1 2
CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Việc nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng và mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến CLTT trên BCTC qua đó đề xuất các khuyến nghị đối với các nhân tố ảnh hưởng qua đó nâng cao CLTT trên BCTC là rất cần thiết. Do vậy, mà tác giả lựa chọn đề tài: “Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng chất lượng thông tin trên báo cáo tài chính của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam” có ý nghĩa cả về mặt lý luận và thực tiễn. 1.2. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát: Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến CLTT trên BCTC các CTNY trên TTCK Việt Nam, từ đó đề xuất các khuyến nghị đối với các nhân tố ảnh hưởng để nâng cao CLTT trên BCTC của các CTNY trên TTCKVN. Luận án nghiên cứu với 3 mục tiêu cụ thể như sau: Mục tiêu 1: Xây dựng thang đo CLTT trên BCTC các CTNY trên TTCKVN. Mục tiêu 2: Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến CLTT trên BCTC của các CTNY trên TTCK Việt Nam. Mục tiêu 3: Xác định mức độ ảnh hưởng, chiều ảnh hưởng các nhân tố đến Hiện nay, Việt Nam ngày càng hội nhập sâu rộng vào thị trường thế giới với sự phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam đã đóng góp một vai trò không nhỏ đối với sự phát triển của nền kinh tế nói chung và tạo ra dòng chảy vốn không biên giới. Thị trường chứng khoán (TTCK) Việt Nam là một trong những TTCK non trẻ, chính thức đi vào hoạt động ngày 20/7/2000 cho đến nay với hoạt động của Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HOSE) và Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX). Sự phát triển của thị trường trong suốt thời kỳ từ 2000 - 2005 còn khá nhỏ bé với mức vốn hóa thị trường mới chỉ đạt trên dưới 1% GDP, đến năm 2006 quy mô thị trường đã phát triển nhảy vọt đạt 22,7% GDP và năm 2007 đạt trên 43% GDP đến nay thì con số này đã là 78% GDP. Đây là một kênh để các công ty niêm yết (CTNY) huy động vốn và các nhà đầu tư có cơ hội tìm kiếm những phương thức đầu tư hợp lý trên TTCK. Báo cáo tài chính (BCTC) là cơ sở quan trọng để cung cấp thông tin để cho các nhà đầu tư và các bên liên quan đưa ra các quyết định tối ưu. CLTT trên BCTC của các CTNY trên TTCKVN. Mục tiêu 4: Đề xuất một số khuyến nghị nhằm nâng cao CLTT trên BCTC của các CTNY trên TTCKVN.
Mục tiêu 5: Nghiên cứu sự đánh giá của người lập BCTC và người sử dụng BCTC về CLTT trên BCTC và nhân tố ảnh hưởng đến CLTT trên BCTC của các CTNY trên TTCKVN.
1.3. Câu hỏi nghiên cứu Với mục tiêu nghiên cứu cụ thể của luận án, một số câu hỏi nghiên cứu được đặt ra như sau: Câu hỏi 1: CLTT trên BCTC của các CTNY trên TTCKVN được đo lường Trên góc độ lý luận, mục tiêu chính của BCTC là cung cấp thông tin chất lượng cao nhưng đây là một cấu trúc phức tạp đa chiều, không thể quan sát trực tiếp (Barth, Landsman và Lang, 2008). Kết quả của việc đo lường phụ thuộc nhiều vào sở thích cá nhân, nhận thức và bối cảnh của thông tin (Schwedler, 2010). CLTT trên BCTC được đề cập trong nhiều chuẩn mực kế toán quốc gia và nhiều công trình nghiên cứu Jonas và Blanchet (2000), Cohen và cộng sự (2004), Beest và cộng sự (2009), Nguyễn Trọng Nguyên (2015), Nguyễn Phương Hồng (2016), Phạm Quốc Thuần (2016). Đối với Việt Nam trong điều kiện là một nước đang phát triển về kinh tế, hội nhập về vốn và chuẩn mực kế toán thì nghiên cứu, chỉnh sửa và phát triển thang đo CLTT trên BCTC đánh giá toàn diện các thông tin trên BCTC là rất cần thiết. như thế nào?
Câu hỏi 2: Những nhân tố nào ảnh hưởng đến CLTT trên BCTC của các CTNY trên TTCK Việt Nam? Mức độ ảnh hưởng và chiều tác động của các nhân tố này đến CLTT trên BCTC của các CTNY trên TTCKVN như thế nào? Câu hỏi 3: Nhân tố nào là nhân tố ảnh hưởng mạnh nhất đến CLTT trên BCTC trên TTCKVN? Câu hỏi 4: Những khuyến nghị nào được đề xuất đối với các nhân tố ảnh hưởng để nâng cao CLTT trên BCTC của các CTNY trên TTCKVN?
Xét trên góc độ thực tiễn, mỗi sự thay đổi về tình hình kinh doanh và tài chính của CTNY ảnh hưởng không chỉ đến hoạt động của các công ty, các nhà đầu tư mà còn ảnh hưởng tới toàn bộ TTCK cũng như nền kinh tế. Đặc biệt là các thông tin trên BCTC của các CTNY vì đây là một nguồn thông tin quan trọng cung cấp cho các nhà quản lý điều hành doanh nghiệp mà còn cung cấp thông tin hữu ích cho các đối tượng quan tâm tới tình hình “sức khỏe” của doanh nghiệp từ đó đưa ra các quyết định phù hợp, nó ảnh hưởng trực tiếp tới CL, hiệu quả của người sử dụng thông tin cũng như hiệu quả hoạt động của TTCK. Tuy vậy, trong thời gian vừa qua CLTT trên BCTC của các CTNY lại xảy ra rất nhiều hiện tượng gian lận gây ra những hậu quả nghiêm trọng và thiệt hại lớn cho các công ty và các nhà đầu tư. Câu hỏi 5: Có sự đánh giá khác nhau không giữa người lập BCTC và người sử dụng BCTC về CLTT trên BCTC và nhân tố ảnh hưởng đến CLTT trên BCTC của các CTNY trên TTCKVN?
3 4
. Trên khía cạnh ứng dụng thực tiễn: Luận án có một số đóng góp cụ thể như sau: 1.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu: Các nhân tố ảnh hưởng CLTT BCTC của các CTNY trên TTCK Việt Nam. Phạm vi nghiên cứu: Không gian: Nghiên cứu các CTNY phi tài chính trên hai Sở Giao dịch chứng khoán đó là (HOSE) và (HNX).
Thứ nhất, thông qua kết quả khảo sát nghiên cứu đề tài đã phản ánh thực trạng CLTT trên BCTC của các CTNY trên cơ sở tiếp cận một đầy đủ và toàn diện các thuộc tính đo lường CLTT trên BCTC theo IASB 2018, một số chỉ báo mới được phát triển trong nghiên cứu này. Kết quả nghiên cứu cho thấy CLTT trên BCTC của các CTNY trên TTCK Việt Nam đang ở mức khá 3,4069/5 điểm, nhìn chung CLTT trên BCTC của các CTNY đáp ứng được yêu cầu của người sử dụng thông tin khi đưa ra các quyết định.
Thời gian: Để đảm bảo thời gian nghiên cứu, nguồn dữ liệu nghiên cứu là kết quả khảo sát các đối tượng về CLTT trên BCTC của các CTNY phi tài chính trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong ba tháng từ ngày 15 tháng năm 2018 đến ngày 15 tháng 8 năm 2018.
Đối tượng khảo sát: Người sử dụng BCTC của các CTNY trên TTCKVN (nhà đầu tư, cơ quan quản lý, kiểm toán, chuyên gia) và người lập BCTC (CTNY) của CTNY trên TTCKVN (kế toán, kế toán trưởng, giám đốc CTNY). 1.5. Giới thiệu phương pháp nghiên cứu Luận án sử dụng kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và phương pháp Thứ hai, kết quả phân tích hồi quy của đề tài đã xác định sáu nhân tố trong đó có năm nhân tố tác động cùng chiều đó là: Nhân viên kế toán, Tính hữu hiệu kiểm soát nội bộ, Chất lượng kiểm toán độc lập, Vận dụng chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế, Vai trò điều tiết của Ủy ban chứng khoán Nhà nước, riêng nhân tố hành vi quản trị lợi nhuận ảnh hưởng ngược chiều giải thích 72,9% CLTT trên BCTC của các CTNY trên TTCKVN. Trong đó có hai nhân tố được xem là nhân tố mới của nghiên cứu này đó là vận dụng chuẩn mực BCTC quốc tế, Vai trò điều tiết của Ủy ban chứng khoán Nhà nước (UBCKNN). Nhân tố nhân viên kế toán có các biến quan sát là về đạo đức kế toán (DD1, DD2, DD3, DD4, DD5) và NL2 được phát hiện trong nghiên cứu này. nghiên cứu định lượng nhằm đạt được mục tiêu nghiên cứu. Phương pháp nghiên cứu định tính:
Thứ ba, kết quả nghiên cứu cho thấy có sự đánh giá khác nhau của người lập BCTC (CTNY) và người sử dụng BCTC về CLTT trên BCTC và các nhân tố ảnh hưởng đến CLTT trên BCTC, song có hai nhân tố đó là Chất lượng kiểm toán độc lập và Vận dụng chuẩn mực BCTC quốc tế chưa thể hiện sự khác biệt một cách có ý nghĩa thống kê.
Luận án sử dụng kỹ thuật phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm lấy ý kiến của các chuyên gia sau khi tiến hành tổng quan để xác định các tiêu chí phù hợp để đánh giá đo lường CLTT trên BCTC và các nhân tố ảnh hưởng tới CLTT trên BCTC của các CTNY trên TTCKVN.
Thứ tư, trên cơ sở kết quả nghiên cứu và thảo luận kết quả nghiên cứu, luận án đã đề xuất được khuyến nghị đối với sáu nhân tố độc lập để nâng cao CLTT trên BCTC của các CTNY trên TTCKVN. 1.7. Kết cấu của đề tài Luận án bao gồm năm chương: Phương pháp nghiên cứu định lượng: Trong nghiên cứu này phương pháp định lượng được thực hiện thông qua hai giai đoạn: Giai đoạn bằng khảo sát khảo sát sơ bộ, giai đoạn khảo sát diện rộng, dữ liệu khảo sát trên giai đoạn này tác giả sử dụng phần mềm SPSS 22.0. Chương 1: Giới thiệu đề tài nghiên cứu. 1.6. Đóng góp của đề tài Chương 2: Tổng quan nghiên cứu và cơ sở lý luận về chất lượng thông tin trên Về góc độ lý luận: báo cáo tài chính. Thứ nhất, chỉnh sửa và phát triển thang đo đánh giá toàn diện về CLTT trên Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. BCTC trên cơ sở các đặc tính định tính cơ bản và nâng cao của IASB (2018). Chương 4: Kết quả nghiên cứu. Chương 5: Thảo luận kết quả nghiên cứu và khuyến nghị. Danh mục tài liệu tham khảo Phụ lục Thứ hai, luận án sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng xác định các nhân tố ảnh hưởng, mức độ ảnh hưởng đến CLTT trên BCTC của các CTNY trên TTCKVN. Qua đó làm giàu thêm về tổng quan nghiên cứu và kết quả nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến CLTT trên BCTC của các CTNY trên TTCKVN.
5 6
CHƯƠNG 2. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG THÔNG TIN TRÊN BÁO CÁO TÀI CHÍNH Một yếu tố cụ thể trên BCTC Đặc điểm định tính Phương pháp sử dụng lợi nhuận Phương pháp đánh giá mối quan hệ giữa lợi nhuận và phản ứng của thị trường 2.1. Tổng quan nghiên cứu cộng 2.1.1. Các nghiên về đo lường chất lượng thông tin trên báo cáo tài chính Nelson (1996).
Để đánh giá và đo lường CLTT trên BCTC có nhiều phương pháp đo lường khác nhau có bốn phương pháp thường được sử dụng, được trình bày trong Bảng 2.1. (1995); Radzi và các cộng sự (2011), Nguyễn Hà Linh (2017). Bảng 2.1. Tổng quan về phương pháp đo lường CLTT trên BCTC sự cộng và (2004), Roudaki 2011, Hirschey sự cộng và 2012.
Một yếu tố cụ thể trên BCTC Đặc điểm định tính Phương pháp sử dụng lợi nhuận
Phương pháp
sự và Barth (2007); (2006); Ferdy và cộng sự 2009; Geert Braam và (2013), Ferdy Phạm Quốc Thuần (2016), Nguyễn Phương Hồng và Dương Khánh (2014), Linh Nguyễn Trọng Nguyên (2016) Đánh giá qua mức độ điều chỉnh lợi nhuận của nhà quản lý (người đại diện). Nguồn: Tác giả tổng hợp 2.1.2. Các nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng thông tin trên báo cáo tài chính Ưu điểm 2.1.2.1. Những nhân tố bên trong doanh nghiệp Có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng đến CLTT trên BCTC trong nghiên cứu này tác Dễ thu thập dữ liệu để đo lường điều chỉnh lợi nhuận. giả tổng hợp các nhân tố bên trong doanh nghiệp ảnh hưởng đến CLTT trên BCTC.
Xem xét mức độ hữu ích của quyết định BCTC thông qua các đặc điểm định tính. Tập trung vào CLTT trên BCTC. Đo lường trực tiếp CL BCTC. Nhìn chung là khó khăn trong đo lường. CLTT
Năng lực nhân viên kế toán, Đạo đức nghề nghiệp kế toán, Kiểm soát nội bộ, Mức độ Phân tán của các cổ đông, Quy mô doanh nghiệp và đòn bẩy tài chính, Hành vi quản trị lợi nhuận, Khả năng thanh toán nhanh, Văn hóa công ty, Cam kết đạo đức kinh doanh, Đặc điểm ngành nghề kinh doanh. 2.1.2.2. Những nhân tố bên ngoài doanh nghiệp Vận dụng chuẩn mực BCTC quốc tế, Chất lượng kiểm toán độc lập, Vai trò Xem xét các yếu tố cụ thể trong BCTC theo chiều sâu bằng cách tiến hành nghiên cứu thực nghiệm. Tập trung vào CLTT trên BCTC. Đo lường trực tiếp CL BCTC. Chỉ tập trung vào các yếu tố được chọn. Khó khăn đo lường. điều tiết của Ủy ban chứng khoán Nhà nước. Phương pháp đánh giá mối quan hệ giữa lợi nhuận và phản ứng của thị trường Xem xét mối quan hệ giữa lợi nhuận và phản ứng của thị trường chứng khoán để đo lường CLTT trên BCTC. Tương đối dễ đo. Cung cấp cái nhìn sâu sắc về giá trị kinh tế của các số liệu thu nhập. Tập trung vào chất lượng lợi nhuận. Đo lường BCTC gián tiếp. Không cung cấp cái nhìn sâu sắc về sự đánh đổi giữa tính thích hợp và độ tin cậy. 2.1.3. Khoảng trống nghiên cứu Tác giả 1. Tìm hiểu tác động nhân tố đạo đức nghề nghiệp kế toán ảnh hưởng đến CLTT trên BCTC của các CTNY trên TTCKVN. 2. Nghiên cứu mối quan hệ vận dụng IFRS tác động đến CLTT trên BCTC Barth và cộng sự (2001); Choi và cộng sự (1997); Nichols và (2004); Wahlen Jonas và cộng sự (2000), Schipper và Vicent (2003); Vander Meulen Hạn chế Tập trung vào chất lượng lợi nhuận. Đo lường CLTT BCTC gián tiếp. Khó ước tính giá trị dồn tích một cách tùy ý. Jone (1999). Healy &Wahlen (1999); Dechow sự cộng và Hirst và cộng sự (2004); Beretta và Bozzolan (2004); Cohen của các CTNY trên TTCKVN.
7 8
2.3. Lý thuyết nghiên cứu mối quan hệ giữa nhân tố ảnh hưởng đến chất 3. Nghiên cứu tác động Vai trò điều tiết của Ủy ban chứng khoán Nhà nước đến CLTT trên BCTC của các CTNY trên TTCKVN. lượng thông tin Báo cáo tài chính 2.3.1. Lý thuyết dự phòng (Contingency theory) Vận dụng lý thuyết trong nghiên cứu này: 4. Người lập BCTC (CTNY) và người sử dụng BCTC có sự đánh giá khác nhau không về CLTT trên BCTC cũng như các nhân tố ảnh hưởng đến CLTT của các CTNY trên TTCKVN. 5. Những khuyến nghị nào được đề xuất từ kết quả nghiên cứu để nâng cao CLTT trên BCTC? 2.2. Báo cáo tài chính và chất lượng thông tin báo cáo tài chính 2.2.1. Báo cáo tài chính 2.2.1.1. Khái quát về báo cáo tài chính Lý thuyết dự phòng cho thấy không có một cơ tổ chức tối ưu cho các CTNY trên TTCK Việt Nam, có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả của tổ chức nói chung và CLTT trên BCTC của các công ty này nói riêng, điều đó đã giúp tác giả hình thành ý tưởng về sự tác động các nhân tố Quy mô công ty, Văn hóa công ty, Khả năng thanh toán nhanh, Đòn bẩy tài chính, Cam kết đạo đức kinh doanh, Đặc điểm ngành nghề kinh doanh, đến CLTT trên BCTC của các CTNY trên TTCKVN. 2.3.2. Lý thuyết đại diện (Agency Theory) Áp dụng lý thuyết cho vấn đề CLTT BCTC các CTNY trên TTCK Việt Nam.
Quan điểm của luận án BCTC tiếp cận theo khái niệm IASB (2018) vì hiện nay Việt Nam đang trên lộ trình từng bước hội nhập với kế toán quốc tế và từng bước áp dụng IFRS đối với các CTNY tiến tới năm 2025 là áp dụng bắt buộc đối với tất cả CTNY. Theo cách tiếp cận này BCTC là những báo cáo kết tình hình tài sản, nguồn vốn, doanh thu, chi phí, kết quả kinh doanh và các quan hệ tài chính của DN tại một thời điểm hay sau một kỳ hoạt động. 2.2.1.2. Đối tượng sử dụng thông tin BCTC
Quan điểm của luận án là xem xét đối tượng sử dụng BCTC theo cách tiếp cận của chuẩn mực BCTC quốc tế IFRS, đối tượng ưu tiên hướng tới các nhà đầu tư và các bên cung cấp vốn là những đối tượng mà có ít thông tin hơn về tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh và tình hình tài chính của DN.
2.2.2. Chất lượng thông tin trên báo cáo tài chính 2.2.2.1. Chất lượng thông tin Tóm lại: Thông tin là những tín hiệu được thu nhận, hiểu được và hữu ích cho người sử dụng trong quá trình ra quyết định.
Lý thuyết đại diện được dùng để giải thích hành vi của nhà quản lý sẽ cung cấp CLTT trên BCTC đảm bảo độ tin cậy phục vụ lợi ích cho chủ sở hữu hay tối đa hóa lợi ích của người được ủy nhiệm. Trong trường hợp, hợp đồng giữa chủ sở hữu và nhà quản lý đạt hiệu quả, lợi ích của nhà quản lý được đảm bảo, họ sẽ hành động hoàn toàn vì lợi ích của người ủy nhiệm, công bố nhiều thông tin, độ tin cậy cao, CLTT trên BCTC cao và ngược lại. Từ đó tác giả nhận thấy nhà quản lý có thể thực hiện các hành vi quản trị lợi nhuận nhằm tối đa hóa lợi ích của nhà quản lý thông qua việc cung cấp các thông tin trên BCTC nhất là đối với các CTNY khi quyền quản lý và quyền sở hữu tách rời nhau, hay có mối quan hệ giữa Hành vi QTLN với CLTT trên BCTC các CTNY trên TTCKVN. Do đó, trong nghiên cứu này luận án tiếp tục tìm hiểu mối quan hệ của hai nhân tố này. Trên cơ sở phân tích của lý thuyết này tác giả nghiên cứu mối quan hệ của nhân tố tính hữu hiệu của KSNB, Chất lượng kiểm toán độc lập, Vai trò điều tiết của UBCKNN, Mức độ phân tán của các cổ đông, Năng lực nhân viên kế toán, Đạo đức nghề nghiệp kế toán, Hành vi QTLN với CLTT trên BCTC các CTNY trên TTCKVN. Chất lượng Vì lý do trên nên luận án chọn cách tiếp cận theo quan điểm CLTT BCTC của các tổ chức nghề nghiệp kế toán như FASB, theo Chuẩn mực Kế toán Việt Nam, IASB phân tích và lựa chọn tiêu chuẩn CLTT BCTC phù hợp nhất. 2.3.3. Lý thuyết các bên liên quan (Stakeholder theory)
2.2.2.2. Chất lượng thông tin trên báo cáo tài chính a. Đặc tính cơ bản Thích hợp (Relevance),Trung thực (Faithful Representation) b. Đặc tính nâng cao Khả năng so sánh (Comparability), Dễ hiểu (Understandability), Tính kịp thời (Timeliness). Lý thuyết này giúp tác giả hình thành ý tưởng mức độ phân tán của các cổ đông ảnh hưởng ngược chiều CLTT trên BCTC, Vai trò điều tiết của UBCKNN có ảnh hưởng tích cực đến CLTT trên BCTC của các CTNY trên TTCKVN, khi các nhà quản lý cam kết về đạo đức kinh doanh điều đó cho thấy công ty mong muốn đối xử công bằng đối với các bên có lợi ích đối liên quan đến công ty, Vai trò điều tiết của
9 10
Nhan tố Năng lực nhân viên kế toán được đo lường và lượng hóa là giá trị trung bình cộng của năm biến quan sát từ NL1 đến NL5. b. Đạo đức nghề nghiệp kế toán Nhân tố đạo đức nghề nghiệp kế toán được lượng hóa là giá trị trung bình cộng UBCKNN nhằm đảm bảo công bằng cho các bên nhất là các cổ đông, bên cung cấp vốn được cung cấp thông tin BCTC, trung thực, khách quan, chính xác, minh bạch, dễ hiểu và kịp thời. Trên cơ sở vận dụng lý thuyết này tác giả xây dựng cơ sở đề xuất Vai trò điều tiết của UBCKNN, Vận dụng chuẩn mực BCTC quốc tế có ảnh hưởng đến CLTT trên BCTC các CTNY trên TTCKVN. của năm biến quan sát, là DD1 đến DD5. 2.4. Mô hình nghiên cứu dự kiến từ cơ sở lý thuyết c. Tính hữu hiệu kiểm soát nội bộ Nhân tố Kiểm soát nội bộ giá trị được lượng hóa là giá trị trung bình cộng của 2.4.1. Mô hình nghiên cứu dự kiến từ cơ sở lý thuyết năm biến quan sát là KS1 đến KS5. d. Vận dụng chuẩn mực Báo cáo tài chính quốc tế Từ kết quả tổng quan nghiên cứu và cơ sở lý thuyết tác giả tổng hợp các nhân tố ảnh hưởng CLTT trên BCTC của các CTNY trên TTCKVN tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu dự kiến từ cơ sở lý thuyết trình bày trong sơ đồ 2.3 2.4.2. Giả thuyết nghiên cứu từ cơ sở lý thuyết Trên cơ sở tổng quan nghiên cứu và cơ sở lý thuyết nghiên cứu của luận án tác Chuẩn mực BCTC quốc tế (IFRS) là một bộ chuẩn mực kế toán được thiết kế và phát triển bởi Hội đồng chuẩn mực Kế toán quốc tế (IASB). Nhân tố Áp dụng chuẩn mực BCTC quốc tế giá trị được lượng hóa là giá trị trung bình cộng của năm biến quan sát là AC1 đến AC5. giả đề xuất các giả thuyết nghiên cứu trình bày trong bảng 2.3 e. Hành vi quản trị lợi nhuận TÓM TẮT CHƯƠNG 2 Nhân tố Hành vi QTLN giá trị được lượng hóa là giá trị trung bình cộng của năm biến quan sát là HQ1 đến HQ5. CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU f. Chất lượng kiểm toán độc lập 3.1. Quy trình nghiên cứu Nhân tố Chất lượng kiểm toán độc lập giá trị được lượng hóa là giá trị trung bình cộng của bảy biến quan sát, là KT1 đến KT7. g. Vai trò điều tiết của Ủy ban chứng khoán nhà nước Nhân tố Vai trò điều tiết của UBCKNN giá trị được lượng hóa là giá trị trung bình cộng của ba biến quan sát là UB1 đến UB3. Luận án sử dụng thang đo Linkert 5 mức để tìm hiểu có sự tác động của các nhân tố này không đến CLTT trên BCTC của các CTNY trên TTCKVN. 3.4.2. Thiết kế bảng hỏi và khảo sát thử 3.4.3. Khảo sát chính thức 3.2. Phương pháp nghiên cứu định tính Trong nghiên cứu của luận án tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính nhằm thực hiện mục tiêu chủ yếu là xác định các nhân tố tác động đến CLTT trên BCTC của các CTNY trên TTCKVN, xây dựng thang đo các nhân tố độc lập và biến phụ thuộc đây là bước đầu trong nghiên cứu sơ bộ của luận án, kết quả nghiên cứu địnhh tính cũng là cơ sở khoa học để tác giả xây dựng Bảng hỏi phục vụ quá trình khảo sát trong nghiên cứu định lượng. Trên cơ sở tổng quan tài liệu các công trình nghiên cứu trước đó sau đó tác giả tiến hành phỏng vấn các chuyên gia đề xuất mô hình nghiên cứu, các giả thuyết nghiên cứu. Kích cỡ mẫu
Với nghiên này tác giả đã tiến cứu hành khảo sát và phát phiếu diện rộng, sau khi loại bỏ các phiếu không sử dụng được số phiếu được sử dụng để phân tích là 350 phiếu. Số phiếu đủ đảm bảo thực hiện phân tích EFA và phân tích hồi quy. 3.3. Phương pháp nghiên cứu định lượng 3.3.1. Xây dựng thang đo các biến 3.3.1.1. Thang đo biến phụ thuốc Biến phục thuộc CLTT trên BCTC: được đo lường thông qua sáu biến quan sát: Tính thích hợp, Trung thực, Dễ hiểu, So sánh, Kiểm chứng, Kịp thời. Phương pháp xử lý số liệu
3.4.1.2. Thang đo các biến độc lập a. Năng lực nhân viên kế toán: Tác giả tiến hành kiểm tra các phiếu khảo sát thu được. Trong số 764 phiếu gửi đi tác giả thu về được 368 phiếu có 18 phiếu không hợp lệ các phiếu này sẽ được loại
11 12
bỏ. Kết quả tác giả có 350 phiếu được sử dụng trong nghiên cứu này. Sau đó tác giả tiến hành xử lý dữ liệu, đối với các trường hợp khảo sát trực tiếp tác giả tiến hành nhập dữ liệu vào các phiếu, câu trả lời được tự động cập nhật vào phần mềm, sau đó tác giả sử dụng phần mềm SPSS 22.0 để thực hiện các bước nghiên cứu định lượng tiếp theo. Kết quả mô tả giá trị giá trị các biến quan sát của biến phụ thuộc được trình bày trong Bảng 4.7 và Bảng 4.9, qua đó cho thấy giá trị các biến quan sát của biến phụ thuộc có giá trị trung bình dao động từ 2,6 đến 3,8 điều đó thể hiện các ý kiến có sự khác nhau trong các mức độ đánh giá về CLTT trên BCTC các CTNY trên TTCKVN và độ lệch chuẩn của các biến quan sát < 1,2 chứng tỏ có sự tập trung của các phương án trả lời. Kiểm định chất lượng thang đo (Kiểm định Cronbach’s Alpha) Phương pháp phân tích EFA Hệ số KMO (Kaiser - Meyer - Olkin) Kiểm định Barlett (Barlett’s test of) Tổng phương sai trích (Total Variance Explained Hầu hết các biến quan sát của các nhân tố độc lập có giá trị trung bình gần sát nhau. Đông thời độ lệch chuẩn của các biến quan sát dao động trong khoảng từ 0,5 đến < 1,2 cho thấy có sự tập trung của các phương án trả lời. Các biến quan sát có giá trị trung bình giao động từ 2,8 đến 4,5 điều đó thể hiện các ý kiến có sự khác nhau trong các mức độ đánh giá về sự ảnh hưởng của các nhân tố đến CLTT trên BCTC của các CTNY trên TTCKVN. Hệ số tải nhân tố (Factor loading) 4.2.3. Đánh giá độ tin cậy của thang đo Phương pháp phân tích tương quan Pearson và Phân tích hồi quy tuyến Các yếu tố đo lường đều được đánh giá độ tin cậy thông qua hệ số Cronbach’s tính bội. alpha. Kết quả Cronbach’s alpha trong nghiên cứu này như sau: Phương pháp tương quan Pearson: Phương pháp phân tích hồi quy tuyến tính bội TÓM TẮT CHƯƠNG 3
CHƯƠNG 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU Như vậy, tất cả các hệ số Cronbach’s alpha của các biến độc lập và biến phụ thuộc phản ánh CLTT trên BCTC cũng như các yếu tố ảnh hưởng CLTT trên BCTC đều có giá trị Cronbach’s alpha > 0,6 như vậy đã đạt yêu cầu để có thể đưa vào phân tích nhân tố. Đồng thời các hệ số tương quan biến tổng của các biến quan sát đều đạt yêu cầu > 0,3 đảm bảo các thang đo đưa ra có thể tin cậy được một cách có ý nghĩa thống kê. 4.1. Tổng quan về công ty niêm yết trên Thị trường Chứng khoán Việt Nam 4.2.4. Kiểm tra sự hội tụ của chất lượng thông tin báo cáo tài chính 4.1.1. Sự hình thành và phát triển của thị trường chứng Khoán Việt Nam 4.1.2. Thực trạng chất lượng thông tin trên báo cáo tài chính của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam Đối với biến CLTT trên BCTC bao gồm 32 quan sát, để xem các quan sát này có hội tụ không, tác giả đưa tất cả các biến quan sát của biến phụ thuộc vào phân tích thông qua kiểm định KMO và Bartlett’s Test thì các biến quan sát của biến phụ thuộc đều hội tụ. Lấy nhân tố tập hợp tất cả các biến quan sát. 4.2. Mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến chất lượng thông tin trên Báo Bảng 4.12. Hệ số KMO and Bartlett's Test cáo tài chính của công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam Kaiser-Meyer-Olkin Measure of Sampling Adequacy. 4.2.1. Kết quả nghiên cứu định tính Approx, Chi-Square ,865 11474,995 Df 496 Bartlett's Test of Sphericity Sig, ,000 Nguồn: Nghiên cứu của luận án Dựa trên dữ liệu nghiên cứu mà tác giả tiến hành thảo luận nhóm sau khi kết thúc thảo luận nhóm lần một và lần hai tác giả đã xây dựng được mô hình nghiên cứu lý thuyết gồm có 7 nhân tố tác động đến CLTT trên BCTC của các CTNY trên TTCKVN. Xây dựng được các biến quan sát đo lường các nhân tố độc lập như đã trình bày ở Chương 3. Sau khi có kết quả nghiên cứu định lượng tác giả tiếp tục phỏng vấn sâu một nhóm chuyên gia nhằm trao đổi và luận giải kết quả nghiên cứu ở Chương 5. 4.2.2. Kết quả nghiên cứu định lượng Kết quả phân tích EFA Bảng 4.12 cho thấy hệ số KMO > 0,5 có đủ điều kiện để tiến hành phân tích nhân tố và sig là 0,000 chứng tỏ các biến quan sát có tương quan với nhau trong nhân tố. Sau đó tác giả tiến hành phân tích thông qua phép xoay vuông góc để tiến hành phân tích.
13 14
H2: Tính hữu hiệu kiểm soát nội bộ tác động tích cực đến CLTT trên BCTC của các CTNY trên TTCKVN. H3: Vận dụng chuẩn mực Báo cáo tài chính quốc tế tác động tích cực đến CLTT trên Kết quả cho thấy có thể rút từ 32 quan sát và tổng phương sai trích được là 73,993%. Kết quả cho thấy các biến quan sát đều có hệ số tải nhân tố lớn hơn so với tiêu chuẩn (0,40) và chênh lệch hệ số tải nhân tố của một biến quan sát giữa các nhân tố > 0,3 nên trong trường hợp này chúng ta không loại biến quan sát nào. BCTC của các CTNY trên TTCKVN. 4.2.5. Kiểm tra sự hội tụ của các biến quan sát của biến độc lập bằng phân H4: Hành vi quản trị lợi nhuận tác động ngược chiều đến CLTT trên BCTC của các tích nhân tố khám phá EFA CTNY trên TTCKVN. H5: Chất lượng kiểm toán độc lập ảnh hưởng tích cực đến CLTT trên BCTC sau kiểm toán của các CTNY trên TTCKVN. H6: Vai trò điều tiết của Ủy ban chứng khoán Nhà nước tác động cùng chiều đến CLTT trên BCTC của các CTNY trên TTCKVN. Các biến được mã hóa và đặt lại tên như sau: Sau khi phân tích hệ số tin cây Cronbach’alpha, các thang đo được đánh giá tiếp theo bằng phương pháp phân tích nhân tố khám phá EFA. Để nhận dạng và xác định các khái niệm liên quan phương pháp phân tích nhân tố khám phá được sử dụng cho các biến quan sát ảnh hưởng đến CLTT trên BCTC sử dụng phương pháp trích Principal Axis Factoring và với phép xoay Promax (Gerbing và Anderson, 1988) và điểm dừng khi trích các yếu tố có Eigenvalues > 1,00. NV: là Nhân viên kế toán (Năng lực và đạo đức nhân viên kế toán) KT: là Chất lượng kiểm toán độc lập HQ: là Hành vi quản trị lợi nhuận KS: là Tính hữu hiệu Kiểm soát nội bộ UB: là Vai trò điều tiết của Ủy ban chứng khoán Nhà nước AC: là Vận dụng chuẩn mực BCTC quốc tế. Mô hình nghiên cứu chính thức như sau:
H1
H4
Từ các biến quan sát các yếu tố ảnh hưởng đến CLTT trên BCTC của các CTNY trên TTCKVN được đưa vào phân tích nhân tố. Kết quả cho thấy KMO = 0.864 thỏa mãn điều kiện KMO > 0.5 (Kaiser, 1974). Như vậy có thể kết luận phân tích nhân tố là thích hợp với các dữ liệu đã có. Tương tự như vậy kết quả kiểm định Barlett < 0,05 như vậy có nghĩa là các biến có quan hệ với nhau và có đủ điều kiện để phân tích nhân tố bằng kiểm định EFA. Kết quả phân tích nhân tố khám phá EFA thể hiện có sáu nhân tố được trích tại Eigenvalues > 1,00 với 35 biến quan sát được nhóm thành sáu nhân tố, tổng phương sai trích là 70,970 cho biết sáu nhân tố này giải thích được 71,001% sự biến thiên của các biến quan sát. Hầu hết các biến quan sát đều có hệ số tải nhân tố > 0,5 tuy nhiên có hai biến quan sát là KS4, KS5 có hệ số tải nhân tố < 0,5 cho nên sẽ bị loại ra để phân tích tiếp các nhân tố.
Nhân viên kế toán
Hành vi quản trị lợi nhuận
+ -
H2
H5
Kết quả cho thấy KMO = 0,860 thỏa mãn điều kiện KMO > 0,5 ( Kaiser, 1974). Như vậy có thể kết luận phân tích nhân tố là thích hợp với các dữ liệu đã có. Tương tụ như vậy kết quả kiểm định Barlett = 0,00 < 0,05 như vậy có nghĩa là các biến có quan hệ với nhau và có đủ điều kiện để phân tích nhân tố bằng kiểm định EFA. + Tính hữu hiệu kiểm soát nội bộ
CLTT trên BCTC
Chất lượng kiểm toán độc lập
+
H3
H6
Kết quả phân tích nhân tố khám phá EFA thể hiện có sáu nhân tố được trích tại Eigenvalues >1,00, 33 biến quan sát được nhóm thành sáu nhân tố, tổng phương sai trích là 72,528 cho biết 6 nhân tố này giải thích được 72,528% sự biến thiên của các biến quan sát. Các biến quan sát của các nhân tố đều có hệ số tải nhân tố lớn hơn 0,5.
Vận dụng chuẩn mực BCTC quốc tế
Như vậy tất cả các thang đo được lựa chọn cho các biến trong mô hình đều
Vai trò điều tiết của UBCKNN
+ đảm bảo yêu cầu và có thể sử dụng trong các phân tích tiếp theo. + Thông qua quá trình phân tích nhân tố tácgiả đặt lại các giải thuyết. Sơ đồ 4.4. Mô hình nghiên cứu chính thức H1: Năng lực và đạo đức của nhân viên kế toán tác động tích cực đến CLTT trên Nguồn: Nghiên cứu của luận án BCTC của các CTNY trên TTCKVN.
15 16
4.2.6. Kiểm định hệ số tương quan kết quả mô hình hồi quy tốt nhất như sau: Tác giả sử dụng mô hình hồi quy đa biến có dạng sau: Bảng 4.14: Sơ đồ hệ số tương quan của các nhân tố CLTTBCTC = bο + b1* NV + b2*KT + b3* HQ + b4* AC + b5* KS + b6* UB + ε Biến NV KT HQ KS UB AC CLBCTC Kiểm định sự phù hợp của mô hình Hệ số tương quan r 1 ,620** ,451** ,366** ,566** ,703** ,802** Bảng 4.15. Bảng tóm tắt mô hình Model Summary NV Mức ý nghĩa ,000 ,000 ,000 ,000 ,000 ,000 Model R R Square Adjusted R Square Std. Error of the Estimate Hệ số tương quan r 1 ,452** ,229** ,665** ,626** ,649** 1 ,857a ,734 ,729 ,38419 KT Mức ý nghĩa ,000 ,000 ,000 ,000 ,000 a. Predictors: (Constant), UB, KS, HQ, AC, KT, NV Hệ số tương quan r 1 ,219** ,396** ,502** ,470** Nguồn: Nghiên cứu của luận án HQ Bảng 4.16. Bảng ANOVAa Mức ý nghĩa ,000 ,000 ,000 ,000
Hệ số tương quan r 1 ,325** ,330** ,445** Model F Sig. Df Sum of Squares Mean Square KS Mức ý nghĩa ,000 ,000 ,000 Regression 139,515 6 23,252 157,531 ,000b Hệ số tương quan r 1 ,512** ,654** 1 Residual 50,629 343 ,148 UB Total 190,143 349 Mức ý nghĩa ,000 ,000 a. Dependent Variable: CLBCTC Hệ số tương quan r 1 ,681** AC b. Predictors: (Constant), UB, KS, HQ, AC, KT, NV Mức ý nghĩa ,000 Nguồn: Nghiên cứu của luận án Hệ số tương quan r 1 CLBCTC Mức ý nghĩa
**. p<0.05 (2-tailed).
Nguồn: Nghiên cứu của luận án Tồn tại mối liên hệ tuyến tính giữa CLTT trên BCTC với ít nhất một trong các yếu tố NV: Nhân viên kế toán; KT: Chất lượng kiểm toán độc lập; HQ: Hành vi quản trị lợi; AC: Áp dụng chuẩn mực BCTC quốc tế, KS: Kiểm soát nội bộ, UB: Vai trò điều tiết của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, (hoặc tất cả các yếu tố) như vậy mô hình được phân tích là phù hợp với các dữ liệu quan sát và có thể khái quát cho tổng thể. Kiểm tra đa cộng tuyến: Các hệ số Tolerance <1 và các hệ số VIF < 3 chứng tỏ các biến độc lập không xảy ra hiện tượng đa cộng tuyến. Phương trình hồi quy tuyến tính: Do đó chấp nhận các giả thuyết sau: Số liệu từ bảng trên, ta thấy các nhân tố NV; KT; KS; UB; AC có mối quan hệ thuận chiều với CLTT trên BCTC. Mức ý nghĩa quan sát được của các nhân tố trên đều nhỏ hơn 0,05 và có hệ số tương quan tuyến tính lần lượt là 0,802; 0,649; 0,470; 0,445; 0,654; 0,681 thể hiện mức độ ảnh hưởng lẫn nhau giữa các nhân tố ở mức khá và có ý nghĩa thực tế. Từ kết quả phân tích tương quan đủ điều kiện để để đưa các biến vào phân tích hồi qui. H1: Năng lực và đạo đức nghề nghiệp của nhân viên kế toán tác động tích cực đến CLTT BCTC của các CTNY trên TTCK Việt Nam. 4.2.7. Phân tích mô hình hồi quy tuyến tính H2: Tính hữu hiệu kiểm soát nội bộ tốt ảnh hưởng tích cực đến CLTT trên BCTC của các CTNY trên TTCK Việt Nam. Sau nhiều lần xử lý mô hình hồi quy bằng phương pháp khác nhau, tác giả lựa chọn phương pháp Enter (đưa tất cả các biến vào phương trình hồi quy) cho
17 18
Thành phần Thích hợp của CLTT trên BCTC của CTNY trên TTCK Việt Nam H3: vận dụng chuẩn mực Báo cáo tài chính quốc tế tác động tích cực đến CLTT trên BCTC của các CTNY trên TTCK Việt Nam. H5: Chất lượng kiểm toán độc lập ảnh hưởng tích cực đến CLTT trên BCTC sau kiểm toán của các CTNY trên TTCK Việt Nam. Được đo bởi 8 biến quan sát và băng 3,23/5 điểm, điều đó có nghĩa là BCTC của các CTNY trên TTCK Việt Nam được trình bày đảm bảo tính thích hợp ở mức khá. Cách xác định giá trị của R theo Beest và cộng sự (2009) và theo Phạm Quốc Thuần (2016). H6: Vai trò điều tiết của UBCKNN tác động tích cực đến CLTT trên BCTC của các CTNY trên TTCK Việt Nam. Thành phần Trình bày trung thực (Faithful representation) Mô hình qui tuyến tính thể hiện tác động của các nhân tố đến CLTT trên BCTC các CTNY trên TTCKVN: Theo kết quả nghiên cứu BCTC của các CTNY được lập và công bố trình bày trung thực ở mức khá là 3,2/5 điểm cách tính giá trị trung bình theo Beest và cộng sự (2009) (2009) và Phạm Quốc Thuần (2016). CLTTBCTC = 3,364 + 0,359* NV + 0,93*KT - 0,032* HQ + 0,066* AC + 0,120* KS + 0,136* UB Thành phần Dễ hiểu của CLTT trên BCTC CỦA CTNY trên TTCK Việt Nam 4.2.8. Đánh giá chất lượng báo cáo tài chính và các nhân tố ảnh hưởng của Theo kết quả nghiên cứu BCTC của các CTNY trên TTCKVN được đánh giá nhóm lập báo cáo và nhóm sử dụng báo cáo là dễ hiểu ở mức tương đối cao 3,60/5 điểm Thành phần Khả năng so sánh (Comparability)
Kết quả khảo sát thể hiện nhóm lập BCTC có 243 người bao gồm các nhân viên kế toán, kế toán trưởng, giám đốc, giám đốc tài chính trong các CTNY. Nhóm sử dụng BCTC gồm 107 người là các nhà đầu tư, các nhà nghiên cứu, kiểm toán viên.
Thông qua kết quả nghiên cứu thấy được BCTC của các CTNY trên TTCKVN về cơ bản khả năng so sánh đáp ứng được ở mức khá cao là 3,36/5 điểm và được trình bày trong Sơ đồ 5.5, cách xác định giá trị trung bình theo Beest và cộng sự (2009) và Phạm Quốc Thuần (2016). Kết quả phân tích ANOVA Independent Samples Test thể hiện hầu hết trong các nhân tố đều có sự khác biệt giữa hai nhóm lập và sử dụng BCTC. Chỉ có hai nhân tố KT và AC là chưa thể hiện có sự khác biệt một cách có ý nghĩa thống kê. Thành phần Kiểm chứng (Verifiability) TÓM TẮT CHƯƠNG 4
Đối với các CTNY việc bảo quản và lưu trữ chứng từ kế toán là cơ sở việc kiểm chứng được đánh giá ở cao 3,7943/5 điểm, bên cạnh đó việc kiểm kê đối chiếu tài sản và công nợ được tiến hành thường xuyên. CHƯƠNG 5. THẢO LUẬN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ KHUYẾN NGHỊ Thành phần Kịp thời (Timeliness) Theo kết quả nghiên cứu, tính kịp thời của BCTC được đánh giá đáp ứng được 5.1. Thảo luận về kết quả yêu cầu của người sử dụng thông tin ở mức 3,56145/5 điểm. 5.1.1. Thảo luận thực trạng chất lượng thông tin báo cáo tài chính của công 5.1.2. Thảo luận thực trạng nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng thông tin ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam báo cáo tài chính công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam CLTT trên BCTC của các CTNY trên TTCK Việt Nam:
Theo kết quả phân tích mô tả và EFA cho thang đo CLTT trên BCTC các CTNY trên TTCK Việt Nam, giá trị CLTT trên BCTC được xác định bằng giá trị trung bình cộng của các biến quan sát và giá trị này bằng 3,4/5 dựa trên kết quả nghiên cứu này thì CLTT trên BCTC của các CTNY trên TTCK Việt Nam ở mức độ tin cậy được, cách tính giá trị trung bình này theo Beest và cộng sự (2013) và Phạm Quốc Thuần (2016). Mô hình nghiên cứu từ cơ sở lý thuyết ban đầu tác giả đề xuất trên cơ sở tổng quan nghiên cứu gồm 14 nhân tố tác động đến CLTT trên BCTC của các CTNY trên TTCKVN. Kết quả nghiên cứu định tính có bảy nhân tố xác định đưa vào mô hình nghiên cứu dự kiến và thực hiện nghiên cứu định lượng là: Năng lực của nhân viên KT, Đạo đức nghề nghiệp của KT, Tính hữu hiệu KSNB, Vận dụng chuẩn mực BCTC quốc tế, Hành vi quản trị lợi nhuận, Vai trò điều tiết của UBCKNN, Chất lượng kiểm toán độc lập.
19 20
Khi tiến hành phân tích EFA mô hình hồi quy xác định có sáu nhân tố tác động đến CLTT trên BCTC các CTNY trên TTCKVN đó là: Nhân viên KT (gồm hai biến độc lập Năng lực nhân viên KT và Đạo đức nghề nghiệp của nhân viên KT), Tính hữu hiệu KSNB, Hành vi QTLN, Chất lượng kiểm toán độc lập, Vai trò điều tiết của UBCKNN, Vận dụng chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế. Đối với nhân tố Vai trò điều tiết của Ủy ban chứng khoán Nhà nước: Trong nghiên cứu này kết quả nghiên cứu cho thấy Vai trò điều tiết của UBCKNN có ảnh hưởng thuận chiều đến CLTT trên BCTC của các CTNY trên TTCKVN. Đây là nhân tố có tác động mạnh thứ hai đến CLTT trên BCTC sau nhân tố Nhân viên kế toán với hệ số 0,176 và sig là 0,00. Đây là nhân tố mới được phát hiện trong nghiên cứu luận án của tác giả. Đối với nhân tố Tính hữu hiệu kiểm soát nội bộ:
Luận án tiếp tục một lần nữa khẳng định mối quan hệ giữa nhân tố kiểm soát nội bộ với CLTT trên BCTC có mối quan hệ thuận chiều như các nghiên cứu trước với hệ số là 0,159 và sig 0,000 đây là nhân tố tác động mạnh thứ ba đến CLTT trên BCTC. Đối với nhân tố Chất lượng kiểm toán độc lập:
Kết quả kiểm định các giả thuyết nghiên cứu cho thấy năm nhân tố ảnh hưởng đến CLTT trên BCTC của các CTNY trên TTCKVN với mức ý nghĩa quan sát nhỏ hơn 0,05 theo mức độ tác động giảm dần là Nhân viên KT, Vận dụng chuẩn mực BCTC quốc tế, Vai trò điều tiết của UBCKNN, Chất lượng kiểm toán độc lập, Hành vi quản trị lợi nhuận, Tính hữu hiệu KSNB và nhân tố Hành vi QTLN ảnh hưởng ngược chiều với mức ý nghĩa dưới 10%. Kết quả nghiên cứu này hoàn toàn phù hợp với nghiên cứu định tính cũng như phù hợp với mục tiêu và đặc điểm của nghiên cứu. Điều đó cho thấy sự lựa chọn phương pháp nghiên cứu là phù hợp, kết quả trọng số hồi quy của các biến độc lập được trình bày trong Bảng 4.25 kết quả cho thấy sáu biến độc lập này giải thích được 72,9% biến phụ thuộc.
Các công trình nghiên cứu trước đã nghiên cứu và cho thấy mối quan hệ giữa kiểm toán độc lập và CLTT trên BCTC, trong nghiên cứu này tác giả một lần nữa khẳng định mối quan hệ thuận chiều của nhân tố kiểm toán độc lập với CLTT trên BCTC.
Đối với nhân tố vận dụng chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế: Được xem là nhân tố mới đối với nghiên cứu này. Các công trình nghiên cứu trước đây của các tác giả nghiên cứu ở Nigeria cho thấy sau khi áp dụng chuẩn mực BCTC quốc tế thì CLTT trên BCTC tăng lên. Trong nghiên cứu này cho thấy việc vận dụng chuẩn mực BCTC quốc tế làm tăng CLTT trên BCTC của các CTNY trên TTCK Việt Nam với hệ số là 0,086 và sig là 0,000. Đối với nhân tố Hành vi quản trị lợi nhuận:
Trong đó có hai nhân tố là nhân tố mới ảnh hưởng đến CLTT trên BCTC các CTNY được khẳng định từ công trình nghiên cứu này đó là Vận dụng chuẩn mực BCTC được đo lường thông qua năm biến quan sát, Vai trò điều tiết của UBCKNN đo lường qua ba biến quan sát. Kế quả nghiên cứu cũng cho thấy đối với nhân tố Nhân viên KT trong nghiên cứu này có các chỉ báo về đạo đức nghề nghiệp KT từ DD1, DD2, DD3, DD4, DD5, NL2 là phát hiện mới. Với nhân tố Hành vi QTLN có chỉ báo mới phát triển trong nghiên cứu này từ là HQ1, tuy nhiên kết quả phân tích hồi quy chưa có đủ bằng chứng để chứng minh nhân tố Hành vi QTLN có quan hệ ngược chiều với CLTT trên BCTC của các CTNY với mức ý nghĩa là 5% kết quả này khác với các nghiên cứu trước đây.
Đồng thời luận án nghiên cứu CLTT trên BCTC dưới hai góc độ của người lập BCTC (CTNY - bên phát hành BCTC) và người sử dụng BCTC. Kết quả phân tích ANOVA Independent Samples Test cho thấy có sự đánh giá khác nhau của hai nhóm đối tượng nghiên cứu này về CLTT trên BCTC và các nhân tố ảnh hưởng, tuy nhiên có hai nhân tố AC, KT là sự khác biệt không rõ dệt về mặt ý nghĩa thống kê. Đối với nhân tố Nhân viên kế toán:
Kết quả nghiên cứu của tác giả trong công trình này tiếp tục khẳng định hành vi quản trị lợi nhuận có mối quan hê ngược chiều với CLTT trên BCTC nhưng với p = 0,082. Hành vi quản trị lợi nhuận là hành vi tác động làm kế toán không có đủ sự độc lập để thực hiện công việc phù hợp với chuẩn mực và nguyên tắc trong kế toán trong khi đó đối tượng trả lời phiếu khảo sát của đề tài là các kế toán và phụ trách kế toán của các CTNY là chủ yếu chiếm tỷ lệ trên 60% tổng số phiếu khảo sát thu về được sử dụng trong nghiên cứu của đề tài, mà vấn đề này thực sự là vấn đề nhạy cảm trong quá trình thực hiện công việc của kế toán chính vì lẽ đó họ có tâm lý né tránh đối với câu trả lời này. Vì vậy, tác giả tiến hành thảo luận nhóm với các chuyên gia để tiếp tục phỏng vấn sâu và luận giải kết quả nghiên cứu này. Nhân viên kế toán ảnh hưởng đến CLTT trên BCTC đã được nghiên cứu ở nhiều công trình trước và kết quả nghiên cứu của luận án một lần nữa khẳng định mối quan hệ này. Trong nghiên cứu này đã chỉ ra đây là nhân tố có tác động mạnh nhất đến CLTT trên BCTC với hệ số là 0,476 và sig là 0,000.
21 22
5.2. Các khuyến nghị đề xuất để nâng cao chất lượng thông tin trên báo Thứ tư: Cần có những chính sách khuyến khích, hỗ trợ cho các CTNY sớm cáo tài chính áp dụng chuẩn mực BCTC quốc tế. 5.2.4. Nâng cao chất lượng kiểm toán độc lập 5.2.1. Nâng cao năng lực và đạo đức nghề nghiệp nhân viên kế toán Đối với Nhân viên kế toán: Kiểm toán cần tích lũy kinh nghiệm và mức độ chuyên sâu chuyên môn nghề nghiệp. Công ty kiểm toán, công ty niêm yết được kiểm toán cần đảm bảo tính độc lập của kiểm toán viên trong quá trình kiểm toán.
Thứ nhất, mỗi kế toán hiểu và nhận thức được trọng trách quan trọng về CLTT trên BCTC mà họ cung cấp cho các đối tượng, do vậy cần nâng cao trình độ chuyên môn, kiến thức chuyên ngành, tiếng anh, tin học ngay từ khi ngồi trên ghế nhà trường, nhất là trong thời đại cách mạng công nghiệp 4.0, hội nhập KT như hiện nay. Thứ hai, kế toán cần tránh các nguy cơ xâm phạm đạo đức nghề nghiệp. Công ty kiểm toán, công ty niêm yết được kiểm toán cần đảm bảo thời gian của cuộc kiểm toán, thực hiện đúng quy trình, thủ tục kiểm toán để đảm bảo chất lượng của cuộc kiểm toán đảm bảo độ tin cậy BCTC sau khi đã được kiểm toán. Thứ ba, kế toán cần nâng cao đạo đức nghề nghiệp. Đối với CTNY: CTNY cần xây dựng hệ thống kiểm soát nội bộ phòng ngừa các nguy cơ từ việc tổn hại đạo đức nghề nghiệp KT.
Quy mô công ty kiểm toán ảnh hưởng đến CL kiểm toán BCTC, vì vậy các CTNY cần lựa chọn các công ty có quy mô lớn thường là Big 4 thì chất lượng kiểm toán BCTC sẽ tốt hơn, điều này được khẳng định trong các nghiên cứu trước vì các công ty có quy mô lớn, thì các kiểm toán viên có trình độ chuyên môn sâu. nhiều kinh nghiệm, quy trình, thủ tục kiểm toán cũng như đánh giá chất lượng kiểm toán của các công ty này rất được chú trọng do vậy BCTC đã được kiểm toán thường có độ tin cậy cao hơn. Tăng cường tổ chức tập huấn chuyên môn nghề nghiệp, kỹ năng giải quyết công việc, bồi dưỡng về tiếng anh, tin học và cập nhật văn bản hướng dẫn chế độ kế toán, chuẩn mực kế toán cho đội ngũ nhân viên kế toán. Đối với Nhà nước và các tổ chức nghề nghiệp 5.2.2. Nâng cao tính hữu hiệu kiểm soát nội bộ Đối với cơ quan quản lý Nhà nước: Cần thiết đưa ra khung giá phí kiểm toán là căn cứ định lượng để đánh giá và kiểm soát đối với hoạt động dịch vụ kiểm toán của các công ty kiểm toán độc lập. Tăng cường vai trò của Hiệp hội nghề nghiệp kiểm toán VACPA:
Từ kết quả đó tác giả đề xuất một số khuyến nghị đối với các CTNY như sau: Chú trọng đến xây dựng môi trường KSNB, thực hiện đánh giá rủi ro, xây dựng hệ thống thông tin và truyền thông, thực hiện giám sát, dưới góc độ của kiểm soát cần thành lập bộ phận kiểm toán nội bộ. Bộ tài chính đã trao trách nhiệm kiểm soát chất lượng dịch vụ kiểm toán cho VACPA theo thông tư 157/2014/ TT-BTC. Vì vậy, VACPA cần xây dựng các tiêu chuẩn và quy trình kiểm soát chất lượng đối với dịch vụ kiểm toán. Đối với các cơ quan quản lý của Nhà nước. 5.2.5. Tăng cường vai trò điều tiết của Ủy ban chứng khoán Nhà nước 5.2.3. Tăng cường vận dụng chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế
Thứ nhất: Cần hoàn thiện một số chính sách, cơ chế, hướng dẫn và khung pháp lý chưa hoàn thiện, do vậy các doanh nghiệp thiếu căn cứ pháp lý để lập BCTC theo IFRS như việc ghi nhận tổn thất tài sản, công cụ tài chính phái sinh và một số kỹ thuật để thực hiện xác định tổn thất lợi thế thương mại... rất phức tạp sẽ gây ra không ít khó khăn cho doanh nghiệp. Thứ hai: CTNY cần chuẩn bị nguồn kinh phí để đầu tư về trang thiết bị máy móc, công nghệ thông tin, phần mềm KT Đối với cơ quan quản lý Nhà nước tăng cường các chế tài xử phạt hành chính đối với các hành vi vi phạm về CLTT trên BCTC của các CTNY trên TTCK Việt Nam. Đối với những trường hợp vi phạm nghiêm trọng cần có hình thức xử phạt nghiêm minh có tính răn đe đối với các CTNY khác, có thể bị hủy niêm yết, hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các nhân vi phạm. Bên cạnh đó, có các biện pháp công khai thông báo rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng về các CTNY vi phạm, để răn đe và hạn chế việc vi phạm của các CTNY khác và các nhà đầu tư, cổ đông của doanh nghiệp biết được nhằm hạn chế rủi ro khi ra quyết định. Thứ ba: CTNY cần nâng cao trình độ năng lực chuyên môn và ngoại ngữ của nhân viên KT nhiều doanh nghiệp chưa thể đáp ứng để áp dụng ngay IAS/IFRS. Đối với các kế toán viên, kiểm toán viên khi thực hiện các hành vi vi phạm đạo đức nghề nghiệp có thể cấm không cho hành nghề kế toán, kiểm toán có thời hạn
23 24
hoặc vĩnh viễn, điều đó tạo hành lang pháp lý để định hướng hành vi của các kế toán viên, kiểm toán viên. 5.2.6. Hạn chế tác động tiêu cực của Hành vi quản trị lợi nhuận
Thứ nhất: Trên cơ sở tổng quan nghiên cứu luận án đã tổng hợp được các tiêu chí đánh giá CLTT trên BCTC các CTNY, qua thảo luận nhóm xác định các tiêu chí phù hợp, cũng như phát triển một số chỉ báo mới từ nghiên cứu định tính. Các tiêu chí này được kiểm định, phân tích độ tin cậy, sự phù hợp để đánh giá CLTT trên BCTC của các CTNY trên TTCKVN.
Để hạn chế hành vi này đối với CTNY cần thực hiện cam kết về đạo đức kinh doanh của nhà quản lý, xây dựng môi trường văn hóa DN lành mạnh, cơ chế khen thưởng hữu hiệu, xây dựng kênh thông tin nội bộ hữu hiệu như đường xây nóng để các cán bộ, nhân viên trong công ty có thể báo cáo kịp thời các sai phạm nếu phát hiện. Thực ra chế độ đãi ngộ về lương và thưởng đối với đội ngũ cán bộ quản lý trong các CTNY còn chưa phù hợp, cần xây dựng tiêu chí lương thưởng dành cho đối ngũ quản lý dựa trên hiệu quả của công việc cho cả một thời kỳ gắn với sự phát triển về giá trị của công ty thay vì dựa trên các chỉ tiêu tỷ suất lợi nhận hàng nằm để làm căn cứ khen thưởng. Hoặc có chính sách gắn lợi ích của họ với lợi ích lâu dài của công ty bằng cách thưởng bằng cổ phiếu, khen thưởng bằng cổ phiếu. Phát huy vai trò của KSNB phát hiện, ngăn ngừa các hành vi QTLN trong CTNY. Thứ hai: Luận án đã xác định các nhân tố ảnh hưởng và mức độ ảnh hưởng của các nhân tố này đến CLTT trên BCTC. Cụ thể kết quả mô hình hồi quy đã xác định được sáu nhân tố ảnh hưởng đó là: Nhân viên kế toán, Tính hữu hiệu kiểm soát nội bộ, Chất lượng kiểm toán độc lập, Vận dụng chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế, Vai trò điều tiết của Ủy ban chứng khoán Nhà nước và Hành vi quản trị lợi nhuận, sáu nhân tố này giải thích được 72,9% biến phục thuộc. Trong đó có hai nhân tố được xem là nhân tố mới của nghiên cứu này đó là Vận dụng chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế, Vai trò điều tiết của Ủy ban chứng khoán Nhà nước trong. Nhân tố nhân viên kế toán có sáu biến quan sát được phát hiện mới trong nghiên cứu này. Tuy nhiên, nhân tố Hành vi QTLN tác động đên CLTT trên BCTC với mức ý nghĩa là 8,2%.
Cơ quan quản lý Nhà nước cần tiếp tục hoàn thiện chuẩn mực KT, các chế độ KT và các quy định khác của Nhà nước. Chuẩn mực KT nên được sửa đổi, hoàn thiện để tối thiểu hóa những sơ hở có thể thực hiện hành vi điều chỉnh lợi nhuận, cần tiếp cận gần hơn các chuẩn mực BCTC quốc tế, tiến tới áp dụng IFRS nhằm giảm thiểu những tranh luận và xử lý kế toán không nhất quán tại các CTNY, góp phần nâng cao CLTT trên BCTC các CTNY trên TTCKVN. Thứ ba: Đồng thời luận án nghiên cứu CLTT trên BCTC dưới hai góc độ của người lập và người sử dụng BCTC. Kết quả cho thấy có sự đánh giá khác nhau về CLTT trên BCTC và nhân tố ảnh hưởng từ hai đối tượng nghiên cứu, song có hai nhân tố chất lượng kiểm toán độc lập và vận dụng chuẩn mực BCTC quốc tế cho thấy chưa có sự khác biệt đáng kể về mặt ý nghĩa thống kê. Đối với cơ quan quản lý nhà nước cần có hệ thống pháp luật nghiêm minh, xử Thứ tư: Từ kết quả nghiên cứu và thảo luận kết quả nghiên cứu đã đề xuất một số khuyến nghị để nâng cao CLTT trên BCTC của các CTNY trên TTCKVN. lý nghiêm những hành vi gian lận trên BCTC.
Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát từ bên trong doanh nghiệp bởi hệ thống kiểm soát nội bộ nhằm phát hiện, ngăn ngừa và hạn chế các sai phạm, hành vi gian lận trên BCTC.
KẾT LUẬN Trong khi thực hiện nghiên cứu vì giới hạn về thời gian và các nguồn lực khác nên đề tài còn một số hạn chế nhất định. Do đó, các nghiên cứu trong thời gian tới có thể tiếp tục phát triển các thang đo, mở rộng nghiên cứu phát hiện các nhân tố mới để đem lại những đóng góp ý nghĩa cả về lý thuyết và thực tiễn để nâng cao CLTT trên BCTC của các CTNY trên TTCKVN nói riêng và các DN nói chung.
Với sự phát triển của TTCK như hiện nay, tạo ra dòng chảy vốn không biên giới, tạo niềm tin cho các nhà đâu tư trong và ngoài nước thì nâng cao CLTT trên BCTC các CTNY là sự cần thiết.
Tác giả dựa trên cơ sở tổng quan nghiên cứu về CLTT trên BCTC và các nhân tố ảnh hưởng nhằm xác định các nhân tố ảnh hưởng, xây dựng các tiêu chí đánh giá, đo lường CLTT trên BCTC và các nhân tố ảnh hưởng. Từ đó đề xuất mốt sô khuyến nghị cải thiện, nâng cao CLTT trên BCTC của các CTNY trên TTCKVN. Với mục tiêu như vậy luận án đã giải quyết được những nội dung sau:

