
1
CHƯƠNG 1
GIỚI THIỆU VỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Sự cần thiết của đề tài
Sự phát triển của hệ thống giáo dục, đào tạo và phát triển của khoa học công
nghệ là vấn đề đặt lên hàng đầu ở tất cả các nước và Việt Nam cũng không ngoại lệ.
Nền giáo dục của Việt Nam đang nỗ lực không ngừng để hoàn thiện, phát triển và xây
dựng thương hiệu trên thị trường giáo dục quốc tế. Trong bối cảnh đó, các trường đại
học công lập của Việt Nam cũng buộc phải có những bước chuyển mình để đáp ứng
nhu cầu phát triển và hội nhập giáo dục.
Trước thực trạng đó, ngày 14/02/2015 Chính phủ đã ban hành Nghị định số
16/2015/NĐ-CP và gần đây là Nghị định số 60/2021/NĐ-CP ngày 21/06/2021 quy định
cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập (ĐVSNCL). Cùng với đó Thủ tướng Chính
phủ ban hành Quyết định số 695/QĐ-TTg ngày 21/05/2015 về kế hoạch triển khai thực
hiện Nghị định số 16/2015/NĐ-CP, trong đó giao Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì xây
dựng và trình Chính phủ ban hành Nghị định quy định cơ chế tự chủ của ĐVSNCL trong
lĩnh vực giáo dục và đào tạo. Và thực tế báo cáo của Bộ Giáo dục và Đào tạo tại hội nghị
Tự chủ đại học năm 2022 cũng chỉ ra rằng “Tự chủ đại học có nhiều chuyển biến tích
cực” và “Tự chủ đại học tạo ra môi trường cạnh tranh”. Cụ thể, có 274 cơ sở GDĐH đã
hoàn thành báo cáo tự đánh giá và 174 cơ sở đã được kiểm định chất lượng. Các chỉ số
về mặt tài chính, nhân sự và học thuật cũng có những sự tăng trưởng đáng kể như tỷ lệ
giảng viên có học vị tiến sĩ tăng từ 25% (2018) lên 31% (2021); xấp xỉ 33% số trường
đảm bảo chi thường xuyên và chi đầu tư; thu nhập bình quân giảng viên tăng 21% (2018-
2021); Số lượng bài viết công bố quốc tế cũng tăng 3,5 lần trong 04 năm…
Tuy nhiên thực tế cũng chỉ ra rằng mức độ thực hiện tự chủ ở các trường là
không đồng đều. Hiện nay, rất ít trường đại học thực hiện tự chủ tài chính chi thường
xuyên, chi đầu tư hoặc tự chủ chi 100% thường xuyên mà hầu hết là tự chủ chi một
phần thường xuyên. Bản chất của Luật Ngân sách Nhà nước là tất cả những cơ quan
nhà nước, tổ chức chính trị, các ĐVSNCL, các tổ chức, cá nhân có liên quan đến ngân
sách Nhà nước thì đều phải chịu chấp hành kiểm tra, kiểm soát của Nhà nước. Dưới
góc độ quản lý Nhà nước về cả chuyên môn và tài chính cho thấy: các trường đại học
đang được quản lý không đồng đều, không cùng một hệ thống kiểm soát và chi phối.
Đây chính là một trong những nguyên nhân tạo ra sự phân biệt, đối xử không bình đẳng
về địa vị pháp lý giữa các trường. Thực tiễn đã có những Bộ ban hành các văn bản
chồng chéo lên chức năng quản lý nhà nước của Bộ Giáo dục và Đào tạo, giữa các Bộ
chưa có sự thống nhất trong cách quản lý hoạt động của các trường đại học.
Bởi vậy với sự phát triển đa dạng của kinh tế và sức hội nhập hiện nay thì kiểm
soát chính là công cụ hữu hiệu của các nhà quản lý. Bên cạnh đó, trong bối cảnh tự chủ
2
đại học đang được thúc đẩy mạnh mẽ thì vai trò của kiểm soát càng trở nên quan trọng
đặc biệt là đối với các trường đại học công lập nói riêng. Bên cạnh đó, tại Việt Nam
những nghiên cứu về hệ thống kiểm soát gắn với tự chủ tổ chức bộ máy và tự chủ tài
chính ở các trường đại học công lập là chưa nhiều đặc biệt là những nghiên cứu riêng
biệt về các trường đại học công lập Vùng Đồng bằng sông Hồng (ĐBSH). Do đó để
bổ sung cho những nghiên cứu này cũng như xuất phát từ bối cảnh thực tế, tác giả lựa
chọn đề tài của luận án là “Hệ thống kiểm soát gắn với kết quả hoạt động của các
Trường đại học công lập thực hiện cơ chế tự chủ Vùng Đồng bằng sông Hồng”.
1.2. Tổng quan nghiên cứu
1.2.1. Nghiên cứu về kiểm soát và kết quả hoạt động trong các trường đại học trong
và ngoài nước
Tại Việt Nam, hệ thống kiểm soát trong các tổ chức nói chung và kiểm soát trong
các trường đại học nói riêng là một trong những chủ đề nghiên cứu nhận được sự quan
tâm của rất nhiều tác giả. Đặc biệt là những nghiên cứu về kiểm soát nội bộ (KSNB) và
ảnh hưởng của nó tới kết quả hoạt động của tổ chức. Điển hình như những nghiên cứu
của Vũ Thị Thanh Thủy (2012), Đinh Thế Hùng, Nguyễn Thu Hương (2014), Nguyễn
Minh Tuấn (2015), Nguyễn Thị Hoàng Lan hay gần đây là của Phan Thị Thái Hà (2021).
Trong đó các tác giả đều nhấn mạnh KSNB như là một quá trình với sự tham gia của
nhà quản lý và các thành viên nhằm xác định những rủi ro và đưa ra những biện pháp
hạn chế những rủi ro đó nhằm đảm bảo cho khả năng thực hiện được các mục tiêu đã đề
ra (Nguyễn Thị Hoàng Lan, 2019). Riêng đối với ĐVSNCL nói chung và các trường đại
học công lập nói riêng thì KSNB có những điểm riêng biệt do những ràng buộc về tài
chính và quản lý từ phía các cơ quan chức năng của Nhà nước (Phan Thị Thái Hà, 2021).
Nếu xem xét riêng những nghiên cứu trong nước về kiểm soát trong các trường
đại học công lập thì có thể nhận thấy 02 hướng phát triển cơ bản là: Mở rộng nghiên
cứu theo phạm vi của kiểm soát hoặc mở rộng nghiên cứu theo đối tượng nghiên cứu.
Điển hình như nghiên cứu của Vũ Thị Thanh Thủy (2012), Nguyễn Thu Hương (2014),
Nguyễn Minh Tuấn (2015) chỉ giới hạn trong kiểm soát về tài chính. Trong khi đó
những nghiên cứu khác lại mở rộng hơn với đầy đủ phương diện của KSNB như nghiên
cứu của Đinh Thế Hùng (2013); Phan Thị Thái Hà (2021).
Có thể thấy rằng những nghiên cứu trong nước liên quan tới kiểm soát tại các
trường đại học công lập là đa dạng nhưng tập trung nhiều vào kiểm soát bên trong là
KSNB. Những nghiên cứu xem xét tới cơ chế Kiểm soát từ bên ngoài điển hình như
kiểm soát từ phía Nhà nước và kiểm soát từ phía xã hội là một khoảng trống lớn cần
được bổ sung bởi những nghiên cứu mới trong tương lai.
Tương tự như vậy, trên phạm vi quốc tế nghiên cứu về KSNB trong các cơ sở
đào tạo đại học công lập cũng được thực hiện từ rất sơm. Một số nghiên cứu điển hình

3
cho cách tiếp cận này có thể kể đến nghiên cứu của Wen, W. (2007), Mugo (2009),
Weixing (2010), Fan, H. & cộng sự (2013), Christian (2014) và Mohammed, H. (2016).
Theo Fan, H. & cộng sự (2013) nghiên cứu KSNB tại các trường đại học công
lập mang những đặc điểm hoàn toàn khác biệt so với các doanh nghiệp tư nhân cũng
như những đơn vị công lập khác. Bên cạnh việc hướng tới các mục tiêu tài chính như
tăng lợi nhuận, tăng nguồn thu hay tích lũy thì mục tiêu lớn hơn của các trường đại
học công lập tại Trung Quốc nói riêng và thế giới nói chung là mục tiêu xã hội như
đào tạo nguồn nhân lực, nghiên cứu khoa học...
Bên cạnh những nghiên cứu cấu trúc KSNB thì nghiên cứu mối quan hệ giữa
KSNB với kết quả hoạt động của các trường đại học công lập cũng rất nổi bật. Điển
hình như nghiên cứu của Mugo (2009), Duh & cộng sự (2011), Ilse (2014), Habib
(2016) và Mohammed, H. (2016). Cụ thể nghiên cứu của Duh & cộng sự (2011) thực
hiện tại Đài Loan đã chỉ ra rằng KSNB là yếu tố giúp cải thiện kết quả hoạt động của
các trường đại học. Trong khi đó nghiên cứu của Habib (2016) thực hiện tại Nigeria
lại tìm thấy mối quan hệ giữa KSNB với sự cải thiện về chất lượng GDĐH. Trước đó
nghiên cứu của Mugo (2009) thực hiện tại Kenya đã cho thấy ảnh hưởng từ KSNB
tới hiệu quả tài chính của các viện đào tạo công nghệ tại quốc gia này.
Như vậy cách tiếp cận của những nghiên cứu ngoài nước về KSNB tại các trường
đại học công lập cũng khá tương đồng với những nghiên cứu trong nước ở việc tập
trung rất nhiều vào khía cạnh quản lý tài chính. Tuy nhiên cũng có rất nhiều nghiên
cứu đã tìm thấy mối quan hệ giữa KSNB với hiệu quả phi tài chính như chất lượng
giảng dạy hay chất lượng nghiên cứu (Duh & cộng sự, 2011).
Bên cạnh KSNB thì kết quả hoạt động của các tổ chức và đặc biệt là đơn vị sự
nghiệp công lập còn chịu sự tác động rất lớn từ những cơ chế kiểm soát từ bên ngoài.
Nghiên cứu của Bentes & cộng sự (2015) đã chỉ ra rằng kiểm soát từ bên ngoài là một cơ
chế quan trọng để đảm bảo chất lượng và kết quả hoạt động của các đơn vị công lập. Trong
khi đó James (2001) nhấn mạnh vai trò kiểm soát từ bên ngoài của Nhà nước nhưng dưới
góc độ Thanh tra. Nghiên cứu của Robbin & cộng sự (2009) lại tìm hiểu các nhân tố ảnh
hưởng tới kết quả hoạt động học thuật tại các trường đại học. Tương tự như vậy, những
nghiên cứu của Pilar & cộng sự (2020), Payne & cộng sự (2010)... cũng chỉ ra rằng kết
quả hoạt động của trường đại học chịu ảnh hưởng rất nhiều từ các thể chế bên ngoài mà
nổi bật là ảnh hưởng từ Nhà nước và xã hội. Mặc dù vậy những nghiên cứu này chưa đưa
ra được phương thức đo lường ảnh hưởng từ các cơ chế Kiểm soát từ bên ngoài này.
Tại Việt Nam, hoạt động GDĐH có vị trí quan trọng trong tổng thể hoạt động
chính trị, kinh tế và xã hội do đó việc giám sát của Nhà nước đối với hoạt động của các
trường đại học là điều tất yếu. Bên cạnh đó xu hướng xã hội hóa đối với GDĐH cũng
tạo ra cơ chế giám sát từ phía các tổ chức xã hội đối với GDĐH. Tuy nhiên cũng giống
như trên thế giới, chưa có nghiên cứu nào đo lường được sự ảnh hưởng từ những cơ
4
chế Kiểm soát từ bên ngoài này tới kết quả hoạt động của các trường đại học Việt Nam
nói chung và các trường đại học công lập nói riêng. Vì vậy trong nghiên cứu này NCS
sẽ lần đầu tiên xây dựng hệ thống thang đo và đo lường ảnh hưởng từ Kiểm soát từ bên
ngoài cụ thể là từ phía Nhà nước và xã hội tới kết quả hoạt động của các trường đại
học công lập Việt Nam.
1.2.2. Nghiên cứu về tự chủ và kết quả hoạt động của các trường đại học trong và
ngoài nước
Tại Việt Nam, vấn đề về tự chủ trong các đơn vị sự nghiệp nói chung và các
trường đại học công lập nói riêng cũng đang được Đảng và Nhà nước rất quan tâm.
Theo Nghị định số 16/2015/NĐ-CP và Nghị quyết số 77/2014/NQ-CP về tự chủ tại
các cơ sở đào tạo đại học công lập thì tự chủ được hiểu là khả năng độc lập và tự
quản trị của các đơn vị nhằm nâng cao chất lượng đào tạo phục vụ nhu cầu của xã
hội cũng như thích ứng với điều kiện thay đổi công nghệ trong giai đoạn mới. Rất
nhiều nghiên cứu điển hình trong chủ đề này có thể kể đến như nghiên cứu của
Hayden & Thiep (2007); Trần Đức Cân (2012); Dao Khanh Van (2014); Đặng Thị
Thúy Hằng & cộng sự (2019); Mai Ngọc Anh & cộng sự (2020)...
Những phân tích của Hayden (2007) cũng cho thấy khả năng tự chủ tài chính
với học phí cao có quan hệ trực tiếp với chất lượng giáo dục tốt hơn ở các trường đại
học tư thục so với khối các trường công lập. Tuy nhiên những kết quả được chỉ ra trong
nghiên cứu của Hayden & Thiep (2007) phụ thuộc hoàn toàn vào những phân tích định
tính đối với các báo cáo trong Nghị quyết của Chính phù.
Tương tự như vậy, bằng phương pháp nghiên cứu định tính, Trần Đức Cân
(2012) cũng nêu rõ tầm quan trọng của tự chủ tài chính trong việc cải thiện kết quả
hoạt động của các cơ sở GDĐH đặc biệt là các cơ sở công lập. Một nghiên cứu khác
của Mai Ngọc Anh & cộng sự (2020) về cơ chể tự chủ tại các trường đại học công
lập Việt Nam, tác giả cho rằng tự chủ tài chính bao gồm việc phân bổ ngân sách cấp
cho các trường đại học, khả năng đảm bảo cơ sở vật chất của các trường đại học và
khả năng thu học phí của trường đại học, quyết định các nguồn tài trợ tự tạo và vay
tiền trên thị trường tài chính. Tuy nhiên những nghiên cứu của Hayden & Thiep
(2007); Trần Đức Cân (2012) và Mai Ngọc Anh & cộng sự (2020) này đề giải quyết
vấn đề dựa trên phương pháp nghiên cứu định lượng. Thêm vào đó những nghiên cứu
trong nước về mối quan hệ giữa tự chủ với kết quả hoạt động của các trường đại học
công lập đang nhấn mạnh vào khía cạnh tự chủ tài chính trong khi tự chủ bao gồm 04
khía cạnh: Tự chủ tài chính, Tự chủ học thuật, Tự chủ nhân sự và Tự chủ bộ máy
quản lý (Mai Ngọc Anh & cộng sự, 2020). Chính vì vậy NCS sẽ bổ sung khoảng
trống mà các nghiên cứu trước đó đã để lại trong nghiên cứu này bằng việc đo lường
mối quan hệ giữa tự chủ bộ máy quản lý và tự chủ tài chính và với kết quả hoạt động
của các trường đại học công lập Việt Nam.

5
Trên phạm vi quốc tế và trong lĩnh vực giáo dục, những nghiên cứu về mối quan
hệ giữa quyền tự chủ và kết quả hoạt động có phần phong phú hơn khi có nhiều cấp
đào tạo cũng như nhiều phương thức đo lường kết quả. Điển hình như nghiên cứu của
John (2008) đưa ra bốn mô hình tổ chức bộ máy quản lý tại các trường đại học trên
phương diện tự chủ tài chính, gồm: Mô hình Nhà nước kiểm soát hoàn toàn; Mô
hình bán tự chủ; Mô hình bán độc lập và mô hình độc lập hoàn toàn.
Hướng tiếp cận thứ hai là những nghiên cứu áp dụng phương pháp định
lượng để đo lường ảnh hưởng từ tự chủ tới kết quả hoạt động của các trường đại
học công lập. Điển hình cho nhóm nghiên cứu này là Bedahl (1990); Ritzen (2016);
Tomasso & Ekaterina (2020), Tomasso (2021). Nghiên cứu của Ritzen (2016) thực
hiện trên mẫu rất lớn với hơn 500 trường đại học tại 32 quốc gia trong nhiều năm
và đã khẳng định được mối liên hệ thuận chiều giữa tự chủ và kết quả hoạt động
của các trường đại học. Trong khi đó nghiên cứu của Tomasso & Ekaterina (2020)
lại xem xét mối quan hệ giữa tự chủ với kết quả và hiệu năng hoạt động của các
trường đại học Nga.
Có thế thấy rằng những nghiên cứu về ảnh hưởng từ cơ chế tự chủ tới kết quả
hoạt động của các đơn vị công nói chung và của các trường đại học công lập trên thế
giới là khá phong phú nhưng những nghiên cứu về mặt định lượng còn tương đối hạn
chế. Đây chính là khoảng trống được khai thác trong nghiên cứu này.
1.2.3. Khoảng trống nghiên cứu
Dựa trên tổng hợp các nghiên cứu trong và ngoài nước về mối quan hệ giữa hệ
thống kiểm soát và tự chủ với kết quả hoạt động của các trường đại học nói chung và
đại học công lập nói riêng, tác giả nhận thấy có những khoảng trống sau:
Thứ nhất, rất nhiều nghiên cứu tập trung xem xét ảnh hưởng từ KSNB tới kết
quả hoạt động của các trường đại học công lập nhưng rất ít nghiên cứu xem xét ảnh
hưởng từ các cơ chế kiểm soát từ bên ngoài như các cơ quan chức năng Nhà nước và
đặc biệt là cơ chế kiểm soát từ các cá nhân và tổ chức xã hội.
Thứ hai, mặc dù những nghiên cứu về kết quả hoạt động của các trường đại học
trong bối cảnh tự chủ là khá phổ biến cả trong và ngoài nước nhưng chủ yếu tập trung
trên khía cạnh tự chủ tài chính hoặc chỉ dừng ở tổng quan lý thuyết.
Thứ ba, những nghiên cứu trước đây về mối quan hệ giữa hệ thống kiểm soát
và kết quả hoạt động tại các trường đại học hoặc về kết quả hoạt động của các trường
đại học gắn với tự chủ hầu như tập trung đo lường kết quả hoạt động trên phương
diện tài chính trong khi mục tiêu đặc thù của các trường đại học còn bao gồm đào
tạo nguồn nhân lực chất lượng cao và nghiên cứu khoa học. Do đó luận án sẽ bổ
sung cho những nghiên cứu trước đây bằng cách bổ sung các thang đo phi tài chính
đối với kết quả hoạt động của các trường đại học trên cả phương diện đào tạo và
nghiên cứu khoa học.
6
1.3. Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu mối quan hệ giữa hệ thống kiểm soát và kết quả hoạt động với nghiên
cứu điển hình tại các trường đại học công lập vùng ĐBSH thực hiện cơ chế tự chủ.
Các mục tiêu cụ thể như sau:
- Làm rõ các khái niệm tự chủ, hệ thống kiểm soát và kết quả hoạt động của các
trường đại học công lập tại Việt Nam và mối quan hệ giữa chúng.
- Tìm hiểu ảnh hưởng của hệ thống kiểm soát tới kết quả hoạt động của các
trường đại học công lập thuộc vùng ĐBSH thực hiện cơ chế tự chủ.
- Làm rõ xem có sự khác biệt nào về sự tác động giữa hệ thống kiểm soát tới kết
quả hoạt động của các trường đại học công lập có các mức độ đảm bảo cân đối thu chi
thường xuyên và duy trì thặng dư.
- Đưa ra các khuyến nghị đưa ra để nhằm hoàn thiện nâng cao kết quả hoạt động
tại các trường đại học công lập vùng ĐBSH thực hiện cơ chế tự chủ.
1.4. Câu hỏi nghiên cứu
Căn cứ trên các khoảng trống nghiên cứu đã được chỉ ra NCS đã cụ thể hoá thành
các mục tiêu nghiên cứu và hệ thống câu hỏi nghiên cứu như sau:
- Câu hỏi 1: KSNB có ảnh hưởng như thế nào tới kết quả hoạt động của các
trường đại học công lập vùng ĐBSH?
- Câu hỏi 2: Kiểm soát từ bên ngoài có ảnh hưởng như thế nào tới kết quả hoạt
động các trường đại học công lập vùng ĐBSH?
- Câu hỏi 3: Tự chủ (tự chủ bộ máy quản lý và tự chủ tài chính) có ảnh hưởng
như thế nào tới kết quả hoạt động của các trường đại học công lập vùng ĐBSH?
- Câu hỏi 4: Hệ thống kiểm soát có vai trò như thế nào trong mối quan hệ giữa
tự chủ và kết quả hoạt động của các trường đại học công lập vùng ĐBSH?
- Câu hỏi 5: Có sự khác biệt nào về mối quan hệ giữa hệ thống kiểm soát và
kết quả hoạt động của các trường đại học công lập vùng ĐBSH đảm bảo tốt và đảm
bảo không tốt cân đối thu chi thường xuyên không?
1.5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.5.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu trong đề tài luận án sẽ là mối quan hệ giữa hệ thống kiểm
soát và kết quả hoạt động của các trường đại học công lập vùng ĐBSH thực hiện cơ
chế tự chủ. Khách thể nghiên cứu của đề tài luận án sẽ là các trường đại học công lập
khu vực ĐBSH thực hiện cơ chế tự chủ. Đối tượng khảo sát trong luận án sẽ là các cán
bộ, giảng viên, nhân viên làm việc tại các trường đại học công lập vùng ĐBSH.
1.5.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi về nội dung: luận án sẽ xem xét hệ thống kiểm soát trong các trường đại
học công lập vùng ĐBSH trên hai khía cạnh là KSNB và kiểm soát từ bên ngoài. Phạm

7
vi về không gian là 66 trường đại học và học viện công lập vùng ĐBSH. Phạm vi về thời
gian là giai đoạn 2020-202. đây là giai đoạn khảo sát và thu thập dữ liệu nghiên cứu và
cũng là giai đoạn quan trọng nhất trong quá trình thực hiện luận án của NCS.
1.6. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong luận án sẽ là sự kết hợp giữa cả
hai phương pháp là nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng. Trong đó phương
pháp nghiên cứu định tính sẽ được triển khai trong giai đoạn đầu. Giai đoạn nghiên cứu
định lượng sẽ được chia thành hai giai đoạn là nghiên cứu định lượng sơ bộ và nghiên
cứu định lượng chính thức.
1.7. Đóng góp của đề tài
1.7.1. Đóng góp về lý luận
Thứ nhất: Luận án đã thực hiện trong bối cảnh nghiên cứu mới tại các trường
đại học công lập thuộc vùng Đồng bằng Sông Hồng và đang thực hiện cơ chế tự chủ.
Thứ hai: Luận án nghiên cứu vai trò trung gian điều tiết của hệ thống kiểm soát
với mối quan hệ giữa tự chủ và kết quả hoạt động của các trường đại học công lập
thuộc vùng Đồng bằng Sông Hồng thay vì chỉ xem xét mối quan hệ trực tiếp giữa các
nhân tố như những nghiên cứu trước đây.
Thứ ba: Luận án lần đầu tiên sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng để
phân tích ảnh hưởng của cả hai yếu tố kiểm soát nội bộ và kiểm soát ngoài tới kết quả
hoạt động của các trường đại học công lập vùng Đồng bằng Sông Hồng.
Thứ tư: Luận án lần đầu tiên thực hiện so sánh sự khác biệt giữa hai nhóm
trường đảm bảo toàn bộ chi thường xuyên và đảm bảo một phần chi thường xuyên về
mối quan hệ của kiểm soát tới kết quả hoạt động của các trường đại học công lập vùng
Đồng bằng Sông Hồng.
1.7.2. Đóng góp về thực tiễn
Luận án chỉ ra thứ tự các nhân tố thuộc hệ thống kiểm soát có tác động tới kết
quả hoạt động của các trường đại học công lập khu vực Đồng bằng Sông Hồng từ đó
đưa ra biện pháp hoàn thiện hệ thống. Tương tự, dựa trên kiểm định sự tương tác giữa
kiểm soát và tự chủ, luận án cũng đưa ra biện pháp triển khai hiệu quả các Nghị định
của Chính phủ về thực hiện cơ chế tự chủ trong các trường đại học công lập. Cuối cùng
bằng phân tích đa nhóm luận án cũng chỉ ra việc áp dụng tự chủ tại các đơn vị đảm bảo
chi thường xuyên 100% là tốt hơn so với các đơn vị chưa đảm bảo.
1.8. Kết cấu của đề tài
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU VỀ NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG 5: THẢO LUẬN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ KHUYẾN NGHỊ
8
CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
2.1. Kiểm soát trong các trường đại học công lập
Kiểm soát và những khái niệm liên quan như kiểm tra, thanh tra, kiểm toán
hay giám sát có sự giao thoa rất lớn về nội dung và phạm vi. Tuy nhiên khái niệm
kiểm soát là cốt lõi và bao hàm những khái niệm nêu trên. Trên phương diện quản
lý Nhà nước, kiểm soát không chỉ là kiểm tra, thanh tra về tài chính mà còn bao
gồm cả việc tuân thủ quy định pháp luật, chính trị, xã hội… Theo Phạm Văn
Nhiên (2007), kiểm soát được hiểu là công việc nhằm soát xét lại những quy định,
những quá trình ra quyết định và thực thi các quyết định quản lý được thể hiện
trên các nghiệp vụ nhằm nắm bắt và điều hành được những nghiệp vụ đó. Thực
tế, kiểm soát có thể được phân chia thành: Kiểm soát trực tiếp và kiểm soát gián
tiếp; Kiểm soát trước, kiểm soát trong và kiểm soát sau; Kiểm soát từ bên trong
và kiểm soát từ bên ngoài…
Đối với các ĐVSNCL nói chung và các trường đại học công lập nói riêng
thì kiểm soát từ bên ngoài mà cụ thể ở đây là kiểm soát từ phía Nhà nước là đặc
điểm cố hữu. Thêm vào đó, hoạt động giáo dục nói chung và GDĐH nói riêng có
ảnh hưởng rất lớn tới hầu hết các hoạt động xã hội khác. Do đó khi nói kiểm soát
từ bên ngoài tổ chức không chỉ là kiểm soát từ phía Nhà nước mà còn là sự kiểm
soát từ phía các bên có liên quan như các tổ chức chính trị xã hội, các đơn vị
tuyển dụng hay trực tiếp từ những người thụ hưởng dịch vụ là người học. Trong
bối cảnh xã hội hoá giáo dục đang trở thành xu hướng toàn cầu thì vai trò của
kiểm soát từ nhân tố bên ngoài càng có ảnh hưởng mạnh mẽ tới kết quả hoạt động
của các trường đại học.
Song song với sự kiểm soát từ Nhà nước và các bên liên quan thì sự tự kiểm
soát hay kiểm soát nội bộ là yếu tố quan trọng cấu thành nên hệ thống quản lý
của bất kỳ tổ chức nào. Theo COSO (2013) “KSNB là một quá trình bị chi phối
bởi nhà quản lý và các nhân viên của đơn vị, được thiết kế để cung cấp một sự
đảm bảo hợp lý nhằm đạt được các mục tiêu: Hoạt động hữu hiệu và hiệu quả;
Cung cấp báo cáo tài chính tin cậy; Tuân thủ các luật lệ và quy định”. Cụ thể,
KSNB được đại diện trên 05 yếu tố gồm Môi trường kiểm soát; Đánh giá rủi ro;
Các hoạt động kiểm soát; Thông tin truyền thông và Giám sát (Nguyễn Thị Hoàng
Lan, 2019).

9
2.2. Tự chủ trong các trường đại học công lập
2.2.1. Tính tất yếu của cơ chế tự chủ trong các trường đại học công lập
Theo Thorens (2006), trường đại học nói chung là các tổ chức được thành lập
bởi Nhà nước hoặc các tổ chức tư nhân hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận hoặc phi lợi
nhuận để đào tạo những người ở trình độ cao nhất để có thể làm việc hiệu quả và mang
lại phúc lợi cho nhân loại. Trong tiến trình lịch sử phát triển của các cơ sở giáo dục nói
chung và GDĐH nói riêng vấn đề về quyền tự chủ luôn là vấn đề được các học giả
tranh cãi. Thực tế, tự chủ đại học là một khái niệm mang tính thời gian (Tapper và
Salter, 1995). Nó phụ thuộc rất nhiều vào bối cảnh chính trị cũng như hệ thống pháp
lý đi kèm (Zgaga, 2007).
Từ thời Trung cổ trở về trước GDĐH hay giáo dục nói chung là hoạt động không
dành cho đại đa số các thành phần trong xã hội. Các trường đại học được trao quyền tự
chủ rất lớn đặc biệt là tự chủ về học thuật. Tuy nhiên các cuộc cách mạng xã hội đã
đem lại cơ hội học tập lớn hơn cho tất cả mọi người. Đỉnh cao là cuộc cách mạng vô
sản với chế độ cộng sản - Soviet. Để đảm bảo cho nguồn phúc lợi này Nhà nước đóng
vai trò quản lý cao nhất với hệ thống các trường đại học công lập. Tính tự chủ của các
trường đại học bị giảm sút rất lớn và hoàn toàn thuộc sự kiểm soát của Nhà nước về
mọi mặt như tài chính, học thuật, tổ chức quản lý cũng như nhân sự.
Cho tới những năm 1970, gánh nặng ngân sách tăng lên do những phúc lợi
xã hội đã tạo nên một làn sóng cải cách khu vực công trong đó có các trường đại
học. Chủ nghĩa quản lý dựa trên hiệu quả, khuyến khích quá trình tự giám sát, công
khai chất lượng đã ảnh hưởng rất lớn tới hoạt động và quyền tự chủ của các trường
đại học tại Châu Âu (Deem & Brehony, 2005). Việc cắt giảm tài trợ từ ngân sách
đã thúc đẩy các trường đại học phải thay đổi phương thức hoạt động từ các cơ sở
cung cấp phúc lợi xã hội sang các cơ sở kinh doanh dịch vụ nhằm đảm bảo về mặt
tài chính. Cùng với đó, những cuộc cách mạng công nghệ mở ra cơ hội phát triển
giao thoa về tri thức và con người giữa các nền giáo dục. Điều này cũng tạo áp lực
buộc các Chính phủ trao nhiều quyền hạn hơn cho các trường đại học. Chính vì
vậy cho tới nay, tự chủ đại học không chỉ được hiểu đơn giản về mặt học thuật mà
còn về tài chính, tổ chức và nhân sự (Nokkala & Bacenvic, 2014).
2.2.2. Khái niệm tự chủ trong các trường đại học công lập
Khái niệm tự chủ là một khái niệm được đưa ra từ rất sớm và cho tới nay nó vẫn
được các học giả tiếp tục nghiên cứu. Theo hiệp hội các trường đại học châu Âu (EUA,
2013) đã chỉ ra rằng tự chủ đại học được đặc trưng bởi 04 vấn đề cơ bản: Tự chủ về
10
học thuật; Tự chủ về tài chính; Tự chủ về tổ chức bộ máy và Tự chủ về nhân sự.
Tại Việt Nam, theo Nghị định số 16/2015/NĐ-CP và Nghị quyết số
77/2014/NQ-CP về tự chủ tại các trường đại học công lập thì tự chủ được hiểu là khả
năng độc lập và tự quản trị của các đơn vị nhằm nâng cao chất lượng đào tạo phục vụ
nhu cầu của xã hội cũng như thích ứng với điều kiện thay đổi công nghệ trong giai
đoạn mới. Tùy thuộc đặc điểm của từng quốc gia mà mức độ tự chủ được thể hiện qua
các mô hình: Mô hình Nhà nước kiểm soát hoàn toàn; Mô hình bán tự chủ; Mô hình
bán độc lập và mô hình độc lập hoàn toàn
2.3. Đo lường kết quả hoạt động của các trường đại học công lập
Hiện nay, mạng lưới GDĐH Việt Nam đã có sự phát triển đa dạng về hình thức
sở hữu nhưng trong đó các trường đại học công lập vẫn chiếm tỷ trọng rất lớn. Tuy
nhiên khả năng cân đối ngân sách và tính hiệu quả của các khoản đầu tư công đang
thúc ép các trường đại học công lập chuyển đổi sang mô hình tự chủ. Để tự đảm bảo
nguồn tài chính, các trường đại học trước tiên cần nâng cao chất lượng dịch vụ đầu ra.
Do đó đánh giá kết quả hoạt động của các trường đại học công lập ở Việt Nam đang là
vấn đề được rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm. Theo nghiên cứu của Wang & cộng
sự (2021) thực hiện trên 89 trường đại học công lập thuộc 07 khu vực tại Việt Nam,
kết quả hoạt động của các đơn vị này được phản ánh trên 2 khía cạnh là kết quả về
giảng dạy - nghiên cứu và kết quả về doanh thu. Tương tự như nghiên cứu của Wang
và cộng sự (2021), nghiên cứu của Tatiana (2021) được thực hiện trên cơ sở dữ liệu
thu thập từ 11 trường đại học công lập tại Nga cũng chỉ ra rằng hiệu quả hoạt động
của một trường đại học công lập được phản ánh trên 03 khía cạnh là tài chính, giảng
dạy và nghiên cứu.
2.4. Lý thuyết nền tảng
Để luận giải ảnh hưởng từ hệ thống kiểm soát tới kết quả hoạt động của các
trường đại học công lập thực hiện cơ chế tự chủ vùng ĐBSH, luận án vận dụng
ba lý thuyết cơ bản làm cơ sở giải để luận giải, bao gồm: Lý thuyết đại diện
(Agency theory), Lý thuyết bất định (Contingency theory) và Lý thuyết các bên
liên quan (Stakeholder theory). Trong đó, lý thuyết đại diện là cơ sở luận giải cho
những xung đột giữa chủ sở hữu là Nhà nước và đội ngũ quản lý các trường đại
học công lập trong hàng loạt các quyết định khi thực hiện tự chủ tài chính và tự
chủ bộ máy quản lý. Lý thuyết bất định sẽ luận giải vai trò điều tiết của cơ chế tự
chủ đối với tính hiệu quả của hệ thống kiểm soát trong các trường đại học công
lập. Cuối cùng lý thuyết các bên liên quan là cơ sở luận giải cho ảnh hưởng từ
yếu kiểm soát ngoài từ phía Nhà nước và các cá nhân, tổ chức xã hội đối với hoạt

