ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
LƢƠNG TOÀN THẮNG
ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC TRIỂN KHAI NGHỊ QUYẾT SỐ 29-NQ/TW
VỀ ĐỔI MỚI CĂN BẢN, TOÀN DIỆN GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ TRONG
ĐIỀU KIỆN KINH TẾ THỊ TRƢỜNG ĐỊNH HƢỚNG XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN KIẾN THỤY, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
THÁI NGUYÊN - 2015
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.ltc.tnu.edu.vn
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
LƢƠNG TOÀN THẮNG
ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC TRIỂN KHAI NGHỊ QUYẾT SỐ 29-NQ/TW
VỀ ĐỔI MỚI CĂN BẢN, TOÀN DBIỆN GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ TRONG ĐIỀU
KIỆN KINH TẾ THỊ TRƢỜNG ĐỊNH HƢỚNG XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN KIẾN THỤY, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Chuyên ngành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã ngành: 60.14.01.14
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁ O DỤC
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS Từ Đức Văn
THÁI NGUYÊN - 2015
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.ltc.tnu.edu.vn
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi, dưới
sự hướng dẫn khoa học của PGS. TS Từ Đức Văn. Các kết quả nghiên cứu trong
luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nghiên
cứu nào.
Thái Nguyên, ngày 6 tháng 4 năm 2015
Tác giả luận văn
Lƣơng Toàn Thắng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.ltc.tnu.edu.vn i
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp “Đánh giá công tác triển khai Nghị quyết
số 29-NQ/TW về "đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu
công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa và hội nhập quốc tế" trên địa bàn huyện Kiến Thuỵ Thành phố Hải
Phòng”, tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của Ban giám hiệu nhà trường, Phòng
sau Đại học, tập thể các thầy cô giáo khoa Tâm lý giáo dục.
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu nhà trường, Phòng sau Đại học,
các phòng; cán bộ các khoa, phòng; các thầy, cô giáo khoa Tâm lý giáo dục đã giúp
đỡ tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn.
Tôi xin gửi lời cám ơn sâu sắc tới PGS.TS Từ Đức Văn -Trường Đại học Sư
phạm Hà Nội đã trực tiếp chỉ bảo, hướng dẫn tôi trong quá trình thực hiện luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, đồng nghiệp và bạn bè đã động viên và
nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện luận văn.
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 6 tháng 4 năm 2015
Tác giả luận văn
Lƣơng Toàn Thắng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.ltc.tnu.edu.vn ii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ................................................................................................... i
LỜI CẢM ƠN ........................................................................................................ ii
MỤC LỤC ............................................................................................................. iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN .................................. iv
DANH MỤC CÁC BẢNG ..................................................................................... v
MỞ ĐẦU ................................................................................................................ 1
1. Lý do chọn đề tài ............................................................................................. 1
2. Mục đích nghiên cứu ....................................................................................... 3
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu ................................................................. 3
4. Giả thuyết khoa học ......................................................................................... 4
5. Nhiệm vụ nghiên cứu ...................................................................................... 4
6. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu ...................................................................... 4
7. Phương pháp nghiên cứu ................................................................................. 5
8. Cấu trúc của luận văn ...................................................................................... 5
Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC TRIỂN KHAI NGHỊ QUYẾT
SỐ 29-NQ/TW VỀ ĐỔI MỚI CĂN BẢN VÀ TOÀN DIỆN GIÁO
DỤC VÀ ĐÀO TẠO ............................................................................. 6
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề (một số quan điểm, chiến lược của Đảng ta về
giáo dục) ............................................................................................................. 6
1.1.1. Quan điểm của Hồ Chí Minh về giáo dục và đào tạo ............................. 6
1.1.2. Từ khi Đảng ta thành lập đến nay .......................................................... 7
1.2. Một số khái niệm cơ bản của đề tài ............................................................... 9
1.2.1. Đánh giá ................................................................................................ 9
1.2.2. Nghị quyết, triển khai Nghị quyết ........................................................ 10
1.2.3. Đánh giá triển khai Nghị quyết ............................................................ 11
1.2.4. Đổi mới ............................................................................................... 11
1.2.5 Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo .................................... 11
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.ltc.tnu.edu.vn iii
1.3. Sự ra đời, hình thành, nội dung Nghị quyết 29- NQ/TW về đổi mới căn
bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại
hoá trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội
nhập quốc tế. .................................................................................................... 12
1.3.1. Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả công tác triển khai Nghị quyết về
đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công
nghiệp hoá, hiện đại hoá trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. ...................................................................... 12
1.3.2. Nội dung cơ bản của Nghị quyết số 29-NQ/TW về đổi mới căn bản,
toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá
trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập
quốc tế. ......................................................................................................... 13
1.3.3. Kế hoạch triển khai thực hiện .............................................................. 23
1.4. Nội dung đánh giá triển khai Nghị quyết 29-NQ/TW về đổi mới căn bản,
toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá
trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc
tế (Mục tiêu, nội dung, phương pháp, đối tượng khảo sát ở cấp huyện) ............. 25
1.4.1. Đánh giá triển khai xác định mục tiêu, yêu cầu của Nghị quyết ........... 25
1.4.2. Đánh giá triển khai thực hiện nội dung của Nghị quyết ....................... 26
1.4.3. Đánh giá đổi mới phương thức triển khai Nghị quyết (Phương pháp và
hình thức triển khai) ...................................................................................... 26
1.4.4. Đánh giá cơ sở vật chất, phương tiện (Phương tiện kỹ thuật hiện đại)
triển khai Nghị quyết. .................................................................................... 27
1.4.5. Đánh giá thực hiện nhiệm vụ triển khai Nghị quyết. ............................ 27
1.5. Các yếu tố đánh giá công tác triển khai Nghị quyết số 29 (Khách quan và
chủ quan) .......................................................................................................... 28
1.5.1. Chủ thể và đối tượng triển khai Nghị quyết ......................................... 28
1.5.2. Nội dung và hình thức triển khai Nghị quyết ....................................... 29
1.5.3. Phương pháp và phương tiện triển khai Nghị quyết. ............................ 30
1.5.4. Đánh giá việc triển khai ....................................................................... 30
Kết luận chương 1 ................................................................................................. 32
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.ltc.tnu.edu.vn iv
Chƣơng 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC TRIỂN KHAI NGHỊ QUYẾT SỐ 29-
NQ/TW VỀ ĐỔI MỚI CĂN BẢN, TOÀN DIỆN GIÁO DỤC VÀ
ĐÀO TẠO, TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN KIẾN THỤY, THÀNH PHỐ
HẢI PHÒNG ....................................................................................... 33
2.1. Các yếu tố tác động tới công tác triển khai Nghị quyết số 29-NQ/TW “về đổi
mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá,
hiện đại hoá trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và
hội nhập quốc tế” huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng ................................ 33
2.1.1. Đặc điểm chính trị- kinh tế - xã hội huyện Kiến Thụy, thành phố
Hải Phòng .................................................................................................... 33
2.1.2. Thực trạng giáo dục và đào tạo huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng. ... 35
2.2. Thực trạng triển khai Nghị quyết số 29 ở huyện Kiến Thụy, thành phố
Hải Phòng......................................................................................................... 42
2.2.1. Mục tiêu khảo sát ................................................................................ 42
2.2.2. Nội dung, đối tượng và phương pháp tiến hành khảo sát ..................... 42
2.2.3. Kết quả khảo sát ................................................................................. 42
2.3. Đánh giá thành công và hạn chế của công tác triển khai Nghị quyết trên địa
bàn huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng ..................................................... 51
2.3.1. Thành công và nguyên nhân ................................................................ 51
2.3.2. Hạn chế và nguyên nhân ...................................................................... 59
2.4. Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến công tác triển khai Nghị quyết (Những
vấn đề đặt ra trong công tác triển khai Nghị quyết về đổi mới căn bản và toàn
diện giáo dục và đào tạo trên địa bàn huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng
trong thời gian tới) ............................................................................................ 64
2.4.1. Mâu thuẫn giữa yêu cầu ngày càng tăng của công tác triển khai Nghị
quyết với nhận thức còn hạn chế của cấp ủy và hệ thống chính trị về vị trí vai
trò của Nghị quyết nói chung và nghị quyết về đổi mới căn bản toàn diện giáo
dục và đào tạo nói riêng. ............................................................................... 64
2.4.2. Mâu thuẫn giữa tính đơn điệu, thiếu linh hoạt, sáng tạo trong nội dung,
hình thức, phương pháp triển khai Nghị quyết. .............................................. 65
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.ltc.tnu.edu.vn v
2.4.3. Mâu thuẫn giữa sự đầu tư còn hạn chế về các nguồn lực cho công tác
triển khai Nghị quyết..................................................................................... 67
Kết luận chương 2 ................................................................................................. 69
Chƣơng 3 CÁC BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC TRIỂN
KHAI NGHỊ QUYẾT 29-NQ/TW TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN KIẾN
THỤY, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG ................................................. 70
3.1. Các nguyên tắc, nhiệm vụ đề xuất biện pháp nâng cao hiệu quả công tác triển
khai Nghị quyết số 29 về đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo trên
địa bàn huyện huyện Kiến Thuỵ thành phố Hải Phòng ...................................... 70
3.1.1. Các nguyên tắc đề xuất ........................................................................ 70
3.1.2. Nhiệm vụ triển khai Nghị quyết số 29 trên địa bàn huyện Kiến Thụy,
thành phố Hải Phòng hiện nay ....................................................................... 71
3.2. Các biện pháp nâng cao hiệu quả công tác triển khai Nghị quyết trên địa bàn
huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng ............................................................ 72
3.2.1. Tăng cường sự lãnh đạo của Huyện ủy - Uỷ ban nhân dân huyện, cấp ủy
và chính quyền các cấp, trong công tác triển khai Nghị quyết ....................... 72
3.2.2. Nâng cao nhận thức và trách nhiệm của cấp uỷ xã, lãnh đạo các nhà
trường trong đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo ......................... 75
3.2.3. Nâng cao chất lượng (phẩm chất và năng lực) của đội ngũ cán bộ chủ
chốt, đội ngũ báo cáo viên, lãnh đạo quản lý các nhà trường, cơ sở giáo dục . 76
3.2.4. Đổi mới về hình thức, phương pháp, phương tiện của công tác triển khai
Nghị quyết .................................................................................................... 79
3.2.5. Tăng cường phối hợp giữa tổ chức hội, cha mẹ học sinh, hội khuyến học
khuyến tài, các tổ chức đoàn thể trong công tác triển khai Nghị quyết đổi mới
căn bản giáo dục và đào tạo........................................................................... 83
3.2.6. Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất cho công tác giáo dục...................... 87
3.3. Mối quan hệ của các biện pháp ................................................................... 89
3.4. Khảo nghiệm tính cấp thiết và khả thi của các biện pháp ............................ 90
3.4.1. Mục đích của khảo nghiệm .................................................................. 90
3.4.2. Các bước khảo nghiệm ........................................................................ 91
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.ltc.tnu.edu.vn vi
3.4.3. Kết quả khảo nghiệm ........................................................................... 91
Kết luận chương 3 ................................................................................................. 95
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ............................................................................. 96
1. Kết luận ......................................................................................................... 96
2. Kiến nghị....................................................................................................... 97
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................ 99
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.ltc.tnu.edu.vn vii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
CBQL : Cán bộ quản lý
CNH,HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
CNXH : Chủ nghĩa xã hội
CLB : Câu lạc bộ
CSVC : Cơ sở vật chất
GD&ĐT : Giáo dục và Đào tạo
KT - XH : Kinh tế, xã hội
MTTQ : Mặt trận tổ quốc
MN : Mầm non
THCS : Trung học cơ sở
TH : Tiểu học
TTN : Thanh thiếu nhi
THPT : Trung học phổ thông
UBND : Uỷ ban nhân dân
XHCN : Xã hội chủ nghĩa
iv
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Thống kê số lượng giáo viên cấp Trung học Phổ thông huyện Kiến Thụy ..... 38
Bảng 2.2: Thống kê số lượng giáo viên cấp Trung học Cơ sở huyện Kiến Thụy ........... 38
Bảng 2.3: Thống kê số lượng giáo viên cấp Tiểu học huyện Kiến Thụy................. 38
Bảng 2.4: Thống kê số lượng giáo viên cấp học Mầm non huyện Kiến Thụy ......... 39
Bảng 2.5: Thống kê về cơ cấu độ tuổi và thâm niên nghề đội ngũ cán bộ quản lý
ngành giáo dục và đào tạo huyện Kiến Thụy (năm 2014) ...................... 40
Bảng 2.6: Thống kê về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm .......................... 40
Bảng 2.7: Thống kê về trình độ lý luận chính trị .................................................... 41
Bảng 2.8: Thống kê về trình độ tin học ngoại ngữ ................................................. 41
Bảng 3.1: Kết quả khảo nghiệm nhận thức về mức độ cần thiết của các biện
pháp đề xuất .................................................................................. 92
Bảng 3.2: Kết quả khảo nghiệm về tính khả thi của các biện pháp đề xuất ..................... 93
v
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Giáo dục đào tạo có vị trí đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển của mỗi
quốc gia mỗi, dân tộc. Ngay từ khi lập nước, kiến thiết nước nhà, Bác đã căn dặn:
“non sông Việt Nam có trở nên vẻ vang hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới
đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không chính là
nhờ một phần lớn ở công học tập của các em”.
Trong bất cứ giai đoạn, hoàn cảnh cách mạng nào, giáo dục và đào tạo luôn
được Đảng và nước quan tâm sâu sắc; đặt giáo dục và đào tạo vào vị trí cao. Nghị
quyết Trung ương 2 khoá VIII đã xác định phát triển giáo dục và đào tạo là quốc sách
hàng đầu, là nền tảng, động lực thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội trong giai đoạn đẩy
mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá.. Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đã
đánh giá thực trạng của giáo dục và đào tạo sau 20 năm đổi mới đất nước (1986-2006).
Kết luận số 84 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng nêu: "sự nghiệp giáo dục và đào
tạo nước ta tiếp tục phát triển và được đầu tư nhiều hơn…phát triển giáo dục- đào tạo là
một trong những động lực thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá là điều kiện để phát huy
nguồn lực con người- yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và
bền vững” [2].
Quá trình phát triển của đất nước, của 30 năm thực hiện công cuộc đổi mới,
hội nhập quốc tế, chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử.
Trong đó có đóng góp của lĩnh vực Giáo dục- đào tạo.
Giáo dục đào tạo đã qua ba lần cải cách và đổi mới đạt được nhiều thành tựu
góp phần quan trọng vào thắng lợi của công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Tuy
nhiên, giáo dục đã bộc lộ những yếu kém, bất cập, trong đó có những vấn đề gây bức
xúc xã hội kéo dài. Nhiều chính sách, cơ chế, giải pháp về giáo dục đến nay đã không
còn phù hợp cần được điều chỉnh.
Tại hội nghị lần thứ Tám (khoá XI), Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã ban
hành Nghị quyết số 29- NQ/TW ngày 4/11/2013 về “đổi mới căn bản và toàn diện
giáo dục- đào tạo đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá hiện đại hoá trong điều kiện kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” một lần nữa khẳng
định sự quan tâm của Đảng, nhà nước trong lĩnh vực quan trọng này.
1
Trong nhiều vấn đề đặt ra đối với lĩnh vực giáo dục và đào tạo thì công tác
triển khai các Nghị quyết của Đảng đối với giáo dục và đào tạo là vấn đề được toàn
xã hội, nhiều cấp uỷ, nhiều ngành quan tâm. Nhưng trong thực tế hiện có một số cấp
uỷ, nhà trường, nhà quản lý giáo dục và cả các thầy cố giáo, chưa nhận thức đầy đủ
tầm quan trọng của các Nghị quyết này, còn cho rằng đó ở tầm vĩ mô của Trung
ương, của nhà nước, mình chỉ là người "chỉ sao làm vậy" đã gây ảnh hưởng không
nhỏ đến chất lượng giáo dục và đào tạo. Một trong những hạn chế của kết quả thực
hiện các Nghị quyết của Đảng nói chung cũng như nghị quyết về giáo dục và đào tạo
nói riêng đó là công việc đầu tiên trong "lộ trình" thực hiện nghị quyết- công tác triển
khai Nghị quyết của cấp uỷ, chính quyền địa phương và các cơ sở giáo dục đào tạo...
Từ những nhận thức chưa đầy đủ, dẫn đến việc xây dựng kế hoạch, tổ chức
triển khai, thực hiện, kiểm tra, đánh giá thực hiện nghị quyết còn những bất cập.
Việc đánh giá công tác triển khai Nghị quyết là công việc quan trọng, qua đó
các cấp uỷ đảng có cái nhìn thấu đáo hơn về những mặt mạnh cũng như chỉ ra được
nhũng tồn tại hạn chế cần khắc phục điều chỉnh. Đối với Nghị quyết về giáo dục và
đào tạo nó giúp cho nhà quản lý thu được những tín hiệu ngược, ngoài ra qua đó xác
nhận được thực trạng triển khai của xã hội, của cấp uỷ đảng, của nhà trường đối với
nghị quyết, nắm bắt được sự quan tâm của xã hội và của ngành giáo dục đối với nghị
quyết như thế nào?
Một vấn đề hiện nay được xã hội (nhất là ngành giáo dục và đào tạo) đặc biệt
quan tâm và kỳ vọng đó là chúng ta đang triển khai Nghị quyết số 29 của-NQ/TW
của Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục
và đào tạo đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá hiện đại hoá trong điều kiện kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. Nghị quyết đã đi vào cuộc
sống một năm nay. Giáo dục và đào tạo được kỳ vọng sẽ "đổi mới căn bản, toàn diện"
và giáo dục đào tạo có làm được được những điều kỳ vọng như mong muốn đó
không, đòi hỏi sự vào cuộc của toàn xã hội, phải thực hiện đồng bộ và hiệu quả các
giải pháp nghị quyết đã nêu. Một trong những biện pháp quan trọng để để mọi cấp,
mọi ngành, mọi nhà, mọi người hiểu rõ, nắm rõ tạo được sự đồng thuận và giúp sức
của toàn xã hội đó chính là công tác triển khai nghị quyết. Đây là một nhiệm vụ vừa
đáp ứng yêu cầu trước mắt vừa mang tính lâu dài, nhằm thực hiện hiệu quả yêu cầu
của trung ương: “các cấp uỷ, tổ chức đảng, mặt trận tổ quốc và các đoàn thể nhân dân
tổ chức việc học tập, quán triệt tạo sự thống nhất về nhận thức và hành động thường
2
xuyên kiểm tra việc thực hiện, đặc biệt là kiểm tra công tác chính trị, tư tưởng và việc
xây dựng nền nếp kỷ cương trong các trường học…xây dựng kế hoạch hành động
thực hiện nghị quyết” [1]
Tiếp tục quán triệt quan điểm "xây dựng thế hệ con người mới, làm chủ
tương lai, kế tục trung thành sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc, truyền
thống “Trung dũng, quyết thắng” của thành phố cảng Hải Phòng, truyền thống quê
hương Kim Sơn kháng Nhật, Kiến Thụy anh hùng"[14]. Quan tâm, đầu tư cho giáo
dục là đầu tư cho tương lai, là bồi dưỡng phát huy nhân tố con người nhằm thực
hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá quê hương đất nước. Xuất
phát từ thực tiễn công tác triển khai các nghị quyết, kể cả các chủ trương, nghị
quyết của Đảng về giáo dục và đào tạo trên địa bàn huyện Kiến Thụy còn những bất
cập, tác giả đã mạnh dạn lựa chọn và nghiên cứu đề tài : “Đánh giá công tác triển
khai Nghị quyết số 29-NQ/TW về "đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo,
đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong điều kiện kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế" trên địa bàn huyện Kiến Thuỵ
Thành phố Hải Phòng”.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở làm rõ tầm quan trọng của Nghị quyết và thực tiễn công tác triển
khai Nghị quyết số 29 “về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng
yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” trên địa bàn huyện Kiến Thuỵ thành phố Hải
Phòng để đề ra các biện pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả công tác triển khai và
thực hiện Nghị quyết đạt hiệu quả trong thời gian tới.
3. Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
Đánh giá quá trình triển khai Nghị quyết số 29-NQ/TW trên địa bàn huyện
Kiến Thuỵ Thành phố Hải phòng
3.2. Đối tượng nghiên cứu
- Biện pháp đánh giá triển khai Nghị quyết số 29 về đổi mới căn bản, toàn
diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong điều
kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế trên địa bàn
huyện Kiến Thuỵ, Thành phố Hải phòng
3
4. Giả thuyết khoa học
Công tác triển khai triển khai Nghị quyết số 29 về đổi mới căn bản, toàn diện
giáo dục và đào tạo trên địa bàn huyện Kiến Thụy đã đạt được một số kết quả bước
đầu; tuy nhiên còn bộc lộ những hạn chế, yếu kém, khó khăn. Nếu có được một số
biện pháp đồng bộ, hiệu quả, phù hợp, có tính khả thi về đánh giá quá trình triển
khai Nghị quyết thì sẽ thực hiện được mục tiêu của Nghị quyết đề ra.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận quản lý về GD&ĐT ở cấp cơ sở (Cấp huyện)
- Khảo sát, đánh giá thực trạng công tác triển khai Nghị quyết số 29 về đổi
mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo trên địa bàn huyện Kiến Thuỵ, thành
phố Hải Phòng.
- Đề xuất biện pháp triển khai Nghị quyết số 29 trên địa bàn huyện Kiến
Thụy, thành phố Hải Phòng hiệu quả, nhằm đáp ứng mục tiêu của đổi mới căn bản,
toàn diện giáo dục và đào tạo.
6. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
6.1. Chủ thể quản lý, chủ thể đánh giá triển khai
- Chủ thể quản lý: Huyện uỷ Kiến Thụy thành phố Hải Phòng.
- Chủ thể đánh giá triển khai: Huyê ̣n ủ y, hê ̣ thống chính tri ̣ củ a huyê ̣n, các cơ
sở giáo du ̣c và nhân dân.
6.2. Giới hạn về nội dung và đối tượng nghiên cứu
Hội nghị Trung ương Tám bàn nhiều nội dung quan trọng: gồm 2 Nghị
quyết, 2 Kết luận cùng các nội dung khác. Tuy nhiên đề tài chỉ tập trung nghiên cứu
công tác triển khai Nghị quyết số 29 về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào
tạo trên địa bàn huyện Kiến Thụy - thành phố Hải Phòng.
6.3. Khách thể khảo sát
- Cán bộ quản lý: 70 người (Cán bộ lãnh đạo Huyện ủy, Ủy ban, Mặt trận, lãnh
đạo phòng GD&ĐT huyện Kiến Thuỵ, cán bộ quản lý các trường THPT, THCS, Tiểu
học, Mầm non; Các tổ chức đoàn thể chính trị- xã hội; (Phiếu khảo sát 1)
- Đội ngũ giáo viên có kinh nghiệm các cấp: 85 người (Phiếu khảo sát 2)
- Giới hạn về địa bàn nghiên cứu: huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng.
4
7. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lý luận.
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn.
- Phương pháp thống kê toán học.
- Phương pháp dự báo...
8. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được
kết cấu thành 3 chương:
Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về công tác triển khai Nghị quyết số 29- NQ/TW
"về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo”.
Chƣơng 2: Thực trạng công tác triển khai thực hiện Nghị quyết số 29-
NQ/TW "về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo” trên địa bàn huyện
Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng hiện nay
Chƣơng 3: Các biện pháp nâng cao hiệu quả công tác triển khai Nghị quyết
số 29-NQ/TW trên địa bàn huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng
5
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC TRIỂN KHAI NGHỊ QUYẾT
SỐ 29-NQ/TW VỀ ĐỔI MỚI CĂN BẢN VÀ TOÀN DIỆN
GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề (một số quan điểm, chiến lƣợc của Đảng ta về
giáo dục)
1.1.1. Quan điểm của Hồ Chí Minh về giáo dục và đào tạo
Trên cương vị là người lãnh đạo cao nhất của Đảng và Nhà nước, Chủ tịch
Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến sự nghiệp giáo dục. Người khẳng định đất nước
thịnh hay suy, yếu hay mạnh phụ thuộc phần lớn vào sự nghiệp giáo dục, Người đã
nói: Vì lợi ích mười năm phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm phải trồng người.
Trong những năm đấu tranh gian khổ giành độc lập cho dân tộc, người đã trực
tiếp mở nhiều lớp đào tạo bồi dưỡng cán bộ. Ngay sau khi đất nước mới giành được độc
lập (1945), trong cuộc đọ sức với muôn vàn khó khăn, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác
định “giặc dốt” là một trong ba loại giặc nguy hiểm nhất. Người nói: Một dân tộc dốt là
một dân tộc yếu và dân tộc ta có biết đọc, biết viết, biết chính nghĩa và phi nghĩa thì
quan điểm đường lối, chính sách của Đảng và Chính phủ mới đi vào cuộc sống, mới trở
thành động lực của cách mạng, thúc đẩy công cuộc kháng chiến cứu quốc thắng lợi.
Chính vì vậy, trong lúc cả dân tộc ta đang tiến hành cuộc kháng chiến chống
Pháp, Đảng, Bác Hồ và Chính phủ đã phát động phong trào xoá nạn mù chữ, thành
lập “Nha bình dân học vụ”. Nhờ đó nạn “giặc dốt” dần dần được đẩy lùi.
Trong buổi khai trường đầu tiên của nền giáo dục cách mạng, Chủ tịch Hồ
Chí Minh đã gửi thư động viên các cháu học sinh trong cả nước với lời lẽ nhiệt
huyết: “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không; dân tộc Việt Nam có
bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không
chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em”.
Đến những năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước, trong điều kiện cách mạng
ác liệt, Bác vẫn hết sức quan tâm đến sự nghiệp giáo dục. Trong bức thư cuối cùng
gửi cho ngành giáo dục (16/10/1968) Bác đã viết: “Dù khó khăn đến đâu cũng phải
thi đua dạy tốt, học tốt” [21]. Bác cũng đề nghị các cấp, các ngành phải thực sự
quan tâm đến sự nghiệp giáo dục, để không ngừng đẩy mạnh sự nghiệp giáo dục
của ta từng bước đi lên..
6
1.1.2. Từ khi Đảng ta thành lập đến nay
Cùng với tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong suốt quá trình lãnh đạo
cách mạng, Đảng ta đã đề ra nhiều chủ trương, chính sách để phát triển giáo dục và
đào tạo.
Từ tháng 10/1945, chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà đã thành lập “Hội
đồng cố vấn học chính”, nhằm nghiên cứu chương trình cải cách giáo dục. Đến
tháng 7/1950, Chính phủ đã thông qua đề án cải cách giáo dục và thực hiện công
cuộc cải cách giáo dục lần thứ nhất. Đó là một nền giáo dục theo tính dân tộc, khoa
học và đại chúng.
Năm 1954, Miền Bắc được hoàn toàn giải phóng. Tháng 5/1956, Chính phủ
thông qua đề án cải cách giáo dục lần thứ 2, ban hành chính sách giáo dục phổ
thông. Mục tiêu giáo dục là đào tạo thế hệ trẻ thành những công dân có đức, có tài
để xây dựng nền dân chủ, tiến lên chủ nghĩa xã hội, đấu tranh thống nhất nước nhà.
Phương châm giáo dục là lí luận gắn với thực tiễn, nhà trường gắn với đời sống. Nội
dung giáo dục toàn diện gồm bốn mặt: Đức, tài, thể, mỹ.
Đất nước thống nhất (năm 1975) đã mở ra giai đoạn cả nước tiến lên xây
dựng chủ nghĩa xã hội, đồng thời cũng mở ra trang mới cho sự phát triển của giáo
dục Việt Nam. Thực hiện Nghị quyết đại hội lần thứ tư tháng 12 năm 1976 của
Đảng, ngày 11/1/1979 Bộ Chính trị Trung ương Đảng đã ra Nghị quyết số
14/NQ/TW về cải cách giáo dục, trong đó đã phát triển và hoàn thiện hệ thống quan
điểm về giáo dục xã hội chủ nghĩa và xác lập cơ cấu mới của Hệ thống giáo dục
quốc dân thống nhất trong cả nước.
Năm 1978 quán triệt đường lối đổi mới kinh tế -xã hội đề ra tại Đại hội đại
hội toàn quốc lần thứ VI (tháng 12/1986) của Đảng, chúng ta đã tiến hành thực hiện
thành công cuộc đổi mới giáo dục theo hướng làm cho giáo dục ngày càng đáp ứng
hơn với yêu cầu của sự phát triển kinh tế- xã hội.
Nghị quyết Trung ương 4 khoá VII ngày 14/1/1993 về tiếp tục "đổi mới sự
nghiệp giáo dục và đào tạo” đã xác lập hệ quan điểm mới chỉ đạo sự nghiệp giáo dục
và đào tạo. Cơ cấu khung của hệ thống giáo dục quốc dân, hệ thống các văn bằng
chứng chỉ về giáo dục và đào tạo của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã
được quy định theo Nghị định 90/cp ngày 24/11/1993 và tiếp tục điều chỉnh, hoàn
chỉnh thực hiện theo Luật giáo dục tháng 12/1998 và đến nay Luật giáo dục -6/2005.
7
Trong giai đoạn hiện nay, cuộc cách mạnh khoa học, công nghệ trên thế giới
bước phát triển nhanh như vũ bão. "Kinh tế trí thức có vai trò ngày càng nổi bật
trong quá trình phát triển của lực lượng sản xuất. Giáo dục và đào tạo đã trở thành
nhân tố quyết định đối với sự phát triển kinh tế xã hội. Tất cả các nước trên thế giới
kể cả những nước kém phát triển cũng như các nước phát triển đều coi giáo dục như
nhân tố quyết định sự phát triển nhanh, bền vững của mỗi quốc gia” [8].
Đảng nhà nước ta luôn coi trọng phát triển giáo dục đặt giáo dục ở vị trí hàng
đẩu. Mỗi kỳ đại hội, trong các văn kiện đều đánh giá và coi giáo dục và đào tạo như
ở một bậc thang cao hơn, một yêu cầu bức thiết và quan trọng.
Nghị quyết Trung ương 2 khoá VIII xác định phát triển giáo dục và đào tạo
là quốc sách hàng đầu, là nền tảng và là động lực thức đẩy sự nghiệp công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nước.
Đại hội X của Đảng tiếp tục khẳng định giáo dục và đào tạo là một trong
những động lực thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, là điều kiện để
phát huy nguồn lực con người - yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh
tế nhanh và bền vững.
Luật giáo dục xác định cụ thể những định hướng phát triển của hệ thống giáo
dục quốc dân "đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, trí thức
sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập của dân tộc và
chủ nghĩa xã hội, hình thành và bồi dưỡng nhân cách phẩm chất và năng lực của
công dân đáp ứng được yêu cầu xây dựng và bảo vệ tổ quốc” [24].
Nhìn tổng thể nền giáo dục nước ta được xây dựng từ Cách mạng tháng Tám
thành công năm 1945 cho đến nay chúng ta đã xây dựng được một hệ thống giáo dục
quốc dân tương đối hoàn chỉnh về cơ cấu cấp học, trình độ, cơ cấu ngành nghề đa dạng
về các loại hình trường lớp, có nhiều sự liên thông, với một mạng lưới rộng lớn các
trường học, cơ sở giáo dụ được phân bổ ở các vùng miền. "Nếu như năm 1945, nước ta
có 5% dân cư biết chữ, 3% dân cư đi học thì đến nay đã có 95% dân cư trong độ tuổi từ
15 trở lên biết chữ, 30% dân cư được đi học. Năm 2000 nước ta đã hoàn thành phổ cập
giáo dục tiểu học; 2010 chúng ta đã hoàn thành phổ cập giáo dục cơ sở" [17].
Giáo dục Việt Nam hiện nay, mặc dù đã có những chuyển biến rõ rệt phù
hợp với xu hướng đổi mới kinh tế- xã hội, nhưng nhìn chung vẫn chưa ra khỏi
tình trạng "bất cập” và phát triển một cách ổn định vững chắc. Vì vậy trong
8
Chiến lược phát triển giáo dục 2011-2010 đã xác định được mục tiêu phát triển
giáo dục đến năm 2020 là: "đổi mới căn bản nền giáo dục Việt Nam” [25].
Tại Hội nghị lần thứ Tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt
nam khoá XI đã ban hành Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 về “đổi mới
căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại
hoá trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập
quốc tế”.
1.2. Một số khái niệm cơ bản của đề tài
1.2.1. Đánh giá
Đánh giá là một chức năng quan trọng trong công tác quản lý, do vậy trước
hết chúng ta cần làm rõ khái niệm về quản lý: quản lý có thể hiểu là sự tác động liên
tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý lên khách thể (đối tượng quản lý)
về các mặt chính trị văn hoá xã hội kinh tế ... bằng một hệ thống các luật lệ, các
chính sách ,các nguyên tắc các phương pháp và các biện pháp cụ thể nhằm tạo ra
môi trường và điều kiện cho sự phát triển của khách thể (đối tượng quản lý). Quản
lý là khoa học đồng thời là nghệ thuật thúc đẩy sự phát triển.
Về khái niệm quản lý có nhiều tác giả đã định nghĩa khác nhau như:
- Là công tác phối hợp có hiệu quả các hoạt động của những người cộng sự
khác cùng chung một tổ chức.
- Quản lý về cơ bản và trước hết là tác động lên con người để họ làm những
điều bổ ích và có lợi cho tổ chức.
- Quản lý là chủ thể quản lý tác động lên đối tượng quản lý một cách gián
tiếp hoặc trực tiếp nhằm thu được những diễn biến thay đổi tích cực
- Quản lý là sự tác động có định hướng có chủ đích của chủ thể quản lý đến
đối tượng quản lý trong tổ chức nhằm làm cho đối tượng quản lý vận hành đạt được
mục tiêu đề ra [26].
Hay nói cách khác: Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của đối tượng quản
lý bằng việc thực hiện các chức năng quản lý, lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và
kiểm tra, đánh giá
9
Như vậy chúng ta có thể hiểu đánh giá là một trong những chức năng của hoạt
động quản lý bao gồm: lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo thực hiện và kiểm tra, đánh giá.
Đánh giá là một hoạt động trong công tác quản lý mà mong muốn của chủ thể quản lý
muốn biết được kết quả của một quá trình quản lý cần có hoạt động đánh giá.
Có nhiều khái niệm về đánh giá.
- Đánh giá là đưa nhận định tổng hợp về các dữ kiện đo lường được qua các
kỳ kiểm tra/lượng giá trong quá trình và két thúc bằng cách đối chiếu, so sánh
những tiêu chuẩn đã được xác định trước đó trong các mục tiêu.
Như vậy có thể tiếp cận đánh giá với nhiều định nghĩa sau đây:
- Đánh giá là quá trình thu thập, xử lý thông tin để lượng định tình hình và
kết quả giúp quá trình lập kế hoạch, quyết định và hành động có kết quả.
- Đánh giá là một hoạt động nhằm nhận định xác định giá trị thực trạng về
mức độ hoàn thành nhiệm vụ, chất lượng, hiệu quả công việc trình độ sự phát triển,
những kinh nghiệm được hình thành ở thời điểm hiện tại đang xét so với mục tiêu
hay những chuẩn mực đã được xác định.
- Từ điển Tiếng Việt thông dụng- Nhà xuất bản Giáo dục khái niệm về đáng
giá là định giá, bình phẩm về giá trị [29]
1.2.2. Nghị quyết, triển khai Nghị quyết
+ Nghị quyết được hiểu như sau:
- Điều đã được thông qua ở một hội nghị và cần được thi hành
- Trong một hội nghị đưa ra một quyết định nào thì gọi đó là một nghị quyết
và cần thi hành
- Là một văn bản, kết luận cần thực hiện một vấn đề nào đó của tổ chức, một
cơ quan đơn vị, cấp có thẩm quyền ban hành..
Từ điển Tiếng Việt Thông dụng- Nhà xuất bản Giáo dục khái niệm về “Nghị
quyết” là quyết định chính thức thông qua ở Hội nghị, sau khi đã được thảo luận và
thống nhất với đa số thành viên tham dự [29].
+ Triển khai: mở rộng một vấn đề ra trên một phạm vi, quy mô lớn
+ Triển khai Nghị quyết là đưa nội dung, những điều đã được thông qua tại
hội nghị của một cơ quan, đơn vị ra một phạm vị, một một địa phương hành chính,
hay những đơn vị cơ quan tổ chức cấp dưới để thực hiện các nội dung đã được
quyết định thông qua.
10
- Triển khai Nghị quyết là đưa ra những mục tiêu, yêu cầu, nội dung và những
giải pháp thực hiện có hiệu quả nghị quyết đó. Từ khái niệm triển khai nghị quyết,
chúng tôi có thể hiểu Triển khai Nghị quyết số 29 của Ban Chấp hành Trung ương
Đảng về “đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo” là việc đưa những nội dung,
yêu cầu, mục tiêu và những giải pháp đổi mới giáo dục và đào tạo mà Trung ương
Đảng đã đề ra để các cấp uỷ đảng, các ngành, các tổ chức Chính trị xã hội và toàn nhân
dân nhất là ngành giáo dục vận hành đạt được mục tiêu, yêu cầu đặt ra.
1.2.3. Đánh giá triển khai Nghị quyết
Từ những khái niệm trên có thể hiểu đánh giá triển khai nghị quyết là một
hoạt động của thể quản lý nhằm nhận định, xác định, giá trị thực trạng về mức độ
hoàn thành nhiệm vụ, chất lượng hiệu quả công việc thực hiện những nội dung, yêu
cầu đã được nêu trong nghị quyết tại một một địa phương, đơn,cơ quan, đơn vị...
Đánh giá công tác triển khai Nghị quyết số 29 của Ban Chấp hành trung
ương trên địa bàn huyện Kiến Thuỵ được hiểu là những hoạt động để nhận định
mức độ hoàn thành nhiệm vụ, chất lượng của việc đưa những nội dung được nêu
trong Nghị quyết số 29 vào thực hiện trên địa bàn của huyện.
1.2.4. Đổi mới
Là cải ta ̣o , điều chỉnh, thay đổi cái cũ , lạc hậu, lỗi thờ i để đươ ̣c cái mớ i tốt hơn, tích cực hơn (về bản chất có tính kế thừ a những đă ̣c điểm cò n phù hơ ̣p củ a cái cũ chứ không phải xóa bỏ cái cũ)
Đổi mới là cải cách cái lỗi thời thay vào đó, thừa kế cái tốt cũ và thêm cái
mới hợp với thời đại mới (tương thích). Đó là con đường tiến hóa của nền văn minh
(khác với cách mạng).
Đổi mới là bỏ đi những đă ̣c điểm cũ , thay bằng những đă ̣c điểm mới (thường
là hay hơn, tốt hơn).
1.2.5 Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo
Là đổi mới những vấn đề lớn, cốt lõi, cấp thiết, từ quan điểm, tư tưởng chỉ đạo
đến mục tiêu, nội dung, phương pháp, cơ chế, chính sách, điều kiện bảo đảm thực
hiện; đổi mới từ sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đến hoa ̣t đô ̣ng quản trị của các cơ sở giáo dục-đào ta ̣o và viê ̣c tham gia củ a gia đình, cô ̣ng đồng, xã hội và bản thân ngườ i ho ̣c, đổi mớ i ở tất cả các bâ ̣c ho ̣c , ngành học. Quá trình đổi mới cần kế thừ a, phát huy những thành tựu, phát triển những nhân tố mới.
11
1.3. Sự ra đời, hình thành, nội dung Nghị quyết 29- NQ/TW về đổi mới căn
bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại
hoá trong điều kiện kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa và hội
nhập quốc tế
1.3.1. Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả công tác triển khai Nghị quyết về đổi
mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá,
hiện đại hoá trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và
hội nhập quốc tế
Hội nghị lần thứ Tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam
khoá XI đã hoàn thành nhiều nội dung quan trọng đặc biệt được dư luận xã hội quan
tâm sâu sắc. Ban chấp hành trung ương đã nhất trí thông qua Quyết nghị gồm 2
Nghị quyết, 2 Kết luận cùng các nội dung khác sau đây: Thứ nhất: Nghị quyết về
đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá
đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong điều kiện kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế (thường được gọi tắt Nghị quyết
về đổi mới căn bản toàn diện giáo dục). Thứ hai, Nghị quyết về chiến lược bảo vệ tổ
quốc trong tình hình mới. Thứ ba, Kết luận về tình hình kinh tế xã hội năm 2013 và
nhiệm vụ năm 2014, và đánh giá tình hình thực hiện Nghị quyết đại hội XI về kinh
tế xã hội trọng tâm là ba đột phá chiến lược gắn với tái cơ cấu nền kinh tế, đổi mới
mô hình tăng trưởng. Thứ tư, Kết luận về việc hoàn thiện Dự thảo sửa đổi Hiến
pháp năm 1992 trình Quốc hội thông qua.
Về các nội dung khác bao gồm: cho ý kiến dự thảo Quy chế bầu cử trong Đảng;
Thành lập các tiểu ban chuẩn bị Đại hội; Báo cáo kiểm điểm Bộ Chính trị, Ban Bí thư
năm 2013...; cho ý kiến về Danh sách quy hoạch Ban Chấp hành Trung ương [8].
Trong 2 Nghị quyết, 2 Kết luận và 4 nội dung khác quan trọng nêu trên, Nghị
quyết số 29- NQ/TW có nội dung đặc biệt ý nghĩa đối với ngành giáo dục nói riêng
và toàn xã hội nói chung. Nội dung của Nghị quyết thẳng thắn đánh giá những
thành tựu đạt được và những yếu kém của nền giáo dục được cả xã hội quan tâm;
định hướng nhiều công việc mà giáo dục đào tạo Việt Nam phải thực hiện để xây
dựng mục tiêu vì phát triển, đào tạo, bồi dưỡng con người phục vụ xã hội, đất nước
theo yêu cầu mà Đại hội Đảng lần thứ XI đề ra cũng như mong muốn, tư tưởng của
Hồ Chí Minh về xây dựng con người đất nước Việt Nam.
12
Nghị quyết ra đời trong bối cảnh chúng ta có nhiều thuận lợi cùng với những
khó khăn thách thức. Giáo dục và đào tạo qua ba lần cải cách và quá trình đổi mới
những năm gần đây đã đạt được nhiều thành tựu, góp phần quan trọng vào thắng lợi
của công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc, tuy nhiên giáo dục bộ lộ nhiều yếu kém,
bất cập, trong đó có những vấn đề gây bức xúc xã hội kéo dài. Nhiều chính sách cơ
chế, giải pháp về giáo dục hiệu quả trong giai đoạn vừa qua, nay đã không còn phù
hợp cần điều chỉnh.
Nước ta đang trong quá trình hội nhập quốc tế mạnh mẽ, sâu rộng; sự phát
triển nhanh chóng của khoa học công nghệ, khoa học và giáo dục và sự cạnh tranh
quyết liệt trên nhiều lĩnh vực giữa các quốc gia đòi hỏi giáo dục phải đổi mới. Vì
vậy, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã xác định: đổi mới căn bản
toàn diện nền giáo dục theo hướng chuẩn hoá, xã hội hoá, dân chủ hoá và hội nhập
quốc tế; phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao tập
trung vào việc đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục quốc dân.
Từ nội dung Nghị quyết đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, tại Hội nghị lần thứ
Tám, Ban Chấp hành trung ương đã ban hành Nghị quyết 29-NQ/TW về đổi mới căn
bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá
trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.
Để nghị quyết được triển khai sâu rộng và nhanh chóng được thực hiện hiệu
quả. đòi hỏi cần phải được quán triệt học tập, phổ biến, nâng cao nhận thức của toàn
xã hội, huy động sức mạng của toàn xã hội cho sự nghiệp phát triển giáo dục và đào
tạo. Muốn làm được như vậy không có cách nào khác là các cấp uỷ đảng, các đoàn
thể chính trị xã hội các cấp, các ngành mà nòng cốt là ngành giáo dục và đào tạo
cần ý thức rõ trách nhiệm của mình, tổ chức tuyên truyền, quán triệt, học tập, hiểu
đúng bản chất, hiểu rõ những đánh giá thành công cũng như những tồn tạo lĩnh vực
mình để có những giải pháp, bước đi phù hợp với lộ trình đổi mới căn bản toàn diện
giáo dục và đào tạo.
1.3.2. Nội dung cơ bản của Nghị quyết số 29-NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn
diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong
điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế
Những nội dung cơ bản của Nghị quyết số 29-NQ/TW thể hiện những điểm
cơ bản sau:
13
1.3.2.1. Tình hình và nguyên nhân: Thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII
và các chủ trương của Đảng, Nhà nước về định hướng chiến lược phát triển giáo
dục-đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, lĩnh vực giáo dục và đào
tạo nước ta đã đạt được những thành tựu quan trọng, góp phần to lớn vào sự
nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Cụ thể là: Đã xây dựng được hệ thống giáo dục và đào tạo tương đối hoàn chỉnh
từ mầm non đến đại học. Cơ sở vật chất, thiết bị giáo dục, đào tạo được cải thiện rõ rệt
và từng bước hiện đại hóa. Số lượng học sinh, sinh viên tăng nhanh, nhất là ở giáo dục
đại học và giáo dục nghề nghiệp. Chất lượng giáo dục và đào tạo có tiến bộ. Đội ngũ
nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục phát triển cả về số lượng và chất lượng, với cơ cấu
ngày càng hợp lý. Chi ngân sách cho giáo dục và đào tạo đạt mức 20% tổng chi ngân
sách nhà nước. Xã hội hóa giáo dục được đẩy mạnh. Cả nước đã hoàn thành mục tiêu
xóa mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học vào năm 2000; phổ cập giáo dục trung học cơ
sở vào năm 2010; đang tiến tới phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi; củng cố và
nâng cao kết quả xóa mù chữ cho người lớn.
Những thành tựu và kết quả nói trên, trước hết bắt nguồn từ truyền thống
hiếu học của dân tộc; sự quan tâm, chăm lo của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc
và các đoàn thể nhân dân, của mỗi gia đình và toàn xã hội; sự tận tụy của đội ngũ
nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục; sự ổn định về chính trị cùng với những thành
tựu phát triển kinh tế-xã hội của đất nước.
Tuy nhiên, chất lượng, hiệu quả giáo dục và đào tạo còn thấp so với yêu cầu,
nhất là giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp. Hệ thống giáo dục và đào tạo thiếu
liên thông giữa các trình độ và giữa các phương thức giáo dục, đào tạo; còn nặng lý
thuyết, nhẹ thực hành. Đào tạo thiếu gắn kết với nghiên cứu khoa học, sản xuất,
kinh doanh và nhu cầu của thị trường lao động; chưa chú trọng đúng mức việc giáo
dục đạo đức, lối sống và kỹ năng làm việc. Phương pháp giáo dục, việc thi, kiểm tra
và đánh giá kết quả còn lạc hậu, thiếu thực chất.
Quản lý giáo dục và đào tạo còn nhiều yếu kém. Đội ngũ nhà giáo và cán bộ
quản lý giáo dục bất cập về chất lượng, số lượng và cơ cấu; một bộ phận chưa theo
kịp yêu cầu đổi mới và phát triển giáo dục, thiếu tâm huyết, thậm chí vi phạm đạo
đức nghề nghiệp.
14
Đầu tư cho giáo dục và đào tạo chưa hiệu quả. Chính sách, cơ chế tài chính
cho giáo dục và đào tạo chưa phù hợp. Cơ sở vật chất kỹ thuật còn thiếu và lạc hậu,
nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn.
* Những hạn chế, yếu kém nói trên do các nguyên nhân chủ yếu sau:
Việc thể chế hóa các quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước về phát
triển giáo dục và đào tạo, nhất là quan điểm "giáo dục là quốc sách hàng đầu" còn
chậm và lúng túng. Việc xây dựng, tổ chức thực hiện chiến lược, kế hoạch và
chương trình phát triển giáo dục-đào tạo chưa đáp ứng yêu cầu của xã hội.
Mục tiêu giáo dục toàn diện chưa được hiểu và thực hiện đúng. Bệnh hình
thức, hư danh, chạy theo bằng cấp... chậm được khắc phục.
Việc phân định giữa quản lý nhà nước với hoạt động quản trị trong các cơ sở
giáo dục, đào tạo chưa rõ. Công tác quản lý chất lượng, thanh tra, kiểm tra, giám sát
chưa được coi trọng đúng mức. Sự phối hợp giữa các cơ quan nhà nước, tổ chức xã
hội và gia đình chưa chặt chẽ...
1.3.2.2. Định hướng đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo
- Quan điểm chỉ đạo
+ Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà
nước và của toàn dân. Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển, được ưu tiên đi
trước trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội.
+ Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo là đổi mới những vấn đề lớn,
cốt lõi, cấp thiết, từ quan điểm, tư tưởng chỉ đạo đến mục tiêu, nội dung, phương
pháp, cơ chế, chính sách, điều kiện bảo đảm thực hiện; đổi mới từ sự lãnh đạo của
Đảng, sự quản lý của Nhà nước.
+ Phát triển giáo dục và đào tạo là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi
dưỡng nhân tài. Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang
phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học.
+ Phát triển giáo dục và đào tạo phải gắn với nhu cầu phát triển kinh tế-xã
hội và bảo vệ Tổ quốc; với tiến bộ khoa học và công nghệ; phù hợp quy luật
khách quan. Chuyển phát triển giáo dục và đào tạo từ chủ yếu theo số lượng sang
chú trọng chất lượng và hiệu quả
15
+ Đổi mới hệ thống giáo dục theo hướng mở, linh hoạt, liên thông giữa các
bậc học, trình độ và giữa các phương thức giáo dục, đào tạo.
+ Chủ động phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của cơ chế thị
trường, bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển giáo dục và đào tạo.
Phát triển hài hòa, hỗ trợ giữa giáo dục công lập và ngoài công lập, giữa các vùng,
miền. Ưu tiên đầu tư phát triển giáo dục và đào tạo đối với các vùng đặc biệt khó
khăn, vùng dân tộc thiểu số, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa và các đối tượng
chính sách...
+ Chủ động, tích cực hội nhập quốc tế để phát triển giáo dục và đào tạo, đồng thời
giáo dục và đào tạo phải đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế để phát triển đất nước.
- Mục tiêu
+ Mục tiêu tổng quát: tạo chuyển biến căn bản, mạnh mẽ về chất lượng, hiệu
quả giáo dục, đào tạo; đáp ứng ngày càng tốt hơn công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ
quốc và nhu cầu học tập của nhân dân. Giáo dục con người Việt Nam phát triển
toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân; yêu
gia đình, yêu Tổ quốc, yêu đồng bào; sống tốt và làm việc hiệu quả.
Xây dựng nền giáo dục mở, thực học, thực nghiệp, dạy tốt, học tốt, quản lý
tốt; có cơ cấu và phương thức giáo dục hợp lý, gắn với xây dựng xã hội học tập; bảo
đảm các điều kiện nâng cao chất lượng; chuẩn hóa, hiện đại hóa, dân chủ hóa, xã
hội hóa và hội nhập quốc tế hệ thống giáo dục và đào tạo; giữ vững định hướng xã
hội chủ nghĩa và bản sắc dân tộc. Phấn đấu đến năm 2030, nền giáo dục Việt Nam
đạt trình độ tiên tiến trong khu vực.
+ Mục tiêu cụ thể
Đối với giáo dục mầm non, giúp trẻ phát triển thể chất, tình cảm, hiểu
biết, thẩm mỹ, hình thành các yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị tốt cho
trẻ bước vào lớp 1. Hoàn thành phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi vào
năm 2015, nâng cao chất lượng phổ cập trong những năm tiếp theo và miễn học
phí trước năm 2020. Từng bước chuẩn hóa hệ thống các trường mầm non. Phát
triển giáo dục mầm non dưới 5 tuổi có chất lượng phù hợp với điều kiện của
từng địa phương và cơ sở giáo dục.
16
Đối với giáo dục phổ thông, tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành
phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề
nghiệp cho học sinh. Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục lý
tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực và kỹ năng thực
hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn. Phát triển khả năng sáng tạo, tự học,
khuyến khích học tập suốt đời. Hoàn thành việc xây dựng chương trình giáo dục
phổ thông giai đoạn sau năm 2015. Bảo đảm cho học sinh có trình độ trung học cơ
sở (hết lớp 9) có tri thức phổ thông nền tảng, đáp ứng yêu cầu phân luồng mạnh sau
trung học cơ sở; trung học phổ thông phải tiếp cận nghề nghiệp và chuẩn bị cho giai
đoạn học sau phổ thông có chất lượng. Nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục, thực
hiện giáo dục bắt buộc 9 năm từ sau năm 2020.
Phấn đấu đến năm 2020, có 80% thanh niên trong độ tuổi đạt trình độ giáo
dục trung học phổ thông và tương đương.
Đối với giáo dục nghề nghiệp, tập trung đào tạo nhân lực có kiến thức, kỹ
năng và trách nhiệm nghề nghiệp. Hình thành hệ thống giáo dục nghề nghiệp với
nhiều phương thức và trình độ đào tạo kỹ năng nghề nghiệp theo hướng ứng dụng,
thực hành, bảo đảm đáp ứng nhu cầu nhân lực kỹ thuật công nghệ của thị trường lao
động trong nước và quốc tế.
Đối với giáo dục đại học, tập trung đào tạo nhân lực trình độ cao, bồi dưỡng
nhân tài, phát triển phẩm chất và năng lực tự học, tự làm giàu tri thức, sáng tạo của
người học. Hoàn thiện mạng lưới các cơ sở giáo dục đại học, cơ cấu ngành nghề và
trình độ đào tạo phù hợp với quy hoạch phát triển nhân lực quốc gia; trong đó, có
một số trường và ngành đào tạo ngang tầm khu vực và quốc tế. Đa dạng hóa các cơ
sở đào tạo phù hợp với nhu cầu phát triển công nghệ và các lĩnh vực, ngành nghề;
yêu cầu xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và hội nhập quốc tế.
Đối với giáo dục thường xuyên, bảo đảm cơ hội cho mọi người, nhất là ở
vùng nông thôn, vùng khó khăn, các đối tượng chính sách được học tập nâng cao
kiến thức, trình độ, kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ và chất lượng cuộc sống; tạo
điều kiện thuận lợi để người lao động chuyển đổi nghề; bảo đảm xóa mù chữ bền
vững. Hoàn thiện mạng lưới cơ sở giáo dục thường xuyên và các hình thức học tập,
thực hành phong phú, linh hoạt, coi trọng tự học và giáo dục từ xa.
17
Đối với việc dạy tiếng Việt và truyền bá văn hóa dân tộc cho người Việt Nam
ở nước ngoài, có chương trình hỗ trợ tích cực việc giảng dạy tiếng Việt và truyền bá
văn hóa dân tộc cho cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, góp phần phát huy
sức mạnh của văn hóa Việt Nam, gắn bó với quê hương, đồng thời xây dựng tình
đoàn kết, hữu nghị với nhân dân các nước.
- Về nhiệm vụ và giải pháp Nghị quyết đề ra 9 nhiệm vụ giải pháp cơ bản sau:
Một là, Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đối với
đổi mới giáo dục và đào tạo
Quán triệt sâu sắc và cụ thể hóa các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ, giải
pháp đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục và đào tạo, tạo sự đồng thuận cao
coi giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu. Nâng cao nhận thức về vai trò
quyết định chất lượng giáo dục và đào tạo của đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý
giáo dục; người học là chủ thể trung tâm của quá trình giáo dục; gia đình có trách
nhiệm phối hợp với nhà trường và xã hội trong việc giáo dục nhân cách, lối sống
cho con em mình.
Coi trọng công tác phát triển đảng, công tác chính trị, tư tưởng trong các
trường học, trước hết là trong đội ngũ giáo viên. Bảo đảm các trường học có chi bộ;
các trường đại học có đảng bộ. Cấp ủy trong các cơ sở giáo dục-đào tạo phải thực
sự đi đầu đổi mới, gương mẫu thực hiện và chịu trách nhiệm trước Đảng, trước
nhân dân về việc tổ chức thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ giáo dục, đào
tạo. Lãnh đạo nhà trường phát huy dân chủ, phát huy vai trò của các tổ chức đoàn
thể và nhân dân địa phương để xây dựng nhà trường.
Phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, giải quyết dứt điểm
các hiện tượng tiêu cực kéo dài, gây bức xúc trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo.
Hai là, Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ các yếu tố cơ bản của giáo dục,
đào tạo theo hướng coi trọng phát triển phẩm chất, năng lực của người học
Trên cơ sở mục tiêu đổi mới giáo dục và đào tạo, cần xác định rõ và công khai
mục tiêu, chuẩn đầu ra của từng bậc học, môn học, chương trình, ngành và chuyên
ngành đào tạo. Coi đó là cam kết bảo đảm chất lượng của cả hệ thống và từng cơ sở
giáo dục và đào tạo; là căn cứ giám sát, đánh giá chất lượng giáo dục, đào tạo.
18
Đổi mới chương trình nhằm phát triển năng lực và phẩm chất người học, hài
hòa đức, trí, thể, mỹ; dạy người, dạy chữ và dạy nghề. Đổi mới nội dung giáo dục
theo hướng tinh giản, hiện đại, thiết thực, phù hợp với lứa tuổi, trình độ và ngành
nghề; tăng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn. Chú trọng giáo dục nhân
cách, đạo đức, lối sống, tri thức pháp luật và ý thức công dân. Tăng cường giáo dục
thể chất, kiến thức quốc phòng, an ninh và hướng nghiệp. Dạy ngoại ngữ và tin học
theo hướng chuẩn hóa, thiết thực, bảo đảm năng lực sử dụng của người học. Quan
tâm dạy tiếng nói và chữ viết của các dân tộc thiểu số; dạy tiếng Việt và truyền bá
văn hóa dân tộc cho người Việt Nam ở nước ngoài.
Đa dạng hóa nội dung, tài liệu học tập.
Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát
huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học.
Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học.
Tiếp tục đổi mới và chuẩn hóa nội dung giáo dục mầm non. Xây dựng và
chuẩn hóa nội dung giáo dục phổ; tích hợp cao ở các lớp học dưới và phân hóa dần
ở các lớp học trên; giảm số môn học bắt buộc; tăng môn học, chủ đề và hoạt động
giáo dục tự chọn. Nội dung giáo dục nghề nghiệp được xây dựng theo hướng tích
hợp kiến thức, kỹ năng, tác phong làm việc chuyên nghiệp để hình thành năng lực
nghề nghiệp cho người học.
Đổi mới mạnh mẽ nội dung giáo dục đại học và sau đại học theo hướng hiện
đại, phù hợp với từng ngành, nhóm ngành đào tạo và việc phân tầng của hệ thống
giáo dục đại học.
Ba là, Đổi mới căn bản hình thức và phương pháp thi, kiểm tra và đánh giá
kết quả giáo dục, đào tạo, bảo đảm trung thực, khách quan
Việc thi, kiểm tra và đánh giá kết quả giáo dục, đào tạo cần từng bước theo
các tiêu chí tiên tiến được xã hội và cộng đồng giáo dục thế giới tin cậy và công
nhận. Phối hợp sử dụng kết quả đánh giá trong quá trình học.
Đổi mới phương thức thi cử...Đổi mới phương thức tuyển sinh đại học, cao
đẳng theo hướng kết hợp sử dụng kết quả học tập ở phổ thông và yêu cầu của ngành
đào tạo. Thực hiện đánh giá chất lượng giáo dục, đào tạo ở cấp độ quốc gia, địa
phương, từng cơ sở giáo dục, đào tạo và đánh giá theo chương trình của quốc tế để
làm căn cứ đề xuất chính sách, giải pháp cải thiện chất lượng giáo dục, đào tạo.
19
Hoàn thiện hệ thống kiểm định chất lượng giáo dục...Xây dựng phương thức
kiểm tra, đánh giá phù hợp với các loại hình giáo dục cộng đồng.
Bốn là, Hoàn thiện hệ thống giáo dục quốc dân theo hướng hệ thống giáo
dục mở, học tập suốt đời và xây dựng xã hội học tập
Trước mắt, ổn định hệ thống giáo dục phổ thông như hiện nay. Đẩy mạnh
phân luồng sau trung học cơ sở; định hướng nghề nghiệp ở trung học phổ thông.
Tiếp tục nghiên cứu đổi mới hệ thống giáo dục phổ thông phù hợp với điều kiện cụ
thể của đất nước và xu thế phát triển giáo dục của thế giới.
Quy hoạch lại mạng lưới cơ sở giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học gắn
với quy hoạch phát triển kinh tế-xã hội, quy hoạch phát triển nguồn nhân lực. Thực
hiện phân tầng cơ sở giáo dục đại học theo định hướng nghiên cứu và ứng dụng,
thực hành. Hoàn thiện mô hình đại học quốc gia, đại học vùng; củng cố và phát
triển một số cơ sở giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp chất lượng cao đạt trình
độ tiên tiến của khu vực và thế giới.
Khuyến khích xã hội hóa để đầu tư xây dựng và phát triển các trường chất lượng
cao ở tất cả các cấp học và trình độ đào tạo. Đa dạng hóa các phương thức đào tạo.
Năm là, Đổi mới căn bản công tác quản lý giáo dục, đào tạo, bảo đảm dân
chủ, thống nhất; tăng quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội của các cơ sở giáo dục,
đào tạo; coi trọng quản lý chất lượng
Xác định rõ trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục, đào
tạo và trách nhiệm quản lý theo ngành, lãnh thổ của các bộ, ngành, địa phương.
Phân định công tác quản lý nhà nước với quản trị của cơ sở giáo dục và đào tạo.
Đẩy mạnh phân cấp, nâng cao trách nhiệm, tạo động lực và tính chủ động, sáng tạo
của các cơ sở giáo dục, đào tạo.
Tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước, nhất là về chương trình, nội dung và
chất lượng giáo dục và đào tạo đối với các cơ sở giáo dục, đào tạo của nước ngoài
tại Việt Nam. Phát huy vai trò của công nghệ thông tin và các thành tựu khoa học-
công nghệ hiện đại trong quản lý nhà nước về giáo dục, đào tạo.
Các cơ quan quản lý giáo dục, đào tạo địa phương tham gia quyết định về
quản lý nhân sự, tài chính cùng với quản lý thực hiện nhiệm vụ chuyên môn của
giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông và giáo dục nghề nghiệp.
20
Chuẩn hóa các điều kiện bảo đảm chất lượng và quản lý quá trình đào tạo;
chú trọng quản lý chất lượng đầu ra. Xây dựng hệ thống kiểm định độc lập về chất
lượng giáo dục, đào tạo.
Đổi mới cơ chế tiếp nhận và xử lý thông tin trong quản lý giáo dục, đào tạo.
Thực hiện cơ chế người học tham gia đánh giá hoạt động giáo dục, đào tạo; nhà
giáo tham gia đánh giá cán bộ quản lý; cơ sở giáo dục, đào tạo tham gia đánh giá cơ
quan quản lý nhà nước.
Hoàn thiện cơ chế quản lý cơ sở giáo dục, đào tạo có yếu tố nước ngoài ở
Việt Nam; quản lý học sinh, sinh viên Việt Nam đi học nước ngoài bằng nguồn
ngân sách nhà nước và theo hiệp định nhà nước.
Giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các cơ sở giáo dục, đào tạo; phát
huy vai trò của hội đồng trường.
Sáu là, Phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý, đáp ứng yêu cầu đổi
mới giáo dục và đào tạo
Xây dựng quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo và cán
bộ quản lý giáo dục gắn với nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội, bảo đảm an ninh,
quốc phòng và hội nhập quốc tế.
Phát triển hệ thống trường sư phạm đáp ứng mục tiêu, yêu cầu đào tạo, bồi
dưỡng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục; ưu tiên đầu tư xây dựng một số
trường sư phạm, trường sư phạm kỹ thuật trọng điểm; khắc phục tình trạng phân tán
trong hệ thống các cơ sở đào tạo nhà giáo. Có cơ chế tuyển sinh và cử tuyển riêng để
tuyển chọn được những người có phẩm chất, năng lực phù hợp vào ngành sư phạm.
Đổi mới mạnh mẽ mục tiêu, nội dung, phương pháp đào tạo, đào tạo lại. Có
chế độ ưu đãi đối với nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục. Việc tuyển dụng, sử
dụng, đãi ngộ, tôn vinh nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục phải trên cơ sở đánh giá
năng lực, đạo đức nghề nghiệp và hiệu quả công tác. Lương của nhà giáo được ưu
tiên xếp cao nhất trong hệ thống thang bậc lương hành chính sự nghiệp và có thêm
phụ cấp tùy theo tính chất công việc, theo vùng.
Khuyến khích đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý nâng cao trình độ chuyên
môn nghiệp vụ. Có chính sách hỗ trợ giảng viên trẻ về chỗ ở, học tập và nghiên cứu
21
khoa học. Bảo đảm bình đẳng giữa nhà giáo trường công lập và nhà giáo trường
ngoài công lập về tôn vinh và cơ hội đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ...
Tạo điều kiện để chuyên gia quốc tế và người Việt Nam ở nước ngoài tham gia
giảng dạy và nghiên cứu ở các cơ sở giáo dục, đào tạo trong nước.
Bảy là, Đổi mới chính sách, cơ chế tài chính, huy động sự tham gia đóng góp
của toàn xã hội; nâng cao hiệu quả đầu tư để phát triển giáo dục và đào tạo
Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong đầu tư phát triển giáo dục và đào tạo,
ngân sách nhà nước chi cho giáo dục và đào tạo tối thiểu ở mức 20% tổng chi ngân
sách; chú trọng nâng cao hiệu quả sử dụng vốn ngân sách.
Đẩy mạnh xã hội hóa, trước hết đối với giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại
học; khuyến khích liên kết với các cơ sở đào tạo nước ngoài có uy tín. Có chính
sách khuyến khích cạnh tranh lành mạnh trong giáo dục và đào tạo trên cơ sở bảo
đảm quyền lợi của người học, người sử dụng lao động và cơ sở giáo dục, đào tạo...
Khuyến khích hình thành các quỹ học bổng, khuyến học, khuyến tài, giúp học sinh,
sinh viên nghèo học giỏi. Tôn vinh, khen thưởng xứng đáng các cá nhân, tập thể có
thành tích xuất sắc và đóng góp nổi bật cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo.
Khuyến khích các doanh nghiệp, cá nhân sử dụng lao động tham gia hỗ trợ
hoạt động đào tạo. Xây dựng cơ chế, chính sách tài chính phù hợp đối với các loại
hình trường. Có cơ chế ưu đãi tín dụng cho các cơ sở giáo dục, đào tạo. Thực hiện
định kỳ kiểm toán các cơ sở giáo dục-đào tạo.
Tiếp tục thực hiện mục tiêu kiên cố hóa trường, lớp học. Phân định rõ ngân sách
chi cho giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại
học với ngân sách chi cho cơ sở đào tạo, bồi dưỡng thuộc hệ thống chính trị và các lực
lượng vũ trang. Giám sát chặt chẽ, công khai, minh bạch việc sử dụng kinh phí.
Tám là, Nâng cao chất lượng, hiệu quả nghiên cứu và ứng dụng khoa học,
công nghệ, đặc biệt là khoa học giáo dục và khoa học quản lý
Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ nghiên cứu và chuyên gia giáo dục.
Triển khai chương trình nghiên cứu quốc gia về khoa học giáo dục.
Tăng cường năng lực, nâng cao chất lượng và hiệu quả nghiên cứu khoa học,
chuyển giao công nghệ của các cơ sở giáo dục đại học. Gắn kết chặt chẽ giữa đào
22
tạo và nghiên cứu, giữa các cơ sở đào tạo với các cơ sở sản xuất, kinh doanh. Ưu
tiên đầu tư phát triển khoa học cơ bản, khoa học mũi nhọn. Có chính sách khuyến
khích học sinh, sinh viên nghiên cứu khoa học.
Khuyến khích thành lập viện, trung tâm nghiên cứu và chuyển giao công
nghệ, doanh nghiệp khoa học và công nghệ, hỗ trợ đăng ký và khai thác sáng chế,
phát minh trong các cơ sở đào tạo. Hoàn thiện cơ chế đặt hàng và giao kinh phí sự
nghiệp khoa học và công nghệ cho các cơ sở giáo dục đại học.
Ưu tiên nguồn lực, tập trung đầu tư và có cơ chế đặc biệt để phát triển một số
trường đại học nghiên cứu đa ngành, đa lĩnh vực sớm đạt trình độ khu vực và quốc
tế, đủ năng lực hợp tác và cạnh tranh với các cơ sở đào tạo và nghiên cứu hàng đầu
thế giới.
Chín là, Chủ động hội nhập và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế trong giáo
dục, đào tạo
Chủ động hội nhập quốc tế về giáo dục, đào tạo trên cơ sở giữ vững độc lập, tự
chủ, bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa tốt
đẹp của dân tộc, tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa và thành tựu khoa học, công nghệ
của nhân loại. Hoàn thiện cơ chế hợp tác song phương và đa phương, thực hiện các cam
kết quốc tế về giáo dục, đào tạo.
Mở rộng liên kết đào tạo với những cơ sở đào tạo nước ngoài có uy tín. Có
cơ chế khuyến khích các tổ chức quốc tế, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam ở
nước ngoài tham gia hoạt động đào tạo, nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao khoa
học và công nghệ.
Có chính sách hỗ trợ, quản lý việc học tập và rèn luyện của học sinh, sinh
viên Việt Nam đang học ở nước ngoài và tại các cơ sở giáo dục, đào tạo có yếu tố
nước ngoài tại Việt Nam.
1.3.3. Kế hoạch triển khai thực hiện
1.3.3.1 Cấp Trung ương
- Đảng đoàn Quốc hội lãnh đạo việc sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện, ban hành
mới hệ thống pháp luật về giáo dục và đào tạo. Ban cán sự đảng Chính phủ lãnh
đạo việc sửa đổi, bổ sung và ban hành mới các văn bản dưới luật; xây dựng kế
hoạch hành động thực hiện Nghị quyết. Thường xuyên theo dõi, kiểm tra, đánh giá
23
tình hình thực hiện và kịp thời điều chỉnh kế hoạch, giải pháp cụ thể phù hợp với
yêu cầu thực tế, bảo đảm thực hiện có hiệu quả Nghị quyết. Thành lập Ủy ban quốc
gia Đổi mới giáo dục và đào tạo do Thủ tướng Chính phủ làm Chủ tịch Ủy ban.
- Ban Tuyên giáo Trung ương chủ trì, phối hợp theo dõi, kiểm tra, đôn đốc, sơ
kết, tổng kết. và định kỳ báo cáo Bộ Chính trị, Ban Bí thư kết quả thực hiện Nghị quyết.
1.3.3.2. Cấp Tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
- Cấp ủy, tổ chức đảng, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân tổ chức
việc học tập, quán triệt tạo sự thống nhất về nhận thức và hành động. Lãnh đạo kiện
toàn bộ máy tham mưu và bộ máy quản lý giáo dục và đào tạo; thường xuyên kiểm
tra việc thực hiện, đặc biệt là kiểm tra công tác chính trị, tư tưởng và việc xây dựng
nền nếp, kỷ cương trong các trường học, phát hiện và giải quyết dứt điểm các biểu
hiện tiêu cực trong giáo dục và đào tạo [1].
- Thực hiện Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Ban Thường
vụ Thành uỷ Hải phòng đã xây dựng Kế hoạch Số 69-KH/TU, ngày 24 tháng 12
năm 2013 về việc tổ chức học tập, quán triệt, tuyên truyền, chỉ đạo thực hiện các
nghị quyết, kết luận Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá
XI; Kết luận số 72-KL/TW của Bộ Chính trị, khóa XI về tiếp tục đẩy mạnh thực
hiện Nghị quyết số 32-NQ/TW của Bộ Chính trị về xây dụng và phát triển thành
phố Hải Phòng trong thòi kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
1.3.3.3. Cấp quận, huyện
Ban Thường vụ Huyện uỷ xây dựng Kế hoạch Số 52-KH/HU ngày 14 tháng
01 năm 2014 về tổ chức học tập, quán triệt, tuyên truyền thực hiện các nghị quyết,
kết luận Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng, khoá XI; Mở Hội nghị
nghiên cứu, quán triệt cho cán bộ chủ chốt của huyện.
- Chỉ đạo mở các lớp học tập quán triệt triển khai rộng rãi để các các uỷ,
đoàn thể chính trị xã hội, toàn ngành giáo dục và nhân dân nắm rõ nội dung của
nghị quyết qua đó thấy trách nhiệm của mình đối với việc thực hiện nghị quyết. Chỉ
đạo tổ chức hội nghị nghiên cứu, quán triệt cho cán bộ, đảng viên ở cơ sở.
- Kế hoạch của Ban Thường vụ Huyện uỷ đã yêu cầu về việc xây dựng
chương trình hành động, tuyên truyền, kiểm tra giám sát đó là xây dựng chương
trình hành động, kế hoạch của Ban Thường vụ Huyện ủy; Trên cơ sở kế hoạch,
chương trình hành động của Huyện ủy, các cấp ủy đảng chủ động xây dựng kế
24
hoạch, chương trình hành động thực hiện các kết luận, nghị quyết Hội nghị TW 8,
khóa XI đảm bảo sát hợp với tình hình thực tế của địa phương, đơn vị mình.
Về tuyên truyền các kết luận, nghị quyết của Hội nghị Trung ương 8 (khoá
XI) trong các tầng lớp nhân dân: Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị -
xã hội huyện và cơ sở tổ chức giới thiệu nội dung cơ bản của kết luận, nghị quyết
Hội nghị Trung ương 8.
- Đài phát thanh huyện, đài truyền thanh các xã, thị trấn xây dựng kế hoạch tuyên
truyền, mở các chuyên trang, chuyên mục về nội dung chủ yếu và chương trình hành
động của địa phương, đơn vị thực hiện các nghị quyết, kết luận Hội nghị Trung ương 8.
- Xây dựng nội dung kiểm tra, giám sát triển khai thực hiện do Ủy ban Kiểm
tra Huyện ủy và cấp ủy cơ sở xây dựng kế hoạch kiểm tra, giám sát việc học tập,
quán triệt; việc xây dựng chương trình hành động và kế hoạch thực hiện Nghị quyết
Hội nghị Trung ương 8 khoá XI.
- Việc tổ chức học tập, quán triệt, tuyên truyền thực hiện các kết luận, nghị
quyết Hội nghị Trung ương 8 khoá XI và Kết luận số 72 của Bộ Chính trị khoá XI
do đồng chí Bí thư Huyện ủy và Ban Thường vụ Huyện ủy trực tiếp chỉ đạo, Ban
Tuyên giáo Huyện ủy là cơ quan thường trực.
- Giao Văn phòng Huyện ủy, Ban Tuyên giáo Huyện ủy phối hợp, tham mưu
với Thường trực Huyện ủy chỉ đạo tổ chức Hội nghị cán bộ chủ chốt của huyện theo
đúng kế hoạch.
Giao Trung tâm Văn hóa thông tin phối hợp với Văn phòng Huyện ủy chuẩn
bị hội trường, âm thanh, trang trí khánh tiết phục vụ hội nghị.
1.4. Nội dung đánh giá triển khai Nghị quyết 29-NQ/TW về đổi mới căn bản,
toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá
trong điều kiện kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa và hội nhập
quốc tế (Mục tiêu, nội dung, phƣơng pháp, đối tƣợng khảo sát ở cấp huyện)
1.4.1. Đánh giá triển khai xác định mục tiêu, yêu cầu của Nghị quyết
Ban Thường vụ Huyện ủy đã xây dựng Kế hoạch số 52 ngày 4/1/2014 để tổ
chức quán triệt thực hiện với mục đích là:
Giúp cán bộ, đảng viên nắm được nội dung, quan điểm của Đảng trong các Kết
luận, Nghị quyết Hội nghị lần thứ Tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng; Kết luận số
25
72-KL/TW của Bộ Chính trị, khoá XI.. Xây dựng và triển khai chương trình hành
động, kế hoạch thực hiện các nghị quyết, kết luận tại đảng bộ, địa phương, đơn vị một
cách thiết thực, hiệu quả, phù hợp; vận dụng sáng tạo vào công tác, đời sống. Tuyên
truyền rộng rãi trong các tầng lớp nhân dân về các chủ trương, quan điểm của Đảng
được đề ra trong Nghị quyết Hội nghị Trung ương Tám; Kết luận số 72-KL/TW của
Bộ Chính trị, khoá XI. Tăng cường đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch,
nhận thức lệch lạc có liên quan đến nội dung của các nghị quyết, kết luận.
Với những yêu cầu cần thực hiện là căn cứ vào đặc điểm, tình hình và nhiệm
vụ chính trị của địa phương, đơn vị; cấp uỷ đảng cần xác định rõ trọng tâm nội dung
cần quán triệt và lựa chọn hình thức phù hợp, đảm bảo tính hiệu quả, sát đối tượng.
Việc tổ chức học tập, quán triệt là trách nhiệm của các cấp, các ngành, của mỗi cán
bộ, đảng viên; đảm bảo thiết thực, hiệu quả, không phô trương, hình thức; kết hợp
nghe giới thiệu, luận giải trên hội trường với thảo luận, tự đọc, tự học là chính.
1.4.2. Đánh giá triển khai thực hiện nội dung của Nghị quyết
Ủy Ban nhân dân huyện chỉ đạo ngành giáo dục tham mưu cho Ban Thường
vụ Huyện ủy xây dựng kế hoạch, chương trình hành động thực hiện Nghị quyết này
với nội dung trọng tâm là công tác lãnh đạo kiện toàn bộ máy tham mưu và bộ máy
quản lý giáo dục và đào tạo; công tác chính trị, tư tưởng và việc xây dựng nền nếp,
kỷ cương trong các trường học; giải quyết dứt điểm các biểu hiện tiêu cực trong
giáo dục và đào tạo. Đánh giá sát sao thực trạng giáo dục đào tạo của huyện về quy
mô, chất lượng đội ngũ, cơ sở vật chất để có lộ trình thực hiện cụ thể
Ngành giáo dục và đào tạo huyện tổ chức quán triệt nội dung tới toàn thể các
đồng chí lãnh đạo các trường học, các trường Trung học phổ thông chủ động quán
triệt triển khai tới toàn cán bộ, thể giáo viên nhà trường, xây dựng mục tiêu, kế
hoạch, chương trình hành động cho năm học mới và những năm tiếp theo.
1.4.3. Đánh giá đổi mới phương thức triển khai Nghị quyết (Phương pháp và
hình thức triển khai)
Về phương pháp triển khai, Huyện uỷ đã chỉ đạo triển khai trên các hội nghị cán
bộ chủ chốt của huyện bằng việc nghe quán triệt kết hợp thảo luận tổ viết thu hoạch về
nhận thức nội dung của Nghị quyết số 29, liên hệ với thực trạng giáo dục của huyện
26
Yêu cầu các Đảng uỷ xã thị trấn tổ chức nghe giới thiệu nội dung Nghị quyết
cho 100% đảng viên của đảng bộ, xây dựng chương trình hành động.
Ngành giáo dục tổ chức học tập nghị quyết; báo cáo thực trạng về vật chất,
đội ngũ, chất lượng của các trường học; xây dựng mục tiêu năm học 2014-2015 và
những năm tiếp theo.
Mặt trận tổ quốc và các đoàn thể giới thiệu cho hội viên đoàn viên của tổ
chức hội mình...
Về hình thức và phương pháp triển khai đã thể hiện sự quan tâm lãnh đạo chỉ
đạo quyết liệt của Huyện uỷ, hình thức triển khai học tập, quán triệt đa dạng, phong
phú: nghe tại hội trường, tuyên truyền trên đài phát thanh huyện, hội nghị thảo luận,
đánh giá thực trạng.
Về Báo cáo viên giới thiệu nghị quyết, các tổ chức Đảng, đơn vị trường học
mời Báo cáo viên của thành phố, huyện kết hợp với thủ trưởng đơn vị triển khai, do
đó nội dung của các buổi triển khai, quán triệt, học tập đã thiết thực đạt hiệu quả.
1.4.4. Đánh giá cơ sở vật chất, phương tiện (Phương tiện kỹ thuật hiện đại) triển
khai Nghị quyết
Bố trí Hội trường đủ rộng để thành viên được nghe và thảo luận.
Trang bị tài liệu học tập: Văn kiện Hội nghị lần thứ Tám Ban Chấp hành
Trung ương Đảng khóa XI. Tài liệu nghiên cứu Nghị quyết Hội nghị lần thứ Tám
Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI do Ban Tuyên giáo Trung ương biên
soạn; Kết luận số 72 của Bộ Chính trị khoá XI. Nội dung nghị quyết được minh
hoạ qua trình chiếu hình ảnh, có phân tích minh hoạ.
Chuẩn bị các báo cáo đánh giá chất lượng, đội ngũ, cơ sở vật chất của các
nhà trường, của ngành giáo dục và đào tạo để thảo luận.
1.4.5. Đánh giá thực hiện nhiệm vụ triển khai Nghị quyết
Chỉ đạo Uỷ ban nhân dân, các cấp uỷ đảng, ngành giáo dục và đào tạo, mặt
trận tổ quốc và các đoàn thể nhân dân phân công rõ công việc cần thực hiện nhất là
một số nhiệm vụ trọng tâm như:
Về công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức và hành động trong
triển khai thực hiện Nghị quyết. Giao Ban Tuyên giáo Huyện uỷ, đài Phát thanh
huyện phối hợp cùng các ban ngành.
27
Hoàn thiện quy hoạch phát triển mạng lưới các cơ sở giáo dục mầm non.
Thực hiện việc mới căn bản hình thức và phương pháp thi, kiểm tra và kiểm định,
đánh giá chất lượng giáo dục đào tạo. Xây dựng kế hoạch thực hiện đề án đào tạo,
đào tạo lại và bồi dưỡng nhà giáo và cán bộ quản lý cơ sở giáo dục, đào tạo và dạy
nghề đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục đào tạo giao Uỷ ban nhân dân chỉ đạo Phòng
giáo dục đào tạo phối hợp với các cơ quan đơn vị thực hiện đảm bảo về tiến độ, yêu
cầu nội dung và hình thức triển khai, quán triệt, học tập.
1.5. Các yếu tố đánh giá công tác triển khai Nghị quyết số 29 (Khách quan và
chủ quan)
1.5.1. Chủ thể và đối tượng triển khai Nghị quyết
Công tác triển khai Nghị quyết là một hoạt động trong công tác quản lý nói
chung. Tính chất đặc biệt của nó được thể hiện ở chỗ cả chủ thể và đối tượng đều là
con người. Công tác triển khai Nghị quyết là hoạt động của con người- chủ thể quản
lý tác động đến con người-đối tượng nhận thức và thực hiện con người với tư cách
là đối tượng nhưng nếu xem xét trong quan hệ đối với thông tin thì lại là chủ thể
tiếp nhận thông tin và ngược lại.
Việc triển khai Nghị quyết ở cấp huyện tới các đối tượng được triển khai, nhưng
chính đối tượng được triển khai lại là chủ thể quản lý của một đối tượng khác cho lên nó
là một quy trình tác động liên tục. Đối tượng thực hiện nhiệm vụ này nhưng lại là chủ thể
triển khai của đối tượng khác
Chủ thể công tác triển khai Nghị quyết số 29 được xác định là Huyện uỷ Kiến
Thụy xây dựng Kế hoạch triển khai. Giao Ban Tuyên giáo chủ thể của tuyên truyền giới
thiệu nghị quyết. Bí thư các Đảng uỷ triển khai chương trình hành động của cấp uỷ mình,
các tổ chức khác, Đài phát thanh, Mặt trận tổ quốc và các đoàn thể vừa là đối tượng,
nhưng cũng là chủ thể triển khai tới đoàn viên hội viên của đơn vị mình. Lãnh đạo ngành
giáo dục vừa là chủ thể tuyên truyền, nhưng đồng thời cũng là chủ thể triển khai, thực
hiện. Tập trung cả hệ thống chính trị thực hiện nhiệm vụ.
Đối tượng của của công tác triển khai Nghị quyết cuối cùng được xác định chính
là đạt được mục tiêu mà Nghị quyết số 29 đề ra và cụ thể đối với giáo dục của huyện
là: “tạo chuyển biến căn bản, mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả giáo dục, đào tạo đáp
ứng ngày càng tốt hơn; đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu học tập của nhân dân; góp
phần “đáp ứng công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và xây dựng thành phố cảng
Trung dũng Quyết thắng, thành phố cảng xanh, văn minh hiện đại” [9].
28
Giáo dục con người phát triển toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm năng, khả
năng sáng tạo của mỗi cá nhân; yêu gia đình, yêu Tổ quốc, yêu đồng bào; sống tốt
và làm việc hiệu quả. Đối với giáo dục mầm non, hoàn thành phổ cập giáo dục mầm
non cho trẻ 5 tuổi vào năm 2015, nâng cao chất lượng phổ cập trong những năm
tiếp theo và miễn học phí trước năm 2020. Từng bước chuẩn hóa hệ thống các
trường mầm non. Đối với giáo dục phổ thông, tập trung phát triển trí tuệ, thể chất,
hình thành phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định
hướng nghề nghiệp cho học sinh. Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng
giáo dục lý tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực và
kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn. Phát triển khả năng sáng tạo,
tự học, khuyến khích học tập suốt đời... [1].
1.5.2. Nội dung và hình thức triển khai Nghị quyết
Nội dung của Kế hoạch số 69-KH/TU ngày 24/12/2013 về việc tổ chức học
tập, quán triệt, tuyên truyền và triển khai thực hiện các nghị quyết, kết luận Hội nghị
lần thứ Tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng, khoá XI là quán triệt triển khai các
Nghị quyết, kết luận Hội nghị Trung ương 8 khóa XI với 05 chuyên đề trong đó cần
chú trọng là chuyện đề 1: Nghị quyết về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào
tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong điều kiện kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. chuyên đề 2: Nghị quyết
về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Chuyên đề 3: Kết luận về
“Tình hình kinh tế - xã hội năm 2013 và nhiệm vụ năm 2014” và “Đánh giá tình
hình thực hiện Nghị quyết Đại hội XI về kinh tế - xã hội, trọng tâm là ba đột phá
chiến lược gắn với tái cơ cấu nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng”. Chuyên đề
4: Những nội dung cơ bản của Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi). Chuyên đề 5: Kết
luận số 72 của Bộ Chính trị khoá XI về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết số 32-
NQ/TW ngày 05/8/2003 của Bộ Chính trị khoá XI “Về xây dựng và phát triển thành phố
Hải Phòng trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”.
Hình thức triển khai Hội nghị nghiên cứu, quán triệt cho cán bộ chủ chốt
của huyện 1 ngày; Hội nghị nghiên cứu, quán triệt cho cán bộ, đảng viên đối với
các chi, đảng bộ khối cơ quan 1 ngày. Địa điểm tại Trung tâm Văn hóa thông tin
huyện Kiến Thụy; các trường tổ chức tại hội trường của các trường trên địa bàn
huyện, kết hợp thảo luận. Đảng bộ xã, thị trấn phải thực hiện hoàn thành trước
ngày 1/3/2014). Địa điểm tại Hội trường đảng uỷ các xã thị trấn.
29
1.5.3. Phương pháp và phương tiện triển khai Nghị quyết
1.5.3.1. Phương pháp triển khai
Để thực hiện có hiệu quả công tác triển khai nghị quyết trên địa bàn
huyện, chủ thể triển khai sử dụng các phương pháp: triển khai văn bản để nghiên
cứu, giới thiệu nội dung nghị quyết trên hội trường (thuyết trình), trực quan, đại
chúng, nêu gương…
Hoạt động tuyên truyền được tiến hành thông qua báo cáo của đội ngũ báo
cáo viên, lãnh đạo các nhà trường, hành động thực hiện của các cá nhân, cơ quan
đơn vị.
Thông qua các hoạt động của các tổ chức triển khai.
Sử dụng đội ngũ báo cáo viên của huyện và cơ sở tuyên truyền, Bí thư cấp uỷ
và trực tiếp các hiệu trưởng triển khai ở cơ quan mình quản lý.
Nghiên cứu, quán triệt, tổ chức hội nghị nghe phổ biến Nghị quyết.
Tổ chức thảo luận tổ đánh giá kết quả giáo dục đào tạo địa phương.
Uỷ ban nhân dân, các ngành xây dựng chương trình hành động, lộ trình thực
hiện các nhiệm vụ đã được xây dựng.
1.5.3.2. Phương tiện triển khai
Ban Thường vụ Huyện uỷ cung cấp tài liệu cho cơ sở bao gồm: Văn kiện Hội
nghị Trung ương 8 khoá XI; tài liệu học tập Nghị quyết; Tài liệu Hỏi - Đáp Nghị
quyết và chương trình hành động của Cấp ủy.
Nội dung tiếp cận: Thông qua tài liệu, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền
viên.các cấp uỷ và tổ chức hội. Thông qua hệ thống các phương tiện thông tin đại
chúng như: sách, báo, phát thanh, truyền hình, internet. Thông qua phương tiện văn
hoá, văn nghệ… Ngoài ra còn thông qua hệ thống tranh, ảnh, panô áp phích với
những hình ảnh về sự phát triển của giáo dục thành phố và huyện.
1.5.4. Đánh giá việc triển khai
Việc triển khai các Nghị quyết của Đảng nói chung và Nghị quyết của Đảng
về giáo dục và đào tạo nói riêng là nhiệm vụ hết sức quan trọng, đây là nhiệm vụ
chính trị của các tổ chức đảng, các cấp các ngành, do vậy công tác triển khai cần kịp
thời, lộ trình cụ thể, thực hiện khoa học với những đánh giá chính xác, khách quan.
30
Huyện uỷ đã chú trọng chỉ đạo các cấp uỷ đảng cần quán triệt nội dung Nghị
quyết, thực sự làm chuyển biến nhận thức của toàn xã hội về tầm quan trọng của đổi
mới giáo dục và đào tạo, trách nhiệm tham gia của mỗi cá nhân, cơ quan, đoàn thể,
ngành trong việc tích cực đổi mới giáo dục và đào tạo. Phát động mỗi gia đình, các
bậc phụ huynh phải tạo điều kiện tốt nhất tạo động lực và phong trào học tập cho
con em mình.
31
Kết luận chƣơng 1
- Trong xu thế hiện nhập mạnh mẽ, sâu rộng hiện nay, quan điểm của Đảng
là mở rộng quan hệ, đa phương hoá, đa dạng hoá. Cùng với sự phát triển chung của
nền kinh tế đất nước thì văn hoá xã hội cũng có sự phát triển mạnh mẽ, trong đó có
đóng góp của lĩnh vực giáo dục và đào tạo. Tuy nhiên “nhìn ra thế giới”, giáo dục
và đào tạo việt Nam vẫn còn nhiều việc phải làm, thậm chí còn “lạc hậu”. Vấn đề
này không đơn thuần mà là cả một lộ trình khó khăn phức tạp, là trách nhiệm của
quốc gia, dân tộc, trở thành mối quan tâm của toàn xã hội.
- Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo là nhiệm vụ của toàn
đảng, toàn dân, trong đó lực lượng chủ công thuộc về ngành giáo dục. Sự tham mưu
cho cấp uỷ Đảng, chính quyền chỉ đạo, triển khai, thực hiện đạt hiệu của Nghị quyết
đề ra là nhiệm vụ cấp bách hơn bao giờ hết.
- Nghị quyết 29 về đổi mới căn bản và toàn diện Giáo dục và đào tạo ra đời
nhằm định hướng, động lực triển khai có hiệu quả thực tiễn giáo dục đang diễn ra
trong những năm qua. Nghị quyết ra đời có cơ sở đánh giá những mặt tích cực cũng
như hạn chế của giáo dục và đào tạo; xác định rõ thời cơ, thách thức mà ngành giáo
dục và đào tạo phải đối mặt trong nền kinh tế thị trường và toàn cầu hoá, hội nhập.
Đồng thời Nghị quyết ra đời xác định rõ mục tiêu yêu cầu cụ thể, nhiệm vụ và các
giải pháp cần thực hiện đổi mới giáo dục và đào tạo. Trong đó ngành Giáo dục và
đào tạo thực hiện 9 giải pháp trên cơ sở, kế hoạch triển khai cụ thể từ Trung ương
đến địa phương, cả hệ thống chính trị tham gia thực hiện Nghị quyết.
- Đánh giá công tác triển khai Nghị quyết 29 về "đổi mới căn bản và toàn diện
giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong điều kiện
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế" thực chất giúp
cho các cấp trong toàn hệ thống chính trị; đặc biệt ngành giáo dục và đào tạo nhìn
nhận kết quả đạt được khi triển khai Nghị quyết, nội dung cơ bản của Nghị quyết;
phương pháp tuyên truyền; phổ biến Nghị quyết, hình thức, cơ sở vật chất, phương
tiện triển khai Nghị quyết, kế hoạch triển khai Nghị quyết, đưa Nghị quyết vào thực
tiễn giáo dục ở từng địa phương.
32
Chƣơng 2
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC TRIỂN KHAI NGHỊ QUYẾT
SỐ 29-NQ/TW VỀ ĐỔI MỚI CĂN BẢN, TOÀN DIỆN GIÁO DỤC
VÀ ĐÀO TẠO, TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN KIẾN THỤY,
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
2.1. Các yếu tố tác động tới công tác triển khai Nghị quyết số 29-NQ/TW “về
đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp
hoá, hiện đại hoá trong điều kiện kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ
nghĩa và hội nhập quốc tế” huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng
2.1.1. Đặc điểm chính trị- kinh tế - xã hội huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng
2.1.1.1. Về điều kiện tự nhiên của huyện Kiến Thụy hiện nay
Kiến Thụy nằm ở phía Đông Nam và cách trung tâm thành phố Hải Phòng
20 km. Bắc và Tây Bắc huyện giáp quận Dương Kinh và quận Kiến An; Đông và
Đông Nam giáp quận Đồ Sơn và vịnh Bắc Bộ; Nam và Tây Nam giáp huyện Tiên
Lãng; Tây giáp huyện An Lão. Huyện lỵ đống ở Thị trấn Núi Đối. Trước khi thực
hiện Nghị định 145 của Chính phủ "Về việc điều chỉnh địa giới hành chính để
thành lập Quận Dương Kinh và quận Đồ Sơn, Kiến Thụy có 24 xã và 1 thị trấn, diện tích tự nhiên là 164,3 km2, dân số trên 17 vạn người. Sau khi thực hiện Nghị
định 145 của Thủ tướng chính phủ (tháng 12/2007), Kiến Thụy còn lại 17 xã và 1
thị trấn, với diện tích tự nhiên là 10.753 ha, dân số ( tính đến 31/12/2014) trên 13,6
vạn người [13], [16].
2.1.1.2. Tình hình chính trị- kinh tế - xã hội của huyện Kiến Thụy hiện nay
Năm 2014, trong bối cảnh có nhiều khó khăn, thách thức, bám sát vào chỉ
đạo của Thành uỷ, UBND thành phố và chủ đề năm: "Phục hồi kinh tế- đổi mới mô
hình tăng trưởng”, Huyện uỷ, Ban Thường vụ Huyện uỷ đã xây dựng "phương
hướng, nhiệm vụ, giải pháp năm 2014”; chủ đề năm "Dân chủ, trách nhiệm, xây
dựng nông thôn mới”, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện và đạt được
những kết quả tích cực trên các lĩnh vực:
16/18 chỉ tiêu của huyện đề ra đều hoàn thành đạt và vượt kế hoạch.
33
Tình hình kinh tế - xã hội được duy trì và giữ vững ổn định. Giá trị sản xuất
nông, lâm, thuỷ sản tăng 4,2%; công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp tăng 10,5%;
thương mại, dịch vụ tăng 14% so với năm 2013; Chăn nuôi, mặc dù do tình hình
dịch bệnh, thiên tai diễn biến phức tạp nhưng vẫn giữ được tổng đàn gia súc, gia
cầm và tăng so với năm 2013; Năng suất lúa tăng 0,6 tạ/ha và tăng 1,7 tạ/ha so với
năm 2013. Thu ngân sách đã có nhiều cố gắng. Các hoạt động văn hoá, văn nghệ, lễ
hội, thể dục thể thao được duy trì. Công tác giáo dục và đào tạo đã có bước tiến bộ.
Tỷ lệ sinh và số người sinh con thứ 3 giảm so với năm 2013. Các hoạt động đền ơn
đáp nghĩa, xóa đói giảm nghèo, thực hiện chính sách xã hội đã được các cấp, các
ngành, Mặt trận tổ quốc và các đoàn thể chú trọng; tỷ lệ hộ nghèo toàn huyện giảm
xuống còn 3,86%. Công tác quân sự quốc phòng địa phương và tình hình an ninh trật
tự được giữ vững, ổn định. Việc khắc phục những hạn chế, khuyết điểm tự phê bình
và phê bình theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 (khoá XI) và thực hiện Chị thị
03-CT/TW của Bộ Chính trị đã được thực hiện nghiêm túc. Về thực hiện Chương
trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới: đã có sự đồng thuận cao, nhất là
trong việc vận động nhân dân hiến đất, góp đất, góp công và kinh phí tham gia. Đến
hết năm 2014, toàn huyện đã đạt bình quân 13 tiêu chí [27].
Viê ̣c triển khai Nghi quyết về đổi mớ i căn bản , toàn diện giáo dục và đào tạo trên đi ̣a bàn trong điều kiê ̣n kinh- tế xã hô ̣i củ a huyê ̣n đang có bướ c phát triển ma ̣nh mẽ, trâ ̣t tự an toàn xã hô ̣i đảm bảo giữ vững, đờ i sống nhân dân ngày càng đươ ̣c nâng cao, Đảng bô ̣ huyê ̣n luôn đươ ̣c Thành ủ y đánh giá hoàn thành xuất sắc nhiê ̣m vụ, năm 2013 lá cờ đầu cụm thi đua Thành phố. Toàn Đảng bộ huyện có 59 chi, đảng bô ̣ trực thuô ̣c, hàng năm qua đánh giá tỷ lệ tổ chức cơ sở đảng đạt trong sạch vững mạnh tiêu
biểu luôn đa ̣t từ 75% trở lên, chính quyền tiên tiến xuất sắc. Viê ̣c triển khai các nghi ̣ quyết củ a Đảng nói chung luôn đươ ̣c các chi , đảng bô ̣ thực hiê ̣n nghiêm tú c ta ̣o nền tảng thuận lợi để triển khai Nghị quyết số 29 về đổi mớ i căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đạt kết quả cao.
Kế thừa ưu điểm những lần triển khai Nghị quyết của trung ương Đảng nói
chung và từ đặc thù của huyện, Ban Thường vụ Huyện uỷ đã xây dựng Kế hoạch
Số 52-KH/HU ngày 14 tháng 01 năm 2014 về tổ chức học tập, quán triệt, tuyên
truyền, triển khai thực hiện các nghị quyết, kết luận Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp
hành Trung ương Đảng, khoá XI.
34
Kế hoạch số 52 yêu cầu:
+ Uỷ Ban nhân dân huyện xây dựng chương trình hành động, nêu rõ việc làm cụ
thể, thời gian thực hiện, thời gian hoàn thành…
+ Xây dựng chương trình kiểm tra giám sát của Uỷ ban Kiểm tra Huyện uỷ
và Uỷ ban nhân dân huyện;
+ Các ngành phối kết hợp chuẩn bị kế hoạch thực hiện:
- Phòng tài chính xây dựng nguồn lực thực hiện (kinh phí) xây dựng cơ sở
vật chất nhà trường, xây dựng trường chuẩn…
- Phòng giáo dục xây dựng kế hoạch khảo sát, đánh giá đội ngũ và chất
lượng giáo dục, Phối hợp Phòng Nội vụ thực hiện quy hoạch đội ngũ, bổ sung nhân
lực, xây dựng nguồn lực con người…
- Các cấp uỷ Đảng của huyện, các ngành, đoàn thể, các phòng liên quan căn
cứ nhiệm vụ để có kế hoạch thực hiện như: Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể
chính trị - xã hội huyện; Đài phát thanh huyện, đài truyền thanh các xã, thị trấn; Văn
phòng Huyện ủy, Ban Tuyên giáo Huyện ủy; Trung tâm Văn hóa thông tin, các cơ
sở giáo dục, trường học.
2.1.2. Thực trạng giáo dục và đào tạo huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng.
Trong những năm qua: "Quy mô giáo dục đào tạo của huyện luôn ổn định và
phát triển, các loại hình trường lớp được mở rộng, 100% các xã, thị trấn đều có
trường mầm non, tiểu học, THCS. Cơ sở vật chất trang thiết bị phục vụ dạy và học
ở các nhà trường được quan tâm, đầu tư theo hướng chuẩn quốc gia" [3].
Đến nay toàn huyện có 62 trường (4 trường Trung học phổ thông, trong đó
có 3 trường quốc lập và 1 trường dân lập; 21 trường Mầm non, trong đó có 3 trường
mầm non tư thục; 18 trường tiểu học; 18 trường Trung học cơ sở; có 1 Trung tâm
Dạy nghề và Giáo dục thường xuyên). Tính đến cuối năm 2014, huyện có 21 trường
học đạt chuẩn quốc gia (34%), 100% các xã, thị trấn có trung tâm học tập cộng
đồng. Nhìn chung, mạng lưới trường, lớp đã đáp ứng được nhu cầu học tập của học
sinh hiện tại cũng như giai đoạn 2015 - 2020 [28].
Huyện đã hoàn thành phổ cập tiểu học và phổ cập tiểu học đúng độ tuổi từ
năm 1999; hoàn thành phổ cập Trung học cơ sở từ năm 2001; hoàn thành phổ cập
bậc trung học và nghề 2008.
35
2.1.2.1. Quy mô trường, lớp, học sinh
Trong những năm gần đây, số lớp, số học sinh tương đối ổn định điều này
được thể hiện cụ thể:
Năm 2011- 2012, 3 cấp học Mầm non, Tiểu học, THCS có tổng số 635 lớp
với số học sinh là 20.198 học sinh, 5 trường Trung học phổ thông và Trung tâm
giáo dục thường xuyên và nghề với 4482 học sinh. Năm 2012- 2013, 3 cấp học
Mầm non, Tiểu học, THCS tổng số lớp 662 lớp, tổng số 20.848 học sinh, Cấp
THPT có 100 lớp với 4162 học sinh. Năm 2013- 2014: 3 cấp học Mầm non, Tiểu
học, THCS Tổng số lớp 685 lớp, tổng số 21.950 học sinh, cấp THPT có 92 lớp với
3903 học sinh.
2.1.2.2. Chất lượng giáo dục
Cấp học Trung học phổ thông:
Năm học 2011-2012, Tỷ lệ tốt nghiệp THPT của huyện đạt 99,66%. Năm
học 2012-2013 Tỷ lệ lên lớp đạt 98%, Tỷ lệ tốt nghiệp của huyện đạt 99,5%. Năm
học 2013-2014 Tỷ lệ lên lớp đạt 98%, Tỷ lệ tốt nghiệp của huyện đạt 99,57% [12].
Cấp Trung học cơ sở:
Năm học 2011-2012, kết quả xếp loại 2 mặt giáo dục: tỷ lệ hạnh kiểm tốt đạt
89 %; Khá 10,4%; Trung bình 0,6%; yếu 0,07%. ; học lực giỏi chiếm 20,2%; khá
46,5%; Trung bình 30,8%, yếu 2,4%; kém 0,13%. Năm học 2012-2013 tỷ lệ học
sinh lên lớp đạt 99,8%, Tỷ lệ tốt nghiệp đạt 100%; kết quả xếp loại 2 mặt giáo dục:
tỷ lệ hạnh kiểm tốt đạt 92,1%; Khá 7,6%; Trung bình 0,3%; yếu 0,01%. ; học lực
giỏi chiếm 22,2%; khá 46,6%; Trung bình 29,4%, yếu 1 học sinh%. Năm học 2013-
2014 đã huy động 100% học sinh hoàn thành chương trình lớp 5 vào lớp 6, duy trì
sĩ số đạt 99.5%, tỷ lệ lên lớp đạt 99,8%; kết quả xếp loại 2 mặt giáo dục: tỷ lệ hạnh
kiểm tốt đạt 92,11% %; Khá 5,63%; Trung bình 0,42%; yếu 0,03%; học lực giỏi
chiếm 26,8%; khá 46,8%; Trung bình 24,79%, yếu 2,19%; kém 0,05%.
Cấp Tiểu học:
Năm học 2011-2012, Tỷ lệ huy động đến trường đạt 100%; không có học
sinh bỏ học; tỷ lệ xếp loại hạnh kiểm đạt 99,8%, chưa đạt 0,2%; Tỷ lệ lên lớp và
hoàn thành chương trình tiểu học là 100%. Năm học 2012-2013 Tỷ lệ huy động trẻ
36
6 tuổi đến trường đạt 100; tỷ lệ xếp loại hạnh kiểm đạt 99,8%, chưa đạt 0,2%; chất
lượng giáo dục giỏi 40,2%; khá 43,5, Trung bình 15,9%; yếu 0,4%. Năm học 2013-
2014 Tỷ lệ huy động trẻ 6 tuổi đến trường đạt 100; tỷ lệ xếp loại hạnh kiểm đạt
99,9%, chưa đạt 0,1%; chất lượng giáo dục xếp loại giỏi 41,5%; khá 43,65, Trung
bình 15,08%; yếu 0,22%.
Cấp học Mầm non:
Năm học 2011-2012, 100% các trường triển khai chương trình giáo dục mâng
non mới, vì vậy chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ được nâng lên; số nhóm, lớp thực
hiện chương trình giáo dục mầm non mới là 197 đạt 100%. Đánh giá trẻ theo 5 lĩnh
vực đạt 93,5 %. Tỷ lệ trẻ đi học chuyên cần bình quân đạt 93,2%. Tỷ lệ trẻ ăn nghỉ tại
trường nhà trẻ đạt 100%, mẫu giáo đạt 99,2 %,. Trẻ ở kênh bình thường về cân nặng
đạt 94,5% và trẻ ở kênh bình thường về chiều cao là 92%. Năm học 2012-2013, Tỷ lệ
trẻ bán trú đạt 100% trẻ đạt kênh sức khoẻ bình thường, về chiều cao đạt 92%, về cân
nặng 95,5%. Tỷ lệ chuyên cần nhà trẻ đạt 86%, mẫu giáo đạt 93%. Năm học 2013-
2014: Tỷ lệ trẻ bán trú đạt 100%; trẻ đạt kênh sức khoẻ bình thường, về chiều cao đạt
93,7 %. Tỷ lệ chuyên cần nhà trẻ đạt 86%, mẫu giáo đạt 93%.
Công tác bồi dưỡng và phát triển học sinh giỏi được quan tâm chỉ đạo tiến
hành thường xuyên, học sinh đạt giải học sinh giỏi cấp thành phố các cấp học tăng
qua các năm và có nhiều giải cao đặc biệt năm học 2013-2014 đã có 2 giải nhất cấp
quốc gia của cấp học trung học cơ sở [11].
2.1.2.3. Cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học
Cơ sở vật chất trường lớp được củng cố, cải tạo, đầu tư nâng cấp sửa
chữa, xây mới thêm phòng học, phòng chức năng, xây dựng trường chuẩn Quốc
gia. Một số trường đã có tương đối đủ phòng học cho học sinh học 2 buổi/ngày.
Các trường từ THCS trở lên, 12 trường Tiểu học, 5 trường mầm non có phòng
dạy tin học cho học sinh; 100% trường THCS nối mạng Internet và có máy vi
tính phục vụ công tác ứng dụng dạy học và quản lý trong nhà trường. Phòng
GD&ĐT xây dựng Website đưa vào khai thác sử dụng phục vụ công tác quản lý,
chỉ đạo các hoạt động giáo dục.
37
2.1.2.4. Thực trạng đội ngũ giáo viên
Bảng 2.1: Thống kê số lƣợng giáo viên cấp Trung học Phổ thông
huyện Kiến Thụy
Trình độ
Thừa, thiếu so
Tổng số
Tỷ lệ
Tổng
chuyên môn
với QĐ
Năm học
GV
GV/ lớp
số lớp
hiện có
theo QĐ
TH.S ĐH
CĐ
Thừa Thiếu
2010 - 2011
245
21
224
2.81
0.56
87
2011 - 2012
250
35
215
2.976
0.726
84
2012 - 2013
257
47
210
2.975
0.725
83
2013 - 2014
262
51
211
3.23
0.98
81
(Nguồn:Uỷ ban nhân dân huyện)
Bảng 2.2: Thống kê số lƣợng giáo viên cấp Trung học Cơ sở
huyện Kiến Thụy
Trình độ
Thừa, thiếu so
Tổng số
Tỷ lệ GV/
Tổng
chuyên môn
với QĐ
Năm học
GV
lớp theo
số lớp
hiện có
QĐ
TH.S ĐH
CĐ
Thừa Thiếu
2010 - 2011
356
272
84
2
17
178
2011 - 2012
335
1
275
59
1.9
176
0
2012 - 2013
326
2
275
48
1.9
172
0
2013 - 2014
317
6
273
38
1.9
176
0
(Nguồn: Phòng giáo dục huyện Kiến Thụy- 2014 )
Bảng 2.3: Thống kê số lƣợng giáo viên cấp Tiểu học huyện Kiến Thụy
Trình độ
Thừa, thiếu so
Tổng số
Tỷ lệ GV/
Tổng
chuyên môn
với QĐ
Năm học
GV
lớp theo
số lớp
hiện có
QĐ
ĐH
CĐ
TC
Thừa Thiếu
2010 - 2011
354
145
200
1.34
263
35
9
2011 - 2012
355
160
186
1.36
261
45
9
2012 - 2013
348
194
145
1.31
264
42
9
2013 - 2014
349
204
141
1.25
278
83
4
(Nguồn: Phòng giáo dục huyện Kiến Thụy-2014 )
38
Bảng 2.4: Thống kê số lƣợng giáo viên cấp học Mầm non
huyện Kiến Thụy
Trình độ
Thừa, thiếu so
Tổng số
Tỷ lệ GV/
Tổng số
chuyên môn
với QĐ
Năm học
GV hiện
lớp theo
lớp
có
QĐ
ĐH
CĐ
TC
Thừa Thiếu
186
1.59
0.41
2010 - 2011
279
57
100
122
188
1.56
0.44
2011 - 2012
294
69
116
109
197
1.95
0.05
2012 - 2013
368
69
116
201
214
1.64
0.06
2013 - 2014
417
97
95
225
(Nguồn: Phòng giáo dục huyện Kiến Thụy-2014 )
Số lượng giáo viên huyện Kiến Thụy trong năm 2014 so với những năm
trước tăng đáng kể. Độ tuổi bình quân của giáo viên của huyện hiện tương đối trẻ.
Đội ngũ giáo viên đều đạt trình độ chuẩn theo quy định của Bộ Giáo dục và đào tạo,
cơ bản đáp ứng yêu cầu.
Về cơ cấu cơ bản đáp ứng được yêu cầu, tuy nhiên vẫn còn có thừa thiếu cơ
cấu cục bộ. Một số giáo viên phải dạy không đúng môn được đào tạo, do vậy chưa
đáp ứng được yêu cầu nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, còn bất cập trước
những yêu cầu ngày càng cao về đổi mới mục tiêu, nội dung, phương pháp dạy học.
Về số lượng đội ngũ CBQL
Năm 2010- 2011: tổng số 152 người, trong đó nam 44; nữ 108. Năm 2011-
2012: tổng số 152 người, trong đó nam 44; nữ 108. Năm 2012- 2013 tổng số 153
người, trong đó nam 45; nữ 108. Năm 2013- 2014 tổng số 157 người, trong đó
nam 46; nữ 111 người
Về cơ cấu giới tính: Đội ngũ cán bộ quản lý các nhà trường cho thấy tỷ lệ nữ
luôn chiếm từ 70-71%, nam 29-30 %, do đặc điểm là cán bộ quản lý nữ ở cấp mần
non và tiểu học luân cao. Về đảng viên: Đội ngũ cán bộ quản lý ngành giáo dục nhà
trường trưởng thành nhanh về mọi mặt nên hiện tại 100% là đảng viên.
39
Về cơ cấu đội ngũ cán bộ quản lý
Bảng 2.5: Thống kê về cơ cấu độ tuổi và thâm niên nghề đội ngũ
cán bộ quản lý ngành giáo dục và đào tạo huyện Kiến Thụy (năm 2014)
Độ tuổi
Thâm niên công tác
Tổng
TT
Chức danh
Dƣới
Dƣới
5-10
11-20
Trên
số
31-40 41-50 51-59
30
5 năm
năm
năm
20 năm
Hiệu trưởng; giám đốc
62
2
31
16
13
1
21
24
16
1
TT GDTX và Nghề
Phó hiệu trưởng, phó
2
95
17
25
28
25
11
15
35
34
giám đốc
3
1
3 Lãnh đạo phòng giáo dục
4
1
3
43
37
59
Tổng
161
19
57
44
41
12
(Nguồn: Ban Tổ chức Huyện uỷ Kiến Thụy-2014 )
Thực trạng về chất lượng
Về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm
Bảng 2.6: Thống kê về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ sƣ phạm
Trình độ chuyên môn
Tổng Thạc sĩ TT Chức danh Cao đẳng Đại học số ngƣời tiến sĩ
Tổng % Tổng % Tổng %
1 Hiệu trưởng 62 57 92 5 8
2 Phó hiệu trưởng 95 3 3.1 81 85 11 12
3 Lãnh đạo phòng giáo dục 4 3 75 1 25
Tổng: 161 3 141 17
(Nguồn: Ban Tổ chức Huyện uỷ Kiến Thụy - 2014)
Về trình độ đào tạo: Đội ngũ cán bộ quản lý đều có trình độ chuyên môn đạt
chuẩn theo đúng quy định của Điều lệ trường học, trong đó có 100% trình độ đại
học; trong đó: 2 tiến sĩ. 7 thạc sĩ. Ngoài ra, 7 người đang theo học chương trình Thạc
sĩ sẽ nâng tỷ lệ cán bộ quản lý có trình độ thạc sĩ cao hơn.
40
2.1.2.5. Về trình độ lý luận chính trị
Bảng 2.7: Thống kê về trình độ lý luận chính trị
Trình độ chuyên môn Tổng
TT Chức danh số Sơ cấp Trung cấp CC, CN
ngƣời Tổng % Tổng % Tổng %
1 Hiệu trưởng 62 58 93.5 4 6.5
2 Phó hiệu trưởng 95 1 1.1 89 93.6 5 5.3
Lãnh đạo Phòng 3 4 2 50 2 50 Giáo dục - Đào tạo
Tổng 161 1 0.07 149 92.5 11 6.8
(Nguồn: Ban Tổ chức Huyện uỷ Kiến Thụy-2014)
Qua bảng thống kê có 160/161 cán bộ quản lý trình độ lý luận chính trị trung
cấp trở lên (chiếm 99,3%). Như vậy, đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục huyện Kiến
Thụy không những có trình độ chuyên môn đạt chuẩn và trên chuẩn mà còn còn đủ
tiêu chuẩn theo quy định về cán bộ diện phân cấp Huyện uỷ quản lý phải có trình độ
lý luận chính trị trung cấp trở lên
2.1.2.6. Về trình độ tin học, ngoại ngữ và quản lý giáo dục
Bảng 2.8: Thống kê về trình độ tin học ngoại ngữ
Tin học A Ngoại ngữ A Quản lý Tổng
trở lên trở lên giáo dục TT Chức danh số
ngƣời Tổng % Tổng % Tổng %
1 Hiệu trưởng 62 62 100 57 92 62 100
2 Phó hiệu trưởng 95 89 93.6 78 82 94 99
Lãnh đạo Phòng 3 4 4 100 4 100 4 100 Giáo dục- Đào tạo
Tổng 161 155 96 129 80 160 99.3
(Nguồn: Ban Tổ chức Huyện uỷ Kiến Thụy-2014)
Tỷ lệ CBQL ngành giáo dục có trình trình độ A tin học và ngoại ngữ trở lên
tương đối cao ( 96% chứng chỉ tin học A và 80% chứng chỉ ngoại ngữ A trở lên),
thuận tiện cho việc triển khai ứng dụng CNTT vào quản lý, khai thác, thu thập
thông tin dữ liệu. Hầu hết, CBQL đã được đào tạo, bồi dưỡng về QLGD, quản lý
Nhà nước (chiếm 99.3% ).
41
2.2. Thực trạng triển khai Nghị quyết số 29 ở huyện Kiến Thụy, thành phố
Hải Phòng
2.2.1. Mục tiêu khảo sát
Qua 2 phiếu khảo sát 1 và 2 chúng tôi xác định việc triển khai Nghị quyết số
29 về "đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu công
nghiệp hoá, hiện đại hoá trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa và hội nhập quốc tế" nhằm đánh giá công tác triển khai cả về nhận thức và
hành động, rút kinh nghiệm tổ chức, triển khai các Nghị quyết của Đảng về giáo
dục và đào tạo có hiệu quả hơn.
2.2.2. Nội dung, đối tượng và phương pháp tiến hành khảo sát
2.2.2.1. Nội dung khảo sát
- Khảo sát nhận thức quan điểm, mục tiêu, nội dung, nhiệm vụ, giải pháp của
Nghị quyết và triển khai Nghị quyết
- Nội dung, hình thức, nhân lực triển khai Nghị quyết
- Phương tiện, cơ sở vật chất, kế hoạch triển khai Nghị quyết.
- Nhận thức tầm quan trọng về kết quả triển khai nghị quyết trên địa bàn
2.2.2.2. Đối tượng và phương pháp tiến hành khảo sát
- Tiến hành khảo sát các nội dung trên bằng 2 phiếu tới các đối tượng: Nhóm 1
Cán bộ quản lý 70 người (Cán bộ lãnh Huyện ủy, Ủy ban, Mặt trận, lãnh đạo phòng
GD&ĐT huyện Kiến Thuỵ, cán bộ quản lý các trường THPT, THCS, Tiểu học, Mầm
non; Các tổ chức đoàn thể chính trị- xã hội (Phiếu khảo sát 1-Phụ lục). Nhóm 2: đội
ngũ giáo viên có kinh nghiệm các cấp 85 người (Phiếu khảo sát 2- Phụ lục).
2.2.3. Kết quả khảo sát
2.2.3.1. Mức độ nhận thức quan điểm, mục tiêu, nội dung, nhiệm vụ giải pháp của
Nghị quyết;
Qua khảo sát 155 phiếu được gửi cho lãnh đạo Cán bộ quản lý, Mặt trận tổ
quốc, các đoàn thể, lãnh đạo. các nhà trường (70 phiếu Mẫu 1) và giáo viên có kinh
nghiệm các cấp học (85 phiếu- mẫu)
* Kết quả của nhóm phiếu dành cho Tổ chức chính trị -xã hội, mặt trận tổ
quốc các đoàn thể, lãnh đạo ngành giáo dục và các trường học:
42
- Trả lời câu hỏi thành công của giáo dục đào tạo ghi trong Nghị quyết (câu 10)
có 30/70 chiếm 42,8% nêu được từ 1-3 những thành công của giáo dục và đào tạo;
25/70 chiếm 35,7% nêu được từ 4 thành công trở lên, số còn lại không nêu được.
- Số người nêu được các yếu kém tồn tại (câu 11), 55/70 người chiếm 78%
nêu được từ 1-3 tồn tại, 15/70 nêu được từ 4 tồn tại trở lên chiếm 21,4%. Số còn lại
không trả lời.
- Về số lượng quan điểm chỉ đạo của nêu trong Nghị quyết (câu 12) có 65/70
người nhớ Nghị quyết về số lượng có 7 quan điểm chiếm 92,8%; 3/70 nhớ 8 quan
điểm chiếm 4,2 %; 2/70 nêu 9 quan điểm chiếm 2,8%. Tuy nhiên chỉ có 50 người
viết ra được từ 1-3 quan điểm chỉ đạo, 11 người nêu cụ thể được từ 4 quan điểm trở
lên. Số còn lại không nhớ.
Về các nhiệm vụ giải pháp số lượng người tương ứng trả lời có 7, 8, 9 giải
pháp là 65/70, 3/70, 2/70. Số lượng người nhớ và nêu được từ 1 - 3 giải pháp là 35,
từ 4 giải pháp chỉ có 16 người, tuy nhiên trong số đó không ai nhớ đủ 9 giải pháp.
Số còn lại không nêu được. Khi được hỏi giải pháp nào ở cơ sở quan trọng nhất; có
56 người trả lời phải đồng bộ, 12 giải pháp đầu tư cơ sở vật chất: số còn lại nêu
Đảng cần lãnh đạo quyết liệt.
* Kết quả của nhóm phiếu dành cho giáo viên các cấp học:
- Trả lời câu hỏi nêu thành công của giáo dục đào tạo ghi trong Nghị quyết (câu
10): 70/85, nêu được từ 1-3 những thành công của giáo dục và đào tạo chiếm 87,5%;
12/70 nêu được từ 4 thành công trở lên chiếm 17%; số còn lại không nêu được.
- Số người nêu được các yếu kém tồn tại (câu 11), có 47/85 người nêu được
từ 1- 4 tồn tại yếu kém chiếm 55,2%; 19/85 nêu được từ 5 tồn tại trở lên (chiếm
22,3%). Số còn lại không trả lời.
- Về trả lời số lượng quan điểm chỉ đạo của nêu trong Nghị quyết (câu 12) có
62/85 người nhớ 7 quan điểm chiếm 73%; 15/85 nêu 8 quan điểm chiếm 17,6%;
8/85 nêu 9 quan điểm chiếm 9.4%. Tuy nhiên chỉ có 25 người viết ra được từ 1 - 4
quan điểm chỉ đạo bằng 29,4%; 36 người nêu cụ thể được từ 4 quan điểm trở lên
bằng 42.3%. Số còn lại không nhớ.
43
- Về các nhiệm vụ, giải pháp nêu trong Nghị quyết, số lượng người tương
ứng trả lời có 7 nhiệm vụ và giải pháp là 19/85 (22%), 8 nhiệm vụ giải pháp là
16/85(19 %); 9 nhiệm vụ giải pháp là 36/85 (43%), 10 nhiệm vụ giải pháp là 14/85
(16%). Tuy nhiên số lượng người nhớ và ghi ra được từ 1-3 giải pháp là chỉ có 39,
từ 4 giải pháp chỉ có 15 người và trong số đó không ai ghi đủ 9 nhiệm vụ và giải
pháp. Số còn lại không nêu được.
- Khi được hỏi giải pháp nào ở cơ sở quan tâm nhất nhất (câu 14 mẫu 2); có
35 người trả lời phải đồng bộ, 40 (chiếm 47%) người ghi phải đồng bộ hết, 10
(chiếm 11 %) người nêu cần giải pháp đầu tư cơ sở vật chất.
- Được hỏi về ưu tiên cho những việc gì trước mắt và cần triển khai như thế
nào để hiệu quả cao? (câu 15-16 mẫu 2) có 45 (52%) người cho rằng đầu tư cơ sở
trường lớp, vật chất. 35 (41%) cho đầu tư đội ngũ, 43 (50%) ý kiến cho rằng, Đảng,
nhà nước quan tâm chế độ tiền lương giáo viên.
Từ kết quả nêu trên có thể nhận thấy mức độ nhận thức của 2 nhóm đối
tượng là khác nhau. Mặc dù cả 2 nhóm đối tượng đa số đã nhớ được số lượng nội
dung quan điểm, nhiệm vụ và giải pháp Nghị quyết nêu, song còn nhiều người
không nhớ Nghị quyết đƣa ra 7 quan điểm chỉ đạo và 9 nhiệm vụ và giải pháp
nên trả lời sai, Đa số không ghi được đủ nội dung theo yêu cầu và đặc biệt không ai
trong số ghi lại được đầy đủ về 7 quan điểm, 9 nhiệm vụ, giải pháp. Ở nhóm giáo
viên thì số người được hỏi quan tâm hơn tới nội dung về giải pháp đầu tư cơ sở vật
chất, chế độ chính sách tiền lương.
2.2.3.2. Mức độ thực hiện các phương thức, nhân lực triển khai Nghị quyết.
* Kết quả ở nhóm phiếu dành cho lãnh đạo Tổ chức chính trị -xã hội, mặt
trận tổ quốc, các đoàn thể, lãnh đạo ngành giáo dục như sau:
Số người trả lời biết qua phương tiện thông tin đại chúng:19; qua cơ quan đơn
vị triển khai 47/70 (chiếm 67%); tự tìm hiểu 3, hình thức khác 1. Về mức độ thuận lợi:
rất thuận lợi 10; thuận lợi 55 (chiếm 78%), chưa thuận lợi lắm 3; không thuận lợi 2. Về
thời gian: đủ thời gian 45; thời gian ngắn 10; lồng ghép nội dung khác khi triển khai
50/70 (71%) chưa đảm bảo về thời gian 10/70 ( chiếm 14%). Nếu được lựa chọn hình
thức nắm bắt nghị quyết; có 56 người muốn trực tiếp nghe phổ biến tại cơ quan đơn vị
và thảo luận, 57 ý kiến muốn được cung cấp tài liệu, chương trình hành động. chỉ có
12/70 (chiếm 17%) người muốn tự nghiên cứu, qua sách báo.
44
- Trả lời câu hỏi hội nghị triển khai có thảo luận (câu 7)? Có 65/70 (chiếm 93%)
người được hỏi có thảo luận; 5/70 không thảo luận ( chiếm 7%). Trả lời câu 8 có viết
thu hoạch ? 63/70 (90%) có viết bài thu hoạch; 7/70 (10%) không viết bài thu hoạch.
- Về cán bộ triển khai Nghị quyết (trả lời câu 9), 45/70 (chiếm 64%) được cho là
nhiệt tình dễ hiểu, có liên hệ; 25/70 (chiếm 36%) thực hiện bình thường.
* Kết quả ở nhóm phiếu dành cho nhóm giáo viên các cấp (85 phiếu)
Số người trả lời biết qua phương tiện thông tin đại chúng 20; qua cơ quan đơn vị
triển khai 60 (chiếm 70%); tự tìm hiểu 5, hình thức khác 1. Về mức độ thuận lợi: rất
thuận lợi 10; thuận lợi 70 (82%), chưa thuận lợi 5; Về thời gian: đủ thời gian 40/85
(chiếm 47%); thời gian ngắn 20/85 (chiếm 23,5%); lồng ghép nội dung khác khi triển
khai 60/85 (chiếm 70%); Hời hợt chưa đảm bảo thời gian để quán triệt 50 (58%). Nếu
được lựa trọn hình thức nắm bắt nghị quyết; có 45 người muốn trực tiếp nghe phổ biến
tại cơ quan đơn vị và thảo luận (chiếm 52%), 35 ý kiến muốn được cung cấp tài liệu,
chương trình hành động. chỉ có 5 người muốn tự nghiên cứu, qua sách báo.
- Trả lời câu hỏi hội nghị triển khai có thảo luận (câu 7)? Có 11/85 (chiếm
13%) người được hỏi có thảo luận; 74/85 không thảo luận (chiếm 87%). Trả lời câu
8 có viết thu hoạch? 5/85 (6%) có viết bài thu hoạch; 80/85 (94%) không viết bài
thu hoạch.
- Về cán bộ triển khai Nghị quyết (câu hỏi 9), có 11/85 (chiếm 13%) được
cho là nhiệt tình dễ hiểu, có liên hệ; 70/85 (chiếm 82%) thực hiện bình thường.;
4/85 ( chiếm 5%) trả lời không rõ ràng, khó hiểu.
Từ kết quả trên cho thấy ở cả 2 nhóm đối tượng đa số được nắm bắt, tiếp cận
Nghị quyết qua tuyên truyền, học tập tại cơ quan, đơn vị và muốn được lựa chọn
được nghe phổ biến, quán triệt học tập trực tiếp tại cơ quan. Tuy nhiên đa số các ý
kiến về phổ biến, triển khai còn lồng ghép nhiều nội dung khác (trên 70%) và trên
20% triển khai thiếu thời gian. Về thảo luận và viết thu hoạch, kết quả khảo sát cho
thấy ở nhóm đối tượng lãnh đạo quản lý Mặt trận tổ quốc, các đoàn thể trong hệ
thống chính trị triển khai tại hội nghị đƣợc thảo luận, và viết bài thu hoạch, trong
khi đó đối với nhóm giáo viên đa số không thảo luận và viết không có thu
hoạch. Đối với nhân lực triển khai Nghị quyết ở nhóm cán bộ trong hệ thống chính
trị có chất lượng, chuyên môn hơn. Trong khi đó đối với nhóm giáo viên, đội ngũ
triển khai có chất lượng bình thường chiếm cao (chiếm 82%).
45
2.2.3.3. Kết quả cơ sở vật chất, phương tiện triển khai Nghị quyết
- Về cơ sở vật chất, thiết bị phục vụ hội nghị tuyên truyền, học tập, quán triệt
và các điều kiện (câu hỏi 3 phiếu khảo sát) nhóm phiếu dành cho Tổ chức chính trị -
xã hội, mặt trận tổ quốc các đoàn thể, lãnh đạo, quản lý các nhà trường như sau: rất
tốt 3 (4%); đảm bảo đáp ứng yêu cầu 39/70 (chiếm 57%); chưa đáp ứng yêu cầu chỗ
ngồi 9/70 (12%); chưa đáp ứng được yêu cầu về thiết bị phục vụ 19 (chiếm 27%).
- Kết quả ở nhóm phiếu dành cho nhóm giáo viên các cấp học; rất tốt 0%;
đảm bảo đáp ứng yêu cầu 55 (chiếm 64%); chưa đáp ứng về chỗ ngồi, chưa đáp ứng
về thiết bị, phục vụ 30 (chiếm 36%).
Kết quả trên phản ánh thực tế là khi triển khai Nghị quyết số 29, toàn Đảng
bộ huyện có 58 chi đảng bộ trực thuộc triển khai học tập quán triệt nghị quyết với
tổng số 29 buổi do các báo cáo viên của Huyện uỷ quản lý và Báo cáo viên thành
phố triển khai gồm: Hội nghị cán bộ chủ chốt của huyện 1 buổi, đảng viên tại các
chi bộ cơ sở 2 buổi, 20/ 22 đảng bộ trực thuộc tổ chức quán triệt, (2 đảng bộ công
an, quân sự dự học tập tại hội nghị cán bộ chủ chốt toàn huyện ), 5 hội nghị tại 4
trường THPT và Trung tâm giáo dục thường xuyên và nghề, 1 buổi ngành giáo dục
triển khai cho đội ngũ lãnh dạo quản lý các trường học và cơ sở giáo dục. 24/29 hội
nghị quán triệt triển khai nội dung nghị quyết đều được triển khai tại các hội trường
lớn của Huyện uỷ, nhà văn hoá Trung tâm huyện, Trung tâm Bồi dưỡng chính trị
của huyện học nhà văn hoá trung tâm các xã, thị trấn nên rộng rãi, thoáng mát, quạt
máy, nước uống và phục vụ chu đáo, có loa máy có chất lượng, có bàn ghế ngồi
ghi chép tốt và có chỗ để bố trí thảo luận thì cơ bản đáp ứng đƣợc yêu cầu
(nhóm 1: 57%).
Các hội nghị triển khai tại hội trường các trường trung học phổ thông và của
các nhà trường, diện tích hội trường vẫn còn trật hẹp, loa máy cũ, chất lượng âm
thanh kém đã ảnh hưởng tới nội dung triển khai quán triệt, việc ghi chép, thảo luận
chưa được chú trọng., chƣa đáp úng đƣợc chỗ ngồi, thiết bị còn chiếm tỷ lệ cao
ở nhóm 2 (chiếm 36%).
Tài liệu học tập theo hướng dẫn của ban Tuyên giáo, do Huyện uỷ cung cấp
được phát tới đầu mối bao gồm tài liệu tuyên truyền: Văn kiện Hội nghị lần thứ tám
46
Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI. Tài liệu nghiên cứu Nghị quyết Hội
nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI do Ban Tuyên giáo
Trung ương biên soạn. Kết luận số 72 của Bộ Chính trị khoá XI. Kế hoạch của
Huyện uỷ gửi tới các chi đảng bộ và được báo cáo viên giới thiệu tại hội nghị. Hình
ảnh trình chiếu chứng minh do các báo cáo viên phối hợp với cơ sở cung cấp, tuy
nhiên do điều kiện vật chất tại nhiều Hội trường Đảng uỷ thiếu nên không thực hiện
được chính chiếu minh hoạ.
2.2.3.4. Kết quả về mức độ nhận thức và kết quả thực hiện Nghị quyết số 29
* Về mức độ nhận thức
Trả lời câu hỏi đánh giá chung về mức độ triển khai nghị quyết 29 tại cơ
quan, đơn vị, lĩnh vực công tác của mình (câu 15), nhóm phiếu dành cho Tổ chức
chính trị -xã hội, mặt trận tổ quốc các đoàn thể như sau: Rất tốt 17/70; tốt, đảm
bảo yêu cầu kế hoạch đề ra 35/70 (50%); bình thường 15/70 (21%), chưa tốt 2/70.
Về mức độ, tầm quan trọng của Nghị quyết trên địa bàn: rất quan trọng 7/70; quan
trọng 36/70 (51%), như các nghị quyết khác 27/70 (38%)
Tương tự ở nhóm dành cho giáo viên các cấp học: Rất tốt 2/85; tốt, đảm bảo
yêu cầu kế hoạch đề ra 37/85(43,5%); bình thường 33/785, chưa tốt 13/85. Về Mức
độ, tầm quan trọng của Nghị quyết trên địa bàn: rất quan trọng 36 (chiếm 42%);
quan trọng 35 (chiếm 41%), như các nghị quyết khác 14 (chiếm 17%).
Kết quả trên cho thấy về mức độ nhận thức mức độ triển khai Nghị quyết tại
cơ sở đạt rất tốt và đạt yêu cầu đề ra của chung cả 2 nhóm đề cao trên 50%; đảm
bảo đạt yêu cầu trở lên trở lên. Tuy nhiên ở nhóm giáo viên tỷ lệ trả lời chƣa tốt
vẫn còn cao (13/85 chiếm 15%) Về mức độ quan trọng và rất quan trọng của Nghị
quyết trên địa bàn có sự khác biệt: nhóm giáo dục cho rằng rất quan trọng và
quan trọng với tỷ lệ cao (83%); trong khi đó nhóm lãnh đạo quản lý Mặt trận tổ
quốc và các đoàn thể coi Nghị quyết về "đổi mới căn bản giáo dục đào tạo" giống
như các nghị quyết khác tỷ lệ cao(chiếm 38%).
Một thực tế là Nghị quyết 29-NQ/TW (Khóa XI ) về đổi mới căn bản, toàn
diện giáo dục và đào tạo được ban hành, ngành giáo dục huyện Kiến Thuỵ đã
quyết tâm triển khai Nghị quyết vào thực tiễn. Sau một năm triển khai Nghị
quyết, giáo dục huyện Kiến Thuỵ đã đạt được một số kết quả ban đầu
47
Tuyên truyền nhận thức về nghị quyết số 29 về đổi mới căn bản và toàn diện
giáo dục và đào tạo trên địa bàn huyện đã được kết quả tốt. Công tác tuyên truyền
được triển khai diện rộng bằng nhiều hình thức thiết thực, sự vào cuộc của các chủ
thể mà yếu tố nòng cốt là Ban Tuyên giáo và chính lực lượng ngành giáo dục, sự
phối hợp hiệu quả của ngành giáo dục và đoàn thanh niên, hội cha mẹ học sinh và
của các cấp uỷ đảng địa phương, nghị quyết có tính lan toả mạnh mẽ và được nhân
dân hưởng ứng mạnh mẽ, đóng góp cơ sở vật chất xây dựng các nhà trường góp
phần đổi mới toàn diện giáo dục và đào tạo.
Sau một năm triển khai nghị quyết: trong các trường trên địa bàn huyện Kiến
Thuỵ đã có những thay đổi tích cực theo mục tiêu nghị quyết đề ra: đó là những tín hiệu
tốt trong thời gian tới để tiếp tục làm chuyển biến mạnh mẽ giáo dục và đào tạo huyện:
+ Đổi mới nội dung, phương pháp dạy học chú trọng phát triển năng lực và
phẩm chất người học: năm học 2013-2014, năm học 2014-2015, 100 các trường học
từ cấp tiểu học trở lên thực hiện nội dung chương trình do bộ ban hành đồng thời
đã chú trọng giáo dục lịch sử địa phương, thành phố gắn với tổ chức các hoạt động
ngoại khoá, rèn kỹ năng sống. Kết thức năm học 2013-2014, Phòng giáo dục huyện
đã tổ chức đánh giá hiệu quả và rút ra kinh nghiệm hoạt động dạy học và giáo dục
theo định hướng phát triển năng lực và phẩm chất người học. Việc thực hiện kế
hoạch dạy học theo nội dung tích hợp được giáo viên hưởng ứng bước đầu cho kết
quả tích cực. Giáo viên không cảm thấy gò bó bởi những tiết học mà trước đây cho
là nặng nề về kiến thức. Học sinh nhận thấy đỡ áp lực đối với môn Lịch sử. Đối với
các tiết Lịch sử địa phương như trong kế hoạch các trường đều tổ chức cho một số
lớp đi tham quan một số di tích lịch sử để tìm hiểu, tuy nhiên đối tượng học sinh
được đi tham quan còn hạn chế không thực hiện được đại trà. Điều này xuất phát từ
nhiều yếu tố khách quan và chủ quan trong đó có cả vấn đề tài chính và xã hội.
Năm học 2014 - 2015 các trường THPT trên địa bàn huyện đã xây dựng
xong “chương trình giáo dục nhà trường” của tất cả các môn học trên cơ sở đảm bảo
chuẩn kiến thức, kỹ năng và thái độ trong khung chương trình giáo dục phổ thông
theo tinh thần Hướng dẫn số 791/HD-BGDĐT ngày 25/6/2013 của Bộ GDĐT, được
Hiệu trưởng nhà trường phê duyệt và đưa vào thực hiện chính khóa.
48
+ Đổi mới hình thức và phương pháp thi : ngành , kiểm tra và đá nh giá
giáo dục đã đã triển khai nội dung các hoạt động đổi mới kiểm tra đánh giá kết
quả giáo dục; Đối với các Trường Trung học phổ thông đã xây dựng chú trọng
hướng dẫn học sinh đánh giá lẫn nhau và biết tự đánh giá năng lực của mình theo
hướng mở. Cấp Tiểu học đã đồng loạt triển khai thực hiện Thông tư 30 của Bộ
Giáo dục và Đào tạo.
Các trường trong toàn huyện đã chú trọng lắng nghe các ý kiến đánh giá
ngoài của các tổ chức chính trị xã hội địa phương, của hội cha mẹ học sinh, không
ngừng hoàn thiện xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, xây dựng nền nếp học
tập, vệ sinh trường lớp, quan tâm giáo dục đạo đức học sinh; công bố sứ mạng của
trường; 16/18 trường THCS đã nêu mục tiêu đến năm 2020. các trường đều điều
chỉnh quy hoạch đảm bảo đủ diện tích thực hiện chuẩn quốc gia. Phấn đấu hoàn
thành 70% các trường đạt chuẩn quốc gia vào năm 2020.
+ Đẩy mạnh ứng dụng CNTT; tổ chức tốt việc dạy học Tiếng Anh các cấp
học: nhiều nhà trường đã đẩy mạnh ứng dụng thông tin trong quản lý các hoạt động
dạy và học, xây dựng trường học điện tử; 100% các trường (58/58) quốc lập đã lắp
đặt Internet phục vụ khai thác thông tin và giảng dạy, sử dụng địa chỉ mạng để báo
cáo thông tin của nhà trường với sở, ngành.
Sử dụng phần mềm hỗ trợ các nhà trường phổ thông trong các công tác quản
lý hồ sơ học sinh, hồ sơ giáo viên, quá trình học tập và rèn luyện của học sinh; quá
trình công tác, giảng dạy của giáo viên, quản lý các kỳ thi của học sinh. Hệ thống là
một giải pháp tổng thể và đồng nhất trong việc tin học hóa công tác quản lý học sinh,
giáo viên. Các nhà trường đã rất chú trọng việc học ngoại ngữ và trong các nhà
trường từ cấp học mần non. 8/21 trường mần non có giáo viên ngoại ngữ và tổ chức
dạy ngoại ngữ cho trẻ 5 tuổi. 18./18 trường tiểu học dạy ngoại ngữ khối 3 4, 5, các
trường trung học cơ sở và Trung học phổ thông đều trang bị vi tính, máy chiếu, đài
đĩa phục vụ cho việc học tập ngoại ngữ của học sinh. Các trường tiểu học đang triển
khai chương trình ngoại ngữ Phonis tạo ra những thú cho học sinh học tập, công tác
kiểm tra đánh giá theo định hướng phát triển năng lực môn tiếng Anh nhằm thực
49
hiện chủ trương đổi mới toàn diện giáo dục và đào tạo. Từ năm 2014 đến nay, ngành
giáo dục đã cử đi bồi dưỡng nâng cao trình độ thạc sĩ cho 10 giáo viên dạy tiếng Anh.
+ Đào tạo nghề, tạo cơ hội toàn dân học tập được chú trọng: 18 xã thị trấn
trong toàn huyện đã kiện toàn đủ số lượng và chất lượng Ban Chỉ đạo học tập cộng
đồng xã do đồng chí Phó bí thư thường trực Đảng uỷ làm giám đốc trung tâm học
tập cộng đồng, các thành viên là lãnh đạo Uỷ ban nhân dân xã, các đoàn thể, Kiện
toàn Ban điều hành phổ cập xã do đồng chí Phó chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã làm
trưởng ban.
Năm 2014, Trung tâm dạy nghề và giáo dục thường xuyên huyện đã mở 11
lớp nghề từ 3 tháng đến 9 tháng cho các đối tượng: có nhu cầu: trong đó 3 lớp nghề
may công nghiệp, 2 lớp cắt tỉa cây cảnh, 2 lớp nghề cơ khí cho đối tượng bộ đội
xuất ngũ, 4 lớp nghề điện dân dụng, điện công nghiệp. Kinh phí đào tạo từ nguồn
cấp của thành phố và huyện cho đào tạo nghề và có sự tham gia xã hội hoá từ các
doanh nghiệp có nhu cầu công nhân nghề
+ Thực hiện đẩy mạnh xã hội hóa , huy động sự tham gia đó ng gó p của toàn
dân để xây dựng CSVC: Công tác xã hội hoá giáo dục được các cơ sở giáo dục
quan tâm, huy động được cả hệ thống chính trị và các nguồn lực phục vụ giáo dục
nhất là Hội cha mẹ học sinh tặng một số công trình của các trường: “2/18 trường
trung học cơ sở được Hội cha mẹ học sinh tặng phòng máy tính trị giá 300 triệu
đồng, 3 trường được Hội xây tặng khuôn viên khu vui chơi, 5 trường được hội đầu
tư lát gạch sân trường” [18].
+ Công tác phát triển đảng, công tác chính trị, tư tưởng trong trường học,
nhất là trong đội ngũ giáo viên được coi trọng: Trong năm 2014, Đảng bộ huyện
đã cử học lớp bồi dưỡng nhận thức kết nạp đảng 57 đoàn viên là giáo viên tiêu biểu
kết nạp được 52 giáo viên, các giáo viên được kết nạp đều có bản lĩnh chính trị
vững vàng, là cán bộ đoàn viên, công đoàn viên ưu tú, có trình độ đại học và đều là
giáo viên giỏi cấp cơ sở trở lên. Cử đi học lớp đảng viên mới 45 đồng chí. Phối hợp
mở lớp Trung cấp chính trị cho đối tượng cán bộ nguồn, hiệu phó, hiệu trưởng các
nhà trường. Đến nay, xấp xỉ 100% lãnh đạo quản lý và nguồn lãnh đạo quản lý các
trường học đều đã và đang học trung cấp lý luận chính trị.
50
2.3. Đánh giá thành công và hạn chế của công tác triển khai Nghị quyết trên
địa bàn huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng
2.3.1. Thành công và nguyên nhân
2.3.1.1. Thành công
Thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà
nước, của Thành uỷ Hải Phòng, Huyện ủy Kiến Thụy nhiều năm qua luôn quan tâm
đến công tác triển khai các Nghị quyết của Đảng nói chung đã triển khai khá tốt các
Nghi quyết các lĩnh vực
Cụ thể: Năm 2012 Huyện uỷ triển khai 5 nghị quyết chuyên đề và các nghị
quyết thường xuyên trong năm đó có nhiều nghị quyết đáng chú ý như Nghị quyết
của Huyện uỷ “về công tác cán bộ” “về dồn điền đổi thửa”, xây dựng cánh đồng
mẫu lớn, Nghị quyết về xây dựng nông thôn mới... ; năm 2013 là nghị quyết về phát
triển Du lịch huyện Kiến Thuỵ.
Về giáo dục và đào tạo, ngay từ năm 2009, Ban Thường vụ Thành uỷ Hải
phòng đã có Nghị quyết Số 30-NQ/TU ngày 03 tháng 12 năm 2009 "về phát triển
giáo dục mần non Thành phố Hải Phòng đến năm 2015, định hướng đến năm 2020;
Huyện uỷ Kiến Thuỵ đã ban hành nhiều nghị quyết liên quan đến phát triển giáo
dục và đào tạo: Nghị quyết số 05- NQ/HU năm 2006 "về phổ cập bậc trung học và
nghề" của huyện Kiến Thuỵ; Đề án phát triển giáo dục dục mầm non trên địa bàn.
Đồng thời Huyện uỷ cũng chỉ đạo các cấp các ngành, triển khai quán triệt bài bản,
rộng rãi, đã tích cực tuyên truyền bằng nhiều hình thức để toàn dân nắm rõ, hiểu rõ
và xác định được công việc cần thực hiện.
Sau khi có Nghị quyết số 29 ngày 4/11/2013 của Ban Chấp hành Trung ương
Đảng khoá XI về “đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục- đào tạo đáp ứng yêu cầu
công nghiệp hoá hiện đại hoá trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”,Ban Thường vụ Huyện uỷ đã tổ chức Hội nghị cán
bộ chủ chốt của huyện cho cán bộ đảng viên, lãnh đạo các các ngành, đoàn thể và
cán bộ quản lý giáo dục để triển khai quán triệt, học tập nghị quyết, tỷ lệ dự quán
triệt học tập đạt 95%. Ban Thường vụ Huyện uỷ xây dựng Kế hoạch Số 52-KH/HU
ngày 14 tháng 01 năm 2014 về tổ chức học tập, quán triệt, tuyên truyền thực hiện
51
các nghị quyết, kết luận Hội nghị lần thứ Tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng,
khoá XI; đồng thời chỉ đạo các chi, đảng bộ trực thuộc và các đoàn thể nhân dân,
ngành giáo dục và đào tạo tổ chức triển khai truyền tới thành viên, hội viên của
mình bằng hình thức phù hợp, thiết thực nhất và đảm bảo hiệu quả nhất.
Tập trung xây dựng chương trình kế hoạch tuyên truyền triển khai thực
hiện chỉ thị, Nghị quyết của Trung ương, của Thành uỷ và xây dựng chương
trình hành động của Huyện uỷ, đề án của Uỷ BAN NHÂN DÂN huyện để thực
hiện Nghị quyết. Xác định công tác phát triển giáo dục và đào tạo của huyện là
nhiệm vụ trọng yếu, vừa cấp bách thường xuyên, liên tục, là nhiệm vụ chiến lược
cho phát triển của huyện, nên phải chủ động kiên quyết, không nóng vội chủ
quan, coi trọng huy động cả xã hội tham gia trong đó đội ngũ cán bộ quản lý,
giáo viên phải là nòng cốt dưới sự lãnh đạo của cấp uỷ, xác định môi trường giáo
dục, nhà trường là trận địa chính. Các địa phương đơn vị quan tâm và tạo điều
kiện, tăng cường xây dựng cơ sở vật chất, huy động tốt mọi nguồn lực nhằm đổi
mới căn bản, toàn diện giáo dục của huyện.
Cấp uỷ đảng. chính quyền, các ban ngành đoàn thể quần chúng từ huyện
xuống xã, các nhà trường đã tổ chức triển khai, tuyên truyền nội dung của Nghị
quyết bằng nhiều hình thức. Bước đầu đã huy động được sức mạnh tổng hợp của cả
hệ thống chính trị vào cuộc, công tác tuyên truyền nội dung, tầm quan trọng của
Nghị quyết đã đạt cả chiều rộng, bề sâu.
Một năm triển khai Nghị quyết số 29, trên địa bàn được đẩy mạnh đạt được
kết quả thiết, công tác tuyên truyền và triển khai thực hiện có nhiều nội dung thiết
thực và nhiều hình thức phong phú, đa dạng, có sự tham gia của nhiều lực lượng.
Chủ thể triển khai:
Huyện uỷ, ban Thường vụ Huyện uỷ đã quan tâm chỉ đạo chỉ đạo sâu sát,
ban hành kế hoạch cụ thể; chỉ đạo tổ chức quán triệt, triển khai tại Hội nghị cán
bộ chủ chốt của Huyện gần 400 cán bộ, chủ chốt, hội nghị đã chia 5 tổ thảo
luận tổ đánh giá thực trạng của lĩnh vực giáo dục của huyện và địa phương, viết
bài thu hoạch với câu hỏi của Ban Tổ chức về nhận thức về vai trò vị trí giáo
dục đào tạo, về giải pháp của địa phương để đổi mới căn bản toàn diện giáo dục
và đào tạo.
52
Đối với các, chi Đảng bộ cơ sở
Toàn Đảng viên của 59 chi đảng bộ trong toàn huyện, tham gia học tập quán
triệt nghị quyết tập chung tại các hội nghị: 18 hội nghị riêng của 18 Đảng bộ xã thị
trấn mời 100% đảng viên thanh gia học tập quán triệt Nghị quyết trung ương Tám
(trừ các đồng chí miễn sinh hoạt); các chi bộ cơ quan học tập trung tại nhà Văn hoá
huyện và Trung tâm bồi dưỡng chính trị huyện. Báo cáo viên mời trực tiếp Đồng
chí Trưởng Ban Tuyên giáo Huyện uỷ, đồng chí Bí thư Đảng uỷ triển khai nhiệm vụ
của địa phương thực hiện nghị quyết.
- Phòng giáo dục và đào tạo: Tổ chức một hội nghị đẩy mạnh công tác tuyên
truyền trong đội ngũ quản lý các trường làm tốt công tác tuyển sinh, huy động, xây
dựng đội ngũ nâng cao chất lượng, cử giáo viên tham gia học tập bồi dưỡng, đào tạo
nâng cao chát lượng dạy học, trình độ chuyên môn nghiệp vụ. Mỗi trường đều xây
dựng kế hoạch học tập, giảng dạy, xây dựng quy chế phối hợp giữa nhà trường, gia
đình, lực lượng các đoàn thể xã hội trong việc quản lý học sinh
- Các trường THPT của huyện: Mỗi trường tổ chức một buổi học quán triệt
triển khai học tập nghị quyết cho toàn thể các bộ viên chức lao động của trường, các
nhà trường đều mời Báo cáo viên của Huyện uỷ trực tiếp quán triệt Nghị quyết và
chương trình hành động của Uỷ ban nhân dân huyện, đồng chí Hiệu trưởng, Bí thư
chi bộ trường triển khai kế hoạch năm và những định hướng nhiệm vụ lớn thực hiện
nghi quyết, có 3/5 trƣờng đã xây dựng chƣơng trình hành động thực hiện nghị
quyết. 100% đội ngũ giáo viên đã tham gia học tập Nghị quyết.
- Các trường mầm non, tiểu học, Trung học cơ sở: Đội ngũ cán bộ lãnh đạo,
chủ tịch công đoàn, Bí thư đoàn thanh niên trường, các giáo viên là đảng viên đều
được bố trí tham dự học tập quán triệt tại Đảng uỷ các xã, thị trấn trong toàn huyện,
tỷ lệ tham gia học tập của các nhà trường thường đạt từ 85-90%.
Riêng đối với các đồng chí lãnh đạo quản lý các nhà trường còn được tham
gia học tập, quán triệt của ngành thảo luận tại phòng giáo dục huyện về nhiệm vụ
giải pháp đổi mới căn bản toàn diện giáo dục huyện, viết thu hoạch tại hội nghị.
Đài phát thanh huyện: xây dựng chuyên mục phát thanh hàng tuần và xen kẽ
các buổi phát thanh hàng ngày. Mỗi tháng đài phát thanh của huyện có 10 bài
53
chuyên đề về hoạt động của giáo dục huyện, mõi ngày có thời lượng phát thanh tin
từ 3-5 phút phản ánh tình hình những gương người tốt việc tốt trong lĩnh vực giáo
dục đào tạo, về cá nhân giáo viên và học sinh điển hình trong học tập, giảng dạy, về
các hội thi giáo viên dạy giỏi; về công tác xây dựng trường chuẩn quốc gia, về đánh
giá kiểm định chất lượng giáo dục.
- Ngành Văn hóa thông tin: Bằng nhiều hình thức tổ chức tuyên truyền về
giáo dục đào tạo qua hệ thống băng zôn khẩu hiệu; tuyên truyền cổ động, kẻ vẽ
hàng trăm tranh phê bình, panô áp phích, xây dựng hàng chục tiểu phẩm biểu diễn
văn nghệ có nội dung giáo dục ý thức pháp luật, giáo dục đạo đức cho học sinh.
- Mặt trận tổ quốc và các đoàn thể huyện: Làm tốt công tác tuyên truyền vận
động toàn xã hội tham gia vào công tác triển khai thực hiện Nghị quyết về giáo dục:
phát động phong trào khuyến học, khuyến tài, xây dựng quỹ khuyến học khuyến tài
chăm lo thường xuyên tới đội ngũ thầy cô giáo và học sinh nghèo vượt khó; vận
động toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa, xây dựng môi trường văn hóa
lành mạnh, phát triển nhiều cụm, làng gia đình văn hóa, tổ hội văn hoá.
- Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh: Trong năm 2014, Đoàn thanh
niên huyện đã tổ chức các chuyên đề giao lưu học tập, các chuyên đề ngoại khoá, tổ
chức cho trên 300 học sinh xuất sắc toàn huyện đi báo công tại lăng Hồ Chủ tịch, tổ
chức các hoạt động cắm trại, tổ chức cuộc thi "chúng em với an toàn giao thông"..
- Hội nông dân: Đã tổ chức phát động các gia đình hội viên có con em học tập
tham gia cùng nhà trường trong quản lý, giáo dục, tham gia hoạt động ngoại khoá, phối
hợp hội cha mẹ học sinh trong các phong trào, hoạt động xã hội hoá giáo dục.
- Phòng Lao động Thương binh và Xã hội: Tham mưu giúp Uỷ BAN NHÂN
DÂN huyện chỉ đạo thực hiện chính sách đối với trẻ em có hoàn cảnh khó khăn,
phối hợp với các đơn vị trường trên địa bàn thành phố một số, tổ chức hội thảo, tư
vấn cho học sinh giỏi tham gia du học ở các nước phát triển.
Nội dung triển khai:
Triển khai tuyên truyền nội dung, nghị quyết đánh giá kết quả đạt được của
Giáo dục- đào tạo, những tồn tại hạn chế yếu kém, mục tiêu chung và mục tiêu cụ
thể cũng như các giải pháp để thực hiện mục tiêu, chương trình hành động của các
ngành, các cơ quan đơn vị.
54
Nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho các cấp uỷ Đảng và toàn xã hội quan
tâm tới giáo dục đào tạo để thực sự Giáo dục Đào tạo là quốc sách hàng đầu, đầu tư
cho Giáo dục là đầu tư cho con người, cho tương lai.
Toàn thể nhân dân, đội ngũ nhà giáo, các bậc học sinh được tiếp cận với chủ
trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước về lĩnh vực giáo
dục và đào tạo
Trên cơ sở nắm bắt rõ nội dung Nghị quyết, đề ra chương trình hành động,
lộ trình thực hiện của cấp uỷ, chính quyến, mặt trận tổ quốc, các đoàn thể nhân dân,
các nhà trường, đội ngũ thầy giáo, cô giáo có chương trình thực hiện, trách nhiệm
với sự nghiệp.
Hình thức triển khai:
Cũng như triển khai các nghị quyết khác, để cung cấp cho đối tượng cần triển
khai phải chuyển tải các nội dung thông tin qua các hình thức như: triển khai trực tiếp
(tổ chức hội nghị, toạ đàm quán triệt, học tập), triển khai gián tiếp (qua hệ thống văn
bản từ cấp trên xuống), trên phương tiện đại chúng, tuyên truyền cá nhân....Hình thức
triển khai trực tiếp (miệng) được chủ thể sử dụng khá phổ biến bởi hình thức này phù
hợp với đa số các hoàn cảnh, điều chỉnh được trình độ nhận thức của người nghe.
Thời gian qua, Ban tuyên giáo Huyện uỷ đã chú trọng tới phương thức triển khai và
nội dung minh hoạ cho công tác này, hướng dẫn đội ngũ Báo cáo viên cơ sở, chuyển
nội dung quán triệt từ file mềm trình chiếu cho đội ngũ báo cáo viên trước để nghiên
cứu, soạn bài và tìm hiểu trước những tài liệu để liên hệ. Ngoài những đồng chí lãnh
đạo chủ chốt của Ban được nghiên cứu, tập huấn tại Thành phố, huyện cũng bố trí tập
huấn cho đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên cơ sở. và những người này cũng
được học tập nghiên cứu chuyên đề, nghị quyết tại trung tâm huyện, do báo cáo viên
thành phố quán triệt Chính vì vậy ngoài lực lượng, báo cáo viên, tuyên truyền viên
chuyên trách thì các lực lượng khác như lãnh đạo Mặt trận tổ quốc, đoàn thể, nhà
trường, đoàn thanh niên, giáo viên cũng chính là chủ thể tuyên truyền, triển khai. Cụ
thể các hình thức triển khai được thể hiện như sau:
- Ban Thường vụ Huyện uỷ ban hành Chương trình công tác, chương trình
hành động. Tổ chức hội nghị quán triệt học tập, có thảo luận, hội nghị. Trong hội
nghị việc có sự giao lưu hai chiều giữa chủ thể và đối tượng
55
- Uỷ ban nhân dân Huyện, Phòng giáo dục huyện chuẩn bị xây dựng chương
trình, Đề án thực hiện. Ngành giáo dục chuẩn bị mục tiêu, nhiệm vụ năm học, duyệt
nhiệm vụ năm của các trường, chuẩn bị cơ cấu đội ngũ đảm bảo cân đối các trường.
Huyện uỷ chỉ đạo Phòng giáo dục tăng cường thanh tra, kiểm tra xử lý
nghiêm những lãnh đạo quản lý, giáo viên phạm, chấn chỉnh nền nếp học tập trong
các nhà trường, ký cam kết về thu chi tài chính, dạy thêm học thêm. Tổ chức cho
học sinh, ký cam kết không mắc các tệ nạn xã hội, kết hợp chặt chẽ giáo dục con em
ở cả ba môi trường: Gia đình, nhà trường, xã hội.
Đoàn thanh niên huyện: phối hợp thực hiện xây dựng môi trường nhà trường
xanh, sạch, đẹp, Ban Thường vụ Huyện đoàn đề ra thực hiện Chương trình hành động
chỉ đạo các đoàn trường triển khai phối hợp "hành động phòng, chống ma túy trong học
đường (giai đoạn 2010-2015; Phối hợp cảm hóa, giúp đỡ, giáo dục thanh thiếu niên học
sinh mắc vào các tệ nạn xã hội, tránh kỳ thị để các em hoà nhập cộng đồng.
- Đảng uỷ, Uỷ ban nhân dân các xã, thị trấn: tổ chức các hoạt động tuyên
truyền nghị quyết, và chương trình hành động của uỷ ban và thực hiện Nghị quyết
Hội đồng nhân dân xã về lĩnh vực giáo dục với những nội dung cụ thể như: trưởng
thôn, khu dân cư tham gia trực tiếp điều tra phổ cập đúng độ tuổi, tỷ lệ thanh niên
không việc làm, số sinh viên ra trường không việc, khảo sát nhu cầu thanh niên
đăng ký học nghề của huyện... .qua đó tuyên truyền sâu rộng tầm quan trọng của
nghi quyết và tạo cơ hội cho toàn dân nắm bắt chủ trương của Đảng và toàn dân có
cơ hội học tập.
Đội ngũ báo cáo viên, các xã, thị trấn
Tổ chức hội nghị, các cuộc gặp gỡ, nói chuyện với lãnh đạo các hội, với giáo
viên các trường THPT với mục đích: để họ có nhận thức đúng đắn vai trò của mình
trong thực hiện nghi quyết đổi mới giáo dục.
Đoàn thanh niên các xã, thị trấn thường xuyên nghiên cứu, xây dựng, thiết kế
các mô hình nhằm nâng cao hiệu quả trong công tác triển khai thực hiện Nghị quyết
thông qua câu lạc bộ thanh, thiếu niên niên phòng, chống ma tuý học đường ở các
câu lạc bộ như: CLB (câu lạc bộ) “ Chiến sĩ an ninh nhỏ tuổi”, CLB “măng non”,
câu lạc bộ "Hoạ Mi chăm học" phát thanh những tấm gương học sinh chăm ngoan,
56
học giỏi trong các trường tiểu học. Năm 2014 "duy trì được 15 câu lạc bộ tuyên
truyền với 50 buổi sinh hoạt chuyên đề thu hút trên 900 lượt đoàn viên, thanh thiếu
niên tham gia" [20]
- Hội cha mẹ học sinh kết hợp với đội ngũ báo cáo viên các cấp tuyên truyền
cho các bậc phụ huynh ủng hộ chủ trương của nhà trường; phối hợp nhà trường tích
cực "trách nhiệm quan tâm tới con em mình hơn" [19], tham dự các hội nghị bàn
xây dựng phương hướng nhiệm vụ năm học, tham dự các hội nghị bàn bạc dân chủ
và triển khai tích cực công tác xã hội hoá giáo dục, tham gia hoạt động đánh giá
ngoài nhà trường, tạo những điều kiện tốt để học sinh đến trường.
+ Các hình thức khác: Triển khai trên hệ thống phát thanh của huyện, của thôn,
cụm dân cư, giao cho văn hoá xã triển khai nghị quyết trên hệ thống loa của xã, các
trường đọc chương trình hành động trên phương tiện thông tin của trường, giao bí thư
chi bộ, trưởng thôn triển khai tuyên truyền tại khu dân cư.
Phương pháp và phương tiện triển khai nghị quyết: Chủ thể đã sử dụng các
phương pháp triển khai như:
Thông qua hoạt động tuyên truyền miệng (nói chuyện, thuyết trình, trao đổi)
của báo cáo viên, tuyên truyền viên các cấp mà nội dung thông tin được cung cấp
cho đối tượng. Đây là hình thức được sử dụng rộng rãi, phổ biến đối với triển khai
và đem lại hiệu quả cao. Vì với phương pháp này đối tượng được tiếp cận trực tiếp
với chủ thể do đó dễ nhận thức và thay đổi được hành vi, quan điểm của mình, nếu
như chủ thể là người thực sự tâm huyết có trách nhiệm với nghề, với lĩnh vực mình
triển khai. Người nghe cúng có thể trực tiếp đặt câu hỏi để có thông tin 2 chiều về
nội dung cần quan tâm
Do xác định được ró các đối tượng ở từng hội nghị khác nhau, nên chủ thể còn
sử dụng phương pháp tổng hợp, kết hợp giữa trực quan và tư duy trừu tượng trong đó
phương pháp trực quan sinh động được chú ý coi trọng để người nghe dễ nhớ dễ thuộc.
Thông qua hệ thống tranh ảnh, panô, áp phích, tờ rơi họ dễ dàng tiếp nhận được những
nội dung thông tin tuyên truyền do đặc điểm của hệ thống trực quan có ưu thế ngắn
gọn, dễ hiểu, dễ thuộc, dễ nhớ. Năm 2014, Uỷ ban nhân dân huyện đã tổ chức cho lãnh
đạo quản lý các nhà trường đi tham quan thực tế việc xây dựng trường chuẩn và một số
57
chường chuẩn quốc gia tại địa bàn một số tình bạn, Phòng giáo dục đã trưng bầy một
loạt hình ảnh trường chuẩn quốc gia, và các phòng học chất lượng cao đấy là những
hình ảnh sống động thông tin về việc xây dựng trường đạt chuẩn.
Thông qua hoạt động dạy và học trên lớp của giáo viên và học sinh, cách
dạy, cách học, các kiểm tra, đánh giá....là nội minh chứng cụ thể nhất cho việc đổi
mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo.
2.3.1.2. Nguyên nhân của những thành công
Thứ nhất, Lãnh đạo của Thành uỷ, Uỷ ban nhân dân thành phố; Huyện ủy -
Uỷ BAN NHÂN DÂN huyện đã quan tâm rất nhiều tới công tác Giáo dục và đào
tạo của huyện. Nghị quyết về phương hướng, nhiệm vụ giải pháp năm, Ban thường
vụ Huyện uỷ đều nhấn mạnh về "xây dựng chất lượng đội ngũ giáo viên, chú trọng
chất lượng đại trà và quan tâm phát triển đội ngũ học sinh giỏi, tập trung xây dựng
trường chuẩn quốc gia..."[4]. Thực hiện các nhiệm vụ trên là một trong những tiêu
chí thi đua của các cấp và các nhà trường trong toàn ngành giáo dục. Vì vậy, Huyện
uỷ đã chỉ đạo đổi mới Giáo dục và đào tạo được xác định là nhiệm vụ trọng tâm,
thường xuyên của cả hệ thống chính trị, trong đó giáo dục và đào tạo đội ngũ giáo
viên và cán bộ quản lý giáo dục là lực lượng nòng cốt.
Sau khi có nghị quyết, năm, Huyện ủy đã giao Ban tuyên giáo, phối hợp các
ban xây dựng đảng thường xuyên sơ kết, phân tích rõ những kết quả đạt được trong
quá trình triển khai thực hiện nghị quyết. Đồng thời phân tích những hạn chế, yếu
kém và nguyên nhân cụ thể của những hạn chế đó để từ đó có những biện pháp khắc
phục kịp thời. Có thể nói sự quan tâm, chỉ đạo của lãnh đạo huyện đã tới từng cơ sở
trường lớp, kịp thời, thống nhất, theo sát cùng với những diễn biến mới của tình
hình thực hiện của ngành giáo dục trên địa bàn huyện.
Uỷ ban nhân dân huyện và Uỷ ban nhân dân các xã, thị trấn còn chỉ đạo tăng
cường cơ sở vật chất, kỹ thuật, phương tiện, cân đối kinh phí thành phố cấp về lĩnh
vực văn hoá xã hội để bổ sung khen thưởng kịp thời những giáo viên và học sinh có
thành tích xuất sắc, sáng tạo trong công tác.
Thứ hai, có được những kết quả to lớn về nhận thức của toàn huyện về Đổi
mới căn bản toàn diện giáo dục trong thời gian qua là do sự phối hợp, đẩy mạnh
58
triển khai hoạt động tuyên truyền của các đoàn thể, tổ chức chính trị trên địa bàn
huyện, trong đó phải đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò của lực lượng báo cáo viên của
huyện và các đoàn thể, đội ngũ hiệu trưởng, giáo viên của huyện đã thực sự coi
trọng triển khai, học tập nghị quyết, thường xuyên quan tâm rèn luyện phẩm chất và
năng lực hoạt động
Ngoài ra hội cha mẹ học sinh, Hội cựu giáo chức: "đã tích cực tham gia
tuyên truyền triển khai nghị quyết tới cho học sinh và con em họ'' [19]. Nhờ đó đã
tác động sâu rộng, cung cấp thêm những nội dung, mục tiêu, nhiệm vụ mà học sinh
cần thực hiện trong kế hoạch học tập của mình....
Thứ ba, các cấp uỷ đảng cơ sở quan tâm sâu sắc tới sự nghiệp giáo dục của
địa phương, các nhiệm vụ để xây dựng và phát triển giáo dục đào tạo địa phương
thường xuyên được ghi trong nghị quyết của Đảng uỷ, nghị quyết Hội đồng nhân
dân xã với các giải pháp cụ thể như lộ trình xây dựng trường chuẩn quốc gia.
2.3.2. Hạn chế và nguyên nhân
2.3.2.1. Hạn chế
Bên cạnh những thành tựu được đánh giá có chuyển biến tích cực, công tác
triển khai Nghị quyết về đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo này còn
gặp một số hạn chế nhất định như sau:
Thứ nhất, về học tập, tuyên truyền: nội dung thông tin được tiếp cận còn ít,
còn được hiểu một cách chung chung chưa sâu sắc. Do đó một bộ phận đoàn viên,
hội viên, giáo viên, kể cả lãnh đạo quản lý các cấp, các ngành chưa nắm rõ nội dung
của nghị quyết, chưa nắm rõ tồn tại hạn chế của giáo dục và đào tạo của đất nước,
thành phố và huyện không nắm được quan điểm của Đảng, những mục tiêu chung,
mục tiêu cụ thể, các nhiệm vụ và giải pháp của Trung ương để đổi mới căn bản toàn
diện giáo dục và đào tạo. Các buổi hội nghị học tập, quán triệt về nghi quyết, bị
lồng ghép với nhiều nhiệm vụ khác, Nội dung nghị quyết không đƣợc phân
tích, thảo luận, và minh hoạ làm rõ, các kết quả của giáo dục Việt Nam báo cáo
viên chưa so sánh được giáo dục quốc gia khác trên thế giới và khu vực nên nội
dung triển khai đơn điệu, ít ấn tượng và người nghe chóng quên; tâm lý của người
nghe Nghị quyết thì thường cho rằng đây là việc "bắt buộc" mà chưa có ý thức tự
giác, coi là nhiệm vụ, là trách nhiệm quan trọng của mình nhất là đối với thầy cô
giáo, của lãnh đạo cấp uỷ, của cán bộ đảng viên.
59
Công tác học tập quán triệt ở huyện nhìn chung chưa đến được rộng rãi các
cấp các ngành, các đối tượng, thời gian quán triệt còn bị rút ngắn theo các cấp.
Quán triệt, triển khai ở thành phố 2 ngày, huyện 1 ngày, xã 1/2 ngày; thảo luận ở
thành phố 1/2 ngày, huyện 1 tiếng, ở xã có nơi thảo luận có nơi không, ở các nhà
trường bị ghép quán triệt với triển khai nhiều nhiệm vụ khác.
Một số báo cáo viên cấp uỷ lúng túng trong quán triệt, có lãnh đạo quản lý
nhà trường, có Bí thư cấp uỷ chủ động quán triệt nghị quyết bằng cách "đọc toàn
văn nghị quyết" cho hội nghị, cho nhà trường nghe.
Công tác bồi dưỡng, tập huấn về kiến thức và kỹ năng truyền thông cho đội
ngũ báo cáo viên ở cơ sở chưa đáp ứng được với yêu cầu ngày càng cao của yêu cầu
quán triệt, tuyên truyền. Đội ngũ cán bộ, báo cáo viên, tuyên truyền viên của cơ sở,
của ngành, của mặt trận và đoàn thể.. chưa được trang bị đầy đủ các phương tiện
truyền thông hiện đại phục vụ cho công tác tuyên truyền quán triệt.
Các thông tin về nội dung của Nghị quyết thường chỉ được biết đến cụ thể ở
các buổi học, và những người quan tâm tới nghị quyết thường nghe qua phát thanh
trực tiếp của hệ thống đài phát thanh huyện nên thường học xong "bị quên", việc
thực hiện để cho ngành làm mà ít có kiểm tra giám sát của cấp uỷ nên hiệu quả chưa
cao. Một số cấp, ngành chưa coi trọng công tác quán triệt, tuyên truyền trong nhân
dân, tuyên truyền trong các bậc phụ huynh, các ban công tác mặt trận thôn, khu dân
cư, các nhóm, tổ, hội ở, thôn. Nhất là trong việc việc tuyên truyền vận động thực
hiện Nghị quyết về nội dung duy trì trẻ em các cấp học đến lớp đến trường, duy trì
kết quả phổ cập, giáo dục đạo đức lối sống, tình cảm gia đình, quê hương làng xóm.
Thứ hai, là về hình thức triển khai, quán triệt, tuyên truyền. Do số lượng các
buổi tổ chức học tập còn ít, nội dung khô cứng gây ra tâm lý thờ ơ, coi nhẹ mức độ
quan trọng của Nghị quyết. Thông tin hai chiều, thảo luận giữa chủ thể và đối tượng
còn hạn chế do thời gian và trình độ của chủ thể. Hầu hết chủ thể cung cấp thông
tin, đối tượng tiếp nhận. Các hoạt động làm bài thu hoạch ở các chi đảng bộ cơ sở
trong học tập, quán triệt còn ít hoặc không được thực hiện.
Số lượng các buổi tuyên truyền ở thôn dân cư, các tổ chức hội cha mẹ học
sinh, hội cựu giáo chức không có.
60
Mặt khác, nhiều ngành chưa thực sự coi trọng công tác triển khai, tuyên
truyền, quán triệt nội dung Nghị quyết mà coi công tác này là công việc của ngành
chức năng của Ban Tuyên giáo Huyện uỷ, của Ngành giáo dục huyện nên còn tư
tưởng né tránh; hoặc thực hiện "lấy lệ"
+ Hình thức hoạt động của tổ chức Đoàn, hội nhiều mặt còn chưa ngang tầm
với yêu cầu, nhiệm vụ, nhất là ở cấp chi đoàn kể cả ở các chi đoàn trường còn hạn
chế về nội dung, hình thức, triển khai nghị quyết, chưa xác định được việc cần làm,
có bề nổi, thiếu chiều sâu, nên hiệu quả chưa cao… Nội dung, hình thức tuyên
truyền, triển khai chưa phù hợp.
Các hình thức giáo dục đạo đức, giáo dục kỹ năng hoạt động đã được mở
rộng và sáng tạo hơn trước như: Xây dựng các mô hình “câu lạc bộ tuyên truyền các
tệ nạn học đường”, “mô hình đội giáo dục đồng đẳng”, “tư vấn” "đôi bạn cùng
tiến", "câu lạc bộ các môn học" song các hình thức này còn mang tính hình thức, có
trường còn dừng lại ở mô hình mà ít có nội dung hoạt động [22].
+ Hình thức triển khai của hội cha mẹ học sinh.
Mặc dù tác động của người thân, đặc biệt là tác động của cha mẹ đối với việc
học tập cả kiến thức, kỹ năng và đạo đức cho con em là rất lớn. Một trong những mục
tiêu lớn của đổi mới căn bản toàn diện của giáo dục và đào tạo là "người học phải là
chủ thể trung tâm của quá trình giáo dục; gia đình có trách nhiệm phối hợp với nhà
trường và xã hội tạo môi trường giáo dục nhân cách, lối sống cho con em mình" [23].
Tuy nhiên trên thực tế hiện nay cho thấy các bậc làm cha, làm mẹ do mải mê
làm ăn, kiếm tiền nên rất ít cha mẹ quan tâm đến con cái của họ. Hơn thế, nhiều em
khi được hỏi: bố, mẹ có hay trang bị kiến thức, kỹ năng, giáo dục đạo đức cho các
em hay không? Thì nhiều em cho rằng, bố mẹ chỉ lo cho các em về chuyện ăn uống,
đi học chứ chuyện trang bị kiến thức nói chung là thuộc nhà trường, không quan
tâm tới giáo dục kỹ năng của con, và không để ý tới việc giáo dục đạo đức lối sống.
Điều đó cho thấy, tưởng rằng cha mẹ là người gần gũi, quan tâm đến con cái nhiều
nhất, tuy nhiên thực trạng trên lại cho thấy, hiện nay quá nhiều bậc phụ huynh do
mải mê làm ăn, kiếm tiền nên quá thờ ơ với việc giáo dục cho con em họ. Nhiều cha
mẹ học sinh còn "mặc kệ cho trường", cũng có quan điểm trời sinh voi, trời sinh
61
cỏ"; "không học được thì về đi làm thuê". Do sự thờ ơ đó mà nhiều cha mẹ đã hết
sức sững sờ khi nhận ra con em họ không có khả năng theo học, thậm chí bị dính
vào các tệ nạn xã hội mà các bậc cha mẹ không hay biết.
Thứ ba, về phương pháp, phương tiện:
Do việc triển khai nghị quyết của đảng về đổi mới căn bản toàn diện giáo
dục và đào tạo có liên quan đến nhiều cấp, nhiều ngành nên lực lượng chủ thể thực
hiện cũng rất đa dạng. Ngoài những tuyên truyền viên, báo cáo viên chuyên trách
thì còn có lực lượng lãnh đạo quản lý ngành giáo dục, lãnh đạo các cấp uỷ, các chi
đảng bộ trực thuộc Huyện uỷ, Đoàn viên thanh niên, giáo viên các trường, hội cha
mẹ học sinh... mà phương pháp triển khai chính cơ bản vẫn là triển khai tuyên
truyền miệng Chính vì thực tế đó mà sử dụng triển khai miệng cũng có nhiều hạn
chế. Chủ thể tuyên truyền miệng còn yếu về kĩ năng, nghiệp vụ tuyên truyền, nội
dung chưa thực sự sâu sắc nên không tạo được hứng thú trong quá trình đối tượng
tiếp nhận nội dung thông tin.
Các phương tiện trực quan được sử dụng kết hợp trong quá trình tuyên truyền
nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động như: Tờ rơi, panô, áp phích không được tận dụng triệt
để; các phương tiện hỗ trợ hiện đại như băng hình, máy tính, trình chiếu chỉ sử dụng
được ở hội nghị trong hội trường, thường chỉ tập trung tại huyện, về cơ sở ít.
2.3.2.2. Nguyên nhân của những hạn chế
Thứ nhất. Lãnh đạo một số cấp uỷ Đảng chính quyền nhất là lãnh đạo cơ sở
địa phương nhận thức chưa đầy đủ, chưa thực sự coi trọng việc đổi mới căn bản
toàn diện giáo dục và đào tạo là nhiệm vụ của cấp uỷ, coi đó là công việc của của
ngành giáo dục, của các nhà trƣờng và trách nhiệm của giáo viên là chính. Một
số cán bộ lãnh đạo có tư tưởng chủ quan, buông lỏng hoặc giao cho thủ trưởng các
cơ sở giáo dục. Về đội ngũ báo cáo viên của cơ sở, hiện nay trên địa bàn huyện, các
bộ Tuyên giáo chuyên trách cấp xã chỉ được thành lập ở một số xã, thị trấn còn chủ
yếu là hoạt động kiêm nhiệm nên chưa được quan tâm nhiều. Nhiệm vụ triển khai
quán triệt, học tập các Nghị quyết của Đảng tại các xã chủ yếu là do đồng chí Bí thư
hoặc Phó bí thư Thường trực Đảng uỷ thực hiện. Vì thế số lượng công việc đã nhiều
nên chất lượng triển khai còn hạn chế.
62
Thứ hai, trình độ chuyên môn, năng lực của cán bộ chủ chốt, khả năng xây dựng
kế hoạch, chương trình hành động, triển khai, thực hiện và cả cán bộ làm công tác quán
triệt, công tác tuyên truyền còn thấp và nhiều hạn chế. Đội ngũ báo cáo viên, trong đó
có cả lãnh đạo quản lý các cơ sở giáo dục mặc dù đông về số lượng song chất lượng
hoạt động chưa cao đặc biệt là đội ngũ kiêm nhiệm; hạn chế về kĩ năng, nghiệp vụ và
chuyên môn. Khả năng nắm bắt tâm lý của đội ngũ báo cáo viên, nhất là ở các buổi
triển khai Nghị quyết của các hội, đoàn thể hình thức, triển khai chưa được chú trọng
nhiều, thiếu thảo luận, thiếu thông tin minh hoạ nội dung Nghị quyết.
Thứ ba, Về tuyên truyền nội dung của Nghị quyết, hệ thống các phương tiện
thông tin đại chúng chưa thực sự phát huy được hết tác dụng trong việc cung cấp
thông tin, Tài liệu, chương trình hành động của cấp uỷ Đảng, của nhà trường có đơn
vị thiếu. Do vậy sự nắm bắt của đối tượng thực hiện nghị quyết về các nội dung,
giải pháp của Nghị quyết chưa đầy đủ, rõ ràng.
Thứ tư, hoạt động triển khai của các các ngành, hội đoàn thể, tổ chức Đoàn,
hội cha mẹ học sinh… chưa thực sự hiệu quả. Nhiều hoạt động còn mang tính hình
thức, xa rời thực tế cơ sở. Trình độ kĩ năng để quy tụ và huy động các nguồn lực xã
hội đầu tư cho giáo dục của huyện của một bộ phận cán bộ quản lý giáo dục, đội
ngũ giáo viên còn thấp chưa đáp ứng được nhiệm vụ và yêu cầu đề ra. Đội ngũ giáo
viên một số nhà trường chậm đổi mới về tư duy, thiếu sáng tạo linh hoạt. Do vậy
khi nghị quyết được triển khai hiệu quả thực hiện chậm.
Thứ năm, đầu tư kinh phí, cơ sở vật chất kĩ thuật, phương tiện phục vụ cho
công tác học tập nghị quyết vẫn còn thiếu: hội trường còn trật hẹp. phương tiện
tuyên truyền thiếu, nội dung quán triệt nghị quyết sơ sài, thiếu minh hoạ thực tế
Cơ sở vật chất triển khai nghị quyết chưa đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ.
Nhiều đơn vị trường cơ sở diện tích đất trật hẹp, không thể đạt chuẩn quốc gia, "các
phòng học được xây dựng từ những năm 80- 90 của thế kỷ trước đến nay đã xuống
cấp, nhiều trường không đủ phòng học 2 buổi trên ngày, trang thiết bị cũ chậm được
đầu tư mới, thiếu các phòng chức năng ngoại ngữ tin học, phòng nhạc, hoạ, không
có khu vui chơi cho học sinh đã ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng học tập làm
chậm đến việc đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo" [27].
63
2.4. Thực trạng các yếu tố ảnh hƣởng đến công tác triển khai Nghị quyết
(Những vấn đề đặt ra trong công tác triển khai Nghị quyết về đổi mới căn bản
và toàn diện giáo dục và đào tạo trên địa bàn huyện Kiến Thụy, thành phố Hải
Phòng trong thời gian tới)
2.4.1. Mâu thuẫn giữa yêu cầu ngày càng tăng của công tác triển khai Nghị
quyết với nhận thức còn hạn chế của cấp ủy và hệ thống chính trị về vị trí vai trò
của Nghị quyết nói chung và nghị quyết về đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và
đào tạo nói riêng.
Công tác triển khai các Nghị quyết của Đảng nói chung và Nghị quyết của
Trung ương Đảng liên quan tới giáo dục và đào tạo nói riêng trên địa bàn huyện
Kiến Thụy có nhiều chuyển biến và đạt kết quả tích cực làm chuyển biến mạnh mẽ
đối với giáo dục và đào tạo của huyện từng bước đáp ứng yêu cầu đặt ra. Bên cạnh
đó, tình hình công tác triển khai Nghị quyết số 29 ở một số đảng uỷ cơ sở và trường
học còn gặp lúng túng, khó khăn do một số cấp ủy Đảng và hệ thống chính trị địa
phương chưa nhận thức đầy đủ, xem nhẹ và có phần buông lỏng công tác lãnh đạo,
chỉ đạo. Một số cấp uỷ đảng chính quyền cho rằng việc đổi mới căn bản, toàn diện
giáo dục và đào tạo là của ngành giáo dục, của các thầy cô giáo nên phó mặc cho
lãnh đạo quản lý phòng giáo dục và lãnh đạo quản lý các nhà trường, các cơ sở giáo
dục. Đảng uỷ, Uỷ ban nhân dân xã không xây dựng chương trình hành động, không
có lộ trình thực hiện các nội dung của nghị quyết thuộc thẩm quyền, trách nhiệm
của mình như về phát triển cơ sở vật chất, huy động trẻ đến lớp đến trường, giáo
dục đạo đức, truyền thống, thực hiện khuyến học, khuyến tài.
Một số lãnh đạo trường học còn có quan điểm trông chờ, thậm chí còn ỷ lại
cấp trên, cho rằng trách nhiệm về xây dựng đội ngũ là của cấp trên, xây dựng cơ sở
vật chất là của địa phương… ngành giáo dục chỉ lo khâu đổi mới phương pháp dạy
học, đổi mới thi cử nên thiếu tính tham mưu hoặc tham mưu nửa vời cho cấp uỷ nên
làm chậm tiến độ thực hiện nghị quyết của Đảng.
Triển khai Nghị quyết số 29 trên địa bàn trên địa bàn huyện Kiến Thụy là
nhiệm vụ quan trọng cần cấp ủy và hệ thống chính trị phải nhận thức đầy đủ, đúng
đắn về vị trí, vai trò to lớn của giáo dục và đào tạo, coi đây là một trong những
64
nhiệm vụ chính trị cấp thiết nhất tập trung lãnh đạo, chỉ đạo đồng bộ của cả hệ
thống chính trị. Tăng cường thông tin, tuyên truyền, phổ biến nghị quyết trong xã
hội để nâng cao nhận thức và đồng tình thực hiện.
2.4.2. Mâu thuẫn giữa tính đơn điệu, thiếu linh hoạt, sáng tạo trong nội dung,
hình thức, phương pháp triển khai Nghị quyết
Ngày nay sự phát triển đến chóng mặt của công nghệ thông tin, trang thiết bị
máy móc hiện đại liên tục được đổi mới. Sự thâm nhập của các luồng văn hóa, tư
tưởng bên ngoài vào nước ta diễn ra ồ ạt, có sự thay đổi từng giờ, từng phút..., vì thế
trình độ của cán bộ làm công tác quán triệt nghị quyết, cán bộ Tuyên giáo các cấp
có cố gắng đến đâu cũng bộc lộ cái hạn chế đó là trình độ ít được đổi mới. Nếu mâu
thuẫn này không có giải pháp khắc phục hiệu quả, để lâu sẽ trở thành nguy cơ tụt
hậu về tư tưởng.
Chủ thể được giao thực hiện nhiều việc từ quán triệt, học tập, tuyên truyền,
tổ chức thực hiện và kiểm tra, đánh giá, sơ kết, tổng kết và báo cáo Cấp uỷ. Ở đây
nhiệm vụ đặt ra với Ban Tuyên giáo- nòng cốt của thực hiện các nhiệm nêu trên là
rất nặng nề, đòi hỏi cần trách nhiệm phải cao hơn các cơ quan, ban ngành tham mưu
khác. Do đó, trước hết thực hiện nhiệm vụ phải đảm bảo định hướng chính trị; Phải
lấy nhiệm vụ chính trị của Đảng, nhiệm vụ lãnh đạo của cấp ủy trong từng thời gian
làm định hướng. Cụ thể: Tham mưu của cán bộ Tuyên giáo, của cán bộ ngành giáo
dục sẽ góp phần gợi mở đối với suy nghĩ của lãnh đạo, dự báo xu thế sẽ diễn ra giúp
Ban Thường vụ Huyện uỷ không chỉ giải quyết thành công những vấn đề của giáo
dục và đào tạo của huyện trong hiện tại mà còn lường trước, giải quyết được những
biến động của giáo dục và đào tạo của huyện trong thời gian tương lai được tốt hơn,
đạt hiệu quả tối ưu. Việc tham mưu của cán bộ Tuyên giáo, của các chủ thể đồng
tham mưu sẽ góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả lãnh đạo. Chất lượng của
công tác tham mưu (tính tối ưu, tính đầy đủ, tính chính xác, kịp thời) càng cao thì
hiệu quả lãnh đạo cấp ủy càng cao. Ngược lại, chất lượng tham mưu thấp, không
đảm bảo độ tin cậy, thiếu kịp thời thì việc lãnh đạo, điều hành thì trở lên khó khăn,
phức tạp. Để các công đoạn tuyên truyền, quán triệt, hướng dẫn triển khai, thực hiện
các nghị quyết, chỉ thị, quy định, quy chế của Đảng đi vào cuộc sống một cách hiệu
65
quả, yêu cầu nhiệm vụ đặt ra cho các cơ quan tham mưu nhất là Ban Tuyên giáo
ngày càng lớn. Bên cạnh việc tổ chức nghiên cứu, tuyên truyền, hướng dẫn triển
khai, Ban Tuyên giáo còn phải kiểm tra, giám sát và phối hợp kiển tra, giám sát,
tham mưu sơ kết, tổng kết thực hiện các nghị quyết, quyết định, chỉ thị, quy định
quy chế của Trung ương.
Vì vậy, Ban Tuyên giáo Huyện ủy cần thực hiện tốt hơn nữa nhiệm vụ
phối hợp với các cơ quan hữu quan Đảng để thực hiện, nhất là phối hợp với
Ngành trong triển khai, thực hiện, kiểm tra, giám sát để có đánh giá chính xác
giúp cấp uỷ đảng điều chỉnh các chỉ tiêu về giáo dục phù hợp với tiềm lực thực
tế. Để triển khai thực hiện nghi quyết về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và
đào tạo trên địa bàn huyện Kiến Thụy một cách thuyết phục, hiệu quả, đòi hỏi
đội ngũ làm công tác quản lý các cấp uỷ lãnh đạo Mặt trận tổ quốc và các đoàn
thể nhân dân, lãnh đạo quản lý ngành giáo dục đào tạo huyện phải hội tụ nhiều
yếu tố về phẩm chất, năng lực, trình độ..., đây là yêu cầu khó, đòi hỏi mỗi cá
nhân phải có quá trình rèn luyện, nỗ lực cố gắng. Để có được sự thành công
trong công việc này thời gian qua đội ngũ làm công tác triển khai nghị quyết đã
phải nỗ lực thực hiện bằng nhiều hình thức, phương tiện... để toàn dân, toàn
ngành hiểu nội dung, mục đích, ý nghĩa và đặc biệt là vai trò chủ thể của giáo
viên, học sinh trước yêu cầu đổi mới giáo dục.
Để có thể đảm bảo được những yêu cầu trên, cán bộ Tuyên giáo Huyện ủy,
đội ngũ báo cáo viên, lãnh đạo quản lý ngành giáo dục tham gia quán triệt nghi
quyết nhất thiết phải có đủ trình độ, năng lực về nhiều mặt. Muốn phát huy hiệu quả
vai trò, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới đòi hỏi họ cần ra sức trau
dồi nâng cao năng lực một cách toàn diện; trong đó chú trọng năng lực tư duy và
năng lực hoạt động thực tiễn, phải nắm vững chủ trương, đường lối của Đảng và
pháp luật của Nhà nước mà trước hết phải nâng cao về kiến thức, trình độ văn hóa,
trình độ lý luận chính trị, trình độ chuyên môn nghiệp cụ mà cụ thể là trình độ tham
mưu, chỉ đạo, phối hợp, kiểm tra trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo.
Phấn đấu để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ đang là yêu cầu cấp
bách đối với đội ngũ báo cáo viên, cán bộ quản lý ngành giáo dục. Đội ngũ cán bộ
66
trên lĩnh vực này có đầy đủ phẩm chất đạo đức cách mạng, có lập trường chính trị
vững vàng và có trình độ lý luận chính trị nhất định nhưng một bộ phận đội ngũ này
chưa có trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao. Thực tế cán bộ tham mưu ở cơ sở, đội
ngũ lãnh đạo các nhà trường có một bộ phận trình độ kiến thức và năng lực chưa đáp
ứng được yêu cầu, khả năng phân tích tổng hợp còn yếu, năng lực hoạt động thực tiễn
thiếu tính nhạy bén, ít suy nghĩ, tìm tòi sáng tạo; việc tiếp nhận, xử lý, truyền đạt nội
dung nghị quyết chưa tốt; trình độ, năng lực chưa đồng bộ, khả năng phát hiện, nắm
bắt, đề xuất, xử lý những vấn đề đột xuất, nổi cộm diễn ra trên địa bàn, của nhà
trường còn yếu. Mặt khác, lĩnh vực giáo dục là vấn đề liên quan toàn dân, có hiệu ứng
xã hội nhanh, cán bộ Tuyên giáo, cán bộ tham mưu, nhà quản lý giáo dục cần có thời
gian tìm tòi, suy nghĩ, tìm ra cách làm mới, hay, phù hợp. Tất cả điều đó, đã ảnh
hưởng rất lớn đến hiệu quả công tác triển khai nghị quyết.
2.4.3. Mâu thuẫn giữa sự đầu tư còn hạn chế về các nguồn lực cho công tác triển
khai Nghị quyết
Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác triển khai nghị quyết về đổi mới căn
bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá
trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế trên
địa bàn huyện Kiến Thụy thời gian qua vẫn có những hạn chế. Kế hoạch triển khai của
một số cấp uỷ chưa cụ thể, nội dung triển khai còn lồng ghép còn cứng nhắc, có nội
dung mang tính áp đặt một chiều từ trên xuống, chưa phù hợp với tâm lý và trình độ
tiếp nhận thông tin của từng đối tượng. các đối tượng khác nhau cần triển khai quán
triệt nội dung phù hợp: với hội viên và cả các đoàn thể, đoàn thanh niên phải khác với
đội ngũ giáo viên, khác với đối tượng học sinh hay nhân dân... Việc nắm bắt tình hình
tư tưởng của giáo viên, học sinh còn chậm Phương pháp triển khai, thực hiện thiếu
sáng tạo, đơn điệu, một chiều, chưa phối hợp chặt chẽ giữa các phương pháp nên ảnh
hưởng đến hiệu quả triển khai. Do trình độ và khả năng tiếp nhận nội dung nghị quyết
của một số ít cơ sở giáo dục, đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục hạn chế mà nội
dung, phương pháp kế hoạch, chương trình hành động thực hiện nghị quyết lại xa rời
thực tế, chưa phù hợp với đối tượng nên hiệu quả không cao.
67
Vấn đề đặt ra cho công tác triển khai các nghị quyết nói chung, nghị quyết về
đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo nói riêng, đối với công việc đầu tiên
là công tác quán triệt, học tập, tuyên truyền thì phải chú trọng đổi mới về nội dung,
hình thức, phương pháp quán triệt tuyên truyền nhằm mục tiêu nâng cao hiệu quả
giáo dục. Do vậy cần phải tìm hiểu đối tượng, đặc điểm nhận thức, tâm lý đối tượng
để lựa chọn nội dung quán triệt, tuyên truyền phù hợp
Một trong những mục tiêu đổi mới căn bản toàn diện đối với giáo dục và đào
tạo là nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục đạo đức, lối sống, kỹ năng sống chính
vì vậy cấp uỷ, chính quyền, giáo viên, lãnh đạo quản lý nhà trường và ngành giáo
dục cần xây dựng nội dung giáo dục rõ ràng, cụ thể, gắn với tình hình thực tiễn, với
nêu gương người tốt, việc tốt.
68
Kết luận chƣơng 2
Trong hơn năm qua, công tác triển khai Nghị quyết số 29 của Trung ương về
đổi mới căn bản toàn diện giáo dục trên địa bàn huyện Kiến Thụy, thành phố Hải
Phòng đã đạt được những kết quả đáng khích lệ. Việc triển khai quyết liệt đã góp
phần làm giáo dục có bước tiến bộ đáng kể, chất lượng giáo dục đại trà được giữ
vững, chất lượng học sinh giỏi cao hơn so với nhiều năm trước đây, tỷ lệ giáo viên
giỏi tăng, đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên đảm bảo về số lượng và có trình độ
chuẩn, trên chuẩn cao, tỷ lệ trường xây dựng đạt chuẩn quốc gia năm 2014 tăng.
"Tỷ lệ trẻ huy động ra lớp đảm bảo 100%, lên lớp 99,5%; học sinh thi đỗ vào các
trường cao đẳng, đại học tăng từ 25% năm 2009, nên 40 % năm 2014, phổ cập các
cấp học được giữ vững" [28].
Tuy nhiên, so với yêu cầu, mục tiêu đề ra trong các chỉ thị nghị quyết, của
Trung ương, Thành ủy, Huyện uỷ về đổi mới giáo dục và đào tạo trên địa bàn Kiến
Thụy thời gian qua còn hạn chế: công tác quán triệt học tập, tuyên truyền Nghị quyết
có đơn vị hiệu quả thấp nhiều đơn vị triển khai học tập không tảo luận, viết thu hoạch,
đơn điệu thiếu sáng tạo. Kế hoạch, Chương trình hành động của cấp uỷ, của cơ sở giáo
dục còn chung chung hoặc "giống cấp trên", hoặc không xây dựng chương trình hành
động. Đối với việc thực hiện các mục tiêu của Nghị quyết của các cơ sở giáo dục, các
cấp học chưa chuyển biến mạnh, có việc trông chờ vào triển khai của cấp trên: như nội
dung chương trình sách giáo khoa, như đổi mới đánh giá, đổi mới thi cử.
Một bộ phận nhân dân và cả cán bộ lãnh đạo các cấp chưa thực sự đầy đủ về
trách nhiệm trong thực hiện Nghị quyết. Một số cấp ủy đảng, chính quyền địa
phương, ban ngành, đoàn thể, cơ quan đơn vị chưa thực sự quan tâm lãnh đạo, chỉ
đạo triển khai nghị quyết một cách quyết liệt. Từ tình hình nêu ở trên, cần phải có
phương hướng và biện pháp khắc phục những tồn tại hạn chế để công tác triển khai
Nghị quyết đạt được hiệu quả cao hơn trong thời gian tới.
69
Chƣơng 3
CÁC BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ
CÔNG TÁC TRIỂN KHAI NGHỊ QUYẾT 29-NQ/TW TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN KIẾN THỤY, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
3.1. Các nguyên tắc, nhiệm vụ đề xuất biện pháp nâng cao hiệu quả công tác
triển khai Nghị quyết số 29 về đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo
trên địa bàn huyện huyện Kiến Thuỵ thành phố Hải Phòng
3.1.1. Các nguyên tắc đề xuất
3.1.1.1. Nguyên tắc kế thừa
Đây là nguyên tắc rất quan trọng khi đề xuất giải pháp triển khai nghị quyết
của Đảng về đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo hiệu quả. Nguyên tắc
này đòi hỏi khi nghiên cứu đề xuất giải pháp mới phải trên cơ sở kế thừa những giải
pháp đã và đang thực hiện đối với các Nghị quyết khác trước đó; có thể kế thừa toàn
bộ giải pháp, nhưng cũng có thể là điểm hay, điểm tối ưu, yếu tố tích cực của mỗi
giải pháp, tránh phủ định sạch trơn và đề xuất hệ thống giải pháp mới hoàn toàn
không dựa trên thực tiễn và thực trạng của các giải pháp, biện pháp cũ đã có.
3.1.1.2. Nguyên tắc thực tiễn
Các biện pháp triển khai hiệu quả Nghị quyết đổi mới giáo dục và đào tạo
phải xuất phát từ thực tiễn, thực trạng công tác triển khai Nghị quyết của huyện.
Tính thực tiễn (thể hiện ở chương 2) bao gồm thực trạng giáo dục về cơ cấu, số
lượng cũng như trình độ phẩm chất năng lực của đội ngũ giáo viên; gồm cơ sở vật
chất, môi trường giáo dục địa phương, nguồn lực con người…), Thực trạng việc
triển khai của các cấp uỷ cơ quan ban ngành, đoàn thể và các ngồn lực triển khai
(đội ngũ, điều kiện vật chất...).
3.1.1.3. Nguyên tắc hệ thống, đồng bộ
Các biện pháp đề xuất phải phù hợp với cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề
nghiên cứu, có mối quan hệ với nhau, bổ trợ cho nhau tạo thành một hệ thống đồng
bộ. Tính hệ thống cho thấy nội dung của các biện pháp triển khai có mối quan hệ biện
chứng. Mỗi biện pháp có vai trò riêng, nhưng có thể là cơ sở, là tiền đề hay là điều
kiện để thúc đẩy, hỗ trợ cho các biện pháp còn lại.
70
Việc đề xuất các biện pháp triển khai Nghị quyết đạt hiệu quản cao phải
đồng bộ trong các khâu của quá trình triển khai: nghiên cứu, học tập, tuyên truyền,
thực hiện, kiểm tra, giám sát, sơ kết, tổng kết đánh giá....; đồng thời phải giải quyết
tốt mối quan hệ giữa quản lý và phát triển đội ngũ. Chỉ khi đề xuất và thực hiện
đồng bộ tất cả các giải pháp thì việc triển khai nghi quyết mới đạt hiệu quả
3.1.2. Nhiệm vụ triển khai Nghị quyết số 29 trên địa bàn huyện Kiến Thụy, thành
phố Hải Phòng hiện nay
Một là, công tác triển khai nghị quyết số 29 có ý nghĩa hết sức quan trọng, cần
phải làm chuyển biến mạnh mẽ nhận thức và tư duy về đổi mới giáo dục đào tạo đáp
ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập trên địa bàn huyện "tạo ra thế
hệ chủ nhân của huyện có đủ năng lực và phẩm chất để xây dựng và phát triển huyện
văn minh, giàu mạnh theo tinh thần nghị quyết đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XXIII đề
ra"[15]. Xây dựng phong trào toàn dân học tập, đẩy mạnh xã hội hoá giáo dục; huyện
chú trọng công tác xã hội hoá về xây dựng cơ sở vật chất, trường lớp nhất là đối với
cấp học mần non, quan tâm tới các phong trào khuyến học, khuyến tài; đẩy mạnh cuộc
vận động xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư; xây dựng cơ sở vật chất đảm bảo
các điều kiện cho các hoạt động văn hóa truyền thống lành mạnh.
Hai là, tiến hành triển khai đồng bộ, bằng nhiều giải pháp: quán triệt học tập
nghị quyết, đổi mới nội dung, chương trình sách giáo khoa, đổi mới đánh giá, thi
cử, tăng cường giáo dục tư tưởng đạo đức lối sống văn hoá lành mạnh cho học sinh,
nâng cao năng lực của đội ngũ giáo viên, chú trọng đào tạo nghề cho thanh niên trên
địa bàn huyện, duy trì phổ cập, tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị trường học
…. đồng thời kiên quyết xử lý những trường hợp vi phạm, tình trạng học thêm dạy
thêm tràn lan, vi phạm đạo đức nhà giáo, gian lận trong thi cử; tình trạng lạm thu
trong các nhà trường; “biểu dương những nhà trường, những cơ sở giáo dục chủ
động và thực hiện mạnh mẽ đổi mới phương pháp, những tấm gương thầy cô giáo
sáng tạo, hết mực vì học sinh thân yêu” [27].
Ba là, các cấp ủy đảng, chính quyền luôn quan tâm đến xây dựng lực lượng
nòng cốt, trước hết đó là lực lượng trực tiếp tham gia công tác quán triệt, tuyên
truyền Nghị quyết đó là đội ngũ Báo cáo viên, Tuyên truyền viên; công tác viên, đội
71
ngũ cấp uỷ chi, đảng bộ, lãnh đạo quản lý các cơ sở giáo dục trên địa bàn, bí thư chi
bộ, trưởng thôn, trưởng các ban mặt trận, tổ chức đoàn thể quần chúng. đầu tư kinh
phí mua sắm các trang thiết bị phục vụ công tác quán triệt học tập; xây dựng cơ sở
vật chất nhà trường, biểu dương khen thưởng kịp thời những tập thể, cá nhân, gia
đình có thành tích trong các hoạt động giáo dục- đào tạo.
3.2. Các biện pháp nâng cao hiệu quả công tác triển khai Nghị quyết trên địa
bàn huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng
3.2.1. Tăng cường sự lãnh đạo của Huyện ủy - Uỷ ban nhân dân huyện, cấp ủy
và chính quyền các cấp, trong công tác triển khai Nghị quyết
Xác định công tác triển khai Nghị quyết về đổi mới căn bản toàn diện giáo
dục và đào tạo là quan trọng nhất trong chiến lược phát triển nhân tố con người,
Huyện uỷ đã chỉ đạo các cấp uỷ đảng, ngành giáo dục, các cơ sở giáo dục đổi mới
trong lãnh đạo, chỉ đạo đổi mới giáo dục theo hướng cụ thể; quan tâm bố trí và sử
dụng đội ngũ giáo viên trẻ, có trình độ, năng lực đảm nhiệm vào các chức vụ lãnh
đạo quản lý, khối, tổ trưởng chuyên môn, mạng lưới thanh tra chuyên môn của
ngành giáo dục. Tăng cường vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận tổ
quốc và các Đoàn thể theo Quy định 218 của ban Bí thư Trung ương trong việc việc
ban hành và thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, nhà nước đối với
ngành giáo dục.
Các cấp uỷ, chính quyền chỉ đạo Ngành giáo dục làm tốt công tác tuyên
truyền, phổ biến, thực hiện đổi mới trong hoạt động dạy, học. Thực hiện tốt Luật
Giáo dục; Chiến lược phát triển giáo dục 2011-2020, Điều lệ trường học, Có cơ chế,
hỗ trợ giải quyết việc làm cho thanh niên, sinh viên tốt nghiệp cao đẳng, đại học về
địa phương làm việc. Quan tâm giải quyết những vấn đề bức xúc trong hoạt động
quản lý, dạy, học ở các nhà trường: tạo cơ hội và môi trường nhà trường văn hoá để
học sinh được học tập, rèn luyện, phát triển nhân cách [23].
Ngành giáo dục cần cung cấp cho cấp uỷ Đảng thông tin đầy đủ, chính xác về
tình hình thực trạng của giáo dục huyện nhà. Từ nhận thức đó, cấp uỷ Đảng sẽ đưa ra
chủ trương, nghị quyết, văn bản đúng đắn, tạo điều kiện tốt nhất cho giáo dục và xã
hội thực hiện đổi mới toàn diện giáo dục.
72
Đối tượng thực hiện Nghị quyết trong đó các cơ sở giáo dục được xác định là
chuyên trách. Vì vậy tăng cường sự lãnh đạo của Đảng với lĩnh vực này chính là
tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của các cơ sở giáo dục, lãnh
đạo quản lý giáo dục các cấp, tới đội ngũ giáo viên và học sinh các cấp học trong
toàn huyện.
Thứ nhất, triển khai Nghị quyết của Đảng, trong đó có xây dựng chương
trình hành động của cấp uỷ cần xác định được lộ trình thực hiện từng việc trong quá
trình đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo. Đặc biệt phải chăm lo xây
dựng, củng cố các cơ sở giáo dục và đội ngũ làm công tác giáo dục coi đây là một
bộ phận hữu cơ của công tác xây dựng Đảng, tạo điều kiện thuận lợi để cho lãnh
đạo của ngành được tham gia cấp uỷ, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp. Qua đại
diện này, người đứng đầu các cấp ủy đảng, chính quyền sẽ nắm được tình hình, thực
trạng, những đề xuất trực tiếp để có biện pháp điều chỉnh kịp thời.
Thứ hai, đưa lộ trình thực hiện Nghị quyết, chương trình hành động thành
mục tiêu trong kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội hàng năm của mỗi địa phương, xã,
thị trấn, đơn vị. Cần qui định rõ chức năng, nhiệm vụ của người đứng đầu địa
phương, đơn vị, gắn thực hiện các mục tiêu, giải pháp của Nghị quyết với các
phong trào xây dựng đời sống văn hoá cơ sở, làng văn hoá. Đồng thời tăng cường
hướng dẫn, kiểm tra, giám sát thực hiện Nghị quyết, có hình thức biểu dương, khen
thưởng những địa phương thực hiện tốt, đồng thời kiên quyết xử lý những sai phạm
trong thực hiện nhiệm vụ của giáo dục đào tạo đề ra như học sinh bỏ học, vi phạm
về đạo đức, vi phạm quy chế thi, tuyển sinh... Tăng cường trách nhiệm của chính
quyền, các phòng ban, ngành và sự phối hợp chặt chẽ các ngành để giải quyết các
nhiệm vụ về đổi mới giáo dục và đào tạo.
Đối với Phòng Lao động Thương binh và xã hội cần tăng cường công tác chỉ
đạo, hướng dẫn bộ làm chính sách các xã điều tra, rà soát không để sót các đối
tượng trẻ em nghèo, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt để tham mưu Uỷ ban nhân dân
huyện thực hiện bảo trợ xã hội giúp các em có điều kiện vất chất, tinh thần sức khoẻ
đến trường, mở các lớp học tình thương, lớp nghề cho các em kiếm thính, khiếm thị,
các em tàn tật, mồ côi. Các đơn vị trực thuộc phối hợp chặt chẽ với các ban ngành,
73
đoàn thể xây dựng và triển khai các kế hoạch liên tịch giữa Phòng Lao động
Thương binh và xã hội, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam huyện và Phòng giáo
dục huyện ; kế hoạch liên tịch giữa phòng giáo dục, đài phát thanh huyện và Phòng
Văn hóa Thông tin mở nhiều đợt phát động, hội thi, hội diễn, tuyên truyền tấm
gương thầy giáo, cô giáo, học sinh xuất sắc, mô hình mới,cách làm hay của các
ngành, các xã, thị trấn, các trường học trong thực hiện đổi mới, nâng cao chất lượng
giáo dục và đào tạo địa phương.
Quan tâm chỉ đạo đồng bộ các khâu tuyên truyền, giáo dục để học sinh tự
chủ học tập tìm tòi sáng tạo, tự ý thức rèn luyện dưới sự gợi mở của người lớn, của
thầy cô. Uỷ ban nhân dân các xã, thị trấn tích cực chỉ đạo tăng cường cơ sở vật chất,
phương tiện, cân đối kinh phí phục vụ cho công tác giáo dục. Cần đầu tư kinh phí
xây dựng các trung tâm học tập cộng đồng tại các nhà văn hoá xã hiệu quả, tránh
lãng phí vật chất và trang thiết bị tại cơ sở này.
Thứ ba, lãnh đạo huyện cần kịp thời khen thưởng đối với những đơn vị, tập
thể, các nhân có thành tích xuất sắc trong công tác triển khai Nghị quyết của Đảng
Thường xuyên quan tâm chỉ đạo tổ chức sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm quá
trình tổ chức thực hiện nghị quyết; kịp thời bổ khuyết những nhiệm vụ, giải pháp cụ
thể, phù hợp với tình hình thực tiễn. Xác định rõ trách nhiệm của chức Đảng, đảng viên
đối với tổ chức Đoàn, tổ chức công đoàn nhà trường. Các cấp uỷ đảng, chi bộ trong các
nhà trường cần đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện đổi mới công tác giáo dục; phân công
đảng uỷ viên phụ trách các lĩnh vực chủ chốt của cơ sở giáo dục.
Các cấp uỷ đảng tăng cường công tác chỉ đạo, xây dựng các cơ sở giáo
dục vững mạnh. Phòng giáo dục và các cơ sở giáo dục, nhà trường cần thực
hiện chỉ đạo của Bộ và Sở giáo dục, đổi mới nội dung, phương pháp giảng dạy,
xây dựng chi bộ nhà trường vững mạnh về tư tưởng, chính trị và tổ chức, nâng
cao sức hấp dẫn đối với người dạy, người học, tạo môi trường giáo dục, môi
trường làm việc và sinh hoạt lành mạnh; khơi dậy và phát huy tính chủ động, tự
giác trong học tập, sáng tạo trong dạy học; triển khai thực hiện tốt Quy chế của
Bộ. Lãnh đạo các nhà trường tích cực, chủ động tham mưu đề xuất với cấp uỷ
và sự phối hợp của các cấp các ngành để tổ chức các hoạt động, các phong trào
74
phù hợp với tâm lý lứa tuổi học trò, tăng cường giáo dục đạo đức, truyền thống
lịch sử dân tộc, địa phương, đơn vị.
Các cấp ủy đảng lãnh đạo cần phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống
chính trị và toàn xã hội đối với việc triển khai nghị quyết, thực hiện đổi mới căn bản
toàn diện giáo dục, tăng cường quản lý Nhà nước về công tác giáo dục; xây dựng
các giải pháp hỗ trợ và huy động nguồn lực đầu tư xây dựng các công trình phục vụ
học tập và làm việc, các trung tâm học tập cộng đồng, điểm văn hóa, khu vui chơi
giải trí lành mạnh cho cho học sinh phù hợp với quy hoạch phát triển huyện.
Chú trọng giáo dục lý tưởng đạo đức cách mạng, lối sống văn hoá ý thức
cộng đồng cho học sinh nhất là đối với cấp trung học phổ thông gắn với thực
hiện các chủ trương của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước. Phát huy
phong trào thanh thiếu niên trong nhà trường, kết hợp với thực hiện nhiệm vụ
chính trị, của cơ quan, đơn vị. Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, tạo điều
kiện cho thanh niên có cơ hội được học nghề, có môi trường thuận lợi để thực
hành và lao động, phát triển, chú trọng quan tâm đào tạo thế hệ học sinh là
nguồn nhân lực có chất lượng cao cho tương lai theo tinh thần nghị quyết XIV
Đảng bộ thành phố, Nghị quyết Đảng bộ huyện lần thứ XXIII.
Nâng cao vai trò của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân gắn với phong
trào “Toàn dân học tập", "xã hội học tập", "toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống
văn hoá”, “Xây dựng gia đình văn hoá”, “Tuổi trẻ Kiến Thụy ra sức học tập vì ngày
mai học tập”… nhằm phát huy vai trò trách nhiệm của toàn xã hội, của từng gia
đình trong việc phối hợp giáo dục, bồi dưỡng và đào tạo thế hệ trẻ.
3.2.2. Nâng cao nhận thức và trách nhiệm của cấp uỷ xã, lãnh đạo các nhà
trường trong đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo
Đảng uỷ các xã cần kịp thời kiện toàn Ban chỉ đạo học tập cộng đồng do
đồng chí Phó bí thư Thường trực Đảng uỷ làm giám đốc trung tâm học tập cộng
đồng, các thành viên là lãnh đạo Uỷ ban nhân dân xã, lãnh đạo các đoàn thể, hiệu
trưởng các trường, như vậy mới nâng cao được vai trò lãnh đạo và chỉ đạo sẽ đạt
hiệu quả cao hơn; Các cấp uỷ phải xây dựng kế hoạch của các trung tâm học tập
cộng đồng tại nhà văn hoá các xã, tạo điều kiện để toàn dân được tham gia tập
75
huấn, hội thảo, thanh thiếu niên nhi đồng được tham gia các hoạt động văn hoá
văn nghệ thể thao, các câu lạc bộ sở thích tại Trung tâm học tập cộng đồng. Lãnh
đạo các nhà trường cần chỉ đạo đội ngũ giáo viên có chuyên môn phù hợp tham
gia phối hợp, hướng dẫn các hoạt động tại các trung tâm này, đồng thời chỉ đạo
tốt các hoạt động của nhà trường. Phải nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm
mà trước tiên là cấp uỷ đảng xã, thị trấn, lãnh đạo các nhà trường đối với triển
khai Nghị quyết. Không nhất thiết chi, đảng bộ nào cũng phải ban hành nghị
quyết, phải có chương trình hành động và các mục tiêu, nhiệm vụ giải pháp "
lơ lớ như cấp trên", mà cần từ thực trạng của trường mình, xã mình, có kế
hoạch từng năm từng việc và giao cho người thực hiện cụ thể theo thẩm quyền
trách nhiệm của mình. Đây là vinh dự và cũng là trách nhiệm nặng nề mà Đảng
nhà nước giao cho ngành giáo dục.
3.2.3. Nâng cao chất lượng (phẩm chất và năng lực) của đội ngũ cán bộ chủ
chốt, đội ngũ báo cáo viên, lãnh đạo quản lý các nhà trường, cơ sở giáo dục
Nhìn chung đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên của đảng, mặt trận tổ
quốc, các đoàn thể và của ngành giáo dục đã được các Huyện uỷ quan tâm lựa chọn,
kiện toàn, thay thế, bổ sung kịp thời từ đầu nhiệm kỳ đại hội 23 Đảng bộ huyện; có
phẩm chất chính trị (2/3 trong tổng số có trình độ từ trung cấp chính trị trở lên,
nhiều đồng chí có trình độ lý luận chính trị cao cấp); có trình độ chuyên môn phù
hợp với công tác trên các lĩnh vực để hiểu sâu, năm rõ, có khả năng tuyên truyền,
phổ biến quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; trên
lĩnh vực đó (đối với giáo dục và đào tạo, Huyện uỷ sử dụng đội ngũ báo cáo viên là
Ban Tuyên giáo Huyện uỷ, trưởng phòng giáo dục và đào tạo, Hiệu trưởng các nhà
trường) có khả năng định hướng tư tưởng cho cán bộ, đảng viên và nhân dân; có uy
tín và được đảng viên, nhân dân tin yêu, ủng hộ. Hiện nay, đội ngũ báo cáo viên
thuộc huyện quản lý chung là 30 đồng chí, đội ngũ báo cáo viên ở cơ sở là 59 đồng
chí (mỗi chi bộ, đảng bộ trực thuộc Huyện uỷ 01 đồng chí, ngành giáo dục 10 đồng
chí, số hiệu trưởng còn lại đều nằm trong đội ngũ tuyên truyền viên cơ sở), đội ngũ
tuyên truyền viên của huyện là 125 đồng chí cơ bản đáp ứng yêu cầu của công tác
tư tưởng, công tác tuyên truyền nói chung và tuyên truyền miệng nói riêng.
76
Huyện uỷ, Ban Tuyên giáo cần có kế hoạch bồi dưỡng kỹ năng cho đội ngũ
này tại các trường đào tạo chuyên ngành như Học viện Chính trị - Hành chính quốc
gia Hồ Chí Minh, Học viện Báo chí Tuyên truyền. Hoặc mở các lớp bồi dưỡng ngắn
hạn cho toàn thể cán bộ tuyên giáo của huyện, mời giáo viên giảng dạy là những
người có năng lực, uy tín trong nghề của thành phố
Người báo cáo viên phải có vốn sống, nghĩa là phải qua thực tiễn sản xuất,
công tác, phải có sự am hiểu sâu sắc về xã hội. Đây cũng là tiêu chuẩn cần thiết vì
nếu không thì nội dung thông tin không có tính thuyết phục. Mặc dù là kiêm nhiệm
nhưng đội ngũ này cần phải có lòng say mê và có nhiều hình thức, phương pháp
thích hợp để nghiên cứu, nắm vững các vấn đề của đới sống xã hội, không chỉ đi
vào thực tế đời sống, cán bộ Báo cáo viên còn tìm hiểu qua báo chí, văn học, nghệ
thuật… giúp cho họ hiểu được nhiều nhân vật của đời sống, nhiều vấn đề của xã hội
mặc dù sự hiểu biết đó là gián tiếp. Để nắm vững lý luận chính trị phải không
ngừng học tập để có trình độ văn hoá, có kiến thức phong phú về tự nhiên, xã hội,
tư duy. Họ phải có nghiệp vụ nói và viết.
Thứ nhất, chú trọng hai khâu đào tạo cán bộ tuyên giáo của huyện trẻ và
bồi dưỡng đội ngũ cán bộ tuyên giáo hiện có, bao gồm cả cán bộ chuyên trách và
kiêm chức. Tuy đội ngũ cán bộ chuyên trách chưa phải chiếm số đông song họ giữ
vai trò quan trọng nhất nên cần chú ý đặc biệt tới lực lượng này.
Thứ hai, để đảm bảo việc đào tạo cán bộ thực hiện nhiệm vụ quán triệt tuyên
truyền Nghị quyết một cách có hiệu quả cần coi trọng việc đổi mới hình thức, nội
dung chương trình đào tạo.
Thứ ba, bồi dưỡng nghiệp vụ và nội dung cho đội ngũ báo cáo viên phải giải
quyết nhiều nội dung trong đó cần chú trọng nội dung về đường lối của Đảng, vấn
đề mới về lý luận, các vấn đề về nghiệp vụ giảng dạy và vốn sống thực tế. Phải xây
dựng hệ thống tổ chức bồi dưỡng cán bộ tuyên truyền, đưa việc bồi dưỡng cán bộ
thực hiện nhiệm vụ này vào chương trình công tác đào tạo bồi dưỡng của Huyện uỷ
hàng năm. Thời gian trước mắt, phải giải quyết cơ bản tình trạng thiếu cán bộ cấp
cơ sở bằng cách: Lựa chọn cán bộ quản lý giáo dục (chủ yếu là hiệu trưởng) có
phẩm chất, năng lực tham gia nhất là đối với Nghị quyết về giáo dục và đào tạo cần
sử dụng họ sẽ có những thuận lợi cơ bản để triển khai tại đơn vị của họ.
77
Như vậy, chất lượng đội ngũ cán bộ thực hiện việc quán triệt, tuyên truyền
nhằm nâng cao nhận thức và đưa nhiệm vụ giải pháp của nghị quyết vào thực
tiến thực hiện có ảnh hưởng rất lớn quyết định thành công hay thất bại. Hai yếu
tố này có mối quan hệ hai chiều, biện chứng với nhau. Nếu nội dung quán triệt,
phổ biến có thiết thực, hình thức, phương pháp, phương tiện đẻ triển khai có tốt
đến mấy mà người cán bộ báo cáo viên không hội đủ phẩm chất chính trị, năng
lực làm việc tốt thì chất lượng tác động đến nhân thức người thực hiện cũng
không thể cao được.. Các cấp lãnh đạo trên địa bàn huyện cần đưa ra biện pháp
hữu hiệu và dành nguồn kinh phí đầu tư hợp lý cho việc nâng cao chất lượng đội
ngũ này. Trong thời đại bùng nổ thông tin hiện nay, người thực quán triệt tuyên
truyền nghi quyết cần nắm bắt thông tin nhanh nhạy, kịp thời, đánh giá được nội
dung thông tin đưa ra để có cái nhìn đúng đắn, toàn diện, nếu không kịp thời
nắm bắt thông tin thì người cán bộ tuyên truyền sẽ trở thành lạc hậu, đi sau thời
đại và khi đó nội dung thông tin mà họ đưa ra sẽ không đủ sức thuyết phục đối
tượng. Đồng thời người cán bộ cần có trách nhiệm cao trong công việc, nhiệt
tình hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, không ngại khó, ngại khổ. Qua đó cho
thấy, việc nâng cao chất lượng của cán bộ báo cáo viên là một việc làm cần thiết
và cần được ưu tiên trước hết trong thời gian tới. Muốn nâng cao chất lượng của
đội ngũ này cần nhận được sự quan tâm, chỉ đạo của các ban, ngành đoàn thể.
Trong những năm qua, được sự hướng dẫn của Ban Tuyên giáo Thành uỷ, Ban
Thường vụ Huyện ủy đã chỉ đạo các cấp uỷ đảng, chính quyền, các ban, ngành, đoàn
thể chú trọng xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ làm công tác tư tưởng, tuyên
truyền từ huyện đến cơ sở. Lựa chọn cán bộ có đủ phẩm chất, năng lực đáp ứng yêu
cầu, nhiệm vụ được giao. Ban Thường vụ Huyện uỷ cũng đã quan tâm biên chế bộ máy
Ban Tuyên giáo Huyện uỷ gồm 05 đồng chí, trong đó 02 đồng chí có trình độ cao cấp
chính trị, 3 đồng chí có trình độ trung cấp chính trị; 03 đồng chí có nghiệp vụ sư phạm;
về cơ bản đều có bằng chuyên môn đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ, và hằng năm
được tập huấn công tác nghiệp vụ tại học viện chính trị Hồ Chí Minh
Ban Tuyên giáo Huyện uỷ đã hướng dẫn việc kiện toàn Ban Tuyên giáo cơ
sở, đến nay 100% các Đảng bộ trực thuộc Huyện uỷ đều có Ban Tuyên giáo do
78
đồng chí Bí thư Đảng uỷ làm trưởng ban; các chi bộ trực thuộc Huyện uỷ cử một
đồng chí phụ trách công tác tuyên giáo. Tại các xã, thị trấn của huyện các đồng chí
trong cấp uỷ đều được giao nhiệm vụ tuyên truyền, triển khai các nội dung theo
ngành, lĩnh vực phụ trách, qua đó đã chuyển tải được quan điểm, đường lối của
Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; các vấn đề thời sự quan trọng của quốc
tế, trong nước, thành phố và của huyện tới từng thành viên của Hệ thống chính trị,
tới mọi cán bộ, đảng viên và nhân dân.
Công tác xây dựng đội ngũ báo cáo viên và cộng tác viên dư luận xã hội của
huyện đã từng bước được chú trọng. Hiện nay, đội ngũ báo cáo viên của huyện gồm
30 đồng chí, trong đó 26,7% có trình độ cao cấp chính trị; ở các đơn vị cơ sở bố trí
01 đồng chí là báo cáo viên, và một số đồng chí là cộng tác viên dư luận xã hội
(tổng số các đồng chí là báo cáo viên, cộng tác viên dư luận xã hội là 66 đồng chí)
đảm bảo công tác phổ biến, tuyên truyền nghị quyết của đảng, và phản hồi kịp
những đề nghị, khó khăn vướng mắc từ cơ sở về huyện [7].
Qua khảo sát chỉ có 56/ 155 người được hỏi có ý kiến cho rằng Báo cáo viên
quán triệt triển khai Nghị quyết nhiệt tình, dễ hiểu có liên hệ; 95/155 người cho
rằng bình thường, thực hiện được; 4 người cho rằng không rõ ràng, khó hiểu.
Thực trạng hiện nay cho thấy mọi gia đình đều quan tâm tới giáo dục và đào
tạo, nhu cầu cần tìm hiểu về Nghị quyết đổi mới căn bản giáo dục và đào tạo là nhu
cầu rất cần thiết đối với giáo viên và các bậc phụ huynh, các cấp học. Tuy nhiên khi
được hỏi “thông tin về Nghị quyết” thì có tới 50/155 phiếu hỏi hội viên đoàn thể,
giáo viên cho rằng mình chưa biết đến học chỉ biết đến khi xem ti vi, báo đài về
nghị quyết này. Điều đó cho thấy một thực trạng hiện nay là, đối tượng rất cần biết
đến các thông tin lại chưa hề được thông tin hoặc không có cơ hội biết được thông
tin. Thực trạng đó đặt ra yêu cầu đối với người cán bộ chủ đạo thực hiện triển khai
nghị quyết là cần thường xuyên gần gũi để nắm bắt tâm tư nguyện vọng của các bậc
phụ huynh và đối tượng học sinh, để hiểu được các em cần những thông tin gì để
cung cấp một cách kịp thời nhất.
3.2.4. Đổi mới về hình thức, phương pháp, phương tiện của công tác triển khai
Nghị quyết
Xác định một trong những nhiệm vụ ban đầu của triển khai nghị quyết là
công tác quán triệt, tuyên truyền về nội dung của Nghị quyết. Trong công tác này
79
cần xác định tuyên truyền miệng là lĩnh vực nhạy bén, vừa đòi hỏi có nội dung sâu
sắc, kịp thời, vừa cần có hình thức phong phú, đa dạng để đối tượng cần biết dễ
nhớ, dễ hiểu và dễ thực hiện. Trước yêu cầu đó, Ban Thường vụ Huyện uỷ đã chú
trọng chỉ đạo đổi mới phương thức tuyên truyền. Qua đó, nhiệm vụ phổ biến, quán
triệt, học tập và tuyên truyền các Nghị quyết của Đảng đã được các cấp uỷ, chính
quyền, các ban, ngành, đoàn thể dành nhiều công sức chỉ đạo, từng bước đổi mới
việc quán triệt học tập, tuyên truyền Nghị quyết với quá trình thể chế hoá các quan
điểm, chủ trương, đường lối đảm bảo dân chủ bàn bạc, xây dựng chương trình hành
động cụ thể, thiết thực phù hợp với tình hình từng cơ sở, làm cho việc thực hiện
Nghị quyết ngày càng có hiệu quả hơn. Trong các đợt quán triệt Nghị quyết số 29
của Trung ương Đảng về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, "tỷ lệ cán
bộ, đảng viên tham gia học tập đầy đủ đã góp phần nâng cao nhận thức cho cán bộ,
đảng viên và nhân dân tạo sự nhất trí cao với các chủ trương, chính sách và đường
lối đổi mới của Đảng" [15].
Để có nội dung, hình thức, phương pháp, phương tiện tuyên truyền để triển
khai nghị quyết đạt hiểu quả cao thì cần phải nắm vững đặc điểm tâm lý, nhận thức
của đối tượng tuyên truyền, đối tượng, chủ thể thực hiện Nghị quyết. Các yếu tố của
quán triệt, tuyên truyền phù hợp với đặc điểm tâm lý của đối tượng người nghe, đối
tượng thực hiện sẽ đạt được hiệu quả mạnh, và ngược lại thì ít tác dụng.
Vì vậy, trong công tác quán triệt, tuyên truyền cần nắm vững đặc điểm về xã
hội - nhân khẩu học, thành phần xã hội - giai cấp, học vấn, giới và các đặc điểm về
tâm lý của đối tượng. Đồng thời nghiên cứu về thực trạng nhận thức của đối tượng
và hành động của họ với nội dung quán triệt, tuyên truyền để đạt được hiệu qua.
Tác động của triển khai Nghị quyết phải đến từng đối tượng cụ thể, tác động
đến mặt xu hướng của họ phải qua giáo dục, thuyết phục là chính, tác động đến mặt
năng lực của họ phải qua con đường truyền thụ, lĩnh hội. Trong triển khai thấy đối
tượng yếu ở mặt nào thì tác động đúng cho có hiệu quả.
Việc triển khai những chương trình lớn, rộng cần tiến hành chiến dịch tuyên
truyền thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, tạo thành dư luận xã hội,
thành phong trào quần chúng, gây tác động lan truyền nhanh, chuẩn xác… Kết hợp
80
với triển khai sâu ở các nhóm trong cộng đồng, tổ chức hội, tập thể cơ sở, để tạo
thành dư luận của tập thể, ý chí tập thể, sự trao đổi, chia sẻ thảo luận dân chủ của
các chủ thể thực hiện tạo được bầu không khí tích cực là cơ sở cho thực hiện đạt
hiệu quả nhất. Tuyên truyền nội dung cần gắn với minh hoạ thực thực tiễn và phù
hợp với trình độ nhận thức của người nghe: ví dụ tuyên truyền nội dung Nghị
quyết và chƣơng trình hành động của các cấp uỷ cho đội ngũ giáo viên các
trƣờng, đội ngũ lãnh đạo quản lý nhà trƣờng, phải khác hội viên hội nông dân,
hội phụ nữ, hay các đoàn thể khác, tuyên truyền trên phƣơng tiện phát thanh
huyện cũng cần có nội dung dễ nhớ hơn, ví dụ minh hoạ cũng cần phù hợp
hơn.. Tuy nhiên hiệu quả tuyên truyền không chỉ do nội dung quy định mà còn do
chủ thể biết sử dụng linh hoạt hình thức, phương pháp, phương tiện tuyên truyền và
biết kết hợp giữa nội dung khoa học và hình thức hấp dẫn. Thực tế cho thấy hiệu
quả tuyên truyền Nghị quyết đạt thấp, người nghe không ghi nhớ do nhiều nguyên
nhân không chỉ từ nội dung, phân tích nghèo nàn, tính khoa học thấp mà còn do sử
dụng nhiều lần lặp lại những hình thức, phương pháp đã trở nên đơn điệu, nhàm
chán. Do đó chủ thể tuyên truyền cần mạnh dạn áp dụng các hình thức tuyên truyền
mới như: thảo luận, toạ đàm, đối thoại, hỏi đáp tại hội trường… Các phương tiện
tuyên truyền cần được hiện đại hoá, tuy nhiên cần phải kết hợp chặt chẽ giữa việc
sử dụng các phương tiện hiện đại cùng với các phương tiện tuyên truyền truyền
thống sử dụng tuyên tuyền miệng, thuyết trình bởi chúng có mối liên hệ tác động
qua lại mật thiết với nhau, tích cực của phương tiện này sẽ bổ sung cho phần hạn
chế của phương tiện kia và ngược lại.
Các hình thức, phương pháp, phương tiện cần được chủ thể sử dụng linh hoạt
trong hoạt triển khai Nghị quyết như: triển khai miệng, triển khai bằng văn bản,
thảo luận, toạ đàm, thi tìm hiểu, các hội thi, tờ rơi, khẩu hiệu.
Các cuộc thi, viết của cán bộ quản lý về giải pháp để đổi mới giáo dục toàn
diện của huyện, cụ thể của các trường chắc chắn sẽ thu hút sự quan tâm chú ý của
giáo viên vả học sinh của các bậc phụ huynh và toàn xã hội nói chung. Từ đó và đặc
biệt là các thầy cô giáo, các em học sinh sẽ nâng cao nhận thức, hiểu biết và trách
nhiệm của mình hướng tới hành vi tốt cống hiến cho ngành, cho nhiệm vụ học tập.
81
Huyện uỷ cần tích cực chỉ đạo, Phòng giáo dục triển khai nhiều hoạt động trong các
nhà trường xây dựng môi trường nhà trường xanh, sạch, đẹp, xây dựng sứ mạng nhà
trường, chú trong giáo dục đạo đức qua các hoạt động phong trào ngoại khoá, phòng
chống các tệ nạn xã hội, phát động phong trào học sinh tình nguyện, tích cực tham
gia đấu tranh với tệ nạn trong học đường, phối hợp với các cơ quan chức năng tổ
chức Hội nghị “gặp mặt gương mặt học sinh xuất sắc” và giao lưu “thắp sáng ước
mơ ” cho các em học sinh. Đồng thời cần tích cực xây dựng và duy trì, phát triển
các mô hình tại cộng đồng dân cư, các trung tâm học tập cộng đồng như: câu lạc bộ
thanh niên, đội giáo dục đồng đẳng, nhóm nghị lực, đội tình thương, trung tâm tư
vấn, đội kỹ năng sống… để thu hút học sinh, thanh, thiếu nhi tham gia vào thực
hiện xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hoá… Thông qua hoạt động của các
câu lạc bộ, Đoàn - Hội đã thu hút, tập hợp được các học sinh để cung cấp thông tin,
kiến thức xã hội, kĩ năng sống, giúp học sinh tự tin hơn trong việc học tập và các
hoạt động trong xã hội.
Ngoài ra thực hiện các hoạt động tư vấn đối với giáo dục, đối với các trường
học các thầy cô và học sinh cùng là một hình thức tuyên truyền tích cực để thực
hiện Nghị quyết đây cần phải coi là một hình thức cần được sử dụng tích cực trong
thời gian tới. Các chuyên gia tư vấn về giáo dục sẽ giúp nhà quản lý, giáo viên, học
sinh, các bậc phụ huynh cùng toàn xã hội trả lời những thắc mắc xung quanh các
vấn đề đổi mới giáo dục. Đây là hoạt động có ý nghĩa, tác động tốt công đồng và gia
đình,các bậc phụ huynh nhìn nhận rõ về mà giáo dục con em học đang gặp khó
khăn. Ví dụ việc tư vấn vấn đề thi cử, tư vấn về định hướng nghề nghiệp, việc học
ngoại khoá; ngoại ngữ theo lứa tuổi là những vấn đề rất nhiều phụ huynh học sinh
quan tâm... Như vậy, các nhà trường, các tổ chức chính trị xã hội trong nhà trường,
công đoàn và nhất là đoàn thanh niên trong trường học cần tập trung xây dựng các
mô hình các câu lạc bộ phòng chống các tệ nạn học đường, các đội giáo dục đồng
đẳng. “Nhóm nghị lực”, “nhóm bạn giúp bạn”, “Trung tâm tư vấn ”…coi đây là một
mục tiêu đổi mới phương thức tập hợp đoàn kết, giáo dục thanh thiếu niên nhi đồng
niên, góp phần tích cực vào việc nâng cao nhận thức, định hướng hành vi tích cực
trong học tập và lao động.
82
Ngoài ra, để nâng cao hiệu quả trong tuyên truyền triển khai nghị quyết thì cần
thường xuyên tập huấn cho đội ngũ báo cáo viên, các tuyên truyền viên và cộng tác
viên dư luận xã hội của huyện. Tổ chức các cuộc thi báo cáo viên giỏi, tuyên truyền
viên giỏi, trong đó chú ý đến lực lượng là hiệu trưởng, cán bộ quản lý giáo dục.
Như vậy, việc thường xuyên đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp,
phương tiện triển khai là một yêu cầu bức thiết đòi hỏi sự quan tâm, đầu tư của
huyện uỷ, uỷ ban nhân dân huyện, của ngành giáo dục các cơ sở nhà trường cần
thực hiện đồng bộ và hiệu quả trang thiết bị. Việc đổi mới này thành công sẽ tạo
điều kiện tốt nhất cho việc tuyên truyền triển khai nghị quyết đạt được hiệu quả cao
trong thời gian tới.
3.2.5. Tăng cường phối hợp giữa tổ chức hội, cha mẹ học sinh, hội khuyến học
khuyến tài, các tổ chức đoàn thể trong công tác triển khai Nghị quyết đổi mới căn
bản giáo dục và đào tạo
Gia đình, các tổ chức đoàn thể, đặc biệt là Hội cha mẹ học sinh, hội cựu
giáo chức, Đoàn thanh niên có vai trò quan trọng trong việc tuyên truyền, triển
khai thực hiện nghị quyết về giáo dục. Vì các tổ chức đoàn thể, hội cha mẹ học
sinh, gia đình là những người người hiểu hơn ai hết những đặc điểm tâm lý của
con, em mình. Và là người quản lý nhiều thời gian nhất đối với con em mình, Bởi
vậy gia đình nắm rất rõ đặc điểm tâm sinh lý của các em để có phương pháp hoặc
phối hợp với nhà trường quản lý và giáo dục con em mình hiệu quả; gia đình là
tiền đề để hình thành và phát triển nhân cách của học sinh.
Song trên thực tế hiện nay cho thấy, có rất nhiều cha mẹ do mải mê làm
ăn mà không quan tâm đến cuộc sống, cũng như tâm tư, nguyện vọng của con em
mình. Do đó nhiều em thấy thiếu thốn tình cảm nên dễ bị bạn bè xấu lôi kéo vào
các tệ nạn xã hội, phải bỏ học, thanh niên lêu lổng không tham gia các lớp đào
tạo nghề. Chính vì vậy cần nâng cao vai trò của gia đình trong công tác giáo dục
học sinh trong đó coi trọng giáo dục về đạo đức, nhân cách là nhiệm vụ cấp bách
hiện nay. Cần lựa chọn những gia đình có con em ngoan ngoãn, học giỏi, thành
đạt trong cuộc sống làm tấm gương nhân rộng, tuyên truyền cho các gia đình
khác cùng học tập và làm theo.
83
Các tổ chức đoàn thể, chính trị, xã hội cũng góp phần quan trọng trong sự tác
động hiệu quả thực hiện nghị quyết. Ban Tuyên giáo Huyện uỷ, báo cáo viên, lãnh
đạo các nhà trường cần thường xuyên tổ chức các buổi gặp gỡ với bí thư, chi bộ,
trưởng thôn, tổ trưởng tổ dân phố, hội phụ nữ… để trực tiếp trao đổi vai trò của
nghị quyết với giáo dục và đào tạo đồng thời nhấn mạnh những việc mà tổ chức hội
cần làm cho giáo dục như: huy động học sinh đến lớp đến trường, tránh hiện tượng
bỏ học, duy trì phổ cập giáo dục, khảo sát giới thiệu thanh niên tham gia học nghề
tạo công ăn, việc làm. Các tổ chức hội tuyên truyền thành viên hội viên của mình
nhận thức đúng đắn, hướng dẫn, động viên con em họ tham gia học tập đầy đủ,
phòng, chống thói hư tật xấu và các tệ nạn xã hội tại địa bàn. Đồng thời lựa chọn
những gia đình có con em ngoan ngoãn, học giỏi làm gương tuyên truyền cho các
gia đình khác cùng học tập, noi theo. Hội phụ nữ huyện và các xã cần nhân rộng mô
hình “ gia đình không có chồng, con vi phạm pháp luật”. Tổ chức Đoàn thanh niên
huyện đóng vai trò to lớn trong việc giáo dục học sinh và thanh thiếu nhi toàn huyện
tham gia vào các hoạt động thanh thiếu nhi, các điểm vui chơi lành mạnh, các câu
lạc bộ phòng, tệ nạn xã hội cho thanh niên, câu lạc bộ búp măng non, câu lạc bộ đôi
bạn cùng tiến.... Đây là tổ chức sâu sát và gần gũi nhất với thanh thiếu nhi, học sinh.
Cần đẩy mạnh triển khai tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức… Đồng thời
cần đa dạng hoá nội dung và hình thức hoạt động tuyên truyền như: trao đổi, toạ đàm,
thảo luận về chủ đề đổi mới giáo dục trong đó tập trung đổi mới phương thức hoạt
động của tổ chức đoàn trong nhà trường, chú trọng đổi mới hình thức sinh hoạt ngoại
khoá phù hợp với các đối tượng học sinh, đổi mới nội dung hoạt động của các câu lạc
bộ trong nhà trường bằng việc tổ chức liên hoan, giao lưu văn nghệ, biểu dương các
sao, đội, các đôi bạn cùng tiến các mô hình tiêu biểu của các trường trong hoạt động
ngoại khoá và hoạt động phong trào toàn huyện. Ngành giáo dục và các nhà trường cần
cử giáo viên, thanh niên thường xuyên tham dự, bồi dưỡng, tập huấn kiến thức, kĩ năng
về về nghiệp vụ công tác hoạt động giáo dục cộng đồng, hoạt động đoàn, hội đội và
công tác thanh niêm trong các nhà trường. Tổ chức Đoàn từ huyện tới các cơ sở và các
chi đoàn trường cần gần gũi, gắn bó với học sinh, với hoạt động của phong trào thanh,
thiếu nhi do mình phụ trách để từ đó có biện pháp giáo dục đạt hiệu quả nhất.
84
Ban Thường vụ Huyện đoàn tiếp tục chỉ đạo, hướng dẫn các cơ sở Đoàn triển
khai kế hoạch xây dựng Chi đoàn vững mạnh trên địa bàn dân cư, trong các trường
cần coi trọng tiêu chí không có đoàn viên, thanh niên vi phạm pháp luật, chú ý tới
xây dựng và kết quả thực hiện kế hoạch hoạt động giáo dục của các chi đoàn nhà
trường đây là chỉ tiêu đánh giá các chi đoàn trường học vững mạnh
Để tiếp tục phát huy vai trò xung kích của Đoàn Thanh niên huyện trong
công tác giáo dục thanh thiếu niên, nhi đồng trong các nhà trường góp phần tác
động mạnh mẽ tới chất lượng giáo dục, đáp ứng được yêu cầu đổi mới căn bản giáo
dục đào tạo, các cấp bộ Đoàn cần phải xác định công tác hoạt động ngoại khoá, giáo
dục lịch sử, đạo đức thông qua các chuyên đề...là nội dung trọng tâm trong công tác
giáo dục học sinh trong các nhà trường. Chi Đoàn giáo viên phải được cụ thể hoá
các việc trong kế hoạch công tác hàng năm của mình. Chú trọng xây dựng đội ngũ
cán bộ Đoàn nhiệt tình, có năng lực chỉ đạo và có khả năng tham mưu, thiết kế, tổ
chức có hiệu quả các hoạt động giáo dục nêu trên, đồng thời xây dựng đội ngũ
tuyên truyền viên, cộng tác viên tích cực, có hiệu quả trong công tác giáo dục của
Đoàn. Luôn đổi mới nội dung và phương thức hoạt động, đầu tư nghiên cứu xây
dựng mô hình giáo dục, hoạt động phù hợp với từng đối tượng, kịp thời sơ kết tổng
kết để phổ biến nhân rộng các mô hình giáo dục hoạt động có hiệu quả. Chủ động
phối hợp chặt chẽ, đồng bộ với các ngành chức năng, các đoàn thể xã hội, gia đình,
nhà trường trong chỉ đạo, tổ chức thực hiện và tạo nguồn lực vật chất, kinh phí cho
các hoạt động giáo dục học sinh.
Không chỉ nâng cao vai trò trách nhiệm của gia đình, tổ chức Đoàn, Hội phụ
nữ mà các tổ chức đoàn thể khác cũng đóng vai trò quan trọng trong việc tham gia
vào triển khai Nghi quyết về đổi mới giáo dục: Các tổ chức, các hội đó phải kể đến
như: Mặt trận Tổ quốc, Phòng Lao động Thương binh và xã hội, phòng Văn hoá
Thông tin huyện; Đài phát thanh huyện, hội cựu giáo chức huyện, hội khuyến học
khuyến tài huyện..
Mặt trận Tổ quốc cần tích cực phối hợp các ban, ngành, đoàn thể như: Hội
phụ nữ, phối hợp với ngành Lao đông - Thương binh và xã hội Hội nông dân, Hội
khuyến học khuyến tài... nhân rộng, tổ chức nhiều hình thức tuyên tuyền, khuyến
85
khích động viên khen thưởng cơ sở giáo dục, các nhà trường có những những
chuyển biến tích cực về chất lượng giáo dục toàn diện học sinh, các đơn vị duy trì
tốt phổ cập giáo dục, huy động trẻ đến trường lớp đạt cao, có cơ sở vật chất tạo môi
trường học tập tốt nhất đối với học sinh.
Phòng Lao động - Thương binh và xã hội cần phối hợp với Phòng Giáo dục
và Đào tạo huyện tăng cường công tác bảo trợ cho trẻ em, nhất là trẻ em có hoàn
cảnh khó khăn được đến lớp đến trường và có điều kiện tham gia học tập vui chơi
như những học sinh bình thường khác; Hội thảo các chương trình đào tạo du học,
đào tạo quốc tế để học sinh có điều kiện tham gia, khảo sát đánh giá và tham mưu
Uỷ ban nhân dân huyện mở các lớp nghề ngắn hạn cho thanh niên, cho các đối
tượng ngành theo nhu cầu sử dụng để tạo nhu cầu học tập của nhân dân toàn huyện
tham gia góp phần nâng cao dân trí của huyện. Phòng Lao động - Thương binh và
Xã hội huyện cần phối hợp với các ngành chức năng rà soát các đối tượng học sinh,
thanh thiếu nhi mắc vào tệ nạn xã hội nhất để có chương trình quản lý, giáo dục tạo
điều kiện để các em hoà nhập cộng đồng.
Phòng Văn hoá, Thông tin cần phối hợp với Đài Phát thanh, Phòng giáo dục và
các ngành liên quan đẩy mạnh việc tuyên truyền triển khai Nghị quyết ở các nhà
trường, các chi đảng bộ trong toàn huyện, gắn với thực hiện các nhiệm vụ chính trị của
cơ quan đơn vị; xây dựng làng văn hoá, khu dân cư văn hoá, cơ quan, đơn vị, trường
học văn hoá, xây dựng khu dân cư, tổ dân phố, phường, thị trấn, trường học không có
học sinh mắc tệ nạn .; xây dựng các chi hội khuyến học thôn dân cư, xây dựng phong
trào học tập, xã hội học tập, nhân rông mô hình "tiếng kẻng học tập" của hội khuyến
học xã Tú Sơn. Phòng giáo dục và Đào tạo cùng Phòng Văn hoá, Thông tin cần chủ trì
phối hợp với các cơ quan liên quan như: Báo đài, Đài phát thanh tăng thời lượng phát
sóng và mở các chuyên mục đưa tin bài cụ thể theo mục tiêu, yêu cầu của công tác đổi
mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo. Tuyên truyền, vận động các gia đình có
người học tập chủ động nâng cao nhận thức trách nhiệm của gia đình với ngành giáo
dục tham gia của nhà trường và xã hội quản lý con em mình.
Sự phối hợp giữa gia đình nhà trường, xã hội, sự phối hợp của các tổ chức
đoàn thể, các phòng ban ngành sẽ tạo nên sức mạnh tổng hợp cho quá trình triển
86
khai thực hiện nghị quyết về đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo. Bởi
công việc này nhiều năm nay được coi là vấn đề nóng của ngành giáo dục và đào
tạo được toàn xã hội và cả quốc tế quan tâm.
3.2.6. Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất cho công tác giáo dục
Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, sự chỉ đạo của chính quyền huyện và địa
phương còn thể hiện ở việc tăng cường đầu tư cơ sở vật chất cho công tác giáo dục
Theo Nghị quyết của Ban Thường vụ Huyện uỷ, Nghị quyết số 30 của Ban
Thường vụ Thành uỷ Hải Phòng, thời gian tới cần tăng mức đầu tư từ ngân sách tự
chủ của Thành phố và huyện, đồng thời tích cực tranh thủ từ các nguồn của chương
trình quốc gia, các đề án của quốc tế triển khai trên địa bàn; huy động từ nguồn xã
hội hoá, sự đóng góp của các tổ chức chính trị xã hội, các doanh nghiệp, doanh nhân
và nhân dân, bảo đảm đủ kinh phí cho công tác đổi mới giáo dục.
Mặc dù cơ sở trường lớp, trang thiết thiết bị phòng học, vật chất kĩ thuật
phục vụ hoạt động dạy học thư viện, phòng hoạ, nhạc, hiệu bộ, sân chơi bãi tập,
radio, máy ghi âm... đã được tăng cường đáng kể. Tuy nhiên so với để đáp ứng yêu
cầu thì còn phải tăng cường và tập trung thực hiện một số nội dung sau:
Thứ nhất, khẩn trương xây dựng kế hoạch về cơ sở vật chất phục vụ công tác
đổi mới căn bản toàn diện giáo dục cơ quan mình nhằm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ
của Nghị quyết đề ra, "các địa phương đơn vị trước hết khảo sát lại diện tích cơ sở
giáo dục của mình, sớm dành quỹ đất phù hợp quy hoạch chung của huyện để đủ
diện tích xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia" [6].
Thứ hai, lãnh đạo cấp uỷ cần tăng cường đầu tư xây dựng cơ sở vật chất,
đảm bảo tính đồng bộ và từng bước hiện đại cho các nhà trường cơ sở giáo dục và
nghề. Hơn nữa lãnh đạo Đảng, chính quyền các cấp cần tăng cường mức đầu tư,
trang bị cơ sở vật chất kĩ thuật. Ngoài kinh phí giao thường xuyên cần dành khoản
đáng kể từ tăng thu ngân sách để chi cho ngành này phải phù hợp với nhịp độ tăng
trưởng kinh tế hàng năm. Bên cạnh đó cần khuyến khích các xã, địa phương ban
hành nghị quyết Hội đồng nhân dân tăng thêm nguồn kinh phí cho các ngành,đoàn
thể trong phối hợp tốt với các nhà trường. Cần phải nâng cao hiệu quả sử dụng cơ
sở vật chất, cần nâng cao vai trò của cán bộ quản lý và giáo viên đối với việc sử
87
dụng hiệu quả công tác của mình. Xây dựng cơ chế sử dụng cơ sở vật chất kĩ thuật
trong toàn Đảng và cho từng chương trình, kế hoạch hoạt động cụ thể. Thường
xuyên phát động phong trào thi đua, sử dụng và bảo quản tốt cơ sở vật chất phục vụ
cho công tác giáo dục. Đầu tư xây dựng, mua sắm trang thiết bị, phải đi đôi với việc
bảo đảm an ninh, an toàn trong việc sử dụng. Phân công trách nhiệm cụ thể cho
từng giáo viên trong việc sử dụng, bảo quản.
Thứ ba, cần xây dựng cơ chế phối hợp các khâu chỉ đạo, tổ chức, quản lý hệ
thống cơ sở vật chất kĩ thuật. Xây dựng tiêu chí thống nhất về trang bị cơ sở vật
chất cho các nhà trường.
Như vậy, vật chất, kĩ thuật cho công tác triển khai Nghị quyết số 29 về "đổi
mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo..." có vai trò rất quan trọng. Do đó, mỗi cơ
cơ quan đơn vị, trường học cần được trang bị cơ sở vật chất tương ứng. Trong thời đại
bùng nổ thông tin như hiện nay thì đòi hỏi cơ sở vật chất kĩ thuật phải không ngừng đổi
mới và hoàn thiện để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của công tác dạy và học.
Cùng với việc tăng cường cơ sở vật chất cần có chế độ chính sách đãi ngộ
hợp lý đối với với cán bộ quản lý giáo dục, đội ngũ giáo viên, cán bộ làm công tác
tuyên truyền nghi quyết bởi khi đó sẽ góp phần phát huy vai trò của họ trong hoạt
động tuyên truyền nhằm hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Đối với những người
quán triệt triển khai các Nghị quyết của Đảng cần quan tâm đến tâm tư, nguyện
vọng của họ để có chính sách đãi ngộ, hỗ trợ hợp lý. Huyện ủy - Uỷ ban nhân dân
huyện cần có chính sách khen thưởng, động viên kịp thời đối với những cá nhân,
tập thể có thành tích cao trong quá trình làm việc, công tác. Hàng quí, hàng năm tại
hội nghị tổng kết cần biểu dương kịp thời những cá nhân, tập thể nhiệt tình, có trách
nhiệm đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Cần xem đó là những tấm gương sáng để
các cá nhân, tập thể còn yếu kém noi theo và học tập, biểu dương trong phong trào
học tập và làm theo tư tưởng tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Chính sách đãi ngộ
hợp lý được xem như là đòn bẩy tích cực thúc đẩy tinh thần làm việc của đội ngũ
cán bộ quản lý, cán bộ thực hiện quán triệt triển khai nghi quyết Đảng đó chính là
các cán bộ tuyên giáo, báo cáo viên do đảng uỷ, Huyện uỷ, phòng giáo dục quản lý.
Bởi trong điều kiện hiện nay, việc thực hiện đổi mới căn bản toàn diện giáo dục đầy
88
khó khăn, vất vả. Những người thực hiện công việc này là những chiến sĩ lao động
tích cực. Họ cần được động viên cả về vật chất và tinh thần, để từ đó tạo ra động lực
thúc đẩy tinh thần làm việc của họ. Chỉ trên cơ sở làm việc trách nhiệm, nhiệt tình
thì công tác triển khai thực hiện mới đạt được hiệu quả cao. Từ đó cho thấy chính
sách đãi ngộ hợp lý đối với lực lượng cán bộ báo cáo viên, tuyên truyền viên được
xem là một biện pháp hữu hiệu, quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động
tuyên truyền, triển khai tới toàn xã hội.
3.3. Mối quan hệ của các biện pháp
Để triển khai hiệu quả Nghị quyết đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào
tạo trên địa bàn huyện Kiến Thụy, cần phải thực hiện đồng bộ nhiều biện pháp,
nhưng trong phạm vi đề tài này, chúng tôi chỉ nêu 6 biện pháp cơ bản. Mặc dù mỗi
biện pháp nhằm một mục tiêu nhất định, song cả 6 biện pháp đều có mối liên hệ
chặt chẽ với nhau, tác động qua lại hỗ trợ nhau, vừa là điều kiện, vừa là kết quả của
nhau và đều cùng chung một mục tiêu cuối cùng là tạo điều kiện để Nghị. quyết số
29 của Trung ương Đảng về đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo triển
khai, thực hiện có hiệu quả. Kết quả của biện pháp này là yếu tố thành công cho các
biện pháp kia. Tổ chức thực hiện một cách đồng bộ và thống nhất các biện pháp thì
mới đem lại hiệu quả tích cực. Nếu thực hiện từng biện pháp riêng lẻ thì sẽ hạn chế
hoặc không mang lại tác dụng, hiệu quả. Tùy thuộc vào từng giai đoạn, từng địa
phương, từng trường, cơ sở giáo dục cụ thể để vận dụng một số biện pháp nào đó.
Các biện pháp có mối quan hệ như sau:
- Trên cơ sở phân cấp quản lý Huyện uỷ lãnh đạo toàn diện, lãnh đạo cấp uỷ
cơ sở, Cấp uỷ cơ sở lãnh đạo các trường học từ cấp THCS trở xuống; sự lãnh đạo,
chỉ đạo của Huyện uỷ đối với các xã thị trấn, của Uỷ ban nhân dân huyện, của
Phòng giáo đối với các trường học, các cơ sở giáo dục là chủ thể chỉ đạo, lãnh đạo,
triển khai và chủ thể của chương trình hành động cấp huyện. Trên cơ sở xây dựng
nội dung, công việc thực hiện trong phạm vi huyện và phân công tổ chức thực hiện
của Huyện uỷ, Uỷ ban nhân dân huyện, các xã, thị trấn, các cơ sở giáo dục căn cứ
đó để thực hiện nội dung của mình với chức năng nhiệm vụ được giao. Vì vậy,
không tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp uỷ Đảng, chính quyền dẫn đến hiệu
quả triển khai, thực hiện, hoạt động quản lý sẽ hạn chế.
89
- Nhưng nếu chỉ tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo mà trên thực tế thường là
bằng hệ thống văn bản, hành chính mà không chú ý đến năng lực của đội ngũ cán
bộ, đội ngũ chuyển tải và thực hiện nội dung Nghị quyết tới cơ sở đó là đội ngũ báo
cáo viên, tuyên giáo, lãnh dạo quản lý các nhà trường. Lãnh đạo mặt trận tổ quốc và
các đoàn thể nhân nhân...không bố trí, sử dụng hợp lý; không chăm lo đời sống vật
chất tinh thần, không có chính sách đãi ngộ phù hợp để động viên khuyến khích kịp
thời, không ngừng đổi mới cách thức, nội dung, phương tiện triển khai thì hiệu quả
đem lại không cao.
- Những nội dung như đề cấp trên dù tốt đến đâu, nhưng Nghị quyết không
có sự đồng thuận của nhân dân, không có sự phối hợp của các cơ quan, ban ngành,
đoàn thể, đối với sự nghiệp giáo dục và đào tạo càng cần sự ủng hộ của toàn xã hội
sự quan tâm của hệ thống chính trị mặt trận tổ quốc và các đoàn thể, của các tổ chức
hội cha mẹ học sinh, khuyến học, hội cựu giáo chức thì công tác triển khai nghi
quyết sẽ không đem lại kết quả mong muốn.
Đầu tư nhanh, mạnh về cơ sở vật chất, tạo điều kiện tốt nhất để học sinh đến
trường trong điều kiện tốt nhất là nhiệm vụ mà cấp huyện "có thể thực hiện ngay
được" dựa vào nội lực của mình, huy động mọi nguồn lực và sự hỗ trợ của cấp trên
là biện pháp tạo ra bước phát triển nhanh về hạ tầng cơ sở giáo dục của địa phương
tác động để thúc đẩy đổi mới về nội dung, phương pháp day, học trong các nhà
trường, các cơ sở giáo dục.
Các biện pháp trên đều có tác dụng hỗ trợ qua lại, tạo điều kiện cho triển
khai nghị quyết đổi mới giáo dục và đào tạo thuận lợi và nhanh chóng. Trong 6 biện
pháp đề xuất, mỗi biện pháp đều có vị trí quan trọng, không thể xem nhẹ trong quá
trình triển khai Nghị quyết. Tuy nhiên, các biện pháp này chỉ được sử dụng có hiệu
quả nhất khi được khai thác triệt để thế mạnh phù hợp với mỗi xã, thị trấn, lãnh đạo
quản lý nhà trường và từng điều kiện cụ thể của mỗi địa phương và nhà trường.
3.4. Khảo nghiệm tính cấp thiết và khả thi của các biện pháp
3.4.1. Mục đích của khảo nghiệm
Nhằm bước đầu đánh giá khả năng thực thi của các biện pháp triển khai Nghị
quyết đạt hiệu quả cao nhất. Mục đích để phát hiện hạn chế, bổ sung, điều chỉnh
giúp hoàn thiện hơn các biện pháp và tiến đến khẳng định thực hiện các biện pháp.
90
3.4.2. Các bước khảo nghiệm
Để đánh giá nhận thức về tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp, tôi
đã tiến hành quy trình khảo sát, gồm các bước sau:
* Bước 1: Xây dựng phiếu trưng cầu ý kiến dành cho chuyên gia (mẫu phiếu số 3).
* Bước 2: Lựa chọn chuyên gia.
Lựa chọn chuyên gia là cán bộ lãnh đạo quản lý ở các Ban của Huyện uỷ,
Lãnh đạo Uỷ ban nhân dân huyện, lãnh đạo mặt trận tổ quốc và các đoàn thể, Phòng
Giáo dục và Đào tạo, một số hiệu trưởng, phó hiệu trưởng có trình độ năng lực, có
kinh nghiệm trong công tác quản lý giáo dục, và có kinh nghiệm trong công tác
quản lý cán bộ.
Chúng tôi đã lựa chọn 55 đồng chí bao gồm:
- Lãnh đạo Ban Tổ chức Huyện ủy. Ban Tuyên giáo, Ban Dân vận, Uỷ Ban
kiểm tra Huyện uỷ: 10 người.
- Lãnh đạo Uỷ BAN NHÂN DÂN huyện: 3 người
- Lãnh đạo Mặt trận tổ quốc và các đoàn thể: 7 người
- Lãnh đạo phòng Giáo dục - Đào tạo Huyện: 03 người.
- Lãnh đạo các hội nghề nghiệp: 3
- Đại diện hội cha mẹ học sinh ở trường THPT:2 người
- Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng có kinh nghiệm trong công tác quản lý
trường ở một số trường trong huyện: 20 người.
- Tổ trưởng và giáo viên giỏi: 07 người.
* Bước 3: Lấy ý kiến từ chuyên gia và xử lý kết quả nghiên cứu.
3.4.3. Kết quả khảo nghiệm
Với câu hỏi: “Để phục vụ nghiên cứu khoa học, chúng tôi trân trọng đề nghị
đồng chí cho biết ý kiến về tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp triển khai
nghị quyết Trung ương 8 (khoá XI ) về đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và
đào tạo với thang điểm sau:
+ Rất cần thiết/ Rất khả thi: 3 điểm
+ Cần thiết/ Khả thi: 2 điểm
+ Chưa cần thiết/ Chưa khả thi: 1 điểm
91
Kết quả thu được thể hiện qua bảng sau:
Bảng 3.1: Kết quả khảo nghiệm nhận thức về mức độ cần thiết
của các biện pháp đề xuất
Mức độ cần thiết
Cần thiết
Σ
TT
Biện pháp
Thứ bậc
Rất cần thiết SL %
SL % SL
Không cần thiết %
19
34.5
36
65.5
0
129 2.34
1
1
Tăng cường sự lãnh đạo của Huyện ủy - Uỷ ban nhân dân huyện, cấp ủy và chính quyền các cấp, trong công tác triển khai Nghị quyết
2
15
27,3
25
45.4
15
27,3 110
2
5
3
20
36.3
31
56.3
4
7.4
126
2.3
2
4
15
27.2
39
71
1
1,8
124 2.25
3
5
3
5.4
29
52.7
23
41.9
90
1.63
6
6
14
25,4
35
63.3
11
118 2.14
6
4
Nâng cao nhận thức và trách nhiệm của cấp uỷ xã, lãnh đạo các nhà trường trong thực hiện nghị quyết đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo Nâng cao chất lượng của đội ngũ cán bộ chủ chốt, đội ngũ báo cáo viên, lãnh đạo quản lý các nhà trường, cơ sở giáo dục Đổi mới về, hình thức, phương pháp, phương tiện của công tác triển khai Nghị quyết Tăng cường phối hợp giữa tổ chức hội, cha mẹ học sinh, hội khuyến học khuyến tài, các tổ chức đoàn thể trong công tác triển khai nghị quyết đổi mới căn bản giáo dục Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất cho công tác giáo dục
2.11
Điểm TB chung
Nhận xét:
Với kết quả khảo nghiệm ở bảng trên cho thấy, các ý kiến đánh giá về tính
cần thiết của 6 biện pháp triển khai Nghị quyết mức độ cần thiết cao với điểm TBC
= 2.11 .xếp loại tốt. Đặc biệt có 2 biện pháp được đánh giá mức độ cần thiết cao
nhất là;
- Biện pháp: Tăng cường sự lãnh đạo của Huyện ủy - Uỷ ban nhân dân huyện, cấp ủy và chính quyền các cấp, trong công tác triển khai Nghị quyết
= 2.34 xếp thứ bậc 1.
- Biện pháp: Nâng cao chất lượng của đội ngũ cán bộ chủ chốt, đội ngũ báo
cáo viên, lãnh đạo quản lý các nhà trường, cơ sở giáo dục = 2.3 xếp thứ bậc 2.
92
Mức độ cần thiết của các biện pháp được đánh giá với điểm trung bình chênh
lệch nhau nằm trong khoảng 1.63 2.34. Điều đó khẳng định để triển khai
đạt hiệu quả cao nghị quyết cần phải phối hợp cả 6 nhóm biện pháp trên; mỗi nhóm
biện pháp có những thế mạnh riêng, bổ trợ cho nhau; là cần thiết, phù hợp với tình
hình thực tế của huyện Kiến Thụy
Bảng 3.2: Kết quả khảo nghiệm về tính khả thi
của các biện pháp đề xuất
Tính khả thi
TT
Biện pháp
Σ
Thứ bậc
Rất khả thi SL %
Khả thi SL % SL
Chƣa khả thi %
1
18
32.8
35
63.6
2
3.6
126 2,29
1
2
16
29
31
56,4
6
11
116
2.1
3
3
15
27.2
27
49
13
23.6 112 2,03
5
4
17
31
36
65.4
2
3.6
125 2.27
2
5
14
25.5
32
58.1
9
16.4 115 2,09
4
6
15
27,2
25
45,5
15
27,3 110
2
6
Tăng cường sự lãnh đạo của Huyện ủy - Uỷ ban nhân dân huyện, cấp ủy và chính quyền các cấp, trong công tác triển khai Nghị quyết Nâng cao nhận thức và trách nhiệm của cấp uỷ xã, lãnh đạo các nhà trường trong thực hiện nghị quyết đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo Nâng cao chất lượng của đội ngũ cán bộ chủ chốt, đội ngũ báo cáo viên, lãnh đạo quản lý các nhà trường, cơ sở giáo dục Đổi mới về nội dung, hình thức, phương pháp, phương tiện của công tác triển khai nghị quyết Tăng cường phối hợp giữa tổ chức hội, cha mẹ học sinh, hội khuyến học khuyến tài, các tổ chức đoàn thể trong công tác triển khai nghị quyết đổi mới căn bản giáo dục Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất cho công tác giáo dục
2.13
Điểm TB chung
93
Nhận xét:
Căn cứ kết quả bảng cho thấy các ý kiến đánh giá các biện pháp triển khai
nghị quyết được đề xuất với điểm TB =2.13 có tính khả thi.
Mức độ khả thi của các biện pháp triển khai Nghị quyết được đánh giá tương
đối đồng đều do việc triển khai tổ chức thực hiện thống nhất từ trên xuống dưới.
Các biện pháp được đánh giá có tính khả thi cao:
Biện pháp: Tăng cường sự lãnh đạo của Huyện ủy - Uỷ ban nhân dân huyện,
cấp ủy và chính quyền các cấp, trong công tác triển khai Nghị quyết có tính khả thi
cao nhất, điểm TB = 2.29; xếp thứ bậc 1.
Biện pháp: Đổi mới về nội dung, hình thức, phương pháp, phương tiện của
công tác triển khai nghị quyết có điểm TB = 2.27 xếp thứ bậc 2.
Kết quả nghiên cứu trên đây khẳng định tính cần thiết và tính khả thi của các
biện pháp triển khai Nghị quyết hiệu quả. Có thể thấy rằng các đánh giá mức độ cần
thiết và tính khả thi tương đối đồng nhất, biện pháp 1 đều được đánh giá xếp thứ
hạng 1 ở cả tính khả thi và mức độ cần thiết, nhóm biện pháp 5, 6 xếp lần lượt
hạng 6 và 4 ở mức độ cần thiết thì tương ứng xếp hạng 4 và 6 ở tính khả thi. Các
biện pháp khác xếp hạng tương đối đồng đều ở cả tính cần thiết mà mức độ khả thi.
94
Kết luận chƣơng 3
Qua một thời gian triển khai Nghị quyết 29 "đổi mới căn bản, toàn diện giáo
dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong điều kiện kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế" trên địa bàn huyện
Kiến Thuỵ đã có kết quả tích cực, là cơ sở, tiền đề quan trọng động lực để đổi mới
mạnh mẽ sự nghiệp giáo dục đào tạo ở địa phương. Tuy nhiên, việc triển khai thực
hiện Nghị quyết vẫn những hạn chế nhất định, chưa đạt được yêu cầu của kế hoạch
Huyện uỷ đề ra.
Các cấp uỷ, chính quyền các cấp, ngành giáo dục và đào tạo đã nâng cao
trách nhiệm thực hiện; tổ chức tuyên truyền sâu rộng bằng nhiều nội dung, hình
thức thiết thực, phù hợp; chú trọng tới nghị quyết và các các chủ trương, chính
sách về lĩnh vực giáo dục và đào tạo. Đặc biệt Huyện uỷ, Đảng uỷ các cấp đã cụ thể
hoá và đưa nội dung đổi mới giáo dục vào trong nghị quyết của cấp uỷ mình, đưa
vào kế hoạch và nhiệm vụ năm, có chương trình hành động chi tiết của Uỷ ban nhân
dân để thực hiện nghị quyết, cuối năm cấp uỷ các cấp đều sơ kết, tổng kết đánh giá
để có điều chỉnh phù hợp cho các năm tiếp theo.
Ngành giáo dục và đào tạo huyện đã: “chú trọng xử lý dứt điểm những vụ
việc, những tiêu cực, hạn chế trong lĩnh vực giáo dục. tăng cường công tác kiểm tra,
thanh tra, chú trọng kiểm tra thanh tra toàn diện và đột xuất tạo chuyển biến tích
cực nền nếp của các nhà trường, cơ sở giáo dục”[5]. Đẩy mạnh phong trào quần
chúng, nhân dân, phụ huynh tích cực tham gia phát hiện, tố giác và đấu tranh với
các biểu hiện tiêu cực trong giáo dục và đào tạo. Xây dựng hộp thư góp ý tại các
nhà trường, các cơ sở giáo dục.
Thời gian tới, cần tiếp tục tăng cường đổi mới phương pháp và hoạt động của
các cấp ủy đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội,
đoàn thể nhân dân trong huyện nhằm huy động và phát huy sức mạnh tổng hợp của
cả hệ thống chính trị trong thực hiện nghị quyết đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục
và đào tạo. Tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức, nâng cao ý thức trách
nhiệm của các cấp ủy đảng, chính quyền, các đoàn thể để từ đó đầu tư, quan tâm
giáo dục và đào tạo, để giáo dục và đào tạo thực sự “là quốc sách hàng đầu”, “đầu
tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển”
95
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận
Nghị quyết tại Hội nghị lần thứ Tám của ban Chấp hành Trung ương Đảng
(khoá XI) về "đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu công
nghiệp hoá, hiện đại hoá trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa và hội nhập quốc tế" là một Nghị quyết có vị trí rất quan trọng đối với sự
nghiệp giáo dục. Cùng với sự phát triển trên các lĩnh vực khác của đất nước, sự
nghiệp giáo dục và đào tạo luôn được Đảng quan tâm, Thực hiện Nghị quyết của
Thành uỷ, Huyện uỷ về phát triển giáo dục huyện Kiến Thuỵ đã đạt được nhiều kết
quả. Tuy nhiên so với yêu cầu hiện nay, kết quả nhiều mặt giáo dục và đào tạo của
huyện Kiến Thuỵ vẫn nằm ở tốp thấp của Thành phố Hải Phòng. Trên địa bàn
huyện Kiến Thụy nếu được triển khai đồng bộ, tích cực Nghi quyết cùng với sự chỉ
đạo lãnh đạo của Huyện uỷ,của cấp uỷ, chính quyền các xã, thị trấn và sự chủ động
của ngành chắc chắn sẽ thực hiện đạt được các mục tiêu mà Nghị quyết đề ra
Luận văn với đề tài: Đánh giá công tác triển khai Nghị quyết số 29-NQ/TW
"về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp
hoá, hiện đại hoá trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
và hội nhập quốc tế" trên địa bàn huyện Kiến Thuỵ, Thành phố Hải phòng” đã
nghiên cứu, phân tích khảo sát đánh giá một cách có hệ thống thực trạng của công
tác triển khai các Nghị quyết của đảng nói chung và Nghị quyết về giáo dục và đào
tạo nói. Luận văn đã phân tích và làm rõ tình hình triển khai Nghị quyết nhất là
công tác quán triệt, học tập, tuyên truyền và kết quả đạt được của giáo dục sau một
năm thực hiện Nghị quyết; khẳng định những thành tích, kết quả, chỉ ra những tồn
tại, yếu kém và nguyên nhân tồn tại nhằm làm cơ sở cho việc đề xuất các biện pháp
để triển khai Nghị quyết trong những năm tới hiệu quả hơn.
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và khảo sát thực tiễn, luận văn đã đề xuất 6 biện
pháp cụ thể để triển khai Nghị quyết hiệu quả. Những biện pháp này có ý nghĩa trong
thực tế, đảm bảo tính đồng bộ, tính đổi mới, tính kế thừa, tính hiệu quả; tạo điều kiện
cho các nhà trường, các cơ sở giáo dục, các thày cô giáo phát huy hết năng lực, sở
trường của mình; là căn cứ khoa học để Huyện uỷ có cơ sở điều chỉnh, xây dựng
chương trình hành động triển khai các nghị quyết trên địa bàn nói chung phù hợp. Từ
đó, xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, cán bộ thực hiện một cách hợp lý
96
nhất. Quá trình thực hiện các biện pháp cần được áp dụng một cách đồng bộ, nhất
quán để hỗ trợ và bổ sung cho nhau, tạo thành một chỉnh thể thống nhất, hoàn chỉnh
và đạt hiệu quả cao nhất. Bên cạnh đó, cần có sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của các
cấp ủy, chính quyền địa phương và các cấp quản lý về giáo dục, góp phần thúc đẩy sự
nghiệp giáo dục và đào tạo huyện Kiến Thụy thành phố Hải Phòng phát triển.
2. Kiến nghị
2.1. Đối với Thành uỷ, Uỷ ban nhân dân Thành phố Hải Phòng
- Tăng cường sự lãnh đạo của Thành uỷ đối với sự nghiệp giáo dục của thành
phố nói chung tiếp tục tăng cường đầu tư hơn cho giáo dục và đào tạo để đảm bảo
cho các hoạt động dạy và học, xây dựng các trường chuẩn quốc gia, hiện đại hóa
các nhà trường, các cơ sở giáo dục và đào tạo, quan tâm đào tạo nghề và hướng
nghiệp nghề có chất lượng cao cho thanh niên đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá
thành phố
- Cần xây dựng một cơ chế chính sách để đầu tư về kinh phí cho thực hiện
hiện đại hoá các nhà trường xứng tầm "Đô thị loại I trung tâm cấp quốc gia” [10].
Uỷ ban nhân dân thành phố cần điều chỉnh phân cấp quản lý tăng quyền tự chủ cho
các cơ sở giáo dục. Tránh hiện tượng nhiều Sở cùng quản lý dẫn đến phải thực hiện
nhiều thủ tục hành chính và "cơ chế xin, cho”. Thành uỷ tiếp tục tăng cường sự lãnh
đạo đối với các Huyện uỷ; sớm ban hành quy định cụ thể về tiêu chuẩn cán bộ diện
các cấp uỷ quản lý, trong đó có đội ngũ lãnh đạo các nhà trường các cơ sở giáo dục
và đào tạo, chú trọng công đào tạo bồi dưỡng, luân chuyển, bổ nhiệm cán bộ đảm
bảo tiêu chuẩn có năng lực trình độ quản lý điều hành nhà trường và cơ sở giáo dục.
Quan tâm đến đội ngũ báo cáo viên, cán bộ lãnh đạo cáp uỷ chi bộ các nhà trường
để có thể triển khai các nghị quyết của Đảng một cách hiệu quả nhất.
2.2. Đối với Sở giáo dục và Đào tạo Thành phố Hải Phòng
Cần phối hợp tốt với huyện để quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo, nhất
là trong công tác cán bộ và biên chế của các trường Trung học phổ thông. Phối hợp
ban hành kịp thời quy định liên sở về các khoản đóng góp thu, chi, xã hội hoá giáo
dục cụ thể rõ ràng tránh để mạnh đơn vị nào đơn vị ấy làm, mỗi địa phương thực
hiện một cách gây khó khăn cho các hoạt động quản lý giáo dục.
2.3. Huyện uỷ, Mặt Trận tổ quốc và các Đoàn thể nhân dân huyện
Huyện uỷ tăng cường kiểm tra giám sát nhà trường, các cơ sở giáo dục trong
thực hiện nhiệm vụ chính trị của địa phương, thực hiện nghị quyết của Huyện uỷ.
97
Tăng cường sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng, chính quyền từ huyện đến xã trong việc
xây dựng trường học đảm bảo diện tích chuẩn quốc gia, quan tâm phát triển đội ngũ
cán bộ quản lý các trường học, phát triển đội ngũ đảng viên, xây dựng các chi bộ
đảng trường học trong sạch vững mạnh; Tăng cường kiểm tra, giám sát việc xây dựng
quy hoạch, kế hoạch phát triển đội ngũ giáo viên và lãnh đạo quản lý nhà trường. Chỉ
đạo phòng Giáo dục và Đào tạo, các nhà trường thực hiện tốt đánh giá, xếp loại hàng
năm đối với giáo viên và các bộ quản lý trường học, đánh giá toàn diện nhà trường và
học sinh
- Tạo những điều kiện ưu ái nhằm "thu hút giáo viên giỏi, sinh viên sư phạm
giỏi về công tác cho ngành giáo dục của huyện"[5].
- Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân tích cực vận động thành viên,
hội viên của tổ chức mình, tuyên truyền nội dung về nghị quyết, triển khai, vận
động nhân dân tham gia thực hiện những nhiệm vụ phù hợp để góp phần thực hiện
đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo; tham gia hỗ trợ tư vấn, giám sát và
phản biện xã hội để giáo dục và đào tạo của huyện kịp thời chấn chỉnh, khắc hạn
chế nhằm đổi mới hiệu quả.
2.4. Đối với cán bộ quản lý và giáo viên
- Cán bộ quản lý giáo dục không ngừng nâng cao nhận thức mọi mặt, thường
xuyên nghiên cứu, học tập và tham gia các hoạt động nghiệp vụ bồi dưỡng báo cáo
viên, tuyên truyền viên do Huyện uỷ tổ chức, hình thành kỹ năng xây dựng chương
trình hành động, và thực hiện các Nghị quyết Đảng. Không ngừng nâng cao bản
lĩnh chính trị, phẩm chất, lối sống, lương tâm của nhà giáo. Tích cực học tập nhằm
nâng cao trình độ về chuyên môn, năng lực quản lý, lãnh đạo.
- Có nhận thức đúng mức về thực hiện Nghị quyết của Đảng, xây dựng và
phát triển đội ngũ giáo viên có triển vọng; chú trọng việc bồi dưỡng cán bộ giáo
viên nguồn xây dựng đội ngũ giáo viên khối tổ trưởng có chuyên môn vững và để
tham mưu tích cực CBQL nhà trường và phòng giáo dục để hoàn thành tốt các chỉ
tiêu nhiệm vụ năm học.
98
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Ban Chấp hành TW Đảng, Hội nghị lần thứ Tám (2013), Nghị quyết số 29 -
NQ/TW về “đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu
công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”.
2. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2013), Kết luận số 84 về tiếp tục thực hiện
về phát triển giáo dục và Đào tạo, khoa học và công nghệ đáp ứng yêu cầu
thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
3. Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Kiến Thụy, Chương trình hành động của
Huyện uỷ về thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 của Ban
Chấp hành Trung ương Đảng (Khoá XI) về “đổi mới căn bản, toàn diện giáo
dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong điều
kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”.
4. Ban Chấp hành Đảng bộ huyện (2006), Nghị quyết số 05- NQ/HU "về phổ cập
bậc trung học và nghề" của huyện Kiến Thuỵ;
5. Ban Thường vụ Thành uỷ Hải Phòng (2009), Nghị quyết số 29- NQ/TU ngày
25/11/2009 "về xây dựng và phát triển huyện Kiến Thuỵ đến năm 2015, định
hướng đến năm 2020".
6. Ban Thường vụ Huyện uỷ Kiến Thụy (2014), Báo cáo sơ kết 5 năm thực hiện
Nghị quyết 29-NQ/TU ngày 25/11/2009 của Ban Thường vụ Thành uỷ về “xây
dựng và phát triển huyện Kiến Thụy đến năm 2015, định hướng đến năm
2020”.
7. Ban Tổ chức Huyện uỷ Kiến Thụy (2014), Báo cáo rà soát quy hoạch cán bộ
diện Ban Thường vụ Huyện uỷ quản lý.
8. Ban Tuyên giáo Trung ương (2013), Tài liệu Nghiên cứu Nghị quyết hội nghị
lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt nam Khoá XI,
Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia- Sự thật, Hà Nội.
99
9. Bộ Chính trị (2003), Nghị quyết số 32- NQ/TW ngày 05/8/2003 của Bộ Chính
trị "về xây dựng và phát triển thành phố Hải Phòng trong thời kỳ CNH-HĐH
đất nước".
10. Bộ Chính trị (2013), Kết luận số 72-KL/TW ngày 10/10/2013 về tiếp tục thực
hiện Nghị quyết số 32- NQ/TW ngày 05/8/2003 của Bộ Chính trị về xây dựng
và phát triển thành phố Hải Phòng trong thời kỳ CNH-HĐH đất nước.
11. Chi bộ Phòng giáo dục và Đào tạo (2015), Báo cáo tổng kết 5 năm (2010-
2015) thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện Kiến Thuỵ lần thứ XXIII
nhiệm kỳ 2010-2015
12. Chi bộ các trường trung học phổ thông, Trung tâm giáo dục thường xuyên và
nghề huyện Kiến Thuỵ (2014), Báo cáo kết quả năm học 2013-2014
13. Đảng bộ huyện Kiến Thuỵ (2009), Kiến Thụy xưa và nay.
14. Đảng bộ huyện Kiến Thuỵ (2010), Văn kiện Đại hội lần thứ XXIII, nhiệm Kỳ
2010-2015,
15. Đảng bộ huyện Kiến Thụy (2015), Dự thảo Văn kiện trình Đại hội lần thứ
XXIV nhiệm kỳ 2015-2020.
16. Đảng bộ huyện Kiến Thuỵ (2003), Lịch sử Đảng bộ huyện Kiến Thụy thành
phố Hải Phòng
17. Nguyễn Văn Hộ (2009), Chính sách và chiến lược giáo dục.
18. Hội Cựu giáo chức huyện Kiến Thuỵ thành phố Hải Phòng (2008), Báo cáo
Tổng kết nhiệm kỳ 2008-2013
19. Hội Khuyến học huyện Kiến Thụy (2014), Báo cáo Tổng kết năm 2014.
20. Huyện đoàn Kiến Thụy (2014), Báo cáo tổng kết công tác Đoàn và phong trào
thiếu nhi trường học năm 2014.
21. Hồ Chí Minh toàn tập (2002), Nxb. Chính trị quốc gia.
22. Phòng giáo dục đào tạo, Phòng Văn hoá thông tin, Huyện đoàn Kiến Thụy
(2014), Báo cáo kết quả hoạt động liên tịch.
23. Phạm Hồng Quang (2006), Môi trường giáo dục
24. Quốc hội nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Luật giáo dục (2005).
100
25. Thủ tướng Chính phủ (2012), Chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo 2011-
2020.
26. Nguyễn Thị Tính (2013), Những vấn đề cơ bản của quản lý giáo dục
27. Uỷ ban Nhân dân huyện Kiến Thuỵ, Chương trình hành động của thực hiện
Nghị quyết số 29
28. Uỷ ban Nhân dân huyện Kiến Thụy, Quy hoạch tổng thể phát triển KT-XH
huyện Kiến Thụy đến năm 2020.
29. Nguyễn Như Ý, Từ điển Tiếng Việt, Nhà xuất bản Giáo dục.
101
PHỤ LỤC
Mẫu số 1:
(70 phiếu)
PHIẾU KHẢO SÁT VỀ TRIỂN KHAI THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT SỐ 29
"Đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo"
(dành cho lãnh đạo tổ chức chính trị -xã hội, lãnh đạo quản lý giáo dục)
Để góp thu thập thông tin phục vụ đề tài: Đánh giá công tác triển khai Nghị
quyết số 29 về "đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu
công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế" trên địa bàn huyện Kiến Thuỵ Thành phố
Hải Phòng; rất mong nhận được các đồng chí bày tỏ ý kiến của mình về các nội
dung sau đây:
(Lựa chọn trả lời bằng cách đánh dấu “X” vào ô “ ” ở cột phương án
lựa chọn, kết hợp trả lời câu hỏi)
Phƣơng án chọn trả lời (đánh dấu x), Trả lời Câu hỏi khảo sát
1. Về tiếp cận nội dung Nghị quyết số 29-NQTW
□ Qua phương tiện thông tin đại chúng (báo,
đài, mạng điện tử…)
Câu 1. Đồng chí biết nội dung □ Qua cơ quan , đơn vị thông tin
Nghị quyết qua hình thức nào? □ Tự tìm hiểu
□ Hình thức khác:
…………………………………
□ Rất thuận lợi Câu 2. Theo đồng chí thì việc □ Thuận lợi tìm hiểu, nắm bắt về nội dung □ Chưa thuận lợi lắm Nghị quyết có thuận lợi không? □ Không thuận lợi
Câu 3. Đồng chí đánh giá như □ Rất tốt
thế nào về cơ sở vật chất, thiết bị □ Đảm bảo đáp ứng yêu cầu
phục vụ Hội nghị tuyên truyền, □ Chưa đáp ứng yêu cầu về chỗ ngồi
học tập Nghị quyết (giấy bút ghi □ Chưa đáp ứng yêu cầu về thiết bị phục vụ
chép, bàn, ghế, nước uống, quạt
mát…)
□ Đủ thời gian,
□ Thời gian ngắn
Câu 4. Về thời gian phổ biến, □ Lồng ghép với các nội dung khác khi triển
triển khai Nghị quyết? khai
□ Hời hợt chưa đảm bảo yêu cầu thời gian của
buổi triển khai, phổ biến
□ Trực tiếp nghe phổ biến tại cơ quan, đơn vị, thảo
Câu 5. Nếu được lựa chọn, Đồng luận
chí sẽ nắm bắt nội dung Nghị □ Tự nghiên cứu qua báo trí, Internet
quyết bằng hình thức nào sau □ Cơ quan, đơn vị cung cấp tài liệu, chương
đây? trình hành động để cá nhân nghiên cứu, tham
gia chương trình hành động
2. Về Hội nghị triển khai Nghị quyết
□ Đầy đủ
Câu 6. Theo đồng chí nội dung □ Tương đối đầy đủ thông tin để triển khai
của Nghị quyết được chuyển tải thực hiện
như thế nào □ Thiếu thông tin
□ Có thảo luận Câu 7. Hội nghị triển khai phổ □ Không thảo luận biến có tổ chức thảo luận không?
□ Có viết bài thu hoạch Câu 8. Hội nghị triển khai có tổ □ Không viết bài thu hoạch chức viết thu hoạch không?
3. Về cán bộ Tuyên truyền, phổ biến, học tập nghị quyết (Cán bộ triển khai)
□ Nhiệt tình, dễ hiểu, có liên hệ Câu 9. Thể hiện tuyên truyền, □ Bình thường, đạt yêu cầu phổ biến, triển khai như thế nào? □ Không rõ ràng, khó hiểu
.........................................................................
4. Về nhận thức nội dung Nghị .........................................................................
quyết .........................................................................
.........................................................................
Câu 10. Đồng chí có thể nêu ......................................................................... những thành công trong thời gian ......................................................................... qua của lĩnh vực giáo dục và đào ......................................................................... tạo
Câu 11. Đồng chí có thể nêu .........................................................................
những tồn tại hạn chế yếu kém .........................................................................
của lĩnh vực giáo dục mà đồng .........................................................................
chí nhớ .........................................................................
□ 7
□ 8 Câu 12. Nghị quyết số 29 nêu □ 9 mấy quan điểm chỉ đạo, có thể nêu ......................................................................... một số quan điểm đồng chí nhớ ......................................................................... (viết ô bên) .........................................................................
.........................................................................
□ 7 Câu 13. Nghị quyết nêu mấy □ 8 giải pháp để phát triển toàn diện □ 9 giáo dục và đào tạo, có thể nêu □ 10 những giải pháp đồng chí nhớ ( ......................................................................... viết ô bên) .........................................................................
.........................................................................
.........................................................................
.........................................................................
Câu 14. Theo đồng chí, để thực .........................................................................
hiện ở cơ sở, giải pháp nào được .........................................................................
quan tâm nhất .........................................................................
5. Đánh giá chung và lựa chọn giải pháp
□ Rất tốt,
Câu 15. Đồng chí vui lòng đánh □ Tốt, đảm bảo yêu cầu theo kế hoạch của
giá chung về mức độ triển khai huyện
nghị quyết số 29 tại cơ quan, đơn □ Bình Thường
vị, lĩnh vực công tác của mình □ Chưa quan tâm tới triển khai nghị quyết
Câu 16. Mức độ, tầm quan trọng □ Rất quan trọng,
của Nghị quyết số 29 trên địa bàn □ Quan trọng
huyện thời gian qua? □ Như một số nghị quyết khác
Mẫu phiếu số 2
(85 phiếu)
PHIẾU KHẢO SÁT VỀ TRIỂN KHAI THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT SỐ 29
"Đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo"
(Dành cho đội ngũ giáo viên các cấp học)
Để góp thu thập thông tin phục vụ đề tài: Đánh giá công tác triển khai Nghị
quyết số 29 về "đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu
công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế" trên địa bàn huyện Kiến Thuỵ Thành phố
Hải Phòng; rất mong nhận được các đồng chí bày tỏ ý kiến của mình về các nội
dung sau đây:
(Lựa chọn trả lời bằng cách đánh dấu “X” vào ô “□” ở cột phương án lựa
chọn, kết hợp trả lời câu hỏi)
Phƣơng án chọn trả lời Câu hỏi khảo sát (đánh dấu x), hoặc trả lời theo câu hỏi
1. Về tiếp cận nội dung Nghị quyết
□ Qua phương tiện thông tin đại chúng (báo, đài,
mạng điện tử…) Câu 1. Đồng chí biết nội dung □ Qua cơ quan , đơn vị thông tin Nghị quyết qua hình thức nào? □ Tự tìm hiểu
□ Hình thức khác: …………………………
□ Rất thuận lợi Câu 2. Theo đồng chí thì việc □ Thuận lợi tìm hiểu, nắm bắt về nội dung □ Chưa thuận lợi lắm Nghị quyết có thuận lợi không ? □ Không thuận lợi
Câu 3. Đồng chí đánh giá như □ Rất tốt
thế nào về cơ sở vật chất, thiết □ Đảm bảo đáp ứng yêu cầu
bị phục vụ Hội nghị tuyên □ Chưa đáp ứng yêu cầu về chỗ ngồi
truyền, học tập Nghị quyết (giấy □ Chưa đáp ứng yêu cầu về thiết bị phục vụ
bút ghi chép, bàn, ghế, nước
uống, quạt mát…)
□ Đủ thời gian,
Câu 4. Khi đi nghe phổ biến, □ Thời gian ngắn
triển khai Nghị quyết, Đồng chí □ Lồng ghép với các nội dung khác khi triển
thấy như thế nào về thời gian khai
phổ biến □ Hời hợt chưa đảm bảo yêu cầu thời gian của
buổi triển khai, phổ biến
□ Trực tiếp nghe phổ biến tại cơ quan, đơn vị, thảo
Câu 5. Nếu được lựa chọn, luận
Đồng chí sẽ nắm bắt nội dung □ Tự nghiên cứu qua báo trí, Internet
Nghị quyết bằng bằng hình thức □ Cơ quan, đơn vị cung cấp tài liệu, chương trình
nào sau đây? hành động để cá nhân nghiên cứu, tham gia
chương trình hành động
2. Về Hội nghị phổ biến Nghị quyết
□ Đầy đủ Câu 6. Theo đồng chí nội dung □ Tương đối đầy đủ thông tin để triển khai thực của Nghi quyết được chuyển tải hiện như thế nào? □ Thiếu thông tin
Câu 7. Hội nghị triển khai có tổ □ Có thảo luận
chức thảo luận không? □ Không thảo luận
Câu 8: Hội nghị triển khai có □ Có viết bài thu hoạch
viết bài thu hoạch không? □ Không viết bài thu hoạch
3. Về cán bộ Tuyên truyền, phổ biến học tập nghị quyết (Cán bộ triển khai)
□ Nhiệt tình, dễ hiểu, có liên hệ Câu 9. Báo cáo viên thể hiện □ Bình thường, thực hiện được triển khai như thế nào? □ Không rõ ràng, khó hiểu
4. Về nhận thức nội dung Nghị ...........................................................................
........................................................................... quyết
...........................................................................
...........................................................................
Câu 10: Đồng chí có thể nêu ...........................................................................
những thành công trong thời ...........................................................................
gian qua của lĩnh vực giáo dục ...........................................................................
và đào tạo ; ...........................................................................
Một số kết quả của nhà trường?
Câu 11: Đồng chí có thể nêu ........................................................................... những tồn tại hạn chế yếu kém ........................................................................... của lĩnh vực giáo dục mà đồng ........................................................................... chí nhớ? ........................................................................... Một số tồn tại của nhà trường
□ 7
Câu 12. Nghị quyết số 29 nêu □ 8
mấy quan điểm chỉ đạo, có thể □ 9
nêu mộ số quan điểm đồng chí ...........................................................................
nhớ (viết ô bên) ...........................................................................
...........................................................................
□ 7
□ 8 Câu 13. Nghị quyết nêu mấy □ 9 giải pháp để phát triển toàn diện □ 10 giáo dục và đào tạo, có thể viết ........................................................................... những giải pháp đồng chí nhớ ........................................................................... (viết ô bên) ...........................................................................
Câu 14. Theo đồng chí, để thực ...........................................................................
hiện ở cơ sở, giải pháp nào được ...........................................................................
quan tâm nhất. ...........................................................................
(nêu theo quan điểm cá nhân) ...........................................................................
Câu 15. Để đổi mới căn bản ...........................................................................
toàn diện giáo dục ở cơ sở đồng ...........................................................................
chí cần ưu tiên cho những công ...........................................................................
việc gì?
........................................................................... Câu 16: Theo đồng chí cần phải ........................................................................... triển khai như thế nào để đạt ........................................................................... hiệu quả cao.
5. Đánh giá chung và lựa chọn giải pháp
Câu 17. Đồng chí vui lòng đánh □ Rất tốt, giá chung về mức độ triển khai □ Tốt, đảm bảo yêu cầu theo kế hoạch của huyện Nghị quyết số 29 tại cơ quan, □ Bình Thường đơn vị, lĩnh vực công tác của □ Chưa quan tâm tới triển khai Nghị quyết mình
Câu 18. Mức độ, tầm quan □ Rất quan trọng,
trọng của Nghị quyết số 29 trên □ Quan trọng
địa bàn huyện thời gian qua. □ Như một số Nghị quyết khác
Mẫu phiếu số 3
(55 phiếu)
PHIẾU XIN Ý KIẾN Đánh giá nhận thức về tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp
Họ vè tên:...................................................................
Nghề nghiệp:..............................................................
Chức vụ, cơ quan công tác: ...................................
Độ tuổi:........................................Giới tính: .............
Để phục vụ nghiên cứu khoa học, chúng tôi trân trọng đề nghị đồng chí cho
biết ý kiến về mức độ cần thiết và mức độ khả thi của các biện pháp nhằm triển khai
hiệu quả Nghị quyết số 29 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng "về đổi mới căn
bản và toàn diện giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế" trên địa bàn huyện Kiến Thuỵ, Thành phố Hải Phòng; rất mong nhận
được các đồng chí bày tỏ ý kiến của mình về mức độ cần thiết, mức độ khả thi của
các biện pháp sau:
Mức độ cần thiết
Mức độ khả thi
STT
Các biện pháp
Khả thi
Không khả thi
Rất cần thiết
Cần thiết
Rất khả thi
Không cần thiết
1
2
3
4
5
6
Tăng cường sự lãnh đạo của Huyện ủy - Uỷ ban nhân dân huyện, cấp ủy và chính quyền các cấp, trong công tác triển khai Nghị quyết Nâng cao nhận thức và trách nhiệm của cấp uỷ xã, lãnh đạo các nhà trường trong thực hiện nghị quyết đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo Nâng cao chất lượng của đội ngũ cán bộ chủ chốt, đội ngũ báo cáo viên, lãnh đạo quản lý các nhà trường, cơ sở giáo dục Đổi mới về hình thức, phương pháp, phương tiện của công tác triển khai Nghị quyết Tăng cường phối hợp giữa tổ chức hội, cha mẹ học sinh, hội khuyến học, khuyến tài, các tổ chức đoàn thể trong công tác triển khai Nghị quyết đổi mới căn bản giáo dục Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất cho công tác giáo dục