BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO

TRƢỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG

---o0o---

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

ĐỀ TÀI:

NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG TÍN DỤNG TẠI

NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN

NÔNG THÔN CHI NHÁNH HOÀNG QUỐC VIỆT

SINH VIÊN THỰC HIỆN : DƢƠNG THANH PHƢƠNG

MÃ SINH VIÊN

: A18741

CHUYÊN NGÀNH

: TÀI CHÍNH-NGÂN HÀNG

HÀ NỘI – 2014

BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO

TRƢỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG

---o0o---

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

ĐỀ TÀI:

NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG TÍN DỤNG TẠI

NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN

NÔNG THÔN CHI NHÁNH HOÀNG QUỐC VIỆT

Giáo viên hƣớng dẫn

: PGS.TS Lƣu Thị Hƣơng

Sinh viên thực hiện

: Dƣơng Thanh Phƣơng

Mã sinh viên : A18741

Chuyên ngành

: Tài chính-Ngân hàng

HÀ NỘI – 2014

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành khóa luận này, tôi xin chân thành cảm ơn các anh chị và cán bộ tại

Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chi nhánh Hoàng Quốc Việt đã giúp

đỡ cũng như cung cấp thông tin tài liệu giúp em hoàn thành khóa luận của mình.

Xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo đã tận tình hướng dẫn, giảng dạy trong

suốt quá trình học tập, nghiên cứu và rèn luyện ở trường Đại học Thăng Long.

Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến PGS.TS Lưu Thị Hương đã hướng

dẫn chỉ bảo tận tình để tôi có thể hoàn thành tốt khóa luận này.

Mặc dù đã có nhiều cố gắng để thực hiện đề tài một cách hoàn chỉnh nhất. Song do

kiến thức, kinh nghiệm thực tế còn nhiều hạn chế và thời gian nghiên cứu có hạn nên

khóa luận không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định mà bản thân chưa thấy được.

Tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của quý Thầy, Cô giáo để khóa luận

được hoàn chỉnh hơn.

Tôi xin chân thành cảm ơn!

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Khóa luận tốt nghiệp này là do tự bản thân thực hiện có sự hỗ

trợ từ giáo viên hướng dẫn và không sao chép các công trình nghiên cứu của người

khác. Các dữ liệu thông tin thứ cấp sử dụng trong Khóa luận là có nguồn gốc và được

Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan này!

trích dẫn rõ ràng.

Sinh viên

Dương Thanh Phương

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU

CHƢƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ CHẤT LƢỢNG TÍN DỤNG CỦA 1 NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI

1.1. HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1

1.1.1 . Khái quát về Ngân hàng thương mại 1

1.1.2 . Hoạt động tín dụng của Ngân hàng thương mại 5

1.2. CHẤT LƢỢNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 10

1.2.1 . Khái niệm chất lượng tín dụng 10

. Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng 12 1.2.2

1.3. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG TỚI CHẤT LƢỢNG TÍN DỤNG 16

1.3.1 . Các nhân tố chủ quan 16

1.3.2 . Các nhân tố khách quan 18

CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG CHẤT LƢỢNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG NNO&PTNT CHI NHÁNH HOÀNG QUỐC VIỆT 21

2.1. KHÁT QUÁT VỀ NHNO&PTNT CHI NHÁNH HOÀNG QUỐC VIỆT 21

. Lịch sử hình thành, chức năng nhiệm vụ và tổ chức bộ máy của

2.1.1 NHNo&PTNT Chi nhánh Hoàng Quốc Việt 21

2.1.2 . Các kết quả hoạt động chủ yếu của NHNo&PTNT Chi nhánh Hoàng Quốc

Việt 23

2.2. THỰC TRẠNG CHẤT LƢỢNG TÍN DỤNG TẠI NHNO&PTNT CHI NHÁNH HOÀNG 35 QUỐC VIỆT

2.2.1 . Thực trạng tín dụng của NHNo&PTNT chi nhánh Hoàng Quốc Việt 35

2.2.2

. Phân tích chất lượng tín dụng tại NHNo&PTNT chi nhánh Hoàng Quốc Việt 35

2.3. ĐÁNH GIÁ CHẤT LƢỢNG TÍN DỤNG TẠI NHNO&PTNT CHI NHÁNH HOÀNG QUỐC VIỆT 42

2.3.1 . Những kết quả đạt được 42

2.3.2 . Hạn chế và nguyên nhân 44

CHƢƠNG 3.. GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN 49 HÀNG NNO&PTNT CHI NHÁNH HOÀNG QUỐC VIỆT

3.1. ĐỊNH HƢỚNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TẠI NHNO&PTNT CHI NHÁNH 49 HOÀNG QUỐC VIỆT

3.1.1 . Dự báo các yếu tố tác động tới hoạt động tín dụng trong thời gian tới 49

. Định hướng hoạt động tín dụng tại NHNo&PTNT chi nhánh Hoàng Quốc

3.1.2 Việt 51

3.2. GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG NNO&PTNT CHI NHÁNH HOÀNG QUỐC VIỆT 52

3.2.1 . Từng bước hoàn thiện công tác quản lý rủi ro tín dụng 52

3.2.2 . Chú trọng công tác marketing 54

3.2.3 . Nâng cao trình độ cán bộ công nhân viên 55

3.2.4 . Thực hiện tốt quy trình quản lý tín dụng và thẩm định tín dụng chặt chẽ 56

. Hiện đại hóa công nghệ ngân hàng 59

3.2.5

3.2.6 . Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát 60

3.2.7 . Một số giải pháp khác 61

3.3. KIẾN NGHỊ 62

3.3.1 . Kiến nghị đối với Nhà nước, Chính phủ 62

3.3.2 . Kiến nghị đối với Ngân hàng Nhà nước 65

3.3.3 . Kiến nghị đối với Ngân hàng NNo&PTNT Việt Nam 66

DANH MỤC VIẾT TẮT

CLTD Chất lượng tín dụng

NHNo&PTNT Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

NHNN Ngân hàng nhà nước

NHTM Ngân hàng thương mại

NHTW Ngân hàng trung ương

TCTD Tổ chức tín dụng

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ, CÔNG THỨC

Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức bộ máy NHNo&PTNT Chi nhánh Hoàng Quốc Việt ......... 23

Hình 2.1. Nợ xấu toàn ngành ngân hàng qua các năm44Hình 2.2. Tăng trưởng tín dụng

của khu vực ngân hàng Việt Nam ................................................................................. 45

Bảng 2.1: Nguồn vốn huy động của NHNo&PTNT Chi nhánh Hoàng Quốc Việt ...... 24

Bảng 2.2: Dư nợ tại NHNo&PTNT Chi nhánh Hoàng Quốc Việt ................................ 27

Bảng 2.3: Doanh số mua bán ngoại tệ của Chi nhánh ................................................... 30

Bảng 2.4: Kết quả hoạt động kinh doanh của NHNo&PTNT Chi nhánh ..................... 33

Bảng 2.5: Tỷ lệ nợ quá hạn tại NHNo&PTNT Chi nhánh Hoàng Quốc Việt .............. 36

Bảng 2.6: Tỷ lệ nợ xấu tại NHNo&PTNT Chi nhánh Hoàng Quốc Việt ...................... 37

Bảng 2.7: Hiệu suất sử dụng vốn tại NHNo&PTNT Chi nhánh Hoàng Quốc Việt. ..... 39

Bảng 2.8: Vòng quay vốn tín dụng trong năm tại NHNo&PTNT Chi nhánh ............... 40

Bảng 2.9: Tỷ lệ lợi nhuận từ hoạt động tín dụng tại NHNo&PTNT Chi nhánh ........... 41

Biểu đồ 2.1. Dư nợ cho vay phân theo thời gian ........................................................... 28

Biểu đồ 2.2. Dư nợ cho vay phân theo đối tượng vay ................................................... 29

Biểu đồ 2.3. Nợ quá hạn phân theo nhóm nợ ................................................................ 37

Biểu đồ 2.4. Kết quả thuộc các chỉ tiêu định lượng về chất lượng tín dụng tại

NHNo&PTNT Chi nhánh Hoàng Quốc Việt. ............................................................... 42

LỜI MỞ ĐẦU

Hoạt động ngân hàng trong nền kinh tế thị trường có tác động mạnh mẽ tới đời

sống con người và xã hội. Đặc biệt là sự ra đời và phát triển của Ngân hàng Thương

mại cả về quy mô số lượng, chất lượng các dịch vụ. Cho đến nay ngành ngân hàng đóng một vai trò hết sức quan trọng trong nền kinh tế với sự hình thành của hệ thống

ngân hàng hai cấp: Ngân hàng Trung ương và Ngân hàng Thương mại. Bên cạnh đó,

nền kinh tế thị trường phát triển đã thúc đẩy quá trình xâm nhập và phát triển về tư

tưởng, tác phong kinh doanh mới trong hệ thống ngân hàng được thể hiện bằng sự có mặt của tất cả các Chi nhánh ngân hàng nước ngoài và ngân hàng liên doanh.

Trong các hoạt động của ngân hàng, hoạt động tín dụng là hoạt động quan trọng

nhất, chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng tài sản, tạo ra thu nhập lớn nhất và cũng là

hoạt động tiềm ẩn nhiều rủi ro nhất của ngân hàng. Vì vậy, nâng cao chất lượng tín dụng luôn là nhiệm vụ và mục tiêu hàng đầu của các NHTM. Để đưa ra được một

quyết định tài trợ, các ngân hàng phải cân nhắc kỹ lưỡng, ước lượng khả năng rủi ro và

sinh lời dựa trên quy trình phân tích tín dụng. Hoạt động tín dụng có ý nghĩa đặc biệt

trong việc đánh giá sức mạnh tài chính, tự chủ tài chính trong kinh doanh, nhu cầu tài

trợ và khả năng hoàn trả của khách hàng.

NHNo&PTNT Chi nhánh Hoàng Quốc Việt là một Chi nhánh mặc dù được tách

ra từ NHNo&PTNT Chi nhánh Bắc Hà Nội và hoạt động được 6 năm nhưng chất lượng tín dụng còn thấp so với yêu cầu. Nâng cao chất lượng tín dụng sẽ góp phần

quyết định tới hiệu quả kinh doanh của ngân hàng. Chính vì lẽ đó mà việc nghiên cứu

đề tài: “Nâng cao chất lượng tín dụng tại Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát triển

Nông thôn Chi nhánh Hoàng Quốc Việt” là vấn đề rất cần thiết.

Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu về chất lượng tín dụng của NHTM. Phân tích, đánh giá thực trạng

chất lượng tín dụng qua đó đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tín dụng tại

Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn Chi nhánh Hoàng Quốc Việt.

Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu trong khóa luận là chất lượng tín dụng của Ngân hàng Thương mại trên giác độ ngân hàng là người cho vay. Phạm vi trong khóa luận này là

nghiên cứu chất lượng tín dụng tại Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn Chi nhánh Hoàng Quốc Việt. Thời gian được tiến hành phân tích, đánh giá thuộc giai đoạn từ năm 2011 đến năm 2013.

Phƣơng pháp nghiên cứu

Để hoàn thành các mục tiêu nghiên cứu đặt ra, khóa luận sử dụng các phương

pháp luận: duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, thống kê, phân tích, logic ...

Thu thập số liệu qua các Báo cáo thống kê về tình hình cho vay; Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh tại Agribank Chi nhánh Hoàng Quốc Việt; Tài liệu báo cáo

thường niên năm 2011,2012,2013 và các văn bản hiện hành liên quan đến công tác tín

dụng trong hệ thống Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam.

Ngoài ra còn sử dụng các phương pháp: Đặt câu hỏi và phỏng vấn trực tiếp các cán bộ tín dụng, cán bộ thẩm định cũng như ban lãnh đạo tại Agribank Chi nhánh

Hoàng Quốc Việt

Kết cấu của khóa luận: Gồm 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề lí luận về chất lượng tín dụng của ngân hàng.

Chương 2: Thực trạng chất lượng tín dụng tại NHNo&PTNT Chi nhánh Hoàng

Quốc Việt

Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng tại NHNo&PTNT Chi nhánh

Hoàng Quốc Việt

CHƢƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ CHẤT LƢỢNG TÍN DỤNG

CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI

1.1 Hoạt động tín dụng của Ngân hàng thƣơng mại

1.1.1 Khái quát về Ngân hàng thương mại

1.1.1.1 Khái niệm, đặc điểm của Ngân hàng thương mại

Trong nền kinh tế hàng hóa, ngay từ những thời gian đầu còn sơ khai xuất hiện

nhiều tổ chức mà hoạt động của nó mang dáng dấp của hoạt động ngân hàng. Cùng với

sự phát triển của nền kinh tế, các tổ chức tín dụng này ngày càng phát triển và hoạt động ngày càng phong phú và hiện đại hơn. Các NHTM hoạt động trong lĩnh vực kinh

doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng, hoạt động đó góp phần thúc đẩy nền kinh tế - xã

hội phát triển. Hoạt động của NHTM trong lĩnh vực tiền tệ tín dụng và dịch vụ ngân

hàng được coi là một loại định chế tài chính đặc biệt của nền kinh tế thị trường. Người ta cho rằng NHTM ra đời trong điều kiện nền kinh tế hàng hóa phát triển tới một trình

độ nhất định, đồng thời qua quá trình tồn tại và phát triển hàng nhiều thế kỷ, hệ thống

NHTM ngày càng được hoàn thiện.

Theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng và các quy định khác của pháp luật

(Nghị định số 59/2009/NĐ-CP của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của NHTM)

NHTM là ngân hàng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động

kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận.

NHTM là doanh nghiệp hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ vì mục tiêu

lợi nhuận. Hoạt động kinh doanh của NHTM được phân vào nhóm hoạt động kinh

doanh có mức độ rủi ro cao. Sự tồn tại của NHTM phụ thuộc nhiều vào sự tin tưởng

của khách hàng và các NHTM đều chịu ảnh hưởng dây chuyền với nhau.

Luật NHTM của các nước khác trên thế giới đều khẳng định: NHTM là định chế

tài chính trung gian quan trọng nhất trong nền kinh tế thị trường, với nhiệm vụ nhận

tiền gửi của công chúng dưới hình thức ký thác và sử dụng nguồn lực đó cho các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng, tài chính và các hoạt động dịch vụ khác với mục đích tìm kiếm lợi nhuận.

Như vậy có thể nói rằng NHTM là định chế tài chính trung gian quan trọng vào

loại bậc nhất trong nền kinh tế thị trường. Nhờ hệ thống định chế tài chính trung gian này mà các nguồn tiền nhàn rỗi nằm rải rác trong xã hội sẽ được huy động, tập trung lại, đông thời sử dụng số vốn đó để cấp tín dụng cho các tổ chức kinh tế, cá nhân để

phát triển kinh tế xã hội. [7, tr.7,8]

1

1.1.1.2 Các hoạt động cơ bản của Ngân hàng Thương mại

Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với

nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng, cung

ứng dịch vụ thanh toán.

a. Hoạt động huy động vốn

Đây là hoạt động mang tính chất tiền đề nhằm tạo lập nguồn vốn cho hoạt động

của ngân hàng. Nguồn vốn của ngân hàng bao gồm nguồn vốn chủ sở hữu, nguồn tiền

gửi của khách hàng, nguồn đi vay và các nguồn khác (nguồn uỷ thác, nguồn trong thanh toán…) trong đó nguồn tiền gửi là lớn nhất và có vai trò quan trọng trong việc

hình thành các khoản cho vay đối với khách hàng. Ngân hàng mở dịch vụ nhận tiền

gửi để bảo quản hộ người có tiền và cam kết hoàn trả đúng hạn hoặc bất cứ lúc nào

khách hàng yêu cầu. Các NHTM huy động tiền gửi trong nền kinh tế thông qua cơ chế lãi suất, số tiền lãi được coi như là một khoản chi phí mà ngân hàng phải trả cho khách

hàng gửi tiền để có thể được sử dụng khoản tiền đó.

b. Hoạt động sử dụng vốn

Hoạt động sử dụng vốn là hoạt động đem lại nguồn thu cho NHTM và bù đắp các

chi phí trong hoạt động. Ngân hàng thường sử dụng nguồn vốn vào các hoạt động kinh

doanh chủ yếu sau:

 Hoạt động cho vay

Cho vay là việc NHTM cho khách hàng vay một số tiền để họ sử dụng trong một

thời gian nhất định và khi hết hạn vay, người vay phải hoàn trả ngân hàng một khoản

tiền bao gồm cả gốc và lãi. Đây là hoạt động quan trọng nhất của NHTM, nó mang lại

nguồn thu chủ yếu cho NHTM. Cho vay bao gồm cho vay thương mại, cho vay tiêu

dùng và tài trợ cho dự án.

 Cho vay tiêu dùng : Các NHTM cung cấp vốn cho đối tượng khách hàng là các cá nhân và các hộ gia đình nhằm thoả mãn nhu cầu mua sắm sinh hoạt

hàng ngày. Trong giai đoạn đầu, các ngân hàng rất hạn chế cho vay đối với các cá nhân và hộ gia đình, họ cho rằng các khoản cho vay này có độ rủi ro vỡ nợ tương đối cao. Tuy nhiên, với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế - xã hội thu nhập của người tiêu dùng đã ngày càng gia tăng đồng thời do sự

cạnh tranh mạnh mẽ trong hệ thống ngân hàng buộc các NHTM phải hướng tới người tiêu dùng như là một khách hàng tiềm năng. Hiện nay, cho vay tiêu dùng đã và đang đóng vai trò quan trọng, không thể thiếu trong hoạt động cho vay của các ngân hàng.

2

 Cho vay thương mại: Các NHTM cung cấp vốn cho khách hàng doanh nghiệp, đáp ứng nhu cầu về vốn phục vụ sản xuất kinh doanh của các doanh

nghiệp. Cho vay thương mại là hoạt động ra đời tương đối sớm. Ngay thời kỳ đầu các ngân hàng đã tiến hành chiết khấu thương phiếu mà thực chất ở

đây là cho vay đối với những người bán (người bán chuyển các khoản phải

thu cho ngân hàng để lấy tiền trước). Sau đó là chuyển từ chiết khấu thương

phiếu sang cho vay trực tiếp để khách hàng có vốn phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như mở rộng quy mô sản xuất.

 Tài trợ cho dự án: Với sự phát triển của hệ thống ngân hàng hoạt động cho vay dần được hoàn thiện và phong phú hơn. Ngoài cho vay tiêu dùng, cho vay thương mại các NHTM còn tiến hành tài trợ cho các dự án bằng cách

bỏ toàn bộ hoặc một phần vốn vào một dự án thường là các dự án xây dựng

nhà máy mới. Hoạt động tài trợ dự án thường đem lại cho ngân hàng nguồn thu nhập tương đối lớn nhờ lãi suất cao nhưng độ rủi ro không hề thấp.

 Thuê tài chính

Các NHTM cho phép khách hàng của mình có thể lựa chọn thuê các thiết bị, máy

móc cần thiết thông qua hợp đồng thuê mua, trong đó NHTM là người đứng ra bỏ vốn

mua máy móc, thiết bị đó và cho khách hàng thuê lại. Hợp đồng cho thuê thường phải

đảm bảo yêu cầu khách hàng phải trả tới hơn 2/3 giá trị của tài sản cho thuê. Do đó, ta

có thể thấy dịch vụ cho thuê tài chính của ngân hàng cũng có điểm giống như cho vay

và được xếp vào tín dụng trung và dài hạn.

 Dịch vụ bảo lãnh

Các ngân hàng lớn thường có uy tín cao nên có khả năng đứng ra bảo lãnh cho

một doanh nghiệp trước đối tác của họ. Dịch vụ bảo lãnh tương đối đa dạng bao gồm

nhiều loại khác nhau như: bảo lãnh vay vốn, bảo lãnh thanh toán, bảo lãnh dự thầu,

bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh đảm bảo chất lượng sản phẩm, bảo lãnh đối

ứng…

c. Các hoạt động khác

 Hoạt động mua bán ngoại tệ

Mua, bán ngoại tệ là một trong những hoạt động đầu tiên mà các ngân hàng thực hiện. Ngân hàng đứng ra mua, bán một loại tiền này lấy một loại tiền khác và hưởng phí dịch vụ. Thị trường tài chính phát triển các NHTM không chỉ mua, bán ngoại tệ ở trong nước mà còn tiến hành kinh doanh mua, bán ngoại tệ trên thị trường quốc tế để hưởng chênh lệch tỷ giá của các loại ngoại tệ trên những thị trường khác nhau tại những thời điểm khác nhau. Nghiệp vụ mua, bán ngoại tệ thường do các ngân hàng lớn

3

thực hiện bởi vì những giao dịch đó có mức độ rủi ro lớn, đòi hỏi phải có trình độ

chuyên môn cao.

 Cung cấp các tài khoản giao dịch và thực hiện thanh toán

Thanh toán qua ngân hàng đã mở đầu cho thanh toán không dùng tiền mặt, đây là

hình thức thanh toán không thể thiếu trong nền kinh tế hiện nay. Thanh toán không

dùng tiền mặt chỉ các nghiệp vụ chi trả tiền hàng hoá, dịch vụ và các khoản thanh toán

khác trong nền kinh tế được thực hiện bằng cách trích chuyển tài khoản trong hệ thống ngân hàng hoặc bù trừ công nợ mà không dùng tiền mặt. Các doanh nghiệp có các giao

dịch với nhau không nhất thiết phải trực tiếp gặp nhau và thanh toán cho nhau, mà ở

đây họ đã thông qua một người trung gian đứng ra thanh toán. Việc sử dụng dịch vụ

này tiết kiệm rất nhiều về thời gian, chi phí và nâng cao thu nhập cho các doanh

nghiệp. Mặt khác, các ngân hàng mở thêm Chi nhánh, thanh toán qua ngân hàng được mở rộng phạm vi càng tạo nhiều tiện ích cho khách hàng. Điều này càng khuyến khích

các cá nhân, doanh nghiệp gửi tiền vào ngân hàng nhờ ngân hàng thanh toán hộ. Việc đưa ra loại tài khoản tiền gửi mới này được xem như là một trong những bước đi quan

trọng nhất trong công nghiệp ngân hàng. Hiện nay, với việc ứng dụng khoa học công

nghệ hiện đại vào lĩnh vực ngân hàng nhiều phương thức thanh toán được phát triển

như uỷ nhiệm thu, uỷ nhiệm chi, thanh toán qua L/C, thanh toán bằng điện tử, thẻ

thanh toán…

 Dịch vụ bảo quản vật có giá

Ngân hàng thực hiện lưu giữ, bảo quản vàng và các tài sản có giá khác cho khách

hàng trong két của mình (vì vậy còn gọi dịch vụ bảo quản vật có giá là dịch vụ cho

thuê két). Ngân hàng giữ lại các vật có giá và giao cho khách hàng giấy biên nhận

(giấy chứng nhận do ngân hàng phát hành). Do khả năng chi trả bất cứ lúc nào cho

giấy chứng nhận nên các giấy chứng nhận đã được sử dụng như tiền – dùng làm

phương tiện thanh toán cho các giao dịch của khách hàng. Với tiện ích nhanh chóng,

thuận tiện, độ an toàn cao nên đã khuyến khích khách hàng giao dịch với ngân hàng để

sử dụng giấy chứng nhận của ngân hàng trong thanh toán. Với dịch vụ bảo quản vật có giá ngân hàng có thể thu được một khoản phí từ khách hàng.

 Dịch vụ quản lý ngân quỹ

Các NHTM mở tài khoản và giữ tiền của các doanh nghiệp, cá nhân nên có điều

kiện tìm hiểu và tạo mối quan hệ với các khách hàng đó. Với kinh nghiệm quản lý ngân quỹ và khả năng trong việc thu ngân của mình, nhiều NHTM đã cung cấp cho khách hàng dịch vụ quản lý ngân quỹ. Thực hiện dịch vụ này, ngân hàng đồng ý quản lý hoạt động thu – chi cho một khách hàng và ngân hàng được sử dụng phần thặng dư

4

tiền mặt tạm thời vào các hoạt động của mình cho đến khi khách hàng cần rút tiền mặt

để thanh toán.

 Dịch vụ uỷ thác và tư vấn

Do tính chuyên môn hoá cao, đội ngũ cán bộ có trình độ cao và có nhiều kinh

nghiệm trong lĩnh vực tài chính nên các NHTM được các doanh nghiệp nhờ quản lý tài

sản và quản lý hoạt động tài chính của mình. Dịch vụ uỷ thác phát triển sang cả uỷ

thác vay hộ, uỷ thác cho vay hộ, uỷ thác đầu tư… thậm chí được uỷ thác ngay cả trong di chúc.

 Dịch vụ môi giới đầu tư chứng khoán

NHTM đứng ra cung cấp cho khách hàng cơ hội mua cổ phiếu, trái phiếu và các

chứng khoán khác mà không phải nhờ tới những người kinh doanh chứng khoán.

 Dịch vụ bảo hiểm

NHTM bán bảo hiểm cho khách hàng, đảm bảo hoàn trả cho khách hàng trong

trường hợp khách hàng đó bị rủi ro như bị chết, tai nạn, tàn phế …

 Dịch vụ đại lý:

NHTM lớn với chi nhánh rộng khắp cung cấp dịch vụ đại lý cho các ngân hàng

nhỏ chưa có điều kiện thiết lập chi nhánh. Khi đó, các NHTM lớn hơn sẽ tiến hành các

hoạt động thay các ngân hàng nhỏ như thanh toán hộ, phát hành hộ chứng chỉ tiền

gửi…

Nhìn chung các dịch vụ Ngân hàng đang ngày càng được mở rộng, đa dạng, chuyên nghiệp và hiện đại hơn. Có thể xem Ngân hàng là loại tổ chức tài chính cung

cấp một danh mục dịch vụ tài chính đa dạng nhất đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm, dịch

vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức

kinh doanh nào trong nền kinh tế.

1.1.2 Hoạt động tín dụng của Ngân hàng thương mại

1.1.2.1 Khái niệm và đặc điểm của tín dụng Ngân hàng Thương mại

Tín dụng (credit) xuất phát từ chữ la tinh là credo (tin tưởng, tín nhiệm). Tín dụng là một phạm trù kinh tế của nền kinh tế hàng hoá, nó phản ánh mối quan hệ kinh tế giữa người sở hữu vốn với người sử dụng các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong

nền kinh tế theo nguyên tắc hoàn trả cả vốn và lãi khi đến hạn. Thực chất, tín dụng là biểu hiện mối quan hệ kinh tế gắn liền với quá trình tạo lập và sử dụng quỹ tín dụng nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu vốn tạm thời cho quá trình tái sản xuất và đời sống,

theo nguyên tắc hoàn trả.

Tín dụng ngân hàng là mối quan hệ tín dụng bằng tiền tệ giữa một bên là ngân hàng và bên kia là các tổ chức, cá nhân, các doanh nghiệp trong và ngoài nước, trong 5

đó ngân hàng đóng vai trò vừa là người đi vay vừa là người cho vay. Tín dụng ngân

hàng là hình thức tín dụng quan trọng nhất, phổ biến nhất trong nền kinh tế. [17]

Với phạm vi nghiên cứu của khóa luận, khái niệm tín dụng trong khóa luận này

được hiểu giới hạn là hoạt động của ngân hàng với vai trò là người cho vay. Với tư cách là người cho vay, sau khi đã huy động được một lượng vốn tương đối ngân hàng

tiến hành cung ứng vốn đáp ứng nhu cầu bổ sung vốn cho các cá nhân, tổ chức hay các

doanh nghiệp vào quá trình sản xuất kinh doanh và tiêu dùng.

Tín dụng Ngân hàng Thương mại bên cạnh những đặc điểm vốn có của tín dụng nói chung như dựa trên cơ sở lòng tin; là sự chuyển nhượng một tài sản có thời hạn;

dựa trên nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi; là hoạt động tiềm ẩn rủi ro; dựa trên cơ sở

cam kết hoàn trả vô điều kiện thì đồng thời cũng có những đặc điểm riêng, cụ thể:

 Chủ thể thực hiện là các NHTM: trong tín dụng Ngân hàng Thương mại,

NHTM là người cho vay theo nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi.

 Tính hiệu quả: khác với các loại hình tín dụng khác trong nền kinh tế thị trường, mục đích của tín dụng NHTM là lợi nhuận. Để đảm bảo lợi nhuận thì

bất kỳ khách hàng nào vay vốn đều phải có phương án kinh doanh khả thi, có

tính hiệu quả thiết thực để đảm bảo cho NHTM thu hồi được nợ gốc và lãi, tạo

điều kiện bảo toàn và phát triển vốn.

 Thời gian và phạm vi: thời gian cho vay của NHTM rất đa dạng có thể là ngắn hạn, trung hay dài hạn. Phạm vi cho vay rất rộng, khách hàng của các NHTM

là các tổ chức, cá nhân có nhu cầu vay vốn, có khả năng trả nợ để thực hiện

các dự án đầu tư, phương án sản xuất, kinh doanh phục vụ đời sống trong và

ngoài nước.

1.1.2.2 Các hình thức tín dụng của Ngân hàng Thương mại

Có nhiều cách phân loại tín dụng khác nhau, tuỳ thuộc mục đích nghiên cứu của

mỗi tổ chức, cá nhân khác nhau. Thông thường được phân loại dựa theo một số tiêu

thức sau:

a. Phân loại theo thời gian

Việc phân chia tín dụng theo thời gian có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với ngân

hàng vì thời gian liên quan trực tiếp đến tính an toàn hay mức độ rủi ro và khả năng sinh lợi của các khoản tín dụng. Theo thời gian tín dụng ngân hàng bao gồm ngắn hạn,

trung hạn và dài hạn.

 Tín dụng ngắn hạn: là hoạt động cho vay có thời hạn dưới một năm và thường được sử dụng để vay bổ sung thiếu hụt vốn lưu động tạm thời của các doanh nghiệp và cho vay phục vụ nhu cầu sinh hoạt của các cá nhân.

6

 Tín dụng trung hạn: là hoạt động cho vay có thời hạn nằm giữa 2 loại tín dụng trên, thường được sử dụng cho các doanh nghiệp vay với mục đích mua sắm

tài sản cố định, cải tiến và đổi mới kỹ thuật, mở rộng và xây dựng các công trình nhỏ có thời gian thu hồi vốn nhanh.

 Tín dụng dài hạn: là hoạt động cho vay có thời hạn trên 5 năm, thường được sử dụng để cấp vốn cho các doanh nghiệp phục vụ cho xây dựng cơ bản, đầu tư xây dựng mới các xí nghiệp, các công trình thuộc cơ sở hạ tầng, cải tiến và

mở rộng quy mô sản xuất.

Có thể có những quy định khác nhau về thời gian của tín dụng trung và dài hạn,

có ngân hàng quy định trung hạn là từ 1 – 7 năm và dài hạn là trên 7 năm.

b. Căn cứ vào đối tượng tín dụng

 Tín dụng vốn lưu động: là hoạt động cho vay được dùng để hình thành vốn lưu động của các tổ chức kinh tế như dự trữ hàng hoá, mua nguyên vật liệu, công cụ, dụng cụ phục vụ sản xuất. Doanh nghiệp thường sử dụng tín dụng lưu

động để bù đắp vốn lưu động thiếu hụt tạm thời.

 Tín dụng vốn cố định: là hoạt động cho vay được dùng để hình thành vốn để mua tài sản cố định, cải tiến và đổi mới kỹ thuật, mở rộng quy mô sản xuất,

xây dựng các công trình mới phục vụ sản xuất. Thời hạn cho vay đối với loại

tín dụng này là trung và dài hạn.

c. Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn

 Tín dụng sản xuất và lưu thông hàng hoá: là hoạt động cho vay dành cho các doanh nghiệp và các chủ thể kinh doanh khác để tiến hành sản xuất và lưu

thông hàng hoá.

 Tín dụng tiêu dùng: là hoạt động cho vay dành cho cá nhân, hộ gia đình đáp ứng nhu cầu tiêu dùng: mua sắm nhà cửa, xe cộ, vật dụng… phục vụ quá trình

sinh hoạt. Tín dụng tiêu dùng được thể hiện bằng hình thức tiền hoặc bán chịu hàng hoá.

d. Căn cứ theo tài sản đảm bảo

 Tín dụng không có đảm bảo: là loại cho vay không cần tài sản thế chấp, cầm cố hoặc sự bảo lãnh của người thứ ba, hoạt động cấp tín dụng chỉ dựa trên uy tín của khách hàng. Đối với khách hàng tốt, trung thực, khả năng tài chính

mạnh, khách hàng truyền thống, ngân hàng có thể cấp tín dụng mà không cần đòi hỏi nguồn thu nợ bổ sung hay tài sản khác đảm bảo.

 Tín dụng có đảm bảo: là loại cho vay được ngân hàng cung cấp cho đối tượng khách hàng cần phải có tài sản đảm bảo hoặc có sự đứng ra bảo lãnh của bên

7

thứ ba. Đây là những khách hàng mới đến giao dịch, khách hàng kinh doanh

trên những lĩnh vực có độ rủi ro cao, tài sản đảm bảo sẽ là căn cứ pháp lý ràng

buộc trách nhiệm của khách hàng đối với khoản vay của mình, tăng khả năng

thu hồi lại được vốn.

e. Căn cứ theo hình thức

Theo hình thức tín dụng ngân hàng bao gồm chiết khấu, cho vay, bảo lãnh và

cho thuê.

 Chiết khấu thương phiếu: là việc ngân hàng ứng trước tiền cho khách hàng tương ứng với giá trị của thương phiếu trừ đi phần thu nhập mà ngân hàng

được hưởng. Phần ngân hàng được hưởng coi như là lãi suất xác định trước

mà chủ thương phiếu phải trả, ngân hàng tuy ứng trước tiền cho khách hàng

song thực chất là thay thế người mua trả tiền trước cho người bán.

 Cho vay là việc ngân hàng cấp tiền cho khách hàng, đồng thời kèm theo một bản cam kết khách hàng phải hoàn trả cả gốc và lãi trong một khoảng thời gian

nhất định.

 Bảo lãnh là việc ngân hàng cam kết hoàn thành các nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng của mình khi khách hàng không có khả năng thực hiện các nghĩa

vụ đó. Ở đây, ngân hàng không phải xuất tiền ra để thực hiện mà ngân hàng

cho khách hàng sử dụng uy tín của mình để sinh lợi.

 Cho thuê là việc ngân hàng bỏ tiền ra mua tài sản và cho khách hàng thuê lại theo những thoả thuận nhất định, sau đó khách hàng phải hoàn trả cả gốc và

lãi cho ngân hàng.

f. Căn cứ theo mức độ rủi ro

 Tín dụng lành mạnh: các khoản cho vay có khả năng thu hồi cao.

 Tín dụng có vấn đề: các khoản cho vay có dấu hiệu không lành mạnh như khách hàng chậm tiêu thụ, tiến độ thực hiện kế hoạch chậm, khách hàng gặp thiên tai, khách hàng trì hoãn nộp báo cáo tài chính…

 Nợ quá hạn có khả năng thu hồi: các khoản nợ đã quá hạn với thời hạn ngắn

và khách hàng đã có kế hoạch khắc phục, tài sản đảm bảo có giá trị lớn…

 Nợ quá hạn khó đòi: nợ quá hạn lâu, khả năng trả nợ kém, giá trị tài sản thế

chấp nhỏ hoặc bị giảm giá.

1.1.2.3 Quy trình tín dụng

Quy trình tín dụng là bảng tổng hợp mô tả công việc của ngân hàng từ khi tiếp nhận hồ sơ vay vốn của một khách hàng cho đến khi quyết định cho vay, giải ngân, thu

8

nợ và thanh lý hợp đồng tín dụng. Việc xác lập một quy trình tín dụng và không ngừng

hoàn thiện nó đặc biệt quan trọng đối với một NHTM. Một quy trình tín dụng hợp lý

sẽ giúp cho ngân hàng nâng cao chất lượng tín dụng và giảm thiểu rủi ro tín dụng.

Ngoài ra, quy trình tín dụng còn có tác dụng làm cơ sở cho việc phân định quyền, trách nhiệm cho các bộ phận trong hoạt động tín dụng và là cơ sở để thiết lập các hồ

sơ, thủ tục vay vốn.

Một quy trình tín dụng căn bản bao gồm 6 bước:

Bƣớc 1: Lập hồ sơ vay vốn

Bước này do cán bộ tín dụng thực hiện ngay sau khi tiếp xúc khách hàng. Nhìn chung

một bộ hồ sơ vay vốn cần phải thu thập các thông tin như:

 Năng lực pháp lý, năng lực hành vi dân sự của khách hàng

 Khả năng sử dụng vốn vay

 Khả năng hoàn trả nợ vay (vốn vay + lãi)

Bƣớc 2: Phân tích tín dụng

Phân tích tín dụng là xác định khả năng hiện tại và tương lại của khách hàng

trong việc sử dụng vốn vay và hoàn trả nợ vay. Mục tiêu là tìm kiếm những tình huống

có thể xảy ra dẫn đến rủi ro cho ngân hàng, dự đoán khả năng khắc phục những rủi ro

đó, dự kiến những biện pháp giảm thiểu rủi ro và hạn chế tổn thất cho ngân hàng. Phân

tích tính chân thật của những thông tin đã thu thập được từ phía khách hàng trong

bước 1, từ đó nhận xét thái độ, thiện chí của khách hàng làm cơ sở cho việc ra quyết

định cho vay.

Bƣớc 3: Ra quyết định tín dụng

Trong khâu này, ngân hàng sẽ ra quyết định đồng ý hoặc từ chối cho vay đối với một

hồ sơ vay vốn của khách hàng.

Khi ra quyết định, ngân hàng thường mắc 2 sai lầm cơ bản:

 Đồng ý cho vay với một khách hàng không tốt

 Từ chối cho vay với một khách hàng tôt.

Cả 2 sai lầm này đều ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh tín dụng, thậm chí sai lầm thứ 2 còn ảnh hưởng đến uy tín của ngân hàng.

Bƣớc 4: Giải ngân

Ở bước này, ngân hàng sẽ tiến hành phát tiền cho khách hàng theo hạn mức tín dụng đã ký kết trong hợp đồng tín dụng. Nguyên tắc giải ngân là phải gắn liền sự vận động tiền tệ với sự vận động hàng hóa hoặc dịch vụ có liên quan nhằm kiểm tra mục

đích sử dụng vốn vay của khách hàng và đảm bảo khả năng thu nợ nhưng đồng thời

9

cũng phải tạo sự thuận lợi, tránh gây phiền hà cho công việc sản xuất kinh doanh của

khách hàng.

Bƣớc 5: Giám sát tín dụng

Nhân viên tín dụng thường xuyên kiểm tra việc sử dụng vốn vay thực tế của khách hàng, hiện trạng tài sản đảm bảo, tình hình tài chính của khách hàng,... để đảm bảo khả

năng thu nợ.

Bƣớc 6: Thanh lý hợp đồng tín dụng

1.2 Chất lƣợng tín dụng của Ngân hàng thƣơng mại

1.2.1 Khái niệm chất lượng tín dụng

Chất lượng có lẽ được nhắc đến nhiều nhất khi nói về một sản phẩm hay một

dịch vụ nào đó, đối với dịch vụ ngân hàng cũng vậy. Có rất nhiều định nghĩa về chất

lượng đã được đưa ra. Theo W.Ederwards Deming chất lượng chính là việc thỏa mãn nhu cầu của khách hàng hay theo Philip B.Crosby thì chất lượng là “làm đúng theo yêu

cầu”. Theo tổ chức Quốc tế về Tiêu chuẩn hóa ISO, trong dự thảo DIS 9000:2000, đã

đưa ra định nghĩa về chất lượng như sau: “Chất lượng là khả năng của tập hợp các đặc

tính của một sản phẩm, hệ thống hay quá trình để đáp ứng các yêu cầu của khách hàng

và các bên có liên quan". Như vậy chất lượng là mức độ của một tập hợp các đặc tính

vốn có của một sản phẩm hay một dịch vụ đáp ứng các yêu cầu của khách hàng.

Với cách đề cập như trên, ta có thể hiểu chất lượng tín dụng là việc ngân hàng đáp ứng được yêu cầu của khách hàng phù hợp với sự phát triển kinh tế xã hội và đảm

bảo cho sự tồn tại và phát triển của ngân hàng. Khái niệm về chất lượng tín dụng là

một phạm trù phản ánh mức độ rủi ro trong bảng tổng hợp cho vay của một NHTM,

hay nói cách khác đó là thước đo khả năng đáp ứng nhu cầu về vốn đầu tư của khách

hàng phù hợp với khả năng quản lý và hoạt động của NHTM. Chất lượng tín dụng

được thể hiện tổng quát thông qua tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ. Do vậy, trong một

số trường hợp khi nói đến chất lượng tín dụng theo nghĩa hẹp người ta chỉ nêu lên tỷ lệ

nợ quá hạn trên tổng dư nợ, tỷ lệ này càng cao thể hiện chất lượng tín dụng càng thấp và ngược lại.

Việc nghiên cứu chất lượng tín dụng dựa trên ba góc độ, từ phía khách hàng, từ phía xã hội và từ bản thân NHTM trong đó yếu tố xuất phát từ bản thân NHTM đóng

vai trò quan trọng nhất. Bởi vậy việc nâng cao chất lượng phải đảm bảo cả ba góc độ đó. Trong khóa luận này, chất lượng tín dụng được nghiên cứu dựa trên góc độ từ phía

bản thân ngân hàng là người cho vay.

Chất lượng tín dụng của NHTM có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của ngân hàng cũng như đối với sự phát triển kinh tế - xã hội. Tín dụng ngân hàng phải

10

mang lại lợi ích cho nhà kinh doanh ngân hàng, đồng thời đáp ứng nhu cầu tồn tại và

phát triển của ngân hàng một cách bền vững và ít rủi ro nhất. Chất lượng tín dụng tốt

sẽ là nền tảng vững chắc cho sự phát triển của ngân hàng, tăng khả năng tạo lợi nhuận

cho ngân hàng, góp phần làm giảm các chi phí liên quan đến nghiệp vụ, quản lý, chi phí thiệt hại do không thu hồi được vốn cho vay đồng thời cải thiện được tình hình tài

chính của ngân hàng, tạo nên sự tồn tại lâu dài của ngân hàng. Thu nhập từ tiền cho

vay được thể hiện dưới hình thái tiền lãi cho vay và phụ thuộc vào thời gian cho vay,

thời gian cho vay càng dài thì rủi ro và mất an toàn càng cao, đặc biệt là trong nền kinh tế ngày nay luôn chứa đựng những biến động lớn không thể lường trước được. Ngày

nay, hội nhập kinh tế làm xuất hiện hàng loạt các loại hình ngân hàng giúp gia tăng

mức độ cạnh tranh giữa các ngân hàng. Các ngân hàng có hiệu quả kinh doanh chưa

cao, năng lực tài chính còn yếu, quy mô hoạt động nhỏ, trình độ quản lý, điều hành

còn kém, công nghệ còn lạc hậu, rủi ro tiềm tàng lớn,… sẽ gặp phải những khó khăn

trong hoạt động. Việc nâng cao chất lượng tín dụng là một giải pháp hữu hiệu giúp cho

ngân hàng đảm bảo được sự an toàn trong hoạt động, tăng lợi nhuận và khẳng định

được vị thế của ngân hàng trên thị trường. Đối với sự phát triển kinh tế - xã hội, chính

nhờ có sự hoạt động tốt của hệ thống ngân hàng nói chung và hoạt động tín dụng nói

riêng làm cho nền kinh tế ngày càng phát triển. Một khi chất lượng tín dụng được đảm

bảo sẽ tăng vòng quay vốn tín dụng, với một khối lượng tiền như trước có thể thực hiện số lần giao dịch lớn hơn, tạo điều kiện giảm lượng tiền trong lưu thông, giảm

được tình trạng lạm phát. Ngân hàng là tổ chức tài chính trung gian có chức năng làm

cầu nối giữa tiết kiệm và đầu tư, chất lượng tín dụng tốt sẽ giải quyết được tình trạng

vốn, tiếp cận đến những nơi có hiệu quả vốn cao, tạo ra một khối lượng tiền lớn từ đó

phục vụ tốt cho công cuộc công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước. Tín dụng là công

cụ để Đảng và Nhà nước thực hiện các chủ trương phát triển kinh tế xã hội đúng định

hướng của mình. Đồng thời, thông qua công tác đánh giá khả năng phát triển của các

đối tượng đầu tư Đảng và Nhà nước có thể có những quyết định đầu tư đúng đắn nhằm

khai thác tốt tài nguyên, lao động, vốn,…góp phần tăng cường năng lực sản xuất cho nền kinh tế, cung cấp ngày càng nhiều sản phẩm cho xã hội, tạo công ăn việc làm cho người lao động, từ đó sẽ góp phần tăng hiệu quả sản xuất xã hội, đảm bảo sự phát triển cân đối giữa các ngành, vùng miền trong cả nước làm cho ổn định kinh tế xã hội. Việc

đảm bảo chất lượng tín dụng sẽ làm cho đồng vốn trong nền kinh tế có hiệu quả hơn, tốt hơn, góp phần vào việc đưa nguồn vốn đến được những nơi cần có vốn, giảm thiểu và đi đến xóa bỏ nạn cho vay nặng lãi ở các vùng nông thôn và những nơi xa xôi, hẻo

lánh.

11

1.2.2 Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng

Chất lượng tín dụng là một chỉ tiêu quan trọng nhưng không kém phần phức tạp

được thể hiện qua nhiều mặt, nhiều phương diện khác nhau. Khi cung cấp tín dụng cho

khách hàng phải đảm bảo mục tiêu hiệu quả, an toàn và lợi nhuận cho ngân hàng. Do vậy, chất lượng tín dụng phải đảm bảo các chỉ tiêu sau:

1.2.2.1 Các chỉ tiêu định tính

CLTD không phải chỉ đơn thuần được thể hiện trên con số lợi nhuận mà hoạt

động tín dụng mang lại. CLTD còn được thể hiện thông qua kết quả hoạt động tín dụng đã giúp khách hàng tăng năng suất lao động, tăng giá trị thành phẩm và phần lợi

nhuận tăng thêm để tái mở rộng sản xuất. Những chỉ tiêu mang tính định tính được

đưa ra khi đánh giá CLTD bao gồm:

Thứ nhất, hoạt động tín dụng phải linh hoạt, phù hợp với từng loại khách hàng, thỏa mãn được nhu cầu của khách hàng…thực hiện tốt chính sách hỗ trợ khách hàng

để nâng cao uy tín và sức cạnh tranh của ngân hàng. Việc làm hài lòng khách hàng còn

được thể hiện thông qua việc rút ngắn thời gian và thủ tục cho vay, đảm bảo cung cấp

vốn nhanh chóng, an toàn.

Thứ hai, hoạt động tín dụng phải đảm bảo mục tiêu định hướng của ngân hàng

trong ngắn hạn cũng như trong dài hạn, phải thực hiện đúng quy trình thủ tục, tuân thủ

các nguyên tắc tín dụng và điều kiện cho vay và phải mang lại cho ngân hàng những khoản thu nhập đủ để trang trải các chi phí cần thiết và đảm bảo có lãi.

Thứ ba, hoạt động tín dụng phải đóng góp vào sự phát triển kinh tế của địa

phương và của đất nước.

1.2.2.2 Các chỉ tiêu định lượng

a. Tỷ lệ nợ quá hạn

Năm 1988, Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng (Basel Committee on Banking

Supervision - BCBS) đã phê duyệt một văn bản đầu tiên lấy tên là Hiệp ước về vốn

của Basel (Basel I). Ban đầu, Basel I chỉ áp dụng trong hoạt động của các ngân hàng quốc tế thuộc nhóm 10 nước phát triển. Sau này, Basel I đã trở thành chuẩn mực toàn cầu và được áp dụng ở trên 120 quốc gia. Việt Nam không nằm trong danh sách các quốc gia thành viên của Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng, tức không chịu áp lực

phải vận dụng các quy định an toàn của các hiệp ước này, song việc vận dụng các hiệp ước Basel trong hoạt động quản trị ngân hàng là vấn đề hết sức ý nghĩa và cần thiết đối

với hệ thống ngân hàng nước ta. Trong những năm trở lại đây các quyết định của

NHNN như Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN và Quyết định 457/2005/QĐ-NHNN,

12

Thông tư số 13, 19 năm 2010 cũng đã đề cập tới một số vấn đề liên quan tới các điều

khoản trong hiệp định Basel nhưng vẫn ở mức rất hạn chế.

Theo quyết định số 493/2005/QĐ – NHNN ngày 22/04/2005 của thống đốc

NHNN Việt Nam về việc “Ban hành quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng”, tổ chức tín

dụng thực hiện phân loại nợ như sau:

Nợ nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn) bao gồm:

 Các khoản nợ trong hạn mà tổ chức tín dụng đánh giá là có khả năng thu hồi

đầy đủ cả gốc và lãi đúng hạn

 Các khoản nợ khác được phân loại vào nhóm 1 theo quy định.

Nợ nhóm 2 (Nợ cần chú ý) bao gồm:

 Các khoản nợ đã quá hạn dưới 90 ngày

 Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ trong hạn theo thời hạn đã cơ cấu lại

 Các khoản nợ khác được phân loại vào nhóm 2 theo quy định

Nợ nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm:

 Các khoản nợ quá hạn từ 90 đến 180 ngày

 Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ dưới 90 ngày theo thời hạn đã cơ cấu

lại

 Các khoản nợ khác được phân loại vào nhóm 3 theo quy định.

Nợ nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm:

 Các khoản nợ quá hạn từ 181 đến 360 ngày

 Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn từ 90 đến 180 ngày theo thời

hạn đã cơ cấu lại

 Các khoản nợ khác được phân loại vào nhóm 4 theo quy định.

Nợ nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn) bao gồm:

 Các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày

 Các khoản nợ khoanh chờ Chính phủ xử lý

 Các khoản nợ đã cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn trên 180 ngày theo thời hạn

đã được cơ cấu lại

 Các khoản nợ khác được phân loại vào nhóm theo quy định.

Nợ quá hạn là khoản nợ mà một phần hoặc toàn bộ nợ gốc và/hoặc lãi đã quá

hạn. Nợ quá hạn là khoản nợ thuộc nhóm 2, 3, 4, 5.

13

Tỷ lệ nợ quá hạn là tỷ lệ phần trăm giữa tổng các khoản nợ quá hạn so với tổng

dư nợ của ngân hàng tại một thời điểm nhất định (thường là cuối tháng, cuối quý hoặc

cuối năm).

Chỉ tiêu này được xác định theo công thức:

Nợ quá hạn Tỷ lệ nợ quá hạn x 100% = Tổng dư nợ

Trong đó: Tổng dư nợ gồm:

 Các khoản cho vay, ứng trước thấu chi và cho thuê tài chính

 Các khoản chiết khấu, tái chiết khấu chứng từ có giá

 Các khoản bao thanh toán

 Các hình thức tín dụng khác

Tỷ lệ nợ quá hạn cho biết với 1 đồng dư nợ có bao nhiêu đồng nợ quá hạn. Tỷ lệ

này càng nhỏ thể hiện chất lượng tín dụng của ngân hàng càng tốt.

Tỷ lệ nợ quá hạn < 5% được coi là bình thường

Tỷ lệ nợ quá hạn từ 5% đến 10% được coi là không bình thường

Tỷ lệ nợ quá hạn từ 10% đến 15% được coi là cao

Tỷ lệ nợ quá hạn trên 15% đến 20% được coi là quá cao, báo động đỏ, nguy cơ khủng

hoảng rất lớn. [7, tr.85]

b. Tỷ lệ nợ xấu

Hiện nay có nhiều khái niệm khác nhau về nợ xấu, theo Quỹ tiền tệ quốc tế

(IMF): “Một khoản cho vay được coi là không sinh lời (nợ xấu) khi tiền thanh toán lãi

và/hoặc tiền gốc đã quá hạn từ 90 ngày trở lên, hoặc các khoản thanh toán lãi đến 90

ngày hoặc hơn đã được tái cơ cấu hay gia hạn nợ, hoặc các khoản thanh toán dưới 90

ngày nhưng có các nguyên nhân nghi ngờ việc trả nợ sẽ được thực hiện đầy đủ". Với

quan điểm này, nợ xấu được nhận dạng qua hai giác độ: thời gian quá hạn và khả năng

trả nợ đáng nghi ngờ.

Theo thông tư 02/2013/TT-NHNN, nợ xấu là những khoản nợ được phân loại vào nhóm 3 (nợ dưới chuẩn), nhóm 4 (nợ nghi ngờ) và nhóm 5 (nợ có khả năng mất

vốn); các nhóm nợ trên có các khoản nợ gốc và lãi đã quá hạn từ 90 ngày trở lên. Tuy có nhiều khái niệm khác nhau nhưng nhìn chung các khái niệm nợ xấu về cơ bản cũng được xác định dựa trên hai yếu tố: (i) Các khoản dư nợ đã quá hạn từ 90 ngày trở lên; (ii) Khả năng trả nợ của khách hàng được xếp vào loại nghi ngờ về khoản vay sẽ được thanh toán đầy đủ. Nợ xấu được coi là chi phí khác của ngân hàng nên nó làm giảm thu nhập ròng của ngân hàng.

14

Tỷ lệ nợ xấu là tỷ lệ phần trăm giữa nợ xấu với tổng dư nợ của NHTM tại một

thời điểm nhất định (thường là cuối tháng, cuối quý, cuối năm).

Đây là chỉ tiêu rất quan trọng, phản ánh chất lượng tín dụng rất rõ nét và cho

biết mức độ rủi ro mất vốn, từ đó ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của ngân hàng ở hiện tại và trong tương lai.

Chỉ tiêu này được xác định theo công thức:

x 100%

Nợ xấu Tỷ lệ nợ xấu = Tổng dư nợ

Tỷ lệ nợ xấu cho biết cứ 1 đồng dư nợ của ngân hàng có bao nhiêu đồng nợ

xấu. Cũng như tỷ lệ nợ quá hạn, tỷ lệ nợ xấu càng nhỏ thì hoạt động tín dụng của ngân

hàng càng tốt. Theo quy định 493/2005/QĐ –NHNN, tỷ lệ nợ xấu không được vượt quá 5%.

c. Hiệu suất sử dụng vốn Tổng dư nợ Hiệu suất sử dụng vốn =

Tổng vốn huy động

Chỉ tiêu này giúp chúng ta so sánh, phân tích khả năng cho vay của ngân hàng so với

khả năng huy động vốn đồng thời xác định hiệu quả của một đồng vốn huy động được.

Hiệu suất sử dụng vốn đươc tính tại một thời điểm nhất định hoặc tính trung bình cho

cả năm.

d. Vòng quay vốn tín dụng trong năm

Là tỷ lệ giữa doanh số thu nợ trên dư nợ bình quân của một Ngân hàng Thương

mại trong một thời gian nhất định, thường là một năm. Chỉ tiêu này được xác định theo

công thức: Doanh số thu nợ Vòng quay vốn tín dụng trong năm = Dư nợ bình quân năm

Chỉ tiêu này phản ánh số vòng chu chuyển của vốn vay trong năm tức là một đồng vốn của ngân hàng được cho vay bao nhiêu lần trong năm. Nếu vòng quay vốn tín dụng nhanh, tức việc đưa vốn vào sản xuất, kinh doanh của ngân hàng đạt hiệu quả.

Tuy nhiên, chỉ tiêu này cũng đánh giá được một cách tương đối vì trong một số trường hợp kết quả chưa hẳn đã là vậy. Ví dụ, NHTM A cho vay doanh nghiệp chiếm tỷ lệ lớn trong dư nợ, các khoản tín dụng này tương đối ổn định, khách hàng trả nợ rất đúng hạn nhưng vòng quay vốn tín dụng lại nhỏ hơn một NHTM B nào đó chủ yếu cho vay tiêu dùng có vòng quay vốn nhanh trong khi rủi ro cao, do đó chưa thể kết luận được về chất lượng tín dụng của ngân hàng nào là cao hơn. Từ thực tế trên, để đánh giá chất

15

lượng tín dụng dựa trên tiêu chí trên tương đối chính xác thì tiêu thức tính toán phải

thống nhất, vòng quay tín dụng phải tính toán cho từng loại vay, thời hạn vay và từng

đối tượng vay cụ thể.

e. Tỷ lệ lợi nhuận từ hoạt động tín dụng

Lợi nhuận từ hoạt động tín dụng

Tỷ lệ lợi nhuận từ hoạt động tín dụng =

Tổng dư nợ tín dụng

Chỉ tiêu này cho chúng ta biết khả năng sinh lời của vốn tín dụng, một khoản tín dụng ngắn hạn hay dài hạn có thể xem là có chất lượng cao nếu nó tạo ra được

nhiều lợi nhuận cho khách hàng và ngược lại khoản tín dụng đó sẽ là không đạt được

hiệu quả cao nếu lợi nhuận mà nó đem lại là ít. Tuy nhiên, đây cũng là một chỉ tiêu

tương đối vì nó còn phụ thuộc vào nhiều các yếu tố khác như chính sách về lãi suất, chính sách khách hàng, mục tiêu phát triển của ngân hàng…

Ngoài các chỉ tiêu nêu trên, người ta còn quan tâm đến các chỉ tiêu về tốc độ

tăng trưởng tín dụng, chỉ tiêu về thu nhập từ hoạt động tín dụng, về tỷ lệ đảm bảo dư

nợ, về tỷ lệ tín dụng của khách hàng, tình hình cơ cấu lại nợ của các NHTM,…cũng

như các quy định về an toàn vốn tối thiểu theo quyết định 457/2005/QĐ-NHNN ngày

19/044/2005 để đánh giá chất lượng tín dụng của Ngân hàng Thương mại.

Các chỉ tiêu cơ bản để đánh giá chất lượng tín dụng trên chính xác đến đâu còn tùy thuộc vào từng thời kỳ khác nhau cũng như quy định, điều kiện của mỗi NHTM.

Vì vậy, khi đánh giá chất lượng tín dụng chúng ta không nên chỉ dựa vào một chỉ tiêu

nào đó mà cần có sự so sánh chung giữa các chỉ tiêu, các NHTM trên cùng địa bàn,

điều kiện kinh tế xã hội, vị thế của NHTM, chất lượng cán bộ tín dụng, trình độ khoa

học công nghệ,,…từ đó để đưa ra cái nhìn tổng quan, hợp lý nhất về chất lượng tín

dụng.

1.3 Các nhân tố ảnh hƣởng tới chất lƣợng tín dụng

1.3.1 Các nhân tố chủ quan

1.3.1.1 Chiến lược phát triển của ngân hàng

Đây là một nhân tố quan trọng ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng ngân hàng,

một chiến lược phát triển đúng đắn, phù hợp với từng giai đoạn phát triển của xã hội và năng lực của bản thân ngân hàng sẽ bảo đảm cho việc chọn lựa hướng đi đúng trong quá trình cấp tín dụng cũng như trong các hoạt động khác của ngân hàng.

Điều này càng đặc biệt quan trọng đối với các ngân hàng có quy mô nhỏ, vốn ít, lượng thông tin nắm bắt ở mức độ hạn chế… một chiến lược sai lầm sẽ không còn cơ

16

hội cho ngân hàng có thể khắc phục lại được ngay, nó ảnh hưởng lâu dài tới các hoạt

động của ngân hàng trong thời gian tiếp theo.

1.3.1.2 Chính sách tín dụng của NHTM

Chính sách tín dụng đóng vai trò then chốt điều tiết các mặt hoạt động như: huy động vốn và cho vay, lãi suất, sản phẩm tín dụng, kỹ thuật quản lý rủi ro tín dụng và

thu hút khách hàng… nhằm thực hiện các mục tiêu chiến lược đề ra trong kinh doanh.

Chính sách tín dụng trong mỗi giai đoạn như là một định hướng phải tuân theo để đảm

bảo các yêu cầu về quản lý của NHNN và phù hợp với đường lối phát triển kinh tế của đất nước. Một chính sách tín dụng phù hợp sẽ tạo điều kiện cho ngân hàng sử dụng tối

ưu hoá các nguồn lực của mình một cách an toàn, nâng cao tối đa chất lượng của các

khoản tín dụng.

1.3.1.3 Thông tin tín dụng

Trong giai đoạn hiện nay bất kỳ một ngành nghề hay một lĩnh vực kinh doanh

nào thông tin luôn chiếm một vị trí quan trọng, đây là phần không thể thiếu được trong

quá trình hoạt động của xã hội. Thông tin tín dụng cũng vậy, nó đóng góp một phần

không nhỏ cho mọi thành công của bất kỳ một NHTM nào. Nhờ có thông tin tín dụng

mà Ngân hàng có thể đưa ra những quyết định cần thiết liên quan đến các khoản cho

vay, giảm thiểu được các rủi ro tín dụng có thể xảy ra.

1.3.1.4 Công tác tổ chức của Ngân hàng Thương mại

Đây cũng là một nhân tố quan trọng thuộc về ngân hàng mà có ảnh hưởng tới

chất lượng các khoản tín dụng, thậm chí tới cả các hoạt động khác của ngân hàng. Một

ngân hàng có cơ cấu tổ chức được bố trí, sắp xếp một cách khoa học, tận dụng một

cách tối đa thế mạnh của từng cá nhân, tạo ra sự liên kết chặt chẽ giữa các bộ phận…

sẽ là cơ sở để thực hiện tốt nhiệm vụ đáp ứng tốt nhất nhu cầu của khách hàng, nắm

bắt cơ hội kinh doanh, quản lý chặt chẽ và an toàn nguồn vốn của mình.

1.3.1.5 Chất lượng nguồn nhân lực của NHTM

Con người là yếu tố quyết định đến sự thành công hay thất bại của bất cứ một doanh nghiệp nào. Đối với ngân hàng cũng vậy, con người là nhân tố không thể thay thế được cho dù các yếu tố khác có hiện đại và hoàn thiện đến đâu, con người là nhân tố chính, nhân tố cốt lõi quyết định hiệu quả mọi hoạt động. Con người luôn là bộ mặt,

hình ảnh của ngân hàng, tạo dựng lên thương hiệu cho ngân hàng. Ngày nay, trong hoạt động ngân hàng sự cạnh tranh khốc liệt giữa các ngân hàng càng đòi hỏi chất

lượng của đội ngũ cán bộ, công nhân viên ngân hàng cả về đạo đức lẫn nghiệp vụ

chuyên môn. Thực tế cho thấy, một Ngân hàng có đội ngũ cán bộ nhanh nhạy, sáng tạo trong công việc, có tinh thần tập thể, vì lợi ích của Ngân hàng có khả năng sẽ phát triển và đứng vững trên thương trường.

17

1.3.1.6 Công tác kiểm tra kiểm soát nội bộ

Đây là một trong những hoạt động chính của các ngân hàng, nó được tiến hành

một các thường xuyên, liên tục nhằm duy trì hoạt động của ngân hàng diễn ra một

cách an toàn và hiệu quả. Trong hoạt động cấp tín dụng, quá trình kiểm tra, thẩm định chặt chẽ các khoản tín dụng sẽ hạn chế đến mức thấp nhất rủi ro tín dụng có thể xảy ra,

nâng cao chất lượng các khoản tín dụng của ngân hàng và đảm bảo thu nhập cho ngân

hàng.

1.3.2 Các nhân tố khách quan

1.3.2.1 Năng lực quản lý kinh doanh của người đi vay

Năng lực quản lý kinh doanh của người đi vay đề cập đến khả năng người đi vay

có đủ năng lực tài chính để thanh toán các khoản vay hay không bởi đây là điều kiện

cần thiết để đem lại hiệu quả cao trong hoạt động kinh doanh. Người đi vay có năng lực quản lý kinh doanh tốt sẽ đảm bảo khả năng thanh toán các khoản tín dụng cho

ngân hàng trong tương lai và ngược lại.

1.3.2.2 Đạo đức của người đi vay

Trình độ yếu kém của người vay trong dự đoán các vấn đề kinh doanh, yếu kém

trong quản lý, chủ định lừa đảo cán bộ ngân hàng, chây ì….là nguyên nhân gây rủi ro

tín dụng. Rất nhiều người vay sẵn sàng mạo hiểm với kì vọng thu được lợi nhuận cao.

Để đạt được mục đích của mình, họ sẵn sàng tìm mọi thủ đoạn ứng phó với ngân hàng như cung cấp thông tin sai, mua chuộc…Nhiều người vay đã không tính toán kĩ lưỡng

hoặc không có khả năng tính toán kĩ lưỡng những bất trắc có thể xảy ra, không có khả

năng thích ứng và khắc phục khó khăn trong kinh doanh. Trong trường hợp còn lại,

người vay kinh doanh có lãi song vẫn chây ì với hy vọng có thể quỵt nợ, hoặc sử dụng

vốn vay càng lâu càng tốt. [10, tr.131,132]

Khi đáp ứng mọi điều kiện đưa ra của ngân hàng về điều kiện đảm bảo, cách thức

sử dụng vốn vay, hoàn trả vốn… khách hàng mới được ngân hàng cung ứng một

khoản tín dụng. Tuy nhiên, sau khi đã được nhận vốn khách hàng không thực hiện đúng các yêu cầu trong hợp đồng đối với ngân hàng mà sử dụng vốn sai mục đích hoặc khách hàng chây ỳ trả nợ khi đã đến hạn. Rủi ro đạo đức xảy ra làm giảm chất lượng các khoản tín dụng, ảnh hưởng tới nguồn vốn và thu nhập của ngân hàng. Vì vậy, công

tác thẩm định và quản lý chặt chẽ các khoản tín dụng là hết sức cần thiết nó đảm bảo hạn chế được các rủi ro có thể xảy ra trong đó có cả rủi ro về đạo đức.

Đây là đặc điểm đầu tiên mà các ngân hàng cần quan tâm trước khi tiến hành

cấp tín dụng cho doanh nghiệp. Đối với các doanh nghiệp hoạt động hay đầu tư vào các lĩnh vực nhạy cảm, thường xuyên có sự biến động như bất động sản, chứng

18

khoán… thì thu nhập đạt được thường cao nhưng mức độ rủi ro lớn nên tác động mạnh

tới chất lượng tín dụng của ngân hàng.

1.3.2.3 Môi trường kinh tế vĩ mô

Một sự biến động của nền kinh tế trong và ngoài nước làm ảnh hưởng tới quá trình hoạt động cũng như thu nhập của các doanh nghiệp đi vay. Nếu đó là một tác

động tích cực làm hoạt động của doanh nghiệp gặp nhiều thuận lợi, tạo nguồn thu nhập

lớn hơn và doanh nghiệp sẽ thanh toán đầy đủ, kịp thời các khoản vay ngân hàng. Tuy

nhiên, một tác động không tốt tới quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp làm giảm nguồn thu nhập của doanh nghiệp, do đó ảnh hưởng tới khả năng thanh toán các

khoản tín dụng cho ngân hàng. Ngày nay, nền kinh tế nước ta đang trong quá trình hội

nhập sâu và rộng vào nền kinh tế thế giới, do đó tác động của những biến động nền

kinh tế thế giới vào nền kinh tế nước ta là liên tục và rất mạnh mẽ. Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ - một lĩnh vực hết sức nhạy cảm sẽ bị tác động

đầu tiên, trong đó hoạt động liên quan đến tín dụng của ngân hàng chịu ảnh hưởng lớn

nhất.

1.3.2.4 Chính sách pháp luật của nhà nước

Quá trình hoạt động Ngân hàng nói chung và hoạt động tín dụng Ngân hàng nói

riêng không thể nằm ngoài sự bảo hộ và điều chỉnh của hệ thống pháp lý. Có thể nói

các văn bản pháp lý là công cụ nhằm ngăn ngừa và hạn chế những rủi ro của quá trình hoạt động tín dụng. Việc hoàn chỉnh cơ chế, thể lệ tín dụng của ngành đúng luật Ngân

hàng, phù hợp với thực tiễn là điều kiện tiên quyết để nâng cao chất lượng tín dụng.

Hiện nay nước ta đã có luật Ngân hàng Nhà nước, luật các tổ chức tín dụng và một hệ

thống các văn bản dưới luật của Ngân hàng nhà nước, NHNo&PTNT Việt Nam. Về cơ

bản đã tạo ra hành lang pháp lý cho hoạt động Ngân hàng.

Mỗi giai đoạn khác nhau chính sách pháp luật của nhà nước luôn có sự thay đổi

tuỳ theo mục đích theo đuổi của Nhà nước cho phù hợp với tình hình chung của giai

đoạn đó. Các chính sách của nhà nước đặc biệt là của NHTW có liên quan tới hoạt động của các NHTM như chính sách về lãi suất, chính sách dự trữ bắt buộc, chính sách về ngoại hối…có vai trò quan trọng đối với hoạt động của nền kinh tế nói chung và của các NHTM hay các doanh nghiệp nói riêng. Mỗi chính sách đều có sự tác động

trực tiếp hoặc gián tiếp tới các nghiệp vụ cung ứng tín dụng của ngân hàng cho khách hàng của mình.

19

Kết luận chƣơng 1

Ngân hàng Thương mại là một tổ chức tín dụng kinh doanh trong lĩnh vực tiền

tệ, tín dụng với hai nhiệm vụ chủ yếu và quan trọng nhất đó là: nhận tiền gửi và cho

vay. Nhờ có các hoạt động tín dụng của NHTM mà các nguồn vốn trong xã hội được tập trung và đầu tư phát huy hiệu quả, tạo vốn bổ sung cho nền kinh tế quốc dân, điều

tiết quá trình tái sản xuất ở cả tầm vĩ mô và vi mô.

Nâng cao CLTD dưới góc độ ngân hàng là người cho vay là điều cần thiết đối

với sự phát triển của ngân hàng và đối với sự phát triển kinh tế xã hội. CLTD của NHTM được thể hiện qua hai nhóm chỉ tiêu: nhóm chỉ tiêu định tính và nhóm chỉ tiêu

định lượng. Có rất nhiều chỉ tiêu định lượng được sử dụng để đánh giá CLTD, trong

đó có một số chỉ tiêu cơ bản sau: tỷ lệ nợ quá hạn, tỷ lệ nợ xấu, hiệu suất sử dụng vốn,

vòng quay vốn tín dụng trong năm, tỷ lệ lợi nhuận từ hoạt động tín dụng. Tuy nhiên, khi đánh giá CLTD chúng ta không nên chỉ dựa vào một chỉ tiêu nào đó mà cần có sự

so sánh chung giữa các chỉ tiêu, các NHTM trên cùng địa bàn, điều kiện kinh tế xã hội,

vị thế của NHTM,… từ đó để đưa ra cái nhìn tổng quan về CLTD.

CLTD của NHTM chịu tác động của rất nhiều yếu tố khác nhau bao gồm cả

những yếu tố tích cực và những yếu tố tiêu cực. Những nhân tố cơ bản ảnh hưởng tới

CLTD của NHTM gồm: nhân tố từ phía khách hàng, nhân tố từ chính bản thân ngân

hàng, nhân tố về môi trường kinh tế vĩ mô và các chính sách pháp luật của nhà nước. Để nâng cao CLTD của NHTM, chúng ta cần nghiên cứu, phân tích các nhân tố đó để

phát huy những mặt tích cực đồng thời làm giảm những mặt tiêu cực ảnh hưởng tới

chất lượng của mỗi khoản tín dụng.

20

CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG CHẤT LƢỢNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG NNo&PTNT CHI NHÁNH HOÀNG QUỐC VIỆT

2.1 Khát quát về NHNo&PTNT Chi nhánh Hoàng Quốc Việt

2.1.1 Lịch sử hình thành, chức năng nhiệm vụ và tổ chức bộ máy của

NHNo&PTNT Chi nhánh Hoàng Quốc Việt

NHNo&PTNT Việt Nam được thành lập ngày 26/03/1988, hoạt động theo luật

các tổ chức tín dụng. NHNo&PTNT Việt Nam là Ngân hàng lớn nhất Việt Nam cả về

vốn, tài sản, đội ngũ cán bộ nhân viên, mạng lưới hoạt động và số lượng khách hàng. Tính đến 31/12/2013, vị thế dẫn đầu của NHNo&PTNT Việt Nam vẫn được khẳng

định với trên nhiều phương diện: tổng tài sản đạt trên 705.365 tỷ đồng; tổng nguồn

vốn ước tính 626.390 tỷ đồng; vốn điều lệ gần 29.605 tỷ đồng, tổng dư nợ ước tính

trên 530.600 tỷ đồng cùng với mạng lưới rộng khắp gồm 2.300 chi nhánh, phòng giao dịch trên toàn quốc, chi nhánh Campuchia và đội ngũ nhân sự gần 40.000 cán bộ, nhân

viên. NHNo&PTNT Việt Nam là NHTM hàng đầu giữ vai trò chủ đạo và chủ lực

trong phát triển kinh tế Việt Nam, đặc biệt là đầu tư cho nông nghiệp, nông dân, nông

thôn, đáp ứng được mọi nhu cầu thanh toán đa dạng và phong phú ngày càng phát triển

của nền kinh tế thị trường để phục vụ sự nghiệp đổi mới của nền kinh tế thị trường.

NHNo&PTNT chi nhánh Hoàng Quốc Việt trước đây là Chi nhánh cấp II trực

thuộc Chi nhánh cấp I Bắc Hà Nội. Ngày 29/02/2008, Hội đồng quản trị NHNo&PTNT Việt Nam đã có quyết định điều chỉnh NHNo&PTNT chi nhánh Hoàng

Quốc Việt từ phụ thuộc vào NHNo&PTNT chi nhánh Bắc Hà Nội về phụ thuộc

NHNo&PTNT Việt Nam theo quyết định 143/QD/HDQT TCCB. NHNo&PTNT chi

nhánh Hoàng Quốc Việt trước đóng trụ sở chính tại 375/377 Hoàng Quốc Việt - Cầu

Giấy - Hà Nội nhưng nay đã chuyển về số 135 Lạc Long Quân - phường Nghĩa Đô -

quận Cầu Giấy - Hà Nội.

NHNo&PTNT chi nhánh Hoàng Quốc Việt, trực thuộc trung tâm điều hành

NHNo&PTNT Việt Nam hoạt động theo luật các TCTD và điều lệ hoạt động của NHNo&PTNT Việt Nam nhưng Chi nhánh vẫn có đủ quyền tự chủ trong kinh doanh có con dấu, bảng cân đối tài khoản; được tổ chức và hoạt động theo quy chế tổ chức và hoạt động của NHNo&PTNT Việt Nam ban hành kèm theo QĐ số1377/QĐ/HĐQT-

TCCB ngày 24/12/2007 của hội đồng quản trị NHNo&PTNT Việt Nam.

Dưới sự chỉ đạo của NHNo&PTNT Việt Nam, NHNo&PTNT chi nhánh Hoàng

Quốc Việt từ khi thành lập đến nay với sự lãnh đạo năng động sáng tạo của Ban giám

đốc cùng với sự nỗ lực không ngừng của toàn thể cán bộ công nhân viên đã không

21

ngừng mở rộng phạm vi hoạt động với mạng lưới gồm 5 phòng giao dịch trực thuộc để

thuận tiện cho khách hàng giao dịch trên địa bàn.

Với phương châm hoạt động của ngân hàng là: Cơ cấu gọn nhẹ, hoạt động hiệu

quả và an toàn, sau các lần chia tách, bổ sung đến nay NHNo&PTNT chi nhánh Hoàng Quốc Việt đã bố trí một hệ thống tổ chức bộ máy tương đối hợp lý với trình độ quản lý

và hoạt động của Ngân hàng.

Theo quy chế tổ chức và hoạt động của NHNo&PTNT Chi nhánh Hoàng Quốc

Việt, giám đốc là người điều hành trực tiếp mọi hoạt động của Chi nhánh theo đúng quy định của Nhà nước, NHNN Việt Nam, NHNo&PTNT Việt Nam và chịu trách

nhiệm trước pháp luật, hội đồng quản trị, tổng giám đốc về các quyết định của mình.

Nhiệm vụ của giám đốc là tổ chức, quản lý điều hành mọi hoạt động chung trong Chi

nhánh, quyết định những vấn đề chiến lược, kế hoạch phát triển kinh doanh của Chi nhánh; phân công nhiệm vụ, đôn đốc thực hiện, tổ chức phối hợp giữa các phó giám

đốc; trực tiếp phụ trách một số chuyên đề nghiệp vụ, …

Dưới giám đốc là 03 phó giám đốc giúp đỡ giám đốc giải quyết các công việc

của Chi nhánh, điều hành một số chuyên đề, nhiệm vụ do giám đốc phân công, ủy

quyền và phải chịu trách nhiệm trước giám đốc cũng như trước pháp luật đối với các

quyết định của mình.

Dưới ban giám đốc có các phòng ban chức năng và các phòng giao dịch. Mỗi phòng được bố trí 01 trưởng phòng, 01 phó phòng và số lượng các nhân viên phòng

phụ thuộc vào yêu cầu hoạt động của từng phòng. Các trưởng, phó phòng chịu trách

nhiệm quản lý hoạt động của phòng đồng thời kết hợp với các phòng khác tạo ra sự

hoạt động của cả bộ máy của Chi nhánh.

Có thể thấy rõ sự thống nhất trong bộ máy quản lí của NHNo&PTNTchi nhánh

Hoàng Quốc Việt. Quyền ra quyết định cuối cùng thuộc về Giám đốc. Tất cả các bộ

phận, phòng ban đều nằm dưới quyền Giám đốc và có nhiệm vụ tham mưu cho giám

đốc trong các công việc liên quan đến chức năng của mình.

Ngoài quan hệ chỉ đạo trực tiếp từ giám đốc xuống các bộ phận, phòng ban. Giữa các bộ phận, phòng ban còn có quan hệ phối hợp với nhau giúp cho khả năng hoàn thành các nhiệm vụ được giao của từng bộ phận được thuận lợi và nhanh chóng hơn.

22

Cơ cấu tổ chức bộ máy của Chi nhánh được thể hiện theo sơ đồ:

Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức bộ máy NHNo&PTNT Chi nhánh Hoàng Quốc Việt

2.1.2 Các kết quả hoạt động chủ yếu của NHNo&PTNT Chi nhánh Hoàng Quốc

Việt

2.1.2.1 Hoạt động huy động vốn

Trong hoạt động huy động vốn, Chi nhánh luôn xác định đây là nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu trong kinh doanh của mình. Công tác huy động vốn luôn được coi trọng

nó ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng hoạt động của Chi nhánh, do vậy Chi nhánh luôn

tìm và tận dụng khai thác các nguồn trong nền kinh tế. Các nguồn này bao gồm nguồn

tiền gửi thanh toán của các tổ chức kinh tế, các tổ chức tín dụng và cả nguồn tiền gửi

tiết kiệm của cá nhân, hộ gia đình. Với sự hoạt động tích cực và tinh thần trách nhiệm cao trong công việc của cán bộ, nhân viên Chi nhánh, công tác huy động vốn đã đạt được kết quả tương đối trong những năm qua.

Căn cứ vào bảng số liệu cũng như bản kế hoạch đề ra đầu năm ta thấy tổng nguồn vốn huy động của Chi nhánh tăng nhanh từ 1.634,00 tỷ năm 2011 lên 1.847,00

tỷ năm 2012 và lên đến 2.221,00 tỷ năm 2013 tăng 347 tỷ (+ 20,25%) so với cuối năm

2012, đạt 13,8% kế hoạch TW giao năm 2013.

Trong đó, tiền gửi nội tệ năm 2012 đạt 1.746 tỷ đồng, tăng 264 tỷ đồng tương ứng tăng 17,81% so với 31/12/2011, đạt 106% kế hoạch năm. Vốn huy động nội tệ năm 2013 đạt 2.117,40 tỷ đồng tăng 371 tỷ đồng (+ 21,27%) so với năm 2012.

23

Bảng 2.1: Nguồn vốn huy động của NHNo&PTNT Chi nhánh Hoàng Quốc Việt

Đơn vị: Tỷ đồng

Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013

Chênh lệch so với năm Chênh lệch so với năm

Chỉ tiêu 2011 2012 Số tiền Số tiền Số tiền Tỷ lệ Tỷ lệ Số tiền Số tiền (%) (%)

Tổng nguồn vốn huy động 1.634,00 1.847,00 213,00 13,04 2.221,00 374,00 20,25

Phân theo loại tiền

+ Nội tệ 1.482,00 1.746,00 264,00 17,81 2.117,40 371,40 21,27

152,00 101,00 103,60 + Ngoại tệ (USD) (51,00) (33,55) 2,60 2,57

Phân theo tính chất nguồn huy

động

+ Tiền gửi của dân cư 451,00 675,00 907,40 224,00 49,67 232,40 34,43

+ Tiền gửi của các tổ chức kinh tế 1.151,00 1.048,00 1.190,0 (103,00) (8,95) 142,00 13,55

32,00 42,00 43,00 + Tiền gửi TCTD 10,00 31,25 1,00 2,38

(Nguồn: Báo cáo tổng kết hoạt động kinh doanh năm 2011, 2012, 2013)

24

Tiền gửi ngoại tệ năm 2012 là 101 tỷ đồng, giảm 51 tỷ đồng tương ứng mức

giảm 33,55% so với năm 2011 đạt 63% kế hoạch năm. Nguyên nhân là do chính sách

quản lý ngoại tệ chống đô la hóa và vàng của chính phủ, NHNN; chênh lệch lãi suất

giữa gửi USD và VND, tỷ giá không có lợi cho gửi tiền USD và vàng giảm mạnh và sự cạnh tranh gay gắt của các tổ chức về thị phần vốn; các ngân hàng thương mại cổ

phần tìm mọi cách vượt trần lãi suất huy động dưới nhiều hình thức, … đã khiến cho

vốn huy động giảm thấp. Năm 2013 tỷ giá và thị trường vàng được bình ổn nên vốn

huy động ngoại tệ đạt 103,6 tỷ đồng tăng 2,60 tỷ (+2,57%) so với năm 2012.

Tiền gửi dân cư năm 2012 đạt 675 tỷ đồng tăng 224 tỷ đồng tương đương tăng

49,67% so với năm 2011. Nhờ việc thực hiện nghiêm túc trần lãi suất huy động theo

quy định của thống đốc NHNN và có biện pháp ứng phó bù đắp kịp thời không để suy

giảm nguồn vốn đã có, phát huy tập trung mở rộng quan hệ khách hàng mới…nên nguồn vốn huy động từ tiền gửi dân cư đã đạt 98% so với kế hoạch năm 2012. Năm

2013 tiền gửi dân cư tăng trưởng khá đạt 907,4 tỷ đồng, tăng 232 tỷ đồng (+ 34,43 %)

so với năm 2012 chiếm tỷ trọng 40,8% tổng nguồn vốn huy động

Tiền gửi tổ chức kinh tế năm 2012 đạt 1.048 tỷ, giảm 103 tỷ, tương đương mức

giảm 8,95% so với năm 2011. Nguyên nhân là do khó khăn của nền kinh tế, lãi suất

cho vay của những tháng đầu năm 2012 còn cao. Hàng tồn kho của các tổ chức kinh tế

ở mức cao nên để tiết kiệm chi phí đầu tư khách hàng đã rút tiền gửi tại ngân hàng. Tiền gửi các tổ chức kinh tế năm 2013 đạt 1.190 tỷ đồng tăng 142 tỷ đồng (+ 13,55%)

so với năm 2012 chiếm tỷ trọng 53,5% trên tổng nguồn vốn huy động. Có được mức

tăng trưởng này là do ngay từ đầu năm, xác định huy động vốn ngày càng khó khăn,

nguồn vốn huy động từ dân cư và một số tổ chức là chủ yếu, Ngân hàng No&PTNT

chi nhánh Hoàng Quốc Việt đã tập trung chỉ đạo và triển khai các giải pháp huy động

vốn: (1) yêu cầu đổi mới mãnh mẽ về thái độ, tác phong, rút ngắn thời gian giao dịch

để giữ và thu hút khách hàng; (2) Điều hành lãi suất huy động và cho vay linh hoạt

phù hợp với thị trường, đảm bảo khả năng cạnh tranh với các tổ chức tín dụng khác

trên cùng địa bàn, tuân thủ các quy định của NHNN và NHNo&PTNT Việt Nam; (3) Tổ chức triển khai thường xuyên và liên tục các chương trình khuyến mãi và chính sách chăm sóc khách hàng theo chủ trương của NH cấp trên (4) không ngừng mở rộng, phát triển đối tác để bảo đảm và nâng cao cơ cấu chất lượng nguồn vốn ổn định mở

rộng kinh doanh; (5) củng cố và phát huy các biện pháp huy động vốn hiệu quả đã được thực hiện như giao chỉ tiêu huy động vốn, thi đua khen thưởng…

Bên cạnh đó Chi nhánh đã thực hiện nhiều hình thức huy động vốn với 05

phòng giao dịch và nhiều sản phẩm dịch vụ tiện ích đối với khách hàng gửi tiền như huy động tiết kiệm bậc thang, tiết kiệm khuyến mại bằng tiền và hiện vật đối với

25

khách hàng có số dư tiền gửi lớn, tiết kiệm dự thưởng, tiết kiệm dự thưởng bằng vàng

có khuyến mại với nhiều hình thức trả lãi tháng, quý, năm, lãi trước, lãi sau; đồng thời

Chi nhánh đã chủ động điều chỉnh lãi suất huy động vốn một cách linh hoạt, phù hợp

lãi suất của các TCTD trên địa bàn đã góp phần nâng cao chất lượng, số lượng huy động vốn từ dân cư. Đặc biệt, thông qua công tác trả lương qua tài khoản cũng đã tạo

nguồn vốn cho Chi nhánh. Không những cơ sở vật chất, trang thiết bị đã được chỉnh

sửa và thay thế bổ sung, phong cách giao dịch cũng ngày một tốt hơn tạo điều kiện

thuận lợi nhất trong giao dịch.

Nhờ áp dụng các giải pháp huy động vốn một cách linh hoạt mà nguồn vốn của

Chi nhánh không ngừng gia tăng trong 3 năm, tạo nguồn ổn định, vững chắc cho hoạt

động cho vay tăng trưởng, nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của Chi nhánh.

2.1.2.2 Hoạt động sử dụng vốn

Nhận thức được những khó khăn, thách thức mà Chi nhánh có thể gặp trong

quá trình hoạt động, ban lãnh đạo Chi nhánh đã có những chỉ đạo kịp thời phù hợp với

điều kiện của Chi nhánh hạn chế đến mức thấp nhất rủi ro có thể xảy ra.

Căn cứ vào tình hình hoạt động tín dụng cũng như bảng kế hoạch đề ra cho năm

2012 ta thấy tổng dư nợ thực hiện đến 31/12/2012 đạt 1.946 tỷ đồng tăng 652 tỷ đồng

(+50,39%) so với năm 2011, đạt 99 % kế hoạch năm 2012. Dư nợ cấp tín dụng năm

2012 tăng trưởng chủ yếu là nhờ tập trung thực hiện cam kết các hợp đồng tín dụng của các dự án đã được ký kết còn hạn mức, các dự án, phương án phục vụ nông nghiệp

nông thôn theo chủ trương định hướng của NHNo&PTNT Việt Nam.

Năm 2013 tổng dư nợ cho vay đạt 1.856,8 tỷ đồng, giảm 89,20 tỷ đồng (- 4,58%)

so với năm 2012, đạt 91% KH TW giao. Chỉ tiêu tổng dư nợ năm 2013 không tăng

trưởng thậm chí còn giảm so với năm 2012 là do năm 2013 nền kinh tế tiếp tục gặp

những khó khăn mới, chính phủ, NHNN đã thực hiện các biện pháp điều hành chính

sách tiền tệ linh hoạt để hỗ trợ tăng trưởng kinh tế nhưng chưa lập tức phát huy hiệu

quả, các doanh nghiệp gặp khó khăn, hoạt động sản xuất kinh doanh bị đình trệ, hàng tồn kho không tiêu thụ được mặc dù lãi suất cho vay đã được điều chỉnh ở mức hợp lý nhưng nhiều doanh nghiệp sản xuất cầm chừng, thu hẹp quy mô kinh doanh, không có khả năng trả nợ, thị trường bất động sản chưa có chuyển biến tích cực, khách hàng

không đáp ứng đủ các điều kiện vay vốn vì có nợ xấu tại các TCTD, không đảm bảo vốn tự có tham gia nên nhu cầu vốn tín dụng giảm sút, rất khó tăng trưởng.

26

Bảng 2.2: Dư nợ tại NHNo&PTNT Chi nhánh Hoàng Quốc Việt

Đơn vị: Tỷ đồng

Năm Năm 2012 Năm 2013 2011

Chênh lệch so Chênh lệch so Chỉ tiêu với năm 2011 với năm 2012 Số tiền Số tiền Số tiền Số tiền Tỷ lệ Số tiền Tỷ lệ

(%) (%)

Tổng Dư nợ 1.294,00 1.946,00 652,00 50,39 1.856,80 (89,20) (4,58)

Phân theo thời

hạn

- Dư nợ ngắn hạn 983,40 674,00 1.077,00 403,00 59,79 (93,60) (8,69)

+ Tỷ trọng (%) 52,09 55,34 52,96 3,25 6,24 (2,38) (4,30)

- Dư nợ trung và 620,00 873,40 869,00 249,00 40,16 4,40 0,51 dài hạn

+ Tỷ trọng (%) 47,91 44,66 47,04 (3,25) (6,78) 2,38 5,33

Phân theo đối

tượng vay

- Doanh nghiệp 1.129,00 1.688,0 559,00 49,51 1.554,00 (134,00) (7,94)

+ Tỷ trọng (%) 87,20 87,00 84,00 (0,20) (0,23) (3,00) (3,45)

- Hộ sản xuất & 165,00 258,00 303,00 93,00 56,36 45,00 17,44 cá nhân

- Nông nghiệp 93,00 290,00 273,00 180,00 193,55 17,00 6,23 nông thôn

Phân theo loại

tiền

- Dư nợ nội tệ 895,00 1.358,00 463,00 51,73 1.318,00 (40,00) (2,95)

- Dư nợ ngoại tệ 399,00 539,21 588,00 189,00 47,37 (48,79) (8,30) (quy đổi VND)

(Nguồn: Báo cáo tổng kết hoạt động kinh doanh năm 2011, 2012, 2013)

27

Dƣ nợ nội tệ năm 2012 đạt 1.358 tỷ đồng tăng 463 tỷ đồng (+51,73%) so với

năm 2011. Năm 2013 dư nợ nội tệ đạt 1.356 tỷ đồng giảm 40 tỷ đồng (-2,95%) so

vớinăm 2012. Dư nợ ngoại tệ (quy đổi VND) cũng có chung chiều hướng tăng trong

năm 2012 và giảm vào năm 2013. Cụ thể là dư nợ ngoại tệ năm 2012 đạt 588 tỷ đồng tăng 189 tỷ đồng (+47,37%) so với năm 2011, dư nợ ngoại tệ năm 2013 đạt 539,21

giảm 48,79 (-8,30%) so với năm 2012.

Biểu đồ 2.1. Dư nợ cho vay phân theo thời gian

Dƣ nợ cho vay theo thời gian

100%

50%

620 869 873,4

Trung và dài hạn 674 1077 Ngắn hạn 983,4 0%

Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013

Dƣ nợ cho vay theo thời gian: dư nợ ngắn hạn năm 2012 tăng mạnh đạt 1077 tỷ

đồng tăng 403 tỷ đồng (+59,79% ) so với năm 2011. Dư nợ cho vay ngắn hạn năm

2013 đạt 983,4 tỷ đồng, giảm 93,6 tỷ đồng (- 8,69%) so với năm 2012, chiếm tỷ trọng

52,9% tổng dư nợ. Trong khi đó dư nợ cho vay trung và dài hạn lại có chiều hướng

tăng qua 3 năm. Cụ thể dư nợ trung và dài hạn năm 2012 đạt 869 tỷ đồng tăng 249 tỷ

đồng (40,16%) so với năm 2011, năm 2013 đạt 873,40 tỷ đồng tăng 4,4 tỷ đồng

(+0,51%) so với năm 2012.

Dƣ nợ phân theo đối tƣợng vay: nhìn chung cho vay đối với doanh nghiệp

ngoài quốc doanh luôn chiếm tỷ trọng lớn trên 80% trong tổng dư nợ, năm 2011 dư nợ đối với doanh nghiệp đạt 1.129,0 tỷ, đến năm 2012 dư nợ đạt 1.688,0 tỷ tăng 559 tỷ

(+49,51%), năm 2013 đạt 1.554 tỷ giảm 134 tỷ (-7,94%) so với 2012. Trong khi đó cho vay đối với hộ sản xuất & cá nhân, nông nghiệp nông thôn cũng tăng nhưng chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng dư nợ. Dư nợ cho vay nông nghiệp nông thôn đến năm 2012

đạt 273 tỷ đồng tăng 180 tỷ đồng (+193,55% ) so với năm 2011, năm 2013 đạt 290 tỷ đồng, tăng 17 tỷ đồng (+6,23%) so với năm 2012, chiếm tỷ trọng 15,6% tổng dư nợ. Dư nợ cho vay đối với hộ SX và cá nhân đạt 258 tỷ đồng, tăng 93 tỷ đồng (+ 56,36%) so với năm 2012, chiếm tỷ trọng 16,3% tổng dư nợ. Mức tăng của hai chỉ tiêu trên là do cơ cấu đầu tư tín dụng dần được chuyển dịch theo hướng tích cực như cho vay

28

nông nghiệp, cho vay xuất khẩu, trong khi cho vay phi sản xuất, cho vay kinh doanh

bất động sản, cho vay tiêu dùng, đầu tư chứng khoán giảm thấp, tỷ lệ cho vay giữa

trung hạn, ngắn hạn cũng được điều chỉnh phù hợp.

Biểu đồ 2.2. Dư nợ cho vay phân theo đối tượng vay

Dƣ nợ cho vay theo đối tƣợng vay

100% 273 93 165 290 303 258 80%

Nông nghiệp nông thôn 60% Hộ sản xuất&cá nhân 1.129,00 40% 1.168,00 1.554,00 Doanh nghiệp

20%

0%

Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013

Nhìn vào cơ cấu TCTD phân theo thời gian ở bảng trên, tỷ trọng dư nợ ngắn hạn

năm 2013 giảm trong khi đó tỷ trọng dư nợ trung và dài hạn lại tăng so với năm trước.

Tỷ trọng dư nợ trung và dài hạn tăng thì rủi ro về tín dụng càng tăng.

2.1.2.3 Các hoạt động khác

Ngoài những nghiệp vụ truyền thống như nhận gửi và cho vay, hiện nay các

Ngân hàng Thương mại đã không ngừng gia tăng các hoạt động dịch vụ ngân hàng với

mức thu chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong tổng thu nhập của ngân hàng. Đó là xu

hướng phát triển chung của ngân hàng hiện đại. Nắm được xu thế phát triển chung đó,

NHNo&PTNT Chi nhánh Hoàng Quốc Việt đã từng bước ứng dụng các thành tựu của

khoa học – công nghệ hiện đại cùng với sự phát triển các loại hình dịch vụ đa dạng,

phong phú đáp ứng được đòi hỏi của nền kinh tế thị trường linh hoạt và năng động.

a. Dịch vụ thanh toán

Nhờ việc ứng dụng công nghệ mới về thông tin, chất lượng thanh toán được tăng lên, thời gian thanh toán được rút ngắn, việc kiểm tra giám sát được thực hiện nhanh

chóng, thuận tiện bảo đảm an toàn, chính xác.

Ngay từ lúc thành lập, NHNo&PTNT Chi nhánh Hoàng Quốc Việt đã chính thức tham gia hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng, tham gia vào hệ thống

SWIFT (Tổ chức tài chính viễn thông toàn cầu liên ngân hàng). Ngân hàng NNo&PTNT Việt Nam nói chung, NHNo&PTNT Chi nhánh Hoàng Quốc Việt nói riêng được chọn là một trong sáu ngân hàng Việt Nam thực hiện dự án hiện đại hóa 29

ngân hàng do Ngân hàng nhà nước Việt Nam tổ chức với sự tài trợ của Ngân hàng thế

giới. Chính vì thế, tốc độ thanh toán của ngân hàng khá nhanh, đảm bảo an toàn chính

xác, thu hút được nhiều tổ chức kinh tế và cá nhân đến mở tài khoản tiền gửi giao dịch

với ngân hàng. Do đó doanh thu về dịch vụ của ngân hàng cũng ngày càng tăng.

Năm 2013, dịnh vụ thanh toán vẫn được duy trì nhưng chưa phát triển đồng đều

cụ thể: doanh thu dịch vụ đạt 5.745 triệu đồng, tăng 597 triệu đồng (+ 11%) so với

năm 2012.

b. Hoạt động mua bán ngoại tệ

Mua bán ngoại tệ là một trong những hoạt động kinh doanh đem lại một phần thu

nhập đáng kể cho ngân hàng. Mục đích chính của hoạt động này là nhằm đáp ứng nhu

cầu mua bán ngoại tệ các khách hàng một cách nhanh chóng và thuận lợi, đồng thời là

công cụ phòng ngừa rủi ro hiệu quả cho ngân hàng và khách hàng, từ đó nâng cao chất lượng phục vụ và uy tín cho ngân hàng. Chi nhánh đã đáp ứng đa dạng các loại ngoại

tệ cho khách hàng, với số lượng và giá trị lớn. Từ năm 2011 đến năm 2013, tình hình

hoạt động mua bán ngoại tệ của Chi nhánh như sau:

Bảng 2.3: Doanh số mua bán ngoại tệ của Chi nhánh

Đơn vị: Ngàn USD

Năm Năm 2012 Năm 2013 2011

Chêch lệch so Chêch lệch so với Chỉ tiêu với năm 2011 năm 2012 Số tiền Số tiền Số tiền Tỷ lệ Tỷ lệ Số tiền Số tiền (%) (%)

Doanh số

mua 31.644,00 39.151,00 7.507,00 23,72 27.770,00 (11.38) (29,07)

ngoại tệ

Doanh số

bán 31.459,00 39.081,00 7.622,00 24,23 27.980,00 (11.10) (28,41)

ngoại tệ

(Nguồn : Báo cáo kết quả kinh doanh năm 2011, 2012, 2013)

Qua bảng tổng kết trên ta thấy doanh số mua và bán ngoại tệ năm 2012 tăng mạnh so với năm 2011 nhưng lại sụt giảm đáng kể trong năm 2013. Cụ thể là doanh số mua ngoại tệ (USD) năm 2013 đạt 27.770 ngàn USD, giảm 11.381 ngàn USD (- 29,07%) so với năm 2012; doanh số bán ngoại tệ (USD) đạt 27.980 ngàn USD, giảm 30

11.10 ngàn USD (- 28,41%) so với năm 2012. Lợi nhuận kinh doanh ngoại hối phụ

thuộc rất lớn vào sự biến động của tỷ giá. Trong năm qua NHNN đã chủ động can

thiệp trong trường hợp cần thiết nên thị trường ngoại tệ vẫn ổn định. Mặc dù NHNN

đã nới lỏng chút ít về điều kiện cho vay ngoại tệ vào tháng 9 năm 2013 nhưng thực tế việc vay ngoại tệ của các DN xuất nhập khẩu không phải đã dễ dàng. Do cơ chế chính

sách đối với khách hàng vay vốn bằng ngoại tệ của hệ thống còn nhiều bất cập nên đã

ảnh hưởng đến doanh số mua bán ngoại tệ.

c. Hoạt động thẻ

Tổng số lượng thẻ phát hành năm 2013 đạt 39.202 thẻ, tăng 6.821 thẻ (+ 21%) so

với năm 2012. Số dư tài khoản thẻ 38.462 triệu, tăng 12.973 triệu (+ 50%) so với năm

2012. Đạt được kết quả này là do ngân hàng đã có nhiều cố gắng trong việc vận động

phát hành thẻ ATM, đơn giản hóa các thủ tục phát hành, tăng thêm nhiều tiện ích về thanh toán bằng thẻ. Bên cạnh đó, NNo&PTNT Việt Nam có mạng lưới rộng khắp, lại

là một trong những ngân hàng có số lượng cây ATM lớn nhất Việt Nam, điều đó cũng

là một lợi thế cho NHNo&PTNT Chi nhánh Hoàng Quốc Việt. Tuy vậy số dư bình

quân trên thẻ vẫn thấp, các điểm POS còn chưa hiệu quả mới chỉ đạt về số lượng.

d. Hoạt động thanh toán quốc tế

Thanh toán xuất khẩu năm 2013 đạt 8.210 ngàn USD, tăng 4.530 ngàn USD (+

123%) so với năm 2012. Thanh toán nhập khẩu đạt 17.160 ngàn USD, giảm 5.040 ngàn USD (- 23%) so với năm 2012. Thanh toán biên mậu 1.082 triệu đồng, giảm 497

triệu đồng (- 31%) so với năm 2012. Nguyên nhân dẫn đến việc sụt giảm đáng kể

doanh số thanh toán đặ biệt là thanh toán nhập khẩu và biên mậu là do năm 2013 nền

kinh tế gặp nhiều khó khăn ảnh hưởng đến đại bộ phận dân chúng, doanh nghiệp gặp

khó khăn trong hoạt động kinh doanh nên việc sử dụng các dịch vụ ngân hàng cũng

còn nhiều hạn chế.

2.1.2.4 Kết quả kinh doanh

Trong những năm vừa qua cùng với sự cố gắng của cán bộ công nhân viên Chi nhánh và sự giúp đỡ của NHNo&PTNT Việt Nam, Chi nhánh đã từng bước khẳng định mình và đạt những kết quả sau :

Theo số liệu trên bảng nhìn chung lợi nhuận của Chi nhánh giảm mạnh, năm

2012 lợi nhuận là 22,73 tỷ đồng giảm 58,19 tỷ đồng (-71,91%) so với năm 2011, sang năm 2013 Chi nhánh ghi nhận khoản lỗ 59 tỷ đồng. Việc lợi nhuận của Chi nhánh giảm là do tổng thu giảm trong khi tổng chi lại tăng mạnh.

Trong năm 2013 tổng thu giảm 54,06 tỷ đồng so với năm 2012 với tốc độ giảm là 20,01%. Nhìn chung, thu nhập từ các khoản của năm sau đều giảm so với năm trước. Trong tổng số các khoản thu tại Chi nhánh, thu nhập từ hoạt động tín dụng chiếm tỷ 31

trọng lớn nhất trên 90% trong cả 3 năm. Thu nhập từ hoạt động dịch vụ chiếm một con

số khá bé tuy có tăng 4,21% vào năm 2012 nhưng lại sụt giảm 42,72% trong năm 2013

Nếu như toàn năm 2011 thu dịch vụ là 7,12 tỷ chiếm 2,58% trên tổng thu trong năm,

năm 2012 thu dịch vụ đạt 2,74%, năm 2013 tỷ lệ này giảm xuống còn 1,96%. Điều đó phản ánh một thực tế rằng: sản phẩm dịch vụ ngân hàng tuy được triển khai đầy đủ

song vẫn chưa được khách hàng hưởng ứng nhiệt tình nên chưa đạt được hiệu quả cao.

Nhìn chung, các khoản chi phí của Chi nhánh tăng nhanh trong 3 năm. Năm 2013

tổng chi là 324,28 tỷ đồng tăng 66,02 tỷ đồng (+25,56%) so với năm 2012 và tăng 118,82 tỷ đồng (+57,83%) so với năm 2011. Trong đó chi phí hoạt động tín dụng (trả

lãi tiền gửi, trả lãi tiền vay, trả lãi phát hành giấy tờ có giá, trả lãi tiền thuê tài chính…)

chiếm tỷ trọng cao nhất với tỷ trọng là xấp xỉ 40% trên tổng chi của cả 3 năm. Chi phí

hoạt động tín dụng năm 2012 tăng 17,13% so với năm 2011. Sang đến năm 2013 chi phí hoạt động tín dụng giảm 20,84% so với năm 2012. Trong năm 2013 NHNN áp

dụng mức trần lãi suất huy động nên chi phí trả lãi tiền gửi giảm cộng thêm việc Chi

nhánh cố gắng tiết kiệm các khoản chi nên nhờ vậy chi phí hoạt động tín dụng giảm.

Trong tất cả các khoản chi, tăng nhanh nhất là chi phí dự phòng, bảo toàn và bảo hiểm

tiền gửi của khách hàng mà chủ yếu là do khoản chi dự phòng. Chi phí dự phòng, bảo

toàn và bảo hiểm tiền gửi của khách hàng năm 2012 tăng 203,93 so với năm 2011,

năm 213 tăng 285,16 so với nă 2012. Chi phí dự phòng tăng cao là bởi nợ xấu trong những năm qua tăng cao, Chi nhánh buộc phải đẩy mạnh trích lập dự phòng cho các

khoản nợ xấu và có nguy cơ trở thành nợ xấu để chuẩn bị cho những yêu cầu cao hơn

trong thời gian tới. Thêm vào đó thông tin NHNN sẽ tập trung thanh tra nợ xấu của các

NH sau khi áp dụng thông tư 02 ngay trong năm 2014 cũng chính là yếu tố khiến các

NH buộc phải đẩy nhanh quá trình lành mạnh hóa tình hình tài chính của mình, hướng

tới một sự phát triển ổn định và bền vững hơn.

32

Bảng 2.4: Kết quả hoạt động kinh doanh của NHNo&PTNT Chi nhánh

Hoàng Quốc Việt

Đơn vị: Tỷ đồng

Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013

Chỉ tiêu Chênh lệch so với năm 2011 Chênh lệch so với năm 2012 Số liệu Số liệu Số liệu

Số liệu Số liệu Tỷ lệ (%) Tỷ lệ (%)

275,29 270,1 (5,19) (1,89) 216,04 (54,06) (20,01) Thu nhập

262,71 248,69 (14,02) (5,34) 206,52 (42,17) (16,96)

7,12 7,42 4,21 (3,17) (42,72) 4,25 0,3

1,43 3,14 119,58 (1,37) (43,63) 1,77 1,71

0,04 1,08 2600,00 (0,79) (73,15) 0,29 1,04

Thu nhập từ hoạt động tín dụng Thu nhập phí từ hoạt động dịch vụ Thu nhập từ hoạt động kinh doanh ngoại hối Thu từ hoạt động kinh doanh khác

6,67 13,99 109,75 3,2 (10,79) (77,13) 7,32 Thu nhập khác

205,46 258,26 25,70 324,28 66,02 25,56 52,8 Chi phí

151,46 177,41 25,95 17,13 140,44 (36,97) (20,84)

2,56 1,51 (1,05) (41,02) 0,49 32,45 2 Chi phí hoạt động tín dụng Chi phí hoạt động dịch vụ

0,33 2,26 1,93 584,85 (2,14) (94,69) 0,12 Chi phí hoạt động kinh

33

Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013

Chỉ tiêu Chênh lệch so với năm 2011 Chênh lệch so với năm 2012 Số liệu Số liệu Số liệu

Số liệu Số liệu Tỷ lệ (%) Tỷ lệ (%)

doanh ngoại hối Chi nộp thuế và các 0,18 0,12 (0,06) (33,33) 0,19 0,07 58,33

khoản phí, lệ phí

13 0,31 (1,22) (79,74) 0,15 (0,16) (51,61) Chi phí hoạt động kinh doanh khác

15,95 17,56 1,61 10,09 18,49 0,93 5,30 Chi phí cho nhân viên

Chi cho hoạt động quản 0,01 0,01 0 0,00 0,01 0 0,00 lý và công vụ

Chi về tài sản 10,19 13,06 2,87 28,16 15,28 2,22 17,00

11,44 34,77 23,33 203,93 133,92 99,15 285,16

Chi phí dự phòng, bảo toàn và bảo hiểm tiền gửi của khách hàng

80,92 22,73 (58,19) (71,91) (59,00) (81,73) (359,57) Lợi nhuận

(Nguồn: Bảng cân đối chi tiết năm 2011, 2012, 2013)

34

2.2 Thực trạng chất lƣợng tín dụng tại NHNo&PTNT Chi nhánh Hoàng Quốc

Việt

2.2.1 Thực trạng tín dụng của NHNo&PTNT chi nhánh Hoàng Quốc Việt

Nhìn chung, quy trình thủ tục vay vốn của Chi nhánh vẫn còn rườm rà, mất nhiều

thời gian; quy trình xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ còn phức tạp.

Hoạt động tín dụng của Chi nhánh trong 3 năm đã mang lại khoản thu nhập đủ

trang trải những chi phí cần thiết và có lãi nhưng nhìn chung vẫn chưa đảm bảo được

định hướng hoạt động cả ngắn và dài hạn của Chi nhánh. Chi nhánh có kế hoạch mở rộng hoạt động tín dụng nhưng tổng dư nợ của năm 2013 cũng còn chưa đạt được kế

hoạch giao, việc tìm kiếm dự án đầu tư có vốn lớn Chi nhánh còn chưa chủ động được,

đây là bất lợi lớn trong nền kinh tế thị trường. Chất lượng quản lý rủi ro tín dụng của

Chi nhánh cũng còn nhiều hạn chế khi mà nợ quá hạn vẫn ở mức cao trong tổng dư nợ. Chi nhánh luôn luôn chấp hành tốt các quy định của ngân hàng Nhà nước, làm đúng

theo chỉ đạo của NHNo&PTNT Việt Nam.

Đóng góp vào sự phát triển kinh tế, xã hội, trong hai năm trở lại đây do chịu ảnh

hưởng của khủng hoảng kinh tế nên Chi nhánh ghi nhận khoản lỗ dẫn đến việc chậm

trả lương nhưng vẫn cố gắng đảm bảo đời sống cho nhân viên. Bên cạnh đó, Chi nhánh

đã cùng hệ thống mạng lưới các NHTM trên địa bàn tạo nên sự cạnh tranh mạnh mẽ và

lành mạnh, cùng tồn tại và hợp tác phát triển, góp phần phát triển kinh tế thành phố.

2.2.2 Phân tích chất lượng tín dụng tại NHNo&PTNT chi nhánh Hoàng Quốc Việt

2.2.2.1 Tỷ lệ nợ quá hạn

Để đánh giá chất lượng tín dụng của NHTM yêu cầu rất nhiều chỉ tiêu, trong đó

một trong những chỉ tiêu quan trọng nhất là tỷ lệ nợ quá hạn.

Từ bảng số liệu bên dưới có thể thấy tỷ lệ nợ quá hạn của Chi nhánh luôn ở

mức cao trong 3 năm (trên 5% theo quy định của NHNN Việt Nam.)

Trong năm 2013 tổng dư nợ và nợ quá hạn của Chi nhánh đều tăng, tổng dư nợ

năm 2013 tăng 49,77% so với năm 2011 trong khi đó nợ quá hạn năm 2013 tăng đến 83,44% so với năm 2011. Tốc độ tăng của tổng dư nợ ít hơn so với tốc độ tăng nợ quá hạn, do đó tỷ lệ nợ quá hạn tăng gần gấp đôi. Tỷ lệ nợ quá hạn năm 2013 là 17,83% nằm trong khoảng 15%-20% được coi là quá cao, báo động đỏ, nguy cơ khủng hoảng

rất lớn. Nguyên nhân là do năm 2013 được đánh giá là năm mà nền kinh tế nước ta đã rơi xuống đáy của khủng hoảng. Chính vì vậy, nhiều khó khăn đã khiến hàng chục

nghìn doanh nghiệp phải giải thể hoặc ngừng hoạt động. Theo Tổng cục Thống kê, số

doanh nghiệp phải giải thể hoặc ngừng hoạt động năm 2013 là 60.737 doanh nghiệp, tăng 11,9% so với năm trước. Tình hình tài chính thế giới bị khủng hoảng, lạm phát

35

tăng, các doanh nghiệp không tiêu thụ được hoặc tiêu thụ hàng chậm, từ đó ảnh hưởng

tiêu cực đến khả năng trả nợ ngân hàng. Một phần nữa cũng là do áp lực cạnh tranh

giữa các ngân hàng, trình độ chuyên môn nghiệp vụ các cán bộ còn chưa được đồng bộ

cho nên khả năng thẩm định tín dụng và nắm bắt thông tin còn chưa tốt có nhiều bất cập, chưa đầy đủ, cán bộ tín dụng chưa có những kinh nghiệm đối phó với biến động

của thị trường. Chính vì vậy việc kiểm tra sử dụng vốn của khách hàng sau khi đã giải

ngân xong còn lỏng lẻo.

Bảng 2.5: Tỷ lệ nợ quá hạn tại NHNo&PTNT Chi nhánh Hoàng Quốc Việt

Đơn vị: Tỷ đồng

Năm Năm 2012 Năm 2013 2011

Chênh lệch so Chênh lệch so Chỉ tiêu với năm 2011 với năm 2012 Số liệu Số liệu Số liệu Tỷ lệ Tỷ lệ Số liệu Số liệu (%) (%)

Tổng dư nợ 1.294,00 1.946,00 652,00 50,39 1.938,00 -8,00 -0,41

Nợ quá hạn 125,83 264 138,17 109,81 345,5 81,50 30,87

Tỷ lệ nợ 9,72 13,57 3,85 39,61 17,83 4,26 31,39 quá hạn (%)

(Nguồn: phòng kinh doanh)

Để phân tích rõ hơn nữa về tỷ lệ nợ quá hạn, ta xét nợ quá hạn phân theo nhóm

nợ. Việc phân loại ra thành các nhóm nợ theo quyết định 493/2005/QĐ-NHNN của Thống đốc NHNN Việt Nam giúp Chi nhánh quản lý và đưa ra quyết định chính xác

đối với từng khoản nợ.

Dựa vào biểu đồ bên dưới ta thấy cơ cấu nợ của Chi nhánh chủ yếu là nợ cần chú ý, tiếp đó là nợ nghi ngờ, nợ có khả năng mất vốn và nợ dưới tiêu chuẩn. Từ năm 2011 đến 2013 nợ dưới tiêu chuẩn, nợ nghi ngờ và nợ có khả năng mất vốn tăng mạnh. Đặc biệt tỷ trọng nợ có khả năng mất vốn trong 3 năm 2011-2013 lần lượt là 0%; 11,09%;

16.36%. Trong khi đó nợ cần chú ý lại giảm từ 115,31 tỷ đồng trong năm 2011 xuống 194,29 tỷ đồng vào năm 2013. Điều này cho thấy chất lượng tín dụng của Chi nhánh chưa tốt, Chi nhánh cần có những chính sách, biện pháp xử lý kịp thời để đảm bảo nợ

quá hạn trong tầm kiểm soát, đặc biệt với những khoản nợ quá hạn có khả năng mất vốn.

36

Biểu đồ 2.3. Nợ quá hạn phân theo nhóm nợ

Nợ quá hạn phân theo nhóm nợ

80%

100% 29,27 0 9,79 0,73 56,53 90%

65,66 86,82 70%

Nợ có khả năng mất vốn

Nợ nghi ngờ

50%

115,31

Nợ dưới tiêu chuẩn

4,16 60% 7,86

Nợ cần chú ý

40%

164,91 30% 194,29

20%

10%

0%

Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013

2.2.2.2 Tỷ lệ nợ xấu

Bảng 2.6: Tỷ lệ nợ xấu tại NHNo&PTNT Chi nhánh Hoàng Quốc Việt

Đơn vị: Tỷ đồng

Năm Năm 2012 Năm 2013 2011

Chênh lệch so với Chênh lệch so với Chỉ tiêu năm 2011 năm 2012 Số liệu Số liệu Số liệu Tỷ lệ Tỷ lệ Số liệu Số liệu (%) (%)

1.294,00 1.946,00 652,00 50,39 1.938,00 (8,00) (0,41) Tổng dư nợ

Nợ xấu 10,87 100 89,13 819,96 252 152,00 152,00

0,84 5,16 4,32 514,29 13,57 8,41 162,98 Tỷ lệ nợ xấu (%)

(Nguồn: Báo cáo tổng kết hoạt động kinh doanh năm 2011, 2012, 2013)

37

Qua bảng trên chúng ta có thể nhận thấy tỷ lệ giữa nợ xấu so với tổng dư nợ của Chi nhánh qua các năm tăng mạnh. Nợ xấu của Chi nhánh trong năm 2013 là cao nhất do đây là năm nền kinh tế nước ta chịu ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính thế giới, thị trường tiền tệ có nhiều biến động, sự tăng giá liên tục của một số mặt hàng chủ lực như xăng dầu, sắt thép, phân bón… ảnh hưởng đến khả năng thanh toán các khoản nợ của khách hàng, các khoản nợ vay phải cơ cấu lại, gia hạn, chuyển nợ quá hạn làm tỷ lệ nợ xấu gia tăng. Đến 31/12/2013 nợ xấu của toàn chi nhánh là 252 tỷ đồng, tăng 152 tỷ đồng (+152 %) so với năm 2012, tăng 241,13 tỷ đồng (+2218,3%) so với năm 2011. Tỷ lệ nợ xấu năm 2013 là 13,57% trong đó nợ xấu VND là 67 tỷ đồng, giảm 33 tỷ đồng (- 33%) so với năm 2012; nợ xấu USD (quy đổi VND) là 185 tỷ đồng tăng 100% so với năm 2012. Nợ xấu phát sinh tăng và cao tập trung chủ yếu tại hội sở. Việc tỷ lệ nợ xấu cao nếu không kiểm soát và xử lý kịp thời thì hậu quả xấu của nó gây ra đối với bản thân các ngân hàng và đối với nền kinh tế là rất lớn. Tỷ lệ nợ xấu cao có thể làm giảm lợi nhuận hoặc gây thua lỗ đối với ngân hàng do tăng trích lập dự phòng rủi ro, làm xói mòn niềm tin đối với người gửi tiền, các nhà đầu tư và nếu không sớm cải thiện sẽ gây nên rủi ro thanh khoản và ảnh hưởng rất lớn đến an toàn của hệ thống ngân hàng. 2.2.2.3 Hiệu suất sử dụng vốn

Tuy có sự gia tăng đáng kể dư nợ tín dụng đối với các Doanh nghiệp ngoài quốc

doanh và đối với các cá nhân, hộ gia đình nhưng Chi nhánh vẫn đảm bảo nguồn vốn

đáp ứng yêu cầu sử dụng của các ngân hàng cấp trên phục vụ định hướng phát triển

kinh tế xã hội của Nhà nước. Với nguồn vốn huy động dồi dào mà không sử dụng hết

gây tình trạng lãng phí về nguồn vốn do hiệu suất sử dụng vốn thấp. Để hạn chế lãng

phí về nguồn vốn do sử dụng không triệt để, Chi nhánh thực hiện điều chuyển vốn cho

ngân hàng cấp trên, tuy nhiên mức lãi suất thu được thấp nên nguồn thu từ hoạt động

điều chuyển vốn không cao.

Qua bảng số liệu bên dưới ta có thể thấy hoạt động huy động vốn của Chi

nhánh năm 2012 tăng 13,04 % so với năm 2011, năm 2013 tăng 20,25% so với năm

2012. Hoạt động tín dụng của Chi nhánh năm 2012 tăng trưởng đáng kể (tăng gần 50,39% so với năm 2011), mức tăng này làm cho hiệu suất sử dụng vốn của toàn Chi

nhánh năm 2012 đạt 105,36% cao gấp 1,33 lần hiệu suất sử dụng vốn năm 2011. Hiệu suất sử dụng vốn năm 2012 > 1 có nghĩa là vốn huy động năm 2012 không đủ cho vay nên Chi nhánh phải huy động thêm từ các nguồn khác. Dư nợ tín dụng năm 2013 giảm 0,41% so với năm 2012. Tốc độ tăng dư nợ năm 2013 giảm vì thế mà hiệu suất sử

dụng vốn năm 2013 cũng giảm so với năm 2012 với tỷ lệ là 0,06 lần. Hiệu suất sử dụng vốn năm 2013 đạt 87,26% <1 cho ta biết lượng vốn huy động của Chi nhánh dồi dào, đảm bảo cho hoạt động tín dụng ngoài ra có thể sử dụng cho hoạt động đầu tư

khác.

38

Bảng 2.7: Hiệu suất sử dụng vốn tại NHNo&PTNT Chi nhánh Hoàng Quốc Việt.

Đơn vị: Tỷ đồng,%

Năm 2012 Năm 2013 Năm 2011

Chênh lệch so Chênh lệch so Chỉ tiêu với năm 2011 với năm 2012 Số liệu Số liệu Số liệu Tỷ lệ Tỷ lệ Số liệu Số liệu (%) (%)

Tổng nguồn 1.634,00 1.847,00 213,00 13,04 2.221,00 374,00 20,25 vốn huy động

Tổng dư nợ 1.294,00 1.946,00 652,00 50,39 1.938,00 (8,00) (0,41)

Hiệu suất sử 79,19 105,36 26,17 33,05 87,26 (18,10) (17,18) dụng vốn (%)

(Nguồn: Báo cáo tổng kết hoạt động kinh doanh năm 2011, 2012, 2013)

2.2.2.4 Vòng quay vốn tín dụng

Vòng quay vốn tín dụng là tỷ lệ doanh số thu nợ và dư nợ bình quân, thể hiện tốc

độ luân chuyển vốn và chất lượng tín dụng của Chi nhánh. Nó cho biết trong một chu

kỳ trung bình một đồng vốn được quay vòng bao nhiêu lần, tức là nó tham gia vào quá

trình lưu thông và sản xuất kinh doanh nhiều hay ít. Vòng quay tín dụng lớn nói lên sự

luận chuyển vốn nhanh và chất lượng tín dụng tốt. Ngược lại, vòng quay thấp thể hiện vốn tín dụng chậm luân chuyển, chất lượng tín dụng chưa tốt, thu nợ kém.

Kết quả thu được thông qua bảng bên dưới trong 3 năm 2011-2013 cho ta thấy số

vòng chu chuyển của vốn vay tại Chi nhánh tương đối thấp, năm 2012 vòng quay vốn

tín dụng chỉ đạt 0,76/năm vòng giảm 0,89 vòng/năm so với năm 2011 khi năm 2011

đạt 1,65 vòng/năm. Điều này cũng hoàn toàn dễ hiểu vì các khoản cho vay của Chi nhánh phần lớn vẫn là cho vay trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn. Mặt khác, các khoản tín dụng này khách hàng trả nợ thành nhiều lần thậm chí khi đến hạn trả nhiều doanh nghiệp chưa thanh toán đầy đủ nên Chi nhánh phải gia hạn thêm cho các khoản

vay đó. Do vậy, doanh số thu nợ các năm của Chi nhánh thấp kéo theo số vòng quay vốn tín dụng không cao.

39

Bảng 2.8: Vòng quay vốn tín dụng trong năm tại NHNo&PTNT Chi nhánh

Hoàng Quốc Việt.

Đơn vị: Tỷ đồng

Năm 2012 Năm 2013 Năm 2011

Chênh lệch so Chênh lệch so Chỉ tiêu với năm 2011 với năm 2012 Số liệu Số liệu Số liệu Tỷ lệ Tỷ lệ Số liệu Số liệu (%) (%)

Tổng dư nợ 1.294,00 1.946,00 652,00 50,39 1.938,00 (8,00) (0,41)

Dư nợ bình 158,5 325,5 167,00 105,36 194,49 (131,01) (40,25) quân năm

Doanh số thu nợ 262 248 (14,00) (5,34) 208,1 (39,90) (16,09)

Vòng quay vốn 1,65 0,76 (0,89) (53,94) 1,07 0,31 40,79 tín dụng (vòng)

(Nguồn: Báo cáo tổng kết hoạt động kinh doanh năm 2011, 2012, 2013)

Mặc dù vậy, chúng ta cũng có thể thấy được doanh số thu nợ của Chi nhánh đã

và đang được cải thiện trong năm 2013 do Chi nhánh đã thực hiện thay đổi cơ cấu tín

dụng theo hướng tăng dần cho vay các doanh nghiệp với các khoản vay có kỳ hạn

ngắn hơn, nhanh được thu hồi vốn cho vay, kết quả cuối cùng là tăng vòng quay vốn

tín dụng của Chi nhánh trong năm. Cụ thể là vòng quay vốn tín dụng năm 2013 đạt

1,07 vòng/năm tăng 0,31 vòng/năm so với năm 2012. Để tăng vòng quay vốn tín dụng

trong thời gian tiếp theo Chi nhánh cần tiếp tục tăng cường cho vay đối với các khoản

ngắn hạn, kiểm soát chặt chẽ các khoản vay trung và dài hạn do lãi suất cố định trong thời hạn cho vay, tính rủi ro của các khoản vay trung và dài hạn thường cao tuỳ thuộc sự biến đổi của nền kinh tế, chính trị - xã hội trong và ngoài nước, góp phần hạn chế việc gia hạn nợ, nợ xấu cho NHNo&PTNT Chi nhánh Hoàng Quốc Việt.

Chỉ tiêu về tỷ lệ lợi nhuận từ hoạt động tín dụng tại Chi nhánh được thể

hiện rõ thông qua bảng tính dưới đây:

2.2.2.5 Tỷ lệ lợi nhuận tín dụng

40

Bảng 2.9: Tỷ lệ lợi nhuận từ hoạt động tín dụng tại NHNo&PTNT Chi nhánh

Hoàng Quốc Việt.

Đơn vị: Tỷ đồng

Năm Năm 2012 Năm 2013 2011

Chênh lệch so Chênh lệch so Chỉ tiêu với năm 2011 với năm 2012

Số liệu Số liệu Số liệu Tỷ lệ Tỷ lệ Số liệu Số liệu (%) (%)

Tổng dư nợ 1.294,00 1.946,00 652,00 50,39 1.938,00 (8,00) (0,41)

Lợi nhuận từ 262,71 248,69 (14,02) (5,34) 206,52 (42,17) (16,96) hoạt động TD

Tỷ lệ lợi

nhuận từ 20,3 12,78 (7,52) (37,04) 10,66 (2,12) (16,59)

HĐTD (%)

(Nguồn: Báo cáo tổng kết hoạt động kinh doanh năm 2011, 2012, 2013)

Dựa theo bảng tính toán trên ta có thể nhận thấy lợi nhuận từ hoạt động tín

dụng của Chi nhánh giảm dần qua 3 năm, năm 2012 giảm 14,02 tỷ đồng (-5,34%) so

với năm 2011 và đến năm 2013 giảm 42,17 tỷ đồng (-16,96%) so với năm 2012. Tuy

nhiên, xét về tỷ lệ giảm của lợi nhuận từ hoạt động tín dụng so với mức tăng của dư nợ

tín dụng thì có sự tăng khác nhau giữa các năm. Năm 2012 tỷ lệ lợi nhuận từ hoạt động

tín dụng của Chi nhánh giảm 7,52% so với năm 2011, năm 2013 tỷ lệ này lại 2,12% so

với năm 2012 nguyên nhân do mức giảm của lợi nhuận hoạt động tín dụng lớn hơn mức tăng của dư nợ tín dụng. Điều đó chứng tỏ hoạt động tín dụng của Chi nhánh chưa thực sự hiệu quả và mức lợi nhuận thu được từ một đồng vốn tín dụng như vậy là chưa cao, cần phải có sự gia tăng hơn nữa trong thời gian tiếp theo để đem lại nhiều

Tóm lại, có thể hệ thống các chỉ tiêu định lượng về chất lượng tín dụng

của NHNo&PTNT Hoàng Quốc Việt như sau:

hơn nữa lợi nhuận cho Chi nhánh.

41

Biểu đồ 2.4. Kết quả thuộc các chỉ tiêu định lượng về chất lượng tín dụng tại

NHNo&PTNT Chi nhánh Hoàng Quốc Việt.

Các chỉ tiêu định lƣợng về CLTD của Chi nhánh

1,8

1,2

1,6

1,4

1,65 1,0536 1

1,2

0,8726 Tỷ lệ nợ quá hạn 0,8 0,7919

1

0,6

0,8

1,07 Tỷ lệ nợ xấu

0,6

0,76 Hiệu suất sử dụng vốn

0,4

0,4

0,2

0

Tỷ lệ lợi nhuận từ HĐTD 0,1783 0,1357 0,203 0,2 0,0972 0,1357 0,1278 0,1066 Vòng quay vốn tín dụng 0,0516 0,0084 0

Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013

Vòng

Tỷ lệ

Nhận xét: trừ chỉ tiêu hiệu suất sử dụng vốn được cải thiện, còn lại các chỉ tiêu định

lượng khác năm 2013 đều tăng cao hoặc có chiều hướng xấu hơn so với năm 2011.

2.3 ĐÁNH GIÁ CHẤT LƢỢNG TÍN DỤNG TẠI NHNO&PTNT CHI NHÁNH

HOÀNG QUỐC VIỆT

2.3.1 Những kết quả đạt được

Trong những năm qua, hoạt động tín dụng của Chi nhánh luôn được coi trọng vì đây là hoạt động mang lại lợi nhuận chính cho ngân hàng. Với phương châm lấy hiệu quả các khoản tín dụng đặt lên hàng đầu, Chi nhánh đã định hướng đầu tư vào những ngành, lĩnh vực có tiềm năng, có khả năng sinh lời với độ rủi ro thấp, ưu tiên cho

những dự án đầu tư theo chiều sâu tránh hiện tượng đầu tư tràn lan, kém hiệu quả.

Ban lãnh đạo Chi nhánh thường xuyên có sự chỉ đạo kịp thời, bám sát với tình

hình thực tế tại Chi nhánh cũng như tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của các

khách hàng doanh nghiệp. Nhanh chóng giải quyết các vướng mắc nảy sinh trong quá trình quan hệ tín dụng đối với doanh nghiệp. Thu thập đầy đủ thông tin khách hàng từ

42

hoạt động khảo sát hay từ những nguồn khác đảm bảo không gây phiền hà, cản trở đến

hoạt động của doanh nghiệp. Từ những thông tin đó Chi nhánh tiến hành phân loại

khách hàng để từ đó có định hướng đầu tư đúng đắn, mở rộng cho vay có hiệu quả.

Với những nỗ lực của mình, NHNo&PTNT chi nhánh Hoàng Quốc Việt đã đạt được những kết quả như sau:

- Cơ cấu tín dụng của Chi nhánh có sự chuyển biến theo hướng tích cực. Theo

đó, tỷ trọng dư nợ các doanh nghiệp ngoài quốc doanh tăng nhanh, điều này cũng phù

hợp với tình hình thực tế trên địa bàn thành phố khi mà các doanh nghiệp ngoài quốc doanh ngày càng tăng và hoạt động hiệu quả.

- Công tác thẩm định trước, trong và sau khi cho vay cũng đã được chú trọng

hơn, cán bộ tín dụng tăng cường đi cơ sở để nắm rõ tình hình sản xuất kinh doanh của

khách hàng.

- Công tác thu hồi nợ xấu đã được Chi nhánh quan tâm sát sao hơn. Chi nhánh đã

tập trung chỉ đạo triển khai đồng bộ và quyết liệt các giải pháp thu hồi nợ xấu: Tổ chức

phân tích đánh giá khả năng thu hồi nợ đối với từng khoản nợ xấu, triển khai kịp thời

các văn bản chỉ đạo hướng dẫn của ngân hàng cấp trên về xử lý nợ, cơ cấu nợ, miễn

giảm và điều chỉnh lãi vay phù hợp để tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp; nghiêm túc

kiểm điểm và phê bình đối với đơn vị, cán bộ liên quan đến quản lý, cho vay các

khoản phát sinh nợ xấu, thành lập tổ thu hồi nợ đối với cán bộ liên quan để tập trung thu hồi, xử lý nợ xấu; tiến hành các biện pháp nhờ các cơ quan chức năng phối hợp

đôn đốc đối với những khách hàng không có thiện trí trả nợ…; triển khai việc phân

loại nợ và trích lập dự phòng xử lý các khoản nợ rủi ro đúng quy định bao gồm cả

những khoản bán nợ cho Công ty quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam

(VAMC)

- Chính sách lãi suất cho vay của NHNo&PTNT Chi nhánh Hoàng Quốc Việt

khá linh hoạt và có tính chất định hướng rõ ràng: ưu tiên các doanh nghiệp sản xuất

kinh doanh có tình hình tài chính tốt, có phương án sản xuất kinh doanh khả thi và thường xuyên sử dụng các dịch vụ của Chi nhánh, có số dư tiền gửi bình quân lớn, có tài sản đảm bảo nợ vay,…Chi nhánh cũng thực hiện chấm điểm và phân loại khách hàng để có những chính sách chăm sóc riêng và được hưởng những chế độ ưu đãi khác

nhau về lãi suất, phí, thời gian xử lý hồ sơ,…

- Các sản phẩm dịch vụ tín dụng của NHNo&PTNT Chi nhánh Hoàng Quốc Việt ngày càng phát triển hoàn thiện hơn, phù hợp với nhu cầu thị trường và khách hàng.

Từ cho vay chủ yếu trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, Chi nhánh đã mở rộng cho vay sang nhiều lĩnh vực khác nhằm đem lại lợi nhuận nhiều hơn cho ngân hàng. Kết quả là có nhiều hình thức cấp tín dụng xuất hiện như: Dịch vụ bao thanh toán, cho vay

43

vốn lưu động đảm bảo bằng vật tư lưu kho, bằng quyền truy đòi nợ,…Đồng thời, Chi

nhánh cũng cung cấp các sản phẩm tín dụng cho các cá nhân dưới nhiều hình thức hấp

dẫn, phù hợp với khả năng thanh toán của khách hàng từ sinh viên du học, người lao

động, người có nhu cầu mua sắm đồ đạc, sửa chữa, mua sắm nhà cửa, xe ô tô đến các doanh nghiệp có nhu cầu vay vốn mở rộng sản xuất kinh doanh…

- Đồng thời với việc mở rộng cho vay, NHNo&PTNT Chi nhánh Hoàng Quốc

Việt chấp hành đúng quy trình cho vay, xem xét tính khả thi của phương án cho vay,

tập trung giải quyết các khoản nợ quá hạn cũ, ngăn ngừa các khoản nợ quá hạn mới phát sinh, thực hiện trích lập dự phòng rủi ro đầy đủ theo quy định của Ngân hàng Nhà

nước. Cùng với việc tăng trưởng cho vay, NHNo&PTNT Chi nhánh Hoàng Quốc Việt

đã xây dựng chính sách khách hàng, quan tâm công tác thông tin tín dụng, công tác

kiểm tra kiểm soát và thực hiện các biện pháp hạn chế rủi ro trong cho vay nhằm nâng cao chất lượng cho vay.

2.3.2 Hạn chế và nguyên nhân

2.3.2.1 Hạn chế

Tuy đã có nhiều cố gắng trong hoạt động và đạt được những kết quả nhất định

nhưng NHNo&PTNT chi nhánh Hoàng Quốc Việt cũng còn những hạn chế cần được

giải quyết kịp thời tránh những tác động không tốt, ảnh hưởng tới hoạt động của Chi

nhánh.

Thứ nhất, tỷ lệ nợ xấu còn cao so với các ngân hàng khác. Mặc dù năm 2011 và

2012 tỷ lệ nợ xấu của Chi nhánh thấp hơn so với trung bình ngành được đưa ra dưới

đây nhưng năm 2013 tỷ lệ nợ xấu của Chi nhánh đạt 13,57% cao hơn nhiều so với tỷ lệ

nợ xấu các ngân hàng được minh họa bên dưới.

Hình 2.1. Nợ xấu toàn ngành ngân hàng qua các năm

(Nguồn: Phương Nam Securities tổng hợp)

44

Thứ hai, tăng trưởng tín dụng của Chi nhánh năm 2013 chỉ đạt (4.58%) trong khi

con số này trong khu vực là 12,51% .

Hình 2.2. Tăng trưởng tín dụng của khu vực ngân hàng Việt Nam

(Nguồn: NHNN)

Thứ ba, chất lượng tín dụng còn bộc lộ nhiều hạn chế, còn nhiều sai sót không

đáng có trong quá trình đầu tư cho vay xuất phát từ phía cán bộ tín dụng

Thứ tư, chất lượng thẩm định dự án đầu tư chưa cao, thiếu tính chắc chắn.

Thứ năm, việc thực hiện chấn chỉnh, khắc phục, xử lý tồn tại sau thanh tra, kiểm

tra còn chậm và chưa nghiêm túc.

2.3.2.2 Nguyên nhân ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng tại NHNo&PTNT Chi nhánh

Hoàng Quốc Việt

a. Nguyên nhân chủ quan

Thứ nhất, tăng trưởng tín dụng quá nóng. Các ngân hàng chạy theo chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng, cấp tín dụng tràn lan và không kiểm soát được rủi ro của danh mục tín dụng khiến tỷ lệ nợ xấu tăng cao. Công tác phân tích, dự báo, cảnh báo về hoạt động

tín dụng còn hạn chế chưa đáp ứng được yêu cầu đòi hỏi của thị trường diễn biến ngày một phức tạp. Hiệu quả hoạt động của tổ thu hồi nợ xấu chưa cao, chưa có phương án

cụ thể để xử lý đối với từng khoản nợ dứt điểm.

Thứ hai, tăng trưởng dư nợ tín dụng còn thấp là do việc cung cấp các sản phẩm dịch vụ ngân hàng của Chi nhánh còn đơn lẻ chưa thu hút khách hàng tham gia. Trong

45

hoạt động ngân hàng hiện đại, việc cung cấp các sản phẩm, dịch vụ đi kèm được coi

như là một biện pháp để thu hút khách hàng. Ví dụ, đối với khách hàng doanh nghiệp

có tài khoản tại ngân hàng, doanh nghiệp này thường xuyên thực hiện thanh toán cho

các đối tác, ngân hàng có thể thực hiện cho vay thấu chi cho doanh nghiệp, cho vay trên bộ chứng từ hàng xuất… Cơ cấu tín dụng cho khách hàng doanh nghiệp chưa thực

sự hợp lý, tỷ lệ cho vay tiêu dùng trên tổng dư nợ còn rất thấp so với cho vay sản xuất,

kinh doanh,...Cơ cấu cho vay theo loại tiền thì phần lớn là cho vay bằng VNĐ, cho vay

bằng ngoại tệ chiếm tỷ lệ ít. Điều đó cho thấy Chi nhánh chưa có biện pháp để thu hút các doanh nghiệp xuất khẩu vay vốn tại ngân hàng. Đây là những doanh nghiệp tiềm năng có

thể trở thành những doanh nghiệp lớn. Do đó, việc chưa quan tâm tới đối tượng khách

hàng này cho thấy Chi nhánh chưa thực sự linh hoạt trong việc tìm kiếm khách hàng và

hướng đến khách hàng tiềm năng. Trong hoạt động kinh doanh công tác marketting hay

P.R cho sản phẩm, dịch vụ của mình là rất quan trọng. Hoạt động tín dụng cũng là hoạt

động kinh doanh, do vậy nó cần được được tiếp thị, tiếp xúc với khách hàng. Trong

khi đó công tác này chưa được thực sự chú trọng, nhiều khách hàng không nắm bắt

được mức lãi suất cho vay để dự tính chi phí cho dự án, phương án, chưa nắm bắt

được các thông tin về thủ tục, quy trình cho vay nên phải đi lại nhiều lần, mất thời gian

và chi phí cho cả hai bên, tạo tâm lý ngại tiếp xúc ngân hàng của các doanh nghiệp.

Việc nghiên cứu chiến lược, xúc tiến quảng bá, phân đoạn thị trường…hoạt động chưa thực sự hiệu quả.

Thứ ba, năng lực của một số cán bộ tín dụng còn hạn chế. Mặc dù đa phần các

cán bộ tín dụng của Chi nhánh có trình độ đại học nhưng phần lớn còn trẻ, thiếu kinh

nghiệm nghề nghiệp. Bên cạnh đó, một số cán bộ tín dụng trực tiếp chưa thật sự tâm

huyết, tận tâm với nghề; chưa có trách nhiệm với công việc được giao nhiều lúc né

tránh công việc và còn nhiều hạn chế cả về đạo đức và năng lực trình độ chuyên môn;

tinh thần trách nhiệm, ý thức tự giác còn yếu, chưa chịu khó nghiên cứu, học tập

nghiệp vụ nên khi gặp dự án lớn còn lúng túng.

Thứ tư, chất lượng thẩm định dự án đầu tư chưa cao, thiếu tính chắc chắn là do nguồn thông tin thu thập vẫn dựa vào khách hàng là chủ yếu do đó mức độ chính xác của thông tin còn hạn chế. Hệ thống thu thập và xử lý thông tin của Chi nhánh nhìn chung còn thiếu thốn và tổ chức chưa chặt chẽ.

Thứ năm, công tác kiểm tra sử dụng vốn của cán bộ tín dụng chưa đảm bảo chất lượng, còn mang tính sơ sài, thiếu tính nghiệp vụ và chưa đánh giá được khả năng thu

hồi nợ từ các khoản vay đã được kiểm tra. Công tác kiểm tra, kiểm soát nội bộ chưa

đáp ứng được mức độ phức tạp của nội dung kiểm tra tín dụng. Trình độ chuyên môn của mỗi cán bộ làm công tác kiểm soát còn hạn chế về nghiệp vụ chuyên môn, chưa

46

tương xứng với công việc vì vậy nhiều khi việc kiểm soát không phát hiện ra những

sai phạm trong hoạt động tín dụng. Ngoài ra, NHNo&PTNT cũng chưa có chế tài đủ

mạnh xử lý thật kiên quyết và kịp thời những hành vi vi phạm quy chế nghiệp vụ, vi

phạm pháp luật ngay từ khi được phát hiện; tại chi nhánh việc xử lý cán bộ có sai sót, vi phạm trong hoạt động tín dụng còn nể nang, thiếu kiên quyết, một phần nguyên

nhân là do cán bộ thiếu trách nhiệm.

b. Nguyên nhân khách quan

Thứ nhất, do tình hình kinh tế - xã hội trong nước và quốc tế có diễn biến phức tạp. Trên thế giới, giá dầu mỏ liên tục tăng mạnh, giá vàng cũng liên tục tăng cao và

đạt mức kỷ lục, áp lực lạm phát trên phạm vi toàn cầu. Ở trong nước, nền kinh tế cũng

phải đối mặt với nhiều khó khăn với sự tăng giá của một số mặt hàng chủ lực như

xăng, dầu, sắt, thép, xi măng,…; nhập siêu tăng mạnh làm thâm hụt cán cân vãng lai; bên cạnh đó việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế cũng gây sức ép lớn, làm cho chỉ số giá

tiêu dùng tăng cao, lạm phát ở mức hai con số… Chính phủ và NHNN đã thực hiện

các biện pháp điều hành chính sách tiền tệ linh hoạt để hỗ trợ tăng trưởng kinh tế

nhưng chưa lập tức phát huy hiệu quả, tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt mức thấp, các

doanh nghiệp gặp khó khăn ảnh hưởng xấu đến hoạt động sản xuất kinh doanh và đời

sống; nhiều doanh nghiệp phải đối mặt với những khó khăn và thua lỗ trong sản xuất

kinh doanh, hệ quả là làm mất khả năng thanh toán, làm phát sinh nợ quá hạn của ngân hàng.

Thứ hai, cơ chế và chính sách quản lý kinh tế vĩ mô của nhà nước đang trong quá

trình đổi mới và hoàn thiện. Trong đó việc thực hiện chỉ thị của Chính phủ về sắp xếp,

đổi mới, thực hiện cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước làm cho sự thích ứng của các

doanh nghiệp còn chậm, chưa theo kịp với cơ chế và chính sách kinh tế vĩ mô.

Thứ ba, môi trường vĩ mô chưa thông thoáng, thiếu tính ổn định. Các chính sách

liên quan đến hoạt động của ngân hàng như chính sách tiền tệ, chính sách thuế… hay

thay đổi ảnh hưởng tới hoạt động của hệ thống ngân hàng nói chung và của Chi nhánh nói riêng. Bên cạnh đó, nhiều quy định pháp lý hiện nay còn rườm rà, rắc rối, việc tuyên truyền pháp luật lại rất hạn chế khiến cho doanh nghiệp và ngân hàng khó khăn trong việc thực thi nhiệm vụ.

Thứ tư, khách hàng thiếu khả năng tài chính, thiếu kinh nghiệm quản lý và điều hành kinh doanh. Khách hàng không kê khai đúng tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh khiến Chi nhánh không thể nắm bắt được khả năng thực sự của khách hàng vay

vốn. Khách hàng cố tình sử dụng vốn sai mục đích trong hợp đồng vay vốn dẫn đến nguy cơ thất thoát vốn cho ngân hàng. Mặt khác, trình độ quản lý kinh doanh của

47

doanh nghiệp yếu kém dẫn đến sử dụng vốn không hợp lý làm thất thoát vốn vào

những chi phí không cần thiết.

Thứ năm, trên địa bàn của Chi nhánh có nhiều ngân hàng và các tổ chức tín dụng

khác cùng hoạt động, mức độ cạnh tranh giữa các ngân hàng ngày càng gay gắt. Mặt khác lãi suất tiền gửi của các ngân hàng ngoài quốc doanh thường cao hơn lãi suất của

ngân hàng nhà nước, do đó ảnh hưởng tới hoạt động huy động vốn của ngân hàng.

Trong khi đó, điều kiện cho vay của các ngân hàng ngoài quốc doanh thường dễ dàng

hơn so với ngân hàng thương mại nhà nước, do đó cũng ảnh hưởng tới hoạt động cấp tín dụng của ngân hàng đối với khách hàng.

Kết luận chƣơng 2

NHNo&PTNT Chi nhánh Hoàng Quốc Việt được thành lập từ năm 2008 đến

nay, trải qua 6 năm hoạt động đã và đang từng bước khẳng định được vị thế của mình

đối với NHNo&PTNT Việt Nam nói riêng và toàn ngành ngân hàng nói chung. Qua phân tích hoạt động kinh doanh của Chi nhánh trong những năm vừa qua, chúng ta

thấy được chi nhánh đã có những kết quả tốt về huy động vốn, sử dụng vốn và các

hoạt động khác.

Hoạt động tín dụng của Chi nhánh chưa thực sự hiệu quả. Chất lượng hoạt động tín dụng còn chưa cao. Điều đó được thể hiện thông qua các chỉ tiêu đánh giá

chất lượng tín dụng của Chi nhánh trong ba năm 2011, 2012, 2013: tỷ lệ nợ quá hạn, tỷ

lệ nợ xấu, hiệu suất sử dụng vốn, vòng quay vốn tín dụng, tỷ lệ lợi nhuận từ hoạt động

tín dụng. Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng của Chi nhánh trong ba năm nhìn

chung đều chưa tốt. Chi nhánh cần quan tâm hơn nữa để giảm thiểu tối đa chỉ tiêu tỷ lệ

nợ quá hạn, tỷ lệ nợ xấu, có như thế thì mới có thể nâng cao được chất lượng tín dụng

của Chi nhánh.

Bên cạnh những kết quả đạt được, Chi nhánh cũng còn những hạn chế nhất định

mà nguyên nhân chủ yếu là do tình hình kinh tế - xã hội có nhiều diễn biến phức tạp,

ảnh hưởng không tốt tới hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng vay vốn, cơ chế chính sách quản lý kinh tế của Nhà nước còn chưa hoàn thiện, bản thân Chi nhánh còn thiếu nhiều kinh nghiệm trong công tác quản lý, công tác thẩm định dự án đầu tư, công tác kiểm tra sử dụng vốn, năng lực của một số cán bộ tín dụng còn hạn chế,… Vì

vậy, cần phải có những giải pháp hữu hiệu để giải quyết nhằm mở rộng, nâng cao chất lượng cho vay trong thời gian tới.

48

CHƢƠNG 3. GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG NNO&PTNT CHI NHÁNH HOÀNG QUỐC VIỆT

3.1 ĐỊNH HƢỚNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TẠI NHNO&PTNT CHI

NHÁNH HOÀNG QUỐC VIỆT

3.1.1 Dự báo các yếu tố tác động tới hoạt động tín dụng trong thời gian tới

Dự báo tình hình kinh tế thế giới có những khởi sắc trong năm 2014, tăng trưởng

toàn cầu về cơ bản đang trên đà phục hồi, dù còn tiềm ẩn nhiều yếu tố rủi ro và chưa

vững chắc. Theo đó, tăng trưởng kinh tế Việt Nam năm 2014 được dự đoán có nhiều khả năng sẽ hồi phục, Chính phủ đã đưa ra dự kiến các chỉ tiêu kinh tế cơ bản trong

năm 2014 bao gồm: GDP tăng khoảng 5,8 - 6% so với năm 2013, tổng kim ngạch xuất

khẩu tăng khoảng 10% so với ước thực hiện năm 2013, tỷ lệ nhập siêu so với tổng kim

ngạch xuất khẩu khoảng 6%, tỷ lệ bội chi ngân sách so với GDP là 4,8%, tổng nguồn vốn đầu tư phát triển toàn xã hội chiếm khoảng 30% GDP, tốc độ tăng chỉ số giá tiêu

dùng khoảng 7%. Bên cạnh đó, một số cân đối lớn của nền kinh tế năm 2014 cần được

đảm bảo: cân đối lao động và việc làm; cân đối thu, chi ngân sách nhà nước; cân đối

vốn đầu tư phát triển; cân đối xuất nhập khẩu; cán cân thanh toán quốc tế; cân đối về

điện và lương thực….

Thực tế là hầu hết các TCTD đánh giá, các yếu tố nội tại trong quý II/2014 diễn

biến ổn định, tích cực, và dự kiến tiếp tục cải thiện trong cả năm 2014. Trong quý II/2014, các TCTD có xu hướng tập trung nguồn lực vào củng cố chính sách và dịch

vụ chăm sóc khách hàng cũng như cải tiến sản phẩm và nâng cao năng lực quản trị rủi

ro. Trong nhóm yếu tố khách quan, các yếu tố quản lý, điều hành của NHNN như

chính sách tín dụng, lãi suất và tỷ giá, cơ chế quản lý và quy định về an toàn hoạt động

ngân hàng của NHNN đang được các TCTD đánh giá là có nhiều cải tiến nhất và tác

động tích cực đến tình hình kinh doanh của hệ thống ngân hàng. Tuy nhiên, điều kiện

kinh doanh và tài chính của khách hàng được đánh giá là chưa có nhiều thay đổi, trong

khi cầu của nền kinh tế đối với sản phẩm dịch vụ của TCTD vẫn phục hồi chậm. các TCTD nhất quán nhận định, rủi ro của các nhóm khách hàng hiện đang ở mức “bình thường”, nhìn chung không có biến động nhiều trong quý II/2014 cũng như trong những quý tiếp theo. Đặc biệt, nhóm khách hàng là “các TCTD khác” được đánh giá

có mức rủi ro thấp nhất và được kỳ vọng tiếp tục giảm rủi ro trong quý III/3014 cũng như cả năm 2014. Nhóm khách hàng là các “doanh nghiệp nhà nước” được đánh giá là tiếp tục có chuyển biến tích cực theo hướng giảm rủi ro. [15]

Tăng trưởng kinh tế Việt Nam năm 2014 được dự đoán có nhiều khả năng sẽ

hồi phục nhưng sẽ thiếu bền vững nếu những tồn tại mang tính cơ cấu của nền kinh tế

49

chưa được giải quyết, như yếu kém về cơ sở hạ tầng, chất lượng nguồn nhân lực thấp,

ngành công nghiệp hỗ trợ chưa phát triển, bất cập tồn tại trong hệ thống luật pháp,

chính sách… Năm 2014 cũng tiềm ẩn nhiều nguy cơ lạm phát cao do tác động trễ của

những chính sách tháo gỡ khó khăn sản xuất kinh doanh năm 2013.

Năm 2014, hệ thống NHTM nói chung và Chi nhánh nói riêng sẽ vẫn phải đối

mặt với nhiều khó khăn thách thức như sau:

 Mức độ cạnh tranh ngày càng tăng giữa các tổ chức tín dụng về sản phẩm,

chất lượng dịch vụ, thị phần, chính sách…

 Xử lý nợ xấu là vấn đề được quan tâm chính trong năm 2014 và đến năm 2015

xử lý cơ bản được nợ xấu theo Quyết định số 843/QĐ-TTg

 Thông tư 02/2013/TT-NHNN về phân loại nợ có hiệu lực kể từ ngày 01/06/2014 sẽ gây áp lực lớn đối với việc thu hồi nợ, trích lập dự phòng của

các TCTD, NHNN tập trung quyết liệt vào tái cấu trúc hệ thống các TCTD

đến năm 2015.

Với định hướng của Đảng và nhà nước, toàn ngành ngân hàng trong tiến trình hội

nhập quốc tế năm 2014 cần phải hướng đến là:

 Đảm bảo thực hiện tốt nhiệm vụ ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, góp phần xóa đói giảm nghèo và nâng cao đời

sống nhân dân.

 Tạo lập được môi trường pháp lý hoàn chỉnh, phù hợp với thông lệ và chuẩn mực quốc tế nhằm tăng sức cạnh tranh của ngân hàng Việt Nam trên thị

trường tài chính trong nước và ngoài nước, góp phần thúc đẩy tăng trưởng,

đảm bảo an toàn cho hệ thống ngân hàng Việt Nam.

 Nâng cao vai trò của ngành ngân hàng trong việc thúc đẩy triển khai các chủ trương phát triển kinh tế xã hội của Nhà nước như phát triển kinh tế theo

ngành, theo vùng, theo lĩnh vực,… Đảm bảo huy động và phân bổ có hiệu quả nguồn vốn tín dụng ngân hàng, thúc đẩy mạnh mẽ công nghiệp hóa – hiện đại hóa.

 Hiện đại hóa công nghệ ngân hàng, nâng cao năng lực giám sát và quản lý,

nâng cao kỹ năng nghiệp vụ của toàn hệ thống ngang tầm khu vực.

 Từng bước tạo sân chơi bình đẳng, cạnh tranh lành mạnh với môi trường quản lý minh bạch, chủ động mở cửa thị trường tài chính, tham gia hội nhập quốc tế.

50

3.1.2 Định hướng hoạt động tín dụng tại NHNo&PTNT chi nhánh Hoàng Quốc

Việt

Định hướng chung của NHNo&PTNT Việt Nam:

 Tập trung xây dựng NHNo&PTNT Việt Nam thành tập đoàn tài chính.

 Huy động tối đa nguồn vốn trong và ngoài nước để phục vụ đầu tư kinh tế,

đặc biệt phát triển nông nghiệp, nông thôn.

 Duy trì mức tăng trưởng tín dụng hợp lý kết hợp với phát triển và mở rộng các

sản phẩm dịch vụ khác.

 Mở rộng cho vay khép kín từ sản xuất đến chế biến, tiêu thụ. Tập trung vào các nông sản hàng hóa xuất khẩu mang lại ngoại tệ cho nền kinh tế như thủy

sản, cà phê, hồ tiêu, điều, cao su, gạo,…

 Không ngừng đổi mới và phát triển công nghệ ngân hàng, cung cấp ngày càng đa dạng các sản phẩm tín dụng, tiện ích và nâng cao chất lượng hoạt động dịch

vụ đáp ứng yêu cầu cạnh tranh và hội nhập kinh tế quốc tế.

Căn cứ vào định hướng chung của NHNo&PTNT Việt Nam mà NHNo&PTNT

chi nhánh Hoàng Quốc Việt đã xây dựng định hướng cụ thể về hoạt động tín dụng trong thời gian tới như sau: mở rộng tín dụng trên cơ sở đảm bảo an toàn, chất lượng,

đáp ứng nhu cầu vay vốn của khách hàng, giải quyết những khoản nợ quá hạn cũ,

không để phát sinh tăng các khoản nợ quá hạn, nợ xấu, nợ có khả năng mất vốn. Giữ

vững thị trường khách hàng truyền thống, đặc biệt là các khách hàng có uy tín nhiều

năm với ngân hàng, đồng thời không ngừng mở rộng ra các đối tượng khách hàng khác

thông qua đa dạng hóa các sản phẩm cho vay, tăng cường cho vay bán lẻ, quảng bá

hình ảnh của ngân hàng trên các phương tiện thông tin đại chúng. Cụ thể là:

 Chuyển hướng đầu tư cho vay từ các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế chủ yếu

sang cho vay tư nhân cá thể.

 Tập trung khai thác và mở rộng cho vay các thành phần kinh tế hoạt động kinh doanh có hiệu quả, dự án khả thi, tình hình tài chính lành mạnh, đáp ứng đầy đủ quy định về vay vốn chú trọng khai thác đầu tư đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa, các hộ sản xuất.

 Tiến hành phân loại dư nợ cho vay, phân tích chất lượng dư nợ cho vay đồng thời có các biện pháp tháo gỡ khó khăn cho các đơn vị vay vốn, tạo ra năng lực sản xuất kinh doanh, năng lực tài chính cho các doanh nghiệp, các tổ chức

kinh tế, phấn đấu giảm thấp tỷ lệ nợ quá hạn và đảm bảo luôn ở mức dưới 5%, nợ xấu dưới 3%.

51

 Tiếp tục tìm mọi giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng, rà soát hoàn chỉnh hồ sơ 100% khách hàng đang còn dư nợ. Tập trung tìm mọi giải pháp thu hồi nợ

đã xử lý rủi ro. Thực hiện nghiêm chỉnh việc kiểm tra trước, trong và sau khi cho vay.

 Thực hiện quan điểm kinh doanh vì mục tiêu lợi nhuận và tối đa hóa lợi nhuận kết hợp với thực hiện chính sách kinh tế - xã hội để tạo ra thế và lực trong kinh doanh. Đây là mục tiêu chính xuyên suốt trong quá trình hoạt động tín dụng.

3.2 GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG

NNO&PTNT CHI NHÁNH HOÀNG QUỐC VIỆT

Trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Thương mại bao giờ hoạt động tín dụng cũng là một loại hình nghiệp vụ đem lại nguồn thu nhập lớn nhất cho ngân hàng,

như vậy Ngân hàng Thương mại cần tập trung điều hành hoạt động tín dụng hết sức

chặt chẽ nhằm nâng cao chất lượng tín dụng để nó đạt ở mức tốt nhất. Để nâng cao

chất lượng tín dụng của NHNo&PTNT Chi nhánh Hoàng Quốc Việt tác giả xin đưa ra

một số ý kiến đề xuất như sau:

3.2.1 Từng bước hoàn thiện công tác quản lý rủi ro tín dụng

Như chúng ta đã biết lĩnh vực kinh doanh có liên quan tới tiền tệ - tín dụng

ngân hàng luôn thường trực rủi ro có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Rủi ro xảy ra ngân

hàng là đối tượng phải chịu tổn thất. Vì vậy, cần phải có những dự báo để phòng tránh

rủi ro có thể xảy ra đồng thời có những biện pháp cụ thể giải quyết hậu quả của rủi ro

tín dụng để hạn chế việc phát sinh nợ xấu.

Để nâng cao chất lượng công tác quản lý rủi ro cần thực hiện một số giải pháp

sau:

Thứ nhất, hoàn thiện bộ máy giám sát rủi ro của Chi nhánh trên cơ sở thành lập

một bộ phận độc lập có chức năng quản lý, giám sát rủi ro cho Chi nhánh, nhận diện

và phát hiện rủi ro, phân tích và đánh giá các mức độ rủi ro trên cơ sở các chỉ tiêu, tiêu

thức được xây dựng, đồng thời đề ra các biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn giảm thiểu rủi ro.

Thứ hai, cần có những phản ứng kịp thời, nhanh chóng đưa ra các giải pháp hợp lý để đối phó với những yếu tố tác động từ bên ngoài như sự thay đổi về cơ chế, chính

sách của nhà nước, tác động của nền kinh tế thị trường trong và ngoài nước… đặc biệt là các yếu tố bất khả kháng tác động cần nhanh chóng được khắc phục giảm bớt ảnh hưởng tiêu cực tới hoạt động của Chi nhánh.

Thứ ba, phân tán rủi ro tín dụng thông qua việc đa dạng hóa các hình thức cho vay. Việc đa dạng hóa các hình thức cho vay sẽ đáp ứng nhu cầu khác nhau trong nền

52

kinh tế, giúp Chi nhánh lựa chọn khách hàng. Việc tập trung vào một số khách hàng

lớn đang có giao dịch bất chấp những quy định về phân tán rủi ro khiến nguy cơ sụp

đổ cùng với những thất bại của khách hàng cũng tăng theo.

Thứ tư, tuân thủ các điều kiện bảo hiểm bắt buộc theo quy định của NHNN và

của NHNo&PTNT Việt Nam.

Thứ năm, dự báo những nguy cơ tiềm ẩn và biện pháp phòng ngừa hữu hiệu. Có

thể nói kinh doanh dịch vụ tiền tệ - tín dụng ngân hàng có tính chất đặc thù khác với

hàng hóa kinh doanh bình thường. Ngân hàng dễ trở thành nạn nhân của khách hàng, khi khách hàng lâm vào tình trạng sản xuất kinh doanh thua lỗ hoặc khi khách hàng là

nạn nhân của các vụ lừa đảo thì sẽ mất khả năng trả nợ dẫn đến rủi ro tín dụng, ngân

hàng không thu hồi được vốn. Vì vậy, hoạt động cho vay của ngân hàng luôn tiềm ẩn

rủi ro, Chi nhánh cần tổ chức tốt công tác dự báo rủi ro tiềm ẩn và biện pháp phòng ngừa hữu hiệu để giảm thiểu tới mức thấp nhất rủi ro có thể xảy ra.

Thứ sáu, tham khảo và áp dụng tiêu chuẩn quản trị rủi ro mới theo Basel II. Áp

dụng tiêu chuẩn quản trị rủi ro mới theo Basel II là một trong những mối quan tâm

hàng đầu của các ngân hàng hiện nay. Đứng trước yêu cầu tăng cường công tác quản

trị rủi ro từng bước phù hợp với các chuẩn mực và thông lệ quốc tế, cùng với yêu cầu

tuân thủ Basel II của NHNN, nhiều NHTM đã và đang tích cực triển khai phân tích

khoảng cách, xây dựng lộ trình thực hiện và bước đầu củng cố khuôn khổ quản trị rủi ro ngân hàng trong các lĩnh vực chủ chốt như rủi ro tín dụng, thị trường và tác nghiệp

với sự hỗ trợ của các công ty tư vấn toàn cầu. Tại Việt Nam, hiện mới có 10 ngân hàng

được lựa chọn để thí điểm áp dụng các tiêu chuẩn của Basell II. Với việc tuân thủ các

chuẩn mực quốc tế, hoạt động của hệ thống ngân hàng Việt Nam sẽ ngày càng lành

mạnh hơn, khả năng cạnh tranh của các ngân hàng sẽ ngày càng được nâng cao hơn và

tính an toàn hoạt động cũng ngày càng đảm bảo hơn. Ủy ban Basel đã ban hành 17

nguyên tắc về quản lý nợ xấu mà thực chất là đưa ra các nguyên tắc trong quản trị rủi

ro tín dụng, đảm bảo tính hiệu quả và an toàn trong hoạt động cấp tín dụng. Các

nguyên tắc này tập trung vào các nội dung cơ bản sau đây:

- Xây dựng môi trường tín dụng thích hợp (3 nguyên tắc): Hội đồng quản trị phải thực hiện phê duyệt định kỳ chính sách rủi ro tín dụng, xem xét rủi ro tín dụng và xây

dựng một chiến lược xuyên suốt trong hoạt động của ngân hàng (tỷ lệ nợ xấu, mức độ chấp nhận rủi ro…). Ban tổng giám đốc có trách nhiệm thực hiện các định hướng mà Hội đồng quản trị phê duyệt và phát triển các chính sách, thủ tục nhằm phát hiện, đo

lường, theo dõi và kiểm soát nợ xấu trong mọi hoạt động, ở cấp độ của từng khoản tín

dụng và cả danh mục đầu tư. Các ngân hàng cần xác định và quản lý rủi ro tín dụng trong mọi sản phẩm của mình.

53

- Thực hiện cấp tín dụng lành mạnh (4 nguyên tắc): Các ngân hàng phải hoạt

động trong phạm vi các tiêu chí cấp tín dụng lành mạnh được xác định rõ ràng. Ngân

hàng cần xây dựng các hạn mức tín dụng cho từng loại khách hàng vay vốn và nhóm

khách hàng vay vốn để tạo ra các loại hình rủi ro khác nhau nhưng vẫn có thể theo dõi được trên sổ sách kế toán kinh doanh, nội bảng và ngoại bảng. Ngân hàng cần có quy

trình rõ ràng trong việc phê duyệt các khoản tín dụng mới cũng như sửa đổi, gia hạn,

tái cơ cấu, tái tài trợ cho các khoản tín dụng hiện tại. Việc cấp tín dụng cần được thực

hiện trên cơ sở giao dịch công bằng giữa các bên.

- Duy trì một quá trình quản lý, đo lường và theo dõi tín dụng phù hợp (10

nguyên tắc): Các ngân hàng cần có hệ thống quản lý một cách cập nhật đối với các

danh mục đầu tư có rủi ro tín dụng, cần có hệ thống theo dõi điều kiện của từng khoản

tín dụng, bao gồm mức độ đầy đủ của dự phòng và dự trữ. Khuyến khích ngân hàng phát triển và sử dụng hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ trong quản lý rủi ro tín dụng.

Ngân hàng cần có hệ thống thông tin và các kỹ thuật phân tích để đo lường được rủi

ro tín dụng trong mọi hoạt động nội và ngoại bảng; phải có hệ thống theo dõi cơ cấu

và chất lượng của toàn bộ danh mục đầu tư tín dụng; cần có hệ thống khắc phục sớm

đối với các khoản tín dụng xấu, quản lý các khoản tín dụng có vấn đề. Các chính sách

rủi ro tín dụng của ngân hàng cần chỉ rõ cách thức quản lý các khoản tín dụng có vấn

đề.

Tuy theo ước tính khi thực hiện Basel, các ngân hàng sẽ phải tốn khoảng 5-10

triệu USD để xây dựng khung quản lý rủi ro (bao gồm chính sách, quy trình, các công

cụ đo lường, theo dõi, báo cáo) và khoản chi phí mua sắm cho hệ thống công nghệ

thông tin, có thể lên tới 50 triệu USD, đây là một khoản kinh phí không nhỏ cho ngân

hàng, song việc này về lâu dài sẽ giúp ngân hàng nâng cao được chất lượng tín dụng,

giảm nợ xấu, nâng cao hiệu quả kinh doanh của ngân hàng...

3.2.2 Chú trọng công tác marketing

Marketing ngân hàng thuộc nhóm marketing kinh doanh là một hệ thống tổ chức quản lý của một ngân hàng để đạt được mục tiêu đề ra là thoả mãn tốt nhất nhu cầu về vốn, về các dịch vụ khác của ngân hàng đối với nhóm khách hàng lựa chọn bằng các chính sách, biện pháp hướng tới mục tiêu cuối cùng là tối đa hoá lợi nhuận.

Thực tế cho thấy công tác tiếp thị, giới thiệu sản phẩm, quảng bá hình ảnh chưa thực sự coi trọng. Điều này cũng xuất phát từ việc ngân hàng đưa ra các sản phẩm dịch vụ còn đơn lẻ, chưa mạnh dạn đưa ra các sản phẩm dịch vụ mới. Do đó, chưa xây dựng

được một hình ảnh riêng của ngân hàng. Việt Nam gia nhập WTO, thị trường tài chính dần tiến tới mở cửa hoàn toàn, cuộc cạnh tranh sẽ gay gắt hơn khi có nhiều ngân hàng

54

mới trong nước và nước ngoài thành lập. Do vậy, công tác marketing tiếp thị hình ảnh

và sản phẩm của Chi nhánh cần có một số giải pháp sau:

 Thành lập phòng nghiên cứu thị trường, phát triển sản phẩm mới phù hợp với

nhu cầu của các khách hàng

 Giới thiệu sản phẩm thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, tích cực

công tác P.R để tiếp thị hình ảnh ngân hàng

 Mở rộng các dịch vụ chăm sóc khách hàng, dịch vụ hậu mãi

 Nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng:

+ Nâng cao năng lực tài chính: mở rộng nguồn vốn chủ sở hữu thông qua bán

cổ phần cho đối tác chiến lược, nâng cao khả năng sinh lời, khả năng phòng ngừa và

chống đỡ rủi ro

 Nâng cao năng lực hoạt động bao gồm: nâng cao khả năng huy động vốn,

khả năng cho vay và đầu tư, khả năng phát triển sản phẩm dịch vụ

 Tăng cường ứng dụng khoa học công nghệ trong quản lí và kinh doanh

 Nâng cao năng lực quản trị và điều hành

 Nâng cao danh tiếng và uy tín.

NHNo&PTNT Việt Nam là một trong những ngân hàng có uy tín hàng đầu tại

Việt Nam, đây là tiền đề quan trọng để Chi nhánh có thể thực hiện tốt công cụ

marketing tại Chi nhánh. Khách hàng sẽ biết và tìm đến với Chi nhánh nhiều hơn, khi

đó Chi nhánh có quyền lựa chọn thực hiện các hợp đồng tín dụng đối với các khách

hàng tốt nhất (hoạt động kinh doanh ổn định, tài sản đảm bảo lớn, dự án có mức độ

khả thi cao, nhiều nguồn thanh toán nợ…).

3.2.3 Nâng cao trình độ cán bộ công nhân viên

Như chúng ta đã biết, việc khó tiếp cận nguồn vốn tín dụng là do các khách hàng

không đủ tài sản để thế chấp cho các khoản vay trong khi nhiều dự án vẫn có tính khả

thi cao. Thực tiễn cho thấy rằng, một trong những vấn đề có tính quyết định đến chất lượng thẩm định cho vay phụ thuộc vào chất lượng các công việc từ hoạch định chính sách đến việc thẩm định dự án, xét duyệt, cho vay, thu nợ trong đó con người là chủ thể của mọi hoạt động. Cán bộ tín dụng là những người trực tiếp và cũng là người đầu

tiên tiếp xúc với doanh nghiệp cũng như phương án sản xuất kinh doanh, dự án đầu tư. Do vậy, để thực hiện mở rộng tín dụng ngân hàng cần phải coi phương án, dự án sản

xuất kinh doanh hiệu quả và có tính khả thi cao là quan trọng nhất để cấp tín dụng, còn

tài sản đảm bảo chỉ đóng một vai trò chủ yếu để tháo gỡ khó khăn cho các khách hàng. Muốn vậy, mỗi cán bộ tín dụng cần phải có khả năng và những kỹ năng cần thiết để thấy được phương án, dự án sản xuất kinh doanh khả thi và có hiệu quả. Để làm được 55

điều này, về công tác tuyển chọn, tổ chức sử dụng cán bộ của ngân hàng cần đáp ứng

được những yêu cầu sau:

 Cán bộ tín dụng phải là người có phẩm chất đạo đức nghề nghiệp cao, trung thực, có trách nhiệm và tâm huyết với công việc cũng như đối với Chi nhánh.

 Cán bộ tín dụng phải có kiến thức chuyên môn vững vàng, được đào tạo bồi dưỡng chu đáo về kiến thức chuyên môn, am hiểu thị trường, pháp luật, chuyên môn hoá trong thẩm định từng ngành, nghề và từng đối tượng khách

hàng.

 Kiên quyết loại bỏ các cán bộ yếu về tư cách đạo đức, không trung thực và thuyên chuyển cán bộ sang bộ phận công tác khác nếu thiếu kiến thức về

chuyên môn nghiệp vụ.

 Nắm bắt những điểm mạnh cũng như hạn chế về chuyên môn, nghiệp vụ của mỗi cán bộ, nhân viên tín dụng để phân công công việc phù hợp với khả năng

của mỗi người.

 Về công tác đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ nhân viên tín dụng: Chi nhánh nên tổ chức thường xuyên các buổi sinh hoạt chuyên đề để phổ biến, trao đổi về các công văn, chế độ mới trong và ngoài ngành để mỗi cán bộ tín dụng có thể

nắm bắt và trao đổi lẫn nhau để hiểu sâu hơn. Chủ động liên kết với các

trường Đại học để thường xuyên tổ chức các lớp bồi duỡng phân tích khách

hàng, thẩm định dự án đầu tư… Chi nhánh cũng nên tạo điều kiện thuận lợi

mời các chuyên gia giỏi vào làm hoặc công tác tại ngân hàng giúp Chi nhánh

phát triển tốt và để cán bộ của Chi nhánh rút kinh nghiệm từ công việc của họ,

đây là một hình thức đào tạo tại chỗ cho cán bộ.

3.2.4 Thực hiện tốt quy trình quản lý tín dụng và thẩm định tín dụng chặt chẽ

Bản thân hoạt động tín dụng luôn chứa đựng nguy cơ rủi ro tiềm ẩn, chính vì vậy,

các ngân hàng khi xem xét cho vay đều phải thực hiện nghiêm ngặt quy trình quản lý

tín dụng: từ khâu thẩm định, giải ngân cho vay đến các khâu kiểm tra trước và sau khi cho vay… Việc thực hiện và quản lý nghiêm ngặt quy trình quản lý tín dụng sẽ giúp cho ngân hàng tránh được rủi ro các khoản nợ xấu phát sinh, phát hiện và chấn chỉnh kịp thời các sai phạm và các thiếu sót trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng

Để hạn chế tối đa các yếu tố chủ quan và các biểu hiện tiêu cực trong việc thẩm định xét duyệt cho vay, đảm bảo tính khách quan, kịp thời phát hiện các khách hàng kém hiệu quả, dự án kém khả thi. NHNo&PTNT Chi nhánh Hoàng Quốc Việt cần cải tiến và đổi mới quy trình xét duyệt thẩm định và cho vay, kiểm tra giám sát tình hình luân chuyển vốn vay.

56

Theo quy trình tín dụng, hồ sơ cho vay trước khi trình lãnh đạo ký duyệt cần

phải được kiểm tra, xem xét toàn diện, chính xác và khách quan từ khâu lập hồ sơ,

phân tích năng lực điều hành quản lý của chủ doanh nghiệp, tính khả thi của dự án, giá

trị tài sản thế chấp, biện pháp thu hồi nợ. Do vậy, nếu để cho một cán bộ tín dụng đảm nhiệm tất cả các khâu như hiện nay thì không tránh khỏi những sai sót do trình độ

nghiệp vụ, yếu tố chủ quan kinh nghiệm của mỗi cán bộ tín dụng là khác nhau. Vì vậy,

bộ phận tín dụng phòng kế hoạch kinh doanh nên chia ra hai mảng:

Một là: Bộ phận quản lý doanh nghiệp có trách nhiệm hướng dẫn khách hàng làm thủ tục và điều kiện vay vốn, tiếp nhận các hồ sơ vay vốn của khách hàng, phân

loại hồ sơ để xem xét và đánh giá. Bộ phận này chuyên quản lý doanh nghiệp, thường

xuyên theo dõi, kiểm tra tình hình sử dụng vốn vay, tài sản thế chấp, kết quả sản xuất

kinh doanh của doanh nghiệp, những thuận lợi, khó khăn để từ đó đề xuất ý kiến, biện pháp giải quyết đối với từng phương án vay vốn. Bộ phận này thường xuyên xuống

nơi làm việc để nắm rõ tình hình thực tế về báo cáo cho lãnh đạo và bộ phận thẩm định

để theo dõi và chỉ đạo.

Hai là: Bộ phận thẩm định tín dụng hoạt động độc lập với bộ phận trên. Bộ

phận này chủ yếu làm việc tại ngân hàng, có nhiệm vụ phân tích xem xét dự án vay

vốn về mọi mặt, phân tích khả năng trả nợ của khách hàng. Bộ phận này có thể xuống

doanh nghiệp nắm tình hình thực tế và kiểm tra tài sản thế chấp cầm cố khi thẩm định dự án, căn cứ vào ý kiến đề xuất của bộ phận quản lý doanh nghiệp để đưa ra các

phương án xử lý các vụ việc liên quan đến vốn vay. Trong bộ phận này, Chi nhánh nên

tuyển thêm một số cán bộ hiểu sâu về một số lĩnh vực cụ thể như điện, máy móc, thiết

bị giao thông,… để giúp cho công tác thẩm định đánh giá về các yếu tố kỹ thuật được

đúng đắn và chính xác, nhanh chóng.

Hai bộ phận này cần có sự phối hợp đồng bộ, nhịp nhàng vì nếu như một công

đoạn nào đó thực hiện không đúng quy định sẽ ảnh hưởng đến công đoạn sau và kết

quả của toàn bộ công việc. Trong quy trình tín dụng, NHNo&PTNT Chi nhánh Hoàng

Quốc Việt cần tập trung vào bước thẩm định dự án và kiểm soát vốn sau khi vay. Nâng cao hiệu quả khâu thẩm định có tính chất quyết định tới hiệu quả cho vay sau này vì kết thúc khâu thẩm định sẽ đưa ra kết quả là có chấp nhận cho khách hàng vay hay

không. Thẩm định gồm hai bước cơ bản là thu thập thông tin và xử lý thông tin.

Thứ nhất: Thu thập thông tin đầy đủ, kịp thời về khách hàng

Việc thu thập thông tin từ nhiều nguồn khác nhau như phỏng vấn người xin

vay, sổ sách của ngân hàng, các nguồn thu thập từ các doanh nghiệp thông qua báo cáo tài chính, tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp vay vốn, các nguồn thông tin từ dịch vụ, các cơ quan cung ứng thông tin và từ các nguồn khác… Hiện nay có

57

nhiều nguồn thông tin với độ chính xác lẫn lộn nhau. Vì vậy, ngân hàng chọn lựa

thông tin nào là chính xác rất khó. NHNo&PTNT chi nhánh Hoàng Quốc Việt chủ yếu

thu thập thông tin từ phía khách hàng thông qua phỏng vấn trực tiếp, báo cáo tài chính,

báo cáo kết quả kinh doanh và cũng có trường hợp ngân hàng cử cán bộ tới tận nơi sản xuất kinh doanh của khách hàng. Tuy nhiên nếu chỉ thu thập nguồn tin từ phía khách

hàng thì không có độ tin cậy cao vì chúng ta biết rằng khách hàng luôn muốn vay ngân

hàng một cách nhanh chóng nên thường xuyên xảy ra hiện tượng thiếu trung thực khi

đưa ra những thông tin về mình. Vì vậy, Chi nhánh cần mở rộng phạm vi thu thập những nguồn thông tin khác nhưng phải biết chọn lọc để tránh hiện tượng “loãng

thông tin”. Chi nhánh cần chú ý tới những nguồn sau:

- Cần chú trọng tới việc cử cán bộ có kiến thức nghiệp vụ ngân hàng và có kiến

thức chuyên môn của ngành nghề lĩnh vực mà khách hàng đang kinh doanh đến tận địa bàn sản xuất của doanh nghiệp. Có thể tiến hành phỏng vấn trực tiếp với khách hàng,

điều tra tại nơi hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng, kết hợp với những

thông tin do khách hàng cung cấp như báo cáo tài chính tình hình sản xuất kinh doanh.

Việc đi khảo sát cơ sở là rất cần thiết nhưng một số cán bộ tín dụng tại Chi nhánh còn

xem nhẹ, cho khách hàng vay vốn chủ yếu dựa trên giấy tờ, báo cáo từ phía khách

hàng, không đến tận địa bàn sản xuất của doanh nghiệp đế sát thực, hoặc có đến địa

bàn nhưng không tìm hiểu kỹ, dẫn đến rủi ro lớn cho ngân hàng. Vì vậy, trong thời gian tới, các cán bộ tín dụng của Chi nhánh phải thường xuyên tiếp cận, nắm bắt thông

tin về khách hàng, phải thực sự đi sâu sát vào doanh nghiệp mới có thể thu được

những thông tin đáng tin cậy.

- Chi nhánh phải thường xuyên theo dõi những thông tin được cung cấp từ hệ

thống thông tin tín dụng của NHNN và NHNNo&PTNT Việt Nam. Hệ thống thông tin

này được đánh giá là đáng tin cậy vì do Nhà nước quản lý. Tuy nhiên, hiện tại Chi

nhánh chưa thực sự khai thác sử dụng một cách có hiệu quả kênh thông tin này. Một

phần cũng là do hệ thống này chưa được hoàn thiện và đầy đủ cả về số lượng và chất

lượng. Thông tin thu được từ nguồn này mới chỉ có về tình hình dư nợ và nợ quá hạn phải thanh toán của doanh nghiệp tại các ngân hàng, các thông tin về thị trường, về kinh tế, xã hội… hầu như rất. Bên cạnh đó, các ngân hàng còn chưa thực sự tuân thủ chặt chẽ yêu cầu cung cấp thông tin.

- Chi nhánh cần có bộ phận quản lý riêng các hồ sơ giấy tờ của khách hàng kể cả với những khách hàng tạm thời không có quan hệ tín dụng với ngân hàng. Đây cũng sẽ

là nguồn thông tin quan trọng trong nhiều trường hợp cần thiết.

- Chú trọng nguồn thông tin đại chúng vì đây là nguồn thông tin quan trọng nhất. Mặt khác, Chi nhánh cần có sự hợp tác và trao đổi thường xuyên với những tổ chức tín

58

dụng khác, các cơ quan, tổ chức chính quyền địa phương và giữ tốt mối quan hệ với

khách hàng vì đôi khi họ có thể cung cấp cho chúng ta những thông tin quý báu.

- Tổ chức tốt hội nghị khách hàng định kỳ hàng năm nhằm mục đích tổng kết,

tăng cường mối quan hệ phối hợp giữa ngân hàng và khách hàng, thông tin về những sản phẩm, dịch vụ đến khách hàng, những thay đổi về quy chế mới của Chi nhánh để

khách hàng nắm bắt và sử dụng. Đồng thời thông qua hội nghị khách hàng tiếp thu ý

kiến của khách hàng để nắm bắt thông tin về nhu cầu khách hàng, khắc phục những

tồn tại yếu kém trong hoạt động kinh doanh, tăng sức cạnh tranh trên thị trường.

Thứ hai: Phân tích thông tin tín dụng

Khi có được thông tin cần thiết thì việc lựa chọn khách hàng là rất quan trọng.

Điều này hạn chế rủi ro cho ngân hàng, đảm bảo vốn cho vay ra thu hồi đầy đủ, đúng

hạn và có lãi, góp phần nâng cao chất lượng tín dụng của ngân hàng. Khi lựa chọn khách hàng, Chi nhánh cần chú ý chọn khách hàng có hoạt động kinh doanh hiệu quả,

làm ăn có uy tín và sẵn lòng trả nợ đúng hạn. Chi nhánh có thể xem xét quan hệ kinh

doanh của khách hàng với các tố chức kinh tế khác qua nhiều năm để có cơ sở đánh

giá mức độ, uy tín của khách hàng. Việc lựa chọn khách hàng phải được thực hiện một

cách chủ động, Chi nhánh không nên bị động, ngồi chờ khách hàng đến gõ cửa xin

vay. Để lựa chọn khách hàng được khoa học, Chi nhánh nên tiến hành phân tích và

xếp loại các doanh nghiệp theo bốn nhóm tiêu thức: quy mô doanh nghiệp, khả năng thanh toán, quan hệ tín dụng và hiệu quả sản xuất kinh doanh

Hiện đại hóa công nghệ ngân hàng 3.2.5

Công nghệ ngân hàng là một trong những chìa khóa để nâng cao chất lượng

phục vụ khách hàng, từ đó góp phần nâng cao chất lượng tín dụng. Để có thể phát huy

vai trò của mình cũng như tiến tới hội nhập thị trường ngân hàng tài chính khu vực,

NHNo&PTNT chi nhánh Hoàng Quốc Việt cần từng bước tăng cường cơ sở vật chất,

đổi mới công nghệ thông tin:

 Từng bước tăng cường cơ sở vật chất: Đây là một trong những yếu tố quan trọng tạo niềm tin và hình ảnh của ngân hàng. Trong những năm tới NHNo&PTNT chi nhánh Hoàng Quốc Việt tiếp tục củng cố nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động kinh doanh của các điểm giao dịch hiện có, nâng

cấp một số phòng giao dịch, đa dạng hóa các hoạt động dịch vụ tại các điểm giao dịch nhằm thu hút nguồn vốn nhàn rỗi và phát triển các dịch vụ.

 Tăng cường đổi mới công nghệ thông tin: Hoạt động kinh doanh của Ngân hàng muốn đạt hiệu quả cao và an toàn thì cần phải xây dựng một hệ thống thông tin hiện đại, trực tuyến, trang bị, nâng cấp máy móc thiết bị tin học, từng

bước hiện đại hóa công nghệ thông tin nhằm nâng cao chất lượng phục vụ, đáp

59

ứng yêu cầu quản lý và tăng sức mạnh cạnh tranh. NHNo&PTNT chi nhánh

Hoàng Quốc Việt đã được trang bị phần mềm IPCAS giai đoạn II, phần mềm

này khá hiện đại nhưng còn đang trong thời kỳ hoàn thiện. Trong thời gian tới

NHNo&PTNT chi nhánh Hoàng Quốc Việt cần hoàn thiện chương trình IPCAS nhằm đạt được hiệu quả tối ưu để phục vụ hoạt động kinh doanh của

Chi nhánh. Bên cạnh đó Chi nhánh cần mở các các khoá đào tạo ngắn hạn,

nâng cao trình độ cho cán bộ nhân viên, thích ứng nhanh với các máy móc và

trang thiết bị mới.

3.2.6 Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát

Để nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng Chi nhánh cần thường xuyên tổ chức các

cuộc kiểm tra tại hội sở Chi nhánh, các phòng giao dịch trực thuộc Chi nhánh để kịp

thời khắc phục và ngăn ngừa những sai sót phát sinh, tránh những sai sót được lặp đi lặp lại nhiều lần. Trong công tác kiểm tra, lĩnh vực sản xuất, kinh doanh thương mại

được đặc biệt quan tâm do đặc thù lĩnh vực này có nhiều biến động, đòi hỏi ngân hàng

sau khi cho vay phải theo sát, nắm vững tình hình trên cơ sở đó đưa ra những biện

pháp quản lý phù hợp. Đối tượng thường được quan tâm trong các cuộc kiểm tra

không chỉ dừng lại ở mặt hồ sơ mà còn phải kiểm tra thực tế tình hình kinh doanh của

khách hàng, tình hình thực hiện phương án kinh doanh, thực trạng tài sản đảm

bảo…Việc làm này có ý nghĩa quan trọng trong công tác tín dụng.

Do các cán bộ không được cung cấp đầy đủ và thường xuyên thông tin từ phía khách

hàng nên cán bộ tín dụng phải tập trung triệt để khai thác thông tin từ những lần tiếp

xúc với khách hàng khi họ đến ngân hàng trả lãi, khi cán bộ tín dụng đến thăm trực

tiếp cơ sở sản xuất kinh doanh của khách hàng để biết được phương án xin vay so với

thực tế. Đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng, hoạt động kinh doanh theo chiêù

hướng tốt hay xấu và giá trị thực tế của tài sản đảm bảo nợ vay ra sao.

Trong quá trình giám sát, nếu có phát hiện khách hàng sử dụng vốn vay sai mục đích

cán bộ giám sát có thể kiến nghị thu hồi nợ trước hạn hoặc chuyển nợ quá hạn. Như vậy, kiểm tra giám sát tín dụng được thực hiện trước, trong và sau để xác định xem khách hàng có khả năng trả nợ không, có thực hiện đúng theo hợp đồng tín dụng không, là cơ sở để đánh giá chất lượng khoản vay, trích lập dự phòng và xử lý rủi ro

tín dụng. Sau khi kiểm tra tín dụng (bao gồm kiểm tra của Chi nhánh, của NHNo&PTNT Việt Nam, NHNN và các cuộc kiểm tra, thanh tra khác) Chi nhánh tổ chức kiểm điểm lại những việc sai sót từ đó có biện pháp khắc phục kịp thời.

60

3.2.7 Một số giải pháp khác

Tăng cường công tác thu hồi nợ và chủ động giải quyết nợ có vấn đề 3.2.7.1

Vấn đề này sẽ không phải đặt ra nếu khoản tín dụng được hoàn trả đầy đủ và

đúng hạn. Không thu được vốn đúng hạn hoặc đầy đủ như cam kết ban đầu là điều không ai mong muốn. Để ngăn chặn nợ quá hạn trước hết cần chấn chỉnh lại các thiếu

sót ở các khâu trong quá trình cho vay, thiết lập bổ sung đầy đủ hồ sơ pháp lý, hạn chế

đến mức tối đa những kẽ hở trong khâu nghiệp vụ để phòng lừa đảo, chiếm đoạt vốn

của ngân hàng. Trong trường hợp phát hiện một khoản vay có vấn đề, việc đầu tiên mà cán bộ tín dụng phải làm là xác định tính nghiêm trọng của vấn đề thông qua việc kiểm

tra, phân tích từ các nguồn thông tin khác nhau. Ngân hàng có thể dựa vào kết quả

phân ích để đưa ra các biện pháp xử lý thích hợp.

Đối với những khoản vay có vấn đề được xác định là có mức nghiêm trọng tương

đối thấp thì ngân hàng có thể sử dụng nhóm biện pháp sau:

 Tư vấn cho khách hang nhằm khôi phục tình hình tài chính: thông qua hoạt động này ngân hàng có thể tư vấn cho khách hàng nhằm thực hiện các biện

pháp thích hợp để khôi phục tình hình tài chính của khách hàng. Cụ thể là cán

bộ tín dụng có thể trực tiếp tư vấn hoặc mời chuyên gia tư vấn cho khách hàng

chính sách kinh doanh. Đối với các doanh nghiệp gặp khó khăn do theo đuổi

chính sách mở rộng hoạt động kinh doanh quá mức, ngân hàng có thể tư vấn

cho khách hàng nên tạm dừng kế hoạch này cho đến khi tình hình tài chính

được cải thiện. Khuyến khích các doanh nghiệp thu hồi các khoản nợ chậm trả

tức là giảm bớt lượng vốn đang bị chiếm dụng.

 Gia hạn nợ cho khách hàng: biện pháp này sẽ giúp khách hàng duy trì hoạt

động đồng thời giúp ngân hàng thu hồi đầy đủ khoản tín dụng sau này.

 Cho vay thêm: trong trường hợp phương án đầu tư của khách hàng đang gặp khó khăn, có thể ảnh hưởng đến việc thu nợ mà nguyên nhân chủ yếu là do

thiếu vốn và ngân hàng xem xét thấy khả năng phương án đó có thể phát triển tốt nếu được đầu tư thêm vốn. Trường hợp này cán bộ tín dụng phải tiến hành giám sát chặt chẽ phương án sản xuất kinh doanh, từng khoản chi phí, điều phối các cán bộ tín dụng trực tiếp cùng doanh nghiệp điều hành phương án

cho có hiệu quả và qua đó thu hồi nợ dần.

Trong trường hợp các biện pháp khác không mang lại hiệu quả khách hàng cố y dây

dưa, để nợ quá hạn kéo dài ngân hàng cần sử dụng những biện pháp cứng rắn, kết hợp

với sự hỗ trợ của chính quyền địa phương, cơ quan chức năng để phát mại tài sản thế chấp, khởi kiện, cưỡng chế để thu hồi nợ.

61

3.2.7.2 Tham gia hợp tác với các tổ chức tín dụng trong và ngoài nước

Ngày nay, xu thế hội nhập kinh tế quốc tế đã trở thành xu thế chung của toàn

thể nhân loại. Nền kinh tế nước ta ngày càng gia nhập sâu, rộng với khu vực và thế

giới những biến động của nền kinh tế thế giới đều ảnh hưởng mạnh mẽ tới nền kinh tế nước ta nói chung và lĩnh vực tài chính ngân hàng nói riêng. Do vậy, cần phải có sự

tham gia hợp tác với các tổ chức lớn trên thế giới tranh thủ sự giúp đỡ về kinh nghiệm,

về chuyển giao khoa học công nghệ tiên tiến áp dụng vào hoạt động tín dụng ngân

hàng đồng thời nắm bắt được những thay đổi trên thị trường thế giới, đây là cơ sở để tìm ra biện pháp phòng tránh và giảm thiểu những tác động tiêu cực ảnh hưởng đến

chất lượng tín dụng của Chi nhánh.

3.2.7.3

Phân tán rủi ro với các tổ chức khác

Khi Chi nhánh gặp những khoản tín dụng dự đoán là chứa đựng nhiều rủi ro, Chi nhánh có thể hạn chế rủi ro bằng cách chuyển rủi ro sang cho một hay nhiều chủ thể

khác đồng thời san sẻ lợi nhuận thu được cho chủ thể đó. Quá trình phân tán rủi ro có

thể được chuyển sang cho chủ thể có khả năng chịu đựng được rủi ro (như công ty bảo

hiểm, các ngân hàng lớn) bằng cách mua bảo hiểm cho vay hay bán rủi ro. Hoặc một

cách phân tán rủi ro nữa là cho vay hợp vốn với ngân hàng khác đối với một dự án.

Việc cho vay hợp vốn giúp Chi nhánh có thể san sẻ một phần rủi ro cho ngân hàng hợp

vốn đồng thời phải chia sẻ lợi nhuận thu được với ngân hàng hợp vốn theo tỷ lệ vốn góp cho vay.

3.3 KIẾN NGHỊ

3.3.1 Kiến nghị đối với Nhà nước, Chính phủ

Hoàn thiện và ổn định các chính sách phát triển kinh tế - xã hội:

Trong những năm vừa qua, Nhà nước đã có những chính sách đúng đắn để

khuyến khích phát triển kinh tế trong nước và đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, tạo

điều kiện cho ngành ngân hàng phát triển. Song để có thể đồng bộ và thống nhất từ các

cấp lãnh đạo cao nhất đến các cấp lãnh đạo địa phương, lãnh đạo các ngành, Nhà nước cần hoàn thiện và ổn định các chính sách phát triển kinh tế - xã hội làm cơ sở tạo môi trường kinh tế và pháp lý thuận lợi cho các Ngân hàng hoạt động kinh doanh có hiệu quả. Đây là yếu tố tạo nên sự yên tâm bỏ vốn đầu tư của các thành phần kinh tế. Có

được sự ổn định môi trường kinh tế vĩ mô, các thành phần kinh tế mạnh dạn hơn trong việc đầu tư chiều sâu, mở rộng các hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ như thế sẽ thu hút được một bộ phận khá lớn nguồn vốn tham gia vào quá trình đầu tư của các

thành phần kinh tế.

Đưa ra các chính sách đầu tư trong nước, tạo môi trường đầu tư hấp dẫn để thu hút vốn đầu tư nước ngoài và phát huy tối đa các tiềm năng của các thành phần kinh tế. 62

Đưa ra các chính sách hỗ trợ cho các doanh nghiệp, các hộ kinh doanh, tổ chức kinh tế

mở rộng và phát triển sản xuất kinh doanh như cho thuê đất xây dựng cơ sở, hỗ trợ về

mặt đào tạo, tìm kiếm thị trường tiêu thụ.

 Tạo lập và hoàn thiện môi trường pháp lý ổn định, đồng bộ, nhất quán cho

hoạt động tín dụng của ngân hàng:

Trong thời gian vừa qua, môi trường pháp lý cho hoạt động cho vay đã được

hoàn thiện, đầy đủ rõ ràng chặt chẽ và phù hợp với thông lệ quốc tệ hơn như:

 Thông tư số 37/2011/TT-NHNN ngày 12/12/2011 Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 17/2011/TT-NHNN ngày 18/8/2011 quy định về việc

cho vay có bảo đảm bằng cầm cố giấy tờ có giá của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đối với các tổ chức tín dụng

 Thông tư số 37/2012/TT-NHNN ngày 28/12/2012 Quy định cho vay bằng ngoại tệ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hành vay là người cư trú.

 Thông tư số 19/2013/TT-NHNN ngày 6/9/2013 Quy định về việc mua, bán và xử lý nợ xấu của Công ty Quản lý Tài sản của các Tổ chức tín dụng.

 Chỉ thị số 03/CT-NHNN ngày 18/7/2013 Về các giải pháp điều hành chính sách tiền tệ, tín dụng và hoạt động ngân hàng trong những tháng cuối năm

2013.

 Thông tư số 39/2013/TT-NHNN ngày 31/12/2013 Quy định về xác định, trích lập, quản lý và sử dụng khoản dự phòng rủi ro của Ngân hàng Nhà

nước Việt Nam.

Những văn bản trên đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc hoạt động và nâng cao

chất lượng, đảm bảo an toàn tín dụng của các Ngân hàng Thương mại. Tuy nhiên để

tiếp tục hoàn thiện hơn nữa thì các cơ quan quản lý nhà nước cần phải ban hành, sửa

đổi các văn bản pháp luật như luật về thế chấp tài sản, luật về quyền sở hữu tài sản, luật đầu tư kinh doanh, về cơ chế vay vốn ngân hàng sao cho cụ thể, đơn giản mà hiệu quả cao. Việc xây dựng các văn bản này theo hướng áp dụng các chuẩn mực và thông lệ quốc tế phù hợp với thực tiễn của Việt Nam và xu hướng phát triển của ngành ngân

hàng trong bối cảnh hội nhập sẽ là tiền đề quan trọng để hệ thống ngân hàng hoạt động lành mạnh, hiệu quả, an toàn và ổn định trong dài hạn.

Về mặt pháp lý, vướng mắc lớn nhất khi khách hàng vay vốn là thủ tục chứng minh quyền sở hữu hợp pháp của tài sản thế chấp cũng như việc xử lý tài sản thế chấp khi có rủi ro xảy ra. Đây là vấn đề nan giải đối với cả ngân hàng cũng như phía khách

hàng, trong khi đó những quy định của pháp luật thiếu tính nhất quán, đồng bộ, không

63

rõ ràng, thiếu sự hợp tác của cơ quan có trách nhiệm khiến cho việc phát mại tài sản

thế chấp gặp nhiều khó khăn, ảnh hưởng đến vốn của ngân hàng. Trong thời gian tới

để khắc phục những hạn chế này đòi hỏi Chính phủ phải:

 Sớm ban hành luật sở hữu và các văn bản hướng dẫn thi hành nhằm xác định rõ về chủ sở hữu tài sản khi liên quan đến thế chấp, cầm cố, bảo lãnh

và chuyển quyền sở hữu khi phát mại tài sản trên. Nghiêm cấm việc cấp

phát và sử dụng nhiều giấy đăng ký quyền sử dụng để cầm cố, thế chấp tại nhiều ngân hàng.

 Quy định cụ thể những vấn đề liên quan đến phát mại tài sản như: quyền và nghĩa vụ của ngân hàng, quyền và nghĩa vụ của các cơ quan, ban ngành có liên quan,…

 Thực hiện nhanh việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các cá nhân, tổ chức sử dụng hợp pháp các tài sản đó để các ngân hàng có thể thực hiện đầy đủ việc thế chấp và đăng ký thế chấp.

 Đồng thời chỉ đạo các cơ quan liên quan nỗ lực hơn nữa trongg việc giúp đỡ ngân hàng giải quyết, xử lý tài sản thế chấp, xử lý khách hàng cố tình chây

lỳ không trả nợ, chiếm đoạt lừa đảo ngân hàng.

 Mặt khác, cần tạo điều kiện hơn nữa cho các tổ chức chuyên trách mua bán nợ, xử lý tài sản thế chấp. Hiện nay, số lượng các công ty mua bán, khai

thác tài sản thế chấp còn rất ít và hoạt động chưa thực sự hiệu quả do đó

ngân hàng gặp nhiều khó khăn trong việc thu hồi xử lý tài sản thế chấp. Vì

vậy, nhà nước cần tạo điều kiện để có thêm nhiều công ty này ra đời giúp

khai thông bế tắc, giảm chi phí thanh lý, tăng tính lỏng cho tài sản thế chấp

nhằm giúp ngân hàng thu hồi vốn cho vay nhanh chóng và hiệu quả hơn.

 Tạo môi trường kinh doanh ổn định, bình đẳng cho hoạt động ngân hàng:

Để thu hút, khuyến khích các doanh nghiệp, các nhà đầu tư bỏ vốn vào sản xuất

kinh doanh thì trước hết nhà nước cần phải tạo ra môi trường bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, các loại hình doanh nghiệp dù lớn hay nhỏ khi đến vay vốn ngân hàng:

 Tạo môi trường kinh doanh bình đẳng giữa các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, đảm bảo sự công bằng trong cạnh tranh. Có chính sách khuyến khích các doanh nghiệp trong nước có chất lượng sản phẩm tốt,

công nghệ sản xuất hiện đại, nhà nước tạo điều kiện về mặt thủ tục cho các doanh nghiệp có sản phẩm xuất khẩu, đồng thời Nhà nước cần có biện pháp

mạnh ngăn chặn hàng nhập lậu không có nguồn gốc, xuất xứ nhằm bảo vệ hàng hóa trong nước cũng như tạo ra môi trường kinh doanh lành mạnh.

64

 Tăng cường công tác giám sát công tác thông tin báo cáo, chế độ hạch toán kinh doanh của các doanh nghiệp bảo đảm tuân thủ nghiêm ngặt pháp lệnh

kế toán thống kê.

 Tách bạch chức năng quản lý, giám sát của một số cơ quan nhà nước với chức năng kinh doanh, tránh tình trạng “vừa đá bóng vừa thổi còi” làm

giảm hiệu lực quản lý của nhà nước…

 Nhà nước cần thành lập cơ quan chuyên trách về xếp hạng tín nhiệm khách

hàng nhằm tăng cường sự quản lý của Nhà nước đối với nền kinh tế:

Cơ quan chuyên trách về xếp hạng tín nhiệm có trách nhiệm thu thập, xử lý, phân

tích thông tin về tình hình tài chính, hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh

nghiệp có đăng ký để tiến hành đánh giá, xếp hạng tín nhiệm đối với những doanh

nghiệp đó. Trên cơ sở bảng tín nhiệm đã được xếp hạng, ngân hàng sẽ căn cứ vào đó

để tham khảo, đánh giá chính xác hơn về khách hàng vay vốn nhằm hạn chế rủi ro và tạo điều kiện thuận lợi cho ngân hàng đưa ra quyết định của mình. Nhà nước cần

khuyến khích và tạo điều kiện cho khách hàng đăng ký xếp hạng, thúc đẩy doanh

nghiệp tự giác nâng cao năng lực của mình, nâng cao chất lượng báo cáo tài chính.

Việc làm này cũng tạo niềm tin cho các doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào Việt

Nam.

3.3.2 Kiến nghị đối với Ngân hàng Nhà nước

Ngân hàng Nhà nước cần rà soát lại các văn bản và khẩn trương hoàn thiện cơ

chế chính sách, hệ thống văn bản pháp quy có đủ khuôn khổ cho việc thực hiện tốt

Luật Ngân hàng Nhà nước, Luật các Tổ chức Tín dụng,… bảo đảm hệ thống ngân

hàng hoạt động an toàn, hiệu quả, năng động. Đổi mới phương thức và thủ tục tín dụng

theo hướng tạo thuận lợi và cơ hội bình đẳng cho các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế có phương án, dự án kinh doanh khả thi được vay vốn ngân hàng. Đặc

biệt, Ngân hàng Nhà nước cần xây dựng chính sách tiền tệ - tín dụng đáp ứng được

yêu cầu của nền kinh tế thị trường; theo dõi chặt chẽ diễn biến kinh tế vĩ mô – tiền tệ, các tín hiệu của thị trường để có điều chỉnh cần thiết trong điều hành chính sách tiền tệ - tín dụng, không để xảy ra những biến động lớn về lãi suất, tỷ giá làm tăng thêm bất lợi cho hoạt động tín dụng ngân hàng, thực hiện các giải pháp điều hành chính sách

tiền tệ thận trọng, linh hoạt, nhằm tạo ra môi trường vĩ mô ổn định, thúc đẩy tăng

trưởng kinh tế, kiềm chế lạm phát…Đẩy nhanh tiến độ hiện đại hóa hệ thống ngân hàng nhất là nghiệp vụ thanh toán tự động qua ngân hàng, bảo đảm nhanh chóng, kịp thời, chính xác. Phát triển mạnh các công cụ và dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt với doanh nghiệp và dân cư. Xúc tiến nhanh và có hiệu quả dự án hiện đại hóa

65

ngân hàng nhằm nâng cao năng lực quản lý, điều hành kinh doanh, phát triển các dịch

vụ mới…

Nhằm từng bước hoàn thiện và phát triển hệ thống thông tin tín dụng ngành ngân

hàng, NHNN Việt Nam cần ban hành quy chế bắt buộc các TCTD và doanh nghiệp có quan hệ tín dụng, cung cấp thông tin tín dụng cho Trung tâm thông tin tín dụng Ngân

hàng Nhà nước (CIC), phải có quy định chế tài khi các tổ chức tín dụng cung cấp

thông tin không đầy đủ, kịp thời, chính xác. Những trường hợp phát hiện thông tin

không chính xác, tổ chức tín dụng đó phải chịu phạt vi phạm hành chính cũng như bồi thường thiệt hại cho ngân hàng nào bị rủi ro do đã sử dụng thông tin không chính xác

đó. Bên cạnh đó cần có quy định khen thưởng đối với các tổ chức tín dụng chấp hành

tốt quy chế hoạt động thông tin tín dụng nhằm động viên các Ngân hàng Thương mại

nâng cao chất lượng thông tin cung cấp. CIC nên tăng cường chức năng kiểm tra tính chính xác, đầy đủ các thông tin do các Ngân hàng Thương mại cung cấp. Trên cơ sở

định kỳ hàng quý CIC nên gửi thông báo đến cho toàn ngành ngân hàng, nhận xét tình

hình chấp hành quy chế, xử phạt hành chính đối với các Ngân hàng thương mại vi

phạm quy chế cung cấp thông tin. Nâng cao năng lực thanh tra, giám sát, kiên quyết

xử lý những đơn vị vi phạm mà không chịu sửa sai. Đặc biệt là kiểm tra, kiểm soát

chặt chẽ đối với các ngân hàng trong việc quy định tỷ lệ dự trữ bắt buộc và trích lập dự

phòng rủi ro nhằm đảm bảo an toàn trong kinh doanh. Thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ và nâng cao vai trò quản lý, giám sát của Ngân hàng Nhà nước đối với các tổ chức

tín dụng để sớm phát hiện và xử lý kịp thời những vướng mắc, kiến nghị, tạo điều kiện

thuận lợi cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng. NHNN nên áp dụng các mức lãi

suất khác nhau cho nợ quá hạn tuỳ thuộc vào nguyên nhân chủ quan hay khách quan.

Có chế tài xử phạt nghiêm khắc đối với các trường hợp cố ý tìm cách gia hạn nợ. Điều

này sẽ tạo ra sự công bằng cho các doanh nghiệp làm ăn chân chính nhưng do các yếu

tố khách quan gây lên (lũ lụt, hạn hán…) mà phải gia hạn nợ.

Tuy nhiên, sự chỉ đạo đúng đắn của Ngân hàng Nhà nước chỉ nên dừng lại ở

tầm vĩ mô, những vấn đề chung nhất mang tính định hướng chứ không nên đưa ra những quy định quá chi tiết, có thể gây khó khăn cho ngân hàng trong việc thích ứng với điều kiện thực tế tại mỗi ngân hàng, đồng thời phát huy tính chủ động, linh hoạt, khả năng thích ứng của ngân hàng với môi trường kinh doanh.

3.3.3 Kiến nghị đối với Ngân hàng NNo&PTNT Việt Nam

NHNo&PTNT Việt Nam cần xây dựng chiến lược quảng bá thương hiệu. Đây rõ

ràng không còn là vấn đề mới đối với mỗi doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường.

Từ nhiều năm về trước, NHNo&PTNT Việt Nam đã được công chúng biết đến với mạng lưới và lĩnh vực hoạt động rộng lớn, là một trong những doanh nghiệp đứng đầu

66

của Việt Nam. Tuy nhiên, trong những năm vừa qua có rất nhiều Ngân hàng Thương

mại cổ phần mọc lên, với chiến lược quảng bá có hiệu quả đã thu hút khá nhiều khách

hàng. Trong khi đó NHNo&PTNT Việt Nam vẫn chưa thực sự chú trọng tiếp thị hình

ảnh ngân hàng với công chúng. Trong hoạt động kinh doanh, nhất là trong lĩnh vực ngân hàng, quảng bá tiếp thị thương hiệu tạo ra danh tiếng và uy tín trong hoạt động -

đây chính là tài sản lớn nhất mà hoạt động kinh doanh cần đạt được. Vì vậy,

NHNo&PTNT Việt Nam cần chú trọng hơn nữa trong việc quảng bá tiếp thị thương

hiệu của ngân hàng.

 Ngân hàng NNo&PTNT Việt Nam cần tiêu chuẩn hóa cán bộ ngân hàng mà trước hết là cán bộ tín dụng, cán bộ lãnh đạo và cán bộ quản lý kinh doanh;

thường xuyên tổ chức các lớp đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ đội ngũ

cán bộ tín dụng.

 Cần tạo ra sự cạnh tranh ngay trong chính ngân hàng, giữa các chi nhánh và trong mỗi chi nhánh để nâng cao khả năng cạnh tranh trong thời kỳ hội nhập.

Có chế độ khen thưởng rõ ràng, công minh cho các đơn vị trực thuộc nhằm

khuyến khích, thúc đẩy các đơn vị đó hoạt động hiệu quả hơn. Tạo ra sự cạnh

tranh lành mạnh giữa các chi nhánh trực thuộc ngân hàng. Nghiên cứu chế độ

khen thưởng có tính chất khuyến khích cán bộ tín dụng mở rộng tín dụng.

 Cần xử lý dứt điểm những khoản nợ khó đòi, xoá nợ đối với các chi nhánh theo quy định của Chính phủ và Ngân hàng nhà nước để từng bước phân loại

nợ, trích lập dự phòng một cách hợp lý.

 Tăng cường hiệu quả công tác thanh tra, kiểm soát trong toàn bộ hệ thống, giám sát và đôn đốc kịp thời những sai phạm của các chi nhánh, nhất là trong

hoạt động tín dụng.

 NHNo&PTNT Việt Nam cần nghiên cứu ban hành cơ chế lãi suất trong nội bộ

ngân hàng có tính chất khuyến khích mở rộng tín dụng trên địa bàn.

 Thành lập trung tâm tín dụng của NHNo&PTNT Việt Nam, nối mạng toàn hệ thống nhằm có sự phối hợp chặt chẽ giữa các chi nhánh trong việc quyết định cho vay đối với khách hàng. Thường xuyên tổ chức các hội thảo trong hệ

thống về các hình thức rủi ro tín dụng, các biện pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro nhằm rút kinh nghiệm chung cho toàn hệ thống.

67

Kết luận chƣơng 3

Từ những số liệu đã phân tích và đánh giá ở chương 2, cùng với những kết quả

đã đạt được và hạn chế trong hoạt động tín dụng tại NHNo&PTNT Chi nhánh Hoàng

Quốc Việt trong thời gian qua, chương 3 của khóa luận đã đưa ra định hướng của tín dụng trong thời gian tới, trên cơ sở đó, khóa luận cũng đưa ra một số giải pháp nhằm

nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng tại NHNo&PTNT Chi nhánh Hoàng Quốc

Việt. Đó là những giải pháp về công tác quản lý rủi ro tín dụng, nâng cao công tác

marketing, về quy trình tín dụng,quảng bá hình ảnh và sản phẩm của ngân hàng, nâng cao trình độ cán bộ công nhân viên,…

Để có thể thực hiện những giải pháp trên một cách tốt nhất cần có sự giúp đỡ từ

phía Nhà nước, Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước và Ngân hàng Nông nghiệp và Phát

triển Nông thôn Việt Nam thông qua các chính sách về kinh tế - xã hội, chính sách tiền tệ - tín dụng, các cơ chế, chính sách, quy định nội bộ của Ngân hàng Nông nghiệp và

Phát triển Nông thôn Việt Nam,…

Thực hiện tốt các giải pháp này sẽ giúp NHNo&PTNT Chi nhánh Hoàng Quốc

Việt nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng, chuyển tải nguồn vốn từ nơi thừa vốn

đến nơi thiếu vốn một cách an toàn, hiệu quả, nâng cao khả năng cạnh tranh và mang

lại lợi nhuận cao nhất với mức rủi ro thấp nhất cho hoạt động tín dụng ngân hàng.

68

KẾT LUẬN

Kinh doanh tiền tệ của các NHTM là hoạt động kinh doanh mang tính tổng hợp

với nhiều loại hình dịch vụ khác nhau, nhưng hoạt động tín dụng vẫn là hoạt động

mang lại nguồn thu nhập chủ yếu cho các NHTM. Tuy nhiên, hoạt động này luôn tiềm

ẩn rủi ro rất cao, do vậy vấn đề chất lượng tín dụng luôn được các NHTM đề cao.

Trên cơ sở sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu, với luận cứ về lý luận

và thực tiễn, khóa luận đã hoàn thành những nhiệm vụ sau:

1. Phân tích và làm rõ những nội dung cơ bản về tín dụng và chất lượng tín dụng

của NHTM trong nền kinh tế thị trường. Một hệ thống các chỉ tiêu định tính và định lượng đã được khóa luận đề cập nhằm giúp đánh giá chính xác hơn về chất lượng tín

dụng của mỗi NHTM trên cơ sở đó rút ra một số bài học có giá trị cho NHNo&PTNT

Chi nhánh Hoàng Quốc Việt có thể nghiên cứu và vận dụng.

2. Trên cơ sở đánh giá thực trạng chất lượng tín dụng tại NHNo&PTNT Chi

nhánh Hoàng Quốc Việt qua 3 năm gần đây nhất, khóa luận đã phân tích và làm rõ

những kết quả đạt được, một số hạn chế cũng như những nguyên nhân của những hạn

chế đó. Đây là cơ sở rất quan trọng để khóa luận đề xuất các giải pháp và kiến nghị

phù hợp và khả thi.

3. Trên cơ sở đề cập những dịnh hướng hoạt động tín dụng và chất lượng tín

dụng tại NHNo&PTNT Chi nhánh Hoàng Quốc Việt trong thời gian tới, khóa luận đã

đưa ra một số quan điểm về nâng cao chất lượng tín dụng cũng như đã đề xuất hệ

thống các giải pháp và kiến nghị nhằm góp phần nâng cao chất lượng tín dụng tại Chi

nhánh.

Nâng cao chất lượng tín dụng luôn là một yêu cầu rất quan trọng trong kinh

doanh ngân hàng, nhưng chất lượng tín dụng lại chịu sự tác động của nhiều nhân tố

khách quan lẫn chủ quan và quả thực đây là vấn đề rất lớn và phức tạp. Trong phạm vi

hiểu biết của mình cũng như bị giới hạn bởi dung lượng của một khóa luận tốt nghiệp

nên bản thân khóa luận không thể tránh được những sai sót, bất cập. Tác giả rất mong đón nhận được những ý kiến đóng góp quý báu để khóa luận được hoàn thiện hơn cũng như hoàn thiện nhận thức của bản thân.

Tác giả xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 20 tháng 9 năm 2014

69

PHỤ LỤC

1. Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh năm 2013 2. Hoạt động huy động vốn năm 2011, 2012 3. Hoạt động tín dụng năm 2011, 2012 4. Hoạt động kinh doanh dịch vụ năm 2011, 2012 5. Bảng cân đối chi tiết năm 2013

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Báo cáo hoạt động kết quả kinh doanh qua các năm 2011, 2012, 2013 của

NHNo&PTNT Chi nhánh Hoàng Quốc Việt.

2. Hiệp hội ngân hàng (2011, 2012, 2013), Tạp chí tài chính tiền tệ các năm 2011,

2012, 2013.

3. Kiều Hữu Thiện, Nguyễn Trọng Tài (2012), Quản trị rủi ro tài chính, Nxb Giao

thông Vận tải, Hà Nội.

4. Lê Văn Tề (2004), Giáo trình Ngân hàng thương mại, Nxb Thống kê, Hà Nội.

5. Luật các tổ chức tín dụng (2010), Nxb Chính trị - Hành chính, Hà Nội.

6. Ngô Thanh Phúc (2012), “ Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Chi Nhánh Tây Đô”, Luận văn Thạc sỹ kinh tế, Trường Đại học Kinh tế.

7.

PGS.TS. Nguyễn Đăng Dờn (2010), Giáo trình “Quản trị ngân hàng thương mại hiện đại”, Nhà xuất bản Phương Đông, TP HCM.

8. Nguyễn Đăng Dờn, Hoàng Đức, Trần Huy Hoàng, Trầm Xuân Hương (2005), Nguyễn Quốc Anh, Tín dụng ngân hàng, Nxb Thống Kê, Thành Phố Hồ Chí Minh.

9. Nguyễn Ninh Kiều (1998), Tiền tệ - ngân hàng, Nxb Thống kê, Hà Nội.

10. PGS.TS. Phan Thị Thu Hà (2007), Giáo trình “ Ngân hàng thương mại”, Nhà

xuất bản Đại học Kinh tế quốc dân.

11. Frederic, S.M. (1994), Tiền tệ ngân hàng và thị trường tài chính, Nxb Khoa học

và Kỹ thuật, Hà nội.

12. Paul, A. S. (1997), Kinh tế học, Nxb Chính trị Quốc Gia, Hà Nội.

13. Peter, S. R. (2001), Quản trị ngân hàng thương mại, Nxb Tài chính, Hà Nội.

14. Thành Trung, “Vì sao nhiều doanh nghiệp phá sản”,

http://petrotimes.vn/news/vn/kinh-te/vi-sao-nhieu-doanh-nghiep-pha-san.html ,16/01/2014.

15. “Lãi suất huy động được dự báo giảm trong nửa cuối năm”, baomoi.com,

16/07/2014 .

http://www.baomoi.com/Lai-suat-huy-dong-duoc-du-bao-giam-trong-nua-cuoi- nam/126/14325652.epi

16. Công ty cổ phần chứng khoán Phương Nam, “Báo cáo phân tích ngành ngân

hàng”

http://www.chungkhoanphuongnam.com.vn/news_detail_market.php?newsid=1 012, 18/02/2014

17. http://www.dankinhte.vn/tin-dung-ngan-hang-la-gi/

18. http://luanvan.net.vn/luan-van/giai-phap-nang-cao-chat-luong-tin-dung-tai-ngan-

hang-nong-nghiep-va-phat-trien-nong-thon-chi-nhanh-ha-noi-55385/

19. http://vbqppl.moj.gov.vn/pages/vbpq.aspx