intTypePromotion=1
ADSENSE

Kinh tế môi trường (Field & Olewiler) - Chương 14: Triển vọng chính sách môi trường

Chia sẻ: Money Money | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:15

56
lượt xem
6
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Ba chương vừa qua đã giới thiệu các công cụ mệnh lệnh và kiểm soát, những chính sách khuyến khích kinh tế như thuế, trợ cấp, và giấy phép phát thải có thể chuyển nhượng. Chương này tiến hành phân tích làm nổi bật những điểm khác nhau giữa các chính sách. Mời các bạn cùng tham khảo để biết thêm các nội dung chi tiết.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Kinh tế môi trường (Field & Olewiler) - Chương 14: Triển vọng chính sách môi trường

CHƯƠNG 14<br /> <br /> TRIỂN VỌNG CHÍNH SÁCH MÔI TRƯỜNG<br /> Ba chương vừa qua đã giới thiệu các công cụ mệnh lệnh và kiểm soát, những chính sách<br /> khuyến khích kinh tế như thuế, trợ cấp, và giấy phép phát thải có thể chuyển nhượng.<br /> Chương này tiến hành phân tích làm nổi bật những điểm khác nhau giữa các chính sách.<br /> Trước tiên, dùng ví dụ số học và phương pháp đại số đơn giản tương tự như cách đã sử<br /> dụng trong ba chương trước, chúng ta so sánh các giải pháp hiệu quả - chi phí đối với tất cả<br /> các chính sách theo các tiêu chí sau: chi phí thực thi cá nhân và xã hội, các động cơ khuyến<br /> khích đầu tư vào công nghệ mới giảm ô nhiễm và các yêu cầu thông tin để thực thi chính<br /> sách. Phân tích này sẽ được trình bày rõ trong phần 5, nó giúp cho bạn nhận ra chính sách<br /> nào sẽ hoạt động tốt nhất cho từng vấn đề môi trường cụ thể. Phần thứ hai sẽ giới thiệu tính<br /> không chắc chắn của dạng hàm chi phí giảm ô nhiễm biên và hàm thiệt hại biên trong mô<br /> hình. Tính không chắc chắn có thể cản trở việc đạt tới trạng thái cân bằng hiệu quả xã hội.<br /> Một tiêu chí khác cho việc chọn lựa giữa các chính sách cũng sẽ được trình bày trong<br /> chương này – đó là tối thiểu hóa chi phí xã hội ở tại một mức phát thải không hiệu quả.<br /> Cuối cùng, chúng ta kết thúc bằng một thảo luận về các tác động khuyến khích của từng<br /> chính sách để làm rõ dạng hàm của đường MAC.<br /> <br /> SO SÁNH CÁC CÔNG CỤ CHÍNH SÁCH<br /> Nhắc lại mô hình cơ bản: Chi phí thực thi<br /> Giả sử có hai công ty, L và H, có chi phí giảm ô nhiễm biên khác nhau. Thông thường,<br /> chất thải được ký hiệu là Ei, với i = L và H. Giả sử công ty L có chi phí giảm ô nhiễm biên<br /> thấp chi phí của hơn công ty H. Cả hai công ty đều hoạt động trong thị trường cạnh tranh<br /> hoàn hảo. Không có sự bóp méo nào trong nền kinh tế ngoại trừ ô nhiễm từ các công ty.<br /> Chúng ta cũng giả thiết chất thải ô nhiễm đang xét là hỗn hợp đồng nhất.<br /> MACL = 900 – 15EL<br /> MACH = 2000 – 25EH<br /> Nếu không có qui định nào đối với việc gây ô nhiễm thì mỗi công ty sẽ có chi phí xử lý ô<br /> nhiễm bằng 0. Mức phát thải đối với công ty có mức chi phí giảm ô nhiễm thấp là 60 tấn,<br /> còn công ty có chi phí giảm ô nhiễm cao là 80 tấn. Lượng phát thải này được tính bằng<br /> cách lần lượt cho từng phương trình trên bằng 0 và giải ra giá trị E. Do vậy, tổng lượng<br /> phát thải khi không có qui định là 140 tấn. Hình 14.1 minh họa chi phí giảm ô nhiễm biên<br /> của từng nguồn gây ô nhiễm.<br /> Giả sử nhà chức trách muốn giảm bớt 40% lượng phát thải. Như vậy lượng phát thải mục<br /> tiêu là 84 tấn. Mức phát thải mục tiêu này thể hiện sự cân bằng hiệu quả xã hội, hay đó là<br /> dự đoán tốt nhất của các nhà chức trách. Trong phần thảo luận sau, hiệu quả xã hội không<br /> quan trọng trong bất kỳ sự thỏa thuận nào. Mỗi chính sách đều có thể đạt được mức phát<br /> thải là 84 tấn. Nếu mục tiêu trên là hiệu quả xã hội thì mỗi chính sách cũng có thể làm<br /> được như thế. Vậy điểm khác biệt giữa các chính sách là liệu các chính sách này có mang<br /> lại hiệu quả chi phí hay không; nghĩa là các chính sách đó có tối thiểu hóa chi phí xã hội<br /> hay không khi đạt mức ô nhiễm mục tiêu. Chúng ta sẽ tập trung vào vấn đề hiệu quả - chi<br /> phí trong chương này.<br /> Barry Field & Nancy Olewiler<br /> <br /> 1<br /> <br /> Hình 14.1: Phát thải hiệu quả chi phí<br /> <br /> 525 đô la là thuế trên một đơn vị<br /> và là giá cân bằng của mỗi<br /> giấy phép<br /> 25 tấn là tiêu chuẩn cá nhân của<br /> công ty L và là mức phát thải<br /> sau khi mua bán giấy phép.<br /> 59 tấn là tiêu chẩn cá nhân của<br /> công ty H và là mức phát thải<br /> sau khi mua bán giấy phép.<br /> <br /> Điểm cân bằng hiệu quả -chi phí cho hai nguồn gây ô nhiễm với các đường MAC khác nhau đạt được khi các<br /> đường MAC bằng nhau. Nguồn gây ô nhiễm có chi phí cao giảm lượng phát thải từ 80 xuống 59 tấn, trong<br /> khi lượng phát thải của công ty có chi phí thấp sẽ giảm từ 60 xuống 25 tấn. Cả hai đường MAC đều bằng 525<br /> đô la. Chính sách thuế, TDP, và tiêu chuẩn cá nhân đều là hiệu quả - chi phí. Một tiêu chuẩn đồng nhất được<br /> thiết lập ở mức 42 tấn thì không phải là hiệu quả - chi phí bởi vì các đường MAC không bằng nhau tại mức<br /> phát thải.<br /> <br /> Chúng ta hãy xem xét lại hai cách đo lường chi phí thực thi của một chính sách. Chi phí<br /> thực thi cá nhân đo lường tổng chi phí xử lý chất thải của nguồn gây ô nhiễm. Đó là tổng<br /> chi phí giảm ô nhiễm (TAC) của nguồn gây ô nhiễm cộng với bất kỳ khoản thuế phải trả<br /> hoặc chi phí mua giấy phép phát thải có thể chuyển nhượng được (TDP) hay doanh thu từ<br /> việc bán giấy phép đó. Chi phí thực thi xã hội được xác định bằng chi phí thực thi cá<br /> nhân trừ đi khoản thuế hay doanh thu giấy phép được phân phối lại cho nguồn gây ô<br /> nhiễm. Những khoản thu này sẽ không ảnh hưởng tới quyết định sản xuất của các công ty<br /> nếu tất cả doanh thu được hoàn trả lại toàn bộ (nghĩa là không phụ thuộc vào lượng phát<br /> thải).<br /> Từ quan điểm xã hội, chi phí thực thi xã hội thực sự có ý nghĩa. Chúng ta tính toán chi phí<br /> thực thi cá nhân vì những chi phí này minh họa khá rõ các đặc điểm kinh tế chính trị của<br /> chính sách. Khi chi phí tư nhân của một chính sách là cao thì chúng ta có thể thấy nguồn<br /> gây ô nhiễm phản đối việc thực thi chính sách đó. Việc xác định hai nguồn gây ô nhiễm có<br /> chi phí giảm ô nhiễm biên khác nhau cho phép chúng ta thấy các chính sách có thể có tác<br /> động khác nhau lên các công ty đang hoạt động trong cùng một ngành công nghiệp.<br /> Điểm cân bằng hiệu -quả chi phí được xác định khi hai điều kiện sau được thỏa mãn:<br /> EL + EH = 84<br /> MACL = MACH<br /> Điều này đảm bảo tổng lượng chất thải bằng với lượng ô nhiễm mục tiêu và chi phí giảm ô<br /> nhiễm của những nguồn gây ô nhiễm là bằng nhau tại mức phát thải cân bằng, có nghĩa là<br /> <br /> Barry Field & Nancy Olewiler<br /> <br /> 2<br /> <br /> nguyên tắc cân bằng biên được thỏa mãn. Giải phương trình MAC trên chúng ta sẽ tìm ra<br /> giá trị EL = 25, EH =59, và MACL = MACH = $525 tại mức phát thải mang lại hiệu quả-chi<br /> phí cho mỗi công ty. Do mức phát thải ban đầu của công ty L là 60 và của công ty H là 80,<br /> nghĩa là tổng lượng chất thải giảm đi là 35 của công ty L và 21 đơn vị của công ty H.<br /> Mức thuế sẽ được qui định là $525 trên một đơn vị chất thải. Tiêu chuẩn cá nhân sẽ được<br /> qui định tại mức phát thải mang lại hiệu quả-chi phí là 25 và 59. Chúng ta giả sử tiêu chuẩn<br /> đồng nhất ở mức 42 đơn vị phát thải cho mỗi công ty; nghĩa là yêu cầu mỗi nguồn phát thải<br /> cùng một lượng như nhau bất kể chi phí giảm ô nhiễm của hai nguồn đó như thế nào.<br /> Chúng ta xem xét hai chính sách giấy phép phát thải có thể chuyển nhượng được (TDP.<br /> Trước tiên, chúng ta giả sử những nguồn gây ô nhiễm được cấp TDP mà không chịu bất kỳ<br /> lệ phí nào. Giả sử nhà chức trách không biết gì về lượng chất thải ban đầu của các nguồn<br /> gây ô nhiễm. Đơn giản là chúng ta lấy tổng lượng chất thải chia cho số nguồn gây ô nhiễm,<br /> và cấp giấy phép cho mỗi công ty được phát thải ra bên ngoài là 42 đơn vị. Sau lần phân<br /> phối đầu tiên, các công ty có thể mua bán giấy phép. TDP còn có thể được đấu giá. Với<br /> chính sách này, nhà chức trách đơn giản đề nghị bán 84 giấy phép và để tự các công ty đấu<br /> giá với nhau. Giả sử thời gian là đủ để mỗi chính sách đạt tới trạng thái cân bằng.<br /> Vậy thì chính sách nào trong những chính sách trên có thể đạt tới trạng thái cân bằng hiệu<br /> quả-chi phí? Chỉ chính sách tiêu chuẩn đồng nhất là thất bại về mặt hiệu quả - chi phí như<br /> được ghi nhận ở chương 11. Tại mức phát thải là 42 đơn vị, MAC L = $270 và MACH =<br /> $950. Con số này có thể không đạt tính hiệu quả - chi phí vì chi phí giảm ô nhiễm biên của<br /> hai công ty không bằng nhau tại điểm cân bằng. Một tiêu chuẩn cá nhân thiết lập tại mức<br /> phát thải hiệu quả, một mức thuế được định ra tại mức giá hiệu quả, và cả hai hệ thống<br /> TDP đều đạt hiệu quả - chi phí.<br /> Bảng 14.1 trình bày chi phí thực thi cá nhân và chi phí thực thi xã hội của mỗi chính sách.<br /> Như đã minh họa, chi phí thực thi xã hội là giống nhau đối với tất cả các chính sách ngoại<br /> trừ tiêu chuẩn đồng nhất. Tổng chi phí xã hội về mặt hiệu quả - chi phí là $14.700.<br /> Bảng số liệu trình bày rõ tiêu chuẩn đồng nhất đạt được mức phát thải mục tiêu với tổng<br /> chi phí vượt quá tổng chi phí của các chính sách khác. Tiếp theo, ghi nhận sự khác biệt<br /> trong chi phí kiểm soát cá nhân giữa các chính sách và giữa hai loại công ty. Các chính<br /> sách có thể được xếp hạng theo chi phí tư nhân từ thấp nhất đến cao nhất cho từng loại<br /> nguồn gây ô nhiễm. Đối với nguồn gây ô nhiễm có chi phí thấp, chính sách được ưa thích<br /> sắp xếp theo chi phí thấp nhất đến chi phí từ thấp nhất đến cao nhất là (a) TDP được phân<br /> bổ ban đầu không chịu phí tổn, (b) tiêu chuẩn đồng nhất, (c) tiêu chuẩn cá nhân, và (d) sự<br /> ràng buộc thuế đồng nhất và chính phủ bán đấu giá TDP. Đối với nguồn gây ô nhiễm có<br /> chi phí cao, trật tự xếp hạng là tiêu chuẩn cá nhân, rồi đến TDP không đấu giá, tiếp theo là<br /> tiêu chuẩn đồng nhất và cuối cùng là thuế và TDP được bán đấu giá. Cho nên, chính sách<br /> tiêu chuẩn có tác động khác nhau phụ thuộc vào nguồn gây ô nhiễm có chi phí cao hay<br /> thấp nhưng có điều thấy rõ là các tiêu chuẩn này luôn có chi phí thấp hơn thuế hay hệ<br /> thống TDP bán đấu giá. TDP được phân bổ ban đầu không tính phí luôn là chính sách được<br /> ưa thích nhất hay nhì trong bảng danh sách1. Đều này giúp giải thích tại sao các nguồn gây<br /> <br /> 1<br /> <br /> Bảng xếp hạng của TDP miễn phí được phân bổ ban đầu sẽ là một hàm của sự phân bổ các giấy phép ban<br /> đầu. Ví dụ, nếu nguồn gây ô nhiễm nhận giấy phép phát thải theo tỷ lệ phát thải ban đầu, công ty L sẽ lấy 36<br /> giấy phép còn công ty H lấy 48. Điều này có thể thay đổi chi phí kiểm soát tư nhân đối với công ty L là<br /> 3.412,50 đô la và công ty H là 11.287,50 đô la. Việc phân bổ này làm cho chính sách đứng thứ hai theo tiêu<br /> chí chi phí thấp nhất đối với công ty L. Do vậy, giấy phép được ưa thích hơn thuế và thuế thì được ưa thích<br /> <br /> Barry Field & Nancy Olewiler<br /> <br /> 3<br /> <br /> ô nhiễm ngày càng ủng hộ việc thực hiện chính sách TDP. Rõ ràng các nguồn gây ô nhiễm<br /> thích TDP hơn thuế và ít ra chiếm ưu thế hơn các dạng tiêu chuẩn. Các tác động của tiêu<br /> chuẩn cũng khác nhau là điều thú vị và có thể giúp giải thích sự ủng hộ cho các chính sách<br /> khác nhau. Nguồn gây ô nhiễm có chi phí cao sẽ ưa thích tiêu chuẩn cá nhân hơn. Nếu<br /> nguồn gây ô nhiễm có chi phí cao cũng là đại diện cho những công ty đang tồn tại trong<br /> một ngành công nghiệp thì điều hiển nhiên là họ sẽ phản đối các tiêu chuẩn đồng nhất. Nếu<br /> các công ty mới tham gia vào ngành có MAC thấp, một tiêu chuẩn đồng đều rõ ràng sẽ là<br /> điều bất lợi đối với công ty cũ. Do vậy, thực tế khi áp dụng các tiêu chuẩn, chúng ta sẽ thấy<br /> có một tiêu chuẩn thường xuyên áp dụng cho các công ty đang hoạt động trong ngành và<br /> một tiêu chuẩn khắt khe hơn dành cho công ty mới tham gia vào ngành. Bảng số liệu cũng<br /> chỉ rõ những nguồn gây ô nhiễm sẽ phản kháng việc thực thi chính sách thuế và TDP bán<br /> đấu giá bởi chi phí tư nhân của các công ty cao tương đối so với các chính sách còn lại. Cột<br /> khuyến khích công nghệ tóm lược thông tin đã trình bày ở chương 11 đến chương 13 về<br /> việc khuyến khích đầu tư vào lĩnh vực nghiên cứu và phát triển (R&D) nhằm đạt được chi<br /> phí giảm ô nhiễm biên MAC thấp hơn. Chúng ta thấy tất cả các tiêu chuẩn đều tạo ra ít<br /> động lực đầu tư vào R&D hơn so với các chính sách còn lại. Trong tiêu chuẩn cá nhân khi<br /> các yếu tố khác không đổi, công ty càng có chi phí xử lý chất thải thấp hơn thì có thể phải<br /> chia sẽ tổng lượng chất thải phải giảm nhiều hơn. Thậm chí mỗi nguồn gây ô nhiễm có<br /> động cơ báo cáo sai chi phí xử lý chất thải của họ, với hi vọng thuyết phục các nhà chức<br /> trách rằng thực tế họ phải chịu chi phí cao hơn. Cho nên nhà chức trách vốn quan tâm đến<br /> hiệu quả - chi phí sẽ ấn định cho công ty một tiêu chuẩn khoan dung hơn. Trong phần tiếp<br /> theo của chương này, chúng ta sẽ minh họa bằng đồ thị về động cơ báo cáo sai thông tin<br /> trong trường hợp chính sách tiêu chuẩn so với chính sách thuế Đối với tất cả các chính<br /> sách khác, có những động cơ mạnh mẽ đầu tư vào các thiết bị xử lý chất thải, bởi vì mỗi<br /> đơn vị ô nhiễm giảm đi sẽ làm giảm tổng chi phí cá nhân của chính sách đó. TDP đấu giá<br /> và thuế có khuynh hướng tạo ra khuyến khích mạnh mẽ nhất để tìm ra đường MAC thấp<br /> hơn, vì tiết kiệm chi phí từ việc giảm hóa đơn tiền thuế hoặc khoản thanh toán cho TDP có<br /> khả năng rất lớn.<br /> Cột thông tin được yêu cầu chỉ ra rõ lượng thông tin mà nhà chức trách cần có để xác định<br /> mức độ phát thải mục tiêu. Chúng ra không cần quan tâm đến các thông tin yêu cầu cho<br /> việc thực thi từng chính sách. Hai chính sách được xếp hạng “thấp“: tiêu chuẩn đồng nhất<br /> và TDP đấu giá yêu cầu lượng thông tin là ít nhất. Trong trường hợp tiêu chuẩn đồng nhất<br /> được định nghĩa như trên (các công ty được phép phát thải một lượng bằng nhau) 2, nhà<br /> chức trách không cần biết thêm bất kỳ thông tin nào từ công ty. Trường hợp TDP đấu giá<br /> cũng tương tự như vậy. Nhà chức trách chỉ cần thông báo một cuộc bán đấu giá và chính<br /> thị trường sẽ giải quyết những việc còn lại. Giao dịch tại thị trường giấy phép sẽ cho biết<br /> đường MAC của từng công ty (như đường cầu và đường cung giấy phép). Phân bổ TDP<br /> được xếp từ thấp đến trung bình. Đó là bởi vì cần thiết lập một số phương tiện phân phối<br /> giấy phép ban đầu. Ví dụ, nhà chức trách có thể dùng tỷ lệ chất thải của công ty trong tổng<br /> lượng chất thải làm nguyên tắc phân phối (đơn giản là lấy tổng lượng chất thải chia cho<br /> tổng số nguồn gây ô nhiễm). Chúng ta xếp hạng thuế đồng nhất từ mức trung bình đến cao.<br /> Để tính toán mức thuế hiệu quả chi phí, nhà chức trách phải giải bài toán hiệu quả chi phí.<br /> Điều này có nghĩa họ phải biết MAC của tất cả những nguồn gây ô nhiễm. Nếu có nhiều<br /> công ty thì chi phí yêu cầu thông tin sẽ là rất lớn. Lý do thuế đồng nhất ở mức trung bình là<br /> nhà chức trách có thể làm đi làm lại cho đến khi thiết lập một thuế suất hiệu quả bằng cách<br /> hơn bất kỳ tiêu chuẩn nào. Sẽ có những động cơ mạnh để các nguồn gây ô nhiễm vận động hành lang để có<br /> được sự phân bổ giấy phép ban đầu có lợi cho hoï.<br /> 2<br /> Nguyên tắc tương tự được áp dụng nếu chính sách tiêu chuẩn đồng nhất yêu cầu mỗi nguồn gây ô nhiễm<br /> phải cắt giảm lượng phát thải theo tỷ lệ %.<br /> <br /> Barry Field & Nancy Olewiler<br /> <br /> 4<br /> <br /> quan sát tổng lượng chất thải, rồi tăng hay giảm thuế suất cho đến khi đạt tới mức chất thải<br /> mục tiêu. Điều này được trình bày bằng đồ thị trong phần tiếp theo của chương (vấn đề<br /> không chắc chắn và thông tin). Tiêu chuẩn cá nhân yêu cầu một lượng thông tin lớn. Giống<br /> như thuế hiệu quả chi phí (nhưng không cần thao tác lặp đi lặp lại), Nhà chức trách cần<br /> phải biết MAC của tất cả các công ty để có thể xác định tiêu chuẩn cá nhân cho mỗi công<br /> ty. Không giống như thuế, không có cách nào để lặp đi lặp lại cho đến khi có giải pháp<br /> mang hiệu quả chi phí. Một khi nguồn gây ô nhiễm tuân theo một tiêu chuẩn định trước,<br /> nhà chức trách sẽ không nhận được thông tin gì về đường MAC của họ.<br /> Bảng 14.1: Chi phí kiểm soát, khuyến khích, và những yêu cầu thông tin của các chính<br /> sách kiểm soát ô nhiễm.<br /> Chi phí<br /> Chi phí<br /> Khuyến<br /> Thông tin<br /> Chính sách<br /> kiểm soát kiểm soát<br /> khích<br /> được yêu<br /> tư nhân<br /> xã hội<br /> công nghệ<br /> cầu<br /> Tiêu chuẩn đồng nhất<br /> Nguồn gây ô nhiễm có chi phí thấp<br /> 2.430,00<br /> 2.430,00<br /> Yếu<br /> Thấp<br /> Nguồn gây ô nhiễm có chi phí cao<br /> 18.050,00 18.050,00<br /> Yếu<br /> Thấp<br /> 20.480,00 20.480,00<br /> Tổng chi phí<br /> Tiêu chuẩn cá nhân<br /> Nguồn gây ô nhiễm có chi phí thấp<br /> Nguồn gây ô nhiễm có chi phí cao<br /> Tổng chi phí<br /> <br /> 9.187,00<br /> 5.512,50<br /> 14.700,00<br /> <br /> 9.187,00<br /> 5.512,50<br /> 14.700,00<br /> <br /> Yếu<br /> Yếu<br /> <br /> Cao<br /> Cao<br /> <br /> Thuế đồng nhất<br /> Nguồn gây ô nhiễm có chi phí thấp<br /> Nguồn gây ô nhiễm có chi phí cao<br /> Tổng chi phí<br /> <br /> 22.312,50<br /> 36.487,50<br /> 58.800,00<br /> <br /> 9.187,50<br /> 5.512,50<br /> 14.700,00<br /> <br /> Mạnh<br /> Mạnh<br /> <br /> Cao/T.Bình<br /> Cao/T.Bình<br /> <br /> TDP (miễn phí)<br /> Nguồn gây ô nhiễm có chi phí thấp<br /> Nguồn gây ô nhiễm có chi phí cao<br /> Tổng chi phí<br /> <br /> 262,50<br /> 14.437,50<br /> 14.700,00<br /> <br /> 262,50<br /> 14.437,50<br /> 14.700,00<br /> <br /> Yếu<br /> Mạnh<br /> <br /> Thấp/T.Bình<br /> Thấp/T.Bình<br /> <br /> TDP (đấu giá)<br /> Nguồn gây ô nhiễm có chi phí thấp<br /> Nguồn gây ô nhiễm có chi phí cao<br /> Tổng chi phí<br /> <br /> 22.312,50<br /> 36.487,50<br /> 58.800,00<br /> <br /> 9.187,50<br /> 5.512,50<br /> 14.700,00<br /> <br /> Mạnh<br /> Mạnh<br /> <br /> Thấp<br /> Thấp<br /> <br /> Barry Field & Nancy Olewiler<br /> <br /> 5<br /> <br />
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2