
LUẬN VĂN:
Kinh tế hàng hoá và sự cần thiết
phải khôi phục và phát triển kinh
tế hàng hoá ở Việt Nam

Phần mở đầu
Lý do chọn đề tài :
Có thể nói trong suốt một thời gian dài các nước xã hội chủ nghĩa ( trong đó có
cả nước ta đã không nhận thức đúng đắn vai trò của sản xuất hàng hoá, của kinh tế thị
trường, đã đồng nhất hình thức sở hữu với hình thức tổ chức kinh tế, coi nhẹ , thậm
chí phủ nhận quy luật giá trị, quy luật cạnh tranh, coi nhẹ quy luật cung cầu, chỉ nhìn
thấy mặt tiêu cực của kinh tế thị trường , phủ nhận quan hệ hàng hoá, tiền tệ. Do đó
đôí lập kinh tế hàng hóa và thị trường với kinh tế kế hoạch hoá, cho thị trường là
phạm trù chung của chủ nghĩa tư bản cho nên chúng ta chỉ thừa nhận sự tồn tại cảu
sản xuất hàng hóa trong khuôn khổ của “ thi đua xã hội chủ nghĩa “ , tách rời một
cách siêu hình sản xuất hàng hoá với thị trường. Bởi vậy chúng ta đã không tạo được
động lực phát triển sản xuất, vô tình hạn chế việc ứng dụng những tiến bộ của khoa
học kỹ thuật vào trong sản xuất, năng xuất nao động tăng chậm , gây rối loạn và ách
tách trong việc phân phối, lưu thông làm cho nền kinh tế rơi vào tình trạng kém năng
động trì trệ. Mặt khác thì sản xuất của chúng ta lúc này là sản xuất nhỏ, trạng kinh tế
tự nhiên, hiện vật tự cung tự cấp. Xã hội Việt Nam, về cơ bản dựa trên nền tảng của
nông nghiệp lúa nước, nông dân chiếm đại đa số. Việt Nam vẫn là nước nghèo làn
nàn, lạc hậu, kém phát triển , cơ chế quản lý thì tập trung quan liêu bao cấp không
phát huy được sức mạnh của nền kinh tế. Khi nhìn lại những sai lầm trong thời kỳ
thời kỳ thực hiện “cơ chế tập trung quan liêu bao cấp “ Đảng và nhà nước ta đã thừa
nhận tại đại hội VI(12-1986) là “ đã có những thành kiến không đúng, trên thực tế
chưa thật sự thừa nhận những quy luật của sản xuất hàng hoá đang tồn tại khách quan
do đó chưa chú ý vận dụng chúng vào việc chế định các chủ chương chính sách kinh
tế “ và để khắc phục sai lâm đó thì Đảng ta đã đề ra chủ trương (1) “Quá trình từ sản
xuất nhỏ lên sản xuất lớn là qúa trình chuyển hóa nền kinh tế còn nhiều tính chất tự
cung, tự cấp, tự túc thành nền kinh tế hàng hoá”. Quả thực qua hơn10 năm đổi mới
phát triển kinh tế hàng hoá theo định hướng xã hội chủ nghĩa thì nhiều người trong
tầng lớp nhân dân còn chưa hiêu hết về nó. Mặt khác, nó đã bộc lộ được rất nhiều
ưu điểm nhưng không phải không có những nhược điểm mà chúng ta cần bàn đến.
Đó chính là lý do em chọn đề tài này.

B. Phần Nội Dung
I. Những vấn đề cơ chung của kinh tế hàng hoá và sự cần thiết phải khôi phục và
phát triển kinh tế hàng hoá ở Việt Nam.
1. Những vấn đề chung :
1.1. Quá trình chuyển từ kinh tế tự nhiên lên kinh tế hàng hoá:
_Kinh tế tự nhiên (hay sản xuất tự cung tự cấp) là kiểu tổ chức kinh t ế đầu tiên mà
loài người sử dụng để giải quyết vấn đề sãn xuất cái gì ; sản xuất như thế nào và cho
ai. ở đây sản xuất ra để thoả mãn nhu câu tiêu dùng nội bộ của đơn vị kinh tế ,đây là
kiểu sản xuất tự cung tự cấp , từng gia đình hay công xã. Đây là kiểu tổ chức sản xuất
tự nhiên, kép kín trong phạm vi từng đơn vị nhỏ, không cho phép mở rộng quan hệ
với các đơn vị khác.
*Đặc điểm của kinh tế tự nhiên là :
_Sản xuất tự cung tự cấp có tích chất bảo thủ, trì trệ , bị giới hạn bởi nhu cầu hạn
hẹp.
_ Sản xuất tự cung tự cấp thích ứng với thời kỳ lực lượng sản xuất chưa phát triển,
khi mà lào động thủ công chíêm địa vị thống trị . Nó có trong thời kỳ công xã nguyên
thuỷ , và tồn tại phổ biến trong thời kỳ chiếm hữu nô lệ. Trong thời kỳ phong kiến ,
sản xuất tự cung, tự cấp tồn tại dưới hình thái điền trang , thái ấp của địa chủ và kinh
tế nông dân gia trưởng.
Khi lực lượng sản xuất phát triển cao, phân công lao động được mở rộng thì dần
dần xuất hiên trao đổi hàng hoá. Khi trao đổi hàng hoá trở thành mục đích thường
xuyên của sản xuất thì sản xuất hàng hoá ra đời. Đó chính là lý do nền kinh tế tự
cung tự cấp đã chuyển sang nền kinh tế hàng hoá
1.2. Điều kiện ra đời của kinh tế hàng hoá:
Cơ sở kinh tế _ xã hội là sự ra đời và tồn tại của sản xuất hàng hoá là sự phân
công lao động xã hội và sự tách biệt về kinh tế giữa người sản xuất này với người sản
xuất khác do quan hệ sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất qui định.
_ Sự phân công lao động xã hội: là việc phân chia người sản xuất vào những ngành
nghề khác nhau của xã hội. Hoặc nói cách khác đó là chuyên môn hoá sản xuất.

Do phân công lao động xã hội nên mỗi người chỉ sản xuất một hay nhiều sản
phẩm nhất định. Song, nhu cầu sản xuất và tiêu dùng của mỗi người đều cần có
nhiều loại sản phẩm. Vì vậy, đòi hỏi họ phải có mối liên hệ trao đổi sản phẩm cho
nhau, phụ thuộc vào nhau
Chính vì vậy mà phân công lao động là điều kiện cần của sản xuất hàng hoá.
_ Điều kiên thư hai của sản xuất hàng hoá là sự tách biệt về kinh tế giữa người sản
xuất do các quan hệ sở hữu khác nhauvề tư liệu sản xuất qui định
Dựa vào điều kiện này mà mà người chủ tư liệu sản xuất có quyền quyết định
việc sử dụng tư liệu sản xuất và những sản phẩm do họ sản xuất ra. Như vậy, quan hệ
sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất đã chia rẽ người sản xuất, làm cho họ tách biệt
với nhau về mặt kinh tế. Trong điều kiện đó, người sản xuất khác nhau thì phải trao
đổi sản phẩm lao động cho nhau. Sản phẩm lao động trở thành hàng hoá. Mà khi sản
phẩm lao động trở thành thì người sản xuất trở thành người sản xuất hàng hoá, lao
động của người sản xuất hàng hoá vừa có tích chất xã hội, vừa có tính chất tự nhiên,
cá biệt. Tính chất xã hội của lao động xã hội nên sản phẩm do lao động của người
này trở nên cần thiết cho người khác, cần cho xã hội. Còn tính chất tư nhân, cá biệt
thể hiện ở chỗ việc sản xuất cái gì, bằng công cụ nào, phân phôí cho ai là công việc
cá nhân của các chủ sở hữu về tư liệu sản xuất, do họ định đoạt. Tính chất xã hội
của lao động của sản xuất hàng hoá chỉ được thừa nhận khi họ tìm được người mua
trên thị trường và bán được hàng hoá do họ sản xuất ra. Vì vậy, lao động của người
sản xuất hàng hoá bao hàm sự thống nhất giữa hai mặt đối lập là tính chất xã hội và
tính chất tư nhân, cá biệt của lao động. Mâu thuẫn giữa tính chất xã hội và tính chất
tư nhân, cá biệt của lao động sản xuất hàng hoá là mâu thuẫn cơ bản của sản xuất
hàng hoá. Đối với hàng hoá, mẫu thuẫn đó được giải quyết trên thị trường. Đồng
thời nó được tái tạo ra một cách thường xuyên với tư cách là mâu thuẫn cảu nền
kinh tế hàng hoá nói chung. Chính mâu này là cơ sở của khủng hoảng kinh tế sản
xuất thừa.
Sản xuất hàng hoá ra đời và phát triển là một quá trình lịch sử lâu dài. Đầu tiên
là sản xuất hàng hoá gỉan đơn. Sản xuất hàng hoá giản đơn là sản xuất hàng hoá của
nông dân, thợ thủ công dựa trên chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất và sức lao động của
bản thân họ. Khi lực lượng sản xuất phát triển cao hơn, sản xuất hàng hoá giản đơn

chuyển thành sản xuất hàng háo qui mô lớn. Quá trình chuyển biến này diễn ra trong
thời kỳ quá độ từ xã hội phong kiến sang xã hội tư bản.
Ngày nay, sản xuất hàng hoá là kiểu tổ chức kinh tế-xã hội phổ biến để phát
triển kinh tế của các quốc gia.
1.3) Ưu thế của kinh tế hàng hoá
Một là:Thúc đẩy quá trình xã hội hoá sản xuất nhanh chóng, làm cho sự phân
công lao động, chuyên môn hoá sản xuất ngày càng sâu sắc, hình thành các mối liên
hệ kinh tế và sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các doanh nghiệp và người sản xuất, tạo tiền
đề cho sự hợp tác lao động ngàycàng chặt chẽ.
Hai là:Thúc đẩy sự phát trỉên của lực lượng sản xuất. Trong nền kinh tế hàng
hoá sự tác động của quy luật giá trị, quy luật cạnh tranh, quy luật cung cầu buộc
người sản xuất phải năng động, luôn cải tiến kỹ thuật, tiết kiệm, nâng cao năng suất
lao động, cải tiến chất lượng và hình thức mẫu mã hàng hoá cho phù hợp vơí nhu cầu
xã hội, tìm mọi cách đưa ra thị trường những loại hàng hoá mới thích hợp với thị hiếu
người tiêu dùng... Kết quả là thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, gắn sản xuất với
thị trường.
Ba là:Thúc đẩy quá trình tích tụ, tập trung sản xuất. Mở rộng giao lưu kinh tế
trong nước và hội nhập vào nền kinh tế thế giới.
Bốn là:Giải phóng các mối quan hệ kinh tế ra khỏi sự trói buộc của nền sản
xuất khép kín đã từng kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất, tạo những điều
kiện cần thiết cho việc tổ chức và quảnlý một nền kinh tế phát triển ở trình độ cao
thực hiện dưới hình thức quan hệ hàng hoá tiền tệ.
Tuy nhiên, kinh tế hàng hoá, kinh tế thị trường cũng có những khuyết tật của nó.
Không được lý tưởng hoá hoặc tuyệt đối hoá những thành tựu hoặc khuyết tật. Bên
cạnh những ưu thế, kinh tế hàng hoá, kinh tế thị trường còn có những khuyết tật như
tình trạng khủng hoảng , thất nghiệp, phân hoá bất bình đẳng, huỷ hoại môi trường...
Vì vậy, để phát huy ưu thế, khắc phục những khuyết tật cần phải tăng cường sự quản
lý của Nhà nước.
1.4. Các giai đoạn phát triển của kinh tế hàng hoá.
Như chúng ta dã biết Kinh tế hàng hoá - một hình thái kinh tế thay thế hình thái
kinh tế tự nhiên. Nó là một kiểu tổ chức kinh tế - xã hội mà trong đó những người
tham gia vào sản xuất, tạo ra sản phẩm không phải để tiêu dùng mà để bán. Hình thái

