
LUẬN VĂN:
Kinh tế thị trường theo định hướng
xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

Lời mở đầu
Từ khi hoà bình được lập lại năm 1945, miền Bắc nước ta đã bước vào thời
kỳ quá độ tiến dần lên chủ nghĩa xã hội với đặc điểm như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
nói:" Đặc điểm to nhất của nước ta trong thời kỳ quá độ là từ một nước nông nghiệp
lạc hậu tiến thẳng lên Chủ nghĩa Xã hội không trải qua giai đoạn phát triển tư bản
Chủ nghĩa".
Trước đây, trong một thời gian dài, ở nước ta cũng như các nước Xã hội Chủ
nghĩa khác đã có những nhận thức không đúng về kinh tế hàng hoá, coi sản xuất
hàng hoá là thuộc tính của Chủ nghĩa tư bản, dẫn đến sự kỳ thị với kinh tế hàng hoá,
kinh tế thị trường; không chấp nhận nền kinh tế hàng hoá trong chủ nghĩa xã hội.
Công cuộc đổi mới do Đảng đề ra trước hết là đổi mới tư duy kinh tế đã khẳng định
rằng quá độ quá độ lên Xã hội Chủ nghĩa bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa không có
nghĩa là bỏ qua sản xuất hàng hoá, mà trái lại nằm phát triển hàng hoá nhằm tăng
trưởng kinh tế, thực hiện mục tiêu dân giầu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn
minh.
Như vậy, nền kinh tế thị trường là nền kinh tế trong đó các quan hệ kinh tế
giữa cá nhân, các doanh nghiệp được thể hiện qua việc mua bán sản phẩm, dịch vụ
trên thị trường thông qua giá cả thị trường. Vì vậy em đã chọn đề tài"Kinh tế thị
trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam".

A. Lý luận chung về quá trình hình thành và phát triển nền kinh tế thị trường
theo định hướng Xã hội Chủ nghĩa ở Việt Nam
Chương I
Cơ sở hình thành nền kinh tế thị trường
I.Sự hình thành và phát triển của nền kinh tế thị trường
1.Quá trình chuyển kinh tế tự nhiên sang kinh tế hàng hoá
Kinh tế tự nhiên và kinh tế hàng hoá là hai hình thức tổ chức kinh tế - xã hội
đã tồn tại trong lịch sử. Hai hình thức này được hình thành trên cơ sở trình độ phát
triển của lực lượng sản xuất xã hội, trình độ phân công lao động xã hội, trình độ
phát triển và phạm vi của trao đổi.
Trong nền kinh tế tự nhiên, người sản xuất cũng đồng thời là người tiêu
dùng. Tự sản xuất tự tiêu dùng là đặc điểm nổi bật của kinh tế tự nhiên. Mục đích
của sản xuất là tạo ra những giá trị sử dụng nhằm thoả mãn nhu cầu tiêu dùng của
chính bản thân người sản xuất, vì thế có thể nói quá trình sản xuất của nền kinh tế tự
nhiên chỉ gồm hai khâu: sản xuất - tiêu dùng. Các quan hệ kinh tế trong nền kinh tế
tự nhiên đều manh hình thái hiện vật.
Trong nền kinh tế hàng hoá, mục đích của sản xuất là trao đổi hay để mua
bán. Mục đích đó được xác định trước quá trình sản xuất và có tính khách quan. Sản
xuất và toàn bộ quá trình tái sản xuất đều gắn với thị trường.
1.2. Những tiền đề của quá trình chuyển kinh tế tự nhiên lên kinh tế hàng hoá.
Sự ra đời và phát triển của kinh tế hàng hoá là quá trình kinh tế khách quan.
Nó bắt đầu khi kinh tế tự nhiên phát triển đến trình độ làm xuất hiện những tiền đề
của kinh tế hàng hoá. Trong lịch sử, những quan hệ hiện vật, tự nhiên và quan hệ
hàng hoá - tiền tệ tồn tại đan xen và mâu thuẫn với nhau. Sự xuất hiện của kinh tế
hàng hoá chính là sự xuất hiện những tiền đề phủ định kinh tế hàng hoá. Mỗi bước
phát triển kinh tế hàng hoá là một bước đẩy lùi kinh tế tự nhiên. Như vậy, trong quá
trình vận động và phát triển, kinh tế hàng hoá đã phủ định dần kinh tế tự nhiên và
khẳng định mình là một kiểu tổ chức kinh tế - xã hội độc lập.
Quá trình xuất hiện, vận động và phát triển của kinh tế hàng hoá diễn ra với

sự tác động mạnh mẽ của những tiền đề sau:
- Phân công lao động xã hội
- Sự độc lập tương đối về kinh tế giữa nhữmg người sản xuất.
- Lưu thông hàng hoá và lưu thông tiền tệ.
- Hệ thống thông tin và giao thông vận tải.
Phân công lao động xã hội đã tạo ra những ngành, nghề sản xuất khác nhau.
Do phân công lao động xã hội cho nên mỗi người chuyên làm một việc trong một
ngành với một nghề nhất định và chuyên sản xuất ra một hoặc một số sản phẩm nhất
định. Nhưng nhu cầu tiêu dùng của họ lại cần dùng nhiều loại sản phẩm khác nhau.
Để thoả mãn nhu cầu của mình, những người sản xuất phải lương tựa vào nhau, trao
đổi sản phẩm cho nhau. Phân công lao động xã hội làm nảy sinh những quan hệ kinh
tế giữa những người sản xuất với nhau.
Trong điều kiện tư hữu về tư liệu sản xuất, những người sản xuất độc lập với
nhau và có lợi ích kinh tế khác nhau.
Do có phân công lao động xã hội và sự độc lập tương đối về kinh tế giữa
những người sản xuất, cho nên quan hệ giữa những người sản xuất là quan hệ mâu
thuẫn: họ vừa liên hệ, phụ thuộc vào nhau vừa độc lập với nhau. Giải quyết mối
quan hệ mâu thuẫn này tất yếu phải có quan hệ trao đổi dựa trên cơ sở giá trị, nghĩa
là dựa trên cơ sở trao đổi ngang giá.
Khi trao đổi trở thành tập quán và là một mục đích của sản xuất thì sản xuất
hàng hoá ra đời .
Phân công lao động xã hội phát triển thì quan hệ trao đổi cũng được mở rộng
và ngày càng phức tạp. Phân công lao động xã hội làm xuất hiện thủ công nghiệp và
tách nó ra khỏi ngành nông nghiệp, làm hình thành xu hướng công nghiệp thành thị
dần dần tách khỏi nông nghiệp nông thôn.
Phân công lao động xã hội phát triển cũng dần tới sự ra đời của ngành
thương nghiệp. Khi thương nghiệp ra đời, quan hệ trao đổi có sắc thái mới. Người
sản xuất và người tiêu dùng quan hệ với nhau qua người thứ ba là thương nhân.
Việc mở rộng phạm vi xã hội hoá sản xuất đồng thời cũng kéo theo việc chuyên
môn hoá ngành nghề.
Quan hệ trao đổi được mở rộng và phát triển đòi hỏi hệ thống giao thông vận

tải cũng phải mở rộng và phát triển. Đây là điều kiện vật chất làm tăng thêm các
phương tiện trao đổi, mở rộng thị trường. Sự phát triển và hoàn thiện của hệ thống
giao thông vận tải có vai trò thúc đẩy sản xuất và lưu thông hành hoá phát triển cao
hơn. Điều này dẫn đến sự ra đời của các hoạt động dịch vụ, chế biến… làm cho dân
cư chịu sự chi phối của những quy luật phổ biến củn xuất và lưu thông hàng hoá.
2. Bước chuyển từ kinh tế hàng hoá giản đơn sang kinh tế thị trường.
2.1. Kinh tế thị trường là hình thức phát triển cao của kinh tế hàng hoá.
Kinh tế hàng hoá và kinh tế thị trường chỉ khác nhau về trình độ phát triển.
Kinh tế thị trường chính là hình thức phát riển cao của kinh tế hàng hoá. Kinh tế
hàng hoá phát triển, điều đó có nghĩa là phạm trù hàng hoá, phạm trù thị trường
được phát triển và mở rộng. Hàng hoá không chỉ bao gồm những sản phẩm đầu ra
của sản xuất mà còn bao hàm cả các yếu tố đầu vào của sản xuất. Dung lượng thị
trường và cơ cấu thị trường được mở rộng và hoàn thiện. Mọi quan hệ kinh tế trong
xã hội đều được tiền tệ hoá. Khi đó người ta gọi kinh tế hàng hoá là kinh tế thị
trường.
2.2. Sự cần thiết khách quan phát triển kinh tế thị trường ở Việt nam.
Trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt nam, sự tồn tại của sản xuất hàng
hoá là một tất yếu khách quan. Bởi vì, trong nền kinh tế nước ta lực lượng sản xuất
xã hội còn thấp, đang tồn tại nhiều thành phần kinh tế khác nhau, sự phân công lao
động xã hội gắn với sự tồn tại nhiều chủ thể sở hữu khác nhau như các thực thể kinh
tế độc lập. Trong những điều kiện đó, việc trao đổi sản phẩm giữa các chủ thể sản
xuất với nhau không thể thực hiện theo nguyên tắc naò khác là nguyên tắc trao đổi
ngang giá, tức là thực hiện sự trao đổi hàng hoá thông qua thị trường, sản phẩm phải
trở thành hàng hoá.
ở nước ta trong thời kỳ quá độ mới phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất thì
phải xã hội hoá chuyên môn hoá lao động. Qua trình ấy chỉ có thể diễn ra một cách
thuận lợi trong một nền kinh tế hàng hoá. Sản xuất càng xã hội hoá, chuyên môn hoá
thì càng đòi hỏi phát triển sự hợp tác và trao đổi hoạt động trong xã hội, càng phải
thông qua sự trao đổi hàng hoá giữa các đơn vị sản xuất để đảm bảo những nhu cầu
cần thiết của các loại hoạt động sản xuất khác.
Chỉ có đẩy mạnh sản xuất hàng hoá mới làm cho nền kinh tế nước ta phát

