TRƢỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƢƠNG KHOA KINH TẾ & KINH DOANH QUỐC TẾ CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI ----------***---------
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài:
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN
HÀNG TẠI CHI NHÁNH NGÂN HÀNG CÔNG THƢƠNG
QUẬN HOÀNG MAI – HÀ NỘI
Sinh viên thực hiện : Triệu Thị Duyên
Lớp : Trung 2
Khoá : 43G
Giáo viên hƣớng dẫn : TS. Nguyễn Quang Minh
Hà Nội, 6/2008
MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU
LỜI MỞ ĐẦU ........................................................................................................ 1
CHƢƠNG I: TỔNG QUAN VỀ DỊCH VỤ NGÂN HÀNG VÀ GIỚI THIỆU
NGÂN HÀNG CÔNG THƢƠNG VIỆT NAM .................................................... 3
I. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM VÀ CÁC DỊCH VỤ NGÂN HÀNG CHỦ YẾU .......... 3
1. Khái niệm dịch vụ ngân hàng .......................................................... 3
2. Đặc điểm của dịch vụ ngân hàng ..................................................... 5
3. Các dịch vụ NHTM chủ yếu ............................................................. 6
3.1. Dịch vụ tiền gửi .......................................................................... 6
3.2. Dịch vụ cho vay ........................................................................... 7
3.3. Dịch vụ thanh toán ..................................................................... 9
3.4. Dịch vụ ngân hàng điện tử ....................................................... 13
3.5. Các dịch vụ ngân hàng khác ................................................... 15
II. NỘI DUNG VÀ SỰ CẦN THIẾT PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG
TRONG BỐI CẢNH VIỆT NAM HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ .................... 17
1. Nội dung về phát triển dịch vụ ngân hàng .................................... 17
2. Sự cần thiết của việc phát triển dịch vụ ngân hàng thƣơng mại .. 17
2.1. Từ yêu cầu của nền kinh tế ...................................................... 18
2.2. Từ yêu cầu đối với ngân hàng .................................................. 19
3. Các tiêu thức đánh giá sự phát triển dịch vụ ngân hàng .............. 20
3.1. Tính đa dạng trong danh mục dịch vụ ngân hàng ................... 20
3.2. Doanh thu từ hoạt động dịch vụ ............................................... 20
3.3. Tỷ lệ thu nhập từ hoạt động dịch vụ trên tổng thu nhập .......... 21
3.4. Đối tượng khách hàng phục vụ ................................................ 21
4. Các nhân tố ảnh hƣởng đến phát triển dịch vụ của ngân hàng thƣơng
mại ....................................................................................................... 21
4.1. Nhóm nhân tố chủ quan ........................................................... 21
4.2. Nhóm nhân tố khách quan ....................................................... 24
III. GIỚI THIỆU VỀ NGÂN HÀNG CÔNG THƢƠNG VIỆT NAM .................... 26
1. Tổng quan về Ngân hàng Công Thƣơng (NHCT) Việt Nam ........ 26
2. Các dịch vụ ngân hàng chủ yếu của NHCT Việt Nam.................. 27
3. Các kết quả kinh doanh NHCT Việt Nam đã đạt đƣợc ................ 28
CHƢƠNG II: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG CỦA
CHI NHÁNH NGÂN HÀNG CÔNG THƢƠNG HOÀNG MAI ....................... 31
I. TỔNG QUAN VỀ CHI NHÁNH NGÂN HÀNG CÔNG THƢƠNG HOÀNG MAI.... 31
1. Sơ lƣợc về lịch sử hình thành và phát triển ................................... 31
2. Chức năng nhiệm vụ và mô hình tổ chức ...................................... 32
2.1. Về tư cách pháp nhân ............................................................... 32
2.2. Về mô hình tổ chức ................................................................... 32
2.3. Sản phẩm, dịch vụ ngân hàng chủ yếu .................................... 34
2.4. Các khách hàng chủ yếu .......................................................... 34
II. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG DỊCH VỤ NGÂN HÀNG TẠI CHI NHÁNH
NGÂN HÀNG CÔNG THƢƠNG HOÀNG MAI .................................................... 35
1. Về dịch vụ tiền gửi .......................................................................... 35
2. Về dịch vụ cho vay .......................................................................... 36
3. Về dịch vụ thanh toán.................................................................... 37
3.1. Dịch vụ thanh toán quốc tế ....................................................... 37
3.2. Dịch vụ thanh toán trong nước ................................................ 40
3.3. Dịch vụ thanh toán bằng thẻ .................................................... 41
4. Các dịch vụ khác ............................................................................. 43
4.1. Dịch vụ bảo lãnh ....................................................................... 43
4.2. Dịch vụ kinh doanh ngoại tệ..................................................... 44
4.3. Dịch vụ thu hộ chi hộ ............................................................... 45
4.4. Dịch vụ ngân quỹ ...................................................................... 45
4.5. Dịch vụ Internet banking .......................................................... 45
III. ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ DỊCH VỤ NGÂN HÀNG TẠI CHI NHÁNH NGÂN
HÀNG CÔNG THƢƠNG HOÀNG MAI................................................................. 46
1. Kết quả đạt đƣợc ............................................................................ 46
2. Những hạn chế và nguyên nhân ..................................................... 48
2.1. Hạn chế ..................................................................................... 48
2.2. Nguyên nhân............................................................................. 51
CHƢƠNG III: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG TẠI CHI
NHÁNH NHCT HOÀNG MAI ........................................................................... 56
I. ĐỊNH HƢỚNG PHÁT TRIỂN VÀ NHỮNG CƠ HỘI, THÁCH THỨC ĐỐI VỚI
CHI NHÁNH NHCT HOÀNG MAI TRONG TIẾN TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ
QUỐC TẾ .................................................................................................................. 56
1. Định hƣớng phát triển dịch vụ ngân hàng tại Chi nhánh NHCT Hoàng
Mai ....................................................................................................... 56
1.1. Đối với các sản phẩm dịch vụ ngân hàng ................................ 56
1.2. Đối với công nghệ ngân hàng ................................................... 57
2. Cơ hội và thách thức trong phát triển dịch vụ ngân hàng đối với
Chi nhánh NHCT Hoàng Mai trong quá trình hội nhập kinh tế quốc
tế .......................................................................................................... 59
2.1. Cơ hội ........................................................................................ 59
2.2. Khó khăn và thách thức ............................................................ 60
II. GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG TẠI CHI NHÁNH NHCT
HOÀNG MAI VÀ KIẾN NGHỊ VỚI NHCT VIỆT NAM ...................................... 62
1. Các giải pháp chung nhằm phát triển dịch vụ ngân hàng tại Chi
nhánh NHCT Hoàng Mai và kiến nghị với NHCT Việt Nam .......... 62
1.1. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ...................................... 62
1.2. Đổi mới nâng cấp công nghệ hiện đại và phù hợp ................... 64
1.3. Xây dựng chiến lược phát triển dịch vụ ngân hàng dài hạn ... 65
1.4. Đẩy mạnh công tác Marketing dịch vụ ngân hàng, tăng cường
tiếp thị khách hàng .......................................................................... 66
1.5. Nâng cao chất lượng sản phẩm, đơn giản hóa quy trình thủ tục,
giảm thời gian xử lý giao dịch ........................................................ 68
1.6. Đa dạng hóa các sản phẩm dịch vụ, phát triển các sản phẩm
dịch vụ mới trên cơ sở ứng dụng công nghệ hiện đại .................... 70
1.7. Xây dựng phong cách, văn hoá giao dịch của đội ngũ cán bộ . 71
2. Các giải pháp cụ thể nhằm phát triển các dịch vụ chủ yếu hiện có
tại Chi nhánh NHCT Hoàng Mai ...................................................... 73
2.1. Đối với dịch vụ tiền gửi ............................................................. 73
2.2. Đối với dịch vụ cho vay ............................................................. 76
2.3. Đối với dịch vụ thanh toán ....................................................... 78
2.4. Đối với dịch vụ ngân hàng điện tử ........................................... 79
KẾT LUẬN .......................................................................................................... 81
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
: Automactic Teller Machine ATM
C-CARD : Classic Card
: Documents againts Acceptance D/A
: Documents againts Payment D/P
E-banking : Electronic banking
E-PARTNERN : Electric Partnern
G-CARD : Gold Card
: Letter of Credit L/C
: Ngân hàng Công thương NHCT
: Ngân hàng Nhà nước NHNN
: Ngân hàng thương mại NHTM
: Pink Card P-CARD
: Student Card S-CARD
: Tổ chức tín dụng TCTD
: Telegraphic Trasfer Remittance TTR
: World Bank WB
: Tổ chức thương mại thế giới WTO
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Sơ đồ 1. Quy trình lưu thông thanh toán Séc .................................................. 9
Sơ đồ 2. Trình tự tiến hành nghiệp vụ chuyển tiền ....................................... 10
Sơ đồ 3. Quy trình tiến hành nghiệp vụ phương thức tín dụng chứng từ ....... 12
Sơ đồ 4. Quy trình lưu thông hối phiếu ........................................................ 13
Sơ đồ 5. Bộ máy tổ chức Chi nhánh NHCT Hoàng Mai ............................... 33
Bảng 1. Các sản phẩm dịch vụ hiện có tại Chi nhánh ................................... 34
Bảng 2. Cơ cấu nguồn vốn huy động năm 2007 ........................................... 35
Bảng 3. Cơ cấu cho vay năm 2007 ............................................................... 36
Bảng 4. Kết quả thanh toán hàng nhập khẩu ................................................. 38
Bảng 5. Kết quả thanh toán hàng xuất khẩu .................................................. 38
Bảng 6. Kết quả thực hiện dịch vụ thẻ năm 2007 ......................................... 42
Bảng 7. Kết quả thu phí dịch vụ qua một năm hoạt động.............................. 43
Bảng 8. Kết quả kinh doanh ngoại tệ năm 2007............................................ 44
Bảng 9. So sánh hoạt động kinh doanh năm 2007 tại các Chi nhánh ............ 49
Bảng 10. Phương hướng phát triển dịch vụ E-banking năm 2008 ................. 58
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Từ khi tiến hành đổi mới nền kinh tế, Việt Nam đã đạt mức tăng trưởng
khá cao so với các nước trên thế giới và trong khu vực. Cơ cấu của nền kinh tế
phát triển theo hướng tăng tỷ trọng các ngành dịch vụ, từ tỷ trọng dưới mức 20%
trong những thập kỷ 60 và 70 lên đến mức hơn 40% hiện nay. Các loại hình dịch
vụ không ngừng tăng nhanh về số lượng, chất lượng, về tính đa dạng và sự
phong phú về chủng loại dịch vụ. Một trong những ngành dịch vụ có tiềm năng
nhất, chúng ta không thể không nhắc tới dịch vụ ngân hàng. Cùng với những cải
cách trong lĩnh vực công nông nghiệp, thương mại, hệ thống các ngân hàng Việt
Nam đã có những bước chuyển mạnh mẽ, đáp ứng được nhu cầu chuyển đổi của
nền kinh tế và được xem là một mũi nhọn trong quá trình cải cách kinh tế, đóng
vai trò tích cực trong việc huy động vốn và cấp tín dụng cho nền kinh tế.
Ngân hàng Công thương (NHCT) Việt Nam là một trong bốn Ngân
hàng thương mại nhà nước lớn nhất tại Việt Nam, luôn biết đi tắt đón đầu và
có chiến lược dịch vụ đúng hướng nên đã thực sự đạt hiệu quả rõ nét trong
phát triển số lượng, chất lượng sản phẩm dịch vụ, tăng thu nhập, mở rộng thị
phần. Tuy vậy, hiện nay trước bối cảnh thực hiện lộ trình mở cửa hội nhập
kinh tế quốc tế thì quả thực hệ thống ngân hàng Thương mại Việt Nam nói
chung và Ngân hàng Công thương Việt Nam nói riêng sẽ phải đối mặt với
nhiều thách thức lớn. Năng lực cạnh tranh trong hoạt động kinh doanh, đặc
biệt là các dịch vụ ngân hàng hết sức hạn chế. Chính vì vậy, bằng cách nào,
biện pháp nào, và giải pháp nào để nhanh chóng phát triển thị trường tiềm
năng này đang là bài toán lớn mà các ngân hàng thương mại ở Việt Nam nói
chung và Ngân hàng Công thương Việt Nam nói riêng cần có lời giải.
Là một Chi nhánh mới thành lập của Ngân hàng Công thương Việt
Nam, Chi nhánh Ngân hàng Công thương Hoàng Mai cũng đang trong quá
trình tìm kiếm những giải pháp tốt nhất để có thể phát triển hơn nữa thị
1
trường tiềm năng này.
Xuất phát từ nhận thức nói trên, em đã chọn đề tài : “Thực trạng và giải
pháp phát triển dịch vụ ngân hàng tại Chi nhánh Ngân hàng Công thương
quận Hoàng Mai – Hà Nội” cho khóa luận của mình.
2. Mục đích nghiên cứu của khóa luận
- Làm rõ vai trò, nội dung cơ bản của các loại hình dịch vụ tại Ngân
hàng thương mại.
- Phân tích thực trạng dịch vụ ngân hàng tại Chi nhánh Ngân hàng
Công thương Hoàng Mai.
- Kiến nghị một số giải pháp nhằm phát triển dịch vụ ngân hàng tại Chi
nhánh Ngân hàng Công thương Hoàng Mai trong thời gian tới.
3. Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những dịch vụ ngân hàng thương
mại mà Chi nhánh Ngân hàng Công thương Hoàng Mai đang cung cấp cho
khách hàng.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Sử dụng các phương pháp nghiên cứu thống kê, kết hợp giữa lý luận và
tình hình thực tế hoạt động của Ngân hàng. Đồng thời vận dụng phương pháp
duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, phương pháp tổng hợp số liệu, phương
pháp so sánh, phương pháp đánh giá báo cáo tổng kết để đưa ra nhận định và
giải pháp.
5. Kết cấu của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, bảng biểu và các tài liệu tham
khảo, khóa luận được trình bày trong 03 chương:
Chương 1: Tổng quan về dịch vụ ngân hàng và giới thiệu về Ngân hàng
Công thương Việt Nam.
Chương 2: Thực trạng phát triển dịch vụ ngân hàng của Chi nhánh
Ngân hàng Công thương Hoàng Mai.
Chương 3: Giải pháp phát triển dịch vụ ngân hàng tại Chi nhánh Ngân
2
hàng Công thương Hoàng Mai.
CHƢƠNG I
TỔNG QUAN VỀ DỊCH VỤ NGÂN HÀNG VÀ GIỚI THIỆU
NGÂN HÀNG CÔNG THƢƠNG VIỆT NAM
I. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM VÀ CÁC DỊCH VỤ NGÂN HÀNG CHỦ YẾU
1. Khái niệm dịch vụ ngân hàng
Khái niệm "dịch vụ ngân hàng" của các ngân hàng thương mại cho đến
nay vẫn chưa có sự minh định rõ ràng và còn nhiều cách hiểu khác nhau,
trước hết cần làm rõ thuật ngữ dịch vụ:
Theo từ điển Bách khoa Việt Nam, dịch vụ là các hoạt động nhằm thỏa
mãn những nhu cầu sản xuất kinh doanh và sinh hoạt. Còn trong cuốn "Lựa
chọn bước đi và giải pháp để Việt Nam mở cửa về dịch vụ thương mại" thì
khái niệm về dịch vụ lại được hiểu là các hoạt động của con người được kết
tinh trong giá trị của kết quả trong giá trị của các loại sản phẩm vô hình và
không thể cầm nắm được.
Philip Kotler định nghĩa dịch vụ như sau: “Dịch vụ là mọi hành động
và kết quả mà một bên có thể cung cấp cho bên kia và chủ yếu là vô hình và
không dẫn đến quyền sở hữu cái gì đó. Sản phẩm của nó có thể có hay không
gắn liền với sản phẩm vật chất “
Bản thân ngân hàng là một dạng doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ tiền
tệ, thu phí của khách hàng, được xét thuộc nhóm ngành dịch vụ. Hoạt động
ngân hàng không trực tiếp tạo ra sản phẩm cụ thể, nhưng với việc đáp ứng các
nhu cầu của dịch vụ về tiền tệ, về vốn, về thanh toán… cho khách hàng, ngân
hàng đã gián tiếp tạo ra các sản phẩm dịch vụ trong nền kinh tế.
Sản phẩm dịch vụ ngân hàng mang tính tổng hợp, đa dạng và nhạy cảm
của hoạt động kinh doanh ngân hàng. Đứng trên góc độ thoả mãn nhu cầu
khách hàng thì có thể hiểu: “sản phẩm dịch vụ ngân hàng là tập hợp những
3
đặc điểm, tính năng, công dụng do ngân hàng tạo ra nhằm thoả mãn nhu cầu
và mong muốn nhất định của khách hàng trên thị trường tài chính”. Luật các
tổ chức tín dụng tại khoản 1 và khoản 7 điều 20 cụm từ: “hoạt động kinh
doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng” được bao hàm cả ba nội dung: nhận tiền
gửi, cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ thanh toán.
Cụ thể hơn dịch vụ ngân hàng được hiểu là các nghiệp vụ ngân hàng về
vốn, tiền tệ, thanh toán,… mà ngân hàng cung cấp cho khách hàng đáp ứng
nhu cầu kinh doanh, sinh lời, sinh hoạt cuộc sống, cất trữ tài sản,… và ngân
hàng thu chênh lệch lãi suất, tỷ giá hay thu phí thông qua dịch vụ ấy. Trong
xu hướng phát triển ngân hàng tại các nền kinh tế phát triển hiện nay, ngân
hàng được coi như một siêu thị dịch vụ, một bách hoá tài chính với hàng trăm,
thậm chí hàng nghìn dịch vụ khác nhau tuỳ theo cách phân loại và tuỳ theo
trình độ phát triển của ngân hàng.
Có quan niệm cho rằng: dịch vụ ngân hàng không thuộc phạm vi kinh
doanh tiền tệ và các hoạt động nghiệp vụ theo chức năng của một trung gian
tài chính (cho vay, huy động tiền gửi…) chỉ những hoạt động không thuộc nội
dung nói trên mới gọi là dịch vụ ngân hàng. Một số khác cho rằng tất cả hoạt
động ngân hàng phục vụ cho doanh nghiệp và công chúng là dịch vụ ngân
hàng.
Còn quan niệm khác thì cho rằng, tất cả các hoạt động nghiệp vụ của một
ngân hàng thương mại đều được coi là hoạt động dịch vụ. Ngân hàng là một loại
hình doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ, cung cấp dịch vụ cho khách hàng. Quan
niệm này phù hợp với thông lệ quốc tế, phù hợp với cách phân loại các phân
ngành dịch vụ trong dự thảo Hiệp định WTO mà Việt Nam cam kết, đàm phán
trong quá trình gia nhập, phù hợp với nội dung Hiệp định thương mại Việt – Mỹ
và cũng là khái niệm được tác giả vận dụng và phân tích xuyên suốt khóa luận
này. Thực tiễn gần đây khái niệm về dịch vụ ngân hàng phù hợp với thông lệ
quốc tế đang trở nên phổ biến trên các diễn đàn, trong giới nghiên cứu và cơ
4
quan lập chính sách. Song quan niệm như thế nào đi nữa, thì yêu cầu cấp bách
đặt ra cho các NHTM Việt Nam hiện nay là phải phát triển, đa dạng và nâng
cao chất lượng các nghiệp vụ kinh doanh của mình. Nói cụ thể ngay như hoạt
động tín dụng hiện nay, các NHTM cũng đang thực hiện đa dạng các sản
phẩm tín dụng, như: tín dụng cho vay mua nhà, cho vay mua ô tô, cho vay
tiền đi du học, cho vay tiêu dùng qua thẻ tín dụng, tín dụng thuê mua, tín dụng
chữa bệnh, tín dụng ngày cưới, tín dụng sửa chữa nhà ở ….Còn đương nhiên
các dịch vụ ngân hàng mới, như: nghiệp vụ thẻ, kinh doanh ngoại hối, đầu tư
trên thị trường tiền gửi, chiết khấu, chuyển tiền, kiều hối, tư vấn,… cũng đang
được các NHTM đầu tư cả về công nghệ, máy móc thiết bị, đào tạo nguồn
nhân lực, hoạt động Marketing, quảng bá thương hiệu, gây dựng uy tín… cho
phát triển đáp ứng yêu cầu cạnh tranh ngày càng tăng.
2. Đặc điểm của dịch vụ ngân hàng
Dịch vụ ngân hàng trước hết mang những đặc điểm chung của hoạt
động dịch vụ như: dịch vụ là vô hình (phi vật chất). Tính vô hình là đặc điểm
để phân biệt sản phẩm dịch vụ với các sản phẩm của ngành sản xuất vật chất
khác trong các ngành kinh tế. Bởi vô hình nên sản xuất và cung ứng dịch vụ
diễn ra đồng thời nhưng không thể sản xuất hàng loạt và lưu giữ trong kho để
sau đó tiêu dùng.
Ngoài ra, dịch vụ ngân hàng có những đặc điểm nổi bật sau:
Một là, hoạt động dịch vụ không đòi hỏi các NHTM phải sử dụng
nguồn vốn của mình. Đây là một thuận lợi lớn cho các ngân hàng thương mại
có vốn tự có hạn hẹp như các NHTM Việt Nam. Do vậy, việc mở rộng hoạt
động dịch vụ các loại trở thành lĩnh vực rất cần được các NHTM quan tâm
triển khai.
Hai là, hoạt động dịch vụ ngân hàng trực tiếp hoặc gián tiếp làm tăng
thu nhập được hình thành từ phí dịch vụ, chênh lệch giá, hoa hồng… (gọi
chung là phí dịch vụ).
5
Một số dịch vụ không đem lại nguồn thu trực tiếp cho ngân hàng nhưng
lại nhằm thúc đẩy sự phát triển dịch vụ khác hoặc tăng sức cạnh tranh của
ngân hàng nhằm lôi kéo khách hàng.
Hoạt động dịch vụ đem lại lợi nhuận cao cho NHTM do chi phí ban
đầu thường thấp. Đây được coi là một lĩnh vực kinh doanh hiệu quả thu hút
các ngân hàng thương mại hiện đại trên thế giới.
Ba là, hoạt động dịch vụ ngân hàng được xếp vào những lĩnh vực kinh
doanh tương đối an toàn, có rủi ro thấp. Vì thế, mở rộng hoạt động dịch vụ sẽ
giúp ngân hàng hạn chế những rủi ro như rủi ro lãi suất, đặc biệt là những rủi
ro tín dụng do tính chất thông tin bất cân xứng của thị trường tài chính đem
lại.
Bốn là, hoạt động dịch vụ NHTM đòi hỏi cơ sở hạ tầng tương xứng.
Các NHTM không thể triển khai hoạt động dịch vụ phục vụ khách hàng cá
nhân cũng như doanh nghiệp nếu cơ sở vật chất nghèo nàn, lạc hậu. Hoạt
động này gắn liền với sự phát triển của công nghệ hiện đại trong lĩnh vực
ngân hàng. Hơn nữa, đội ngũ cán bộ năng động, nhiệt tình và thành thạo trong
các hoạt động nghiệp vụ cũng là đòi hỏi của hoạt động dịch vụ ngân hàng.
Năm là, các dịch vụ NHTM mang tính hỗ trợ cao, có mối liên kết chặt
chẽ với nhau. Sự ra đời và phát triển dịch vụ này là tiền đề cho sự ra đời và
phát triển của dịch vụ khác. Ví dụ: dịch vụ thanh toán quốc tế phát triển đã
đẩy mạnh sự phát triển của dịch vụ mua bán ngoại tệ…
Nhờ đó, đã tạo nên sự hỗ trợ lẫn nhau giữa các dịch vụ trong sự phát
triển dịch vụ ngân hàng. Ngân hàng có thể cung cấp những dịch vụ trọn gói
cho khách hàng.
3. Các dịch vụ NHTM chủ yếu
3.1. Dịch vụ tiền gửi
Dịch vụ tiền gửi là một trong những dịch vụ chủ yếu và quan trọng nhất
của NHTM. Hoạt động này mang lại nguồn vốn để ngân hàng có thể thực
hiện các hoạt động khác như cấp tín dụng và cung cấp các dịch vụ ngân hàng
cho khách hàng.
6
Theo Nghị định 49/2000/NĐ-CP ngày 12/09/2000 của Chính phủ về tổ
chức và hoạt động của ngân hàng thương mại nhằm cụ thể hóa việc thi hành
luật của các tổ chức tín dụng (TCTD), NHTM được huy động vốn dưới các
hình thức sau:
Nhận tiền gửi của các tổ chức, cá nhân và các tổ chức tín dụng
khác dưới các hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn và các loại
tiền gửi khác.
Phát hành các chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu, và giấy tờ có giá khác
để huy động vốn của tổ chức, cá nhân trong nước và ngoài nước khi đươc
Thống đốc Ngân hàng Nhà nước chấp thuận.
Vay vốn của các tổ chức tín dụng khác hoặt động tại Việt Nam và
của các tổ chức tín dụng nước ngoài.
Vay vốn ngắn hạn của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) theo qui
định của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
3.2. Dịch vụ cho vay
Dịch vụ cho vay hay còn gọi là tín dụng ngân hàng, là quan hệ chuyển
nhượng quyền sử dụng vốn từ ngân hàng cho khách hàng trong một thời hạn
nhất địng với một khoản chi phí nhất định. Cũng như quan hệ tín dụng khác,
tín dụng ngân hàng chứa đựng ba nội dung sau:
Có sự chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ người sở hữu sang -
người sử dụng.
- Sự chuyển nhượng này có thời hạn.
- Sự chuyển nhượng này có kèm theo chi phí.
Dịch vụ cho vay có thể phân chia thành nhiều loại khác nhau tùy theo
những tiêu thức phân loại khác nhau. Dựa vào mục đích của tín dụng, chúng
ta có thể phân chia thành các loại sau:
Chiết khấu
Ngay ở thời kỳ đầu, các ngân hàng đã chiết khấu thương phiếu mà thực
tế là cho vay đối với các doanh nhân địa phương thông qua việc mua bán các
7
khoản nợ của khách hàng (người bán chuyển các khoản phải thu cho ngân
hàng để lấy tiền trước). Ngày nay, không chỉ dừng lại ở chiết khấu thương
phiếu, các ngân hàng thương mại còn chiết khấu các chứng từ có giá khác như
trái phiếu, tín phiếu kho bạc nhà nước, kỳ phiếu, sổ tiền gửi tiết kiệm. Qua
nghiệp vụ này các ngân hàng thu được lãi suất chiết khấu, còn khách hàng
được đáp ứng nhu cầu về vốn.
Cho vay thương mại
Thay vì tài trợ gián tiếp dưới hình thức chiết khấu, các ngân hàng còn
cho vay trực tiếp đối với các khách hàng (là người mua) giúp họ có vốn để
mở rộng sản xuất kinh doanh. Hình thức cho vay thương mại có thể là cho
vay ngắn hạn dự trữ hàng tồn kho, hoặc cho vay trung, dài hạn để đầu tư cho
việc mua máy móc, thiết bị, nhà xưởng v.v…
Cho vay tiêu dùng
Trong giai đoạn đầu, các ngân hàng không nhiệt tình cho vay với các cá
nhân và hộ gia đình do có mức sinh lời không cao và nhiều rủi ro. Song sự gia
tăng thu nhập của người tiêu dùng và sự cạnh tranh trong cho vay đã hướng
các ngân hàng tới người tiêu dùng như là những khách hàng tiềm năng. Từ
sau chiến tranh thế giới thứ hai, tín dụng tiêu dùng đã trở thành một trong
những loại hình tín dụng có mức tăng trưởng nhanh nhất.
Cho vay tài trợ dự án
Các ngân hàng ngày càng trở nên năng động trong việc tài trợ cho chi
phí xây dựng nhà máy mới đặc biệt là trong ngành công nghệ cao. Do rủi ro
trong loại hình này nói chung là cao nên chúng thường được thực hiện qua
một công ty đầu tư cùng với sự tham gia của các nhà đầu tư khác để chia sẻ
rủi ro.
Dựa vào thời hạn tín dụng, có thể phân chia thành các loại:
Cho vay ngắn hạn: Là loại cho vay có thời hạn dưới một năm.
Cho vay trung hạn: Là loại cho vay có thời hạn trừ 1 đến 5 năm.
Cho vay dài hạn: Là loại cho vay có thời hạn trên 5 năm.
8
Ngoài ra, chúng ta có thể dựa vào phương thức cho vay, phương thức
hoàn trả nợ vay để phân loại tín dụng ngân hàng…
3.3. Dịch vụ thanh toán
Dịch vụ này tạo điều kiện cho các khách hàng thực hiện các khoản
thanh toán mà không phải mang đi mang lại một lượng lớn tiền mặt, mở đầu
cho hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt. Thanh toán không dùng tiền
mặt là thanh toán qua ngân hàng, là tổng hợp các mối quan hệ chi trả tiền tệ
được thực hiện bằng cách trích chuyển từ tài khoản của người này sang tài
khoản của người khác với sự kiểm soát của ngân hàng mà không cần dùng
tiền mặt.
Các công cụ thanh toán qua ngân hàng bao gồm:
Thanh toán bằng Séc
Séc là một mệnh lệnh vô điều kiện của người chủ tài khoản ra lệnh cho
ngân hàng rút một số tiền nhất định từ tài khoản của mình để trả cho người có
tên trong séc, hoặc trả theo lệnh của người này trả cho người khác hoặc trả
cho người cầm séc.
Sơ đồ 1. Quy trình lưu thông thanh toán Séc
1. Thực hiện nghĩa vụ 5. Xuất trình séc
2. Ký phát Séc 6. Chấp nhận Séc
3. Nhờ thu Séc 7. Thanh và quyết toán séc
9
4. Xuất trình séc để đòi tiền 8. Trả tiền
Séc bao gồm nhiều loại: Séc ký danh, séc vô danh, séc tiền mặt, séc
chuyển khoản, séc bảo chi, séc định mức, séc du lịch…
Thanh toán chuyển tiền
Thanh toán chuyển tiền là phương thức thanh toán mà trong đó khách
hàng (người yêu cầu chuyển tiền) yêu cầu Ngân hàng của mình chuyển một
số tiền nhất định cho một người khác (người hưởng lợi) ở một địa điểm nhất
định bằng phương tiện chuyển tiền do khách hàng quy định.
Sơ đồ 2. Trình tự tiến hành nghiệp vụ chuyển tiền
1. Người hưởng lợi thực hiện nghĩa vụ quy định trong hiệp định, hợp đồng
hoặc các thoả thuận.
2. Người yêu cầu chuyển tiền ra lệnh cho Ngân hàng của nước mình chuyển
ngoại tệ ra bên ngoài.
3. Ngân hàng chuyển tiền báo nợ tài khoản ngoại tệ của người yêu cầu chuyển
tiền.
4. Ngân hàng chuyển tiền phát lệnh thanh toán cho Ngân hàng trả tiền ở nước
người hưởng lợi.
5. Ngân hàng trả tiền báo nợ tài khoản Ngân hàng chuyển tiền.
6. Ngân hàng trả tiền báo có tài khoản người hưởng lợi.
Thanh toán bằng nhờ thu hoặc ủy nhiệm thu
Ủy nhiệm thu là nghiệp vụ thu tiền mà trong đó người bán uỷ thác cho
10
ngân hàng thu một khoản tiền của người mua theo hợp đồng mua bán mà
người mua và người bán ký. Ủy nhiệm thu là một văn thư do khách hàng lập
để yêu cầu ngân hàng thu một khoản tiền ở người mua trong trường hợp bên
mua và bên bán có tài khoản ở hai ngân hàng khác nhau.
Thanh toán bằng ủy nhiệm chi
Ủy nhiệm chi là lệnh chi tiền của chủ tài khoản được lập theo mẫu in
sẵn của ngân hàng, yêu cầu ngân hàng phục vụ mình tích tài khoản của mình
để trả cho người thụ hưởng.
Thanh toán bằng thẻ ngân hàng
Thẻ là một sản phẩm dịch vụ có nhiều tiện ích, an toàn dựa trên cơ sở
công nghệ hiện đại được ngân hàng cung cấp cho khách hàng nhằm hạn chế
việc thanh toán bằng tiền mặt khi mà dân số ngày càng tăng, khối lượng giao
dịch ngày càng lớn. Đồng thời đây cũng là loại hình dịch vụ làm tăng thêm
nguồn thu nhập và khả năng cạnh tranh cho ngân hàng. Cho đến nay các ngân
hàng Việt Nam đã phát hành hơn 10 triệu thẻ ATM, vượt mục tiêu đặt ra đến
năm 2010.
Thanh toán bằng Thư tín dụng
Phương thức thanh toán này là một sự thỏa thuận mà trong đó một ngân
hàng (ngân hàng mở thư tín dụng) theo yêu cầu của khách hàng (người yêu cầu
mở thư tín dụng) sẽ trả một số tiền nhất định cho một người khác (người hưởng
lợi số tiền của thư tín dụng) hoặc chấp nhận hối phiếu do người này ký phát
trong phạm vi số tiền đó khi người này xuất trình cho ngân hàng một bộ chứng
11
từ thanh toán phù hợp với những quy định của thư tín dụng.
Sơ đồ 3. Quy trình tiến hành nghiệp vụ phương thức tín dụng chứng từ
1. Gửi đơn yêu cầu phát hành thư tín dụng và tiến hành ký quỹ.
2. Phát hành L/C qua Ngân hàng đại lý cho Người xuất kho hưởng lợi.
3. Ngân hàng thông báo tiến hành thông báo L/C và chuyển bản gốc L/C cho
Người hưởng lợi.
4. Giao hàng.
5. Xuất trình chứng từ đòi tiền Ngân hàng phát hành L/C.
6. Ngân hàng phát hành thông báo kết quả kiểm tra chứng từ cho người yêu
cầu.
7. Người yêu cầu chấp nhận hay từ chối thanh toán.
8. Ngân hàng phát hành thông báo chấp nhận hay từ chối nhận chứng từ.
Hình thức thanh toán này có độ an toàn và chuẩn xác cao, do đó nó
12
được dùng phổ biến trong quan hệ thanh toán quốc tế.
Thanh toán bằng Hối phiếu
Đạo Luật hối phiếu của Anh (Bill of Exchange Act of 1882) năm 1882,
thường được gọi tắt là BEA 1882 định nghĩa:
“Hối phiếu là tờ mệnh lệnh vô điều kiện của một người ký phát (Drawer)
cho một người khác (Drawee), yêu cầu người này khi nhìn thấy hối phiếu hoặc
đến một ngày cụ thể nhất định hoặc đến một ngày có thể xác định trong tương
lai, phải trả một số tiền nhất định cho một người nào đó hoặc hoặc theo lệnh của
người này trả cho người khác; hoặc trả cho người cầm hối phiếu”.
Sơ đồ 4. Quy trình lưu thông hối phiếu
1. Giao dịch cơ sở
2. Thực hiện giao dịch cơ sở
3. Ký phát hối phiếu trả tiền ngay đòi tiền người bị ký phát
4. Trả tiền ngay sau khi xuất trình hối phiếu
Hối phiều thường được sử dụng trong nghiệp vụ thanh toán quốc tế.
3.4. Dịch vụ ngân hàng điện tử
Sự phát triển như vũ bão của công nghệ thong tin trong những năm gần
đây đã ảnh hưởng khá rõ nét đến sự phát triển của công nghệ ngân hàng. Hiện
nay ở nhiều nước trên thế giới, dịch vụ ngân hàng điện tử đã phát triển khá
phổ biến, đa dạng về loại hình sản phẩm và dịch vụ. Nhìn chung các sản phẩm
13
và dịch vụ bảo gồm các loại sau:
Call centre
Do quản lý dữ liệu tập trung nên khách hàng có tài khoản tại bất kỳ chi
nhánh nào vẫn gọi về một số điện thoại cố định của trung tâm này để được
cung cấp mọi thông tin chung và thông tin cá nhân. Call banking có thể linh
hoạt cung cấp thông tin hoặc trả lời các thắc mắc của khách hàng. Nhược
điểm của Call centre là phải có người trực 24/24 giờ.
Phone banking
Đây là loại sản phẩm cung cấp thông tin ngân hàng qua điện thoại hoàn
toàn tự động. Do tự động nên các loại thông tin được ấn định trước, bao gồm
thông tin về tỷ giá hối đoái, lãi suất, giá chứng khoán, thông tin cá nhân cho
khách hàng như số dư tài khoản, liệt kê năm giao dịch cuối cùng trên tài
khoản, các thông báo mới nhất…Hệ thống cũng tự động gửi fax khi khách
hàng yêu cầu cho các loại thông tin nói trên. Hiện nay qua phone banking,
thông tin được cập nhật, khác với trước đây khách hàng chỉ có thông tin của
cuối ngày hôm trước.
Mobile banking
Là hình thức thanh toán trực tuyến qua mạng điện thoại di động, song
hành với phương thức thanh toán qua mạng Internet ra đời khi mạng lưới
Internet phát triển đủ mạnh vào khoảng thập niên 90. Phương thức này được
ra đời nhằm giải quyết nhu cầu thanh toán các giao dịch có giá trị nhỏ (Micro
payment) hoặc những dịch vụ tự động không có người phục vụ.
Home banking
Với ngân hàng tại nhà (home banking) khách hàng giao dịch với ngân
hàng qua mạng nhưng là mạng nội bộ (Intranet) do ngân hàng xây dựng riêng.
Các giao dịch được tiến hành tại nhà thông qua hệ thống máy tính nối với hệ
thống máy tính của ngân hàng. Thông qua dịch vụ Home banking, khách hàng
có thể thực hiện các giao dịch về chuyển tiền, liệt kê giao dịch, tỷ giá, lãi suất,
14
báo nợ,…
Internet banking
Dịch vụ Internet banking giúp khách hàng chuyển tiền qua mạng thông
qua các tài khoản cũng như kiểm soát hoạt động của các tài khoản này. Để
tham gia, khách hàng truy cập vào website của ngân hàng, thực hiện các giao
dịch tài chính, truy cập thông tin cần thiết. Thông tin rất phong phú đến từng
chi tiết giao dịch của khách hàng cũng như thông tin khác về ngân hàng.
Khách hàng cũng có thể truy cập vào website khác để mua hàng và thực hiện
thanh toán với ngân hàng. Tuy nhiên, khi kết nối internet thì ngân hàng phải
có hệ thống bảo mật đủ mạnh để đối phó với rủi ro trên phạm vi toàn cầu. Đây
là trở ngại lớn vì đầu tư hệ thống bảo mật rất tốn kém.
3.5. Các dịch vụ ngân hàng khác
3.5.1. Dịch vụ bảo lãnh
Bảo lãnh ngân hàng là sự cam kết bằng văn bản của tổ chức tín dụng
với bên có quyền về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng
khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện đúng nghĩa vụ cam kết với
bên nhận bảo lãnh.
Căn cứ vào mục đích, bảo lãnh ngân hàng gồm các loại cơ bản sau:
Bảo lãnh dự thầu
Bảo lãnh thực hiện hợp đồng
Bảo lãnh thanh toán
Bảo lãnh bảo hành
Bảo lãnh hoàn trả tạm ứng
Bảo lãnh vay vốn
Các loại bảo lãnh khác…
3.5.2. Dịch vụ ủy thác
Dịch vụ uỷ thác là dịch vụ quản lý tài sản và quản lý hoạt động tài
chính cho cá nhân và doanh nghiệp. Dịch vụ này phát triển mạnh khi thị
15
trường tài chính phát triển và đời sống ở mức cao, bao gồm:
Uỷ thác phát hành
Uỷ thác đầu tư
Uỷ thác trong quản lý tài sản
Uỷ thác trong việc trả lương
Uỷ thác phát hành cổ phiếu, trái phiếu, thanh toán lãi hoặc lợi tức
và thanh toán vốn khi chứng khoán đến hạn
Uỷ thác khác…
3.5.3. Dịch vụ tư vấn
Do hoạt động trong lĩnh vực tài chính, các ngân hàng có rất nhiều chuyên
gia về quản lý tài chính. Ngân hàng cung cấp dịch vụ tư vấn dựa trên nhu cầu của
khách hàng và đội ngũ chuyên gia tài chính của mình. Ngân hàng có thể tư vấn về
thuế, tư vấn về đầu tư, về quản lý tài chính, về thành lập, mua bán, sáp nhập doanh
nghiệp, tư vấn về công nghệ, thị trường cho các doanh nghiệp trên cơ sở quan hệ
với khách hàng và thông tin về thị trường, về công nghệ.
3.5.4. Dịch vụ bảo hiểm
Loại hình dịch vụ này nhằm đảm bảo cho khách hàng thanh toán nợ
trong trường hợp tử vong, thương tật hay gặp rủi ro trong hoạt động, mất khả
năng thanh toán, tuy nhiên tùy theo quy định của từng quốc gia cũng giới hạn
các ngân hàng thực hiện dịch vụ này như phải thành lập công ty bảo hiểm trực
thuộc ngân hàng hoặc chỉ cung cấp bảo hiểm theo một tỷ lệ nhất định so với
vốn chủ sở hữu ngân hàng.
3.5.5. Dịch vụ kinh doanh ngoại tệ
Đây là một trong những dịch vụ chủ yếu của ngân hàng thương mại.
Dịch vụ này một mặt mua và bán ngoại tệ nhằm đáp ứng nhu cầu ngoại tệ của
các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp có hoạt động xuất nhập khẩu.
Mặt khác, dịch vụ này mang lại thu nhập “phi tín dụng” cho ngân hàng, góp
16
phần đa dạng hóa nguồn thu nhập của ngân hàng.
II. NỘI DUNG VÀ SỰ CẦN THIẾT PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG
TRONG BỐI CẢNH VIỆT NAM HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
1. Nội dung về phát triển dịch vụ ngân hàng
Sự phát triển dịch vụ ở đây được phân tích trên hai khía cạnh: phát triển
về chiều rộng và phát triển về chiều sâu:
Phát triển về chiều rộng đồng nghĩa với việc đa dạng hóa các loại hình
dịch vụ. Không chỉ duy trì các hoạt động dịch vụ truyền thống như trao đổi
ngoại tệ, bảo quản vật có giá mà phải tiếp cận và áp dụng các dịch vụ hiện đại
như tư vấn môi giới đầu tư chứng khoán, bảo hiểm, bảo lãnh… Đồng thời,
đẩy mạnh phát triển các dịch vụ ứng dụng khoa học kỹ thuật cao như thanh
toán qua thẻ, dịch vụ Internet banking…
Phát triển về chiều sâu đồng nghĩa với việc nâng cao chất lượng dịch
vụ, hoàn thiện các dịch vụ hiện có. Khi giữa các ngân hàng không có sự phân
biệt về đa dạng hóa loại hình dịch vụ thì chất lượng dịch vụ là yếu tố quyết
định sự thành công của mỗi ngân hàng. Vì vậy, ngay từ đầu các ngân hàng
phải có kế hoạch và chiến lược ngày càng củng cố và hoàn thiện các hoạt
động dịch vụ trên cơ sở cung ứng cho khách hàng các sản phẩm tiện ích
nhanh chóng, thuận tiện, chi phí hợp lý trên cơ sở đảm bảo an toàn cho hoạt
động của ngân hàng và tuân thủ các quy định của pháp luật. Chính sách phát
triển dịch vụ ngân hàng hướng tới mở rộng khả năng "cung" dịch vụ ngân
hàng, đồng thời góp phần kích "cầu" về dịch vụ ngân hàng của nền kinh tế.
Tóm lại, chính sách phát triển dịch vụ ngân hàng hướng tới mở rộng
khả năng "cung" dịch vụ ngân hàng, đồng thời góp phần kích "cầu" về dịch vụ
ngân hàng của nền kinh tế.
2. Sự cần thiết của việc phát triển dịch vụ ngân hàng thƣơng mại
Ngân hàng là ngành cung ứng dịch vụ đặc biệt đối với dân cư và nền
kinh tế, sự tồn tại của ngân hàng gắn với sự tồn tại của các dịch vụ do ngân
17
hàng cung ứng. Do vậy, phát triển dịch vụ ngân hàng là hết sức cần thiết
nhằm góp phần củng cố ngân hàng lớn mạnh, nâng cao vị thế của ngành ngân
hàng đối với nền kinh tế, khẳng định lòng tin trong dân chúng và tự tin trong
tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế.
2.1. Từ yêu cầu của nền kinh tế
Dịch vụ ngân hàng thúc đẩy nền kinh tế theo xu hướng nền kinh
tế tri thức.
Dịch vụ ngân hàng ngày càng sử dụng nhiều thành tựu của công nghệ
thông tin. Để phát triển các dịch vụ thẻ ATM, dịch vụ internet banking, home
banking, các ngân hàng phải trang bị các thiết bị hiện đại như máy rút tiền tự
động, máy đọc thẻ (POS), mạng trực tuyến, website… Mặt khác, dịch vụ
ngân hàng là loại dịch vụ chất lượng cao, đòi hỏi người cung cấp và khách
hàng phải có kiến thức am hiểu nhất định mới có thể sử dụng và vận hành.
Nhiều trong số các loại dịch vụ này tạo ra giá trị tăng cao - một đặc điểm của
nền kinh tế tri thức.
Dịch vụ ngân hàng tạo điều kiện cho các ngành dịch vụ khác
phát triển.
Do đặc điểm dịch vụ ngân hàng liên quan sâu rộng đến nhiều ngành,
nhiều lĩnh vực sản xuất và đời sống nên sự phát triển của dịch vụ ngân hàng
thúc đẩy sự phát triển của các ngành dịch vụ khác. Chẳng hạn, lĩnh vực xuất
nhập khẩu sẽ bị hạn chế nếu dịch vụ thanh toán qua ngân hàng không thông
suốt. Đồng thời, dịch vụ thanh toán phát triển đòi hỏi lĩnh vực công nghệ
thông tin cũng phải phát triển, các ngành như du lịch, bưu chính viễn thông,
hàng không… cũng sẽ phát triển theo.
Đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của nền kinh tế về dịch vụ.
Thực tế cho thấy, nhu cầu sử dụng các dịch vụ tài chính đang ngày một
tăng, đặc biệt là ở thành thị. Nhu cầu đó gắn liền với quá trình ra đời với tốc
độ nhanh chóng của các loại hình doanh nghiệp trong nền kinh tế, cũng như
18
quá trình chuyển đổi các doanh nghiệp Nhà nước sang công ty cổ phần. Đó là
nhu cầu về giao dịch cổ phiếu, tư vấn đầu tư, quản lý ngân quỹ… Rõ ràng,
nhu cầu về dịch vụ ngân hàng mang tính tiên phong, có vai trò tạo động lực
kích thích sự ra đời và cơ hội phát triển cho các nguồn cung ứng dịch vụ trong
nước, vốn còn đang rất nghèo nàn.
2.2. Từ yêu cầu đối với ngân hàng
Phát triển dịch vụ ngân hàng làm tăng thu nhập của ngân hàng.
Từ trước đến nay, nguồn thu nhập chính của ngân hàng là từ lãi cho vay.
Sự gia tăng các tổ chức tín dụng đã khiến cho lãi suất đầu vào có xu hướng tăng
cao trong khi lãi suất đầu tư không tăng một cách tương ứng, hay nói cách khác
là chênh lệch giữa lãi suất cho vay và lãi suất tiền gửi đang có xu hướng co hẹp
lại. Điều này tất nhiên sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận của ngân hàng. Do
vậy, để tăng cường nguồn thu nhập cho ngân hàng trong điều kiện hoạt động
kinh doanh ngày càng có sự cạnh tranh gay gắt thì các ngân hàng phải đẩy mạnh
phát triển các hoạt động dịch vụ như chuyển tiền, bảo lãnh, đại lý uỷ thác… để
tăng thêm nguồn thu từ phí dịch vụ.
Phân tán và hạn chế rủi ro.
Kinh doanh ngân hàng là loại hình kinh doanh đặc biệt nên hoạt động
kinh doanh của ngân hàng phải đối mặt với nhiều loại rủi ro khác nhau như
rủi ro lãi suất, rủi ro tín dụng, rủi ro ngoại hối… trong đó, hoạt động tín dụng
chứa đựng rủi ro lớn nhất. Do vậy, các ngân hàng cần phải đa dạng hóa các
loại hình dịch vụ nhằm phân tán bớt rủi ro, tránh tình trạng "bỏ cả trứng vào
cùng một rổ". Hơn nữa, hoạt động dịch vụ với đặc điểm là ngân hàng không
phải sử dụng nguồn vốn của mình do vậy nó cũng góp phần hạn chế được rủi
ro trong kinh doanh, giữ vững sự ổn định của ngân hàng.
Tăng khả năng cạnh tranh của ngân hàng trong nền kinh tế thị trường
Nếu như trước đây khách hàng phải tìm đến ngân hàng để được cung
cấp các dịch vụ thì ngày nay trong điều kiện môi trường cạnh tranh giữa các
19
ngân hàng ngày càng phức tạp thì mỗi ngân hàng phải tìm mọi cách để mở
rộng được thị phần và thu hút được khách hàng đến với mình. Muốn vậy,
không có cách nào khác là phải phát triển đa dạng các loại hình dịch vụ, cung
ứng những dịch vụ tiện ích, hoàn hảo cho khách hàng. Ngân hàng nào có dịch
vụ mới hơn, linh hoạt và hoàn hảo hơn đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao
của thị trường thì sẽ có sức thu hút khách hàng lớn hơn. Do vậy, phát triển
dịch vụ ngân hàng sẽ giúp ngân hàng đứng vững và phát triển trong điều kiện
cạnh tranh của nền kinh tế thị trường.
Thúc đẩy các nghiệp vụ phát triển.
Các nghiệp vụ và dịch vụ ngân hàng đều có mối quan hệ hữu cơ với
nhau, tác động qua lại với nhau tạo thành một thể thống nhất. Việc phát triển
dịch vụ này sẽ tạo tiền đề cho sự phát triển của nghiệp vụ khác.
3. Các tiêu thức đánh giá sự phát triển dịch vụ ngân hàng
3.1. Tính đa dạng trong danh mục dịch vụ ngân hàng
Các ngân hàng hiện giờ nói chung đều phát triển theo xu hướng trở thành
các "bách hóa tài chính" hay "siêu thị ngân hàng" - nơi mà đó sẵn sàng cung cấp
bất cứ dịch vụ ngân hàng nào mà khách hàng có nhu cầu., Một ngân hàng
thương mại có số lượng dịch vụ càng nhiều thì khả năng cạnh tranh càng cao.
Bởi ta có thể đánh giá năng lực cạnh tranh của NHTM theo các tiêu thức: số
lượng danh mục sản phẩm dịch vụ do ngân hàng cung cấp hoặc chủng loại trong
mỗi danh mục sản phẩm dịch vụ. Do vậy, đây là một trong những tiêu thức đầu
tiên đánh giá sự phát triển của dịch vụ ngân hàng.
3.2. Doanh thu từ hoạt động dịch vụ
Hoạt động dịch vụ đem lại nguồn thu nhập cho ngân hàng thông qua
thu phí dịch vụ, hoa hồng đại lý hay chênh lệch giá… Dịch vụ ngân hàng
ngày càng phát triển khi nguồn thu từ lĩnh vực này ngày càng cao. Đây là một
chỉ tiêu tổng hợp mà kết quả của nó phụ thuộc vào số lượng danh mục các
dịch vụ mà ngân hàng cung cấp, giá cả dịch vụ, chất lượng dịch vụ, uy tín của
ngân hàng… Số lượng các dịch vụ ngân hàng ngày càng nhiều thì ngân hàng
20
càng có khả năng tăng doanh thu.
3.3. Tỷ lệ thu nhập từ hoạt động dịch vụ trên tổng thu nhập
Hiện nay, tỷ lệ thu được từ hoạt động dịch vụ của các ngân hàng
thương mại Việt Nam còn rất thấp. Có thông tin nhận định rằng, tỷ lệ thu
nhập trên tổng thu nhập của các NHTM Việt Nam chỉ đạt khoảng 25%, trong
khi đó, tỷ lệ này ở các ngân hàng thương mại tại các nước phát triển là trên
50% và khu vực Đông Nam Á là 32%. Điều này cho thấy các ngân hàng
thương mại Việt Nam cần đẩy mạnh doanh thu từ hoạt động dịch vụ thông
qua việc phát triển các sản phẩm dịch vụ ngân hàng một cách mạnh mẽ hơn.
3.4. Đối tượng khách hàng phục vụ
Ngày nay, những khách hàng có nhu cầu sử dụng các dịch vụ ngân
hàng ngày càng đông, thuộc mọi thành phần kinh tế, mọi đối tượng.
Trước kia, khách hàng của các ngân hàng thương mại đặc biệt là ngân
hàng thương mại Nhà nước chủ yếu là các doanh nghiệp Nhà nước thì nay
khách hàng thuộc mọi thành phần kinh tế: từ doanh nghiệp ngoài quốc doanh,
hợp tác xã, hộ cá thể và cả các cá nhân… Bất cứ ai có nhu cầu đều có thể trở
thành khách hàng được ngân hàng cung cấp dịch vụ từ cán bộ công nhân viên
chức cho đến học sinh , sinh viên… Đối tượng khách hàng sử dụng dịch vụ
ngân hàng ngày càng đa dạng, càng đông thì ngân hàng càng có cơ hội phát
triển dịch vụ ngân hàng. Và đây cũng là một tiêu thức để đánh giá sự phát
triển của dịch vụ ngân hàng.
4. Các nhân tố ảnh hƣởng đến phát triển dịch vụ của ngân hàng thƣơng mại
4.1. Nhóm nhân tố chủ quan
Nguồn nhân lực
Yếu tố con người luôn được đánh giá cao, thậm chí là quan trọng nhất
của mọi sự thành công. Các ngân hàng muốn đưa ra được những sản phẩm
dịch vụ tốt, có chất lượng cao cũng như thu hút được khách hàng thì cần phải
có trong tay một đội ngũ cán bộ có năng lực. Năng lực ở đây thể hiện ở nhiều
21
mặt: về chuyên môn nghiệp vụ thì cần phải nắm vững, có kiến thức chuyên
sâu, am hiểu các mặt nghiệp vụ. Đồng thời, các cán bộ ngân hàng cũng cần
phải là những người năng động nhanh nhẹn, có tác phong của con người trong
thời đại mới. Bởi đây là các sản phẩm dịch vụ nên công tác chăm sóc, phục vụ
khách hàng tại càng trở nên quan trọng. Điều này đòi hỏi các ngân hàng phải
có kế hoạch đào tạo cán bộ, chuẩn bị được lực lượng cán bộ có chuyên môn
trước khi triển khai nhiệm vụ mới.
Nguồn lực về tài chính
Để phát triển dịch vụ các ngân hàng cần có vốn để mua sắm trang thiết
bị, công nghệ, đào tạo và mở rộng mạng lưới hoạt động. Nếu vốn nhỏ sẽ
không đủ lực để đa dạng hóa các sản phẩm dịch vụ và nâng cao hiệu quả của
các dịch vụ sẵn có. Do vậy, các ngân hàng cần phải xây dựng chiến lược tăng
vốn dài hạn, theo những lộ trình thích hợp, phù hợp xây dựng chiến lược tăng
vốn dài hạn, theo những lộ trình thích hợp, phù hợp với nhu cầu phát triển và
khả năng kiểm soát của mỗi ngân hàng trong từng thời kỳ.
Tài sản vật chất và công nghệ
Đây là yếu tố có ảnh hưởng lớn đến khả năng cung ứng dịch vụ của các
ngân hàng thương mại. Mở rộng các loại hình dịch vụ, đặc biệt là các loại hình
dịch vụ ngân hàng hiện đại thì luôn có sự gắn kết chặt chẽ với yếu tố công
nghệ. Công nghệ cao giúp ngân hàng cung cấp được cho khách hàng những
dịch vụ tiện ích, đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Bên cạnh những sản phẩm
dịch vụ truyền thống, ngày nay khách hàng có nhu cầu ngày càng cao với
những sản phẩm dịch vụ hiện đại, gắn liền với sự phát triển của khoa học
công nghệ như thanh toán bằng thẻ, các dịch vụ ngân hàng như Internet
banking, Phone banking… Do vậy, việc ngân hàng đi tắt đón đầu các công
nghệ ngân hàng hiện đại sẽ tạo cơ hội để phát triển dịch vụ ngân hàng.
Hoạt động Marketing
Chiến lược marketing có vị trí quan trọng trong hoạt động ngân hàng.
22
Mục tiêu của marketing dịch vụ ngân hàng là phát triển và đưa ra các loại
hình dịch vụ ngân hàng mới; ứng dụng công nghệ ngân hàng hiện đại để phục
vụ khách hàng thông qua việc bán sản phẩm; nâng cao khả năng cạnh tranh và
mở rộng nền tảng khách hàng bằng cách thu hút khách hàng mới - nhưng
chưa sử dụng các dịch vụ ngân hàng; và cuối cùng là tăng thêm lợi nhuận cho
ngân hàng.
Như vậy, marketing ngân hàng có thể xem như quá trình tìm kiếm thị
trường (hiện tại và tương lai) có lợi cho sản phẩm ngân hàng. Quá trình này
giúp ngân hàng xây dựng mục tiêu rõ ràng, con đường hình thành, phương
pháp để thực hiện kế hoạch và những phương án để thành công.
Mục tiêu chiến lược hoạt động của ngân hàng
Bất kỳ một tổ chức nào cũng đều có mục đích, tôn chỉ hoạt động của
riêng mình. Trong từng giai đoạn cụ thể, các tổ chức thường đề ra những mục
tiêu riêng. Mục tiêu là đích cuối cùng mà tất cả các hoạt động đều phải hướng
vào nhằm đạt kết quả. Do vậy, ngân hàng phải xác định rõ mục tiêu và xây
dựng một chiến lược phát triển dịch vụ ngân hàng nhằm đảm bảo việc phát
triển dịch vụ ngân hàng được thực hiện một cách hiệu quả, có kế hoạch lâu
dài, không phải là những hoạt động nhỏ lẻ, rời rạc, từ đó tạo ra thế chủ động
cho ngân hàng. Nếu không, việc phát triển dịch vụ ngân hàng sẽ không đạt
được kết quả như mong muốn.
Uy tín của ngân hàng
Chất lượng luôn là yếu tố được quan tâm hàng đầu trong việc cung cấp
các sản phẩm dịch vụ. Đối với dịch vụ ngân hàng cũng vậy, khách hàng luôn
mong muốn được cung cấp những sản phẩm có chất lượng tốt nên khi có nhu
cầu, tâm lý khách hàng thường tìm đến những ngân hàng có uy tín. Do vậy,
việc tạo dựng uy tín của ngân hàng giữ một vai trò khá quan trọng trong việc
phát triển dịch vụ ngân hàng.
Năng lực quản trị điều hành
Sự phát triển của hệ thống dịch vụ phải gắn liền với năng lực quản trị,
23
điều hành của mỗi ngân hàng để đảm bảo các ngân hàng phát triển ổn định, an
toàn, bền vững và tự kiểm soát được.
Muốn vậy, các nhà lãnh đạo ngân hàng không chỉ biết tuân thủ các quy
định của pháp luật mà còn phải có kiến thức chuyên môn về nghiệp vụ ngân
hàng, phải biết phân tích đánh giá các rủi ro có thể có của mỗi loại hình dịch
vụ, xu hướng phát triển của mỗi loại nghiệp vụ, nắm bắt nhu cầu của khách
hàng… để có những bước đi thích hợp.
4.2. Nhóm nhân tố khách quan
Bên cạnh các yếu tố chủ quan nói trên, sự phát triển dịch vụ ngân hàng
còn chịu ảnh hưởng của các nhân tố khách quan:
Môi trường pháp lý
Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ -
một lĩnh vực kinh doanh nhạy bén và phức tạp. Do vậy, ngân hàng luôn chịu
sự kiểm soát chặt chẽ của pháp luật, cụ thể là các chính sách tiền tệ; chính
sách tỷ giá; chính sách giá cả…
Môi trường kinh tế
Một nền kinh tế phát triển là môi trường thuận lợi cho sự phát triển của
các hoạt động kinh doanh nói chung và sự phát triển của dịch vụ ngân hàng
nói riêng. Nền kinh tế phát triển sẽ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp làm ăn
có lãi, hoạt động sản xuất kinh doanh được mở rộng nhờ đó mà thu nhập của
người dân cũng tăng lên. Do vậy, sẽ làm tăng cường nhu cầu sử dụng các dịch
vụ của ngân hàng như dịch vụ thanh toán, dịch vụ môi giới đầu tư… Ngân
hàng sẽ không thể đẩy mạnh phát triển các dịch vụ nếu như các hoạt động
kinh doanh nói chung diễn ra một cách trì trệ, kinh tế kém phát triển.
Môi trường chính trị xã hội
Môi trường chính trị - xã hội bao gồm các yếu tố như chính trị, dân số,
trình độ dân trí, thu nhập… Dịch vụ ngân hàng chỉ có thể phát triển trong một
môi trường chính trị ổn định, không có nhiều biến động bất thường. Trình độ
24
dân trí cũng là một yếu tố cần xét đến. Ngân hàng muốn phát triển dịch vụ thì
trước hết phải được khách hàng là công chúng đón nhận. Đó chính là lý do tại
sao ở những vùng nông thôn hay những nước kém phát triển người dân có
tâm lý thích sử dụng tiền mặt hơn là phương tiện thanh toán không dùng tiền
mặt. Ngoài ra, thu nhập cũng ảnh hưởng đến sự phát triển của dịch vụ ngân
hàng. Các dịch vụ như thanh toán qua thẻ, tư vấn và môi giới đầu tư … chỉ
thực hiện được khi thu nhập của người dân đạt một mức thu nhập nhất định.
Yếu tố tâm lý
Hoạt động cung ứng dịch vụ phải chú trọng đến tâm lý tiêu dùng của
khách hàng. Ngân hàng cũng vậy, muốn phát triển dịch vụ thì trước hết phải
nắm bắt được nhu cầu của khách hàng để từ đó đưa ra các sản phẩm, dịch vụ
phù hợp với từng đối tượng, từng nhóm khách hàng khác nhau.
Sự phát triển của công nghệ ngân hàng
Rất nhiều các sản phẩm dịch vụ ngân hàng gắn liền với sự phát triển
của khoa học công nghệ. Đây cũng chính là một yếu tố quyết định đến chất
lượng dịch vụ. Trong thời đại hiện nay, điều quan trọng là các ngân hàng phải
biết "đi tắt, đón đầu" khai thác những thành tựu của khoa học công nghệ trên
thế giới phù hợp với thực tế và đáp ứng được nhu cầu của người sử dụng.
Thực tế cho thấy trình độ công nghệ ngân hàng Việt Nam vẫn còn ở mức
thấp. Do vậy, để phát triển dịch vụ các NHTM Việt Nam cần phải chú trọng
hơn đến yếu tố công nghệ.
Môi trường cạnh tranh
Hoạt động trong nền kinh tế thị trường, các ngân hàng chịu sự cạnh
tranh ngày càng gay gắt giữa các NHTM trong nước với các ngân hàng nước
ngoài. Hiện nay, ở Việt Nam cung cấp dịch vụ ngân hàng có 4 ngân hàng
thương mại Nhà nước, 01 ngân hàng chính sách xã hội, khoảng 35 ngân hàng
thương mại cổ phần, 37 chi nhánh ngân hàng nước ngoài, 6 ngân hàng liên
doanh, 8 công ty tài chính, 11 công ty cho thuê tài chính, 46 văn phòng đại
25
diện ngân hàng nước ngoài, 1 quỹ tín dụng nhân dân trung ương, khoảng 900
quỹ tín dụng nhân dân cơ sở và một số định chế tài chính khác... Do vậy, để
thu hút được khách hàng và chiếm lĩnh được thị phần về các sản phẩm dịch
vụ ngân hàng, các ngân hàng phải chú trọng đến việc nâng cao chất lượng sản
phẩm, phong cách phục vụ khách hàng và đưa ra các hình thức khuyến mãi
hấp dẫn, mức phí phù hợp. Trong cuộc đua đó, các ngân hàng phải áp dụng các
công nghệ hiện đại, phát triển các sản phẩm dịch vụ tiện ích cho khách hàng.
Nhờ đó mà các dịch vụ ngân hàng ngày càng được mở rộng và hoàn thiện.
III. GIỚI THIỆU VỀ NGÂN HÀNG CÔNG THƢƠNG VIỆT NAM
1. Tổng quan về Ngân hàng Công Thƣơng (NHCT) Việt Nam
Ngân hàng Công Thương Việt Nam (Vietinbank) được thành lập từ
năm 1988 sau khi tách ra từ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, có trụ sở tại 108
Trần Hưng Đạo, Hà Nội. NHCT Việt Nam là một trong bốn Ngân hàng
thương mại nhà nước lớn nhất tại Việt Nam. NHCT Việt Nam có tổng tài sản
chiếm hơn 25% thị phần trong toàn bộ hệ thống ngân hàng Việt Nam. Nguồn
vốn của NHCT Việt Nam luôn tăng trưởng qua các năm, tăng mạnh kể từ năm
1996, đạt bình quân hơn 20%/1năm, đặc biệt có năm tăng 35% so với năm
trước. NHCT Việt Nam có mạng lưới kinh doanh trải rộng toàn quốc với 3 Sở
Giao dịch, 137 chi nhánh và trên 700 điểm giao dịch.
NHCT Việt Nam có 03 Công ty hạch toán độc lập là Công ty Cho thuê
Tài chính, Công ty TNHH Chứng khoán, Công ty Quản lý Nợ và Khai thác
Tài sản và 02 đơn vị sự nghiệp là Trung tâm Công nghệ Thông tin và Trung
tâm Đào tạo. NHCT Việt Nam là thành viên sáng lập của các Tổ chức Tài
chính Tín dụng:
- Sài Gòn Công thương Ngân hàng
- Indovinabank (Ngân hàng liên doanh đầu tiên tại Việt Nam)
- Công ty cho thuê Tài chính quốc tế - VILC (Công ty cho thuê Tài
chính quốc tế đầu tiên tại Việt Nam)
26
- Công ty Liên doanh Bảo hiểm Châu Á - NHCT.
NHCT Việt Nam là thành viên chính thức của:
- Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam (VNBA)
- Hiệp hội các ngân hàng Châu Á (AABA)
- Hiệp hội Tài chính viễn thông Liên ngân hàng (SWIFT)
- Tổ chức Phát hành và Thanh toán thẻ Visa, Master quốc tế.
NHCT Việt Nam đã ký 8 Hiệp định Tín dụng khung với các quốc gia
Bỉ, Đức, Hàn quốc, Thụy Sĩ và có quan hệ đại lý với trên 800 ngân hàng lớn
của 80 quốc gia, vùng lãnh thổ trên khắp các châu lục.
NHCT Việt Nam là ngân hàng tiên phong trong việc ứng dụng công
nghệ hiện đại và thương mại điện tử tại Việt Nam.
2. Các dịch vụ ngân hàng chủ yếu của NHCT Việt Nam
15 năm xây dựng và trưởng thành, NHCT Việt Nam đã vượt qua nhiều
khó khăn, thử thách, đi tiên phong trong cơ chế thị trường, phục vụ và góp
phần tích cực thực hiện đường lối, chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước;
không ngừng phấn đấu vươn lên, khẳng định được vị trí là một trong những
NHTM hàng đầu ở Việt Nam, có bước phát triên và tăng trưởng nhanh, đạt
được nhiều thành tựu to lớn trên mọi mặt hoạt động kinh doanh - dịch vụ
ngân hàng; phát triển đồng đều cả kinh doanh đối nội và kinh doanh đối
ngoại, công nghệ ngân hàng tiên tiến, có uy tín với khách hàng trong nước và
quốc tế với những dịch vụ phong phú và đa dạng:
Dịch vụ thẻ
Dịch vụ chuyển tiền kiều hối
Dịch vụ bảo lãnh
Dịch vụ cho vay
Dịch vụ tài khoản
Dịch vụ thanh toán xuất nhập khẩu
27
Dịch vụ chuyển tiền
Dịch vụ tiết kiệm
Dịch vụ cho thuê tài chính
Dịch vụ bảo hiểm
Dịch vụ kinh doanh chứng khoán
Dịch vụ tư vấn
Dịch vụ Internet banking
Dịch vụ vấn tin ATM
Dịch vụ SMS banking
Dịch vụ nhờ thu
Dịch vụ ngân quỹ
Các dịch vụ khác
3. Các kết quả kinh doanh NHCT Việt Nam đã đạt đƣợc
Trong suốt giai đoạn từ năm 1990 đến nay, NHCT Việt Nam luôn thể
hiện lợi thế về hoạt động tín dụng so với các NHTM khác trong hệ thống. Xét
riêng trong năm 2007, dù nền kinh tế có nhiều khó khăn do áp lực lạm phát,
giá cả tăng nhanh, thiên tai, dịch bệnh hoành hành..., đặc biệt là sự cạnh tranh
trong lĩnh vực ngân hàng, tài chính ngày một lớn nhưng NHCT Việt Nam vẫn
giữ được đà phát triển ổn định, đạt nhiều kết quả to lớn. Nguồn vốn huy động
đến 31/12/2007 đạt trên 148.200 tỷ, tăng 18,4% so với năm 2006, chiếm 10,4
% thị phần ngành ngân hàng. Tổng cho vay và đầu tư đến cuối năm 2007 có
số dư trên 153.400 tỷ đồng, tăng 22,6% so với năm trước. Trong đó cho vay
nền kinh tế đến 31/12/2007 đạt trên 101.000 tỷ đồng, tỷ lệ tăng trưởng 28% so
với đầu năm, chiếm 10% thị phần cho vay toàn ngành. Đến nay, NHCT Việt
Nam đã tham gia vào 84 dự án đồng tài trợ với số dư nợ chiếm 10% tổng cho
vay, là những dự án lớn thuộc các ngành kinh tế quan trọng của đất nước.
28
NHCT Việt Nam chú trọng mở rộng tài trợ vốn và tiếp cận các dự án lớn,
hiệu quả thuộc các lĩnh vực khác như dầu khí, than, bất động sản, thép, khai
khoáng nhằm đa dạng hoá danh mục đầu tư trung và dài hạn. Hệ thống thanh
toán NHCT Việt Nam năm 2007 có doanh số thanh toán VNĐ nội bộ đạt 4,8
triệu giao dịch với tổng số tiền 2.178 ngàn tỷ, nhiều gấp đôi so với năm 2006.
Hệ thống thanh tóan song phương với các định chế tài chính khác thực hiện
1,1 triệu giao dịch với doanh số 234 ngàn tỷ đồng, tăng 37% so với năm
2006; Thanh toán điện tử liên ngân hàng thực hiện 1,2 triệu giao dịch với
doanh số 1,1 triệu tỷ đồng, tăng 28,3% so với năm 2006. Thanh tóan xuất
nhập khẩu năm 2007 có nhiều khởi sắc, doanh số đạt hơn 7,1 tỷ USD, chiếm
7,15% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu cả nước, tăng khoảng 35% so với năm
2006. Doanh số phát hành bảo lãnh ra nước ngoài tăng 149% chứng tỏ uy tín
quốc tế của NHCT Việt Nam ngày càng mở rộng. Hoạt động thanh toán biên
mậu với các ngân hàng Trung quốc gia tăng mạnh, nhiều hơn năm 2006 58%,
tương đương 700 triệu nhân dân tệ; NHCT Việt Nam là ngân hàng Việt Nam
đầu tiên ứng dụng Internet Banking vào thanh toán biên mậu. Doanh số phát
hành thẻ tiếp tục tăng đưa tổng số thẻ ATM đã phát hành lên 1,2 triệu thẻ, 5
ngàn thẻ tín dụng quốc tế…
NHCT Việt Nam là ngân hàng truyền thống phục vụ các Tập đoàn,
Tổng công ty lớn, NHCT Việt Nam đã đạt được thỏa thuận hợp tác toàn diện
với các khách hàng này. Đến hết năm 2007 NHCT Việt Nam đã ký kết với 8
đối tác là: Tổng công ty Xi măng Việt Nam, Bitexco, Tập đoàn than và
khoáng sản Việt Nam, Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam, Tập đoàn
Dầu khí Việt Nam, Tổng công ty Thép Việt Nam, Tổng công ty Lương thực
Miền Bắc và Tổng công ty Xăng dầu Việt Nam.
Hiện nay, cổ phần hoá các NHTM nhà nước là một quyết sách lớn của
Đảng và Nhà nước nhằm nâng cao sức cạnh tranh của các ngân hàng, đáp ứng
được yêu cầu mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế. Thực hiện chủ trương này,
29
NHCT Việt Nam đã rất tích cực và gấp rút chuẩn bị cho cổ phần hóa. Đến
nay, lộ trình tổng thể về cổ phần hóa NHCT Việt Nam đã hoàn thành, phương
án cổ phần hóa đang được xây dựng để trình Ngân hàng Nhà nước và Chính
phủ phê duyệt.
Với những nỗ lực và kết quả đạt được, NHCT Việt Nam không ngừng
khẳng định uy tín với việc nhận nhiều giải thưởng lớn, đáng kể như: Giải
thưởng “Sao Vàng Đất Việt” cho sản phẩm thanh toán điện tử năm 2003, giải
thưởng “Thương hiệu mạnh Việt Nam” năm 2004 và năm 2005, 2006 trong
đó năm 2005 và 2006 đạt Topten; giải thưởng “Sao Vàng Đất Việt” năm
2004, 2005 cho thương hiệu NHCT Việt Nam; giải thưởng “Thương hiệu
cạnh tranh 2006” do Cục Sở hữu trí tuệ trao tặng; giải thưởng “Ngọn Hải
đăng” năm 2006 do Hiệp hội Doanh nghiệp vừa và nhỏ trao tặng; Trong năm
2007, NHCT Việt Nam đã liên tục nhận các giải thưởng lớn như: Giải thưởng
Sao Vàng Đất Việt (lần thứ tư liên tiếp); giải thưởng thương hiệu mạnh; Cúp
vàng thương hiệu và nhãn hiệu lần 2; Cúp vàng vì sự tiến bộ xã hội và phát
triển bền vững; Cúp vàng ISO - 2007; giải thưởng “Ngôi sao kinh doanh”,
Lãnh đạo NHCT Việt Nam nhận danh hiệu “Nhà quản lý giỏi”; “Doanh nhân
30
tiêu biểu”; “Doanh nhân tâm tài”...
CHƢƠNG II
THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG CỦA
CHI NHÁNH NGÂN HÀNG CÔNG THƢƠNG HOÀNG MAI
I. TỔNG QUAN VỀ CHI NHÁNH NGÂN HÀNG CÔNG THƢƠNG HOÀNG MAI
1. Sơ lƣợc về lịch sử hình thành và phát triển
Hoàng Mai là một quận mới được thành lập gần 4 năm nay, đang đô thị
hóa rất nhanh, đạt tốc độ phát triển kinh tế khá cao của Hà Nội. Quận Hoàng
Mai có hệ thống giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy hết sức thuận
lợi, với lợi thế sẵn có là quốc lộ 1A, 1B, cùng với cầu Thanh Trì nối đôi bờ
sông Hồng tạo cho Quận lợi thế mới để mở rộng giao thương với các tỉnh lân
cận. Nơi đây đang triển khai thực hiện nhiều công trình trọng điểm như: cụm
công nghiệp Vĩnh Tuy, cầu Thanh Trì, các dự án đầu tư sản xuất kinh doanh,
khu đô thị mới, đường vành đai,….
Được sự chấp thuận của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam,
Hội đồng quản trị Ngân hàng công thương Việt Nam đã có Quyết định số
269/QĐ-HĐQT-NHCT1 ngày 06/11/2006 thành lập Chi nhánh NHCT Hoàng
Mai. Chi nhánh NHCT Hoàng Mai được thành lập kể từ ngày 10/11/2006,
tách ra từ Chi nhánh NHCT khu vực Hai Bà Trưng, có trụ sở tại số 2-4 đường
Kim Đồng, Phường Giáp Bát, Quận Hoàng Mai, Hà Nội. Chi nhánh NHCT
Hoàng Mai là đơn vị trực thuộc NHCT Việt Nam, hạch toán phụ thuộc, có
con dấu riêng, tổ chức và hoạt động theo Quy chế Tổ chức và hoạt động của
chi nhánh NHCT Việt Nam. Chi nhánh NHCT Hoàng Mai trên địa bàn quận
Hoàng Mai - Tp. Hà Nội là chi nhánh Vietinbank thứ 13 trên địa bàn Thủ đô
và là chi nhánh thứ 134 trong hệ thống Vietinbank.
Sự ra đời của Chi nhánh NHCT Hoàng Mai nằm trong chiến lược phát
triển mạng lưới tổ chức của Vietinbank, chắc chắn sẽ góp phần tích cực nâng
31
cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của Vietinbank, đồng thời góp phần
chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đẩy mạnh hơn nữa công cuộc phát triển kinh tế -
xã hội trên địa bàn quận Hoàng Mai một cách toàn diện, bền vững, từng bước
xây dựng nền tảng vật chất, kỹ thuật tại cửa ngõ phía nam Thủ đô văn minh,
hiện đại, đậm đà bản sắc văn hoá Thăng Long - Hà Nội.
Sau hơn một năm chính thức đi vào hoạt động, Chi nhánh NHCT
Hoàng Mai đã phát triển cả về quy mô và phạm vi hoạt động, phân bổ đồng
đều trên địa bàn Quận Hoàng Mai gồm 01 Trụ sở chính, 02 phòng giao dịch,
01 Điểm giao dịch, 03 Quỹ Tiết kiệm, đã dần hình thành một “thế trận” Công
thương trên địa bàn Quận Hoàng Mai của Thủ đô Hà Nội.
Chi nhánh NHCT Hoàng Mai sẽ tiếp tục phát huy phấn đấu cao hơn
nữa chất lượng kinh doanh góp phần xây dựng, phát triển kinh tế thủ đô nói
riêng và đất nước nói chung với mục tiêu: "Kinh tế phát triển, an toàn vốn,
thực hiện đúng pháp luật".
2. Chức năng nhiệm vụ và mô hình tổ chức
2.1. Về tư cách pháp nhân
Chi nhánh NHCT Hoàng Mai là một đơn vị thành viên trực thuộc
NHCT Việt Nam (theo mô hình tổng công ty Nhà nước hạng đặc biệt). Có tư
cách pháp nhân phụ thuộc thực hiện theo sự uỷ quyền của Tổng Giám đốc
NHCT Việt Nam trong tất cả các hoạt động kinh doanh - dịch vụ, có con dấu
và tài khoản riêng, thực hiện chế độ hạch toán kế toán đầy đủ chi phí và thu
nhập. Hoạt động phụ thuộc vào NHCT Việt Nam về phân phối thu nhập và tất
cả các cơ chế quản lý, cơ chế nghiệp vụ.
2.2. Về mô hình tổ chức
Chi nhánh NHCT Hoàng Mai thực hiện theo mô hình tổ chức là Chi
nhánh cấp I của NHCT Việt Nam, gồm: Ban Giám đốc chịu trách nhiệm trước
Tổng Giám đốc về hoạt động kd và tổ chức cán bộ tại chi nhánh. Hoạt động
nghiệp vụ chính của ngân hàng được tổ chức theo các Phòng, ban chuyên
32
môn là: Phòng Khách hàng doanh nghiệp (P. KHDN), Phòng Khách hàng cá
nhân (P. KHCN), Phòng Kế toán tài chính (P.KTTC), Phòng Kiểm toán nội
bộ (P. KTNB), Phòng Tiền tệ kho - quỹ (P. TTKQ) , Phòng Tổ chức hành
chính (P. TCHC), Phòng Quản lý rủi ro (P. QLRR), Phòng Thanh toán xuất
nhập khẩu (P. TTXNK), các Phòng Giao dịch, điểm giao dịch và các Quỹ tiết
kiệm.
33
Sơ đồ 5. Bộ máy tổ chức Chi nhánh NHCT Hoàng Mai
2.3. Sản phẩm, dịch vụ ngân hàng chủ yếu
Bảng 1. Các sản phẩm dịch vụ hiện có tại Chi nhánh
TT Tên sản phẩm TT Tên sản phẩm
I Dịch vụ tiền gửi IV Dịch vụ Internetbanking
1 Tiền gửi tiết kiệm V Dịch vụ ngân quỹ
2 Tiền gửi TCKT, dân cư VI Dịch vụ bảo lãnh
II Dịch vụ cho vay VII Dịch vụ thu hộ
1 Cho vay thương mại VIII Dịch vụ chi hộ
2 Cho vay tiêu dùng IX Dịch vụ kinh doanh ngoại tệ
III Dịch vụ thanh toán 1 Thu đổi ngoại tệ
1 Thanh toán chuyển tiền 2 Mua bán ngoại tệ
2 Thanh toán bằng L/C X Dịch vụ thẻ
3 Thanh toán bằng thẻ Thẻ rút tiền từ máy ATM 1
4 Thanh toán TTR 2 Thẻ ghi nợ
5 Ủy nhiệm thu 3 Thẻ tín dụng
6 Ủy nhiệm chi 4 Đại lý thanh toán thẻ quốc tế
Nguồn: Phòng khách hàng Chi nhánh NHCT Hoàng Mai
2.4. Các khách hàng chủ yếu
Khách hàng chính của Chi nhánh NHCT Hoàng Mai chủ yếu là các
doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực sản xuất công
nghiệp, dịch vụ thương mại, xuất nhập khẩu, các dự án đầu tư…nằm trên địa
bàn quận Hoàng Mai như Công ty cổ phần Sản xuất - Xuất nhập khẩu Dệt
may, Công Ty TNHH Phước Thạnh, Công ty TNHH Trung Thành...,đặc biệt
có hai khách hàng lớn và truyền thống như Công ty thông tin di động VMS
Mobifone, Tổng công ty lắp máy Việt Nam.
34
Ngoài ra, còn có các hộ sản xuất kinh doanh tiểu thủ công nghiệp.
II. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG DỊCH VỤ NGÂN HÀNG TẠI CHI NHÁNH
NGÂN HÀNG CÔNG THƢƠNG HOÀNG MAI
1. Về dịch vụ tiền gửi
Đây là hoạt động được Chi nhánh NHCT Hoàng Mai rất chú trọng để
phát triển, mặc dù mới đi vào hoạt động xong Chi nhánh luôn có những biện
pháp nhằm thu hút được tối đa nguồn vốn của dân cư cũng như các doanh
nghiệp. Điều này thể hiện qua quy mô nguồn vốn trong vòng 1 năm gần đây
tăng trưởng liên tục cụ thể đầu năm 2007, tổng nguồn vốn huy động: 293 tỷ
đồng đến 31/12/2007 tăng lên 513 tỷ. Tính đến 31/05/2008, tổng nguồn vốn
huy động của Chi nhánh NHCT Hoàng Mai đã lên tới con số 741 tỷ đồng.
Nhìn chung tỷ lệ tăng trưởng nguồn vốn huy động được tăng vượt bậc
qua một năm hoạt động. Có được kết quả này là nhờ Chi nhánh NHCT Hoàng
Mai đa dạng hóa các hình thức huy động vốn như: Tiền gửi tiết kiệm không
kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn từ 1 tháng đến 60 tháng với nhiều hình
thức trả lãi: lãi tháng, lãi quý, lãi trước, lãi sau, lãi bậc thang, tiết kiệm dự
thưởng, tiết kiệm có khuyến mãi, ngoài ra còn phát hành chứng chỉ tiền gửi
loại 12 tháng, 18 tháng và 24 tháng với lãi suất hấp dẫn với cả ngoại tệ và
VNĐ. Về cơ cấu nguồn vốn theo tính chất nguồn vốn huy động được thể hiện
qua bảng dưới đây:
Bảng 2. Cơ cấu nguồn vốn huy động năm 2007
(Đơn vị: Triệu đồng)
TT Chỉ tiêu Đầu năm Cuối năm
1 Tiền gửi tiết kiệm 90.017 216.672
2 Tiền gửi TCKT 203.800 297.044
3 Tổng nguồn vốn huy động 293.817 513.716
35
Nguồn: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh năm 2007
Qua bảng trên ta thấy cơ cấu nguồn vốn tại Chi nhánh NHCT Hoàng Mai
đã phát triển và dần đi vào ổn định, tiền gửi của TCKT chiếm 58% tổng nguồn vốn
còn lại là tiền gửi tiết kiệm của dân cư, đây là điều kiện đảm bảo cho các hoạt động
khác của Ngân hàng phát triển.
2. Về dịch vụ cho vay
Ngay từ buổi đầu đi vào hoạt động Chi nhánh NHCT Hoàng Mai luôn
chú trọng đến việc tăng trưởng tín dụng, tuy nhiên Chi nhánh xác định tăng
trưởng tín dụng phải đi đôi với chất lượng tín dụng, hạn chế đến mức thấp
nhất nợ xấu, nợ quá hạn, không để phát sinh nợ quá hạn. Đến 31/12/2007,
tổng dư nợ cho vay và đầu tư đạt 302.773 triệu đồng vượt kế hoạch NHCT
Việt Nam giao, trong đó dư nợ VNĐ là 84.215 triệu đồng, dư nợ ngoại tệ quy
đổi là 218.558 triệu đồng .Về cơ cấu khoản vay: Vay ngắn hạn đạt 120.071
triệu đồng ( 40% tổng dư nợ), vay trung và dài hạn đạt 182.702 triệu đồng (
60% tổng dư nợ).
Bảng 3. Cơ cấu cho vay năm 2007
(Đơn vị: Triệu đồng)
TT Chỉ tiêu 31/12/2007
1 Cho vay ngắn hạn 120.071
2 Cho vay trung và dài hạn 182.702
3 Tổng dư nợ cho vay 302.773
Nguồn: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh năm 2007
Mặc dù gặp nhiều khó khăn nhưng chi nhánh cũng đã cố gắng bố trí
cán bộ hợp lý để đạt được hiệu quả công việc cao nhất. Ngoài lượng khách
hàng vừa và nhỏ, khách hàng cá nhân, để mở rộng quan hệ khách hàng, phát
triển tín dụng, ban lãnh đạo, đội ngũ cán bộ Chi nhánh NHCT Hoàng Mai đã
chủ động tìm kiếm khách hàng tiềm năng, tiếp cận nhiều doanh nghiệp lớn có
36
tình hình kinh doanh tốt, có uy tín trong quan hệ với ngân hàng; các dự án,
phương án sản xuất kinh doanh khả thi tạo điều kiện hỗ trợ kịp thời nhu cầu
vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Chi nhánh đã thực hiện đúng quy trình thẩm định khách hàng trước khi
giải ngân, sau khi giải ngân vẫn tiếp tục sát sao đôn đốc khách hàng để không
xảy ra nợ quá hạn, nợ xấu và tỷ lệ này ở chi nhánh chỉ chiếm 0,72% trên tổng
dư nợ cho vay của nền kinh tế. Chi nhánh cũng đã tập trung mở rộng đầu tư
vốn vào các doanh nghiệp có tình hình sản xuất, kinh doanh ổn định, có hiệu
quả tình hình Tài chính lành mạnh, đồng thời hạn chế cho vay không có bảo
đảm bằng tài sản, bổ sung tài sản bảo đảm cho những hợp đồng tín dụng đã
giải ngân. Kết quả đến hết quý I/2008, tổng dư nợ cho vay và đầu tư của Chi
nhánh đã tăng 85 tỷ.
Bên cạnh việc duy trì quan hệ tín dụng với khách hàng truyền thống,
Chi nhánh còn quan tâm cho vay các thành phần kinh tế khác, đặc biệt là
doanh nghiệp vừa và nhỏ, có phương án khả thi, có kết quả kinh doanh tốt.
Điều này được minh chứng qua tỷ lệ cho vay đối với các doanh nghiệp ngoài
quốc doanh chiếm 48%.
3. Về dịch vụ thanh toán
3.1. Dịch vụ thanh toán quốc tế
Là một Chi nhánh trực thuộc NHCT Việt Nam, có quan hệ với trên 700
Đại lý các Ngân hàng trên Thế giới, là Thành viên của hệ thống tài chính viễn
thông liên Ngân hàng toàn cầu… Chi nhánh NHCT Hoàng Mai có khả năng
đáp ứng đầy đủ các yêu cầu và dịch vụ ngân hàng quốc tế một cách nhanh
chóng, thuận tiện, hiệu quả nhất với các phương tiện công nghệ ngân hàng
hiện đại. Điều này được thể hiện qua kết quả đạt được của một số dịch vụ chủ
yếu của Chi nhánh năm 2007 như sau:
37
Đối với thanh toán hàng nhập khẩu
Bảng 4. Kết quả thanh toán hàng nhập khẩu
(Đơn vị: nghìn USD)
TT Chỉ tiêu Đầu năm Cuối năm
Số món 0 110 Phát hành L/C Số tiền 0 10.027
Số món 0 120 Thanh toán L/C Số tiền 0 5.188
Số món 0 31 Thanh toán nhờ thu Số tiền 0 592
Số món 0 160 Thanh toán TTR Số tiền 0 11.150
Nguồn: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh năm 2007
Thanh toán hàng nhập khẩu là hoạt động thanh toán cơ bản trong thanh
toán quốc tế tại Chi nhánh NHCT Hoàng Mai. Mặc dù là Chi nhánh mới xong
đã cung cấp đầy đủ các dịch vụ thanh toán quốc tế như L/C, thanh toán nhờ
thu D/P, nhờ thu D/A, thanh toán TTR.
Qua bảng số liệu trên ta thấy mặc dù mới đi vào hoạt động song công
tác thanh toán hàng nhập khẩu tại Chi nhánh cuối năm có sự tăng trưởng đáng
kể so với đầu năm đặc biệt là hình thức thanh toán TTR đạt trên 11 triệu
USD, số món thanh toán tăng trưởng đáng kể nhưng giá trị tăng chưa cao.
Đối với thanh toán hàng xuất khẩu
Bảng 5. Kết quả thanh toán hàng xuất khẩu
(Đơn vị: nghìn USD)
TT Chỉ tiêu Đầu năm Cuối năm
Số món 0 40 Thanh toán L/C Số tiền 0 1.115
Số món 0 110 Chuyển tiền đến TTR Số tiền 0 3.582
38
Nguồn: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh năm 2007
Thanh toán hàng xuất còn chiếm tỷ trọng nhỏ trong cơ cấu thanh toán
quốc tế tại Chi nhánh NHCT Hoàng Mai cả về doanh số thanh toán và số món
thực hiện. Như vậy, phần lớn khách hàng có quan hệ thanh toán quốc tế với
Chi nhánh là doanh nghiệp nhập khẩu, các đơn vị xuất khẩu còn rất ít. Một số
khách hàng có doanh số thanh toán xuất nhập khẩu lớn trên địa bàn là Công ty
cổ phần Sản xuất - Xuất nhập khẩu Dệt may, Công ty TNHH Trung Thành,
Công ty thương mại điện tử Hà Anh…
Hoạt động thanh toán quốc tế cũng được Chi nhánh chú trọng phát triển
điều này được thể hiện trong việc chuyển hướng trong việc lựa chọn khách
hàng. Bên cạnh các khách hàng là các doanh nghiệp Nhà nước, các đơn vị
xuất khẩu thuộc các Tổng công ty lớn và các đơn vị có quan hệ tín dụng với
Chi nhánh thì các khách hàng vãng lai, các doanh nghiệp ngoài quốc doanh và
các cá nhân cũng được Chi nhánh hướng tới. Nhưng đối với chuyển tiền phi
thương mại của các cá nhân kết quả đạt được còn rất thấp.
Cùng với các hoạt động thanh toán quốc tế nói trên, trong những năm
gần đây, Chi nhánh NHCT Hoàng Mai cũng đã phát triển thêm một số dịch vụ
mới như: Chi trả kiều hối theo dịch vụ Western Union, thanh toán thẻ quốc tế
và thanh toán séc du lịch. Phí thu từ dịch vụ Western Union rất cao nên Chi
nhánh đã triển khai thêm một số điểm chi trả tại các điểm giao dịch nhưng do
còn chậm trễ trong thủ tục hành chính nên đến giữa năm 2007 các điểm này
mới đi vào hoạt động.
Dịch vụ chuyển tiền kiều hối mang lại lợi ích đáng kể cho hoạt động
kinh doanh của ngân hàng. Trong năm 2007 Chi nhánh đã thực hiện được trên
200 món với tổng số tiền gần 1 triệu USD. Bên cạnh nguồn phí thu được, hoạt
động này còn đáp ứng phần nào nhu cầu ngoại tệ cho các khách hàng nhập
khẩu vì không phải khách hàng nào cũng có nhu cầu sử dụng ngoại tệ họ có
thể bán lại cho ngân hàng để lấy VNĐ hoặc gửi tiết kiệm tại ngân hàng.
39
Trong khi các dịch vụ khác có sự phát triển tương đối cao thì dịch vụ
thanh toán séc du lịch và thẻ tín dụng quốc tế còn rất hạn chế. Điều này cũng
dễ lý giải vì sao địa bàn hoạt động của Chi nhánh không có khách du lịch qua
lại.
3.2. Dịch vụ thanh toán trong nước
Đây là dịch vụ mang lại nguồn phí đáng kể cho Chi nhánh NHCT
Hoàng Mai. Thực hiện tốt dịch vụ này giữ vai trò khá quan trọng bởi nó có
ảnh hưởng rõ rệt đến hoạt động nghiệp vụ khác như huy động tiền gửi, cho
vay và các dịch vụ khác đi kèm. Cũng giống như các ngân hàng thương mại
khác Chi nhánh NHCT Hoàng Mai thực hiện thanh toán cho khách hàng theo
hai phương thức: thanh toán không dùng tiền mặt và thanh toán dùng tiền
mặt. Để đáp ứng nhu cầu thanh toán của khách hàng, Chi nhánh NHCT
Hoàng Mai cung cấp các hình thức thanh toán sau:
Thanh toán online cùng hệ thống NHCT: các lệnh thanh toán của
khách hàng được thực hiện ngay khi hoàn tất thủ tục. Đây là phương thức áp
dụng cho khách hàng có quan hệ chi trả với nhau song có tài khoản tại các
ngân hàng trong cùng hệ thống NHCT.
Thanh toán điện tử liên Ngân hàng áp dụng đối với những lệnh thanh
toán mà người thụ hưởng tại các ngân hàng đóng trên địa bàn các tỉnh.
Thanh toán bù trừ giấy áp dụng đối với lệnh thanh toán mà người thụ
hưởng đóng trên địa bàn Hà Nội có tham gia thanh toán bù trừ tại Ngân hàng
Nhà nước.
Thanh toán chuyển tiếp qua NHCT khác.
Thanh toán qua Ngân hàng Nhà nước.
Với một Chi nhánh còn mới đi vào hoạt động thì khối lượng giao dịch
bình quân trên 300 chứng từ/ngày đòi hỏi các bộ kế toán phải nỗ lực hết mình,
đáp ứng yêu cầu thanh toán nhanh chóng, kịp thời, chính xác và an toàn tài
40
sản của khách hàng. Chính vì vậy đã thu hút được một lượng khách hàng đến
mở tài khoản tại chi nhánh. Ngoài ra, chi nhánh cũng đã xem xét miễn hoặc
giảm một số loại phí cho các doanh nghiệp có số dư tiền gửi lớn hoặc có giao
dịch nhiều tại chi nhánh. Chính việc này đã làm cho khách hàng muốn ở lại
với ngân hàng. Phí dịch vụ thanh toán trong nước luôn chiếm giữ hơn 50%
tổng phí dịch vụ của ngân hàng.
3.3. Dịch vụ thanh toán bằng thẻ
Hiện nay, ở hệ thống NHCT có 4 loại thẻ ATM đó là ATM S - Card,
ATM C - Card, ATM P - Card và ATM G - Card, ngoài ra còn có thẻ Visa và
Master. Mỗi loại thẻ có những ưu việt khác nhau.
Thứ nhất: Thẻ E-partner S-card.
Đây là loại thẻ được thiết kế dành riêng cho giới trẻ với hạn mức rút tối
đa là 5 triệu đồng/ngày và với 5 lần rút, số tiền rút tối thiểu là 10.000vnd/lần
nên thẻ S - Card rất phù hợp với các sinh viên.
Thứ hai, Thẻ E-parners C - Card.
Vượt dòng thời gian, thẻ C - Card là thẻ ATM được thiết kế trên công
nghệ từ tính tiên tiến hàng đầu thế giới với độ bảo mật cao, hạn mức thẻ phù
hợp cho các cán bộ nhân viên, thương nhân, doanh nghiệp sử dụng dịch vụ
chỉ lương qua tài khoản…
Hạn mức của thẻ C-Card: Số tiền rút tối thiểu/lần là 10.000vnd, số tiền
rút tối đa là 2.000.000vnd/lần và số lần rút tối đa là 5.
Thứ ba, Thẻ E - parners P - Card.
Với mục tiêu tôn vinh phái đẹp, trân trọng hơn những thành quả mà họ
đã đạt được, PINK Card không đơn thuần chỉ là một phương tiện thanh toán
hiện đại mà còn là người bạn đồng hành với phụ nữ trong nhịp sống hiện đại.
Thứ tư: Thẻ E - Parters G -Card
Thẻ ghi nợ E - Parters G - Card là thẻ ghi nợ thông dụng nhất, hạn mức
cao nhất, dịch vụ ưu đãi hoàn hảo nhất dành cho khách hàng cao cấp là các
41
doanh nhân, lãnh đạo, bộ, ban ngành và các doanh nghiệp…
Chủ thẻ được tặng bảo hiểm tai nạn con người 24/24h miễn phí với giá
trị bảo hiểm lên đến 20 triệu đồng cho năm đầu tiên phát hành.
Thứ năm, Thẻ Visa và Master
Thẻ tín dụng quốc tế mang nhãn hiệu Vietinbank Visa & Master &
MasterCard do Vietinbank phát hành được sử dụng cả trong và ngoài lãnh thổ
Việt Nam, là một phương tiện thanh toán bằng hàng hóa dịch vụ tại cơ sở
chấp nhận thẻ và rút tiền mặt tại các ATM hoặc các điểm ứng tiền mặt. Khi
phát hành thẻ Visa & MasterCard khách hàng được tặng bảo hiểm y tế toàn
cầu cho chủ thẻ với giá trị bảo hiểm là 5.000 USD cho thẻ vàng và 1.000 USD
cho thẻ chuẩn.
Với những ưu việt trên của các loại thẻ nên dịch vụ này của Chi nhánh
NHCT Hoàng Mai đã phát triển không ngừng điều này được minh chứng qua
bảng số liệu sau:
Bảng 6. Kết quả thực hiện dịch vụ thẻ năm 2007
Chỉ tiêu Đầu năm Cuối năm
Số thẻ phát hành 250 3.100 thẻ
Số dư (triệu đồng) 58 2.500
Nguồn: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh năm 2007
Việc phát hành thẻ ATM trong năm 2007 đạt con số đáng kể hơn 3000
thẻ, tương đương với các Chi nhánh NHCT khác đã phản ánh nỗ lực của Chi
nhánh trong việc xâm nhập thị trường thẻ Việt Nam.
Chi nhánh đang cố gắng ứng dụng công nghệ tiên tiến, phát triển các
dịch vụ intenet banking hay liên kết với các hãng di động lớn như Vinaphone,
Viettel, Mobifone để khách hàng có thể thực hiện các giao dịch qua điện
thoại, tăng cường các dịch vụ đi kèm tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng
42
khi giao dịch với ngân hàng.
Với những tiện nghi thẻ ATM của NHCT mang lại, tính đến hết quý
I/2008, số lượng thẻ được phát hành tại chi nhánh NHCT Hoàng Mai đã lên
tới 4500 thẻ, trong đó phần lớn là cho các cán bộ công nhân viên.
4. Các dịch vụ khác
Công tác dịch vụ ngân hàng luôn được sự quan tâm chỉ đạo kịp thời của
Ban giám đốc. Với chính sách đa dạng hoá các sản phẩm dịch vụ ngân hàng
và từng bước đưa các sản phẩm ngân hàng hiện đại vào tiếp cận cuộc sống.
Tuy mới đi vào hoạt động song ban lãnh đạo chi nhánh đã tạo điều kiện cho
công tác khuyếch trương các tiện ích dịch vụ ngân hàng, nâng cao chất lượng
phục vụ khách hàng nhằm thu hút được đông đảo khách hàng trong quận và
quận lân cận trên địa bàn thủ đô. Đây chính là một trong những yếu tố quan
trọng tác động đến tốc độ tăng trưởng nguồn vốn của chi nhánh
Bảng 7. Kết quả thu phí dịch vụ qua một năm hoạt động
(Đơn vị: triệu đồng)
Chỉ tiêu 31/12/2007
Bảo lãnh 50
Kinh doanh ngoại tệ 150
Dịch vụ ngân quỹ 58
Dịch vụ khác 37
Tổng 295
Nguồn: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh năm 2007
4.1. Dịch vụ bảo lãnh
Mặc dù mới đi vào hoạt động trong một năm qua, chi nhánh đã cung
cấp nhiều loại hình dịch vụ bảo lãnh với các điều kiện linh hoạt, giúp khách
hàng đáp ứng được yêu cầu của đối tác, nhà thầu với quy trình nhanh gọn,
mức phí cạnh tranh. Hiện nay đã có các hình thức bảo lãnh sau:
Bảo lãnh thực hiện hợp đồng.
43
Bảo lãnh thanh toán, bảo lãnh dự thầu, bão lãnh đảm bảo chất lượng.
Bảo lãnh bảo hành, bảo lãnh vay vốn…
Trước đây phần lớn bảo lãnh được thực hiện cho các doanh nghiệp quốc
doanh nhưng đến nay đã được mở rộng cho cả thành phần kinh tế ngoài quốc
doanh. Tất cả các khách hàng doanh nghiệp của Chi nhánh như Công ty hệ
thống tự động Sơn Hà, Công ty TNHH Sáng tạo Việt, Công ty Cổ phần Công
nghệ Hoàng Anh…đều thực hiện bảo lãnh dự thầu, bảo lãnh thực hiện hợp
đồng, bảo lãnh bảo hành,…tại chi nhánh. Với việc tuân thủ nghiêm túc quy
chế bảo lãnh và linh động trong quá trình thực hiện mà dịch vụ này cũng đã
góp phần làm tăng nguồn thu phí dịch vụ cho Chi nhánh đạt mức 50 triệu
đồng trong năm 2007.
4.2. Dịch vụ kinh doanh ngoại tệ
Dịch vụ này đóng vai trò quan trọng, ngoài lợi nhuận nó đem lại do
chênh lệch tỷ giá nó còn góp phần hỗ trợ tích cực cho sự phát triển của dịch
vụ thanh toán quốc tế qua việc đảm bảo nguồn ngoại tệ đáp ứng yêu cầu thanh
toán của khách hàng. Kết quả kinh doanh ngoại tệ của Chi nhánh được thể
hiện qua bảng sau:
Bảng 8. Kết quả kinh doanh ngoại tệ năm 2007
(Đơn vị: nghìn USD)
Chỉ tiêu Đầu năm Cuối năm
Doanh số mua vào 0 35.754
Doanh số bán ra 0 36.742
Nguồn: Phòng XNK Ngân hàng Công thương Hoàng Mai
Chi nhánh thực hiện thu đổi đối với hai loại ngoại tệ mạnh là USD và
EUR. Doanh số thu đổi ngoại tệ mặt chưa cao do Chi nhánh chỉ có 2 bàn đại
lý thu đổi và 1 bàn trực tiếp tại trụ sở chính của Chi nhánh. Mặc dù Chi nhánh
44
không trực tiếp thu được lượng ngoại tệ lớn nhưng vẫn đáp ứng được nhu cầu
thanh toán của khách hàng vì có nguồn từ NHCT Việt Nam tận dụng được tối
đa dịch vụ thanh toán.
4.3. Dịch vụ thu hộ chi hộ
Dịch vụ thu hộ chi hộ được thực hiện trên cơ sở các hợp đồng thỏa
thuận ký giữa ngân hàng với khách hàng. Ngân hàng sẽ đứng ra thay mặt cho
khách hàng thực hiện giao dịch thu hộ, chi hộ. Hiện nay Chi nhánh thực hiện
dịch vụ này các hình thức thu hộ tiền điện, điện thoại, nước, vệ sinh.
Năm 2007, Chi nhánh NHCT Hoàng Mai đã triển khai được hơn 100
khách hàng thanh toán tiền, điện, điện thoại, nước, vệ sinh… qua tài khoản
với bình quân trên 100 nhờ thu/tháng. Với việc triển khai dịch vụ này cũng đã
mang lại cho Chi nhánh nguồn thu đáng kể và rất thuận lợi, có hiệu quả, tạo
được niềm tin và tín nhiệm với khách hàng. Tính đến 31/05/2008 số khách
hàng của chi nhánh đã tăng lên gần gấp đôi, đạt 190 nhờ thu/tháng.
4.4. Dịch vụ ngân quỹ
Hoạt động chủ yếu của dịch vụ này là ngân hàng cử cán bộ đến thu tiền
mặt trực tiếp tại các đơn vị. Tính riêng công tác thu chi lưu động, hiện Chi
nhánh đang thực hiện thu chi bán hàng cho một số khách hàng lớn như các Xí
nghiệp bán lẻ xăng dầu và điện lực, Công ty thông tin di động VMS; chi trả
lương và tiền thu mua sản phẩm cho Công ty TNHH điện thoại Vân Chung,
Công ty TNHH Tư vấn nguồn nhân lực Việt Nam,…Ngoài ra, ngân hàng còn
thực hiện các dịch vụ như thu đổi tiền rách nát không đủ tiêu chuẩn lưu thông,
dịch vụ kiểm đếm tiền mặt cho đơn vị…
Tuy nhiên kết quả đạt được từ hoạt động này còn rất thấp. Tổng số phí
thu được từ hoạt động ngân quỹ năm 2007 đạt 58 triệu đồng.
4.5. Dịch vụ Internet banking
Dịch vụ này cho phép khách hàng có thể tự tra tài khoản của mình qua
Internet mà không cần ra ngân hàng. Tuy dịch vụ này đã triển khai khá lâu
45
song tiến độ rất chậm. Trong năm 2007 mặc dù có tổng số 250 khách hàng có
tài khoản giao dịch tại ngân hàng nhưng số khách hàng đăng ký sử dụng dịch
vụ E - banking chỉ có 87 khách hàng.
Nguyên nhân chính ở đây là do khách hàng vẫn chưa biết đến dịch vụ
này của ngân hàng. Ngoài ra, một lý do khách là chất lượng dịch vụ chưa cao,
thời gian thực hiện dịch vụ lâu, thông tin cung cấp chi khách hàng chưa nhiều.
Đây là những hạn chế lớn cần nhanh chóng khắc phục để dịch vụ này phát
triển góp thêm thu nhập vào cho ngân hàng.
III. ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ DỊCH VỤ NGÂN HÀNG TẠI CHI NHÁNH
NGÂN HÀNG CÔNG THƢƠNG HOÀNG MAI
1. Kết quả đạt đƣợc
Có được kết quả sau một năm hoạt động trước hết phải nói đến sự quyết
liệt trong chỉ đạo, điều hành của Ban giám đốc đối với hoạt động dịch vụ, sự nỗ
lực chủ động sáng tạo và quyết tâm cao của Ban giám đốc và toàn thể cán bộ
công nhân viên trong triển khai hoạt động. Đồng thời đã có sự chuyển biến tích
cực từ nhận thức tư duy đến hành động cụ thể trong lĩnh vực dịch vụ của ngân
hàng. Nhiều cách làm mới, sáng tạo được phát huy. Ban giám đốc điều hành
kinh doanh linh hoạt, theo sát diễn biến thị trường. Các dịch vụ truyền thống
sẵn có không ngừng được củng cố phát huy vai trò làm nền tảng để triển khai
dịch vụ mới, hiện đại.
Qua những phân tích trên ta có thể thấy những kết quả đạt được trong
công tác phát triển dịch vụ tại Chi nhánh Ngân hàng Công thương Hoàng Mai.
Thứ nhất, đa dạng hóa các loại hình dịch vụ.
Trong năm qua, Chi nhánh NHCT Hoàng Mai đã tích cực hiện đại các
dịch vụ ngân hàng truyền thống và cung cấp thêm nhiều dịch vụ mới như: phát
hành nhiều loại thẻ với rất nhiều tiện tích khác nhau và dành riêng cho mỗi
tầng lớp trong xã hội (thẻ S - Card dành cho sinh viên, thẻ Pink - Card dành
cho phụ nữ, thẻ C - Card dành cho doanh nhân...), dịch vụ thu - chi hộ, dịch vụ
46
E-banking… những dịch vụ này được phát triển dựa trên cơ sở ứng dụng
những thành tựu khoa học công nghệ hiện đại vào lĩnh vực hoạt động ngân
hàng.
Thứ hai, chất lượng dịch vụ ngày càng được cải thiện.
Chi nhánh NHCT Hoàng Mai đã ứng dụng các chương trình hiện đại hóa
công nghệ ngân hàng và hoạt động thanh toán qua ngân hàng được cải thiện rõ
rệt. Đối với những món thanh toán trong cùng hệ thống chỉ mất vài phút là khách
hàng có thể nhận được tiền. Thanh toán khác hệ thống cũng phát triển nhờ ứng
dụng thanh toán song biên. Hiện nay, Chi nhánh NHCT Hoàng Mai thực hiện
thanh toán song biên với 3 ngân hàng lớn là: Ngân hàng Nông nghiệp và Phát
triển nông thôn, Ngân hàng Đầu tư phát triển Việt Nam và Ngân hàng CitiBank
nên các giao dịch thanh toán đến các Chi nhánh của các ngân hàng này cũng
được thực hiện nhanh như chuyển tiền trong cùng hệ thống.
Đối với dịch thanh toán thẻ ngoài các dịch vụ rút tiền mặt, vấn tin, chuyển
khoản chủ thẻ có thể thực hiện thanh toán tiền điện, điện thoại, tiền nước và đặc
biệt hơn là có thể nạp tiền vào tài khoản từ máy ATM đối với các thuê bao di động
trả trước và hiện nay thẻ của Chi nhánh NHCT Hoàng Mai đã kết nối với thẻ của
Ngân hàng Đầu tư và Ngân hàng Sài gòn Công thương.
Thứ ba, Chi nhánh đã áp dụng công tác Marketing vào việc phát triển
dịch vụ ngân hàng. Với mục tiêu phát triển dịch vụ ngân hàng để thu hút được
ngày càng nhiều khách hàng Chi nhánh NHCT Hoàng Mai đã áp dụng các biện
pháp nhằm tăng cường sự phát triển dịch vụ ngân hàng. Chi nhánh đã thực hiện
khuyến mãi, miễn phí phát hành thẻ ATM cho các sinh viên nhân dịp tựu
trường, cán bộ Chi nhánh đã trực tiếp vào tận các trường học trên địa bàn để
tiếp thị. Ngoài ra, nhân các ngày lễ như 30/4 và 2/9 khách hàng cũng được
giảm phí phát hành thẻ. Thông qua những đợt khuyến mãi này đã thu hút được
một lượng đông đảo khách hàng sử dụng thẻ của Chi nhánh góp phần làm tăng
thêm nguồn tiền nhàn rỗi từ các khoản trên.
47
Đối với dịch vụ chuyển tiền nhanh Western Union và dịch vụ kiều hối,
để thu hút khách hàng Chi nhánh cũng thực hiện chương trình tặng quà khuyến
mãi. Khách hàng khi đến nhận tiền, ngoài quà tặng còn được áp dụng chương
trình cộng điểm và nhận quà theo thang điểm.
Trong công tác thanh toán trong nước, Chi nhánh đã linh hoạt điều chỉnh
mức phí đối với từng khách hàng chẳng hạn như đối với những công ty lớn có
quan hệ lâu dài với Ngân hàng thì đối với những món thanh toán trong cùng hệ
thống thì khách hàng đó được miễn phí.
Đối với thanh toán quốc tế và thực hiện dịch vụ bảo lãnh, ngân hàng đã
linh hoạt trong việc yêu cầu khách hàng ký quỹ để mở L/C hay phát hành thư
bảo lãnh. Tỷ lệ ký quỹ được dựa trên mức độ uy tín của khách hàng. Từ đó đề
ra mức ký quỹ hợp lý điều này có lợi cho cả ngân hàng và khách hàng.
2. Những hạn chế và nguyên nhân
2.1. Hạn chế
Với sự có mặt ngày càng nhiều của các TCTD trên địa bàn quận Hoàng
Mai, môi trường kinh doanh đã thực sự là cuộc cạnh tranh gay gắt, giành giật
từng đồng vốn, từng dự án và đặc biệt là chất xám từ các NHTM nhà
nước,…Chi nhánh NHCT Hoàng Mai mặc dù đã có nhưng bước khởi đầu khá
thuận lợi nhưng vẫn không thể tránh khỏi những thiếu sót của một Chi nhánh
mới thành lập. Có thể lấy minh chứng từ kết quả kinh doanh của một số Chi
nhánh tiêu biểu trong cùng hệ thống NHCT tại các vùng miền khác nhau để tạo
48
sự khách quan so sánh, chúng ta sẽ thấy rõ những điểm yếu kém này:
Bảng 9. So sánh hoạt động kinh doanh năm 2007 tại các Chi nhánh
Chi nhánh Chi nhánh Chi nhánh Chỉ tiêu NHCT Hoàng NHCT 14, Hồ NHCT Đà Nẵng Mai Chí Minh
Nguồn vốn huy động 513 1.266 1.322 (tỷ đồng)
Dư nợ cho vay (tỷ 302 1.816 2.028 đồng)
3.100 Số thẻ ATM (thẻ) 4.400 4.900
-6,442 Lợi nhuận (tỷ đồng) 48,522 55,018
Nguồn: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh năm 2007 tại các
Chi nhánh của NHCT Việt Nam
Rõ ràng kết quả kinh doanh của NHCT Hoàng Mai so với kết quả kinh
doanh của Chi nhánh NHCT 14 và Chi nhánh NHCT Đà Nẵng là một khoảng
cách lớn. Hai Chi nhánh này có tốc độ phát triển khá đồng đều nhau, về nguồn
vốn huy động (khoảng 1.300 tỷ) gấp hơn 2 lần Chi nhánh NHCT Hoàng Mai
(khoảng 513 tỷ) , và gấp trên 6 lần về dư nợ cho vay, tuy nhiên số thẻ ATM
phát hành chỉ lớn hơn một con số nhỏ. Và trong những năm đầu Chi nhánh vẫn
đang phải đầu tư nên chưa có lợi nhuận.
Về danh mục dịch vụ, hiện nay, Chi nhánh NHCT Hoàng Mai mới thực
hiện được hơn 20 loại hình dịch vụ trong khi số lượng loại hình dịch vụ mà các
NHTM tại việt Nam đã lên tới hơn 300 dịch vụ. Các dịch vụ chủ yếu là các
dịch vụ truyền thống như: dịch vụ tiền gửi, thanh toán trong nước và quốc tế,
dịch vụ bảo lãnh, cho vay… Các dịch vụ hiện đại còn ở mức sơ khai và quá ít
ỏi. Chi nhánh chưa triển khai được các dịch vụ như dịch vụ tư vấn, cho thuê tài
49
chính, dịch vụ uỷ thác…
Sự đơn điệu còn được thể hiện ngay trong từng loại hình dịch vụ. Đối
với dịch vụ mua bán ngoại tệ, hiện mới chỉ dừng lại ở các hình thức như mua
bán giao ngay, mua bán kỳ hạn. Các nghiệp vụ phát sinh như giao dịch hoàn
đổi, giao dịch quyền chọn vẫn chưa được triển khai. Đối với dịch vụ chuyển
tiền nhanh Western Union chỉ mới có một chiều là chuyển tiền đến mà chưa có
chiều chuyển đi. Dịch vụ thu đổi ngoại tệ chỉ mới dừng lại ở việc thu đổi hai
loại ngoại tệ mạnh là USD và EUR mà chưa thực hiện thu đổi các loại ngoại tệ
mạnh khác, các dịch vụ hiện đại như Internet banking vẫn chưa phát triển, chỉ
bước đầu áp dụng và đang miễn phí cho khách hàng.
Về mức phí, phí thanh toán quốc tế của Chi nhánh NHCT Hoàng Mai
còn cao hơn so với nhiều NHTM khác và được áp dụng cứng nhắc, chưa có
nhiều sự phân biệt, ưu đãi dành cho khách hàng truyền thống, có khối lượng
giao dịch lớn hay mới giao dịch cần thu hút. Tỷ giá bán ngoại tệ của Chi nhánh
thường cao hơn các NHTM trên địa bàn khiến cho khách hàng cân nhắc khi
thanh toán quốc tế với ngân hàng. Đây cũng là một nhân tố hạn chế chất lượng
hoạt động thanh toán quốc tế tại Chi nhánh.
Về công nghệ ngân hàng, mặc dù đã áp dụng chương trình hiện đại hóa
song chương trình này vẫn đang trong giai đoạn hoàn thiện nên Chi nhánh vẫn
còn có những hạn chế. Hiện tượng nghẽn mạng vẫn thỉnh thoảng xảy ra dẫn
đến không giao dịch được làm ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ mất thời gian
của khách hàng. Đôi khi không nghẽn mạng nhưng chương trình chưa được
hoàn thiện nên tốc độ đường truyền quá chậm các giao dịch với khách hàng
cũng bị ảnh hưởng.
Mặc dù đã áp dụng chương trình hiện đại hóa nhưng khách hàng vẫn
chưa sử dụng nhiều dịch vụ gửi tiền một nơi rút tiền ở nhiều nơi, thủ tục gửi
tiền vẫn còn rườm rà gây mất thời gian cho khách hàng.
Mạng lưới thanh toán quốc tế của Chi nhánh chưa rộng, chưa tới các
50
phòng giao dịch khiến cho khách hàng muốn thanh toán phải tới trụ sở chính
Chi nhánh NHCT Hoàng Mai.
2.2. Nguyên nhân
2.2.1. Nguyên nhân chủ quan
Thứ nhất, chưa có một chiến lược phát triển dịch vụ dài hạn và kế hoạch
phát triển cụ thể.
Trong năm qua việc phát triển dịch vụ ngân hàng đã được Ban lãnh đạo
quan tâm và là một trong những mục tiêu hàng đầu song chỉ mới dùng lại kế
hoạch kinh doanh hàng năm. Một phần là do Chi nhánh NHCT Hoàng Mai là
một đơn vị hạch toán phụ thuộc NHCT Việt Nam mọi kế hoạch kinh doanh lập
ra đều phải dựa trên kế hoạch chủ trương đường lối của ngân hàng cấp trên nên
Chi nhánh không thể tự ý đưa ra một sản phẩm dịch vụ hoàn toàn mới mà
không có sự chấp thuận của Hội sở chính. Tuy nhiên, đối với những danh mục
sản phẩm đã được cung cấp thì Chi nhánh cũng chưa xây dựng được một chiến
lược phát triển dịch vụ dài hạn. Ngược lại kế hoạch thường chỉ được định
hướng từng năm một dựa trên chỉ tiêu mà NHCT Việt Nam giao cho, việc phát
triển dịch vụ không có định hướng ổn định, lâu dài và còn chưa cụ thể. Ngân
hàng chỉ mới dùng lại là định hướng chung là đẩy mạnh phát triển dịch vụ ngân
hàng nhưng chưa biết phải phát triển như thế nào, những dịch vụ nào được chú
trọng hơn là lịch trình được thực hiện chưa cụ thể.
Thứ hai, năng lực tài chính của ngân hàng còn ở mức thấp.
Năng lực tài chính thấp gây ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động kinh
doanh và khả năng cung cấp dịch vụ của ngân hàng. Năng lực tài chính thấp
làm giảm độ an toàn của ngân hàng, giảm chất lượng cung cấp dịch vụ. Bên
cạnh đó, các dịch vụ ngân hàng hiện đại đòi hỏi một lượng vốn đầu tư lớn. Chi
nhánh Chi nhánh NHCT Hoàng Mai là đơn vị hạch toán phụ thuộc của NHCT
Việt Nam nên vấn đề tài chính cũng phụ thuộc. Ngay cả việc cung cấp phương
tiện làm việc cho cán bộ làm việc vẫn còn chưa đầy đủ cho nên sẽ rất khó khăn
51
trong việc phát triển các dịch vụ ngân hàng hiện đại. Quy mô vốn của ngân
hàng càng cao, khả năng tham gia vào thị trường càng lớn và ngược lại. Năng
lực tài chính thấp không chỉ làm giảm độ an toàn của ngân hàng mà còn làm
giảm khả năng đầu tư dịch vụ mới.
Thứ ba, ứng dụng công nghệ thông tin để phát triển các dịch vụ ngân
hàng còn ở mức rất hạn chế.
Công nghệ ngân hàng mặc dù những năm gần đây cũng được ngân
hàng Công thương Việt Nam đầu tư nhiều nhưng ở chừng mực nào đó nó vẫn
chưa thể đáp ứng được yêu cầu cần thiết cho sự phát triển của các dịch vụ
ngân hàng đặc biệt là các dịch vụ trên nền tảng công nghệ cao. Các dịch vụ
này thường đòi hỏi chi phí đầu tư rất lớn bao gồm cả chi phí đầu tư về phần
mềm ứng dụng cũng như cơ sở vật chất cũng rất nhiều. Thêm vào đó những
dịch vụ này đòi hỏi nguồn nhân lực có trình độ cao. Hiện nay, các ngân hàng
bạn đã có thể kết nối việc thông báo số dư tài khoản khi có phát sinh giao dịch
đến điện thoại di động của khách hàng nhưng với ngân hàng Công thương thì
dịch vụ này vẫn chưa triển khai được hay là việc khách hàng có thể gửi tiền
một nơi rút nhiều nơi cũng chưa được triển khai.
Dịch vụ ngân hàng Internet banking, phone banking, online banking…
rất phổ biến ở nước ngoài nhưng đối với NHCT Việt Nam thì dịch vụ này
đang trong giai đoạn sơ khai.
Thứ tư, chưa có sự đầu tư thỏa đáng cho hoạt động phát triển dịch vụ
ngân hàng.
Bất kể lĩnh vực kinh doanh nào muốn phát triển đều cần phải có vốn
đầu tư. Với việc phát triển dịch vụ ngân hàng cũng vậy, cần có vốn để nghiên
cứu phát triển các sản phẩm mới, đầu tư công nghệ, đào tạo cán bộ và trang
trải các chi phí như tiếp thị, quảng cáo…
Tuy nhiên, đối với lĩnh vực này Chi nhánh NHCT Hoàng Mai vẫn
chưa có sự đầu tư thích hợp. Tại các ngân hàng như ngân hàng Ngoại thương,
52
NHTM cổ phần Techcombank đều có các bộ phận nghiên cứu chiến lược phát
triển các sản phẩm dịch vụ, họ sẵn sàng cử cán bộ đi học tập và tìm hiểu kinh
nghiệm của các ngân hàng ở nước ngoài, luôn đầu tư đổi mới công nghệ cho
phù hợp.
Chi nhánh NHCT Hoàng Mai có hạn chế là việc đầu tư công nghệ và
các chi phí lớn khác phải có sự phê duyệt của NHCT Việt Nam. Chi nhánh
chỉ có quyền quyết định đầu tư trong hạn mức vốn mà cấp trên đã phê duyệt.
Do sự phụ thuộc cả về chủ trương, đường lối, cả về nguồn vốn đầu tư làm cho
ngân hàng mất tính chủ động trong việc thực hiện các giải pháp để mở rộng
và nâng cao chất lượng dịch vụ ngân hàng.
Thứ năm, trình độ, năng lực cán bộ còn thấp và chưa đồng đều.
Chi nhánh NHCT Hoàng Mai có đội ngũ cán bộ công nhân viên gồm
80 người chưa kể cán bộ hợp đồng. Mặc dù, số lượng cán bộ đông như vậy
song tỷ lệ có trình độ trên đại học không nhiều. Cả Chi nhánh không có bằng
tiến sỹ, thạc sỹ chiếm khoảng 5%, đại học khoảng 72% còn lại là dưới đại
học.
Đặc biệt, số cán bộ biết và sử dụng thành thạo ngoại ngữ còn rất ít,
trong khi để phát triển các dịch vụ ngân hàng đặc biệt là các dịch vụ ngân
hàng hiện đại thì rất cần đến ngoại ngữ. Từ hoạt động thanh toán quốc tế đến
các dịch vụ như thu đổi ngoại tệ, thanh toán séc du lịch, thẻ Visa, Master,…
tất cả đều phải có ngoại ngữ ít nhất là tiếng Anh để có thể giao dịch trực tiếp
với người nước ngoài.
Về vi tính, phần lớn cán bộ chỉ dừng lại ở việc đánh văn bản, Excel và
các thao tác giao dịch đơn thuần trên máy. Các cán bộ có thể khai thác các
chức năng khác của máy tính trong công việc còn rất ít.
Về đào tạo cán bộ, Chi nhánh NHCT Hoàng Mai mới chỉ thực hiện các
buổi tập huấn hướng dẫn văn bản chế độ và một số lớp nghiệp vụ ngắn hạn về
thẩm định dự án hay phổ biến kiến thức luật. Còn lại mọi chương trình đào
53
tạo khác đều theo chương trình kế hoạch của NHCT Việt Nam. Do vậy, số
lượng cán bộ được tham gia các lớp đào tạo này chiếm một tỷ lệ rất nhỏ nên
chưa đáp ứng được công tác đào tạo cán bộ có trình độ nghiệp vụ cao.
Thứ sáu, các chính sách Marketing chưa phù hợp để có thể thu hút
khách hàng, đưa các dịch vụ mới đến với khách hàng.
Chính sách khách hàng và hoạt động Marketting chưa hiệu quả dẫn đến
sự phát triển dịch vụ mới rất khó vì khó có thể biết được nhu cầu chính xác
của khách hàng. Năm qua hoạt động ngân hàng được quan tâm chủ yếu là cho
vay và nhận tiền gửi. Do đặc thù tại thời điểm đó, tính cạnh tranh giữa các
ngân hàng chưa cao cho nên Chi nhánh NHCT Hoàng Mai chưa có sự quan
tâm thích đáng đến hoạt động Marketing ngân hàng.
2.2.2. Nguyên nhân khách quan
Thứ nhất, nền kinh tế vẫn nặng về thanh toán tiền mặt.
Trong thực tế hiện nay, các ngân hàng còn gặp rất nhiều khó khăn về tâm
lý, thói quen sử dụng tiền mặt của người dân. Mặt khác, do thu nhập thấp, trình
độ am hiểu về thanh toán không dùng tiền mặt còn hạn chế. Ngoài ra, lượng tiền
mặt lưu thông rất lớn do các phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt
Nam chưa thực sự tiện ích và chưa tiếp cận được với mọi người dân.
Các phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt đã và đang sử dụng
tại Việt Nam nhưng số người sử dụng các phương tiện này còn rất ít so với
tổng dân số. Chẳng hạn như séc hầu như chỉ có các cơ quan, tổ chức sử dụng,
các loại hình khác như chuyển khoản, thanh toán điện tử… cũng chỉ có các cơ
quan tổ chức sử dụng là chủ yếu, cá nhân thì rất ít. Dịch vụ thẻ chỉ một phần
nhỏ dân số tại các thành phố lớn sử dụng, còn ở các vùng nông thôn hầu như
chưa biết đến phương tiện thanh toán này. Thương mại điện tử mới chỉ được
sử dụng trong hệ thống các tổ chức tín dụng, còn giữa các cá nhân thì hầu như
chưa có. Chính những đặc điểm này đã làm hạn chế khả năng sử dụng dịch vụ
của người dân.
54
Thứ hai, các chính sách, cơ chế quản lý dịch vụ ngân hàng chưa hoàn
chỉnh và đồng bộ.
Năng lực điều hành chính sách tiền tệ và lãi suất của NHNN còn nhiều
hạn chế, chính sách quản lý ngoại hối và tỷ giá còn bất cập, cơ chế quản lý giám
sát hoạt động ngân hàng chưa có hiệu quả điều này sẽ ảnh hưởng đến việc ra
quyết định lãi suất để huy động vốn, cho vay cũng như đến các quyết định trong
kinh doanh ngoại tệ. Hệ thống pháp luật ngân hàng chưa hoàn chỉnh, đồng bộ và
phù hợp với thông lệ quốc tế, do vậy chưa tạo thành hành lang pháp lý đầy đủ
cho hoạt động dịch vụ ngân hàng. Các thông tư hướng dẫn chậm ban hành, hệ
thống thông tin quản lý chưa hoàn thiện, chưa đáp ứng được yêu cầu cập nhật,
tính minh bạch trên thị trường chưa được tôn trọng.
Thứ ba, nền kinh tế phát triển chưa ổn định.
GDP bình quân đầu người thấp, thể chế nền kinh tế chưa phát triển
đồng bộ. Thị trường tiền tệ, thị trường chứng khoán kém phát triển, hiệu quả
hoạt động của doanh nghiệp đặc biệt là các doanh nghiệp Nhà nước còn thấp,
nguồn nhân lực của thị trường còn thiếu và yếu. Bởi vậy, chưa tạo môi trường
55
kinh doanh thuận lợi cho hoạt động ngân hàng.
CHƢƠNG III
GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG TẠI
CHI NHÁNH NHCT HOÀNG MAI
I. ĐỊNH HƢỚNG PHÁT TRIỂN VÀ NHỮNG CƠ HỘI, THÁCH THỨC ĐỐI
VỚI CHI NHÁNH NHCT HOÀNG MAI TRONG TIẾN TRÌNH HỘI NHẬP
KINH TẾ QUỐC TẾ
1. Định hƣớng phát triển dịch vụ ngân hàng tại Chi nhánh NHCT Hoàng Mai
Trong giai đoạn phát triển kinh tế 2006-2010 và tầm nhìn 2020, giai
đoạn mà nền kinh tế Việt Nam ngày càng hội nhập với nền kinh tế quốc tế.
Cam kết thực hiện hiệp định thương mại Việt - Mỹ và gia nhập WTO đã đặt
ra cho hệ thống ngân hàng Việt Nam nói chung và Chi nhánh NHCT Hoàng
Mai nói riêng những thách thức lớn, đòi hỏi khi xây dựng chiến lược phát
triển dịch vụ ngân hàng cần xây dựng các chiến lược phát triển trên cơ sở kế
thừa những thành tựu đã đạt được, đánh giá những điểm còn yếu kém, nhận
diện những thách thức mới và sẵn sàng cho cuộc đua mới, đặc biệt là cuộc
cạnh tranh với những ngân hàng nước ngoài vốn có nhiều kinh nghiệm hoạt
động trong cơ chế thị trường.
Mục tiêu của Chi nhánh NHCT Hoàng Mai nhằm tiến tới mô hình ngân
hàng điển hình về phát triển và ứng dụng, đa dạng hóa các sản phẩm dịch vụ
ngân hàng, các sản phẩm dịch vụ ngân hàng theo mô hình của các ngân hàng
hiện đại trên thế giới hiện nay. Thời gian tới, thực hiện phương châm: “Tin cậy -
hiệu quả - hiện đại”, Chi nhánh NHCT Hoàng Mai đã đề ra chiến lược cụ thể
như:
1.1. Đối với các sản phẩm dịch vụ ngân hàng
Chi nhánh NHCT Hoàng Mai cần duy trì và phát triển các dịch vụ
ngân hàng hiện có, đa dạng hóa các dịch vụ mới, đặc biệt chú trọng phát
56
triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ đa dạng, chất lượng cao và cạnh tranh rộng
khắp tại các khu đô thị lớn đông dân cư, đặc biệt quan tâm đến nhóm
khách hàng có thu nhập trung bình, cao, trẻ tuổi thành đạt. Đồng thời phát
triển các dịch vụ tài chính ngân hàng (kinh doanh bảo hiểm; kinh doanh
chứng khoán - môi giới; tự doanh; bảo lãnh phát hành; cho vay; quản lý tiền
mặt; quản lý danh mục đầu tư; tư vấn tài chính và đầu tư, lưu ký; bảo quản tài
sản; dịch vụ quản lý tài sản theo uỷ quyền của khách hàng; kinh doanh
vàng…) và coi đây là các dịch vụ bổ trợ quan trọng trong chiến lược kinh
doanh của ngân hàng nhằm đa dạng hóa cơ cấu nguồn thu, đa dạng hoá hoạt
động kinh doanh, mở rộng cơ sở khách hàng góp phần nâng cao khả năng
chuyển đổi, phòng ngừa rủi ro, tăng thu nhập cho ngân hàng. Phát triển hệ
thống dịch vụ ngân hàng đa dạng gắn kết với các dịch vụ tài chính phi ngân
hàng; hình thành nên hệ thống dịch vụ ngân hàng trọn gói.
1.2. Đối với công nghệ ngân hàng
Hoàn thiện các dự án hiện đại hoá ngân hàng bảo đảm hệ thống công
nghệ cho phép quản trị mạng lưới rộng, đảm bảo thực hiện các nghiệp vụ
ngân hàng điện tử. Đẩy mạnh việc phát triển phát hành thẻ, tăng cường các
điểm chấp nhận thẻ, tập trung phát hành các loại thẻ mang tính cạnh tranh
cao. Đầu tư cơ sở vật chất, máy móc thiết bị hiện đại bảo đảm đáp ứng kịp
thời mọi yêu cầu làm việc phù hợp với lộ trình hiện đại hoá ngân hàng trong
từng giai đoạn. Xây dựng chiến lược phát triển và ứng dụng công nghệ thông
tin phục vụ cho việc triển khai các dịch vụ của một ngân hàng hiện đại.
Đưa các Dịch vụ call centre, phone banking, mobile banking, home
banking, internet banking vào sử dụng rộng rãi bằng, đổi mới hệ thống công
57
nghệ ngân hàng, cụ thể như sau:
Bảng 10. Phương hướng phát triển dịch vụ E-banking năm 2008
Hệ thống Hệ thống Tiêu chí công nghệ cũ công nghệ mới
Khả năng bảo mật và vẹn toàn dữ liệu Thấp Cao
Mô hình xử lý tập trung Chưa đáp ứng Đáp ứng
Khối lượng giao dịch lớn Chưa đáp ứng Đáp ứng
Khả năng cung cấp không hạn chế số Chưa đáp ứng Đáp ứng lượng truy cập
Giao dịch 24/24 Chưa đáp ứng Đáp ứng
Tính tích hợp Thấp Cao
Backup, phục hồi dữ liệu tự động Thấp Cao
Đồng bộ hóa hệ thống Chưa đáp ứng Đáp ứng
Nguồn: Phương hướng phát triển hoạt động kinh doanh năm 2008
Chi nhánh NHCT Hoàng Mai
Ngoài ra, Chi nhánh NHCT Hoàng Mai cần duy trì tốc độ tăng trưởng
phù hợp về nguồn vốn và sử dụng vốn trên cơ sở cải thiện quản trị ngân hàng
(nhất là quản trị rủi ro) cải thiện công nghệ ngân hàng theo nguyên tắc tăng
trưởng an toàn, hiệu quả.
- Tăng cường nguồn nhân lực bảo đảm trình độ, năng lực nhằm
đáp ứng kịp thời nhu cầu mở rộng quy mô hoạt động và đa dạng hoá dịch
vụ của một ngân hàng hiện đại, đào tạo đội ngũ cán bộ hiện đại tâm huyết
với ngân hàng, thu hút các cán bộ, từ bên ngoài bằng các hình thức đãi
ngộ vật chất…
- Chiến lược tạo sự khác biệt thực hiện chủ yếu thông qua tính đồng nhất
của các quy trình kinh doanh, các sản phẩm dịch vụ có tính quy chuẩn và sự thân
thiện của đội ngũ cán bộ, nhân viên của ngân hàng. Phát triển phong cách kinh
58
doanh riêng của Chi nhánh NHCT Hoàng Mai.
2. Cơ hội và thách thức trong phát triển dịch vụ ngân hàng đối với Chi
nhánh NHCT Hoàng Mai trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
2.1. Cơ hội
Năm 2006 đã đánh dấu một bước ngoặt lớn cho nền kinh tế Việt Nam
nói chung và ngành ngân hàng nói riêng. Sự hội nhập đã giúp cho ngành ngân
hàng Việt Nam có thể mở rộng thị trường thông qua việc tạo lập môi trường
kinh doanh ổn định hơn với quan hệ thương mại được rang buộc chặt chẽ,
minh bạch và có khả năng dự báo trước. Đồng thời chúng ta có cơ hội tiếp cận
với những thành quả của cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật đã, đang và sẽ
diễn ra mạnh mẽ trên thế giới, Chi nhánh NHCT Hoàng Mai có nhiều điều
kiện hơn trong việc tiếp cận với hệ thống công nghệ ngân hàng hiện đại, kinh
nghiệm quản lý và cả tác phong công nghiệp.
Cùng với các TCTD là những chủ thể chính trong cung cấp dịch vụ
ngân hàng, đã xuất hiện thêm nhiều các trung gian tài chính khác, các tổ chức
khác không phải ngân hàng cũng tham gia cung cấp dịch vụ ngân hàng. Thêm
nữa, sự tham gia của các chủ thể nước ngoài trong lĩnh vực này, tất cả đã tạo
nên sự cạnh tranh mạnh mẽ trong việc cung cấp dịch vụ ngân hàng trên thị
trường Tài chính trong thời gian qua.
Đối tượng được tiếp cận và sử dụng các dịch vụ ngân hàng trong nền
kinh tế được mở rộng hơn, bên cạnh các khách hàng là doanh nghiệp nhà
nước, các tổ chức kinh tế đã xuất hiện rất nhiều khách hàng là các loại hình
dân cư, các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Môi trường pháp lý cho hoạt động cung cấp các dịch vụ ngân hàng đã
được hình thành và đang ngày càng hoàn thiện. Luật NHNN và Luật các TCTD
được bổ sung và sửa đổi có hiệu lực từ 1/8/2003 và 1/10/2004. Một loạt các hệ
thống văn bản dưới Luật đối với từng lĩnh vực được ban hành như NĐ số
64/2001/CP về qui chế thanh toán của các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán;
59
QĐ số 1627/2001/NHNN về qui chế cho vay của TCTD…Chiến lược phát triển
dịch vụ ngân hàng giai đoạn 2006-2010 đẫ được Thống đốc NHNN phê duyệt
ngày 19/8/2005 đã góp phần hoàn thiện khuôn khổ thể chế về dịch vụ ngân
hàng, nhằm định hướng phát triển dịch vụ ngân hàng và góp phần điều chỉnh
phù hợp hành vi của các chủ thể tham gia trên thị trường Việt Nam. Do đó sẽ tạo
điều kiện để Chi nhánh NHCT Hoàng Mai phát triển hoạt động kinh doanh của
mình.
2.2. Khó khăn và thách thức
Các dịch vụ mà hệ thống ngân hàng Việt Nam cung cấp trên thị trường
chủ yếu vẫn là các dịch vụ truyền thống như huy động vốn và cấp tín dụng
đối với nền kinh tế. Điều này thể hiện: Doanh thu từ hoạt động tín dụng chiếm
hơn 70% trong nguồn thu dịch vụ của ngành ngân hàng, tỷ lệ thu nhập từ
những loại hình dịch vụ ngân hàng khác trong nguồn thu dịch vụ của các ngân
hàng VN vì thế thấp hơn nhiều so với các chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại
Việt Nam và càng thấp hơn nếu so với các nước trong khu vực và trên thế
giới. Sự đơn điệu được thể hiện ngay cả trong các loại hình dịch vụ ngân hàng
truyền thống: huy động vốn chủ yếu dưới dạng tiền gửi, còn cấp tín dụng chủ
yếu dưới dạng cho vay.
Thị trường dịch vụ ngân hàng phát triển dưới mức tiềm năng. Mức độ
thoả mãn nhu cầu xã hội nói chung và đặc biệt nhu cầu của dân cư về dịch vụ
ngân hàng còn nhiều hạn chế do khả năng cung ứng dịch vụ ngân hàng còn
chưa vươn kịp với nhu cầu của xã hội:
Đa số các ngân hàng quan tâm nhiều tới dịch vụ ngân hàng bán buôn,
dịch vụ ngân hàng bán lẻ bước đầu đã được chú trọng và hiện nay còn rất
nhiều tiềm năng cần phát triển đặc biệt là đối với dịch vụ thanh toán thẻ trong
dân cư. Với hơn 82 triệu người dân, theo tính toán của các chuyên gia kinh tế,
thị trường Việt nam sẽ có khoảng hơn 10 triệu người có khả năng sử dụng các
loại thẻ thanh toán- trong khi hiện nay số lượng khách hàng sử dụng thẻ mới
60
đạt tới con số 2 triệu. Đây là cơ hội và cũng là những thách thức đối với các
ngân hàng thương mại Việt Nam. Rất nhiều dịch vụ ngân hàng bán lẻ đã được
các TCTD triển khai như dịch vụ tài khoản, séc, thẻ, quản lý tài sản, tín dụng,
cầm cố, tín dụng tiêu dùng... Các dịch vụ ngân hàng của các TCTD thiếu sự
liên kết, hợp tác đã làm giảm đáng kể hiệu quả kinh doanh của cả hệ thống
ngân hàng. Chưa có sự tương thích, liên kết trên diện rộng giữa các hệ thống
phát hành các loại thẻ của các ngân hàng khác nhau , dịch vụ thẻ ATM chưa
kết nối chung toàn ngành Ngân hàng vì thế đã hạn chế việc đáp ứng các nhu
cầu về sử dụng thẻ trong dân cư. Máy ATM hay bị trục trặc, tiền không được
đưa vào máy kịp thời làm cho người sử dụng đôi khi không rút đựơc tiền khi
cần. Mặt khác việc hạn chế số tiền rút/lần và số lần rút/ngày cũng làm giảm đi
tính tiện ích của dịch vụ ATM. Cơ sở hạ tầng của các ngân hàng phát triển
không đồng đều, hệ thống chuyển mạch của các ngân hàng cũng không đồng
bộ nên khó kết nối. Bên cạnh đó vấn đề về bảo mật thông tin vẫn chưa đáp
ứng được yêu cầu, nạn hacker đối với phần mềm ngân hàng vẫn xảy ra, nguy
cơ rủi ro vẫn còn tiềm ẩn với cả khách hàng và ngân hàng.
Các TCTD chưa đáp ứng căn bản nhu cầu về dịch vụ ngân hàng của
các nhóm đối tượng khác nhau, trong đó phải kể tới các đối tượng là người có
thu nhập thấp, người nghèo, người dân ở vùng sâu, vùng xa rất khó tiếp cận
với dịch vụ ngân hàng. Qui mô của từng dịch vụ ngân hàng còn nhỏ, chất
lượng dịch vụ thấp, sức cạnh tranh yếu, tính tiện ích của một số dịch vụ đối
với khách hàng chưa cao trong khi hoạt động Marketing ngân hàng còn hạn
chế nên tỷ lệ khách hàng là cá nhân tiếp cận và sử dụng dịch ngân hàng còn ít.
Đối tượng sử dụng thẻ thanh toán chủ yếu vẫn là tầng lớp công chức trong các
lĩnh vực liên quan đến tài chính, ngân hàng, du lịch…Séc thanh toán, chuyển
khoản, thanh toán điện tử… hầu như chỉ có các cơ quan, tổ chức sử dụng, còn
cá nhân thì rất ít (đến nay chưa có séc cá nhân tại Việt Nam). Thẻ ngân hàng
được một phần nhỏ dân số tại các thành phố lớn sử dụng còn dân chúng vùng
61
nông thôn, vùng sâu, vùng xa hầu như chưa sử dụng phương tiện này.
II. GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG TẠI CHI NHÁNH
NHCT HOÀNG MAI VÀ KIẾN NGHỊ VỚI NHCT VIỆT NAM
1. Các giải pháp chung nhằm phát triển dịch vụ ngân hàng tại Chi nhánh
NHCT Hoàng Mai và kiến nghị với NHCT Việt Nam
1.1. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
1.1.1. Đối với Chi nhánh NHCT hoàng Mai
Trong bất kỳ tổ chức nào, con người luôn là nguồn lực quan trọng hàng
đầu. Đối với ngân hàng, chất lượng cán bộ luôn được coi là yếu tố quan trọng,
trung tâm, có tính quyết định đến khả năng cạnh tranh của ngân hàng Thương
mại. Với Chi nhánh NHCT Hoàng Mai, nâng cao chất lượng nguồn nhân
lực, đặc biệt là đối với các nhân viên trực tiếp cung ứng dịch vụ cho ngân
hàng sẽ góp phần quan trọng nâng cao chất lượng dịch vụ của ngân hàng,
khắc phục được tính không đồng nhất về chất lượng do yếu tố con người gây
ra trong quá trình cung ứng dịch vụ, cải thiện hình ảnh ngân hàng và nâng cao
vị thế của ngân hàng.
Hiện nay, cạnh tranh giữa các ngân hàng Thương mại về nguồn lực
đang diễn ra gay gắt. Tình trạng "chảy máu chất xám" là chuyện thường thấy
ở các ngân hàng, trong đó có Ngân hàng Công thương Hoàng Mai. Đồng thời,
khi quá trình hội nhập thực sự diễn ra, các ngân hàng và doanh nghiệp nước
ngoài sẽ không ngần ngại trả lương hậu hĩnh cũng như các chế độ đãi ngộ và
điều kiện làm việc tốt để thu hút nhân viên có trình độ cao mà đặc biệt là
người bản địa để nhanh chóng hội nhập thị trường. Nắm bắt được xu thế này,
Chi nhánh NHCT Hoàng Mai phải có chiến lược thu hút cán bộ có trình độ
và kinh nghiệm để tránh được áp lực cạnh tranh từ ngân hàng khác về ngân
hàng mình.
Trước mắt, Chi nhánh NHCT Hoàng Mai cần có chính sách đầu tư
đào tạo cho đội ngũ cán bộ bằng nhiều hình thức; tự đào tạo, thuê các tổ chức
62
tư vấn, gửi cán bộ tới các ngân hàng khác, gửi các cán bộ đến các trường học,
thường xuyên tổ chức các buổi thảo luận, mời các chuyên gia kinh tế truyền
đạt kinh nghiệm… Qua đó để nâng cao trình độ nghiệp vụ, cung cấp các kiến
thức chuyên môn về làm việc, về các kỹ năng làm việc với khách hàng… Đặc
biệt đầu tư đào tạo có định hướng cho các cán bộ trẻ, các cán bộ mới và
những cán bộ có tâm huyết với ngân hàng nhằm thiết lập hệ thống cán bộ lãnh
đạo, chủ chốt trong tương lai.
Bên cạnh đó, Chi nhánh NHCT Hoàng Mai cần cải thiện môi trường
làm việc, sao cho các nhân viên thực sự năng động, sáng tạo và làm chủ
nghiệp vụ, tránh tình trạng các cán bộ chây ỳ, né tránh trách nhiệm, đồng thời
tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh giữa các nhân viên với nhau để cùng
phát triển.
Đối với các cán bộ có kinh nghiệm, làm việc lâu năm tại ngân hàng,
cần có chính sách đào tạo hội nhập. Muốn vậy, Chi nhánh NHCT Hoàng
Mai phải đưa ra các cơ hội nghề nghiệp, các chế độ ưu đãi, bảo đảm phúc lợi,
tạo sự gắn kết với nhau và với ngân hàng.
Mặt khác, ngân hàng cũng cần phải đưa ra các chính sách khen thưởng,
kỷ luật nghiêm khắc và kịp thời, rõ ràng, minh bạch. Điều này sẽ khuyến
khích người lao động làm việc có trách nhiệm và tận tâm hơn.
Ngoài ra, ngân hàng cần có chiến lược tuyển dụng cán bộ. Hiện nay
Chi nhánh NHCT Hoàng Mai chưa có một cơ chế riêng cho việc tuyển dụng
cán bộ. Phần lớn việc nhận cán bộ đều theo cách giải quyết chính sách và
quan hệ hoặc phân bổ từ trên xuống. Do vậy, ngay từ khâu đầu vào đã không
có điều kiện lựa chọn những cán bộ có năng lực, trình độ đáp ứng được yêu
cầu công việc.
Đây chính là một hạn chế rất lớn, trong khi các ngân hàng thương mại
cổ phần họ lựa chọn rất kỹ ngay từ khâu đầu vào, do vậy họ có được đội ngũ
cán bộ trẻ, năng động và sáng tạo trong công việc. Đó chính là bàn đạp để tạo
63
bước nhảy cho các ngân hàng thương mại cổ phần trong điều kiện cạnh tranh
và hội nhập quốc tế. Chính bởi vậy, Chi nhánh NHCT Hoàng Mai cần thiết
lập quy trình tuyển dụng chặt chẽ bao gồm hệ thống tiêu chuẩn và cách thức
tổ chức thi tuyển:
Công khai hóa thông tin tuyển dụng nhằm tạo khả năng thu hút nhân
tài từ nhiều nguồn khác nhau, tránh tình trạng bưng bít thông tin tuyển dụng.
Tổ chức thi tuyển nghiêm túc theo đúng quy trình, kể cả người điều
hành tránh tình trạng qua loa hình thức, lựa chọn người không có năng lực.
Đối với những bộ phận cần năng lực có chất lượng cao, cần thiết kỹ
năng thì ngân hàng cần có chính sách đãi ngộ thích hợp.
Đào tạo và đào tạo lại nhân viên để nâng cao chất lượng nguồn nhân
lực thích ứng với hoạt động Ngân hàng hiện đại.
1.1.2. Đối với NHCT Việt Nam
NHCT Việt Nam cần thay đổi cách nghĩ cách làm trong vấn đề tuyển
dụng cán bộ và ban hành quy định cụ thể áp dụng đối với các chi nhánh trực
thuộc. Cần xoá bỏ cơ chế tuyển dụng chỉ dựa trên quan hệ quen biết, bất kể
trình độ năng lực của cán bộ như thế nào. NHCT Việt Nam cần tiếp thu
những phản ánh thực tế từ các chi nhánh và tạo điều kiện thuận lợi để các chi
nhánh xây dựng đội ngũ nhân lực của mình. Nếu không, Chi nhánh NHCT
Hoàng Mai khó tạo đà và lực để phát triển trong thời gian tới khi mà Việt
Nam mở cửa hoàn toàn thị trường tài chính và các ngân hàng nước ngoài
nhảy vào cạnh tranh với các ngân hàng trong nước một cách bình đẳng.
1.2. Đổi mới nâng cấp công nghệ hiện đại và phù hợp
1.2.1. Đối với Chi nhánh NHCT Hoàng Mai
Thực tiễn cũng đã chứng minh, công nghệ hiện đại và phù hợp với tốc
độ phát triển của ngân hàng là một yếu tố hết sức cần thiết cho hoạt động
ngân hàng. Đặc biệt, đối với hoạt động dịch vụ, là hoạt động rất cần đến sự hỗ
64
trợ của công nghệ thông tin hiện đại và nhanh chóng. So với khu vực và các
ngân hàng nước ngoài, đặc biệt nhìn nhận quá trình phát triển nhanh chóng
của các ngân hàng có mặt tại Việt Nam, đây cũng là giai đoạn các ngân hàng
đang có nhiều sự thay đổi cả về mọi mặt, trong đó công nghệ ngân hàng được
coi là một vấn đề cốt yếu. Công nghệ ngân hàng ảnh hưởng trực tiếp đến quá
trình kinh doanh, đến chất lượng dịch vụ và đến khả năng cạnh tranh của ngân
hàng. Đó quá thực là thách thức lớn đặt ra dối với Chi nhánh NHCT Hoàng
Mai ở những năm đầu đầu tư xây dựng cơ sở vật chất trong điều kiện kết quả
kinh doanh chưa cao. Đặc biệt Chi nhánh NHCT Hoàng Mai cần đầu tư công
nghệ trong dịch vụ thanh toán quốc tế và ngân hàng điện tử rất nhiều thì mới
có thể cạnh tranh với các ngân hàng trong nước và quốc tế.
1.2.2. Đối với NHCT Việt Nam
Mặc dù thời gian qua, toàn hệ thống NHCT Việt Nam đã đầu tư nâng
cấp phần mềm hiện đại hóa ngân hàng, nhưng thực tế cho thấy, để đáp ứng
hơn nữa và phù hợp với tốc độ phát triển cũng như có thể cạnh tranh được tốc
độ xử lý các phát sinh thì NHCT Việt Nam cần có những đầu tư hơn nữa đối
với hệ thống công nghệ ngân hàng không chỉ tại Ngân hàng hội sở mà còn
phải đầu tư công nghệ hiện đại tới các Chi nhánh, đặc biệt các Chi nhánh mới
thành lập, ở xa trung tâm các thành phố như Chi nhánh NHCT Hoàng Mai,
như thế mới có thể cạnh tranh với các ngân hàng đã có trên địa bàn và thu hút
khách hàng.
1.3. Xây dựng chiến lược phát triển dịch vụ ngân hàng dài hạn
1.3.1. Đối với Chi nhánh NHCT Hoàng Mai
Với cơ chế hội nhập, các tổ chức kinh tế và cá nhân sẽ có nhiều nhu cầu
và nhu cầu cao hơn đối với việc sử dụng chất lượng dịch vụ. Do vậy, Chi
nhánh NHCT Hoàng Mai cần có kế hoạch xây dựng và phát triển dịch vụ dài
hạn, để làm được điều này, Chi nhánh NHCT Hoàng Mai cần thực hiện theo
các định hướng và các căn cứ:
65
Chiến lược tổng thể của Ngân hàng Nhà nước về phát triển ngành
ngân hàng đến năm 2010 và tầm nhìn 2020; đây là căn cứ tổng thể của Ngân
hàng Nhà nước để các Ngân hàng Thương mại tại Việt Nam phát triển theo
định hướng chung.
Chiến lược phát triển dịch vụ của NHCT Việt Nam.
Nhu cầu thực tế của các Tổ chức kinh tế và cá nhân đang sử dụng
dịch vụ tại Chi nhánh NHCT Hoàng Mai.
Năng lực dịch vụ hiện có của Chi nhánh NHCT Hoàng Mai.
Các sản phẩm chủ yếu của ngân hàng và mục tiêu sản phẩm đó:
Trên cơ sở nhu cầu thị trường, ngân hàng cần xây dựng các dịch vụ đi kèm
theo các sản phẩm để thực hiện dịch vụ trọn gói cho khách hàng.
Thiết lập và phân cấp các dịch vụ.
Giải pháp thực hiện theo từng giai đoạn.
1.3.2. Đối với NHCT Việt Nam
Chiến lược phát triển của NHCT Việt Nam là căn cứ chung để các chi
nhánh định hướng phát triển. Do đó, NHCT Việt Nam xây dựng chiến lược
phát triển dịch vụ ngân hàng dài hạn thì cũng cần phải có định hướng chung
trong việc phát triển dịch vụ ngân hàng trên cơ sở nghiên cứu môi trường kinh
doanh, xu thế phát triển dịch vụ hiện nay và bản thân nội lực ngân hàng, phù
hợp với tất cả các chi nhánh trong điều kiện vị trí địa ký và kinh tế khác nhau.
Điều này là cần thiết và quan trọng bởi nó như chiếc đầu tầu kéo tất cả đoàn
tầu đi đúng hướng.
1.4. Đẩy mạnh công tác Marketing dịch vụ ngân hàng, tăng cường tiếp thị
khách hàng
1.4.1. Đối với Chi nhánh NHCT Hoàng Mai
Trong xu thế nền kinh tế dịch vụ, hoạt động marketing, xúc tiến, thiết
lập kênh phân phối, cổ động truyền thông, quảng cáo và chăm sóc khách hàng
có tác động rất quan trọng đến phát triển thị trường dịch vụ ngân hàng. Bởi lẽ
66
đơn giản là tâm lý khách hàng có thói quen bắt chước theo số đông, chịu tác
động của qui luật bầy đàn trong tiêu dùng dịch vụ, nhất là những dịch vụ nhạy
cảm như: ngân hàng, viễn thông, công nghệ thông tin…
Nghiên cứu và áp dụng các hình thức chăm sóc khách hàng linh hoạt để
tăng khả năng cạnh tranh, giữ và thu hút khách hàng đến quan hệ tại ngân
hàng. Đẩy mạnh công tác tiếp thị sản phẩm bằng nhiều biện pháp; giao chỉ
tiêu đến các Phòng, Đơn vị trực thuộc, phối kết hợp giữa các bộ phận để tiếp
thị đến các khách hàng của Phòng Giao dịch ngân hàng.
Nhận thức được tầm quan trọng của công tác marketing nhưng đây vẫn
là mảng còn yếu trong hoạt động của ngân hàng. Để có thể làm tốt công tác
này đòi hỏi Chi nhánh NHCT Hoàng Mai phải chú trọng các biện pháp sau:
Thứ nhất, tăng cường hoạt động nghiên cứu thị trường và khách hàng.
Công việc này đòi hỏi khách hàng phải phân loại được khách hàng của mình
bao gồm khách hàng truyền thống và khách hàng tiềm năng.
Đối với khách hàng truyền thống ngân hàng cần có những chính sách
chăm sóc riêng và giao cho một phòng ban đảm nhận như gửi quà, điện hoa
cho khách hàng nhân những dịp đặc biệt. Thường xuyên gửi các phiếu điều tra
về chất lượng dịch vụ trong từng giai đoạn để có những biện pháp điều chỉnh
kịp thời, xem xét mức độ hài lòng của khách hàng đối với dịch vụ ngân hàng.
Từ đó có thể đưa ra được mức độ trung thành của khách hàng và có những biện
pháp tiếp xúc với khách hàng nhằm tăng sự gắn kết với ngân hàng.
Đối với khách hàng tiềm năng, ngân hàng phải lập danh sách và thường
xuyên thực hiện công tác quảng cáo, tiếp thị lôi cuốn thu hút khách hàng
thường xuyên đến với ngân hàng. Ngân hàng nên cử những cán bộ có trình
độ, năng lực và khả năng giao tiếp tốt để tiếp cận với những khách hàng này.
Trước đó các nhân viên này đã có những hiểu biết nhất định về khách hàng
này. Qua đó thực hiện lôi kéo khách hàng bằng việc giới thiệu những ưu điểm
của Chi nhánh NHCT Hoàng Mai.
67
Thứ hai, dự báo thị trường.
Bộ phận Marketing cũng phải quan tâm đến công việc này nhằm đưa ra
dự báo tình hình biến động của thị trường dịch vụ trong tương lai, từ đó có kế
hoạch chuẩn bị cho công tác phát triển dịch vụ ngân hàng. Đồng thời phải tìm
hiểu và đánh giá đối thủ cạnh tranh ở từng loại sản phẩm và tìm ra lợi thế so
sánh của mình trong môi trường cạnh tranh sao cho có lợi nhất.
1.4.2. Đối với NHCT Việt Nam
Với vị thế là một NHTM lâu năm và uy tín, NHCT Việt Nam cần
quảng bá hơn nữa thương hiệu cho ngân hàng để đạt được mục tiêu phát triển
nói chung và phát triển dịch vụ nói riêng thì ngân hàng phải khẳng định được
uy tín của mình với khách hàng. Chữ tín rất quan trọng trong quá trình phát
triển. Điều cốt lõi là làm thế nào để khi khách hàng có nhu cầu sử dụng một
dịch vụ nào đó họ sẽ tìm đến chi nhánh NHCT Hoàng Mai. Để đạt được điều
đó phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau song hoạt động Marketing là câu nói
giữa ngân hàng và khách hàng. Muốn khách hàng biết và hiểu rõ về ngân
hàng cần tăng cường các hình thức quảng bá như phát hành bản tin, trên các
website, các tờ rơi và đặc biệt là các chương trình khuyến mãi, giới thiệu
khách hàng đến các chi nhánh mới, duy trì và phát triển khách hàng tại các chi
nhánh đã có.
1.5. Nâng cao chất lượng sản phẩm, đơn giản hóa quy trình thủ tục, giảm
thời gian xử lý giao dịch
1.5.1. Đối với Chi nhánh NHCT Hoàng Mai
Hiện nay, nhiều dịch vụ tại Chi nhánh NHCT Hoàng Mai quy trình thủ
tục còn rườm rà, gây mất nhiều thời gian cho khách hàng. Thực tế cho thấy,
nhiều khách hàng sẵn sàng trả phí cao hơn cho một giao dịch nếu quy trình
đơn giản, xử lý nhanh chóng. Để khắc phục hạn chế này, ngân hàng Công
thương Hoàng Mai cần đơn giản hóa quy trình thủ tục, giảm thời gian xử lý
trong các giao dịch thông qua một số biện pháp như:
68
Rà soát lại các quy trình thủ tục của tất cả các mặt nghiệp vụ, các
thao tác trong quá trình cung ứng sản phẩm, loại bỏ những thủ tục không cần
thiết, những quy trình không hiệu quả gây khó khăn trong quá trình tác nghiệp
của nhân viên và gây mất thời gian cho khách hàng.
Chuẩn hóa quy trình thủ tục, đảm bảo thống nhất quy trình giữa
các bộ phận, các chi nhánh trực thuộc đối với cùng loại sản phẩm, khắc phục
tình trạng cùng một khách hàng, cùng một sản phẩm mỗi nhân viên trong
ngân hàng hay tại các chi nhánh khác nhau lại yêu cầu thủ tục hồ sơ khác
nhau gây khó hiểu cho khách hàng, làm mất uy tín của ngân hàng.
Mặt khác cần gia tăng tiện ích của sản phẩm. Cụ thể đối với sản
phẩm thẻ ghi nợ trong những sản phẩm chiến lược đang được Chi nhánh
NHCT Hoàng Mai tập trung phát triển và mở rộng. Trước hết Chi nhánh
NHCT Hoàng Mai cần phối hợp với Trung tâm công nghệ thông tin, Trung
tâm thẻ của NHCT Việt Nam để tăng thêm tiện ích của thẻ như thanh toán
tiền điện, nước, điện thoại bằng thẻ thực hiện chuyển khoản được ngay tại các
máy ATM, kết nối thẻ với các Ngân hàng khác để khách hàng sử dụng dịch
vụ này. Ngoài ra địa điểm đặt máy cần đặt ở những nơi tập trung đông dân cư,
thuận tiện cho việc đi lại để thực hiện giao dịch, các máy phải đảm bảo hoạt
động 24/24h, thường xuyên theo dõi tình hình hoạt động của các máy ATM
để xử lý kịp thời khi cần thiết như: nạp tiền vào máy, thay giấy in sao kê hoặc
nếu máy hỏng thì sửa chữa kịp thời nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ tránh
tình trạng khách hàng muốn thực hiện giao dịch nhưng không thành công.
Đồng thời phải có chỉ dẫn cụ thể địa chỉ của tất cả các điểm đặt máy của ngân
hàng và có các biển quảng cáo để khách hàng dễ dàng nhận biết. Các biển
quảng cáo này nên được thiết kế theo mẫu thống nhất của Ngân hàng Công
thương để tạo được thương hiệu cho Ngân hàng.
1.5.2. Đối với NHCT Việt Nam
NHCT Việt Nam cần xây dựng các quy trình liên quan đến việc thực hiện
các dịch vụ ngân hàng theo hướng đơn giản, thuận tiện, rút ngắn thời gian
69
giao dịch cho khách hàng mà vẫn đảm bảo chất lượng dịch vụ. Để cạnh tranh
với các Ngân hàng khác, cần đơn giản các quy trình nghiệp vụ loại bỏ giấy tờ
không cần thiết, xây dựng các mẫu hợp đồng, tờ khai dễ hiểu, dễ khai báo,
giảm thiểu thời gian giao dịch cho khách hàng.
Nghiên cứu đề ra quy định và biện pháp kỹ thuật để đảm bảo an ninh
mạng, giảm thiểu các rủi ro liên quan đến công nghệ mới do những kẻ xấu
gây ra. Hạn chế đến mức tối đa tình trạng tắc nghẽn mạng giao dịch, gây ảnh
hưởng đến công việc và làm giảm uy tín của ngân hàng đối với khách hàng.
1.6. Đa dạng hóa các sản phẩm dịch vụ, phát triển các sản phẩm dịch vụ
mới trên cơ sở ứng dụng công nghệ hiện đại
1.6.1. Đối với Chi nhánh NHCT Hoàng Mai
Để có thêm thu nhập từ hoạt động dịch vụ, nâng cao tỷ lệ thu nhập dịch
vụ trên tổng thu nhập ròng cũng như để thu hút thêm ngày càng nhiều khách
hàng sử dụng dịch vụ ngân hàng thì một vấn đề quan trọng là cần phải đa
dạng hóa sản phẩm dịch vụ và cung cấp ngày càng nhiều các dịch vụ mới
nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng.
Cụ thể chi nhánh NHCT Hoàng Mai cần tập trung phát triển các dịch
vụ mà các chi nhánh khác của NHCT Việt Nam đang cung cấp, xây dựng các
phương án mới, học hỏi kinh nghiệm phát triển và mở rộng dịch vụ ngân hàng
của những ngân hàng khác để ngày càng hoàn thiện hệ thống dịch vụ của
mình. Đặc biệt chú trọng phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử, ứng dụng công
nghệ hiện đại để mang lại tiện lợi nhât cho khách hàng và những hiệu quả tối
đa cho ngân hàng. Đồng thời, đưa ra các sáng kiến về những dịch vụ mới
trình lên NHCT để xây dựng hệ thống dịch vụ trong NHCT hoàn thiện hơn.
1.6.2. Đối với NHCT Việt Nam
Rõ ràng dịch vụ ngân hàng tại NHCT có tác động trực tiếp và quyết
đình đến dịch vụ tại các chi nhánh. Vì vậy, NHCT phát triển cần duy trì và
phát triển những sản phẩm dịch vụ hiện có và không ngừng nghiên cứu đưa ra
70
những sản phẩm tiện ích nhất tới khách hàng, cụ thể:
Đa dạng hóa dịch vụ tín dụng: NHCT cần mở rộng và các loại tiền gửi
trung và dài hạn để người sở hữu có thể chuyển đổi linh hoạt khi cần thiết.
Mở rộng các hình thức tiền gửi tiết kiệm trong dân bao gồm cả tiền gửi tiết
kiệm, tiền gửi sử dụng thẻ, trái phiếu, kỳ phiếu.Đa dạng hoá kỳ hạn tiền gửi
tiết kiệm: không chỉ dừng lại việc chỉ có tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn
theo kiểu 3 tháng, 6 tháng, 1 năm... NHCT cần có giải pháp tự động chuyển
hoá tiền gửi không kỳ hạn sang có kỳ hạn cho dân. Áp dụng hình thức gửi
nhiều lần lấy gọn một lần, tiết kiệm gửi góp, lãi suất tính theo từng lần gửi.
Thực hiện cách này NHCT giúp dân tích luỹ tiền, hoặc gửi tiền một lần dài
hạn nhưng rút ra nhiều kỳ... Các dịch vụ này sẽ giúp tăng mức huy động vốn
trong dân đáp ứng nhu cầu vay của nền kinh tế. Mở rộng các hình thức,
phương thức cho vay mới như: tín dụng thấu chi, chiết khấu thương phiếu và
chứng từ có giá, cho vay trả góp, bao thanh toán và cho vay mua cổ phần, cho
thuê tài chính, bảo lãnh và hình thức tín dụng theo dự án...
Đa dạng hóa dịch vụ thanh toán: Phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật để
triển khai ứng dụng công nghệ tin học - điện tử. Tiếp tục đẩy mạnh thanh toán
bằng séc, thẻ tín dụng, phát triển tài khoản cá nhân để phát triển các hoạt động
thanh toán không dùng tiền mặt, mang lại tiện ích thực sự thông qua dịch vụ
chi trả lương, tiền điện nước, điện thoại...
Đa dạng hóa các dịch vụ ngân hàng khác: Quản lý hộ tài sản tài chính
cho dân cư, cho thuê két sắt, tư vấn đầu tư. Nghiên cứu và áp dụng những sản
phẩm ngân hàng mới như đưa hệ thống giao dịch tự động vào sử dụng phổ
biến trên toàn quốc. Bên cạnh đó, tiếp tục triển khai dịch vụ E- Banking và
phát triển dịch vụ E-Commerce, xây dựng và triển khai các giải pháp bảo mật
an toàn hệ thống, đẩy mạnh sử dụng thẻ… để tiếp tục mở rộng và phát triển
các ứng dụng ngân hàng hiện đại sau này.
1.7. Xây dựng phong cách, văn hoá giao dịch của đội ngũ cán bộ
71
1.7.1. Đối với Chi nhánh NHCT Hoàng Mai
Một cán bộ ngân hàng luôn phải giải quyết các mối quan hệ như: quan
hệ với các đồng nghiệp, quan hệ với cấp trên, quan hệ với các cơ quan; tổ
chức liên quan và đặc biệt là mối quan hệ với khách hàng.
Trong công việc ngoài việc tuân thủ các nguyên tắc chuyên môn và nội
quy của ngân hàng, mỗi nhân viên trong quan hệ phải đảm bảo duy trì lợi ích
của ngân hàng khi giao dịch. Thực tế hiện nay chỉ riêng trong quan hệ với
khách hàng, tại các ngân hàng liên doanh, các chi nhánh ngân hàng nước
ngoài và một số ngân hàng thương mại cổ phần đã thiết lập một số quy tắc
cho nhân viên điều này thể hiện sự tôn trọng đối với khách hàng. Nhân viên
tại các ngân hàng này luôn có thái độ tôn trọng khách hàng, không cáu gắt với
khách hàng, luôn mỉm cười với khách kể cả khi gặp phiền toái, chỉ dẫn tận
tình cho khách với phương châm luôn biết lắng nghe và thấu hiểu khách hàng.
Hiện tại, Chi nhánh NHCT Hoàng Mai chưa xây dựng hệ thống phong
cách làm việc cho nhân viên nên trong quá trình xử lý các mối quan hệ hoàn
toàn theo cảm nhận thực tế. Bởi vậy vẫn thường xảy ra tình trạng làm mất
lòng khách hàng, ảnh hưởng đến uy tín của ngân hàng, từ đó ảnh hưởng đến
khả năng phát triển ngân hàng.
Để khắc phục những hạn chế trên nhằm tạo điều kiện thúc đẩy sự phát
triển dịch vụ ngân hàng, cần thiết lập tiêu chuẩn, quy tắc hành xử các mối
quan hệ trên:
Thứ nhất, trong quan hệ với đồng nghiệp cần xây dựng lối hành xử giữa
các đồng nghiệp: thái độ cư xử, cơ chế phối hợp công việc, thời gian, quy trình,
nhiệm vụ các nhân viên trong một phòng, giữa các bộ phận một cách rõ ràng,
phân định trách nhiệm rõ ràng giữa các bộ phận trong một ngân hàng.
Thứ hai, trong quan hệ với khách hàng và các cơ quan, ngoài việc nâng
cao kỹ năng giao tiếp cần cụ thể hóa lề lối làm việc, cụ thể hóa thái độ cư xử
với khách hàng, giới hạn những việc nhân viên không được làm, những việc
72
nhân viên cần phải làm để giữ uy tín và luôn đặt lợi ích của ngân hàng lên
hàng đầu. Ngoài ra, ngân hàng cũng cần có đồng phục của nhân viên để tạo ấn
tượng tốt cho khách hàng.
1.7.2. Đối với NHCT Việt Nam
NHCT Việt Nam cần chú trọng hơn đến công tác đào tạo cán bộ, yêu
cầu trung tâm đào tạo thường xuyên mở các lớp bồi dưỡng nâng cao trình độ
cho các cán bộ tại Chi nhánh không chỉ về các nghiệp vụ mà còn phải mở các
lớp học Tiếng Anh, các lớp bồi dưỡng về chăm sóc khách hàng, kĩ năng giao
tiếp…
Ngoài ra, việc ban hành chính sách khen thưởng, đãi ngộ hợp lý là hết
sức cần thiết để xây dựng văn hóa một NHCT lành mạnh. Hiện nay ở hầu hết
các Ngân hàng thương mại quốc doanh chính sách này chưa được tốt lắm,
không có sự khuyến khích đối với những cán bộ có những sáng kiến mà thâm
niên cồng tác như nhau sẽ có mức lương giống nhau mặc dù sự cống hiến là
hoàn toàn khác nhau. Nếu không cải hiện cơ chế này thì khó giữ chân được
cán bộ giỏi, và vấn đề chảy máu chất xám chỉ còn là thời gian.
Bên cạnh đó, NHCT cần mở rộng quyền tự chủ cho các chi nhánh trong
việc phát triển dịch vụ ngân hàng. Các ngân hàng nằm trên địa bàn khác nhau
sẽ có ưu thế phát triển các loại hình dịch vụ khác nhau. NHCT Việt Nam chỉ
nên đưa ra định hướng và cho phép các chi nhánh được phát triển các dịch vụ
theo khả năng và điều kiện của từng chi nhánh, kể cả về loại hình dịch vụ.
2. Các giải pháp cụ thể nhằm phát triển các dịch vụ chủ yếu hiện có tại
Chi nhánh NHCT Hoàng Mai
2.1. Đối với dịch vụ tiền gửi
Công tác huy động vốn là một trong những nội dung trọng tâm kinh
doanh năm 2008 và những năm tiếp theo của Chi nhánh NHCT Hoàng Mai.
Nhằm mục đích tiếp tục tăng trưởng số dư tiền gửi các tổ chức và dân cư, đồng
thời đẩy mạnh các hoạt động dịch vụ nhằm tăng thu phí trên địa bàn và các vùng
73
phụ cận, giải pháp tăng trưởng huy động vốn và các sản phẩm, dịch vụ... là cần
thiết, tạo điều kiện để Chi nhánh NHCT Hoàng Mai quảng bá các sản phẩm,
dịch vụ của mình đến với khách hàng. Đồng thời, tạo động lực để nâng cao tính
chủ động và tinh thần trách nhiệm của cán bộ lãnh đạo, chủ chốt của Chi nhánh
NHCT Hoàng Mai, mở rộng quy mô hoạt động, nâng cao hiệu quả kinh doanh,
góp phần tăng uy tín và lợi thế cạnh tranh của Chi nhánh trên địa bàn.
Để góp phần tăng trưởng nguồn vốn một cách ổn định, hiệu quả, đáp ứng
được mục tiêu kinh doanh của Chi nhánh, cần thực hiện một số giải pháp sau:
Xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách khách hàng.
Xem xét phân loại khách hàng để có những chính sách đặc biệt đối
với những khách hàng có nguồn tiền gửi lớn.
Thực hiện chính sách tiếp thị, khuyến mãi theo hướng dẫn của
NHCT Việt Nam.
Tìm hiểu nguyên nhân của khách hàng ngừng giao dịch, rút tiền
gửi chuyển sang ngân hàng khác để có biện pháp thích hợp nhằm khôi phục
lại và duy trì quan hệ tốt với khách hàng.
Cử cán bộ nghiệp vụ giỏi, đạo đức tốt có khả năng giao tiếp tốt để
giao dịch, chăm sóc khách hàng có số dư tiền gửi lớn, sử dụng nhiều dịch vụ
ngân hàng. Thành lập tổ chuyên trách giúp lãnh đạo Chi nhánh đáp ứng các
yêu cầu chăm sóc, tiếp thị phục vụ nhóm khách hàng.
Trên cơ sở các sản phẩm đã được NHCT Việt Nam hướng dẫn
thực hiện, Chi nhánh NHCT Hoàng Mai tìm hiểu, nghiên cứu khách hàng để
đưa ra các sản phẩm phù hợp với từng đối tượng khách hàng cụ thể. Chú ý
cung cấp sản phẩm trọn gói, đảm bảo tính hiệu quả đối với khách hàng và
NHCT Việt Nam. Đối với những khách hàng đã có quan hệ tín dụng cần có
chính sách khuyến khích mở tài khoản thực hiện dịch vụ thanh toán và các
74
dịch vụ khác.
Khảo sát, đánh giá tiềm năng nguồn vốn ở từng thị trường, từng
nhóm khách hàng.
Gắn kết các dịch vụ với các nghiệp vụ khác như mở L/C thanh
toán, mua bán ngoại tệ và giao dịch qua tài khoản khác tại NHCT.
Giao dịch một cửa giảm thiểu các thủ tục hành chính gây phiền hà
cho khách hàng, cán bộ phải đủ năng lực, có trách nhiệm để đáp ứng.
Chăm sóc khách hàng chiến lược, khách hàng có nguồn tiền gửi
lớn tại Chi nhánh.
Huy động vốn đảm bảo lãi suất đầu vào cạnh tranh, tạo được
chênh lệch lãi suất huy động và lãi suất cho vay.
Tăng cường chi trả lương qua thẻ ATM.
Chủ động phối hợp với chính quyền địa phương nhằm quảng bá
dịch vụ chi trả kiều hối, viết thư giới thiệu dịch vụ tới người lao động của địa
phương mình đang ở nước ngoài.
Tổ chức tốt công tác chi trả kiều hối, tư vấn, hỗ trợ khách hàng,
quảng bá và tiếp thị dịch vụ này tại các điểm giao dịch và Chi nhánh.
Quan tâm tới đội ngũ cán bộ làm công tác huy động vốn.
Hoàn thiện tác phong, lề lối làm việc, văn hoá giao dịch, quan tâm,
chăm sóc khách hàng có số dư tiền gửi tại Chi nhánh, tích cực khai thác, tiếp
thị các khách hàng có nguồn tiền gửi lớn, nhằm tạo ra sự tăng trưởng ổn định
của nguồn vốn huy động, góp phần hỗ trợ tích cực cho hoạt động kinh doanh.
Với thực trạng thị trường huy động vốn cạnh tranh ngày càng gay gắt
hơn, ngay từ đầu năm hầu hết các ngân hàng đã đưa ra nhiều hình thức huy
động tiền gửi có khuyến mãi phong phú, lãi suất cũng cao hơn nhiều so với lãi
suất tiết kiệm cùng kỳ hạn... Để đảm bảo an toàn và hiệu quả trong kinh
doanh, việc đặc biệt quan tâm tới công tác huy động vốn và các sản phẩm,
75
dịch vụ... nhằm thực hiện mục tiêu tăng trưởng nguồn vốn, tăng thu phí, đảm
bảo cân đối vốn an toàn hiệu quả, đồng thời nâng cao vị thế của NHCT, việc
xây dựng chương trình, giải pháp tăng trưởng công tác huy động nguồn vốn
trong năm 2008 và các năm tiếp theo góp phần mở rộng quy mô hoạt động,
nâng cao hiệu quả kinh doanh của Chi nhánh ngày càng phát triển, góp phần
tăng uy tín và lợi thế cạnh tranh của Chi nhánh NHCT Hoàng Mai trên địa
bàn quận Hoàng Mai và các vùng phụ cận.
2.2. Đối với dịch vụ cho vay
Trong giai đoạn hiện nay, xét về khía cạnh chuyên môn, dịch vụ cho
vay đối với các thành phần kinh tế chiếm tỷ lệ cao nhất trong tổng tài sản có
của các NHTM, đồng thời nó cũng là dịch vụ mang lại thu nhập chủ yếu trong
hoạt động ngân hàng, vì vậy nó hiện là mục tiêu cạnh tranh quyết liệt của các
NHTM. Điều nay cũng có nghĩa là ngân hàng sẵn sàng đồng hành cùng doanh
nghiệp làm ăn có hiệu quả hoặc có khó khăn tạm thời trong hoạt động sản
xuất - kinh doanh có khả năng vượt qua. Song ngân hàng không thể đi cùng
doanh nghiệp đến bờ phá sản vì những yếu kém trong quản lý, vì tình hình tài
chính thiếu lành mạnh, công nợ dây dưa.
Hiệu quả mà ngân hàng thu được cũng chính là hiệu quả từ sản xuất -
kinh doanh của khách hàng, hiệu quả của nền kinh tế. Quá trình gia tăng GDP
chủ yếu dựa trên những thay đổi về chất của từng nguồn lực và hiệu quả sử
dụng các nguồn lực đầu vào, trong đó có nguồn lực về vốn, mà tín dụng ngân
hàng là một kênh cung cấp nguồn vốn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng vốn đầu
tư trên địa bàn ở hiện tại và trong tương lai.
Để bứt phá khỏi nhiều bất cập trong công tác tín dụng về mọi mặt, phục
vụ có hiệu quả tiến trình phát triển kinh tế - xã hội, Chi nhánh NHCT Hoàng
Mai còn phải tiếp tục phấn đấu cật lực hơn nữa. Đây là một số giải pháp được
76
đưa ra xuất phát từ đặc điểm hoạt động tại địa phương.
Đặc biệt chú trọng việc bồi dưỡng, đào tạo lại đội ngũ cán bộ tín
dụng đủ sức thực hiện nhiệm vụ theo yêu cầu của việc hiện đại hoá và hội
nhập trong hoạt động tín dụng ngân hàng.
Để hoạt động tín dụng ngân hàng thật sự lành mạnh, việc đầu tư
vốn phải do chính ngân hàng tự quyết định và tự chịu trách nhiệm, cần thấy
rằng tình hình quan hệ tín dụng giữa khách hàng với ngân hàng là nguồn
thông tin quan trọng để các cấp lãnh đạo, các ngành đánh giá đúng tình hình
hoạt động của các thành phần kinh tế, nhất là doanh nghiệp nhà nước.
Tăng tỷ trọng cho vay kinh tế tư nhân, tăng tỷ trọng cho vay các
lĩnh vực ngành và các sản phẩm được đánh giá là có lợi thế so sánh và sức
cạnh tranh cao trên cơ sở phối hợp với các sở, ngành hữu trách để xác định rõ
danh mục ngành, nghề, sản phẩm cần ưu tiên đầu tư. Song song đó thực hiện
tốt việc cung cấp thông tin, tư vấn giúp người dân và doanh nghiệp vay vốn
xây dựng, hoàn thiện các dự án vay vốn có tính khả thi và thực hiện đạt hiệu
quả. Trong quá trình giám sát sau khi cho vay, giúp các doanh nghiệp vay vốn
hoàn thiện quản trị, điều hành, thực hiện tiết kiện, ngăn ngừa lãng phí vốn.
Quan tâm phát triển Quỹ tín dụng nhân dân ở những nơi có điều
kiện, có nhu cầu, có khả năng phát triển. Vì thực tế đây là mô hình mẫu mực
trong xây dựng kinh tế hợp tác, được đánh giá là đơn vị được tổ chức chặt
chẽ, làm ăn có hiệu quả, góp phần quan trọng trong giảm nghèo, phát triển
kinh tế nông thôn, chống tệ nạn cho vay nặng lãi trong năm vừa qua.
Tạo thêm nguồn vốn từ ngân sách địa phương, các nguồn uỷ thác
trong và ngoài nước, các quỹ chuyên dùng... để bổ sung nguồn vốn cho vay
hộ nghèo của ngân hàng chính sách. Ngoài việc hỗ trợ người nghèo bằng
nguồn vốn cho vay ưu đãi, chúng ta cần chú trọng các biện pháp khuyến
nông, khuyến ngư, chuyển giao kỹ thuật phù hợp, đặc biệt là cần xây dựng mô
77
hình liên kết sản xuất ở nông thôn. Trong mô hình này phải có người khá giả,
biết tính toán làm ăn tham gia để từ đó cộng lực lại đất đai, về sức lao động,
góp vốn, về khả năng ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong sản xuất đặc
biệt là khả năng quản lý.
Tóm lại, chúng ta sử dụng nguồn lực tín dụng ngân hàng như một công
cụ để thúc đẩy kinh tế phát triển, đồng thời phát huy vai trò kiểm soát bằng
đồng tiền của nó gắn liền với hiệu quả sử dụng vốn tín dụng của các thành
phần kinh tế. Và muốn đạt được tăng trưởng tín dụng đáp ứng tốt các nhu cầu
vay vốn phục vụ cho phát triển kinh tế địa phương, các ngân hàng trên địa bàn
ra sức tạo lập nguồn vốn bằng nhiều biện pháp, trong điều kiện vốn huy động
tại chỗ không đủ để cho vay. Ngoài việc cố gắng nâng dần tỷ trọng vốn huy
động tại chỗ gắn liền với kết quả phát triển kinh tế - xã hội, một biện pháp
thiết nghĩ hết sức quan trọng là đảm bảo chất lượng tín dụng, hạn chế tối đa
nợ xấu, có như thế Chi nhánh NHCT Hoàng Mai mới có điều kiện tranh thủ
vốn điều hoà trong từng hệ thống để chủ động nguồn vốn, đủ sức phục vụ nhu
cầu sản xuất và đời sống của người dân ngày càng nhiều hơn.
2.3. Đối với dịch vụ thanh toán
Chi nhánh NHCT Hoàng Mai cần mở rộng mạng lưới dịch vụ thanh
toán, đó là việc mở thêm các chi nhánh cấp hai, các phòng giao dịch, điểm
giao dịch. Đồng thời chuẩn bị tạo điều kiện để mở them các điểm giao dịch có
kết nối mạng tới các trung tâm thương mại, các siêu thị cùng với việc phát
triển dịch vụ ngân hàng tự động như gửi, rút tiền mặt, thanh toán thẻ, thanh
toán chuyển khoản, thong tin tài khoản…
Hoàn thiện hệ thống thanh toán điện tử, cải tiến quy trình thanh toán,
nhất là cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa hội sở chính và chi nhánh khi tham
gia thanh toán. Phát triển phần mềm tin học mới và thuê bao đường truyền
dẫn riêng biệt cho hệ thống thanh toán điện tử.
Để phát triển dịch vụ thanh toán chuyển tiền quốc tế, Chi nhánh NHCT
78
Hoàng Mai cần mở rộng hệ thống các ngân hàng đại lý, mở tài khoản ngoại tệ
ở ngân hàng nước ngoài, nâng cao tín nhiệm của Chi nhánh NHCT Hoàng
Mai.
Ngoài ra Chi nhánh NHCT Hoàng Mai phải không ngừng mở rộng ứng
dụng các dịch vụ thanh toán quốc tế hiện đại khác như séc du lịch, thẻ Visa
Card,…Như vậy Chi nhánh NHCT Hoàng Mai mới có thế đem lại những tiện
ích nhất cho khách hàng và cũng là mang lại lợi nhuận cho chính mình.
2.4. Đối với dịch vụ ngân hàng điện tử
Xét trên quan điểm kinh tế thì ngân hàng điện tử tiết kiệm chi phí. Theo
đó tất cả các chi phí liên quan đến các hoạt động giao dịch, thanh toán, chi phí
kiểm đếm, các chi phí đi lại… Xét về mặt kinh doanh của Ngân hàng sẽ nâng
cao hiệu quả sử dụng vốn. Thông qua các dịch vụ của ngân hàng điện tử, các
lệch về chi trả, nhờ thu của khách hàng được thực hiện nhanh chóng, tạo điều
kiện cho vốn tiền tệ chu chuyển nhanh, thuận lợi, thực hiện tốt quan hệ giao
dịch, trao đổi tiền - hàng. Qua đó đẩy nhanh tốc độ lưu thông hàng hóa, tiền
tệ, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Đây là lợi ích mà các giao dịch kiểu ngân
hàng truyền thống khó có thể đạt được với tốc độ nhanh, chính xác so với
ngân hàng điện tử. Với mô hình ngân hàng hiện đại là kinh doanh đa năng thì
khả năng phát triển, cung ứng các dịch vụ cho nhiều đối tượng khách hàng,
nhiều lĩnh vực kinh doanh là rất cao.
Tuy nhiên quá trình phát triển ngân hàng điện tử cũng nảy sinh nhiều
vấn đề liên quan. Nổi bật là 3 vấn đề chính: vốn và công nghệ; an toàn và bảo
mật; quản trị, phòng ngừa rủi ro.
Trong điều kiện hiện nay, để phát triển ngân hàng điện tử ở nước ta,
trước hết Chi nhánh NHCT Hoàng Mai cần thực hiện một số "bước đi" thích
hợp, theo các giải pháp cụ thể:
Thứ nhất, tiếp tục hoàn thiện và phát triển các hoạt động dịch vụ ngân
hàng truyền thống: dịch vụ tín dụng; dịch vụ thanh toán; dịch vụ ngoại hối;
79
kho quỹ; tư vấn… Đây là cơ sở đảm bảo cho Chi nhánh NHCT Hoàng Mai
phát triển đạt trình độ nhất định, tạo tiền đề phát triển các hoạt động dịch vụ
ngân hàng điện tử.
Thứ hai, phát triển và nâng cao chất lượng các hoạt động dịch vụ của
Ngân hàng điện tử mà một số TCTD trên địa bàn đã và đang phát triển: dịch
vụ homebanking; mobile banking, theo hướng ngày càng tiện ích. Phối hợp
với các doanh nghiệp, với các ngành, lĩnh vực kinh doanh để tiếp tục mở rộng
hoạt động thanh toán qua mạng điện thoại di động.
Thứ ba, là sự phát triển ngân hàng điện tử mang tính chiến lược, tuy
nhiên để phát triển vững chắc, Chi nhánh NHCT Hoàng Mai cần lựa chọn
phương án tối ưu nhất để triển khai thực hiện. Trong điều kiện hiện nay, trước
mắt Chi nhánh NHCT Hoàng Mai nên phát triển các hoạt động dịch vụ của
ngân hàng điện tử ở mức độ nhất định, phù hợp với tình hình thực tế, trình độ
phát triển của nền kinh tế; nhu cầu của khách hàng như: phát triển hoạt động
ngân hàng qua mạng điện thoại di động (mobile banking); phát triển dịch vụ
homebanking. Các sản phẩm dịch vụ này sẽ phục vụ cho chính các đối tượng
khách hàng của ngân hàng (khách hàng truyền thống), đồng thời thu hút
khách hàng mới sử dụng bằng chính tiện ích và hiệu ứng thông tin về dịch vụ
80
từ các khách truyền thống.
KẾT LUẬN
Trong bối cảnh nền kinh tế đất nước bước vào hội nhập sâu rộng với
nền kinh tế thế giới, mức độ cạnh tranh trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng
ngày càng trở nên gay gắt. Các ngân hàng muốn tồn tại và phát triển trên thị
trường buộc phải nâng cao sức cạnh tranh qua việc xây dựng và thực thi hiệu
quả chiến lược phát triển dựa trên thế mạnh của mình. Chi nhánh NHCT
Hoàng Mai tuy là một chi nhánh mới được thành lập, còn gặp nhiều khó khắn
trong hoạt động kinh doanh của mình, song với tư cách là chi nhánh cấp một
của NHCT Việt Nam, Chi nhánh NHCT Hoàng Mai đã được kế thừa những
thành tựu mà NHCT Việt Nam đã đạt được, bước đầu đã có những kết quả
kinh doanh đáng kể.
Trên cơ sở vận dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu, khóa luận
đã trình bày rõ các lý luận cơ bản về dịch vụ ngân hàng, phân tích thực trạng
dịch vụ ngân hàng tại Chi nhánh NHCT Hoàng Mai sau một năm hoạt động,
đánh giá và đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện việc phát triển dịch vụ
ngân hàng tại Chi nhánh NHCT Hoàng Mai. Đồng thời khóa luận cũng đưa ra
các kiến nghị đối NHCT Việt Nam nhằm hỗ trợ cho việc thực hiện các giải
pháp trên đạt hiệu quả cao.
Khóa luận được thực hiện với mong muốn được đóng góp một phần
trong công cuộc đổi mới hoạt động dịch vụ ngân hàng của Chi nhánh NHCT
Hoàng Mai. Các kiến nghị và giải pháp mà khóa luận đề cập đều được đề xuất
trên cơ sở các luận cứ khoa học và thực tiễn, hoàn toàn có tính khả thi. Tuy
nhiên, do thời gian có hạn và kiến thức của bản thân còn hạn chế, khóa luận
của em không thể tránh khỏi những thiếu sót, kính mong thầy cô đóng góp và
81
sửa chữa để khóa luận của em được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ tận tình của các thầy cô giáo, các
anh chị làm việc tại Chi nhánh NHCT Hoàng Mai, bạn bè và gia đình trong
suốt thời gian học tập và nghiên cứu. Em xin bày tỏ sự biết ơn đến thầy giáo
hướng dẫn TS. Nguyễn Quang Minh đã tận tình giúp đỡ em hoàn thành khóa
82
luận này.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Báo cáo Tổng kết Hoạt động Kinh doanh năm 2007 và phương hướng
phát triển hoạt động kinh doanh năm 2008 của Chi nhánh NHCT
Hoàng Mai.
2. ThS Trần Quốc Đạt - Kinh nghiệm phát triển hoạt động dịch vụ ở
NHTM một số nước - Tạp chí khoa học và đào tạo ngân hàng số
51/2006.
3. TS. Phan Thị Thu Hà - Giáo trình Ngân hàng Thương mại, Nhà xuất
bản Thống kê, Hà Nội - năm 2004.
4. TS. Phạm Huy Hùng - Thách thức về công nghệ thông tin đối với hệ
thống Ngân hàng Thương mại trong quá trình Hội nhập Kinh tế Quốc
tế, Tạp chí Thị trường Tài chính Tiền tệ số 9+10, ngày 1-5-2006.
5. PGS.TS. Nguyễn Đắc Hưng - Dự báo về nhu cầu dịch vụ ngân hàng
và giải pháp - Tạp chí Công nghệ ngân hàng số 5/2005.
6. TS. Nguyễn Minh Kiều – Nghiệp vụ ngân hàng, Nhà xuất bản Thống
kê, Hà Nội – năm 2008.
7. TS Nguyễn Đại Lai - Giới thiệu những nội dung trọng tâm của chiến
lược phát triển dịch vụ ngân hàng đến năm 2010 và tầm nhìn 2020.
8. Nghị định 49/2000/NĐ-CP ngày 12/09/2000 của Chính phủ về tổ chức
và hoạt động của ngân hàng thương mại nhằm cụ thể hóa việc thi hành
luật của các Tổ chức Tín dụng.
9. Quyết định số 112/2006/QĐ-TTg ngày 24/05/2006 của Thủ tướng
Chính phủ về việc phê duyệt Đề án phát triển ngành ngân hàng đến
năm 2010 và tầm nhìn 2020 theo hướng cơ cấu lại một cách toàn diện
mô hình tổ chức và hoạt động của Ngân hàng Nhà nước và các Tổ
chức Tín dụng.
10. TS. Nguyễn Trọng Tài - Cạnh tranh của các ngân hàng thương mại
nhìn từ góc độ lý luận và thực tiễn tại việt Nam - Tạp chí ngân hàng số
4/2008.
11. ThS. Huỳnh Thị Hương Thảo – Hoạt động kinh doanh bảo hiểm tại
các ngân hàng thương mại hiện nay - Tạp chí ngân hàng số 6/2008.
12. GS, NGƯT. Đinh Xuân Trình – Giáo trình thanh toán quốc tế - Nhà
xuất bản lao động xã hội – năm 2006.
Các website tham khảo:
1. Báo điện tử - Thời báo kinh tế Việt Nam: www.vneconomy.vn
2. Bộ công thương: www.mot.gov.vn
3. Công thương online: www.baothuongmai.com.vn
4. Cục xúc tiến thương mại: www.vietrade.gov.vn
5. Hiệp hội ngân hàng Việt Nam: www.vnba.org.vn
6. Ngân hàng Công Thương Việt Nam www.icb.com.vn
7. Ngân hàng nhà nước Việt Nam: www.sbv.gov.vn
8. Ngân hàng thế giới: www.worldbank.org.vn
9. Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam: www.vcci.com.vn

