Lão hóa
Bởi:
Wiki Pedia
Trong sinh học, lão hóa (tiếng Anh: senescence, xuất phát từ senex trong tiếng Latin
nghĩa là "người già", "tuổi già") là trạng thái hay quá trình tạo nên tuổi tác, già nua.
Lão hóa tế bào một hiện tượng khi các tế bào phân lập trở nên hạn chế khả năng phân
chia trong môi trường nuôi cấy. Lão hóa thể đề cập đến quá trình trưởng thành già
nua của sinh vật. Những quá trình này không liên quan đến chế apoptosis (chết tế bào
theo chương trình).
Cụ già Ann Pouder (8 tháng 4, 1807 - 10 tháng 7, 1917) là một trong những người sống thọ nhất
thế giới. Ảnh được chụp trong ngày sinh nhật lần thứ 110 của cụ. Những nếp nhăn của tuổi tác
hằn rõ trên mặt là một trong những dấu hiệu của quá trình lão hóa.
Tuổi già của sinh vật thường kèm theo biểu hiện giảm khả năng chống chọi với stress,
mất dần cân bằng nội mội tăng nguy mắc bệnh tật. Do đó, cái chết một kết cục
cuối cùng của lão hóa. Một số nhà khoa học trong lĩnh vực biogerontology cho rằng tuổi
già bản thân một loại bệnh thể cứu chữa được, mặc đây là một vấn đề
đang tranh cãi.
Người ta đã xác định một số yếu tố di truyền môi trường tác động đến quá trình lão
hóa các sinh vật hình, điều này đem lại hy vọng thế làm chậm, giữ hoặc phục
Lão hóa
1/10
hồi lại sự lão hóa con người. dụ, chế độ ăn kiêng (khoảng 30% nhu cầu thường
nhật) đã kéo dài tuổi thọ của nấm men, sâu, ruồi, chuột khỉ. Một vài gene cần thiết
cho quá trình này đã được xác định việc sửa đổi các gene này cũng đem lại tác dụng
như ăn kiêng. Chất Resveratrol, một loại polyphenol trong rượu vang đỏ cũng cho
thấy khả năng kéo dài tuổi thọ của nấm men, sâu ruồi. Khói thuốc một yếu tố
thúc đẩy sự lão hóa, những người hút thuốc thường già nhanh hơn những người không
hút.
Giả thuyết về quá trình lão hóa
Nguyên nhân gây lão hóa được giải thích bằng nhiều thuyết khác nhau: thuyết di truyền,
thuyết gốc tự do,... Ngoài ra, hiện tượng lão hóa liên quan đến đột biến gen còn y
hội chứng già trước tuổi hay liên quan đến tuổi thọ con người. Quá trình lão hóa diễn ra
mọi quan trong thể gây ra những hậu quả rất nghiêm trọng. Tuy nhiên nếu
thực hiện tích cực một số biện pháp, chúng ta thể trì hoãn quá trình o hóa. Tại các
nước tiên tiến như Nhật Bản, các kiến thức về sự lão hóa được phổ biến rộng rãi cho
người dân các biện pháp này đã giúp cho tuổi thọ của người Nhật kéo dài đến 86 tuổi.
Hàn Quốc, các dược thảo chống lão hóa như nhân sâm, dinh dưỡng, thuốc bổ dưỡng,
thể dục, các yếu tố gây ra lão hóa... được phổ cập cho người dân đã giúp o dài tuổi
thọ đến 78,5 tuổi. Các danh nhân Hy Lạp các nhân tố di truyền tốt hầu hết đều
tuổi thọ rất cao, Pythagoras sống gần 80 tuổi, Sophocles thọ gần 90 tuổi. Triết gia nổi
tiếng như Gorgias 107 tuổi, Democritus 90 tuổi, Platon 80 tuổi, Diogenes thành Sinope
89 tuổi, Cleanthes 99 tuổi.
Việt Nam, lão hóa một trong những vấn đề đang rất được quan tâm, tuy nhiên tài
liệu và thông tin về lão hóa còn rất giới hạn.
Thuyết di truyền
Thuyết di truyền lẽ thuyết khoa học nhất. Theo thuyết này thì con người sẵn
trong các tế bào của mình một chương trình mang trong các “gen”. Các gen hoạt động
theo thứ tự, bất di bất dịch: sinh, lão, bệnh, tử.
Các tế bào soma của người bình thường đều một đời sống giới hạn. Thông thường
tế bào chết đi sau 40-60 chu sao chép. Thời gian sống của mỗi tế bào được quyết định
về di truyền học bởi hai hệ thống độc lập với nhau.
1.Hệ thống kiểm soát đời sống tế bào nhờ quà trình làm hao mòn các telomere các đầu
tận cùng nhiễm sắc thể:
động vật vú, các đầu tận nhiễm sắc thể được bảo vệ bằng các telomere (theo tiếng
Hy Lạp, telo nghĩa cuối, còn mere phần), tức những cấu trúc đặc biệt được
hình thành bởi các chuỗi TTAGGG lặp lại kế tiếp nhau. người các chuỗi lặp lại của
Lão hóa
2/10
telomere từ 5000 đến 15000 base. Telomere nhiệm vụ bảo đảm sự bền vững của
nhiễm sắc thể, chống lại thoái hóa hại, chống lại sự tái tổ hợp sai lạc vai trò
điều hòa gen.
Mỗi lần phân chia, các nhiễm sắc thể đều mất một số lượng nhỏ ADN của telomere,
khoảng chừng 50-100 base. Khi các telomere trở nên quá ngắn thì các nhiễm sắc thể sẽ
kém bền vững, chúng không thể bám vào được màng nhân tế bào, bị dính vào nhau
hình dạng dị. Hậu quả các tế bào không thể phân chia được nữa. c nhà nghiên
cứu đang bắt đầu đánh giá kích thước của telomere như một thước đo” chuẩn xác tuổi
thọ của các tế bào. Tuy nhiên enzym telomerase hoạt động tế bào mầm tế bào ung
thư, giúp cho tế bào phân chia liên tục bằng cách kéo dài các chuỗi ADN của telomere,
khiến cho tế bào trở nên “bất tử”.
Cấu tạo của telomerase: telomerase của người gồm 2 tiểu đơn vị hTR hTERT.
hTR (human template for replication) ARN làm khuôn để sao chép, hTERT (human
telomerase reverse trancriptase) protein xúc tác sự polymer hóa nucleotid. Thành phần
ARN của telomerase người chừng 445 nucleotid, trong đó các nucleotid 46-56 vị
trí gắn vào đầu cùng của telomere, đó khuôn để từ đó thêm vào các ADN của
telomere. Trong việc kéo dài telomere, đầu tiên telomerase sẽ nhận dạng đầu cùng của
telomere thông qua các hoạt động giữa telomere cả 2 tiểu đơn vị hTR hTERT của
telomerase, nhận dạng xong thì thêm chuỗi sáu base TTAGGG của telomere, như vậy
kéo dài thêm một telomere và cứ thế tiếp tục.
2.Hệ thống kiểm soát sự tiến triển chu tế bào thông qua các gen p53, ADN- PK
INK4:
Gen ADN- PK sửa chữa những gen bị tổn thương.
Trong khi gen p53 không cho các gen bị tổn thương tự nhân lên. Khi một biến c lớn
trong tế bào, protein p53 còn gọi “vệ của bộ gene” sẽ phát đi một hiệu lệnh để tế
bào này tự hủy. Các nhà khoa học cũng cho biết rằng các yếu tố lối sống ảnh ởng đến
chế hoạt động bình thường của gen p53. Việc tránh các chất độc hại tác động đến p53
là một bước đi quan trọng tiến tới một lối sống lành mạnh hơn.
Protein p16INK4a sản phẩm chính từ sự hóa của gen INK4, còn được gọi
protein ức chế ung thư p16INK4a . Protein này vai trò trong sự điều hòa chu trình
tế bào khi dạng liên kết làm bất hoạt các dạng CDK vòng khác nhau. Sự biểu hiện
p16INK4a sẽ gia tăng theo tuổi tác quá trình biểu hiện này thì liên quan đến quá trình
già hoá của tế bào được thừa nhận chi phối tới quá trình lão hóa. Khi càng lớn tuổi
thì nồng độ p16INK4a sẽ càng cao. Kết quả nghiên cứu từ các tế bào các nguồn gốc
khác nhau như tủy xương, tuyến nội tiết tụy. Cũng như não cho thấy p16INK4a đã
chi phối quá trình lão hóa bằng cách giới hạn sự tự làm mới của các tế bào khả năng
nhân đôi.
Lão hóa
3/10
Thuyết gốc tự do
Các phản ứng sinh hóa bên trong tế bào “phóng” ra các gốc tự do (radical libre, free
radical). Thực chất một gốc tự do một nguyên tử oxy “không ổn định”, sẵn sàng bám
vào các phân tử quanh (để trở thành ổn định), Thuyết này phát xuất từ ý kiến của
BS. Denham Harman (Trường Đại học Nebraska) đưa ra hồi 1950: các gốc tự do
nguyên nhân chính gây xáo trộn hoạt động của các ty lạp thể (mitochondries), bám vào
các ADN. Nguyên liệu chính của các mật di truyền, gây đột biến bên trong c tế
bào….Nói một cách khác các gốc tự do nguyên nhân của sự tự hủy hoại, của sự lão
hóa ở cấp tế bào.
Gốc tự do những tiểu phân hóa học (phân tử, nguyên tử, ion) một nguyên tử đơn
dộc lớp ngoài cùng. Với áp lực mạnh của điện tử đơn độc, gốc tự do khả năng tương
tác với tất cả các phân tử của những tế bào bên cạnh nó, phá vỡ hoàn toàn màng tế bào,
làm hại gen di truyền hoặc hủy hoại toàn bộ tế bào. làm tế bào già đi gây ra
các bệnh tim mạch, viêm khớp, bệnh dạ dày- ruột, đục thủy tinh thể,thoái hóa võng
mạc, bệnh phổi, tiểu đường, ung thư, sa sút trí tuệ, parkinson, suy giảm hệ thống miễn
dịch…
Gốc tự do sinh ra do chính hoạt động sống của mỗi tế bào do tác động của môi trường
sống (tia phóng xạ, các bức xạ năng lượng cao, tia tử ngoại, bụi, các chất độc). Thông
thường, chúng được sinh ra với lượng rất nhỏ bị phá hủy ngay bởi các hệ thống chống
gốc tự do của thể. Nhưng khi hệ thống bảo vệ này bị quá tải hay rối loạn (do môi
trường ô nhiễm, tân căng thẳng, tuổi tác…), quá trình lão hóa các bệnh sẽ tiến
triển rất nhanh.
Gốc tự do và hiện tượng nhăn da:
Các phân tử của chất tạo keo collagen (vốn đứng riêng rẽ với nhau) bị các gốc t do dán
vào nhau, gây nên những “liên kết chéo” (cross- linkage): cấu trúc căn bản của collagen
bị xáo trộn. Các tế bào của liên kết chịu trách nhiệm bài tiết trùng tu collagen
cũng bị hại… nên da mất dần tình đàn hồi. Các vết nhăn xuất hiện. Biết rằng liên
kết cái nền chung cho hết thảy các loại trong thể thì ta hiểu vai trò của các gốc
tự do trong sự lão hóa của thể. Nhưng u thuẫn thay, gốc tự do rất cần thiết cho đời
sống, nhờ gốc tự do các bạch cầu bám vào được các vi khuẩn siêu vi để tiêu
diệt chúng! Nhưng tế bào cũng sản xuất ra các chất kháng oxy (anti- oxydants) sự
sống bên trong tế bào được thể hiện bởi sự xuất hiện liên tục của hai chất gốc tự do
kháng oxy - trong khoảnh khắc ngắn ngủi (1/1000 giây đồng hồ)!
Thuyết kích tố
Thuyết này dựa vào nhận xét rằng mọi giai đoạn của đời sống đều do kích tố điều hành.
Lúc nhỏ kích tố tăng trưởng. Từ tuổi dậy thì các kích tố nam, nữ. Khi sự bài tiết
Lão hóa
4/10
các kích tố yếu đi thì thể già dần. Còn nhiều loại kích tố khác cũng nh hưởng tới sự
lão hóa, ví dụ như DHEA và Melatonin.
Đáng chú ý nhất là hormone tăng trưởng hGH.
Hormone tăng trưởng được sản xuất tuyến yên. Các nhà khoa học đã khám phá một
yếu tố quan trọng liên quan mật thiết với tuổi già, đó sự thiếu hụt hormone tăng trưởng
hGH. Việc tìm ra các chất kích thích thể sản xuất hGH đã tạo niềm hy vọng về chuyện
đảo ngược quá trình lão hóa. hGH được phóng thích bởi tuyến yên từ lúc mới sinh cho
đến khi cao tuổi. Sau khi vào máu, nhanh chóng đến gan để được chuyển thành chất
DGF-1, DGF-2. Đây những phân tử truyền tin được xem “yếu tố tăng trưởng”,
kích thích sự phát triển các phần khác nhau của cơ thể.
Phân tử hGH (Hình 1.1) một chất đạm (protein) được tạo bởi một chuỗi 190 amino
acid phân tử lượng 22 kilo daltons5 (khoảng 120 lần phân tử lượng của thuốc
Aspirin).
Giống như các hormone khác, lượng hGH phóng thích vào hệ tuần hoàn sẽ đạt tối đa
lúc 20 tuổi sau đó giảm dần. Đến tuổi 60 thì lượng hGH chỉ bằng khoảng 15-20% so
với lúc trẻ. hGH giúp tăng chiều dài xương đến tuổi 20 (vì vậy qua tuổi này chúng ta
không thể cao hơn); một số người cao to bất thường do tình trạng cường hGH làm
thể phát triển quá mức. cũng làm tăng tổng hợp protein trong tế bào, giúp cho cơ rắn
chắc, phục hồi sự hỏng của da tim, chống lại sự thoái hóa của tế bào, từ đó ngăn
chặn được sự lão hóa. hGH được phóng thích từ tuyến yên vào máu trong khi ngủ. Khi
trẻ đang tuổi lớn, hGH sẽ giúp các chất dinh dưỡng hấp thu chuyển tới xương, ,
các khác không tích tụ thành mở (còn người cao tuổi thì hay ch tụ thành mỡ).
Hormon này kích thích sự tổng hợp hallogen một chất tính đàn hồi giúp tạo sự khỏe
mạnh, dẻo dai cho sụn, gân, dây chằng xương. Khi tuổi cao, việc giảm collagen dẫn
đến nhăn da, yếu cơ xương khớp…
Tập tin:Effectofhgh.jpg
Hình 1.2: Tác dụng của kích thích tố tăng trưởng đế tế bào xương (chondrocytes), mỡ
(adipose tissue or fat), và cơ bắp (skeletal muscle).
Việc tổng hợp hGH rất khó khăn tốn kém. Trước đây, người ta chỉ sản xuất hGH để
điều trị những vấn đề đặc biệt do thiếu hụt hGH. Vào giữa những năm 1980, công ty
Genetech Eli Lilly đã tổng hợp được hGH thông qua kỹ thuật ADN. Năm 1989, các
nhà khoa học bệnh viện St.Thomas (London,Anh) do bác Franco Salomon chủ trì
đã tiêm hGH cho 24 người trưởng thành bị cắt tuyến yên do khối u trong 6 tháng. Kết
quả họ tăng trọng lượng nhưng lượng mỡ cholesterol trong máu giảm. Salomon
cộng sự tiếp tục nghiên cứu để tìm hiểu xem tại sao hGH lại tác dụng trên những
Lão hóa
5/10