
Kiểm soát chặt chẽ quyền lực nhà nước
Nhà nước là một tổ chức đặc biệt của giai cấp thống trị và của xã hội. Nhà nước
sinh ra từ yêu cầu của cuộc đấu tranh giai cấp và các nhu cầu của xã hội, nhưng nó
khác với các tổ chức xã hội khác chủ yếu ở chỗ: nhà nước được sử dụng một thứ
quyền lực đặc biệt do xã hội trao cho- quyền lực nhà nước. Đó là một loại quyền
lực gắn liền với khả năng bắt buộc- cưỡng chế đối với tất cả mọi tổ chức và cá
nhân trong xã hội. Đó còn là thứ quyền lực cho phép nhà nước thâu tóm trong tay
mình hầu hết các nguồn nhân lực, tài lực của Quốc gia. Nhà nước còn là chủ thể
duy nhất được đại diện cho quốc gia- dân tộc trong các quan hệ quốc tế. Trong các
chế độ nô lệ và phong kiến, quyền lực nhà nước- mà thể hiện tập trung ở quyền
lực của nhà vua, được coi như một thứ quyền lực thần thánh, không giới hạn.
Đặc trưng về sự vận động của mọi loại quyền lực nói chung, trong đó có quyền lực
nhà nước, là hai xu hướng:
Thứ nhất, đó là xu hướng sử dụng trái phép quyền lực được giao để phục vụ
cho lợi ích cá nhân, gia đình, dòng họ ( lợi dụng quyền hạn).

Xu hướng thứ hai là lạm dụng quyền lực ( lộng quyền, lạm quyền).
Cả hai xu hướng này đều là biểu hiện của sự tha hóa quyền lực, vốn là xu hướng
khách quan trong quá trình vận động, phát triển của quyền lực. Cả hai xu hướng
trên đều dẫn đến những hậu quả vô cùng tai hại cho xã hội, và người phải gánh
chịu chính là nhân dân.
Do tính chất đặc biệt của quyền lực nhà nước như vậy, nên ngay từ khi nhà nước
ra đời cho tới nay, tất cả các chế độ xã hội đều nhận thức và đặc biệt coi trọng việc
kiểm soát quyền lực nhà nước, với những phương thức và thiết chế đa dạng khác
nhau. Nhân loại, bằng kinh nghiệm lịch sử đầy máu và nước mắt của mình, đã
hiểu ra rằng, quyền lực nhà nước phải được kiểm soát, hơn thế nữa, phải được
kiểm soát chặt chẽ. Nói cách khác, quyền lực nhà nước phải có giới hạn và được
giới hạn, không phải là vô hạn, nhất là trong một chế độ dân chủ, đặc biệt là trong
chế độ dân chủ xã hội xã hội chủ nghĩa.
Trong xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân do dân vì dân hiện
nay ở nước ta, vấn đề kiểm soát quyền lực nhà nước đang là một vấn đề vừa cơ
bản, vừa cấp bách. Là vấn đề cơ bản, vì nó là một yếu tố cấu thành khách quan của
hoạt động thực thi quyền lực nhà nước. Khi chúng ta thừa nhận quyền lực nhà
nước bắt nguồn từ nhân dân, thì hoạt động thực thi quyền lực nhà nước sẽ gồm ba
yếu tố cấu thành: trao quyền, sử dụng quyền và kiểm soát quyền. Để bảo đảm
quyền lực thực sự của nhân dân, không để xảy ra việc dân “ trao quyền rồi mất

quyền”, thì tất yếu phải kiểm soát. Mặt khác, việc kiểm soát quyền lực nhà nước
hiện nay ở nước ta , tuy có nhiều cố gắng và đạt được một số tiến bộ, nhưng vẫn
còn rất nhiều hạn chế, cả về lý luận và thực tiễn.
Trong thực tế, hoạt động này còn rất lúng túng, mang tính hình thức, hiệu lực và
hiệu quả còn thấp so với yêu cầu. Hiện tượng trao quyền mà kiểm soát lỏng lẻo,
không thường xuyên, hình thức, thậm chí không kiểm soát…đã dẫn đến nhiều hậu
quả tai hại như tham nhũng phổ biến và những tiêu cực khác trong bộ máy nhà
nước…làm ảnh hưởng xấu tới bản chất nhà nước, xói mòn lòng tin của nhân dân
với Đảng và Nhà nước. Nguyên nhân có nhiều, nhưng trong đó có một vấn đề gốc
rễ, đó là phương thức tổ chức thực hiện quyền lực.Đây là vấn đề chúng ta cần tập
trung nghiên cứu cả về mặt lý luận và thực tiễn, trên cơ sở phương pháp luận của
chủ nghĩa Mác- Lê nin. Đặc biệt, phải đoạn tuyệt với quan điểm giáo điều, bảo thủ
và những định kiến về hệ tư tưởng.
Để kiểm soát tốt quyền lực nhà nước, vấn đề trước tiên là phải xác định đúng
phương thức cơ bản trong tổ chức quyền lực. Nghĩa là phải trả lời đúng câu hỏi:
Muốn nhà nước thực sự là nhà nước của dân, do dân và vì dân, tránh được xu
hướng lạm quyền, lộng quyền thì phải tổ chức quyền lực nhà nước theo
phương thức nào là tốt nhất? Không có cách nào khác, chúng ta chỉ có thể tìm
câu trả lời trong lịch sử hàng nghìn năm tồn tại, phát triển của Nhà nước.

Ngay từ thời cổ đại, nhiều nhà tư tưởng vĩ đại như Hê-ra-clít, Pla-ton, Xi- xe-
ron…đã đề xuất quan điểm: quyền lực nhà nước cần phải được giới hạn bằng pháp
luật. Nhà nước chỉ được làm những gì mà pháp luật quy định, còn công dân được
phép làm tất cả những gì mà pháp luật không cấm. Muồn tránh được hiện tượng
lạm quyền, thì không thể trao trọn quyền lực vào tay một cá nhân, một cơ quan
nào. Sau này, các nhà tư tưởng tư sản như J. Lốc-cơ, Mong-te-ski-ơ đã tổng kết
lịch sử chế độ phong kiến, kế thừa và phát triển tư tưởng đó thành học thuyết về tổ
chức quyền lực nhà nước của Nhà nước tư sản ở thế kỷ 18: thuyết “ Tam quyền
phân lập”. Đây là một học thuyết có rất nhiều ưu điểm, thể hiện sự tiến bộ lớn
trong tư tưởng nhân loại về xây dựng nhà nước, đặc biệt về phương thức tổ chức
quyền lực nhà nước.
Theo các ông, mỗi nhà nước đều có ba loại quyền: lập pháp, hành pháp và tư
pháp. Để tránh lạm quyền, ba quyền đó cần được phân chia độc lập và giao cho ba
loại cơ quan khác nhau: quyền lập pháp do Nghị viện, quyền hành pháp do Chính
phủ, quyền tư pháp do Tòa án. Đồng thời, bằng pháp luật xác lập một cơ chế cân
bằng và kiểm soát lẫn nhau giữa các nhánh quyền, quyền này làm đối trọng với
quyền kia, không quyền nào khi thực thi mà không chịu sự giới hạn, kiềm chế của
quyền khác. Sự phân chia và kiềm chế lẫn nhau giữa ba quyền là điều kiện chủ
yếu bảo đảm tự do chính trị và dân chủ trong nhà nước.
Xét về cả lý thuyết và thực tế, phương thức này đã làm cho quyền lực nhà nước
được kiểm soát khá toàn diện và hiệu quả. (ngay cả Nghị viện- cơ quan lập pháp

và Tổng thống- nguyên thủ quốc gia, cũng không đứng ngoài vòng kiểm soát).
Mọi hành vi thực hiện công quyền của cơ quan, công chức nhà nước đều được đặt
trong một cơ chế kiểm tra, kiểm soát ràng buộc chặt chẽ của pháp luật. Đặc biệt,
các nhà nước tư sản tiên tiến đã xác lập và thực hiện có hiệu quả cơ chế bảo vệ
Hiến pháp- đạo luật cơ bản, có giá trị tối cao của nhà nước pháp quyền.
Nhà nước ta hiện nay đã đặt ra nhiều hình thức, phương pháp kiểm soát quyền lực
nhà nước. Hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội, giám sát của Hội đồng nhân
dân, của Tòa án nhân dân, của các tổ chức xã hội và cá nhân công dân; hoạt động
kiểm tra, thanh tra của nhà nước; hoạt động công tố và kiểm sát của Viện kiểm sát;
hoạt động kiểm tra của Đảng đối với nhà nước v.v… Tuy nhiên, chất lượng, hiệu
quả còn thấp, nhiều hoạt động còn mang tính hình thức, mặc dù đã có nhiều cố
gắng cải tiến. Suy cho cùng, nếu có sự tiến bộ, thì cũng chỉ là sự tiến bộ trong một
phương thức mà bản thân nó là sự hạn chế mà thôi. Đơn cử vài ví dụ:
- Theo quy định của Hiến pháp, Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất, cơ quan
quyền lực nhà nước cao nhất. Vậy cơ quan nào có đủ thẩm quyền kiểm soát Quốc
hội? Phải chăng Quốc hội- với tư cách là một cơ quan nhà nước, có đặc quyền
đứng ngoài vòng kiểm soát?
- Hiến pháp quy định Quốc hội chỉ chịu trách nhiệm trước nhân dân, nhưng thực
chất chỉ là trách nhiệm của cá nhân đại biểu. Ngay trách nhiệm này cũng không rõ
ràng, vì Hiến pháp quy định, đại biểu Quốc hội có thể bị Quốc hội hoặc cử tri bãi

