VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ THỊ TUYẾT HÀ
TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ DO VI PHẠM HỢP ĐỒNG
THƢƠNG MẠI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 62 38 01 07
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
TS. PHẠM KIM ANH
TS. NGUYỄN THỊ KIM VINH
HÀ NỘI – 2016
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu nêu
trong luận án là trung thực. Những kết luận khoa học của luận án chưa từng được ai
công bố trong bất kỳ công trình nào khác
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Lê Thị Tuyết Hà
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .................................................................................................................... 1
Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CÁC VẤN ĐỀ
LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN .................................................................................. 8
1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu về trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng
thương mại .................................................................................................................. 8
1.2. Cơ sở lý thuyết, giả thuyết nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu của luận án........... 32
Kết luận chƣơng 1 ................................................................................................... 35
Chƣơng 2: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ DO
VI PHẠM HỢP ĐỒNG THƢƠNG MẠI .............................................................. 37
2.1. Vi phạm hợp đồng thương mại .......................................................................... 37
2.2. Trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng thương mại .................................... 47
2.3. Biện pháp trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng thương mại .................... 56
2.4. Phân định trường hợp không chịu trách nhiệm do không thể thực hiện hợp đồng
và miễn, giảm trách nhiệm ........................................................................................ 69
Kết luận chƣơng 2 .................................................................................................. 77
Chƣơng 3: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ DO
VI PHẠM HỢP ĐỒNG THƢƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM................................. 79
3.1. Quy định pháp luật về trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng thương mại
theo Luật Thương mại ............................................................................................... 79
3.2. Thực tiễn áp dụng trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng thương mại tại
Việt Nam ................................................................................................................... 94
Kết luận chƣơng 3 ................................................................................................ .112
Chƣơng 4: ĐỊNH HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN VỀ TRÁCH
NHIỆM PHÁP LÝ DO VI PHẠM HỢP ĐỒNG THƢƠNG MẠI ................... 113
4.1. Những yêu cầu nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam về trách nhiệm pháp lý do
vi phạm hợp đồng thương mại ................................................................................ 113
4.2. Định hướng cơ bản hoàn thiện pháp luật Việt Nam về trách nhiệm pháp lý do vi
phạm hợp đồng thương mại .................................................................................... 117
4.3. Giải pháp hoàn thiện về trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng thương mại
theo LTM năm 2005 ................................................................................................ 123
Kết luận chƣơng 4 ................................................................................................. 147
KẾT LUẬN ............................................................................................................ 148
CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN ........................ 151
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................. 152
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN
ADBPKCTT: Áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời
APEC: Diễn đàn hợp tác Kinh tế châu Á – Thái Bình Dương
ASEAN: Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
ASEM: Hội nghị Á- Âu
BLDS: Bộ luật Dân sự
BLHH: Bộ luật Hàng hải Việt Nam
BLTTDS: Bộ luật Tố tụng Dân sự
BTTH: Bồi thường thiệt hại
Công ước Viên về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế năm 1980 CƯV:
DNTN: Doanh nghiệp tư nhân
HĐTM: Hợp đồng thương mại
KDTMPT: Kinh doanh thương mại phúc thẩm
KDTMST: Kinh doanh thương mại sơ thẩm
LDN: Luật Doanh nghiệp
LHKDDVN: Luật Hàng không dân dụng Việt Nam
LTM 1997: Luật Thương mại năm 1997
LTM 2005: Luật Thương mại năm 2005
NĐ: Nghị định
PICC: Bộ nguyên tắc châu Âu về hợp đồng thương mại quốc tế bản 2010
PLHĐKT: Pháp lệnh hợp đồng kinh tế
SKBKK: Sự kiện bất khả kháng
TAND: Tòa án nhân dân
TANDTC: Tòa án nhân dân tối cao
TPP: Hiệp định đối tác thương mại xuyên Thái Bình Dương
TPHCM: Thành phố Hồ Chí Minh
UBTVQH: Ủy ban thường vụ Quốc hội
UCC: Bộ luật Thương mại thống nhất Hoa kỳ
VKSNDTC: Viện kiểm sát Nhân dân tối cao
WTO: Tổ chức Thương mại thế giới
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hoạt động phòng ngừa, ngăn chặn các hành vi vi phạm hợp đồng nhằm bảo
đảm trật tự và tạo sự công bằng giữa các chủ thể trong quan hệ hợp đồng là yêu cầu
cần thiết trong việc thiết lập và xây dựng môi trường kinh doanh lành mạnh nhằm
thúc đẩy nền kinh tế Việt Nam ngày càng phát triển theo xu hướng hội nhập quốc tế.
Trong những năm vừa qua, vi phạm hợp đồng thương mại có xu hướng gia
tăng nhanh chóng, đặc biệt xuất hiện những hành vi vi phạm mang tính chất phức
tạp, nghiêm trọng và vi phạm những hợp đồng có giá trị kinh tế cao. Chẳng hạn,
theo số liệu thống kê những vụ vi phạm hợp đồng do tòa án Việt Nam thụ lý giải
quyết theo thủ tục sơ thẩm trong 8 năm, từ năm 2006 (kể từ khi LTM 2005 có hiệu
lực) đến năm 2014, cụ thể, từ năm 2006 đến 2011 (5 năm) là 38077 vụ việc, nhưng
từ năm 2012 đến năm 2014 (3 năm) là 48524 vụ việc [207, tr.19]. Qua đây tác giả
nhận thấy rằng, số vụ vi phạm HĐTM trong ba năm gần đây tăng lên đáng kể so với
những năm trước. Điều đó chứng tỏ rằng, một phần nguyên nhân là do việc nhận
thức, quy định và thực thi về chế độ trách nhiệm pháp lý do vi phạm HĐTM chưa
hợp lý và đây có thể xem là một trong những tác nhân gây ra tình trạng vi phạm
HĐTM nghiêm trọng trong giai đoạn hiện nay.
Để ngăn chặn hành vi vi phạm HĐTM, chúng ta có thể thực hiện bằng nhiều
hình thức khác nhau như đề cao đạo đức trong kinh doanh, nâng cao ý thức pháp
luật, tuyên truyền phổ biến pháp luật cho các chủ thể kinh doanh. Trong đó, xác
định và áp dụng đúng trách nhiệm pháp lý trong thương mại (chế tài thương mại) là
biện pháp pháp luật đặc biệt, góp phần trong việc ngăn chặn hiệu quả các hành vi vi
phạm.Vì vậy, trong các văn bản pháp luật về thương mại như PLHĐKT, LTM
1997, nhà nước luôn có những quy định khá cụ thể về chế định trách nhiệm pháp lý
do vi phạm HĐTM. Hiện nay, quy định về trách nhiệm pháp lý do vi phạm HĐTM
(chế tài thương mại) tiếp tục được khẳng định trong LTM 2005. Tuy nhiên, một số
quy định về trách nhiệm pháp lý do vi phạm HĐTM vẫn còn bộc lộ một số bất cập
gây khó khăn trong công tác áp dụng pháp luật và giải quyết tranh chấp có liên
quan. Các hành vi vi phạm hợp đồng, căn cứ áp dụng trách nhiệm, các biện pháp
trách nhiệm, các trường hợp miễn trừ trách nhiệm vẫn là các vấn đề còn tranh cãi
trong giới luật học, đặc biệt là cách thức áp dụng các biện pháp trách nhiệm pháp lý
1
cho từng hành vi vi phạm HĐTM. Những vấn đề này cần phải tiếp tục được làm rõ
và đề xuất giải pháp pháp lý nhằm khắc phục, hoàn thiện.
So sánh LTM 2005 của Việt Nam với PICC, CƯV và văn bản pháp luật quy
định về trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng của một số quốc gia (Mỹ, Pháp,
Trung Quốc, Nhật Bản, Anh, Nga, …) còn nhiều điểm chưa tương đồng. Trong bối
cảnh nền kinh tế Việt Nam hội nhập sâu rộng như hiện nay đòi hỏi phải cần sửa đổi,
bãi bỏ một số quy định chưa phù hợp và ban hành những quy định mới về trách
nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng mang tính thích ứng cao theo xu hướng tiếp thu
có chọn lọc những điểm tiến bộ của các văn bản pháp luật của quốc tế.
Về lý luận, có nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoài nước, phân tích về
trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng, đặc biệt là trách nhiệm pháp lý do vi
phạm HĐTM. Trong số các công trình nghiên cứu về vấn đề này, các tác giả đã có
một số ý kiến tương đồng về mặt lý luận, về các quy định pháp luật, tuy nhiên còn
một số nội dung về trách nhiệm pháp lý do vi phạm HĐTM vẫn chưa thống nhất
quan điểm với nhau. Ngoài ra, việc quy định và áp dụng trách nhiệm pháp lý do vi
phạm HĐTM cho các thương nhân phải xác định ở mức độ khác biệt so với việc áp
dụng trách nhiệm do một cá nhân bình thường (không phải là thương nhân) vi phạm
hợp đồng dân sự. Theo đó, luật pháp hiện hành quy định chưa hoàn toàn nhất quán
về hai hoạt động này.
Từ những lý do trên tác giả lựa chọn đề tài “Trách nhiệm pháp lý do vi phạm
hợp đồng thương mại ở Việt Nam hiện nay ” làm luận án tiến sỹ luật học.
2. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ của đề tài
2.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận, khảo sát thực trạng pháp luật và thực tiễn áp
dụng pháp luật về trách nhiệm pháp lý do vi phạm HĐTM tại Việt Nam, đối chiếu
với quy định về trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng của một số quốc gia trên
thế giới, PICC và CƯV. Tác giả nghiên cứu vấn đề này dựa trên quan điểm kế thừa,
tiếp thu có chọn lọc các vấn đề về lý luận, các quy định pháp luật, tiếp tục sửa đổi,
bãi bỏ quy định chưa phù hợp hoặc bổ sung những nội dung mới hoàn thiện hơn, từ
đó nhằm áp dụng biện pháp trách nhiệm phù hợp khi có hành vi vi phạm hoặc giảm
thiểu tình trạng vi phạm HĐTM, các chủ thể ký kết nhiều HĐTM và các hợp đồng
này được thực hiện tốt, ít có vi phạm, không dẫn đến kết quả phải hủy hợp đồng
hoặc giảm thiểu tình trạng xảy ra tranh chấp hợp đồng giữa các chủ thể hợp đồng.
2
Tác giả hy vọng góp phần làm phong phú thêm về cơ sở lý luận, hoàn thiện các quy
định pháp luật, thực tiễn thực thi về trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng
HĐTM. Cụ thể là làm sáng tỏ và hoàn thiện hơn về vi phạm hợp đồng thương mại,
các căn cứ áp dụng trách nhiệm, các biện pháp trách nhiệm do vi phạm hợp đồng,
các trường hợp miễn, giảm trách nhiệm do vi phạm hợp đồng.
2.2. Nhiệm vụ đề tài
Đề tài có nhiệm vụ giải quyết những vấn đề sau đây:
Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận chung về trách nhiệm pháp lý do vi phạm
HĐTM như sau: Khái niệm và đặc điểm về trách nhiệm pháp lý do vi phạm HĐTM,
các loại vi phạm HĐTM; Làm rõ căn cứ xác định trách nhiệm do vi phạm hợp
đồng; Các biện pháp trách nhiệm pháp lý; Các hình thức miễn trách nhiệm khi vi
phạm hợp đồng.
Nghiên cứu thực trạng pháp luật, thực tiễn áp dụng pháp luật về trách nhiệm
pháp lý do vi phạm HĐTM ở Việt Nam, cụ thể nghiên cứu về mối quan hệ giữa
LTM 2005 và các văn bản pháp luật có liên quan, những nội dung chồng chéo, mâu
thuẫn, bất cập của quy định trách nhiệm pháp lý do vi phạm HĐTM, đánh giá thực
trạng quy định về trách nhiệm hợp đồng. Từ đó, tác giả đưa ra định hướng sửa đổi,
bổ sung những quy định của các văn bản pháp luật về trách nhiệm HĐTM của Việt
Nam. Hơn nữa, tác giả cũng phân tích thực tiễn giải quyết tranh chấp về vi phạm
HĐTM thông qua các bản án được cơ quan có thẩm quyền giải quyết tại Việt Nam.
Bên cạnh đó, tác giả còn đánh giá sự phù hợp giữa quy định trong các văn bản quy
phạm pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật.
Đề tài tiếp tục nghiên cứu một số nhận thức trong lý luận và đề xuất những
kiến nghị, giải pháp pháp lý cụ thể cho việc sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật
Việt Nam hiện hành về trách nhiệm pháp lý do vi phạm HĐTM.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
3.1. Đối tƣợng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu trách nhiệm pháp lý do vi phạm HĐTM, cụ thể là: các tư
liệu có liên quan đến trách nhiệm pháp lý do vi phạm HĐTM; vấn đề lý luận về
trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng thương mại; các quy định pháp luật của
Việt Nam về trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng thương mại, nghiên cứu các
giải pháp để hoàn thiện trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng thương mại.
Ngoài ra, đối tượng nghiên cứu còn có các văn kiện của Đảng và Nhà nước liên
3
quan đến trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng thương mại; các báo cáo tổng
kết của TANDTC; Thực tiễn giải quyết các vụ tranh chấp do vi phạm hợp đồng
thương mại của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Về mặt nội dung: Tác giả tập trung nghiên cứu quy định trách nhiệm pháp lý
do vi phạm HĐTM trong LTM hiện hành, theo đó, (i) Nghiên cứu trách nhiệm pháp
lý do vi phạm HĐTM (bao gồm hợp đồng kinh doanh – thương mại) trên nền tảng
quy định về hợp đồng dân sự, không nghiên cứu về trách nhiệm pháp lý do vi phạm
hợp đồng lao động, (ii) đề tài nghiên cứu các loại trách nhiệm pháp lý do vi phạm
HĐTM khi hợp đồng được ký kết một cách hợp pháp, có hiệu lực ràng buộc các bên
chủ thể trong hợp đồng, còn những vấn đề trách nhiệm do hành vi vi phạm về tiền
HĐTM, trách nhiệm khi HĐTM bị vô hiệu không thuộc phạm vi nghiên cứu trong
tác giả này. Măc dù, tác giả nghiên cứu về trách nhiệm do vi phạm HĐTM được
quy định trong LTM hiện hành nhưng không có nghĩa là không nghiên cứu so sánh
đối chiếu những vấn đề này trong BLDS 2005 và BLDS 2015 và các văn bản pháp
luật có liên quan.
Về không gian: Tác giả tập trung nghiên cứu thực trạng giải quyết tranh chấp
về trách nhiệm pháp lý do vi phạm HĐTM (kinh doanh – thương mại) do các cơ
quan xét xử tại một số tỉnh, thành phố lớn tại Việt Nam như TP.HCM, Hà Nội, Đà
Nẵng, Khánh Hòa, Cần Thơ. Cụ thể, những bản án ở hai cấp sơ thẩm, phúc thẩm
của tòa án cấp quận, huyện và cấp thành phố, thành phố trực thuộc trung ương.
Về mặt thời gian: Tác giả nghiên cứu những bản án được tòa án căn cứ vào
những quy định của LTM 2005 để xử lý, là phân tích những bản án được cơ quan
có thẩm quyền xét xử từ năm 2006 đến nay.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh, quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước ta trong thời kỳ đổi mới và hội
nhập quốc tế, tác giả tập trung sử dụng một số phương pháp chủ yếu: phương pháp
thống kê, tổng hợp, phân tích, phương pháp so sánh giữa các công trình nghiên cứu
những nội dung có liên quan đến vấn đề trách nhiệm pháp lý do vi phạm HĐTM.
Các phương pháp này được sử dụng rải rác trong nhiều chương khác nhau của luận
án như phân tích làm rõ các loại trách nhiệm pháp lý do vi phạm HĐTM, phân tích,
đánh giá tính phù hợp giữa quy định pháp luật hiện hành với thực tiễn áp dụng pháp
4
luật. Cụ thể, chương 1, sử dụng phương pháp thu thập, tổng hợp, phân loại từng
nhóm tài liệu nhằm sơ lược những nội dung mà các công trình có liên quan đến đề
tài để phân tích, đánh giá nội dung mà các công trình này đã nghiên cứu. Từ đó nêu
ra những nội dung mà đề tài tiếp tục nghiên cứu. Tiếp theo, trong chương 2, tác giả
sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp lý luận theo từng nhóm nội dung để
nghiên cứu sâu sắc hơn. Tổng hợp để tạo ra một hệ thống lý luận mang tính đầy đủ
và lô gích hơn. Bên cạnh đó, có sử dụng phương pháp so sánh giữa các quan điểm
lý luận khác nhau có liên quan đến đề tài. Hơn nữa, luận án còn sử dụng phương
pháp phân loại và hệ thống hóa lý luận theo từng nhóm quan điểm khác nhau nhằm
làm phong phú thêm sự hiểu biết về trách nhiệm pháp lý do vi phạm HĐTM đầy đủ
hơn. Trong chương này, tác giả cũng sử dụng phương pháp lịch sử để nghiên cứu
nguồn gốc hình thành những quy định về nội dung của đề tài từ đó rút ra sự phát
triển trong quy định của trách nhiệm pháp lý do vi phạm HĐTM. Với chương 3, sử
dụng phương pháp thu thập, thống kê, phân loại và hệ thống hóa các bản án theo
từng nhóm loại trách nhiệm. Theo đó, luận án còn sử dụng phương pháp phân tích,
so sánh giữa quy định pháp luật và thực tiễn giải quyết vụ án. Chương 4, tác giả sử
dụng phương pháp đánh giá, kiểm nghiệm thực tiễn và giả thuyết dự đoán về quy
định trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng thương mại để tiếp tục chứng minh
những giải pháp là phù hợp với thực tiễn trong tương lai.
Ngoài ra, luận án còn được nghiên cứu trên cơ sở xem xét, so sánh tính phổ
biến của pháp luật và thông lệ quốc tế về trách nhiệm pháp lý do vi phạm HĐTM
với các quy định của pháp luật Việt Nam trong điều kiện kinh tế hội nhập như hiện
nay. Tác giả cũng kết hợp chặt chẽ giữa lý luận và thực tiễn trong việc nghiên cứu
và giải quyết những vấn đề mà đề tài đặt ra.
5. Những đóng góp mới về mặt khoa học của đề tài
Kết quả nghiên cứu được thể hiện trong luận án có một số điểm mới sau đây:
Một là, tác giả phân tích và làm rõ về khái niệm về vi phạm HĐTM, đặc điểm
riêng của vi phạm HĐTM, tiếp tục phân tích sâu hơn về những loại vi phạm như vi
phạm nghiêm trọng, vi phạm trước thời hạn, vi phạm hợp đồng do bên thứ ba vi
phạm. Tác giả xác định lỗi cố ý của bên vi phạm là căn cứ để khẳng định có hành vi
vi phạm nghiêm trọng hợp đồng. Hơn nữa, tác giả xác định bổ sung thông báo,
khiếu nại trong thương mại, thời hiệu khởi kiện là căn cứ để xác định trách nhiệm
pháp lý do vi phạm HĐTM.
5
Hai là, dựa trên các nghiên cứu trước đây, tác giả xây dựng khái niệm trách
nhiệm pháp lý do vi phạm HĐTM (trên cơ sở khái niệm trách nhiệm pháp lý do vi
phạm hợp đồng), phân tích những đặc điểm riêng của nhiệm trách nhiệm pháp lý do
vi phạm HĐTM.
Ba là, trong mỗi chương, tác giả đều chỉ ra những điểm bất cập, thiếu sót của
pháp luật hiện hành và của thực tiễn áp dụng và từ đó để đưa ra những kiến nghị
hoàn thiện pháp luật đối với các quy định về trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp
đồng thương mại, hoàn thiện các quy định về căn cứ xác định trách nhiệm do vi
phạm hợp đồng, các biện pháp trách nhiệm do vi phạm hợp đồng thương mại như
buộc tiếp tục thực hiện hợp đồng, tạm ngừng thực hiện hợp đồng, phạt vi phạm,
BTTH, hủy hợp đồng. Hoàn thiện các trường hợp miễn, giảm trách nhiệm do vi
phạm hợp đồng thương mại. Phân biệt trường hợp miễn giảm trách nhiệm với
không phải chịu trách nhiệm do không thể thực hiện được hợp đồng.
Bốn là, phân tích thực tiễn áp dụng các quy định về trách nhiệm pháp lý do vi
phạm hợp đồng thương mại. Từ thực tiễn pháp luật, thực thi pháp luật về trách
nhiệm pháp lý do vi phạm HĐTM tác giả phân tích nhận thức pháp luật của các chủ
thể áp dụng, chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật có liên quan. Tìm hiểu và phân
tích kinh nghiệm xây dựng và áp dụng pháp luật về nội dung pháp luật tương ứng
theo công ước quốc tế, một số nước trên thế giới để tiếp thu những điểm phù hợp
nhằm hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm pháp lý do vi phạm HĐTM trong LTM
năm 2005.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
Đề tài nghiên cứu có hệ thống các vấn đề pháp lý liên quan tới trách nhiệm
pháp lý do vi phạm HĐTM, đưa ra định hướng và đề xuất các kiến nghị cụ thể mà
kết quả có thể làm cơ sở khoa học cho việc xây dựng và hoàn thiện chế định về
trách nhiệm pháp lý do vi phạm HĐTM của Việt Nam. Nghiên cứu này của đề tài
góp phần tăng cường hiệu quả trong việc điều chỉnh chế định về trách nhiệm pháp
lý do vi phạm HĐTM trong giai đoạn tự do hóa hoạt động kinh doanh trong xu
hướng hội nhập với khu vực và thế giới.
Tác giả tiếp tục nghiên cứu về những nội dung về trách nhiệm pháp lý do vi
phạm HĐTM trong giai đoạn hiện này nhằm góp phần hoàn thiện chế định trách
nhiệm hợp đồng, đảm bảo cho trật tự kinh doanh, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp,
nhằm tuân thủ nghiêm ngặt các quy định pháp luật. Hơn nữa, việc nghiên cứu
6
những nội dung này nhằm giảm thiểu tình trạng vi phạm hợp đồng, ngăn chặn hoạt
động kinh doanh bất hợp pháp, nâng cao nhận thức tự tìm hiểu và tuân thủ pháp luật
của các doanh nghiệp, tôn trọng mục đích, vai trò tốt đẹp của hợp đồng, tránh các
rủi ro, nhằm góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển theo hướng tích cực.
Kết quả nghiên cứu đề tài cũng có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo hữu ích
cho việc nghiên cứu về trách nhiệm do vi phạm hợp đồng, cho việc học tập, giảng
dạy và áp dụng pháp luật.
7. Kết cấu của Luận án
Luận án bao gồm phần mở đầu, nội dung luận án bao gồm 4 chương, kết luận,
phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo.
7
Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN
ĐẾN LUẬN ÁN
1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu về trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp
đồng thƣơng mại
Vấn đề về trách nhiệm pháp lý do vi phạm HĐTM là chế định quan trọng
trong hệ thống các quy phạm pháp luật về thương mại, từ trước đến hiện nay đã có
nhiều công trình nghiên cứu về lý luận, quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng đối
với những vấn đề có liên quan đến lĩnh vực này. Vì vậy, trước khi nghiên cứu chế
định này, tác giả cần tổng quan những công trình đã nghiên cứu có liên quan nhằm
(i) tránh trường hợp trùng lặp những nội dung đã được một số công trình nghiên
cứu và đặc biệt những nội dung có liên quan đến đề tài đã được các tác giả nghiên
cứu mang tính thống nhất, phù hợp và hoàn thiện, (ii) với những điểm mà các công
trình trước đó đã đạt được, đề tài sẽ kế thừa nhằm làm cơ sở lý luận, thực tiễn hữu
ích cho hoạt động nghiên cứu, (iii) tổng quan giúp cho việc nghiên cứu đề tài thuận
lợi và hoàn thiện hơn. Trong phạm vi tìm hiểu, tác giả thống kê và đánh giá một số
công trình liên quan đến đề tài theo hai nhóm chính là khái quát những công trình
nghiên cứu trong nước và những công trình nghiên cứu ở nước ngoài.
1.1.1.Tổng quan tình hình nghiên cứu trong nƣớc
Trách nhiệm pháp lý do vi phạm pháp luật nói chung và trách nhiệm pháp lý
do vi phạm đồng thương mại nói riêng là đối tượng nghiên cứu của rất nhiều công
trình khoa học khác nhau ở Việt Nam. Các công trình nghiên cứu này đề cập đến
các khía cạnh khác nhau về trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng nói chung và
HĐTM nói riêng. Sắp xếp theo nội dung vấn đề nghiên cứu của đề tài, tác giả có thể
chỉ ra các nhóm công trình khoa học sau đây:
- Nhóm công trình nghiên cứu về vi phạm hợp đồng, các loại vi phạm hợp
đồng:
Trong quyển sách chuyên khảo của Nguyễn Ngọc Khánh [93], ông đã nghiên
cứu về khái niệm, đặc điểm, bản chất hợp đồng, giao kết, thực hiện, sửa đổi, hủy bỏ
hợp đồng và trách nhiệm hợp đồng, trong đó công trình đã đề cập đến khái niệm vi
phạm hợp đồng, các loại vi phạm hợp đồng được quy định trong các văn bản pháp
luật giữa các quốc gia như Cộng hòa Liên Bang Đức, Pháp, Anh –Mỹ, CƯV 1980,
8
Việt Nam. Hơn nữa, ông có phân tích thực trạng áp dụng các quy định pháp luật
(qua việc phân tích một số bản án trong và ngoài nước). Từ đó, ông cho thấy rằng
quy định của Việt Nam về khái niệm vi phạm hợp đồng, các loại vi phạm hợp đồng
của Việt Nam khá tương đồng với quy định của các quốc gia này. Tuy nhiên, công
trình này đưa ra một số giải pháp là pháp luật hợp đồng của Việt Nam nên quy định
rõ ràng hơn về vi phạm trước thời hạn. Đề tài sẽ kế thừa khái niệm về vi phạm hợp
đồng từ những cụm thuật ngữ của các quốc gia cũng như quy định hiện hành của
Việt Nam mà ông đã trình bày, tuy nhiên tác giả tiếp tục phát triển thêm khái niệm
về vi phạm hợp đồng theo hướng mang tính khái quát hơn. Bên cạnh đó, tác giả còn
kế thừa loại vi phạm trước thời hạn mà công trình này đã nêu ra trong phần giải
pháp hoàn thiện pháp luật.
Trong phạm vi nghiên cứu về nội dung này, quyển sách chuyên khảo của Đỗ
Văn Đại [58] đã nghiên cứu về lý luận, thực trạng pháp luật, thực trạng áp dụng
pháp luật (phân tích một số bản án tại Việt Nam), giải pháp hoàn thiện pháp luật về
vi phạm hợp đồng, các loại vi phạm hợp đồng. Cụ thể, ông đã không sử dụng thuật
ngữ vi phạm hợp đồng mà sử dụng thuật ngữ “không thực hiện đúng hợp đồng”; tuy
nhiên ông Đại không hoàn toàn bác bỏ mà vẫn sử dụng thuật ngữ “vi phạm hợp
đồng” trong một số trường hợp. Tác giả sẽ kế thừa thuật ngữ không thực hiện đúng
hợp đồng của Đỗ Văn Đại nhưng tiếp tục phát triển và sử dụng thuật ngữ “không
thực hiện đúng hợp đồng” trong trường hợp một bên không chịu trách nhiệm do
không thực hiện đúng hợp đồng khi có xảy ra SKBKK hoặc quyết định của cơ quan
nhà nước có thẩm quyền,...Ngoài ra, ông cho rằng thuật ngữ vi phạm cơ bản là mơ
hồ, dịch ra từ thuật ngữ “Fundamental breach” của CƯV không có tính khả thi khi
áp dụng quy định này vào thực tiễn nên cần thay thế bằng thuật ngữ vi phạm
nghiêm trọng. Hơn nữa, ông cũng cho rằng cần xác định rõ trong các văn bản luật
hợp đồng đối với vi phạm trước thời hạn. Qua đây, tác giả sẽ kế thừa những nghiên
cứu này tuy nhiên sẽ phát triển bổ sung về căn cứ xác định loại vi phạm nghiêm
trọng, vi phạm trước thời hạn để tránh trường hợp khó áp dụng tương xứng giữa
hành vi vi phạm và loại trách nhiệm và tránh hành vi vi phạm ngược từ chủ thể bị vi
phạm.
Trong phạm vi các nghiên cứu được đăng trong các tạp chí khoa học chuyên
ngành, Đỗ Văn Đại có bài viết “vi phạm cơ bản hợp đồng”[55]; Võ Sỹ Mạnh có bài
viết “vi phạm cơ bản hợp đồng trong pháp luật Việt Nam: Một số bất cập và định
9
hướng hoàn thiện” [135]. Các bài viết cho rằng sử dụng thuật ngữ vi phạm cơ bản
và đưa ra khái niệm về vi phạm cơ bản như trong LTM 2005 là khó áp dụng vào
thực tiễn, nên sử dụng thuật ngữ vi phạm nghiêm trọng hoặc căn cứ vào thực trạng
xét xử (án lệ) để xác định như thế nào là vi phạm nghiêm trọng. Cũng tương đồng
với hai tác giả trên về việc nêu và phân tích một số loại vi phạm hợp đồng, Dương
Anh Sơn có bài viết “Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc điều chỉnh bằng pháp luật
đối với vi phạm hợp đồng khi chưa đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ”[139]. Trong
bài viết này, ông Sơn đã nghiên cứu về khái niệm, căn cứ xác định, tính rủi ro khi
xác định vi phạm trước thời hạn, phân tích một số bản án được tòa án Việt Nam xét
xử về những trường hợp tương tự vi phạm trước thời hạn. Với công trình này, đề tài
sẽ kế thừa và chứng minh bổ sung một số trường hợp áp dụng vào trong thực tiễn về
vi phạm trước thời hạn trong LTM hiện hành.
Tóm lại, qua tham khảo các công trình nghiên cứu trên về nội dung liên quan
đến vi phạm hợp đồng, đa số các công trình nghiên cứu khái niệm, đặc điểm vi
phạm hợp đồng, HĐTM theo hướng liệt kê như không thực hiện, thực hiện không
đúng, chậm thực hiện nghĩa vụ hợp đồng, một số khác đưa ra cụm từ không thực
hiện đúng hợp đồng để chỉ đến khái niệm vi phạm hợp đồng. Những quan điểm này
chính là cơ sở cơ bản để tác giả kế thừa và sẽ tiếp tục nghiên cứu bổ sung để đưa ra
khái niệm vi phạm hợp đồng mang tính khái quát hoàn thiện hơn. Về các loại vi
phạm hợp đồng, các công trình nghiên cứu các loại vi phạm hợp đồng khác nhau,
trong đó có một số công trình nghiên cứu về vi phạm cơ bản hợp đồng, vi phạm
không cơ bản hợp đồng. Một số tác giả nghiên cứu về vi phạm nghiêm trọng hợp
đồng, vi phạm trước thời hạn thực hiện hợp đồng. Đây có thể được xem là những
nền tảng để xây dựng thành lý luận và hoàn thiện các quy định pháp LTM Việt Nam
về vi phạm hợp đồng, các loại vi phạm HĐTM. Từ đó, tác giả sẽ tham khảo chọn
lọc sử dụng nhằm hệ thống một cách có khoa học những vấn đề về lý luận, thực
trạng, giải pháp nhằm hoàn thiện pháp LTM Việt Nam.
- Nhóm công trình nghiên cứu về các căn cứ xác định trách nhiệm do vi phạm
HĐTM:
Ở cấp độ là giáo trình giảng dạy tại các trường đại học, quyển “Giáo trình luật
Dân sự VN”[211]; “Giáo trình pháp luật về hợp đồng và bồi thường thiệt hại ngoài
hợp đồng”[53] đã đề cập đến vấn đề cơ bản nhất về khái niệm, đặc điểm của căn cứ
hành vi vi phạm hợp đồng, có lỗi, thiệt hại, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi
10
phạm và thiệt hại xảy ra. Trong đó, hai công trình này nghiên cứu cụ thể về yếu tố
lỗi để xác định trách nhiệm hợp đồng là căn cứ bắt buộc. Hơn nữa, hai giáo trình
này căn cứ quy định của BLDS 2005 để phân tích bốn căn cứ xác định trách nhiệm
do vi phạm hợp đồng. Bên cạnh đó, trong phạm vi nội dung này, Nguyễn Văn
Luyện, Lê Thị Bích Thọ, Dương Anh Sơn trong cuốn “Giáo trình luật HĐTM quốc
tế”[122]; Phan Huy Hồng với “Giáo trình pháp luật về thương mại hàng hóa và
dịch vụ” [214]. Các công trình này đề cập đến ba căn cứ xác định trách nhiệm do vi
phạm hợp đồng như hành vi vi phạm, thiệt hại và mối quan hệ nhân quả giữa hành
vi vi phạm và thiệt hại xảy ra, lỗi không là căn cứ bắt buộc để xác định trách nhiệm
do vi phạm HĐTM; riêng công trình thứ hai xác định từng loại căn cứ cho từng biện
pháp trách nhiệm, trong đó có nghiên cứu căn cứ thông báo cho một số loại loại
trách nhiệm như tạm ngừng, đình chỉ và hủy hợp đồng. Tác giả sẽ tiếp tục kế thừa
những quan điểm này về các căn cứ xác định trách nhiệm, tuy nhiên sẽ phân tích
thêm về căn cứ thông báo trong từng loại trách nhiệm pháp lý do vi phạm HĐTM.
Trong quyển sách chuyên khảo “Chế định hợp đồng trong BLDS Việt
Nam”[93], tác giả của công trình này đã phân tích các căn cứ xác định trách nhiệm
do vi phạm hợp đồng như căn cứ về hành vi vi phạm, thiệt hại, lỗi, mối quan hệ
nhân quả giữa hành vi vi phạm và thiệt hại theo quy định về luật hợp đồng, LTM…
của một số quốc gia như Đức, Pháp, Anh-Mỹ, CƯV và quy định theo BLDS 2005
của Việt Nam. Ông Khánh cho rằng lỗi vẫn là căn cứ để xác định trách nhiệm ngoài
ba căn cứ nêu trên, nhưng cần phải xem xét lỗi theo sự mẫn cán, tận tâm của một
chủ thể mà không phải là thái độ chủ quan của một người trước một sự việc.
Trong phạm vi nội dung nghiên cứu này còn có công trình “Áp dụng trách
nhiệm hợp đồng trong kinh doanh”[46]. Đây là quyển sách chuyên khảo nêu bốn
căn cứ xác định trách nhiệm do vi phạm hợp đồng kinh doanh, thương mại nhưng
tùy thuộc vào từng loại loại trách nhiệm mà xác định từng nhóm căn cứ. Tuy nhiên
bà Dung còn cho rằng mức độ lỗi không là căn cứ để xác định mức tiền phạt hoặc
BTTH mà chỉ là căn cứ để xác định trách nhiệm, nghĩa là không phân biệt mức độ
lỗi cố ý hay vô ý trong khi áp dụng biện pháp trách nhiệm, mức độ tăng nặng hay
giảm nhẹ trách nhiệm.
Trong nhóm nghiên cứu liên quan đến các căn cứ xác định trách nhiệm do vi
phạm hợp đồng, còn có một số bài viết đăng trên các tạp chí khoa học chuyên ngành
như bài viết về “Khái niệm lỗi trong trách nhiệm dân sự”[2] . Bài viết “Nguyên tắc
11
lỗi trong pháp LTM Việt Nam” [84]. Các công trình khoa học này nghiên cứu
chuyên sâu về căn cứ lỗi như khái niệm, đặc điểm, các loại lỗi. Tác giả Phạm Kim
Anh có cách tiếp cận mới về yếu tố lỗi, đó là xác định lỗi không nên phụ thuộc vào
trạng thái chủ quan của người vi phạm mà phải xem xét theo sự cần mẫn của một
chủ thể đối với một công việc phải làm. Tác giả kế thừa về cách tiếp cận căn cứ lỗi
được hiểu theo quan điểm này. Hơn nữa, tác giả tiếp tục nghiên cứu lỗi không phải
là căn cứ xác định bắt buộc trong khi xác định trách nhiệm do vi phạm HĐTM
nhưng vẫn xem xét lỗi cố ý, ác ý đối với việc kết luận về hành vi vi phạm nghiêm
trọng của một chủ thể.
Trong luận án tiến sĩ của Trương Văn Dũng “Trách nhiệm do vi phạm hợp
đồng mua bán hàng hóa quốc tế và vấn đề hoàn thiện pháp luật Việt Nam” [50],
công trình đã nghiên cứu nhiều nội dung liên quan đến hợp đồng mua bán hàng hóa
quốc tế, vi phạm hợp đồng, căn cứ xác định trách nhiệm, các loại trách nhiệm do vi
phạm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế. Trong đó, công trình này còn phân tích
về các căn cứ xác định trách nhiệm do vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
theo bốn căn cứ được quy định trong LTM 1997, đó là có thiệt hại xảy ra, có hành
vi vi phạm hợp đồng, có lỗi, có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm và thiệt
hại xảy ra và ông cho rằng lỗi vẫn là căn cứ bắt buộc khi xác định trách nhiệm do vi
phạm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế. Bên cạnh đó, ông còn cho rằng căn cứ
hành vi vi phạm và yếu tố lỗi được áp dụng cho tất cả các biện pháp trách nhiệm,
còn căn cứ có thiệt hại, mối quan hệ nhân quả chỉ áp dụng cho hình thức BTTH.
Tác giả tiếp thu những căn cứ mà các công trình trên đã nghiên cứu, tiếp tục nghiên
cứu lỗi không là căn cứ bắt buộc để xác định trách nhiệm nhưng lỗi cố ý là căn cứ
để xác định loại vi phạm nghiêm trọng trong HĐTM.
Qua thống kê và tham khảo những công trình nghiên cứu liên quan đến các
căn cứ xác định trách nhiệm do vi phạm hợp đồng trong nước, tác giả nhận thấy
rằng một số tác giả nghiên cứu những nội dung liên quan đến hợp đồng dân sự sẽ
phân tích bốn căn cứ xác định trách nhiệm như hành vi vi phạm, lỗi, thiệt hại, mối
quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm và thiệt hại, trong đó yếu tố lỗi được tiếp
cận như một căn cứ để xác định trách nhiệm do vi phạm hợp đồng. Một số công
trình nghiên cứu về trách nhiệm pháp lý do vi phạm HĐTM phân tích theo ba căn
cứ xác định trách nhiệm và căn cứ lỗi không được xem là căn cứ để xác định trách
nhiệm. Tuy nhiên, căn cứ thông báo đã được thêm vào nhóm căn cứ để xác định
12
trách nhiệm do vi phạm HĐTM. Đây có thể được xem là những nền tảng rất cơ bản
để tác giả tiếp tục nghiên cứu nhằm hoàn thiện về lý luận, thực trạng pháp luật, thực
trạng áp dụng pháp luật về các căn cứ xác định trách nhiệm do vi phạm hợp đồng
trong LTM hiện hành của Việt Nam.
- Nhóm công trình nghiên cứu về trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng,
các biện pháp trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng thƣơng mại:
Với những công trình nghiên cứu ở cấp độ giáo trình, tác giả đã tiếp cận được
những quyển “Giáo trình luật Dân sự VN”[211]; “Giáo trình pháp luật về hợp đồng
và BTTH ngoài hợp đồng”[213]. Các công trình này nghiên cứu một cách có hệ
thống mang tính cơ bản về quan hệ dân sự, hợp đồng dân sự, trong đó có nghiên
cứu về trách nhiệm do vi phạm hợp đồng và các loại trách nhiệm do vi phạm hợp
đồng dân sự. Cụ thể, các công trình này sử dụng thuật ngữ trách nhiệm do vi phạm
hợp đồng nhưng không đưa ra khái niệm về trách nhiệm do vi phạm hợp đồng dân
sự. Bên cạnh đó, các tác giả này đã phân tích các biện pháp trách nhiệm được quy
định trong BLDS 2005 như BTTH, phạt vi phạm, hoãn thực hiện hợp đồng, đơn
phương chấm dứt hợp đồng, hủy hợp đồng, còn loại trách nhiệm buộc tiếp tục thực
hiện nghĩa vụ hợp đồng như buộc giao hàng, buộc thanh toán, buộc nhận hàng
hóa… được phân tích riêng lẻ trong từng loại hợp đồng. Với những nội dung mà hai
công trình này đã nghiên cứu, tác giả sẽ kế thừa để phân tích so sánh với quy định
trong LTM hiện hành.
Bên cạnh các giáo trình nêu trên, Nguyễn Văn Luyện, Lê Thị Bích Thọ,
Dương Anh Sơn có quyển “Giáo trình luật hợp đồng quốc tế”[122]; Trường Đại
học Luật TP.HCM, “Giáo trình pháp luật về thương mại hàng hóa và dịch vụ”
[213]. Các tác giả phân tích một cách cơ bản các nội dung liên quan đến hoạt động
thương mại, các loại HĐTM, vi phạm hợp đồng, trách nhiệm do vi phạm hợp đồng,
các loại trách nhiệm theo quy định của LTM hiện hành. Tuy nhiên, các công trình
không sử dụng thuật ngữ trách nhiệm mà sử dụng thuật ngữ chế tài trong thương
mại. Cụ thể phân tích chức năng, đặc điểm của chế tài trong hoạt động thương mại
và phân tích các biện pháp chế tài tương ứng với quy định trong LTM 2005 là buộc
thực hiện đúng hợp đồng, phạt vi phạm, BTTH, tạm ngừng thực hiện hợp đồng,
đình chỉ thực hiện hợp đồng, hủy hợp đồng. Đây là cơ sở mà tác giả kế thừa để xây
dựng một hệ thống lý luận hoàn thiện về trách nhiệm pháp lý do vi phạm HĐTM.
Tuy nhiên, tác giả sẽ nghiên cứu tiếp tục việc sử dụng thuật ngữ trách nhiệm pháp
13
lý do vi phạm HĐTM, bổ sung khái niệm trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng
nhưng vẫn sử dụng thuật ngữ chế tài bên cạnh thuật ngữ trách nhiệm trong một số
trường hợp nhất định. Ngoài ra, tác giả sẽ tiếp tục phân tích thực trạng pháp luật,
thực trạng áp dụng pháp luật để hoàn thiện những quy định chưa phù hợp về các
loại trách nhiệm pháp lý do vi phạm HĐTM của LTM 2005.
Trong cùng nội dung này, quyển sách tham khảo của Nguyễn Thị Dung [46]
đã nghiên cứu về các đặc điểm trách nhiệm do vi phạm hợp đồng kinh doanh,
thương mại, các biện pháp trách nhiệm như buộc thực hiện hợp đồng, BTTH, phạt
vi phạm và hủy hợp đồng, những loại trách nhiệm này tương ứng với quy định trong
LTM 1997. Bên cạnh đó, tác giả còn tham khảo quyển sách chuyên khảo của
Nguyễn Ngọc Khánh [93]. Công trình này cũng nghiên cứu về trách nhiệm do vi
phạm hợp đồng dân sự và nghiên cứu so sánh theo các quy định của các văn bản
pháp luật về các loại trách nhiệm do vi phạm hợp đồng giữa các nước trên thế giới
thông qua biện pháp trách nhiệm như BTTH, phạt vi phạm. Ngoài ra, ông còn trình
bày một số bản án về cách áp dụng trách nhiệm BTTH, phạt vi phạm của các quốc
gia như Đức, Nga, Pháp, Anh-Mỹ và Việt Nam. Tiếp theo, trong quyển sách chuyên
khảo của tác giả Đỗ Văn Đại [58], công trình này nghiên cứu các biện pháp xử lý
khi có hành vi không thực hiện đúng hợp đồng, bên bị vi phạm có thể sử dụng nhiều
biện pháp như buộc thực hiện đúng hợp đồng, BTTH, phạt vi phạm, hoãn thực hiện
hợp đồng, đơn phương chấm dứt hợp đồng, hủy hợp đồng. Ngoài ra, ông còn phân
tích thêm biện pháp yêu cầu giảm giá, cầm giữ tài sản, thay thế việc thực hiện của
bên có nghĩa vụ, trả lãi chậm thanh toán. Bên cạnh đó, tác giả còn đề cập đến nội
dung là bên có nghĩa vụ có thể sử dụng biện pháp miễn trách nhiệm do SKBKK, do
quyết định của nhà nước, do bên có quyền có lỗi, giảm mức bồi thường do bên có
quyền không hạn chế tổn thất. Thêm vào đó, ông Đại còn cho rằng nếu có sự thỏa
thuận của các bên và nếu có xảy ra việc không thực hiện đúng hợp đồng thì bên có
quyền có thể sử dụng phạt vi phạm hợp đồng, lãi chậm trả do thỏa thuận, thỏa thuận
tăng trách nhiệm BTTH và bên có nghĩa vụ có quyền sử dụng biện pháp miễn trách
nhiệm BTTH, giảm trách nhiệm bồi thường. Hơn nữa, ông có phân tích một số bản
án và bình luận cách áp dụng pháp luật của từng tòa án theo mỗi biện pháp xử lý.
Đây là cách tiếp cận mới của công trình này trong việc sử dụng thuật ngữ “biện
pháp xử lý” thay cho thuật ngữ “chế tài” hay “trách nhiệm” và phân tích thêm
những biện pháp xử lý như giảm giá, cầm giữ tài sản, yêu cầu thực hiện nghĩa vụ
14
thay thế. Những nội dung mà Đỗ Văn Đại đã nêu trong công trình này sẽ là cơ sở
nền tảng để tác giả kế thừa các biện pháp xử lý như giảm giá, cầm giữ tài sản, thay
thế việc thực hiện của bên có nghĩa vụ để tiếp tục nghiên cứu trong quan hệ thương
mại, nhưng thay thế việc thực hiện của bên có nghĩa vụ được nghiên cứu vào biện
pháp buộc thực hiện đúng hợp đồng và bên bị vi phạm áp dụng cho bên vi phạm khi
bên này có hành vi vi phạm hợp đồng. Ngoài ra, tác giả sẽ kế thừa quan điểm bỏ
biện pháp đình chỉ thực hiện hợp đồng, tuy nhiên tác giả không nghiên cứu theo
hướng sử dụng biện pháp đơn phương chấm dứt hợp đồng như công trình đã nêu mà
chỉ xem xét hủy hợp đồng toàn bộ hoặc một phần hợp đồng.
Liên quan đến các loại trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng, tác giả còn
tiếp cận được các bài viết được đăng trên tạp chí khoa học chuyên ngành như bài
viết của Nguyễn Thị Khế [94]; Nguyễn Thị Hằng Nga [129]; Dương Anh Sơn -Lê
Thị Bích Thọ [140]; Đỗ Văn Đại [56]. Các công trình này chủ yếu nghiên cứu về
khái niệm, đặc điểm, điều kiện áp dụng, mức độ phạt của biện pháp trách nhiệm
phạt vi phạm. Các tác giả này cho rằng nên quy định hình thức phạt vi phạm trong
BLDS hoặc LTM hiện hành nhưng không cần giới hạn mức phạt mà cho các bên tự
thỏa thuận trong hợp đồng. Bên cạnh đó, về các biện pháp trách nhiệm làm chấm
dứt hợp đồng tác giả Đỗ Văn Đại trong bài viết “Vấn đề hủy bỏ, đình chỉ hợp đồng
do vi phạm”[54]. Ông còn cho rằng cần bỏ biện pháp đình chỉ thực hiện hợp đồng.
Tác giả sẽ kế thừa quan điểm này và tiếp tục chứng minh biện pháp này không có
tính khả thi trong thực tiễn áp dụng xử lý vi pham HĐTM.
Ngoài ra, liên quan đến biện pháp trách nhiệm phạt lãi suất do chậm thanh
toán còn có các bài viết “Về cách tính lãi suất trong hợp đồng vay tài sản”[9]; các
tác giả Trần Văn Biên [14]; Đặng Văn Dũng [49]; Đỗ Văn Đại, [57]; Châu Thị Điệp
[66]; Lê Thu Hà [77]; Nguyễn Quang Lộc [97]; Hoàng Minh Tâm [142]. Nhóm
công trình này nghiên cứu về khái niệm lãi suất, lãi suất nợ quá hạn, các loại lãi
suất, lãi suất trong hợp đồng vay, lãi suất do chậm thanh toán trong HĐTM, cách
tính lãi suất, so sánh giữa quy định về lãi suất được quy định trong BLDS 2005 và
quy định về lãi suất trong LTM 2005. Tác giả kế thừa những phân tích liên quan
đến quy định về lãi suất nợ quá hạn do vi phạm thời hạn thanh toán trong HĐTM.
Tiếp tục phân tích những vụ tranh chấp do vi phạm nghĩa vụ thanh toán trong thực
tế để đưa ra quy định phù hợp trong LTM 2005 và thực tiễn áp dụng, tránh tình
trạng vi phạm nghĩa vụ thanh toán ngày càng tăng cao như hiện nay.
15
Bên cạnh đó, tác giả tiến sĩ của Trương Văn Dũng [50] đã phân tích các biện
pháp trách nhiệm do vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế như buộc thực
hiện đúng hợp đồng, phạt hợp đồng, BTTH, hủy hợp đồng tương tự quy định trong
LTM 1997. Ngoài ra ông cũng phân tích và bình luận một số bản án có liên quan
đến thực trạng áp dụng các biện pháp trách nhiệm này.
Đối với luận văn thạc sĩ còn có tác giả Nguyễn Phú Cường[45]; Lê Thị Diễm
Phương[136]. Các công trình này nghiên cứu chủ yếu hai biện pháp chế tài là phạt
vi phạm và BTTH theo quy định trong LTM 2005 và thực tiễn giải quyết tranh
chấp khi áp dụng các biện pháp chế tài này, nghiên cứu từng biện pháp về khái
niệm, đặc điểm, điều kiện áp dụng các biện pháp. Các tác giả này đã nêu ra các
phương thức áp dụng tại một số tòa án để cho thấy sự phù hợp hoặc chưa phù hợp
trong quy định cũng như thực tiễn áp dụng. Tác giả sẽ kế thừa quan điểm về những
cách tiếp cận này nhưng sẽ nghiên cứu tiếp việc không quy định phạt vi phạm là
biện pháp được pháp luật quy định do các bên tự thỏa thuận như một nội dung trong
hợp đồng, tuy nhiên nội dung này không bị mất hiệu lực khi một bên vi phạm hợp
đồng.
Ở cùng cấp độ này, luận văn thạc sĩ luật học, tác giả Đỗ Văn Đạt [65]; Nguyễn
Thị Việt Hà [78] đã phân tích về khái niệm, điều kiện áp dụng, hậu quả pháp lý của
các loại trách nhiệm làm chấm dứt việc thực hiện hợp đồng được quy định trong
LTM 2005. Ngoài ra, trong nhóm luận văn thạc sĩ còn có công trình của Vũ Hoàng
Linh [95]. Ông chủ yếu phân tích khái niệm, đặc điểm, các hình thức trả lãi chậm
thanh toán, trong đó có phân tích nhiều bản án liên quan đến biện pháp trách nhiệm
này và đưa ra giải pháp về cách quy định cho việc áp dụng lãi suất này đó là không
nên quy định như hiện nay mà cần tăng mức lãi suất cao hơn nhằm giảm bớt hành vi
vi phạm này.
Qua việc tham khảo các công trình liên quan đến trách nhiệm, các biện pháp
trách nhiệm pháp lý do vi phạm HĐTM đối với các công trình nghiên cứu trong
nước, tác giả nhận thấy rằng có ba nhóm công trình nghiên cứu như nhóm sử dụng
thuật ngữ trách nhiệm do vi phạm hợp đồng, nhóm sử dụng thuật ngữ chế tài nhưng
hai nhóm này chủ yếu phân tích các hình thức chế tài quy định trong các văn bản
pháp luật như BLDS hoặc LTM Việt Nam qua từng thời kỳ. Riêng nhóm công trình
sử dụng thuật ngữ các biện pháp xử lý cho hai bên trong quan hệ hợp đồng khi có
hành vi không thực hiện đúng hợp đồng xảy ra. Đây là nhóm công trình có cách tiếp
16
cận và phân tích tương tự theo cách quy định trong các văn bản pháp luật về hợp
đồng của một số nước trên thế giới hoặc quy định trong CƯV hay PICC. Đây chính
là cơ sở lý luận mới bổ sung vào hệ thống lý luận về chế định trách nhiệm pháp lý
do vi phạm HĐTM và là công trình góp phần vào việc nghiên cứu hoàn thiện các
quy định về chế định này trong BLDS hoặc LTM hiện hành của Việt Nam.
- Các công trình nghiên cứu về các trƣờng hợp miễn, giảm trách nhiệm do vi
phạm hợp đồng:
Trong các quyển giáo trình có nghiên cứu những nội dung về các trường hợp
miễn, giảm trách nhiệm thì có thể kể đến“Giáo trình luật Dân sự VN” [211]; “Giáo
trình pháp luật về hợp đồng và BTTH ngoài hợp đồng” [53]; “Giáo trình luật
HĐTM quốc tế” [122]; “Giáo trình pháp luật về thương mại hàng hóa và dịch
vụ”[213]. Nhóm công trình này nghiên cứu một cách cơ bản nhất các trường hợp
miễn trách nhiệm quy định trong BLDS 2005 và LTM 2005 như miễn trách nhiệm
do các bên thỏa thuận, do SKBKK, do quyết định của nhà nước, do lỗi của bên bị vi
phạm. Tuy nhiên, công trình [122] nghiên cứu trường hợp các bên không được thỏa
thuận những nội dung miễn trách nhiệm nếu thỏa thuận đó đi ngược lại với mục
đích của hợp đồng. Tác giả sẽ kế thừa những nghiên cứu này và tiếp tục nghiên cứu
các trường hợp giảm trách nhiệm do vi phạm hợp đồng.
Trong các công trình nghiên cứu ở dạng là sách tham khảo về các trường hợp
miễn, giảm trách nhiệm do vi phạm hợp đồng có quyển “Áp dụng trách nhiệm hợp
đồng trong kinh doanh”[46], bà Dung đã nghiên cứu về khái niệm, đặc điểm, các
trường hợp cụ thể về hai trường hợp miễn trách nhiệm là SKBKK, do các bên thỏa
thuận về miễn trách nhiệm. Trong cùng nội dung này, tác giả Nguyễn Ngọc Khánh
có quyển sách “Chế định hợp đồng trong BLDS Việt Nam”[93]. Ông đã nghiên cứu
so sánh trường hợp miễn trách nhiệm do SKBKK của một số quốc gia trên thế giới,
CƯV và đặc biệt công trình phân tích một trường hợp theo BLDS của Nga là miễn
trách nhiệm do khó khăn đặc biệt về kinh tế. Tác giả sẽ kế thừa trường hợp này
nhưng sẽ tiếp tục nghiên cứu theo hướng hoàn cảnh khó khăn về kinh tế là một
trường hợp kéo dài thời gian thực hiện nghĩa vụ do có sự thỏa thuận lại nội dung
hợp đồng.
Quyển sách chuyên khảo “Các biện pháp xử lý việc không thực hiện đúng hợp
đồng trong pháp luật Việt Nam”[58] đã nghiên cứu các trường hợp miễn trách
nhiệm theo hướng bên có nghĩa vụ được quyền sử dụng khi có hành vi không thực
17
hiện đúng hợp đồng như miễn trách nhiệm khi có SKBKK, do quyết định cơ quan
nhà nước có thẩm quyền, do bên có quyền có lỗi, giảm mức bồi thường do bên có
quyền không hạn chế tổn thất, miễn hoặc giảm trách nhiệm do có thỏa thuận. Tác
giả kế thừa các trường hợp mà công trình này nghiên cứu như miễn hoặc giảm trách
nhiệm nhưng sẽ phát triển theo hướng tiếp cận là khi bên vi phạm có hành vi vi
phạm với bên bị vi phạm. Song song đó, tác giả sẽ tiếp cận các trường hợp không
chịu trách nhiệm do không thực hiện đúng hợp đồng theo luật định mà không phải
do bên bị vi phạm quyết định.
Đối với tác giả tiến sĩ, tác giả còn tham khảo quyển “Trách nhiệm do vi phạm
hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế và vấn đề hoàn thiện pháp luật Việt Nam”[50];
luận văn thạc sĩ “ Điều kiện hạn chế, miễn trừ trách nhiệm pháp luật HĐTM Việt
Nam”[71]. Hai công trình này đều nghiên cứu các trường hợp miễn trách nhiệm
được quy định trong LTM 2005 về lý luận, quy định của LTM 2005, thực trạng áp
dụng và giải pháp hoàn thiện về các trường hợp miễn trách nhiệm. Riêng công trình
của Trương Văn Dũng, ông đã nghiên cứu căn cứ do bên thứ ba có quan hệ với một
bên của hợp đồng gặp bất khả kháng; đặc biệt, ông còn phân tích trường hợp miễn
trách nhiệm do hoàn cảnh khó khăn. Tác giả sẽ kế thừa các căn cứ miễn trách nhiệm
này, đặc biệt là căn cứ miễn trách nhiệm khi gặp hoàn cảnh khó khăn và căn cứ do
bên thứ ba có quan hệ với một bên của hợp đồng gặp bất khả kháng. Tuy nhiên, tác
giả sẽ tiếp tục tiếp cận theo hướng không chịu trách nhiệm mà không phải là miễn
trách nhiệm.
Với nội dung này, còn có một số bài viết đăng trên các tạp chí khoa học
chuyên ngành như “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn đối với điều khoản bất khả
kháng trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế”[17] “Góp ý dự thảo BLDS (sửa
đổi) về điều khoản miễn trừ trách nhiệm và hạn chế quyền lợi trong hợp
đồng”[130]. Các công trình nêu trên đã nghiên cứu về các trường hợp miễn trách
nhiệm theo quy định trong LTM 2005 và BLDS 2005. Đặc biệt, ông Lê Nết đưa ra
trường hợp các bên có được quyền thỏa thuận căn cứ miễn trừ trách nhiệm nhưng
thỏa thuận này không đi ngược lại với mục đích hợp đồng. Đây là điểm mới góp
phần vào hoàn thiện quy định về điều kiện quy định về trường hợp thỏa thuận căn
cứ miễn trách nhiệm. Tác giả sẽ kế thừa quan điểm này tiếp tục nghiên cứu để làm
sáng tỏ quy định của pháp luật vào với thực tiễn áp dụng.
18
Khảo sát những công trình về miễn trách nhiệm do vi phạm hợp đồng, tác giả
nhận thấy rằng, tất cả các công trình nghiên cứu về nội dung này gần như đều có
quan điểm gần giống nhau về các trường hợp miễn trách nhiệm do vi phạm hợp
đồng. Riêng Đỗ Văn Đại cho rằng phải bổ sung vào căn cứ này trường hợp giảm
trách nhiệm và hơn nữa đây là các trường hợp miễn trách nhiệm do không thực hiện
đúng hợp đồng mà bên có nghĩa vụ có thể sử dụng. Ngoài ra, ông cho rằng hoàn
cảnh khó khăn về kinh tế là căn cứ giảm trách nhiệm, đó là bên có nghĩa vụ được
kéo dài thời gian thực hiện nghĩa vụ để thỏa thuận lại nội dung hợp đồng; trong khi
đó tác giả Trương Văn Dũng cho rằng là trường hợp miễn trách nhiệm. Đây là
những cơ sở nền tảng mang tính mới trong các công trình này, tác giả sẽ kế thừa và
tiếp tục nghiên cứu theo hướng là các trường hợp không chịu trách nhiệm do không
thực hiện đúng hợp đồng do luật định và các trường hợp miễn, giảm trách nhiệm do
bên bị vi phạm quyết định do có hành vi vi phạm của bên vi phạm.
1.1.2. Tổng quan tình hình nghiên cứu nƣớc ngoài
- Nhóm công trình nghiên cứu về vi phạm hợp đồng, các loại vi phạm hợp
đồng:
Trong quyển sách của Cheong May Fong, “Civil remedies in Malaysia” (Các
biện pháp xử lý do vi phạm nghĩa vụ dân sự của Mã- lai-xi-a)[241], ông đã nghiên
cứu về khái niệm vi phạm hợp đồng, các loại vi phạm hợp đồng như hành vi từ chối
không thực hiện hợp đồng thông qua hành vi cụ thể, lời nói của bên không thực
hiện hợp đồng. Trong hành vi từ chối này ông phân tích cả những trường hợp bên vi
phạm có khả năng nhưng cố tình vi phạm hoặc không thể thực hiện do không còn
khả năng. Ngoài ra, Cheong May Fong còn nghiên cứu về vi phạm cơ bản hợp
đồng, vi phạm trước thời hạn thực hiện hợp đồng. Đặc biệt, công trình nghiên cứu
sâu về bên bị vi phạm trước thời hạn cần xác định rõ ràng căn cứ vi phạm của bên
kia đối với vi phạm trước thời hạn nếu không bên này sẽ rơi vào trường hợp vi
phạm ngược. Hơn nữa, ông còn phân tích luật thực định về hợp đồng, bình luận các
bản án có liên quan của Mã-lai-xi-a về cách áp dụng các loại vi phạm hợp đồng .
“Lý thuyết trách nhiệm do vi phạm hợp đồng của Trung Quốc”[127], là sách
chuyên khảo của Vương Lợi Minh có nội dung chính liên quan đến vi phạm nghĩa
vụ hợp đồng. Ông cho rằng vi phạm hợp đồng là việc không thực hiện nghĩa vụ hợp
đồng đã cam kết ngoài những lý do chính đáng. Hơn nữa ông nêu rất nhiều loại vi
phạm như vi phạm cơ bản, vi phạm không cơ bản, vi phạm trước thời hạn, vi phạm
19
sau thời hạn thực hiện hợp đồng, vi phạm do các bên trong hợp đồng vi phạm, vi
phạm do bên ngoài hợp đồng vi phạm, các bên trong hợp đồng cùng vi phạm. Theo
ông, tương ứng với mỗi nghĩa vụ thì sẽ có một loại vi phạm nếu có một bên không
thực hiện theo đúng cam kết trong hợp đồng. Tác giả sẽ kế thừa những nghiên cứu
về các loại vi phạm nhưng khái quát chúng theo từng loại cụ thể mà không nghiên
cứu nhiều loại vi phạm như tác giả này để thuận lợi hơn khi áp dụng từng biện pháp
trách nhiệm tương ứng cho từng loại vi phạm hợp đồng.
Trong cuốn “Law in commerce” (Luật thương mại”) [251], công trình đã
nghiên cứu về hành vi không thực hiện hợp đồng được chia ra thành hai trường hợp
đó là vi phạm hợp đồng và không vi phạm hợp đồng. Theo ông, hình thức không
thực hiện bị xem là vi phạm hợp đồng là hành vi không thực hiện hợp đồng do lỗi
của bên vi phạm, cụ thể trong hình thức này còn chia thành không thực hiện được
dù thiện chí thực hiện nhưng không có khả năng thực hiện và không thực hiện dù có
khả năng nhưng cố ý không thực hiện do không có thiện chí thực hiện. Theo đó,
trường hợp không thực hiện dù có khả năng nhưng cố ý không thực hiện do không
có thiện chí, trung thực này sẽ bị xem là vi phạm hợp đồng tương tự vi phạm các
điều khoản chủ yếu của hợp đồng và bị áp dụng biện pháp trách nhiệm làm chấm
dứt quan hệ hợp đồng và BTTH; Riêng trường hợp không thực hiện hợp đồng dù có
thiện chí thực hiện nhưng không còn khả năng để thực hiện thì loại vi phạm này
được xem như là vi phạm các điều khoản thứ yếu của hợp đồng thì có thể bị áp
dụng BTTH mà không làm chấm dứt hợp đồng. Bên cạnh đó, ông còn đề cập đến
việc không thực hiện hợp đồng nhưng không do lỗi của các bên trong hợp đồng thì
sẽ không gọi là vi phạm hợp đồng. Thêm vào đó, tác giả công trình này còn nghiên
cứu các căn cứ xác định vi phạm hợp đồng, các loại vi phạm bao gồm vi pham thực
tế hợp đồng, vi phạm trước thời hạn thực hiện hợp đồng.
Tác giả John D.Calamari and Joseph M. Perillo trong quyển sách chuyên khảo
“The law of contracts[232], (luật pháp về hợp đồng) nghiên cứu về vi phạm hợp
đồng và không thực hiện hợp đồng khi đến hạn thực hiện nghĩa vụ hợp đồng. Theo
đó, tác giả chia trường hợp không thực hiện nghĩa vụ trong tương lại ra làm hai
hành vi là không có khả năng thực hiện hợp đồng trong tương lai và không thiện chí
thực hiện các điểu khoản chính yếu của hợp đồng. Ngoài ra, ông còn nghiên cứu
khái niệm, đặc điểm, lịch sử hình thành và phân tích thực trạng áp dụng của loại vi
phạm trước thời hạn, hơn nữa ông còn nghiên cứu trường hợp một bên không thực
20
hiện hợp đồng nhưng thể hiện sự thiện chí vì khi rơi vào một hoàn cảnh cụ thể thì
bất kỳ ai cũng đều hành xử như vậy và bên này sẳn sàng chịu áp dụng biện pháp
trách nhiệm tương ứng. Bên cạnh đó, công trình còn xem xét trường hợp không
thực hiện hợp đồng tương tự trường hợp một bên trong hợp đồng bị phá sản. Đặc
biệt, tác giả này còn nghiên cứu chuyên sâu về giảm thiệt hại do xác định trường
hợp không thực hiện hợp đồng khi chưa đến hạn thực hiện hợp đồng, tuy nhiên việc
áp dụng trách nhiệm cho hành vi không thực hiện hợp đồng khi chưa đến hạn thực
hiện hợp đồng sẽ có thể dẫn đến nhiều rủi ro cho bên áp dụng.
Trong nội dung này, tác giả còn tiếp cận được quyển sách của Daniel J.Bussel
“Liability for concurrent breach of contract”[228], (Trách nhiệm pháp lý do vi
phạm hợp đồng) đồng thời. Công trình này nghiên cứu về khái niệm, đặc điểm,
nguyên nhân xảy ra hành vi vi phạm song phương. Hơn nữa, còn tiếp cận căn cứ,
thời điểm vi phạm để xác định loại vi phạm, đây là yếu tố xác định loại vi phạm
này. Bên cạnh đó, ông còn phân tích một số bản án để bình luận về việc xử lý khi có
hành vi vi phạm này xảy ra. Tác giả sẽ kế thừa nghiên cứu về vi phạm song phương
trong chương 2 và hoàn thiện trong chương 4 của luận án, tiếp tục phân tích trong
chương 3 về thực trạng áp dụng về vi phạm này.
Trong quyển sách “The architecture of Euopean Codes and contract law” (cấu
trúc các Bộ luật của châu Âu và Luật hợp đồng” của nhóm tác giả Pauline Rémy –
Corlay, Stefan Grundmann, Martin Schauer, Bea Verschaegen, Edited by Stefan
Grundmann, Martin Schauer, 1990 -1992, Kluwer law International, các tác giả đề
cập một cách cơ bản nhất về khái niệm vi phạm hợp đồng, các loại vi phạm hợp
đồng được quy định trong pháp luật hợp đồng châu Âu, BLDS Pháp, Luật hợp
đồng, BLDS Đức, BLDS Úc và BLDS Hà Lan. Trong đó, tác giả Pauline Rémy –
Corlay cho rằng nên quy định một khái niệm vi phạm hợp đồng chính thức trong
pháp luật hợp đồng châu Âu.
“Commercial law” là quyển sách của Roy Goode [242] mà tác giả tiếp cận
được, ông đã nghiên cứu về từng hành vi vi phạm hợp đồng như không giao hàng
hóa, giao chậm hàng hóa, giao hàng không đúng, giao hàng kém chất lượng… chi
tiết cho hành vi vi phạm hợp đồng. Bên cạnh đó, ông còn nghiên cứu về vi phạm
trước thời hạn thực hiện hợp đồng, vi phạm điều khoản thứ yếu (breach of
warranty). Cũng tương tự hình thức nghiên cứu về vi phạm hợp đồng và các loại vi
phạm hợp đồng còn có tác giả Mitsuru Claire Chino, Noboru Kashiwagi and Ayako
21
Okada trong quyển sách chuyên khảo “Japanese Business Law”, (Luật Kinh doanh
của Nhật Bản) [245], tác giả này nghiên cứu về các hình thức vi phạm cụ thể như
không thực hiện, thực hiện không đúng, chậm thực hiện hợp đồng và đề cập đến vi
phạm trước thời hạn theo quy định trong BLDS Nhật Bản.
Tác giả khảo sát các công trình nghiên cứu nước ngoài liên quan đến nội dung
về vi phạm hợp đồng, các loại vi phạm hợp đồng cho thấy các tác giả này đã đưa ra
khái niệm về vi phạm hợp đồng rất đơn giản, chưa xây dựng khái niệm này một
cách cụ thể. Các công trình chủ yếu liệt kê từng hành vi cụ thể cho khái niệm này.
Bên cạnh đó, về các loại vi phạm mà các tác giả đề cập đến chủ yếu là hành vi
không thực hiện hợp đồng, vi phạm trước thời hạn. Hơn nữa, Một số tác giả khác đề
cập đến loại vi phạm các điều khoản chủ yếu và vi phạm các điều khoản thứ yếu
trong hợp đồng để xác định trách nhiệm hợp đồng. Đặc biệt, một số công trình còn
nghiên cứu vi phạm do các bên trong hợp đồng đều vi phạm, vi phạm do bên thứ ba
(ngoài hợp đồng) vi phạm. Tác giả sẽ kế thừa những nội dung này để tiếp tục
nghiên cứu hoàn thiện về quy định trong khái niệm, các loại vi phạm HĐTM tại
Việt Nam.
- Nhóm công trình nghiên cứu về căn cứ áp dụng trách nhiệm pháp lý do vi
phạm hợp đồng:
Trong quyển sách chuyên khảo “Civil remedies in Malaysia” (Các biện pháp
xử lý do vi phạm NVDS của Mã- lai-xi-a)[241], công trình này đã nghiên cứu về các
căn cứ như hành vi vi phạm, thiệt hại, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm
và thiệt hại, căn cứ lỗi, căn cứ thông báo, khiếu nại, tuy nhiên, ông nghiên cứu từng
loại hành vi vi phạm được áp dụng cho từng biện pháp trách nhiệm và nghiên cứu
căn cứ thiệt hại, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm và thiệt hại áp dụng
đối với hình thức BTTH. Ngoài ra, tác giả này cho rằng yếu tố lỗi không là căn cứ
để áp dụng trách nhiệm, tuy nhiên ông nhận thấy rằng khi áp dụng những biện pháp
xử lý mang tính công bằng tòa án vẫn xem xét lỗi của các bên khi vi phạm hợp
đồng. Bên cạnh đó, ông còn phân tích căn cứ thông báo bằng miệng hoặc bằng văn
bản là bắt buộc vì nghĩa vụ hợp đồng không tự động chấm dứt giữa các chủ thể mặc
dù bên bị vi phạm áp dụng bất kỳ biện pháp trách nhiệm nào cho bên vi phạm.
“Japanese Business Law”, (Luật Kinh doanh của Nhật) [245] mà tác giả tiếp
cận được, công trình có nêu một số căn cứ về vi phạm hợp đồng, thiệt hại, mối quan
hệ nhân quả giữa vi phạm và thiệt hại, lỗi, trong đó lỗi vẫn không là căn cứ bắt buộc
22
khi xác định trách nhiệm do vi phạm hợp đồng. Ngoài ra, tác giả này còn phân tích
hai căn cứ thông báo và căn cứ khiếu nại như những căn cứ bắt buộc khi bên bị vi
phạm áp dụng các loại trách nhiệm cho bên vi phạm. Hơn nữa, đối với căn cứ khiếu
nại, ông cho rằng việc bên bị vi phạm có được xác nhận là có xâm phạm đến quyền
và lợi ích của mình hay không là phụ thuộc vào sự quan tâm đến việc bên này có
quan tâm đến việc khiếu nại đúng quy định hay không. Trong hoạt động nghiên cứu
chuyên sâu căn cứ khiếu nại để xác định trách nhiệm do vi phạm hợp đồng còn có
công trình “Commercial law” là quyển sách chuyên khảo của Roy Goode [242] (
“Luật Thương mại”), trong quyển sách này, ông còn cho rằng nếu khi có hành vi vi
phạm hợp đồng xảy ra, trong thời gian đã thỏa thuận hoặc luật pháp có quy định mà
bên bị vi phạm không khiếu nại thì sau đó hành vi yêu cầu áp dụng loại trách nhiệm
pháp lý của bên bị vi phạm cho bên vi phạm hoàn toàn không có hiệu lực.
Tác giả Brendan Sweeney and Jenifer O Reilly có quyển sách chuyên khảo
“Law in commerce”[251] (Luật Thương mại”) đã trình bày bốn căn cứ xác định
trách nhiệm do vi phạm hợp đồng như vi phạm hợp đồng, thiệt hại, có lỗi, có mối
quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm và thiệt hại. Tuy nhiên, ông không phân tích
chung bốn căn cứ này để xác định trách nhiệm do vi phạm hợp đồng mà đề cập
riêng lẻ từng loại căn cứ cho mỗi loại trách nhiệm. Đặc biệt, ông xác định yếu tố lỗi
là căn cứ để xem xét biện pháp trách nhiệm hủy hợp đồng, hơn nữa căn cứ có mối
quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm và thiệt hại được ông phân tích rõ ở việc
xác định trách nhiệm BTTH và bên cạnh đó, ông còn phân tích một số bản án để
chứng minh về thiệt hại gián tiếp thì không được xem xét theo nguyên tắc Hadley v
Baxendale. Ngược lại với tác giả Brendan Sweeney and Jenifer O Reilly, tác giả
Nigel Savage and Robert Bradgate với quyển sách chuyên khảo “Business law”
(“Luật Kinh doanh”) cho rằng yếu tố lỗi không là căn cứ để áp dụng trách nhiệm
pháp lý do vi phạm hợp đồng, cụ thể là biện pháp trách nhiệm hủy hợp đồng. Ông
cho rằng, ngay cả khi bên vi phạm không có lỗi cũng sẽ phải chịu trách nhiệm trừ
những lý do chính đáng.
Trong quyển sách “The architecture of Euopean Codes and contract law” (cấu
trúc các Bộ luật của châu Âu và luật hợp đồng” của các tác giả Pauline Rémy –
Corlay trong chương “Structural elements of the French Civil Code” (những nội
dung của BLDS Pháp), tác giả Stefan Grundmann có chương “Structural elements
in the contract law parts of the German Civil Code” (một số nội dung của luật hợp
23
đồng trong BLDS Đức). Các tác giả nghiên cứu dựa trên quy định về căn cứ xác
định trách nhiệm do vi phạm hợp đồng của các BLDS pháp, BLDS Đức, Luật hợp
đồng của châu Âu để phân tích. Trong khi đó, các bộ luật này đều để cập đến bốn
yếu tố xác định trách nhiệm nêu trên như có hành vi vi phạm, có thiệt hại, có mối
quan hệ nhân quả, có lỗi, đặc biệt yếu tố lỗi vẫn là yếu tố quyết định khi vi phạm
hợp đồng dân sự nhưng trong quan hệ thương mại thì yếu tố này không là căn cứ
quyết định để xác định trách nhiệm.
Qua tổng quan cho thấy, các tác giả nước ngoài không nghiên cứu tập trung
các căn cứ xác định trách nhiệm do vi phạm hợp đồng thành một mục trong công
trình của mình mà chỉ đề cập rải rác từng loại căn cứ khi phân tích từng biện pháp
trách nhiệm. Bên cạnh đó, vấn đề về lỗi vẫn còn nhiều bàn cãi khi xác định là căn
cứ để áp dụng trách nhiệm mà chưa có sự thống nhất trong quan điểm giữa các tác
giả. Riêng, căn cứ thông báo và căn cứ khiếu nại được phân tích cụ thể trong nhiều
công trình có liên quan. Đây là vấn đề quan trọng mà tác giả kế thừa để tiếp tục
nghiên cứu hoàn thiện trong quy định về căn cứ xác định trách nhiệm của LTM Việt
Nam.
- Nhóm công trình nghiên cứu về trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng,
các biện pháp trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng:
Quyển sách chuyên khảo của ông Cheong May Fong, 2007. “Civil remedies in
Malaysia” (Các biện pháp xử lý do vi phạm nghĩa vụ dân sự của Mã- lai-xi-a)[241],
ông nghiên cứu về biện pháp xử lý do vi phạm hợp đồng, các biện pháp trách nhiệm
áp dụng cho bên vi phạm như hủy hợp đồng, BTTH, buộc thực hiện toàn bộ hợp
đồng, lệnh của tòa án, trả lại những gì đã nhận, các biện pháp công bằng mà tòa án
áp dụng. Và trong mỗi biện pháp trách nhiệm ngoài việc phân tích các vấn đề lý
luận như khái niệm, đặc điểm, căn cứ áp dụng, hậu quả của từng biện pháp trách
nhiệm thì ông còn bình luận các luật thực định (Đạo luật về hợp đồng 1950 của Ma-
lai-xi-a, Luật Bán hàng 1957, Luật Thi hành nghĩa vụ 1950), ngoài ra còn bình luận
một số bản án để chứng minh sự phù hợp giữa quy định và thực tiễn áp dụng. Trong
công trình này, tác giả sẽ kế thừa các vấn đề lý luận về xác định duy nhất một biện
pháp làm chấm dứt hợp đồng đó là hủy hợp đồng có hồi tố và không hồi tố và bãi
bỏ biện pháp đình chỉ thực hiện hợp đồng như quy định trong LTM hiện hành. Đặc
biệt kế thừa các biện pháp xử lý như lệnh cấm hoặc buộc thực hiện một công việc
của tòa án và đưa vào là các biện pháp trách nhiệm do vi phạm hợp đồng. Hơn nữa,
24
tác giả còn tiếp cận mang tính kế thừa các vấn đề về căn cứ, cách thức, thời điểm,
cưỡng chế trả lại giá trị tài sản mà các bên đã nhận.
“Business law and the regulatory Environment, concept and cases” (Những
quy định về luật pháp về hoạt động kinh doanh: quy định và thực tiễn giải quyết”
Eleventh Edition là sách chuyên khảo của các tác giả Jane P.Mallor, A.Jame Bardes,
Thomas Bowers, Michael J.Phillips and Arlen W.langvardt Trường Đại học
Indiana. Công trình này bàn về các loại trách nhiệm do vi phạm hợp đồng trong hợp
đồng nói chung và trong HĐTM nói riêng bao gồm trách nhiệm pháp lý về BTTH,
những biện pháp công bình do tòa án áp dụng và những trường hợp hoàn trả lại tài
sản khi hủy hợp đồng. Trong đó, quyển sách này còn nêu từng biện pháp trách
nhiệm cụ thể mà hai bên mua và bán phải chịu trong khi vi phạm hợp đồng mua bán.
Phương pháp nghiên cứu này tương tự công trình nghiên cứu “Các biện pháp xử lý do
không thực hiện đúng hợp đồng” của tác giả Đỗ Văn Đại. Tuy nhiên, ông nghiên cứu
chủ yếu về biện pháp BTTH và phân tích cụ thể từng hành vi mà hai bên sẽ phải sử
dụng để xử lý khi có hành vi vi phạm hợp đồng; ví dụ như bên mua có quyền yêu cầu
BTTH nếu có do hành vi không giao hàng, giao thiếu hàng, buộc thi hành toàn bộ hợp
đồng; bên bán được hủy bán hàng hóa nếu có vi phạm từ phía bên mua, yêu cầu trả lại
hàng hóa, nghiên cứu tăng giá bán, BTTH do không thực hiện hợp đồng, ngừng giao
hàng. Và trong một số biện pháp trách nhiệm đề tài của tác giả này cũng có phân tích
một số vụ án cụ thể để chứng minh những quy định phù hợp và chưa phù hợp với thực
tiễn áp dụng.
Trong quyển sách chuyên khảo “Charlesworth’s Business law” (Luật kinh
doanh của Carlesworth), Sixteenth Edition by Paul Dobson, London sweet and
Maxwell, 1997, tại chương 9 của công trình, công trình có đề cập đến các biện pháp
xử lý do vi phạm hợp đồng như BTTH, thỏa thuận lại nội dung hợp đồng (quantum
meruit), buộc thi hành toàn bộ hợp đồng, lệnh cấm hoặc buộc của tòa án. Trong đó,
đối với biện pháp BTTH, ông nêu về biện pháp bồi thường ấn định (liquidated
damages) và phạt vi phạm (penalties), theo đó bồi thường ấn định là khoản tiền mà
các bên thỏa thuận thống nhất trong hợp đồng, còn phạt vi phạm là những thiệt hại
phải được bồi thường theo tổn thất thực tế. Quan điểm này dường như đi ngược lại
với cách hiểu về BTTH, phạt vi phạm của Việt Nam. Tuy nhiên, quan điểm này đã
góp phần làm phong phú hơn về mặt lý luận khi nghiên cứu về vấn đề này.
25
Braginskii Comm., “The role of contract Law in Russian” (Vai trò của luật
hợp đồng của Nga)[233]; Christopher Osakwe,“Modern Russian Law of Contracts:
A Functional Analysis”[247], (Luật hợp đồng hiện hành của Nga: phân tích một số
chức năng) đã nghiên cứu về BTTH, bồi thường ấn định, trả lãi chậm thanh toán,
buôc thi hành toàn bộ hợp đồng, lệnh cấm hoặc buộc thực hiện một công việc (ông
cho rằng lệnh cấm hoặc buộc thực hiện một công việc, đây là một biện pháp không
tách rời trong các biện pháp trách nhiệm được BLDS Nga quy định).
Trong quyển sách chuyên khảo “Law in commerce” (Luật thương mại”)[251]
mà tác giả tiếp cận được, tác giả này đã nghiên cứu về biện pháp hủy hợp đồng,
giảm giá, BTTH, buộc thi hành toàn bộ hợp đồng, lệnh cấm và buộc thực hiện công
việc, trả lại những gì đã nhận, trong đó tác giả này cho rằng lệnh cấm và buộc thực
hiện công việc, trả lại những gì đã nhận mà tòa án cưỡng chế là những biện pháp
trách nhiệm mà bên vi phạm phải thực hiện.
“The law of contracts”[232], (luật pháp về hợp đồng) của John D.Calamari
and Joseph M. Perillo là quyển sách chuyên khảo nghiên cứu hai loại trách nhiệm
về BTTH và trả lại những gì đã nhận, trong đó ông nêu khái niệm, các loại bồi
thường, căn cứ và giá trị bồi thường và phân tích các bản án áp dụng biện pháp
trách nhiệm này để giải thích cho các quy định. Ngoài ra, ông cho rằng trả lại những
gì đã nhận mà tòa án cưỡng chế thi hành sau khi đã có phán quyết từ tòa án vẫn là
một biện pháp trách nhiệm pháp lý mà bên vi phạm phải thi hành.
Tóm lại, qua khảo sát các công trình nước ngoài có đề cập đến những nội
dung có liên quan đến trách nhiệm pháp lý và các biện pháp trách nhiệm pháp lý,
tác giả nhận định rằng: Các công trình ít đề cập đến việc phân tích khái niệm và
đặc điểm của trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng mà chỉ phân tích chức
năng của loại trách nhiệm này. Hơn nữa, các công trình chủ yếu nghiên cứu về
biện pháp BTTH, cụ thể nghiên cứu về các hình thức, mức độ, cách tính toán để
bồi thường, tuy nhiên, điều đáng lưu ý là, đa số các công trình này đều cho rằng
những biện pháp cưỡng chế từ tòa án trong quá trình giải quyết vụ án hoặc sau
khi bản án có hiệu lực cũng là những biện pháp trách nhiệm trong loại trách
nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng. Thêm vào đó, qua mỗi biện pháp trách
nhiệm các công trình đều phân tích các bản án để chứng minh thực trạng áp dụng
pháp luật. Đây chính là những nội dung mang tính nền tảng mà tác giả sẽ kế thừa
và tiếp tục nghiên cứu trong đề tài này.
26
- Nhóm công trình nghiên cứu về các căn cứ miễn trách nhiệm do vi phạm
hợp Đồng
Trong quyển sách “Force majeure and hardship under general contract
principles – Exemption for non –performance in International Arbitration” (Miễn
trách nhiệm do không thực hiện hợp đồng dưới nguyên tắc hợp đồng thông dụng do
gặp phải SKBKK và hoàn cảnh khó khăn - theo phán quyết trọng tài quốc tế) của
tác giả Chritoph Brunner, Wolter Kluwer Publisher, 2002, ông đã nghiên cứu về
khái niệm, đặc điểm của hành vi không thực hiện hợp đồng và hai trường hợp miễn
trách nhiệm đó là SKBKK và hoàn cảnh khó khăn. Đặc biệt, tác giả này cho rằng
hành vi không thực hiện hợp đồng này của bên có nghĩa vụ thực hiện nhưng bên
này hoàn toàn không có lỗi và nguyên tắc thực hiện đúng nghĩa vụ cam kết không
được đề cao trong trường hợp không thực hiện hợp đồng này. Bên cạnh đó, đề tài
còn so sánh hai trường hợp miễn trừ trách nhiêm này giữa CƯV, PICC, BLDS Pháp
và nêu những bản án được các trọng tài xét xử để so sánh những quy định về các
trường hợp miễn trách nhiệm này với thực tế áp dụng. Một điều chú ý của công
trình này là ông sử dụng thuật ngữ “không thực hiện hợp đồng” mà không sử dụng
thuật ngữ vi phạm hợp đồng trong các trường hợp miễn trách nhiệm.
Trong chương 13 của quyển sách chuyên khảo “The law of contracts”, third
edition, 1987, west publishing Co.St. Paul, Minn, (luật pháp về hợp đồng) của
John D.Calamari and Joseph M. Perillo đã nghiên cứu về những trường hợp không
thể thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện, phá sản trong kinh doanh và rủi
ro bị thiệt hại. Các tác giả cho rằng một bên bị phá sản, chết hoặc tai nạn hoặc hợp
đồng bị rơi vào trường hợp bất khả kháng hay hoàn cảnh khó khăn thì những
trường hợp này các bên không ai có lỗi vì vậy bên có nghĩa vụ sẽ không phải chịu
trách nhiệm hợp đồng.
Tác giả Christopher Osakwe có quyển sách chuyên khảo về “Modern Russian
Law of Contracts: A Functional Analysis”, (Luật hợp đồng hiện hành của Nga:
phân tích một số chức năng) [247] mà tác giả tiếp cận được, trong tác phẩm này,
ông đề cập đến trường hợp không thực hiện được hợp đồng do trở ngại khách quan,
do SKBKK, do quyết định của nhà nước, do bị phá sản hoặc chết và hoàn cảnh kinh
tế khó khăn. Theo đó, khi bên có nghĩa vụ không thực hiện hợp đồng trong những
trường hợp này thì không bị xem là có lỗi nên không phải chịu trách nhiệm.
27
Tác giả đã tiếp cận và tổng quan những công trình có liên quan đến nội dung
này của các tác giả nước ngoài cho thấy, các tác giả chủ yếu nghiên cứu hai trường
hợp miễn trách nhiệm cho bên có nghĩa vụ khi bên này không thực hiện hợp đồng
đó là có SKBKK và hoàn cảnh khó khăn. Ngoài ra, còn cho rằng những trường hợp
phá sản, chết hoặc tai nạn cũng là những trường hợp khi một bên không thực hiện
hợp đồng thì cũng sẽ không chịu trách nhiệm. Đây là những lý luận cơ bản làm nền
tảng cho tác giả kế thừa và tiếp tục phân tích để hoàn thiện các quy định của pháp
LTM về trường hợp một hoặc các bên trong hợp đồng không phải chịu trách nhiệm
trong trường hợp không thể thực hiện hợp đồng.
1.1.3. Đánh giá tình hình nghiên cứu về trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp
đồng thƣơng mại
- Đánh giá công trình trong và ngoài nước nghiên cứu về các nhóm nội dung
liên quan đến luận án
Qua nghiên cứu các tài liệu, công trình có liên quan đến đề tài nghiên cứu về
trách nhiệm pháp lý do vi phạm HĐTM từ trước đến nay ở Việt Nam cũng như trên thế
giới mà nghiên cứu sinh tiếp cận được, tác giả xin đưa ra một vài đánh giá như sau.
Thứ nhất, đối với các công trình nghiên cứu về nội dung vi phạm hợp đồng,
các loại vi phạm hợp đồng: Đa số các công trình có quan điểm thống nhất với nhau
về khái niệm vi phạm hợp đồng là việc không thực hiện hợp đồng ngoài những lý
do chính đáng (không thực hiện hợp đồng được hiểu là thực hiện không đúng hợp
đồng, chậm thực hiện hợp đồng,…). Hơn nữa, các tác giả còn có quan điểm cho
rằng không nên dùng thuật ngữ “vi phạm hợp đồng” khi hợp đồng không thực hiện
được, nó sẽ không mang tính bao quát tất cả các trường hợp. Vì vậy, thuật ngữ
“không thực hiện đúng hợp đồng” có thể thay thế cho thuật ngữ vi phạm hợp đồng
nhưng quan điểm này vẫn chưa được thống nhất cao trong một số tác giả. Với việc
phân biệt các loại vi phạm hợp đồng, một số tác giả thống nhất chia thành vi phạm
cơ bản, vi phạm không cơ bản, vi phạm trước thời hạn, một số tác giả khác chia
thành vi phạm nghiêm trọng, không nghiêm trọng, vi phạm trước thời hạn. Nhóm
tác giả khác chia thành các loại vi phạm hợp đồng trên và bên cạnh đó còn phân tích
thêm vi phạm do các bên đều vi phạm và vi phạm do bên thứ ba vi phạm. Vì vậy, về
nội dung phân loại vi phạm hợp đồng, các công trình trong và ngoài nước vẫn còn
tranh cãi mà chưa thống nhất cao trong việc phân loại về vi phạm hợp đồng.
28
Thứ hai, các nghiên cứu đã thống nhất các căn cứ áp dụng trách nhiệm do vi
phạm hợp đồng là có hành vi vi phạm hợp đồng, có thiệt hại xảy ra, có mối quan hệ
nhân quả giữa thiệt hại và hành vi vi phạm gây ra thiệt hại đó. Hơn nữa, còn có
quan điểm cho rằng cần có căn cứ lỗi khi xác định trách nhiệm do vi phạm hợp
đồng. Ngoài ra, trong một số công trình nghiên cứu còn cho rằng nên xác định căn
cứ thông báo và khiếu nại là căn cứ xác định trách nhiệm do vi phạm hợp đồng. Vì
vậy, về các căn cứ để xác định trách nhiệm do vi phạm HĐTM các tác giả trong các
công trình trong và ngoài nước vẫn chưa có sự thống nhất hoàn toàn với nhau.
Thứ ba, các tác giả có nhiều quan điểm khác nhau về việc sử dụng thuật ngữ
nào giữa các thuật ngữ chế tài, trách nhiệm pháp lý, biện pháp xử lý do vi phạm
HĐTM. Các loại trách nhiệm do vi phạm HĐTM vẫn còn có nhiều quan điểm khác
nhau số lượng biện pháp trách nhiệm, cách áp dụng các biện pháp trách nhiệm cho
chủ thể. Trong đó, có quan điểm cho rằng các loại trách nhiệm chỉ áp dụng cho bên
vi phạm, có quan điểm cho rằng áp dụng cho bên có quyền và cả bên có nghĩa vụ.
Ngoài ra, một số tác giả cho rằng các loại trách nhiệm do vi phạm hợp đồng chỉ do
tòa án, trọng tài áp dụng, nhưng một số thì còn cho rằng ngay cả khi bên bị vi phạm
áp dụng cho bên vi phạm chưa có sự cưỡng chế của tòa án. Hơn nữa, một số tác giả
còn cho rằng những biện pháp sử dụng để cưỡng chế thi hành sau khi có bản án (thi
hành án) cũng là các biện pháp trách nhiệm mà bên vi phạm phải gánh chịu. Như
vậy, về việc sử dụng thuật ngữ, các biện pháp trách nhiệm, giới hạn để xác định số
lượng về biện pháp trách nhiệm vẫn chưa được các tác giả trong và ngoài nước hoàn
toàn thống nhất với nhau.
Thứ tư, đối với chế định về miễn trách nhiệm do vi phạm HĐTM, đa số các
tác giả thống nhất các căn cứ miễn trách nhiệm như SKBKK, do quyết định của cơ
quan nhà nước có thẩm quyền, do thỏa thuận, do bên bị vi phạm có lỗi, do bên thứ
ba vi phạm do SKBKK. Ngoài ra, một số tác giả còn xác định căn cứ hoàn cảnh khó
khăn và còn có quan điểm của một số tác giả bổ sung các trường hợp giảm trách
nhiệm do vi phạm hợp đồng. Như vậy, về căn cứ miễn trách nhiệm thì có sự thống
nhất mang tính tương đối nhưng tiếp tục bổ sung một số trường hợp hoàn cảnh khó
khăn và giảm trách nhiệm.
- Những vấn đề đặt ra nghiên cứu trong luận án
Thông qua việc tổng quan, kế thừa những công trình trong và ngoài nước
liên quan đến đề tài, tác giả sẽ tiếp tục nghiên cứu những vấn đề sau:
29
- Tác giả làm rõ khái niệm về vi phạm HĐTM, đặc trưng, chủ thể vi phạm
HĐTM, khách thể của HĐTM.
- Về phân loại vi phạm HĐTM, tác giả kế thừa những loại vi phạm mà các
công trình trong và ngoài nước đã nghiên cứu và tiếp tục nghiên cứu về vi phạm do
các bên đều vi phạm, vi phạm do bên thứ ba (ngoài hợp đồng) vi phạm.
- Về căn cứ phát sinh trách nhiệm do vi phạm HĐTM: tác giả phân tích rõ có
bao nhiêu căn cứ để xác định trách nhiệm do vi phạm hợp đồng. Bên cạnh đó, tác
giả sẽ phân tích mỗi căn cứ cụ thể để xác định từng biện pháp trách nhiệm tương
ứng. Ngoài ra, tác giả sẽ kiến nghị loại bỏ một số căn cứ không cần thiết và bổ sung
thêm một số căn cứ mới khi áp dụng trách nhiệm và bổ sung yếu tố lỗi cố ý, ác ý là
căn cứ để xác định vi phạm nghiêm trọng hợp đồng. Đặc biệt, tác giả sẽ bổ sung
việc thông báo về vi phạm nghĩa vụ hợp đồng và việc khiếu nại là căn cứ để xác
định trách nhiệm pháp lý đối với bên vi phạm.
- Tác giả kế thừa những đặc điểm, chức năng về trách nhiệm pháp lý do vi
phạm hợp đồng, đề tài tiếp tục bổ sung thêm những đặc điểm mới về trách nhiệm do
vi phạm HĐTM. Ngoài ra, tác giả sẽ nghiên cứu thêm về chức năng của việc áp
dụng trách nhiệm do vi phạm HĐTM. Tiếp theo, trên cơ sở kế thừa các công trình
nghiên cứu về loại trách nhiệm do vi phạm hợp đồng, tác giả bổ sung một số biện
pháp mới như cầm giữ tài sản, giảm giá và cần mở rộng thêm biện pháp trách nhiệm
như những biện pháp áp dụng khẩn cấp tạm thời, lệnh cấm hoặc buộc phải thực
hiện, ngay cả những biện pháp cưỡng chế thi hành án. Tất cả những biện pháp này
đều là trách nhiệm do hành vi vi phạm hợp đồng mà bên vi phạm phải chịu. Trong
những trường hợp như vậy, tác giả cho rằng trách nhiệm phải được hiểu là công
việc mà bên có nghĩa vụ phải thực hiện từ khi có yêu cầu của bên bị vi phạm cho
đến khi thực hiện xong phần trách nhiệm, tức là phải có kết quả cuối cùng là bên có
quyền phải nhận được những lợi ích hợp pháp mà đã và đang bị bên vi phạm xâm
phạm (không phải dừng ở bản án có hiệu lực). Ngoài ra, mối quan hệ giữa các biện
pháp trách nhiệm vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau, cần tiếp tục nghiên cứu sâu
để thống nhất trong nhận thức cũng như việc áp dụng. Hậu quả pháp lý khi áp dụng
những biện pháp trách nhiệm vẫn chưa được nghiên cứu một cách có hệ thống, tác
giả sẽ tiếp tục nghiên cứu những vấn đề này. Tác giả nhận thấy rằng cần nghiên cứu
đưa vào LTM hiện hành những biện pháp trách nhiệm mới tránh trường hợp các bên
tự thỏa thuận với nhau gây ra việc sử dụng hoặc áp dụng tùy tiện khi chấm dứt hợp
30
đồng đồng thời phân tích lợi ích và nghĩa vụ của người thứ ba (ngoài hợp đồng) khi
áp dụng trách nhiệm cho bên vi phạm.
- Về miễn trách nhiệm do vi phạm HĐTM, trên cơ sở kế thừa những công
trình đã nghiên cứu, tác giả tiếp cận theo hướng các bên không chịu trách nhiệm do
không thực hiện được hợp đồng do pháp luật quy định theo các trường hợp được
LTM hiện hành quy định. Tuy nhiên, tác giả sẽ bổ sung vào các căn cứ các bên
trong hợp đồng không phải chịu trách nhiệm do bên thứ ba có quan hệ với một bên
trong hợp đồng gặp SKBKK, do hết thời hiệu khởi kiện. Tác giả sẽ tiếp tục nghiên
cứu các trường hợp các bên được thỏa thuận lại quyền và nghĩa vụ hợp đồng khi
gặp những gặp hoàn cảnh khó khăn hoặc trở ngại khách quan. Hơn nữa, tác giả sẽ
xác định lại các trường hợp miễn, giảm trách nhiệm do bên bị vi phạm quyết định.
Ngoài các nội dung cần tiếp tục nghiên cứu như đã nêu, dựa trên nền tảng của
các công trình nghiên cứu trước đây về thực trạng áp dụng các quy định về trách
nhiệm do vi phạm HĐTM, tác giả sẽ tiếp tục nghiên cứu một số các bản án có liên
quan để chứng minh các quy định trong LTM hiện hành, phương pháp, cách thức áp
dụng pháp luật của cơ quan tòa án có những điểm phù hợp và chưa phù hợp với
thực tiễn. Thêm vào đó, quá trình điều chỉnh pháp luật về trách nhiệm do vi phạm
HĐTM qua các giai đoạn lịch sử của nhà nước Việt Nam cũng sẽ được tác giả xem
xét ở mức độ cần thiết để giúp cho việc nghiên cứu thực trạng các quy định pháp
luật hiện hành toàn diện. Trên cơ sở nhận thức lý luận cũng như đánh giá thực trạng
pháp luật về trách nhiệm do vi phạm HĐTM, tác giả có nhiệm vụ đưa ra những kiến
nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm do vi phạm HĐTM. Bên cạnh việc
đưa ra những giải pháp hoàn thiện pháp luật, tác giả cần kiến nghị các giải pháp
nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về trách nhiệm do vi phạm HĐTM - đó chính
là những bảo đảm pháp lý cho việc áp dụng các biện pháp trách nhiệm do vi phạm
HĐTM.
Theo thống kê, tổng hợp và đánh giá tình hình những công trình đã nghiên cứu
về trách nhiệm pháp lý do vi phạm HĐTM trong giai đoạn vừa qua đã cơ bản giải
quyết được tình trạng vi phạm hợp đồng, đảm bảo sự công bằng khi áp dụng trách
nhiệm do vi phạm HĐTM. Tuy nhiên, về lý luận, luật thực định, thực thi pháp luật,
nhận thức pháp luật về nội dung này vẫn còn nhiều vướng mắc khi áp dụng vào
thực tế trong điều kiện, hoàn cảnh hội nhập hiện nay vì việc này chưa được giải
31
quyết thấu đáo tại Việt Nam. Vì vậy, xu hướng trong tương lai, chế độ về trách
nhiệm pháp lý do vi phạm HĐTM là đề tài mà được các nhà nghiên cứu đề cập đến.
Tóm lại, thông qua việc đánh giá tổng quát tình hình nghiên cứu liên quan đến
đề tài luận án, tác giả nhận thấy từ năm 2005 đến nay ở nước ta chưa có công trình
chuyên khảo nào nghiên cứu toàn diện vấn đề lý luận và điều chỉnh pháp luật cũng
như thực tiễn áp dụng về trách nhiệm do vi phạm HĐTM. Vì vậy, việc tiếp tục
nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về trách nhiệm do vi phạm HĐTM
theo hướng tiếp cận mới là cần thiết.
1.2. Cơ sở lý thuyết, giả thuyết nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu của luận án
1.2.1. Cơ sở lý thuyết của luận án
Luận án được tác giả nghiên cứu trên quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, cụ
thể là học thuyết về trách nhiệm cá nhân, quan điểm của Hồ Chí Minh về trách
nhiệm “Trách nhiệm là điều phải làm, phải gánh vác hoặc phải nhận lấy về mình”
[10, tr.7], lý thuyết về bảo đảm, bảo vệ quyền con người, dựa vào đường lối, chính
sách của Đảng và Nhà nước về lý thuyết trách nhiệm cá nhân.
Trên cơ sở lý luận về Nhà nước và pháp luật như lý thuyết về trách nhiệm,
trách nhiệm pháp lý do vi phạm pháp luật để phân tích các đặc điểm của trách
nhiệm do vi phạm HĐTM. Lý thuyết về các căn cứ để xác định trách nhiệm pháp lý
do vi phạm pháp luật để phân tích các căn cứ phát sinh trách nhiệm do vi phạm
HĐTM. Lý thuyết về miễn trách nhiệm pháp luật để phân tích về các trường hợp
miễn trách nhiệm do vi phạm HĐTM. Hơn nữa, tác giả còn dựa vào lý luận về vi
phạm pháp luật để phân tích các đặc điểm của vi phạm HĐTM, về các dấu hiệu của
hành vi vi phạm pháp luật để giải thích về các yếu tố cấu thành vi phạm HĐTM.
Ngoài ra, căn cứ vào quan điểm của Jean-Jacques Rousseau, lý thuyết về bảo
vệ quyền con người trong đó có quyền tự do kinh doanh [86], theo đó, ở đâu có phát
sinh quyền thì đồng thời sẽ phải có nghĩa vụ, khi nghĩa vụ không được thực hiện
đúng mức thì phải được pháp luật bảo vệ bằng biện pháp hữu hiệu, đó là trách
nhiệm pháp lý. Xuất phát từ lý luận về nhà nước và pháp luật của một số quốc gia
trên thế giới như Anh, Pháp, Nga, Trung Quốc về trách nhiệm do vi phạm HĐTM
(liabilities for breach contract) để áp dụng làm cơ sở giải thích, phân tích xuyên suốt
toàn bộ luận án.
32
1.2.2. Giả thuyết nghiên cứu của luận án
Việc quy định các nội dung về trách nhiệm pháp lý do vi phạm HĐTM, cụ
thể về vi phạm HĐTM, các loại vi phạm HĐTM, các căn cứ xác định trách
nhiệm,các biện pháp trách nhiệm (chế tài trong thương mại), các trường hợp
miễn trách nhiệm do vi phạm HĐTM trong LTM năm 2005 và các văn bản pháp
luật có liên quan chưa hoàn toàn phù hợp là một trong những nguyên nhân dẫn
đến tranh chấp HĐTM, vi phạm HĐTM giữa các chủ thể ngày càng nhiều, phứt
tạp hơn như hiện nay.
Áp dụng đúng các biện pháp trách nhiệm pháp lý do vi phạm HĐTM từ trong
quy định pháp luật thực định và thực tiễn thực thi pháp luật thực sự ngăn chặn việc
vi phạm hợp đồng thương mại, giảm thiểu vấn đề hủy HĐTM, tránh trường hợp áp
dụng sai lệch biện pháp trách nhiệm pháp lý, giảm tình trạng kéo dài vụ việc tranh
chấp, không gây tốn nhiều chi phí cho các chủ thể hợp đồng, nhà nước và xã hội.
Giải pháp điều chỉnh nhận thức đúng quan điểm lý luận, hiểu đúng cách áp
dụng pháp luật từ các chủ thể hợp đồng, chủ thể thực thi pháp luật về trách nhiệm
pháp lý do vi phạm HĐTM (theo những kiến nghị trong luận án về quy định pháp
luật, về thực trạng áp dụng, về nhận thức pháp luật) sẽ làm cho các chủ thể hợp
đồng ký kết ngày càng nhiều hợp đồng, ít vi phạm góp phần xây dựng quy định
pháp luật về trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng ngày càng hoàn thiện hơn so
với thực tiễn, kích thích nền kinh tế phát triển theo hướng bền vững hơn.
1.2.3. Câu hỏi nghiên cứu của luận án
2. Vi phạm HĐTM được hiểu như thế nào? Hành vi nào bị xem là vi phạm HĐTM?
Có bao nhiêu loại vi phạm HĐTM? Những loại vi phạm HĐTM có những đặc điểm
gì khác biệt so với vi phạm hợp đồng khác ?
3. Trách nhiệm pháp lý do vi phạm HĐTM là gì? Bản chất của trách nhiệm pháp lý
do vi phạm HĐTM là gì? Mục đích của việc áp dụng trách nhiệm pháp lý do vi
phạm HĐTM là gì? Trách nhiệm pháp lý do vi phạm HĐTM có đặc trưng nào?
4. Cơ sở pháp lý để truy cứu trách nhiệm pháp lý do vi phạm HĐTM được xác định
như thế nào? Có bao nhiêu căn cứ được áp dụng để xác định trách nhiệm pháp lý
khi vi phạm HĐTM?
5. Có bao nhiêu biện pháp trách nhiệm pháp lý được áp dụng do vi phạm HĐTM?
Tác động của từng loại trách nhiệm pháp lý có phải là cách thức giải quyết dứt điểm
33
hành vi vi phạm HĐTM hay không? Hiệu quả của từng biện pháp trách nhiệm pháp
lý có tác động đến tình hình vi phạm HĐTM ở Việt Nam như thế nào?
6. Trách nhiệm pháp lý do vi phạm HĐTM được pháp luật Việt Nam quy định như
thế nào? Việc quy định về nội dung này có phù hợp với thực tiễn áp dụng hoặc phù
hợp với quy định trong thông lệ quốc tế hay không?
7. Việc quy định về trách nhiệm pháp lý do vi phạm HĐTM trong LTM hiện hành
phù hợp với thực tiễn áp dụng có khác biệt so với việc quy định chưa phù hợp trong
hoạt động giảm thiểu tình trạng vi phạm hợp đồng hoặc áp dụng đúng trách nhiệm
khi xảy ra vi phạm. Mối quan hệ hợp đồng giữa các chủ thể sẽ tốt hơn, hợp đồng sẽ
được thực hiện nhiều hơn, hợp đồng sẽ không bị hủy nếu quy định pháp luật về nội
dung này phù hợp hơn không?
8. Miễn trách nhiệm do vi phạm HĐTM được hiểu như thế nào? Miễn trách nhiệm
khác với không phải chịu trách nhiệm pháp lý như thế nào? Những căn cứ để xác
định miễn trách nhiệm do vi phạm HĐTM là những căn cứ nào?
9. Thực trạng áp dụng trách nhiệm pháp lý do vi phạm HĐTM khi xử lý vi phạm
HĐTM ở Việt Nam diễn ra như thế nào? Hướng xét xử có đảm bảo tính công bằng
khi áp dụng trách nhiệm đối với các chủ thể hay không? Các biện pháp trách nhiệm
áp dụng cho các chủ thể hợp đồng có chính xác, phù hợp mang tính thuyết phục cao
hay không?. Từ đó, áp dụng giải pháp từ việc hoàn thiện pháp luật, thực thi pháp
luật theo kiến nghị liệu có giảm thiểu việc áp dụng chưa chính xác trách nhiệm cho
các chủ thể hợp đồng, ít có vi phạm hợp đồng như khi chưa có kiến nghị hay
không?
10. Giải pháp nào để giảm thiểu tình hình vi phạm HĐTM? Giải pháp nào để hoàn
thiện cơ sở pháp lý về trách nhiệm pháp lý do vi phạm HĐTM? Giải pháp nào để
khôi phục lại chính xác tình trạng thiệt hại của bên bị vi phạm và ngăn ngừa những
hành vi vi phạm mới?
11. Nhận thức đúng quy định của pháp luật khi thực hiện pháp luật về trách nhiệm
pháp lý do vi phạm HĐTM sẽ giảm hành vi vi phạm hợp đồng so với nhận thức
chưa đúng của các chủ thể hợp đồng không? Nhận thức đúng pháp luật về trách
nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng khi áp dụng trách nhiệm của các cơ quan áp
dụng pháp luật liệu có tạo sự công bằng khi áp dụng các biện pháp trách nhiệm cho
các chủ thể vi phạm hợp đồng hay không?
34
Kết luận chƣơng 1
1. Các công trình nghiên cứu ở trong nước có liên quan đến vấn đề về trách nhiệm
do vi phạm HĐTM đã giải quyết được một số khía cạnh về lý luận, thực trạng, giải
pháp hoàn thiện các quy định pháp luật. Nhưng vẫn còn nhiều nội dung có quan
điểm chưa thống nhất cụ thể về các hình thức vi phạm HĐTM, căn cứ áp dụng trách
nhiệm do vi phạm hợp đồng, các biện pháp trách nhiệm pháp lý, các trường hợp
miễn trách nhiệm do vi phạm HĐTM trong giai đoạn hiện nay.
2. Đối với các công trình nghiên cứu ở nước ngoài có liên quan đến đề tài, các công
trình nghiên cứu này, chủ yếu nghiên cứu về lý luận, thực trạng pháp luật và giải
pháp hoàn thiện pháp luật ở mỗi quốc gia khác nhau. Tuy vậy, những công trình
nghiên cứu này có những quan điểm tiến bộ, phù hợp với hoàn cảnh quốc tế trong
điều kiện hiện nay mà đề tài cần phải cân nhắc, học hỏi áp dụng vào quy định của
pháp luật Việt Nam nhằm khắc phục những điểm chưa phù hợp theo quy định của
xu hướng thế giới như mở rộng các hình thức vi phạm hợp đồng, bổ sung các biện
pháp trách nhiệm do vi phạm hợp đồng như các lệnh cấm, hạn chế quyền từ tòa án,
các trường hợp miễn trách nhiệm do gặp phải hoàn cảnh khó khăn (hardship), hành
vi không thực hiện hợp đồng có liên quan đến bên thứ ba, các căn cứ xác định trách
nhiệm pháp lý.
3. Từ những công trình khoa học trong và ngoài nước mà tác giả đã tiếp cận được,
tác giả sẽ kế thừa những lý luận, thực trạng áp dụng về trách nhiệm pháp lý do vi
phạm hợp đồng, các hình thức vi phạm, các căn cứ áp dụng trách nhiệm pháp lý do
vi phạm hợp đồng, các biện pháp áp dụng trách nhiệm pháp lý, các trường hợp miễn
trách nhiệm. Theo đó, tác giả tiếp tục nghiên cứu để làm sáng tỏ hơn về lý luận,
thực trạng pháp luật để đưa ra những giải pháp hoàn thiện về đặc điểm của vi phạm
hợp đồng, các hình thức vi phạm HĐTM, căn cứ thông báo, khiếu nại khi áp dụng
trách nhiệm, bổ sung biện pháp trách nhiệm vào trong nhóm trách nhiệm do vi
phạm HĐTM, phân biệt miễn trách nhiệm do vi phạm hợp đồng với không chịu
trách nhiệm do không có vi phạm hợp đồng, thêm các trường hợp miễn trách nhiệm
do vi phạm hợp đồng, cần xem xét yếu tố lỗi cố ý khi có thỏa thuận miễn trách
nhiệm do vi phạm hợp đồng.
35
4. Từ những phân tích, đánh giá các công trình nghiên cứu nêu trên, tác giả sẽ kế
thừa những nội dung mà các công trình đã đạt được để tiếp tục nghiên cứu làm
phong phú hơn những lý luận và thực trạng pháp luật và từ đó đưa ra những giải
pháp nhằm hoàn thiện về trách nhiệm do vi phạm HĐTM mà những nghiên cứu
trước đây chưa khắc phục được, những công việc này sẽ được đề tài nghiên cứu
trong những chương tiếp theo.
36
Chƣơng 2
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ DO VI PHẠM
HỢP ĐỒNG THƢƠNG MẠI
2.1. Vi phạm hợp đồng thƣơng mại
2.1.1. Khái niệm và đặc trƣng về vi phạm hợp đồng thƣơng mại
Hiện nay, trong khoa học pháp luật hợp đồng nói chung, HĐTM nói riêng
chưa thống nhất về khái niệm “vi phạm” HĐTM. Theo từ điển Tiếng Việt, vi phạm
“là không tuân theo hoặc làm trái lại những điều quy định” [134,Tr.1112]. Theo
đó, vi phạm thể hiện dưới dạng “không tuân theo” hoặc “làm trái lại” nghĩa là buộc
phải thực hiện nhưng không thực hiện hoặc quy định không được làm thì lại làm.Vì
thế, nếu áp dụng nội dung của khái niệm trên vào trong quan hệ hợp đồng thì có thể
hiểu rằng khi một bên không tuân theo hoặc làm trái lại những gì mà các bên đã
quy định trong hợp đồng được gọi là vi phạm hợp đồng. Trong các văn tự cổ luật
của Việt Nam, Bộ Luật Hồng Đức quy định về vi chế [35, quyển II ], vi chế là hành
vi làm trái pháp luật, gọi là vi phạm pháp luật nói chung. Bộ luật này đã sử dụng
nhiều từ ngữ khác nhau nhằm diễn đạt cho từng loại vi phạm pháp luật trong các
lĩnh vực khác nhau, như “Những người nhận của ai gửi súc vật và của cải mà đem
dùng hay tiêu đi thì bị xử phạt…” [35, Điều 579]. Hoặc “Những ruộng đất đã cầm
chưa đem tiền chuộc trả người chủ cầm, mà đem bán đứt cho người khác thì phải
phạt…” [35, Điều 383] .Theo hai điều luật trên quy định hành vi đem dùng, đem
tiêu hoặc bán đứt cho người khác là vi phạm hợp đồng thể hiện dưới dạng làm trái
với các thỏa thuận mà các bên đã cam kết. Theo đó, tại Việt Nam những từ ngữ tiền
thân của thuật ngữ vi phạm được manh nha từ rất sớm trong các văn bản luật cổ.
Hiện nay, vi phạm hợp đồng được một số công trình nghiên cứu định nghĩa như sau
“hành vi vi phạm hợp đồng là hành vi của một bên đã xử sự trái với những quy định
của pháp luật hoặc trái với nội dung đã cam kết” [46, tr.353] hoặc “Vi phạm hợp
đồng là việc một bên không thực hiện, thực hiện không đầy đủ hoặc thực hiện không
đúng nghĩa vụ theo thỏa thuận giữa các bên hoặc theo quy định của Luật này” [118,
Điều 3]. Với khái niệm này có học giả cho rằng, không nên dùng phương pháp liệt
kê để giải thích cho thuật ngữ vi phạm hợp đồng sẽ không mang tính khái quát cao,
cần sử dụng một thuật ngữ khác để thay thế cho thuật ngữ vi phạm hợp đồng đó là
thuật ngữ “không thực hiện đúng hợp đồng”[ 58], một số tác giả khác cho rằng vi
phạm hợp đồng là “việc không thực hiện những thỏa thuận đã cam kết trong hợp
37
đồng ngoài những lý do chính đáng” [ 241, tr.9] , theo đó thuật ngữ không thực hiện
được hiểu là không thực hiện và không thực hiện đúng, đầy đủ nghĩa vụ hợp đồng
và nếu vì những lý do chính đáng khác như thiên tai, dịch bệnh, hoàn cảnh khó
khăn,…mà không thực hiện hợp đồng thì không bị xem là vi phạm hợp đồng.
Quan điểm thứ nhất, đưa ra khái niệm về vi phạm hợp đồng dựa theo khái
niệm vi phạm pháp luật, vẫn chưa diễn tả chính xác về hành vi vi phạm hợp đồng,
mà cũng phải liệt kê hành vi vi phạm bằng những thuật ngữ khác nhau như “hành vi
trái” tức là không thực hiện, thực hiện không đúng, chậm thực hiện, từ chối thực
hiện…HĐTM. Quan điểm thứ hai, sử dụng thuật ngữ “không thực hiện đúng hợp
đồng” thay cho thuật ngữ vi phạm hợp đồng, vậy sẽ không cho thấy rõ tính chất của
sự việc, vì không thực hiện đúng hợp đồng có thể bao gồm hoặc không bao gồm
hành vi vi phạm hợp đồng. Một bên có hành vi xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp
pháp của bên kia, khác với một bên không vi phạm quyền và lợi ích hợp pháp của
bên kia, hai trường hợp này có bản chất và hậu quả khác nhau rõ ràng, vì vậy cần
phải có khái niệm đúng về vi phạm hợp đồng. Quan điểm thứ ba cho rằng, vi phạm
hợp đồng là việc không thực hiện những thỏa thuận đã cam kết trong hợp đồng trừ
những lý do chính đáng. Theo quan điểm này lý do chính đáng là những trường hợp
nào vẫn chưa được xác định rõ? Những trường hợp không phải là vi phạm hợp đồng
khác biệt với hành vi vi phạm hợp đồng với lý do chính đáng vì một trường hợp vẫn
bị xem là vi phạm và một trường hợp là không vi phạm, việc vi phạm hợp đồng khi
có những lý do chính đáng chỉ là dấu hiệu để xem xét có được giảm, miễn trách
nhiệm chứ không được xem là không vi phạm pháp luật. Theo quan điểm của tác
giả, vi phạm HĐTM là việc thương nhân thực hiện hành vi trái với cam kết, xâm
phạm quyền lợi hợp pháp của thương nhân còn lại trong HĐTM, theo đó thương
nhân có hành vi vi phạm sẽ phải chịu áp dụng các biện pháp trách nhiệm trong
thương mại tương ứng. Theo đó, sử dụng từ ngữ “trái ” là kế thừa khái niệm từ vi
phạm pháp luật, thuật ngữ này giải thích chính xác hành vi vi phạm, vậy nếu sử
dụng thuật ngữ “không thực hiện, không thực hiện đúng hợp đồng” sẽ không sát với
bản chất của sự việc, vì không thực hiện có thể bao gồm vi phạm và không có vi
phạm. Chủ thể vi phạm phải có năng lực trách nhiệm do pháp luật thương mại quy
định, hành vi của chủ thể này xâm hại đến quyền lợi hợp pháp của bên có quyền
trong HĐTM và theo quy định của pháp luật về HĐTM, chủ thể vi phạm phải chịu
trách nhiệm về hành vi đó của mình. Pháp luật về HĐTM ở đây được hiểu theo
38
phạm vi rộng là bao gồm tất cả những quy phạm pháp luật quy định về hoạt động
kinh doanh, thương mại, chứ không phải là những quy phạm được quy định trong
Luật Thương mại.
Từ khái niệm cho thấy vi phạm HĐTM có những đặc điểm chung của vi
phạm hợp đồng như thực hiện những hành vi trái với cam kết trong hợp đồng, trong
pháp luật về hợp đồng có liên quan; Bên vi phạm xâm phạm đến quyền và lợi ích
hợp pháp của bên còn lại trong hợp đồng mà không phải xâm phạm đến quyền lợi
của các bên ngoài hợp đồng, nhà nước, xã hội; Xâm phạm đến đối tượng mà các
bên trong hợp đồng hướng đến, đối tượng này được các bên trong hợp đồng xác
định rõ ràng mà không phải là ngẫu nhiên ngoài xã hội. Hơn nữa, vi phạm hợp đồng
là việc thực hiện những hành vi trái với cam kết hoặc với pháp luật hợp đồng thông
qua những hành vi cụ thể như không thực hiện hợp đồng như không giao hàng,
không thanh toán, không mua hàng hoặc thực hiện nhưng không đầy đủ như giao
hàng thiếu, không đúng chất lượng, thanh toán thiếu, nhận hàng không đầy đủ;
chậm giao hàng… Đây chính là các biểu hiện của hành vi vi phạm hợp đồng nói
chung.
Căn cứ vào các hành vi vi phạm nêu trên thì các chủ thể thương mại khi thực
hiện hành vi vi phạm HĐTM đương nhiên cũng chỉ vi phạm xoay quanh những
hành vi cụ thể này. Tuy nhiên, để phân định giữa vi phạm hợp đồng nói chung và vi
phạm HĐTM chúng ta không thể tìm kiếm sự khác nhau ở đặc điểm về các dạng
hành vi cụ thể ấy, vì hành vi không thực hiện, thực hiện không đúng, chậm thực
hiện của chủ thể vi phạm giữa vi phạm hợp đồng hay vi phạm HĐTM là hoàn toàn
giống nhau. Tuy nhiên, khi so sánh về các tiêu chí khác như chủ thể vi phạm và bị
vi phạm , đối tượng vi phạm, mục đích vi phạm, hậu quả của việc vi phạm, pháp
luật điều chỉnh cho hành vi vi phạm.
Về chủ thể trong quan hệ vi phạm HĐTM là các thương nhân (những cá nhân,
tổ chức có tham gia hoạt động thương mại để nhằm tìm kiếm những lợi nhuận nhất
định). Những chủ thể tham gia vào HĐTM (bên vi phạm và bên bị vi phạm) là
những chủ thể có trình độ chuyên môn cao trong lĩnh vực thương mại, buôn bán,
xây dựng, đầu tư…, khác với các chủ thể vi phạm trong các loại hợp đồng khác như
hợp đồng dân sự đó có thể là những chủ thể không được xác định có chuyên môn
cao để tham gia vào thị trường thương mại mà đơn giản chỉ là những chủ thể hoạt
động mua hoặc bán để phục vụ nhu cầu tiêu dùng, khi chủ thể này thực hiện những
39
hành vi vi phạm với nhau thì đó chỉ là những hành vi vi phạm đơn giản, nhỏ, không
có tính chuyên nghiệp, tác hại không lớn. Vì vậy khi chủ thể thương mại thực hiện
vi phạm thì đó là những vi phạm của một chủ thể có chuyên môn, có sự tính toán
(một chủ thể có trình độ cao, có một đội ngũ chuyên môn tư vấn, theo dõi để thực
hiện công việc mà chủ thể này để vi phạm thì không thể cho rằng sơ suất và áp dụng
biện pháp trách nhiệm nhẹ ngang bằng như một chủ thể bình thường “như một
người nội trợ”). Do đó, vi phạm HĐTM được thực hiện bởi một thương nhân rõ
ràng có điểm khác biệt với vi phạm hợp đồng khác.
Đối tượng mà HĐTM điều chỉnh là hoạt động thương mại (bao gồm hoạt
động kinh doanh- thương mại) là những hoạt động khác biệt so với đối tượng do
hợp đồng dân sự điều chỉnh (ví dụ như A mua bó rau để dùng), hoạt động thương
mại là những hoạt động đặc thù được pháp luật thương mại quy định, mang tính
chuyên nghiệp, quy mô, phứt tạp, phải do những chủ thể có trình độ cao mới có khả
năng tham gia hoạt động này (ví dụ một người nội trợ không có kiến thức chuyên
môn sâu không thể thực hiện một hoạt động phứt tạp như mua bán hoặc xúc tiến
thương mại đến một trung tâm hội chợ triển lãm được). Hơn nữa, hoạt động thương
mại là hoạt động nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận không phải là hoạt động đơn
thuần mua để tiêu dùng. Vì vậy khi một chủ thể vi phạm HĐTM thông qua hoạt
động thương mại cụ thể nào đó sẽ là những vi phạm đến những hoạt động đặc thù
mang tính chuyên nghiệp và quy mô lớn, có mối liên kết cao tác động đến toàn bộ
thị thường kinh doanh. Vi phạm hoạt động thương mại sẽ là vi phạm những hoạt
động kinh tế to lớn chứ không đơn thuần là vi phạm đến một hoạt động nhỏ, đơn
giản như hoạt động điều chỉnh các quan hệ dân sự.
Mục đích vi phạm HĐTM của chủ thể vi phạm nhằm đạt được những khoản
lợi to lớn bất hợp pháp trong kinh doanh, mục đích này mang tính tiêu cực. Mục
đích không được đặt ra cho toàn bộ các thương nhân chân chính mà xuất phát từ
một số các thương nhân tham gia vào thị trường thương mại một cách không bền
vững “ăn xổi ở thì”. Mục tiêu nhằm tối đa hóa lợi nhuận của các chủ thể thương mại
vì vậy một số chủ thể bất chấp hành vi xâm phạm đến lợi ích của chủ thể khác để
nhằm trục lợi. Ngoài mục đích trục lợi bất chính thì còn có nhiều mục đích khác
như thực hiện hành vi vi phạm để đối thủ thua lỗ và phá sản nhằm loại bỏ bớt chủ
thể cạnh tranh trong thị trường. Nhưng trong tất cả các nguyên nhân gây ra việc vi
phạm nguyên nhân chính là nhằm tối đa hóa lợi nhuận trong kinh doanh. Vì mục
40
đích là không phải là mục đích tốt đẹp nên nếu mục đích này diễn ra càng nhiều thì
dẫn đến những kết quả xấu, trì hoãn hoặc có thể làm suy sụp nền kinh tế của một
quốc gia.
Hậu quả của vi phạm HĐTM làm cho thương nhân bị vi phạm mất đi những
lợi nhuận hợp pháp và từ hành vi vi phạm HĐTM của một chủ thể thương mại có
thể kéo theo hàng loạt các hành vi vi phạm khác. Nếu trong hoạt động thương mại,
có nhiều chủ thể thiếu năng lực kinh doanh mà tham gia vào hoạt động này thì sẽ có
nhiều sự vi phạm xảy ra, đó là những vi phạm không chủ động, cố ý , nhưng nếu
hành vi vi phạm mà do các chủ thể cố ý, ác ý để thực hiện (chuyên vi phạm để trục
lợi) sẽ kìm hãm hoặc làm cho nền kinh tế đi xuống và còn có “bệnh” lây lan sang
các chủ thể thương mại khác. Từ đó, trong kinh doanh – thương mại của một quốc
gia hầu hết sẽ hình thành những chủ thể chuyên vi phạm HĐTM (tương tự lừa đảo
chiếm đoạt tài sản), nhưng khác hành vi lừa đảo đó là thông qua hành vi vi phạm
hợp đồng để trục lợi mà không bị kết luận là “tội lừa đảo” trong luật hình sự. Hậu
quả từ hành vi vi phạm HĐTM để lại một hậu quả vô cùng to lớn, đó là các thương
nhân mất lòng tin lẫn nhau tạo ra một môi trường kinh doanh – thương mại “lừa
dối”, có tác hại đến việc quyết định sự sống còn của nền kinh tế trong một quốc gia,
đây là điểm khác biệt lớn giữa hành vi vi phạm HĐTM với các loại vi phạm hợp
đồng khác.
Pháp luật để điều chỉnh về vi phạm HĐTM là pháp luật thương mại mà không
phải là những văn bản điều chỉnh các hoạt động khác, hơn nữa pháp luật điều chỉnh
vi phạm HĐTM không phải chỉ có LTM mà còn bao gồm những văn bản pháp luật
chuyên ngành điều chỉnh cả các lĩnh vực kinh doanh – thương mại. Ngoài ra, còn có
một đặc điểm mà vi phạm hợp đồng nói chung ví dụ như vi phạm hợp đồng dân sự
được điều chỉnh bởi BLDS và vi phạm HĐTM cũng được điều chỉnh bởi BLDS nếu
LTM, các văn bản luật chuyên ngành khác không điều chỉnh những hành vi vi phạm
HĐTM, nhưng không có trường hợp ngược lại.
Từ những đặc trưng trên cho thấy việc thống nhất chung những vấn đề lý luận
về vi phạm hợp đồng cho hai dạng vi phạm hợp đồng như hợp đồng dân sự và
HĐTM là công việc khó khăn, vì cách thức, mức độ, biểu hiện, yếu tố tác động,
mục đích và hậu quả giữa loại vi phạm hợp đồng dân sự và vi phạm HĐTM thực tế
có nhiều đặc điểm rất khác biệt.
41
2.1.2. Các loại vi phạm hợp đồng thƣơng mại
Việc xác định các loại vi phạm HĐTM làm căn cứ áp dụng các biện pháp
trách nhiệm pháp lý là vấn đề cần thiết, cho đến nay có nhiều quan điểm khác nhau
về việc phân loại các loại vi phạm hợp đồng. Nhóm(i) cho rằng vi phạm hợp đồng
bao gồm vi phạm không cơ bản, vi phạm cơ bản thể hiện theo hai dạng là không
thực hiện hợp đồng và thực hiện không đúng hợp đồng [118, Điều 3, Điều 293].
Nhóm (ii) vi phạm hợp đồng trước khi đến hạn và vi phạm cơ bản hợp đồng [40,
Điều 25, Điều 71]. Nhóm (iii) chậm thực hiện hợp đồng, không thể thực hiện hợp
đồng, chủ động vi phạm hợp đồng [93, tr.359]. Nhóm (iv) chậm thực hiện nghĩa vụ,
không thực hiện nghĩa vụ [93, tr.367]. Nhóm (v) vi phạm thực tế, vi phạm trước
thời hạn [93, tr.374]. Nhóm (vi) chia ra các loại vi phạm như vi phạm đơn phương
(do một bên vi phạm) hợp đồng, vi phạm song phương hợp đồng, vi phạm trước
thời hạn thực hiện hợp đồng, vi phạm khi đến thời hạn thực hiện hợp đồng, vi phạm
cơ bản và vi phạm không cơ bản, vi phạm do các bên trong hợp đồng gây ra, vi
phạm do bên thứ ba gây ra, vi phạm nghĩa vụ do pháp luật hợp đồng quy định, vi
phạm nghĩa vụ do các bên thỏa thuận trong hợp đồng, vi phạm nghĩa vụ phát sinh
trong quá trình thực hiện hợp đồng [127, tr.37]. Đối với vi phạm cơ bản thì trong
nhiều trường hợp người ta còn gọi là vi phạm nghiêm trọng [28, Điều 423], hai cách
gọi là khác nhau nhưng cùng là căn cứ để áp dụng các loại trách nhiệm làm chấm
dứt quan hệ hợp đồng.
Dựa theo hệ thống luật của từng quốc gia mà hành vi vi phạm hợp đồng được
xác định theo nhiều loại khác nhau, có quan điểm thì liệt kê cụ thể từng hành vi vi
phạm mà không khái quát để nhấn mạnh mức độ vi phạm, còn có quan điểm khái
quát lại các hành vi vi phạm cụ thể để xác định mức độ vi phạm. Từ những quan
điểm của các tác giả đã nghiên cứu, tác giả sẽ phân tích những loại vi phạm mang
tính khái quát để hoàn thiện cơ sở lý luận cho pháp luật HĐTM Việt Nam.
Những quan điểm nêu ra các hành vi không thực hiện, chậm thực hiện, chủ
động vi phạm, không thể thực hiện mà không khái quát thành một loại vi phạm để
xác định mức độ vi phạm. Việc quy định như vậy không có ý nghĩa lý luận để xác
định loại trách nhiệm pháp lý tương ứng. Mức độ vi phạm áp dụng biện pháp trách
nhiệm pháp lý nào tùy thuộc vào tòa án quyết định. Vì vậy, việc quy định như vậy sẽ
không có ý nghĩa trong khi áp dụng, gây tùy tiện trong việc áp dụng trách nhiệm pháp
lý do vi phạm.
42
Để giải quyết thực trạng này, nhóm tác giả đưa ra các loại vi phạm mang tính
định lượng cho mức độ vi phạm của hành vi đó là vi phạm cơ bản, vi phạm cơ bản
là vi phạm của một bên gây thiệt hại cho bên bị vi phạm đến mức làm cho bên này
không đạt được mục đích của việc giao kết hợp đồng [118, Điều 3 khoản 13]. Hoặc
vi phạm cơ bản là vi phạm gây thiệt hại cho bên kia đến mức làm cho bên bị thiệt
hại, trong một chừng mực đáng kể, bị mất đi lợi ích mà họ có quyền mong đợi từ
hợp đồng, trừ trường hợp bên vi phạm không tiên liệu được và một người có lí trí
bình thường cũng sẽ không tiên liệu được hậu quả nếu họ cũng ở vào địa vị và hoàn
cảnh tương tự [40, Điều 25]. vi phạm cơ bản là vi phạm các điều khoản chủ yếu của
hợp đồng, dựa vào việc phân nhóm các điều khoản hợp đồng theo quy định như
điều khoản tùy nghi, điều khoản chủ yếu và điều khoản thường lệ của hợp đồng để
thấy rằng vi phạm cơ bản tức là không thực hiện đúng các điều khoản chủ yếu đó.
Hoặc vi phạm cơ bản là vi phạm nghiêm trọng hoặc cơ bản mà theo đó bên bị vi
phạm không những được áp dụng biện pháp BTTH mà còn được quyền hủy hợp
đồng.
Vi phạm cơ bản hợp đồng là vi phạm gây ra mức độ thiệt hại lớn mà làm cho
bên bị vi phạm hoàn toàn không đạt được mục đích của hợp đồng, mục đích này
được các bên xác định kể từ khi giao kết hợp đồng. Bên bị vi phạm sẽ áp dụng trách
nhiệm tạm ngừng, đình chỉ hoặc hủy bỏ hợp đồng đối với bên vi phạm, ngoại trừ sự
chọn lựa của bên bị vi phạm không áp dụng các biện pháp trách nhiệm này, chủ thể
có thẩm quyền xác định hành vi nào là vi phạm cơ bản là thẩm phán, hoặc trọng tài
trực tiếp xét xử vụ tranh chấp dựa vào những căn cứ nêu trên. Hơn nữa, xác định vi
phạm cơ bản không phụ thuộc vào hình thức của hành vi là việc không thực hiện
hay là thực hiện không đúng cam kết hợp đồng, cũng không xác định đó là vi phạm
khi đến hạn thực hiện nghĩa vụ hay vi phạm trước thời gian thực hiện hợp đồng.
Ngoài ra, để khẳng định là vi phạm cơ bản không phụ thuộc vào chủ thể trong hợp
đồng hay bên thứ ba thực hiện hành vi vi phạm và không căn cứ vào hình thức lỗi,
không căn cứ vào trước đó đã có vi phạm mà tái phạm hay bị nhắc nhở do hành vi
vi phạm không cơ bản, mà để xác định vi phạm cơ bản chỉ dựa vào việc một bên
(tức là bên bị thiệt hại) có đạt được mục đích của hợp đồng hay không. Tác giả
không đồng tình hoàn toàn với quan điểm trong khái niệm về vi phạm cơ bản hiện
nay, gây khó khăn khi áp dụng pháp luật, tạo cơ hội cho chủ thể có chủ ý hủy hợp
đồng ngay từ khi giao kết nhằm trục lợi, vì vậy cần xây dựng khái niệm theo hướng
43
vừa khái quát, vừa quy định các căn cứ để xác định vi phạm cơ bản như ngoài việc
căn cứ vào mức độ thiệt hại lớn, mục đích của bên bị vi phạm, điều khoản chính yếu
của hợp đồng, thì cần phải soi hành vi đó vào nguyên tắc thiện chí trung thực, xác
định mục đích hợp đồng mà các bên đều nhận biết từ khi giao kết hợp đồng, hành vi
tái phạm khi đã bị nhắc nhở, không thực hiện bất kỳ nghĩa vụ nào của hợp đồng.
Cần phải xem xét toàn diện với các dấu hiệu này thì kết luận có hành vi vi phạm cơ
bản sẽ khách quan và chính xác. Xuất phát từ nguyên tắc tự do thỏa thuận, quyết
định số phận của hợp đồng của các bên, không như các loại vi phạm pháp luật khác
như vi phạm hình sự, khi đã bị xác định là vi phạm nghiêm trọng thì chủ thể vi
phạm bắt buộc phải bị áp dụng trách nhiệm tương ứng, tuy nhiên trong quan hệ hợp
đồng, chủ thể vi phạm không chịu trách nhiệm trước nhà nước mà chỉ chịu trách
nhiệm trước chủ thể bị vi phạm, vì vậy nếu bên bị vi phạm lựa chọn cách xử lý khác
mà không phải là tạm ngừng, đình chỉ, hủy hợp đồng thì việc xác định vi phạm cơ
bản hợp đồng trở nên vô nghĩa. Đây cũng đồng nghĩa là bên bị vi phạm giảm áp
dụng trách nhiệm cao hơn tương xứng cho hành vi vi phạm nghiêm trọng của bên vi
phạm, để chọn một biện pháp trách nhiệm nhẹ hơn áp dụng cho bên có nghĩa vụ,
thậm chí miễn hoàn toàn trách nhiệm là tùy thuộc vào quyết định của bên có quyền.
Vi phạm không cơ bản là những vi phạm không ảnh hưởng đến các điều khoản
trọng yếu của hợp đồng, khi có vi phạm này xảy ra, bên bị vi phạm không được áp
dụng các biện pháp trách nhiệm tạm ngừng, đình chỉ, hủy bỏ hợp đồng đối với bên
vi phạm, mà chỉ áp dụng các biện pháp xử lý như buộc thực hiện đúng hợp đồng,
phạt vi phạm, BTTH nếu có thiệt hại xảy ra [118, Điều 293]. Giống với vi phạm cơ
bản , vi phạm không cơ bản là vi phạm hợp đồng và bên bị vi phạm cũng có thể
giảm nhẹ hoặc không buộc trách nhiệm đối với bên vi phạm, nhưng không được
phép quyết định áp dụng biện pháp trách nhiệm làm chấm dứt hợp đồng đối với bên
vi phạm. Việc hạn chế quyền áp dụng các biện pháp trách nhiệm ảnh hưởng đến số
phận của hợp đồng nhằm tránh tình trạng bên bị vi phạm tùy tiện áp dụng biện pháp
trách nhiệm hủy hợp đồng, biện pháp trách nhiệm cao nhất làm chấm dứt quan hệ
thương mại đối với bên vi phạm, tuy nhiên, đối với việc áp dụng biện pháp trách
nhiệm nhẹ nhất cho bên vi phạm đối với bên có nghĩa vụ được pháp luật cho phép.
Với điểm này cho thấy, đặc điểm của vi phạm hợp đồng khác với các loại vi phạm
pháp luật khác, đó là chỉ có chủ thể duy nhất trong hợp đồng mới có quyền xác định
chủ thể còn lại có bị áp dụng trách nhiệm hay không bị áp dụng trách nhiệm hoặc khi
44
bên vi phạm có hành vi vi phạm thì được giảm hoặc miễn hoàn toàn trách nhiệm.
Điều này hoàn toàn khác với các trường hợp mà pháp luật quy định miễn trách nhiệm
cho bên vi phạm như pháp LTM hiện hành.
Xác định các hành vi vi phạm qua hình thức không thực hiện, không thực
hiện đúng, chủ động vi phạm, chậm thực hiện hoặc vi phạm cơ bản không thể bao
quát hết được tất cả các hành vi vi phạm mới trong thực tiễn phát sinh. Những vi
phạm này được nêu ra không bao quát được những trường hợp vi phạm khi chưa
đến hạn thực hiện hợp đồng. Vì vậy, một số nhà nghiên cứu luật học cho phép các
chủ thể xác định vi phạm trước thời hạn (anticipatory breach). Vi phạm trước thời
hạn là vi phạm hợp đồng mà khi chưa đến hạn thực hiện nghĩa vụ hợp đồng, bất kỳ
ai cũng sẽ nhận thấy rằng hợp đồng đã bị vi phạm. tuy nhiên, không như các loại vi
phạm hợp đồng khác, đối với loại vi phạm này, bên bị vi phạm phải xác định chính
xác cụ thể hành vi vi phạm của bên kia, nếu không sẽ dẫn đến tình trạng vi phạm
ngược, nếu khi đến hạn bên bị bên kia cho rằng đã có hành vi vi phạm trước thời
hạn, vẫn thực hiện đúng nghĩa vụ, thì bên kia sẽ trở thành bên vi phạm hợp đồng. Vì
vậy, việc chứng minh có vi phạm khi chưa đến hạn là rất quan trọng. Cần phải căn
cứ vào các yếu tố sau để xác định có hành vi vi phạm trước thời hạn (i) có tuyên bố
từ bỏ thực hiện nghĩa vụ hợp đồng bằng văn bản của một bên (ii) thể hiện qua hành
vi một bên ví dụ đã thực hiện một công việc như đã bán hàng hóa đó cho người
khác, bên kia đã không còn tài sản hoặc không còn khả năng thực hiện hợp đồng.
Mục đích của việc xác định vi phạm trước thời hạn là nhằm giảm chi phí, thời gian
không cần thiết cho các bên trong hợp đồng khi phải chờ đến hạn thì mới xác định
vi phạm hợp đồng. Hậu quả của xác định vi phạm trước thời hạn là hợp đồng sẽ
chấm dứt, hành vi vi phạm thể hiện qua việc từ bỏ hợp đồng của bên vi phạm tương
tự biện pháp đơn phương chấm dứt hợp đồng, tuy nhiên hành vi đơn phương này là
một sự vi phạm hợp đồng. Việc bên bị vi phạm áp dụng những loại trách nhiệm làm
chấm dứt hợp đồng đối với bên vi phạm trong trường hợp này không có nhiều ý
nghĩa, vì bên vi phạm đã tự mình từ bỏ hợp đồng. Trong những trường hợp như vậy
việc áp dụng biện pháp phạt vi phạm hoặc BTTH là hữu hiệu hơn tất cả.Với vi
phạm này để áp dụng BTTH người ta không xác định mức độ thiệt hại thực tế, mà
xác định thiệt hại dự đoán từ khi ký kết hợp đồng.
Các hành vi vi phạm nêu trên không nói lên được việc khi hai bên trong hợp
đồng đều vi phạm với nhau trong cùng một hợp đồng [229, tr.5]. Vi phạm do hai
45
hoặc các bên trong hợp đồng đều có hành vi vi phạm (hay còn gọi là vi phạm song
phương), khi các bên trong cùng một hợp đồng đều có hành vi vi phạm thì tương
ứng với hành vi vi phạm của mình mỗi bên vi phạm sẽ chịu áp dụng biện pháp trách
nhiệm tương ứng, nhưng nếu bên nào có hành vi vi phạm nghiêm trọng hơn (nặng
hơn bên còn lại) thì bên vi phạm ít nghiêm trọng được quyền ưu tiên lựa chọn biện
pháp trách nhiệm áp dụng cho bên còn lại.
Ngoài ra, vi phạm của một bên do sự vi phạm của bên thứ ba, là sự vi phạm
hợp đồng của một bên, do hành vi vi phạm của bên thứ ba gián tiếp gây ra hành vi
vi phạm này, có nhiều quan điểm khác nhau về bên thứ ba (i) người đại diện theo
pháp luật hoặc theo ủy quyền một hoặc các bên trong hợp đồng (ii) bên được ủy
quyền mà không phải là người đại diện theo pháp luật của chủ thể hợp đồng (iii)
bên có quan hệ hợp đồng với một trong các chủ thể trong hợp đồng đang bị vi phạm
[127, tr 99]. theo tác giả, hành vi vi phạm của người được ủy quyền (như giám đốc,
bên được chủ thể vi phạm ủy quyền) chính là hành vi vi phạm của chủ thể trong hợp
đồng, mà không phải là vi phạm của bên thứ ba và khi các chủ thể này vi phạm thì
xem như chủ thể hợp đồng vi phạm với bên kia, nếu trong trường hợp người ủy
quyền này vi phạm hợp đồng thì bên chủ thể ủy quyền vẫn bị xem là vi phạm hợp
đồng, tuy nhiên trong một số trường hợp vi phạm hợp đồng vận chuyển thì bên vận
chuyển, thuyền trưởng, người làm công cho bên vận chuyển chỉ được xem là vi
phạm khi thực hiện với lỗi cố ý, còn lỗi vô ý không bị xem là vi phạm và chịu trách
nhiệm. Trong trường hợp bên thứ ba là chủ thể ngoài quan hệ hợp đồng đang bị vi
phạm, khi hợp đồng bị vi phạm do sự vi phạm của bên thứ ba đối với bên vi phạm,
thì bên vi phạm vẫn phải chịu trách nhiệm, sau đó bên này có quyền yêu cầu bên
thứ ba chịu trách nhiệm với mình. Bên vi phạm hoàn toàn phải chịu trách nhiệm do
bên thứ ba gây ra vi phạm với mình. Trừ những trường hợp bên thứ ba đang rơi vào
các trường hợp miễn trách nhiệm do SKBKK hoặc quyết định cơ quan có thẩm
quyền.
Với những hình thức vi phạm hợp đồng mà tác giả vừa phân tích ở trên theo
từng nhóm những công trình nghiên cứu trước đây, còn có những công trình
nghiên cứu phân chia thêm nhiều loại vi phạm khác như vi phạm những nghĩa vụ
theo quy định trong các văn bản pháp luật, vi phạm các nghĩa vụ đã thỏa thuận
hoặc vi phạm các nghĩa vụ phát sinh trong quá trình thực hiện hợp đồng như phục
lục hợp đồng. Đây chỉ là cách tách nhỏ những hình thức vi phạm đã phân tích ở
46
trên. Các hình thức vi phạm này được thống kê từ nhiều công trình nghiên cứu của
các tác giả trong và ngoài nước. Theo quan điểm của tác giả, chúng ta cần quy
định bổ sung một số hình thức vi phạm vào trong hệ thống lý luận pháp luật
HĐTM để phù hợp hơn với quan điểm của các học giả thế giới như về hành vi do
các bên trong hợp đồng đều thực hiện vi phạm trong cùng một hợp đồng, vi phạm
do hành vi vi phạm của bên thứ ba, vi phạm trước thời hạn.
2.2. Trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng thƣơng mại
Trách nhiệm pháp lý do vi phạm HĐTM là hệ thống các biện pháp có vai trò
đảm bảo cho những cam kết trong hợp đồng được thực thi theo đúng quy định của
pháp luật, với chức năng giáo dục việc tuân thủ các quy phạm pháp luật về HĐTM,
phòng ngừa các vi phạm phát sinh, khôi phục lại tình trạng của một bên đã bị xâm
phạm [46, tr.46]. Như vậy, trách nhiệm pháp lý do vi phạm HĐTM là biện pháp hữu
hiệu điều chỉnh tính công bằng trong quan hệ hợp đồng giữa các thương nhân khi có
hành vi vi phạm xảy ra. Những chức năng này sẽ được xác định rõ qua việc phân
tích khái niệm và các đặc trưng sau đây của trách nhiệm pháp lý do vi phạm
HĐTM.
2.2.1. Khái niệm, đặc trƣng của trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng
thƣơng mại
Trách nhiệm pháp lý do vi phạm HĐTM là một loại trách nhiệm trong trách
nhiệm dân sự, nên chúng mang nhiều đặc điểm của trách nhiệm dân sự, khi dựa trên
những đặc điểm về trách nhiệm dân sự, khi xem xét đặc điểm của trách nhiệm pháp
lý do vi phạm HĐTM chúng ta nhận thấy có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến việc xác
nhận đặc điểm của chúng, (i) xét về bản chất, loại trách nhiệm này là một quan hệ
pháp luật giữa các thương nhân trong đó có bên vi phạm và bên bị vi phạm, bên vi
phạm phải chịu trách nhiệm trước bên bị vi phạm nếu không tự nguyện thi hành sẽ
bị cơ quan nhà nước cưỡng chế thực hiện (cụ thể là tòa án kinh tế và trọng tài
thương mại). (ii) xét về chức năng, ngoài những chức năng phòng ngừa còn có chức
năng xử lý vi phạm, với mục đích chính là khôi phục - đền bù ngang bằng không
mang tính trừng phạt, ngoài ra còn có chức năng điều tiết các hoạt động thương mại
phát triển theo một trật tự nhất định (iii) xét về phương pháp điều chỉnh các quan hệ
thương mại là phương pháp bình đẳng - thỏa thuận và tự định đoạt. Với những ảnh
hưởng từ những yếu tố này, trách nhiệm pháp lý do vi phạm HĐTM vừa mang đặc
trưng của trách nhiệm dân sự và có những đặc trưng riêng biệt.
47
Là loại trách nhiệm áp dụng cho thương nhân có hành vi vi phạm HĐTM
trong lĩnh vực thương mại (kinh doanh- thương mại).
Trách nhiệm này nhằm bảo vệ thương nhân bị vi phạm và đảm bảo sự công
bằng về trách nhiệm và quyền lợi cho các bên trong HĐTM khi có hành vi vi phạm
xảy ra.
Đây là hậu quả mà thương nhân vi phạm phải gánh chịu, nhưng hậu quả này
có thể không phải là hậu quả bất lợi, mà hậu quả này như mối quan hệ nguyên nhân
và kết quả trong một sự vật hiện tượng. Chủ thể bị áp dụng trách nhiệm pháp lý do
vi phạm HĐTM là thương nhân có hành vi vi phạm HĐTM, chủ thể này khác với
chủ thể bị áp dụng trách nhiệm do vi phạm hợp đồng khác như hợp đồng dân sự là
những chủ thể có kỹ năng, kinh nghiệm, lấy hoạt động thương mại làm nghề nghiệp
của mình phải hiểu biết pháp luật thương mại, đối mặt với những thách thức, rủi ro
trong môi trường kinh doanh, khả năng chịu trách nhiệm độc lập tuyệt đối mà
không phải phụ thuộc vào bất kỳ chủ thể nào khác, chủ thể này được pháp lý xem là
chủ thể chuyên nghiệp trong hoạt động thương mại mà không phải là chủ thể dân sự
thông thường.
Các biện pháp trách nhiệm được áp dụng cho hành vi vi phạm HĐTM là
những biện pháp trách nhiệm áp dụng cho các chủ thể có trình độ chuyên môn cao,
mà không phải là một cá nhân không cho kiến thức trong hoạt động thương mại vì
vậy mức độ trách nhiệm sẽ cao nhất trong các biện pháp trách nhiệm trong hành vi
vi phạm quan hệ hợp đồng nói chung. Hơn nữa, mục đích của sự vi phạm là nhằm
tìm kiếm tối đa lợi nhuận, vì vậy cần phải áp dụng biện pháp trách nhiệm ở mức độ
cao nhất về tài chính, tương đương với mục đích của hành vi vi phạm đó.
Trách nhiệm pháp lý do vi phạm HĐTM được thể hiện ở quy định pháp luật
về các cơ quan, người có thẩm quyền áp dụng nó. Theo đó, bên bị vi phạm có quyền
yêu cầu tòa án, trọng tài cưỡng chế áp dụng các biện pháp trách nhiệm cho bên vi
phạm. Hoặc bên bị vi phạm có thể đề nghị tòa án (cụ thể là tòa kinh tế thụ lý để giải
quyết), trọng tài thương mại áp dụng trách nhiệm này cho bên vi phạm. Đây chính
là điểm khác biệt trong chủ thể áp dụng trách nhiệm pháp lý do vi phạm HĐTM với
hợp đồng dân sự. Chủ thể có thẩm quyền áp dụng trách nhiệm pháp lý do vi phạm
HĐTM rộng hơn so với trách nhiệm do vi phạm hợp đồng nói chung, đó là trọng tài
thương mại có thẩm quyền để áp dụng loại trách nhiệm này, nhưng ví dụ như về
trách nhiệm dân sự thì không do cơ quan này xét xử.
48
Trách nhiệm pháp lý do vi phạm HĐTM được thực thi thông qua một hệ thống
các biện pháp trách nhiệm pháp lý được quy định trong phần chế tài của bộ phận
quy phạm pháp luật trong LTM bao gồm những biện pháp như buộc thực hiện đúng
hợp đồng, phạt vi phạm, BTTH, tạm ngừng hợp đồng, đình chỉ hợp đồng, hủy hợp
đồng và một số biện pháp do các bên thỏa thuận khác.
Ngày nay, có nhiều học giả trong và ngoài nước phân tích về đặc điểm của
trách nhiệm pháp lý do vi phạm HĐTM nhưng chưa có khái niệm thống nhất. Để có
cách hiểu đúng bản chất nhằm áp dụng chính xác về chế định này đối với các chủ
thể vi phạm, bảo vệ quyền lợi hợp pháp kịp thời cho bên bị vi phạm, đảm bảo tính
công bằng trong khi áp dụng trách nhiệm pháp lý do vi phạm HĐTM, phòng ngừa
vi phạm phát sinh trong quan hệ HĐTM. Vậy, việc thống nhất khái niệm về trách
nhiệm pháp lý do vi phạm là sự cần thiết. Từ việc nghiên cứu đặc điểm chung, đặc
trưng riêng của trách nhiệm pháp lý do vi phạm HĐTM , tác giả đưa ra khái niệm
trách nhiệm pháp lý do vi phạm HĐTM như sau: Trách nhiệm pháp lý do vi phạm
HĐTM là hậu quả mà bên vi phạm HĐTM phải gánh chịu, cơ quan xét xử có thẩm
quyền xác định các biện pháp trách nhiệm tương ứng với hành vi vi phạm khi bên bị
vi phạm yêu cầu, trừ trường hợp bên vi phạm không phải chịu trách nhiệm hoặc
được miễn trách nhiệm.
Ngoài ra, tác giả còn cho rằng, trách nhiệm này không dừng lại ở bản án,
quyết định của tòa án hoặc trọng tài phán quyết mà bên vi phạm phải chịu cho đến
khi làm xong nghĩa vụ do hành vi vi phạm của mình gây ra, đó là nghĩa vụ thi hành,
thực hiện phán quyết đó, kết quả là bên bị vi phạm phải có lại được những gì đã mất
do hành vi vi phạm của bên vi phạm. Với khái niệm trên, ngoài quy định về trách
nhiệm trong luật thực định, kết luận từ các phán quyết của tòa án, trọng tài thì tác
giả muốn đề cập đến kết quả thực tế và cuối cùng mà bên vi phạm sẽ phải thực hiện
trách nhiệm của mình đối với bên bị vi phạm, chứ không dừng lại ở giai đoạn xét
xử. Và nếu dừng lại ở phán quyết của cơ quan xét xử mà bên vi phạm chưa thực
hiện trách nhiệm thực tế (ví dụ như chưa giao hàng, hoặc chưa BTTH) thì bên vi
phạm vẫn chưa thực hiện một trách nhiệm nào với bên bị vi phạm.
2.2.2. Căn cứ áp dụng trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng thƣơng mại
Tương tự các biện pháp trách nhiệm pháp lý do vi phạm pháp luật khác, việc
xác định các căn cứ trách nhiệm pháp lý do vi phạm HĐTM là vấn đề luôn đặt ra và
cần thiết khi áp dụng các biện pháp chế tài thương mại đối với bên vi phạm hợp
49
đồng. Vì là một loại trách nhiệm pháp lý trong số các loại trách nhiệm pháp lý do vi
phạm pháp luật nên trách nhiệm pháp lý do vi phạm HĐTM cũng bao gồm các căn
cứ để xác định trách nhiệm giống như vi phạm pháp luật như: Có hành vi vi phạm
HĐTM, có thiệt hại thực tế xảy ra, có mối quan hệ giữa hành vi vi phạm và thiệt hại
đó và có lỗi của bên vi phạm. Tuy nhiên theo một số tác giả, khi áp dụng trách
nhiệm pháp lý do vi phạm HĐTM không cần xác định đủ bốn căn cứ vì yếu tố lỗi
không cần phải xác định khi áp dụng trách nhiệm cho bên vi phạm [93, tr.391], hơn
nữa, căn cứ thiệt hại cần tiếp cận theo cách hiểu khác đó là không nhất thiết có thiệt
hại thực tế xảy ra mà đôi khi chỉ là thiệt hại dự đoán được xác định từ khi ký kết
hợp đồng. Ngoài ra, đối với việc áp dụng các biện pháp trách nhiệm do vi phạm
HĐTM thì cần phải xem xét những yếu tố khác ngoài các căn cứ nêu trên.
Hành vi vi phạm HĐTM là căn cứ bắt buộc khi áp dụng tất cả các biện pháp
trách nhiệm và vi phạm trở thành yếu tố pháp lý để áp dụng trách nhiệm cần xem
xét các quyền và nghĩa vụ mà các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng và các quy định
về quyền và nghĩa vụ trong từng loại hợp đồng trong các văn bản pháp luật. Vi
phạm hợp đồng là một hiện tượng tồn tại hiển nhiên trong quan hệ HĐTM, vì lợi
ích của các bên luôn luôn ở trạng thái đối lập. Vi phạm HĐTM được biểu thị dưới
nhiều dạng khác nhau như không thực hiện hợp đồng, thực hiện không đúng hợp
đồng, chậm thực hiện, không có khả năng thực hiện. Các hành vi này không thể
hiện được mức độ vi phạm để áp dụng chính xác cho từng biện pháp trách nhiệm
pháp lý, mà chỉ mới xác định để áp dụng trách nhiệm chung chung, vì vậy muốn
xác định căn cứ cho từng biện pháp trách nhiệm pháp lý thì phải xác định các loại vi
phạm hợp đồng.
Căn cứ để xác định trách nhiệm pháp lý là vi phạm HĐTM, vi phạm HĐTM
được thể hiện dưới các hành vi khác nhau như sau. (i) không thực hiện hợp đồng
hành vi này có thể được chia ra thành nhiều hành vi khác nhau như không thực hiện
hợp đồng bằng hình thức từ bỏ hợp đồng vì mục đích hợp đồng không còn phù hợp,
không còn hữu hiệu với chủ thể vi phạm; không thực hiện hợp đồng do mất khả
năng thực hiện mặc dù vẫn mong muốn được thực hiện như là bị phá sản trong kinh
doanh, người thực hiện nghĩa vụ bị bệnh, bên còn lại không tạo điều kiện để thực
hiện…, không thực hiện hợp đồng do rơi vào trường hợp được miễn trách nhiệm
hợp đồng cụ thể như không thực hiện nghĩa vụ thanh toán, không thực hiện nghĩa
vụ giao hàng, không thực hiện công việc được giao, không nhận hàng, nhận công
50
việc, nhận tiền thanh toán…Khi liệt kê các hành vi không thực hiện cho ta thấy có
ba nhóm là không thực hiện là hành vi vi phạm hợp đồng; không thực hiện hợp
đồng không bị xem là vi phạm hợp đồng; không thực hiện hợp đồng là vi phạm
nhưng được miễn trách nhiệm. Cho nên khi dùng cụm từ không thực hiện hợp đồng
để xác định các vi phạm hợp đồng phải hiểu rằng đó là hành vi làm trái lại với cam
kết như yêu cầu thực hiện mà không thực hiện, yêu cầu không thực hiện mà thực
hiện. Vậy tóm lại không phải tất cả các hành vi không thực hiện đều là căn cứ để áp
dụng trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng. Nếu không thực hiện hợp đồng là
vi phạm hợp đồng thì đây là một trong những hành vi vi phạm toàn bộ hợp đồng,
bên có nghĩa vụ hoàn toàn không thực hiện bất kỳ một nghĩa vụ nào, có thể xem là
vi phạm nghiêm trọng hợp đồng và có thể là điều kiện cần và đủ để áp dụng biện
pháp trách nhiệm nghiêm khắc nhất trong các biện pháp trách nhiệm được quy định
trong bộ phận chế tài. (ii) thực hiện không đúng hợp đồng, là hành vi đã thực hiện
nhưng không chính xác với thỏa thuận trong hợp đồng như giao hàng, thực hiện
công việc, thanh toán tiền không đủ chất lượng hoặc số lượng; giao hàng, thực hiện
công việc, thanh toán tiền, không đúng địa điểm, cách thức giao; thực hiện không
đúng về giá cả hàng hóa, công việc… và các hành vi thực hiện chưa đúng này bị
xem là vi phạm hợp đồng. Hành vi này là vi phạm không toàn bộ hợp đồng mà chỉ
vi phạm một số nghĩa vụ, có thể xem xét là điều kiện để áp dụng các biện pháp
trách nhiệm ít nghiêm khắc hơn như bồi thường mà không làm cho hợp đồng bị
chấm dứt. (iii) Chậm thực hiện hợp đồng, một số học giả Việt Nam cho rằng chậm
thực hiện ở trong nhóm thực hiện không đúng hợp đồng, nhưng theo các tác giả
nước ngoài đây là một hành vi riêng biệt, bên cạnh hành vi không thực hiện hợp
đồng và thực hiện đúng hợp đồng ví dụ như giao hàng hóa hoặc thực hiện công việc
không đúng theo thời gian đã cam kết, có hai hình thức chậm, nếu trong hợp đồng
có quy định một khoảng thời gian, thì bên có nghĩa vụ được phép giao hàng bất kỳ
thời điểm nào trong thời gian cam kết, nếu giao hàng vượt qua khoảng thời gian đó
sẽ bị xem là vi phạm hoặc trong trường hợp có thỏa thuận cố định một thời điểm để
giao hàng thì qua thời gian này bên bị vi phạm không cần phải thông báo về việc
bên kia đã vi phạm mà chính thời gian ấn định đã thông báo thay cho bên có quyền
[93, tr.361].
Nhưng trong những trường hợp nhất định, việc không thực hiện hoặc thực
hiện không đúng hợp đồng, chậm thực hiện hợp đồng có thể xem là không vi phạm
51
hợp đồng và không chịu trách nhiệm pháp lý [93, tr.356]. Cho nên việc sử dụng các
nhóm từ ngữ nêu trên thay cho thuật ngữ vi phạm hợp đồng là không hoàn toàn
chính xác.
Có thiệt hại xảy ra, khác với căn cứ vi phạm hợp đồng là căn cứ bắt buộc đối
với tất cả các loại trách nhiệm pháp lý thì căn cứ có thiệt hại không phải là căn cứ
bắt buộc trong mọi biện pháp trách nhiệm pháp lý, mà tùy vào từng biện pháp trách
nhiệm khác nhau, có loại trách nhiệm khi áp dụng trách nhiệm không cần phải có
căn cứ này cũng áp dụng được, ví dụ áp dụng trách nhiệm buộc thực hiện đúng hợp
đồng mà chưa có thiệt hại xảy ra, phạt vi phạm hợp đồng. Vì vậy căn cứ này chỉ
được xác định trong việc áp dụng một số trách nhiệm mà không phải là toàn bộ các
biện pháp trách nhiệm. Theo đó thiệt hại bao gồm thiệt hại thực tế và thiệt hại dự
đoán được xác định từ khi ký kết hợp đồng sẽ được áp dụng đối với vi phạm trước
thời hạn. Thiệt hại thực tế bao gồm những giá trị tài sản bị mất mát, hư hỏng, là tài
sản hữu hình và vô hình bị giảm sút về số lượng và chất lượng, những khoản lợi
nhuận bị bỏ lỡ mà đáng lẽ ra bên bị vi phạm có được khi không có hành vi vi phạm
xảy ra, chi phí để ngăn chặn và hạn chế thiệt hại, tiền phạt hợp đồng và bồi thường
mà bên bị vi phạm phải trả cho bên khác do hậu quả trực tiếp của sự vi phạm hợp
đồng gây ra. Ngoài ra, hiện nay còn có quan điểm cho rằng thiệt hại này còn bao
gồm cả chi phí đi lại để yêu cầu thực hiện đúng cam kết hoặc BTTH, chi phí thuê
luật sự, chi phí liên quan đến tố tụng, ngay cả những chi phí cho thi hành án nếu
không tự nguyện thi hành, vì nếu không có hành vi vi phạm của bên vi phạm thì bên
bị vi phạm không phải chi tốn những khoản chi phí này. Đối với vi phạm trước thời
hạn thì căn cứ thiệt hại này được bên bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm trả những
khoản mất mát xác định khi ký kết hợp đồng, riêng những khoản như chi phí bỏ ra
để ngăn chặn có thể chưa phát sinh, cho nên thiệt hại này, vì mục đích xác định có
hành vi vi phạm nêu trên để khỏi mất những thiệt hại không đáng có cho bên bị vi
phạm, đồng thời giảm khoản bồi thường cho bên vi phạm, các bên có thể ngăn chặn
được khi áp dụng trách nhiệm pháp lý do vi phạm xảy ra trước khi thời hạn thực
hiện hợp đồng, việc xác định có loại vi phạm này giúp hai bên cùng có lợi. Theo
quan điểm của tác giả, chúng ta không nên quy định đó là thiệt hại thực tế chỉ cần
căn cứ có thiệt hại xảy ra là đủ, đương nhiên những thiệt hại đó là những tài sản của
bên bị vi phạm có được nếu không có hành vi vi phạm xảy ra.
52
Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm và thiệt hại xảy ra, không phải
bất cứ thiệt hại nào xảy ra trong quan hệ hợp đồng đều do bên vi phạm chịu trách
nhiệm, mà chỉ khi có quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm và thiệt hại xảy ra, thì
mới phát sinh trách nhiệm BTTH [93, tr4.15-416]. Một số quan điểm cho rằng
quan hệ nhân quả không phải là một quy phạm pháp lý mà nó là một quan hệ mang
tính khách quan trong tự nhiên. Nguyên nhân phải có trước, hậu quả xuất hiện sau,
nghĩa là phải có hành vi vi phạm trước và thiệt hại xảy ra sau đó. Nếu thiệt hại xảy
ra trước sau đó mới có hành vi vi phạm thì không có mối quan hệ nhân quả. Thông
thường, dễ nhận thấy hành vi vi phạm là hiển nhiên để dẫn đến thiệt hại, nhưng có
khi có nhiều hành vi tác động đến thiệt hại thì rất khó xác định. Mối quan hệ khách
quan, tất yếu, trực tiếp giữa hành vi vi phạm và thiệt hại là vấn đề không bàn cãi.
Tuy nhiên, đối với vi phạm trước thời hạn thì mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi
phạm và thiệt hại không còn là thiệt hại thực tế mà đó chỉ là những thiệt hại dự kiến
khi giao kết hợp đồng. Vì vậy, khi xuất hiện loại vi phạm trước thời hạn, thì lý luận
này chưa hoàn toàn hợp lý. Theo quan điểm tác giả, cần phải xác định lại cơ sở lý
luận về mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm với thiệt hại bao gồm những
thiệt hại thực tế, trực tiếp hoặc thiệt hại dự kiến từ khi ký kết hợp đồng.
Có lỗi, theo hệ thống pháp luật Anh – Mỹ lỗi không là căn cứ bắt buộc để áp
dụng trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng, để không phải chịu trách nhiệm
pháp lý, bên có nghĩa vụ không phải chứng minh rằng họ có lỗi hay không có lỗi,
mà cần phải chứng minh việc không thực hiện đó do trở ngại nằm ngoài tầm kiểm
soát của họ [93, tr.392 -393]. Tuy nhiên, có nhiều quốc gia như Pháp, Đức, Nga vẫn
coi yếu tố lỗi là căn cứ để xác định trách nhiệm hợp đồng. Hơn nữa lỗi cố ý vẫn là
căn cứ để xác định mức độ trách nhiệm cao nhất. Trong pháp luật Việt Nam vẫn cho
rằng yếu tố lỗi là căn cứ bắt buộc để áp dụng trách nhiệm pháp luật hợp đồng [28,
Đ364], tuy nhiên trong quan hệ thương mại thì lỗi không là yếu tố bắt buộc [118,
Điều 303]. Các tác giả cho rằng lỗi là trạng thái tâm lý của con người nên trong
quan hệ HĐTM, chủ thể là tổ chức, pháp nhân không thể xác định yếu tố lỗi, nên
căn cứ lỗi khi vị phạm HĐTM là lỗi suy đoán, đó là bất kỳ vi phạm nào của một bên
trong HĐTM cũng xem như là có lỗi. Một số quan điểm khác làm thay đổi nhận
thức của các học giả nghiên cứu lập pháp, đó là không thể xây dựng khái niệm lỗi
dựa trên cơ sở thái độ tâm lý và nhận thức của chủ thể trách nhiệm dân sự đối với
hành vi của mình và hậu quả do hành vi đó gây ra. Thay vào đó, phải xây dựng khái
53
niệm lỗi dựa trên sự quan tâm, chu đáo của chủ thể đối với việc thực hiện nghĩa vụ
của mình, một cá nhân hay một pháp nhân được coi là không có lỗi nếu khi áp dụng
tất cả mọi biện pháp để thực hiện đúng nghĩa vụ đã biểu hiện sự quan tâm chu đáo
mà tính chất của nghĩa vụ và điều kiện lưu thông dân sự yêu cầu đối với họ [2, tr.
36]. Ngoài ra, một số quan điểm khác cho rằng, cần xem xét trạng thái lỗi của cá
nhân, tổ chức được xác định theo chuẩn mực pháp luật quy định, mà không phải là
trạng thái của người vi phạm [93, tr.399]. Tác giả đồng ý với quan điểm khái niệm
lỗi phải xem xét theo sự chu đáo, cần mẫn của chủ thể, áp dụng mọi biện pháp để
thực hiện đúng nghĩa vụ. Ngoài ra, lỗi không là yếu tố bắt buộc khi áp dụng trách
nhiệm pháp lý do vi phạm hợp thương mại, nhưng nếu là lỗi chủ ý của bên vi phạm
khi giao kết hợp đồng cần soi mức độ lỗi cố ý vào nguyên tắc thiện chí, trung thực
để xác định đúng biện pháp trách nhiệm [141, tr.34]. Tác giả đồng ý với quan điểm
không xem lỗi là yếu tố bắt buộc trong khi xác định trách nhiệm pháp lý do vi phạm
hợp đồng. Nhưng cần phải nhìn nhận lý luận xác định lỗi cố ý vào trong pháp LTM
để xem xét nhằm tăng nặng trách nhiệm như một biện pháp trừng phạt, khắc phục
tình trạng lợi dụng sự vi phạm hợp đồng trong quan hệ thương mại để thực hiện
hành vi tương tự hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản như trong pháp luật hình sự.
Đánh đồng việc áp dụng biện pháp trách nhiệm pháp lý giữa hành vi vi phạm do vô
ý với cố ý vi phạm hợp đồng của bên vi phạm là sự không công bằng khi xác định
trách nhiệm giữa các bên trong quan hệ hợp đồng.
Căn cứ thông báo của bên bị vi phạm ngoài những căn cứ trên, để xác định
trách nhiệm do vi phạm HĐTM cần xác định căn cứ thông báo. Có các quan điểm
cho rằng căn cứ thông báo không là căn cứ bắt buộc khi áp dụng trách nhiệm do vi
phạm HĐTM và còn cho rằng thông báo chỉ là quyền của bên bị vi phạm mà không
phải là nghĩa vụ của bên bị vi phạm. Ngược lại có quan điểm cho rằng thông báo là
căn cứ bắt buộc khi xác định trách nhiệm do vi phạm HĐTM, đó là khi bên tạm
ngừng thực hiện hợp đồng, đình chỉ thực hiện hợp đồng, hủy hợp đồng phải thông
báo ngay cho bên kia biết về việc này hoặc hợp đồng chấm dứt từ thời điểm một
bên nhận được thông báo[118, Điều 315]. Có quan điểm khác cho rằng, thông báo
không là căn cứ bắt buộc trong trường hợp việc thực hiện hợp đồng đã ấn định thời
điểm thực hiện nghĩa vụ hợp đồng, chính thời gian ấn định đã thông báo thay cho
con người [93, tr.361]. Hoặc trong trường hợp đã gia hạn lại thời gian thực hiện
nhưng bên vi phạm không thực hiện nghĩa vụ, hoặc có hành vi vi phạm và bên bị vi
54
phạm đã yêu cầu biện pháp buộc thực hiện nghĩa vụ hợp đồng trong thời gian ấn
định mà bên vi phạm không thực hiện thì sẽ không cần áp dụng căn cứ thông báo.
Thông báo là một căn cứ khi áp dụng trách nhiệm pháp lý do vi phạm HĐTM,
quy định này thể hiện sự công khai, minh bạch, thiện chí trung thực của các bên từ
việc giao kết, thực hiện và chấm dứt quan hệ hợp đồng. Việc thông báo không bắt
buộc thể hiện bằng hình thức nào mà chỉ xác định bên bị vi phạm có nghĩa vụ thông
báo là đủ bên bị vi phạm không có nghĩa vụ phải xác định thông báo đã được bên
kia đã nhận được hay không, thông báo phải thực hiện ngay với việc áp dụng biện
pháp trách nhiệm [118, Điều 315].Tuy nhiên, có quan điểm cho rằng bên thông báo
phải truyền thông báo đến tay người nhận thì mới có hiệu lực [34, Điều 1.10]. Theo
quan điểm của tác giả, thông báo là căn cứ để xác định trách nhiệm pháp lý do vi
phạm HĐTM nhưng có một số trường hợp ngoại lệ mà bên bị vi phạm không cần
phải thông báo như đã nêu trên.
Khiếu nại khi có hành vi vi phạm HĐTM, theo đó, bên bị vi phạm gửi thư
khiếu nại đến bên vi phạm để yêu cầu xác định về hành vi vi phạm của bên này và
đồng thời hoặc ngay sau đó yêu cầu bên vi phạm phải gánh chịu những biện pháp
trách nhiệm cụ thể. Khiếu nại là chế định đặc thù của pháp luật thương mại, vậy
khiếu nại có phải là căn cứ bắt buộc để áp dụng trách nhiệm do vi phạm HĐTM hay
không? Trong pháp luật HĐTM còn có nhiều quan điểm khác nhau về căn cứ này,
(i) không phải là căn cứ để xác định trách nhiệm [118, Điều 303]; (ii) là căn cứ để
xác định trách nhiệm nhưng không mất quyền khởi kiện [118, Điều 237]; là căn cứ
để xác định trách nhiệm và mất quyền khởi kiện [30, Điều 171] . Theo đó, khiếu nại
và thời hạn khiếu nại có thể do các bên thỏa thuận như một điều khoản trong hợp
đồng, nếu có thỏa thuận thì ưu tiên áp dụng theo thỏa thuận đó, nếu không có thỏa
thuận thì áp dụng theo quy định pháp luật [118, Điều 318]. Chế định này quy định
nhằm giúp bên bị vi phạm nhanh chóng yêu cầu bên vi phạm tuân thủ nghĩa vụ hợp
đồng. Quy định này đặt ra thời hạn, nếu hết thời hạn này mà bên bị vi phạm không
thực hiện quyền này của mình thì xem như mất quyền viện dẫn bên vi phạm có vi
phạm. Ở đây có hai quan điểm đặt ra, (i) bên bị vi phạm không thực hiện quyền này
thì sẽ bị mất quyền khởi kiện yêu cầu tòa án, trọng tài áp dụng trách nhiệm cho bên
vi phạm, (ii) bên bị vi phạm không thực hiện quyền này thì sẽ bị mất quyền kết luận
có vi phạm, vì xem như đã chấp nhận sự vi phạm, nhưng vẫn được quyền khởi kiện,
tuy nhiên sẽ không áp dụng được trách nhiệm cho bên vi phạm, vì tòa án, trọng tài
55
cho rằng bên này bị mất quyền xác định có vi phạm. Tóm lại, theo tác giả, cần có
cách nhìn nhận mới về lý luận xác định căn cứ khiếu nại là bắt buộc để áp dụng
trách nhiệm cho bên vi phạm trong HĐTM, nhưng một bên được quyền khởi kiện
tại tòa án nhằm xem xét lại thời gian do các bên thỏa thuận hoặc quy định pháp luật
về khi không khiếu nại có chính xác hay không mà không ảnh hưởng đến việc
không chịu trách nhiệm khi không có khiếu nại theo cam kết.
Ngoài ra, cần phải xác định thời hạn khởi kiện cũng là căn cứ để xác định
trách nhiệm mà khi hết thời hạn này, bên không thực hiện hợp đồng không bị áp
dụng trách nhiệm pháp lý [118, Điều 319]. Vậy nếu thời hiệu khởi kiện không xác
định thì đây không phải là căn cứ để xác định trách nhiệm, nhưng nếu có giới hạn
về thời hạn thì khoảng thời gian bị giới hạn đó được xem là căn cứ để xác định trách
nhiệm. Nếu có các căn cứ nêu trên nhưng không còn thời hạn để khởi kiện thì xem
như không được áp dụng biện pháp trách nhiệm pháp lý.
Tóm lại, trong hoạt động thương mại, khi xác định trách nhiệm cho bên vi
phạm, ngoài việc xác định các căn cứ tương tự vi phạm hợp đồng, thì có đặc điểm
khác biệt đó là không xem xét yếu tố lỗi là căn cứ bắt buộc để áp dụng trách nhiệm
nhưng lỗi cố ý vẫn là yếu tố để quyết định tính tăng nặng trách nhiệm cho bên vi
phạm và xem là một căn cứ để kết luận là hành vi vi phạm nghiêm trọng hợp đồng.
Ngoài ra, bổ sung các căn cứ bắt buộc thông báo, khiếu nại và thời hạn khởi kiện để
xác định các biện pháp trách nhiệm pháp lý do vi phạm HĐTM.
2.3. Biện pháp trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng thƣơng mại
Biện pháp trách nhiệm pháp lý do vi phạm HĐTM là các hình thức chế tài
được quy định như một bộ phận của quy phạm pháp luật trong pháp luật thương
mại, theo đó, bên bị vi phạm áp dụng cho bên vi phạm khi có hành vi vi phạm
HĐTM xảy ra. Khi có đủ căn cứ xác định trách nhiệm thì bên bị vi phạm sẽ áp dụng
biện pháp trách nhiệm tương ứng với hành vi vi phạm của bên vi phạm. Bên bị vi
phạm có thể áp dụng các biện pháp trách nhiệm pháp lý cho bên vi phạm theo hai
phương thức (i) khi có yêu cầu của bên bị vi phạm, bên vi phạm có thể tự nguyện
thực hiện, mà không cần phải có sự can thiệp bởi sự cưỡng chế của tòa án, trọng
tài.(ii) bên bị vi phạm có thể áp dụng các biện pháp trách nhiệm này cho bên vi
phạm thông qua sự cưỡng chế từ tòa án, trọng tài [248, tr.2]. Vậy trách nhiệm pháp
lý do vi phạm HĐTM được quy định trong bộ phận chế tài theo pháp LTM mà bên
56
bị vi phạm áp dụng cho bên vi phạm nhưng không phải bao giờ cũng mang tính
cưỡng chế thực hiện từ cơ quan nhà nước.
Không sử dụng thuật ngữ trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng, tác giả
Đỗ Văn Đại có cách tiếp cận rộng hơn khi các bên trong hợp đồng đều có quyền sử
dụng biện pháp của mình để áp dụng cho bên còn lại khi có hành vi không thực hiện
đúng hợp đồng xảy ra bao gồm cả những biện pháp miễn trách nhiệm, tác giả này
phân chia thành hai nhóm biện pháp chính là những biện pháp xử lý do pháp luật
quy định và nhóm biện pháp do các bên thỏa thuận, trong hai nhóm này tiếp tục
chia thành nhóm do bên có nghĩa vụ sử dụng áp dụng, nhóm do bên có quyền sử
dụng áp dụng [58, tr.7-10]. Tác giả Malaysia chia thành hai nhóm biện pháp do
pháp luật quy định (legal remedies) như hủy hợp đồng, BTTH, buộc thực hiện thực
tế hợp đồng và nhóm biện pháp do tòa án áp dụng (equitable remedies) gồm lệnh
cấm hoặc buộc, biện pháp cưỡng chế trả lại những gì đã nhận, các biện pháp sửa
chữa thay thế [248, tr.2]. Căn cứ vào mục đích, chức năng của các biện pháp trách
nhiệm pháp lý do vi phạm HĐTM, tác giả phân chia thành các nhóm như sau:
Nhóm biện pháp được áp dụng cho bên vi phạm nhằm duy trì việc thực hiện hợp
đồng bao gồm buộc thực hiện đúng hợp đồng, tạm ngừng thực hiện hợp đồng, giảm
giá, cầm giữ tài sản, bên bị vi phạm thay thế người thực hiện nghĩa vụ mà bên vi
phạm phải chấp nhận, nhóm biện pháp làm chấm dứt hợp đồng gồm đình chỉ thực
hiện hợp đồng, hủy hợp đồng có hủy một phần và hủy toàn bộ hợp đồng và nhóm
bồi thường hợp đồng gồm BTTH, phạt vi phạm, phạt lãi chậm thanh toán.
2.3.1. Các biện pháp trách nhiệm nhằm duy trì hợp đồng
Nhóm biện pháp trách nhiệm không làm hợp đồng chấm dứt có đặc điểm (i)
không làm mất hiệu lực hợp đồng; (ii) nguyên tắc pacta sunt servanda được đề cao;
(iii) áp dụng khi có hành vi vi phạm hợp đồng xảy ra, (iv) áp dụng đồng thời nhóm
biện pháp bồi thường hợp đồng. Không được áp dụng đồng thời với nhóm biện
pháp làm chấm hợp đồng. Cách thức áp dụng của nhóm biện pháp trách nhiệm này
là bên bị vi phạm có quyền chọn lựa là yêu cầu bên vi phạm thực hiện nghĩa vụ hợp
đồng tương ứng hoặc yêu cầu thay thế người thực hiện nghĩa vụ mà bên vi phạm
phải chấp nhận, nhằm mục đích phải làm cho hợp đồng được thực hiện. Hoặc khi
bên bị vi phạm buộc bên vi phạm thực hiện hợp đồng, nhưng bên này không thực
hiện nên bên bị vi phạm thay thế người khác thực hiện nghĩa vụ mà bên vi phạm
phải chấp nhận. Các biện pháp trong nhóm này được chủ thể bị vi phạm sử dụng
57
đan xen với nhau như vừa yêu cầu buộc thực hiện hợp đồng, vừa yêu cầu giảm giá
hàng hóa, dịch vụ. Bên bị vi phạm tạm ngừng thực hiện hợp đồng và cầm giữ tài
sản để buộc bên vi phạm thực hiện nghĩa vụ hợp đồng. Ngoài ra, với đặc điểm là
không làm mất đi hiệu lực hợp đồng của nhóm trách nhiệm này, nên bên bị vi phạm
buộc bên vi phạm thực hiện nghĩa vụ hợp đồng của mình và đồng thời bên bị vi
phạm tạm ngừng việc thực hiện nghĩa vụ hợp đồng tương ứng, hành vi tạm ngừng
sẽ chấm dứt tương ứng khi bên vi phạm thực hiện nghĩa vụ của mình hoặc dùng
biện pháp chứng minh mình sẽ phải thực hiện nghĩa vụ như giao tài sản khác ngoài
hợp đồng để bên bị vi phạm cầm giữ. Khi áp dụng nhóm biện pháp không làm hợp
đồng chấm dứt, bên bị vi phạm có quyền gia hạn một thời gian cho bên vi phạm
thực hiện nghĩa vụ hợp đồng, tuy nhiên thời gian gia hạn không tính là thời điểm bắt
đầu vi phạm, thời gian vi phạm để khiếu nại, khởi kiện vẫn phải tính từ lúc có hành
vi vi phạm.
Căn cứ để áp dụng nhóm biện pháp duy trì hợp đồng là có hành vi vi phạm
hợp đồng. Cần bình luận thêm quan điểm khi áp dụng biện pháp tạm ngừng thực
hiện hợp đồng về căn cứ vi phạm cơ bản [118, Điều 308]. Nếu các bên có thỏa
thuận về hành vi vi pham để áp dụng biện pháp này thì áp dụng theo thỏa thuận khi
có vi phạm xảy ra. Nếu các bên không có thỏa thuận, theo quan điểm của tác giả,
không nên quy định phải có hành vi vi phạm cơ bản thì bên bị vi phạm mới được áp
dụng biện pháp này, mà chỉ cần có hành vi vi phạm là đủ, vì khi áp dụng biện pháp
tạm ngừng nhằm thúc đẩy việc thực hiện hợp đồng của bên vi phạm, tôn trọng mục
đích tối thượng của hợp đồng là mong muốn cho hợp đồng được thực hiện của bên
bị vi phạm mà không phải làm cho chấm dứt hợp đồng đó là mục đích chính đáng
phù hợp với mục đích của hợp đồng. Ngoài ra, phạm vi tạm ngừng này phụ thuộc
vào việc thực hiện nghĩa vụ đối ứng giữa các bên, nếu bên kia đã thực hiện một
phần hợp đồng, thì chỉ được tạm ngừng thực hiện tương ứng với phần nghĩa vụ
chưa thực hiện còn lại, nếu bên kia không thực hiện toàn bộ nghĩa vụ hợp đồng thì
bên tạm ngừng được tạm ngừng thực hiện toàn bộ nghĩa vụ hợp đồng. Vì vậy, khi
áp dụng biện pháp tạm ngừng thực hiện hợp đồng không cần thiết phải có căn cứ vi
phạm cơ bản.
Ngoài ra, thông báo là căn cứ bắt buộc khi áp dụng nhóm biện pháp duy trì
hợp đồng, nếu ngay khi bên có quyền áp dụng biện pháp tạm ngừng thực hiện hợp
đồng đối với bên có quyền mà không thông báo để xảy ra thiệt hại thì bên có quyền
58
phải chịu hoàn toàn thiệt hại, với quy định này, thông báo trở thành một căn cứ bắt
buộc khi áp dụng chế tài này [118, Điều 315]. Với những biện pháp còn lại như
buộc thực hiện hợp đồng, giảm giá, cầm giữ tài sản, thay thế việc thực hiện nghĩa
vụ của bên có nghĩa vụ không được các học giả đề cập đến thông báo như là một
căn cứ bắt buộc được xác định khi áp dụng chúng cho bên vi phạm. Theo quan điểm
của Cheong May Fong, dù pháp luật đã quy định khi có hành vi vi phạm xảy ra thì
bên bị vi phạm được quyền áp dụng các biện pháp trách nhiệm pháp lý cho bên vi
phạm, nhưng không phải việc áp dụng này là tự động [248, tr,45]. Tác giả đồng ý
với quan điểm này, ngoài những nghĩa vụ đã thỏa thuận trong hợp đồng mà các bên
phải thực hiện khi ký kết hợp đồng, khi bên bị vi phạm áp dụng những biện pháp
trách nhiệm nào phát sinh khi có hành vi vi phạm phải thông báo cho bên vi phạm
biết để thực hiện, trừ những trường hợp đã ấn định thời gian hoặc đã ấn định khi gia
hạn. Vì vậy, thông báo cho bên vi phạm về việc thực hiện trách nhiệm hợp đồng thể
hiện sự quan tâm chu đáo khi các bên tham gia vào quan hệ hợp đồng, đặc biệt khi
có hành vi vi phạm xảy ra.
Đối với căn cứ khiếu nại, nhóm biện pháp trách nhiệm nhằm duy trì hợp
đồng là bắt buộc, nếu giả sử bên vi phạm có hành vi vi phạm, sau đó bên bị vi phạm
trong thời hạn không yêu cầu bên vi phạm thực hiện nghĩa vụ, không khiếu nại về
hành vi vi phạm này thì xem như bên bị vi phạm mất quyền viện dẫn có hành vi vi
phạm, nghĩa là quá thời hạn quy định này đối với từng hành vi vi phạm tương ứng,
bên vi phạm xem như bên bị vi phạm chấp nhận hành vi vi phạm, xem như chưa có
vi phạm.
Về thời điểm chấm dứt áp dụng nhóm trách nhiệm này, là bên vi phạm đã
thực hiện những nghĩa vụ hợp đồng mà đã cam kết với bên vi phạm. Bên bị vi phạm
chấm dứt hành vi tạm ngừng khi bên vi phạm thực hiện xong nghĩa vụ đối ứng, với
lý luận này thì này chưa đầy đủ, cần phải xem xét trường hợp khi bên vi phạm đã
thực hiện một biện pháp đảm bảo cho việc thực hiện hợp đồng, nếu bên vi phạm đã
thực hiện biện pháp đảm bảo này theo đúng yêu cầu của bên bị vi phạm và tương
xứng với nghĩa vụ chưa thực hiện của bên vi phạm và chúng ta cần phân biệt giữa
cầm giữ tài sản là khách thể trong hợp đồng và tài sản cầm giữ là khách thể ngoài
hợp đồng, việc cầm giữ tài sản này đều là giống nhau ở thời điểm cầm giữ là khi có
hành vi vi phạm xảy ra và đều đảm bảo cho việc thực hiện nghĩa vụ hợp đồng của
bên vi phạm. Tuy nhiên hai cách cầm giữ này có khác nhau ở chỗ cầm giữ tài sản
59
trong hợp đồng là bên vi phạm không tự nguyện đưa tài sản cho bên bị vi phạm cầm
giữ, còn cầm giữ mang tính thế chấp để nhằm đảm bảo cho việc thực hiện nghĩa vụ
hợp đồng là do bên vi phạm tự nguyện. Việc cầm giữ tài sản này khác biệt với việc
cầm giữ là cầm cố hoặc thế chấp tài sản khi chưa có vi phạm xảy ra giữa các chủ thể
hợp đồng và biện pháp buộc thực hiện đúng hợp đồng, thay thế thực hiện nghĩa vụ,
tạm ngừng thực hiện nghĩa vụ hợp đồng sẽ chấm dứt khi bên vi phạm thực hiện đầy
đủ nghĩa vụ của mình trước bên bị vi phạm, hoặc dùng biện pháp đảm bảo cho việc
thực hiện nghĩa vụ hợp đồng mà được bên bị vi phạm đồng ý.
Chấm dứt áp dụng nhóm trách nhiệm duy trì thực hiện hợp đồng bằng cách
thức chuyển sang áp dụng biện pháp trách nhiệm khác. Nhóm biện pháp này cũng
có thể chấm dứt khi bên vi phạm không thực hiện các biện pháp trách nhiệm trong
nhóm biện pháp trách nhiệm này theo yêu cầu của bên bị vi phạm [118, Điều 299].
Khi áp dụng nhóm biện pháp trách nhiệm này mà bên vi phạm vẫn không thực hiện
theo đúng yêu cầu thì bên bị vi phạm được quyền áp dụng tiếp tục nhóm biện pháp
chấm dứt hợp đồng và đồng thời áp dụng nhóm biện pháp bồi thường hợp đồng.
Tóm lại, khi áp dụng các biện pháp trách nhiệm nhằm duy trì hợp đồng, bên
bị vi phạm không có được sự lựa chọn giữa nhóm nhằm duy trì hợp đồng hoặc
nhóm biện pháp làm chấm dứt hợp đồng. Mà bên bị vi phạm phải chọn nhóm biện
pháp này trước, nếu sau đó bên vi phạm vẫn không thực hiện theo yêu cầu thì bên bị
vi phạm mới được chuyển sang việc áp dụng nhóm biện pháp trách nhiệm chấm dứt
hợp đồng. Việc này đồng nghĩa với việc luật pháp không cho phép bên bị vi phạm
tự ý tăng nặng biện pháp trách nhiệm cho bên vi phạm khi pháp luật chưa quy định.
2.3.2. Các biện pháp trách nhiệm làm chấm dứt hợp đồng
Nhóm trách nhiệm làm cho hợp đồng bị chấm dứt, không đạt được mục đích
của hợp đồng, mặc dù không duy trì hợp đồng nhưng nhóm biện pháp này là biện
pháp hữu hiệu khi hợp đồng không thể thực hiện được hoặc cố gắng thực hiện thì sẽ
gây ra nhiều tổn thất hơn cho các bên. Vì vậy luật pháp vẫn cho phép bên bị vi
phạm áp dụng cho bên vi phạm khi có đủ điều kiện để áp dụng. Với nhóm biện
pháp này (i) chỉ có một biện pháp là hủy hợp đồng [248, 45]; (ii) gồm đình chỉ thực
hiện hợp đồng và hủy hợp đồng [118, Điều 292]; (iii) bao gồm đơn phương chấm
dứt hợp đồng và hủy hợp đồng [58, tr.8]. Trong biện pháp hủy hợp đồng có hai hình
thức hủy một phần hợp đồng và hủy toàn bộ hợp đồng.
60
Các biện pháp trách nhiệm chấm dứt hợp đồng là chế tài trong hoạt động
thương mại trong đó đình chỉ thực hiện hợp đồng là bên có quyền chấm dứt thực
hiện nghĩa vụ hợp đồng của mình và làm cho hợp đồng chấm dứt hiệu lực kể từ thời
điểm bên kia nhận được thông báo đình chỉ [118, Điều 311], còn hủy hợp đồng là
việc bên bị vi phạm thông báo với bên vi phạm về việc bãi bỏ thực hiện nghĩa vụ
hợp đồng, hợp đồng chấm dứt hiệu lực kể từ thời điểm giao kết hợp đồng đối với
hủy bỏ toàn bộ hợp đồng, còn đối với hủy bỏ một phần hợp đồng thì phần hủy bỏ bị
chấm dứt hiệu lực, còn phần không hủy bỏ vẫn còn hiệu lực [118, Điều 314].
Căn cứ để áp dụng các biện pháp trách nhiệm làm chấm dứt hợp đồng là
giống nhau, theo đó (i) một bên vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng (ii) xảy ra hành
vi vi phạm mà các bên đã thỏa thuận là điều kiện để chấm dứt hợp đồng [118, Điều
310, 312]. Theo (i), khi một bên vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng thì bên kia có
quyền áp dụng chế tài chấm dứt hợp đồng mà không cần có sự thỏa thuận, tuy nhiên
nếu thỏa thuận của các bên bao hàm cả trường hợp vi phạm hợp đồng thì bên bị vi
phạm có thể đồng thời viện dẫn cả hai loại căn cứ. Cần bình luận thêm về chấm dứt
hợp đồng bằng biện pháp hủy hợp đồng, trong trường hợp hủy một phần hợp đồng,
thì một bên muốn hủy một phần hợp đồng cũng phải xác định có vi phạm cơ bản
mới được hủy, còn đối với vi phạm không cơ bản thì sẽ không được hủy một phần
hợp đồng. Vậy, việc vi phạm một phần hợp đồng khi soi vào khái niệm vi phạm cơ
bản , chúng ta thấy rằng vi phạm một phần hợp đồng vẫn gọi đó là nếu sự vi phạm
đó làm cho bên bị vi phạm không đạt được mục đích hợp đồng. Cho nên không phải
lúc nào cũng phải là vi phạm toàn bộ hợp đồng mới được cho là vi phạm cơ bản hợp
đồng. Nếu có thỏa thuận về giao hàng, cung ứng dịch vụ từng phần, nếu một bên vi
phạm nghĩa vụ trong một lần giao hàng, cung ứng dịch vụ mà vụ việc này cấu thành
vi phạm cơ bản đối với lần đó thì bên kia có quyền tuyên bố hủy hợp đồng đối với
lần giao hàng đó. (ii) khi có sự thỏa thuận hành vi vi phạm là điều kiện để chấm dứt
hợp đồng, theo đó, nếu các bên có thỏa thuận hành vi vi phạm là điều kiện chấm dứt
hợp đồng mặc dù vi phạm đó là không cơ bản, tuy nhiên các hành vi này phải quy
định rõ là hành vi nào thì được chấm dứt hợp đồng ví dụ như hành động im lặng,
giao hàng chậm quá ngày thỏa thuận phải giao, thanh toán không đủ vào thời điểm
phải có nghĩa vụ thanh toán…của một bên là điều kiện để chấm dứt hợp đồng. Tác
giả đồng ý với lý luận phải có hai căn cứ có sự thỏa thuận, vi phạm cơ bản thì áp
dụng nhóm biện pháp làm chấm dứt hợp đồng, nhưng như theo quan điểm của tác
61
giả Đỗ Văn Đại nên thay thuật ngữ vi phạm nghiêm trọng cho thuật ngữ vi phạm cơ
bản để tránh việc khó xác định mức độ vi phạm [58, tr.207], tác giả đồng ý với quan
điểm này.
Căn cứ thông báo là căn cứ bắt buộc khi bên bị vi phạm áp dụng các biện pháp
trách nhiệm này cho bên vi phạm, khi một bên vi phạm hợp đồng, bên bị vi phạm
muốn áp dụng biện pháp chấm dứt hợp đồng phải thông báo ngay cho bên kia biết
về việc áp dụng các biện pháp trách nhiệm này, nếu không thông báo ngay mà gây
ra thiệt hại cho bên kia thì bên bị vi phạm sẽ phải bồi thường [118, Điều 315]. Việc
thông báo là nghĩa vụ của bên áp dụng các biện pháp này cho bên vi phạm, cũng
đồng thời là điều kiện cần và đủ để xác định trách nhiệm để chấm dứt hợp đồng.
Thông báo phải được thực hiện trong một khoảng thời gian hợp lý có thể là thông
báo ngay [118, Điều 315] hoặc một khoảng thời gian nhất định [112, Điều 132],
thông báo có thể gửi bằng văn bản hoặc không, thông báo có thể bắt buộc phải xác
nhận đến tay người nhận [34, Điều 10.1].
Mối quan hệ với các chế tài khác, khi áp dụng nhóm biện pháp chấm dứt hợp
đồng thì bên áp dụng không được đồng thời với nhóm trách nhiệm nhằm duy trì
thực hiện hợp đồng nhưng được áp dụng với nhóm bồi thường hợp đồng. Tuy nhiên
cần phải xác định những biện pháp trách nhiệm được quy định nhằm mang tính bồi
thường hợp đồng như phạt vi phạm tuy được quy định như một nội dung trong hợp
đồng nhưng khi áp dụng biện pháp chấm dứt hợp đồng thì những nội dung này vẫn
không mất hiệu lực nếu một bên đã thông báo yêu cầu áp dụng phạt vi phạm trước
khi áp dụng biện pháp chấm dứt hợp đồng [220, tr.453]. Theo quan điểm của tác
giả, chế tài phạt vi vi phạm vẫn được áp dụng ngay cả khi chấm dứt hợp đồng,
nhưng trong trường hợp này bên bị vi phạm phải khiếu nại đến bên vi phạm về phạt
vi phạm nếu có thỏa thuận, việc khiếu nại này phải được thực hiện ngay hoặc trong
khoảng thời gian hợp lý, nếu hết thời hạn khiếu nại mà bên bị vi phạm không khiếu
nại thì xem như chấp nhận việc vi phạm này. Với quy định này rõ ràng khiếu nại là
căn cứ không thể thiếu khi xác định trách nhiệm cho bên vi phạm.
Hậu quả pháp lý của nhóm biện pháp trách nhiệm là làm chấm dứt quan hệ
hợp đồng. Tuy nhiên, một số quan điểm lý luận cho rằng, đình chỉ thực hiện hợp
đồng được chấm dứt kể từ khi bên bị vi phạm thông báo cho bên vi phạm về việc
đình chỉ thực hiện hợp đồng, hiệu lực hợp đồng không mất đi kể từ khi giao kết hợp
đồng, nghĩa là những quyền và nghĩa vụ được thực hiện trước khi thông báo về đình
62
chỉ thực hiện hợp đồng vẫn có hiệu lực áp dụng cho các bên, một bên đã thực hiện
nghĩa vụ của mình trước thời điểm hợp đồng chấm dứt hiệu lực làm phát sinh quyền
của bên đó được yêu cầu bên kia thực hiện nghĩa vụ đối ứng [220, tr.444]. Hủy một
phần hợp đồng, phần hợp đồng bị hủy mất hiệu lực kể từ khi giao kết hợp đồng, các
bên không phải tiếp tục thực hiện các nghĩa vụ đã thỏa thuận đối với phần hợp đồng
đó, các bên chỉ được đòi lại những quyền lợi ích từ phần hợp đồng bị hủy mà thôi
[220, tr.448]. Hủy toàn bộ hợp đồng là hợp đồng không có hiệu lực từ thời điểm
giao kết hợp đồng, các bên phải trả lại những lợi ích đã nhận cho bên còn lại, nếu
không trả lại được bằng lợi ích đã nhận thì trả bằng tiền [220, tr.449]. Việc trả lại
bằng tiền này được quy định như thế nào? Theo quan điểm tác giả, cần phải được
hiểu là những lợi ích mà một bên không hoàn trả được bằng chính lợi ích đó thì có
thể được trả bằng giá trị lợi ích khác tương đương hoặc bằng tiền, giá trị lợi ích
khác tương đương hoặc tiền này khi trả phải căn cứ theo giá trị trên thị trường tại
nơi xảy ra sự việc và tại thời điểm thanh toán thì mới hợp lý.
Hiện nay có một số quan điểm khác nhau về phân loại các biện pháp trách
nhiệm làm chấm dứt hợp đồng như xác định hai biện pháp trách nhiệm mà bên bị vi
phạm áp dụng cho bên vi phạm đó hủy hợp đồng có hồi tố và hủy hợp đồng không
hồi tố; hoặc hủy một phần hợp đồng và hủy toàn bộ hợp đồng; hoặc đình chỉ thực
hiện hợp đồng, hủy một phần, hủy toàn bộ hợp đồng. Theo quan điểm của tác giả
Đỗ Văn Đại nên gộp chung thành một biện pháp hủy bỏ hợp đồng [58, tr.185]. Theo
quan điểm của tác giả, nên quy định biện pháp hủy hợp đồng, theo đó được hiểu là
hủy hợp đồng có hồi tố và hủy hợp đồng không có hồi tố sẽ bao quát được các
trường hợp mà tránh được sự quy định nhiều cách hiểu và nhiều trách nhiệm làm
chấm dứt hợp đồng như hiện nay.
Tóm lại, trước khi áp dụng nhóm biện pháp này, luật pháp cho phép bên bị vi
phạm lựa chọn giữa hai nhóm biện pháp nhằm duy trì hợp đồng hoặc làm chấm dứt
hợp đồng để áp dụng cho bên vi phạm. Với những căn cứ xác định trách nhiệm làm
chấm dứt hợp đồng, bên bị vi phạm có thể chọn lựa áp dụng các biện pháp trách
nhiệm nhằm duy trì hợp đồng hoặc chấm dứt hợp đồng. Đây chính là điểm khác biệt
giữa hai nhóm trách nhiệm này. Pháp luật cho phép bên bị vi phạm giảm nhẹ hoặc
miễn trách nhiệm cho bên vi phạm nhưng không được tăng nặng trách nhiệm cho
bên này.
63
2.3.3. Các biện pháp trách nhiệm mang tính bồi thường và bù đắp thiệt hại hợp
đồng
Trách nhiệm mà bên bị vi phạm áp dụng cho bên vi phạm nhằm bồi thường ,
khôi phục và bù đắp những thiệt hại mà bên vi phạm đã gây ra bao gồm BTTH,
phạt vi phạm, phạt lãi do vi phạm nghĩa vụ thanh toán.
Các biện pháp trách nhiệm này đều có chung mục đích nhằm bù đắp, khắc
phục những thiệt hại của bên bị vi phạm mà bên kia đã gây ra. Những biện pháp
trách nhiệm này không mang chức năng chính về duy trì hay chấm dứt hợp đồng,
mà áp dụng ngay cả khi hợp đồng được tiếp tục thực hiện hay chấm dứt bằng các
biện pháp trách nhiệm như đã phân tích ở các mục trên, nhưng chỉ được áp dụng
khi có những dấu hiệu riêng biệt của nó. Mặc dù phạt vi phạm hoặc phạt lãi là
biện pháp mang thuật ngữ “phạt” nhưng không mang ý nghĩa trừng phạt mà chỉ là
bù đắp những tổn thất do hành vi vi phạm gây ra, bản chất của nó không mang
tính trừng phạt nhằm để trục lợi từ sự vi phạm của một bên, mà chỉ là bù đắp
mang tính công bằng [46, tr.50]. Tuy nhiên, các biện pháp này được khái niệm
khác nhau như BTTH là việc bên vi phạm bồi thường những tổn thất do hành vi vi
phạm hợp đồng gây ra cho bên bị vi phạm, trừ trường hợp miễn trách nhiệm [118,
Điều 302]. Phạt vi phạm là việc bên bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm trả một
khoản tiền phạt do vi phạm hợp đồng nếu trong hợp đồng có thỏa thuận, trừ
trường hợp miễn trách nhiệm [118, Điều 300]. Phạt lãi do chậm thanh toán là bên
bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm trả tiền lãi trên số tiền chậm trả theo lãi suất nợ
quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian
chậm trả [118, Điều 306]. Hoặc theo Công ước Viên thì theo lãi suất vay ngắn hạn
của ngân hàng. Với các khái niệm này cho thấy điểm giống nhau là giá trị bồi
thường này phải tính ra được thành tiền và nếu sẽ không được áp dụng nếu rơi vào
trường hợp miễn trừ trách nhiệm, riêng BTTH bao gồm cả những thiệt hại về tinh
thần, uy tính, danh dự, tuy nhiên vẫn phải quy ra thành tiền để bồi thường.
Căn cứ để áp dụng trách nhiệm bồi thường hợp đồng, đối với phạt vi phạm là
có hành vi vi phạm không nhất thiết phải quy định cụ thể từng hành vi vi phạm và
có sự thỏa thuận, sự thỏa thuận này có thể thực hiện bất kỳ thời điểm nào, không
bắt buộc kể từ khi giao kết hợp đồng. Về phạt lãi quá hạn, căn cứ áp dụng là phải
có hành vi vi phạm nghĩa vụ thanh toán hợp đồng và chia ra hai trường hợp nếu đã
thỏa thuận thì áp dụng theo thỏa thuận nhưng không vượt quá mức mà pháp luật
64
quy định hoặc không có thỏa thuận nhưng có xảy ra hành vi vi phạm nghĩa vụ
thanh toán. Còn BTTH, căn cứ để áp dụng phải có hành vi vi phạm hợp đồng, có
thiệt hại xảy ra, hành vi vi phạm là nguyên nhân gây ra thiệt hại đó. Về yếu tố lỗi
tác giả đồng ý với quan điểm không là căn cứ bắt buộc để xác định trách nhiệm
bồi thường, nhưng nếu là lỗi cố ý, có ác ý của bên vi phạm thì đó là căn cứ để xác
định vi phạm nghiêm trọng hợp đồng áp dụng bồi thường mang tính trừng phạt
[127, tr.58], tác giả đồng ý với quan điểm này. Ngoài ra, khi áp dụng các biện
pháp trách nhiệm này, bên bị vi phạm cần phải thông báo cho bên vi phạm về
hành vi vi phạm của bên vi phạm sẽ dẫn đến việc áp dụng các loại trách nhiệm
trên. Hơn nữa, nếu bên bị vi phạm không khiếu nại đến bên vi phạm về những
hành vi vi phạm của bên vi phạm trong thời gian quy định thì xem như bên bị vi
phạm chấp nhận hành vi vi phạm đó. Vì vậy việc khởi kiện để yêu cầu áp dụng
các trách nhiệm bồi thường sẽ không còn tác dụng đối với bên vi phạm. Lúc bấy
giờ xem như là bên bị vi phạm mất quyền viện dẫn để đòi BTTH từ bên vi phạm.
Giới hạn áp dụng các biện pháp này, mức phạt vi phạm, có nhiều quan điểm
khác nhau (i) các bên có quyền thỏa thuận nhưng nếu quá cao không công bằng
tòa án, trọng tài được quyền điều chỉnh cho phù hợp; (ii) được thỏa thuận nhưng
không được quá quy định của luật pháp và tùy theo từng quy định theo từng văn
bản pháp luật áp dụng cho từng dạng HĐTM thì áp dụng theo quy định của văn
bản pháp luật đó, còn nếu trong các văn bản không quy định cụ thể thì áp dụng
theo văn bản luật chung. Theo quan điểm (i) của các nước trên thế giới giao cho
thẩm phán, trọng tài quyền quyết định cũng chưa hoàn toàn chính xác. Theo quan
điểm của tác giả, nên tôn trọng nguyên tắc thỏa thuận giữa các bên, vì thương
nhân là những chủ thể kinh doanh như một nghề, họ tự lường trước những khoản
lợi nhuận hoặc rủi ro xảy ra, biết rõ năng lực của mình và đối tác, luật pháp không
nên hạn chế mức phạt này. Cũng như vậy, đối với phạt lãi quá hạn, nếu có thỏa
thuận mức phạt thì áp dụng theo sự thỏa thuận của các bên, nếu không có sự thỏa
thuận thì áp dụng mức theo quy định của pháp luật hiện hành, tuy nhiên cần sửa
quy định hiện nay theo mức cao hơn mới phù hợp theo sự phát triển của nền kinh
tế hiện nay. Phạm vi BTTH bao gồm (i) thiệt hại trực tiếp, thực tế mà bên bị vi
phạm phải chịu; (ii) khoản lợi mà bên bị vi phạm được hưởng nếu không có hành
vi vi phạm, bao gồm tổn thất về tài sản, chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế,
khắc phục thiệt hại, thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút. Cần quy định theo
65
hướng mở rộng bao gồm những thiệt hại về uy tín, danh dự và được quy ra bằng
giá trị tiền.
Hậu quả của việc áp dụng các biện pháp trách nhiệm bồi thường hợp đồng,
khi áp dụng các biện pháp này, bên vi phạm không được giải phóng khỏi các biện
pháp trách nhiệm khác, ngay cả những biện pháp hoặc nội dung đã thỏa thuận
trong hợp đồng.
Mối quan hệ của các biện pháp trách nhiệm trong nhóm này với các biện
pháp trách nhiệm trong nhóm trách nhiệm khác: Bên bị vi phạm được áp dụng
đồng thời các biện pháp trách nhiệm pháp lý trong nhóm biện pháp này với các
biện pháp trách nhiệm pháp lý trong nhóm trách nhiệm khác, mà không bị ảnh
hưởng đến hiệu lực khi áp dụng các biện pháp trách nhiệm trong các nhóm trách
nhiệm khác nhau.
Theo một số quan điểm khác khi bàn đến các biện pháp xử lý do vi phạm hợp
đồng, còn đề cập đến những biện pháp khác, họ cho rằng, khi một bên gây ra hành
vi vi phạm thì các biện pháp trách nhiệm được áp dụng cho bên vi phạm đến khi
bên bị vi phạm nhận lại những gì đã bị mất do hành vi này gây ra. Khi bên bị vi
phạm chưa được bù đắp những thiệt hại thì các biện pháp trách nhiệm này chưa
dừng lại, mà phải kể đến thủ tục tố tụng cũng là những biện pháp trách nhiệm áp
dụng cho bên vi phạm [248, tr.2]. Vì vậy phạm vi của trách nhiệm pháp lý do vi
phạm pháp luật nói chung, pháp luật HĐTM nói riêng không chỉ dừng ở những quy
định trong phần chế tài của các văn bản pháp luật, mà bao gồm những thủ tục tố
tụng đó là những biện pháp trách nhiệm như lệnh cấm thực hiện, lệnh yêu cầu thực
hiện, áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, ngay cả thủ tục cưỡng chế thi hành án
nhằm bồi thường dứt điểm những hậu quả do hành vi vi phạm gây ra. Tuy nhiên,
việc áp dụng trách nhiệm pháp lý do vi phạm HĐTM sẽ không còn ý nghĩa khi bên
vi phạm bị phá sản, không còn tài sản để bồi thường hợp đồng. Tác giả đồng ý với
quan điểm này, trách nhiệm pháp lý do vi phạm HĐTM bao gồm việc áp dụng
những biện pháp trách nhiệm liên quan đến việc thực thi những quyết định, phán
quyết của tòa án và trọng tài, những biện pháp cưỡng chế buộc thực hiện trách
nhiệm đối với bên vi phạm tại cơ quan thi hành án, đến khi bên bị vi phạm được
nhận lại tài sản đã bị thiệt hại từ bên vi phạm, thì mới kết thúc quá trình áp dụng
trách nhiệm cho bên vi phạm hợp đồng.
66
2.3.4. Trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng có liên quan đến bên thứ ba
Một đặc điểm cần lưu ý khi áp dụng các biện pháp trách nhiệm khi có vi phạm
hợp đồng có liên quan đến bên thứ ba. Có nhiều quan điểm khác nhau về bên thứ ba
(i) một bên được bên kia ủy quyền hay người đại diện theo ủy quyền hoặc đại diện
theo pháp luật và bất kỳ bên nào khác không phải là các bên trong hợp đồng (ii) là
bên có liên quan đến hợp đồng đang bị vi phạm; (iii) các bên thực hiện hợp đồng vì
lợi ích của bên thứ ba. Tác giả cho rằng bên thứ ba được đề cập trong HĐTM không
phải là bên thứ ba theo (i) và (iii). Vì bên thứ ba theo quan điểm (i) chính là chủ thể
hợp đồng, hành vi vi phạm của bên thứ ba theo quan điểm này vẫn bị xem đó là vi
phạm trong hợp đồng của bên vi phạm. Theo quan điểm (iii) hai bên phải có nghĩa
vụ thực hiện hợp đồng cho bên thứ ba được hưởng và bên này chỉ có quyền mà
không có nghĩa vụ mà không phải là bên thứ ba vi phạm với một hoặc các bên trong
hợp đồng. Theo tác giả quan điểm đúng, bên thứ ba là bên vi phạm với một trong
các bên trong hợp đồng làm cho bên này vi phạm hợp đồng với bên bị vi phạm hoặc
bên vi phạm thực hiện hành vi vi phạm hợp đồng với bên bị vi phạm làm cho bên bị
vi phạm gây ra thiệt hại cho bên thứ ba, bên thứ ba có thể được hiểu theo hai khía
cạnh có thể là bên thứ ba vi phạm hoặc bên thứ ba bị vi phạm do sự vi phạm của
một trong các bên trong hợp đồng. Mặc dù có ảnh hưởng đến việc duy trì hoặc
chấm dứt quan hệ hợp đồng, nhưng luật pháp cho rằng, bên vi phạm phải chịu trách
nhiệm trước bên bị vi phạm và sau đó bên vi phạm sẽ áp dụng trách nhiệm cho bên
thứ ba đã vi phạm với mình tương đương với hành vi vi phạm mà bên thứ ba đã gây
ra. Cũng như vậy, bên bị vi phạm áp dụng trách nhiệm đối với bên vị phạm và bên
thứ ba bị vi phạm sẽ áp dụng trách nhiệm cho bên bị vi phạm. Có nghĩa là, những
biện pháp trách nhiệm mà bên bị vi phạm áp dụng cho bên vi phạm, bên vi phạm
không được viện dẫn là do hành vi vi phạm của bên thứ ba, từ đó bên vi phạm vi
phạm hợp đồng với bên bị vi phạm và bên vi phạm không được miễn trừ trách
nhiệm với bên bị vi phạm. Tuy nhiên, khi áp dụng trách nhiệm BTTH, bên bị vi
phạm được viện dẫn hành vi vi phạm của bên vi phạm đối với mình làm cho bên bị
vi phạm phải thiệt hại do phải bồi thường cho bên thứ ba như phạt vi phạm hợp
đồng, BTTH, phạt lãi, lãi quá hạn, đây là những thiệt hại được xem là hợp lý buộc
bên vi phạm phải bồi thường cho bên bị vi phạm. Nghĩa là bên vi phạm không được
viện dẫn để miễn trách nhiệm, nhưng bên bị vi phạm vẫn được viện dẫn những thiệt
hại bồi thường cho bên thứ ba là thiệt hại thực tế để buộc bên vi phạm phải bồi
67
thường. Tuy nhiên, nếu bên thứ ba này không yêu cầu bên vi phạm hợp đồng chịu
trách nhiệm đối với mình, thì bên vi phạm hợp đồng với bên thứ ba (tức là bên bị vi
phạm) cũng không được yêu cầu bên vi phạm bồi thường những khoản thiệt hại
phát sinh từ bên thứ ba. Xem như những thiệt hại này không xảy ra cho bên bị vi
phạm. Vì lỗi không được xem là căn cứ để xác định trách nhiệm, bên vi phạm bị
xem là có vi phạm hợp đồng ngay cả trong trường hợp không có lỗi, vì vậy bên này
không được viễn dẫn là “Tôi không có lỗi gì cả, lỗi này là do bên thứ ba gây nên, vì
vậy tôi không vi phạm hợp đồng cho nên tôi không chịu trách nhiệm”. Hai bên ký
kết, thực hiện hợp đồng nhằm mục đích vì lợi ích của bên thứ ba, thì hai bên không
được hủy hợp đồng, trừ trường hợp được người thứ ba đồng ý, đây là một trường
hợp khác mà không phải trường hợp mà tác giả muốn đề cập đến. Vậy một vấn đề
đặt ra là cơ quan nhà nước có thẩm quyền có phải là bên thứ ba hay không? Nếu
như do cơ quan nhà nước đưa ra quyết định làm cho một trong các bên trong hợp
đồng không thực hiện nghĩa vụ hợp đồng, có gọi là lỗi của bên thứ ba hay không?
Luật pháp cho rằng quyết định của cơ quan nhà nước không phải là bên thứ ba. Mà
đây là trường hợp khác đặc biệt vì khi có quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm
quyền thì bên vi phạm hợp đồng với bên kia được xem là không vi phạm hợp đồng
và không chịu trách nhiệm. Hơn nữa, bên thứ ba có phải là do tác động của thiên
nhiên, sự việc xảy mà mà một người bình thường không biết, không kiểm soát được
mặc dù đã dùng mọi cách để ngăn chặn vẫn không thể khôi phục lại được hiện
trạng, hay nói một cách tâm linh hơn “do ông trời xếp đặt” cũng không gọi là bên
thứ ba, cho nên khi một bên không thực hiện hợp đồng trong những trường hợp như
vậy vẫn không gọi là vi phạm hợp đồng. Tóm lại, bên thứ ba là (i) bên không có
liên quan đến hợp đồng giữa các bên, tức là bên ngoài các bên trong quan hệ hợp
đồng; (ii) bên thứ ba là bên có liên quan đến nội dung của hợp đồng đang bị vi
phạm. Tác giả muốn đề cập đến trách nhiệm của các bên trong hợp đồng có liên
quan đến quan điểm bên thứ ba trong mục (ii).
2.3.5. Trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng thƣơng mại khi các bên đều
vi phạm hợp đồng
Các biện pháp trách nhiệm pháp lý áp dụng cho vi phạm song phương cũng
như việc áp dụng đối với các loại vi phạm hợp đồng khác, nhưng trong các loại vi
phạm khác chỉ có một bên chủ thể trong hợp đồng vi phạm hợp đồng, trong khi vi
phạm song phương là hai bên, hoặc các bên trong hợp đồng đều vi phạm. Theo Luật
68
hợp đồng Trung Quốc quy định nếu cả hai bên trong hợp đồng vi phạm thì họ phải
chịu trách nhiệm tương ứng [107, Điều 120], với quy định này không đưa ra khái
niệm về vi phạm song phương, không quy định về thời gian vi phạm như thế nào thì
được gọi là song phương , cách thức áp dụng trách nhiệm pháp lý như thế nào. Theo
tác giả Daniel Bussel, việc xác định thời gian khi có hành vi vi phạm là yếu tố quyết
định trong vi phạm song phương, hơn nữa khi các bên đều vi phạm hợp đồng việc
xác định mức độ vi phạm của mỗi bên là vấn đề cần phải làm rõ [235, tr.5]. Vậy các
bên có được bù trừ cho nhau về trách nhiệm khi đều có vi phạm hay không, thiết
nghĩ đó là lẽ đương nhiên, bên cạnh đó, nếu cả hai bên không thống nhất trong cách
áp dụng các biện pháp trách nhiệm, thì sẽ quy định vào mức độ vi phạm của hành vi
mỗi bên, nếu bên nào có mức độ vi phạm nặng hợp sẽ không được ưu tiên chọn
biện pháp trách nhiệm áp dụng. Thông thường, trong hợp đồng song vụ thì các bên
trong hợp đồng tương đương quyền và nghĩa vụ với nhau, thì khi hai bên vi phạm
thì mức độ vi phạm ngang nhau. Hai bên phải thực hiện đồng thời nghĩa vụ, nhưng
một bên thực hiện một phần nghĩa vụ hợp đồng của mình, bên kia không thực hiện,
thực hiện phần nghĩa vụ ít hơn so với bên kia. Vậy rõ ràng có một bên vi phạm hợp
đồng nặng hơn, nhiều hơn. Vậy bên vi phạm ít nghiêm trọng hơn sẽ được quyền lựa
chọn việc biện pháp trách nhiệm duy trì việc thực hiện hợp đồng hay chấm dứt hợp
đồng. Hai bên sẽ được bù trừ phần nghĩa vụ tương đương nhau, bên vi phạm nghĩa
vụ nặng hơn phải chịu trách nhiệm phần còn lại cho bên vi phạm ít hơn.
Các tác giả trong các công trình nghiên cứu trước đây, cho rằng là các trường
hợp do thỏa thuận, do SKBKK, do quyết định cơ quan nhà nước, do cản trở của bên
có quyền là các trường miễn trách nhiệm, mà chưa tiếp cận theo góc độ là các
trường hợp không chịu trách nhiệm do không vi phạm hợp đồng. Hơn nữa, không
xác định chỉ có chủ thể bị vi phạm mới có quyền miễn, giảm trách nhiệm cho bên vi
phạm. Khác với các quan điểm này tác giả Lê Nết cho rằng, đây là các trường hợp
miễn trách nhiệm trong các trường hợp pháp luật quy định không phải là trốn tránh
trách nhiệm, đó là những quy định mà luật pháp cho phép, vì xuất phát từ sự bất
công trong những điều luật này đó là áp đặt ý chí của người có thế lực mạnh lên bên
yếu thế. Vì vậy không xem là vi phạm hợp đồng, các bên được phép thỏa thuận
[130, Tr.17,18] nhưng một số tác giả cho rằng nếu những thỏa thuận miễn trách
nhiệm đi ngược lại với mục đích hợp đồng thì những thỏa thuận miễn trách nhiệm
là vô hiệu.
69
2.4. Phân định trƣờng hợp không chịu trách nhiệm do không thể thực hiện hợp
đồng thƣơng mại và miễn, giảm trách nhiệm
Miễn trừ trách nhiệm là việc người có quyền trong HĐTM không áp dụng một
phần trách nhiệm hoặc toàn bộ trách nhiệm cho bên có nghĩa vụ khi bên này có
hành vi vi phạm hợp đồng. Chủ thể được quyền quyết định là chủ thể bị vi phạm mà
không phải bất kỳ chủ thể nào khác, vì trách nhiệm pháp lý do vi phạm HĐTM là
loại trách nhiệm mà bên bị vi phạm áp dụng cho bên vi phạm, mà ngay cả cơ quan
nhà nước có thẩm quyền cũng không được quyền quyết định việc miễn, giảm trách
nhiệm này. Thậm chí, khi bên bị vi phạm yêu cầu cơ quan nhà nước cưỡng chế thi
hành nhưng sau đó bên này miễn hoặc giảm trách nhiệm cho bên kia thì nhà nước
vẫn phải chấp nhận. Vì vậy việc buộc áp dụng trách nhiệm hay không xác định
trách nhiệm đối với bên vi phạm hoàn toàn do chủ thể bị vi phạm định đoạt mà
không phải bất kỳ một cơ quan nhà nước nào có thể quyết định miễn trách nhiệm
này cho bên vi phạm. Vì vậy, theo quan điểm của tác giả, miễn trách nhiệm tức là
khi một bên có hành vi vi phạm nhưng được bên kia không truy cứu trách nhiệm gọi
là miễn hoặc có hành vi vi phạm nghiêm trọng nhưng bên bị vi phạm chỉ áp dụng
trách nhiệm nhẹ hơn so với hành vi vi phạm gọi là giảm trách nhiệm; hoặc đáng lẽ
ra phải bồi thường 100% nhưng miễn hoàn toàn, hoặc chỉ áp dụng bồi thường 50%
là giảm trách nhiệm.
Ngoài ra, có những trường hợp không do chủ thể có quyền quyết định, mà
trong quá trình thực hiện hợp đồng (một bên đang thực hiện nghĩa vụ hợp đồng),
bên này gặp phải các trường hợp mà bất kỳ một người nào khi gặp hoàn cảnh,
điều kiện tương tự cũng không thể nào thực hiện được nghĩa vụ hợp đồng, thì đó
là trường hợp không thực hiện được nghĩa vụ hợp đồng mà không phải là vi
phạm nghĩa vụ hợp đồng. Ví dụ đến ngày giao hàng bên A đến giao hàng cho
bên B nhưng bên B không có tại nơi nhận hàng để nhận, vậy cũng là không thực
hiện hợp đồng nhưng đây không thể kết luận là A vi phạm hợp đồng. Có trường
hợp luật pháp quy định cho bên có quyền có thể gia hạn việc thực hiện nghĩa vụ
hợp đồng cho bên vi phạm đó cũng là trường hợp luật pháp giảm trách nhiệm
cho bên vi phạm.
70
2.4.1. Trƣờng hợp không phải chịu trách nhiệm do không thể thực hiện hợp
đồng thƣơng mại
Các trường hợp xác định một bên không thể thực hiện được nghĩa vụ hợp
đồng và không phải chịu trách nhiệm trong những trường hợp như vậy, là có sự
thỏa thuận trong hợp đồng về hành vi không chịu trách nhiệm do không thực hiện
đúng nghĩa vụ hợp đồng; Xảy ra SKBKK; Hành vi không thực hiện đúng hợp đồng
hoàn toàn do hành vi (lỗi) của bên kia; Do quyết định của cơ quan nhà nước có
thẩm quyền mà bất kỳ ai cũng không thể biết vào thời điểm giao kết hợp đồng [118,
Điều 293]; do bên thứ ba không thể thực hiện hợp đồng với một bên trong hợp đồng
do bên thứ ba gặp SKBKK; do hết thời hạn khiếu nại hoặc khởi kiện.
SKBKK là sự kiện xảy ra một cách khách quan không thể lường trước được và
không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng
cho phép [27, Điều 156]. Từ khái niệm này cho thấy, căn cứ để xác định một bên
trong hợp đồng khi không thực hiện nghĩa vụ hợp đồng mà không chịu trách nhiệm
hợp đồng đó là SKBKK xảy ra sau khi các bên giao kết hợp đồng, SKBKK là
nguyên nhân dẫn đến việc không thực hiện nghĩa vụ hợp đồng, các bên trong hợp
đồng đã dùng hết khả năng khắc phục hậu quả nhưng không thể khắc phục được,
các bên tham gia hợp đồng không có thỏa thuận khác trong hợp đồng. Vậy, nếu một
bên hoặc các bên trong hợp đồng biết trước được SKBKK thì bên không thực hiện
nghĩa vụ hợp đồng phải chịu trách nhiệm trước bên kia, theo tác giả Nông Quốc
Bình “các bên trong hợp đồng và không một chủ thể nào biết trước về SKBKK từ
khi giao kết hợp đồng, thì việc xác định có SKBKK mới chính xác, nếu có một chủ
thể nào biết về sự kiện này thì tòa án sẽ không chấp nhận đó là SKBKK và được
miễn trừ trách nhiệm” [18, tr. 11, 12]. Bên không thực hiện nghĩa vụ hợp đồng phải
có thông báo ngay về việc không phải chịu trách nhiệm do SKBKK cho bên kia,
việc thông báo phải được thực hiện bằng hình thức văn bản. Bên không phải chịu
trách nhiệm phải chứng minh hoặc đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền tại nơi
xảy ra SKBKK xác nhận về trường hợp này.
Giới hạn của việc áp dụng trường hợp không chịu trách nhiệm do SKBKK bên
không thực hiện hợp đồng do SKBKK được quyền chấm dứt việc thực hiện hợp
đồng và không phải chịu bất kỳ trách nhiệm nào từ hợp đồng. Hơn nữa, nếu không
muốn chấm dứt hợp đồng thì các bên thỏa thuận thời gian để tiếp tục thực hiện
nghĩa vụ với nhau. Điểm này cho thấy, ngay cả khi xảy ra SKBKK thì luật pháp vẫn
71
tôn trọng quyền tự do thỏa thuận giữa các bên, nếu các bên mong muốn việc thực
hiện hợp đồng, nhằm đạt được mục đích của mình. Tuy vậy, việc thỏa thuận để tiếp
tục thực hiện nghĩa vụ hợp đồng bị giới hạn trong một khoảng thời gian nhất định,
ví dụ thời gian nhất định có thể được tính bằng thời gian xảy ra SKBKK cộng với
khoảng thời gian hợp lý để khắc phục hậu quả nhưng không được kéo dài năm
tháng mà thời gian giao hàng, dịch vụ được thỏa thuận kéo dài không quá mười hai
tháng hoặc tám tháng mà thời hạn giao hàng, dịch vụ được thỏa thuận trên mười hai
tháng. Nếu kéo dài hơn thì các bên có quyền từ chối thực hiện hợp đồng. Đây là
trường hợp áp dụng cho hợp đồng không cố định về thời gian giao hàng hóa, dịch
vụ, không áp dụng đối với hợp đồng cố định thời gian giao hàng hóa, dịch vụ.
Khi một bên không thực hiện được nghĩa vụ hợp đồng do SKBKK thì quan hệ
quyền và nghĩa vụ giữa các bên chưa chấm dứt ngay, mà pháp luật cho các bên
được quyền thỏa thuận lại thời gian tiếp tục thực hiện hợp đồng đối với hợp đồng
không xác định thời gian giao hàng hóa, dịch vụ.
Một bên không chịu trách nhiệm do quyết định của cơ quan nhà nước có
thẩm quyền, căn cứ để xác định không phải chịu trách nhiệm phải được dựa trên
quyết định bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền; quyết định này được ban hành
ra sau thời điểm giao kết hợp đồng; không ai được biết trước, lường trước được
quyết định này, ngay cả những người, cơ quan ban hành ra quyết định đó, thì
trước đó ngay cả những cơ quan, chủ thể này cũng không biết được; bên không
chịu trách nhiệm phải thông báo cho bên kia về trường hợp không thực hiện
nghĩa vụ hợp đồng do thực hiện quyết định của cơ quan nhà nước; bên này phải
thu thập bằng chứng để chứng minh với bên kia trường hợp không chịu trách
nhiệm do thực thi quyết định của nhà nước.
Đối với việc không chịu trách nhiệm do thi hành quyết định của cơ quan nhà
nước thì các bên phải chấm dứt ngay hợp đồng mà không được có sự thỏa thuận lại
việc hợp đồng có được tiếp tục thực hiện ngay sau khi quyết định này đã được áp
dụng mặc dù là hợp đồng cố định thời gian hay không cố định thời gian. Đây là một
dạng của SKBKK nhưng số phận của hợp đồng, quyền và nghĩa vụ của các bên
được quyết định dứt khoát, các bên không có sự lựa chọn, sự thỏa thuận mà hợp
đồng bị chấm dứt ngay. Đây cũng chính là điểm khác nhau giữa trường hợp không
chịu trách nhiệm do quyết định của cơ quan nhà nước với SKBKK.
72
Một bên không chịu trách nhiệm hợp đồng do hành vi có lỗi của bên kia, căn
cứ để xác định không chịu trách nhiệm do hành vi cản trở (lỗi) của bên kia. Bên
không thực hiện được nghĩa vụ hợp đồng do hành vi của bên kia phải thông báo
bằng văn bản về việc sẽ không thực hiện hợp đồng và đồng thời sẽ không chịu trách
nhiệm hợp đồng; Bên này phải chứng minh việc không thực hiện hợp đồng là do
bên kia ngăn chặn, cản trở trong quá trình thực hiện hợp đồng. Hợp đồng cũng sẽ bị
chấm dứt ngay mà không có sự thỏa thuận lại của các bên. Ở đây, cho chúng ta thấy
lỗi không là yếu tố để xác định trách nhiệm do vi phạm hợp đồng, nhưng được đề
cập trong khi áp dụng các trường hợp không chịu trách nhiệm do không thực hiện
đúng nghĩa vụ hợp đồng, đây là điểm khá hợp lý. Tuy nhiên, PICC không xác định
rõ là yếu tố lỗi mà quy định là “sự cản trở của bên bị vi phạm”, tác giả đồng ý với
cách sử dụng thuật ngữ này của PICC. Hơn nữa, mức độ lỗi không được xác định để
áp dụng các biện pháp trách nhiệm, tuy nhiên theo quan điểm tác giả cần phải xác
định vào các hình thức lỗi để xem xét có sự chấm dứt hoàn toàn hợp đồng, hay là
các bên phải thỏa thuận lại nội dung hợp đồng tương tự việc ấn định lại thời gian để
các bên trong hợp đồng thỏa thuận lại các điều khoản trong hợp đồng, điều này là
hoàn toàn phù hợp với lý luận logic ứng với hành vi vi phạm mà mỗi bên phải gánh
chịu ngang bằng những hậu quả do hành vi đó gây ra.
Một bên không chịu trách nhiệm do bên thứ ba không thể thực hiện được
nghĩa vụ hợp đồng do bên thứ ba gặp phải SKBKK hoặc do quyết định của cơ quan
nhà nước có thẩm quyền. Trong trường hợp này, một bên trong hợp đồng không
phải chịu trách nhiệm trước bên kia và bên này cũng phải thông báo cho bên còn lại
trong hợp đồng biết về trường hợp không thể thực hiện được nghĩa vụ hợp đồng.
Bên này cũng phải thu thập chứng cứ để chứng minh việc không thực hiện được
hợp đồng, ngoài ra còn phải chứng minh việc không thực hiện được nghĩa vụ hợp
đồng do SKBKK, quyết định của cơ quan nhà nước của bên thứ ba có liên quan trực
tiếp đến việc không thực hiện nghĩa vụ hợp đồng của mình. Hơn nữa, còn phải
chứng minh bên này có mối quan hệ hợp đồng với bên thứ ba và chính hợp đồng
này tác động trực tiếp đến hành vi không thể thực hiện được hợp đồng của mình.
Không chịu trách nhiệm do thời hạn khiếu nại đã hết, một bên sẽ bị mất quyền
áp dụng các biện pháp trách nhiệm pháp lý khi đã hết thời hạn khiếu nại. Khiếu nại
là căn cứ xác định trách nhiệm, nhưng nếu một bên không thực hiện hành động
khiếu nại đối với bên kia trong thời hạn nhất định thì xem như bên vi phạm không
73
phải chịu các biện pháp trách nhiệm pháp lý. Bên không chịu trách nhiệm phải đưa
ra các điều kiện chứng tỏ rằng mình không phải chịu trách nhiệm do thời hạn khiếu
nại đã hết mà bên kia từ bỏ quyền khiếu nại về hành vi vi phạm. Ngoài ra, một bên
có quyền khởi kiện bên kia kể từ khi phát hiện có hành vi vi phạm cho đến hai năm,
nếu trong thời hạn này mà một bên không khởi kiện tại tòa án, trọng tài để áp dụng
các biện pháp trách nhiệm pháp lý, thì bên này mất quyền áp dụng các biện pháp
trách nhiệm pháp lý đối với bên kia, trong những trường hợp này bên không thực
hiện nghĩa vụ hợp đồng sẽ không phải chịu trách nhiệm pháp lý.
Căn cứ để áp dụng trường hợp không chịu trách nhiệm này là phải có sự thỏa
thuận giữa các bên về các trường hợp không phải chịu trách nhiệm; Việc cam kết
này phải được thể hiện cụ thể trong hợp đồng; Các nội dung mà các bên cam kết với
nhau phải được quy định khi giao kết hợp đồng hoặc trước khi có hành vi không
thực hiện hợp đồng; Một bên không phải chịu trách nhiệm khi nội dung này phải
được quy định trong hợp đồng và khi áp dụng thì không phải tự động được áp dụng
mà bên không chịu trách nhiệm phải thông báo cho bên kia biết; thông báo này phải
thực hiện bằng văn bản. Hợp đồng có thỏa thuận các trường hợp không chịu trách
nhiệm do có thỏa thuận sẽ được chấm dứt ngay mà không được quy định một
khoảng thời gian như trường hợp không chịu trách nhiệm do có SKBKK.
Pháp luật tôn trọng phạm vi thỏa thuận việc không chịu trách nhiệm giữa các
bên trong hợp đồng, tuy nhiên nếu các bên thỏa thuận rằng một bên không chịu
trách nhiệm toàn bộ hợp đồng thì có được hay không? Khi giao kết hợp đồng, các
bên xác định mục đích của hợp đồng, đó là các bên phải nghiêm túc tuân thủ để hợp
đồng được thực hiện đúng cam kết, nhưng nếu các bên thỏa thuận rằng một bên
không phải chịu bất kỳ biện pháp trách nhiệm nào, điều này đi ngược lại với mục
đích của hợp đồng. Thông thường các bên không được quyền thỏa thuận như vậy vì
theo quan điểm của một số tác giả, khi các bên không có vị thế ngang bằng, bên có
vị thế mạnh hơn bên còn lại trong hợp đồng sẽ đưa vào hợp đồng những điều khoản
đi ngược lại với mục đích hợp đồng thì sẽ bị xem là vô hiệu. Việc xác định giới hạn
phạm vi thỏa thuận không chịu trách nhiệm của các bên trong quy định pháp luật là
cần thiết nhưng tránh việc các bên trong quan hệ hợp đồng lạm dụng những quy
định này để làm sai lệch chức năng của hợp đồng. Theo quan điểm của tác giả, khi
các bên đã thỏa thuận các trường hợp không chịu trách nhiệm, thì đây không bị xem
là vi phạm hợp đồng. Vì vậy đây là trường hợp không chịu trách nhiệm do không
74
thực hiện nghĩa vụ hợp đồng vì các bên trong hợp đồng đã có sự thỏa thuận, đối với
những điều khoản hoặc nội dung đã được quy định trong hợp đồng thì không thể
xem là vi phạm vì vậy không thể gọi là miễn trừ trách nhiệm.
Ngoài ra, các trường hợp một bên không phải chịu trách nhiệm đó là bên này
gặp phải trở ngại khách quan hoặc hoàn cảnh khó khăn. Theo các học giả Việt Nam
khi gặp trở ngại khách quan thì một bên được quyền dừng lại việc thực hiện nghĩa
vụ hợp đồng, khi hết thời gian gặp trở ngại khách quan thì bên này tiếp tục phải
thực hiện nghĩa vụ hợp đồng. Và việc gặp trở ngại khách quan cũng sẽ áp dụng
trong những trường hợp không tính vào thời hiệu để khởi kiện tại tòa án. Bên cạnh
thuật ngữ về trở ngại khách quan thì theo quan điểm của một số tác giả của các quốc
gia trên thế giới nếu một bên trong hợp đồng gặp phải hoàn cảnh khó khăn thì các
bên phải thỏa thuận lại việc thực hiện nghĩa vụ hợp đồng. Vì vậy, hai trường hợp
này tương tự nhau, một bên không thực hiện được nghĩa vụ hợp đồng do trở ngại
khách quan hoặc hoàn cảnh khó khăn không phải hoàn toàn không chịu trách nhiệm
mà chỉ được kéo dài thời gian và nhằm thỏa thuận lại nghĩa vụ cũng như cách thức
thực hiện nghĩa vụ.
2.4.1. Trường hợp miễn, giảm trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng thương
mại
Trường hợp bên bị vi phạm miễn, giảm trách nhiệm cho bên vi phạm khi bên
vi phạm thực hiện hành vi vi phạm pháp luật. Các trường hợp này khác với việc các
bên thỏa thuận trong hợp đồng khi một bên không thực hiện nghĩa vụ hợp đồng thì
không phải chịu trách nhiệm cho những hành vi như vậy. Trường hợp miễn, giảm
trách nhiêm có những đặc điểm khác với thỏa thuận không chịu trách nhiệm như
sau (i) sau khi một bên thực hiện hành vi vi phạm hợp đồng; (ii) bên bị vi phạm là
chủ thể duy nhất được quyền miễn, giảm trách nhiệm cho bên vi phạm; (iii) các
hành vi vi phạm không được các bên thỏa thuận trước; (iv) có hai hình thức bên vi
phạm được bên bị vi phạm cho phép đó là miễn hoặc giảm trách nhiệm.
Thứ nhất, bên bị vi phạm miễn trách nhiệm cho bên vi phạm khi bên vi phạm
có hành vi vi phạm nghiêm trọng hợp đồng, tức là vi phạm toàn bộ hợp đồng.
Nhưng bên bị vi phạm không áp dụng bất kỳ các biện pháp trách nhiệm pháp lý nào
cho bên vi phạm. Luật pháp không cho phép bên bị vi phạm áp dụng loại trách
nhiệm tăng nặng cho bên vi phạm nhưng không nghiêm cấm trường hợp bên bị vi
phạm miễn hoàn toàn trách nhiệm cho bên vi phạm. Việc miễn hoàn toàn trách
75
nhiệm có thể được bên bị vi phạm xem xét từ khi có hành vi vi phạm, cho đến khi
hành vi vi phạm được giải quyết bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền (xét xử tại
Tòa án, Trọng tài), sau khi bản án có hiệu lực áp dụng cho đến trước khi cơ quan
cưỡng chế thi hành. Trong bất kỳ thời điểm nào trong quá trình trên bên bị vi phạm
có thể miễn trách nhiệm cho bên vi phạm. Ví dụ, bên A không giao hàng cho B,
nhưng B không áp dụng bất kỳ trách nhiệm pháp lý nào như buộc thực hiện hợp
đồng, BTTH… Ngay cả khi đang tiến hành phiên tòa xét xử thì bên bị vi phạm cũng
sẽ áp dụng hình thức miễn trách nhiệm cho bên vi phạm, thẩm phán sẽ ghi nhận
việc miễn trách nhiệm tại phiên tòa, công nhận việc miễn trách nhiệm này là hợp
pháp, đây là điểm khác biệt giữa trường hợp miễn trách nhiệm trong quan hệ hợp
đồng với quan hệ pháp luật khác như luật hình sự, mặc dù bên bị hại miễn trách
nhiệm cho bên vi phạm nhưng luật pháp mà đại diện là tòa án vẫn áp dụng đúng
khung hình phạt theo tội danh mà người vi phạm đã thực hiện hành vi vi phạm pháp
luật hình sự.
Thứ hai, bên bị vi phạm sẽ giảm trách nhiệm cho bên bị vi phạm theo nhiều
hình thức khác nhau, ví dụ bên A phải thanh toán cho bên B là 1 tỷ đồng nhưng bên
B chỉ yêu cầu thanh toán 500 triệu đồng giảm trách nhiệm 500 triệu đồng. Hoặc ví
dụ, bên A phải BTTH cho bên B là năm trăm triệu đồng nhưng bên B chỉ yêu cầu
bên B bồi thường 300 triệu đồng và giảm cho bên A 200 triệu. Trong các trường
hợp khi có hành vi vi phạm nghiêm trọng hợp đồng, tương xứng với hành vi vi
phạm này là áp dụng biện pháp trách nhiệm hủy hợp đồng và BTTH tương ứng với
thiệt hại xảy ra, nhưng bên bị vi phạm chỉ yêu cầu thực hiện nghĩa vụ hợp đồng mà
không yêu cầu BTTH. Trong hợp đồng có thỏa thuận phạt vi phạm, mức phạt vi
phạm nhưng khi có hành vi vi phạm của bên vi phạm thì bên bị vi phạm không yêu
cầu phạt vi phạm hợp đồng. Khi bên vi phạm có hành vi vi phạm nhưng bên bị vi
phạm áp dụng biện pháp trách nhiệm pháp lý nhẹ hơn so với hành vi vi phạm mà
bên vi phạm thực hiện thì tất cả các trường hợp như vậy là những trường hợp giảm
trách nhiệm do vi phạm hợp đồng.
Ngay cả trong trường hợp pháp luật quy định bên bị vi phạm gia hạn thời hạn
thực hiện nghĩa vụ hợp đồng cho bên vi phạm đây là trường hợp pháp luật quy định
bên bị vi phạm phải giảm trách nhiệm cho bên vi phạm hợp đồng, thay vì nếu thực
hiện đúng là phải thực hiện theo đúng thỏa thuận trong hợp đồng mà bên bị vi phạm
không phải gia hạn cho bên vi phạm.
76
Rất nhiều hình thức giảm trách nhiệm mà bên bị vi phạm áp dụng cho bên vi
phạm như không tính lãi suất quá hạn dù đã quá thời hạn thanh toán hoặc lãi suất nợ
quá hạn là 12%/năm nhưng bên bị vi phạm chỉ yêu cầu bên vi phạm trả 8%/năm. Đa
dạng các hình thức giảm trách nhiệm mà bên bị vi phạm dành cho bên vi phạm khi
bên này thực hiện hành vi vi phạm hợp đồng. Luật pháp thương mại không giới hạn
việc bên bị vi phạm giảm trách nhiệm cho bên vi phạm.
Như vậy, miễn trách nhiệm là cụm thuật ngữ luôn đi kèm với việc một bên
trong hợp đồng đã thực hiện hành vi vi phạm hợp đồng, nhưng bên bị vi phạm
không áp dụng trách nhiệm tương ứng gọi là miễn trừ trách nhiệm; Hoặc bên bị vi
phạm áp dụng biện pháp trách nhiệm nhẹ hơn so với hành vi vi phạm của bên vi
phạm gây đó gọi là giảm trách nhiệm cho bên vi phạm. Hơn nữa, chỉ có chủ thể bị
vi phạm là bên duy nhất trong hợp đồng được quyền quyết định việc miễn hoặc
giảm trách nhiệm cho bên vi phạm, cách hiểu này xuất phát từ phương pháp điều
chỉnh trong quan hệ hợp đồng, chế tài áp dụng trong quan hệ hợp đồng khác với chế
tài trong pháp luật hình sự, đó là bên bị hại không được quyền quyết định về việc
truy cứu trách nhiệm của bên phạm tội, mà luật pháp cụ thể là tòa án là cơ quan duy
nhất có quyền áp dụng trách nhiệm hình sự cho bên phạm tội. Nhưng trong quan hệ
hợp đồng, một bên được quyền định đoạt về việc áp dụng hay không áp dụng trách
nhiệm cho bên kia, khi bên này vi phạm hợp đồng với mình. Nói như vậy, không có
nghĩa là pháp luật không chi phối mối quan hệ này. Pháp luật có thể quy định những
trường hợp nhất định, những trường hợp không phải chịu trách nhiệm do không có
hành vi vi phạm này được luật pháp ấn định cho các bên trong quan hệ hợp đồng để
tạo sự công bằng trong quan hệ hợp đồng, đó là những trường hợp khi có một sự
kiện xảy ra con người (cụ thể là các bên trong hợp đồng) không thể nào hành xử
khác được, đó là phải rơi vào trường hợp không thể thực hiện được nghĩa vụ hợp
đồng. Vì vậy, việc xem xét cho bên vi phạm có được miễn hoặc giảm trách nhiệm
do hành vi vi phạm, chỉ được áp dụng sau khi có sự vi phạm hợp đồng và do bên bị
vi phạm quyết định. Còn không chịu trách nhiệm do không thực hiện được nghĩa vụ
hợp đồng là không có hành vi vi phạm, do pháp luật ấn định, chủ thể quyết định là
pháp luật mà cụ thể là cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định áp dụng, trong
những trường hợp không chịu trách nhiệm khi không thực hiện được hợp đồng do
những trường hợp cụ thể, thì bên bị vi phạm có muốn áp dụng trách nhiệm cho bên
77
vi phạm cũng sẽ không được cho phép, pháp luật buộc bên bị vi phạm từ bỏ quyền
áp dụng các biện pháp trách nhiệm của mình cho bên kia.
Kết luận chƣơng 2
Trong chương này, tác giả không phân tích sâu vào những lý luận liên quan
đến trách nhiệm pháp lý do vi phạm HĐTM mà đã được các tác giả thống nhất quan
điểm, mà chỉ phân tích những khía cạnh lý luận mà các công trình nghiên cứu của
các tác giả trước đây còn có nhiều quan điểm khác nhau, ngoài ra phát hiện và phân
tích một số lý luận theo cách tiếp cận mới như sau:
1. Đề xuất cách tiếp cận khác về khái niệm vi phạm hợp đồng dựa trên khái niệm vi
phạm hợp đồng. Bổ sung thêm một số dấu hiệu để cho thấy sự khác biệt giữa vi phạm
HĐTM với các vi phạm hợp đồng nói chung. Góp phần làm phong phú thêm về lý luận
đối với các hành vi vi phạm hợp đồng như vi phạm do các bên trong hợp đồng đều vi
phạm, vi phạm hợp đồng do hành vi vi phạm của bên thứ ba, vi phạm hợp đồng trước
thời hạn thực hiện hợp đồng dựa trên cơ sở lý luận của một số học giả nước ngoài.
2. Dựa trên các căn cứ xác định trách nhiệm pháp lý do vi phạm HĐTM, tác giả
phân tích thêm một số lý luận về căn cứ xác định trách nhiệm như căn cứ thông báo,
căn cứ khiếu nại. Bên cạnh đó, căn cứ để xác định có hành vi vi phạm nghiêm trọng
hợp đồng để áp dụng biện pháp trách nhiệm tương xứng thì phải xem xét lỗi cố ý
soi vào nguyên tắc thiện chí trung thực của bên vi phạm.
3. Tác giả phân tích các biện pháp trách nhiệm theo các nhóm trách nhiệm mà
không phân tích theo từng biện pháp trách nhiệm riêng biệt đó là nhóm biện pháp
trách nhiệm duy trì hợp đồng, nhóm biện pháp trách nhiệm không duy trì hợp đồng,
nhóm trách nhiệm BTTH. Và phân tích lý luận về áp dụng trách nhiệm vì vi phạm
hợp đồng do bên thứ ba vi phạm hợp đồng
4. Phân tích để có cách phân biệt trong lý luận giữa các trường hợp không chịu
trách nhiệm do không thực hiện hợp đồng do pháp luật ấn định và các trường hợp
miễn, giảm trách nhiệm do vi phạm hợp đồng. Trong các trường hợp không chịu
trách nhiệm do không thực hiện hợp đồng bổ sung vào nhóm này các trường hợp
như do bên thứ ba không thực hiện được hợp đồng, do hết thời hạn khiếu nại, do hết
thời hạn khởi kiện. Lý luận theo cách tiếp cận khác về miễn, giảm trách nhiệm chỉ
do bên bị vi phạm là chủ thể duy nhất được áp dụng mà luật pháp cũng không điều
chỉnh trong các trường hợp này.
78
Chƣơng 3
THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ DO VI
PHẠM HỢP ĐỒNG THƢƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM
3.1. Thực trạng pháp luật về trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng thương
mại
3.1.1. Quy định pháp luật về vi phạm hợp đồng thƣơng mại
Luật Thương mại 2005 quy định “Vi phạm hợp đồng là việc một bên không
thực hiện, thực hiện không đầy đủ hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ theo thoả
thuận giữa các bên hoặc theo quy định của Luật này” [118,Điều 3]. BLDS 2005
không nêu khái niệm vi phạm hợp đồng, BLDS 2015 nêu khái niệm “Vi phạm nghĩa
vụ là việc bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ đúng thời hạn, thực hiện không
đầy đủ nghĩa vụ hoặc thực hiện không đúng nội dung của nghĩa vụ” [28, Điều 351].
Các văn bản luật pháp quốc tế quy định “Người bán vi phạm hợp đồng nếu người
bán không thực hiện một nghĩa vụ nào đó phát sinh từ hợp đồng mua bán hay Công
ước này…” [40,Điều 45] ,theo đó bên nào không thực hiện nghĩa vụ hợp đồng hoặc
quy định của công ước thì bị xem là vi phạm hợp đồng. Bộ luật Thương mại thống
nhất của Hoa kỳ quy định “Người bán vi phạm hợp đồng khi người bán không giao
hàng như đã cam kết và người mua không trả tiền đầy đủ cho việc giao hàng của
người bán…” không thực hiện hợp đồng, trì hoãn việc giao hàng, không thanh toán
tiền, vi phạm điều kiện bảo hành, không đúng chất lượng, số lượng…[18, Điều 2-
702]. “Việc bên nào không thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng thì phải chịu trách
nhiệm do vi phạm hợp đồng…” [107, Điều 107].
So sánh quy định vi phạm hợp đồng tại các văn bản pháp luật cho thấy, LTM
2005 quy định khá phù hợp so với luật pháp quốc tế. Việc quy định khái niệm này
theo phương pháp liệt kê thành hai hình thức vi phạm thì chưa hợp lý, vì để xác
định vi phạm hợp đồng phải còn căn cứ vào nhiều yếu tố khác nữa như năng lực của
chủ thể vi phạm, những trường hợp chính đáng, vì việc không thực hiện hợp đồng
khi rơi vào một số trường hợp cụ thể sẽ không bị xem là vi phạm hợp đồng. Vì vậy
khi sử dụng thuật ngữ không thực hiện hợp đồng không có loại trừ là quá rộng để
diễn đạt riêng cho vi phạm hợp đồng, vì chúng bao gồm những trường hợp không
thực hiện được nghĩa vụ hợp đồng khi không vi phạm hợp đồng.
LTM 2005 phân biệt hai loại vi phạm đó là vi phạm cơ bản, vi phạm không cơ
bản. Theo đó, nếu vi phạm bị xem là vi phạm cơ bản, thì sẽ áp dụng loại trách
79
nhiệm tạm ngừng, đình chỉ hoặc hủy bỏ hợp đồng và nếu đã áp dụng các biện pháp
này thì không được áp dụng biện pháp buộc thực hiện đúng hợp đồng. Đồng thời,
áp dụng trách nhiệm BTTH nếu có thiệt hại xảy ra hoặc phạt vi phạm nếu có thỏa
thuận trong hợp đồng. Đối với vi phạm không cơ bản, LTM không giải thích, tuy
nhiên nếu là vi phạm này thì không được áp dụng trách nhiệm tạm ngừng, đình chỉ,
hủy bỏ thực hiện hợp đồng và LTM 2005 không minh thị rõ loại trách nhiệm được
áp dụng cho vi phạm này nhưng trách nhiệm buộc thực hiện đúng hợp đồng, phạt vi
phạm và BTTH sẽ được áp dụng. LTM không quy định vi phạm trước thời hạn.
BLDS 2005, BLDS 2015 không quy định vi phạm cơ bản, vi phạm không cơ bản, vi
phạm trước thời hạn, riêng BLDS 2015 đưa ra khái niệm “Vi phạm nghiêm trọng là
việc không thực hiện đúng nghĩa vụ của một bên đến mức làm cho bên kia không
đạt được mục đích của việc giao kết hợp đồng” [28, Điều 423]. Quy định này kế
thừa nội dung của khái niệm vi phạm cơ bản trong LTM 2005. BLDS 2005, BLDS
2015 đều manh nha quy định về vi phạm trước thời hạn, “Bên thực hiện nghĩa vụ
trước có quyền hoãn thực hiện nghĩa vụ, nếu tài sản của bên kia đã bị giảm sút
nghiêm trọng..”[27, Điều 415].
Theo CƯV khái niệm vi phạm cơ bản “một sự vi phạm hợp đồng do một bên
gây… trong một chừng mực đáng kể bị mất cái mà họ có quyền chờ đợi trên cơ sở
hợp đồng, trừ phi bên vi phạm không tiên liệu được hậu quả đó…” [40, Điều 25].
Kế thừa quy định này LTM 2005 nêu ra khái niệm vi phạm cơ bản là “sự vi phạm
hợp đồng của một bên gây thiệt hại cho bên kia đến mức làm cho bên kia không đạt
được mục đích của việc giao kết hợp đồng” [118, Điều 3].Căn cứ vào mức độ thiệt
hại để xác định vi phạm cơ bản là hoàn toàn phù hợp nhưng xác định việc không đạt
được mục đích của bên bị vi phạm để xem xét có vi phạm cơ bản là chưa hợp lý vì
mục đích này được ai xác định, xác định vào thời điểm nào thì chưa được quy định
rõ và việc này được giao cho thẩm phán tự quyết định. BLDS 2015 không đưa ra
thuật ngữ vi phạm cơ bản mà quy định khái niệm vi phạm nghiêm trọng dựa trên
khái niệm vi phạm cơ bản của CƯV và LTM 2005 để điều chỉnh loại vi phạm này.
LTM 2005 quy định không được áp dụng trách nhiệm tạm ngừng hợp đồng
đối với vi phạm không cơ bản [118, Điều 293], quy định ngừng thanh toán tiền
hàng trong trường hợp đã giao hàng không phù hợp [118, Điều 51] lại quy định
ngược lại. Dựa trên quy định của luật hợp đồng ở mỗi quốc gia khác nhau mà các
học giả phân ra nhiều loại vi phạm khác nhau, nhưng nhìn chung luật của các quốc
80
gia theo hệ thống common law thì chia ra thành các loại vi phạm thực tế hợp đồng
và vi phạm trước thời hạn thực hiện hợp đồng. Còn các quốc gia có hệ thống luật
Civil law như Pháp, Nhật Bản, BLDS Việt Nam thì không chia khái quát thành các
loại vi phạm mà quy định các hành vi vi phạm rải rác theo từng nghĩa vụ của từng
loại hợp đồng và nếu không thực hiện đúng nghĩa vụ hợp đồng theo quy định trong
luật, theo thỏa thuận thì bị xem là vi phạm nghĩa vụ hợp đồng. Từ đó, trong mỗi vụ
vi phạm hợp đồng sẽ được Tòa án kết luận là vi phạm gì.
Tóm lại, về vi phạm hợp đồng và các loại vi phạm theo LTM hiện hành vẫn
chưa hoàn toàn phù hợp. Trong đó, BLDS 2015 đã đưa ra được khái niệm vi
phạm nghĩa vụ, vi phạm nghiêm trọng phù hợp hơn với thực tiễn, nhưng chưa
nêu được các hành vi vi phạm còn lại so với thế giới. Bên cạnh đó, LTM có phân
định hai loại nhưng về nội dung của từng loại chưa được hợp lý, rất khó để áp
dụng vào thực tiễn và hơn nữa Việt Nam vẫn chưa áp dụng việc giải quyết theo
án lệ. Ngoài ra, LTM 2005 vẫn chưa quy định các bên trong hợp đồng đều vi
phạm, vi phạm trước thời hạn.
3.1.2. Quy định pháp luật về trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng thương
mại
- Căn cứ xác định trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng thương mại: LTM
2005 quy định căn cứ phát sinh đối với trách nhiệm BTTH, những biện pháp trách
nhiệm còn lại không được quy định chung trong một điều luật mà mỗi biện pháp
được quy định trong mỗi điều luật khác nhau. Căn cứ để áp dụng BTTH là có hành
vi vi phạm, thiệt hại, có mối quan hệ giữa vi phạm và thiệt hại xảy ra và lỗi không
là yếu tố bắt buộc để xác định trách nhiệm BTTH. BLDS 2015 không quy định cụ
thể trong một điều luật mà quy định rải rác các căn cứ như quy định trong LTM
nhưng căn cứ lỗi vẫn được xem là căn cứ bắt buộc khi áp dụng trách nhiệm khi vi
phạm hợp đồng dân sự. So sánh quy định về căn cứ xác định trách nhiệm pháp lý do
vi phạm HĐTM trong CƯV, PICC thì hầu như không quy định rõ thành một điều
luật riêng, nhưng thông qua những quy định căn cứ riêng lẻ trong từng biện pháp
trách nhiệm thì những căn cứ trong LTM hiện hành có tính tương đồng và lỗi không
được xem là căn cứ bắt buộc khi áp dụng trách nhiệm BTTH. LTM 2005 không quy
định rõ nhưng căn cứ thông báo, khiếu nại là căn cứ bắt buộc khi áp dụng trách
nhiệm đình chỉ, hủy hợp đồng thương mại. Ngoài ra, CƯV, PICC hoặc Hamburg
81
đều quy định căn cứ thông báo, khiếu nại là căn cứ bắt buộc khi áp dụng trách
nhiệm do vi phạm hợp đồng.
Tóm lại, LTM 2005 chưa quy định đầy đủ, rõ ràng về căn cứ xác định trách
nhiệm do vi phạm hợp đồng như căn cứ thông báo, khiếu nại. Ngoài ra, thời hiệu
khởi kiện là căn cứ để xác định trách nhiệm mà hết thời hạn này một bên không bị
áp dụng trách nhiệm pháp lý do vi phạm HĐTM.
- Các biện pháp trách nhiệm do vi phạm hợp đồng thương mại :bao gồm biện
pháp buộc thực hiện đúng hợp đồng, phạt vi phạm, BTTH, tạm ngừng thực hiện hợp
đồng, đình chỉ thực hiện hợp đồng, hủy hợp đồng và các biện pháp khác mà các bên
thỏa thuận nhưng không bị pháp luật cấm. Ngoài ra các biện pháp phạt lãi quá hạn
[118,Đ 306], cầm giữ và định đoạt hàng hóa [118,Đ239], giảm giá đối với hợp đồng
cho thuê hàng hóa [118, Điều 270] và khi bên vi phạm buộc thực hiện đúng nghĩa
vụ nhưng không thực hiện thì bên bị vi phạm có quyền áp dụng cho bên này hình
thức thay thế cho bên vi phạm thực hiện việc mua hàng, dịch vụ từ bên khác, mọi
khoản tiền chênh lệch, chi phí phát sinh đều do bên vi phạm chịu [118, Đ 297], biện
pháp này tương tự việc chuyển biện pháp trách nhiệm nếu bên vi phạm không thực
hiện biện pháp trách nhiệm mà bên bị vi phạm yêu cầu như nếu bên vi phạm không
thực hiện chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng trong thời hạn mà bên bị vi phạm
ấn định, bên bị vi phạm được áp dụng các chế tài khác để bảo vệ quyền lợi của
mình [118, Đ299]. Hơn nữa, các biện pháp nhằm hạn chế quyền của bên vi phạm
như lệnh cấm thực hiện hoặc bắt buộc phải thực hiện như áp dụng biện pháp khẩn
cấp tạm thời hoặc ngay những biện pháp cưỡng chế khác giải quyết dứt điểm vi
phạm của bên vi phạm mang lại kết quả cho bên bị vi phạm, trong thực tế, bên bị vi
phạm nhận lại những tài sản bị mất do vi phạm gây ra.
- Biện pháp buộc thực hiện đúng hợp đồng: Biện pháp buộc thực hiện hợp đồng là
việc bên bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm thực hiện đúng hợp đồng hoặc dùng các
biện pháp khác để hợp đồng được thực hiện và bên vi phạm chịu chi phí phát sinh.
Theo đó, bên bị vi phạm buộc bên vi phạm thực hiện như theo thỏa thuận trong hợp
đồng khi bên này giao thiếu hàng, cung ứng dịch vụ không đúng, giao hàng, cung
ứng dịch vụ kém chất lượng. Bên vi phạm không được dùng tiền hoặc hàng hóa
khác chủng loại để thay thế nếu không được bên bị vi phạm đồng ý. Bên bị vi phạm
có thể chọn hai cách thức để áp dụng biện pháp này (i) buộc bên vi phạm thực hiện
đúng nghĩa vụ hợp đồng (ii) dùng biện pháp khác để hợp đồng được thực hiện. Bên
82
vi phạm không thực hiện thì bên bị vi phạm sẽ yêu cầu bên khác bán hàng, cung cấp
dịch vụ cho mình thay cho bên vi phạm và bên này phải bù khoản chi phí chênh
lệch [118, Điều 297]. So sánh với quy định CƯV hoặc PICC, các văn bản này đều
có quy định về biện pháp buộc thực hiện hợp đồng, theo đó quy định về căn cứ áp
dụng, cách thức chuyển sang biện pháp chế tài khác khi bên vi phạm không thực
hiện theo yêu cầu của bên vi phạm.
- Tạm ngừng thực hiện hợp đồng: LTM 2005 quy định bên bị vi phạm có quyền
tạm ngừng thực hiện nghĩa vụ với bên vi phạm khi hai bên có thỏa thuận về vi phạm
bị áp dụng biện pháp tạm ngừng thực hiện hợp đồng hoặc một bên có hành vi vi
phạm cơ bản hợp đồng. Khi áp dụng tạm ngừng thực hiện hợp đồng đối với bên vi
phạm thì bên này phải thông báo ngay cho bên vi phạm biết về việc áp dụng biện
pháp tạm ngừng nhưng không quy định thông báo này phải được thực hiện bằng
hình thức gì. Nếu tạm ngừng mà không thông báo mà gây ra thiệt hại sẽ phải chịu
trách nhiệm về thiệt hại đó và khi áp dụng tạm ngừng thực hiện hợp đồng thì hợp
đồng vẫn chưa chấm dứt. BLDS 2015 quy định tương tự biện pháp này là biện pháp
hoãn thực hiện nghĩa vụ hợp đồng.
- Đình chỉ thực hiện hợp đồng thương mại: LTM 2005 quy định một bên được
quyền chấm dứt việc thực hiện nghĩa vụ hợp đồng khi có sự thỏa thuận hành vi vi
phạm về đình chỉ và vi phạm cơ bản hợp đồng, việc chấm dứt hợp đồng do miễn
trách nhiệm không thuộc trường hợp chấm dứt này vì đó là chấm dứt hợp đồng
nhưng không vi phạm. Khi áp dụng biện pháp đình chỉ thực hiện hợp đồng, bên bị
vi phạm phải thông báo cho bên vi phạm về việc áp dụng này, nếu không thông báo
thì xem như hiệu lực hợp đồng vẫn không bị chấm dứt, đồng thời việc không thông
báo này của bên bị vi phạm gây ra thiệt hại cho chính họ hoặc cho bên vi phạm thì
bên bị vi phạm phải chịu trách nhiệm. Với quy định này cho thấy, căn cứ thông báo
là căn cứ bắt buộc để xác định trách nhiệm cho bên bị vi phạm và khẳng định hợp
đồng bị chấm dứt do vi phạm hợp đồng. BLDS 2015 quy định một biện pháp tương
tự là đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng dân sự Trong khi đó, CƯV, PICC
hoặc các văn bản pháp luật về hợp đồng của một số quốc gia khác chỉ quy định về
hủy hợp đồng hoặc chấm dứt thực hiện hợp đồng khi không có vi phạm hợp đồng,
không quy định đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng hoặc đình chỉ thực hiện
hợp đồng như trong BLDS 2015 hoặc LTM 2005. Tuy nhiên, UCC quy định hủy
hợp đồng được quy ra thành hai trường hợp là hủy hợp đồng có hồi tố và hủy hợp
83
đồng không hồi tố, trường hợp hủy hợp đồng có hồi tố sẽ tương tự biện pháp trách
nhiệm đình chỉ thực hiện hợp đồng.
- Hủy hợp đồng do vi phạm hợp đồng thương mại: LTM 2005 xem là biện pháp
mà bên bị vi phạm sử dụng để chấm dứt về quyền và nghĩa vụ với bên vi phạm, căn
cứ để áp dụng trách nhiệm hủy hợp đồng là sự thỏa thuận về hành vi vi phạm và
điều kiện để hủy bỏ hợp đồng hoặc khi có vi phạm cơ bản hợp đồng. Nhưng khi áp
dụng biện pháp hủy hợp đồng bên bị vi phạm phải thông báo ngay cho bên vi phạm
về việc hủy hợp đồng và nếu không thông báo thì hợp đồng vẫn còn hiệu lực, đồng
thời nếu có thiệt hại thì bên bị vi phạm không thực hiện việc thông báo còn phải
chịu trách nhiệm về thiệt hại đó. Trong khi áp dụng biện pháp hủy hợp đồng thì bên
bị vi phạm vẫn được quyền áp dụng biện pháp BTTH, phạt vi phạm, phạt lãi, nhưng
không được áp dụng biện pháp tạm ngừng thực hiện hợp đồng, đình chỉ thực hiện
hợp đồng hoặc buộc thực hiện đúng hợp đồng. Hiệu lực hợp đồng sẽ bị chấm dứt kể
từ thời điểm giao kết hợp đồng, các bên trả lại những gì đã nhận, nếu bên nào không
trả lại được bằng chính lợi ích đã nhận thì sẽ phải trả bằng tiền. LTM 2005 quy định
bao gồm hai hình thức hủy hợp đồng là hủy toàn bộ hợp đồng và hủy một phần hợp
đồng, theo đó hủy toàn bộ hợp đồng làm cho hợp đồng không còn hiệu lực kể từ
thời điểm giao kết hợp đồng và hủy một phần hợp đồng thì phần bị hủy không còn
hiệu lực, riêng phần không bị hủy vẫn còn hiệu lực và không bị ảnh hưởng bởi phần
hợp đồng bị hủy.
Hủy hợp đồng theo BLDS 2015, quy định tương tự LTM 2005, tuy nhiên khi
một bên có hành vi vi phạm nghiêm trọng thì bên bị vi phạm sẽ áp dụng hủy hợp
đồng, cho thấy căn cứ vi phạm hợp đồng trong BLDS 2015 là vi phạm nghiêm
trọng, còn LTM quy định là vi phạm cơ bản, hơn nữa BLDS 2015 không đề cập đến
hành vi vi phạm trước thời hạn có được áp dụng biện pháp hủy hợp đồng. Hơn nữa,
BLDS 2015 cũng không quy định mối quan hệ khi áp dụng hủy hợp đồng với các
biện pháp khác, chỉ quy định bên bị vi phạm được quyền hủy hợp đồng và yêu cầu
BTTH [28, Điều 425].
So sánh với quy định của PICC, ngoài những quy định tương tự LTM 2005,
khi xác định trách nhiệm hủy hợp đồng, cần căn cứ vào lỗi cố ý, có chủ đích vi
phạm của bên vi phạm, trái với nguyên tắc thiện chí trung thực. Và căn cứ vi phạm
hợp đồng trước thời hạn, nếu một bên có chứng cứ rõ ràng sẽ có việc vi phạm nghĩa
vụ thực hiện của phía bên kia thì được quyền áp dụng biện pháp hủy hợp đồng trước
84
thời hạn thực hiện hợp đồng. PICC còn khẳng định khi hủy hợp đồng thì sẽ không
bị ảnh hưởng đến hiệu lực của các điều khoản về giải quyết tranh chấp. Và việc
hoàn trả lại cho nhau những gì đã nhận, nếu không hoàn trả được hiện vật, vì không
thể hoàn trả hoặc hoàn trả không thích đáng thì phải hoàn trả bằng giá trị tương
đương. Đây là những quy định phù hợp hơn so với LTM 2005 khi áp dụng biện
pháp hủy hợp đồng vào thực tiễn. Ngoài những quy định về căn cứ, mối quan hệ,
hậu quả pháp lý được quy định trong LTM 2005 như hiện nay, cần phải bổ sung
những nội dung nhằm phù hợp hơn so với quy định theo xu hướng thế giới.
Ngoài những biện pháp trách nhiệm LTM 2005 quy định cho bên bị vi phạm
có quyền không thực hiện nghĩa vụ của mình theo hợp đồng khi bên vi phạm có
hành vi vi phạm hợp đồng mà tác giả vừa phân tích. Bên cạnh đó, còn có những
biện pháp trách nhiệm mà bên bị vi phạm thực hiện như giảm giá, cầm giữ và định
đoạt tài sản, mặc dù LTM 2005 không liệt kê, nhưng các biện pháp này được quy
định rải rác trong các loại hợp đồng khác nhau. Bên cạnh đó, còn có những biện
pháp trách nhiệm mà bên vi phạm phải thực hiện cho bên bị vi phạm như BTTH,
phạt vi phạm. Quy định rải rác trong các loại hợp đồng khác nhau, bên bị vi phạm
được LTM 2005 cho phép giảm giá đối với hàng hóa, dịch vụ không phù hợp với
thỏa thuận và bên vi phạm phải có trách nhiệm giảm giá đối với hành vi vi phạm đó
[118, Điều 270]. Mặc dù việc cầm giữ tài sản đối với hợp đồng dịch vụ logistics,
theo đó một bên có thể cầm giữ tài sản của bên còn lại nếu bên này không trả tiền
nợ đến hạn. Sau bốn mươi lăm ngày kể từ ngày thông báo cầm giữ nếu bên bị cầm
giữ không trả tiền hoặc hàng hóa có dấu hiệu hư hỏng thì bên cầm giữ được quyền
định đoạt tài sản đó. Bên cầm giữ phải thông báo cho bên bị cầm giữ về việc cầm
giữ, định đoạt tài sản [118, Điều 239]. Tiếp theo, bên cầm giữ được sử dụng số tiền
từ việc định đoạt tài sản cầm giữ tương ứng với giá trị mà bên kia nợ cộn với các
khoản chi phí từ việc cầm giữ tài sản, còn phần vượt quá sẽ trả lại cho bên bị cầm
giữ. Điểm 2 Điều 240 quy định bên cầm giữ không được định đoạt tài sản nếu
không được bên kia đồng ý, với quy định này không phù hợp với khoản 2 Điều 239,
điểm 2 phải quy định loại trừ khoản 2 Điều 239 thì mới hợp lý. Hơn nữa, không nên
dùng thuật ngữ số tiền trong khoản 5 Điều 239 mà quy định bên cầm giữ được sử
dụng phần giá trị tài sản cầm giữ tương ứng với phần nghĩa vụ mà bên kia vi phạm
với bên cầm giữ tài sản.
85
- Trách nhiệm phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại, phạt lãi: LTM 2005 quy định
phạt vi phạm là biện pháp trách nhiệm mà bên vi phạm phải chịu khi có căn cứ
phải có sự thỏa thuận của các bên trong hợp đồng về biện pháp phạt vi phạm và
phải có hành vi vi phạm của một bên. Mức phạt vi phạm sẽ không là căn cứ bắt
buộc vì nếu các bên không có thỏa thuận mức phạt thì sẽ áp dụng không quá 8%
giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm, trừ những mức phạt được quy định cụ
thể trong các văn bản pháp luật chuyên ngành khác, hoặc quy định trong từng
loại hợp đồng cụ thể.
Khi có đầy đủ những căn cứ như có hành vi vi phạm, có thiệt hại thực tế xảy
ra và có mối quan hệ giữa hành vi vi phạm với thiệt hại đó thì bên bị vi phạm có
quyền yêu cầu bên vi phạm BTTH. BTTH là những tổn thất do hành vi vi phạm gây
ra, những tổn thất đó bao gồm giá trị tổn thất thực tế, khoản lợi trực tiếp mà đáng lẽ
bên bị vi phạm sẽ được hưởng nếu không có hành vi vi phạm. LTM 2005 quy định
bên yêu cầu BTTH phải chứng minh tổn thất và phải áp dụng các biện pháp hợp lý
để hạn chế những tổn thất từ tổn thất thực tế và khoản lợi trực tiếp, nếu không sẽ bị
bên vi phạm giảm giá trị bồi thường. BTTH sẽ được áp dụng đồng thời với các biện
pháp chế tài khác. BLDS 2005 có quy định tương tự LTM 2005 , tuy nhiên về căn
cứ áp dụng trách nhiệm BTTH phải có yếu tố lỗi, có quy định những thiệt hại bao
gồm cả những thiệt hại về tinh thần. PICC quy định về BTTH có những khác biệt so
với LTM 2005, đó là vi phạm chịu trách nhiệm đối với những thiệt hại đã có dự
đoán trước một cách hợp lý kể từ khi giao kết hợp đồng, xác định thiệt hại khi bên
bị vi phạm ký kết một hợp đồng khác thay thế về chênh lệch giá và những thiệt hại
bổ sung được quy định trong biện pháp trách nhiệm BTTH, tiếp theo, quy định việc
BTTH theo giá thị trường là giá nói chung được trả cho hàng hóa, dịch vụ so sánh
với hàng hóa, dịch vụ tại nơi đáng lẽ ra hợp đồng được thực hiện hoặc căn cứ theo
giá thị trường tại một nơi khác nếu xét thấy là hợp lý, quy định về lãi suất nếu
không thanh toán tiền BTTH theo đúng hạn, quy định về đồng tiền bồi thường theo
điều khoản thỏa thuận trong hợp đồng hoặc đồng tiền nơi thiệt hại phát sinh. Bên
cạnh đó, PICC còn quy định hình thức bồi thường ấn định, là khoản tiền bồi thường
hoàn toàn độc lập so với thiệt hại thực tế, tuy nhiên nếu các bên thỏa thuận khoản
tiền này không hợp lý sẽ bị giảm cho phù hợp với hoàn cảnh thiệt hại.
Ngoài ra, LTM 2005 còn quy định phạt lãi quá hạn nếu một bên vi phạm
nghĩa vụ thanh toán, tiền lãi do chậm thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ trong LTM
86
2005 tương tự tiền lãi từ khoản tiền BTTH trong bộ nguyên tắc PICC, nhưng tiền lãi
này là tiền trả chậm thanh toán đối với nghĩa vụ thanh toán tiền hàng hóa và dịch
mà không phải là tiền lãi từ giá trị BTTH. Theo đó, mặc dù các bên có thỏa thuận
hay không thì biện pháp này vẫn được áp dụng. Căn cứ để áp dụng tiền lãi do chậm
thanh toán là khi có vi phạm về nghĩa vụ thanh toán, biện pháp này có thể áp dụng
đồng thời với các biện pháp trách nhiệm khác, ngay cả phạt vi phạm và BTTH. Mức
bồi thường được quy định, tiền chậm trả sẽ được áp dụng theo lãi suất nợ quá hạn
trung bình trên thị trường tại thời điểm tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời
gian chậm trả.
BLTTDS 2015 quy định một số biện pháp khẩn cấp mà bên bị vi phạm có
thể yêu cầu tòa án áp dụng đối với bên vi phạm nhằm ngăn ngừa tẩu tán tài sản,
ngăn cản việc thu thập chứng cứ chứng minh thiệt hại như kê biên tài sản đang
tranh chấp, cấm chuyển dịch tài sản đang tranh chấp, cấm thay đổi hiện trạng tài
sản đang tranh chấp, phong tỏa tài sản tại ngân hàng, kho bạc, nơi gửi giữ tài sản,
cấm hoặc buộc thực hiện hành vi nhất định. Trong trường hợp do tình thế khẩn
cấp, cần phải bảo vệ ngay bằng chứng, ngăn chặn hậu quả nghiêm trọng có thể
xảy ra thì bên yêu cầu có quyền nộp đơn yêu cầu Toà án có thẩm quyền ra quyết
định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đồng thời với việc nộp đơn khởi kiện
cho Toà án đó và trong vòng 48 giờ sẽ áp dụng biện pháp này.
3.1.3. Quy định pháp luật về miễn trừ trách nhiệm do vi phạm hợp đồng thương
mại
- Miễn trừ trách nhiệm pháp lý do sự kiện bất khả kháng: LTM 2005 quy định khi
SKBKK xảy ra bên được miễn trách nhiệm phải thông báo cho bên kia trường hợp
miễn trách nhiệm và hậu quả của nó, khi SKBKK chấm dứt phải thông báo ngay
cho bên kia biết, nếu không thông báo gây ra thiệt hại thì sẽ chịu trách nhiệm. Bên
được miễn trách nhiệm phải có nghĩa vụ chứng minh với bên kia về trường hợp
miễn trách nhiệm của mình. Bên được miễn trừ do SKBKK sẽ được quyền lựa
chọn từ chối thực hiện hợp đồng hoặc kéo dài thời hạn hợp đồng. Thời gian kéo
dài do các bên thỏa thuận nếu không có thỏa thuận thì thời gian kéo dài này bằng
thời gian diễn ra SKBKK cộng với thời gian hợp lý để khắc phục hậu quả, đó là
năm tháng đối với hàng hóa .... Nếu kéo dài quá thời hạn này các bên có quyền từ
chối thực hiện hợp đồng. Đối với những hàng hóa, dịch vụ có thời hạn giao cố
định sẽ không áp dụng quy định này.
87
BLDS 2015 quy định SKBKK (SKBKK) là sự kiện xảy ra một cách khách
quan không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp
dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép [28, Điều 161]. Bên có nghĩa
vụ không thể thực hiện được nghĩa vụ do SKBKK thì không phải chịu trách nhiệm
dân sự [28, Điều 302]. BLDS 2005 đưa ra khái niệm và quy định nếu có xảy ra
SKBKK thì bên vi phạm được miễn trách nhiệm mà không quy định cụ thể trường
hợp thông báo, chứng minh hoặc từ chối hay kéo dài thời hạn thực hiện hợp đồng
khi có SKBKK như LTM 2005. CƯV nhìn nhận một bên không chịu trách nhiệm
về việc không thực hiện bất kì một nghĩa vụ nào đó của mình nếu chứng minh
được rằng việc không thực hiện là do một trở ngại nằm ngoài sự kiểm soát của họ
và họ không thể lường trước được trở ngại đó vào lúc giao kết hợp đồng, không
thể tránh được và cũng không thể khắc phục được các hậu quả của nó. PICC nêu
về SKBKK là bên có nghĩa vụ được miễn trừ hậu quả do việc không thực hiện của
bên mình, nếu chứng minh được rằng việc không thực hiện là do trở ngại vượt
khỏi tầm kiểm soát của mình, và không thể mong chờ một cách hợp lý ở mình
xem xét được những trở ngại này vào thời điểm ký kết hợp đồng, dự đoán hay
vượt qua được trở ngại hoặc dự đoán được hay vượt qua được hậu quả của trở
ngại đó. BLDS 2015, CƯV, PICC quy định về SKBKK đều có những dấu hiệu
như sự kiện xảy ra một cách khách quan, không thể lường trước được, không thể
khắc phục được dù đã dùng mọi khả năng cho phép. Hơn nữa, BLDS 2015 còn
đưa ra một khái niệm khác là trở ngại khách quan mà không tính vào thời hiệu
khởi kiện, không tính vào việc miễn trừ trách nhiệm và khái niệm trở ngại khách
quan được định nghĩa tại điểm b khoản 3 Điều 2 Nghị định số 58/2009/NĐ-CP
quy định: “Trở ngại khách quan là trường hợp đương sự không nhận được bản án,
quyết định mà không phải do lỗi của họ …chưa xác định được tổ chức, cá nhân
mới có quyền yêu cầu thi hành án theo quy định của pháp luật”. Vậy rõ ràng, theo
BLDS 2015 trở ngại khách quan không phải là SKBKK và cũng không được miễn
trừ trách nhiệm mà chỉ được tính vào thời gian để kéo dài thời gian thực hiện.
CƯV, PICC không có quy định về trở ngại khách quan như BLDS 2015 mà quy
định về hoàn cảnh khó khăn (hardship), nhưng bên vi phạm rơi vào hoàn cảnh khó
khăn sẽ được thỏa thuận lại điều khoản hợp đồng mà không hoàn toàn chấm dứt
hợp đồng và được miễn trừ trách nhiệm hợp đồng. Hiện nay BLDS 2015 cũng đã
quy định trường hợp hardship tương tự CƯV, PICC, đây là điểm tiến bộ, phù hợp
88
với quốc tế. BLDS 2005, LTM 2005 không quy định cơ quan có thẩm quyền tại
nơi xảy ra SKBKK phải công nhận và chấp nhận nếu có SKBKK và có yêu cầu
công nhận có SKBKK của bên vi phạm. Việc chứng minh có SKBKK như thế nào
là hợp pháp? Cơ quan có thẩm quyền địa phương nơi xảy ra SKBKK có nghĩa vụ
làm thủ tục xác nhận theo yêu cầu của bên vi phạm hay không? Làm thế nào để cơ
quan này chấp nhận việc xác nhận này. Cơ quan cấp nào có thẩm quyền để xác
nhận sự việc này cho bên vi phạm. Bên vi phạm phải cung cấp những giấy tờ nào
để được cơ quan này thực hiện theo yêu cầu. Xác định mức độ xảy ra SKBKK tác
động đến làm cho bên có nghĩa vụ vi phạm hợp đồng… tất cả cần phải được quy
định. Nếu không sẽ rất khó khăn cho bên chứng minh SKBKK do quy định một
cách chung chung mà không quy định cụ thể đó là bên vi phạm phải làm như thế
nào để chứng minh vì SKBKK không phải trong khả năng bên này có thể tự thu
thập được chứng cứ như qua việc ghi nhận, chụp hình lại sự việc. Bên cạnh đó,
LTM 2005 không quy định để được miễn trách nhiệm thì SKBKK đó phải xảy ra
sau khi ký kết hợp đồng và cũng không quy định bên vi phạm phải chứng minh
mối quan hệ nhân quả giữa việc vi phạm hợp đồng với SKBKK. Ngoài ra, bên vi
phạm phải thông báo về trường hợp miễn trách nhiệm ngay cho bên bị vi phạm,
nếu không thông báo sẽ không được miễn trách nhiệm, khi chấm dứt trường hợp
miễn trách nhiệm bên vi phạm phải thông báo ngay cho bên kia biết nếu không
thông báo hoặc thông báo không kịp thời có thiệt hại phải bồi thường. Khi nào
SKBKK kết thúc có do bên vi phạm kết luận hay không mà phải do người có thẩm
quyền về lĩnh vực kiểm soát về SKBKK tuyên bố, lúc bấy giờ bên vi phạm có căn
cứ sẽ phải thông báo ngay. Nhưng LTM đã quy định là bên vi phạm xác định thời
điểm kết thúc SKBKK để thông báo cho bên kia là chưa hoàn toàn chuẩn xác.
- Miễn trừ trách nhiệm pháp lý do lỗi của bên bị vi phạm: LTM 2005 quy định
bên vi phạm hợp đồng sẽ không chịu trách nhiệm nếu nguyên nhân dẫn đến sự vi
phạm hợp đồng là do lỗi của bên bị vi phạm. CƯV, PICC quy định về trường hợp
miễn trách nhiệm do lỗi của bên có quyền. Tuy nhiên, cả ba văn bản này đều
không quy định mức độ lỗi, loại lỗi như thế nào thì áp dụng miễn trách nhiệm hay
giảm trách nhiệm cho bên vi phạm. Theo xu hướng hiện nay, không xem lỗi là yếu
tố quyết định để kết luận có chịu trách nhiệm pháp lý hay không, tuy nhiên lỗi của
bên có quyền vẫn được xem xét để áp dụng trường hợp miễn trách nhiệm cho bên
vi phạm. Nếu xem xét lỗi là căn cứ miễn trách nhiệm thì chúng ta cần xem xét
89
mức độ lỗi, tùy vào từng loại lỗi của bên có quyền mà bên vi phạm được miễn một
phần hoặc toàn bộ trách nhiệm pháp lý. Một vấn đề khác mà CƯV có ghi nhận
trường hợp do bên thứ ba vi phạm là nguyên nhân dẫn đến sự vi phạm của bên có
nghĩa vụ và nếu sự vi phạm của bên thứ ba rơi vào các trường hợp miễn trách
nhiệm thì bên vi phạm sẽ được miễn trách nhiệm. Bên vi phạm phải chịu trách
nhiệm do sự vi phạm của bên thứ ba đối với bên vi phạm khi bên thứ ba vi phạm
ngoài các trường hợp miễn trách nhiệm do LTM 2005 quy định. Nếu vấn đề này
quy định theo hướng mở, phụ thuộc vào sự thỏa thuận giữa các bên, vậy nếu
không có sự thỏa thuận trong hợp đồng bên vi phạm vẫn phải chịu trách nhiệm khi
bên thứ ba vi phạm hợp đồng vào các trường hợp miễn trách nhiệm với bên vi
phạm. Và LTM 2005 cũng không đề cập đến trường hợp bên được ủy quyền, bên
thực hiện hợp đồng thay cho một bên trong hợp đồng thực hiện một phần hoặc
toàn bộ hợp đồng, bên được bên vi phạm ủy quyền cũng sẽ bị xem là bên vi phạm
vi phạm hợp đồng nhưng trường hợp miễn trách nhiệm là một trường hợp có vi
phạm nhưng hoàn toàn không bị áp dụng bất kỳ một biện pháp trách nhiệm nào
cho nên cần phải quy định rõ tránh trường hợp nếu các bên không có thỏa thuận
nội dung này trong hợp đồng sẽ bị áp dụng trách nhiệm như vi phạm hợp đồng.
Vấn đề áp dụng giảm một phần trách nhiệm cho bên vi phạm trong trường
hợp do lỗi của bên có quyền một lần nữa LTM 2005 vẫn bỏ ngỏ. Nếu trong trường
bên có quyền để xảy ra mức độ lỗi không đáng kể mà bên vi phạm được miễn
hoàn toàn trách nhiệm hợp đồng thì xem chừng chưa được hợp lý.
Trường hợp giảm trách nhiệm bồi thường do bên có quyền có lỗi như không
hạn chế tổn thất là một loại miễn một phần trách nhiệm cho bên vi phạm do lỗi
của bên bị vi phạm, bên bị vi phạm có thể hạn chế được tổn thất phát sinh cho
mình khi đã bên vi phạm đã vi phạm hợp đồng với bên bị vi phạm, nhưng bên bị
vi phạm không quan tâm đến thiệt hại của mình, mà đáng lẽ ra trong khả năng của
mình, bên bị thiệt hại có thể ngăn chặn được nhưng bên này không ngăn chặn tổn
thất xảy ra, theo quy định trong LTM bên vi phạm sẽ được giảm trách nhiệm
tương ứng với mức độ thiệt hại do hành vi không ngăn chặn tổn thất từ bên bị vi
phạm. Hai căn cứ để bên vi phạm được giảm trách nhiệm bồi thường là việc ngăn
chặn này phải thuộc trách nhiệm của bên bị vi phạm và phải trong khả năng của
bên bị vi phạm có thể hành động được, nếu đã đáp ứng hai điều kiện mà bên bị vi
phạm không hành động ngăn chặn thiệt hại thì bên vi phạm được giảm phần trách
90
nhiệm này. Điều 305 LTM 2005 quy định nghĩa vụ hạn chế tổn thất của bên bị vi
phạm như một dạng nghĩa vụ trong hợp đồng vì tại thời điểm này bên bị vi phạm
chưa thực hiện hành v vi phạm hợp đồng vì vậy LTM 2005 sử dụng từ “nghĩa vụ”
để diễn đạt tình huống này, nhưng nếu bên bị vi phạm vi phạm nghĩa vụ này thì sẽ
phải có trách nhiệm với bên vi phạm, tại thời điểm này sẽ sử dụng thuật ngữ
“trách nhiệm” cho bên bị vi phạm, đó là trách nhiệm hạn chế tổn thất. Nhưng nếu
sử dụng thuật ngữ trách nhiệm trước khi bên bị vi phạm vi phạm về nghĩa vụ hạn
chế tổn thất thì không đúng với bản chất của vấn đề. Tóm lại, khi bên bị vi phạm
vi phạm nghĩa vụ hạn chế tổn thất thì ứng với hành vi này bên vi phạm sẽ được
giảm trách nhiệm BTTH đối với bên bị vi phạm. Vấn đề này được văn bản pháp
luật Anh – Mỹ, Pháp quy định tản mạn trong các điều luật, CƯV quy định tại Điều
77, tương tự quy định tại Điều 7.4.8 của PICC. Chúng ta cần phân tích căn cứ áp
dụng trách nhiệm này đối với bên bị vi phạm như đã phân tích ở trên dựa theo
nguyên tắc công bằng để xem xét giảm trừ trách nhiệm đối ứng cho bên vị phạm
khi xảy ra việc không hạn chế tổn thất của bên bị vi phạm do bên vi phạm vi phạm
hợp đồng
- Miễn trách nhiệm do quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền: hành vi
vi phạm của một bên do thực hiện quyết định của cơ quan quản lý nhà nước có
thẩm quyền mà các bên không thể biết được vào thời điểm giao kết hợp đồng.
Thuật ngữ dùng trong quy định này không rõ ràng đó là dùng từ “một bên” nếu
đây là quy định chung chung thì có thể quy định như vậy, nhưng đây là quy định
riêng cho bên vi phạm hợp đồng cho nên việc dùng như vậy gây tối nghĩa trong
câu chữ. Cụm từ “không thể biết” không mang tính khoa học khách quan, trừu
tượng, việc không thể biết này có thể biết bằng văn bản hay dự đoán được trước
tại điểm giao kết. Chúng ta nên dùng một thuật ngữ khác như là không lường
trước hoặc không thể dự đoán trước sẽ phù hợp hơn. Việc dự đoán trước, thấy
được sẽ có quyết định của cơ quan nhà nước trong trường hợp này cũng không có
tác động gì đến việc có được BTTH từ bên vi phạm. Nếu bên bị vi phạm đã thấy
trước bên vi phạm sẽ vi phạm hợp đồng thì bên này sẽ không ký kết hợp đồng, vì
nếu ký kết thì cũng sẽ không được bồi thường, không được áp dụng trách nhiệm
bồi thường cho bên vi phạm. Hoặc nếu bên bi vi phạm biết được sẽ có quyết định
của cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhưng vẫn ký kết hợp đồng với bên vi phạm,
vậy bên vi phạm có được miễn trách nhiệm hay không. Cần xem xét về cách sử
91
dụng thuật ngữ, chúng ta nên sử dụng như một SKBKK mà không nên chỉ định
việc bên nào phải biết sẽ phù hợp hơn khi quy định các bên trong hợp đồng. Đây
xem như một rủi ro cho cả hai bên, nhưng bên không được bồi thường bất kỳ tổn
thất nào đó là bên bị vi phạm. Đây có được xem là trở ngại khách quan để được
miễn trách nhiệm hay không? Vì so sánh với khái niệm trừu tượng về trở ngại
khách quan trong BLDS 2005 thì quyết định của cơ quan nhà nước tác động vào
quan hệ hợp đồng làm cho bên vi phạm vi phạm hợp đồng, từ “không thể biết”
cũng được quy định trong khái niệm trở ngại khách quan, rõ ràng đây là sự việc
mà không ai dự liệu được khi ký kết hợp đồng. Mặc dù, chưa được liệt kê trong
các văn bản luật về trở ngại khách quan có bao gồm quyết định của cơ quan nhà
nước có thẩm quyền hay không, nhưng căn cứ về các dấu hiệu thì đây là trở ngại
khách quan.
- Miễn trách nhiệm pháp lý do có sự thỏa thuận: Luật Thương mại 2005 tôn trọng
nguyên tắc tự do thỏa thuận giữa các bên trong quan hệ hợp đồng từ nghĩa vụ thỏa
thuận trong hợp đồng, đến trách nhiệm áp dụng khi một bên có hành vi xâm phạm
đến quyền và lợi ích hợp pháp của bên còn lại trong hợp đồng và trường hợp miễn
trách nhiệm cũng vậy, LTM 2005 cho phép bên vi phạm hợp đồng được miễn trách
nhiệm khi xảy ra trường hợp miễn trách nhiệm mà các bên đã thỏa thuận. Hầu như
tất cả các văn bản pháp luật hiện hành quy định về HĐTM đều quy định về những
trường hợp miễn trách nhiệm do vi phạm hợp đồng khi có sự thỏa thuận trước
trong hợp đồng. Điều 407 BLDS 2005 quy định trong trường hợp hợp đồng mẫu có
điều khoản miễn trách nhiệm của bên đưa ra hợp đồng theo mẫu, tăng trách nhiệm
hoặc loại bỏ quyền lợi chính đáng của bên kia thì điều khoản này không có hiệu
lực, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Theo đó, một bên không được đưa ra điều
khoản miễn trừ trách nhiệm để áp đặt lên chủ thể khác trong quan hệ hợp đồng, vì
trong thương mại nếu bên có khả năng kinh tế mạnh hơn buộc bên còn lại phải chấp
nhận những điều khoản mà bên này đưa ra, vì vậy quy định của BLDS 2005 là hợp
lý. Nhưng nếu hai bên cùng nhau thỏa thuận trong hợp đồng về các điều khoản
miễn trừ cho dù có tăng trách nhiệm, loại bỏ những quyền lợi chủ yếu mà chính
đáng trong hợp đồng thì BLDS 2005 vẫn cho phép. Theo nhiều tác giả vẫn không
đồng ý với trường hợp cố ý vi phạm hợp đồng mà áp dụng biện pháp thỏa thuận
miễn trừ hoàn toàn trách nhiệm, quan điểm này cần được ghi nhận trong LTM 2005
và BLDS 2005.
92
- Giảm trách nhiệm pháp lý do sự thỏa thuận: những văn bản pháp luật của Việt
Nam trước đây và hiện hành điều chỉnh về quan hệ hợp đồng không nêu ra các
trường hợp bên vi phạm được giảm trách nhiệm do vi phạm hợp đồng, mà chỉ quy
định các bên được quyền thỏa thuận miễn trách nhiệm. Nhưng thông thường, khi ký
kết hợp đồng một bên sẽ biết chắc rằng, sẽ xảy ra hành vi vi phạm hợp đồng trong
tương lai và đưa ra những điều khoản miễn trách nhiệm trái ngược với mục đích
chính của hợp đồng thì sẽ không được pháp luật hợp đồng bảo vệ, vì những trường
hợp này sẽ bị xem là những thỏa thuận mang tính vô hiệu ngay từ thời điểm đã thỏa
thuận. Tuy nhiên, thiết nghĩ, vì nguyên tắc tự do thỏa thuận hợp đồng, tự do này
mang tính cạnh tranh, nhưng cạnh tranh trong khuôn khổ của pháp luật, nên pháp
luật cho phép các bên được thỏa thuận những nội dung này. Vấn đề giảm trách
nhiệm này không được BLDS 2005, LTM 2005 quy định, nhưng đã được những
văn bản pháp luật chuyên ngành quy định như Điều 79 BLHH sửa đổi 2015 về giới
hạn trách nhiệm của người vận chuyển trong khi người thuê vận chuyển, người
giao hàng không khai rõ số lượng, giá trị hàng hóa trước khi bốc hàng mà khi phát
sinh thiệt hại thì bên vân chuyển chỉ bồi thường những tổn thất ấn định trong Luật
này. Như vậy, các bên được quyền áp dụng tương tự pháp luật trong những trường
hợp này, ví dụ được quyền thỏa thuận giảm trách nhiệm trong trường hợp bên vi
phạm giao hàng không đầy đủ, thực hiện công việc không đầy đủ. Trong thực tế,
các bên thường thỏa thuận thời hạn giao hàng, ví dụ ngày giao hàng là ngày 30/1
nhưng nếu giao trễ thêm 15 ngày nữa thì vẫn không chịu trách nhiệm bồi thường.
Đối với trách nhiệm BTTH các bên có thể giảm mức bồi thường, ví dụ, thông
thường tổn thất sẽ phải bồi thường 100% giá trị thiệt hại nhưng có thể thỏa thuận
chỉ bồi thường 70% giá trị thiệt hại thực tế, LTM quy định mức lãi suất phải trả do
không thanh toán đúng hạn là lãi suất quá hạn trung bình trên thị trường thì các bên
có thể thỏa thuận giảm mức lãi suất này xuống bằng một mức nào đó thấp hơn mức
lãi suất quy định này, thì LTM vẫn cho phép. Hợp đồng mua bán của các bên còn
thỏa thuận nội dung như, nếu bên bán không có hàng để giao theo thỏa thuận, thì
bên bán chỉ trả lại tiền mà bên mua đã giao mà không phải trả bất kỳ một khoản lợi
ích nào khác. Ví dụ, trong hợp đồng cho thuê xưởng, thuê nhà kho, các bên được
thỏa thuận rằng nếu bên cho thuê không cho thuê thì chỉ trả lại tiền cọc mà không
phải chịu bất kỳ trách nhiệm nào khác.
93
Tóm lại, LTM 2005 quy định các trường hợp miễn trách nhiệm mà trong
chương 2 tác giả cho rằng là các trường hợp không chịu trách nhiệm, nhưng LTM
năm 2005 quy định chưa đầy đủ các trường hợp như do trở ngại khách quan, hoàn
cảnh khó khăn, do bên thứ ba không thực hiện được hợp đồng do SKBKK, quyết
định của nhà nước, do thời hạn khiếu nại đã hết, do thời hiệu khởi kiện đã hết. LTM
2005 chưa phân biệt trường hợp không chịu trách nhiệm do không thể thực hiện hợp
đồng và miễn, giảm trách nhiệm do vi phạm HĐTM.
3.2. Thực tiễn áp dụng trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng thƣơng mại
tại Việt Nam
Nghiên cứu thực trạng áp dụng các quy định về trách nhiệm pháp lý do vi
phạm HĐTM giúp chúng ta kiểm nghiệm mức độ phù hợp giữa các quy định pháp
luật với thực tiễn giải quyết các tranh chấp về vi phạm HĐTM, nhận diện cách vận
dụng chưa chính xác những quy định của LTM 2005 và các văn bản khác khi áp
dụng các biện pháp trách nhiệm pháp lý giải quyết tranh chấp HĐTM. Vì giới hạn
tiếp cận thực trạng các phán quyết của trọng tài thương mại, tác giả phân tích một
số vụ việc tranh chấp HĐTM do tòa án giải quyết, tác giả đã thu thập được hơn 500
bản án do tòa kinh tế tại TAND tỉnh, thành phố trong phạm vi cả nước giải quyết về
HĐTM và khảo sát những bản án được tòa án xét xử từ năm 2006 đến nay.
3.2.1. Duy trì hợp đồng và việc áp dụng các biện pháp trách nhiệm pháp lý
Trường hợp áp dụng duy nhất biện pháp buộc thực hiện đúng hợp đồng hoặc
buộc thực hiện đúng hợp đồng kết hợp với phạt lãi, phạm vi phạm, BTTH, biện
pháp khẩn cấp tạm thời.
Hơn 100 vụ tranh chấp về HĐTM trong số 500 bản án xét xử sơ thẩm, bên có
quyền chỉ yêu cầu tòa án áp dụng biện pháp buộc thực hiện nghĩa vụ thanh toán tiền
mua hàng hóa, dịch vụ. (i) tòa án căn cứ theo Điều 50 LTM 2005 về nghĩa vụ thanh
toán để áp dụng và nếu bên có quyền miễn áp dụng biện pháp phạt lãi thì tòa án vẫn
nêu căn cứ Điều 306 LTM như để ghi nhận lại sự đồng ý miễn trách nhiệm về tính
lãi suất chậm thanh toán của bên bị vi phạm. (ii) Các hợp đồng tín dụng, chuyển
nhượng quyền sử dụng đất, bảo hiểm … tòa án không căn cứ vào nghĩa vụ thanh
toán được quy định trong các văn bản luật chuyên ngành hoặc trong LTM 2005, mà
căn cứ vào nghĩa vụ thanh toán quy định tại phần nghĩa vụ dân sự trong BLDS
2005, thực hiện nghĩa vụ trả tiền [28, Điều 290] để áp dụng. Cả hai trường hợp vận
dụng điều luật của tòa án như trên là không phù hợp với bản chất của áp dụng trách
94
nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng. Tòa án cần phải vận dụng khoản 5 Điều 297
LTM làm căn cứ tuyên xử thì mới chính xác. Cụ thể TAND quận 7, TPHCM áp
dụng biện pháp buộc công ty Thiên Lập phải tiếp tục thực hiện việc giao hàng cho
bà Lê Lệ Mỹ [166]. Theo đó, bên bị vi phạm đã thanh toán tiền nhưng sau một năm
bên vi phạm vẫn chưa giao hàng. Vì bà Mỹ không yêu cầu Thiên Lập giảm giá hoặc
giao thêm hàng…cho việc giao chậm hàng nhưng nếu bên bị vi phạm có yêu cầu thì
có được tòa án chấp nhận hay không?. Nếu chấp nhận thì hợp lý nhưng thiếu căn cứ
pháp lý vì LTM chưa quy định về nội dung này trong phần chế tài của biện pháp
buộc thực hiện đúng hợp đồng. Tiếp theo, quy định quyền mua hàng thay thế nếu
bên vi phạm không giao hàng, dịch vụ đúng đủ của bên vi phạm [118, Điều 297].
Bản án sơ thẩm [177] đã công nhận việc mua hàng thay thế của công ty Nespice, vì
theo ba hợp đồng mua 350 tấn tiêu đen nhưng ba lần Phượng Hoàng chỉ giao 50 tấn,
còn thiếu 300 tấn. Để ngăn chặn tổn thất, công ty đã mua hàng thay thế, buộc DN
Phượng Hoàng bồi thường giá mua chênh lệch là 9.811.550.000 đồng là phù hợp
theo quy định tại khoản 3 Điều 297 LTM. Quy định khi đến hạn nhưng một bên
không giao hàng đúng, đủ thì bên mua được quyền mua hàng từ bên khác thay thế.
Quy định này là phù hợp với thực tế, tuy nhiên, cần quy định bên mua hàng thay thế
phải mua hàng tại địa điểm mà hai bên mua hoặc bán đã thực hiện việc giao kết hợp
đồng, theo giá thị trường tại nơi đó, tại thời điểm đó, nếu LTM không quy định rõ
ràng bên có quyền mua hàng thay thế có thể mua hàng tại một nơi khác cao hơn giá
tại nơi hai bên ký kết hợp đồng hoặc thông đồng với bên khác để mua mức giá cao
không theo giá thị trường nhằm hưởng lợi ở giá chênh lệch.
Bên mua có quyền gia hạn và yêu cầu bên bán tiếp tục hợp đồng, khi bên bán
thực hiện hợp đồng theo yêu cầu, thì bên mua phải nhận hàng. Trong bản án sau đây
bên mua thay đổi quyết định nên khi khởi kiện yêu cầu tòa án hủy hợp đồng, thì tòa
án không chấp nhận hủy hợp đồng mà buộc tiếp tục hợp đồng, giao hàng hóa [156].
Chứng tỏ rằng khi đã yêu cầu buộc thực hiện hợp đồng và trong thời gian gia hạn để
bên vi phạm thực hiện nghĩa vụ thì bên bị vi phạm không được thay đổi biện pháp
chế tài khác. Vì vậy, tòa án buộc nguyên đơn phải nhận nồi hơi và thanh toán tiền
còn lại cho bị đơn. Trong trường hợp này, bị đơn giao hàng chậm, nguyên đơn yêu
cầu thực hiện theo khoản 2 Điều 297, bị đơn thực hiện theo yêu cầu. Tất cả những
bản án, khi xét xử tòa án luôn tôn trọng ý kiến của bên bị vi phạm, nếu bên này
chấp nhận cho gia hạn thì tòa án sẽ tuyên bên vi phạm được gia hạn, còn nếu bên bị
95
phạm không đồng ý thì tòa án sẽ không áp dụng việc gia hạn này. Việc gia hạn là
quyền của bên bị vi phạm, hơn nữa LTM 2005 quy định cụm từ “có thể” nghĩa là
không bắt buộc. Vậy quy định này của LTM “bị thừa”, không cần thiết.
Khoảng hơn 300 trong số 500 bản án, cho thấy chủ yếu một bên vi phạm nghĩa
vụ thanh toán với bên kia, như vậy khẳng định quy định phạt lãi chậm thanh toán
vẫn chưa hiệu quả đối với hành vi vi phạm chiếm dụng vốn. Các thẩm phán xử lý
việc phạt lãi do chậm thanh toán cụ thể như sau (i) TAND quận Phú Nhuận,
TPHCM [173], tuyên xử công ty Huỳnh Hải Phùng phải trả cho công ty Nguyên
Hải số tiền gốc là 218.756.000 đồng và tiền lãi quá hạn do thỏa thuận trước trong
hợp đồng là 0.1%/ ngày là 340.705.769 đồng. Theo đó, nếu các bên thỏa thuận tiền
lãi, tòa án công nhận mà không sửa lại thỏa thuận này theo Điều 306 LTM theo mức
trung bình của ba ngân hàng thương mại tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời
hạn chậm trả. Việc áp dụng linh động về lãi suất mà các bên đã thỏa thuận trong
hợp đồng của Tòa án là hợp lý vì Điều 306 đã quy định trừ trường hợp có thỏa
thuận khác. (ii) trường hợp các bên không thỏa thuận về biện pháp phạt lãi hợp
đồng, nhưng nếu trong khi khởi kiện, bên bị vi phạm yêu cầu áp dụng tính lãi cao
hơn quy định Điều 306 LTM thì tòa án sẽ không chấp nhận và áp dụng mức lãi theo
Điều 306. Ví dụ, phán quyết của TAND quận 9,TPHCM, theo đó, công ty RDC yêu
cầu trả gốc là 198.197.500 đồng và lãi từ ngày 03/7/2012 là 85.566.247 đồng nhưng
tòa án chỉ chấp nhận mức 31.740.249 đồng, vì yêu cầu của bên bị vi phạm cao hơn
mức quy định [169]. (iii) trường hợp bên bị vi phạm không thỏa thuận mức lãi suất
trước trong hợp đồng với bên vi phạm nhưng trong khi khởi kiện yêu cầu tòa án
buộc tính theo mức lãi suất cơ bản của ngân hàng hoặc tính theo bình quân ba ngân
hàng đều được tòa án chấp nhận, theo quyết định của TAND quận 3, TPHCM
[164], tuyên xử xét mức lãi suất công ty SMC đưa ra là 0,75%/tháng căn cứ vào
mức lãi suất cơ bản của ngân hàng nhà nước Việt Nam quy định nên chấp nhận. (iv)
mặc dù các bên có thỏa thuận mức lãi phạt trong hợp đồng mua bán theo mức lãi
quá hạn trong hợp đồng vay tín dụng, nhưng tòa án không chấp nhận mức lãi suất
quá hạn như ngân hàng tính đối với khách hàng vay. Theo quyết định của TAND
quận Tân Bình, TPHCM [176] , DNTN Thành Lợi ký hợp đồng với Công ty Thành
Vũ thỏa thuận nếu chậm trả từ ngày thứ 21 đến ngày thứ 30 chịu lãi suất chậm trả là
0,1%/ ngày. Từ ngày thứ 31 trở đi tiền phạt quá hạn là 0,15%/ngày nhưng không
chậm quá 15 ngày. Nguyên đơn yêu cầu tiền gốc là 5.493.953.535 đồng, lãi suất
96
chậm và quá hạn, tổng cộng là 11.436.478.335 đồng, tòa án nhận định là lãi suất
quá cao nên tuyên chấp nhận tiền gốc và tiền lãi là 1.771.362.304 đồng. Tóm lại,
không như hợp đồng cho vay của ngân hàng, tòa án không tính lãi suất quá hạn khi
vi phạm nghĩa vụ thanh toán trong hợp đồng mua bán hoặc cung ứng dịch vụ, mặc
dù là hai bên có thỏa thuận trước trong hợp đồng mua bán, cung ứng dịch vụ.
Kết hợp trách nhiệm áp dụng buộc tiếp tục thực hiện hợp đồng với biện pháp
khẩn cấp tạm thời, chế tài BTTH hoặc phạt vi phạm. Hơn 15 bản án trong số 500
bản án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời với biện pháp buộc tiếp tục thực hiện
hợp đồng. Bao gồm những tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng thuê đất, hợp
đồng mua bán, hợp đồng xây dựng…Căn cứ để áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm
thời là do bên bị vi phạm yêu cầu và khi tòa án đã có quyết định thụ lý giải quyết vụ
án, xảy ra hành vi tẩu tán hoặc dịch chuyển, thay đổi tài sản liên quan đến vụ tranh
chấp. Mục đích việc áp dụng biện pháp này nhằm ngăn chặn tạm thời để dừng hành
vi tẩu tán tài sản của bên vi phạm nhằm đảm bảo cho việc xét xử và thi hành án cho
bên bị vi phạm. Theo bản án tuyên xử liên quan đến việc áp dụng biện pháp khẩn
cấp tạm thời của TAND tỉnh Bắc Giang [203], tài sản của công ty Đông Thành đã
được thế chấp cho Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam, nhưng là động sản và
bên có quyền chỉ giữ giấy tờ mà không giữ tài sản nên khi Đông Thành vi phạm
hợp đồng tín dụng thì ngân hàng yêu cầu tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp để
tránh tình trạng bên vi phạm làm mất hoặc tẩu tán tài sản. Và ngoài căn cứ theo
Luật các tổ chức tín dụng thì tòa án còn căn cứ các điều khoản về thế chấp, xử lý tài
sản thế chấp, nhưng không căn cứ áp dụng điều khoản về áp dụng biện pháp khẩn
cấp. Tại bản án của TAND thành phố Hải Phòng [190] tòa án áp dụng biện pháp
buộc công ty Fong Ho tiếp tục thực hiện hợp đồng, thanh toán số tiền thuê đất cho
công ty Đồ sơn Hải Phòng, do vi phạm không thanh toán tiền thuê đất, áp dụng phạt
vi phạm, áp dụng lãi suất chậm trả, áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, buộc thực
hiện biện pháp đảm bảo tất cả những biện pháp này đảm bảo việc thanh toán nợ cho
bên bị vi phạm. Đây là một trong những biện pháp cầm giữ tài sản để đảm bảo cho
việc thực hiện nghĩa vụ mà bên bị vi phạm có quyền yêu cầu tòa án áp dụng cho bên
vi phạm trong khi vụ việc được khởi kiện tại tòa án. Tòa án không căn cứ theo Điều
161 của BLTTDS để áp dụng biện pháp này là thiếu căn cứ pháp luật.Tuy nhiên,
theo BLTTDS thì khi tòa án thụ lý để giải quyết vụ việc thì biện pháp này được tòa
án áp dụng. Biện pháp khẩn cấp tạm thời được áp dụng cho bên vi phạm và nếu bên
97
vi phạm không tiếp tục thực hiện hợp đồng thì đương nhiên bên bị vi phạm có
quyền phát mãi tài sản hoặc cấn trừ vào trách nhiệm mà bên vi phạm phải thực hiện
đối với bên bị vi phạm. Thông thường, tòa án tuyên xử phần này trong quá trình thi
hành án và cơ quan thi hành án áp dụng khi bên vi pham không thực hiện nghĩa vụ
như trong bản án, còn nếu bên vi phạm thực hiện biện pháp thực hiện hợp đồng thì
tòa án sẽ hủy bỏ biện pháp này. Bản án của TAND quận Bình Thạnh, TPHCM
[171] giữa công ty Nông nghiệp Sài Gòn với DNTN Phát Đạt, công ty Phát Đạt vi
phạm hợp đồng, bên bị vi phạm yêu cầu tòa án áp dụng biện pháp buộc thực hiện
hợp đồng giao 613.264 kg cà phê xô loại R1, R2, BTTH bằng việc trả chi phí giám
định là 16.000.000 đồng, áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời cho số lượng hàng
hóa còn lại trong kho của bị đơn mà theo thỏa thuận bị đơn phải cung cấp kho để
chứa hàng và nguyên đơn được quản lý. Bị đơn đã giao số lượng cà phê cho nguyên
đơn và chứa vào kho của bị đơn, nhưng sau đó bị đơn đã lấy lại số hàng này để đem
bán nơi khác, hành vi của bị đơn là vi phạm nghĩa vụ xuất hàng hóa ra khỏi kho mà
không có sự đồng ý của nguyên đơn. Chính vì hành vi này cho nên nguyên đơn đã
yêu cầu áp dụng tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đối với số hàng còn
lại. Nhưng sau khi tuyên xử án sơ thẩm, bản án chưa có hiệu lực do bị đơn kháng
cáo, nhưng TAND Bình Thạnh đã cho phát mãi tài sản đã áp dụng biện pháp khẩn
cấp tạm thời, giao hàng cho công ty khác là chưa hợp lý, cần phải chờ bản án có
hiệu lực pháp luật. Vậy tòa án đã cho phát mãi tài sản khi đang áp dụng biện pháp
khẩn cấp tạm thời khi bản án chưa có hiệu lực là không đúng. Qua đây cho thấy,
quy định pháp luật đầy đủ nhưng thực trạng áp dụng chưa chuẩn xác. Bên cạnh đó,
khi áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời bên yêu cầu đã dùng tài sản để đảm bảo,
không nhất thiết phải đến khi tòa án thụ lý vụ án thì áp dụng mà cần áp dụng ngay
khi một bên có đơn yêu cầu, vì nếu xảy ra thiệt hại trong việc áp dụng thì bên yêu
cầu hoàn toàn chịu trách nhiệm, không nên áp dụng biện pháp này chậm trễ sẽ
không còn tác dụng của việc áp dụng biện pháp này trên thực tế.
Buộc tiếp tục thực hiện hợp đồng kết hợp phạt vi phạm. Tòa án áp dụng phạt
vi phạm khi các bên có thỏa thuận, mức phạt vi phạm do các bên thỏa thuận bằng
hoặc thấp hơn mức quy định tại Điều 301 LTM 2005, với những thỏa thuận này
được tòa án công nhận, cụ thể tại bản án của TAND, TPHCM[196] về tranh chấp
hợp đồng dịch vụ. Tại hợp đồng số 01/VC-YT-ME06 ngày 10/01/2006 là
244.530.000 đồng giữa công ty Tam Giác Vàng và công ty ý tưởng Việt Nam, có
98
thỏa thuận tiền phạt vi phạm hợp đồng là 8% trên giá trị vi phạm, tiền phạt là
19.562.400 đồng, phù hợp với LTM 2005. Thông thường các bên trong hợp đồng
thỏa thuận mức phạt bằng 8% hoặc cao hơn quy định, rất ít trường hợp thấp hơn.
Trong đó, các bên thỏa thuận mức phạt cao hơn quy định nhưng vẫn được tòa án
chấp nhận. Một số thẩm phán chấp nhận phần phù hợp với 8% còn phần vượt quá sẽ
không được chấp nhận, theo bản án của TAND thành phố Cam Ranh [180], chủ hộ
kinh doanh Thanh Thế ký hợp đồng mua bán với công ty số 5 Hải Phòng thỏa
thuận phạt vi phạm là 3%/tháng, tính ra tổng số phần trăm vượt mức 8%, nên tòa án
áp dụng mức 3% cho 1 tháng mà không tính 3%/tháng trong tổng thời gian từ ngày
29/5/2009 đến 15/6/2011. Ngoài ra, một số bản án khác cho thấy, các chủ thể trong
hợp đồng nhầm lẫn giữa phạt vi phạm, lãi phạt do thanh toán quá hạn.Tại bản án số
07/2012/KDTM-ST ngày 10/4/2012 của TAND quận Phú Nhuận, TPHCM, Công ty
STD&T ký hợp đồng mua bán với Công ty 76 theo Điều IV hợp đồng quy định nếu
vi phạm thì phạt 0.5% giá trị phần thanh toán chậm mỗi tuần, cụ thể từ ngày
10/03/2008 đến ngày 21/12/2009 là 600.507.799 đồng x 0.5% x 93 tuần. Trường
hợp căn cứ vào LTM thì không thể áp dụng theo loại chế tài nào, phạt vi phạm hay
lãi chậm trả đều không đúng. Vì vậy theo bản án này tòa án chỉ tính theo lãi suất
chậm trả Điều 306, mà không buộc phạt vi phạm vì tòa án cho rằng thỏa thuận phạt
vi phạm cao hơn nhiều lần như vậy không thể chấp nhận vì thỏa thuận này là trái
với quy định hiện hành nên không có hiệu lực. Có thể hiểu rằng, trường hợp mà các
bên thỏa thuận tỷ lệ phần trăm theo ngày thì yêu cầu lãi chậm trả nhưng cao hơn
nhiều so với lãi chậm trả theo Điều 306. Thông thường, thẩm phán sẽ giải quyết
theo hướng có lợi cho bị đơn, như vậy là không hợp lý, mà phải xem xét đặc điểm
của biện pháp đã được các bên thỏa thuận từ khi giao kết hợp đồng để xem xét biện
pháp thỏa thuận là phạt vi phạm hay phạt lãi.
Buộc thực hiện đúng hợp đồng kết hợp với giảm giá hàng hóa và dịch vụ.
LTM quy định khoản 4 Điều 270 về trách nhiệm giảm giá đối với hợp đồng cho
thuê hàng hóa hoặc kéo dài thêm thời gian cho thuê tương ứng với thời gian bảo
dưỡng, sửa chữa hàng hóa cho thuê. LTM năm 2005 quy định biện pháp giảm giá
chỉ áp dụng cho hợp đồng cho thuê hàng hóa, nhưng trên thực tế điều luật này được
tòa án áp dụng ngay trong các loại HĐTM khác. Cụ thể bản án số 06/2013 KDTM-
ST của TAND quận 8, chấp nhận yêu cầu giảm giá 10% trên sản phẩm đã giao của
Công ty Duy Lợi đối với Công ty Bảo Khanh vì công ty này đã có vi phạm về chất
99
lượng kỹ thuật. Công ty Duy Lợi tiếp tục nhận số hàng này, thanh toán tiền cho bên
vi phạm nhưng được giảm giá hàng hóa tương ứng với mức độ vi phạm của công ty
Bảo Khanh.Trách nhiệm buộc thực hiện hợp đồng vẫn kết hợp với trách nhiệm
giảm giá hàng hóa, dịch vụ vì hậu quả hợp đồng khi áp dụng hai chế tài này không
khác biệt nhau. Qua đây cho thấy , LTM cần quy định rõ tránh trường hợp áp dụng
quy định pháp luật một cách tùy tiện.
BTTH là loại trách nhiệm áp dụng cho bên vi phạm khi có hành vi vi phạm
xảy ra, có thiệt hại, có mối quan hệ giữa hành vi vi phạm và thiệt hại đó, thiệt hại
bao gồm là thiệt hại vật chất và thiệt hại tinh thần theo quy định trong BLDS, LTM
là thiệt hại thực tế, trực tiếp, các khoản lợi trực tiếp mà đáng lẽ ra bên bị vi phạm
được hưởng nếu không có vi phạm. Trách nhiệm buộc tiếp tục thực hiện hợp đồng
kết hợp với BTTH, theo bản án số 70/2014/KDTM –ST ngày 24/6/2014 của TAND
quận Bình Tân, TPHCM, Công ty Kiến Nguyễn vi phạm với hành vi không giao
đất, vì chậm giao đất nên bên Bình Tân thiệt hại tổng cộng các khoản như tiền bồi
thường cho việc vi phạm hợp đồng mua cây giống với bên thứ ba là 471.960.000
đồng, tiền mủ cao su mà công ty Kiến Nguyễn đã thu hoạch trong tháng 7,8/2012 là
130.000.000 đồng, mất tiền cọc là 150.000.000 đồng, tiền phát dọn cỏ chống cháy
là 80.000.000 đồng, tiền chi phí giám định 16.000.000 đồng, 451.924.480 đồng tiền
mất thu nhập do chậm khai thác cây cao su. Tòa án chấp nhận tiền do bị phạt vi
phạm hợp đồng mua cây giống, tiền chi phí phát dọn cỏ chống cháy, chi phí giám
định. Ngoài ra, vì bị đơn giao chậm tiến độ trồng cây một năm trên 40 hecta, nếu
thu nhập từ mủ cây hoặc bán cây sớm 1 năm sẽ là hơn 471 triệu đồng, khoản lợi này
không được tòa án chấp nhận vì cho rằng là khoản lợi ước lượng, dự đoán.
Thiệt hại thực tế, như chi phí đi lại để đòi nợ, hoặc chi phí cho việc tố tụng
một số thẩm phán chấp nhận nhưng một số khác không chấp nhận đó là thiệt hại
thực tế. Theo bản án của TAND thành phố Cam Ranh [181] , tuyên buộc Xí Nghiệp
Thủy sản Cam Ranh phải thực hiện tiếp tục việc thanh toán theo hợp đồng cho công
ty Á Châu, ngoài ra không chấp nhận yêu cầu buộc thanh toán chi phí đi lại cho
công ty Á Châu. Công ty Á Châu đã thực hiện xong công việc nhưng không được
thanh toán số tiền còn lại mặc dù đã nhiều lần cử cán bộ đến Xí nghiệp để đòi,
nhưng bên vi phạm không thanh toán, nên khởi kiện ra tòa án.Nguyên đơn yêu cầu
ngoài số tiền nợ thì bị đơn phải trả số chi phí phát sinh từ việc đi lại để đòi nợ và
thực hiện việc tố tụng. Đây là yêu cầu hợp lý có chứng từ chứng minh nhưng không
100
được tòa án chấp nhận. Từ trước đến nay, đa số những chi phí đi lại, dịch thuật, chi
phí tố tụng, chi phí luật sư sẽ không được tòa án chấp nhận. Tuy nhiên, một số tòa
án chấp nhận các chi phí này là thiệt hại thực tế theo bản án của TAND thành phố
Hà Nội [186] đã buộc Công ty 386 tiếp tục thực hiện nghĩa vụ thanh toán với công
ty Phúc Tiến, trách nhiệm buộc tiếp tục hợp đồng kết hợp với trách nhiệm BTTH,
bên vi phạm phải bồi thường gồm tiền gốc chưa thanh toán là thụ nhập hợp pháp
của nguyên đơn, lãi suất chậm trả tính, chi phí luật sư theo hợp đồng. Bản án của
TAND thành phố Hà Nội [184], tuyên xử buộc Công ty Orient Lines VN phải thanh
toán tiền nợ từ hợp đồng vận chuyển cho công ty GMBH và tiền lãi chậm trả, phí
luật sư. Bản án của TAND thành phố Hải Phòng [188], buộc công ty Quyết Tâm bồi
thường tiền hàng bị mất, tiền lãi vay ngân hàng, chi phi đi lại, tiền phạt không có
hàng giao cho bên thứ ba, chi phí đi lại, tiền thiệt hại trong thương mại tức là tiền về
việc mất uy tín với bên thứ ba. Qua đây cho thấy, một số tòa án cho rằng chi phí đi
lại để đòi nợ, chi phí luật sư đều được xem là thiệt hại thực tế mà bên vi phạm phải
bồi thường cho bên vi phạm. Ngoài ra thiệt hại trong thương mại về uy tín thương
hiệu vẫn được tòa án xem là thiệt hại thực tế, đây chính là những thiệt hại về tinh
thần mà được BLDS 2005 quy định.
Tóm lại, những thiệt hại về chi phí đi lại, chi phí thuê luật sư bào chữa, chi phí
phiên dịch, thiệt hại về uy tín danh dự vẫn chưa áp dụng một cách thống nhất giữa
các tòa án. LTM 2005 chưa quy định đầy đủ, cụ thể về những thiệt hại này, nên khi
xét xử mỗi tòa án, mỗi thẩm phán áp dụng theo các phương thức khác nhau.
Tạm ngừng thực hiện hợp đồng được áp dụng cho bên vi phạm khi bên vi
phạm có vi phạm cơ bản, hợp đồng vẫn còn hiệu lực và tiếp tục được thực hiện khi
bên vi phạm chấm dứt hành vi vi phạm của mình. Những điều kiện vừa nêu để áp
dụng biện pháp tạm ngừng giống với buộc thực hiện đúng hợp đồng ở căn cứ vi
phạm cơ bản và hiệu lực hợp đồng . Tuy nhiên, tạm dừng là hành động của bên bị vi
phạm, còn buộc thực hiện đúng hợp đồng là biện pháp bắt buộc mà bên vi phạm
phải thực hiện. Hơn nữa, hai biện pháp này đều giống nhau ở điểm là nếu bị cưỡng
chế bởi tòa án, tòa án sẽ buộc bên bị tạm ngừng phải tiếp tục thực hiện hợp đồng và
đồng thời, bên tạm ngừng cũng phải tiếp tục thực hiện tiếp nghĩa vụ mà mình đã
tạm ngừng và tòa án cũng các bên thực hiện nghĩa vụ hợp đồng trong biện pháp
buộc thực hiện đúng hợp đồng. Tại bản án của TAND quận 6, TPHCM [165], tuyên
buộc Công ty Việt Gia Lê thanh toán cho công ty Nam Hà số tiền 525.000.000 đồng
101
do chưa thanh toán tiền mua 50 chiếc xe máy và tiền lãi do gần 3 năm chưa thanh
toán nợ, buộc công ty Nam Hà phải giao cho công ty Việt Gia Lê hóa đơn giá trị gia
tăng và hồ sơ hải quan của 50 chiếc xe máy sau khi được công ty Việt Gia Lê thi
hành án, hai bên thực hiện giao nhận cùng một lúc ngay khi án có hiệu lực. Tòa án
thiếu nhận xét về hành vi tạm ngừng thực hiện nghĩa vụ của bên Nam Hà là đúng
theo pháp luật, thiếu căn cứ quy định pháp luật Điều 308 LTM. Việc tòa án căn cứ
theo Điều 306 LTM là phù hợp, vì kết hợp phạt lãi với tạm ngừng thực hiện hợp
đồng. Nhưng căn cứ theo Điều 50 LTM để tuyên xử là chưa phù hợp mà phải căn
cứ tại khoản 5 Điều 297 LTM. Tiếp theo, tòa án tuyên xử buộc công ty Nam Hà
phải giao giấy tờ hóa đơn, hải quan cho công ty Việt Gia Lê là chưa chính xác, vì
Nam Hà tạm ngừng thực hiện việc giao giấy tờ đối với bên vi phạm, chứ không phải
là vi phạm việc giao giấy tờ. Hành vi tạm ngừng thực hiện việc giao hóa đơn giá trị
gia tăng, giấy tờ hải quan của công ty Nam Hà đối với 50 chiếc xe máy cho công ty
Việt Gia Lê là phù hợp, vì Việt Gia Lê đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán sau khi được
gia hạn, nhắc nhở nhiều lần nhưng vẫn không thực hiện nghĩa vụ thanh toán. Hành
vi tạm ngừng này như biện pháp cầm giữ lại tài sản, giấy tờ có giá nhằm đảm bảo
cho việc thực hiện nghĩa vụ của Việt Gia Lê. Đây là quyền mà công ty Nam Hà
được sử dụng khi bên kia vi phạm. Vì vậy tòa án nên ghi nhận việc tạm ngừng thực
hiện hợp đồng kết hợp với biện pháp cầm giữ tài sản. Vấn đề cầm giữ tài sản được
LTM quy định tại Điều 239 đối với hợp đồng dịch vụ logistic. Tuy nhiên, trên thực
tế các bên trong hợp đồng mua bán này cũng áp dụng quyền cầm giữ kết hợp như
một biện pháp tạm ngừng thực hiện nghĩa vụ hợp đồng. LTM cần quy định rõ biện
pháp cầm giữ tài sản và định đoạt tài sản trong phần chế tài như một biện pháp trách
nhiệm áp dụng chung cho HĐTM.
Tạm ngừng thực hiện hợp đồng như là biện pháp đảm bảo để thực hiện đúng
hợp đồng. Theo bản án 33/2013/KDTM-ST ngày 16/8/2013 của TAND quận Tân
Bình, TPHCM, trong thời gian thực hiện hợp đồng Công ty Vạn Thành Đạt đã tạm
ngưng xuất hóa đơn cho công ty Hoàng Thanh Sơn vì công ty này đã vi phạm nghĩa
vụ thanh toán. Một bên tạm ngừng việc thực hiện nghĩa vụ, đó là hành vi xuất hóa
đơn. nhưng tòa án sơ thẩm đã không ghi nhận việc tạm ngừng này là đúng. Mà xem
cả hai bên đếu vi phạm là chưa chính xác.
Bản án của Tòa án nhân quận 10, TPHCM [158] , trong bản án này Công ty
SCHINDLER VN bán cho công ty Tân Hoàng Thân 02 thang máy, trong hợp đồng
102
có thỏa thuận về phạt vi phạm là 1%/tháng, tối đa bằng 5% giá trị hợp đồng, và thỏa
thuận về quyền sở hữu về tài sản nếu bên kia vi phạm thì sẽ giữ lại tài sản. Những nội
dung thỏa thuận quy định trong hợp đồng là phù hợp về phạt vi phạm, cầm giữ tài
sản, nhưng thỏa thuận phạt 5% giá trị hợp đồng là chưa đúng với Điều 301 LTM quy
định là không quá 8% phần giá trị vi phạm.Công ty SCHINDLER đang lắp đặt thang
máy nhưng dừng lại không gắn hai Card chip. Công ty này đã thực hiện quyền của
mình là tạm ngừng thực hiện nghĩa vụ của mình khi bên kia không thanh toán. Tòa án
đã xem hai bên là vi phạm do hai bên đều vi phạm nên buộc thanh toán, buộc bên kia
giao hàng.
Việc áp dụng trách nhiệm nhằm duy trì hợp đồng bao gồm buộc thực hiện
đúng hợp đồng và tạm ngừng thực hiện hợp đồng. Các bên có thể áp dụng hai biện
pháp này một cách riêng lẽ hoặc áp dụng chúng kết hợp với các loại trách nhiệm
pháp lý khác khi có đủ điều kiện để áp dụng như trách nhiệm phạt vi phạm, BTTH,
phạt lãi, giảm giá, cầm giữ tài sản. Tuy nhiên, trên thực tế cho thấy, biện pháp buộc
thực hiện đúng hợp đồng có thể đồng thời áp dụng với tạm ngừng thực hiện nghĩa
vụ hợp đồng khi biện pháp tạm ngừng đóng vai trò là bên bị vi phạm giữ lại giá trị
tài sản thuộc sở hữu của mình để làm động lực thúc đẩy việc thực hiện hợp đồng
của bên vi phạm. Vậy trong thực tế hai biện pháp này có thể đồng thời được áp
dụng với nhau, LTM quy định không thể đồng thời áp dụng là chưa chính xác.
3.2.2. Không duy trì hợp đồng và việc áp dụng các biện pháp trách nhiệm pháp lý
Theo quy định, trách nhiệm đình chỉ thực hiện hợp đồng không được đồng
thời áp dụng với buộc thực hiện đúng hợp đồng, nhưng trên thực tế, hai biện pháp
này được áp dụng trong cùng một vụ tranh chấp. Vì một phần hợp đồng đã được
một trong các bên thực hiện, phần còn lại bị đình chỉ vì các bên chưa thực hiện bất
kỳ quyền và nghĩa vụ. Phần đã được một bên thực hiện nghĩa vụ và bên còn lại chưa
thực hiện nghĩa vụ, bên bị vi phạm có quyền buộc bên vi phạm thực hiện nghĩa vụ
phần hợp đồng không bị đình chỉ. Phần còn lại sẽ bị đình chỉ kết hợp với các biện
pháp bồi thường. (i) trường hợp đình chỉ thực hiện hợp đồng phần hợp đồng bị đình
chỉ vì các bên chưa được hưởng quyền và thực hiện nghĩa vụ và không thỏa thuận
các biện pháp bồi thường khác thì bên bị vi phạm chỉ áp dụng duy nhất biện pháp
đình chỉ thực hiện hợp đồng. (ii) đình chỉ thực hiện hợp đồng kết hợp với buộc thực
hiện nghĩa vụ hợp đồng, theo bản án của TAND thành phố Hà Nội [185], tranh chấp
hợp đồng thuê nhà xưởng giữa Công ty xe máy và Công ty Thùy Anh, chấp nhận
103
yêu cầu đơn phương hủy bỏ hợp đồng của công ty xe máy, đồng thời buộc Công ty
Thùy Anh phải thanh toán tiền thuê nhà xưởng. Tòa án không căn cứ vào Điều 310
LTM mà viện dẫn quy định trong BLDS năm 2005 để tuyên xử. Theo đó, phần đã
thực hiện việc thuê xưởng trước đó bên bị vi phạm được quyền buộc bên vi phạm
thực hiện phần không bị đình chỉ. Thời gian thuê xưởng theo hợp đồng vẫn còn, tuy
nhiên do bên kia vi phạm về việc thanh toán tiền nhà xưởng nên chấm dứt phần thời
gian thuê còn lại, tức là đình chỉ một phần hợp đồng. Theo bản án của TAND thành
phố Nha Trang [201], về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa, giữa DNTN Võ
Quốc Khởi với Công ty Seafood, theo hợp đồng bán 20.000kg cá /tháng, doanh
nghiệp đã giao cho công ty 5592,2 kg nhưng công ty chưa thanh toán tiền, nên
doanh nghiệp này chấm dứt hợp đồng và yêu cầu trả lại tiền. Tòa án tuyên chấp
nhận yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn thanh toán số tiền nợ là 251.649.000
đồng. Qua hai bản án nêu trên trong trường hợp áp dụng đồng thời buộc tiếp tục
thực hiện phần do bên bị vi phạm đã thực hiện nghĩa vụ nhưng bên vi phạm chưa
thực hiện nghĩa vụ của mình, tất cả những vi phạm này không được thỏa thuận hành
vi vi phạm này là căn cứ để áp dụng loại trách nhiệm đình chỉ hợp đồng, căn cứ vào
hành vi vi phạm của bên vi phạm và theo yêu cầu của nguyên đơn tòa án áp dụng
tiếp tục thực hiện nghĩa vụ đối ứng với nghĩa vụ mà bên bị vi phạm đã thực hiện,
bên cạnh đó áp dụng trách nhiệm đình chỉ phần hợp đồng còn lại. Bên bị vi phạm áp
dụng quy định vi phạm thấy trước trong điều khoản quy định về hủy nếu phần trước
của hợp đồng mà bên vi phạm không thực hiện. Nếu áp dụng như vậy là tòa án vay
mượn điều khoản quy định cho trách nhiệm về hủy một phần hợp đồng trong LTM.
Nhưng hợp đồng này áp dụng trách nhiệm đình chỉ hợp đồng, vì phần còn lại bị
đình chỉ không hồi tố những nghĩa vụ mà chỉ là chấm dứt hành vi này do từ thời
điểm chấm dứt trở về sau hai bên chưa thực hiện bất kỳ một nghĩa vụ nào. Tuy
nhiên, tại bản án theo danh mục [185], tòa án tuyên xử đúng với bản chất của sự
việc, riêng bản án danh mục [201] tòa án không xác định được trách nhiệm đình chỉ
mà chỉ tuyên phần buộc tiếp tục thực hiện hợp đồng, còn phần đình chỉ hợp đồng
tòa án chưa xác định. Vì bất kỳ một vụ tranh chấp hợp đồng dù là buộc tiếp tục thực
hiện, tạm ngừng, đình chỉ thì hợp đồng phải được tuyên bố là đã chấm dứt. Theo
bản án thứ ba, doanh nghiệp áp dụng trách nhiệm đình chỉ nhưng tòa án tuyên xử
chấm dứt hợp đồng là chưa chính xác, vì toàn bộ hợp đồng là mua bán 20.000kg cá
chẻm, theo đó nguyên đơn đã giao 5592,2,kg và bị đơn không thanh toán.Việc
104
không thanh toán tiền hàng cấu thành vi phạm cơ bản và nguyên đơn yêu đình chỉ
phần còn lại, không tiếp tục thực hiện, nhưng phần hợp đồng, một bên đã thực hiện
buộc bên kia phải thực hiện mà phần này không bị đình chỉ. Tóm lại, các chủ thể và
tòa án giải quyết vụ việc chưa phân định rõ giữa biện pháp chấm dứt, đình chỉ và
hủy hợp đồng. Vì vậy, tòa án không viện dẫn đúng điều luật quy định theo bản chất
của sự việc. LTM quy định căn cứ áp dụng, điều kiện áp dụng, mối quan hệ với các
chế tài khác giữa hai biện pháp đình chỉ và hủy hợp đồng là giống nhau, chỉ khác
nhau ở hậu quả pháp lý, vì vậy các chủ thể áp dụng khó khăn khi phân biệt trong
thực tiễn áp dụng. Chứng tỏ việc chia thành hai biện pháp làm chấm dứt hợp đồng
không có ý nghĩa trong thực tiễn áp dụng, LTM cần bỏ quy định này.
Tòa án không phân biệt giữa đình chỉ thực hiện hợp đồng và thay thế thực
hiện của bên vi phạm hợp đồng, theo bản án của TAND quận Thủ Đức,TPHCM
[178], Công ty Nedspice Việt Nam ký hợp đồng mua tiêu đen theo ba hợp đồng với
DN Phượng Hoàng, do bị đơn không giao đúng hạn, nguyên đơn đã mua hàng từ
nơi khác để thay thế cho việc bị đơn không giao hàng đúng hạn. Tòa án tuyên xử
bên vi phạm phải BTTH phần giá chênh lệch vì nguyên đơn đã mua hàng nơi khác
để thay thế nhưng lại căn cứ điều khoản đình chỉ hợp đồng là chưa hợp lý. đây
chính là bên bị vi phạm áp dụng biện pháp buộc thực hiện hợp đồng qua hình thức
mua hàng để thay thế mà không phải là đình chỉ thực hiện hợp đồng.
Hủy hợp đồng là biện pháp trách nhiệm mà bên bị vi phạm áp dụng cho bên
vi phạm hợp đồng, làm chấm dứt qua hệ hợp đồng khi bên vi phạm thực hiện hành
vi vi phạm cơ bản hợp đồng. LTM quy định gồm có hủy một phần và hủy toàn bộ
hợp đồng. (i) Hủy một phần hợp đồng kết hợp với buộc thực hiện hợp đồng trong
cùng vụ án, trường hợp này thể hiện trong bản án của TAND quận 3, TPHCM về
tranh chấp hợp đồng thuê xe [162]. Công ty Hải Minh ký kết hợp đồng thuê xe với
Công ty Lễ Hội, đặt cọc 63.000.000 đồng, là ½ giá trị hợp đồng để thuê 4 chiếc xe
du lịch. Đến ngày giao xe, công ty Lễ Hội chỉ giao được hai xe và công ty Hải Minh
đã nhận 2 xe, còn hai xe giao không đúng giờ nên Công ty Hải Minh từ chối. Nhận
xét, vụ án này áp dụng hủy một phần hợp đồng, tức là đã giao nhận 2 xe và tiền đặt
cọc ứng với việc thanh toán tiền thuê 2 xe là 63.000.000 đồng. Phần hợp đồng này
đã thực hiện xong, tòa án tuyên cấn trừ tiền đặt cọc thành tiền thuê 2 xe đây là biện
pháp buộc thực hiện phần hợp đồng không bị hủy. Phần còn lại bị hủy là phần hoàn
toàn độc lập, không liên quan đến phần hợp đồng đã được thực hiện. Tòa án áp
105
dụng biện pháp phạt vi phạm 100% phần giá trị bị vi phạm. Hai bên đã thỏa thuận
về phạt vi phạm là 100% giá trị phần vi phạm, thẩm phán đã chấp nhận việc thỏa
thuận này theo quy định tại BLDS năm 2005. Theo đó, hành vi không giao 2 xe, vi
phạm ½ hợp đồng trị giá là 63.000.000 đồng, phạt 8% trên giá trị này 5.040.000
đồng. Mặc dù, tòa án căn cứ theo Điều 301 LTM nhưng xét xử lại cho các bên thỏa
thuận mức phạt vi phạm
Hủy một phần hợp đồng, được áp dụng độc lập không kết hợp với các biện
pháp khác. Theo bản án của TAND TPHCM tranh chấp hợp đồng mua bán hàng
hóa [194], theo đó Công ty Miền Tây bán cho Công ty Tân Hoàng Thân bốn thang
máy, hai thanh máy lắp đặt tại Vũng tàu đã thực hiện xong nghĩa vụ giao hàng, bên
vi phạm phải thanh toán tiền. Một phần giao dịch thứ hai lắp đặt hai thang máy tại
TPHCM bị hủy bỏ do hành vi cản trở của Công ty Tân Hoàng Thân không tiếp tục
cho Công ty Miền Tây vào lắp đặt thang máy, Công ty Tân Hoàng Thân đã vi phạm
nghĩa vụ nhận thang máy. Vì vậy Công ty Miền Tây yêu cầu hủy phần giao dịch này
trong toàn bộ hợp đồng. Tòa án tuyên xử hủy nhưng không căn cứ điều khoản áp
dụng hủy một phần giao dịch tại Điều 313 LTM và bị đơn lập luận rằng hành vi
không lắp đặt thang máy của nguyên đơn là vi phạm hợp đồng và phải phạt tiền cọc,
tức là trả lại tiền cọc và phạt gấp đôi số tiền cọc. Lập luận này của bị đơn không được
tòa án chấp nhận, vì hành vi không cho nguyên đơn lắp đặt thang mày của bị đơn là
vi phạm nghĩa vụ tiếp nhận.
Hủy hợp đồng kết hợp với chấm dứt hợp đồng do vô hiệu trong cùng vụ án.
Theo bản án của TAND Tỉnh Long An tranh chấp hợp đồng hợp tác đầu tư [205] ,
hợp đồng thỏa thuận điều khoản về hủy hợp đồng nếu có vi phạm nghiêm trọng các
điều khoản dẫn đến vi phạm nghiêm trọng lợi ích của các bên thì hủy hợp đồng. Và
vi phạm là do bị đơn không góp tiền theo đúng tiến độ, góp được 20% theo tiến độ,
sau đó, không tiếp tục góp và có công văn từ bỏ hợp đồng. Tòa án chấp nhận từ
những thỏa thuận đã quy định trong hợp đồng, công ty Long An trả lại tiền đã nhận
cho Công ty Lợi Lợi, Công ty Năm Sao. Tuyên buộc Công ty Long An hoàn trả lại
tiền đã nhận cho bị đơn, nếu như tuyên buộc nguyên đơn là chưa chính xác mà nên
tuyên xử là ghi nhận việc trả lại tiền. Trong việc tuyên hủy hợp đồng, tòa án có
tuyên xử một phần hợp đồng vô hiệu do hai bên thỏa thuận chia lợi nhuận góp vốn,
lợi nhuận là một phần đất dự án được chia cho bên góp vốn. trong vụ tranh chấp
này, tòa án đã tuyên xử làm cho hợp đồng chấm dứt bằng hai phương thức áp dụng
106
là tuyên hủy hợp đồng đối với phần hợp đồng có hiệu lực và tuyên chấm dứt hợp
đồng do hợp đồng vô hiệu, tuy nhiên cả hai cách thức này đều kết thúc nghĩa vụ hợp
đồng, các bên đã thực hiện nghĩa vụ trả lại cho nhau những gì đã nhận.
Hủy toàn bộ hợp đồng, tại bản án của TAND quận 3, TPHCM tranh chấp về
hợp đồng mua bán hàng hóa [162]. Bên cạnh việc áp dụng biện pháp hủy hợp đồng
thông qua hành vi thỏa thuận trong hợp đồng kể từ khi giao kết, tòa án còn xem xét
hủy hợp đồng trong quá trình xét xử vụ án giữa các bên. Công ty Emico đã tạm ứng
cho Công ty Bông sen 50% giá trị hợp đồng, với thỏa thuận thay mới hai bộ điều
khiển của 2 máy ép phun, nhưng hàng không hoạt động được, vì không tương thích
với máy. Hai bên yêu cầu hủy hợp đồng, trả lại tiền tạm ứng và BTTH, trả lại hiện
trạng máy như ban đầu, dọn dẹp hiện trường, trả lại đầy đủ hồ sơ kỹ thuật của 2
máy. Ý kiến trong quá trình ghi nhận sự việc tại tòa án, bị đơn là Công ty Bông sen
đã đồng ý nhận lại hai bộ điều khiển, trả lại tiền tạm ứng, nhưng không đồng ý bồi
thường.Tòa án ghi nhận việc hủy bỏ hợp đồng, nhưng không buộc bị dơn BTTH vì
nguyên đơn xác định bồi thường ước tính trong thời gian máy ngưng hoạt động để
giải quyết tranh chấp. Tòa án không ghi nhận việc nguyên đơn giao trả lại 2 bộ điều
khiển cho bị đơn, vì cho rằng bị đơn không yêu cầu. Tóm lại, nếu trong quá trình
giải quyết vụ án hai bên thỏa thuận hủy hợp đồng, thì tòa án ghi nhận sự thỏa thuận
mà không căn cứ như một biện pháp trách nhiệm hủy hợp đồng. Những vụ việc
tranh chấp hợp đồng như trên đa số được tòa án tuyên chấm dứt hợp đồng mà không
căn cứ theo quy định tại Điều 312 LTM, còn một số tòa án tuyên xử hủy hợp đồng
nhưng không căn cứ theo quy định trong LTM.
Ngoài ra, hợp đồng bị chấm dứt nhưng bên vi phạm không bị áp dụng các loại
trách nhiệm như hủy hợp đồng, đình chỉ hợp đồng, đồng thời không bị áp dụng các
loại trách nhiệm pháp lý khác như BTTH, phạt vi phạm, phạt lãi, giảm giá…Những
trường hợp này, bên bị vi phạm buộc phải chấm dứt hợp đồng, trong khi đó bên vi
phạm được miễn trách nhiệm hoàn toàn. Điều 294 LTM 2005 quy định các trường
hợp bên vi phạm được miễn trách nhiệm như xảy ra SKBKK, bên bị vi phạm có lỗi,
bên vi phạm thực hiện quyết định của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền mà
các bên không thể biết được vào thời điểm giao kết hợp đồng. Bên vi phạm phải
chứng minh các trường hợp miễn trách nhiệm. Với quy định về kéo dài thời hạn, từ
chối thực hiện hợp đồng trong trường hợp SKBKK hiện nay, chúng ta hiểu theo
hướng, (i) khi xảy ra SKBKK hai bên phải cùng nhau thỏa thuận kéo dài thời hạn
107
đối với trường hợp có thỏa thuận thời hạn giao hàng, cung ứng dịch vụ nhưng
không thỏa thuận thời điểm giao hàng, cung ứng dịch vụ. Đối với thỏa thuận thời
điểm giao hàng,cung ứng dịch vụ cố định thì không được kéo dài thời hạn giao
hàng, cung ứng dịch vụ. Cả hai bên đều có quyền này. (ii) là quyền mà LTM cho
phép bên có nghĩa vụ rơi vào SKBKK được áp dụng, bên bị vi phạm không được
quyền. Việc kéo dài này chỉ áp dụng khi hợp đồng không thỏa thuận thời điểm giao
hàng, vậy có thỏa thuận thời điểm giao hàng thì bên vi phạm không được áp dụng
việc kéo dài mà thông báo từ chối thực hiện hợp đồng ngay. Đây là việc quy định có
lợi cho bên vi phạm khi có SKBKK. Khi xảy ra SKBKK bên vi phạm phải có trách
nhiệm thông báo cho bên bị vi phạm về tình trạng không thể thực hiện được hợp
đồng, nếu còn khả năng thực hiện được thì thông báo ngay và đề nghị từ một sự
thỏa thuận của bên bị vi phạm xin cho gia hạn thời gian thực hiện. Nếu không thể
thực hiện được thì thông báo chấm dứt hợp đồng mà bên nào thiệt hại bên đó tự
chịu, còn nếu đã gia hạn thì phải thực hiện, nếu không thực hiện thì bị xem là vi
phạm hợp đồng theo sự thỏa thuận mới. Bản án của TAND TPHCM về tranh chấp
hợp đồng mua bán hàng hóa giữa Công ty Vinacam và Keytrade AG [198], theo đó
bên Vinacam không giao hàng đúng hạn, vì do Nga ngưng cung cấp khí thiên nhiên
cho Ukraina, nên không thể cung cấp phân bón Ure cho VinaCam, bên Vinacam đã
nhiều lần gửi thông báo về sự kiện này, dù đã cố gắng nhiều, xin gia hạn nhưng vẫn
không thực hiện được. Tòa án tuyên xử buộc bên Vinacam phải BTTH cho
Vinacam do Vinacam đã ký hợp đồng với đối tác và phải mua hàng nơi khác để
thực hiện hợp đồng với các đối tác này. BTTH giá tiền chênh lệch và các chi phí
liên quan. Tòa án phân tích việc ngưng cung cấp khí đốt sang Ukraina là khách
quan là SKBKK, nhưng ngược lại nhận định là không có xảy ra SKBKK vì nếu
Ukraina bị Nga ngưng cung cấp khí đốt thì Nga vẫn có thể hoạt động bình thường,
nên không xảy ra SKBKK, mặt khác lại lập luận theo hướng có SKBKK nhưng đã
cho gia hạn nhưng vẫn không thực hiện thì là vi phạm hợp đồng. Ở đây, tòa án phân
tích theo hướng có xảy ra SKBKK và cho gia hạn nhưng vi phạm hoặc không có
SKBKK thì chính xác hơn khi tuyên buộc bên AG BTTH cho Vinacam. Qua đây
chúng ta có thể kết luận với quy định hiểu theo nghĩa thứ hai là phù hợp với thực
tiễn, nếu SKBKK mà không thể nào thực hiện được khi SKBKK kết thúc, việc này
bên vi phạm phải tìm chứng cứ để chứng minh, nếu không thể chứng minh được
SKBKK thì phải chịu trách nhiệm như buộc tiếp tục thực hiện, tạm ngừng, đình chỉ,
108
hủy hợp đồng và các trách nhiệm khác theo sự yêu cầu của bên bị vi phạm. Nếu
chứng minh có SKBKK nhưng theo kết luận khách quan hoặc sự chứng minh của
bên bị vi phạm là nếu SKBKK kết thúc, bên vi phạm có khả năng tiếp tục thực hiện
thì sẽ cho gia hạn và phải thực hiện nếu không sẽ bị xem là vi phạm một sự thỏa
thuận mới. Nếu trên thực tế, có SKBKK mà theo nhận định khách quan, bên vi
phạm không thể thực hiện khi SKBKK kết thúc, nhưng bên vi phạm tự mình xét
thấy mình có khả năng thực hiện hợp đồng khi SKBKK kết thúc nhưng khi gia hạn
mà bên vi phạm không thực hiện được lại gây ra thiệt hại thì sẽ chịu trách nhiệm.
Và quy định nếu bên vi phạm rơi vào SKBKK mà theo nhận định khách quan,
không thể nào thực hiện được khi SKBKK kết thúc thì bên vi phạm được kết thúc
hợp đồng mà không phải chịu trách nhiệm, tuy nhiên nếu đã nhận lợi ích từ bên bị
vi phạm thì phải trả lại.
Hợp đồng chấm dứt do hành vi vi phạm của bên vi phạm, nhưng bên này được
miễn trách nhiệm do bên bị vi phạm có lỗi, trong quan hệ hợp đồng, nhà nghiên cứu
lập pháp chỉ xác định lỗi suy đoán mà không chia ra hai nhóm do lỗi cố ý hay do lỗi
vô ý. Bên vi phạm có hành vi vi phạm do lỗi của bên bị vi phạm, thì bên vi phạm
không chịu bất kỳ trách nhiệm nào dù bên bị vi phạm có lỗi cố ý hoặc vô ý. Theo
tác giả, cần phân tích mức độ lỗi và nguyên tắc thiện chí trong trường hợp miễn
trách nhiệm này thì sẽ thuyết phục hơn. Ví dụ, nếu bên bị vi phạm thực hiện với lỗi
cố ý thì bên vi phạm được miễn trách nhiệm hoàn toàn, nhưng nếu bên bị vi phạm
do lỗi vô ý, mà căn cứ vào đó, bên vi phạm cố tình vi phạm, không thiện chí thực
hiện thì chỉ sẽ giảm một phần trách nhiệm. Theo bản án của TAND TPHCM tranh
chấp hợp đồng mua bán hàng hóa [194], theo đó Công ty Miền Tây bán cho Công
ty Tân Hoàng Thân bốn thang máy, hai thanh máy lắp đặt tại Vũng tàu đã thực hiện
xong nghĩa vụ giao hàng, bên vi phạm phải thanh toán tiền. Một phần giao dịch thứ
hai lắp đặt hai thang máy tại TPHCM bị hủy bỏ do hành vi cản trở của Công ty Tân
Hoàng Thân không tiếp tục cho Công ty Miền Tây vào lắp đặt thang máy, Công ty
Tân Hoàng Thân đã vi phạm nghĩa vụ nhận thang máy. Vì vậy Công ty Miền Tây
yêu cầu hủy phần giao dịch này trong toàn bộ hợp đồng. Qua đây cho thấy bên
Công ty Tân Hoàng Thân đã hoàn toàn có lỗi là không cho Công ty Miền Tây vào
địa điểm để lắp đặt thang máy. Vì vậy, nguyên nhân không lắp đặt thang máy của
Công ty Miền Tây cho công ty Tân Hoàng Thân là do công ty Tân Hoàng Thân gây
109
ra. Bên Công ty Miền Tây không có hành vi vi phạm thì không chịu trách nhiệm, vì
vậy nếu việc gọi là miễn trách nhiệm sẽ không phù hợp với thực tiễn áp dụng.
Bên vi phạm được miễn trách nhiệm do có quyết định của cơ quan nhà nước
mà các bên không thể biết được vào thời điểm ký kết hợp đồng. Bản án của TAND
thành phố Hải Phòng [190], bản án của TAND thành phố Hải Phòng [187], bản án
của TAND thành phố Nha Trang [202]. Cả ba bản án đều không tuyên xử theo
khoản d Điều 294 LTM mà chỉ tuyên xử bác yêu cầu của nguyên đơn về yêu cầu
BTTH. Trong khi có quyết định của nhà nước, các chấm dứt hợp đồng, bên nào
thiệt hại bên đó chịu. Tòa án nhận định vì quyết định của nhà nước nên một bên
không vi phạm nên không chịu trách nhiệm, nếu một bên đã nhận lợi ích từ bên kia
thì hoàn trả lại. Trong bản án về yêu cầu BTTH, tòa án không xem xét lỗi của bên bị
vi phạm, mà chỉ nhận xét do Hải quan tịch thu hàng để xử lý là một quyết định
khách quan mà bên vi phạm không có lỗi nên không phải bồi thường. Mà không
nhận xét bên bị vi phạm có thể biết trước, hoặc buộc phải biết hàng hóa gửi vào
Việt Nam là vi phạm dẫn đến bị cơ quan nhà nước tịch thu. Trong bản án về tranh
chấp hợp đồng hợp tác, tòa án không phân tích về việc hai bên đã biết được sẽ có
quyết định thu hồi đất của nhà nước vì đã có thỏa thuận trường hợp bị nhà nước thu
hồi thì bên thuê đất sẽ chịu thiệt hại và được nhận một phần tiền bồi thường. Tòa án
chỉ căn cứ vào quyết định của Ủy Ban nhân dân thành phố Hải Phòng làm cho hợp
đồng kết thúc trước thời hạn không phải do lỗi của bên có nghĩa vụ, vì vậy bên này
không phải BTTH . Tại khoản d Điều 294 có quy định chỉ được miễn trách nhiệm
nếu cả hai bên đều không thể biết, dự đoán được quyết định này của nhà nước, nếu
rơi vào những trường hợp như thực trạng áp dụng, LTM 2005 hiện hành không bao
quát được. Vì vậy, quan điểm tác giả là phải có quy định cho những trường hợp
này. Nếu không quy định rõ các trường hợp khác nhau thì khi áp dụng mỗi tòa án sẽ
phân tích theo các cách khác nhau.
Không chịu trách nhiệm do không khiếu nại về vi phạm trong thời gian quy
định. Bản án của TAND TPHCM về tranh chấp hợp đồng vận chuyển bằng đường
hàng không và dịch vụ logistic [196] . Công ty Toàn Thắng và Công ty Ecu Line
Việt Nam đã ký kết hợp đồng vận chuyển hàng hóa và dịch vụ logistic. Nguyên đơn
là Công ty Toàn Thắng yêu cầu Công ty Ecu Line phải BTTH vì giao hàng chậm.
Tòa án không chấp nhận yêu cầu BTTH của công ty Toàn Thắng vì Công ty này
không khiếu nại trong thời hạn 14 ngày đến Ecu Line và 6 tháng sau đó, nên bên
110
này bị mất quyền yêu cầu BTTH và phải tự chịu trách nhiệm và bên Ecu Line
không phải chịu trách nhiệm trong trường hợp này. Điều này chứng tỏ, mặc dù
LTM 2005 không quy định việc khiếu nại về căn cứ xác định trách nhiệm, nhưng
qua vụ án này cho thấy, việc một bên không khiếu nại về hành vi vi phạm trong thời
gian quy định thì xem như mất quyền quy trách nhiệm cho bên kia, và đồng thời
bên không bị khiếu nại được xem như không có hành vi vi phạm, không chịu trách
nhiệm.
Đánh giá chung thực trạng pháp luật về trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp
đồng thương mại
Trong các mục trên của chương tác giả đã nêu và phân tích những điểm phù
hợp và chưa phù hợp trong quy định và áp dụng về trách nhiệm pháp lý do vi phạm
HĐTM. Tuy vậy cần phải xác định theo những tiêu chí như về hình thức và nội
dung trong quy định pháp luật, về phương cách áp dụng giải quyết các vụ tranh
chấp do vi phạm HĐTM, về nhận thức của chủ thể áp dụng và chủ thể tham gia vào
quan hệ hợp đồng cụ thể là quan hệ pháp luật về trách nhiệm pháp lý do vi phạm
HĐTM để đánh giá chung về thực trạng áp dụng pháp luật về vấn đề này.
Về quy định của LTM 2005, BLDS 2015 và các văn bản luật chuyên ngành về
trách nhiệm pháp lý do vi phạm HĐTM: các quy định về trách nhiệm pháp lý do vi
phạm HĐTM trong LTM và các quy định pháp luật có liên quan về cơ bản đã giải
quyết được những trường hợp cụ thể trong thực tế, đảm bảo về vai trò, chức năng và
nhiệm vụ của mình trong ngành luật thương mại, tương đối hài hòa với quy định
của Công ước Viên 1980. Và một ưu điểm của BLDS 2015 đã tiếp cận gần nhất với
những nguyên tắc về các biện pháp xử lý trong UNIDROIT. Tuy nhiên vẫn còn
nhiều nhược điểm như sau: Còn nhiều quy định chưa phù hợp với thực tiễn áp
dụng về vi phạm HĐTM, biện pháp trách nhiệm, miễn trách nhiệm như đã phân
tích ở trên. Một số quy định về trách nhiệm pháp lý do vi phạm HĐTM chưa phù
hợp với quy định của Công ước, nguyên tắc và văn bản pháp luật của một số các
quốc gia. Quy định về trách nhiệm pháp lý do vi phạm HĐTM giữa LTM 2005
chưa thống nhất với BLDS 2015 và các văn bản pháp luật chuyên ngành. Kỹ thuật
xây dựng pháp luật về nội dung này chưa hoàn toàn hợp lý từ ngôn từ đến tính
logic của nội dung
Về thực tiễn áp dụng của thẩm phán khi giải quyết các vụ tranh chấp do vi
phạm hợp đồng thương mại: tòa án đã giải quyết được những vụ việc theo đúng quy
111
định của pháp luật, áp dụng tương đối chính xác những biện pháp trách nhiệm pháp
lý do vi phạm HĐTM, hợp với mong đợi của các chủ thể trong quan hệ tranh chấp
HĐTM. Tuy nhiên qua thực tiễn phân tích các bản án cho thấy: Cách giải quyết vụ
việc vẫn áp dụng cứng nhắc theo các quy định pháp luật, nguyên tắc áp dụng vẫn
chưa hoàn toàn phù hợp theo nguyên tắc áp dụng, căn cứ các điều luật chưa chính
xác. Chưa áp dụng đúng các biện pháp trách nhiệm trong từng vụ việc cụ thể. Một
số thẩm phán áp dụng quá linh hoạt các điều khoản luật làm cho việc áp dụng chưa
đúng với quy định pháp luật. Hiểu đúng các quy định pháp luật của các thẩm phán
chưa hoàn toàn thống nhất. Việc áp dụng giữa biện pháp trách nhiệm BTTH và phạt
vi phạm về mức độ, cách thức vẫn chưa phù hợp và thiếu thống nhất. Chưa phân
định được biện pháp đình chỉ và hủy hợp đồng. Về nhận thức pháp luật của chủ thể
áp dụng và chủ thể tham gia quan hệ hợp đồng: các chủ thể tham gia quan hệ hợp
đồng vẫn chưa xem trọng việc soạn thảo hợp đồng, về các điều khoản hợp đồng
chặt chẽ. Chưa hiểu rõ tác hại to lớn trong việc vi phạm hợp đồng. Các chủ thể hợp
đồng hầu như không quan tâm nhiều đến việc nghiên cứu để hiểu rõ các quy định
pháp luật về hợp đồng để tránh những thiệt hại không đáng có, tránh được những
hành vi vi phạm HĐTM.
Kết luận chƣơng 3
1. Phân tích về vi phạm HĐTM, các loại vi phạm hợp đồng để kết luận mức độ phù
hợp của LTM 2005 so với quy định của quốc tế. Giải thích các căn cứ xác định
trách nhiệm do vi phạm HĐTM để xác định quy định LTM 2005 chưa phù hợp với
thực tiễn quy định của các quốc gia. Phân tích quy định về biện pháp trách nhiệm để
tìm ra những điểm chênh lệch trong quy định của LTM 2005 và các văn bản pháp
luật khác. Xác định việc quy định các trường hợp miễn, giảm trách nhiệm theo
LTM 2005 chưa phù hợp với bản chất của sự việc.
2. Phân tích cách áp dụng chính xác, linh động hoặc chưa chính xác các nhóm trách
nhiệm do vi phạm hợp đồng như trách nhiệm duy trì hợp đồng và trách nhiệm
không duy trì hợp đồng của tòa án giữa quy định luật thực định và thực tiễn giải
quyết. Các trường hợp miễn, giảm trách nhiệm được xác định là các trường hợp
không chịu trách nhiệm do không thực hiện hợp đồng mà không phải là miễn, giảm
trách nhiệm do hành vi vi phạm. Dựa vào các bản án tác giả nhận định trong khi áp
dụng từng biện pháp trách nhiệm bên bị vi phạm có áp dụng trường hợp miễn, giảm
trách nhiệm cho bên vi phạm
112
Chương 4
ĐỊNH HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH TRÁCH NHIỆM
PHÁP LÝ DO VI PHẠM HỢP ĐỒNG THƢƠNG MẠI
4.1. Những yêu cầu nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam về trách nhiệm pháp
lý do vi phạm hợp đồng thƣơng mại
Thứ nhất, do sự bất cập của pháp luật Việt Nam hiện hành về trách nhiệm pháp lý
do vi phạm hợp đồng thương mại
- Sự bất cập về quan hệ hợp đồng: trong thời kỳ hội nhập quốc tế sâu rộng hiện
nay, nền kinh tế nhiều thành phần của Việt Nam ngày càng đa dạng, phong phú về
quan hệ hợp đồng như hợp đồng dân sự, hợp đồng kinh tế, HĐTM. Trong các quan
hệ hợp đồng này có những văn bản pháp luật điều chỉnh riêng biệt nhưng chịu chi
phối bởi văn bản pháp luật chung là BLDS 2005. Tuy vậy, các chủ thể tham gia vào
quan hệ hợp đồng, thậm chí cơ quan nhà nước trong nhiều trường hợp cụ thể vẫn
chưa phân định được đó là quan hệ hợp đồng gì.
- Bất cập trong quy định về trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng: mối quan
hệ điều chỉnh quan hệ hợp đồng giữa BLDS 2005, LTM 2005, các văn bản luật
chuyên ngành chưa có tính thống nhất với nhau về quy định vi phạm hợp đồng, căn
cứ xác định trách nhiệm, thời hạn khiếu nại, các biện pháp trách nhiệm do vi phạm
hợp đồng, các hình thức miễn trách nhiệm. Ví dụ, khi các bên ký kết hợp đồng chưa
xác định rõ sẽ áp dụng theo BLDS 2005, luật chuyên ngành, LTM như về phạt vi
phạm cần áp dụng theo mức thỏa thuận hoặc 8% phần giá trị bị vi phạm hoặc một
mức phạt khác quy định trong các văn bản luật chuyên ngành. Phạt lãi suất đối với
vi phạm nghĩa vụ thanh toán, lẫn lộn giữa việc áp dụng theo lãi suất cơ bản, lãi suất
cho vay thương mại, lãi suất quá hạn trung bình ba ngân hàng thương mại. Căn cứ
pháp lý khi áp dụng giữa các thẩm phán, tòa án vẫn chưa có sự thống nhất khi căn
cứ áp dụng các loại trách nhiệm pháp lý. Vì vậy, việc hoàn thiện các quy định về
chế độ trách nhiệm pháp lý do vi phạm HĐTM Việt Nam là điều quan trọng và cần
thiết nhằm làm hài hòa trong quy định giữa LTM 2005, BLDS hiện hành và các văn
bản luật chuyên ngành, tránh sự xung đột giữa các quy định trong các văn bản pháp
luật này, nhằm tạo môi trường pháp lý điều chỉnh hoạt động thương mại có hiệu quả
hơn. Qua thực tiễn cho thấy, trong nhiều trường hợp các chủ thể tham gia hợp đồng,
cơ quan giải quyết tranh chấp về HĐTM vẫn chưa áp dụng đúng các quy định về
113
chế tài do vi phạm hợp đồng giữa ba nhóm văn bản điều chỉnh về các loại hợp đồng
nêu trên. Khi quy định chế định về trách nhiệm pháp lý do vi phạm HĐTM chưa có
sự nhất quan, rõ ràng thì việc áp dụng vẫn chưa được xác định, tức là trong trường
hợp nào thì áp dụng quy định trong BLDS 2005, trong trường hợp nào thì áp dụng
LTM 2005 hoặc áp dụng luật chuyên ngành. Có quan điểm cho rằng, BLDS 2005 là
luật chung điều chỉnh tất cả các loại hợp đồng, HĐTM quy định trong LTM 2005 là
loại hợp đồng được điều chỉnh bởi LTM 2005 nếu LTM 2005 có quy định cụ thể
nội dung, nhưng nếu LTM 2005 không quy định thì áp dụng theo quy định trong
BLDS 2005. Bên cạnh đó, nếu luật chuyên ngành có quy định nội dung về chế định
trách nhiệm do vi phạm hợp đồng thì áp dụng luật chuyên ngành, nếu không quy
định thì áp dụng BLDS 2005 hoặc nếu luật chuyên ngành không quy định thì áp
dụng LTM 2005. Tất cả cách hiểu theo thứ tự áp dụng này, các chủ thể khi áp dụng
vẫn còn lúng túng hiểu chưa chính xác .
LTM 2005 chưa quy định nội dung xác định trách nhiệm khi bên thứ ba vi
phạm hợp đồng với bên vi phạm, tuy nhiên trên thực tế áp dụng thực trạng việc vi
phạm hợp đồng khi bên thứ ba vi phạm với bên vi phạm làm cho hợp đồng xảy ra
hành vi vi phạm, theo đó bên vi phạm vẫn phải chịu trách nhiệm trước bên bị vi
phạm do hành vi vi phạm của bên thứ ba gây ra cho bên vi phạm. Việc quy định nội
dung này trong LTM 2005 là điều bắt buộc để có căn cứ pháp lý khi áp dụng pháp
luật.
- Bất cập về căn cứ xác định trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng: các căn cứ
về xác định trách nhiệm, LTM 2005 quy định có ba căn cứ xác định áp dụng đối với
trách nhiệm BTTH, còn những biện pháp trách nhiệm khác chỉ nêu căn cứ vi phạm
hợp đồng hoặc có sự thỏa thuận. Tuy nhiên, căn cứ thông báo vẫn được quy định rải
rác như một căn cứ bắt buộc, khi bên bị vi phạm không thực hiện căn cứ này thì
không được áp dụng các loại trách nhiệm cho bên vi phạm. Với quy định như hiện
nay, các chủ thể cho rằng thông báo không là căn cứ xác định trách nhiệm pháp lý
do vi phạm HĐTM. Ngoài ra, căn cứ khiếu nại được quy định trong một chế định
khác và chỉ quy định trong loại hợp đồng logistic mà không được quy định chung
như một căn cứ áp dụng trách nhiệm do vi phạm hợp đồng, cũng có thể làm cho các
chủ thể cho rằng khiếu nại không là căn cứ bắt buộc trong vi phạm hợp đồng. BLDS
2005 không quy định cụ thể các căn cứ trong từng biện pháp trách nhiệm pháp lý do
vi phạm hợp đồng, chỉ quy định rải rác làm cho các chủ thể áp dụng, tham gia giải
114
quyết tranh chấp chưa xác định chính xác các căn cứ khi áp dụng trách nhiệm,
riêng căn cứ khiếu nại không được đề cập trong BLDS 2005. Còn trong một số
văn bản luật như Luật Hàng không dân dụng Việt Nam có quy định khiếu nại
như một căn cứ bắt buộc, nếu bên bị vi phạm trong thời hạn không khiếu nại thì
mất quyền yêu cầu áp dụng các loại trách nhiệm do vi phạm hợp đồng. Vì vậy
chúng ta phải quy định thống nhất các quy định này trong các văn bản pháp luật
trên là hoàn toàn cần thiết.
- Bất cập về quy định miễn trách nhiệm do vi phạm hợp đồng: các hình thức miễn
trách nhiệm do vi phạm HĐTM được LTM quy định, LTM 2005 không quy định
trường hợp bên thứ ba vi phạm do xảy ra SKBKK thì bên bị bên thứ ba vi phạm
cũng sẽ được miễn trách nhiệm, vì bên thứ ba được miễn trách nhiệm do xảy ra
SKBKK như các quy định trong các văn bản luật quốc tế. Ngoài ra, khi áp dụng các
trường hợp miễn trách nhiệm do vi phạm hợp đồng trong thực tiễn, đều khẳng định
trong những trường hợp này không bên nào vi phạm hợp đồng thì không bên nào
phải chịu trách nhiệm. Vậy việc miễn trách nhiệm được quy định trong LTM năm
2005, chưa phù hợp với nhận định của Tòa án khi xử lý vụ việc. Vì miễn trách
nhiệm do vi phạm hợp đồng với thuật ngữ không chịu trách nhiệm do không vi
phạm hợp đồng là hoàn toàn khác nhau. Vì vậy, cần phải có cách tiếp cận khác về
các trường hợp miễn trách nhiệm và không chịu trách nhiệm trong quy định của
LTM 2005.
Ngoài ra, cách hiểu về thuật ngữ không chịu trách nhiệm và miễn trách nhiệm
như hiện nay là chưa phù hợp với bản chất của sự việc, vì vậy khi áp dụng vào thực
tiễn thể hiện sự khiên cưỡng. Việc sử dụng thuật ngữ miễn trách nhiệm là đúng,
nhưng quy định các trường hợp như hiện nay trong LTM 2005 là chưa đúng, mà đó
là các trường hợp không phải chịu trách nhiệm. Cần phải có cách tiếp cận mới về lý
luận và quy định pháp luật về miễn trách nhiệm.
Thứ hai, do sự hội nhập kinh tế trong khu vực và quốc tế: việc hoàn thiện các quy
định pháp luật về hợp đồng nói chung và chế độ về trách nhiệm pháp lý do vi phạm
HĐTM được đặt ra là do nhu cầu hội nhập kinh tế Việt Nam với khu vực và quốc tế
ngày càng mở rộng và nhu cầu này được xem là mở rộng nhất kể từ trước đến nay.
Hiện nay, Việt Nam đã gia nhập vào nhiều tổ chức kinh tế thế giới WTO, ASEAN,
APEC, ASEM. Hiện nay, LTM 2005 là văn bản luật điều chỉnh những quan hệ
HĐTM trong nước và những quan hệ hợp đồng có yếu tố nước ngoài, nhưng nếu
115
quy định còn nhiều bất cập sẽ ảnh hưởng đến sự nghi ngại trong tâm lý khi tham gia
vào quan hệ hợp đồng của các thương nhân nước ngoài, đánh giá thấp chất lượng và
sự minh bạch của hệ thống pháp luật Việt Nam, từ đó làm nền kinh tế kém phát
triển theo sự hội nhập với quốc tế.
Ngoài ra, khi gia nhập vào thị trường kinh tế quốc tế và mục tiêu của chúng ta
khi tham gia vào các tổ chức kinh tế khu vực và thế giới nhằm phát triển kinh tế
theo hướng bền vững. Muốn phát triển nền kinh tế theo xu hướng tích cực thì những
quy định pháp luật quốc gia phải phù hợp với các công ước, hiệp định chung mà
Việt Nam đã tham gia. Do đó, việc hoàn thiện quy định pháp luật quốc gia tương
thích với các quy định này là điều tất yếu. Hoàn thiện các quy định pháp luật của
Việt Nam theo xu hướng xích lại gần hơn với các quy định của thế giới là điều cần
thiết trong quá trình hội nhập.
Hội nhập thương mại khu vực và quốc tế đòi hỏi phải có sự phù hợp nhất định
giữa pháp luật quốc gia với pháp luật quốc tế, các hiệp định thương mại song
phương, đa phương, Ví dụ, thương nhân tham gia trong LTM 2005, chỉ là những tổ
chức, cá nhân có đăng ký kinh doanh còn chủ thể tham gia trong TPP bao gồm các
chủ thể là thể nhân, cá nhân mà không đề cập đến hoạt động có đăng ký kinh doanh
hay không, thuật ngữ thương nhân được mở rộng hơn so với LTM 2005. Tiền
BTTH trong hiệp định nhấn mạnh về chi phí phát sinh trong tố tụng, cũng như chi
phí luật sư bên có hành vi vi phạm phải chịu, so với LTM 2005 thì quy định này
chưa phù hợp. Trách nhiệm chấm dứt hợp đồng, tại các văn bản luật quốc tế như
CƯV về mua bán chỉ quy định biện pháp hủy hợp đồng, PICC chỉ quy định hình
thức chấm dứt do vi phạm hợp đồng là hủy hợp đồng, pháp luật về hợp đồng của
các quốc gia khác trên thế giới cũng chỉ quy định hủy hợp đồng, trong khi LTM
2005 quy định hình thức đình chỉ thực hiện hợp đồng tồn tại bên cạnh hủy hợp đồng
là chưa phù hợp, ngay cả khi áp dụng vào thực tiễn giải quyết các tòa án cũng lúng
túng, không thể xác định biện pháp này và phân định giữa đình chỉ và hủy hợp
đồng. Khiếu nại, là căn cứ được đề cập trong nhiều văn bản pháp luật trên thế giới,
tuy nhiên LTM 2005 vẫn quy định chưa rõ ràng về căn cứ xác định trách nhiệm này.
Quy định miễn trách nhiệm khi bên thứ ba vi phạm rơi vào SKBKK cũng không
được LTM 2005 đề cập, điều này không phù hợp với các quy định của quốc tế.
Tất cả những vấn đề được phân tích trong chương 3 của tác giả cho thấy rằng
những quy định chưa phù hợp của pháp luật Việt Nam về HĐTM với văn bản pháp
116
luật thế giới và văn bản pháp luật quốc gia của các nước khác trên thế giới, vì vậy
cần phải sửa đổi hoàn thiện hơn so với giai đoạn hiện nay.
Thứ ba, sự cần thiết bảo vệ quyền lợi chính đáng của các chủ thể ngày càng được
đề cao và việc xác định chính xác trách nhiệm của các chủ xâm phạm đến các
quyền lợi chính đáng đó là thử thách luôn đặt ra: việc đảm bảo quyền và lợi ích
chính đáng của chủ thể không bị xâm phạm, cụ thể là quyền lợi hợp pháp của các
bên trong HĐTM không bị vi phạm, luôn là thử thách cho các nhà nghiên cứu lập
pháp, đặc biệt trong hoàn cảnh quan hệ kinh tế phức tạp, khủng hoảng kinh tế kéo
dài là nguyên nhân làm cho các mối quan hệ kinh tế, quan hệ hợp đồng giữa các chủ
thể ngày càng xấu hơn, quyền lợi của các bên trong hợp đồng có nguy cơ bị xâm
phạm nhiều hơn. Chính vì vậy, những biện pháp để bảo vệ, đảm bảo cho các lợi ích
của các chủ thể trong quan hệ hợp đồng là một trong những biện pháp rất cần thiết
cho các chủ thể. Xuất phát từ những yêu cầu này, vấn đề hoàn thiện trách nhiệm
pháp lý do vi phạm HĐTM, là Nhà nước đã trao cho chủ thể một “bộ áo giáp” để
bảo vệ quyền lợi cho chính mình trong thời đại kinh tế thị trường có tính cạnh tranh
khốc liệt, giai đoạn kinh tế mở cửa hội nhập sâu với kinh tế quốc tế tiềm ẩn nhiều
rủi ro trong kinh doanh.
Xác định chính xác mức độ, loại trách nhiệm cho các chủ thể vi phạm hợp
đồng nhằm tạo sự công bằng, trật tự trong hoạt động thương mại là một trong những
yêu cầu đặt ra bắt buộc phải sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật để đáp ứng nhu
cầu này. Các biện pháp trách nhiệm được quy định trong pháp luật hiện hành không
còn phù hợp với giai đoạn hiện nay, những quy định này về trách nhiệm đã lạc hậu,
không còn tương xứng so với sự phát triển kinh tế, mối quan hệ hợp đồng, giá trị
kinh tế trong giai đoạn mới.
4.2. Những định hƣớng cơ bản hoàn thiện quy định pháp luật Việt Nam về
trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng thƣơng mại
Thứ nhất, thể chế hóa đầy đủ chính sách của Đảng về bảo vệ quyền lợi của các chủ
thể, xác định chính xác, kịp thời trách nhiệm cho các chủ thể vi phạm: vấn đề về
bảo vệ quyền lợi chính đáng của các chủ thể, xác định trách nhiệm cá nhân, tổ chức
đã được đề cập trong Đại hội Đảng lần thứ nhất do Chủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức,
Đại hội xác định đây là chủ trương được Đảng quan tâm và xác định. Vấn đề này
tiếp tục được ghi nhận trong các Đại hội Đảng tiếp theo, cụ thể trong Đại hội Đảng
lần thứ VI cũng được nhấn mạnh “thực hiện công bằng xã hội phù hợp với điều
117
kiện thực tế; bảo đảm an toàn xã hội, nhanh chóng khôi phục trật tự, kỷ cương
trong mọi lĩnh vực đời sống xã hội. Thực hiện sống và làm việc theo pháp luật.
Nghiêm trị các phần tử làm ăn phi pháp” [61]. Đại hội Đảng lần thứ IX “Chăm lo
cho con người, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mọi người; Phát huy dân chủ
đi đôi với giữ vững kỷ luật, kỷ cương, tăng cường pháp chế, quản lý xã hội bằng
pháp luật, tuyên truyền, giáo dục toàn dân, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật.
bảo đảm quyền lợi và trách nhiệm của công dân [62]. Xử lý nghiêm các hành vi vi
phạm pháp luật”. Đại hội Đảng lần thứ X “Đảng và Nhà nước tiếp tục đề ra nhiều
chủ trương, chính sách nhằm phát huy hơn nữa quyền làm chủ, bảo đảm lợi ích của
nhân dân, vai trò giám sát của nhân dân đối với hoạt động của các tổ chức đảng,
cơ quan nhà nước, cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức. Công tác dân vận của
hệ thống chính trị có nhiều đổi mới cả về nội dung và hình thức. Các cấp uỷ đảng,
chính quyền lắng nghe, tăng cường đối thoại với các tầng lớp nhân dân, tôn trọng
các loại ý kiến khác nhau. Dân chủ trong Đảng, trong các tổ chức và xã hội được
mở rộng, nâng cao; quyền làm chủ của nhân dân được phát huy tốt hơn. Việc bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật
được coi trọng”[63]. Đại hội Đảng lần thứ XI được khẳng định “Việc bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của công dân, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật được coi
trọng” [64] quan điểm về trách nhiệm cá nhân, tổ chức khi có hành vi vi phạm được
thể chế cụ thể trong từng văn bản pháp LTM trong đó được quy định cụ thể là các
biện pháp chế tài trong hoạt động thương mại để áp dụng công bằng, nghiêm túc
cho các chủ thể có hành vi vi phạm hợp đồng. Quan điểm của Đảng về bảo vệ
quyền lợi của các chủ thể, quy trách nhiệm cho chủ thể vi phạm thể hiện trong các
kỳ Đại hội Đảng là kim chỉ nam để ban hành các quy định pháp luật về trách nhiệm
do vi phạm hợp đồng trong toàn bộ hệ thống các văn bản pháp luật về hợp đồng,
đặc biệt là trách nhiệm pháp lý do vi phạm HĐTM, việc hoàn thiện trách nhiệm
pháp lý do vi phạm cần tập trung làm rõ, (i) Việc ban hành các quy định pháp luật
thương mại, cụ thể là chế độ trách nhiệm pháp lý do vi phạm HĐTM phải tuân theo
và bám sát chính sách của Đảng theo từng giai đoạn nhằm phù hợp với từng hoàn
cảnh cụ thể (ii) cần cân nhắc khi ban hành các quy định phải phù hợp với điều kiện
hoàn cảnh kinh tế của đất nước theo từng giai đoạn cụ thể, như giai đoạn hiện nay
nền kinh tế Việt Nam chịu ảnh hưởng nghiêm trọng từ cuộc khủng hoảng kinh tế
thế giới. Do tác động xấu từ cuộc khủng hoảng kinh tế đã làm cho các doanh nghiệp
118
vi phạm hợp đồng nhiều hơn, trong đó còn có nhiều vi phạm hợp đồng phức tạp, có
giá trị lớn, một số chủ thể hợp đồng không muốn phát triển kinh doanh theo xu thế
bền vững mà tham gia vào quan hệ hợp đồng nhằm mục đích vi phạm hợp đồng để
trục lợi.
Thứ hai, hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm pháp lý do vi phạm HĐTM Việt
Nam phải phù hợp với quy định pháp luật của quốc tế: từ trước đến nay, chưa bao
giờ nước ta lại tích cực chủ động mở rộng quan hệ hợp tác kinh tế quốc tế nhanh
chóng và quy mô như hiện nay. Việc mở rộng quan hệ hợp tác kinh tế như vậy, có
thể mang lại nhiều lợi ích to lớn, nhưng cũng có nhiều khó khăn, bất lợi. Khi hội
nhập, thì phải tham gia ký kết nhiều hiệp định thương mại khác nhau, để hệ thống
luật pháp quốc gia phù hợp với những nội dung cam kết này chúng ta phải nhanh
chóng hoàn thiện các quy định trong các văn bản luật trong nước. Trong đó, phải
hoàn thiện pháp LTM là điều tất yếu. Như đã phân tích trong các chương trước,
LTM 2005 nói chung và quy định về trách nhiệm pháp lý do vi phạm HĐTM nói
riêng đã có nhiều nội dung chưa phù hợp với các văn bản luật quốc tế như CƯV,
PICC, văn bản pháp luật về hợp đồng của một số quốc gia mà các doanh nghiệp
Việt Nam thường xuyên có quan hệ kinh tế, Các quốc gia mà Việt Nam sẽ có quan
hệ kinh tế trong tương lai như Nhật Bản, Hoa Kỳ, Trung Quốc, các nước trong
khối ASEAN, các quốc gia thành viên của WTO mà Việt Nam tham gia, đặc biệt
là các quốc gia thành viên tham gia hiệp định thương mại gần đây mà Việt Nam
đã là thành viên, đó là hiệp định TPP.Trong đó, chế độ về trách nhiệm pháp lý do
vi phạm HĐTM là vấn đề cần phải hoàn thiện nhằm tạo một hành lang pháp lý bảo
vệ, đảm bảo sự công bằng cho các bên trong hoạt động thương mại. Việc tham gia
các hiệp định, công ước nhanh chóng như hiện nay sẽ ảnh hưởng đến quá trình sửa
đổi, bổ sung hệ thống pháp luật quốc gia phù hợp theo quy định chung, trong một
thời gian ngắn các nhà soạn thảo luật pháp phải thực hiện quá nhiều văn bản luật
dẫn đến tình trạng không đạt đúng yêu cầu, chất lượng, tính khả thi, nhất quán,
không tránh khỏi việc chồng chéo về nội dung các văn bản pháp luật pháp luật
trong nước. Với nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế, việc sửa đổi những quy định về
trách nhiệm pháp lý do vi phạm HĐTM tương thích hơn nữa với các quy định của
các văn bản luật pháp quốc tế là giải pháp hữu hiệu để đảm bảo công bằng quyền
lợi trong quan hệ thương mại nhằm phát triển nền kinh tế bền vững hơn.
119
Thứ ba, hoàn thiện quy định về trách nhiệm pháp lý do vi phạm HĐTM của Việt
Nam cần đảm bảo sự phù hợp với các đặc điểm của nền kinh tế Việt Nam: nền
kinh tế Việt Nam hình thành từ nền kinh tế bao cấp, tự cung tự cấp chuyển sang
kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Vì vậy, chưa hoàn thiện các
quy định trong hệ thống pháp luật theo cơ chế thị trường là điều không thể tránh
khỏi. Hơn nữa, từ một nước có nền kinh tế lạc hậu, hội nhập nhanh chóng với nền
kinh tế phát triển vượt bậc của các quốc gia trên thế giới, chắc hẳn sẽ không tránh
khỏi những quy định pháp luật hoàn thiện ngang bằng với các quốc gia khác. Xuất
phát từ những đặc điểm này nên việc hoàn thiện các quy định trách nhiệm pháp lý
do vi phạm HĐTM ở Việt Nam phải thực hiện trên cơ sở những điều kiện kinh tế -
xã hội đặc thù của Việt Nam, phải xây dựng kế hoạch lâu dài để giải quyết những
mục tiêu cơ bản hiện tại và tương lai. Xây dựng pháp luật về trách nhiệm pháp lý
do vi phạm HĐTM nhằm bảo vệ công bằng quyền lợi chính đáng của các bên, tôn
trọng pháp luật, phòng ngừa những hành vi vi phạm. Giáo dục, tuyên truyền pháp
luật cho các chủ thể kinh doanh trong nước nhằm trang bị cho các chủ thể này
những công cụ để tự bảo vệ mình trước những chủ thể kinh doanh nước ngoài
trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
Việc quy định trách nhiệm pháp lý do vi phạm HĐTM trong các văn bản
pháp luật của nước ta phải được quy định một phù hợp với các chủ thể kinh doanh
tham gia hoạt đồng thương mại từ trong nền kinh tế tập trung, bao cấp nhưng cũng
phải nghiêm khắc để khắc phục tình trạng xem nhẹ các quy định pháp luật, các
chủ thể cho rằng hệ thống pháp luật trong nền kinh tế thị trường kết hợp với hội
nhập kinh tế quốc tế sâu rộng cũng sẽ có nhiều lỗ hổng, nhằm “lách luật” để thực
hiện hoạt động kinh doanh phi pháp gây ảnh hưởng đến các chủ thể khác, kìm
hãm sự phát triển của nền kinh tế. Nghĩa là bên cạnh những quy định pháp luật
mang tính phòng ngừa, giáo dục là chính đồng thời phải răn đe nghiêm khắc để
tránh tình trạng quy định pháp luật “quá nhân đạo” sẽ không có tác dụng đối với
các chủ thể không tôn trọng sự nghiêm minh của pháp luật.
Thứ tư, hoàn thiện quy định trách nhiệm pháp lý do vi phạm HĐTM cần phải
tương thích với quy định trong BLDS hiện hành: theo thứ tự quan hệ giữa luật
chung và luật riêng, thì BLDS Việt Nam là văn bản luật chung điều chỉnh tất cả
những quan hệ hợp đồng nói chung, trách nhiệm pháp lý do vi phạm HĐTM nói
riêng. Vì vậy khi hoàn thiện các quy định về vi phạm hợp đồng, căn cứ xác định
120
trách nhiệm do vi phạm hợp đồng, các loại trách nhiệm do vi phạm hợp đồng, các
trường hợp miễn trách nhiệm do vi phạm hợp đồng đều phải xem xét sự nhất quán,
thống nhất theo từng quy định trong BLDS. Nếu không xem xét, rà soát kỹ những
quy định trong BLDS sẽ quy định mang tính vừa thiếu, vừa thừa, hơn nữa còn bị
xung đột với luật chung. Vậy, sẽ làm cho văn bản LTM không tác dụng, không có
tính khả thi khi áp dụng vào thực tiễn. Tuy nhiên, khi hoàn thiện LTM phải quy
định rõ thứ tự áp dụng giữa BLDS và LTM, vì vậy, những nội dung mà BLDS quy
định chung cho tất cả các loại hợp đồng, quy định đã cụ thể, rõ ràng thì LTM tránh
quy định trùng lắp, như vậy là quy định thừa không cần thiết.
Hiện nay, những nội dung mà hai văn bản pháp luật này quy định không
thống nhất gây khó khăn trong thực tiễn áp dụng. Ví dụ, quan hệ hợp đồng, như
thế nào gọi là hợp đồng dân sự hoặc thương mại. Ở đây, khái niệm hợp đồng dân
sự được quy định trong BLDS là phù hợp, riêng LTM thì chưa xác định rõ ràng.
Nếu bỏ cụm từ “dân sự” như các công trình nghiên cứu khác đề xuất sẽ dễ nhằm
lẫn với các loại hợp đồng khác nữa như hợp đồng lao động thì không thể bao quát
hết trong khái niệm hợp đồng nói chung, như vậy sẽ không hợp lý. Vậy LTM cần
quy định khái niệm về hoạt động thương mại thì sẽ áp dụng vào khái niệm hợp
đồng dân sự trong BLDS là phù hợp.
Tóm lại, theo các cơ quan nghiên cứu lập pháp đã xác định rằng, BLDS là
luật chung của tất cả các văn bản pháp luật về hợp đồng. Vì vậy, khi sửa đổi hoàn
thiện hoặc áp dụng phải tuân thủ đúng nguyên tắc này thì việc hoàn thiện mới có
hiệu quả, mang lại tính khả thi sau khi sửa đổi hoàn thiện và thống nhất giữa
BLDS và LTM. Nếu hoàn thiện LTM không thống nhất với mối quan hệ giữa luật
chung là BLDS và luật riêng phái sinh là LTM thì việc tiếp tục sửa đổi sẽ không
mang lại hiệu quả.
Thứ năm, hoàn thiện quy định về trách nhiệm pháp lý do vi phạm HĐTM phải
được xem xét trên mối quan hệ LTM là luật chung và các văn bản luật chuyên
ngành là luật phái sinh: việc hoàn thiện LTM phải xem xét trên cơ sở là luật
chung trong các hoạt động thương mại so với các văn bản luật riêng là luật chuyên
ngành. Vì vậy, khi sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành LTM phải xem xét như một
văn bản luật chung cho các hoạt động thương mại. Quy định về trách nhiệm pháp
lý do vi phạm HĐTM sửa đổi theo hướng khái quát chung cho nhiều hoạt động
thương mại mà không phải chỉ quy định riêng cho hoạt động mua bán, cung ứng
121
dịch vụ đang được quy định trong LTM 2005 như hiện nay. Quy định mang tính
mở, bao quát các hoạt động thương mại được quy định trong luật chuyên ngành.
Khi hoàn thiện LTM cần rà soát những quy định trong luật chuyên ngành tránh
trùng lắp những quy định đặc thù đã được quy định cho từng hoạt động thương
mại. Cần sửa những quy định trong các luật chuyên ngành phù hợp với LTM,
tránh trường hợp xung đột trong các hoạt động thương mại giữa luật chuyên ngành
và LTM. Ví dụ, Luật kinh doanh bất động sản quy định nếu một bên giao nhà
chậm cho bên kia thì chịu trách nhiệm phạt lãi bằng lãi suất thương mại của ngân
hàng, với quy định này không phù hợp với quy định phạt lãi quá hạn trong LTM,
trong thực tế có vụ tranh chấp thì được thẩm phán áp dụng theo LTM, có thẩm
phán áp dụng theo Luật kinh doanh bất động sản.
Thứ sáu, hoàn thiện trách nhiệm pháp lý do vi phạm HĐTM cần phải xem xét toàn
diện theo các vấn đề sau: Phải xây dựng chiến lược toàn diện để xây dựng hệ
thống pháp luật đồng bộ, phối hợp các hoạt động lập pháp, thực thi pháp luật, giáo
dục pháp luật. Hoàn thiện các quy định pháp luật về trách nhiệm pháp lý do vi
phạm HĐTM phải kết hợp hài hòa trong mối quan hệ với các quy phạm pháp luật
thương mại khác. Phải tuyên truyền phổ biến, giáo dục pháp luật sâu rộng đối với
các chủ thể, đặc biệt là các chủ thể kinh doanh qua các cuộc hội thảo, phổ biến
pháp luật thông qua hoạt động tìm hiểu pháp luật thương mại, xử lý vụ việc khi
xảy ra vi phạm hợp đồng do Tòa án, cơ quan tư pháp tổ chức định kỳ hàng năm,
thông báo này gửi đến tất cả các doanh nghiệp khuyến khích, bắt buộc tham
gia.Tổ chức các lớp tuyên truyền kỹ năng soạn thảo HĐTM đúng theo quy định
của pháp luật, tham gia các lớp tập huấn giải quyết vụ việc liên quan đến hợp đồng
có yếu tố nước ngoài cho các chủ thể kinh doanh. Hoàn thiện cơ chế thực thi pháp
luật, các cơ quan tòa án phải thường xuyên trao dồi chuyên môn nghiệp vụ nhằm
hiểu chính xác nội dung quy định pháp luật, phương thức áp dụng thống nhất giữa
các tòa án với nhau.Thái độ làm việc của cán bộ, công chức các cơ quan, cụ thể là
tòa án cần phải giảm thiểu và xóa bỏ triệt để cơ chế quan liêu. Bên cạnh đó, cần
phải trang bị cơ sở vật chất, nâng mức thu nhập, mức thu nhập gắn với trách
nhiệm của cán bộ, công chức. Tiếp tục cải cách thủ tục giải quyết vụ án, đáp ứng
kịp nhu cầu hội nhập, tránh tình trạng vụ kiện kéo dài quá nhiều thời gian gây tốn
kém chi phí cho Nhà nước và các chủ thể tranh chấp.
122
4.3. Các giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật Việt Nam về trách nhiệm
pháp lý do vi phạm hợp đồng thƣơng mại tại LTM năm 2005
Pháp luật thương mại hiện hành nói chung theo quan điểm của tác giả bao
gồm LTM 2005 và các văn bản luật chuyên ngành, vì vậy việc hoàn thiện LTM hiện
hành phải xem xét theo xu hướng luật chung cho hoạt động thương mại, khi đề xuất
hoàn thiện LTM 2005 phải đáp ứng ba thuộc tính đó là tính minh bạch, tính thống
nhất, tính hợp lý và tính khả thi. Trong phạm vi nghiên cứu, tác giả đưa ra một số
giải pháp hoàn thiện chế độ trách nhiệm pháp lý do vi phạm HĐTM, mà không đề
xuất hoàn thiện cho toàn bộ LTM 2005, tuy nhiên, tác giả đề xuất giải pháp cho nội
dung này cũng dựa trên các tiêu chí trên.
4.3.1. Hoàn thiện các quy định về vi phạm hợp đồng thƣơng mại
Tiếp tục ghi nhận việc quy định thuật ngữ vi phạm hợp đồng trong pháp luật
thương mại Việt Nam, tuy nhiên khái niệm vi phạm hợp đồng trong LTM 2005 cần
phải hoàn thiện một cách khái quát, sử dụng phương pháp trừu tượng hóa để quy
định, không nên sử dụng phương pháp liệt kê như LTM 2005 hiện nay. Khoản 12
Điều 3 LTM 2005 ghi nhận “vi phạm hợp đồng là việc một bên không thực hiện,
thực hiện không đầy đủ hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ theo thỏa thuận giữa
các bên hoặc theo quy định của Luật này”. Với quy định này thể hiện hai điểm
không phù hợp là: (i) Sử dụng phương pháp liệt kê nhưng không thể liệt kê được hết
tất cả các trường hợp vi phạm trong thực tiễn. (ii) hành vi không thực hiện đúng
nghĩa vụ không phải lúc nào cũng là vi phạm hợp đồng.
BLDS 2005 không đưa ra khái niệm vi phạm hợp đồng, mà quy định rải rác
những hành vi không thực hiện, thực hiện không đúng nghĩa vụ (khoản 1 Điều 302
BLDS 2005) và quy định cụ thể từng trường hợp như không thực hiện nghĩa vụ
giao vật, không thực hiện nghĩa vụ phải thực hiện, không thực hiện công việc,
chậm thực hiện nghĩa vụ, chậm tiếp nhận việc thực hiện nghĩa vụ…được xem là vi
phạm nghĩa vụ hợp đồng. Nội dung này, BLDS 2015 tiếp tục kế thừa theo quy
định của BLDS 2005.
CƯV, PICC cũng không đưa ra khái niệm về vi phạm hợp đồng mà quy định hành
vi không thực hiện, không thực hiện đúng hợp đồng là vi phạm hợp đồng. Pháp luật
hợp đồng của các quốc gia khác, một số quốc gia đưa ra khái niệm về vi phạm hợp
đồng và một số thì quy định rải rác các hành vi không thực hiện, không thể thực
123
hiện nghĩa vụ hợp đồng, chậm thực hiện nghĩa vụ hợp đồng được xem là vi phạm
hợp đồng.
Căn cứ thực tiễn áp dụng cho thấy khi phân tích tình tiết vụ việc vi phạm hợp
đồng, thông thường tòa án nêu và phân tích những hành vi cụ thể của chủ thể vi
phạm, nhưng khi kết luận thì xác định việc thực hiện không đúng hoặc không thực
hiện một hành vi nào đó của một bên, đó là vi phạm hợp đồng đối với bên kia và tòa
án xác định biện pháp trách nhiệm tương ứng để áp dụng cho hành vi vi phạm đó.
Như vậy, trên thực tế sẽ xuất hiện đa dạng hành vi vi phạm mà chúng ta không thể
liệt kê hết vào trong quy định của pháp luật, nên phải quy định khái quát, đúng bản
chất và khi căn cứ vào đó người có thẩm quyền sẽ xác định từng hành vi để soi vào
khái niệm (trong quy định pháp luật) để kết luận.
Kế thừa khái niệm vi phạm pháp luật được thống nhất trong lý luận nhà nước
và pháp luật của Việt Nam, LTM 2005 quy định về khái niệm vi phạm hợp đồng là
hợp lý, tuy nhiên, nội dung của khái niệm chưa đúng với bản chất của sự việc. Khi
quy định về vi phạm hợp đồng là hành vi không thực hiện, thực hiện không đúng
vẫn không bao quát hết được tất cả những vi phạm trong thực tiễn, vì vi phạm thể
hiện đa dang các hình thức khác nhau, vì thế liệt kê không phải là phương án tối ưu.
Hơn nữa, hành vi không thực hiện hợp đồng có thể được nói đến ở hình thức không
phải là hành vi vi phạm hợp đồng. Cho nên việc sử dụng các thuật ngữ này trong khái
niệm vi phạm hợp đồng là chưa phù hợp. Với quy định về khái niệm như trong LTM
2005 vẫn chưa hoàn toàn hợp lý về mặt lý luận, vì vậy theo quan điểm của tác giả cần
phải sửa đổi khoản 12 Điều 3 LTM 2005 như sau “Vi phạm hợp đồng là việc một bên
thực hiện hành vi trái với cam kết, xâm phạm quyền lợi hợp pháp của bên kia trong
HĐTM, bên vi phạm sẽ bị áp dụng các biện pháp trách nhiệm pháp lý tương ứng với
mức độ vi phạm”.
Đối với khái niệm vi phạm cơ bản được LTM 2005 quy định, cho đến hiện
nay thuật ngữ “vi phạm cơ bản” vẫn chưa có tính khả thi trong thực tiễn áp dụng,
hầu như các bản án đều sử dụng thuật ngữ vi phạm nghiêm trọng, tránh sử dụng
thuật ngữ vi phạm cơ bản vì thuật ngữ này tối nghĩa, khó giải thích, không phù hợp
với thực tiễn thỏa thuận giữa các bên trong hợp đồng. Thuật ngữ vi phạm cơ bản
không thể diễn tả đầy đủ hành vi vi phạm ở mức độ nặng nề để áp dụng biện pháp
trách nhiệm tương ứng. Trong nhiều văn bản luật nước ngoài trong đó có CƯV còn
sử dụng thuật ngữ này, đây là thuật ngữ LTM 2005 vay mượn từ nước ngoài, không
124
phù hợp với quy định trong các văn bản pháp luật khác của Việt Nam như BLDS,
các luật chuyên ngành, ngay cả trong BLHS Việt Nam hoặc các văn bản pháp luật
hành chính đều không sử dụng thuật ngữ này. Vì vậy để thống nhất với các văn bản
luật trong nước, không vay mượn thuật ngữ nước ngoài, gây ra tình trạng tối nghĩa
khi sử dụng chúng, chúng ta nên sử dụng thuật ngữ vi phạm nghiêm trọng sẽ phù
hợp hơn với thực tiễn áp dụng pháp luật. Theo quan điểm của tác giả, tại khoản 13
Điều 3 LTM 2005 cần sử dụng thuật ngữ vi phạm nghiêm trọng thay cho thuật ngữ
vi phạm cơ bản và khái niệm này được sửa đổi như sau “Vi phạm nghiêm trọng hợp
đồng là sự vi phạm hợp đồng của một bên gây thiệt hại cho bên kia làm cho bên
kia không đạt được mục đích của việc giao kết hợp đồng, theo đó mục đích này
được xác định từ khi hợp đồng được ký kết”. Với quy định này, mục đích hợp
đồng mà các bên muốn hướng đến phải được tính từ khi ký kết hợp đồng, mà
không phải phát sinh sau khi ký kết hợp đồng hoặc sau khi có hành vi vi phạm.
Ở đây cần phải hiểu rằng, khi bên bị thiệt hại hoàn toàn không đạt được mục
đích thì xác định là vi phạm nghiêm trọng, còn nếu không đạt được một phần nào
đó trong hợp đồng thì không bị xem là vi phạm nghiêm trọng, mà chỉ là vi phạm
không nghiêm trọng hợp đồng.
Ngoài những khái niệm đã được LTM 2005 quy định như vi phạm hợp đồng,
vi phạm nghiêm trọng hợp đồng. Bên cạnh đó, chúng ta thấy rằng những thuật ngữ
vi phạm trước thời hạn, vi phạm do các bên đều vi phạm trong hợp đồng cũng được
các nhà nghiên cứu luật pháp quan tâm. Những thuật ngữ này, không được đề cập
trong những văn bản pháp luật tại Việt Nam như LTM 2005, BLDS 2005, BLDS
2015. LTM 2005 trong chế tài hủy bỏ một phần hợp đồng, quy định nếu một bên vi
phạm với một lần giao hàng, cung ứng dịch vụ là cơ sở để kết luận rằng vi phạm cơ
bản đối với lần giao hàng, cung ứng dịch vụ kế tiếp, bên bị vi phạm có quyền tuyên
bố hủy bỏ hợp đồng. Theo các nhà nghiên cứu luật pháp cho rằng đây là quy định vi
phạm trước thời hạn. Nếu tách từng phần hợp đồng, từng phần hợp đồng vẫn tiếp
tục có hiệu lực bên cạnh những phần hợp đồng bị hủy. Tuy nhiên, không phải từng
phần hợp đồng hoàn toàn không có sự liên hệ lẫn nhau trong toàn bộ hợp đồng, vì
vậy khi một phần hợp đồng bị vi phạm, thì có thể được liên hệ rằng phần tiếp theo,
bên vi phạm sẽ không thực hiện đúng cam kết. Đây có thể xác nhận một phần hợp
đồng còn lại trong hợp đồng sẽ bị xem là vi phạm trước thời hạn khi một bên đã có
hành vi vi phạm đối với phần hợp đồng trước đó. Tuy vậy, nếu xét tổng thể hợp
125
đồng thì đã có hành vi vi phạm hợp đồng, không hoàn toàn gọi là vi phạm trước
thời hạn trong toàn bộ hợp đồng. BLDS 2005 quy định một bên có quyền hoãn thực
hiện nghĩa vụ nếu tài sản của bên kia bị giảm sút nghiêm trọng đến mức không thể
thực hiện nghĩa vụ như cam kết cho đến khi bên kia thực hiện nghĩa vụ hoặc có
người bảo lãnh. Đây là quyền tạm ngừng thực hiện nghĩa vụ khi đến hạn thực hiện
nghĩa vụ, tạm ngừng thực hiện nghĩa vụ này được lồng ghép vào hành vi chưa đến
hạn thực hiện nghĩa vụ của bên kia (nhưng bên này sẽ vi phạm nghĩa vụ khi đến hạn
vì tài sản không còn đảm bảo để thực hiện đúng cam kết). Với quy định này, LTM
2005, BLDS 2005, BLDS 2015 vẫn chưa thể hiện rõ ràng hình thức vi phạm hợp
đồng trước thời hạn và chưa xác định cụ thể quyền được áp dụng các loại trách
nhiệm pháp lý của bên bị vi phạm đối với hành vi vi phạm hợp đồng trước thời hạn.
Vi phạm hợp đồng trước thời hạn được các văn bản pháp luật quốc tế, pháp
luật của các quốc gia quy định rõ ràng về khái niệm, căn cứ áp dụng, hậu quả của
việc áp dụng, rủi ro cho bên áp dụng trách nhiệm đối với bên vi phạm. Vì vậy, pháp
luật quốc tế rất xem trọng việc chứng minh, chứng cứ xác định rõ ràng (như tuyên
bố bằng văn bản, lời nói của bên vi phạm, hành động cụ thể) về hành vi vi phạm
trước thời hạn, việc chứng minh này bên bị vi phạm phải xác nhận rõ mà không
phải là suy luận. Tránh trường hợp suy luận, phỏng đoán sẽ dẫn đến hậu quả, vi
phạm ngược (bên cho rằng bên kia vi phạm hợp đồng trước thời hạn). Khi đã xác
định rõ về vi phạm trước thời hạn, một bên sẽ áp dụng các biện pháp trách nhiệm
làm chấm dứt hợp đồng (hủy hợp đồng) yêu cầu bên vi phạm BTTH. Văn bản pháp
luật Việt Nam không quy định rõ ràng đối với vi phạm trước thời hạn về căn cứ xác
định, hậu quả pháp lý, rủi ro cho bên áp dụng, trách nhiệm áp dụng cho bên vi phạm
(chấm dứt hợp đồng), chỉ quy định đối với vi phạm trước thời hạn (gây thiệt hại
nghiêm trọng) thì áp dụng biện pháp tạm ngừng thực hiện nghĩa vụ hoặc vi phạm
trước thời hạn khi có vi phạm một phần hợp đồng thì áp dụng hủy các phần hợp
đồng còn lại. Quy định này của nước ta chưa phù hợp với quốc tế về vi phạm hợp
đồng trước thời hạn và biện pháp trách nhiệm áp dụng tương ứng.
Thực tiễn áp dụng về hành vi vi phạm hợp đồng trước thời hạn, trong các vụ
án về tranh chấp HĐTM, trong trường hợp một bên đã bán tài sản cho bên khác
trước thời hạn thực hiện nghĩa vụ hợp đồng, tòa án chấp nhận cho bên mua quyền
lựa chọn là buộc thực hiện hợp đồng hoặc hủy hợp đồng. Tuy nhiên, trong trường
hợp này tòa án chấp nhận yêu cầu buộc thực hiện nghĩa vụ hợp đồng. Vậy trong
126
trường hợp vi phạm trước thời hạn bên bị vi phạm có thể yêu cầu buộc thực hiện
hợp đồng hoặc hủy hợp đồng. Thông qua vụ việc trên, vi phạm trước thời hạn của
một bên thể hiện qua hành động cụ thể là bán tài sản cho bên khác, đây là hành vi
chứng minh cụ thể, bên bị vi phạm có thể chấm dứt hợp đồng thông qua hình thức
hủy hợp đồng. Bên vi phạm trước thời hạn thông qua hành vi tuyên bố từ bỏ hợp
đồng của bên vi phạm hợp đồng trước thời hạn như trong vụ giải quyết trên thực tế,
trong trường hợp này, một bên có quyền hủy hợp đồng và yêu cầu BTTH.
Theo quy định của văn bản LTM 2005, BLDS 2005 và quy định của các công
ước quốc tế, một số quốc gia trên thế giới và thực tiễn áp dụng về vi phạm trước
thời hạn, theo quan điểm của tác giả, LTM 2005 cần quy định về khái niệm như sau
“Vi phạm hợp đồng trước thời hạn là việc một bên có căn cứ xác định bên kia sẽ
không thực hiện đúng theo cam kết trong hợp đồng khi đến hạn thực hiện nghĩa vụ
hợp đồng, theo đó bên bị vi phạm sẽ áp dụng các biện pháp trách nhiệm pháp lý
tương ứng đối với hành vi vi phạm của bên vi phạm”. Với quy định như vậy, sẽ giải
quyết được những hành vi vi phạm trước thời hạn, xác định được căn cứ xác định vi
phạm, hậu quả khi áp dụng các loại trách nhiệm khi có hành vi vi phạm này.
Các văn bản pháp luật Việt Nam không quy định về vi phạm do các bên đều vi
phạm. Tuy nhiên trong các văn bản quốc tế như CƯV, PICC có quy định về hành vi
này, khi các bên đều vi phạm. Pháp luật của các quốc gia khác như pháp luật Trung
Quốc quy định khi các bên trong hợp đồng đều vi phạm mỗi bên phải chịu trách
nhiệm tương ứng với hành vi vi phạm của mình, các bên có thể bù trừ trách nhiệm
cho nhau. Mặc dù thiếu căn cứ pháp lý, tuy nhiên tòa án vẫn linh hoạt xem xét giải
quyết khi các bên có hành vi vi phạm, mỗi bên sẽ phải chịu áp dụng loại trách
nhiệm tương ứng với hành vi vi phạm của mình, nhưng bên có hành vi vi phạm mức
độ thấp hơn sẽ được quyền ưu tiên áp dụng loại trách nhiệm cho bên kia. Tuy nhiên,
mỗi bên đều bị bù trừ trách nhiệm tương ứng, bên vi phạm mức độ nặng hơn sẽ phải
tiếp tục bồi thường mức độ chênh lệch còn lại. Xuất phát từ quy định của các quốc
gia trên thế giới và thực tiễn áp dụng của Việt Nam, cho thấy quy định về vấn đề
này LTM 2005 cần hoàn thiện “Khi các bên đều có hành vi vi phạm hợp đồng, thì
tương ứng với mức độ vi phạm, mỗi bên phải chịu trách nhiệm tương ứng với hành
vi vi phạm của mình, các bên có thể bù trừ trách nhiệm cho nhau. Bên có hành vi vi
phạm mức độ thấp hơn sẽ được ưu tiên áp dụng loại trách nhiệm tương ứng với
hành vi phạm đối với bên có hành vi vi phạm nặng hơn”.
127
Cần phải khẳng định hành vi vi phạm khi bên thứ ba thực hiện hành vi vi
phạm “Một bên vi phạm hợp đồng do hành vi vi phạm của bên thứ ba gây nên thì
bên này phải chịu áp dụng các biện pháp trách nhiệm pháp lý tương ứng với hành
vi vi phạm đối với bên bị vi phạm, trừ trường hợp xảy ra SKBKK mà bên thứ ba
không thể thực hiện nghĩa vụ hợp đồng với bên vi phạm”.
4.3.2. Hoàn thiện căn cứ xác định trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng
thƣơng mại
LTM 2005 quy định căn cứ xác định trách nhiệm BTTH khi có hành vi vi
phạm hợp đồng, có thiệt hại thực tế, hành vi vi phạm hợp đồng là nguyên nhân trực
tiếp gây ra thiệt hại. BLDS 2015 không quy định khái quát các căn cứ xác định
trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng cho tất cả các loại trách nhiệm pháp lý do
vi phạm nghĩa vụ dân sự hoặc vi phạm hợp đồng mà quy định rải rác trong các điều
luật như căn cứ có hành vi vi phạm hợp đồng (thể hiện những hành vi như không
thực hiện hợp đồng, chậm thực hiện nghĩa vụ, chậm tiếp nhận việc thực hiện..); có
thiệt hại về vật chất thực tế và thiệt hại về tinh thần; hành vi vi phạm là nguyên
nhận trực tiếp gây ra thiệt hại (hành vi chậm tiếp nhận thực hiện nghĩa vụ hợp đồng
làm phát sinh thiệt hại…) và căn cứ yếu tố lỗi cố ý và vô ý là căn cứ xác định trách
nhiệm dân sự. Căn cứ phát sinh trách nhiệm về BTTH trong BLDS 2015 khác LTM
2005 là yếu tố lỗi.
Ngoài ra, căn cứ xác định trách nhiệm BTTH, LTM 2005 quy định căn cứ
xác định cho từng biện pháp trách nhiệm pháp lý do vi phạm HĐTM như căn cứ vi
phạm hợp đồng sẽ được áp dụng biện pháp buộc thực hiện nghĩa vụ hợp đồng, phạt
lãi, giảm giá, thực hiện nghĩa vụ thay thế; căn cứ có thỏa thuận và vi phạm hợp
đồng áp dụng hình thức phạt vi phạm; căn cứ vi phạm cơ bản hoặc hành vi thỏa
thuận về vi phạm áp dụng loại trách nhiệm tạm ngừng thực hiện hợp đồng, đình chỉ
thực hiện hợp đồng, hủy hợp đồng, hơn nữa căn cứ thông báo là cần thiết khi áp
dụng các biện pháp trách nhiệm này.
Trong thực tiễn áp dụng, các căn cứ trên đều được xem xét khi tòa án giải
quyết tranh chấp, tuy nhiên đối với căn cứ lỗi, mặc dù không được LTM quy định
lỗi là căn cứ xem xét khi áp dụng trách nhiệm, nhưng lỗi cố ý của bên vi phạm vẫn
được tòa án khi giải quyết tranh chấp HĐTM phân tích, lỗi cố ý được tòa án xem
là hành vi vi phạm nghiêm trọng khi áp dụng trách nhiệm pháp lý cho bên vi phạm,
khi bên vi phạm thực hiện hành vi vi phạm với lỗi cố ý, tòa án áp dụng mức trách
128
nhiệm cao nhất. Hơn nữa, căn cứ xác định thiệt hại thực tế chưa chính xác khi áp
dụng trách nhiệm đối với vi phạm trước thời hạn, các bên không thể xác định được
thiệt hại thực tế mà chỉ xác định thiệt hại dự tính ngay từ khi ký kết hợp đồng nếu
có hành vi vi phạm xảy ra.
Vi phạm cơ bản là căn cứ áp dụng trách nhiệm tạm ngừng thực hiện hợp
đồng, nhưng thông thường, chỉ cần hành vi vi phạm thì tòa án chấp nhận áp dụng
biện pháp tạm ngừng thực hiện hợp đồng, việc quy định chỉ có hành vi vi phạm cơ
bản được áp dụng tạm ngừng thực hiện hợp đồng là chưa hợp lý. Ngoài ra, những
hành vi thỏa thuận để áp dụng biện pháp tạm ngừng, đình chỉ, hủy hợp đồng, trên
thực tế các chủ thể vẫn chưa soạn thảo chi tiết cho từng hành vi vi phạm của một
bên để áp dụng các biện pháp trách nhiệm này, vì vậy khi các bên quy định chung
chung trong hợp đồng tòa án không chấp nhận những trường hợp như vậy.
Các căn cứ quy định trong LTM hiện nay chưa đầy đủ so với thực tế áp dụng ,
khi giải quyết vụ án, tòa án xem xét căn cứ khiếu nại, khi một bên muốn áp dụng
các biện pháp trách nhiệm pháp lý cho bên vi phạm cần xem xét bên đó có hành
động khiếu nại trong thời hạn quy định hay không, nếu có hành vi khiếu nại thì bên
này có quyền yêu cầu áp dụng các loại trách nhiệm pháp lý.
Tóm lại, tác giả đề xuất hoàn thiện các quy định về căn cứ xác định trách
nhiệm trong LTM 2005 như sau: đối với căn cứ thiệt hại, cần sửa theo xu hướng
ngoài căn cứ thiệt hại thực tế hoặc căn cứ thiệt hại dự tính khi giao kết hợp đồng.
Bên cạnh đó, lỗi cố ý là căn cứ xác định để xác định loại trách nhiệm pháp lý ở mức
độ nặng hơn khi vi phạm hợp đồng. Bỏ căn cứ vi phạm cơ bản áp dụng biện pháp
trách nhiệm tạm ngừng thực hiện hợp đồng, nên quy định vi phạm hợp đồng là căn
cứ áp dụng trường hợp tạm ngừng thực hiện nghĩa vụ hợp đồng, việc tạm ngừng
thực hiện hợp đồng tương ứng với mức độ vi phạm hợp đồng. Khi xác định trách
nhiệm khiếu nại là căn cứ bắt buộc khi áp dụng trách nhiệm do vi phạm hợp đồng.
Quy định về căn cứ khiếu nại là tác dụng có hiệu quả để các bên trong hợp đồng
quan tâm hơn về việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình, tích cực theo dõi
những sự thay đổi, tiến trình thực hiện, kết thúc hợp đồng của mình.
Bên cạnh đó, thông báo là một trong những căn cứ khi áp dụng biện pháp
trách nhiệm, theo LTM 2005, khi các bên áp dụng biện pháp tạm ngừng, đình chỉ,
hủy hợp đồng, bên bị vi phạm phải thông báo cho bên vi phạm về việc áp dụng các
biện pháp này. Nếu không thông báo mà áp dụng thì sẽ chịu trách nhiệm nếu có
129
thiệt hại, thậm chí bên vi phạm có quyền luận giải rằng, bên vi phạm không chấp
nhận việc áp dụng các loại trách nhiệm này, vì hợp đồng không tự động chấm dứt mà
phải có hành vi thông báo. Trừ những trường hợp bên bị vi phạm đã cho áp dụng biện
pháp buộc thực hiện đúng hợp đồng hoặc gia hạn trong một thời gian cố định để bên
kia thực hiện, có kèm theo nội dung, hết thời hạn gia hạn mà bên vi phạm không thực
hiện hợp đồng thì xem như hợp đồng bị hủy. Vậy căn cứ thông báo cần đưa vào LTM
2005 như một điều kiện để xác định trách nhiệm pháp lý do vi phạm HĐTM như sau
“Bên bị vi phạm phải thông báo ngay về việc áp dụng các biện pháp trách nhiệm
pháp lý do vi phạm HĐTM cho bên vi phạm, nếu không thông báo gây thiệt hại thì
bên bị vi phạm chịu trách nhiệm”.
4.3.3. Hoàn thiện quy định về biện pháp trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp
đồng thƣơng mại
Cách quy định về tên chương chế tài trong thương mại trong LTM 2005, có
sự không đồng nhất trong bản chất giữa tên chương này trong LTM 2005 và biện
pháp buộc thực hiện hợp đồng. Ở đây, nếu một bên yêu cầu bên kia thực hiện hợp
đồng mà không yêu cầu các biện pháp trách nhiệm khác thì biện pháp này không
phải là một biện pháp chế tài, đây là nghĩa vụ thực hiện trong hợp đồng. Vì việc
thực hiện nghĩa vụ không gây hậu quả bất lợi cho bên vi phạm, chính vì vậy, theo
quan điểm của tác giả cần sửa tên chương VII và Mục 1 LTM 2005 thành “trách
nhiệm pháp lý do vi phạm HĐTM”.
Cách quy định loại trách nhiệm trong LTM 2005 và BLDS 2005 không
giống nhau, BLDS 2005 hoặc BLDS 2015 quy định rải rác trong các điều luật
không mang tính khái quát như LTM. Trong đó, hình thức tạm ngừng thực hiện hợp
đồng trong LTM 2005 và hoãn thực hiện nghĩa vụ trong BLDS 2005 hoặc BLDS
2015 cần phải quy định thống nhất với nhau, theo tác giả nên sửa tên thành tạm
ngừng sẽ cụ thể hơn, không gây nhầm lẫn với việc bên bị vi phạm cho bên kia gia
hạn trách nhiệm hoặc nghĩa vụ thực hiện hợp đồng. Các văn bản luật quốc tế sử
dụng thuật ngữ “suspend” ngừng lại việc thực hiện trách nhiệm hợp đồng. Trên thực
tế áp dụng biện pháp này, một bên áp dụng cho bên vi phạm, nhưng nhiều bản án
phân tích như là hành vi vi phạm các bên trong hợp đồng đều vi phạm là chưa chính
xác, cần phải công nhận hình thức tạm ngừng mà một bên áp dụng cho bên kia là
hoàn toàn đúng, đó không phải là vi phạm.
130
Ngoài ra, biện pháp đình chỉ thực hiện hợp đồng trong LTM 2005 không
đồng nhất với tên gọi đơn phương chấm dứt hợp đồng trong BLDS 2005 hoặc
BLDS 2015, trên thực tế giải quyết vụ án, tòa án không áp dụng biện pháp đình chỉ
hoặc đơn phương chấm dứt mà thay vào đó là chấm dứt hợp đồng hoặc hủy hợp
đồng. Nhiều bản án không phân định được giữa hủy và đình chỉ hoặc đơn phương
chấm dứt. Với quy định trên thế giới chỉ quy định hình thức hủy hợp đồng và một
số quốc gia chia thành hủy có hồi tố và hủy không có hồi tố. Vì vậy, không nên sử
dụng thuật ngữ đình chỉ hoặc đơn phương chấm dứt hợp đồng là phù hợp.
Nhóm biện pháp trách nhiệm được quy định tại Điều 292 LTM 2005 nên bỏ
loại trách nhiệm đình chỉ thực hiện hợp đồng, thêm vào hình thức giảm giá hợp
đồng, thay thế thực hiện hợp đồng, cầm giữ tài sản do không thực hiện đầy đủ nghĩa
vụ hợp đồng, phạt lãi do vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Riêng hình thức phạt vi
phạm nên cho các bên tự thỏa thuận như một điều khoản trong hợp đồng, không nên
đưa vào hệ thống các biện pháp trách nhiệm tại Điều 292 LTM 2005 , trao cho các
thương nhân quyền tự do thỏa thuận, tự họ nhận biết được những rủi ro phải chịu
trong kinh doanh, tự điều chỉnh việc đảm bảo cho hợp đồng được thực hiện nghiêm
túc. Vì vậy Điều 292 LTM 2005 sẽ bao gồm các biện pháp như buộc thực hiện hợp
đồng, BTTH, phạt lãi, giảm giá hợp đồng, thay thế thực hiện hợp đồng tạm ngừng
thực hiện hợp đồng, hủy hợp đồng.
- Trách nhiệm buộc thực hiện đúng hợp đồng: LTM 2005 quy định buộc thực
hiện đúng hợp đồng là việc bên bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm thực hiện đúng hợp
đồng hoặc dùng các biện pháp khác để hợp đồng được thực hiện và bên vi phạm
phải chịu chi phí phát sinh. BLDS năm 2005 quy định hình thức bên bị vi phạm yêu
cầu bên vi phạm thực hiện nghĩa vụ hợp đồng theo đúng cam kết, những hành vi vi
phạm được quy định cụ thể theo các điều luật khác nhau trong từng loại hợp đồng ví
dụ như hợp đồng mua bán tài sản BLDS 2005 hoặc BLDS 2015 có các hành vi như
giao vật không đúng số lượng, giao vật không đồng bộ, giao vật không đúng chất
lượng, nhưng không quy định hành vi vi phạm không giao vật, hành vi này được
quy định chung trong Mục trách nhiệm dân sự như trách nhiệm dân sự do không
thực hiện nghĩa vụ. BLDS năm 2015 quy định tương tự BLDS năm 2005. Các
BLDS không đưa ra khái niệm về biện pháp trách nhiệm buộc thực hiện đúng hợp
đồng mà quy định bằng hình thức liệt kê từng hành vi vi phạm nghĩa vụ và trách
nhiệm phải thực hiện từng hành vi vi phạm nghĩa vụ. LTM quy định khái quát về
131
loại trách nhiệm buộc thực hiện đúng hợp đồng là phù hợp hơn so với quy định của
các BLDS, tuy nhiên khái niệm buộc thực hiện đúng hợp đồng của LTM 2005 là
chưa khả thi trong thực tiễn áp dụng, đối với những hợp đồng cố định thời hạn thực
hiện hợp đồng, thì việc thực hiện đúng nghĩa vụ hợp đồng là không thể nào thực
hiện đúng như giao kết ban đầu. Vì vậy, nên sửa đổi khoản 1 Điều 297 LTM 2005
theo phương án “Buộc thực hiện đúng hợp đồng là khi bên vi phạm có hành vi vi vi
phạm hợp đồng thì bên bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm tiếp tục thực hiện nghĩa vụ
hợp đồng và bên vi phạm phải chịu các chi phí phát sinh nếu có. Bên vi phạm không
được giao hàng hóa, dịch vụ khác chủng loại, khác dịch vụ để thay thế nếu không
được bên bị vi phạm chấp nhận”. Việc quy định từ “hoặc” trong khái niệm theo
LTM 2005 có nghĩa bên bị vi phạm vừa được áp dụng biện pháp trách nhiệm buộc
thực hiện đúng hợp đồng vừa có thể được chọn biện pháp khác thay thế để hợp
đồng được thực hiện là không chính xác. Cần phải tách hai hành vi này ra thành hai
loại trách nhiệm pháp lý khác nhau.
Khoản 2 Điều 297 LTM 2005 không có ý nghĩa trong thực tiễn áp dụng vì
những hành vi giao thiếu hàng, cung ứng dịch vụ không đúng thì phải giao đủ là
những hành vi vi phạm hợp đồng được liệt kê cụ thể, những hành vi này được quy
định tương ứng với nghĩa vụ thực hiện trong từng loại hợp đồng, không cần thiết
liệt kê lại trong phần biện pháp trách nhiệm này. Cần giữ một điểm tại khoản 2 Điều
297 LTM 2005 để đưa vào khoản 1.
Khoản 3 Điều 297 LTM năm 2005 cần tách ra thành điều khoản riêng đó là
biện pháp trách nhiệm thay thế thực hiện nghĩa vụ hợp đồng “Trong trường hợp bên
vi phạm không thực hiện theo yêu cầu buộc thực hiện đúng nghĩa vụ hợp đồng của
bên bị vi phạm, thì bên bị vi phạm có quyền tự thực hiện hoặc mua hàng, nhận dịch
vụ của bên khác để thay thế theo đúng chủng loại hàng hóa, dịch vụ ghi trong hợp
đồng và bên vi phạm phải trả khoản tiền chênh lệch và chi phí phát sinh nếu có”
“Bên bị vi phạm tự thực hiện hoặc mua hàng, nhận dịch vụ của bên khác theo giá
thị trường tại nơi giao kết hợp đồng với bên vi phạm”.
Khoản 4 Điều 297 LTM 2005 cần bỏ, vì việc bên vi phạm đã thực hiện đúng
nghĩa vụ hợp đồng, bên bị vi phạm phải có nghĩa vụ thanh toán tiền hàng, hành vi
này đã được quy định trong phần nghĩa vụ, vì trong trường hợp này bên bị vi phạm
không phải là bên có hành vi vi phạm cho nên việc quy định nghĩa vụ thanh toán
hoặc nhận hàng, dịch vụ trong phần trách nhiệm do vi phạm hợp đồng là không hợp lý.
132
Trong thực tiễn áp dụng cho thấy, đối với những hợp đồng vi phạm nghĩa vụ
thanh toán, tòa án không căn cứ theo Điều 297 LTM 2005 buộc thực hiện đúng hợp
đồng mà căn cứ các điều khoản nghĩa vụ trả tiền trong phần quyền và nghĩa vụ. Tòa
án nhầm lẫn giữa biện pháp trách nhiệm và thực hiện nghĩa vụ, hơn nữa biện pháp
buộc thực hiện đúng nghĩa vụ không nêu hành vi này, nên tòa án lúng túng trong căn
cứ áp dụng. Khoản 5 Điều 297 LTM 2005 cần phải tách riêng ra thành một điều luật
để phù hợp hơn với thực tiễn áp dụng, đó là điều luật về buộc thực hiện trách nhiệm
thanh toán “Trường hợp một bên vi phạm nghĩa vụ thanh toán, bên bị vi phạm có
quyền yêu cầu bên vi phạm thanh toán tiền và yêu cầu thanh toán tiền lãi quá hạn
thanh toán nếu có”.
Khi áp dụng tòa án luôn tôn trọng quyền quyết định của bên bị vi phạm trong
việc cho phép bên vi phạm gia hạn việc thực hiện nghĩa vụ. Nếu bên bị vi phạm
chấp nhận thì bên vi phạm được gia hạn việc thực hiện nghĩa vụ, nếu không chấp
nhận thì bên vi phạm không được phép gia hạn việc thực hiện hợp đồng. Vì vậy,
quy định Điều 298 LTM 2005 là thừa, cần được bãi bỏ trong phần quy định của
biện pháp trách nhiệm buộc thực hiện đúng hợp đồng.
Điều 299 LTM 2005 cho thấy, bên bị vi phạm không được áp dụng các chế tài
khác ngoài phạt vi phạm và BTTH khi đang yêu cầu thực hiện đúng hợp đồng, trừ
trường hợp có thỏa thuận khác. Vậy có nghĩa là bên bị vi phạm không được áp dụng
bất kỳ chế tài nào khác. Quy định không có tính khả thi, trên thực tế vẫn được áp
dụng nhiều biện pháp khác như phạt lãi, yêu cầu giảm giá,… Vậy nên phải sửa
khoản 1 Điều 299 LTM 2005 “Trừ trường hợp có thỏa thuận khác,…..bên bị vi
phạm có quyền áp dụng các trách nhiệm khác nhưng không được áp dụng trách
nhiệm hủy hợp đồng”. Khoản 2 “Trong trường hợp …. Trách nhiệm buộc thực hiện
đúng hợp đồng trong thời hạn mà bên bị vi phạm ấn định, bên bị vi phạm được áp
dụng trách nhiệm hủy hợp đồng”.
Vì tên chương thay đổi nên Điều 299 LTM 2005 cần đổi tên cho hợp lý “Quan
hệ giữa trách nhiệm buộc thực hiện đúng hợp đồng và các biện pháp trách nhiệm
khác”.
Về biện pháp trách nhiệm giảm giá, với loại trách nhiệm này, chưa được LTM
2005, BLDS 2005, BLDS 2015 quy định như một loại trách nhiệm pháp lý do vi
phạm hợp đồng, quy định rải rác trong một số điều luật trong một số hợp đồng quy
định như nghĩa vụ của một bên. Với quy định như vậy, không phù hợp với việc khi
133
một bên vi phạm hợp đồng về giao hàng kém chất lượng so với thỏa thuận, nhưng
các bên không sửa chữa hàng kém chất lượng bằng cách bồi thường hoặc thay hàng
phù hợp mà sử dụng biện pháp trách nhiệm là giảm giá hàng hóa, dịch vụ. Vậy có
hành vi vi phạm hợp đồng, thì tương ứng với hành vi vi phạm là áp dụng trách
nhiệm mà không phải là nghĩa vụ. Qua đây, chúng ta có thể quy định thành một
điều luật về trách nhiệm giảm giá hàng hóa, dịch vụ “Khi một bên giao hàng hóa,
cung ứng dịch vụ không đúng với chất lượng như thỏa thuận trong hợp đồng, bên bị
vi phạm có quyền giảm giá hàng hóa, dịch vụ tương ứng với hành vi vi phạm”.
Trong hình thức nhằm duy trì thực hiện hợp đồng, đối với hành vi vi phạm dưới
dạng thực hiện không đúng, đủ hợp đồng, bên bị vi phạm có thể áp dụng buộc thực
hiện đúng hợp đồng hoặc vẫn chấp nhận hành vi thực hiện đó (tức là vẫn nhận hàng,
dịch vụ trong trường hợp hàng hóa, dịch vụ nhận được không đúng thỏa thuận)
nhưng yêu cầu giảm giá tương ứng với mức độ vi phạm.
- Trách nhiệm phạt vi phạm: LTM 2005 quy định về phạt vi phạm là việc bên bị
vi phạm yêu cầu bên vi phạm trả một khoản tiền phạt do vi phạm hợp đồng nếu
trong hợp đồng có thỏa thuận, trừ trường hợp miễn trách nhiệm. Mức phạt vi phạm
đối với vi phạm nghĩa vụ hợp đồng hoặc tổng mức phạt đối với nhiều vi phạm do
các bên thỏa thuận trong hợp đồng nhưng không quá 8% giá trị nghĩa vụ hợp đồng
bị vi phạm, trừ trường hợp quy định tại Điều 266 của Luật này.
BLDS 2005 quy định phạt vi phạm là sự thỏa thuận giữa các bên trong hợp
đồng, theo đó bên vi phạm nghĩa vụ phải nộp một khoản tiền cho bên bị vi phạm.
Mức phạt do các bên thỏa thuận. Các bên có thể thỏa thuận về việc bên vi phạm
nghĩa vụ chỉ phải nộp tiền phạt vi phạm mà không phải BTTH hoặc vừa phải nộp
phạt vừa và vừa phải BTTH, nếu không có thỏa thuận trước về mức BTTH thì phải
bồi thường toàn bộ. Trong trường hợp các bên không thỏa thuận về BTTH thì bên
vi phạm nghĩa vụ chỉ phải nộp tiền phạt vi phạm.
BLDS 2015 quy định phạt vi phạm là sự thoả thuận giữa các bên trong hợp
đồng, theo đó bên vi phạm nghĩa vụ phải nộp một khoản tiền cho bên bị vi phạm.
Mức phạt vi phạm do các bên thoả thuận, trừ trường hợp luật liên quan có quy định
khác. Các bên có thể thoả thuận về việc bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải chịu phạt vi
phạm mà không phải BTTH hoặc vừa phải chịu phạt vi phạm và vừa phải
BTTH.Trường hợp các bên có thoả thuận về phạt vi phạm nhưng không thỏa thuận
134
về việc vừa phải chịu phạt vi phạm và vừa phải BTTH thì bên vi phạm nghĩa vụ chỉ
phải chịu phạt vi phạm.
Pháp luật về hợp đồng của một số quốc gia trên thế giới, các văn bản luật hợp
đồng quốc tế không quy định biện pháp trách nhiệm này, loại trách nhiệm này được
xem như nội dung trong hợp đồng, nhưng khi một bên cố ý đưa ra mức phạt vi
phạm cao nhằm trục lợi thì tòa án được quyền hạ thấp so với mức thỏa thuận.
Một số loại hợp đồng trong LTM 2005 như hợp đồng giám định mức phạt do
các bên thỏa thuận , nếu một bên vô ý giám định sai kết quả, nhưng không vượt quá
mười lần thù lao dịch vụ giám định. Luật Xây dựng quy định phạt vi phạm do thỏa
thuận không vượt quá mức phạt 12% phần giá trị vi phạm.
Thực tế áp dụng về biện pháp trách nhiệm phạt vi phạm, mặc dù là HĐTM
nhưng một số tòa án vẫn áp dụng không theo mức giới hạn như LTM năm 2005, mà
theo thỏa thuận của các bên. Nếu các bên có thỏa thuận phạt vi phạm, có thiệt hại
thì vừa áp dụng phạt vi phạm vừa áp dụng BTTH. Nếu không có thỏa thuận phạt vi
phạm, có thiệt hại thì BTTH. Không có trường hợp vừa có thỏa thuận phạt vi phạm
và vừa không thỏa thuận BTTH. Mà trong thực tế, nếu có thỏa thuận phạt vi phạm,
nhưng không có thỏa thuận về BTTH, nhưng có thiệt hại xảy ra vẫn áp dụng vừa
phạt vi phạm vừa BTTH.
Với thực tiễn quy định của pháp luật về phạt vi phạm và thực tiễn áp dụng
những quy định pháp luật cho thấy, việc quy định về phạt vi phạm trong các biện
pháp trách nhiệm pháp lý do vi phạm HĐTM là không cần thiết. Cần tôn trọng
quyền tự do hợp đồng, nên để các bên tự thỏa thuận phạt vi phạm như một nội dung
trong hợp đồng, không cần phải quy định trong LTM 2005 và nếu các bên cố tình
thỏa thuận phạt vi phạm như một nội dung trong hợp đồng để nhằm trục lợi, đi
ngược lại mục đích của hợp đồng, cơ quan xét xử sẽ có quyền không công nhận
những nội dung thỏa thuận trong hợp đồng đó. Còn nếu thỏa thuận phạt vi phạm mà
hai bên đều tự nguyện, thiện chí, đồng thuận khi giao kết hợp đồng thì cần phải
công nhận thỏa thuận này. Vì vậy, nên bãi bỏ biện pháp trách nhiệm phạt vi phạm
trong LTM 2005.
- Trách nhiệm buộc BTTH do vi phạm hợp đồng: BTTH là việc bên vi phạm bồi
thường những tổn thất do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra cho bên bị vi phạm. Giá
trị BTTH bao gồm giá trị tổn thất thực tế, trực tiếp mà bên bị vi phạm phải chịu do
135
bên vi phạm gây ra và khoản lợi trực tiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ được hưởng
nếu không có hành vi vi phạm.
BLDS 2005 quy định bồi thường những thiệt hại vật chất và bù đắp thiệt hại
tinh thần, trong đó thiệt hại vật chất là những thiệt hại thực tế như tổn thất về tài
sản, chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế, khắc phục thiệt hại, thu thập thực tế bị
mất hoặc bị giảm sút, còn thiệt hại về tinh thần gồm tính mạng, sức khỏe, danh dự,
uy tín. Tất cả bồi thường bằng vật chất hay tinh thần đều quy ra thành tiền để bồi
thường.
BLDS 2015 quy định khi có vi phạm nghĩa vụ bên có nghĩa vụ phải bồi
thường toàn bộ thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận .Thiệt hại do vi phạm nghĩa
vụ bao gồm thiệt hại về vật chất và thiệt hại về tinh thần. Thiệt hại về vật chất là tổn
thất vật chất thực tế xác định được, bao gồm tổn thất về tài sản, chi phí hợp lý để
ngăn chặn, hạn chế, khắc phục thiệt hại, thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút.
Thiệt hại về tinh thần là tổn thất về tinh thần do bị xâm phạm đến tính mạng, sức
khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín và các lợi ích nhân thân khác của một chủ thể.
BLDS 2015 bỏ quy định BTTH được quy ra thành tiền như trong BLDS 2005
và quy định trường hợp BTTH có thể được xác định như một biện pháp trách nhiệm
mà các bên có thỏa thuận trong hợp đồng.
Bộ nguyên tắc PICC quy định BTTH cả về vật chất và tinh thần nhưng không
nhất thiết phải quy ra thành tiền khi bồi thường, trong trường hợp bồi thường bằng
tiền, bộ nguyên tắc quy định về đồng tiền bồi thường, BTTH là bồi thường toàn bộ
thiệt hại, có thể bồi thường dự đoán đối với những trường hợp không xác định thiệt
hại thực tế, những thiệt hại về chi phí đi lại, dịch thuật, luật sư đều được xem xét để
bồi thường. PICC còn quy định nếu một bên bồi thường không đúng theo quy định
thì phải chịu lãi suất. Ngoài ra, thiệt hại là tổn thất thật sự mà bên bị vi phạm đã
gánh chịu do hành vi vi phạm của bên vi phạm, nên bộ nguyên tắc không quy định
bên bị vi phạm phải chứng minh, vì bộ nguyên tắc cho rằng nếu như bên bị vi phạm
không chứng minh được thiệt hại thì có nghĩa bên này không được bồi thường mặc
dù thiệt hại là có thật. Vì vậy, Bộ nguyên tắc không cho rằng, việc chứng minh thiệt
hại từ bên bị vi phạm là bắt buộc.
Trong thực tiễn áp dụng trách nhiệm biện pháp BTTH về tranh chấp HĐTM,
tòa án yêu cầu bồi thường những thiệt hại về vật chất còn những thiệt hại về tinh
thần như uy tín của doanh nghiệp chưa được tòa án xem xét trong vi phạm HĐTM.
136
Chi phí luật sư, chi phí đi lại, dịch thuật vẫn chưa được tòa án thống nhất xem là
thiệt hại phải bồi thường. Những trường hợp bên vi phạm tuyên bố từ bỏ hợp đồng,
tức là hợp đồng bị hủy do bên vi phạm trước thời hạn, nhưng tòa án không nhận
định là thiệt hại dự đoán khi ký kết hợp đồng , mà chỉ xem đó là thiệt hại thực tế là
chưa phù hợp. Vấn đề về thời hạn trả tiền BTTH, nếu quá thời hạn quy định mà
không bồi thường thì tòa án vẫn chấp nhận việc tính lãi suất khi không bồi thường
đúng hạn. Mặc dù quy định này LTM chưa đề cập đến.
Biện pháp trách nhiệm BTTH tác giả kiến nghị sửa theo hướng như sau:
Khoản 1 Điều 302 “BTTH là việc bên vi phạm bồi thường toàn bộ thiệt hại do hành
vi vi phạm của mình gây ra. Trường hợp bên vi phạm bồi thường không đúng thời
hạn sẽ phải chịu mức lãi suất theo thỏa thuận hoặc lãi suất quá hạn của hợp đồng
vay tín dụng tại thời điểm vi phạm trách nhiệm bồi thường tương ứng với thời gian
chậm bồi thường”.
Khoản 2 Điều 302 “Thiệt hại bao gồm thiệt hại vật chất và tinh thần do bên vi
phạm gây ra cho bên bị vi phạm. Thiệt hại được xác định là toàn bộ giá trị tổn thất
thực tế, trực tiếp hoặc những giá trị tổn thất dự đoán từ khi giao kết hợp đồng đối
với hành vi vi phạm trước thời hạn”.
Với Điều 304 nghĩa vụ chứng minh tổn thất cần bãi bỏ, vì thiệt hại mà bên bị vi
phạm đó là những thiệt hại thực tế mà các chủ thể đều nhận thấy được. Nếu có thiệt
hại thực tế nhưng vì bên vi phạm cố tình che giấu hoặc bên bị vi phạm không đủ khả
năng để tìm chứng cứ mà phải cần có cơ quan chuyên môn thì xem như bên bị vi
phạm không được bồi thường. Quy định này là không cần thiết, mà khi xem xét vụ
việc, tòa án có thể yêu cầu các bên liên quan phải có trách nhiệm trong việc xác định
thiệt hại này.
Điều 303 LTM 2005 cần quy định trước Điều 292 LTM 2005 căn cứ xác định
trách nhiệm pháp lý do vi phạm HĐTM “Các biện pháp trách nhiệm pháp lý do vi
phạm HĐTM áp dụng cho bên vi phạm khi có đủ các yếu tố sau đây: Có hành vi vi
phạm hợp đồng, có thiệt hại, hành vi vi phạm hợp đồng là nguyên nhân trực tiếp
gây ra thiệt hại, bên bị vi phạm có khiếu nại về hành vi vi phạm của bên vi phạm”.
- Biện pháp trách nhiệm trả lãi do chậm thanh toán: Là biện pháp trách nhiệm độc
lập với phạt vi phạm và BTTH, hình thức này không cần có sự thỏa thuận giữa các bên
trong hợp đồng như hình thức phạt vi phạm, bên bị vi phạm cũng không cần phải có
137
nghĩa vụ chứng minh về việc thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Khi có hành vi
vi phạm nghĩa vụ thanh toán thì bên vi phạm mặc nhiên chịu trách nhiệm này.
LTM 2005 quy định “Bên vi phạm chậm thanh toán tiền hàng hay chậm thanh
toán thù lao dịch vụ và các chi phí hợp lý khác thì bên bị vi phạm có quyền yêu cầu
trả tiền lãi trên số tiền chậm trả đó”. “Mức lãi chậm trả là lãi suất nợ quá hạn
trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chậm
trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác”. BLDS
1995 quy định “Trong trường hợp người có nghĩa vụ chậm trả tiền thì người đó
phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo lãi suất nợ quá hạn do ngân hàng nhà
nước quy định tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán, trừ
trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác”. Điều 305 BLDS
2005 thay thế cụm từ “lãi suất nợ quá hạn” thành “lãi suất cơ bản”. BLDS năm
2015 “Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số
tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền
được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá 20%/năm
của khoản tiền vay, Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn
được quy định tại khoản này thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực”. Vậy lãi
suất do chậm thanh toán bằng với lãi suất cho vay nếu không có thỏa thuận việc
phạt lãi do chậm thanh toán.
Điều 78 CƯV quy định về tiền lãi chậm thanh toán nhưng không qui định về
mức lãi suất áp dụng để tính lãi chậm thanh toán, PICC quy định “Tiền lãi chậm
thanh toán nghĩa vụ hợp đồng là tỷ lệ lãi suất trung bình của hình thức cho vay ngắn
hạn”.
Thực tiễn áp dụng, qua khảo sát 500 bản án về tranh chấp HĐTM, có hơn 350
bản án tranh chấp về nghĩa vụ thanh toán. Bên vi phạm cố tình không thanh toán
sau khi bên bị vi phạm yêu cầu nhiều lần. Trong số nhiều nguyên nhân khác nhau
dẫn đến vi phạm ngày càng tăng về hành vi này, trong đó có nguyên nhân về áp
dụng mức lãi suất chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán, do bên vi phạm cho rằng,
thay vì phải có tài sản để thế chấp và thực hiện vay tiền tại ngân hàng thì kéo dài
thời hạn thanh toán xem như trả tiền vay, thậm chí chỉ trả lãi suất cơ bản. Một số
không còn tiền để thanh toán, buộc phải phát mãi tài sản để thanh toán tiền hàng
hóa, dịch vụ và tiền lãi do chậm thanh toán. Tất cả các hình thức không thanh toán,
chậm thanh toán là những hình thức chiếm dụng vốn, gây ra tình trạng vi phạm hợp
138
đồng bằng hình thức chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán, ảnh hưởng xấu đến thị
trường thương mại trong và ngoài nước. Thứ nhất, các bên tham gia hợp đồng nên
cầm cố tài sản nếu xét thấy bên kia có khả năng để xảy ra hành vi vi phạm này.
Thứ hai, LTM 2005 cần sửa đổi quy định về thanh toán lãi do chậm thực hiện nghĩa
vụ thanh toán với xu hướng tăng nặng nhằm răn đe, nhắc nhở các chủ thể hợp đồng
không nên lợi dụng hình thức vi phạm này để trục lợi thì sẽ bị hậu quả nặng nề, chịu
mức lãi suất nặng, có thể dẫn đến nguy cơ phá sản doanh nghiệp. Vì bản chất, mục
đích giữa hợp đồng vay và hợp đồng mua bán, dịch vụ là khác nhau, hợp đồng vay
có tài sản để thế chấp, hợp đồng mua bán, cung ứng thì không. Vì vậy, không nên
đánh đồng mức lãi suất cho vay hoặc lãi suất quá hạn khi cho vay với lãi suất do vi
phạm nghĩa vụ thanh toán trong HĐTM. Vì vậy Điều 306 LTM 2005 nên sửa như
sau “Trường hợp một bên vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng thì bên đó
phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát
sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được
bằng hoặc vượt quá quy định về cho vay nặng lãi, Trường hợp lãi suất theo thỏa
thuận vượt quá lãi suất giới hạn được quy định tại khoản này thì mức lãi suất vượt
quá không có hiệu lực. Nếu các bên không thỏa thuận hoặc có thỏa thuận về trả lãi
đối với số tiền chậm thanh toán trong hợp đồng nhưng không xác định được về mức
lãi suất thì áp dụng mức lãi suất gấp 300% lãi suất cho vay của liên ngân hàng nhà
nước tại thời điểm thanh toán”. “Trường hợp một bên vi phạm hợp đồng mà không
thanh toán tiền BTTH cho bên bị vi phạm thì áp dụng mức lãi suất theo quy định tại
Điều 306 LTM”.
Quy định mức lãi suất 20%/năm, với mức quy định này, như những năm 2010
mức lãi suất cho vay cũng bằng mức này, hơn nữa tiền góp vốn kinh doanh vào các
công ty, tiền lãi thu được từ hoạt động kinh doanh cao hơn mức này. Vì điểm này
hành vi vi phạm nghĩa vụ thanh toán vẫn xảy ra nhiều, vẫn chưa có tính chất răn đe
đối với các chủ thể có ý định vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Với quy định mà tác giả
đề xuất, ví dụ mức lãi suất đối với hợp đồng cho vay là 1%/tháng đối với hợp đồng
vay kỳ hạn là 3 tháng, blhs năm 2015 quy định là gấp 10% thì bị xem là cho vay
nặng lãi, tức là 10%/tháng, thì các bên không được thỏa thuận bằng hoặc trên mức
này, chỉ được thỏa thuận là 9,9%/tháng. Trên thực tế các bên thỏa thuận mức lãi
suất theo ngày, tuần, tháng không thỏa thuận theo năm. Dù thỏa thuận theo hình
thức nào thì Tòa án sẽ ấn định lại theo mức lãi suất theo tháng và trường hợp có
139
thỏa thuận nhưng không xác định mức lãi suất hoặc không có thỏa thuận thì áp dụng
mức lãi suất gấp 300% lãi suất cho vay của liên ngân hàng nhà nước tại thời điểm
thanh toán, ví dụ lãi suất cho vay của liên ngân hàng nhà nước là 1%/tháng theo hợp
đồng vay ngắn là 3 tháng thì gấp 300% tức là 3%/tháng. quy định mức lãi suất đối
với vi phạm nghĩa vụ thanh toán hoặc không thực hiện tiền BTTH theo đúng hạn
như đề xuất của tác giả có thể giải quyết định tình trạng của các doanh nghiệp muốn
chiếm dụng vốn, vi phạm hợp đồng dưới hình thức chậm thực hiện nghĩa vụ thanh
toán như hiện nay.
- Trách nhiệm tạm ngừng thực hiện hợp đồng: Tạm ngừng thực hiện hợp đồng là
việc một bên không thực hiện nghĩa vụ hợp đồng thuộc một trong các trường hợp
sau: xảy ra hành vi vi phạm mà các bên đã thỏa thuận là điều kiện để tạm ngừng
thực hiện hợp đồng hoặc một bên vi phạm cơ bảnnghĩa vụ hợp đồng. khi tạm ngừng
hợp đồng vẫn còn hiệu lực, bên bị vi phạm có quyền yêu cầu BTTH.
BLDS 2005, BLDS 2015 đều quy định, “Bên phải thực hiện nghĩa vụ trước có
quyền hoãn thực hiện nghĩa vụ, nếu khả năng thực hiện nghĩa vụ của bên kia đã bị
giảm sút nghiêm trọng đến mức không thể thực hiện được nghĩa vụ như đã cam kết
cho đến khi bên kia có khả năng thực hiện được nghĩa vụ hoặc có biện pháp bảo
đảm thực hiện nghĩa vụ. Bên phải thực hiện nghĩa vụ sau có quyền hoãn thực hiện
nghĩa vụ đến hạn nếu bên thực hiện nghĩa vụ trước chưa thực hiện nghĩa vụ của
mình khi đến hạn”, quy định này trong hai bộ luật là khá phù hợp với thực tiễn áp
dụng pháp luật.
So với hai BLDS, LTM 2005 quy định chưa đầy đủ về thời điểm bên bị vi
phạm chấm dứt việc tạm ngừng thực hiện hợp đồng, khi một bên vi phạm hợp đồng
thì tương ứng với hành vi vi phạm của bên vi phạm, bên bị vi phạm tạm ngừng thực
hiện nghĩa vụ tương ứng mà không cần phải là vi phạm cơ bản hoặc nghiêm trọng
của bên vi phạm. Cần sửa đổi Điều 308, 309 về biện pháp trách nhiệm này trong
LTM 2005 như sau “ Khi một bên có hành vi vi phạm hợp đồng khi đến hạn thực
hiện hoặc có căn cứ nhận thấy rằng bên này sẽ có hành vi vi phạm hợp đồng khi
đến hạn thực hiện thì bên bị vi phạm có quyền tạm thời chưa thực hiện nghĩa vụ của
mình. Bên bị vi phạm tiếp tục thực hiện nghĩa vụ của mình khi bên vi phạm đã thực
hiện nghĩa vụ hoặc đã dùng biện pháp để bảo đảm cho thực hiện nghĩa vụ của
mình. Bên tạm ngừng chỉ được tạm ngừng thực hiện phần nghĩa vụ tương ứng với
mức độ vi phạm của bên vi phạm. Bên tạm ngừng thực hiện hợp đồng phải thông
140
báo ngay cho bên kia, nếu không thông báo thì không được áp dụng biện pháp này,
và không thông báo mà áp dụng biện pháp tạm ngừng nếu có thiệt hại phải chịu
trách nhiệm bồi thường”.
- Trách nhiệm đình chỉ thực hiện hợp đồng: Khi các bên có thỏa thuận về điều
kiện để đình chỉ hợp đồng hoặc có hành vi vi phạm cơ bản hợp đồng thì bên bị vi
phạm chấm dứt thực hiện nghĩa vụ hợp đồng, bên bị vi phạm thông báo với bên vi
phạm về việc chấm dứt hợp đồng, hợp đồng sẽ bị chấm dứt từ thời điểm bên vi
phạm nhận được thông báo đình chỉ, khi đó các bên không phải tiếp tục thực hiện
nghĩa vụ hợp đồng. Bên đã thực hiện nghĩa vụ có quyền yêu cầu bên chưa thực hiện
nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ đối ứng.
BLDS 2005 hoặc BLDS 2015 quy định về biện pháp trách nhiệm này khác với
LTM 2005 về tên gọi của biện pháp đó là “đơn phương chấm dứt thực hiện hợp
đồng” nhưng giống về nội dung. Cụm từ đơn phương chấm dứt không có ý nghĩa
trong thực tiễn áp dụng, khi một bên vi phạm hợp đồng, một bên áp dụng biện pháp
hủy hợp đồng cũng có thể gọi là đơn phương chấm dứt, chứ không phải là ý muốn
của các bên trong hợp đồng.
Với quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng các biện pháp đình chỉ thực hiện
hợp đồng hoặc đơn phương chấm dứt hợp đồng hiện nay không mang lại hiệu quả
trong thực tiễn áp dụng của tòa án, hầu như các thẩm phán đồng nhất hai biện pháp
hủy hoặc đình chỉ hợp đồng. Trong một số trường hợp, bản án chỉ nêu đó là sự
chấm dứt hợp đồng mà không xác định được đó là đình chỉ thực hiện hợp đồng.
Trong khi bản chất của biện pháp này chính là hủy không có hồi tố, tức là chấm dứt
kể từ khi có hành vi đình chỉ, còn những gì đã thực hiện thì hai bên đã thực hiện
xong và không hồi tố trả lại cho nhau những gì đã nhận, còn những nội dung chưa
thực hiện trong hợp đồng thì hủy phần quyền và nghĩa vụ này. Với trường hợp này,
các nước trên thế giới cho rằng đó là biện pháp hủy không hồi tố. Vì vậy, tác giả đề
xuất bãi bỏ biện pháp đình chỉ thực hiện hợp đồng trong LTM 2005.
- Trách nhiệm hủy hợp đồng: Hủy bỏ hợp đồng bao gồm hủy bỏ toàn bộ hợp
đồng và hủy bỏ một phần hợp đồng, hủy bỏ toàn bộ hợp đồng làm mất hiệu lực hợp
đồng, hủy bỏ một phần hợp đồng thì phần không hủy bỏ vẫn có hiệu lực. khi có
thỏa thuận về điều kiện để hủy bỏ hợp đồng hoặc khi có vi phạm cơ bản hợp đồng
thì bên bị vi phạm được áp dụng biện pháp hủy bỏ hợp đồng đối với bên vi phạm.
khi áp dụng biện pháp hủy bỏ hợp đồng hiệu lực hợp đồng bị mất kể từ khi giao kết
141
nhưng việc phạt vi phạm, BTTH và giải quyết tranh chấp vẫn còn hiệu lực. Các bên
có quyền đòi lại lợi ích do việc đã thực hiện nghĩa vụ của mình, các bên phải hoàn
trả đồng thời; trường hợp không thể hoàn trả bằng chính lợi ích đã nhận thì bên có
nghĩa vụ phải hoàn trả bằng tiền. Bên hủy hợp đồng phải thông báo cho bên kia
biết, nếu không thông báo mà gây thiệt hại thì phải bồi thường.
BLDS 2005 không quy định hủy toàn bộ hoặc một phần hợp đồng, về điều
kiện áp dụng, hậu quả của hủy hợp đồng là giống quy định với LTM 2005. BLDS
2015 quy định khác về căn cứ áp dụng so với BLDS 2005 hoặc LTM 2005 đó là vi
phạm nghiêm trọng hợp đồng. Và BLDS này chia ra các trường hợp vi phạm hợp
đồng mà hợp đồng bị hủy bỏ như hủy bỏ do chậm thực hiện hợp đồng, hủy bỏ do
không có khả năng thực hiện, hủy bỏ do tài sản đã mất, hư hỏng. Hậu quả hủy bỏ
theo BLDS 2015 quy định tương tự BLDS 2005. Việc quy định các trường hợp hủy
bỏ do vi phạm hợp đồng như trong BLDS 2015 vô hình chung chấp nhận cho bên vi
phạm được phép hủy bỏ hợp đồng, còn nếu bị chậm, bị mất tài sản, không có khả
năng thực hiện mà không do một bên vi phạm nhưng do tác động khách quan thì đó
không phải hủy bỏ hợp đồng do vi phạm hợp đồng. trong những trường hợp này bên
bị vi phạm không thể lựa chọn biện pháp buộc thực hiện hợp đồng mà bắt buộc phải
hủy hợp đồng. Những trường hợp này, pháp luật các nước xem như bên bị vi phạm
chỉ chọn phương án chấm dứt hợp đồng và yêu cầu BTTH, phương án buộc bên vi
phạm thực hiện hợp đồng là việc không khả thi, không hiệu quả. Những trường hợp
này bên vi phạm hợp đồng đã từ bỏ hợp đồng, bên bị vi phạm không còn cách lựa
chọn nào khác, hợp đồng buộc phải chấm dứt. Trường hợp này tương tự như bất khả
kháng, tức là không thể giải quyết bằng cách khác, tuy nhiên khác với bất khả kháng
là bên vi phạm có hành vi vi phạm và phải BTTH. Việc tách từng trường hợp hủy
hợp đồng không có hiệu quả, vì đó là những trường hợp vi phạm hợp đồng, mà không
phải là hành vi không vi phạm hợp đồng.
Qua những phân tích trên, tác giả đề xuất nhập biện pháp trách nhiệm đình chỉ
thực hiện hợp đồng vào trong biện pháp hủy hợp đồng. Vì hiện tại việc quy định
khác nhau giữa đình chỉ và hủy hợp đồng là hiệu lực hồi tố của hợp đồng. Tuy
nhiên, đối với hủy một phần hợp đồng thì hiệu lực hợp đồng giống đình chỉ hợp
đồng, nên không nhất thiết tách ra. Trên thực tế giải quyết tranh chấp không phân
biệt được hai biện pháp này, mà hầu như khi giải quyết tranh chấp tòa án chỉ áp
dụng biện pháp hủy hợp đồng.
142
Đối với trách nhiệm hủy hợp đồng nên quy định căn cứ để áp dụng trách
nhiệm “hủy bỏ hợp đồng là việc một bên được quyền chấm dứt hợp đồng mà không
phải BTTH, khi bên kia vi phạm hợp đồng là điều kiện huỷ bỏ mà các bên đã thoả
thuận hoặc vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ hợp đồng. Bao gồm hủy toàn bộ hợp
đồng hoặc hủy một phần hợp đồng”. Bỏ điều 313 LTM 2005. Và kết cấu lại Điều
314 về hậu quả của việc áp dụng biện pháp trách nhiệm hủy bỏ hợp đồng do vi
phạm hợp đồng “hợp đồng bị hủy bỏ toàn bộ là không có hiệu lực kể từ thời điểm
giao kết, các bên không phải tiếp tục thực hiện các nghĩa vụ trong hợp đồng, trừ
thỏa thuận phạt vi phạm hoặc BTTH và giải quyết tranh chấp”. “Hợp đồng bị hủy
một phần hợp đồng thì phần hợp đồng không bị hủy vẫn có hiệu lực, bên chưa thực
hiện nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ của mình. Phần bị hủy sẽ không có hiệu lực,
bên vi phạm phải chịu trách nhiệm phạt vi phạm, BTTH và tranh chấp nếu có thỏa
thuận, tương ứng với phần hợp đồng bị vi phạm”. “Các bên phải hoàn trả cho nhau
những gì đã nhận sau khi trừ chi phí hợp lý trong thực hiện hợp đồng và chi phí bảo
quản, phát triển tài sản. Phải hoàn trả bằng hiện vật, trường hợp không hoàn trả
được bằng hiện vật thì được trị giá tương đương với giá trị những hiện vật đã nhận.
Trường hợp các bên cùng có nghĩa vụ hoàn trả thì việc hoàn trả phải được thực
hiện cùng một thời điểm, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy
định khác”
Với những cụm thuật ngữ trừ trường hợp miễn trách nhiệm được quy định
trong các loại trách nhiệm ví dụ “trừ các trường hợp miễn trách nhiệm quy định
tại Điều 294 LTM 2005 ” cần quy định vào trong nhóm các điều khoản về miễn
trách nhiệm, không nên quy định nhóm thuật ngữ này trước những quy định cho
từng biện pháp trách nhiệm. Vì nếu sự việc có xảy ra thiệt hại lớn, thì không thể
kết luận đó là do hành vi vi phạm của một bên nếu hợp đồng này đang thực hiện
nhưng gặp những sự việc như SKBKK, quyết định của cơ quan nhà nước hoặc do
hành vi vi phạm của bên kia.
4.3.4.Hoàn thiện quy định về không chịu trách nhiệm do không thể thực hiện
hợp đồng và miễn, giảm trách nhiệm
- Về không chịu trách nhiệm do không thể thực hiện hợp đồng: LTM 2005 quy
định bên vi phạm hợp đồng được miễn trách nhiệm khi các bên thỏa thuận về các
trường hợp miễn trách nhiệm; khi xảy ra SKBKK; hành vi vi phạm của một bên
hoàn toàn do lỗi của bên kia; hành vi vi phạm của một bên do thực hiện quyết định
143
của cơ quan quan lý nhà nước có thẩm quyền mà các bên không thể biết được vào
thời điểm giao kết hợp đồng bên vi phạm hợp đồng có nghĩa vụ chứng minh các
trường hợp miễn trách nhiệm [113, Điều 294];. Bên vi phạm phải thông báo ngay
bằng văn bản cho bên kia về các trường hợp miễn trách nhiệm và những hậu quả
xảy ra. Khi các trường hợp miễn trách nhiệm chấm dứt bên vi phạm hợp đồng phải
thông báo ngay cho bên kia biết, nếu không thông báo gây thiệt hại phải bồi thường
[113, Điều 295].
Riêng trường hợp bất khả kháng, các bên có thể chấm dứt hợp đồng, hoặc kéo
dài thời hạn thực hiện hợp đồng. Nếu các bên có thỏa thuận thời hạn kéo dài thì áp
dụng theo thỏa thuận này, nếu không thỏa thuận được thời hạn kéo dài thực hiện
hợp đồng sau khi có SKBKK thì thời hạn kéo dài là bằng thời gian diễn ra SKBKK
cộng với một thời gian hợp lý nhưng không được kéo dài theo điểm a, b khoản 1
Điều 296. Đối với loại hợp đồng mà cố định thời gian giao hàng thì sẽ không áp
dụng việc kéo dài thời hạn thực hiện hợp đồng khi có SKBKK.
BLDS 2005 quy định rải rác các trường hợp này tương tự quy định LTM 2005
nhưng không dùng thuật ngữ miễn trách nhiệm do vi phạm hợp đồng mà dùng thuật
ngữ không phải chịu trách nhiệm do bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ
“Bên có nghĩa vụ không thể thực hiện nghĩa vụ dân sự do SKBKK thì không phải
chịu trách nhiệm trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định
khác”[27, Điều 302] “Bên có nghĩa vụ không phải chịu trách nhiệm nếu chứng
minh được nghĩa vụ không thực hiện được là hoàn toàn do lỗi của bên có quyền”
[27, Điều 302] và đưa ra khái niệm về SKBKK. Nhưng không quy định trường
không phải chịu trách nhiệm khi có quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm
quyền. Không quy định về nghĩa vụ thông báo ngay bằng văn bản, nghĩa vụ chứng
minh về các trường hợp không chịu trách nhiệm. Ngoài ra, BLDS 2005 quy định về
khái niệm trở ngại khách quan nhưng không quy định là trường hợp không chịu
trách nhiệm do trở ngại khách quan. BLDS 2015 quy định giống với BLDS 2005,
nhưng có đưa vào những trường hợp miễn trách nhiệm do hết thời hạn khởi kiện đối
với bên có nghĩa vụ.
Bộ nguyên tắc PICC quy định, trường hợp miễn trừ trách nhiệm do không
thực hiện nghĩa vụ khi có sự thỏa thuận, SKBKK hoặc trở ngại khách quan. Miễn
hoặc giảm trách nhiệm tương ứng với phần lỗi mà bên có quyền thực hiện. Miễn
trách nhiệm do thực hiện quyết định của Nhà nước, miễn trách nhiệm do thời hạn
144
khởi kiện đã hết, tuy nhiên các bên trong hợp đồng được thỏa thuận về thời gian hết
hạn của thời hiệu. Khi có những trường hợp miễn trách nhiệm, bên không thực hiện
phải thông báo cho bên bị vi phạm và bên này phải nhận được thông báo.
Thực tiễn áp dụng các hình thức miễn trách nhiệm do vi phạm HĐTM. khi tòa
án xét xử tranh chấp về HĐTM , mặc dù căn cứ vào các trường hợp miễn trách
nhiệm được quy định trong LTM 2005, nhưng khi nhận định tòa án đều cho rằng,
các trường hợp này không phải là hành vi vi phạm hợp đồng nên không phải chịu
trách nhiệm pháp lý.
Dựa trên những phân tích về lý luận, quy định của các văn bản pháp luật hiện
hành, thực tiễn áp dụng, theo quan điểm của tác giả cần phải có cách tiếp cận khác
trong việc quy định các trường hợp miễn trách nhiệm đối với hành vi vi phạm hợp
đồng được quy định trong LTM 2005. Chúng ta nên sửa đổi những quy định hiện
hành theo cách quy định trong BLDS 2005 hoặc BLDS 2015, đó là những trường
hợp không bị xem là vi phạm hợp đồng của một bên vì vậy bên này không phải chịu
trách nhiệm như sau: Điều 294 LTM 2005 là “Các bên không phải chịu trách nhiệm
khi nghĩa vụ hợp đồng không được thực hiện” “Bên có nghĩa vụ hợp đồng không
phải bị áp dụng các biện pháp trách nhiệm pháp lý do hợp đồng không thực hiện
được trong các trường hợp như sau: Do xảy ra SKBKK; Nguyên nhân một bên
không thực hiện được nghĩa vụ hợp đồng do bên có quyền gây ra; một bên không
thực hiện được nghĩa vụ hợp đồng do quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm
quyền mà bất kỳ ai cũng không thể biết được vào thời điểm giao kết hợp đồng; bên
thứ ba không thực hiện được nghĩa vụ hợp đồng do xảy ra SKBKK là nguyên nhân
dẫn đến việc một bên không thực hiện được nghĩa vụ hợp đồng đối với bên kia; Khi
hết thời hạn khiếu nại theo quy định mà một bên không gửi thông báo khiếu nại đến
bên kia; Khi thời hiệu khởi kiện đã hết theo quy định trong Luật này; Hoặc do các
bên thỏa thuận về trường hợp không phải chịu trách nhiệm nhưng các thỏa thuận
này không trái với mục đích giao kết hợp đồng”. “Bên không thực hiện được nghĩa
vụ hợp đồng trong các trường này phải thông báo ngay cho bên còn lại, nếu không
thông báo gây ra thiệt hại sẽ phải bồi thường”.“Những trường hợp xảy ra SKBKK;
do quyết định của cơ quan nhà nước, do bên thứ ba xảy ra SKBKK dẫn đến một bên
không thực hiện được nghĩa vụ hợp đồng với bên kia, theo đó bên không thực hiện
được nghĩa vụ hợp đồng được phép yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền tại
145
nơi xảy ra các trường hợp này xác nhận để chứng minh mình không phải chịu trách
nhiệm.
Ngoài ra, nếu một bên gặp phải việc không thực hiện được hợp đồng nguyên
nhân là do bên có quyền, thì ngoài việc bên không thực hiện được nghĩa vụ hợp
đồng có thể chấm dứt hợp đồng, nhưng có thể chọn giải pháp là kéo dài thời gian
thực hiện hợp đồng để thỏa thuận lại nội dung hợp đồng. Vậy trong nhóm điều
khoản các trường hợp không chịu trách nhiệm có thể quy định “Các bên có thể kéo
dài thời gian để thỏa thuận lại việc thực hiện hợp đồng khi có xảy ra trường hợp
việc không thực hiện được hợp đồng nguyên nhân là do bên có quyền; thời gian
được kéo dài là một khoản thời gian hợp lý trong vòng một tháng sau khi xảy ra sự
việc không thực hiện được nghĩa vụ hợp đồng; nếu sau thời hạn này mà các bên
không thỏa thuận thì hợp đồng sẽ chấm dứt các bên tự chịu trách nhiệm của mình
nhưng nếu một bên cố tình kéo dài thời gian mà không muốn thỏa thuận lại nội
dung hợp đồng thì bên này phải chịu trách nhiệm. Hơn nữa, sau khi đã thống nhất
phương án thực hiện hợp đồng sau khi đã kéo dài thời gian nhưng bên nào không
thực hiện đúng theo thỏa thuận này thì phải chịu trách nhiệm”.
Bên có nghĩa vụ gặp phải hoàn cảnh khó khăn, trở ngại khách quan thì bên này
không được áp dụng như trường hợp không phải chịu trách nhiệm giống như các
nội dung trên mà tương tự việc giảm trách nhiệm, nhưng trường hợp giảm trách
nhiệm này không phải do bên có quyền quyết định mà được luật pháp ấn định và
các bên phải thi hành. Nên đưa vào quy định trong LTM 2005 theo hướng “Khi bên
có nghĩa vụ thực hiện hợp đồng gặp phải hoàn cảnh khó khăn, trở ngại khách quan
thì thời gian gặp phải những trường hợp này không tính vào trong thời gian thực
hiện hợp đồng, sau khi kết thúc thời hạn này, bên này phải có trách nhiệm thỏa
thuận lại việc thực hiện hợp đồng. Nếu hết thời gian gặp phải hoàn cảnh khó khăn
mà bên nào không thỏa thuận lại việc thực hiện hợp đồng thì bên đó bị xem như là
vi phạm hợp đồng; bên có nghĩa vụ thực hiện hợp đồng khi gặp các hoàn cảnh khó
khăn phải có nghĩa vụ yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền nơi diễn ra trường
hợp này xác nhận để chứng minh mình gặp phải hoàn cảnh này; Bên gặp các
trường hợp này phải thông báo ngay cho bên có quyền biết bằng văn bản”
- Miễn, giảm trách nhiệm do vi phạm hợp đồng thương mại: Ngoài những
trường hợp bên không thực hiện nghĩa vụ hợp đồng không phải chịu trách nhiệm do
pháp LTMấn định, mà bên có quyền không được quyền quyết định dù bên này có
146
mong muốn cách giải quyết khác cũng không có quyền định đoạt. Một đặc điểm
trong quan hệ hợp đồng được áp dụng tương tự pháp luật hành chính hoặc hình sự.
LTM 2005 sử dụng phương pháp mệnh lệnh để giải quyết sự việc mà không sử
dụng phương pháp thỏa thuận, bình đẳng trong quan hệ HĐTM.
Trừ các trường hợp có thỏa thuận về việc tăng thêm trách nhiệm giữa các bên
trong quan hệ hợp đồng, nhưng việc thỏa thuận áp dụng biện pháp trách nhiệm đó
không ngược lại với bản chất, mục đích của việc giao kết hợp đồng, bên bị vi phạm
không được tự ý áp dụng tăng nặng các biện pháp trách nhiệm cho bên vi phạm,
nhưng bên này sẽ được áp dụng các biện pháp giảm nhẹ trách nhiệm cho bên vi
phạm. Để tạo sự công bằng, bình đẳng trong khi áp dụng các biện pháp trách nhiệm
tương ứng với hành vi vi phạm hợp đồng, tôn trọng nguyên tắc tự do thỏa thuận
giữa các bên trong quan hệ hợp đồng khi có vi phạm xảy ra. LTM 2005 nên quy
định “Bên bị vi phạm có quyền miễn, giảm trách nhiệm cho bên vi phạm khi bên này
thực hiện hành vi vi phạm hợp đồng”.
Kết luận chƣơng 4
1. Trình bày yêu cầu hoàn thiện về trách nhiệm do vi phạm HĐTM như quy định
của LTM 2005 chưa phù hợp với thực tiễn, văn bản pháp luật chuyên ngành, văn
bản luật quốc tế.
2. Hoàn thiện về trách nhiệm do vi phạm HĐTM phải tuân thủ theo đường lối chính
sách của Đảng và nhà nước, phải cân đối mức độ phù hợp với luật pháp quốc tế,
theo điều kiện hoàn cảnh kinh tế - xã hội của Việt Nam trong thời gian hiện nay và
trong tương lai, theo sự thống nhất với quy định trong BLDS hiện hành và đặt trong
mối quan hệ với các luật chuyên ngành.
3. Đề xuất bổ sung vi phạm nghiêm trọng, vi phạm do các bên đều vi phạm và vi
phạm trước thời hạn, xác định vi phạm hợp đồng do bên thứ ba. Sửa đổi căn cứ xác
định trách nhiệm để quy định khiếu nại và thông báo là căn cứ bắt buộc khi áp dụng
trách nhiệm pháp lý do vi phạm HĐTM. Sửa đổi những nội dung trong từng biện
pháp dụng trách nhiệm pháp lý do vi phạm HĐTM, thêm vào những biện pháp trách
nhiệm như giảm giá, thực hiện thay thế bên vi phạm, phạt lãi. Xem phạt vi phạm
như nội dung trong hợp đồng, bãi bỏ biện pháp đình chỉ thực hiện hợp đồng.
4. Xác định lại các trường hợp không chịu trách nhiệm do không thực hiện được
nghĩa vụ hợp đồng khi gặp các trường hợp mà pháp LTM ấn định như có sự thỏa
thuận trong hợp đồng về việc không chịu trách nhiệm, gặp SKBKK, không thực
147
hiện hợp đồng nguyên nhân do bên có quyền, do quyết định của nhà nước, do hết
thời hạn khiếu nại, do hết thời hiệu khởi kiện, do bên thứ ba vi phạm với bên không
thực hiện hợp đồng do bên thứ ba gặp SKBKK, do quyết định của nhà nước. Ngoài
ra, xác định trường hợp miễn, giảm trách nhiệm do bên bị vi phạm quyết định khi
bên này miễn, giảm trách nhiệm cho bên vi phạm.
148
KẾT LUẬN
1. Thống kê những công trình nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến đề
tài theo từng nội dung của đề tài, tìm hiểu những công trình đã nghiên cứu những
nội dung có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến đề tài từ đó đánh giá những nội
dung đã được nghiên cứu một cách toàn diện hoặc chưa toàn diện do phạm vi
nghiên cứu của từng công trình. Tìm ra những điểm cần phải kế thừa để phân tích
về lý luận, thực trạng và giải pháp, tiếp tục nghiên cứu những nội dung chưa thống
nhất quan điểm để đưa ra giải pháp nhằm hoàn thiện hơn về lý luận và thực tiễn quy
định pháp luật. Nghiên cứu để bổ sung những lý luận mới nhằm có cách hiểu đúng
về mặt khoa học pháp lý cho một số nội dung cụ thể.
2. Trách nhiệm pháp lý do vi phạm HĐTM là chế định pháp luật điều chỉnh quan hệ
phát sinh khi có hành vi vi phạm HĐTM, trách nhiệm này không xem xét theo
nghĩa trách nhiệm thông thường mang tính tích cực mà là loại trách nhiệm pháp lý
mang tính tiêu cực do hành vi vi phạm hợp đồng của một bên (không tự giác thực
hiện nghĩa vụ hợp đồng theo đúng cam kết) và đối với một số loại trách nhiệm pháp
lý được xem như những biện pháp chế tài mà bên bị vi phạm áp dụng cho bên vi
phạm. Đây là những biện pháp pháp lý giải quyết hậu quả từ hành vi vi phạm hợp
đồng, khắc phục, bù đắp mang tính ngang bằng những tổn thất cho bên thiệt hại,
đảm bảo việc thực hiện nghĩa vụ hợp đồng, bảo vệ quyền lợi hợp pháp giữa các bên
trong hợp đồng. Hoàn thiện chế định này góp phần vào việc phòng ngừa và phòng
chống những hành vi vi phạm HĐTM.
3. Tác giả tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận về trách nhiệm pháp lý do vi
phạm HĐTM như vi phạm HĐTM, các loại vi phạm HĐTM, cơ sở xác định trách
nhiệm pháp lý do vi phạm HĐTM, trong đó, làm rõ lý luận về căn cứ thông báo, căn
cứ khiếu nại. Lý luận về các biện pháp trách nhiệm pháp lý, nghiên cứu theo hai
nhóm biện pháp trách nhiệm nhằm duy trì hợp đồng, không duy trì hợp đồng và
nhóm biện pháp bồi thường hợp đồng. Phân biệt về lý luận giữa miễn trách nhiệm
do vi phạm hợp đồng và không chịu trách nhiệm do không thực hiện hợp đồng.
4. Phân tích thực trạng pháp luật về quy định vi phạm hợp đồng, vi phạm cơ bản,
căn cứ xác định trách nhiệm, các biện pháp trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp
149
đồng, các trường hợp miễn trách nhiệm hợp đồng theo LTM hiện hành, BLDS 2015
so sánh với quy định của CƯV, PICC và một số văn bản luật hợp đồng của một số
quốc gia. Nhận xét những quy định về trách nhiệm pháp lý do vi phạm trong quy
định của pháp LTM Việt Nam cụ thể là LTM 2005 có những nội dung phù hợp
hoặc chưa hoàn toàn phù hợp với quy định của một số các quốc gia trên thế giới.
Phân tích việc áp dụng những quy định pháp luật về trách nhiệm pháp lý do vi phạm
HĐTM để giải quyết các vụ việc tranh chấp hợp đồng từ tòa án các cấp của Việt
Nam, nhận xét những điểm áp dụng đúng theo quy định LTM 2005 hoặc những
điểm chưa đúng theo quy định, linh động áp dụng một cách hợp lý hoặc áp dụng tùy
tiện các quy định pháp luật. Đánh giá mức độ phù hợp về thực trạng áp dụng quy
định về trách nhiệm pháp lý do vi phạm HĐTM vào thực tiễn giải quyết tranh chấp
do vi phạm HĐTM.
5. Tác giả nêu ra một số yêu cầu cần thiết phải hoàn thiện các quy định về trách
nhiệm pháp lý do vi phạm HĐTM như về quy định theo LTM 2005 chưa có sự
thống nhất với các văn bản pháp luật khác, chưa phù hợp với luật pháp quốc tế, thực
trạng áp dụng chưa chuẩn xác với quy định của pháp luật, chưa có cách hiểu và áp
dụng thống nhất, do xu thế hội nhập kinh tế thế giới ngày càng mở rộng.
Tác giả đề xuất những giải pháp chung về việc thể chế hóa đường lối đề cao việc
bảo vệ quyền lợi hợp pháp của cá nhân, tổ chức, xử lý nghiêm các trường hợp xâm
phạm đến lợi ích của tổ chức, cá nhân. Hoàn thiện pháp LTM phải phù hợp với quy
định, điều kiện hoàn cảnh hội nhập với thế giới. Hoàn thiện LTM 2005 phải thống
nhất với quy định của BLDS 2015. Sửa đổi LTM 2005 hài hòa và thống nhất với
các văn bản pháp luật phái sinh hoặc văn bản pháp luật chuyên ngành. Hơn nữa, sửa
đổi chế định về trách nhiệm pháp lý do vi phạm HĐTM theo các tiêu chí khả thi,
minh bạch, thống nhất trong toàn bộ văn bản luật này. Xem xét bổ sung những nội
dung quy định về trác nhiệm pháp lý do vi phạm HĐTM theo điều kiện hoàn cảnh
của Việt Nam hiện nay.
6. Giải pháp hoàn thiện về khái niệm vi phạm hợp đồng, bổ sung các hình thức vi
pham như vi phạm trước thời hạn, vi phạm do các bên trong hợp đồng đều vi phạm,
vi phạm do bên thứ ba, vi phạm nghiêm trọng hợp đồng. Bổ sung các quy định về
150
căn cứ xác định trách nhiệm như căn cứ thông báo, căn cứ khiếu nại, khởi kiện.
Khẳng định thêm một số biện pháp trách nhiệm như giảm giá, cầm giữ tài sản, thực
hiện thay thế, ngoài ra còn hoàn thiện một số quy định chi tiết cho từng biện pháp
trách nhiệm đang quy định trong LTM hiện hành.
7. Phân biệt các trường hợp miễn, giảm trách nhiệm và không chịu trách nhiệm, từ
đó bổ sung thêm các trường hợp không chịu trách nhiệm do không thực hiện đúng
nghĩa vụ hợp đồng như do bên thứ ba gặp trường hợp SKBKK, có quyết định của
cơ quan có thẩm quyền. Đưa vào những trường hợp không phải miễn trách nhiệm
hoặc không chịu trách nhiệm mà được giảm trách nhiệm khi kéo dài thời gian thực
hiện để thỏa thuận lại nội dung quyền và nghĩa vụ trong hợp đồng như hoàn cảnh
khó khăn, trở ngại khách quan. Xác định lại trường hợp miễn, giảm trách nhiệm do
vi phạm HĐTM.
151
CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
1. Lê Thị Tuyết Hà, 2015, “Bàn về trả tiền lãi chậm thanh toán trong kinh
doanh thương mại”, Tạp chí Kiểm sát, số 17 (Tháng 9/2015), tr.33-35.
2. Lê Thị Tuyết Hà, 2015, “Vi phạm nghĩa vụ thanh toán - một hình thức chiếm
dụng vốn hợp pháp”, Tạp chí nghiên cứu lý luận, nghiệp vụ, khoa học tội
phạm học số 11 (75) tr.24-27
152
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
TÀI LIỆU TIẾNG VIỆT
1. Hải An, “Quy định rõ ràng và cụ thể tiêu chuẩn pháp lý của Hội thẩm nhân
dân”, Website www.daibieunhandan.vn.
2. Phạm Kim Anh, 2003, Khái niệm lỗi trong trách nhiệm dân sự, Tạp chí khoa học
pháp lý, 2003 số 03 (tr 32-36).
3. Phạm Kim Anh, 2008, Trách nhiệm dân sự liên đới bồi thường thiệt hại trong
pháp luật dân sự Việt Nam, Tác giả tiến sĩ luật học, Đại học luật Hà Nội.
4. Phan Thông Anh “Bất cập và giải pháp hoàn thiện pháp luật hợp đồng ở Việt
Nam” Tạp chí nghiên cứu lập pháp số 02 +03/ 2013
5. Vũ Thị Lan Anh, 2008, hợp đồng thương mại và pháp luật về hợp đồng của một
số nước trên thế giới, Tạp chí luật học 2008 số 11 (tr 3-10).
6. Trần Việt Anh “So sánh trách nhiệm dân sự trong hợp đồng và trách nhiệm dân
sự ngoài hợp đồng”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 4/2011.
7. Trần Việt Anh “Bàn về khái niệm hợp đồng”, Tạp chí nhà nước và pháp luật số
4/2010
8. Nguyễn Mạnh Bách “nghĩa vụ dân sự trong Luật dân sự Việt Nam”, Nxb Chính
trị Quốc Gia, 1998
9. Ban biên tập tạp chí tòa án “về cách tính lãi suất trong hợp đồng vay tài sản”,
Tạp chí TAND, số 17/2005
10. Ban tuyên giáo trung ương, 2014, “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ
Chí Minh về nêu cao tinh thần trách nhiệm, chống chủ nghĩa cá nhân, nói đi
đôi với làm”, Nxb Chính trị quốc gia.
11. Bản so sánh Dự thảo BLDS 2005 sửa đổi bổ sung.
12. Bản so sánh Dự thảo sửa đổi, bổ sung BLDS Việt Nam với BLDS Việt Nam
2005
13. Bản so sánh quốc tế về chi phí giải quyết tranh chấp vụ án tại Châu âu, Mỹ,
Canada ngày 14/6/2013 tại Website www.instituteforlegalform.com.
14. Trần Văn Biên “Một số vướng mắc trong việc giải quyết các tranh chấp về hợp
đồng vay tài sản liên quan đến trả lãi và lãi suất”, Tạp chí Nhà nước và pháp
luật, số 11/2001.
153
15. Thái Chí Bình, Tranh chấp kinh doanh, thương mại và việc xác định thẩm
quyền của Tòa án đối với tranh chấp kinh doanh thương mại, Website:
toaan.gov.vn.
16. Trương Hòa Bình, một số vấn đề về chế định hội thẩm nhân dân, website:
www.toaan.gov.vn
17. Nông Quốc Bình, 2012, Một số vấn đề lý luận và thực tiễn đối với điều khoản
bất khả kháng trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, Tạp chí Luật học
2012 số 5, (tr 10- 16).
18. Bộ luật Thương mại thống nhất Hoa kỳ - Uniform Commercial Code of United
State of America (UCC)
19. Bộ Dân luật Bắc kỳ 1931.
20. Bộ Dân luật Sài Gòn Nxb. Thần Chung, Sài Gòn, 1972.
21. Bộ Dân luật Trung kỳ 1936,Viện nghiên cứu khoa học pháp lý (2008), một số
vấn đề về pháp luật dân sự Việt Nam từ thế kỷ XV đến thời pháp thuộc, Nxb.
Chính trị quốc gia
22. BLDS Cộng hòa Liên bang Đức (Bản dịch sang tiếng Anh-2009, 13161, xem:
www.Juris.de)
23. Bộ luật Dân sự Cộng hòa Pháp, Nxb Tư pháp, H. 2006
24. Bộ luật Dân sự Liên Bang Nga 1994
25. Bộ luật Dân sự Nhật Bản (Bản dịch của Văn phòng Quốc hội, Khóa IX, 1994)
26. Bộ luật Dân sự Việt Nam 1995 của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
27. Bộ luật Dân sự Việt Nam 2005 của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
28. Bộ luật Dân sự Việt Nam 2015 của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
29. Bộ luật hàng hải Việt Nam 2005 sửa đổi bổ sung năm 2015 của nước Cộng hòa
Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
30. Bộ luật lao động Việt Nam 2012 của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt
Nam
31. Bộ luật Thương mại của Cộng hòa Liên Bang Đức
32. Bộ luật Tố tụng dân sự Việt Nam 2004, sửa đổi, bổ sung năm 2011.
33. Bộ luật Tố tụng dân sự Việt Nam 2015
34. Bộ nguyên tắc của PICC về hợp đồng thương mại quốc tế 2004, Dg: Nguyễn
Minh Hằng, Đào Thu Hiền và các DgK, Nxb. Tư pháp, H. 2005
154
35. Bộ Quốc Triều Hình Luật, Nxb. Chính trị quốc gia, 1995.
36. Bộ tài chính, thông tư số 78/2014/TT-BTC ngày 18/6/2014 của về mức thuế thu
nhập doanh nghiệp.
37. Bảo Cầm, “Niềm tin của dân với Tòa án còn chừng mực”, 23/3/2013, Website:
www.thanhniên.com.
38. Chính phủ, nghị định 48/2010/NĐ-CP về hợp đồng xây dựng hướng dẫn thi
hành Luật xây dựng.
39. Chính phủ, nghị định 58/2009/NĐ-CP ngày 13/7/2009 quy định chi tiết một số
điều Luật Thi hành án dân sự về thủ tục thi hành án dân sự.
40. Công ước của Liên hiệp quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa Quốc tế (CISG),
Viên 1980.
41. Nguyễn Văn Cương và Chu Thị Hoa “bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng” ,
Tạp chí nghiên cứu lập pháp số 4/ 2005;
42. Ngô Huy Cương “Nguồn gốc của nghĩa vụ và phân loại nghĩa vụ”, Tạp chí
nghiên cứu lập pháp số 8/2008
43. Bùi Ngọc Cường “Vai trò của pháp luật kinh tế trong việc bảo đảm quyền tự do
kinh doanh”, Tạp chí khoa học pháp lý số 3/2003, tr 23
44. Bùi Ngọc Cường ,2004,“Một số vấn đề về quyền tự do kinh doanh trong pháp
luật kinh tế hiện hành ở Việt Nam”, Nxb, Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
45. Nguyễn Phú Cường, 2009, “Bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng trong
kinh doanh thương mại”, Trường đại học luật TP.HCM- Luận văn thạc sĩ
Luật học.
46. Nguyễn Thị Dung, 2001, Áp dụng trách nhiệm hợp đồng trong kinh doanh, Nxb
Chính trị quốc gia.
47. Nguyễn Thị Dung, 2008, Pháp luật về hợp đồng trong thương mại và đầu tư
những vấn đề pháp lý cơ bản, Nxb Chính trị quốc gia.
48. Nguyễn Đăng Dung, Nguyễn Ngọc Đào “Công ước liên hiệp quốc về hợp đồng
mua bán ngọai thương” Tìm hiểu Luật thương mại –Luật kinh doanh, Nxb
Đồng Nai.
49. Đặng Văn Dũng, 2005, “ Thời điểm tính lãi suất” Tạp chí TAND số 5/2005.
155
50. Trương Văn Dũng, 2003, Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa
quốc tế và vấn đề hoàn thiện pháp luật Việt Nam, Tác giả tiến sĩ luật học, Đại
học luật Hà Nội.
51. Lưu Tiến Dũng, Độc lập xét xử trong Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam, Sách
chuyên khảo, Nxb Tư pháp, Hà Nội, 2012.
52. Dự thảo bộ luật hàng hải sửa đổi bổ sung năm 2015
53. Đỗ Văn Đại (Cb), “Giáo trình về hợp đồng và bồi thường thiệt hại ngoài hợp
đồng”, Trường Đại học luật TP.HCM, Nxb. Hồng Đức- Hội luật gia Việt
Nam.
54. Đỗ Văn Đại, 2004, “Vấn đề hủy bỏ, đình chỉ hợp đồng do vi phạm”, Tạp chí
nghiên cứu lập pháp 2004 số 9 (tr 59-63)
55. Đỗ Văn Đại, 2004, “Vi phạm cơ bản hợp đồng ”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp
2004 số 9 (tr 17,18).
56. Đỗ Văn Đại, 2007, “Phạt vi phạm hợp đồng trong pháp luật thực định Việt
Nam”, Tạp chí TAND số 19 (tr 19).
57. Đỗ Văn Đại, 2010, “Lãi suất trần cho vay: kinh nghiệm nước ngoài và hướng
sửa đổi Bộ luật dân sự”, Tạp chí nghiên cứu lập pháp số 15/2010
58. Đỗ Văn Đại, 2010, “Các biện pháp xử lý việc không thực hiện đúng hợp đồng
trong pháp luật Việt Nam”, Nxb Chính trị quốc gia.
59. Đỗ Văn Đại, 2011, “Luật hợp đồng Việt Nam” – Bản án và Bình luận bản án,
tập 1, 2, Nxb Chính trị quốc gia.
60. Đỗ Văn Đại, “Hoãn do không thực hiện đúng hợp đồng trong pháp luật Việt
Nam”, Tạp chí Tòa án số 8/ 2010.
61. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI. Phương hướng, mục tiêu phát triển kinh tế -
xã hội 5 năm 1986 – 1990, ngày 15/12/1986.
62. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX. Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001-
2010, ngày 19/4/2001.
63. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X. Phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế -
xã hội 5 năm 2006 – 2010, ngày 18/4/2006.
64. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI. Phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế
- xã hội 5 năm 2011 – 2015, ngày 11/01/2011.
156
65. Võ Văn Đạt, 2014, “Chế tài hủy bỏ hợp đồng trong LTM 2005”, Trường Đại
học Luật TP.HCM – Luận văn thạc sĩ Luật học.
66. Châu Thị Điệp, 2005, “Cách tính lãi suất và lãi suất nợ quá hạn trong hợp
đồng vay tài sản”, Tạp chí TAND số 9/2005
67. Hoàng Điệp, Quốc Thanh, Chờ luật, nhiều thẩm phán không được làm việc,
Website: www.thuvienphapluat.vn.
68. Nguyễn Minh Đoan, 2014, Giáo trình “Lý luận về nhà nước và pháp luật”,
trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb Chính trị Quốc gia
69. Nguyễn Minh Đoan, 2014, “ Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về trách nhiệm
pháp lý của nhà nước, cán bộ, công chức, viên chức, cơ quan nhà nước ở Việt
Nam”, Nxb Chính trị Quốc Gia
70. Phước Đoàn, “Chạy án” nghề thời thượng, đăng tin Website: www.nld.com.vn.
71. Trần Minh Đức, 2010, “ Điều kiện hạn chế, miễn trừ trách nhiệm pháp luật hợp
đồng thương mại Việt Nam”, Trường Đại học Luật TP.HCM – Luận văn thạc
sĩ Luật học.
72. Trần Ngọc Đường, Lý luận chung về Nhà nước và Pháp luật, Nxb. Chính trị
quốc gia, Hà Nội, năm 2000.
73. G.Rouhette (Cb), Bộ nguyên tắc về hợp đồng của Châu âu, 1999
74. Phạm Hoàng Giang, 2007, “Quyền tự do hợp đồng trong hoạt động thương mại
ở Việt nam – những vấn đề lý luận và thực tiễn”, Trường Đại học luật Hà Nội
– Tác giả tiến sĩ Luật học
75. H.Swill, 1986, “Trách nhiệm hợp đồng và giới hạn trách nhiệm hợp đồng trong
quan hệ kinh tế giữa Liên Bang Xô Viết và CHLB Đức, Matxcova.
76. Vũ Thị Ngọc Hà, Tăng cường tính độc lập của các thẩm phán trong hoạt động
xét xử ở Việt Nam, website www.hcmbar.org.
77. Lê Thu Hà, 2001, “ Cách tính lãi suất và lãi suất nợ quá hạn trong hợp đồng
vay tài sản”, Tạp chí TAND số 6/2001.
78. Nguyễn Thị Việt Hà, 2010, “Chế tài đình chỉ thực hiện hợp đồng và hủy bỏ hợp
đồng trong hoạt động thương mại”, Trường Đại học luật TP.HCM - Luận văn
Thạc sĩ Luật học.
79. Trần Đình Hảo“ Các quy định về giao dịch dân sự trong dự thảo BLDS (sửa
đổi), Tạp chí khoa học pháp lý số 3/ 2003 tr 9 -13
157
80. Nguyễn Vũ Hoàng, 2008, “Pháp luật Việt Nam về giao kết hợp đồng mua bán
hàng hóa với thương nhân nước ngoài”, Viện nhà nước và pháp luật – Tác giả
tiến sĩ Luật học
81. Phan Chí Hiếu “Hoàn thiện chế định hợp đồng ”, Tạp chí nghiên cứu lập pháp
số 4/2005
82. Hiến pháp của Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam 2013
83. Nguyễn Thị Hồng, Bảo đảm độc lập tư pháp trong nhà nước pháp quyền –
Kinh nghiệm quốc tế và kiến nghị sửa đổi Luật tổ chức TAND, Tạp chí nghiên
cứu lập pháp, số 16 (272) tháng 8 năm 2014.
84. Phan Huy Hồng, 2010, Nguyên tắc lỗi trong pháp Luật Thương mại Việt Nam,
Tạp chí Nhà nước và pháp luật 2010 số 11(tr 28-37).
85. Hội đồng Chính phủ, nghị Định số 54/CP ngày 10/3/1975 ban hành Điều lệ về
chế độ hợp đồng kinh tế của Việt Nam.
86. Hội đồng thẩm phán TAND tối cao, nghị quyết 01/2005/NQ- HĐTP hướng dẫn
thi hành một số quy định trong phần thứ nhất những quy định chung của
BLTTDS 2004.
87. Hội đồng Bộ trưởng, quyết định số 18/HĐBT ngày 16/01/1990 về ký kết và thực
hiện hợp đồng kinh tế theo chỉ tiêu Pháp lệnh.
88. Đặng Vũ Huân, Bùi Nguyên Khánh, Quy định của Hiến pháp và pháp luật về
bảo đảm sự độc lập của thẩm phán, Tạp chí dân chủ và pháp luật tháng 10
năm 2014. Website: www.moj.gov.vn.
89. Phạm Minh Hương, Đỗ Thị Hoa, Tạ Minh Tấn, 2006, “Hỏi đáp pháp luật về
hợp đồng dân sự và giải quyết tranh chấp về hợp đồng dân sự’ Nxb Công an
Nhân dân, Hà Nội.
90. Lê Minh Hùng, 2010, “Hiệu lực của hợp đồng theo quy định của pháp luật Việt
Nam”, Tác giả tiến sĩ luật học Trường Đại học Luật TP.HCM.
91. Jean –Jacques Rousseau “Bàn về khế ước xã hội”, 1992, Nxb Thành phố Hồ
Chí Minh.
92. Nguyễn Ngọc Khánh “Thực hiện nghĩa vụ hợp đồng trên thực tế”; Tạp chí
nghiên cứu lập pháp số 2/2007
93. Nguyễn Ngọc Khánh “Chế định hợp đồng trong Bộ luật Dân sự Việt Nam”,
Nxb Tư Pháp, 2007
158
94. Nguyễn Thị Khế, 2008, Một số ý kiến liên quan đến các quy định về chế tài
trong thương mại theo quy định của Luật thương mại, Tạp chí Nhà nước và
pháp luật 2008 số 1, (tr 43-46).
95. Vũ Hoàng Linh, 2012, “Pháp luật về lãi do chậm thanh toán trong hợp đồng
kinh doanh thương mại” Trường Đại học Luật TP.HCM – Luận văn thạc sĩ
Luật học.
96. Phạm Nguyễn Linh “Xử lý hợp đồng vô hiệu trong lĩnh vực thương mại”, Tạp
chí luật học số 11/2008
97. Nguyễn Quang Lộc, 2005, “Về cách tính lãi suất trong hợp đồng vay tài sản”
Tạp chí TAND số 12/2005.
98. Nguyễn Quang Lộc, Bàn về việc áp dụng tỷ lệ hủy, sửa trong công tác thi đua,
khen thưởng của ngành tòa án nhân dân, đăng tin Website: www.toan.gov.vn.
99. Phương Loan, Có chuyện cán bộ tòa chạy án, ăn hối lộ, đăng tin Website:
www.vietnamnet.vn.
100. Luật Bán hàng năm 1979 sửa đổi bổ sung của Vương quốc Anh
101. Luật Đất đai 2013 của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
102. Luật Đấu thầu 2005 của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
103. Luật Đầu tư năm 2014 của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
104. Luật Doanh nghiệp 2014 của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
105. Luật Hàng không dân dụng Việt Nam sửa đổi, bổ sung năm 2014 của nước
Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
106. Luật Hợp đồng của Cộng hòa Ấn Độ 1872 (Republic of India)
107. Luật Hợp đồng của Cộng hòa Nhân dân Trung Quốc 1999
108. Luật Hợp đồng của Liên bang Malaysia 1950
109. Luật Kinh doanh bảo hiểm 2000 sửa đổi bổ sung 2010 của nước Cộng hòa Xã
hội Chủ nghĩa Việt Nam
110. Luật Kinh doanh bất động sản 2006 của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa
Việt Nam
111. Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014 của nước Cộng hòa Xã hội Chủ
nghĩa Việt Nam
112. Luật Nhà ở năm 2014 của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
159
113. Luật Nhà ở sửa đổi, bổ sung 2009 của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt
Nam
114. Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi, bổ sung năm 2009 của nước Cộng hòa Xã hội Chủ
nghĩa Việt Nam
115. Luật Thi hành án dân sự 2008 của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
116. Luật Thi hành án dân sự 2014 của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
117. Luật Thương mại 1997 của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
118. Luật Thương mại 2005 của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
119. Luật Trọng tài thương mại 2010 của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt
Nam
120. Luật Xây dựng 2003 sửa đổi, bổ sung 2009 của nước Cộng hòa Xã hội Chủ
nghĩa Việt Nam
121. Luật Xây dựng năm 2014 của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
122. Nguyễn Văn Luyện, Lê thị Bích Thọ, Dương Anh Sơn, 2005, Giáo trình luật
hợp đồng thương mại quốc tế, Nxb. Đại học quốc gia TP.HCM
123. M.I. Braginsky. V.V Vitriansky, 1999, “Luật hợp đồng ” Matxcova. Nxb
Statut.
124. Nguyễn Thị Ngọc Mai, 2006, “Các biện pháp trách nhiệm hành chính – Lý
luận và thực tiễn”, Trường Đại học luật TP.HCM, Luận án Thạc sĩ Luật học
125. Võ Sỹ Mạnh, Bàn về vi phạm cơ bản hợp đồng theo Công ước Viên 1980,
www.https://cisgvn.wordpress.com/2011/04/09.
126. Nga Minh, Bao giờ được khắc phục án hủy vì lỗi chủ quan, Website:
www.baophapluât.vn.
127. Vương Lợi Minh, Lý thuyết trách nhiệm do vi phạm hợp đồng, Đại học pháp
chính Trung quốc, 2003 (Phiên bản tiếng Trung Quốc được dịch sang Tiếng
Việt)
128. Nguyễn Thị Mơ “Sửa đổi Luật Thương mại Việt Nam 1997 phù hợp với pháp
luật và tập quán thương mại quốc tế”, Nxb Lý luận Chính trị, 2004
129. Nguyễn Thị Hằng Nga, 2006, Áp dụng chế tài phạt vi phạm và BTTH vào thực
tiễn giải quyết tranh chấp trong hoạt động thương mại, Tạp chí TAND 2006
số 9.
160
130. Lê Nết “Góp ý dự thảo BLDS (sửa đổi) về điều khoản miễn trừ trách nhiệm và
hạn chế quyền lợi trong hợp đồng ”, Tạp chí khoa học pháp lý số 3/2003
131. Phạm Hữu Nghị, 1996, “Chế độ hợp đồng trong nền kinh tế thị trường ở Việt
Nam trong giai đoạn hiện nay”, Viện Nhà nước và pháp luật – Tác giả phó
tiến sĩ khoa học luật học
132. O.S.Ioffê , 1975, “ Luật trái vụ”, Matxcova.
133. Ngô Hải Phan, 2004, “Trách nhiệm pháp lý của công chức trong điều kiện xây
dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam hiện nay”, Học viện Chính trị Hồ chí
Minh - Tác giả tiến sĩ luật học
134. Hoàng Phê (Cb), Từ điển tiếng Việt, Nxb. Đà Nẵng, Đà Nẵng 2003.
135. An Phương, Tạm dừng tái bổ nhiệm các thẩm phán có tỷ lệ án bị hủy, sửa hơn
1,16%, Website: www.sggp.org.vn. Ngày 22/3/2013.
136. Lê Thị Diễm Phương, 2009, “Hoàn thiện chế định phạt vi phạm trong pháp
luật hợp đồng thượng mại Việt Nam”, Trường đại học luật TP.HCM- Luận văn
thạc sĩ Luật học
137. Đinh Thị Mai Phương ,2005, “Thống nhất luật hợp đồng ở Việt Nam”, Nxb Tư
pháp, Hà Nội
138. Dương Anh Sơn “Tính quốc tế của hợp đồng mua bán hàng hóa ngoại
thương”, Tạp chí khoa học pháp lý số 3/2003 tr 32-34
139. Dương Anh Sơn, 2006, Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc điều chỉnh bằng
pháp luật đối với vi phạm hợp đồng khi chưa đến thời hạn thực hiện, Tạp chí
Nhà nước và pháp luật 2006 số 4(tr 51-56, 69- 73).
140. Dương Anh Sơn, Lê Thị Bích Thọ, 2005, Một số ý kiến về phạt vi phạm do vi
phạm hợp đồng theo quy định của pháp luật Việt Nam, Tạp chí Khoa học Pháp
lý 2005 số 01( tr 26 – 31).
141. Dương Anh Sơn, Nguyễn Ngọc Sơn, Tác động của hình thức lỗi đến việc xác
định trách nhiệm hợp đồng nhìn từ góc độ nguyên tắc thiện chí và trung thực,
Tạp chí khoa học pháp lý số 1 (38), 2007.
142. Hoàng Minh Tâm, 2008, “ Vấn đề về tính lãi theo quy định của Bộ luật Dân
sự” Tạp chí TAND số 20/2008
143. Lê Thị Bích Thọ, 2002, hợp đồng kinh tế vô hiệu và hậu quả pháp lý của hợp
đồng kinh tế vô hiệu, Tác giả tiến sĩ luật học, Viện Nhà nước và pháp luật.
161
144. Nguyễn Hợp Toàn (Cb), Giáo trình pháp luật kinh tế, Đại học kinh tế quốc
dân, Nxb Đại học kinh tế quốc dân, 2012
145. Nguyên tắc Thẩm phán và hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật
– một số vấn đề lý luận và thực tiễn website: www.khotailieu.com.
146. Nguyễn Thanh Tuấn, Đảm bảo công lý trong thể chế pháp quyền ngày
20/3/2015 tại Website www.vksndtc.gov.vn.
147. Nguyễn Thị Thanh Thủy, So sánh các quy định về trách nhiệm do vi phạm
hợp trồng trong luật Thương mại 2005 và Công ước Viên 1980, Tạp chí khoa
học ĐHQGHN: Luật học, Tập 30, Số 3(2014) 50-60.
148. Nguyễn Thị Tình, Đỗ Phương Thảo, Hoàn thiện các quy định về chế tài trong
thương mại theo LTM năm 2005, Tạp chí dân chủ và pháp luật tháng 3/2013.
149. Nguyễn Thu Thảo, Lê Nguyễn Thành Nam, 1999, Những Lỗi thường gặp
trong ký kết hợp đồng dân sự, kinh tế, ngoại thương, Nxb Thống kê.
150. Vũ Thư, 1996, “Chế tài hành chính- Lý luận và thực tiễn”, Viện Nghiên cứu
Nhà nước và Pháp luật - Tác giả phó tiến sĩ luật học
151. TANDTC-VKSNDTC-BVHTT&DL-BKH,CN-BTP, thông tư liên tịch số
02/2008/TTLT- ngày 3/4/2008 về căn cứ mức bồi thường thiệt hại do xâm
phạm quyền sở hữu trí tuệ.
152. Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Bản án số 58/2007/KDTM-ST ngày
14/6/2007 về tranh chấp hợp đồng mua bán.
153. Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, Bản án số 58/2007/KDTM-ST ngày
14/6/2007 của về hợp đồng mua bán hàng hóa
154. Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh, Bản án số
15/2011/KDTM-ST ngày 9/9/2011 về tranh chấp hợp đồng mua bán.
155. Tòa án nhân dân quận 1 Thành phố Hồ Chí Minh, Bản án số 10/2010/KDTM-
ST ngày 28/4/2010 về tranh chấp hợp đồng vận chuyển.
156. Tòa án nhân dân quận 10 thành phố Hồ Chí Minh, Bản án số 10/2013/KDTM-
ST ngày 13/9/2013 về mua bán hợp đồng mua bán hàng hóa.
157. Tòa án nhân dân quận 10 thành phố Hồ Chí Minh, Bản án số
1929/2007/KDTM-ST ngày 16/7/2007 về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng
hóa.
162
158. Tòa án Nhân dân quận 10, thành phố Hồ Chí Minh, Bản án sơ thẩm số
11/2011/KDTM-ST ngày 28/9/2011 về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng
hóa và dịch vụ lắp đặt.
159. Tòa án Nhân dân quận 3 thành phố Hồ Chí Minh, Bản án số 07/2013/KDTM-
ST ngày 08/4/2013 về tranh chấp hợp đồng mua bán.
160. Tòa án nhân dân quận 3 thành phố Hồ Chí Minh, Bản án số 31/2013/ KDTM-
ST ngày 26/9/2013 về tranh chấp hợp đồng thi công xây dựng
161. Tòa án Nhân dân quận 3 thành phố Hồ Chí Minh, Bản án số 34/2013/KDTM-
ST ngày 30/9/2013 về tranh chấp hợp đồng thuê tài sản.
162. Tòa án nhân dân quận 3, thành phố Hồ Chí Minh, Bản án số 03/2013/KDTM-
ST ngày 21/01/2013 về tranh chấp hợp đồng thuê xe.
163. Tòa án Nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh, Bản án số
10/2013/KDTM-ST ngày 20/5/2013 tranh chấp về hợp đồng mua bán hàng
hóa.
164. Tòa án nhân dân quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh, Bản án số 32/2013/KDTM-
ST ngày 30/9/2013 về hợp đồng mua bán hàng hóa.
165. Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh, Bản án số 13/2011/KDTM-
ST ngày 02/6/2011 về tranh chấp hợp đồng mua bán.
166. Tòa án Nhân dân quận 7 thành phố Hồ Chí Minh, Bản án số 05/2011/KDTM-
ST ngày 19/9/2011 về hợp đồng mua bán hàng hóa.
167. Tòa án Nhân dân quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh, Bản án số 25/2013/KDTM-
ST ngày 02/5/2013 về hợp đồng thi công.
168. Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh, Bản án số
29/2013/KDTM-ST ngày 23/7/2013 về hợp đồng mua bán và thi công.
169. Tòa án nhân dân quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh, Bản án số
70/2014/KDTM –ST ngày 24/6/2014 về tranh chấp hợp đồng mua bán.
170. Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh, Bản án số
70/2014/KDTM –ST ngày 24/6/2014 về tranh chấp hợp đồng mua bán và dịch
vụ.
171. Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Bản án số 35/2011/KDTM-ST ngày
30/12/2011 về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa.
163
172. Tòa án nhân dân Quận Phú Nhuận Thành phố Hồ Chí Minh, Tại bản án số
07/2012/KDTM-ST ngày 10/4/2012 về tranh chấp hợp đồng mua bán.
173. Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh, Bản số
04/2013/KDTM-ST ngày 15/01/2013 về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng
hóa.
174. Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh, Bản án
33/2013/KDTM-ST ngày 16/8/2013 về tranh chấp hợp đồng mua bán.
175. Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh, Bản án số
01/2013/KDTM-ST ngày 21/01/2013 về tranh chấp hợp đồng mua bán.
176. Tòa án Nhân dân Quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh, Bản án số
36/2013/2013 ngày 29/8/2013 về hợp đồng mua bán.
177. Tòa án nhân dân quận Thủ Đức thành phố Hồ Chí Minh, Bản án số 05/2012/
KDTM-ST ngày 20/6/2012 về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa.
178. Tòa án nhân dân quận Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh, Bản án số
14/2013/KDTM-ST ngày 12/8/2013 về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng
hóa.
179. Tòa án nhân dân quận Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh, Bản án số
14/2013/KDTM-ST ngày 12/8/2013 về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng
hóa.
180. Tòa án nhân dân Thành phố Cam Ranh, Bản án số 02/2011/KDTM-ST ngày
15/6/2011 về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa.
181. Tòa án nhân dân Thành phố Cam Ranh, Bản án số 06/2011/KDTM-ST ngày
13/9/2011 về tranh chấp hợp đồng dịch vụ.
182. Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, Bản án số 124/2006/KDTM-ST ngày
28/12/2006 về tranh chấp hợp đồng mua bán và lắp đặt.
183. Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, Bản án số 15/2006/KDTM-ST ngày
23/2/2006 về tranh chấp hợp đồng thi công.
184. Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội, Bản án số 38/2006/KDTM-ST ngày
26/4/2006 về tranh chấp hợp đồng vận chuyển.
185. Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội, Bản án số 43/KDTM-ST ngày 24/5/2006
về hợp đồng thuê nhà xưởng.
164
186. Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội, Bản án số 47/2007/KDTM-ST ngày
18/4/2007 về tranh chấp hợp đồng dịch vụ.
187. Tòa án nhân dân Thành phố Hải Phòng, Bản án số 12/2007/KDTM-ST ngày
26/6/2007 về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa.
188. Tòa án nhân dân Thành phố Hải Phòng, Bản án số 12/2008/KDTM-ST ngày
23/4/2008 về tranh chấp hợp đồng mua bán.
189. Tòa án nhân dân Thành phố Hải Phòng, Bản án số 29/2009/KDTM-ST ngày
03/9/2009 về tranh chấp hợp đồng thuê quyền sử dụng đất.
190. Tòa án nhân dân Thành phố Hải Phòng, Bản án số 30/2011/KDTM-ST ngày
19/9/2011 về tranh chấp hợp đồng thi công.
191. Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, Bản án phúc thẩm số
59/2013/KDTM-ST ngày 11/01/2013 về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng
hóa.
192. Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Bản án số 1027/2007/KDTM-ST
ngày 22/6/2007 về tranh chấp hợp đồng dịch vụ.
193. Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, Bản án số 1929/2007/KDTM-ST
ngày 16/7/2007 do về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa.
194. Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, Bản án số 2100/2007/KDTM-ST
ngày 22/11/2007 tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa.
195. Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Bản án số 380/2012/KDTM-ST
ngày 27/3/2012 về tranh chấp hợp đồng vận chuyển.
196. Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, Bản án số 482/2007/KDTM-ST ngày
23/03/2007 về tranh chấp hợp đồng dịch vụ.
197. Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Bản án số 629/2006/KDTM-ST
ngày 11/12/2006 về tranh chấp hợp đồng dịch vụ.
198. Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Bản án số 802/2012/KDTM-ST
ngày 11/6/2012 về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa.
199. Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, Bản án số 926/2012/KDTM-ST ngày
03/7/2013 về tranh chấp hợp đồng in tạp chí.
200. Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, Phòng thống kê số lượng bản án.
201. Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, Bản án số 01/2009/KDTM-ST ngày
17/3/2009 về tranh chấp hợp đồng mua bán.
165
202. Tòa án nhân dân Thành phố Nha Trang, Bản án số 03/2007/KDTM-ST ngày
26/9/2007 về tranh chấp hợp đồng dịch vụ.
203. Tòa án nhân dân Tỉnh Bắc Giang, Bản án số 02/2008/ KDTM-ST ngày
30/9/2008 về tranh chấp hợp đồng tín dụng.
204. Tòa án nhân dân Tỉnh Khánh Hòa, Bản án số 03/2012/KDTM-PT ngày
06/3/2012 về tranh chấp về tranh chấp hợp đồng tín dụng.
205. Tòa án nhân dân Tỉnh Long An, Bản án số 02/2008/KDTM-ST ngày 04/9/2008
tranh chấp hợp đồng hợp tác đầu tư.
206. Tòa án nhân dân tối cao, Tài liệu hội nghị tổng kết thực tiễn thi hành Bộ luật
tố tụng dân sự, tại Vũng Tàu ngày 16, 17 tháng 10 năm 2014.
207. Tòa án nhân dân tối cao, Tham luận tại hội nghị triển khai công tác Tòa án
năm 2015, Hà Nội, tháng 1-2015.
208. Nguyễn Viết Tý “Vấn đề áp dụng Bộ luật Dân sự trong điều chỉnh quan hệ
hợp đồng thương mại” , Tạp chí luật học số 11/2008
209. Trường Đại học Luật Hà Nội, 2005, Giáo trình lý luận nhà nước và pháp luật,
Nxb. Tư pháp, Hà Nội.
210. Trường Đại học Luật Hà Nội,1998, “Giáo trình luật kinh tế”, Nxb.Tư Pháp,
Hà Nội.
211. Trường Đại học Luật Hà Nội ,2009, Giáo trình luật dân sự Việt Nam, Nxb
Công an nhân dân, Hà Nội
212. Trường Đại học Luật Hà Nội, 2011, “Giáo trình Luật Thương mại Việt Nam”
Nxb Công an Nhân dân Hà Nội
213. Trường Đại học Luật TP.HCM, 2012, “Giáo trình pháp luật về thương mại
hàng hóa và dịch vụ”, Nxb Hồng Đức – Hội Luật gia VN, TP.HCM
214. Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam bên cạnh phòng thương mại và công
nghiệp Việt Nam “Biểu phí trọng tài” theo quyết định số 137/VIAC ngày
24/3/2014.
215. Trương Thanh Tùng, 2004, “Phương hướng hoàn thiện Luật Thương mại
trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam hiện
nay”, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học luật TP.HCM.
166
216. Đàm Đức Tuyền, 2006, “Vi phạm hành chính và áp dụng trách nhiệm hành
chính trong lĩnh vực hải quan tại TP.HCM”, Trường Đại học Luật TP.HCM -
Luận văn Thạc sĩ luật học
217. Đào Trí Úc, 2001, “Bước đầu tìm hiểu pháp Luật Thương mại Mỹ”, Nxb Khoa
học xã hội
218. Ủy ban thường vụ quốc hội, Pháp lệnh án phí, lệ phí tòa án số 10/2009/
UBTVQH12 - Danh mục mức án phí, lệ phí tòa án.
219. Ủy ban thường vụ quốc hội, Pháp lệnh hợp đồng kinh tế 1989 của nước Cộng
hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.
220. Hồng Vân, Ngân Đình, Cấp giám đốc thẩm, tái thẩm để đơn tồn đọng quá
nhiều, Website: www.nhandan.com.vn. Ngày 7/11/2013.
221. Văn phòng Quốc Hội, Tổng quan về nguyên tắc độc lập của quyền tư pháp
trong các điều ước quốc tế và Hiến pháp một số nước.
222. Nguyễn Cửu Việt (Cb) , 1993, “ Giáo trình lý luận chung về nhà nước và
pháp luật”, Trường Đại học tổng hợp Hà Nội.
223. Phạm Thái Việt dịch “Những quy định chung của Luật hợp đồng ở Pháp, Đức,
Anh, Mỹ”, Nxb Chính trị quốc gia, 1993
224. VKSDNTC-TANDTC-Bộ Công an- Bộ Tư pháp, thông tư liên tịch số
01/1998/TTLT của hướng dẫn thi hành BLHS năm 1985.
225. VKSDNTC-TANDTC-Bộ Công an- Bộ Tư pháp, thông tư liên tịch số
02/2011/TTLT quy định chi tiết về nhóm tội xâm phạm sở hữu trong BLHS
năm 1999.
226. Nguyễn Thị Kim Vinh, 2002, Pháp luật giải quyết tranh chấp kinh tế bằng
con đường tòa án ở Việt Nam, Tác giả tiến sĩ luật học, Viện Nghiên cứu Nhà
nước và pháp luật.
TÀI LIỆU NƢỚC NGOÀI
227. Robert D.Brain, 1999, Sum and Substance quick wiew of contract, Group of
the West Publisher.
228. Daniel Bussel, 1995, “Analysis for concurrent breach of contract”
229. Steven J. Burton, Principles of contract law, Thomson West Pulisher.
230. Chichard R. W. Brooks, Alexander Streamitzer, Remedies on and off contract.
167
231. Gordon W. Brown, Paul A. Sukys, Business law with UCC application,
Glencoe Mcgraw –Hill Pulisher.
232. Jonh D. Calamari and Joseph M. Perillo, 1987. The law of Contracts, 3rd,
West Publishing Co. ST.Paul, Minn.
233. Braginskii Comm., The role of contract Law in Russian, 1996.
234. Sungjoon Cho, 2004, The Nature of remedies in international trade law.
235. Robert Cooter, Melvin Aron Eisenberg, 1985, Damage for breach of contract.
236. Robert D.Cooter, 1991. “Economic theories of legal liability”, Journal of
Economic Perspectives – Volume 5.
237. Hiroto Doganchi, Breach of contract and compulsory performance, 1990
238. Paul Dobson, 1997, Charleworth’s business law, London Sweet and Maxwell
pulisher.
239. Rosalie Jukier, 1987, The emergence of specific performance as a major
remedy in Quebec Law.
240. Richard A. Epstein, 1987, Inducement of breach of contract as a problem of
ostensile ownership, The University of Chicago Press Published .
241. Cheong May Fong, 2007. “Civil remedies in Malaysia”, Sweet and Maxwell
Asia Publishe, P 9.
242. Roy Goode, 2004, Commercial law, The penguin Group Publisher.
243. Charles L. Knapp, Nathan M.Crystal, 1993, Problems in contract law Case
and Materials, Little, Brown and Company Limited Pulished.
244. Thomas P.Lyon, Haizhou Huang, 2003, Legal remedies for breach of
regulatory “contract”,
245. Gerald Paul Mcalinn, 2007, Japanese Business law, Kluwer Law International
BV pulisher.
246. Mr. M. Srinivasa Murthy, Gaurang Jajodia, Remedies for breach of contract.
247. Christopher Osakwe, Modern Russian Law of Contracts: A Functional
Analysis, 2002.
248. Mitchell Polinksy, 1981, Risk sharing through breach of contract remedies.
249. William J. Robert and Robert N. Corley, 1967. Dillavou and Howard’s
Principles of Business Law, 8th, Prentice –Hall, Inc., Englewood Cliffs, N.J.
Publisher.
168
250. O.Lee Reed, Peter J.Sheld, Jere W.Morehead, Robert N. Corley, The legal and
regulatory environment of business, Mc Graw –Hill pulisher.
251. Brendan Sweeney, Jenifer O’reilly, 2001, Law in Commerce, Butterworths
Autralia Pulisher.
252. Nigel Savage and Robert Bradgate, 1993. “Business law”, London:
Butterworths publisher.
253. Steven Shavell, 2005, Specific performance versus damages for breach of
contract.
254. Sally Wehmeier, Oxford, 7th, Oxford University Publisher, 1948
169