
Luận văn
Hoàn thiện công tác hạch toán tiền
lương và nâng cao hiệu quả quản
lý lao động - tiền lương ở công ty

Lời mở đầu
Trong nền kinh tế mở hiện nay, bất cứ một doanh nghiệp nào khi tham
gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh đều mong muốn có được lợi nhuận tối
ưu. Điều này đòi hỏi các doanh nghiệp phải có những đối sách phù hợp, tìm
mọi cách tiết kiệm chi phí. Một trong những khoản mục chi phí mà doanh
nghiệp nào cũng phải quan tâm đến là chi phí về nhân công- là phần trị giá
sức lao động của công nhân viên tiêu hao cho sản xuất. Chi phí này biểu hiện
qua tiền lương và các khoản trích theo lương mà chủ doanh nghiệp phải trả
cho công nhân viên của mình.
Tiền lương là một phạm trù kinh tế phức tạp và có vai trò quan trọng
trong quá trình sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp. Nó là chi phí đối
với doanh nghiệp đồng thời là lợi ích kinh tế đối với người lao động. Việc
hạch toán chính xác chi phí về tiền lương có ý nghĩa cơ sở cho việc xác định
đầy đủ chi phí nhân công của doanh nghiệp, đồng thời tạo nên sự công bằng
trong phân phối tiền lương cho người lao động. Có thể nói, hạch toán tiền
lương là một trong những công cụ quản lý của doanh nghiệp. Tuỳ theo từng
điều kiện hoạt động, đặc điểm sản xuất kinh doanh khác nhau mà các doanh
nghiệp có phương thức hạch toán khác nhau. Song các doanh nghiệp cần phải
thực hiện công tác quản lý, hạch toán tiền lương và các khoản trích theo
lương một cách hợp lý, có hiệu quả và phù hợp. Để từ đó có biện pháp tiết
kiệm chi phí, nâng cao năng suất lao động nhằm đảm bảo lợi nhuận cho
doanh nghiệp và thu nhập ổn định cho người lao động. Qua thời gian thực tập
tại Công ty Sơn Tổng hợp Hà Nội, em đã được tiếp cận với thực tế hạch toán
và quản lý tiền lương của Công ty. Em đã cố gắng kết hợp giữa những kiến
thức được học ở trường với kiến thức thực tế để hoàn thành khoá luận với đề
tài: "Hoàn thiện công tác hạch toán tiền lương và nâng cao hiệu quả quản
lý lao động - tiền lương ở công ty".
Khoá luận bao gồm ba phần chính sau:

Phần I:Những vấn đề lý luận cơ bản về hạch toán tiền lương và các
khoản trích theo lương trong các doanh nghiệp.
Phần II:Thực trạng hạch toán lao động,tiền lương và các khoản
trích theo lương tại Công ty Sơn Tổng hợp Hà Nội.
Phần III:Những kiến nghị nhằm hoàn thiện hạch toán tiền
lương,các khoản trích theo lương và các biện pháp tăng cường quản lý quỹ
lương tại Công ty Sơn Tổng hợp Hà Nội.

phần I
Những vấn đề lý luận cơ bản về công tác
hạch toán tiền lương ,các khoản trích theo lương
và quản lý quỹ lương trong doanh nghiệp
I.Khái niệm và bản chất kinh tế của tiền lương
1.Khái niệm về tiền lương.
Trong mọi quá trình sản xuất, luôn có sự kết hợp đồng thời các yếu tố
cơ bản là: sức lao động, đối tượng lao động và tư liệu lao động. Trong đó, sức
lao động với tư cách là hoạt động chân tay và trí óc của con người, sử dụng
các tư liệu lao động nhằm tác động, biến đổi các đối tượng lao động thành các
vật phẩm có ích phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt của con người.
Theo Mác :"Sức lao động có đặc điểm là khi được tiêu dùng sẽ tạo ra
một giá trị mới lớn hơn. Vì thế có thể coi nguồn gốc duy nhất tạo ra giá trị
thặng dư là sức lao động."
Đối với mọi doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, việc tìm kiếm lợi
nhuận chủ yếu thông qua giá trị thặng dư. Để đảm bảo cho quá trình sản xuất
diễn ra bình thường và liên tục thì nhất thiết phải có yếu tố sức lao động, nếu
thiếu nó thì quá trình sản xuất không thể diễn ra.
Trong điều kiện nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần hiện nay, sức
lao động mang tính chất là một loại hàng hoá đặc biệt. Người lao động có
quyền tự do làm chủ sức lao động của mình, có quyền đòi hỏi được trả công
xứng đáng với sức lao động mình bỏ ra. Với ý nghĩa đó, tiền lương (tiền
công) là biểu hiện bằng tiền của giá trị sức lao động, được thoả thuận hợp lý
giữa người mua và người bán sức lao động. Trong xã hội phát triển, tiền
lương trở thành một bộ phận cơ bản trong thu nhập của người lao động,đảm
bảo nhu cầu sống và giải trí của họ.
Như bất kỳ một loại hàng hoá nào trên thị trường, tiền lương cũng phải
tuân theo quy luật cung cầu, quy luật giá cả trên thị trường và theo quy định

của Nhà nước. Để mọi người hiểu rõ được bản chất của tiền lương thì các
doanh nghiệp sử dụng lao động phải có mức trả lương hợp lý, đảm bảo tiền
lương ngang giá với sức lao động mà người lao động bỏ ra. Trước đây, trong
cơ chế kế hoạch hoá tập trung, tiền lương không gắn chặt với số lượng và chất
lượng lao động vì thế nó không tạo được động lực phát triển sản xuất. Chỉ từ
khi đổi mới cơ chế nền kinh tế, nó mới thực sự đóng vai trò thúc đẩy nền kinh
tế phát triển.
Có thể tổng hợp lại một cách đầy đủ khái niệm về tiền lương như
sau:"Tiền lương là biểu hiện bằng tiền của giá trị sức lao động, là giá cả của
yếu tố sức lao động mà người sử dụng lao động phải trả cho người cung ứng
sức lao động , tuân theo các nguyên tắc cung cầu, giá cả thị trường và pháp
luật hiện hành của Nhà nước." Tiền lương vừa là một phạm trù về phân phối
vừa là một phạm trù của trao đổi và tiêu dùng.
Trên thực tế, tiền lương chỉ thực sự có ý nghĩa khi nó đáp ứng được
nhu cầu của người lao động.Xã hội càng phát triển, trình độ và kỹ năng làm
việc của người lao động ngày càng cao, tiền lương không chỉ đáp ứng được
nhu cầu sinh hoạt vật chất mà cao hơn nữa tiền lương còn phải đáp ứng được
nhu cầu tinh thần của người lao động. Người lao động không quan tâm đến
khối lượng tiền nhận được mà thực chất là họ quan tâm đến khối lượng hàng
hoá dịch vụ mà họ có thể mua được bằng tiền lương của mình. Do vậy, đã tồn
tại hai khái niệm là tiền lương thực tế và tiền lương danh nghĩa.
Tiền lương danh nghĩa được hiểu là số tiền mà người sử dụng lao động
trả cho người lao động. Số tiền này nhiều hay ít phụ thuộc vào năng suất lao
động và hiệu quả làm việc của người lao động, phụ thuộc vào trình độ lao
động và kinh nghiệm làm việc của họ. Còn tiền lương thực tế là số lượng các
loại hàng hoá và dịch vụ tiêu dùng cần thiết mà người lao động có thể mua
được bằng tiền lương danh nghĩa của họ.
Giữa hai loại tiền lương này có mối quan hệ mật thiết với nhau thể hiện
qua công thức:

