Địa điểm nghiên cứu: Nghiên cứu được tiến hành tại Khoa Dược và Trung

tâm ung bướu của Bệnh viện E.

2.3. Phương pháp nghiên cứu

Mục tiêu 1: Mô tả hoạt động báo cáo ADR tại Bệnh viện E gửi tới Trung

tâm DI & ADR Quốc gia giai đoạn 01/2022 - 03/2023.

- Phương pháp nghiên cứu: Mô tả cắt ngang.

- Phương pháp thu thập dữ liệu: Hồi cứu dữ liệu từ Cơ sở dữ liệu về báo cáo

ADR của Bệnh viện E được gửi tới Trung tâm DI & ADR Quốc gia từ 01/2022 -

03/2023.

- Cấu trúc dữ liệu: Dữ liệu gồm 3 phần chính là thông tin về báo cáo, thông

tin về thuốc nghi ngờ và đánh giá chất lượng báo cáo ADR.

Mục tiêu 2: Mô tả hoạt động báo cáo ADR do hoá trị liệu của Trung tâm

Ung bướu – Bệnh viện E giai đoạn 01/2022 - 05/2023.

- Phương pháp nghiên cứu: Mô tả cắt ngang kết hợp với nghiên cứu tiến

cứu.

- Phương pháp thu thập số liệu:

+ Hồi cứu dữ liệu từ Cơ sở dữ liệu về báo cáo ADR tại Trung tâm Ung

bướu - Bệnh viện E được gửi tới Trung tâm DI & ADR Quốc gia từ 01/2022 - 03/2023.

+ Tiến cứu thu thập thông tin ADR chủ động của nhóm nghiên cứu gồm 1 dược sĩ lâm sàng và 1 sinh viên diễn ra trong tháng 4/2023 theo quy trình như sau:

21

Đầu tiên, chúng tôi rà soát danh mục thuốc điều trị ung thư hiện được sử

dụng tại Bệnh viện E, phân loại các thuốc theo dược chất, và lập bảng các tác dụng

không mong muốn của từng dược chất đã được ghi nhận trong Dược thư Quốc gia.

Sau đó tiến hành thu thập ADR bằng cách: theo dõi, ghi chép lại những bệnh nhân đang điều trị hoá trị liệu tại Trung tâm Ung bướu, phỏng vấn và thăm

hỏi trực tiếp những bệnh nhân này, từ đó thu thập lại những triệu chứng, biểu hiện

ADR nếu có (những ADR này trước hết sẽ được đối chiếu với bảng tác dụng không mong muốn đã lập nói trên, và xem xét xem liệu thuốc điều trị ung thư mà bệnh

nhân đang sử dụng có thể là nguyên nhân gây ra ADR hay không), sau đó kết hợp

với bệnh án để viết báo cáo. Các báo cáo ADR cuối cùng được thông qua dược sỹ

lâm kiểm duyệt và gửi lên Trung tâm DI & ADR Quốc gia trong tháng 4 và đầu tháng 5/2023.

- Cấu trúc dữ liệu: Dữ liệu gồm 4 phần chính là thông tin về báo cáo, thông

tin về thuốc nghi ngờ, thông tin về ADR và đánh giá chất lượng báo cáo ADR.

2.4. Chỉ tiêu nghiên cứu

2.4.1. Mô tả thực trạng báo cáo phản ứng có hại của thuốc tại Bệnh viện E

giai đoạn 01/2022 – 03/2023

a) Thông tin về báo cáo

- Số lượng và tỷ lệ báo cáo ADR của Bệnh viện E so với tổng số báo cáo

ADR của cả nước.

- Thời gian trì hoãn gửi báo cáo ADR: là thời gian từ khi ADR xảy ra đến

khi báo cáo ADR này được gửi về Trung tâm DI&ADR Quốc gia.

- Các khoa phòng tham gia báo cáo ADR.

- Đối tượng tham gia báo cáo: tỷ lệ báo cáo theo trình độ chuyên môn.

b) Thông tin về thuốc nghi ngờ gây ADR

Thuốc nghi ngờ gây ADR được phân loại theo hệ thống phân loại ATC. Mã ATC là một hệ thống phân loại mà trong đó các hoạt chất được phân vào những nhóm khác nhau tương ứng với cơ quan hoặc hệ cơ quan mà chúng tác động cũng như những đặc tính điều trị, đặc tính dược lý và đặc tính hóa học của chúng [28].

- Tổng hợp báo cáo ADR theo lý do sử dụng thuốc: sử dụng phân loại ICD-

10 của WHO.

22

- Các đường dùng thuốc nghi ngờ gây ADR được báo cáo.

- Các nhóm dược lý được báo cáo nhiều nhất.

c) Chất lượng báo cáo ADR

- Chất lượng báo cáo được đánh giá dựa trên cách tính điểm hoàn thành báo cáo (report completeness score) theo thang điểm VigiGrade của hệ thống

Documentation grading thuộc Trung tâm theo dõi Uppsala của Tổ chức Y tế thế

giới WHO (Trung tâm WHO–UMC) [29].

+ Điểm hoàn thành một báo cáo được tính bằng trung bình cộng điểm của

các cặp thuốc – ADR trong báo cáo, với điểm hoàn thành báo cáo của một cặp

10

thuốc – ADR được tính theo công thức:

𝐶 = ∏

(1 − 𝑃𝑖)

𝑖=1

Trong đó: C là điểm hoàn thành của một cặp thuốc – ADR

Pi là điểm phạt của mỗi trường thông tin bị thiếu (Phụ lục 1) [29]

+ Các báo cáo không có thông tin về thuốc nghi ngờ và/hoặc không mô tả

biểu hiện ADR được xếp vào nhóm không đủ điều kiện đánh giá (0 điểm).

+ Điểm hoàn thành của một báo cáo thấp nhất là 0 và cao nhất là 1. Báo cáo

có điểm hoàn thành < 0,8 là báo cáo kém chất lượng và báo cáo có điểm hoàn

thành từ 0,8 đến 1 điểm là báo cáo chất lượng tốt.

- So sánh chất lượng báo cáo ADR giữa các năm thông qua điểm hoàn thành

báo cáo trung bình.

2.4.2. Mô tả thực trạng báo cáo phản ứng có hại của thuốc hoá trị tại Trung

tâm Ung bướu – Bệnh viện E giai đoạn 01/2022 – 05/2023

a) Thông tin về báo cáo

- Số lượng và tỷ lệ báo cáo ADR do hoá trị liệu của Trung tâm Ung bướu

so với tổng số báo cáo ADR của Bệnh viện E.

- Tỷ lệ báo cáo ADR nghiêm trọng: các báo cáo ADR nghiêm trọng là các

báo cáo có ADR được phân loại từ mức độ 3 trở lên (độ 3, 4 và 5) theo “Bảng kiểm giám sát tác dụng không mong muốn, độc tính của hóa trị” tại quyết định số 3809/QĐ-BYT ngày 27/08/2019 về việc ban hành Hướng dẫn thực hành dược lâm

23

sàng cho Dược sỹ trong một số bệnh không lây nhiễm (phụ lục 2) [26]. Đối với

một số ADR không thường gặp khác sẽ được đối chiếu và phân loại ở mức độ 3

(phản ứng nặng yêu cầu nhập viện hoặc kéo dài thời gian nằm viện) và mức độ 4

(phản ứng gây tử vong hoặc đe dọa tính mạng) theo thang phân loại mức độ nghiêm trọng của ADR của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) [30].

- Thời gian trì hoãn gửi báo cáo ADR.

- Đối tượng tham gia báo cáo: tỷ lệ báo cáo theo trình độ chuyên môn.

b) Thông tin về thuốc nghi ngờ gây ADR

- Các đường dùng thuốc nghi ngờ gây ADR được báo cáo.

- Các thuốc nghi ngờ được báo cáo.

c) Thông tin về ADR

- Các biểu hiện ADR được ghi nhận.

- Mức quy kết quan hệ nhân quả thuốc – ADR: là kết quả đánh giá theo

thang điểm Najanro (phụ lục 3) [31].

- Các ADR hiếm gặp: là những phản ứng có tần suất xuất hiện nhỏ hơn

1/1000 theo Dược thư Quốc gia Việt Nam [32].

d) Chất lượng báo cáo ADR

- Chất lượng báo cáo được đánh giá dựa trên cách tính điểm hoàn thành báo

cáo theo thang điểm VigiGrade [29].

- So sánh chất lượng báo cáo ADR giữa các năm thông qua điểm hoàn thành

báo cáo trung bình.

2.5. Phương pháp xử lý số liệu

Số liệu được thu thập và xử lý bằng phương pháp thống kê mô tả qua

chương trình Microsoft Excel 2016.

24

Chương 3. KẾT QUẢ

3.1. Mô tả thực trạng báo cáo phản ứng có hại của thuốc tại Bệnh viện E giai đoạn 01/2022 – 03/2023

3.1.1. Thông tin về báo cáo

3.1.1.1. Số lượng báo cáo ADR

Tổng số báo cáo ADR của Bệnh viện E giai đoạn từ 01/2022 - 03/2023 là 47

báo cáo, số lượng báo cáo ADR theo năm được trình bày trong bảng 3.1.

Bảng 3.1. Số lượng báo cáo ADR của Bệnh viện E

Số báo cáo ADR Số báo cáo ADR từ các cơ sở Tỷ lệ (%) Thời gian của Bệnh viện E khám, chữa bệnh trên cả nước

2022 35 14 942 0,23

01-03/2023 12 4 029 0,30

Số lượng báo cáo nhìn chung có sự tăng nhẹ khi chỉ trong quý 1 năm 2023, số báo cáo ADR bằng khoảng 1/3 so với tổng số báo cáo toàn năm 2022. Tuy nhiên tỷ

lệ số lượng báo cáo của Bệnh viện E so với cả nước vẫn còn thấp.

3.1.1.2. Thời gian trì hoãn gửi báo cáo ADR

Kết quả thời gian trì hoãn gửi báo cáo ADR của Bệnh viện E đến Trung tâm

DI&ADR Quốc gia được thể hiện trong hình 3.1.

Thời gian trì hoãn trung bình (ngày)

6

5,69

5,25

5

4

3

2

1

0

2022

01-03/2023

Hình 3.1. Thời gian trì hoãn gửi báo cáo trung bình (ngày)

của Bệnh viện E

25

Thời gian trì hoãn gửi báo cáo trung bình của bệnh viện khá ngắn và có xu

hướng giảm nhẹ, trong tổng số 47 báo cáo chỉ có duy nhất 1 báo cáo chưa được gửi

đúng thời hạn quy định theo “Hướng dẫn hoạt động giám sát phản ứng có hại của

thuốc của Bộ Y tế” [10].

3.1.1.3. Các khoa phòng tham gia báo cáo

Số lượng và tỷ lệ báo cáo ADR của các khoa phòng trong bệnh viện giai đoạn

01/2022 – 03/2023 được trình bày trong bảng 3.2.

Bảng 3.2 Các khoa phòng tham gia báo cáo ADR tại Bệnh viện E

Tỷ lệ (%) STT Khoa phòng Số báo cáo ADR N=47

Trung tâm Ung bướu 1 21 44,68

Khoa gây mê hồi sức ngoại – 2 10 21,28 Trung tâm tim mạch

3 Khoa cơ xương khớp 7 14,89

4 Khoa gan mật 5 10,64

5 Khoa gây mê hồi sức 1 2,13

6 Khoa PT tim mạch và lồng ngực 1 2,13

7 Khoa bệnh nhiệt đới 1 2,13

8 Không có thông tin 1 2,13

Có 7/36 khoa phòng (chiếm tỷ lệ 19,44%) có báo cáo ADR trong giai đoạn

01/2022 – 03/2023. Trong đó, Trung tâm Ung bướu có tỷ lệ báo cáo cao nhất

(44,68%), tiếp đến là khoa gây mê hồi sức ngoại – Trung tâm tim mạch (21,28%).

Bên cạnh đó, còn rất nhiều khoa phòng chưa tham gia báo cáo.

3.1.1.4. Đối tượng tham gia báo cáo

Chỉ có 3 nhân viên y tế đã tham gia viết và gửi báo cáo ADR tới Trung tâm DI & ADR Quốc gia, 100% đều là dược sĩ, chưa có bác sĩ, điều dưỡng nào tham gia báo cáo ADR.

3.1.2. Thông tin về thuốc nghi ngờ gây ADR

3.1.2.1. Tổng hợp báo cáo ADR theo lý do sử dụng thuốc

Tiến hành tổng hợp lý do sử dụng thuốc nghi ngờ gây ADR, kết quả được trình

bày qua bảng 3.3.

26

Bảng 3.3. Lý do sử dụng thuốc phân loại theo ICD-10

Tỷ lệ (%) Phân loại Loại bệnh tật Tần suất ICD N=47

C00-D48 U tân sinh 18 38,30

I00-I99 Bệnh hệ tuần hoàn 13 27,66

A00-B99 Bệnh nhiễm trùng và ký sinh trùng 8 17,02

M00-M99 Bệnh hệ cơ, xương, khớp và mô liên kết 5 10,64

K0-K93 Bệnh hệ tiêu hoá 3 6,38

Trong giai đoạn 01/2022 – 03/2023, u tân sinh là lý do sử dụng thuốc được

báo cáo nhiều nhất chiếm tỷ lệ 38,30%, thứ hai là bệnh tuần hoàn với 27,66%.

3.1.2.2. Các đường dùng gây ADR được báo cáo

Kết quả tổng hợp và phân loại các thuốc nghi ngờ gây ADR theo đường dùng

thuốc được trình bày trong bảng 3.4.

Bảng 3.4. Phân loại thuốc nghi ngờ gây ADR theo đường dùng thuốc

của Bệnh viện E

Tỷ lệ (%) Đường dùng Tần suất N = 66

Tiêm, truyền tĩnh mạch 56 84,85

Uống 8 12,12

Tiêm bắp 1 1,52

Bơm dạ dày 1 1,52

Các báo cáo ADR được ghi nhận chủ yếu khi bệnh nhân sử dụng thuốc theo đường tiêm, truyền tĩnh mạch (84,85%). Thuốc nghi ngờ gây ADR sử dụng theo đường uống chiếm tỷ lệ nhỏ (12,12%), còn lại tiêm bắp và bơm dạ dày đều chỉ có 1 báo cáo duy nhất (1,52%).

3.1.2.3. Các nhóm dược lý được báo cáo nhiều nhất

Các báo cáo ADR được tổng hợp phân loại theo họ dược lý của thuốc nghi ngờ gây ADR dựa vào mã ATC của thuốc. 10 họ dược lý được ghi nhận nhiều nhất được trình bày trong bảng 3.5.

27

Bảng 3.5. Các nhóm dược lý được báo cáo nhiều nhất của Bệnh viện E

Mã phân Tỷ lệ (%) Nhóm dược lý Tần suất loại ATC N=66

L01X Các thuốc chống ung thư khác 11 16,67

Các alkaloid thực vật và các sản phẩm tự L01C 9 13,64 nhiên khác

J01D Kháng khuẩn nhóm beta-lactam khác 8 12,12

Thuốc chống ung thư loại chống chuyển L01B 7 10,61 hoá

J01X 5 7,58 Các kháng sinh khác

Thuốc chống ung thư loại kháng thể đơn L01F 5 7,58 dòng và liên hợp thuốc – kháng thể

B01A 4 6,06 Thuốc chống đông máu

C01B 2 3,03 Thuốc chống loạn nhịp cấp I và III

L01A 2 3,03 Thuốc chống ung thư tác nhân alkyl hoá

Thuốc ảnh hưởng đến chuyển hoá muối M05B 2 3,03 khoáng

Nhóm thuốc chống ung thư được báo cáo với tần suất lên tới 34 lần, chiếm hơn một nửa tổng số các thuốc được báo cáo, chiểm tỷ lệ 51,52%, tiếp đó là nhóm kháng sinh với tỷ lệ là 19,70%.

3.1.3. Đánh giá chất lượng báo cáo ADR

3.1.3.1. Kết quả đánh giá chất lượng báo cáo ADR

Chất lượng báo cáo được đánh giá dựa trên cách tính điểm hoàn thành báo cáo theo thang VigiGrade của của Tổ chức Y tế thế giới. Kết quả đánh giá được trình bày trong hình 3.2.

28

88,57%

100%

11,43%

100% 90% 80% 70% 60% 50% 40% 30% 20% 10% 0%

2022

01-03/2023

<0,8

0,8-1

Hình 3.2. Chất lượng báo cáo ADR của Bệnh viện E

Năm 2022 có 4 báo cáo có điểm <0,8 (chất lượng chưa tốt), chiểm tỷ lệ

12,90%. Sang tới quý 1 năm 2023, 100% các báo cáo đều đạt chất lượng tốt với

điểm từ 0,8-1.

3.1.3.2. Điểm chất lượng báo cáo trung bình

Sự khác biệt điểm chất lượng báo cáo ADR giữa 2 năm được đánh giá thông

qua điểm chất lượng báo cáo trung bình ở bảng 3.6.

Bảng 3.6. Điểm chất lượng báo cáo trung bình của Bệnh viện E

Thời gian Điểm chất lượng báo cáo trung bình

2022 0,95

01-03/2023 1,00

Điểm trung bình báo cáo của Bệnh viện E trong quý 1 năm 2023 cao hơn so

với năm 2022, đặc biệt tất cả 12 báo cáo ở quý 1 năm 2023 đều đạt 1 điểm, ban đầu đã chứng tỏ sự trội hơn về chất lượng báo cáo so với năm 2022.

3.2. Mô tả thực trạng báo cáo phản ứng có hại của thuốc hoá trị tại Trung tâm Ung bướu – Bệnh viện E giai đoạn 01/2022 – 05/2023

3.2.1. Thông tin về báo cáo

3.2.1.1. Số lượng báo cáo ADR

29

Tổng số báo cáo ADR liên quan đến hoá trị liệu thu thập được tại Trung tâm

Ung bướu - Bệnh viện E từ 01/2022 - 05/2023 là 48 báo cáo, số lượng báo cáo ADR

theo năm và theo tháng được trình bày trong bảng 3.7 và hình 3.3.

Bảng 3.7. Số lượng báo cáo ADR của TTUB

Số báo cáo của Trung Tổng số báo cáo của Thời gian Tỷ lệ (%) tâm Ung bướu Bệnh viện E

2022 14 35 40,00

01-05/2023 34 45 75,56

Số lượng báo cáo theo tháng

25

23

20

15

10

8

6

4

4

5

2

1

0

0

0

0

0

0

0

0

0

0

0

Hình 3.3. Số lượng báo cáo ADR của TTUB theo từng tháng

Có thể thấy việc báo cáo ADR tại Trung tâm Ung bướu - Bệnh viện E chỉ mới

có dữ liệu bắt đầu từ tháng 10/2022, số lượng báo cáo ADR không đồng đều và có xu

hướng giảm. Ngoài ra, trong tháng 04-05/2023 do có sự theo dõi và chủ động báo cáo tích cực của nhóm nghiên cứu nên số lượng báo cáo tăng cao rõ rệt (23 báo cáo trong tháng 4 và 8 báo cáo được hoàn thiện gửi vào đầu tháng 5).

Tuy nhiên, dù số lượng báo cáo ADR tại Trung tâm Ung bướu chưa nhiều,

song lại chiếm tỷ lệ khá cao trên tổng số báo cáo của toàn bệnh viện E.

3.2.1.2. Số lượng ADR nghiêm trọng

30

Số lượng báo cáo ADR nghiêm trọng do hoá trị liệu tại Trung tâm Ung bướu-

Bệnh viện E được trình bày trong bảng 3.8.

Bảng 3.8. Số lượng báo cáo ADR nghiêm trọng của TTUB

Số ADR Tổng số ADR Thời gian Tỷ lệ (%) nghiêm trọng thu thập được

2022 3 14 21,43

01-05/2023 4 34 11,76

Số lượng báo cáo ADR nghiêm trọng thu thập được tại Trung tâm Ung bướu trong thời gian từ tháng 01-05/2023 là 4 báo cáo, cao hơn so với số báo cáo ADR

nghiêm trọng của cả năm 2022, nhưng do có sự báo cáo chủ động trong tháng 04-05

tại đây nên tổng số báo cáo ADR cũng tăng cao, vì vậy mà tỷ lệ số ADR nghiêm trọng

của năm 2023 thấp hơn gần một nửa (11,76% so với 21,43%). Trong 4 ADR nghiêm

trọng này, có 2 ADR được thu thập trong thời gian tiến cứu báo cáo chủ động của

nhóm nghiên cứu.

Các ADR nghiêm trọng đều liên quan đến hệ thống tiêu hoá, hệ thống tạo máu

hoặc phản ứng của cơ thể (tiêu chảy, nôn, hạ bạch cầu, hạ tiểu cầu, dị ứng).

3.2.1.3. Thời gian trì hoãn gửi báo cáo ADR

Kết quả thời gian trì hoãn gửi báo cáo ADR từ Trung tâm Ung bướu - Bệnh

viện E đến Trung tâm DI&ADR Quốc gia được thể hiện trong hình 3.4.

Thời gian trì hoãn trung bình (ngày)

8,41

9

8

6,86

7

6

5

4

3

2

1

0

2022

01-05/2023

Hình 3.4. Thời gian trì hoãn gửi báo cáo trung bình (ngày) của TTUB

31

Thời gian trì hoãn gửi báo cáo trung bình khá ngắn và có xu hướng tăng trong

giai đoạn 2022-2023 (từ 6,86 ngày đến 8,41 ngày). Tất cả cả các báo cáo đều được

gửi đúng thời hạn quy định theo Hướng dẫn hoạt động giám sát phản ứng có hại của

thuốc của Bộ Y tế [10].

3.2.1.4. Đối tượng tham gia báo cáo ADR

Chỉ có duy nhất 1 dược sỹ đã tham gia viết và gửi báo cáo ADR.

3.2.2. Thông tin về thuốc nghi ngờ gây ADR

3.1.2.1. Phân loại thuốc nghi ngờ gây ADR theo đường dùng thuốc

Kết quả tổng hợp và phân loại các thuốc nghi ngờ gây ADR theo đường dùng

thuốc được trình bày trong bảng 3.9.

Bảng 3.9. Phân loại thuốc nghi ngờ gây ADR

theo đường dùng thuốc của TTUB

Đường dùng Tần suất Tỷ lệ (%)

N = 90

Tiêm, truyền tĩnh mạch 84 93,33

Uống 6 6,67

Các báo cáo ADR được ghi nhận chủ yếu khi bệnh nhân sử dụng thuốc theo

đường tiêm, truyền tĩnh mạnh, chiếm tỷ lệ lên tới 93,33%, còn lại 6,67% có liên quan

đến đường uống.

3.2.2.2. Các thuốc nghi ngờ gây ADR được báo cáo

Các thuốc nghi ngờ gây ADR trong hoá trị liệu (được tổng hợp dưới dạng dược

chất chính của thuốc) được trình bày trong bảng 3.10.

Bảng 3.10. Các thuốc nghi ngờ gây ADR được báo cáo tại TTUB

STT Các thuốc nghi ngờ gây ADR Tần suất Tỷ lệ (%) N=90

13,33 12 1 Gemcitabin

11,11 10 2 Cisplatin

32

Carboplatin 3 8 8,89

Cyclophosphamide 4 7 7,78

5 Oxaliplatin 7 7,78

6 Paclitaxel 7 7,78

7 Rituximab 7 7,78

8 Capecitabin 5 5,56

9 Vincristin 5 5,56

10 Fluorouracil 4 4,44

11 Pemetrexed 4 4,44

12 Doxorubincin 3 3,33

13 Trastuzumab 3 3,33

14 Etoposide 2 2,22

15 Irinotecan 2 2,22

16 Bevacizumab 1 1,11

17 Docetaxel 1 1,11

18 Temolozomide 1 1,11

19 Vinorelbin 1 1,11

Gemcitabin là thuốc bị nghi ngờ gây ADR nhiều nhất với tỷ lệ 13,33%, tiếp theo là Cisplatin với 11,11%. Trong số các thuốc nghi ngờ gây ADR được báo cáo, có tới 3 đại diện thuộc nhóm hợp chất platin (cisplatin, oxaliplatin, carboplatin) với tần suất xuất hiện tổng cộng là 25 lần, chiếm tỉ lệ lên tới 27,78%.

3.2.3. Thông tin về ADR

3.2.3.1. Các biểu hiện ADR được ghi nhận

Các biểu hiện ADR được ghi nhận được thống kê và trình bày trong bảng 3.11.

33

Bảng 3.11. Các biểu hiện ADR được ghi nhận tại TTUB

STT Biểu hiện ADR Tần suất

Tỷ lệ (%) N=56

Buồn nôn 1 19,64 11

Hạ bạch cầu 2 14,29 8

Nấc 3 8,93 5

4 Mất ngủ 7,14 4

Nôn 5 7,14 4

Táo bón 6 7,14 4

Dị ứng 7 5,36 3

8 Hạ hemoglobin 5,36 3

9 Hạ tiểu cầu 5,36 3

10 Tê tay chân 5,36 3

11 Rụng tóc 3,57 2

12 Tiêu chảy 3,57 2

13 Chướng bụng, đầy hơi 1,79 1

14 Kém ăn 1,79 1

15 Thoát mạch 1,79 1

Buồn nôn và hạ bạch cầu là hai ADR được ghi nhận nhiều nhất với tỷ lệ lần lượt chiếm 19,64% và 14,29%. Các biểu hiện được báo cáo nhiều nhất chủ yếu liên quan tới tiêu hoá và huyết học, trong đó ADR về tiêu hoá gồm buồn nôn, nôn, táo bón, tiêu chảy, chướng bụng đầy hơi chiếm 39,28% các biểu hiện ADR được ghi nhận, tiếp đó là hạ bạch cầu, hạ tiểu cầu và hạ hemoglobin với tổng cộng phần trăm

chiếm tới 25,01%. Đặc biệt, phản ứng dị ứng được báo cáo tới 2 lần đối khi bệnh nhân sử dụng oxaliplatin.

34

3.2.3.2. Kết quả đánh giá mối liên quan giữa thuốc và ADR

Mối quan hệ nhân quả giữa thuốc và ADR được đánh giá theo thang điểm

Naranjo. Do mỗi báo cáo có một hoặc nhiều thuốc và một hoặc nhiều ADR nên tổng

số cặp thuốc – ADR đã được đánh giá là 111 cặp. Kết quả đánh giá được thống kê trong bảng 3.12.

Bảng 3.12. Kết quả đánh giá mối liên quan giữa thuốc – ADR của TTUB

Mức độ quy kết Tần suất Tỷ lệ (%) N=111

Chắc chắn 0 0,00

Có khả năng 54 48,65

Có thể 57 51,35

Không chắc chắn 0 0,00

Chưa phân loại 0 0,00

Không thể phân loại 0 0,00

Tất cả các cặp thuốc - ADR đều được phân loại ở mức “có khả năng” và “có

thể” với tỷ lệ lần lượt là 48,65% và 51,35%, không có cặp thuốc nào được phân loại

ở mức độ cao nhất “chắc chắn”, và cũng không có cặp thuốc nào được phân loại ở

mức “không chắc chắn”, “chưa phân loại” hay “không thể phân loại”.

3.2.3.3. Các cặp thuốc - ADR hiếm gặp được ghi nhận

Kết quả thu thập cho thấy không có cặp thuốc- ADR hiếm gặp nào được ghi

nhận.

3.2.3.4. Phân loại mức độ nặng của ADR

Có 111 cặp thuốc – ADR có ý nghĩa được phân loại mức độ nặng, kết quả trình

bày trong bảng 3.13.

35

Bảng 3.13. Phân loại mức độ nặng của ADR tại TTUB

Tỷ lệ (%) Mức độ nặng của ADR Tần suất N=111

Mức độ 1 và 2 (Nhẹ và trung bình) 42 37,84

Mức độ 3 (Nặng) 19 17,12

Mức độ 4 và 5 (Đe doạ tính mạng hoặc tử vong) 0 0

Không phân loại được do không có thang đối 23 20,72 chiếu cụ thể

Không đủ thông tin 27 24,32

Chủ yếu các cặp thuốc – ADR được phân loại ở mức độ nhẹ và trung bình (37,84%), khoảng gần 1/5 (17,12%) được phân loại ở mức nặng, không có cặp thuốc

– ADR nào được phân loại ở mức độ đe doạ tính mạng hoặc tử vong.

Gần một nửa số cặp thuốc – ADR không được phân loại (45,04%). Trong đó

24,32% do không có đủ thông tin để xác định, và 20,72% còn lại do không có thang

đối chiếu cụ thể.

3.2.4. Đánh giá chất lượng báo cáo ADR

3.2.4.1. Kết quả đánh giá chất lượng báo cáo ADR

Chất lượng báo cáo được đánh giá dựa trên cách tính điểm hoàn thành báo cáo

theo thang VigiGrade của của Tổ chức Y tế thế giới. Kết quả đánh giá được trình bày

100%

90%

80%

70%

60%

trong hình 3.5.

97,06%

92,86%

50%

40%

30%

20%

10%

3,03%

7,14%

0%

2022

01-05/2023

<0,8

0,8-1

Hình 3.5. Chất lượng báo cáo ADR của TTUB

36

Trong năm 2022 và 2023 đều chỉ có 1 báo cáo ADR có điểm dưới 0,8 (báo

cáo chất lượng chưa tốt), còn lại tất cả cáo khác đều đạt chất lượng tốt có điểm từ

0,8-1. Trong đó, năm 2022 có 1 báo cáo đạt 0,5 điểm do thời gian ADR xuất hiện

không hợp lý, và năm 2023 có 1 báo cáo đạt 0,7 điểm do thông tin diễn biến của phản ứng có mâu thuẫn.

3.2.4.2. Điểm chất lượng báo cáo trung bình

Sự khác biệt điểm chất lượng báo cáo ADR giữa các năm được đánh giá thông

qua điểm chất lượng báo cáo trung bình ở bảng 3.14.

Bảng 3.14. So sánh điểm chất lượng báo cáo trung bình của TTUB

Thời gian Điểm chất lượng báo cáo trung bình

2022 0,96

01-05/2023 0,99

Điểm trung bình trong thời gian 01-05/2023 và trong năm 2022 đều ở mức cao, trong thời gian 01-05/2023 có điểm trung bình cao hơn năm 2022 nhưng không

nhiều.

37

Chương 4. BÀN LUẬN

Hoạt động báo cáo ADR tại Việt Nam đang dần được cải thiện cả về số lượng

và chất lượng qua từng năm. Tuy nhiên bên cạnh đó, hoạt động báo cáo ADR giữa các vùng miền và các bệnh viện vẫn có sự chênh lệch khá lớn, vẫn còn tồn tại nhiều

bất cập như số lượng báo cáo ADR còn thấp, chất lượng báo cáo chưa cao, nhận thức

của nhân viên y tế và người bệnh về báo cáo ADR còn hạn chế… Đối với bệnh nhân

ung thư điều trị với hoá trị liệu, việc ADR rất phổ biến và có thể dự đoán được đến

mức chúng được chấp nhận như một phần không thể tránh khỏi. Cũng vì vậy, một số ADR xuất hiện trong quá trình hoá trị liệu chưa được báo cáo lại đầy đủ, gây cản trở

phần nào tới việc hiểu biết thực tế về mức độ nghiêm trọng cũng như tần suất xuất

hiện của chúng trong thực hành lâm sàng.

4.1. Bàn luận về thực trạng báo cáo phản ứng có hại của thuốc tại Bệnh viện E giai đoạn 01/2022 – 03/2023

Sau khi đánh giá số lượng và chất lượng các báo cáo ADR của Bệnh viện E

thu được một số kết quả đáng chú ý như sau:

Năm 2022 bệnh viện gửi tới Trung tâm DI & ADR Quốc gia 35 báo cáo, và

trong quý 1 năm 2023 là 12 báo cáo ADR. Số lượng này vẫn còn ít và chưa đạt kỳ

vọng so với lượng bệnh nhân điều trị tại đây.

Thời gian trì hoãn gửi báo cáo của Bệnh viện E trong năm 2022 và 01-03/2023

lần lượt là 5,69 và 5,25 ngày. Đây là một điểm cần tiếp tục phát huy trong thời gian

sắp tới. Hầu hết các báo cáo ADR tại đây đều được gửi tới Trung tâm DI&ADR Quốc

gia trong đúng thời gian quy định theo “Quyết định 29/QĐ-BYT quyết định về việc

ban hành hướng dẫn giám sát phản ứng có hại của thuốc (ADR) tại các cơ sở khám

bệnh, chữa bệnh". Cụ thể, thời gian gửi báo cáo ADR chậm nhất là 7 ngày đối với báo cáo ADR nghiêm trọng gây tử vong hoặc đe dọa tính mạng, 15 ngày đối với báo cáo ADR nghiêm trọng khác và các báo cáo ADR còn lại được gửi trước ngày mùng

5 tháng kế tiếp, theo đó thời hạn gửi báo cáo ADR muộn nhất là định kỳ hàng tháng [10]. Chỉ có duy nhất 1 báo cáo nghiêm trọng (mức độ đe doạ tính mạng) được gửi đi sau 23 ngày kể từ khi xuất hiện ADR, không đáp ứng quy định về thời gian gửi báo cáo.

Bệnh viện E có 7 khoa phòng tham gia báo cáo ADR giai đoạn 01/2022 – 03/2023, trong đó số báo cáo từ Trung tâm Ung bướu chiếm tới gần một nửa trên tổng

số báo cáo (44,68%), tiếp đó là Khoa gây mê hồi sức ngoại – Trung tâm Tim mạch

38

với tỷ lệ về số báo cáo là 21,28%, ngoài ra còn nhiều khoa phòng các chưa tham gia

vào viết báo cáo ADR, có thể thấy hoạt động báo cáo ADR tự nguyện chưa được phổ

biến và triển khai đồng đều giữa các khoa, phòng trong bệnh viện.

Có 3 cán bộ y tế viết báo cáo cho cả Bệnh viện E trong giai đoạn này và 100% đều là dược sĩ, không có bác sĩ hay điều dưỡng nào tham gia viết báo cáo. Điều này

cho thấy các khoa phòng nói riêng và Bệnh viện E nói chung chưa có sự chủ động

trong việc thực hiện giám sát và viết báo cáo ADR.

U tân sinh là lý do sử dụng thuốc được báo cáo ADR nhiều nhất (38,30%),

cùng với đó thì tiêm, truyền tĩnh mạch là đường dùng thuốc được báo cáo với tỷ lệ

cao nhất (84,85%) và họ dược lý thuốc chống ung thư cũng chiếm tới hơn một nửa

trên tổng số các họ dược lý được báo cáo (51,52%). Điều này có thể lý giải từ việc số lượng báo cáo ADR từ Trung tâm Ung bướu của Bệnh viện E là cao hơn hẳn so với

các khoa, phòng khác.

Số lượng báo cáo đạt chất lượng tốt tại Bệnh viện E chiếm tỷ lệ cao, đạt

88,57% trong năm 2022 và 100% trong quý 1 năm 2023. Cùng với đó, điểm chất

lượng báo cáo trung bình cũng đạt ngưỡng gần như tuyệt đối (năm 2022 đạt 0,95

điểm và quý 1 năm 2023 đạt 1 điểm). Các trường thông tin được báo cáo hầu như đầy

đủ, thông tin được báo cáo hợp lý và không bị mâu thuẫn. Điều này cho thấy cán bộ

tham gia viết báo cáo đã được tập huấn cũng như hiểu rõ về quy cách điền báo cáo

ADR.

4.2. Bàn luận về thực trạng báo cáo phản ứng có hại của thuốc hoá trị tại Trung

tâm Ung bướu – Bệnh viện E giai đoạn 01/2022 – 05/2023.

Hoạt động báo cáo ADR do hoá trị liệu tại Trung tâm Ung bướu - Bệnh viện

E chỉ mới bắt đầu được ghi nhận từ tháng 10/2022, số lượng báo cáo các tháng tiếp

theo đó không đồng đều và có xu hướng giảm, đặc biệt trong tháng 03/2023 không ghi nhận báo cáo ADR nào. Có thể thấy việc thực hiện báo cáo ADR tại đây vẫn chưa thực sự được theo dõi sát sao. Song cùng với đó, tỷ lệ số lượng báo cáo ADR do hoá trị liệu tại Trung tâm Ung bướu - Bệnh viện E lại khá cao so với số lượng báo cáo ADR của toàn bệnh viện E, điều này cũng cho thấy hoạt động báo cáo ADR nói chung tại bệnh viện chưa được triển khai mạnh mẽ.

Trong giai đoạn 01/2022 - 03/2023, có 17 báo cáo ADR do hoá trị liệu được

ghi nhận tại Trung tâm Ung bướu. Do số lượng này là hạn chế, vì vậy nhóm nghiên

cứu đã thực hiện tiến cứu, chủ động theo dõi và phát hiện ADR tại Trung tâm Ung

39

bướu trong tháng 4/2023. Qua đó đã ghi nhận thêm 31 báo cáo ADR mới gửi tới

Trung tâm DI&ADR Quốc gia trong tháng 4 và đầu tháng 5, nâng tổng số báo cáo

ADR giai đoạn 01/2022 - 05/2023 lên 48 báo cáo. Điều này cho thấy nếu hoạt động

báo cáo ADR tự nguyện được triển khai một cách hiệu quả, các ADR do hoá trị liệu gây ra sẽ được thu thập đầy đủ hơn, từ đó đem đến cái nhìn tổng quan về số lượng

cũng như tần suất các ADR xuất hiện khi bệnh nhân sử dụng thuốc điều trị ung thư.

Có 7 ADR nghiêm trọng được ghi nhận lại trong giai đoạn 01/2022 – 05/2023, chủ yếu là ADR liên quan đến hệ thống tiêu hoá, hệ thống tạo máu và phản ứng của

cơ thể (nôn, tiêu chảy, hạ bạch cầu, hạ tiểu cầu, dị ứng). Cả 7 ADR nghiêm trọng này

được đánh giá ở mức độ 3 (nặng) theo “Bảng kiểm giám sát tác dụng không mong

muốn, độc tính của hóa trị” tại quyết định số 3809/QĐ-BYT ngày 27/08/2019 về việc ban hành Hướng dẫn thực hành dược lâm sàng cho Dược sỹ trong một số bệnh không

lây nhiễm. Trong đó, có 2 ADR nghiêm trọng được báo cáo trong thời gian nhóm nghiên cứu theo dõi, chủ động thu thập và báo cáo ADR tại Trung tâm Ung bướu –

Bệnh viện E. Điều này cho thấy con số về tần suất các ADR xuất hiện, đặc biệt là các

ADR nghiêm trọng trên thực tế sẽ nhiều hơn so với số báo cáo đã được gửi tới Trung

tâm DI & ADR Quốc gia trong thời gian trước đó, khi mà hoạt động báo cáo tự

nguyện chưa được triển khai mạnh mẽ.

Thời gian trì hoãn gửi báo cáo trung bình của năm 2022 và 01-05/2023 lần

lượt là 6,86 và 8,41. Trong đầu năm 2023, thời gian trì hoãn gửi báo cáo trung bình

có tăng nhẹ so với năm 2022, tuy nhiên tất cả các báo cáo ADR tại đây vẫn đều được

gửi tới Trung tâm DI&ADR Quốc gia trong đúng thời gian quy định theo “Quyết định

29/QĐ-BYT quyết định về việc ban hành hướng dẫn giám sát phản ứng có hại của

thuốc (ADR) tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh". Thời gian trì hoãn báo cáo từ 01-

05/2023 cao hơn có thể là do yếu tố khách quan, vì trong thời gian này diễn ra hoạt động giám sát tích cực của nhóm nghiên cứu, các báo cáo sau khi được viết sẽ phải

chờ duyệt từ dược sỹ lâm sàng, vì vậy mà thời gian gửi đi sẽ chậm hơn.

Cán bộ nhân viên y tế tham gia vào hoạt động báo cáo ADR tại Trung tâm Ung bướu giai đoạn 2022-2023 chỉ có duy nhất 1 dược sĩ. Có thể thấy nhiệm vụ báo cáo ADR chủ yếu được bộ phận Dược lâm sàng tại bệnh viện đảm nhận, dù theo quy trình được xây dựng của Bệnh viện E thì việc phát hiện, xử trí và đánh giá đều có sự

tham gia của bác sỹ, điều dưỡng. Vì vậy Bệnh viện E nói chung và Trung tâm Ung bướu nói riêng cần triển khai các biện pháp hỗ trợ hơn nữa nhằm thúc đẩy sự tích cực

tham gia của bác sĩ và điều dưỡng trong công tác báo cáo ADR, vì đây là những cán

40

bộ, nhân viên y tế trực tiếp tham gia vào quá trình điều trị cũng như theo dõi bệnh

nhân, có thể giúp phát hiện các ADR một cách kịp thời và nhanh chóng nhất.

Tại Trung tâm Ung bướu - Bệnh viện E, những thuốc nghi ngờ gây ADR trong

hoá trị liệu được ghi nhận nhiều nhất chủ yếu là thuốc dùng đường tiêm truyền (93,33%). Điều này là do các thuốc điều trị ung thư hiện nay được sử dụng phần lớn

đều được bào chế dùng cho đường tiêm, truyền, một số ít thuốc điều trị ung thư khác

được bào chế dùng dưới dạng uống. Thực tế, theo danh mục thuốc điều trị ung thư được sử dụng tại Bệnh viện E, có 19/68 thuốc được bào chế dưới dạng viên dùng cho

đường uống, chiếm tỷ lệ 27,94% trên tổng số thuốc trong danh mục (phụ lục 4).

Gemcitabin và cisplatin là 2 thuốc nghi ngờ gây ADR được báo cáo nhiều nhất

với tỷ lệ lần lượt là 13,33% và 11,11%. Bên cạnh đó, ADR gây ra do thuốc điều trị ung thư thuộc nhóm hợp chất platin chiếm tỷ lệ lên tới 27,78%.

Các biểu hiện ADR được ghi nhận nhiều nhất chủ yếu liên quan đến hệ thống

tiêu hoá (buồn nôn, nôn, táo bón, tiêu chảy, chướng bụng đầy hơi chiếm tổng cộng

39,28%) và hệ thống tạo máu (hạ tiểu cầu, hạ bạch cầu và hạ hemoglobin chiếm tổng

cộng tới 25,01%). Kết quả này khá tương đồng với một số nghiên cứu về ADR do

hoá trị liệu đã được thực hiện trước đó [17, 20, 33].

Nhiều nghiên cứu trước đây đưa ra kết quả rằng có tới 45% và 2% các phản

ứng tương ứng có thể và chắc chắn có thể ngăn ngừa được [3]. Trong nghiên cứu tại

một bệnh viện Ấn Độ, 45,3% ADR có thể ngăn ngừa được như buồn nôn, nôn và táo

bón [20]. Trong thời gian nhóm nghiên cứu thực hiện tiến cứu tại Trung tâm Ung

bướu - Bệnh viện E, phần lớn các bệnh nhân trước khi được tiêm/truyền hoá chất đã

được kê thuốc chống nôn, chống sốc, bởi vậy mà tình trạng buồn nôn, nôn hay sốc

phản vệ cũng không xảy ra với tần suất quá dày đặc.

Trong giai đoạn 2022-2023, không có cặp thuốc - ADR hiếm nào xảy ra, điều này một phần có thể là do tổng số lượng báo cáo ADR hiện còn ít và hoạt động báo cáo ADR tại đây chưa thực sự được đẩy mạnh.

111 cặp thuốc – ADR có ý nghĩa được phân loại mức độ nặng, trong đó có tới 1/4 cặp thuốc – ADR không phân loại được do thiếu thông tin. Điều này cho thấy cần chú trọng hơn nữa về trường thông tin mô tả ADR khi báo cáo ADR để có thể đánh giá chính xác được mức độ ADR mà bệnh nhân gặp phải.

Điểm chất lượng báo cáo trung bình do hoá trị liệu tại Trung tâm Ung bướu -

Bệnh viện E ở mức cao (trung bình đạt 0,96 điểm trong năm 2022 và 0,99 điểm trong

41

thời gian từ 01-05/2023). Trong quá trình nhóm nghiên cứu thực hiện tiến cứu tại

đây, có một số ADR khác được ghi nhận là có xuất hiện nhưng không được viết báo

cáo và nộp lên Trung tâm DI&ADR Quốc gia do không thu thập đủ thông tin. Đây

có thể cũng là một trong những lý do khiến cho số lượng báo cáo ADR tại Trung tâm Ung bướu trong thời gian trước đó không đạt được như kì vọng.

Như vậy, qua kết quả khảo sát và phân tích hoạt động báo cáo ADR do hoá trị

liệu của Trung tâm Ung bướu - Bệnh viện E giai đoạn năm 2022-2023 có thể thấy rằng: nếu không có sự tích cực báo cảo chủ động của nhóm nghiên cứu, thì số lượng

báo cáo ADR vẫn còn ít so với lượng bệnh nhân điều trị tại đây, việc báo cáo chưa

được triển khai sát sao cũng như bệnh viện chưa huy động được tối đa nguồn lực

tham gia công tác báo cáo ADR.

42

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT

KẾT LUẬN

Khảo sát và phân tích hoạt động báo cáo ADR trong hoá trị liệu tại Trung

tâm Ung bướu - Bệnh viện E giai đoạn 2022-2023 thu được những kết quả đáng

chú ý sau:

1. Mô tả thực trạng báo cáo ADR tại Bệnh viện E giai đoạn 01/2022 –

03/2023

- Số lượng báo cáo ADR của Bệnh viện E giai đoạn 01/2022 – 03/2023 là

47 báo cáo.

- Thời gian trì hoãn gửi báo cáo trung bình của bệnh viện khá ngắn có xu hướng giảm nhẹ (5,69  5,25), trong tổng số 47 báo cáo chỉ có duy nhất 1 báo cáo chưa được gửi đúng thời hạn quy định của Bộ Y tế.

- Có 7 khoa phòng và 3 dược sỹ tham gia báo cáo ADR.

- Về cơ cấu báo cáo ADR:

+ Đường dùng của thuốc nghi ngờ gây ADR chủ yếu là đường tiêm truyền

chiếm tỷ lệ tới 84,85%, tiếp đó là đường uống với 12,12%.

+ U tân sinh và các thuốc chống ung thư là lý do sử dụng thuốc và nhóm

dược lý được báo cáo ADR nhiều nhất (38,30% và 51,52%).

- Tỷ lệ báo cáo ADR đạt chất lượng tốt là 88,57% trong năm 2022 và

100,00% trong quý 1 năm 2023. Do vậy điểm chất lượng báo cáo trung bình của

Bệnh viện E cũng đạt tới 0,95 điểm trong năm 2022 và 1,00 trong quý 1 năm 2023.

2. Phân tích hoạt động báo cáo ADR do hoá trị liệu của Trung tâm Ung

bướu - bệnh viện E thông qua số lượng và chất lượng báo cáo gửi tới Trung tâm

DI&ADR Quốc gia giai đoạn từ tháng 01/2022 – 05/2023

- Tổng số lượng báo cáo ADR do hoá trị liệu của Trung tâm Ung bướu - Bệnh viện E giai đoạn 2022-2023 là 48 báo cáo. Riêng trong tháng 04-05/2023, số

lượng báo cáo ADR thu thập được qua tiến cứu là 31 báo cáo.

- Thời gian trì hoãn gửi báo cáo đến Trung tâm DI&ADR Quốc gia có xu

hướng tăng nhẹ từ năm 2022-2023 (từ 6,86 lên 8,41).

43

- Có 7 ADR nghiêm trọng được ghi nhận từ 01/2022-05/2023. Trong đó có

2 ADR nghiêm trọng được báo cáo trong quá trình tiến cứu.

- Chỉ có 1 dược sĩ tham gia báo cáo ADR.

- Về cơ cấu báo cáo ADR:

+ Đường dùng của thuốc nghi ngờ gây ADR chủ yếu là đường tiêm truyền

(93,33%), còn lại là đường uống (6,67%).

+ Các thuốc nghi ngờ gây ADR được báo cáo nhiều nhất là gemcitabin

(13,33%), cisplatin (11,11%).

+ Các biểu hiện ADR được ghi nhận nhiều nhất chủ yếu là các biểu hiện

trên tiêu hoá (39,28%) và huyết học (25,01%).

+ 111 cặp thuốc - ADR được đánh giá mối liên quan giữa thuốc - ADR. Trong đó, 48,65% cặp được phân loại là “có khả năng” và 51,35% còn lại được

phân loại ở mức “có thể”. Khônh có cặp thuốc - ADR hiếm nào được ghi nhận.

- Tỷ lệ báo cáo ADR đạt chất lượng tốt trong giai đoạn 2022-2023 nhìn

chung đều cao (92,86% trong năm 2022 và 97,06% trong 01-05/2023). Mỗi năm

đều chỉ có 1 báo cáo đạt điểm <0,8 (báo cáo chất lượng chưa tốt).

44

ĐỀ XUẤT

Số lượng báo cáo ADR được thu thập và gửi lên Trung tâm DI&ADR Quốc

gia trong tháng 04-05/2023 cho thấy thực tế các ADR xuất hiện tại Trung tâm Ung bướu - Bệnh viện E nhiều hơn đáng kể so với số lượng được báo cáo trước đó. Để

tăng số lượng, chất lượng báo cáo ADR và nâng cao nhận thức của nhân viên y tế đối

với hoạt động báo cáo ADR tại Trung tâm Ung bướu - Bệnh viện E, chúng tôi xin có

những đề xuất sau đây:

- Xây dựng quy trình báo cáo ADR phù hợp cho bệnh viện để đảm bảo việc

phát hiện, xử trí, đánh giá, báo cáo và dự phòng ADR được thực hiện đúng theo hướng

dẫn của Bộ Y tế.

- Tăng cường hoạt động báo cáo thông qua việc ghi nhận các ADR trong

trường hợp chưa có đủ thông tin và báo cáo bổ sung gửi lại Trung tâm DI & ADR Quốc gia sau khi đã thu thập đủ dữ liệu.

45

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. WHO. Safety of medicines : a guide to detecting and reporting adverse drug reactions : why health professionals need to take action. 2002.

2. Marília Berlofa Visacri, Cinthia Madeira de Souza, Rafaela Pimentel và các cộng sự. Pharmacovigilance in oncology: pattern of spontaneous notifications, incidence of adverse drug reactions and under-reporting. Brazilian Journal of Pharmaceutical Sciences. 2014; 50: 411-422. 3. WHO. The safety of medicines in public health programmes:

4.

5. introduction to

6.

7.

8. pharmacovigilance, an essential tool. 2006; 25-34. Paolo Baldo, Giulia Fornasier, Laura Ciolfi và các cộng sự. Pharmacovigilance in oncology. International Journal of Clinical Pharmacy. 2018; 40: 832-841. Patrick Waller và Mira Harrison-Woolrych. An pharmacovigilance. John Wiley & Sons. 2017. Shanthi N Pal, Chris Duncombe, Dennis Falzon và các cộng sự. WHO strategy for collecting safety data in public health programmes: complementing spontaneous reporting systems. Drug safety. 2013; 36: 75-81. Trung tâm DI & ADR Quốc gia. Tổng kết công tác báo cáo ADR năm 2021. 2021. Trung tâm DI & ADR Quốc gia. Tổng kết công tác báo cáo ADR năm 2022. 2022.

9. WHO. The importance of pharmacovigilance. 2002. 10. Bộ Y tế. Quyết định 29/QĐ-BYT quyết định về việc ban hành hướng dẫn giám sát phản ứng có hại của thuốc (ADR) tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, chủ biên. 2022.

11. Rachna Kasliwal. Spontaneous reporting in pharmacovigilance: strengths, weaknesses and recent methods of analysis. J Clin Prev Cardiol. 2012; 1: 20- 3. 12. Trung tâm DI & ADR Quốc gia, truy cập ngày 07-11-2022, tại trang web http://canhgiacduoc.org.vn/Home.aspx.

13. Bộ Y tế. Quyết định số 991/QĐ-BYT Quyết định về việc thành lập Trung tâm Quốc gia về Thông tin thuốc và theo dõi phản ứng có hại của thuốc, chủ biên. 2009. 14. Trung tâm DI & ADR Quốc gia. Định hướng phát triển công tác Thông tin thuốc

và Cảnh giác dược giai đoạn 2009 - 2010. 2009. 15. Điều Huy Anh Quân. Phân tích thực trạng báo cáo SAE trong TNLS thuốc tại

VN giai đoạn 2014-2017. Luận văn tốt nghiệp thạc sĩ Dược học. 2018. 16. WHO-UMC, truy cập ngày 15-11-2022, tại trang web https://who-umc.org/. 17. Deepti Chopra, Harmeet Rehan, Vibha Sharma và các cộng sự. Chemotherapy- induced adverse drug reactions in oncology patients: a prospective observational survey. Indian Journal of Medical and Paediatric Oncology. 2016; 37(01): 42-46.

18. Saravana Kumar Ramasubbu, Rajesh K Pasricha, Uttam K Nath và các cộng sự. Frequency, nature, severity and preventability of adverse drug reactions arising from cancer chemotherapy in a teaching hospital. Journal of Family Medicine and Primary Care. 2020; 9(7): 3349.

19. Sunil Shrestha, Rajani Shakya, Sudip Shrestha và các cộng sự. Adverse drug reaction due to cancer chemotherapy and its financial burden in different hospitals of Nepal. Int J Pharmacovigilance. 2017; 2(1): 1-7.

20. Julie Birdie Wahlang, Purnima Devi Laishram, Dhriti Kumar Brahma và các cộng sự. Adverse drug reactions due to cancer chemotherapy in a tertiary care teaching hospital. Therapeutic advances in drug safety. 2017; 8(2): 61-66. 21. David W Bates, Nathan Spell, David J Cullen và các cộng sự. The costs of adverse drug events in hospitalized patients. Jama. 1997; 277(4): 307-311. 22. Adolfo Figueiras, Maria T Herdeiro, Jorge Polónia và các cộng sự. An educational intervention to improve physician reporting of adverse drug reactions: a cluster-randomized controlled trial. Jama. 2006; 296(9): 1086- 1093.

23. Somayeh Hanafi, Hassan Torkamandi, Alireza Hayatshahi và các cộng sự. An educational intervention to improve nurses’ knowledge, attitude, and practice toward reporting of adverse drug reactions. Iranian Journal of Nursing and Midwifery Research. 2014; 19(1): 101.

24. Elena Lopez-Gonzalez, Maria T Herdeiro, María Piñeiro-Lamas và các cộng sự. Effect of an educational intervention to improve adverse drug reaction reporting in physicians: a cluster randomized controlled trial. Drug safety. 2015; 38: 189- 196.

25. M Reumerman, Jelle Tichelaar, Rike van Eekeren và các cộng sự. The potential of training specialist oncology nurses in real-life reporting of adverse drug reactions. European Journal of Clinical Pharmacology. 2021; 77(10): 1531- 1542.

26. Bộ Y tế. Quyết định số 3809/QĐ-BYT về việc ban hành hướng dẫn thực hành dược lâm sàng cho dược sỹ trong một số bệnh không lây nhiễm, chủ biên. 2019. 27. Bệnh viện E, truy cập ngày 20-11-2022, tại trang web https://benhviene.com/. 28. Statistics Methodology WHO Collaborating Centre for Drug (2013), "Guidelines for ATC classification and DDD assignment 2013". 2013: 15. 29. Tomas Bergvall, G Niklas Norén và Marie Lindquist. VigiGrade: a tool to identify well-documented individual case reports and highlight systematic data quality issues. Drug safety. 2014; 37: 65-77. 30. WHO. WHO Toxicity Grading Scale for Determining The Severity of Adverse Events. 2003.

31. Cláudio A Naranjo, Usoa Busto, Edward M Sellers và các cộng sự. A method for estimating the probability of adverse drug reactions. Clinical Pharmacology & Therapeutics. 1981; 30(2): 239-245.

32. Bộ Y tế. Dược thư Quốc gia Việt Nam. Nhà xuất bản Y học, Hà Nội. 2018 33. Ramisa Tamang, Laxman Bharati, Asmita Priyadarshini Khatiwada và các cộng sự. Pattern of Adverse Drug Reactions Associated with the Use of Anticancer Drugs in an Oncology-Based Hospital of Nepal. JMA journal. 2022; 5(4): 416- 426.

PHỤ LỤC 1

ĐIỂM PHẠT CÁC TRƯỜNG THÔNG TIN TRONG BÁO CÁO ADR THEO VIGIGRADE […]

Trường Mô tả Yêu cầu Điểm

thông tin phạt (%)

Thời gian Thời gian từ khi 50%

khởi phát bắt đầu điều trị - Ngày xuất hiện phản ứng có thể được thay thế bằng ngày kết thúc sử dụng 30% đến khi nghi ngờ thuốc. Nếu không có thông tin này: 10% ADR trừ 50% số điểm.

- Nếu có ngày xuất hiện phản ứng mà thiếu thông tin về ngày bắt đầu sử

dụng thuốc hoặc thông tin này không

phù hợp (sau ngày xuất hiện phản

ứng): trừ 50% số điểm.

- Nếu có ngày xuất hiện phản ứng và chỉ có thông tin về năm bắt đầu sử

dụng thuốc: trừ 30% số điểm.

- Nếu có ngày xuất hiện phản ứng và chỉ có thông tin về tháng bắt đầu sử dụng thuốc: trừ 10% số điểm.

Lý do sử Chỉ định của 30%

thuốc nghi ngờ - Nếu không điền hoặc chỉ định của thuốc không rõ ràng: trừ 30% số dụng

thuốc điểm.

của 30%

Hậu quả ADR

Diễn biến của phản ứng

- Không điền cả 3 mục 12 (kết quả sau xử trí phản ứng), 14 (kết quả sau khi ngừng/giảm liều), 15 (kết quả sau khi tái sử dụng thuốc) trừ 30% số điểm.

- Điền đủ cả 3 mục nhưng thông tin thu được mâu thuẫn: trừ 30% số

điểm.

Giới tính Giới tính của - Nếu bỏ trống: trừ 30% số điểm. 30%

bệnh nhân

Tuổi Năm sinh hoặc - Nếu không điền mục này: trừ 30% số 30%

tuổi của bệnh điểm. 10% nhân - Nếu chỉ điền nhóm tuổi: trừ 10% số

điểm.

Yêu cầu tuổi của bệnh nhân nằm trong khoảng từ 0-134

Liều dùng Liều dùng của 10%

thuốc - Nếu thiếu 1 trong 2 mục liều sử dụng một lần và số lần dùng trong ngày:

trừ 10% số điểm.

Quốc gia Quốc gia báo cáo - Tên quốc gia 10%

Người Thông tin về 10%

báo cáo chức vụ của - Chức vụ của người báo cáo có thể là: bác sỹ (trưởng khoa, phó khoa),

người báo cáo dược sỹ (dược sỹ đại học, dược sỹ

trung học, trưởng khoa dược, phó

khoa dược), điều dưỡng, hộ sinh, y

tá, y sỹ, nhân viên y tế khác (cán bộ,

nhân viên thống kê …).

- Trong trường hợp không điền hoặc chức vụ không phù hợp (không phải là nhân viên y tế trong bệnh viện): trừ 10% số điểm.

- Nếu không nêu rõ loại báo cáo: trừ 10%

Loại báo cáo Loại báo cáo tự cáo (báo 10% số điểm.

nguyện của bệnh

viện, báo cáo của

các công ty, báo

cáo từ các nghiên

cứu)

Thông tin Thông tin bổ 10%

bổ sung sung - Không điền cả 4 mục 8 (các xét nghiệm liên quan đến phản ứng), 9

(tiền sử), 10 (cách xử trí phản ứng),

19 (bình luận của cán bộ y tế) trừ

10% số điểm.

PHỤ LỤC 2

BẢNG KIỂM GIÁM SÁT TÁC DỤNG KHÔNG MONG MUỐN, ĐỘC TÍNH CỦA HOÁ TRỊ

I. Thông tin chung

1 Mã bệnh án:................................................................................................

2 Khoa/Phòng:...............................................................................................

3 Dược sĩ kiểm tra:........................................................................................

4 Ngày kiểm tra:............................................................................................

5 Chẩn đoán ung thư:....................................................................................

6 Chiều cao:......................... Cân nặng:......................... BSA:.....................

II. Thông tin phác đồ hoá trị

Phác đồ hoá chất:....................................................................................... 1 Chu kì thứ mấy:.........................................................................................

2 Ngày bắt đầu truyền hóa chất trong chu kỳ:..............................................

3 Ngày kết thúc truyền hóa chất trong chu kỳ:.............................................

III. Tác dụng không mong muốn

STT TDKMM Triệu chứng lâm sàng/Phân độ/Xét nghiệm

□ Độ 1 (< 1,5 x 109/L)

□ Độ 2 (1-1,5 x 109/L) 1 Giảm bạch cầu □ Độ 3 (0,5-1 x 109/L)

□ Độ 4 (< 0,5 x 109/L)

□ Độ 1 (<75 x 109/L)

□ Độ 2 (50-75 x 109/L) 2 Giảm tiểu cầu □ Độ 3 (25-50 x 109/L)

□ Độ 4 (< 25 x 109/L)

Giảm hemoglobin (Hb)

□ Độ 1 (> 10g/dL)

□ Độ 2 (8-10 g/dL) 3 Thiếu máu

□ Độ 3 (<8g/dL)

□ Độ (Nguy kịch, cần can thiệp ngay)

□ Độ 1 (Đại tiện < 4 lần mỗi ngày)

□ Độ 2 (Đại tiện 4-6 lần mỗi ngày) 4 Tiêu chảy □ Độ 3 (Đại tiện ≥ lần mỗi ngày)

□ Độ 4 (Đe dọa tính mạng)

□ Độ 1 (Chán ăn nhưng chưa thay đổi thói quen ăn uống)

□ Độ 2 (Ăn ít đi tuy nhiên chưa giảm cân) 5 Buồn nôn

□ Độ 3 (Ăn rất ít, cần sự hỗ trợ y tế như truyền dịch)

□ Độ 1 (1 lần trong 24 giờ)

□ Độ 2 (2-5 lần trong 24 giờ) 6 Nôn

□ Độ 3 (≥ 6 lần trong 24 giờ)

□ Độ 1 (Nhẹ, không cần can thiệp y tế)

□ Độ 2 (Đau vừa, không ảnh hưởng tới ăn uống, khuyến cáo

thay đổi khẩu phần ăn, không cần can thiệp y tế) 7 Viêm niêm mạc miệng □ Độ 3 (Đau nặng, ảnh hưởng tới ăn uống)

□ Độ 4 (Nguy kịch, cần can thiệp ngay)

□ Có 8 Thoát mạch □ Không

□ Độ 1 (Vết ban hoặc mụn mủ bao phủ <10% diện tích da,

không có triệu chứng khác)

9 □ Độ 2 (Vết ban hoặc mụn mủ bao phủ 10% đến 30% diện Ban đỏ, nốt sần trên da tích da, gặp khó khăn trong sinh hoạt)

□ Độ 3 (Vết ban hoặc mụn mủ bao phủ >3 % diện tích da, gặp

khó khăn trong vệ sinh cá nhân)

□ Độ 1 (Tình trạng tê, rối loạn cảm giác/dị cảm, đau nhói dây

thần kinh, sưng phồng không đau hoặc ban đỏ ở bàn tay hoặc

bàn chân và/hoặc không cảm thấy thoải mái nhưng không ảnh

hưởng đến hoạt động bình thường)

□ Độ 2 (Ban đỏ và sưng tay và hoặc chân gây đau và hoặc

không thoải mái ảnh hưởng đến cuộc sống bình thường hằng 10 Hội chứng bàn tay chân ngày của bệnh nhân)

□ Độ 3 (Sự tróc vảy da chảy mủ, loét, mụn nước hoặc đau

nhiều ở bàn tay hoặc bàn chân và/hoặc rất khó chịu bệnh nhân

không thể làm việc được hoặc thực hiện các hoạt động bình thường hằng ngày

□ Có 11 Rụng tóc □ Không

□ Độ 1 (Triệu chứng điển hình nhưng vẫn có khả năng ăn khẩu

phần thông thường)

□ Độ 2 (Các triệu chứng gây thay đổi lượng, khẩu phần ăn mà 12 không cần chỉ định can thiệp y khoa) Khó nuốt - Nuốt đau

□ Độ 3 (Giảm lượng khẩu phần ăn nghiêm trọng gây đe doạ tính mạng)

□ Độ 1 (Xảy ra không thường xuyên, ít dùng thuốc nhuận tràng)

13 Táo bón □ Độ (Thường xuyên xảy ra khiến bệnh nhân hay phải dùng thuốc nhuận tràng, gặp khó khăn trong sinh hoạt cá nhân)

□ Độ 3 (Khuyến cáo dùng các phương pháp thụt tháo, gặp khó khăn trong vệ sinh cá nhân)

□ Độ 1 (Hết mệt khi nghỉ ngơi)

□ Độ 2 (Không hết mệt khi nghỉ ngơi, gặp khó khăn trong sinh

hoạt) 14 Mệt mỏi

□ Độ 3 (Không hết mệt khi nghỉ ngơi, gặp khó khăn trong tự vệ sinh cá nhân)

□ Độ 1 (Không có triệu chứng; mất phản xạ gân sâu hoặc dị

cảm)

□ Độ 2 (Triệu chứng vừa, gặp khó khăn trong sinh hoạt) 15 Bệnh lý thần kinh ngoại vi

□ Độ 3 (Triệu chứng nặng, gặp khó khăn trong tự vệ sinh cá nhân)

□ Độ 1 ( 1,25 đến < 2,5 x ULN)

□ Độ 2 ( 2,5 đến < 5,0 x ULN) 16 Tăng ALT, AST □ Độ 3 (5,0 đến < 10,0 x ULN)

□ Độ 4 (≥ 10,0 x ULN)

□ Độ 1 (1,1 đến < 1,6 x ULN)

□ Độ 2 ( 1,6 đến < 2,6 x ULN) 17 Tăng bilirubin TP □ Độ 3 ( 2,6 đến < 5,0 x ULN)

□ Độ 4 (≥ 5,0 x ULN)

□ Độ ( 1,1 đến 1,3 x ULN)

Tăng creatinin □ Độ (> 1,3 đến 1,8 x ULN) 18 □ Độ 3 (> 1,8 đến < 3,5 x ULN) máu

□ Độ 4 (3,5 x ULN)

ULN: Giới hạn bình thường trên

PHỤ LỤC 3

THANG ĐIỂM NARANJO ĐÁNH GIÁ MỖI LIÊN QUAN GIỮA THUỐC VÀ ADR

Tính điểm

Câu hỏi đánh giá Điểm Không Có Không biết

1 Biến cố có được mô tả trong y văn +1 0 0 trước đó không?

2 Biến cố bất lợi có xuất hiện sau khi +2 -1 0 điều trị bằng thuốc nghi ngờ không?

3 Phản ứng bất lợi có được cải thiện sau

khi ngừng thuốc hoặc dùng chất đối +1 0 0

kháng không?

4 Phản ứng bất lợi có tái xuất hiện khi +2 -1 0 dùng lại thuốc không?

5 Có nguyên nhân khác (trừ thuốc) là

nguyên nhân gây ra phản ứng hay -1 +2 0

không?

6 Phản ứng có xuất hiện khi dùng -1 +1 0 placebo không?

7 Nồng độ thuốc trong máu ( hay các

dịch sinh học khác) có ở ngưỡng gây +1 0 0

độc không?

8

+1 0 0

Phản ứng có nghiêm trọng hơn khi tăng liều hoặc ít nghiêm trọng hơn khi giảm liều không?

9 +1 0 0 Bệnh nhân có gặp phản ứng tương tự với thuốc nghi ngờ hoặc các thuốc

tương tự trước đó không?

10 Biến cố bất lợi có được xác nhận bằng +1 0 0 những bằng chứng khách quan không?

Tổng

Điểm số thu được có ý nghĩa:

>= 9: chắc chắn

5 – 8: có khả năng

1 – 4: có thể <1 hoặc = 0: nghi ngờ

PHỤ LỤC 4

DANH MỤC THUỐC ĐIỀU TRỊ UNG THƯ ĐƯỢC SỬ DỤNG TẠI TRUNG TÂM UNG BƯỚU – BỆNH VIỆN E

Tên thuốc, nồng độ/hàm lượng Hoạt chất ĐVT ST T

1 Asstrozol - 1mg anastrozole Viên

2 Arimidex - 1mg anastrozole Viên

3 Avegra Biocad 400mg/16ml - 400mg/16ml bevacizumab Lọ

4 Avastin - 400mg/16ml bevacizumab Lọ

5 Avegra Biocad 100mg/4ml - 100mg/4ml bevacizumab Lọ

bevacizumab Lọ 6 Avastin - 100mg/4ml

bicalutamide Viên 7 Larrivey - 50mg

bicalutamide Viên 8 Casodex - 50 mg

9 Xalvobin 500mg film-coated tablet - 500mg capecitabin Viên

carboplatin Lọ 10 Bocartin 150 - 150mg/ 15ml

cetuximab Lọ 11 Erbitux - 5mg/ml

cisplatin Lọ 12 Cisplatin "Ebewe" - 0,5mg/ml x 100ml

cisplatin Lọ 13 Cisplatin "Ebewe" - 0,5mg/ml x 20ml

cyclophosphamide Lọ 14 Endoxan - 500mg/lọ

cyclophosphamide Lọ 15 Endoxan - 200mg/lọ

docetaxel Lọ 16 Bestdocel 20mg/1ml - 20mg/1ml

docetaxel Lọ 17 Tadocel 20mg/ml - 140mg/7ml

docetaxel Lọ 18 Tadocel 20mg/0,5ml - 20mg/0,5ml

Lọ 19 Docetaxel "Ebewe" 80mg/8ml 1's - 80mg/8ml docetaxel

Lọ 20 Docetaxel "Ebewe" - 10mg/ml x 2ml docetaxel

Lọ 21 Doxorubicin "Ebewe" - 50mg/25ml doxorubicin

Lọ 22 Doxorubicin "Ebewe" - 10mg/5ml doxorubicin

Lọ 23 Chemodox - 2mg/ml x 10ml doxorubicin hcl

Lọ 24 Epirubicin "Ebewe" - 2mg/ml x 25ml epirubicin hcl

Lọ 25 Epirubicin "Ebewe" - 2mg/ml x 5ml epirubicin hcl

Lọ 26 Farmorubicina - 50mg epirubicin hcl

Viên 27 Tarceva - 150mg erlotinib

Viên 28 Hyyr - 150mg erlotinib

Lọ 29 Sintopozid - 100mg/5ml etoposide

Lọ 30 Biluracil 250 - 250mg/ 5ml fluorouracil

Lọ 31 Biluracil 500 - 500mg/10ml fluorouracil

Viên 32 Bigefinib 250 - 250mg gefitinib

Viên 33 Iressa - 250mg gefitinib

Lọ 34 Gemcitabin "Ebewe" - 10mg/ml x 100ml gemcitabin

Lọ gemcitabin 35 Gemcitabin "Ebewe" - 200mg/20ml

Lọ gemcitabin 36 Gitrabin 1g - 1g

37 Zoladex - 3,6mg goserelin Bơm tiêm

38 Hytinon 500mg - 500mg hydroxyurea Viên

Lọ 39 Campto - 100mg/ 5ml irinotecan

Lọ 40 Irinotecan Bidiphar 40mg/2ml - 40mg/2ml irinotecan

Lọ 41 Campto - 40mg/ 2ml irinotecan

42 Lezra 2,5mg - 2,5mg letrozole Viên

43 oxaliplatin Lọ Oxaliplatin Hospira 100mg/20ml - 100mg/20ml

44 Lyoxatin 50mg/10ml - 50mg/10ml oxaliplatin Lọ

45 Eloxatin - 100 mg/20 ml oxaliplatin Lọ

46 Sindoxplatin 50mg - 50mg oxaliplatin Lọ

47 Paclitaxelum Actavis - 260mg/43,33ml paclitaxel Lọ

48 Paclitaxel "Ebewe" - 6mg/ml paclitaxel Lọ

49 Paclitaxel "Ebewe" - 30mg/5ml paclitaxel Lọ

50 Pemetrexed Invagen - 500mg pemetrexed Lọ

51 Pexate 500 - 500mg pemetrexed Lọ

52 Pemetrexed biovagen - 100mg pemetrexed Lọ

53 Mabthera - 500mg/50ml rituximab Lọ

54 REDDITUX - 500mg/50ml rituximab Lọ

55 REDDITUX - 100mg/10ml rituximab Lọ

56 Soravar - 200mg sorafenib Viên

57 Nolvadex-D - 20mg tamoxifen Viên

58 Ufur capsule - 100mg + 224mg Viên tegafur 100mg + uracil 224mg

59 Mefuform - 100mg + 224mg Viên tegafur 100mg + uracil 224mg

60 Temodal Capsule - 100mg temozolomide Viên

61 Venutel - 50mg temozolomide Viên

62 Hertraz 150 - 150mg trastuzumab Lọ

63 Hertraz 440 - 440mg trastuzumab Lọ

Lọ 64 Diphereline P.R. 11.25mg - 11,25mg triptorelin pamoate

65 Navelbine 30mg - 30mg vinorelbin Viên

66 Navelbine 20mg - 20mg vinorelbin Viên

Lọ 67 Vinorelbin Bidiphar 10mg/1ml - 10mg/1ml vinorelbin

68 Vincristin 2mg vincristin Lọ