BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
--------------
Phạm Anh Lý
Chuyên ngành : Lý luận và phương pháp dạy học môn Toán
Mã số
: 60 14 10
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. NGUYỄN THỊ NGA
Thành phố Hồ Chí Minh - 2012
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là một công trình nghiên cứu độc lập,những
trích dẫn nêu trong luận văn đều chính xác và trung thực.
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS. Nguyễn Thị Nga, người
đã nhiệt tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này.
Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn PGS.TS. Lê Thị Hoài Châu, PGS.TS. Lê Văn
Tiến, TS. Trần Lương Công Khanh, TS. Lê Thái Bảo Thiên Trung đã nhiệt tình
giảng dạy cho chúng tôi những kiến thức về didactic toán, cung cấp cho chúng tôi
những công cụ hiệu quả để thực hiện việc nghiên cứu.
Ngoài ra tôi cũng xin chân thành cảm ơn:
- Ban lãnh đạo và chuyên viên Phòng sau đại học Trường ĐHSP TP.HCM đã
tạo điều kiện thuận lợi cho chúng tôi trong suốt khóa học.
- Ban Giám hiệu cùng các thầy cô trong tổ toán Trường THCS Phường 1, thị
xã Gò Công – Tiền Giang đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi tiến hành thực nghiệm.
Xin được gửi lời cảm ơn chân thành đến tất cả các bạn cùng khóa, những
người đã cùng tôi chia sẻ những khó khăn trong suốt khóa học.
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến những người thân yêu trong
gia đình đã luôn động viên tôi hoàn thành khóa học.
PHẠM ANH LÝ
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
MỞ ĐẦU ..................................................................................................................... 1
1. Những ghi nhận ban đầu ..................................................................................... 1
2. Câu hỏi nghiên cứu ............................................................................................. 3
3. Phương pháp nghiên cứu và mục đích nghiên cứu ............................................. 3
3.1. Nghiên cứu thể chế ....................................................................................... 3
3.2. Đồ án sư phạm ............................................................................................. 4
4. Tổ chức của luận văn .......................................................................................... 5
Chương 1: TỔNG HỢP MỘT SỐ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VỀ MÔ HÌNH HÓA
TOÁN HỌC ................................................................................................... 6
1. Mô hình hóa toán học. Quá trình mô hình hóa toán học ..................................... 6
1.1. Mô hình hóa toán học ................................................................................... 6
1.2. Quá trình mô hình hóa toán học ................................................................... 9
1.3. Dạy học mô hình hóa và dạy học bằng mô hình hóa ................................. 11
2. Lợi ích của mô hình hóa trong dạy học toán ..................................................... 12
3. Những khó khăn và trở ngại của việc dạy học mô hình hóa toán học .............. 14
4. Sự quan tâm đến dạy học mô hình hóa toán học ở các nước và ở Việt Nam ... 15
4.1. Ở Pháp ........................................................................................................ 15
4.2. Ở một số nước khác ................................................................................... 15
4.3. Ở Việt Nam ................................................................................................ 17
Chương 2: HỆ PHƯƠNG TRÌNH TUYẾN TÍNH TRONG MỐI LIÊN HỆ VỚI MÔ
HÌNH HÓA TOÁN HỌC ............................................................................ 21
1. Ở bậc đại học ..................................................................................................... 22
1.1. Mô hình thu nhập quốc dân (Keynes) ........................................................ 24
1.2. Mô hình cân bằng thị trường ...................................................................... 25
1.3. Mô hình cân bằng kinh tế vĩ mô ................................................................ 27
1.4. Kết luận ...................................................................................................... 28
2. Ở bậc phổ thông ................................................................................................ 29
2.1. Hệ phương trình bậc nhất hai ẩn - giai đoạn công cụ ngầm ẩn .................. 29
2.2. Hệ phương trình bậc nhất hai ẩn - giai đoạn đối tượng và công cụ tường
minh ................................................................................................................... 33
2.2.1. Phân tích chương trình ........................................................................ 33
2.2.2. Phân tích sách giáo khoa ..................................................................... 34
2.2.3. Hệ phương trình bậc nhất hai ẩn trong SGK10................................... 46
2.3. Kết luận ...................................................................................................... 48
Chương 3: THỰC NGHIỆM (ĐỒ ÁN DẠY HỌC) ................................................. 52
1. Mục đích thực nghiệm....................................................................................... 52
2. Nội dung thực nghiệm ....................................................................................... 53
2.1. Giới thiệu các tình huống thực nghiệm ...................................................... 53
2.2 Dàn dựng kịch bản ...................................................................................... 55
3. Đối tượng thực nghiệm ..................................................................................... 57
4. Phân tích tiên nghiệm ........................................................................................ 57
4.1. Biến và giá trị của chúng ............................................................................ 57
4.2. Chiến lược và cái có thể quan sát được, ảnh hưởng của biến .................... 59
4.2.1. Phiếu số 1 ............................................................................................ 59
4.2.2. Phiếu số 2 và phiếu số 3 ...................................................................... 59
4.2.3. Phiếu số 4 ............................................................................................ 64
4.2.4. Phiếu số 5 ............................................................................................ 64
4.3. Phân tích kịch bản ...................................................................................... 66
5. Phân tích hậu nghiệm ........................................................................................ 68
5.1. Ghi nhận tổng quát ..................................................................................... 68
5.2. Phân tích chi tiết kết quả thực nghiệm ....................................................... 69
5.2.1. Pha 1 .................................................................................................... 69
5.2.2. Pha 2 và pha 3: Tiếp cận và sử dụng hệ phương trình ........................ 70
5.2.3. Pha 4: Thể chế hóa .............................................................................. 77
5.2.4. Pha 5 và pha 6: Vận dụng ................................................................... 79
6. Kết luận ............................................................................................................. 83
KẾT LUẬN ............................................................................................................... 85
TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................................................... 88
PHỤ LỤC 1: ĐỒ ÁN ................................................................................................ 90
PHỤ LỤC 2: MỘT SỐ BÀI LÀM CỦA HỌC SINH............................................... 94
PHỤ LỤC 3: Protocole ........................................................................................... 101
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BTĐS10 : Bài tập Đại số 10 cơ bản.
HS : Học sinh.
GV : Giáo viên.
PTTT : Phương trình tuyến tính.
SGK : Sách giáo khoa.
SGK4 : Sách giáo khoa toán lớp 4.
SGK5 : Sách giáo khoa toán lớp 5.
SGK8 : Sách giáo khoa toán lớp 8.
SGK9 : Sách giáo khoa toán lớp 9 tập 2.
SGK10 : Sách giáo khoa Đại số 10 cơ bản.
SGK10NC : Sách giáo khoa Đại số 10 nâng cao.
SGV : Sách giáo viên.
SGV9 : Sách giáo viên toán lớp 9 tập 2.
SGV10 : Sách giáo viên Đại số 10 cơ bản.
THCS : Trung học cơ sở.
THPT : Trung học phổ thông.
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1. Giá trị các biến được lựa chọn trong tình huống ....................................... 58
Bảng 2. Thống kê số nhóm giải theo chiến lược ..................................................... 68
Bảng 3. Thống kê kết quả pha 1 .............................................................................. 69
Bảng 4. Thống kê chiến lược giải các nhóm trong pha 2 và pha 3 ......................... 70
Bảng 5. Thống kê kết quả pha 5 .............................................................................. 79
1
MỞ ĐẦU
1. Những ghi nhận ban đầu
Trong chương trình toán phổ thông, hệ phương trình bậc nhất hai ẩn là một
chủ đề quan trọng xuyên suốt từ bậc tiểu học đến bậc trung học. Nó không chỉ xuất
hiện trong chương trình môn toán mà còn hiện diện như một công cụ trong nhiều
môn học khác và trong thực tiễn cuộc sống. Ngoài ra, hệ phương trình tuyến tính
cũng là một chủ đề quan trọng trong chương trình toán cao cấp ở bậc đại học.
Những ghi nhận này thúc đẩy chúng tôi đi tìm hiểu việc dạy và học tri thức hệ
phương trình tuyến tính.
Ngày nay, mục đích lớn nhất của việc dạy học toán là phải mang lại cho học
sinh những kiến thức phổ thông, những kỹ năng cơ bản để bước vào cuộc sống sau
này. Ngoài ra, đa số học sinh phổ thông sau này không phải là người làm toán mà là
người sử dụng toán cho nên việc dạy học toán cần phải chuẩn bị cho học sinh khả
năng áp dụng kiến thức linh hoạt vào thực tiễn cuộc sống, hình thành và nâng cao
năng lực tự học của học sinh. Để đạt được mục đích này, việc chú trọng vấn đề mô
hình hóa trong dạy học là thật sự cần thiết.
Chương trình đánh giá học sinh quốc tế PISA (Programme for International
Student Assessment) là chương trình hợp tác của các quốc gia thành viên của tổ
chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD – Organization for Economic
Cooperation and Development) đánh giá mức độ chuẩn bị của học sinh tuổi mười
lăm nhằm đáp ứng những thách thức của xã hội. Bắt đầu từ năm 1997, chương trình
PISA đánh giá theo chu kỳ ba năm một lần với quy mô toàn cầu, hiện đã có trên 70
quốc gia và nền kinh tế tham gia. Chương trình PISA đưa ra cho học sinh những
vấn đề được đặt trong các tình huống lấy từ thực tế cuộc sống và được xây dựng sao
cho toán học giải quyết các vấn đề đó. Mục tiêu của điều tra PISA là xác định trong
chừng mực nào học sinh có khả năng khai thác các tri thức và kĩ năng toán học của
họ để giải quyết các vấn đề được đặt ra. Chương trình này không chỉ đánh giá kiến
2
thức mà còn xem xét những khả năng, kĩ năng cần thiết của học sinh trong độ tuổi
mười lăm trong việc áp dụng kinh nghiệm và kiến thức của mình vào giải quyết các
vấn đề thực tế. Dưới đây là một ví dụ đã được PISA đưa ra đánh giá: Bài toán “Đèn
“Hội đồng thành phố quyết định dựng một cây đèn đường trong một công viên nhỏ hình tam giác sao cho nó chiếu sáng toàn bộ công viên.
Người ta nên đặt nó ở đâu?”
đường”.
[The Pisa (2003); tr.26]
Chương trình PISA làm nổi bật vai trò của mô hình hóa trong toán học cũng
như trong các khoa học khác.
Từ ghi nhận về tầm quan trọng của mô hình hóa trong dạy học và vai trò
công cụ của hệ phương trình tuyến tính trong việc giải quyết các bài toán thực tế,
chúng tôi xác định chủ đề nghiên cứu của mình là dạy học hệ phương trình tuyến
tính trong mối liên hệ với mô hình hóa toán học.
Về vấn đề mô hình hóa trong chương trình toán trung học Việt Nam, nghiên
“Vấn đề dạy học mô hình hóa không hề được đề cập trong chương trình và sách giáo khoa ở Việt Nam. Sách giáo khoa chỉ đưa vào các bài tập áp dụng kiến thức toán để giải quyết một số vấn đề thực tế. Trong các bài tập, những mô hình toán học (…) được cung cấp trong đề bài và thực tế đã được mô hình hóa chỉ là cái cớ để làm việc toán học trong mô hình đã được xác định rõ.”
cứu của tác giả Nguyễn Thị Nga (2011) đã đưa ra kết luận như sau:
Theo tác giả này, việc dạy học mô hình hóa ở Việt Nam và Pháp thực sự đặt ra một
“Như vậy, thực sự tồn tại một vấn đề dạy học: hoặc người ta tránh dạy học mô hình hóa bằng cách xây dựng mối quan hệ giữa toán học và các môn khoa học khác như mối quan hệ ứng dụng (Việt Nam), hoặc người ta khuyến khích sự quan tâm đến mô hình hóa nhưng không cung cấp cho giáo viên những phương tiện để dạy học nó (Pháp)”. [Nguyễn Thị Nga (2011); tr.318]
vấn đề:
Liên quan đến hệ phương trình tuyến tính bậc nhất hai ẩn, chúng tôi có ghi
nhận việc trình bày của sách giáo khoa lớp 9 về tri thức này như sau: Nêu bài toán
thực tiễn→Trình bày định nghĩa hệ phương trình bậc nhất hai ẩn → Trình bày các
cách giải hệ phương trình bậc nhất hai ẩn → Củng cố bằng cách giải các hệ phương
3
trình, các bài toán thực tiễn. Bài toán thực tiễn ban đầu được đưa vào chỉ nhằm mục
đích dẫn dắt vào bài học. SGK9 đưa vào định nghĩa hệ phương trình trực tiếp bằng
ngôn ngữ toán học, tách rời với bài toán thực tiễn ban đầu. Các bài toán thực tiễn
khác chỉ được giải quyết sau khi các kiến thức về hệ phương trình đã được trình
bày. Như vậy, ở đây, mối liên hệ giữa toán học và vấn đề thực tiễn là mối quan hệ
ứng dụng. Câu hỏi cần thiết đặt ra là liệu có thể đưa vào hệ phương trình tuyến tính
bậc nhất hai ẩn trong mối liên hệ với mô hình hóa hay không?
2. Câu hỏi nghiên cứu
Những ghi nhận trên dẫn chúng tôi đến việc đặt ra một số câu hỏi ban đầu
để định hướng cho nghiên cứu như sau:
1) Hệ phương trình tuyến tính và sự mô hình hóa toán học bởi hệ phương
trình tuyến tính được trình bày như thế nào ở bậc đại học? Chúng nhằm giải
quyết những vấn đề gì?
2) Việc nghiên cứu hệ phương trình tuyến tính bậc nhất hai ẩn được thể hiện
như thế nào trong chương trình toán ở bậc phổ thông? Có sự chênh lệch nào
giữa tri thức toán học và tri thức cần giảng dạy về đối tượng hệ phương trình
tuyến tính bậc nhất hai ẩn? Việc dạy học tri thức này có mối liên hệ nào với
việc mô hình hóa toán học?
3) Liệu có thể tổ chức dạy học hệ phương trình tuyến tính bậc nhất hai ẩn
bằng mô hình hóa trong đó có tính đến các điều kiện và ràng buộc của thể
chế?
3. Phương pháp nghiên cứu và mục đích nghiên cứu
3.1. Nghiên cứu thể chế
Chúng tôi thực hiện nghiên cứu này nhằm trả lời các câu hỏi 1 và 2.
Để nghiên cứu thể chế chúng tôi dựa vào lý thuyết nhân chủng học. Lý
thuyết này nghiên cứu và chỉ ra tầm quan trọng của mối quan hệ thể chế với đối
4
tượng tri thức; đưa vào khái niệm tổ chức toán học để làm rõ đặc trưng của mối
quan hệ thể chế với đối tượng tri thức đã chọn.
Phân tích các kiểu nhiệm vụ liên quan đến hệ phương trình tuyến tính và các
tổ chức toán học liên quan giúp chúng tôi làm rõ mối quan hệ thể chế với đối tượng
tri thức này và lý do của các lựa chọn của thể chế. Chúng tôi nghiên cứu thể chế dạy
học hệ phương trình tuyến tính trong mối liên hệ với mô hình hóa ở bậc đại học làm
tham chiếu cho thể chế dạy học ở bậc phổ thông. Việc nghiên cứu đồng thời hai thể
chế và so sánh chúng với nhau giúp chúng tôi hiểu rõ ràng buộc thể chế đối với đối
tượng hệ phương trình tuyến tính ở bậc phổ thông.
Ngoài ra khái niệm hợp đồng sư phạm giúp chúng tôi tìm hiểu ứng xử của
giáo viên và học sinh: có những quy tắc ngầm ẩn nào liên quan đến việc dạy học hệ
phương trình tuyến tính được hình thành giữa họ?
Chúng tôi cụ thể hóa các câu hỏi 1 và 2 như sau:
CH1: Trong thể chế dạy học ở bậc đại học, hệ phương trình tuyến tính được trình
bày như thế nào? Vai trò công cụ của hệ phương trình tuyến tính là gì? Việc mô
hình hóa bằng hệ phương trình tuyến tính cho phép giải quyết những vấn đề thực
tiễn nào?
CH2: Trong thể chế dạy học ở bậc phổ thông, hệ phương trình tuyến tính bậc nhất
hai ẩn xuất hiện ngầm ẩn, tường minh khi nào? Có sự tiến triển nào qua các giai
đoạn? Việc dạy học các bài toán thực tiễn gắn liền với hệ phương trình tuyến tính
được trình bày như thế nào trong chương trình phổ thông? Việc dạy học mô hình
hóa, dạy học bằng mô hình hóa hệ phương trình tuyến tính được quan tâm như thế
nào và có những đặc trưng, ràng buộc gì?
3.2. Đồ án sư phạm
Dựa vào khái niệm đồ án dạy học trong lý thuyết tình huống kết hợp với lý
thuyết mô hình hóa chúng tôi sẽ xây dựng một tình huống dạy học hệ phương trình
tuyến tính bậc nhất hai ẩn bằng mô hình hóa. Tình huống này được xây dựng theo
các ràng buộc thể chế.
5
Có thể trình bày phương pháp luận nghiên cứu theo sơ đồ:
NGHIÊN CỨU TRI THỨC KHOA HỌC Thể chế dạy học bậc đại học
NGHIÊN CỨU TRI THỨC CẦN GIẢNG DẠY Thể chế dạy học PT ở Việt Nam
GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU
NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM ĐỒ ÁN DẠY HỌC
4. Tổ chức của luận văn
Luận văn bao gồm phần mở đầu, phần kết luận và các chương sau:
Chương 1: Tổng hợp một số kết quả nghiên cứu về mô hình hóa toán học.
Trong chương này chúng tôi trình bày hai phần:
- Các khái niệm chung về mô hình hóa toán học.
- Tổng hợp một số kết quả nghiên cứu về mô hình hóa.
Chương 2: Hệ phương trình tuyến tính trong mối liên hệ với mô hình hóa toán học.
Trong chương này chúng tôi sẽ phân tích hai thể chế (thể chế dạy học ở bậc đại học
và thể chế dạy học phổ thông) để làm rõ các đặc trưng của việc dạy học hệ phương
trình tuyến tính trong mối liên hệ với mô hình hóa. Cụ thể, kiểu nhiệm vụ “Giải bài
toán thực tế bằng cách lập hệ phương trình” sẽ được xem xét trong cả hai thể chế để
so sánh các đặc trưng, ràng buộc của chúng.
Chương 3: Thực nghiệm (Đồ án dạy học).
Trong chương này chúng tôi xây dựng, thực nghiệm và phân tích tình huống
dạy học hệ phương trình bậc nhất hai ẩn bằng mô hình hóa.
6
Chương 1:
TỔNG HỢP MỘT SỐ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
VỀ MÔ HÌNH HÓA TOÁN HỌC
1. Mô hình hóa toán học. Quá trình mô hình hóa toán học
1.1. Mô hình hóa toán học
Trong ba thập kỷ qua, các nhà nghiên cứu nhấn mạnh tầm quan trọng và thảo
luận về vai trò của mô hình toán học và các ứng dụng trong toán học giảng dạy và
học tập (Pollak, 1970; Blum Niss năm 1991; Lesh & Doerr, 2003). Henry Pollak
(1970) ghi nhận rằng truyền thống toán học giảng dạy nên chuyển từ việc hiểu “Đây
là một bài toán, giải quyết bài toán” hoặc “Đây là một định lý, chứng minh điều
đó", sang việc hiểu "Ở đây là một tình huống, suy nghĩ về nó”. Ông cũng chỉ ra rằng
có một nhu cầu mạnh mẽ để cho phép sinh viên khám phá một tình huống có vấn
đề, đặt ra các giả thuyết và tìm hiểu các công cụ thích hợp hoặc định lý họ cần sử
dụng để giải quyết tình hình trong thế giới thực dựa trên tình huống đó.
Ngày nay, mô hình hóa được hầu hết mọi người ưa chuộng, giải quyết vấn
đề, hoạt động học tập và các hoạt động khác, liên kết toán học với các đối tượng
khác, có thể đóng góp phần nào trong việc hướng tới ý nghĩa của việc học tập và
“Theo Từ điển bách khoa toàn thư, mô hình hóa là sự chuyển đổi trừu tượng một thực tiễn cụ thể nhằm mục đích mô tả thế giới trực giác hay thế giới đã được quan niệm hóa bằng ngôn ngữ tự nhiên. Sự chuyển đổi này được đặt dưới sự kiểm tra của tư duy lôgic hay tư duy toán học. Nói cách khác, mô hình hóa toán học là sự giải thích toán học cho một hệ thống ngoài toán học nhằm trả lời cho những câu hỏi mà người ta đặt ra trên hệ thống này.”
giảng dạy toán học.
[Quách Huỳnh Hạnh (2009); tr.8]
Mô hình toán học có thể được thể hiện thông qua đồ thị, bảng biểu, phương
trình, hệ thống các phương trình…
7
Mô hình hóa toán học có vai trò hết sức quan trọng, ứng dụng trong nhiều
lĩnh vực khác nhau của khoa học và cuộc sống. Những tình huống được mô hình
hóa có tình huống trong toán học và cả tình huống ngoài toán học.
Một số ví dụ về mô hình toán học:
+ Trong sinh học: Mô hình về sự phát triển của dân số. Một mô hình đơn giản cho
bài toán này là mô hình phát triển Malthus, là một mô hình mô tả sự tăng trưởng
của dân số theo hàm mũ dựa trên sự bất biến của tỉ lệ của hệ số phức. Mô hình này
được đặt theo tên của Thomas Malthus. Mô hình này xác định bởi công thức:
P(t) = P0er.t
Với P0: Số dân ban đầu (Initial Population); r: tỉ lệ tăng trưởng, t: thời gian.
Tuy nhiên, theo Joel E. Cohen thì sự đơn giản của mô hình đưa ra chỉ hữu ích cho
việc dự đoán trong khoảng thời gian ngắn, và không tốt nếu áp dụng cho khoảng
thời gian 10 hay 20 năm hoặc lâu hơn. Để khắc phục yếu điểm này Pierre Francois
Verhulst đã phát triển mô hình hàm logistic (logistic function) vào năm 1838.
+ Trong kinh tế: Mô hình mô tả hành vi (có lí trí) của một khách hàng. Khách
hàng mong muốn mua nhiều nhất các mặt hàng trong số tiền hiện có. Trong mô
hình này, ta xem xét trường hợp một khách hàng phải lựa chọn để mua trong số n
mặt hàng được đánh nhãn 1,2,...,n, mỗi thứ có giá là p1, p2,..., pn. Giả thiết rằng
khách hàng có một hàm tiện ích U với mục đích là gán một giá trị (tương ứng cho
số lượng) với mỗi mặt hàng mà khách hàng định mua x1, x2,..., xn. Mô hình còn giả
thiết là khách hàng sở hữu số tiền giá trị M dùng để mua các mặt hàng và mục đích
là cực đại U(x1, x2,..., xn). Bài toán cần giải quyết về mô hình hành vi của khách
max
,
,...,
)
( U x x 1 2
x n
n
hàng trở thành bài toán tối ưu hóa, nghĩa là:
p x M i i
≤∑
= 1
i
≥ ∀ ∈
0,
i
thỏa mãn:
} n
ix
{ 1, 2,...,
8
Mô hình này được sử dụng trong lý thuyết cân bằng chung, đặc biệt dùng để chứng
minh sự tồn tại và tối ưu hóa Pareto của cân bằng kinh tế. Tuy nhiên, việc sử dụng
mô hình này gán giá trị số để phân mức thỏa mãn của khách hàng vẫn là vấn đề
tranh cãi.
+ Trong vật lí: Mô hình biểu diễn cho một hạt (phần tử) trong trường-điện thế
(potential-field). Trong mô hình này, một phần tử được xem là một khối điểm m với quĩ đạo của nó được mô hình bởi hàm x: R → R3, với tọa độ của nó trong không gian là một hàm theo thời gian. Trường-điện thế được cho bởi hàm V: R3 → R và
2
= −
m
( ) x t
quĩ đạo là nghiệm của phương trình sai phân:
(
)
( ( ) grad V x t
)
2
d dt
Chú ý mô hình này lấy giả thiết phần tử là một khối điểm, điều mà không đúng
trong nhiều trường hợp, ví dụ: mô hình cho chuyển động của hành tinh.
+ Trong cơ học cổ điển: Mô hình dao động của dây, của màng; mô hình chuyển
động của tên lửa; mô hình chuyển động của tàu ngầm... Một dạng đặc biệt của dao
động có chu kỳ chiếm vị trí quan trọng trong thực tế là dao động điều hòa. Về mặt
động học dao động điều hòa được miêu tả bởi hệ thức:
q = Asin(kt + α)
Ở đây: q là toạ độ của điểm dao động tính từ vị trí trung bình của nó (chọn làm gốc
toạ độ); A là toạ độ của q ứng với độ lệch lớn nhất của điểm về một phía và được
gọi là biên độ dao động; (kt + α) là argument của sin gọi là pha dao động; α là pha
ban đầu; k là tần số vòng (riêng) của dao động. Tần số riêng k liên quan với chu kỳ
=
k
rad s
/
(
)
π 2 T
T bởi hệ thức:
=
f
T 1 = T π 2
Số lần dao động trong một đơn vị thời gian được tính theo công thức:
9
1.2. Quá trình mô hình hóa toán học
Quá trình mô hình hóa vấn đề thực tiễn được thực hiện theo sơ đồ sau: (Theo
Nguyễn Thị Nga (2011))
Sơ đồ này chia quá trình mô hình hóa thành 4 bước: (Tham khảo Nguyễn Thị Nga
(2011))
- Bước 1: Chuyển hệ thống ngoài toán học thành một mô hình trung gian.
Xây dựng mô hình định tính của vấn đề, tức là xác định các yếu tố có ý nghĩa quan
trọng nhất và xác lập những quy luật mà chúng phải tuân theo. Mô hình trung gian
giữa tình huống ngoài toán học và mô hình toán học cần xây dựng biểu thị một cấp
độ trừu tượng hóa đầu tiên của “thực tiễn”. Mô hình này tiến triển từ từ qua việc mô
hình hóa: một mô hình trung gian có thể gần về ngữ nghĩa ít hoặc nhiều hơn so với
tình huống thực tế được xem xét hoặc so với mô hình toán học cần xây dựng.
- Bước 2: Chuyển mô hình trung gian thành mô hình toán học, tức là diễn tả
lại dưới dạng ngôn ngữ toán học cho mô hình định tính. Khi có mô hình trung gian
ta chọn các biến đặc trưng cho các yếu tố của tình huống đang xét. Từ đó dẫn đến
việc lập mô hình toán học thiết lập mối quan hệ giữa các biến số và các tham số của
tình huống. Như vậy mô hình hóa toán học là trừu tượng hóa dưới dạng ngôn ngữ
toán học của hiện tượng thực tế, cần phải được xây dựng sao cho việc phân tích nó
cho phép ta hiểu được bản chất của hiện tượng.
10
- Bước 3: Hoạt động toán học trong mô hình toán học. Sử dụng các công cụ
toán học để khảo sát và giải quyết mô hình toán học hình thành ở bước thứ hai. Căn
cứ vào mô hình đã xây dựng cần phải chọn hoặc xây dựng phương pháp giải cho
phù hợp.
- Bước 4: Phân tích và kiểm định lại các kết quả thu được trong bước ba. Trở
lại tình huống được nghiên cứu để chuyển câu trả lời của vấn đề toán học thành câu
trả lời của những câu hỏi ban đầu và đối chiếu chúng với thực tiễn được mô hình
hóa.
Trong bước này có hai khả năng:
* Khả năng 1: Mô hình và các kết quả tính toán phù hợp với thực tế.
* Khả năng 2: Mô hình và các kết quả tính toán không phù hợp với thực tế. Khi đó
cần xem xét các nguyên nhân sau:
- Tính chính xác của lời giải toán học, thuật toán, quy trình.
- Mô hình định tính đã xây dựng chưa phản ánh đầy đủ vấn đề đang xét.
- Tính thỏa đáng của mô hình toán học đang xây dựng.
- Các số liệu ban đầu không phản ánh đúng thực tế.
Có thể phải thực hiện lại quy trình cho đến khi tìm mô hình toán học thích hợp cho
tình huống đang xét.
Ngoài ra theo Coulange (1998), bước 1 chuyển bài toán thực tiễn thành bài
toán phỏng thực tiễn như là tiến hành mô tả các vấn đề bản chất của một hệ thống,
tình huống cần giải quyết để đưa vào một bài toán phỏng thực tiễn bằng cách loại
bỏ những chi tiết không quan trọng làm cho bài toán có nội dung thực tiễn trở nên
dễ hiểu và dễ nắm bắt hơn. Từ đó, xác định các yếu tố, khía cạnh cốt lõi của hệ
thống rút ra những mối liên hệ, điều kiện, ràng buộc liên quan đến các yếu tố cốt lõi
của hệ thống.
Những bước của quy trình mô hình hóa trên chỉ có ý nghĩa với tình huống
thực tế thực sự, còn đối với những tình huống trong dạy – học toán ở trường phổ
thông chỉ là những tình huống nhân tạo liên quan đến một số chủ đề toán học. Quá
11
trình mô hình hóa chỉ chủ yếu thực hiện bước 2, bước 3 và quá trình mô hình hóa
dừng lại khi chu kỳ chỉ có một.
1.3. Dạy học mô hình hóa và dạy học bằng mô hình hóa
Theo Lê Thị Hoài Châu (2011) “Để nâng cao năng lực hiểu biết toán1 cho
học sinh, không thể coi nhẹ việc dạy học cách thức xây dựng mô hình toán học để
giải quyết một vấn đề nào đó do thực tiễn đặt ra”. Mô hình hóa toán học không thể
thiếu trong việc nâng cao năng lực hiểu biết của học sinh, do đó việc áp dụng mô
hình hóa vào dạy – học toán ở trường phổ thông là rất cần thiết. Việc giảng dạy toán
ở trường phổ thông thường có thể theo hai tiến trình sau (Tham khảo Lê Văn Tiến
“…, dạy học mô hình hoá là dạy học cách thức xây dựng mô hình toán học của thực tiễn, nhắm tới trả lời cho những câu hỏi, vấn đề nảy sinh từ thực tiễn.
…, quy trình daïy hoïc coù theå là: Dạy học tri thức toán học lí thuyết → Vận dụng các tri thức này vào việc giải các bài toán thực tiễn và do đó vào việc xây dựng mô hình của thực tiễn.
Quy trình này làm mất đi vai trò động cơ của các bài toán thực tiễn và do đó làm mất đi nguồn gốc thực tiễn của các tri thức toán học: tri thức toán học không còn nảy sinh từ nhu cầu giải quyết các bài toán thực tiễn.
Quan niệm “Dạy học bằng mô hình hoá” cho phép khắc phục khiếm khuyết này. Theo quan niệm này, vấn đề là dạy học toán thông qua dạy học mô hình hoá. Như vậy, tri thức toán học cần giảng dạy sẽ nảy sinh qua quá trình giải quyết các bài toán thức tiễn. Quy trình dạy học tương ứng có thể là:
Bài toán thực tiễn → Xây dựng mô hình toán học → Câu trả lời cho bài toán thực tiễn→ Tri thức cần giảng dạy → Vận dụng tri thức này vào giải các bài toán thực tiễn.”
(2005)):
[Lê Văn Tiến (2005); tr.171-172]
Tiến trình dạy học bằng mô hình hoá đã khắc phục được khuyết điểm của
tiến trình dạy học mô hình hoá và giúp học sinh nâng cao khả năng vận dụng toán
sống, đưa ra những phán xét có cơ sở và gắn kết với toán học theo những cách khác nhau nhằm đáp ứng nhu
cầu cuộc sống của cá nhân đó với tư cách là một công dân có tinh thần xây dựng, biết quan tâm và biết phản
ánh.” (xem [2]).
1 “Hiểu biết toán là năng lực của một cá nhân, cho phép xác định và hiểu vai trò của toán học trong cuộc
12
học vào cuộc sống hằng ngày. Điều này rất cần thiết trong dạy – học toán ở trường
phổ thông hiện nay. Việc tăng cường dạy toán thông qua dạy học bằng mô hình hóa
giúp học sinh có khả năng áp dụng nhiều hơn vào các môn học khác (mô hình toán
học cũng được sử dụng nhiều trong các môn vật lý, hóa học, sinh học,…) cũng như
cuộc sống hằng ngày.
2. Lợi ích của mô hình hóa trong dạy học toán
Hiện nay, nhiều chương trình giáo dục mong muốn nâng cao năng lực hiểu
biết toán học cho học sinh và khả năng ứng dụng toán học vào cuộc sống. Từ năm
1997 chương trình đánh giá quốc tế PISA ra đời chú trọng đánh giá khả năng sử
dụng các kiến thức đã học vào thực tế và năng lực xử lý các tình huống mà các học
sinh có thể sẽ đối mặt trong cuộc sống sau khi rời ghế nhà trường. Điều này cho
thấy vai trò của mô hình hóa trong dạy – học toán ngày càng được chú trọng.
Mô hình hóa cho phép làm rõ lợi ích của toán học, giúp phát triển ở học sinh
khả năng phê phán đối với việc giải quyết các vấn đề trong cuộc sống thực tiễn,
chuẩn bị cho họ những kiến thức và kỹ năng cần thiết cho hoạt động nghề nghiệp đa
dạng sau này và nối liền toán học với các môn học khác.
Theo W.Blum (1993), gần đây trong dạy – học toán đã có một xu hướng thay
đổi, đó là xu hướng nhấn mạnh quá trình chuyển đổi về mô hình toán học (bước 1
và bước 2: quá trình “dịch” tình huống ban đầu về mô hình toán học). Ngày nay, có
nhiều lý do khác nhau để ứng dụng mô hình hóa trong giảng dạy toán. W.Blum
(1993) đã đề cập đến bốn lý do chính sau đây:
- Toán học được thiết kế để giúp học sinh hiểu và đối phó với tình huống và
các vấn đề của thế giới thực.
- Học sinh cần được học các chủ đề toán học như là một nguồn cho sự phản
ánh, hoặc để tạo ra một hình ảnh toàn diện và cân bằng của toán học như một khoa
học và một phần của lịch sử và văn hóa của con người.
- Chúng ta hy vọng học sinh có được trình độ chung (chẳng hạn như khả
năng để giải quyết vấn đề) hoặc thái độ (chẳng hạn như sự cởi mở đối với những
13
tình huống mới). Mô hình hóa là một trong những cách quan trọng để phát triển các
vấn đề này.
- Nội dung toán học có thể thúc đẩy hoặc củng cố bằng các ví dụ mô hình
hóa phù hợp, và có thể góp phần hướng tới sự hiểu biết sâu sắc hơn và duy trì lâu
hơn các chủ đề toán học, hoặc nó có thể cải thiện thái độ của học sinh đối với toán
học.
Theo quan điểm của Barbosa (2002), mô hình hóa như là một môi trường
học tập thuận lợi để tìm hiểu các lĩnh vực khác của kiến thức thông qua toán học
“Mô hình hóa là một môi trường học tập mà học sinh được mời đến để tìm hiểu và /
hoặc điều tra, bằng phương tiện của toán học, những tình huống phát sinh trong
các lĩnh vực kiến thức khác.”
Lợi ích của mô hình hóa trong dạy học toán thật rõ ràng và ngày càng được
rất nhiều người quan tâm đến. Theo Aslan Doosti & Alireza M.Ashtiani, việc ứng
“• Các học sinh quan tâm trong một hoạt động như mô hình hóa toán học nhiều hơn so với học tập các bối cảnh, giải quyết một số vấn đề, và tìm hiểu làm thế nào để giải quyết một phương trình. […]
• Các học sinh tìm hiểu làm thế nào để kết nối với các tình huống khác, đặc biệt là các tình huống vật lý, trong thực tế học sinh sẽ cảm thấy được chuẩn bị nhiều cho việc sử dụng của toán học trong các lĩnh vực khác;
• Việc học tập sẽ có một ý nghĩa thực sự, nói cách khác, nó trở nên dễ dàng kết nối với các tình huống và các vấn đề khác;
• Hầu hết các học sinh dễ nhớ một vấn đề mô hình hóa mà họ đã dành nhiều thời gian so với một phương trình toán học;
• Việc này có thể xảy ra ở bất kỳ mức độ giáo dục, tiểu học và giáo dục trung học; […]”
dụng mô hình hóa trong dạy học toán có những ưu điểm sau:
Tuy nhiên, trong giáo dục toán học ở các nước khác nhau có những mục tiêu
khác nhau và có những lý luận khác nhau cho việc tích hợp mô hình hóa với giảng
dạy toán học.
14
3. Những khó khăn và trở ngại của việc dạy học mô hình hóa toán học
Mặc dù mô hình hóa rất có ích trong việc tổ chức dạy học toán học ở trường
phổ thông nhưng cũng có không ít trở ngại, theo Werner Blum (1993) và Aslan
Doosti & Alireza M.Ashtiani thì có các trở ngại sau:
- Những trở ngại từ quan điểm của giáo viên. Lựa chọn các vấn đề để thảo luận
trong lớp học không phải là đơn giản, trong thực tế đó là nghệ thuật của giáo viên.
Một tình huống thực tế thực sự hay một tình huống nhân tạo ở mức độ mô hình hóa
như thế nào? Tình huống như thế nào là phù hợp, đủ cho việc giảng dạy? Điều này
đòi hỏi giáo viên phải đầu tư rất nhiều và những cái họ có trong tay phải được cập
nhật và phải được điều chỉnh phù hợp cho từng lớp học, ngoài ra cũng đòi hỏi khả
năng quản lý tình hình mở trong lớp học của giáo viên.
- Những trở ngại từ quan điểm của học sinh. Mô hình hoá làm cho bài học và các kỳ
thi toán học được yêu cầu cao hơn và khó dự đoán hơn. Các học sinh không muốn
thử nghiệm một phương pháp tiếp cận mới. Vì vậy, giáo viên cần thiết phải chọn
được một vấn đề hoặc tình huống hay, kích thích tính tò mò của học sinh.
Từ hai trở ngại trên chúng tôi thấy, việc thiết kế những tình huống dạy học
mô hình hóa và dạy học bằng mô hình hóa để chuyển giao cho giáo viên áp dụng
vào thực tế dạy học là một việc làm thực sự cần thiết. Việc thiết kế này đòi hỏi phải
được thực hiện theo một phương pháp luận chặt chẽ và phải được thực nghiệm kiểm
chứng (nghiên cứu tri thức luận và nghiên cứu thực tiễn dạy học).
- Những trở ngại từ quan điểm dạy và đánh giá. Mô hình hoá đòi hỏi mất nhiều thời
gian hơn so với các phương pháp truyền thống. Mô hình hoá thật khó khăn để đánh
giá, và những gì không kiểm tra sẽ không được thực hiện nghiêm túc bởi các học
sinh hoặc giáo viên.
Trở ngại này cho thấy để tạo ra “vùng sống” cho mô hình hóa trong dạy học
ở trường phổ thông, cần thiết phải thay đổi cách kiểm tra, đánh giá. Nếu kiểm tra,
đánh giá chỉ dựa trên việc đánh giá kiến thức toán học của học sinh thì việc dạy học
mô hình hóa sẽ khó được thực hiện bởi ảnh hưởng của tư tưởng “học để thi”. Ngược
15
lại, nếu các đề thi, đề kiểm tra tập trung vào việc kiểm tra khả năng mô hình hóa
toán học của học sinh (khả năng áp dụng toán học vào giải quyết các vấn đề thực
tiễn, khả năng xây dựng mô hình toán học,…) thì mô hình hóa sẽ có “đất sống”
trong dạy học toán ở trường phổ thông.
4. Sự quan tâm đến dạy học mô hình hóa toán học ở các nước và ở Việt Nam
4.1. Ở Pháp
Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Nga (2011), tương tự như nhiều nước
khác, thể chế Pháp mong muốn đưa mô hình hóa vào dạy học toán và các môn học
“Trong luật về định hướng và chương trình cho tương lai của trường học (23/05/2005), liên quan đến phạm vi văn hóa khoa học và công nghệ, việc thực hành một “phương pháp tiếp cận khoa học” được yêu cầu như một năng lực của học sinh. Phương pháp đó được mô tả như sau:
- Biết quan sát, đặt câu hỏi, trình bày một giả thuyết và hợp thức hóa nó, tranh luận, mô hình hóa theo cách cơ bản;
- Hiểu sự liên hệ giữa các hiện tượng tự nhiên và ngôn ngữ toán học được áp dụng ở đó và hỗ trợ mô tả các hiện tượng này.”
khác.
[Nguyễn Thị Nga (2011); tr.315]
Tài liệu kèm theo chương trình lớp Terminale2 S, ES đã đưa vào tường minh những
“Ở cấp độ THPT, chúng ta hướng dẫn bước đầu cho học sinh việc mô hình hóa nhờ vào một số tình huống thực tế mà chúng ta cố ý làm đơn giản hóa đến mức tối đa và vì vậy đối với chúng, mô hình thô đã được thiết lập trở nên sáng sủa hoặc cho phép đưa ra một dự đoán: khó khăn lúc đó là việc giữ lại nghĩa và sự nhất quán cho vấn đề được đơn giản hóa.”
chỉ dẫn về việc giảng dạy mô hình hóa ở THPT:
[Nguyễn Thị Nga (2011); tr.316]
4.2. Ở một số nước khác
Phần này được trích từ Werner Blum (1993) - Mathematical modelling in
mathematics education and instruction, Mathematics Department, Kassel
2 Tương đương lớp 12 của Việt Nam
16
University, Germany. Ở các nước, có nhiều tài liệu về dạy học bằng mô hình hóa và
dạy học mô hình hóa được chính thức phát hành ở tất cả các cấp độ từ tiểu học đến
“Ở Úc
- Hai tập tài liệu của Carr và Galbraith (1987, 1991) từ các dự án PAM, với các ví dụ chi tiết và các bài giảng dạy cho các cấp độ thấp hơn trung học, bao gồm một loạt các đối tượng trong và ngoài toán học.
- Hai cuốn sách của Lovitt và Clarke (1988), một bộ sưu tập các ví dụ chi tiết cho các cấp độ thấp hơn trung học, hướng tới hoạt động của học sinh.
- Hai cuốn sách của Lowe (1988, 1991), với rất nhiều ví dụ chi tiết cho lớp 7- 12, bao gồm một loạt các đối tượng, chủ yếu là đề cập đến máy tính như một công cụ.
- Ở Úc, cũng có nhiều nỗ lực hướng tới phương thức đánh giá mới cho chương trình giảng dạy theo định hướng mô hình hóa (xem Clatworthy và Galbraith, 1991).
trung học phổ thông và đại học.
Ở Hà Lan
- Các Viện Freudenthal (trước năm 1991 được gọi là OW & OC) tại Đại học Utrecht đã phát triển rất nhiều tài liệu, bao gồm cả sách giáo khoa, cho tất cả các lớp ở trường tiểu học (các dự án Wiskobas Treffers et al), trung học phổ thông (các dự án Hewet de Lange et al ), và gần đây cho cấp thấp hơn trung học. Nhiều loại tài liệu cũng đã được xuất bản bằng tiếng Anh, đặc biệt là trong kết nối với các dự án Madison (xem de Lange, 1992). Tất cả các tài liệu được cấu trúc theo chủ đề toán học, và các ví dụ mô hình hóa nhằm hỗ trợ việc học toán học.
Ở Anh
- Một số tập tài liệu Toán thông qua dự án giải quyết vấn đề, phát triển tại Trung tâm Shell Giáo dục toán học tại Đại học Nottingham (liên quan đến Burkhardt et al).
- Toán học với doanh nghiệp từ Trung tâm Sáng tạo trong giảng dạy Toán tại đại học Exeter (Burghes et al). […]
- Một loạt các tập tài liệu cho các cấp độ A-Tập đoàn Spode (1992), với các ví dụ chi tiết để sử dụng trực tiếp trong lớp học.
Ở Mỹ
- Hai các cuốn sách có rất nhiều ví dụ mô hình từ Hiệp hội Toán học và ứng dụng của nó (liên quan đến Garfunkel, Aragon, Malkevitch et al) Modules HIMAP (1985-1992) cho cấp trung học và các Modules UMAP (1981- 1992) cấp độ đại học và trung học phổ thông.
17
- Cuốn sách viết bởi Garfunkel Steen (1991), giới thiệu các ứng dụng toán học trong thực tế gần đây, đặc biệt là kết nối với máy tính, phù hợp với cấp trung học và đại học, với một số chủ đề toán học như được nêu ra bên ngoài chương trình dạy học hiện nay.
- Một loạt các sách giáo khoa theo định hướng ứng dụng (1989-1992) của trường Đại học Chicago School Toán dự án (liên quan đến Usiskin, Bell et al), bao gồm số học, đại số, hình học, thống kê, vi tích phân và toán học rời rạc.
- Từ NCTM giới thiệu toán học cao đẳng (1988), được phát triển bởi Trường Khoa học và Toán học Bắc Carolina (Teague et ai), và một cuốn sách bởi Swetz và Hartzler (1991) với các ví dụ mô hình cho cấp trung học, định hướng hoạt động của sinh viên.
Ở Đức
- MUED dự án (MatheInatik-Unterrichtseinheiten-Datei liên quan đến Boer, Volk et al) đã phát triển một số bài giảng dạy chi tiết toàn cầu nhằm tăng khả năng làm việc thành thạo của học sinh trong các tình huống thực tế.
- Một số dự án tại các thỏa thuận cấp độ đại học với thực tế sử dụng của toán học trong ngành công nghiệp và sử dụng chúng trong việc đào tạo các nhà toán học hoặc giáo viên toán học trong tương lai. Một ví dụ là nghiên cứu trong trường hợp của Knauer (1992).”
Như vậy vấn đề dạy học mô hình hóa và dạy học bằng mô hình hóa đã được
nhiều nước quan tâm, ứng dụng vào dạy học toán. Đặc biệt, các tài liệu hỗ trợ dạy
học mô hình hóa với các tình huống cụ thể đã được soạn thảo để cung cấp cho giáo
viên sử dụng. Điều này là thực sự có ý nghĩa để tạo “vùng sống” cho dạy học mô
hình hóa vì nó khắc phục được các trở ngại đã nêu ra ở phần trên.
Ở Việt Nam, vấn đề dạy học mô hình hóa và dạy học bằng mô hình hóa được
quan tâm ở mức độ nào? Nó có những đặc trưng gì?
4.3. Ở Việt Nam
Trong các năm gần đây, việc áp dụng toán học để giải quyết các vấn đề của
thực tiễn và của các môn khoa học khác khá được quan tâm trong chương trình và
sách giáo khoa toán của Việt Nam.
“Quan điểm tăng tính thực tiễn, tính sư phạm được thể hiện rõ nét trong chương trình 2002, tạo điều kiện để học sinh được tăng cường luyện tập, thực hành, rèn
Chẳng hạn, chương trình toán lớp 9 nêu rõ:
18
luyện kỹ năng tính toán và vận dụng kiến thức toán học vào đời sống và vào các môn học khác.”
[SGV9; tr.8-9]
Tương tự, chương trình môn toán ở trung học phổ thông (THPT) cũng nhấn mạnh
“Chương trình được xây dựng và phát triển theo các quan điểm sau:
[…]
+ Lựa chọn các kiến thức toán học cơ bản, cập nhật, thiết thực, có hệ thống, theo hướng tinh giản, phù hợp với trình độ nhận thức của học sinh, thể hiện tính liên môn và tích hợp các nội dung giáo dục, thể hiện vai trò công cụ của môn toán.
+ Tăng cường thực hành và vận dụng, thực hiện dạy học toán gắn liền với thực tiễn.
quan điểm này như sau :
“Mục tiêu đầu tiên của chương trình cần đạt được là ý nghĩa, ứng dụng của các kiến thức toán học vào đời sống, vào việc phục vụ các môn học khác.”
[…] [Trích chương trình THPT môn Toán, 2006]
[Trích chương trình Đại số và Giải tích 11, 2006]
Như vậy, sự liên môn, gắn liền với vai trò công cụ của toán học, đã được đề
cập tường minh trong chương trình trung học. Tuy nhiên, theo nghiên cứu của
Nguyễn Thị Nga (2011), vấn đề dạy học mô hình hóa không được quan tâm ở Việt
“Vấn đề dạy học mô hình hóa không hề được đặt ra trong khi soạn thảo chương trình và sách giáo khoa ở Việt Nam. Chúng tôi chỉ tìm thấy dấu vết của sự mô hình hóa trong việc ứng dụng các kiến thức toán học vào một số vấn đề nảy sinh từ thực tế. Trong sách giáo khoa toán THPT, các bài tập loại này rất hiếm và thường được đặt trong phần bài đọc thêm hoặc ở phần đầu một số chương với vai trò dẫn dắt đến kiến thức mới.”
Nam.
[Nguyễn Thị Nga (2011); tr.315]
Thật vậy, ở Việt Nam, chúng tôi chưa tìm thấy tài liệu chính thức nào về mô
hình hóa cũng như tài liệu hướng dẫn dạy học mô hình hóa và dạy học bằng mô
hình hóa. Các tình huống dạy học mô hình hóa và dạy học bằng mô hình hóa còn
thiếu vắng thật sự.
19
Chúng tôi chỉ tìm thấy vấn đề này trong một số nghiên cứu. Các nghiên cứu
này đều rút ra kết luận dạy học bằng mô hình hóa chưa được quan tâm ở Việt Nam.
Trong phần sau, chúng tôi sẽ điểm qua một số kết luận của các nghiên cứu này về
việc dạy học mô hình hóa một số chủ đề cụ thể ở Việt Nam.
Chủ đề Xác suất thống kê
Nghiên cứu của Quách Huỳnh Hạnh (2009) về thống kê, một lĩnh vực mà mô
“Căn cứ vào đặc trưng của bốn bước trong quá trình mô hình hóa toán học, chúng tôi nhận thấy với tất cả các kiểu nhiệm vụ xuất hiện ở cả SGK13 và SGK24 thì kỹ thuật dùng để giải quyết đều chỉ mới dừng lại ở bước thứ ba, tức là sử dụng kiến thức toán học để giải quyết bài toán đã có sẵn. Học sinh không hề được đặt trước yêu cầu thực hiện bước chuyển từ hệ thống hay tình huống ngoài toán học vào trong mô hình toán học, đồng thời cũng không có yêu cầu kiểm tra tính thỏa đáng của những kết quả có được.”
hình hóa có môi trường “sống” rất tốt đã kết luận như sau:
[Quách Huỳnh Hạnh (2009); tr.42]
Chủ đề Hàm số
Trong nghiên cứu của Nguyễn Thị Hồng Cúc (2010) - Dạy học mô hình hóa
hàm số thông qua bài toán tính diện tích trong môi trường tích hợp phần mềm
“… năm bước của quá trình mô hình hoá có được thể chế quan tâm. Nhưng thực tế cho thấy nó bị xem nhẹ và không là mục tiêu nhắm đến của chương, chúng chỉ mang nặng tính hình thức. Tham chiếu với năm bước của quá trình mô hình hoá 1 bài toán thực phỏng thực tế, ta thấy:
Bước 1: Những bài toán thực tế được đưa ra chỉ là những bài toán toán học hoặc phỏng thực tế nên bước 1 không có điều kiện xuất hiện.
Bước 2: Việc chuyển từ bài toán phỏng thực tế sang bài toán toán học (hàm số bậc hai) chỉ mang tính hình thức.
Bước 3: Việc giải bài toán toán học được chú trọng đến cả chi tiết tiến trình giải lẫn kết quả. Trong khi chỉ cần kết quả đúng để cung cấp cho bài toán phỏng thực tế.
Cabri II Plus, tác giả có kết luận:
4 Đoàn Quỳnh (2008), “Đại số 10 nâng cao”, NXB giáo dục
3 Phan Đức Chính (2008), “Toán 7 – tập 2”, NXB giáo dục
20
Bước 4: Khâu chuyển từ kết quả của bài toán toán học sang bài toán phỏng thực tế thường chỉ mang tính hình thức: kết quả đa phần là trùng nhau. Bài toán phỏng thực tế bao giờ cũng có nghiệm.
Bước 5: Không có điều kiện xuất hiện.”
[Nguyễn Thị Hồng Cúc (2010); tr.20-21]
Đặc biệt hơn với khái niệm hàm số tuần hoàn, một lĩnh vực mà mô hình hóa
toán học có môi trường tốt để tồn tại nhưng theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Nga
“…, việc dạy học mô hình hóa, đặc biệt là mô hình hóa các hiện tượng tuần hoàn thu hẹp thành dạy học sử dụng các mô hình. Đặc biệt, nếu hàm số thuộc vào mô hình thì nó sẽ được trình bày trong đề bài ngay khi giới thiệu thực tế cần mô hình hóa.”
(2011) thì vấn đề dạy học mô hình hóa cũng không được đề cập.
[Nguyễn Thị Nga (2011); tr.16]
Từ kết quả của những nghiên cứu trên, chúng tôi nhận thấy vấn đề dạy học bằng mô
hình hóa không được đề cập đến trong dạy học toán ở Việt Nam. Vấn đề dạy học
mô hình hóa cũng chưa được quan tâm đầy đủ và còn rất hạn chế. Trong khuôn khổ
của luận văn này chúng tôi tìm hiểu việc dạy học hệ phương trình tuyến trong mối
liên hệ với mô hình hóa toán học trong thể chế dạy học đại học và thể chế dạy học
phổ thông để làm rõ các đặc trưng ràng buộc của từng thể chế với vấn đề này.
21
Chương 2:
HỆ PHƯƠNG TRÌNH TUYẾN TÍNH TRONG MỐI LIÊN HỆ
VỚI MÔ HÌNH HÓA TOÁN HỌC
Mục tiêu của chương
Khái niệm hệ phương trình tuyến tính đã được nghiên cứu trong một số luận
văn Thạc sỹ chuyên ngành Didactic Toán trước đây, chẳng hạn như luận văn của tác
giả Nguyễn Thùy Trang (2006) - Algorit và tham số trong dạy- học phương trình ở
trường trung học phổ thông. Trường hợp: hệ phương trình bậc nhất nhiều ẩn hay
luận văn của Trần Thị Mỹ Dung (2008) - Nghiên cứu thực hành của giáo viên trong
dạy học hệ phương trình tuyến tính ở lớp 10.
Trong những luận văn này, các tác giả đã nghiên cứu sự xuất hiện và vai trò
của hệ phương trình tuyến tính trong các giáo trình đại học cũng như các tổ chức
toán học xoay quanh khái niệm này. Tương tự, vết của các tổ chức toán học này
trong chương trình toán ở bậc phổ thông cũng đã được làm rõ. Vì vậy, trong nghiên
cứu này, chúng tôi sẽ không lặp lại một sự phân tích mối quan hệ thể chế với khái
niệm hệ phương trình tuyến tính mà chỉ tập trung vào nghiên cứu việc dạy học hệ
phương trình tuyến tính trong mối liên hệ với mô hình hóa toán học. Điều này thể
hiện rõ nét qua việc tập trung nghiên cứu kiểu nhiệm vụ Giải bài toán thực tế bằng
cách lập hệ phương trình tuyến tính.
Vấn đề Giải bài toán bằng cách lập hệ phương trình tuyến tính cũng đã được
đề cập trong luận văn của Nguyễn Thị Minh Vân (2012). Tuy nhiên, tác giả nghiên
cứu nó trong sự liên hệ với giải toán bằng cách lập phương trình để chỉ ra các quy
tắc hợp đồng gắn liền với nó mà chưa sử dụng cách tiếp cận dạy học mô hình hóa,
đặc biệt là chưa đối chiếu việc dạy học kiểu nhiệm vụ này với các bước của quá
trình mô hình hóa toán học.
Việc tham khảo các luận văn trên chưa cho phép chúng tôi trả lời các câu hỏi
đặt ra ban đầu và đòi hỏi chúng tôi phải tiến hành nghiên cứu một số giáo trình đại
22
học và sách giáo khoa toán ở phổ thông theo cách tiếp cận mô hình hóa toán học để
tìm câu trả lời cho chúng. Cụ thể, chúng tôi nhắc lại các câu hỏi đó như sau:
CH1: Trong thể chế dạy học ở bậc đại học, hệ phương trình tuyến tính được trình
bày như thế nào? Vai trò công cụ của hệ phương trình tuyến tính là gì? Việc mô
hình hóa bằng hệ phương trình tuyến tính cho phép giải quyết những vấn đề thực
tiễn nào?
CH2: Trong thể chế dạy học ở bậc phổ thông, hệ phương trình tuyến tính bậc nhất
hai ẩn xuất hiện ngầm ẩn, tường minh khi nào? Có sự tiến triển nào qua các giai
đoạn? Việc dạy học các bài toán thực tiễn gắn liền với hệ phương trình tuyến tính
được trình bày như thế nào trong chương trình phổ thông? Việc dạy học mô hình
hóa, dạy học bằng mô hình hóa hệ phương trình tuyến tính được quan tâm như thế
nào và có những đặc trưng, ràng buộc gì?
Câu trả lời cho những câu hỏi này sẽ được làm rõ trong những phân tích dưới
đây của chúng tôi. Trong thể chế dạy học ở bậc đại học, hệ phương trình tuyến tính
được trình bày trong hai loại giáo trình chính: giáo trình về Toán lý thuyết và giáo
trình về Toán ứng dụng. Trong luận văn này chúng tôi quan tâm đến các tài liệu về
Toán ứng dụng.
1. Ở bậc đại học
Tác giả Trần Thị Mỹ Dung (2008) đã chỉ ra trong các giáo trình đại học (về
Toán lý thuyết) hai kiểu nhiệm vụ thường gặp trong hình học mà ở đó hệ phương
trình tuyến tính đóng vai trò công cụ.
23
Đưa về hệ PTTT
Sự tương giao các phẳng
Tvt: Biểu thị tuyến tính một vectơ qua một hệ hữu hạn các vectơ PTTT
T2p: Xét vị trí tương đối của 2 cái phẳng
T∩2p : “Tìm giao của các phẳng có phương trình cho trước”
Theo tác giả, đây cũng là hai kiểu nhiệm vụ được nghiên cứu trong chương
trình môn toán ở trường phổ thông. Vai trò công cụ của hệ phương trình tuyến tính
“Khi xét hệ PTTT với tư cách một công cụ toán học, ta thấy một hệ PTTT lại có thể dùng để biểu diễn cho một phẳng hoặc giao của các phẳng (trường hợp đặc biệt là siêu phẳng). Chính điều đó đã mở rộng giá trị công cụ của hệ PTTT vào việc giải các bài toán liên quan đến sự tương giao của các phẳng (vốn khó hoặc không thể giải quyết bằng các công cụ của hình học (trực quan) trong không gian từ 3 chiều trở lên).”
được nhấn mạnh qua hai kiểu nhiệm vụ này:
[Trần Thị Mỹ Dung (2008); tr.21]
Chúng ta thấy rằng các bài toán thuộc các kiểu nhiệm vụ trên đều là các bài
toán toán học thuần túy. Việc xây dựng một mô hình toán học là hệ phương trình
tuyến tính cho phép giải quyết tốt các vấn đề đó. Câu hỏi đặt ra là liệu hệ phương
trình tuyến tính cho phép giải quyết những vấn đề ngoài toán học nào?
Câu hỏi này khiến chúng tôi đặc biệt quan tâm đến kiểu nhiệm vụ Giải bài
toán thực tế bằng cách lập hệ phương trình tuyến tính. Xem xét các giáo trình đại
học mà các tác giả luận văn trước đây đã nghiên cứu về hệ phương trình tuyến tính
thì kiểu nhiệm vụ này hoàn toàn vắng bóng. Chúng tôi cũng nhận được kết quả này
khi xem xét các giáo trình Toán cao cấp hoặc Đại số tuyến tính dành cho các trường
24
Đại học Sư phạm và Đại học khoa học tự nhiên. Đặc biệt, kiểu nhiệm vụ này chỉ
xuất hiện duy nhất trong các giáo trình Toán cao cấp dành cho sinh viên kinh tế.
Vì vậy, trong phần này, chúng tôi sẽ chọn phân tích một số giáo trình Toán
cao cấp dành cho sinh viên kinh tế sau đây:
- Trương Lâm Đông (2007), Toán cao cấp – Phần 1: Đại số tuyến tính (cho
sinh viên các ngành kinh tế), Tài liệu lưu hành nội bộ trường đại học kinh tế. (I)
- Nguyễn Huy Hoàng (2010), Toán cao cấp – Tập 1: Đại số tuyến tính (dùng
cho sinh viên các ngành kinh tế và quản trị kinh doanh), NXB Giáo dục. (II)
Trong các giáo trình này, sau khi trình bày các khái niệm liên quan đến hệ
phương trình tuyến tính như ma trận, định thức,…, lý thuyết về hệ phương trình
tuyến tính (bao gồm các cách định nghĩa hệ phương trình tuyến tính và kỹ thuật
giải) được đưa vào tương tự như các giáo trình Đại số tuyến tính khác. Điểm đặc
biệt trong các giáo trình này là sự xuất hiện của một mục chuyên biệt dành cho sinh
viên kinh tế: Một số mô hình tuyến tính trong phân tích kinh tế. Trong phần này,
một số mô hình kinh tế sau được đề cập đến.
1.1. Mô hình thu nhập quốc dân (Keynes)
“Mô hình này gồm hai phương trình: C = a + b.Y
(2.4)
(2.5)
Và điều kiện cân bằng Y = C + I0 + G0.
Trong đó:
- Y: tổng thu nhập quốc dân; C: chi phí tiêu dùng của xã hội.
- I0: tổng chi phí đầu tư; G0: chi tiêu của chính phủ.
- a, b là các tham số.
Điều kiện các tham số:
- Nếu tổng thu nhập quốc dân Y = 0 thì xã hội vẫn tiêu dùng nên a > 0.
- Khi thu nhập quốc dân Y tăng thì chi tiêu C cũng tăng nên b > 0; mặt khác chi phí tiêu dùng của xã hội không thể vượt quá tổng thu nhập quốc dân nên b < 1. Vậy 0 < b < 1.
Mô hình này được trình bày trong (II) như sau:
25
Giải hệ gồm hai phương trình (2.4), (2.5) ta được giá trị cân bằng thu nhập quốc
+
+
=
(2.6)
dân
Y
a I G 0 0 −
1
b
+
+
)
=
(2.7)”
Và giá trị cân bằng của chi phí tiêu dùng
C
b
( a b I G 0 0 − 1
[Nguyễn Huy Hoàng (2010); tr.114-115]
Từ đó ta có: “ Khi b càng gần 1, từ phương trình (2.7) suy ra chi phí tiêu dùng cân
bằng của xã hội càng lớn, đồng thời từ (2.6) suy ra tổng thu nhập quốc dân cân
bằng Y cũng sẽ càng lớn. Điều này có ý nghĩa là: xã hội càng tiêu dùng nhiều bao
nhiêu thì càng kích thích sản xuất phát triển và tổng thu nhập quốc dân tăng lên
bấy nhiêu.” [Nguyễn Huy Hoàng (2010); tr.115]
Phần trích dẫn trên cho thấy, giáo trình (II) đã đưa ra ngay từ đầu mô hình
toán học của vấn đề và chỉ giải thích các biến, điều kiện của biến. Vấn đề tổng quát
xuất phát từ thực tiễn đã không được nêu ra. Tại sao lại cần thiết lập hệ phương
trình tuyến tính?
So với các bước của quá trình mô hình hóa thì bước 1 không có điều kiện
xuất hiện và bước 2 đã được thực hiện sẵn. Nhiệm vụ của sinh viên chỉ là thực hiện
bước 3 và 4 tức là giải hệ và trả lời câu hỏi đặt ra trong bài toán. Trong mô hình
tuyến tính được đề cập, chúng tôi nhận thấy có hai biến C và Y, hệ phương trình
đưa ra là hệ hai phương trình hai ẩn bậc nhất và đều giải quyết được (ở đây giáo
trình đã đưa ra nghiệm tổng quát của hệ). Với các điều kiện của tham số thỏa mãn
thì nghiệm tìm ra được chính là kết quả của bài toán. Vì vậy, bước 4 của quá trình
mô hình hóa cũng chỉ được thực hiện một cách hình thức. Tất cả các kết quả toán
học nhận được cũng chính là kết quả của bài toán kinh tế. Sinh viên không có trách
nhiệm phải chuyển câu trả lời của bài toán toán học về bài toán ban đầu.
1.2. Mô hình cân bằng thị trường
Mô hình này được trình bày trong (I), (II). Tương tự như mô hình thu nhập
quốc dân, các giáo trình này không giới thiệu một bài toán tổng quát trong kinh tế
mà đưa ra trực tiếp mô hình toán học.
26
Xét thị trường có n loại hàng hóa. Mỗi loại hàng hóa đều có nhiều loại hàng
“Các yếu tố được quan tâm:
- Lượng hàng hóa yêu cầu của loại hàng thứ i (hàm cầu): Qdi
- Lượng hàng hóa cung ứng của loại hàng thứ i (hàm cung): Qsi
- Đơn giá của loại hàng thứ i: Pi
Hàm cung và hàm cầu tuyến tính của thị trường n loại hàng hóa có dạng:
=
+
0
1 1
i
=
+
=
+ + ... + + ...
1, 2,...,
n
Q si Q di
a i b i
0
+ a P a P 2 2 i + b P b P 2 2 i
1 1
i
a P in n b P i ; in n
Mô hình cân bằng thị trường n hàng hóa được biểu diễn dưới dạng hệ phương = i trình tuyến tính:
1, 2,...,
n
Qsi = Qdi ;
Chuyển vế và đặt cik = aik – bik ta được hệ:
= −
+ + ... + + ...
c P n n 1 c P n n 2
c 10 = − c 20
(2.9)”
= −
+ + ...
n
c P nn n
c n
0
+ c P c P 11 1 12 2 + c P c P 21 1 22 2 .................. + c P c P n 1 1 2 2
hóa khác thay thế hoặc bổ sung.
[Trương Lâm Đông (2007); tr.78]
Giải hệ (2.9) chúng ta sẽ tính được giá cân bằng của n loại hàng hóa, từ đó
tính được lượng hàng cung, cầu cân bằng của n loại hàng hóa.
Mô hình này được đưa vào giống như các mô hình mà chúng tôi đã xét ở
trên. Các giáo trình đưa ra ngay các mô hình toán học của vấn đề kinh tế trong thực
tiễn. Mô hình này gồm n phương trình tuyến tính với n ẩn P1, P2, …, Pn. Giáo trình
có lưu ý “Lời giải chỉ có ý nghĩa kinh tế khi các thành phần của nghiệm phải dương
và khi thay những giá trị đó vào các hàm cung, hàm cầu, giá trị các hàm đó cũng
phải dương”.[ Nguyễn Huy Hoàng (2010); tr.121].
Như vậy, vấn đề kiểm nghiệm lại kết quả toán học để đưa ra câu trả lời cho
bài toán ban đầu đã được nhấn mạnh. Tuy nhiên, vì các phương trình tuyến tính đều
được cho sẵn nên nghiệm của chúng luôn thỏa mãn điều kiện dương và theo đó giá,
lượng hàng cung, lượng hàng cầu cũng dương. Vì sinh viên không có trách nhiệm
27
lập hệ phương trình tuyến tính nên việc xem xét lại kết quả toán học có phù hợp với
thực tế hay không để điều chỉnh lại mô hình toán học hoàn toàn không được đặt ra.
1.3. Mô hình cân bằng kinh tế vĩ mô
Mô hình này được trình bày trong (I), tương tự các mô hình trên, giáo trình
này không giới thiệu một bài toán tổng quát trong kinh tế mà đưa ra trực tiếp mô
“Trong kinh tế vĩ mô xét mô hình cân bằng dạng:
= +
>
a
0,0
< < b
với
(2.10)
+ I G 0 0 − a b Y T (
)
>
d
0,0
< < t
( (
) 1 ) 1
tY
Y c = + c = + T d
Với:- Y: Tổng thu nhập quốc dân.
- c: Tiêu dùng của cư dân.
- T: Thuế.
- I0: Mức đầu tư cố định theo kế hoạch.
- G0: Mức chi tiêu cố định của chính phủ.
hình toán học.
[Trương Lâm Đông (2007); tr.79-80]
Mô hình toán học cũng được đưa trước, sinh viên không được giới thiệu vấn
đề thực tế như thế nào và tại sao phải có những phương trình này. Mô hình toán học
thu được là một hệ ba phương trình ba ẩn Y, c, T. Hệ phương trình này luôn giải
được.
Ngoài ra trong (I) và (II) còn giới thiệu mô hình IS-LM và mô hình Input-
output. Mô hình IS-LM được dùng để phân tích trạng thái cân bằng của nền kinh tế
trong cả hai thị trường: thị trường hàng hóa và thị trường tiền tệ. Mô hình Input-
output là mô hình cân đối liên ngành, đề cập đến việc xác định mức tổng cầu đối
với sản phẩm của mỗi ngành sản xuất trong tổng thể nền kinh tế. Tuy hai mô hình
này có đề cập việc thiết lập mô hình tổng quát nhưng khá sơ sài, việc kiểm tra kết
quả là không cần thiết (bài toán đã cho sẵn dữ kiện cũng như kết quả thỏa yêu cầu).
28
Phần bài tập trong các giáo trình được cho giống như phần đã trình bày trong
lý thuyết: cho sẵn phương trình và các yếu tố đầu vào, sinh viên chỉ cần lập hệ như
“8. Xét thị trường có hai loại hàng hóa. Biết hàm cung, hàm cầu của hai loại hàng hóa là:
Qs1 = - 1 + 3P
Qd1 = 10 – 2P1 + 2P2
Qs2 = - 3 + 5P
Qd2 = 15 + P1 – 3P2
Tìm điểm cân bằng của thị trường.”
phần lý thuyết và giải hệ đó.
“4.9 Xét mô hình Input – Output mở gồm 3 ngành kinh tế với ma trận hệ số đầu vào là:
0, 2 0,3 0, 4
A
0,3 0, 2 0,1
0, 2 0,3 0,1
=
Và yêu cầu của ngành kinh tế mở đối với 3 ngành kinh tế trên là: 22, 98, 56.
Tìm mức sản lượng của 3 ngành kinh tế trên.”
[Trương Lâm Đông (2007); tr.88]
[Nguyễn Huy Hoàng (2010); tr.177-178]
Các bài tập trong các giáo trình đưa ra giống như các mô hình mà giáo trình
đưa ra trong lý thuyết, đều đưa về hệ phương trình tuyến tính và có lời giải thỏa
mãn yêu cầu đề bài.
Qua các mô hình đã trình bày chúng tôi có nhận xét:
Tình huống thực tế thực sự đã không được nêu ra, tất cả các mô hình kinh tế
đều đưa ra sẵn mô hình toán học, không được giải thích. Quá trình mô hình hóa
không được thực hiện đầy đủ. Sinh viên chỉ việc thực hiện bước 3 và bước 4: giải
hệ phương trình đã có và trả kết quả tìm được về yêu cầu bài toán. Điều này có thể
hiểu được do sinh viên năm nhất chưa được học về các kiến thức kinh tế, vì vậy tiếp
cận với các mô hình này là một khó khăn với sinh viên.
1.4. Kết luận
Qua phần trình bày trên chúng tôi đã tìm được câu trả lời cho câu hỏi 1. Từ
những ghi nhận trên chúng tôi có các kết luận:
29
Hệ phương trình tuyến tính thể hiện vai trò công cụ không chỉ trong toán học
mà còn trong nhiều lĩnh vực khoa học khác, đặc biệt là trong lĩnh vực kinh tế.
Trong các bài toán thuộc kiểu nhiệm vụ giải bài toán thực tế bằng cách lập hệ
phương trình trong các giáo trình đại học thì các mô hình toán học hầu hết được cho
sẵn, không được giải thích. Các công thức được liệt kê sẵn từ đó dẫn đến việc lập hệ
phương trình bậc nhất và giải. Mô hình toán học được cho trực tiếp mà không thông
qua một mô hình trung gian nào cả. Một lý do dẫn đến các giáo trình trình bày như
trên là do sinh viên năm nhất chưa được học các kiến thức về kinh tế, vì vậy, việc
lập luận để xây dựng các mô hình này là một khó khăn đối với sinh viên.
Qua các giáo trình tham khảo, chúng tôi nhận thấy rằng việc dạy học mô
hình hóa không được quan tâm đúng mức. Các giáo trình có quan tâm đến việc vận
dụng hệ phương trình tuyến tính để giải quyết một số vấn đề kinh tế còn việc dạy
học mô hình hóa đặc biệt là bước thiết lập mô hình toán học không được chú trọng.
Các mô hình hầu hết đã cho sẵn sinh viên chỉ chủ yếu thực hiện bước 3 (hoạt động
toán học). Việc kiểm tra đối chiếu kết quả toán học có phù hợp với thực tế được mô
hình hóa không thuộc trách nhiệm của sinh viên.
2. Ở bậc phổ thông
2.1. Hệ phương trình bậc nhất hai ẩn - giai đoạn công cụ ngầm ẩn
Trong chương trình tiểu học, phương trình chưa được chính thức đề cập đến
một cách tường minh. Dù vậy học sinh vẫn gặp các bài toán tìm x, một dạng
phương trình bậc nhất một ẩn. Học sinh tìm x theo các quy tắc về tìm một số hạng
trong các biểu thức tổng, hiệu, tích, thương. Trong lớp 4 học sinh gặp các biểu thức
“Nhận biết một số biểu thức chứa hai chữ đơn giản.
Biết tính giá trị của một số biểu thức đơn giản chứa hai chữ.”
chứa hai chữ đơn giản (a + b; a – b; a.b;…) với yêu cầu:
[SGV4; tr.81]
Việc tính giá trị các biểu thức này được cho cũng rất đơn giản, chẳng hạn như “Tính
giá trị của c + d nếu c = 10 và d = 25” [SGK4; tr.42].
30
Hệ phương trình bậc nhất hai ẩn xuất hiện ngầm ẩn trong bài toán “Tìm hai
số khi biết tổng và hiệu của hai số đó” năm lớp 4.
31
Bài toán: Tổng của hai số là 70. Hiệu của hai số đó là 10. Tìm hai số đó.
Cách thứ nhất:
?
Số lớn:
10
70
Số bé:
?
Bài giải Hai lần số bé là: 70 – 10 = 60 Số bé là: 60:2 = 30 Số lớn là: 30 + 10 = 40 Đáp số: Số lớn: 40; Số bé : 30.
Nhận xét: Số bé = (Tổng – Hiệu) : 2
Cách thứ hai:
?
Số lớn:
10
70
Số bé:
Bài giải Hai lần số lớn là: 70 + 10 = 80 Số lớn là: 80:2 = 40 Số bé là: 40 + 10 = 30 Đáp số: Số lớn: 40; Số bé : 30.
?
Nhận xét: Số lớn = (Tổng + Hiệu) : 2
[SGK4; tr.47]
Yêu cầu của SGV4 là giáo viên hướng dẫn học sinh tìm lời giải bằng sơ đồ
như trên. Thuật ngữ hệ phương trình và các kí hiệu ẩn số chưa được đưa vào. Tuy
nhiên, nếu đặt hai ẩn số tương ứng với hai số chưa biết trong bài toán là x, y chúng
x x
+ = y − = y
70 10
ta sẽ được một hệ phương trình bậc nhất hai ẩn . Có thể xem cách giải
mà SGK4 yêu cầu tương ứng ngầm ẩn với cách giải hệ phương trình bằng phương
pháp cộng đại số trong SGK9. Các sơ đồ đoạn thẳng ở đây có thể xem như một mô
hình trung gian để lập luận đi đến giải quyết bài toán. Thật vậy, mô hình trung gian
này cho phép chuyển bài toán ban đầu về một bài toán trực quan hơn, dẫn đến việc
lập luận sau đó để giải quyết bài toán dễ dàng hơn.
Ngoài các bài toán liên quan đến số tự nhiên, SGK4 cũng bắt đầu đưa vào
“Tuổi bố và tuổi con cộng lại được 58 tuổi. Bố hơn con 38 tuổi. Hỏi bố bao nhiêu tuổi, con bao nhiêu tuổi?
Hai phân xưởng làm được 1200 sản phẩm. Phân xưởng thứ nhất làm được ít hơn phân xưởng thứ hai 120 sản phẩm. Hỏi mỗi phân xưởng làm được bao nhiêu sản phẩm?
các bài toán dạng này có nội dung ngoài toán học.
32
Thu hoạch từ hai thửa ruộng được 5 tấn 2 tạ thóc. Thu hoạch ở thửa ruộng thứ nhất được nhiều hơn ở thửa ruộng thứ hai 8 tạ thóc. Hỏi thu hoạch ở mỗi thửa ruộng được bao nhiêu ki-lo-gam thóc?”
“Một thửa ruộng hình chữ nhật có chu vi 530m, chiều rộng kém chiều dài 47m. Tính diện tích thửa ruộng.”
[SGK4; tr.47-48]
[SGK4; tr.175]
Mặc dù các đại lượng của “thực tế” được đưa vào nhưng giả thiết luôn cho
biết tổng (qua thuật ngữ “cộng lại”, “hai”….) và hiệu (qua thuật ngữ “ít hơn”,
“nhiều hơn”, “kém”,..) của hai đại lượng cần tìm. Vì vậy, có thể thấy rằng việc đưa
về bài toán tìm hai số khi biết tổng và hiệu của chúng là khá dễ dàng. Công việc của
học sinh chỉ cần xác định đưa về bài toán tìm hai số, quy lạ về quen. Thật vậy, mục
tiêu của SGK4 khi đưa ra các bài toán này là “Giúp học sinh rèn kĩ năng giải bài
toán “Tìm hai số khi biết tổng và hiệu của hai số đó” ” [SGV4; tr310].
Số lượng bài tập của hai dạng toán này gần tương đương nhau (9 bài tập tìm
hai số và 10 bài tập có nội dung thực tế).
Đến cuối lớp 5 học sinh tiếp tục gặp lại các bài toán đưa về tổng hiệu của hai
“Một mảnh đất hình chữ nhật có chu vi 120m. Chiều dài hơn chiều rộng 10m. Tính diện tích mảnh đất đó.”
số, cách giải cũng không có gì khác so với lớp 4. Số lượng bài khá ít chỉ có ba bài.
“Một thửa ruộng hình thang có trung bình cộng hai đáy là 36m…. Biết hiệu hai đáy là 10m, tính độ dài mỗi cạnh đáy của hình thang.”
[SGK5; tr.170]
“Một tàu thủy khi xuôi dòng có vận tốc 28,4 km/giờ, khi ngược dòng có vận tốc 18,6 km/giờ. Tính vận tốc của tàu thủy khi nước lặng và vận tốc của dòng nước.”
[SGK5; tr.172]
[SGK5; tr.178]
Bài thứ nhất và thứ hai đòi hỏi học sinh phải xác định tổng, hiệu của hai số.
Trong bài toán thứ nhất học sinh chỉ cần biết cách tính chu vi của hình chữ nhật thì
33
sẽ chuyển giả thiết của bài toán về tổng của hai số. Bài toán thứ hai giả thiết cho
“trung bình cộng của hai đáy”, việc chuyển giả thiết này sang tổng của hai đáy cũng
không gây khó khăn nhiều cho học sinh. Với bài toán toán thứ ba, tổng hiệu của hai
số ngầm ẩn trong giả thiết “xuôi dòng, ngược dòng”. Việc hiểu vận tốc xuôi dòng là
tổng vận tốc tàu thủy và vận tốc dòng nước, vận tốc ngược dòng là hiệu vận tốc tàu
thủy và vận tốc dòng nước sẽ cho phép xác định tổng và hiệu hai số cần tìm. Với
việc “dịch” giả thiết bài toán về tổng, hiệu của hai số cần tìm học sinh sẽ đưa bài
toán về kiểu nhiệm vụ tìm hai số quen thuộc đã được biết ở lớp 4.
Như vậy hệ phương trình bậc nhất hai ẩn đã xuất hiện ngầm ẩn từ bậc tiểu học
với vai trò là một công cụ ngầm ẩn để giải quyết bài toán: “Tìm hai số khi biết tổng
và hiệu của hai số đó”. Việc giải các bài toán đó luôn được thực hiện với kỹ thuật vẽ
sơ đồ đoạn thẳng. Việc lập luận thể hiện việc áp dụng ngầm ẩn phương pháp cộng
đại số để giải hệ phương trình. Trong những bài toán thực tế luôn luôn định sẵn
tổng và hiệu của hai số (tường minh hoặc ngầm ẩn), học sinh chỉ cần xác định và
quy về quy trình đã biết để tìm lời giải và trả lại kết quả cho bài toán ban đầu.
2.2. Hệ phương trình bậc nhất hai ẩn - giai đoạn đối tượng và công cụ
tường minh
2.2.1. Phân tích chương trình
Một trong những nguyên tắc xây dựng chương trình THCS được đề cập
“Không quá coi trọng tính cấu trúc, tính chính xác của hệ thống kiến thức toán học trong chương trình; hạn chế đưa vào chương trình những kết quả có ý nghĩa lý thuyết thuần túy và các phép chứng minh dài dòng, phức tạp không phù hợp với đại đa số học sinh. Tăng tính thực tiễn và tính sư phạm, tạo điều kiện để học sinh được tăng cường luyện tập, thực hành, rèn luyện kỹ năng tính toán và vận dụng các kiến thức toán học vào đời sống và vào các môn học khác”
trong SGV9 như sau:
[SGV9; tr.3]
Như vậy, tính thực tiễn của môn học và vấn đề áp dụng toán vào giải quyết
các vấn đề của đời sống được tăng cường khi xây dựng chương trình. Rõ ràng quan
34
điểm của chương trình lớp 9 cũng muốn tăng khả năng hiểu biết toán học và khả
năng vận dụng toán học của học sinh vào cuộc sống. Chương trình giáo dục toán
học được cải cách từ năm 2002 (năm chính thức thực hiện) với mong muốn giảm
tính hàn lâm, tăng tính tích cực chủ động của học sinh và gắn liền toán học với thực
tế qua các bài toán thực tế. Mặc dù thuật ngữ “mô hình hóa” không được nhắc đến
nhưng với quan điểm này, chương trình tạo vùng sống cho vấn đề dạy học mô hình
hóa và dạy học bằng mô hình hóa. Tuy nhiên, việc dạy học các bài toán thực tế
trong chương trình có những đặc trưng gì? Quá trình mô hình hóa toán học có được
rèn luyện cho học sinh hay không?
Để tìm hiểu rõ hơn vấn đề đã nêu trên, chúng tôi sẽ phân tích chi tiết SGK để
làm rõ việc trình bày hệ phương trình bậc nhất hai ẩn trong mối liên hệ với mô hình
hóa như thế nào?
2.2.2. Phân tích sách giáo khoa
Như trên chúng tôi đã đề cập, khái niệm hệ phương trình tuyến tính đã được
nghiên cứu trong một số luận văn Thạc sỹ chuyên ngành Didactic Toán trước đây:
- Nguyễn Thùy Trang (2006) - Algorit và tham số trong dạy- học phương
trình ở trường trung học phổ thông. Trường hợp: hệ phương trình bậc nhất nhiều ẩn.
- Trần Thị Mỹ Dung (2008) - Nghiên cứu thực hành của giáo viên trong dạy
học hệ phương trình tuyến tính ở lớp 10
- Nguyễn Thị Minh Vân (2012) – Nghiên cứu didactic về giải toán bằng cách
lập hệ phương trình ở trung học cơ sở.
Trong phần phân tích của chúng tôi sẽ không lặp lại những gì đã trình bày
trong các luận văn trên mà chúng tôi chỉ chú ý đến kiểu nhiệm vụ Giải bài toán
thực tế bằng cách lập hệ phương trình tuyến tính với cách tiếp cận dạy học mô hình
hóa, đặc biệt là đối chiếu việc dạy học kiểu nhiệm vụ này với các bước của quá
trình mô hình hóa toán học.
35
Các nội dung liên quan đến hệ phương trình bậc nhất hai ẩn được trình bày ở
chương 3 trong SGK9 tập 2: Hệ hai phương trình bậc nhất hai ẩn với các yêu cầu
“Học sinh nắm được:
- Khái niệm nghiệm của hệ hai phương trình bậc nhất hai ẩn;
- Phương pháp minh họa hình học tập nghiệm của hệ hai phương trình bậc
nhất hai ẩn;
- Khái niệm hai hệ phương trình tương đương.”
sau theo SGV9:
“ - Giúp HS hiểu cách biến đổi hệ phương trình bằng quy tắc thế.
- HS nắm vững cách giải hệ phương trình bậc nhất hai ẩn bằng phương pháp thế.
- HS không bị lúng túng khi gặp các trường hợp đặc biệt (hệ vô nghiệm hoặc hệ có vô số nghiệm).”
[SGV9; tr.6]
“- Giúp HS hiểu cách biến đổi hệ phương trình bằng quy tắc cộng đại số.
- HS nắm vững cách giải hệ phương trình bậc nhất hai ẩn bằng phương pháp cộng đại số. Kỹ năng giải hệ phương trình bậc nhất hai ẩn bắt đầu được nâng cao dần.”
[SGV9; tr.11]
“- HS nắm được phương pháp giải bài toán bằng cách lập hệ phương trình bậc nhất hai ẩn.
- HS có kĩ năng giải các loại toán được đề cập trong SGK.”
[SGV9; tr.15]
[SGV9; tr.20]
Yêu cầu của SGV9 chủ yếu rèn luyện học sinh về mặt toán học: kỹ năng biến
đổi và giải hệ phương trình bậc nhất hai ẩn. Đối với kiểu nhiệm vụ Giải bài toán
thực tế bằng cách lập hệ phương trình tuyến tính thì yêu cầu của SGV9 là HS nắm
được phương pháp giải và giải quyết được các loại toán đề cập trong SGK. Việc mở
rộng các loại toán cũng như kỹ năng mô hình hóa toán học tổng quát không phải là
mục tiêu mà SGK nhắm đến.
Trước khi vào nội dung chương 3 SGK9 giới thiệu bài toán:
36
“Trở lại bài toán cổ quen thuộc sau đây:
Vừa gà vừa chó
Bó lại cho tròn
Ba mươi sáu con
Một trăm chân chẵn
Hỏi có bao nhiêu gà, bao nhiêu chó?
Ở lớp 8, ta đã biết cách giải bài toán trên bằng cách lập phương trình bậc nhất một ẩn. Muốn vậy ta chọn một đại lượng chưa biết, số gà chẳng hạn, làm ẩn x rồi dựa vào các mối quan hệ giữa các đại lượng để lập nên một phương trình với ẩn x.
Nhưng trong bài toán trên, ngoài các đại lượng chưa biết là số gà, ta thấy còn có một đại lượng chưa biết khác là số chó. Nếu kí hiệu x là số gà, y là số chó thì:
- Giả thiết có tất cả 36 con vừa gà vừa chó được mô tả bởi hệ thức x + y = 36.
- Giả thiết có tất cả 100 chân được mô tả bởi hệ thức 2x + 4y = 100.
Các hệ thức trên là những ví dụ về phương trình bậc nhất hai ẩn.”
[SGK9; tr.4]
Ta thấy, sách giáo khoa nhắc lại phương pháp giải bài toán bằng cách lập
phương trình (đã biết ở lớp 8) và trình bày một cách đặt hai ẩn tương ứng với hai
đại lượng chưa biết trong bài toán. Hai đại lượng này xuất hiện trong câu hỏi ở cuối
bài toán. Việc lập các phương trình chỉ là việc dịch các giả thiết bằng lời ra thành
các phương trình. Bài toán thực tiễn trên được nêu ra nhưng không là mục tiêu được
giải quyết. Bài toán này hoàn toàn có thể sử dụng để đưa vào hệ phương trình bậc
nhất hai ẩn như là một công cụ để giải quyết nó nhưng mục đích của SGK9 chỉ
dùng để dẫn vào bài “Phương trình bậc nhất hai ẩn”.
Sau đó, SGK trình bày định nghĩa phương trình bậc nhất hai ẩn, hệ phương
trình bậc nhất hai ẩn và nghiệm của chúng. Tiếp đó, các phương pháp giải hệ
phương trình tuyến tính (phương pháp thế và phương pháp cộng đại số) được đưa
vào. Hầu hết các ví dụ và bài tập đều xoay quanh kiểu nhiệm vụ giải hệ phương
trình với một hệ phương trình được cho sẵn để áp dụng các kỹ thuật vừa được trình
bày. Vấn đề mô hình hóa toán học hoàn toàn không được đề cập ở đây.
37
Bài 5 và bài 6 của chương (chiếm 2/13 tiết của toàn chương) được dành cho
việc giải toán bằng cách lập hệ phương trình. Theo Nguyễn Thị Thùy Trang (2006)
liên quan đến hệ phương trình có các kiểu nhiệm vụ sau:
- Kiểu nhiệm vụ T1: “Giải hệ phương trình”
- Kiểu nhiệm vụ T2: “Giải bài toán bằng cách lập hệ phương trình”
- Kiểu nhiệm vụ T3: “Đoán số nghiệm hệ phương trình”
Trong đó kiểu nhiệm vụ T1 được chú ý nhiều nhất (kiểu nhiệm vụ T1
(79/148), kiểu nhiệm vụ T2 (44/148), kiểu nhiệm vụ T3 (25/148)).
Trong phần phân tích này, chúng tôi chỉ quan tâm đến kiểu nhiệm vụ giải
toán bằng cách lập hệ phương trình. Kiểu nhiệm vụ này được SGK9 đưa vào thông
“Ví dụ 1: Tìm số tự nhiên có hai chữ số, biết rằng hai lần chữ số hàng đơn vị lớn hơn chữ số hàng chục một đơn vị, và nếu viết hai chữ số ấy theo thứ tự ngược lại thì được số mới (có hai chữ số) bé hơn số cũ 27 đơn vị.
Cách giải
Trong bài toán trên, ta thấy hai đại lượng chưa biết là chữ số hàng và chục chữ số hàng đơn vị của số cần tìm. Theo giả thiết, khi viết hai chữ số ấy theo thứ tự ngược lại, ta vẫn được một số có hai chữ số. Điều đó chứng tỏ rằng cả hai chữ số ấy đều phải khác 0.
Gọi chữ số hàng chục cần tìm là x, chữ số hàng đơn vị là y. Điều kiện của ẩn: x, y là những số nguyên, 0 < x ≤ 9, 0 < y ≤ 9.
Khi đó, số cần tìm là 10x + y. Khi viết hai chữ số theo thứ tự ngược lại, ta được số 10y + x.
Theo điều kiện đầu, ta có 2y – x = 1 hay – x + 2y = 1.
Theo điều kiện sau, ta có (10x + y) – (10y + x) = 27 9x – 9y = 27
hay x – y = 3.
=
1
….”
Từ đó, ta có hệ phương trình
− + x y 2 − = y
x
3
qua các ví dụ cụ thể.
[SGK9; tr.20-21]
Trong ví dụ đầu tiên về kiểu nhiệm vụ giải bài toán bằng cách lập hệ phương
trình SGK9 đề cập về mối quan hệ giữa các chữ số khi biểu diễn một số trong hệ
38
thập phân. Đây là một bài toán toán học thuần túy và SGK9 hướng dẫn khá chi tiết
về cách chọn ẩn, điều kiện cho ẩn, cách lập hệ phương trình.
Ẩn được chọn trong sách giáo khoa chính là các đại lượng được đề cập trong
yêu cầu của bài toán: hai chữ số của số tự nhiên cần tìm. Điều kiện của hai ẩn cũng
được sách giáo khoa chú ý từ đầu, điều kiện này chính là ràng buộc về số tự nhiên
mà học sinh đã biết.
Việc lập các phương trình trong hệ cũng được sách giáo khoa hướng dẫn chi
tiết. Phương trình thứ nhất chỉ là việc dịch giả thiết bằng lời thành phương trình.
Phương trình thứ hai không dễ thực hiện như vậy, học sinh phải biết về cách biểu
diễn số tự nhiên có hai chữ số là 10x + y và khi viết hai chữ số theo thứ tự ngược
lại, ta được số 10y + x. Từ đó, suy ra được phương trình thứ hai (10x + y) – (10y +
x) = 27 và được hệ phương trình bậc nhất hai ẩn, giải hệ so sánh kết quả tìm được
=
với điều kiện ban đầu chúng ta sẽ tìm được kết quả bài toán. Tuy nhiên, nếu chỉ
xy
yx−
27
dịch lời từ phương trình thứ hai này thì ta được phương trình và dẫn
đến phương pháp giải bài toán này là dùng phương pháp thử sai.
1 y x = 2y - 1 1
xy
11 2 3 32 3 5 53 4 7 74 5 9 95 6 11 loại
yx
11 23 35 47 59
xy
yx−
0 9 18 27 36
Từ bảng trên ta được x = 7 và y = 4, số cần tìm là 74. Tuy nhiên, trong bài
toán này sách giáo khoa mong muốn sử dụng hệ phương trình bậc nhất hai ẩn nên
đã hướng dẫn học sinh lập phương trình thứ hai như trên. Phương pháp giải bằng
cách thử sai không hề được đề cập đến.
Như vậy, bài toán này là một cơ hội để học sinh thấy được một vấn đề (toán
học) có thể có nhiều mô hình toán học khác nhau và việc cân nhắc, lựa chọn mô
hình phù hợp là cần thiết. Tuy nhiên, SGK đã không tận dụng cơ hội này để giới
39
thiệu việc lựa chọn, thiết lập mô hình toán học cho học sinh. Mô hình hệ phương
trình tuyến tính được lựa chọn và trình bày trực tiếp cho học sinh.
Trong cả hai lần lập phương trình chúng tôi thấy rằng cả hai lần sách giáo
khoa đều đưa phương trình về dạng chính tắc. Mục đích của sách giáo khoa là gì?
Qua tìm hiểu chúng tôi nhận thấy rằng mục đích của việc đưa hệ về dạng chính tắc
là để dự đoán số nghiệm của hệ phương trình trước khi giải hệ.
−
=
−
=
y
x
2
y
1
, ta chỉ cần biến đổi thành hệ
Chẳng hạn, đối với hệ
2 +
1 =
−
=
6
x
4
y
0
x
2
y
0
3 x −
3 3
rồi kết luận hệ vô nghiệm; …”
“Trước khi giải hệ phương trình nói chung, học sinh nên có thói quen đoán nhận về số nghiệm của hệ phương trình để giải để sơ bộ biết trước rằng hệ phương trình sẽ có nghiệm duy nhất hay vô nghiệm hay vô số nghiệm.
[SGV9; tr.11]
Đến ví dụ thứ hai SGK9 đề cập đến một bài toán trong vật lý liên quan đến
quan hệ giữa các đại lượng quãng đường, vận tốc và thời gian của chuyển động đều
“ Ví dụ 2: Một chiếc xe tải đi từ TP.Hồ Chí Minh đến TP.Cần Thơ, quãng đường dài 189 km. Sau khi xe tải xuất phát một giờ, một chiếc xe khách bắt đầu đi từ TP.Cần Thơ về TP.Hồ Chí Minh và gặp xe tải sau khi đã đi được 1 giờ 48 phút. Tính vận tốc mỗi xe, biết rằng mỗi giờ xe khách đi nhanh hơn xe tải 13 km.
Cách giải
Từ giả thiết của bài toán, ta thấy khi hai xe gặp nhau thì:
giờ.
- Thời gian của xe khách đã đi là 1 giờ 48 phút, tức là
9 5
giờ =
giờ (vì xe tải khởi hành trước
- Thời gian của xe tải đã đi là 1 giờ +
9 5
14 5
xe khách 1 giờ)
Gọi vận tốc của xe tải là x (km/h) và vận tốc của xe khách y (km/h).
Điều kiện của ẩn là x và y là những số dương.
Ta tiếp tục giải bài toán này bằng cách thực hiện các hoạt động sau:
và cũng được SGK9 hướng dẫn chi tiết bằng các hoạt động 3, 4, 5 trang 21.
?3 Lập phương trình biểu thị giả thiết: Mỗi giờ xe khách đi nhanh hơn xe tải 13 km.
40
?4 Viết các biểu thức chứa ẩn biểu thị quãng đường mỗi xe đi được, tính đến khi hai xe gặp nhau. Từ đó suy ra phương trình biểu thị giả thiết quãng đường từ TP.Hồ Chí Minh đến TP.Cần Thơ dài 189 km.”
[SGK9; tr 21]
Trong ví dụ thứ hai, việc lập các phương trình đòi hỏi học sinh hiểu biết về
các quy luật trong chuyển động đều. Cách chọn ẩn của SGK cũng không khác gì so
với ví dụ 1: ẩn là các đại lượng cần tìm được nêu trong yêu cầu của bài toán, ẩn của
bài toán đã được nêu tường minh. Tại sao SGK lại chọn ẩn x, y không phải là v1, v2
- các ký hiệu dùng cho vận tốc? Theo chúng tôi, SGK hướng đến các ẩn đã sử dụng
trong hệ phương trình bậc nhất hai ẩn, ẩn toán học x, y gắn liền với hệ phương trình
bậc nhất hai ẩn mà học sinh đã được học. Hai ẩn x, y làm cho việc chuyển bài toán
về mô hình toán học không gắn với tình huống thực tế, không tạo được mối liên hệ
trực quan giữa mô hình toán học và tình huống ban đầu. Do đó, khi lập được hệ
phương trình với hai ẩn x, y, SGK đã thoát khỏi tình huống ban đầu mà bài toán đặt
ra.
Với việc chọn ẩn như trên, việc dịch giả thiết “mỗi giờ xe khách đi nhanh
hơn xe tải 13 km” thành phương trình y – x = 13 không gặp trở ngại. Với giả thiết
còn lại, học sinh phải hiểu được quy luật về mối quan hệ của quãng đường, thời
=
x
189
gian, vận tốc; xác định được quãng đường hai xe đi được đến lúc gặp nhau thì mới
14 5
9 y+ 5
có thể lập được phương trình .
Trong ví dụ này, bài toán liên quan đến quãng đường nhưng SGK không đề
cập đến mô hình trung gian là các sơ đồ đường đi.
Thực tế thì kiểu nhiệm vụ này được xem như là học sinh đã biết và không
còn bỡ ngỡ nữa. Theo SGV9 “Điều khác biệt duy nhất là việc chọn hai ẩn thay vì
trước đây chỉ chọn một ẩn. Do đó, GV có điều kiện tập trung vào phân tích các mối
quan hệ giữa các đại lượng trong bài toán để từ đó đưa ra cách chọn ẩn thích hợp
và lập được hệ phương trình bậc nhất hai ẩn thích hợp.” [SGV9; tr.20]
41
Như vậy SGV có nhấn mạnh sự cần thiết của việc phân tích bài toán để đưa
ra cách chọn ẩn và lập được hệ phương trình thích hợp nghĩa là xây dựng mô hình
toán học phù hợp. Thực tế, việc trình bày của SGK có nhắm đến mục tiêu này hay
không hay nó hoàn toàn thuộc về trách nhiệm của giáo viên.
Đến tiết thứ hai, SGK9 đề cập đến vấn đề tương đối mới với học sinh đó là
“Ví dụ 3: Hai đội công nhân cùng làm một đoạn đường trong 24 ngày thì xong. Mỗi ngày, phần việc đội A làm được nhiều gấp rưỡi đội B. Hỏi nếu làm một mình thì mỗi đội làm xong đoạn đường đó trong bao lâu?
Cách giải
Từ giả thiết hai đội cùng làm trong 24 ngày thì xong cả đoạn đường (và được
xem là một công việc), ta suy ra trong một ngày hai đội làm chung được
1 24
(công việc). Tương tự, số phần công việc mà mỗi đội làm được trong một ngày và số ngày cần thiết để hoàn thành công việc là hai đại lượng tỉ lệ nghịch (trong bài toán này, ta hiểu số ngày là một đại lượng không nhất thiết phải nguyên).
Vậy ta có thể giải bài toán như sau:
Gọi x là số ngày để đội A làm một mình hoàn thành toàn bộ công việc; y là số ngày để đội B làm một mình hoàn thành toàn bộ công việc. Điều kiện của ẩn x và y là những số dương.
(công việc), đội B làm được
(công việc).
Mỗi ngày, đội A làm được
1 y
1 x
Do mỗi ngày, phần việc đội A làm được nhiều gấp rưỡi đội B nên ta có phương
=
=
1,5
trình:
hay:
(2.14)
1 x
1 y
1 x
3 1 y 2
Hai đội làm chung 24 ngày thì xong công việc nên mỗi ngày hai đội cùng làm
+
=
thì được
1 24 (công việc). Ta có phương trình:
(2.15)
1 x
1 y
1 24
Từ (2.14) và (2.15) ta có hệ phương trình:
(2.16)”
+
=
3 1 . y 2 1 y
1 24
1 = x 1 x
năng suất và thời gian để hoàn thành công việc.
[SGK9; tr.22-23]
42
Mô hình toán học đã được định sẵn ngầm ẩn trong bài toán. Việc chọn ẩn
trong ví dụ này SGK9 cũng thực hiện như các ví dụ trên: chọn ẩn là đại lượng cần
tìm được nêu trong đề “Hỏi nếu làm một mình thì mỗi đội làm xong đoạn đường đó
trong bao lâu?”. Ta thấy mặc dù ẩn liên quan đến thời gian nhưng SGK không
dùng kí hiệu t (kí hiệu thường dùng cho thời gian) mà gọi ẩn là x và y. Các mối
quan hệ trong bài toán trên ít nhiều gây khó khăn cho học sinh trong việc lập
phương trình (các đại lượng năng suất và thời gian tỉ lệ nghịch với nhau). Để lập
được phương trình từ giả thiết “Mỗi ngày, phần việc đội A làm được nhiều gấp rưỡi
=
đội B”, với cách đặt ẩn như trên, học sinh trước hết cần tính số phần công việc mà
1,5
1 x
1 y
mỗi đội làm được trong một ngày từ đó mới lập được phương trình . Việc
lập phương trình thứ hai cũng vậy đòi hỏi học sinh phải hiểu được mối quan hệ giữa
năng suất và thời gian.
Hệ phương trình lập được không phải là hệ phương trình bậc nhất nhưng nó
“Giải hệ (2.16) bằng cách đặt ẩn phụ
rồi trả lời bài toán đã cho.”
=
=
u
;
v
1 x
1 y
được hướng dẫn giải quyết bằng hoạt động 6:
. v
=
=
[SGK9; tr.23]
;
u
v
3 2
1 x
1 y
=
= u + u v
1 24
40
Với việc đặt ẩn phụ ta được hệ phương trình:
60
= x = y
= u = v
1 40 1 60
, từ đó ta có kết quả . Giải hệ phương trình này ta được
Thực tế việc giải hệ phương trình bằng cách đặt ẩn phụ đưa về hệ phương
trình bậc nhất hai ẩn thì học sinh đã gặp trong bài tập 27 trang 20 SGK9.
Bài toán trên có thể có những cách chọn ẩn khác nhau. SGK9 hướng dẫn
cách chọn ẩn khác thông qua hoạt động 7.
43
“Hãy giải bài toán trên bằng cách khác (gọi x là số phần công việc làm trong một ngày của đội A; y là số phần công việc làm trong một ngày của đội B). Em có nhận xét gì về cách giải này?”
[SGK9; tr.23]
Theo hướng dẫn trên chúng ta có thể gọi x là số phần công việc làm trong
một ngày của đội A; y là số phần công việc làm trong một ngày của đội B. Khi đó ta
y
3 2
y
= x + = x
1 24
có hệ:
= x = y
1 40 1 60
Giải hệ phương trình này ta được , từ đó chúng ta suy ra được kết quả
bài toán: đội A hoàn thành công việc trong 40 ngày; đội B hoàn thành công việc
trong 60 ngày. Để suy ra được kết quả này đòi hỏi học sinh phải suy luận.
Trong cách gọi ẩn như trên, ẩn không phải là đại lượng được nêu trong bài
toán.
Trong hai cách chọn ẩn được hướng dẫn bởi SGK thì cách thứ nhất dễ thực
hiện hơn (vì ẩn được nêu tường minh trong câu hỏi). Cách chọn ẩn này chúng ta lập
được hệ không phải là hệ phương trình bậc nhất hai ẩn và cần thiết phải đặt ẩn phụ
để giải.
Theo SGV9, “Trong bài giải, SGK dùng phương án chọn ẩn trực tiếp, tức là
chọn chính đại lượng mà bài toán cần tìm làm ẩn. Cách chọn ẩn như vậy cho phép
dễ dàng lập hệ phương trình”[SGV9; tr.20].
Như vậy, qua ví dụ 3, SGK đã ngầm ẩn đề cập đến một khía cạnh quan trọng
của quá trình mô hình hóa, đó là cần thiết lập mô hình toán học sao cho phù hợp với
tình huống thực tế và cho phép giải quyết tình huống tối ưu nhất. Với một tình
huống thực tế, có thể tồn tại nhiều mô hình toán học khác nhau. Vấn đề là cần phải
44
đánh giá để lựa chọn ra mô hình tốt. Tuy nhiên, vấn đề có thể chọn ẩn khác nhau
trong kiểu nhiệm vụ giải bài toán bằng cách lập hệ phương trình chỉ được đề cập
đến duy nhất một lần trong ví dụ 3 này. Trong tất cả các bài tập còn lại, ẩn luôn
được chọn là đại lượng cần tìm trong đề toán. Đặc trưng này cùng với chỉ dẫn của
SGK “Cách chọn ẩn như vậy cho phép dễ dàng lập hệ phương trình” sẽ dẫn đến
hình thành nơi học sinh quy tắc hợp đồng là luôn chọn ẩn là đại lượng cần tìm trong
đề toán.
Ở cuối bài, SGK9 đưa ra các bước giải bài toán bằng cách lập hệ phương
“Bước 1: Lập hệ phương trình.
- Chọn hai ẩn và đặt điều kiện thích hợp cho chúng.
- Biễu diễn các đại lượng chưa biết theo các ẩn.
- Lập hai phương trình biểu thị mối quan hệ giữa các đại lượng.
Bước 2: Giải hệ hai phương trình nói trên.
Bước 3: Trả lời: Kiểm tra xem các nghiệm của hệ phương trình, nghiệm nào thích hợp với bài toán và kết luận.”
trình.
[SGK9; tr.26]
Mô hình toán học trong các bài toán của kiểu nhiệm vụ “Giải bài toán bằng
cách lập hệ phương trình” hầu hết đã định sẵn (ngầm ẩn hoặc tường minh), học sinh
chỉ cần đặt ẩn và lập hệ. Trong các bước của quá trình mô hình hóa toán học, chỉ có
bước 3 được giải thích bởi các kiến thức có trong phần lý thuyết (các phương pháp
giải hệ phương trình). Hệ phương trình lập được luôn luôn là hệ có số phương trình
bằng số ẩn (hệ hai phương trình hai ẩn, bậc nhất hoặc không phải bậc nhất nhưng
đưa về hệ bậc nhất bằng cách đặt ẩn phụ) và giải được nghiệm thỏa yêu cầu bài
toán. Trong bước 2 ẩn luôn được chọn là các đại lượng được hỏi trong bài toán.
Bước 3 luôn cho kết quả vì các nghiệm tìm được luôn thỏa mãn điều kiện. Trong lời
giải của SGV9, chúng tôi thấy luôn luôn có bước đặt điều kiện cho ẩn. Tuy vậy,
bước này dường như chỉ là hình thức vì các dữ kiện của bài toán luôn luôn được
chọn sao cho nghiệm của hệ thỏa mãn các điều kiện của ẩn. Do đó, học sinh không
45
có trách nhiệm kiểm tra các kết quả toán học nhận được có phù hợp với thực tế hay
không.
Các bài toán thực tế không biểu diễn những tình huống “thực tế” với tất cả sự
phức tạp của nó mà chỉ là những mô hình khá gần với mô hình toán học cần xây
dựng (mô hình toán học đã xác định trước). Các bài toán này luôn cho đủ dữ kiện,
nhiệm vụ của học sinh là lập hệ và giải hệ đã lập rồi trả lời yêu cầu bài toán. Đại
lượng cần tính đến như ẩn luôn được nêu tường minh trong câu hỏi ở cuối bài toán.
Hệ phương trình tìm được luôn có nghiệm duy nhất và thỏa mãn yêu cầu đề bài, có
thể đưa về hệ phương trình bậc nhất hai ẩn hoặc hệ phương trình hai ẩn không bậc
1 1 , x y
nhất (trường hợp này hầu như học sinh chỉ gặp dạng ). Kiểu nhiệm vụ T1 (giải
hệ cho sẵn thuần túy toán học) được chú trọng nhiều nhất (79/148). Kiểu nhiệm vụ
T2 cũng được quan tâm, số lượng bài tập đưa ra nhiều (44/148). Số bài toán đưa về
hệ phương trình bậc nhất hai ẩn là 33, số bài toán đưa về hệ phương trình hai ẩn
không bậc nhất là 11.
Sách giáo khoa ưu tiên sử dụng hệ phương trình tuyến tính để giải quyết các
bài toán thuộc kiểu nhiệm vụ T2, các phương pháp khác như phương pháp thử sai;
phương pháp lập phương trình một ẩn;… không hề được đề cập. Học sinh sử dụng
công cụ sẵn có là hệ phương trình tuyến tính, không có trách nhiệm đặt ra câu hỏi
lựa chọn công cụ toán học nào hữu hiệu nhất.
Các bài toán được xây dựng xung quanh các chủ đề: tìm hai số; quãng
đường, thời gian và vận tốc; năng suất và thời gian; hình học và các bài toán khác
về hỗn hợp 2 chất, các bài toán về sách, các bài toán về tỉ lệ, các bài toán yêu cầu
tìm số quả quýt, quả cam; số ghế, số học sinh....
Những phân tích trên cho phép chúng tôi dự đoán sự tồn tại ở học sinh các
quy tắc hợp đồng sau liên quan đến vấn đề mô hình hóa toán học bằng hệ phương
trình bậc nhất hai ẩn:
R1: Để giải bài toán cần lập một hệ hai phương trình hai ẩn.
46
R25: Ẩn được chọn là đại lượng cần tìm trong đề toán và xuất hiện tường
minh trong đề toán. Ẩn được kí hiệu là x, y.
2.2.3. Hệ phương trình bậc nhất hai ẩn trong SGK106
Hệ phương trình bậc nhất hai ẩn trong SGK10 được trình bày trong “Chương
3: Phương trình , hệ phương trình”. SGK10 xem như học sinh đã học về hệ phương
“Ôn tập về phương trình bậc nhất hai ẩn và hệ hai phương trình bậc nhất hai ẩn.
…
Vì học sinh đã học phương trình bậc nhất hai ẩn và hệ hai phương trình bậc nhất hai ẩn ở lớp 9 nên SGK không trình bày lại cách giải mà nhắc lại bằng các hoạt động 1,2 và 3.”
trình này nên mục đích chỉ là nhắc lại kiến thức cũ. SGV10 nêu rõ:
[SGV10; tr.75]
Trước tiên, SGK10 nhắc lại định nghĩa về phương trình bậc nhất hai ẩn, biểu
diễn hình học tập nghiệm của phương trình này cũng được nhắc lại.
Sau đó, SGK10 nêu định nghĩa tổng quát về hệ phương trình bậc nhất hai ẩn.
Các kỹ thuật giải cũng không được nhắc lại, SGK10 thông qua hoạt động 3
yêu cầu học sinh tự thực hiện lại các kỹ thuật (ở đây chỉ có kỹ thuật thế và cộng đại
số).
Chúng tôi nhận thấy SGK10 cũng chỉ chú ý đến kiểu nhiệm vụ T1, kiểu
nhiệm vụ T2 không được chú ý, không được nhắc đến trong phần lý thuyết và số
lượng bài tập ít (chỉ có 8 bài kể cả sách giáo khoa và sách bài tập). Các bài trong
kiểu nhiệm vụ này giống như lớp 9: Tìm hai số; quãng đường, thời gian và vận tốc;
năng suất và thời gian, hình học. Việc chọn ẩn trong kiểu nhiệm vụ này cũng chính
là các đại lượng cần tìm trong yêu cầu bài toán; theo hướng dẫn giải trong SGV10
6
Liên quan đến, kiểu nhiệm vụ Giải bài toán bằng cách lập hệ phương trình, SGK10NC chỉ có 1 bài tập về
vận tốc xuôi dòng và ngược dòng, tương tự như ở lớp 9. Số lượng bài tập trong SGK10 phong phú hơn. Vì
vậy, chúng tôi chỉ phân tích SGK10.
5 Một phần của R2 đã được kiểm chứng trong luận văn của Nguyễn Thị Minh Vân (2012).
47
và BTĐS10 thì đa số trường hợp ẩn vẫn được kí hiệu là x, y; hệ phương trình lập
1 1 ; x y
được là hệ bậc nhất hai ẩn hoặc không bậc nhất (vẫn là trường hợp ).
Tuy nhiên, có một trường hợp SGV đề cập một bài toán (năng suất – thời
gian) mà kí hiệu ẩn có liên quan đến tình huống thực tế hơn:
bức tường. Sau
được 7 giờ và người thứ hai sơn được 4 giờ thì họ sơn được
bức tường chưa
đó họ cùng làm việc với nhau trong 4 giờ nữa thì chỉ còn lại
5 9 1 18
sơn. Hỏi nếu mỗi người làm riêng thì sau bao nhiêu giờ mỗi người mới sơn xong bức tường.”
“Hai công nhân được giao việc sơn một bức tường. Sau khi người thứ nhất làm
[SGK10; tr.70]
“Gọi t1 (giờ) là thời gian người thứ nhất sơn xong bức tường, t2 (giờ) là thời gian người thứ hai sơn xong bức tường; điều kiện t1 > 0, t2 > 0. Trong một giờ
bức tường, người thứ hai sơn được
bức tường.
người thứ nhất sơn được
1 t
2
1 t 1
+
Theo đầu bài ta có:
4 t
5 = 9
7 t 1
2
=
Sau 4 giờ làm việc chung họ sơn được:
(bức tường)
4 1 − 9 18
7 18
+
=
[…]”
Vậy ta có
4 t
7 18
4 t 1
2
Hướng dẫn giải trong sách giáo viên:
[SGV10; tr.79]
Trong bài toán này SGV gọi ẩn là t1, t2 gắn với tình huống thực tế hơn, đến
khi đặt ẩn phụ giải hệ thì mới chọn ẩn là x, y. Việc lập các phương trình trong bài
toán này đòi hỏi học sinh phải hiểu rõ bản chất của tình huống mối liên hệ giữa
năng suất và thời gian. Hai phương trình trong bài toán này đòi hỏi học sinh phải
tính được số phần làm được trong một giờ của mỗi công nhân. Ngoài cách gọi ẩn
trực tiếp như hướng dẫn của SGV, bài toán này chúng ta có thể gọi ẩn gián tiếp: x, y
48
là năng suất làm việc lần lượt của mỗi công nhân (số phần công việc hoàn thành
trong một giờ). Tuy nhiên, với cách gọi ẩn trực tiếp thì hệ phương trình nhận được
dễ dàng hơn và cũng không khó để giải (tương tự SGK9). Vì vậy, SGV đã chọn
cách này.
Mô hình toán học trong kiểu nhiệm vụ này cũng đã được định sẵn, học sinh
chỉ có nhiệm vụ chọn ẩn, lập hệ phương trình và giải. Quá trình mô hình hóa không
được thực hiện đầy đủ các bước và đúng nghĩa.
Thật vậy, các bài toán trong kiểu nhiệm vụ này được cho với những điều
kiện ràng buộc như SGK9. Bài toán cho đủ dữ kiện, không thừa, không thiếu, yêu
cầu tìm hai đại lượng, hệ phương trình lập được giải được bằng các phương pháp đã
học và ra nghiệm thỏa yêu cầu đề bài. Việc đối chiếu kết quả với tình huống thực tế
chỉ là hình thức vì tất cả các nghiệm tìm được đều thỏa mãn bài toán.
2.3. Kết luận
Phần phân tích trên đã cho phép chúng tôi làm rõ những đặc trưng và ràng
buộc của thể chế dạy học Việt Nam đối với việc dạy học hệ phương trình tuyến tính
bậc nhất hai ẩn trong mối liên hệ với mô hình hóa toán học. Chúng tôi có một số kết
luận sau:
- Trong thể chế dạy học ở bậc đại học, các bài toán thực tiễn được giải quyết
bằng công cụ hệ phương trình tuyến tính chỉ được đề cập trong các giáo trình Đại số
tuyến tính dành cho kinh tế. Ở đó, vấn đề mô hình hóa toán học không được quan
tâm vì trong các bài toán, mô hình toán học luôn được cho sẵn. Sinh viên chỉ có
trách nhiệm làm việc với mô hình toán học và chuyển câu trả lời toán học về câu trả
lời cho bài toán kinh tế.
- Trong thể chế dạy học ở bậc phổ thông, trước khi hệ phương trình tuyến
tính bậc nhất hai ẩn chính thức được dạy trong chương trình lớp 9, tri thức này đã
xuất hiện ngầm ẩn trong chương trình lớp 4 thông qua bài toán “Tìm hai số khi biết
tổng và hiệu của hai số đó”, các bài toán này bước đầu đã có nội dung thực tế.
49
Phương pháp giải bài toán này là sơ đồ đoạn thẳng tương ứng với cách giải hệ
phương trình bậc nhất hai ẩn bằng phương pháp cộng đại số.
Kiểu nhiệm vụ giải bài toán thực tế bằng cách lập hệ phương trình chủ yếu
xuất hiện ở lớp 9 còn ở lớp 10 ít được chú trọng. Mô hình toán học trong các bài
toán này hầu hết đã được định sẵn, quá trình mô hình hóa được thực hiện không đầy
đủ chỉ thực hiện ở bước 2, bước 3. Bước 4 chỉ là hình thức và chu kì kiểm tra dừng
lại ngay lần thực hiện đầu, vì kết quả tìm được luôn là kết quả của bài toán. Bước 2
bị chi phối bởi các quy tắc hợp đồng R1 và R2:
R1: Để giải bài toán cần lập một hệ hai phương trình hai ẩn.
R2: Ẩn được chọn là đại lượng cần tìm trong đề toán và xuất hiện tường
minh trong đề toán. Ẩn được kí hiệu là x, y.
Chúng tôi cũng đồng ý với các kết luận của tác giả Nguyễn Thị Minh Vân (2012) về
những ràng buộc của kiểu nhiệm vụ này:
+ Đề toán yêu cầu tìm 2 đại lượng.
+ Mối liên hệ giữa hai giá trị cần tìm không được chỉ ra một cách rõ ràng.
+ Hệ phương trình lập được từ đề toán phải đưa được về một hệ hai phương
trình tuyến tính hai ẩn.
+ Dữ kiện của bài toán rõ ràng, vừa đủ cho việc lập hệ phương trình.
Kiểu nhiệm vụ này được đề cập xoay quanh 5 loại bài toán: tìm hai số; quãng
đường, thời gian và vận tốc; năng suất và thời gian; hình học và các bài toán khác
(về hỗn hợp 2 chất, các bài toán về sách, các bài toán về tỉ lệ, các bài toán yêu cầu
tìm số quả quýt, quả cam; số ghế, số học sinh....). Chúng tôi không tìm thấy dấu vết
của các mô hình tuyến tính trong kinh tế (được trình bày ở bậc đại học) trong SGK
phổ thông. Đặc biệt hơn, ứng dụng của hệ phương trình tuyến tính trong các bài
toán trong lĩnh vực kinh tế (liên quan đến giá cả, chi phí…) hoàn toàn vắng bóng
trong SGK phổ thông Việt Nam.
50
Qua phân tích SGK phổ thông chúng ta nhận thấy việc dạy học hệ phương
trình bậc nhất hai ẩn được tiến hành theo tiến trình sau:
Dạy học hệ phương trình bậc nhất hai ẩn và các phương pháp giải Áp
dụng hệ phương trình tuyến tính để giải quyết một số vấn đề thực tế.
Theo Lê Văn Tiến (2005), đây là quy trình dạy học mô hình hóa. Tuy nhiên,
với các đặc trưng và ràng buộc của thể chế như trên đã phân tích thì việc dạy học
mô hình hóa này chưa thực sự diễn ra theo đúng các bước của quá trình mô hình
hóa. Vấn đề cốt lõi ở đây chỉ là áp dụng kiến thức toán học đã xác định (hệ phương
trình bậc nhất hai ẩn) vào việc giải quyết một số dạng toán quen thuộc. Nguồn gốc
thực tiễn của khái niệm hệ phương trình bậc nhất hai ẩn cũng như vai trò công cụ
của nó khá mờ nhạt.
Hơn nữa, vấn đề dạy học hệ phương trình bậc nhất hai ẩn bằng mô hình hóa
đã không được tính đến. Thật vậy, hệ phương trình được đưa vào SGK một cách
trực tiếp như là một đối tượng nghiên cứu chứ không xuất phát từ nhu cầu giải
quyết các vấn đề của toán học và của thực tế.
Làm thế nào để xây dựng được những tình huống dạy học sao cho khái niệm
hệ phương trình bậc nhất hai ẩn nảy sinh qua nhu cầu giải quyết các bài toán thực
tế, đồng thời nâng cao khả năng vận dụng toán học vào cuộc sống hằng ngày ở học
sinh?
Câu hỏi này thúc đẩy chúng tôi nghiên cứu xây dựng một tiến trình dạy học
hệ phương trình bậc nhất hai ẩn bằng mô hình hóa nhằm giúp học sinh thấy được
động cơ, nhu cầu thực tiễn của việc nghiên cứu hệ phương trình bậc nhất hai ẩn.
Tiến trình này bao gồm các bước sau:
Xuất phát từ bài toán thực tiễn → Xây dựng mô hình toán học (hệ phương
trình bậc nhất hai ẩn) → Câu trả lời cho bài toán thực tiễn → Tri thức cần giảng dạy
(định nghĩa hệ phương trình bậc nhất hai ẩn, các phương pháp giải hệ phương trình
bậc nhất hai ẩn) → Vận dụng tri thức này vào giải các bài toán thực tiễn khác.
51
Việc xây dựng tiến trình dạy học này dựa trên giả thuyết nghiên cứu sau:
“ Có thể làm nảy sinh khái niệm hệ phương trình bậc nhất hai ẩn như là
công cụ để giải quyết các vấn đề thực tiễn trước khi xem nó như một đối tượng
nghiên cứu. Nói cách khác, có thể tổ chức dạy học hệ phương trình bậc nhất hai ẩn
bằng mô hình hóa và học sinh có thể tiếp cận bước đầu với quá trình mô hình hóa
toán học.”
Việc xây dựng thực nghiệm để kiểm chứng giả thuyết này và kết quả thực
nghiệm sẽ được trình bày trong chương 3 tiếp theo.
52
Chương 3:
THỰC NGHIỆM
(ĐỒ ÁN DẠY HỌC)
Nghiên cứu chương 2 cho thấy rõ vấn đề dạy học bằng mô hình hóa và dạy
học mô hình hóa chưa được quan tâm đầy đủ trong việc dạy học hệ phương trình
tuyến tính bậc nhất hai ẩn. Trong chương 2 chúng tôi cũng đã nghiên cứu các ràng
buộc thể chế đối với kiểu nhiệm vụ giải bài toán thực tế bằng cách lập hệ phương
trình, kết quả nghiên cứu cho thấy các bước của quá trình mô hình hóa không được
thực hiện đầy đủ (chủ yếu học sinh chỉ thực hiện bước 2 và bước 3, tức là hoạt động
trong mô hình toán học).
Trong chương này, chúng tôi xây dựng một tình huống dạy học hệ phương
trình bậc nhất hai ẩn bằng mô hình hóa với mong muốn giúp học sinh tiếp cận với
các bước của quá trình mô hình hóa toán học và giúp học sinh thấy được động cơ,
nhu cầu thực tiễn của việc nghiên cứu hệ phương trình bậc nhất hai ẩn.
Cụ thể chúng tôi xây dựng tiến trình dạy học hệ phương trình bậc nhất hai ẩn
như sau: Xuất phát từ bài toán thực tiễn → Xây dựng mô hình toán học (hệ phương
trình bậc nhất hai ẩn) → Câu trả lời cho bài toán thực tiễn → Tri thức cần giảng dạy
(định nghĩa hệ phương trình bậc nhất hai ẩn, các phương pháp giải hệ phương trình
bậc nhất hai ẩn) → Vận dụng tri thức này vào giải các bài toán thực tiễn khác.
1. Mục đích thực nghiệm
Thực nghiệm nhằm kiểm chứng tính đúng đắn của giả thuyết nghiên cứu sau:
“ Có thể làm nảy sinh khái niệm hệ phương trình bậc nhất hai ẩn như là
công cụ để giải quyết các vấn đề thực tiễn trước khi xem nó như một đối tượng
nghiên cứu. Nói cách khác, có thể tổ chức dạy học hệ phương trình bậc nhất hai ẩn
53
bằng mô hình hóa và học sinh có thể tiếp cận bước đầu với quá trình mô hình hóa
toán học.”
Cụ thể, mục đích thực nghiệm của chúng tôi là:
+ Thiết lập một tình huống cho phép học sinh tiếp cận khái niệm hệ phương
trình bậc nhất hai ẩn và các phương pháp giải hệ. Khái niệm hệ phương trình bậc
nhất hai ẩn và các phương pháp giải hệ phương trình bậc nhất hai ẩn xuất hiện như
là kết quả của việc giải quyết một số bài toán thực tiễn đặt ra ban đầu.
+ Thông qua hoạt động giúp học sinh tăng cường khả năng vận dụng hệ
phương trình như công cụ giải quyết bài toán thực tế và phát triển khả năng mô hình
hóa toán học ở học sinh.
2. Nội dung thực nghiệm
2.1. Giới thiệu các tình huống thực nghiệm
Phiếu số 1:
An: Tôi có hai số. Nếu thêm vào số thứ hai hai lần số thứ nhất thì ta được
115. An hỏi Bình hai số đó là hai số nào?
Câu hỏi 1
Theo em, Bình có trả lời được câu hỏi của An hay không? Vì sao?
Phiếu số 2:
An phát hiện trong câu đố bị thiếu dữ kiện nên An thêm vào dữ kiện sau:
“Nếu bớt số thứ hai một giá trị bằng hai lần số thứ nhất ta được 15”. Vậy hai số đó
là hai số nào?
Câu hỏi 2
2.1. Theo nhóm em, Bình có thể trả lời được câu đố của An chưa?
2.2. Nhóm em hãy thảo luận và viết hướng dẫn gởi bạn Bình để Bình giải
được câu đố của An bằng ít nhất ba cách.
54
Phiếu số 3:
Cô Ba là người bán các loại cá ngoài chợ, cô mua cá của những người nuôi cá
và đem ra chợ bán kiếm lời. Cô thu mua nhiều loại cá: cá rô, cá phi, cá điêu hồng,…
Ngày hôm qua cô mua 20kg cá điêu hồng, lúc đầu cô bán hết 16kg thì chợ bắt đầu
thưa người, cô quyết định giảm giá bán và bán hết số cá điêu hồng còn lại thu được
tiền lời từ bán cá điêu hồng trong ngày là 76000 đồng. Ngày hôm sau cô thu mua
15kg cá điêu hồng, tương tự ngày trước đó lúc đầu cô bán được 13kg thì chợ bắt
đầu thưa người, cô quyết định giảm giá bán và bán hết số cá điêu hồng còn lại thu
được tiền lời từ bán cá điêu hồng là 63000 đồng. Biết rằng giá bán cá điêu hồng và
giá giảm giá trong hai ngày không đổi. Hỏi khi bán với giá giảm giá thì cô Ba lời
hay lỗ, số tiền này là bao nhiêu?
Câu hỏi 3
Em hãy giải bài toán trên.
Phiếu số 4:
Hai nhà bạn An và Bình cách nhau 3600m. Mỗi buổi sáng hai bạn thường đi
bộ ngược chiều nhau, ngày đầu tiên hai bạn xuất phát cùng lúc và gặp nhau tại địa
điểm cách nhà bạn An 2000m. Ngày thứ hai do bạn Bình xuất phát sớm hơn bạn An
6 phút nên hai bạn gặp nhau ngay giữa đoạn đường. Hỏi An và Bình đi bộ với vận
tốc bao nhiêu?
Câu hỏi 4
Trong các hệ phương trình cho dưới đây, em hãy chọn những hệ tương ứng
với đề toán trên, giải thích và nêu rõ ý nghĩa các biến? Theo em, em chọn trường
=
2000 1600 −
=
0
x
y
1600 v 2
hợp nào? Vì sao?
+
=
= −
360
360
y
x
1800 v 2
1800 1800 −
2000 v 1 1800 v 1
(1) (2)
55
=
−
=
2000
x
1600
y
t 2000 1
+
−
0 = −
1600 t 2 = t 360 1800
x
1800
y
360
2
1800
1800 t 1
(3) (4)
Phiếu số 5:
Một gia đình muốn bơm nước và quyết định đi thuê. Có hai hình thức thuê
một loại máy bơm. Loại thứ nhất giá thuê là 150 ngàn đồng một tháng, loại thứ hai
giá thuê 15 ngàn đồng một giờ. Tuy nhiên, nếu thuê máy bơm loại thứ nhất thì mỗi
giờ tốn thêm phí nhiên liệu là 5 ngàn đồng.
Gọi y là số tiền mà gia đình này phải trả cho việc sử dụng máy bơm trong x giờ
trong một tháng.
Câu hỏi 5
5.1. Hãy viết và vẽ đồ thị của những hàm số biểu diễn chi phí phải trả cho
việc sử dụng máy bơm theo hai hình thức trên cùng một hệ trục tọa độ. Suy ra giao
điểm. Giao điểm này có ý nghĩa gì?
5.2. Nếu cần sử dụng máy bơm trong một tháng và mỗi ngày cần phải sử
dụng trong ít nhất 1 giờ thì gia đình này nên chọn hình thức nào để chi phí phải trả
thấp hơn.
2.2 Dàn dựng kịch bản
Pha 1: (Làm việc cá nhân – 10 phút).
♦ Giáo viên phát thông báo phiếu số 1. Học sinh làm việc cá nhân để nghiên
cứu trả lời câu hỏi trong phiếu số 1.
♦ Giáo viên thu lại bài làm của học sinh và tổng kết các câu trả lời của học
sinh.
♦ Giáo viên kết luận: An yêu cầu tìm hai số nhưng chỉ có một dữ kiện về mối
liên hệ giữa chúng nên hai số đó chưa xác định.
Pha 2: (Làm việc nhóm – 20 phút)
56
♦ Giáo viên phát thông báo phiếu số 2. Học sinh làm việc nhóm để nghiên
cứu trả lời phiếu số 2 vào tờ giấy A0.
♦ Các nhóm dán sản phẩm của nhóm lên bảng. Giáo viên yêu cầu một số
nhóm giải thích lời giải của nhóm. Chú ý chiến lược giải bằng cách lập hệ phương
trình (ngầm ẩn hoặc tường minh) mà học sinh đưa ra, và các kỹ thuật giải hệ mà học
sinh đã sử dụng.
Pha 3: (Làm việc nhóm – 20 phút)
♦ Giáo viên phát thông báo phiếu số 3. Học sinh làm việc nhóm để nghiên
cứu trả lời phiếu số 3 vào tờ giấy A0.
♦ Các nhóm dán sản phẩm của nhóm lên bảng. Giáo viên yêu cầu một số
nhóm giải thích lời giải của nhóm.
♦ Giáo viên tổng kết pha 3: Nhấn mạnh các bước của quá trình mô hình hóa
toán học một tình huống thực tế (xây dựng mô hình toán học, đối chiếu lời giải toán
học với thực tế,…).
Pha 4: (Làm việc tập thể (Thể chế hóa) – 15 phút)
♦ Giáo viên trình bày kiến thức về hệ phương trình bậc nhất hai ẩn, phương
pháp giải hệ và phương pháp giải bài toán bằng cách lập hệ phương trình.
Pha 5: (Làm việc cá nhân – 10 phút)
♦ Giáo viên phát thông báo phiếu số 4. Học sinh làm việc cá nhân.
♦ GV thu lại bài làm của HS, yêu cầu một số HS đưa ra câu trả lời.
♦ Giáo viên tổng kết pha 5, chú ý việc chọn ẩn trong một bài toán.
Pha 6: (Làm việc nhóm – 25 phút)
♦ Giáo viên phát thông báo phiếu số 5. Học sinh làm việc theo nhóm.
♦ Học sinh dán câu trả lời của nhóm lên bảng. Giáo viên yêu cầu một số
nhóm giải thích lời giải của nhóm.
57
♦ Giáo viên tổng kết pha 6: Giới thiệu phương pháp giải hệ phương trình bậc
nhất hai ẩn bằng đồ thị và ý nghĩa của nó.
3. Đối tượng thực nghiệm
Thực nghiệm này được thực hiện trên học sinh lớp 9 sau khi học sinh đã học
về hàm số bậc nhất y = ax + b và phương trình bậc nhất hai ẩn ax + by + c = 0.
4. Phân tích tiên nghiệm
4.1. Biến và giá trị của chúng
♦ V1: Hình thức làm việc. Cá nhân, theo nhóm, cả lớp.
+ Làm việc cá nhân: Phát huy tinh thần làm việc của từng học sinh, giúp học
sinh hiểu bài toán và cung cấp tư liệu cho làm việc nhóm.
+ Làm việc nhóm: có sự trao đổi thảo luận giúp tìm nhanh cách giải quyết
bài toán.
+ Làm việc cả lớp: tạo sự tranh luận trong thời điểm tổng kết các pha và tổng
kết tiết học.
♦ V2: Nguồn gốc của bài toán: Trong toán học hay ngoài toán học.
♦ V3: Yêu cầu của bài toán.
+ Giải bằng nhiều cách .
+ Giải bài toán.
+ Chọn câu trả lời cho sẵn.
♦ V4: Biến liên quan đến đại lượng cần tính đến như ẩn số.
+ Đại lượng cần tính đến như ẩn số được nêu tường minh trong câu hỏi đặt ra
ở cuối bài toán.
+ Đại lượng cần tính đến như ẩn số không được nêu tường minh trong câu
hỏi đặt ra ở cuối bài toán.
58
Bảng 1: Giá trị của các biến được lựa chọn trong tình huống
V1 V2 V4 V3
Câu 1 Làm việc cá nhân Trong toán học
Tường minh Câu 2.2 Làm việc nhóm Trong toán học Giải bằng nhiều cách
Giải bài toán Câu 3 Làm việc nhóm Ngoài toán học Không tường minh
Tường minh Câu 4 Làm việc cá nhân Ngoài toán học Chọn câu trả lời
Giải bài toán Câu 5 Làm việc nhóm Ngoài toán học
Chúng tôi xây dựng các tình huống trong phiếu số 3, 4 và 5 là các tình huống
phá vỡ hợp đồng trong thể chế dạy học ở Việt Nam.
Với bài toán trong phiếu số 3, ẩn cần chọn để lập hệ phương trình (tiền lời
khi bán 1 kg cá lúc đầu và sau khi giảm giá) không được chỉ ra tường minh trong đề
toán dưới dạng các phương trình ngầm ẩn. Mặt khác, các biến này cũng không được
nêu ra tường minh trong câu hỏi ở cuối đề toán (Hỏi khi bán với giá giảm giá thì cô
Ba lời hay lỗ, số tiền này là bao nhiêu?).
Vì vậy, ở đây, nếu chọn ẩn là đại lượng được nêu tường minh trong bài toán
thì sẽ là giá bán 1 kg cá lúc đầu và lúc sau chứ không phải tiền lời. Tuy nhiên, cách
lựa chọn ẩn như vậy sẽ dẫn đến sự bất hợp lí trong câu trả lời cuối cùng (giá bán là
một số âm). Việc đối chiếu câu trả lời với tình huống thực tế cho thấy mô hình toán
học đã xây dựng không phù hợp và đòi hỏi phải điều chỉnh cách chọn ẩn để xây
dựng một mô hình mới phù hợp hơn. Ta thấy rằng ở đây, quá trình mô hình hóa
toán học được nhấn mạnh thông qua việc xây dựng và điều chỉnh mô hình toán học,
đối chiếu mô hình với thực tế,…
59
Với bài toán trong phiếu số 4, dạng bài tập lựa chọn mô hình toán học tương
ứng với bài toán thực tế là hoàn toàn vắng mặt trong sách giáo khoa của Việt Nam.
Như chương 2 chúng tôi đã phân tích, các bài tập trong sách giáo khoa Việt Nam
luôn ưu tiên việc chọn ẩn bằng cách trực tiếp (chọn ẩn là đại lượng cần tìm trong đề
toán) và ẩn thường được kí hiệu là x, y. Cách chọn ẩn gián tiếp chỉ được đề cập sơ
lược qua 1 ví dụ và sau đó không xuất hiện lại. Với bài toán ở phiếu số 4, học sinh
đứng trước sự lưỡng lự cần phải đánh giá hệ phương trình nào tương ứng với đề
toán thông qua các cách chọn ẩn khác nhau. Tình huống này cũng cho thấy có nhiều
cách để xây dựng các mô hình toán học khác nhau của một bài toán thực tế. Vấn đề
quan trọng là xác định được mô hình vừa đơn giản vừa cho phép giải quyết bài toán
tốt nhất.
Với bài toán trong phiếu số 5, việc giải hệ phương trình bậc nhất hai ẩn bằng
đồ thị được đề cập đến trong sách giáo khoa một cách thuần túy toán học. Ý nghĩa
của các đồ thị và giao điểm của chúng không được nói đến. Tình huống này yêu cầu
học sinh ngoài việc xây dựng mô hình toán học và làm việc trên chúng, cần phải
khai thác tốt các mô hình này về mặt ý nghĩa của chúng đối với bài toán thực tế để
tìm câu trả lời cho bài toán thực tế.
4.2. Chiến lược và cái có thể quan sát được, ảnh hưởng của biến
4.2.1. Phiếu số 1
Chúng tôi dự đoán học sinh có thể trả lời theo hai khả năng:
+ Học sinh trả lời có và chọn một cặp số thỏa mãn yêu cầu của bài toán. Có
thể học sinh sẽ đưa ra nhiều cặp số thỏa mãn yêu cầu.
+ Học sinh trả lời không vì chưa đủ dữ kiện hoặc có nhiều cặp số thỏa mãn.
Trong khả năng này chúng tôi mong muốn học sinh thiết lập được biểu thức 2x + y
= 115 (với x, y là hai số cần tìm).
4.2.2. Phiếu số 2 và phiếu số 3
Các chiến lược có thể của các bài toán ở phiếu số 2 và phiếu số 3
60
♦Sthử-sai: Chiến lược “Thử - sai”
Lập mối liên hệ giữa hai số. Lần lượt thử các số đến khi tìm được một cặp số
thỏa yêu cầu.
♦Ssđ: Chiến lược “Lập sơ đồ”
Vẽ sơ đồ đoạn thẳng và dựa vào quy tắc tìm số lớn số bé trong bài toán tìm
hai số khi biết tổng hiệu hai số đó.
♦ Spt: Chiến lược “Lập phương trình”
+ Gọi một ẩn và lập phương trình để giải.
+ Kết luận.
♦ S2h: Chiến lược “Lập hệ hai phương trình hai ẩn”
+ Gọi hai ẩn
+ Lập các phương trình từ giả thiết.
+ Lập hệ và giải hệ phương trình tìm được.
+ Kết luận.
Phân tích chi tiết cái có thể quan sát được:
♦ Pha 2
Với chiến lược Sthử-sai, chúng tôi có thể dự đoán học sinh trình bày như sau:
Chọn cặp số thỏa điều kiện thứ nhất, sau đó thử điều kiện thứ hai cho đến khi
có một cặp số thích hợp.
?
Cái có thể quan sát gắn với chiến lược Ssđ,
15
115
Hai lần số thứ nhất:
?
=
Số thứ hai:
65
+ 115 15 2
Vậy số thứ hai là .
61
=
50
− 115 15 2
Hai lần số thứ nhất là . Số thứ nhất là 25.
Cái có thể quan sát gắn với chiến lược Spt, học sinh có thể gọi một ẩn là số thứ nhất
hoặc số thứ hai.
Gọi x là số thứ nhất. Suy ra số thứ hai là 115 – 2x.
Theo giả thiết ta có phương trình 115 – 2x – 2x = 15.
Giải phương trình trên ta được x = 25.
Vậy số thứ nhất là 25, số thứ hai là 65.
Đối với chiến lược S2h, học sinh có thể trình bày như sau:
Gọi x, y lần lượt là hai số cần tìm.
Theo giả thiết ta có hai phương trình:
2x + y = 115
y – 2x = 15
Cộng vế theo vế hai phương trình ta được 2y = 130, suy ra y = 65 và x = 25.
Vậy số thứ nhất là 25, số thứ hai là 65.
Trong chiến lược này học sinh có thể giải hai phương trình trên bằng kỹ
thuật thế.
Giá trị của biến V2 được chọn ở pha này là tình huống trong toán học, cụ thể
là bài toán tìm hai số được cho dưới dạng câu đố. Đây là bài toán quen thuộc đối
với học sinh với chiến lược sơ đồ hoặc chiến lược phương trình. Giá trị biến V1
chúng tôi chọn là làm việc theo nhóm sau pha 1 tạo điều kiện cho học sinh tìm ra
được nhiều cách giải theo yêu cầu. Giá trị của biến V3 là giải bằng ít nhất ba cách
cùng với giá trị của V4 là đại lượng cần tính đến như ẩn số được nêu tường minh
trong câu hỏi đặt ra ở cuối bài toán tạo điều kiện thuận lợi để học sinh tìm ra chiến
lược S2h. Ngoài ra, nếu trong pha 1 học sinh thiết lập được phương trình bậc nhất
62
hai ẩn liên hệ giữa hai số thì chiến lược hệ phương trình sẽ có nhiều khả năng xuất
hiện.
♦ Pha 3
Chi tiết cái có thể quan sát được trong pha này như sau:
Với chiến lược Spt,
Gọi x là số tiền lời khi chưa giảm giá bán
x−
+
=
Suy ra số tiền lời lúc giảm giá bán là 139000 – x
16
4 76000
x 29
139000 6
Từ đó ta có phương trình
−
= −
Từ đó tìm x = 145000.
6000
Số tiền lời sau khi giảm giá 139000 145000
Bài toán cho kết quả âm nhưng trên thực tế, số tiền lời phải là số dương nên
có thể học sinh kết luận bài toán sai hoặc không tìm được. Chiến lược này học sinh
gặp trở ngại trong việc lập phương trình nên theo chúng tôi chiến lược này sẽ ít xuất
hiện.
Với chiến lược S2h : Với việc học sinh đã được tiếp cận ngầm ẩn kiểu nhiệm vụ
“Giải bài toán bằng cách lập hệ phương trình” trong pha 2, chiến lược này có khả
năng xuất hiện nhiều.
Tùy theo việc gọi ẩn số mà các phương trình lập được sẽ khác nhau và mô hình
nhận được có phù hợp hay không đối với tình huống. Chẳng hạn, sau đây là một số
cách gọi ẩn số có thể và lời giải tương ứng.
1) Gọi x là số tiền lời khi bán 1kg cá lúc đầu; y là số tiền lời từ 1kg cá lúc
sau.
Theo giả thiết ta có hai phương trình:
16x + 4y = 76000
63
13x + 2y = 63000
Giải hai phương trình trên ta được x = 5000; y = - 1000.
Giá trị y < 0 cho thấy khi bán cá với giá giảm giá thì cô Ba sẽ bị lỗ 1000
đồng cho mỗi kg cá. Đây là lời giải tối ưu của bài toán. Tuy nhiên, nếu học sinh
quan niệm số tiền lời (hay tổng quát hơn là ẩn được chọn trong bài toán) luôn luôn
phải là số dương thì có thể học sinh sẽ loại nghiệm y.
2) Gọi x là số tiền lời lúc đầu; y là số tiền lời sau khi giảm giá bán.
Theo giả thiết ta có hai phương trình:
+ = 16 4 76000
+ = 13 2 63000 x 29 x 29 y 6 y 6
Giải hai phương trình trên ta được x = 145000; y = - 6000.
Tương tự như trong trường hợp 1, nghiệm y < 0 có thể sẽ bị loại. Việc lập
hai phương trình theo cách chọn ẩn này sẽ khó khăn hơn vì vậy, nó khó có khả năng
xuất hiện.
3) Nếu ẩn số được chọn là đại lượng được đề cập tường minh trong đề bài
(giá bán 1 kg cá lúc đầu và lúc sau) thì có thể xuất hiện lời giải sau:
Gọi x là giá bán 1kg lúc đầu; y là giá bán 1kg cá lúc sau.
Theo giả thiết ta có hai phương trình:
16x + 4y = 76000
13x + 2y = 63000
Giải hai phương trình trên ta được x = 5000; y = - 1000.
Nếu đối chiếu với thực tế thì học sinh sẽ thấy sự vô lý ở đây vì giá bán 1 kg cá lúc
sau là một số âm. Điều này tạo môi trường phản hồi cho phép học sinh điều chỉnh
lại lời giải.
64
Đây là một bài toán thực tế nên nó sẽ hạn chế chiến lược sơ đồ, tạo thuận lợi
cho chiến lược phương trình và hệ phương trình xuất hiện. Biến V4 chúng tôi chọn
giá trị là các ẩn cần chọn không được nêu tường minh trong câu hỏi ở cuối đề toán.
4.2.3. Phiếu số 4
Chúng tôi đặt học sinh trong tình huống chọn lựa mô hình toán học tương
ứng với bài toán thực tế. Với yêu cầu xác định rõ các yếu tố tương ứng với mô hình
đó, chúng tôi có thể dự đoán học sinh trả lời theo hai hướng như sau:
+ Chọn ẩn trực tiếp.
+ Chọn ẩn gián tiếp.
Chi tiết cái có thể quan sát được như sau :
Chọn hệ (1) với v1, v2 lần lượt là vận tốc của An và Bình (m/s).
Chọn hệ (2) với x, y lần lượt là vận tốc của An và Bình (m/s).
Chọn hệ (3) với t1, t2 lần lượt là thời gian của An và Bình đi mỗi mét (s).
Chọn hệ (4) với x, y lần lượt là thời gian của An và Bình đi mỗi mét (s).
Trong hệ (1) và (2), các ẩn được gọi trực tiếp từ các đại lượng được nêu tường
minh trong đề toán. Việc lập các phương trình cũng không gặp trở ngại. Tuy nhiên,
việc giải hệ phương trình lập được sẽ khó khăn hơn (cần phải đặt ẩn phụ). Các ẩn
của hệ (1) gắn liền với tình huống (vận tốc kí hiệu là v) trong khi các ẩn của hệ (2)
tách rời khỏi tình huống thực tế (ẩn là x, y).
Với hệ (3) và (4), cách chọn ẩn gián tiếp (đại lượng được chọn làm ẩn không
được nêu tường minh trong câu hỏi ở cuối đề toán), việc gọi ẩn sẽ khó khăn hơn.
Tuy nhiên, hệ phương trình lập được lại đơn giản và cho phép giải quyết nhanh bài
toán. Các ẩn của hệ (3) gắn liền với tình huống (thời gian kí hiệu là t) trong khi các
ẩn của hệ (4) tách rời khỏi tình huống thực tế (ẩn là x, y).
4.2.4. Phiếu số 5
Chi tiết cái có thể quan sát được
65
Câu hỏi 5.1:
Chi phí sử dụng loại thứ nhất y = 5x + 150.
Chi phí sử dụng loại thứ hai y = 15x.
Đồ thị
y
225
200
150
100
50
x
0
2
4
6
8
10
12
14
16
18
15
Tọa độ giao điểm (15; 225).
Ý nghĩa của giao điểm: Nếu trong tháng gia đình này chỉ sử dụng 15 giờ
+
150
bơm thì chọn hình thức nào cũng như nhau. Ngoài ra, về mặt toán học tọa độ giao
x 5 x 15
= y = y
điểm này chính là nghiệm của hệ .
Câu hỏi 5.2:
Với thời gian sử dụng máy bơm ít nhất 30 giờ thì gia đình này nên chọn loại
thứ nhất.
Chúng tôi dự đoán học sinh sẽ giải thích theo các chiến lược sau:
+ Chiến lược đồ thị: Dựa vào hình vẽ. Theo hướng này học sinh sẽ chọn loại
thứ nhất, do số giờ bơm lớn hơn 30 giờ và theo đồ thị nếu số giờ bơm lớn hơn 15
giờ thì loại thứ nhất có chi phí thấp hơn.
66
+ Chiến lược đại số: Tính chi phí sử dụng theo hai hình thức và so sánh.
Chi phí sử dụng loại thứ nhất y = 5.30 + 150 = 300 (ngàn đồng).
Chi phí sử dụng loại thứ hai y = 15.30 = 450 (ngàn đồng)
Vậy gia đình này nên chọn loại thứ nhất.
Bài toán này đặt ra vấn đề khai thác mô hình toán học để giải thích cho tình
huống thực tế, ngoài ra cũng tạo điều kiện giúp học sinh tiếp cận kỹ thuật giải hệ
phương trình bằng đồ thị.
4.3. Phân tích kịch bản
Các pha của đồ án dạy học được dàn dựng nhằm thực hiện tiến trình dạy học
hệ phương trình bậc nhất hai ẩn bằng mô hình hóa:
Xuất phát từ bài toán thực tiễn → Xây dựng mô hình toán học (hệ phương
trình bậc nhất hai ẩn) → Câu trả lời cho bài toán thực tiễn → Tri thức cần giảng dạy
(định nghĩa hệ phương trình bậc nhất hai ẩn, các phương pháp giải hệ phương trình
bậc nhất hai ẩn) → Vận dụng tri thức này vào giải các bài toán thực tiễn khác.
Cụ thể, pha 1, pha 2 và pha 3 nhằm thực hiện 3 mắt xích đầu tiên của tiến trình
dạy học. Pha 4 tương ứng với mắt xích thứ tư và pha 5, pha 6 thực hiện mắt xích
thứ năm của tiến trình. Cụ thể tiến trình dạy học được chúng tôi xây dựng như sau:
pha 1, pha 2 và pha 3: Tiếp cận và sử dụng hệ phương trình → pha 4: Thể chế hóa
→ pha 5 và pha 6: Vận dụng.
Trong pha 1 chúng tôi mong muốn học sinh từ mối liên hệ của hai số thiết lập
thành một biểu thức chứa hai ẩn (phương trình bậc nhất hai ẩn). Pha này là bước
đệm giúp học sinh dễ dàng xây dựng hệ phương trình trong pha 2.
Pha 2 là bước chuẩn bị cần thiết giúp học sinh có suy nghĩ đến việc lập hệ và
giải hệ phương trình trong pha 3. Thực tế trong pha 2 chúng tôi đã chọn bài toán mà
hệ phương trình lập được có thể giải bằng kỹ thuật cộng đại số hoặc kỹ thuật thế
một cách dễ dàng. Điều này giúp học sinh trong việc hình thành kỹ thuật giải hệ
trong pha 3.
67
Pha 1 và pha 2 đặt ra bài toán khá quen thuộc với học sinh (tìm hai số) với các
chiến lược học sinh đã biết là lập sơ đồ, lập phương trình. Tuy nhiên, với câu hỏi ở
pha 1 yêu cầu học sinh giải thích tại sao Bình không trả lời được câu đố của An và
yêu cầu giải bằng ít nhất 3 cách trong pha 2, chúng tôi mong muốn sẽ xuất hiện
chiến lược hệ phương trình ở học sinh (ngầm ẩn hoặc tường minh). Pha này làm
tiền đề cho bước chuyển sang pha 3 vì ở pha 3, các chiến lược thử-sai và chiến lược
“lập sơ đồ” không cho phép giải quyết bài toán. Chiến lược phương trình cũng khá
đắt giá vì sự khó khăn trong việc lập phương trình. Như vậy, trong khi ở pha 2 các
chiến lược lập sơ đồ, lập phương trình hay hệ phương trình đều đi đến lời giải tối ưu
thì ở pha 3, chỉ có chiến lược hệ phương trình là chiến lược tối ưu cho phép giải
quyết bài toán.
Như vậy, pha 3 nhấn mạnh hơn vai trò công cụ của hệ phương trình bậc nhất
hai ẩn và mối liên hệ giữa tình huống thực tế và mô hình toán học. Qua pha này,
chúng tôi mong muốn cho học sinh tiếp cận việc mô hình hóa toán học một tình
huống thực tế. Bước đầu tiên học sinh cần phải xác định yêu cầu bài tìm cụ thể là
yếu tố nào để từ đó xây dựng mô hình toán học. Kết quả bài toán cũng đòi hỏi học
sinh quay trở lại tình huống thực tế kết luận người bán cá bị lỗ (tương ứng bước 4
của quá trình mô hình hóa).
Pha 4 nhằm ghi nhận kết quả thu được từ pha 2, pha 3, đưa ra khái niệm hệ
phương trình và các phương pháp giải hệ, các bước thực hiện kiểu nhiệm vụ giải bài
toán thực tế bằng cách lập hệ phương trình.
Pha 5 và pha 6 nhằm tạo điều kiện cho học sinh vận dụng hệ phương trình như
một công cụ trong việc giải quyết các bài toán thực tế. Pha 5 chúng tôi đặt cho học
sinh vấn đề sự tương ứng bài toán và mô hình toán học. Từ đó chúng tôi mong
muốn học sinh nhận ra được một bài toán có thể có nhiều mô hình toán học tương
ứng khác nhau, tùy theo mô hình được chọn mà bài toán trở nên dễ dàng hơn hay
khó khăn hơn. Pha 6 giúp học sinh có khả năng khai thác mô hình toán học rút ra
68
các nhận xét cho tình huống thực tế. Ngoài ra chúng tôi cũng mong muốn học sinh
tiếp xúc với kỹ thuật giải hệ bằng đồ thị.
5. Phân tích hậu nghiệm
Thực nghiệm được triển khai tại lớp 96 (24 học sinh) của trường Trung học
cơ sở Phường 1 – thị xã Gò Công, Tiền Giang.
Dữ liệu thu thập được bao gồm: Bài làm cá nhân của học sinh trên phiếu số 1
và phiếu số 4, lời giải phiếu số 2, phiếu số 3 và phiếu số 5 của 6 nhóm được trình
bày trên giấy A0, giấy nháp của các học sinh, ghi âm buổi học và ghi âm trao đổi
của các nhóm.
5.1. Ghi nhận tổng quát
Việc tiếp cận với phương trình bậc nhất hai ẩn trước đó đã giúp đa số học
sinh nhận ra trong câu đố của An là thiếu dữ kiện và học sinh lập được phương trình
y + 2x = 115.
Trong pha 2, pha 3 và pha 6, các nhóm học sinh thảo luận rất sôi nổi để giải
quyết các câu hỏi đặt ra.
Bảng 2. Thống kê số nhóm giải theo các chiến lược
Câu 2.2 Câu 3
1 0 Ssđ
3 0 Spt
6 3 S2h
0 0 Sthử-sai
Chiến lược hệ phương trình đã xuất hiện ở tất cả các nhóm trong pha 2 với
bài toán tìm hai số (tình huống trong toán học và quen thuộc) và xuất hiện ở 3/6
nhóm trong pha 3 với bài toán trong lĩnh vực kinh tế. Như vậy, kiến thức nhắm đến
(hệ phương trình bậc nhất hai ẩn) đã xuất hiện ở đa số các nhóm học sinh.
69
5.2. Phân tích chi tiết kết quả thực nghiệm
5.2.1. Pha 1
Kết quả pha 1 như sau:
Bảng 3. Thống kê kết quả pha 1
Tổng Lập phương trình hai ẩn Không lập biểu thức Đúng Sai
1 0 4 5 Bình trả lời được
6 4 9 19 Bình không trả lời được
11 13 24 Tổng
Đa số học sinh nhận ra thiếu dữ kiện nên Bình không trả lời được (19/24 học
sinh).
(Trích bài làm của H4)
Nhiều học sinh đã biết lập phương trình hai ẩn (11/24 học sinh trong đó có
7/11 học sinh lập đúng phương trình 2x + y = 115).
(Trích bài làm của H8)
Kết thúc pha 1, giáo viên gọi một học sinh giải thích câu trả lời của mình.
- GV: Thầy mời em H7, em hãy giải thích cách làm của em.
70
- H7: Bình không trả lời được câu hỏi của bạn An vì nếu gọi số thứ nhất là x số thứ hai là y thì từ giả thiết ta có phương trình 2x + y = 115. Như vậy có vô số cặp số x và y thỏa mãn phương trình trên cho nên Bình không thể trả lời chính xác câu hỏi của bạn An. (Protocole câu 3-4)
Giáo viên kết luận:
- GV: An yêu cầu tìm hai số nhưng chỉ có một dữ kiện về mối liên hệ giữa chúng nên hai số đó chưa xác định.(Protocole câu 12)
5.2.2. Pha 2 và pha 3: Tiếp cận và sử dụng hệ phương trình
Hệ phương trình bậc nhất hai ẩn và các kỹ thuật giải hệ xuất hiện
như là kết quả của việc giải quyết các bài toán trong toán học và ngoài toán
học
Bảng 4. Thống kê chiến lược giải của các nhóm trong pha 2 và pha 3
Chiến S2h Không lược Ssđ Spt trả lời khác
Không trình bày Câu 2.2 N3 N1, N2, N6 Kỹ thuật thế N1, N3, N4 Kỹ thuật cộng N2, N5, N6
N2, N5 Câu 3 N4 N1 N3, N6
♦ Pha 2
Trong pha 1, học sinh đã xác định được phương trình y + 2x = 115 nên sau
khi thảo luận về đề thì các nhóm thiết lập được phương trình thứ hai mà không gặp
nhiều trở ngại.
- H17: Nếu bớt số thứ hai một giá trị bằng hai lần số thứ nhất ta được 15. Vậy
y – 2x = 15. (Protocole câu 63, nhóm 5)
Sau khi lập được hai phương trình các nhóm bắt đầu tìm cách giải tìm x, y.
- H2: Sao Bình có thể trả lời được? Giải không được.
- H3: Hai dữ kiện đúng không? Có phương trình 1 là: 2x + y = 115, phương
trình 2 là y – 2x = 15.
71
- H4: x = (y –15):(- 2) (Protocole câu 18-20, nhóm 1)
Trong phần tranh luận, các nhóm đã đưa ra cách thực hiện các kỹ thuật giải
hệ (kỹ thuật thế và kỹ thuật cộng đại số) mặc dù tên gọi của chúng chưa xuất hiện.
- H8: Muốn giải hai phương trình này lấy hai vế trừ nhau. (Protocole câu 31,
nhóm 2)
- H11: y = 2x +15, thế vào trên là tìm được x rồi. (Protocole câu 42, nhóm 3)
- H21: Cộng hai vế phương trình lại – 2x + 2x = 0 rồi. (Protocole câu 68, nhóm
6)
Sau khi tranh luận, các nhóm đã trình bày khá rõ ràng các kỹ thuật giải hệ.
Bài làm của nhóm 4 đã thể hiện kỹ thuật thế bằng nhiều cách khác nhau. Nhóm 1 và
nhóm 3 cũng giải hệ bằng kỹ thuật thế.
Theo đề bài, ta có:
2x + y = 115 (1)
y – 2x = 15 ⇒ y = 15 + 2x (2)
Thế (2) vào (1) ta được:
⇔ x = 25 ⇒ y = 15 + 2x = 15 + 25.2 = 65
2x + 15 + 2x = 115 […]
(Trích bài làm nhóm 4 pha 2)
Nhóm 2, nhóm 5 và nhóm 6 giải hệ bằng kỹ thuật cộng đại số.
Gọi x, y lần lượt là số thứ nhất và số thứ hai (0 ≤ x ≤ 57,5)
(0 ≤ y ≤ 115)
Theo đề bài, ta có 2 phương trình:
2x + y = 115 (1)
y – 2x = 15 (2)
Ta lấy (1) + (2) ta được:
⇒ y = 65
2y = 130
Ta có: 2x = y – 15 = 65 – 15 = 50 ⇒ x = 25
(Trích bài làm nhóm 6 pha 2)
72
Nhóm 6 đặt điều kiện chặt cho ẩn, nhóm 3 cũng có điều kiện x, y nguyên
dương mặc dù trong bài toán này hoàn toàn không có điều kiện nào cho hai số. Điều
“Học sinh luôn đặt điều kiện cho ẩn, thậm chí là “điều kiện chặt” nhưng không
có thói quen kiểm tra, suy nghĩ liệu đáp án có thỏa điều kiện và phù hợp với bài
toán hay không. Đối với học sinh ẩn luôn có giá trị dương.”
[Nguyễn Thị Minh Vân (2012); tr.71]
này cũng phù hợp với kết luận của Nguyễn Thị Minh Vân (2012):
Chúng tôi chọn các giá trị đủ khó đã làm chiến lược thử - sai hoàn toàn
không xuất hiện (kể cả trong phần tranh luận của các nhóm). Chiến lược Ssđ chỉ có
nhóm 3 thực hiện.
Chiến lược phương trình chỉ có 3/6 nhóm thực hiện mặc dù học sinh mới gặp
trong lớp 8. Theo chúng tôi có thể do trong pha 1 nhiều học sinh đã thiết lập được
phương trình bậc nhất hai ẩn. Ngoài ra, giả thiết thứ hai được cho tương tự như giả
thiết thứ nhất nên việc lập phương trình hai ẩn thứ hai này không có nhiều trở ngại.
Kết thúc pha 2 giáo viên đã yêu cầu hai nhóm giải thích cách làm của nhóm và
giáo viên lưu ý vấn đề đặt điều kiện cho ẩn của học sinh.
- H10: Cách làm của nhóm 3 tụi con là gọi x là số thứ nhất y là số thứ hai, điều kiện
x, y nguyên dương.
- GV: Tại sao có điều kiện x, y nguyên dương?
- H10: Tại vì hai số không thể nào là số thập phân được, là số nguyên dương?
- GV: Các em có đồng ý với ý kiến của bạn không?
- GV: Bạn An có yêu cầu điều kiện này không các em?
- Cả lớp: Không. (Protocole câu 84-89)
Như vậy qua pha 2 tất cả các nhóm đã thiết lập được hai phương trình và sử
dụng ngầm ẩn các kỹ thuật giải hệ (kỹ thuật thế và kỹ thuật cộng đại số). Với bài
toán này thì cả ba chiến lược Ssđ, Spt và S2h đều là chiến lược tối ưu nhưng chiến
lược S2h vẫn chiếm ưu thế. Điều này có được là do việc chọn giá trị các biến khi
chúng tôi đưa vào bài toán này: Đây là bài toán quen thuộc trong toán học (V2), ẩn
73
được chọn trực tiếp từ câu hỏi trong bài toán (V4). Giá trị biến V4 làm cho học sinh
dễ dàng phiên dịch dữ kiện bài toán thành các phương trình.
Với bài toán tìm hai số này, kiến thức về hệ phương trình và kỹ thuật giải hệ
phương trình xuất hiện một cách tự nhiên ở học sinh trong quá trình giải quyết bài
toán.
♦ Pha 3
Đến pha 3, bài toán chúng tôi đặt ra với câu hỏi “Hỏi khi bán với giá giảm giá
thì cô Ba lời hay lỗ, số tiền này là bao nhiêu?”, đại lượng cần tính đến như ẩn số
không được nêu tường minh trong câu hỏi. Điều này gây không ít khó khăn cho học
sinh khi gọi ẩn. Nhóm 3 và nhóm 6 đã không trả lời được. Nhóm 3 tranh luận về đề
bài khá lâu để xác định đại lượng cần tìm và cách gọi ẩn.
- H11: Gọi x là số tiền bán cá được ngày hôm qua, y là số tiền bán cá được
ngày hôm sau. (Protocole câu 113, nhóm 3)
- H10: Phải gọi x là số tiền bán cá điêu hồng lúc giảm giá thì đúng hơn.
(Protocole câu 115, nhóm 3)
Nhóm 6 cũng dành nhiều thời gian để thảo luận đề và nhất là tranh luận làm thế
nào để tính tiền lời.
- H22: Gọi x số tiền lúc bình thường, y số tiền lúc giảm giá.
- H21: Lời hay lỗ mình tính cái gì?
- H22: 29x + 6y = 139000. (Protocole câu 154 - 156, nhóm 6)
Nhóm 6 lập được một phương trình bậc nhất hai ẩn nên không thể tìm được x,
y. Nhóm này đã gộp hai giả thiết làm một (tính số kg cá bán được lúc chưa giảm giá
và lúc giảm giá sau đó lập phương trình thể hiện tổng tiền lời trong hai ngày). Theo
chúng tôi việc không xác định được đi tìm cái gì đã khiến nhóm này không lập được
các phương trình tương ứng.
Nhóm 1 tuy có trả lời nhưng không phải dùng chiến lược hệ mà dùng số tiền
lời tổng chia cho số kg cá tính ra tiền lời mỗi kg cá. Nhóm này đã không hiểu được
74
yêu cầu bài toán và cũng như nhóm 6 nhóm này cũng không xác định được đại
lượng thực tế cần phải tìm.
Các nhóm còn lại mặc dù có trả lời nhưng đều gọi ẩn là đại lượng được nêu
tường minh trong bài toán (giá bán trước và sau giảm giá).
Gọi x là giá tiền bán cá lúc đầu
y là giá tiền bán cá khi giảm giá
−
x
Theo đề bài ta có:
⇒ = 2
y
76000 16 2
16x + 4y = 76000 (1)
13x + 2y = 63000 (2)
x
+
=
13
63000 (...)
x
− 76000 16 2
⇔
=
5000
x
−
x
=
=
= −
⇒ y = – 1000
Thay (1) vào (2) ta được:
y
2
2000
76000 16 2
− 76000 16.5000 2
Vì
Vậy khi giảm giá cô Ba lỗ và lỗ 1000/kg.
(Trích bài làm nhóm 4 pha 3)
Trong pha này, do có bước đệm là pha 1 và pha 2 nên các nhóm trả lời đều
thiết lập hai phương trình và giải bằng kỹ thuật thế. Học sinh chọn ẩn là hai đại
lượng được đề cập tường minh trong bài toán đó là giá bán mỗi kg cá trước và sau
giảm giá. Như vậy, mặc dù cách gọi ẩn số chưa đúng nhưng công cụ hệ phương
trình bậc nhất hai ẩn đã được sử dụng bởi hầu hết các nhóm học sinh.
Chúng tôi có thể kết luận rằng qua pha 2 và pha 3, hệ phương trình bậc nhất
hai ẩn xuất hiện ở học sinh như là kết quả của việc giải quyết các bài toán thực tế.
Tiếp cận mô hình hóa toán học
Đối với bài toán ngoài toán học ở pha 3, các nhóm học sinh đã tích cực tìm
mô hình toán học của nó. Tuy nhiên, như chúng tôi đã phân tích ở trên, ngay từ
bước đầu tiên các nhóm đã gặp khó khăn trong việc xác định phải tìm đại lượng nào
75
và gọi ẩn là đại lượng nào vì đại lượng cần tính đến như ẩn không được nêu tường
minh ở cuối đề toán. Bài toán cho số tiền lời mỗi ngày, việc gọi ẩn phải liên quan
đến số tiền lời này. Tuy nhiên, các nhóm theo chiến lược hệ phương trình đã không
xác định được chính xác đại lượng thực sự cần tìm. Nhóm 2, nhóm 4 và nhóm 5 đều
gọi ẩn là giá bán trước và sau giảm giá. Như vậy, bước xây dựng mô hình toán học
của tình huống này là một vấn đề đối với học sinh.
Quan sát bài làm của nhóm 2, chúng tôi ghi nhận nhóm này chỉ nêu cách gọi
ẩn và lập được hai phương trình nhưng đã bị gạch đi. Tuy nhiên, trong phần tranh
luận nhóm đã lập được hai phương trình bậc nhất hai ẩn và tính ra được các giá trị
x, y.
- H5: 16x + 4y = 76000; 13x +2y = 63000.
- H8: x = 5000; y = - 1000.
- H6: Tìm x, y là tìm ra cái gì?
- H7: Số tiền lời lỗ là bao nhiêu?
- H7: Có cá nào – 1000 kg?
- H5: Hay gọi x, y là cái khác đi. Gọi x là tiền vốn.(Protocole câu 107 – 112)
Mặc dù trước đó có thành viên của nhóm nêu cách gọi ẩn là tiền lời (H8: Gọi
x là số tiền lời mỗi kg,…) nhưng khi trình bày thì nhóm lại gọi “x là số tiền bán
đúng giá trên kg, y là số tiền bán giảm giá trên kg”. Điều này chứng tỏ học sinh bị
ảnh hưởng của cách gọi ẩn là đại lượng tường minh được nêu trong bài toán trong
phần “giải bài toán bằng cách lập phương trình”. Khi tính được kết quả y = - 1000
nhóm đã có những suy nghĩ đối chiếu với thực tế (Có cá nào – 1000 kg?). Thành
viên H5 đã có suy nghĩ đến việc điều chỉnh cách gọi ẩn chứng tỏ đã có học sinh
quan tâm đến bước 4 (đối chiếu kết quả thực tế, xây dựng lại mô hình cho phù hợp).
Việc chưa tìm ra cách gọi ẩn phù hợp đã làm cho nhóm này không trình bày đầy đủ
bài làm của mình và cũng chứng tỏ nhóm đã nhận ra mô hình toán học mình đang
xây dựng là không phù hợp.
Nhóm 4 và nhóm 5 đã không kiểm tra kết quả thu được có phù hợp với thực
tế hay không. Tuy hai nhóm này đều gọi ẩn là giá bán trước và sau lúc giảm giá
76
nhưng khi giải các phương trình ra kết quả âm thì trả lời cô Ba lỗ. Chúng tôi nghĩ
rằng do ở bài toán này chúng tôi đặt câu hỏi cô Ba lời hay lỗ nên học sinh đã tìm
cách trả lời cho câu hỏi này. Thực tế khi gọi ẩn bằng cách này và giải được y = -
1000 thì lẽ ra các nhóm cần phải đặt lại vấn đề tại sao giá bán mà lại âm?
Hai nhóm này đã không nhận ra việc lập mô hình toán học như trên là không
phù hợp đòi hỏi quá trình này phải thực hiện lại lần nữa.
Kết thúc pha 3, giáo viên gọi nhóm 4 và nhóm 5 giải thích cách làm của
nhóm. Cả hai nhóm đều gọi ẩn là giá bán trước và sau giảm giá, đều ra kết quả y = -
1000 và kết luận cô Ba lỗ.
- GV: Các em có đồng ý với cách làm của hai nhóm 4 và 5 không?
- GV: x là giá bán mỗi kg cá khi chưa giảm giá. x = 5000 thầy có thể hiểu là khi
chưa giảm giá mỗi kg bán được 5000 đồng, y là giá bán lúc giảm, vậy y = -
1000 có nghĩa là sao? Em nào có thể giải thích được? […]
- GV: Bài toán cho dữ kiện liên quan đến số tiền lời, vậy chúng ta phải gọi ẩn
là số tiền lời. […]
- H20: x là tiền lời mỗi kg cá lúc chưa giảm giá, y là tiền lời mỗi kg cá khi giảm
giá. (Protocole câu 163 – 168).
Thông qua pha này giáo viên cũng tổng kết quá trình làm việc của học sinh
và đưa ra thuật ngữ mô hình hóa toán học.
- GV: Đây là một bài toán có nội dung thực tế, như các em đã thấy muốn giải
cần phải xây dựng các phương trình toán học, giải các phương trình ta được
kết quả của bài toán toán học, sau đó phải đối chiếu với thực tế trả kết quả cho
bài toán ban đầu. Quá trình này gọi là quá trình mô hình hóa toán học.
- GV: Các em thấy rằng quá trình đó không phải chỉ dừng lại trong một lần
thực hiện. Ví dụ như các bạn nhóm 5 gọi ẩn là giá bán thì kết quả nhận được
không hợp lý, giá bán thì không thể âm. Khi đó quá trình trên phải được thực
hiện lại để thiết lập được bài toán toán học phù hợp hơn. […](Protocole câu
170 – 171).
77
Từ đây học sinh đã được tiếp cận mô hình hóa toán học.
5.2.3. Pha 4: Thể chế hóa
Pha này giáo viên sẽ tổng kết và thể chế hóa các kiến thức về hệ phương
trình bậc nhất hai ẩn mà học sinh đã đạt được qua các pha trước.
- GV: Em có thể nêu dạng tổng quát của phương trình bậc nhất hai ẩn.
- H12: Thưa thầy nó có dạng ax + by + c = 0.
=
- GV: Khi ghép hai phương trình bậc nhất hai ẩn ax + by = c và a’x + b’y = c’
c =
+ ax by + a x b y
'
'
c
'
thành một hệ thì ta có hệ phương trình bậc nhất hai ẩn .
- GV: Giống như ở đây trong pha 2 chúng ta có hai phương trình này chúng ta
ghép lại tạo thành một hệ phương trình bậc nhất hai ẩn, tương tự trong pha 3
chúng ta ghép hai phương trình này ta được một hệ. (GV chỉ lên các phương
trình tương ứng trên màn chiếu) (Protocole câu 172 – 176).
Sau đó giáo viên giới thiệu các khái niệm hệ phương trình, nghiệm của hệ, hệ
vô nghiệm, giải hệ phương trình và hai hệ phương trình tương đương. Tiếp theo
giáo viên giới thiệu các kỹ thuật giải hệ. Các kỹ thuật này được rút ra từ bài làm của
các nhóm.
- GV: Trong câu hỏi 2 và 3, các em đã biến đổi các phương trình để tìm ra
nghiệm của các hệ phương trình. Người ta gọi cách giải của nhóm 3 trong pha
2 là cách giải hệ bằng phương pháp thế và cách giải của nhóm 6 là cách giải
hệ bằng phương pháp cộng đại số. (GV dán lại bài làm có trình bày các
phương pháp này và dựa vào đó gọi tên)
- GV: Nguyên tắc chung của hai phương pháp này là gì?
- H6: Tìm một ẩn trước.
- GV: Đúng rồi. Nguyên tắc chung của hai phương pháp này là khử bớt một ẩn
của hệ đưa về phương trình một ẩn.
78
- GV: Bây giờ các em nhìn lên đây, đây là hệ bạn giải theo phương pháp thế.
Vậy theo các em để giải hệ phương trình bằng phương pháp thế chúng ta phải
làm gì?
- H6: Suy ra một ẩn từ một phương trình rồi thế vào phương trình còn lại và
giải phương trình đó.
GV tổng kết trình bày các bước giải hệ phương trình bằng phương pháp thế.
Nêu ví dụ và gọi một học sinh trình bày lên bảng, sau đó gọi một học sinh nhận
xét, chiếu lời giải theo cách thế còn lại.
- GV: Dùng phương pháp thế chúng ta chọn phương trình và biểu diễn y theo x
hoặc x theo y sao cho đơn giản.
- GV: Bây giờ các em xem bài giải của bạn bằng phương pháp cộng đại số và
các em cho thầy biết là để giải hệ bằng phương pháp cộng đại số ta cần thực
hiện như thế nào?
- H11: Thưa thầy cộng hai phương trình của hệ ta được phương trình một ẩn.
2
− = y
3
- GV: Em nào có ý kiến khác không?
x +
=
x
2
y
4
- GV: Thầy lấy ví dụ như hệ có thể thực hiện như bạn nêu được
không các em?
- GV: Ở hệ trên hai hệ số này đối nhau nên cộng lại sẽ mất, còn hệ số của hệ
này thế nào các em?
- Cả lớp: Không đối nhau.
- GV: Vậy chúng ta phải làm thế nào?
- Cả lớp: Nhân hai vế cho 2. […] (Protocole câu 182 -196)
Ngoài ra trong pha này giáo viên còn tổng kết các bước giải bài toán thực tế
bằng cách lập hệ phương trình.
- GV: Trong pha 2 và 3 các em đã gặp bài toán được giải bằng cách lập hệ
phương trình. Như bài toán tìm hai số và bài toán bán cá. Các em hãy nêu các
bước cần thực hiện để giải quyết các bài toán đó?
- H13: Thưa thầy gọi ẩn, lập các phương trình, giải hệ phương trình tìm được.
79
- GV: Các bước này cũng tương ứng với các bước của quá trình mô hình hóa toán học. Bước 1 chính là bước xây dựng các phương trình toán học, bước 2 là giải các phương trình ta được kết quả của bài toán toán học, việc đặt điều kiện và kiểm tra điều kiện tương ứng với bước cuối của quá trình mô hình hóa. (Protocole câu 197 -199)
5.2.4. Pha 5 và pha 6: Vận dụng
Pha 5
Bảng 5. Thống kê kết quả pha 5
Hệ (1) Hệ (2) Hệ (3) Hệ (4) Không chọn Tổng
11 9 2 0 3 25 Số lượng
Chỉ có hai học sinh chọn hệ (3) chứng tỏ cách chọn ẩn gián tiếp khó nhận ra.
H15 chọn hệ (3) với giải thích về biến liên quan đến thời gian mặc dù chưa chính
xác.
- t1: là thời gian xuất phát đến lúc hai bạn gặp nhau của An.
- t2: là thời gian xuất phát đến lúc hai bạn gặp nhau của Bình.
Hơn nữa, ta nhận thấy có 10 học sinh chọn hệ (1) mà không chọn hệ (2) và 2 học
sinh chọn hệ (3) mà không chọn hệ (4). Kết quả này cho thấy với kí hiệu ẩn số liên
quan đến bài toán thực tiễn (vận tốc v và thời gian t) thì có khả năng học sinh sẽ
nhận ra sự tương ứng của mô hình thực tế và mô hình toán học cao hơn vì khi đó
mô hình toán học gần gũi về ngữ nghĩa so với thực tế hơn.
Hệ (1) được nhiều học sinh chọn nhất và kèm theo lời giải thích là v1 là vận
tốc của An, v2 là vận tốc của Bình.
(Trích bài làm H15)
80
Tuy nhiên, vẫn có 8/24 học sinh chỉ chọn hệ (2) mà không chọn hệ (1). Điều
này chứng tỏ một số học sinh cho rằng ẩn được chọn phải là x, y giống như các ẩn
trong hệ phương trình tổng quát.
(Trích bài làm H8)
Chỉ có duy nhất 1 học sinh chọn cả hai hệ (1) và (2). Các học sinh còn lại chỉ
chọn 1 trong 3 hệ đầu tiên. Điều này khiến chúng tôi đặt ra câu hỏi “Tại sao?”. Câu
trả lời có thể là học sinh chưa quan tâm đến câu hỏi: “Trong các hệ phương trình
cho dưới đây, em hãy chọn những hệ tương ứng với đề toán trên?” hoặc học sinh
chỉ chấp nhận 1 hệ mà họ cho là phù hợp nhất với đề toán mà không chấp nhận
những hệ khác.
Kết thúc pha 5 giáo viên gọi học sinh giải thích cách chọn.
- GV: Thầy mời em (H16) nêu câu trả lời của em và giải thích.
- H16: Hệ (1) tương ứng, v1 là vận tốc của An đi (km/h), v2 là vận tốc của Bình
đi (km/h).
- GV: Em thấy hệ (1) và (2) có gì khác nhau không?
- H16: Có.
- GV: Hay là chỉ chuyển vế qua lại.
- H16: Dạ. Chuyển vế.
- GV: Như vậy hệ (2) có tương ứng với bài toán không?[…] (Protocole câu
201-207)
- GV: Thực ra không chỉ có hệ (1), (2) là tương ứng với bài toán mà cả hệ (3), (4) cũng tương ứng. […] Trong các hệ trên những hệ nào cho phép giải quyết nhanh bài toán? (Protocole câu 210)
81
- GV: Một bài toán thực tế có thể tương ứng với nhiều bài toán toán học khác nhau. Như trong bài toán ở pha này, có nhiều cách chọn ẩn khác nhau để lập hệ phương trình tương ứng với đề toán. Có cách chọn ẩn sẽ ra được bài toán toán học đơn giản dễ giải quyết nhưng cũng có cách chọn ẩn sẽ gây khó khăn. Do vậy tùy tình huống thực tế mà chúng ta có cách chọn ẩn khác nhau (trực tiếp hoặc gián tiếp) để xây dựng những mô hình toán học (hệ phương trình bậc nhất hai ẩn) khác nhau. (Protocole câu 212)
Như vậy, qua pha này, vấn đề xây dựng và chọn lựa mô hình toán học thích
hợp cho một bài toán thực tế đã được lưu ý đối với học sinh. Bước xây dựng mô
hình toán học trong quá trình mô hình hóa một tình huống thực tế là rất quan trọng.
Pha 6
Trong pha 6 học sinh gặp khó khăn khi vẽ đồ thị hai hàm số và xác định tọa độ
giao điểm (các giá trị tương đối lớn không quen thuộc như những đồ thị mà học
sinh thường gặp). Tọa độ giao điểm của hai đồ thị này là (15; 225). Chúng tôi cho
phép học sinh làm việc trên giấy A0 có kẻ lưới ô vuông sẽ tạo điều kiện thuận lợi
cho học sinh xác định tọa độ giao điểm.
Ở câu 5.1, tất cả các nhóm đều lập được hai hàm số. Tuy nhiên chỉ có nhóm 1,
nhóm 2 và nhóm 6 vẽ đủ hai đồ thị trong đó nhóm 1, nhóm 2 dựa vào đồ thị để xác
định giao điểm.
(Trích bài làm nhóm 1 pha 6)
82
Nhóm 4 tuy đã xác định được hai hàm số nhưng do xác định dạng y = 5000x
+ 150000 và y = 15000x nên đã không vẽ được đồ thị.
Ý nghĩa giao điểm chỉ có nhóm 1 trả lời, các nhóm khác không có câu trả lời.
Câu trả lời của nhóm 1 liên quan đến chi phí (Tại giao điểm thì hai chi phí bằng
nhau – Trích bài làm nhóm 1 pha 6). Nhóm 5 giải hệ để xác định giao điểm tuy
=
+
y
nhiên nhóm này cũng không nêu được ý nghĩa giao điểm của hai đồ thị chính là
=
150 5 x 15 y x
nghiệm của hệ phương trình . Điều này chứng tỏ học sinh thường chú
trọng làm việc trên biểu thức đại số, chưa chú trọng mối quan hệ giữa biểu thức đại
số của hàm số và đồ thị.
Ở câu 5.2, có 3 nhóm trả lời nhưng tất cả đều tính giá trị để so sánh. Trong
khi đó đồ thị hai hàm số đã có nhưng các nhóm không tận dụng được mô hình toán
học này. Điều này chứng tỏ học sinh chưa có khả năng khai thác trên mô hình toán
học có sẵn (đồ thị) để xác định kết quả của tình huống thực tế. Kết quả này cũng
phù hợp với kết quả của nhiều nghiên cứu khác là học sinh Việt Nam không có thói
quen làm việc trên đồ thị của hàm số mà việc giải quyết bài toán thường quy về làm
việc trên biểu thức đại số của nó.
Kết thúc pha 6 giáo viên gọi nhóm 1 và nhóm 2 giải thích cách làm của
nhóm.
- GV: Thầy mời đại diện nhóm 1 giải thích cách làm của nhóm.
- H4: Thưa thầy x là số giờ nên hình thức 1 có chi phí y = 150 +5x, hình thức 2
có chi phí y = 15x. Tại giao điểm hai chi phí bằng nhau. Đối với câu 2, gia đình
này nên chọn hình thức 1 vì có chi phí rẻ hơn.
- GV: Thầy mời đại diện nhóm 2 giải thích cách làm của nhóm.
- H7: Thưa thầy cách làm của nhóm em như nhóm 1, giao điểm là nghiệm hệ
phương trình trên. (Protocole câu 261 -264)
83
Giáo viên nhấn mạnh việc khai thác mô hình toán học có sẵn để trả lời kết quả
bài toán ban đầu.
- GV: Qua hoạt động này các em thấy dựa vào mô hình toán học của một bài toán thực tế chúng ta có thể dự đoán kết quả ứng với nhiều trường hợp khác nhau trong thực tế. Chẳng hạn với bài toán trên chúng ta quyết định được chọn hình thức nào khi số giờ bơm nhỏ hơn 15, bằng 15 và lớn hơn 15. - GV: Ngoài ra chúng ta có thêm một cách khác để giải hệ phương trình là cách dùng đồ thị. Em nào có thể nêu các bước giải hệ phương trình bằng đồ thị? - H14: Vẽ đồ thị hai phương trình sau đó xác định giao điểm, giao điểm đó chính là nghiệm của hệ. (Protocole câu 270 -272)
Kết thúc pha này giáo viên đã giới thiệu kỹ thuật giải hệ bằng đồ thị và nhấn
mạnh kỹ năng đọc đồ thị để tìm câu trả lời cho bài toán thực tế trong các trường hợp
khác nhau.
6. Kết luận
- Trong thực nghiệm, trước khi khái niệm hệ phương trình bậc nhất hai ẩn
được đưa vào, ở phần lớn học sinh đã xuất hiện những ý tưởng về việc thành lập hệ
hai phương trình bậc nhất hai ẩn để giải quyết các bài toán liên quan đến hai số hoặc
hai đại lượng đặt ra cho họ. Các kỹ thuật giải hệ bằng phương pháp cộng đại số và
phương pháp thế cũng được khám phá bởi chính học sinh. Trước pha thể chế hóa
của giáo viên, kiến thức nhắm đến (hệ phương trình bậc nhất hai ẩn) đã xuất hiện ở
đa số các nhóm học sinh.
- Đồ án đã tạo ra một cách tiếp cận mới về hệ phương trình bậc nhất hai ẩn,
tạo ra sự ngắt quãng với các thực hành của thể chế, vì các kiến thức về hệ phương
trình bậc nhất hai ẩn nảy sinh như là kết quả của việc giải quyết các tình huống toán
học và ngoài toán học.
- Thực nghiệm chứng tỏ học sinh đã vận dụng được hệ phương trình bậc nhất
hai ẩn trong việc giải quyết các bài toán toán học và ngoài toán học. Họ không gặp
phải khó khăn khi làm việc với mô hình toán học (giải hệ phương trình bậc nhất hai
ẩn) mà họ gặp vấn đề khi xây dựng và chọn lựa mô hình toán học phù hợp với tình
84
huống (đặc biệt là trường hợp các đại lượng được tính đến như ẩn số không được
nêu tường minh trong yêu cầu của bài toán). Hơn nữa, học sinh chưa quen với việc
khai thác mô hình toán học để trả lời các câu hỏi của thực tế cũng như đối chiếu câu
trả lời của bài toán toán học với tình huống thực tế để kiểm chứng về sự hợp thức
của mô hình toán học và của câu trả lời. Đồ án đã tạo cơ hội cho học sinh tiếp cận
với quá trình mô hình hóa toán học, đặc biệt là bước thiết lập mô hình toán học và
đối chiếu mô hình với thực tế – hai bước hầu như vắng mặt trong sách giáo khoa.
+ Thực nghiệm chứng tỏ có thể tổ chức dạy học hệ phương trình bậc nhất hai
ẩn cho học sinh bằng mô hình hóa toán học, giúp họ thấy được động cơ, nhu cầu
thực tiễn của việc nghiên cứu hệ phương trình bậc nhất hai ẩn.
Cụ thể, thực nghiệm cho phép khẳng định giả thuyết nghiên cứu mà chúng tôi đặt ra
ở cuối chương 2:
“ Có thể làm nảy sinh khái niệm hệ phương trình bậc nhất hai ẩn như là công cụ để
giải quyết các vấn đề thực tiễn trước khi xem nó như một đối tượng nghiên cứu. Nói
cách khác, có thể tổ chức dạy học hệ phương trình bậc nhất hai ẩn bằng mô hình
hóa và học sinh có thể tiếp cận bước đầu với quá trình mô hình hóa toán học.”
85
KẾT LUẬN
Việc nghiên cứu hệ phương trình bậc nhất, đặc biệt là kiểu nhiệm vụ giải bài toán
thực tế bằng cách lập hệ phương trình, ở bậc đại học và ở bậc phổ thông cũng như
kết quả thu được từ thực nghiệm cho phép chúng tôi có câu trả lời thỏa đáng cho
những câu hỏi đặt ra từ đầu luận văn. Sau đây là một số kết quả chính của nghiên
cứu.
1. Trong chương 1, chúng tôi nghiên cứu vài nét cơ bản về mô hình hóa và
quá trình mô hình hóa toán học, khái niệm dạy học mô hình hóa và dạy học bằng
mô hình hóa. Trong đó có một số thuận lợi và trở ngại khi áp dụng mô hình hóa vào
dạy – học toán hiện nay cũng như sự quan tâm ở một số nước và ở Việt Nam.
Chúng tôi ghi nhận bắt đầu từ những năm cuối thập niên 80 nhiều nước đã bắt đầu
quan tâm nhiều hơn đến việc dạy học mô hình hóa và dạy học bằng mô hình hóa.
Từ năm 2006, Việt Nam bắt đầu có quan tâm đến việc gắn liền vai trò công cụ của
toán học với thực tiễn tuy nhiên việc dạy học mô hình hóa và dạy học bằng mô hình
hóa vẫn chưa được quan tâm đúng mức.
2. Trong chương 2, chúng tôi nghiên cứu tri thức hệ phương trình ở hai cấp
bậc: Bậc đại học và bậc phổ thông. Trong đó chúng tôi đặc biệt chú ý đến kiểu
nhiệm vụ giải bài toán thực tế bằng cách lập hệ phương trình để làm rõ những đặc
trưng và ràng buộc của thể chế dạy học Việt Nam đối với việc dạy học hệ phương
trình tuyến tính bậc nhất hai ẩn trong mối liên hệ với mô hình hóa toán học.
Ở bậc đại học, hệ phương trình tuyến tính thể hiện vai trò công cụ không chỉ
trong toán học mà còn trong nhiều lĩnh vực khoa học khác, đặc biệt là trong lĩnh
vực kinh tế. Kiểu nhiệm vụ mà chúng tôi quan tâm chỉ xuất hiện trong một số giáo
trình Toán cao cấp dành cho sinh viên kinh tế. Tuy nhiên, các mô hình hầu hết đã
cho sẵn, sinh viên chủ yếu chỉ thực hiện bước 3 (hoạt động toán học). Việc đối
chiếu kết quả toán học với thực tế cũng không được quan tâm (không thuộc trách
nhiệm của sinh viên). Như vậy, ở bậc đại học dường như người ta chỉ chú trọng đến
86
việc minh họa một số ứng dụng của hệ phương trình tuyến tính trong kinh tế chứ
không quan tâm đến dạy học mô hình hóa và dạy học bằng mô hình hóa.
Ở bậc phổ thông, phương trình bậc nhất hai ẩn xuất hiện ngầm ẩn từ lớp 4
cùng với kỹ thuật giải hệ là sơ đồ đoạn thẳng tương ứng với kỹ thuật cộng đại số.
Đến lớp 9 mới xuất hiện tường minh các kỹ thuật giải hệ: Kỹ thuật đồ thị, kỹ thuật
cộng đại số, kỹ thuật thế. Kiểu nhiệm vụ giải bài toán thực tế bằng cách lập hệ
phương trình cũng xuất hiện từ đây. Ẩn luôn được chọn là các đại lượng cần tìm
được nêu tường minh trong yêu cầu của bài toán. Trong sách giáo khoa, tất cả các
ẩn đều được kí hiệu là x, y. Theo chúng tôi, SGK hướng đến các ẩn đã sử dụng
trong hệ phương trình bậc nhất hai ẩn, ẩn toán học x, y gắn liền với hệ phương trình
bậc nhất hai ẩn mà học sinh đã được học. Hai ẩn x, y làm cho việc chuyển bài toán
về mô hình toán học không gắn với tình huống thực tế, không tạo được mối liên hệ
trực quan giữa mô hình toán học và tình huống ban đầu. Do đó, khi lập được hệ
phương trình với hai ẩn x, y, SGK đã thoát khỏi tình huống ban đầu mà bài toán đặt
ra.
Việc mô hình hóa toán học một tình huống thực tế không được thực hiện
đầy đủ, chỉ là hình thức vì hầu hết mô hình trong các bài toán này đều được định
sẵn. Việc dạy học mô hình hóa cũng không được quan tâm đầy đủ, vì ở bước 2 các
ẩn đã được nêu tường minh trong câu hỏi nên công việc của học sinh chỉ là thiết lập
hệ phương trình với các ẩn đó. Bước 4 chỉ là hình thức và chu kì thực hiện dừng lại
ngay lần thực hiện đầu. Nghiệm của hệ tìm được luôn thỏa mãn bài toán ban đầu.
Do đó, học sinh không có trách nhiệm kiểm tra các kết quả toán học nhận được có
phù hợp với thực tế hay không.
Sách giáo khoa ưu tiên sử dụng hệ phương trình tuyến tính để giải quyết tất
cả các bài toán về tìm hai số hay hai đại lượng trong chương này. Các phương pháp
khác như phương pháp thử sai; phương pháp lập phương trình một ẩn;… không hề
được đề cập. Học sinh sử dụng công cụ sẵn có là hệ phương trình tuyến tính, không
có trách nhiệm đặt ra câu hỏi lựa chọn công cụ toán học nào hữu hiệu nhất.
87
3. Chương 3 bao gồm việc xây dựng và triển khai một đồ án dạy học cho
phép học sinh lớp 9 tiếp cận với khái niệm hệ phương trình bậc nhất hai ẩn bằng mô
hình hóa và cũng giúp học sinh tiếp cận với mô hình hóa toán học. Ở đây, các kiến
thức về hệ phương trình bậc nhất hai ẩn nảy sinh như là kết quả của việc giải quyết
các tình huống toán học và ngoài toán học. Thực nghiệm đã tạo điều kiện cho học
sinh vận dụng hệ phương trình như là một công cụ để giải quyết các bài toán thực
tế, giúp họ thấy được động cơ, nhu cầu thực tiễn của việc nghiên cứu hệ phương
trình bậc nhất hai ẩn.
+ Thực nghiệm chứng tỏ có thể tổ chức dạy học hệ phương trình bậc nhất hai
ẩn cho học sinh bằng mô hình hóa toán học và cho phép khẳng định giả thuyết
nghiên cứu sau:
“ Có thể làm nảy sinh khái niệm hệ phương trình bậc nhất hai ẩn như là
công cụ để giải quyết các vấn đề thực tiễn trước khi xem nó như một đối tượng
nghiên cứu. Nói cách khác, có thể tổ chức dạy học hệ phương trình bậc nhất hai ẩn
bằng mô hình hóa và học sinh có thể tiếp cận bước đầu với quá trình mô hình hóa
toán học.”
Kết quả nghiên cứu dẫn chúng tôi đến việc đặt ra câu hỏi về khả năng dạy
học mô hình hóa và dạy học bằng mô hình hóa ở trường phổ thông Việt Nam. Làm
thế nào để khuyến khích giáo viên dạy học mô hình hóa và dạy học bằng mô hình
hóa? Cần phải chuẩn bị cho họ những công cụ nào? Những tổ chức praxéologie nào
mà thể chế cần xây dựng để tạo điều kiện cho giáo viên dạy học mô hình hóa toán
học?
Những câu hỏi trên cùng với việc hoàn thiện hơn nữa đồ án dạy học là những
hướng nghiên cứu mở ra từ luận văn này.
88
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tiếng việt
[1]. Annie Bessot, Nguyễn Thị Nga (2011), Mô hình hóa toán học các hiện tượng biến thiên trong dạy học nhờ hình học động – dự án nghiên cứu MIRA, Tạp chí khoa học giáo dục trường ĐH Sư phạm Tp. Hồ Chí Minh Số 28(62)/KHGD.
[2]. Lê Thị Hoài Châu (2011), Dạy học Thống kê ở trường phổ thông và vấn đề nâng cao năng lực hiểu biết toán cho học sinh, Tạp chí khoa học giáo dục trường ĐH Sư phạm Tp. Hồ Chí Minh Số 25(59)/KHGD. [3]. Phan Đức Chính (Tổng chủ biên), Tôn Thân (Chủ biên) (2011), Bài tập Toán 9 – Tập hai, Nxb Giáo dục.
[4]. Phan Đức Chính (Tổng chủ biên), Tôn Thân (Chủ biên) (2011), Toán 9 – Tập hai, Nxb Giáo dục.
[5]. Phan Đức Chính (Tổng chủ biên), Tôn Thân (Chủ biên) (2011), Toán 9 – Tập hai – Sách giáo viên, Nxb Giáo dục.
[6]. Nguyễn Thị Hồng Cúc (2010), Dạy học mô hình hóa hàm số thông qua bài toán tính diện tích trong môi trường tích hợp phần mềm Cabri II Plus, Luận văn thạc sĩ, Đại học Sư Phạm Tp. Hồ Chí Minh.
[7]. Văn Như Cương (Chủ biên) (2011), Bài tập Hình học 10 nâng cao, Nxb Giáo dục.
[8]. Văn Như Cương (Chủ biên) (2011), Hình học 10 nâng cao, Nxb Giáo dục. [9]. Văn Như Cương (Chủ biên) (2011), Hình học 10 nâng cao– Sách giáo viên, Nxb Giáo dục.
[10]. Trần Thị Mỹ Dung (2008), Nghiên cứu thực hành của giáo viên trong dạy học hệ phương trình tuyến tính ở lớp 10, Luận văn thạc sĩ, Đại học Sư Phạm Tp. Hồ Chí Minh.
[11]. Trương Lâm Đông (2007), Toán cao cấp – Phần 1: Đại số tuyến tính (cho sinh viên các ngành kinh tế), Tài liệu lưu hành nội bộ trường đại học kinh tế.
[12]. Lê Sĩ Đồng (2010), Toán cao cấp - Đại số tuyến tính, Nxb Giáo dục. [13]. Quách Huỳnh Hạnh (2009), Nghiên cứu thực hành giảng dạy thống kê mô tả ở trung học phổ thông, Luận văn thạc sĩ, Đại học Sư Phạm Tp. Hồ Chí Minh.
[14]. Đỗ Đình Hoan (chủ biên) (2011), Toán 4, Nxb Giáo dục. [15]. Đỗ Đình Hoan (chủ biên) (2011), Toán 4 Sách giáo viên, Nxb Giáo dục. [16]. Đỗ Đình Hoan (chủ biên) (2011), Toán 5, Nxb Giáo dục. [17]. Đỗ Đình Hoan (chủ biên) (2011), Toán 5 Sách giáo viên, Nxb Giáo dục. [18]. Nguyễn Thị Nga (2011), La périodicité dans les enseignements scientifiques en France et au Viet Nam: une ingénierie didactique d’introduction aux fonctions périodiques par la modélisation, Luận án Tiến sĩ, Đại học Joseph Fourier và Đại học Sư Phạm Tp. Hồ Chí Minh.
89
[19]. Trần Thị Linh Phương (2011), Nâng cao năng lực hiểu biết toán cho học sinh qua dạy học thống kê, Luận văn tốt nghiệp, Đại học Sư Phạm Tp. Hồ Chí Minh.
[20]. Bùi Thế Tâm, Trần Vũ Thiệu (1998), Các phương pháp tối ưu hóa, Nxb Giao thông Vận tải – Hà Nội.
[21]. Lê Văn Tiến (2005), Phương pháp dạy học môn toán ở trường phổ thông, Nxb Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh.
[22]. Nguyễn Thùy Trang (2006), Algorit và tham số trong dạy- học phương trình ở trường trung học phổ thông. Trường hợp: hệ phương trình bậc nhất nhiều ẩn, Luận văn thạc sĩ, Đại học Sư Phạm Tp. Hồ Chí Minh.
[23]. Vũ Tuấn (Chủ biên) (2011), Bài tập Đại số 10, Nxb Giáo dục. [24]. Vũ Tuấn (Chủ biên) (2011), Đại số 10, Nxb Giáo dục. [25]. Vũ Tuấn (Chủ biên) (2011), Đại số 10 – Sách giáo viên, Nxb Giáo dục. [26]. Nguyễn Thị Minh Vân (2012) , Nghiên cứu didactic về giải toán bằng cách lập hệ phương trình ở trung học cơ sở, Luận văn thạc sĩ, Đại học Sư Phạm Tp. Hồ Chí Minh.
Song ngữ Pháp – Việt
[27]. Annie Bessot, Claude Comiti (Đại học Joseph Fourrier – Grenoble I), Lê Thị Hoài Châu, Lê Văn Tiến (Đại Học Sư Phạm TP. Hồ Chí Minh) (2009), Những vấn đề cơ bản của Didactic Toán – NXB Đại học quốc gia TP.Hồ Chí Minh. Tiếng Anh – Tiếng Pháp
[28]. The Pisa (2003), Assessement framework, Mathematics, reading, science and problem solving, Knowledge and skills, Programme for international student Assessement.
[29]. Werner Blum (1993), Mathematical modelling in mathematics education and instruction, Mathematics Department, Kassel University, Germany.
[30]. Lalina Coulange (1997), Les problèmes “concrets” à “mettre en équations” dans l’enseignent, petit x, n047.
[31]. Lalina Coulange (2000) Évolution du passage arithmétique – algèbre dans les manuels et les programs du 20ème siècle”, petit x, n057.
[32]. Aslan Doosti & Alireza M. Ashtiani (?), Mathematical Modeling: a new
approach for mathematics teaching in different levels.
Internet
[33]. http://vi.wikipedia.org/wiki/M%C3%B4_h%C3%ACnh_ph%C3%A1t_tri%E
1%BB%83n_Malthus (http://vi.wikipedia.org/wiki/Mô_hình_phát_triển_Malthus) [34]. http://vi.wikipedia.org/wiki/M%C3%B4_h%C3%ACnh_to%C3%A1n_h%E
1%BB%8Dc (http://vi.wikipedia.org/wiki/Mô_hình_toán_học)
90
PHỤ LỤC 1: ĐỒ ÁN
PHIẾU SỐ 1
(Làm việc cá nhân – Thời gian 10 phút)
Họ và tên: …………………………………………………….
CÂU HỎI
An: Tôi có hai số. Nếu thêm vào số thứ hai hai lần số thứ nhất thì ta được 115.
An hỏi Bình hai số đó là hai số nào?
Câu hỏi 1
Theo em, Bình có trả lời được câu hỏi của An hay không? Vì sao?
TRẢ LỜI
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
PHIẾU SỐ 2
(Làm việc nhóm – Thời gian 20 phút)
NHÓM: ………
CÂU HỎI
An: Tôi có hai số. Nếu thêm vào số thứ hai hai lần số thứ nhất thì ta được 115. An hỏi Bình hai số đó là hai số nào?
Câu hỏi 1
Theo em, Bình có trả lời được câu hỏi của An hay không? Vì sao?
An phát hiện trong câu đố bị thiếu dữ kiện nên An thêm vào dữ kiện sau: “Nếu bớt số thứ hai một giá trị bằng hai lần số thứ nhất ta được 15”. Vậy hai số đó là hai số nào?
Câu hỏi 2
91
2.1. Theo nhóm em, Bình có thể trả lời được câu đố của An chưa?
2.2. Nhóm em hãy thảo luận và viết hướng dẫn gởi bạn Bình để Bình giải được câu đố của An bằng ít nhất ba cách.
PHIẾU SỐ 3
(Làm việc nhóm – Thời gian 20 phút)
NHÓM: ………
CÂU HỎI
Cô Ba là người bán các loại cá ngoài chợ, cô mua cá của những người nuôi cá và đem ra chợ bán kiếm lời. Cô thu mua nhiều loại cá: cá rô, cá phi, cá điêu hồng,… Ngày hôm qua cô mua 20kg cá điêu hồng, lúc đầu cô bán hết 16kg thì chợ bắt đầu thưa người, cô quyết định giảm giá bán và bán hết số cá điêu hồng còn lại thu được tiền lời từ bán cá điêu hồng trong ngày là 76000 đồng. Ngày hôm sau cô thu mua 15kg cá điêu hồng, tương tự ngày trước đó lúc đầu cô bán được 13kg thì chợ bắt đầu thưa người, cô quyết định giảm giá bán và bán hết số cá điêu hồng còn lại thu được tiền lời từ bán cá điêu hồng là 63000 đồng. Biết rằng giá bán cá điêu hồng và giá giảm giá trong hai ngày không đổi. Hỏi khi bán với giá giảm giá thì cô Ba lời hay lỗ, số tiền này là bao nhiêu?
Câu hỏi 3
Em hãy giải bài toán trên.
PHIẾU SỐ 4
(Làm việc cá nhân – Thời gian 10 phút)
Họ và tên: …………………………………………………….
CÂU HỎI
Hai nhà bạn An và Bình cách nhau 3600m. Mỗi buổi sáng hai bạn đi bộ ngược chiều nhau, ngày đầu tiên hai bạn xuất phát cùng lúc và gặp nhau tại địa điểm cách nhà bạn An 2000m. Ngày thứ hai do bạn Bình xuất phát sớm hơn bạn An
92
6 phút nên hai bạn gặp nhau ngay giữa đoạn đường. Hỏi An và Bình đi bộ với vận tốc bao nhiêu?
Câu hỏi 4
=
2000 1600 −
=
0
x
y
1600 v 2
Trong các hệ phương trình cho dưới đây, em hãy chọn những hệ tương ứng với đề toán trên, giải thích và nêu rõ ý nghĩa các biến? Theo em, em chọn trường hợp nào? Vì sao?
+
=
= −
360
360
x
y
1800 v 2
1800 1800 −
2000 v 1 1800 v 1
=
t 2000 1
(1) (2)
− −
+
t 1600 2 = 360 1800 t
1600 1800
y y
= 0 = − 360
2
x 2000 1800 x
1800 t 1
(4) (3)
TRẢ LỜI
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
PHIẾU SỐ 5
(Làm việc nhóm – Thời gian 25 phút)
NHÓM: ………
CÂU HỎI
Một gia đình muốn bơm nước và quyết định đi thuê. Có hai hình thức thuê một loại máy bơm. Loại thứ nhất giá thuê là 150 ngàn đồng một tháng, loại thứ hai giá thuê 15 ngàn đồng một giờ. Tuy nhiên, nếu thuê máy bơm loại thứ nhất thì mỗi giờ tốn thêm phí nhiên liệu là 5 ngàn đồng.
Gọi y là số tiền mà gia đình này phải trả cho việc sử dụng máy bơm x giờ trong một tháng.
Câu hỏi 5
93
5.1. Hãy viết và vẽ đồ thị của những hàm số biểu diễn chi phí phải trả cho việc sử dụng máy bơm theo hai hình thức trên cùng một hệ trục tọa độ. Suy ra giao điểm. Giao điểm này có ý nghĩa gì?
5.2. Nếu cần sử dụng máy bơm trong một tháng và mỗi ngày cần phải sử dụng trong ít nhất 1 giờ thì gia đình này nên chọn hình thức nào để chi phí phải trả thấp hơn.
94
PHỤ LỤC 2: MỘT SỐ BÀI LÀM CỦA HỌC SINH
PHA 1
H4
H8
95
PHA 2
96
97
PHA 3
98
PHA 5
H8
99
H15
100
PHA 6
101
PHỤ LỤC 3: Protocole
1. GV: Các em làm việc cá nhân trong khoảng 10 phút trả lời câu hỏi số 1 ghi vào phiếu số 1. Sau 10 phút các em nộp lại phiếu số 1 cho thầy. Thời gian làm việc của các em là 10 phút.
2. GV: Thầy có hai câu trả lời của các em. Một nhóm em Bình trả lời được câu hỏi của
bạn An và một nhóm em Bình không trả lời được câu hỏi của bạn An.
3. GV: Thầy mời em H7, em hãy giải thích cách làm của em. 4. H7: Bình không trả lời được câu hỏi của bạn An vì nếu gọi số thứ nhất là x số thứ hai là y thì từ giả thiết ta có phương trình 2x + y = 115. Như vậy có vô số cặp số x và y thỏa mãn phương trình trên cho nên Bình không thể trả lời chính xác câu hỏi của bạn An.
5. GV: Các em có đồng ý với câu trả lời của bạn không? Bây giờ thầy mời em H12 cho
rằng Bình trả lời được.
6. H12: Theo em Bình có thể trả lời được câu hỏi của bạn An. 7. GV: Theo em tại sao Bình trả lời được câu hỏi của bạn An? 8. H12: Vì theo đề bài ta có thể lập phương trình và tìm hai số đó. 9. GV: Thầy cho cặp số (0; 15) có thỏa điều kiện mà An yêu cầu không các em? 10. GV: Ví dụ cặp số thứ hai là (5; 105). Như vậy từ một giả thiết đó chúng ta có thể tìm
được một cặp số mà bạn An yêu cầu không các em?
11. GV: Như vậy bài toán này yêu cầu tìm mấy số … tìm hai số nhưng chúng ta có mấy
giả thiết … một giả thiết. Cho nên chúng ta không tìm được hai số đó.
12. GV: An yêu cầu tìm hai số nhưng chỉ có một dữ kiện về mối liên hệ giữa chúng nên
hai số đó chưa xác định.
Pha 1
13. GV: Các em làm việc nhóm trong khoảng 20 phút trả lời câu hỏi số 3 ghi vào giấy A0.
Pha 2
14. H2: Nếu bớt số thứ hai một giá trị là x – 2y – y 15. H3: Số thứ hai là y đúng không? Bớt số thứ hai một giá trị phải là – 2x. 16. H2: Vậy y – 2x = 15. 17. H1: Bình có thể trả lời được? 18. H2: Sao Bình có thể trả lời được? Giải không được. 19. H3: Hai dữ kiện đúng không? Có phương trình 1 là: 2x + y = 115, phương trình 2 là y
– 2x = 15.
20. H4: x = (y –15):(- 2)
NHÓM 1 (gồm các học sinh H1, H2, H3, H4)
102
21. H2: Bình có thể trả lời câu hỏi của An với x = - 85/3, y = 215/3. 22. H2: Tổng hiệu là lấy số lớn cộng số bé nhân hai. Không chia. 23. H1: Số lớn – số bé = hiệu, Số lớn + số bé = tổng. 24. H3: Nhân 2 hay chia 2? 25. H1: Số lớn nhân 2, số bé chia 2. 26. H4: Số lớn = (tổng + hiệu):2, số bé = (tổng - hiệu):2
27. H5: Phương trình trên 2x + y = 115. 28. H6: Giả thiết thứ hai y – 2x = 15. 29. H7: Giải được, bấm máy hả? 30. H6: Bình trả lời được câu hỏi của An. 31. H8: Muốn giải hai phương trình này lấy hai vế trừ nhau. 32. H7: Cho cách 2 đi. 33. H6: Giải bằng cách lập phương trình một ẩn chứ không phải hai ẩn. 34. H7: Có hai dữ kiện lập một phương trình. 35. H8: Số thứ nhất là x, số thứ hai là 115 – 2x. 36. H6: Không gọi x, y gọi a, b đi.
NHÓM 2 (gồm các học sinh H5, H6, H7, H8)
37. H11: Bình có thể trả lời câu hỏi của An. 38. H9: Vì sao? 39. H12: Ta có phương trình y + 2x = 115. 40. H11: Nếu bớt …15 nên y – 2x = 15 41. H10: Làm sao tìm x, y? 42. H11: y = 2x +15, thế vào trên là tìm được x rồi. 43. H9: Có điều kiện x, y nguyên dương nữa. 44. H12: Làm cách tiểu học à? 45. H10: Tổng – hiệu. 46. H9: Số lớn cộng số bé là tổng, số lớn trừ số bé là hiệu nhưng tìm thế nào?
NHÓM 3 (gồm các học sinh H9, H10, H11, H12)
47. H15: Bình có trả lời được câu hỏi của An không? 48. H16: Chắc là không vì vẫn còn x với y. 49. H16: Gọi số thứ nhất là x, số thứ hai là y. 50. H15: x + 2y = 115 51. H14: 2y – x =15. 52. H15: 2y – 2x =15 53. H16: Đơn giản cho 2 được mà.
NHÓM 4 (gồm các học sinh H13, H14, H15, H16)
103
54. H14: 15 là hiệu hay là tổng. 55. H15: Phương trình này sai rồi. 56. H13: x = 115 – 15 = 100. 57. H14: Số thứ hai là 100 + 2y =115 suy ra y = 7,5. 58. H13: Đúng không đó. Đọc kỹ đề đi. 59. H14: Giả thiết 2: y – 2x = 15. 60. H15: Làm sao giải phương trình? 61. H14: Lấy hai vế trừ nhau. 62. H15: Chuyển về một phương trình.
HS tìm các cách khác nhau để giải các phương trình này (thế và cộng).
63. H17: Nếu bớt số thứ hai một giá trị bằng hai lần số thứ nhất ta được 15. Vậy y – 2x =
15.
64. H18: Trong đây có cộng 2x nữa. 65. H18: Vậy y = 15, x = 50. 66. H19: Bình có thể trả lời câu hỏi của An. 67. H18: Mới đầu cho hai số trước rồi cho thêm vào nữa là 3x chứ sao 2x. 68. H19: Không có hai số là số thứ nhất và số thứ hai nè. 69. H20: Khi thêm vào… ta có phương trình 2x + y = 115. 70. H20: Phương trình thứ 2 sai rồi, đọc kỹ đề đi. 71. H19: y – 2x = 15. 72. H17: Giải các phương trình này thế nào? 73. H18: Trừ hai phương trình sẽ mất y ngay, tìm được x mà.
NHÓM 5 (gồm các học sinh H17, H18, H19, H20)
(Học sinh thảo luận đề) 74. H21: Mình lấy cả hai dữ kiện trên. 75. H22: Số thứ hai 115 – 2x. 76. H23: Bình trả lời được rồi. 77. H22: x = 25, y = 65. 78. H21: Cộng hai vế phương trình lại – 2x + 2x = 0 rồi.
Hết thời gian đại diện các nhóm dán bài làm của mình trên bảng.
79. GV: Thầy mời đại diện nhóm 1 giải thích cách làm của nhóm. 80. H1: Theo đề bài ta có hai phương trình là x + 2y = 115, ta suy ra được x = 115 – 2y,
phương trình 2 là y – 2x = 15 suy ra x = - (15 – y):2.
81. GV: x là gì? y là gì? 82. H1: x là số thứ nhất, y là số thứ hai.
NHÓM 6 (gồm các học sinh H21, H22, H23, H24)
104
83. GV: Thầy mời đại diện nhóm 3 giải thích cách làm của nhóm. 84. H10: Cách làm của nhóm 3 tụi con là gọi x là số thứ nhất y là số thứ hai, điều kiện x, y
nguyên dương.
85. GV: Tại sao có điều kiện x, y nguyên dương? 86. H10: Tại vì hai số không thể nào là số thập phân được, là số nguyên dương? 87. GV: Các em có đồng ý với ý kiến của bạn không? 88. GV: Bạn An có yêu cầu điều kiện này không các em? 89. Cả lớp: Không. 90. H10: Theo đề bài “Nếu thêm …” nên y + 2x = 115 (1), “Nếu bớt …” nên y – 2x =15,
suy ra y = 2x + 15 (2). Thế (2) vào (1).
91. GV: Đề yêu cầu giải bài toán bằng các cách khác nhau chứ không phải yêu cầu giải các phương trình này bằng các cách khác nhau. Ở đây có nhóm đã tìm nhiều cách khác nhau để giải phương trình.
92. GV: Vậy nhóm nào làm đúng nhóm nào làm sai các em? 93. GV: Đây là một bài toán quen thuộc về tìm hai số, chúng ta có thể giải bằng nhiều cách. Như các bạn đã trình bày ở đây gọi hai ẩn là hai số đó và lập các phương trình và giải các phương trình này sẽ tìm được hai số cần tìm. Ngoài ra chúng ta có thể giải như bài toán tìm hai số khi biết tổng - hiệu hai số đó, hoặc lập phương trình một ẩn.
94. GV: Các em làm việc nhóm trong khoảng 20 phút trả lời câu hỏi số 3 ghi vào giấy
A0.
Pha 3
Học sinh thảo luận tóm tắt đề.
95. H4: Ngày 1 mua 20 kg cá, 16 kg cá bán còn 4kg chưa bán. 96. H1: Ngày hôm sau, 15 kg cá, 13 kg cá bán còn 2 kg. 97. H3: Số tiền lời là của cả hai lần bán trong ngày hay chỉ của số cá giảm giá. 98. H2: Tính năng suất ngày 1 đi. Năng suất bằng số sản phẩm chia cho số ngày. 99. H3: Năng suất bằng số kg cá chia cho số tiền lời. 100. H3: Cái này chỉ tính tiền lời thôi không tính vốn. 101. H2: Mình không biết vốn là bao nhiêu làm sao tính được. 102. H2: Không biết 4kg sau cô Ba giảm bao nhiêu. Gọi x là số tiền đã giảm.
NHÓM 1 (gồm các học sinh H1, H2, H3, H4)
103. H5: Gọi x là số tiền mỗi kg. 104. H7: Mình tìm số tiền lời lỗ. 105. H5: Số tiền lời âm là lỗ, dương là lời. 106. H8: Gọi x là số tiền lời mỗi kg, y là số giảm giá mỗi kg.
NHÓM 2 (gồm các học sinh H5, H6, H7, H8)
105
107. H5: 16x + 4y = 76000; 13x +2y = 63000. 108. H8: x = 5000; y = - 1000. 109. H6: Tìm x, y là tìm ra cái gì? 110. H7: Số tiền lời lỗ là bao nhiêu? 111. H7: Có cá nào – 1000 kg? 112. H5: Hay gọi x, y là cái khác đi. Gọi x là tiền vốn.
113. H11: Gọi x là số tiền bán cá được ngày hôm qua, y là số tiền bán cá được ngày hôm
sau.
114. H10: Số tiền ngày hôm qua, hôm nay là bao nhiêu? 115. H10: Phải gọi x là số tiền bán cá điêu hồng lúc giảm giá thì đúng hơn. 116. H11: x = y. 117. H12: 4kg là số cá giảm giá. 118. H10: 76000 – x là số tiền bán 16kg cá. 119. H11: Số cá giảm giá với số tiền giảm giá có liên quan gì nhau không? 120. H12: Gọi x là cái khác đi.
NHÓM 3 (gồm các học sinh H9, H10, H11, H12)
121. H16: Gọi x là số tiền bán cá. 122. H16: 16x + 4 .số giảm. 123. H14: Gọi số giảm là y. 124. H16: 16x + 4y = 76000. 125. H15: Vậy gọi x là số tiền lúc đầu bán, y là số tiền lúc giảm giá. 126. H13: Vậy 16x + 4y = 76000 và 13x + 2y = 63000. 127. H14: Vậy có thể lấy hai cái cộng lại, cộng lại tiền lời là 139000. 128. H15: 29x + 6y = 139000. 129. H13: Làm sao được? 130. H14: Bấm máy tính sẽ tính được x, y. 131. H15: Cô Ba lỗ tiền bán cá rồi, - 1000. 132. H16: Lúc không giảm giá thì lời lúc giảm giá thì lỗ. 133. H14: Làm sao tính ra? 134. H13: Ghi giải hệ phương trình ta được. 135. H16: Đâu có được. Đâu phải hóa đâu mà giải hệ phương trình.
Học sinh loay hoay tìm cách giải nhưng sau đó quyết định bấm máy.
136. H14: Tìm cách thế như trên mà không thấy gì để thế. 137. H15: Hai cái này giải quyết sao cho nó ra 2y. 138. H16: Vậy cái này chia cho 2 đi.
NHÓM 4 (gồm các học sinh H13, H14, H15, H16)
106
139. H18: Ngày đầu giảm 4kg, ngày sau giảm 2kg. 140. H19: Tổng cộng 6kg. 141. H18: Cả hai ngày giảm như nhau. 142. H17: 76000 + 63000 là tiền gì? 143. H20: Gọi x là số tiền lúc chưa giảm giá, y là số tiền lúc giảm giá rồi. 144. H17: 13x + 2y = 63000.
Học sinh thảo luận câu hỏi tranh luận tiền lời, tiền lỗ.
145. H18: Đặt điều kiện. 146. H17: Điều kiện gì? 147. H18: Ở đây có một điều kiện.
Học sinh tranh luận giải các phương trình, sau đó bấm máy tính.
148. H19: x = 5000, y = - 1000. 149. H18: y = -1000. Vậy lỗ à! 150. H19: Vậy lỗ hết 6000.
NHÓM 5 (gồm các học sinh H17, H18, H19, H20)
151. H24: Gọi x là số tiền lúc giảm giá. 152. H23: Đọc kỹ đề đi. 153. H22: Bình thường bán được 29kg, giảm giá 6kg. 154. H22: Gọi x số tiền lúc bình thường, y số tiền lúc giảm giá. 155. H21: Lời hay lỗ mình tính cái gì? 156. H22: 29x + 6y = 139000.
Học sinh thảo luận cách tính tiền lời nhưng không có kết quả.
Hết thời gian, đại diện các nhóm dán bài làm của mình trên bảng.
157. GV: Thầy mời đại diện nhóm 4 giải thích cách làm của nhóm. 158. H15: Gọi x là giá tiền bán cá lúc đầu, y là giá tiền bán cá khi giảm giá. Ngày hôm qua … 76000, có phương trình 16x + 4y = 76000. Suy ra 2y = (76000 – 63000):2. Ngày hôm nay … 63000, có phương trình 13x + 2y = 63000 (2). Thế (1) vào (2) tính được x = 5000, y = - 1000. Vậy khi giảm giá cô Ba lỗ 1000.
159. GV: Thầy mời đại diện nhóm 5 giải thích cách làm của nhóm. 160. H18: Gọi x là giá bán mỗi kg cá lúc đầu, y là giá bán mỗi kg cá khi giảm giá. Theo đề ta có các phương trình 16x + 4y = 76000, 13x + 2y = 63000. Giải hệ ta được x = 5000, y = - 1000. Vậy khi giảm giá cô Ba lỗ 6000.
161. GV: Nhóm em giải các phương trình bằng cách nào? 162. H18: Thưa thầy nhóm em bấm máy. 163. GV: Các em có đồng ý với cách làm của hai nhóm 4 và 5 không?
NHÓM 6 (gồm các học sinh H21, H22, H23, H24)
107
164. GV: x là giá bán mỗi kg cá khi chưa giảm giá. x = 5000 thầy có thể hiểu là khi chưa giảm giá mỗi kg bán được 5000 đồng, y là giá bán lúc giảm, vậy y = - 1000 có nghĩa là sao? Em nào có thể giải thích được?
165. Phải gọi ẩn là gì? 166. GV: Bài toán đưa ra số tiền lời, vậy chúng ta phải gọi ẩn là số tiền lời. 167. GV: Theo các em phải gọi ẩn chính xác là gì? Thầy mời em H20. 168. H20: x là tiền lời mỗi kg cá lúc chưa giảm giá, y là tiền lời mỗi kg cá khi giảm giá. 169. GV: Khi đó chúng ta hiểu rằng khi giảm giá mỗi kg cá cô Ba lỗ 1000. 170. GV: Đây là một bài toán có nội dung thực tế, như các em đã thấy muốn giải cần phải xây dựng các phương trình toán học, giải các phương trình ta được kết quả của bài toán toán học, sau đó phải đối chiếu với thực tế trả kết quả cho bài toán ban đầu. Quá trình này gọi là quá trình mô hình hóa toán học.
171. GV: Các em thấy rằng quá trình đó không phải chỉ dừng lại trong một lần thực hiện. Ví dụ như các bạn nhóm 5 gọi ẩn là giá bán thì kết quả nhận được không hợp lý, giá bán thì không thể âm. Khi đó quá trình trên phải được thực hiện lại để thiết lập được bài toán toán học phù hợp hơn. Như vậy, việc thiết lập được bài toán toán học phù hợp cho phép cho phép trả lời được các câu hỏi của bài toán thực tế là thực sự quan trọng.
172. GV: Qua pha 2 và 3, để giải các bài toán đó chúng ta đã lập ra các phương trình này (GV chỉ lên các phương trình trên màn chiếu). Chúng được gọi là các phương trình bậc nhất hai ẩn. Vậy thế nào là phương trình bậc nhất hai ẩn?
173. GV: Em có thể nêu dạng tổng quát của phương trình bậc nhất hai ẩn. 174. H12: Thưa thầy nó có dạng ax + by + c = 0. 175. GV: Khi ghép hai phương trình bậc nhất hai ẩn ax + by = c và a’x + b’y = c’ thành
=
một hệ thì ta có hệ phương trình bậc nhất hai ẩn
.
c =
+ ax by + a x b y
'
'
c
'
176. GV: Giống như ở đây trong pha 2 chúng ta có hai phương trình này chúng ta ghép lại tạo thành một hệ phương trình bậc nhất hai ẩn, tương tự trong pha 3 chúng ta ghép hai phương trình này ta được một hệ. (GV chỉ lên các phương trình tương ứng trên màn chiếu)
177. GV: Hôm nay chúng ta sẽ tìm hiểu về hệ phương trình bậc nhất hai ẩn.
(GV trình bày các khái niệm hệ phương trình, nghiệm của hệ, hệ vô nghiệm và giải hệ phương trình)
178. GV: Hai phương trình như thế nào thì được gọi là hai phương trình tương đương? 179. H16: Thưa thầy hai phương trình tương đương là hai phương trình có hai nghiệm
giống nhau.
180. GV: Hai phương trình được gọi là tương đương nếu chúng có cùng tập nghiệm.
Pha 4
108
181. GV: Tương tự hai hệ phương trình được gọi là tương đương nếu chúng có cùng tập
nghiệm.
182. GV: Trong câu hỏi 2 và 3, các em đã biến đổi các phương trình để tìm ra nghiệm của các hệ phương trình. Người ta gọi cách giải của nhóm 3 trong pha 2 là cách giải hệ bằng phương pháp thế và cách giải của nhóm 6 là cách giải hệ bằng phương pháp cộng đại số. (GV dán lại bài làm có trình các phương pháp này và dựa vào đó gọi tên)
183. GV: Nguyên tắc chung của hai phương pháp này là gì? 184. H6: Tìm một ẩn trước. 185. GV: Nguyên tắc chung của hai phương pháp này là khử bớt một ẩn của hệ đưa về
phương trình một ẩn.
186. GV: Bây giờ các em nhìn lên đây, đây là hệ bạn giải theo phương pháp thế. Vậy theo
các em để giải hệ phương trình bằng phương pháp thế chúng ta phải làm gì?
187. H6: Suy ra một ẩn từ một phương trình rồi thế vào phương trình còn lại và giải
phương trình đó.
GV tổng kết trình bày các bước giải hệ phương trình bằng phương pháp thế. Nêu ví dụ và gọi một học sinh trình bày lên bảng, sau đó gọi một học sinh nhận xét, chiếu lời giải theo cách thế còn lại.
188. GV: Dùng phương pháp thế chúng ta chọn phương trình và biểu diễn y theo x hoặc x
theo y sao cho đơn giản.
189. GV: Bây giờ các em xem bài giải của bạn bằng phương pháp cộng đại số và các em cho thầy biết là để giải hệ bằng phương pháp cộng đại số ta cần thực hiện như thế nào?
190. H11: Thưa thầy cộng hai phương trình của hệ ta được phương trình một ẩn. 191. GV: Em nào có ý kiến khác không?
2
− = y
3
có thể thực hiện như bạn nêu được không các
192. GV: Thầy lấy ví dụ như hệ
x +
=
x
2
y
4
em?
193. GV: Ở hệ trên hai hệ số này đối nhau nên cộng lại sẽ mất, còn hệ số của hệ này thế
nào các em?
194. Cả lớp: Không đối nhau. 195. GV: Vậy chúng ta phải làm thế nào? 196. Cả lớp: Nhân hai vế cho 2.
GV tổng kết trình bày các bước giải hệ phương trình bằng phương pháp cộng đại số. Nêu ví dụ và gọi một học sinh trình bày lên bảng, sau đó gọi một học sinh nhận xét, chiếu lời giải theo cách khử ẩn còn lại.
197. GV: Trong pha 2 và 3 các em đã gặp bài toán có nội dung thực tế được giải bằng cách lập hệ phương trình. Như bài toán tìm hai số và bài toán bán cá. Các hãy nêu các bước cần thực hiện để giải quyết các bài toán đó?
109
198. H13: Thưa thầy gọi ẩn, lập các phương trình, giải hệ phương trình tìm được.
GV tổng kết trình bày các bước giải bài toán bằng cách lập hệ phương trình. 199. GV: Ngoài ra các bước này cũng tương ứng với các bước của quá trình mô hình hóa toán học. Bước 1 chính là bước xây dựng các phương trình toán học, bước 2 là giải các phương trình ta được kết quả của bài toán toán học, việc đặt điều kiện và kiểm tra điều kiện tương ứng với bước cuối của quá trình mô hình hóa.
200. GV: Các em làm việc cá nhân trong khoảng 10 phút trả lời câu hỏi số 4 ghi vào phiếu
số 4. Sau khi trả lời xong các em nộp lại phiếu số 4 cho thầy. 201. GV: Thầy mời em (H16) nêu câu trả lời của em và giải thích. 202. H16: Hệ (1) tương ứng, v1 là vận tốc của An đi (km/h), v2 là vận tốc của Bình đi
(km/h).
203. GV: Em thấy hệ (1) và (2) có gì khác nhau không? 204. H16: Có. 205. GV: Hay là chỉ chuyển vế qua lại. 206. H16: Dạ. Chuyển vế. 207. GV: Như vậy hệ (2) có tương ứng với bài toán không? Đơn vị của v1, v2 có đúng
không? 208. H16: Có. 209. GV: Đơn vị của v1, v2 trong bài toán này là gì các em? 210. GV: Thực ra không chỉ có hệ (1), (2) là tương ứng với bài toán mà cả hệ (3), (4) cũng
tương ứng.
Hệ (1) v1, v2 lần lượt là vận tốc của An và Bình (m/s).
Hệ (2) x, y lần lượt là vận tốc của An và Bình (m/s).
Hệ (3) t1, t2 lần lượt là thời gian của An và Bình đi mỗi mét (s).
Hệ (4) x, y lần lượt là thời gian của An và Bình đi mỗi mét (s).
Trong các hệ trên những hệ nào theo các em là dễ giải?
211. Cả lớp: Hệ (3), (4). 212. GV: Một bài toán thực tế có thể tương ứng với nhiều bài toán toán học khác nhau. Như trong bài toán ở pha này, có nhiều cách chọn ẩn khác nhau để lập hệ phương trình tương ứng với đề toán. Có cách chọn ẩn sẽ ra được bài toán toán học đơn giản dễ giải quyết nhưng cũng có cách chọn ẩn sẽ gây khó khăn. Do vậy tùy tình huống thực tế mà chúng ta có cách chọn ẩn khác nhau (trực tiếp hoặc gián tiếp).
Pha 5
Pha 6
110
213. Các em làm việc nhóm trong khoảng 25 phút trả lời câu hỏi số 5 ghi vào giấy A0. Sau
khi trả lời xong các em dán bài làm của nhóm trên bảng.
214. H3: Một tháng có bao nhiêu giờ? 215. H4: 720 giờ. 216. H1: Vậy là sao? 217. H2: Theo hình thức 1, tiền thuê một tháng 150 ngàn, phí nhiên liệu 5 ngàn một giờ là
sao?
218. H1: y = 150 +5x. 219. H3: Vậy theo hình thức 2 là y = 15x. 220. H1: Giao điểm có chính xác không? Chổ này là bao nhiêu? 221. H4: Giao điểm này có liên quan gì đến chi phí đâu? 222. H2: Mỗi ngày cần phải sử dụng trong ít nhất 1 giờ. Vậy trong tháng đó gia đình này sử
dụng bao nhiêu giờ?
223. H3: Làm sao tính được chứ. 224. H1: Mỗi ngày một giờ, vậy một tháng sử dụng hết 30 giờ. 225. H4: Chọn loại nào bây giờ? 226. H1: Dễ mà tính ra là biết thôi.
NHÓM 1 (gồm các học sinh H1, H2, H3, H4)
227. H6: y = 15x 228. H5: 15x – y = 0. 229. H3: 150 + 5x = y 230. H5: 5x – y = 150. 231. H8: Giao điểm tìm thế nào? 232. H5: Bấm máy tìm được mà. 233. H7: Nó có ý nghĩa gì đây? 234. H6: Tính chi phí được không? 235. H5: Biết bao nhiêu giờ mà tính.
NHÓM 2 (gồm các học sinh H5, H6, H7, H8)
236. H9: 15 ngàn một giờ, một tháng biết bao nhiêu giờ? 237. H11: Lấy 12x24. 238. H9: 15x = 150y. 239. H12: Hình như sai rồi, y = 15x , y = 5x +150.
NHÓM 3 (gồm các học sinh H9, H10, H11, H12)
240. H15: Sử dụng loại 1 5y +150000.
NHÓM 4 (gồm các học sinh H13, H14, H15, H16)
111
241. H14: Sử dụng loại 2 15000x = y. 242. H15: Phương trình đầu sai rồi phải là 5000x + 150000 = y. 243. H16: Câu 2 tính chi phí được không? 244. H13: Biết bao nhiêu giờ mà tính. 245. H14: Mỗi ngày một giờ cứ cho là 30 giờ đi.
246. H19: 150 ngàn một tháng giống như bao trọn gói vậy. 247. H20: 150 + 5x = y. 248. H17: Loại 2 15 ngàn một giờ y = 15x. 249. H18: Bấm máy tính sao được. 250. H18: Bấm máy giải hệ có x, y ngay mà, ra luôn giao điểm nữa. 251. H19: Câu 2 chọn loại 1, tính chi phí ra đi.
NHÓM 5 (gồm các học sinh H17, H18, H19, H20)
252. H24: x giờ trong một tháng mà một tháng 30 ngày chia ra là mỗi ngày… 253. H22: Nhưng biết giờ nào sử dụng, giờ nào không sử dụng đâu. 254. H24: Mỗi ngày 24 giờ mà một tháng 30 ngày, vậy là 720 giờ. 255. H23: Đọc kỹ đề đi. Hãy viết và vẽ đồ thị… 256. H21: Biểu diễn chi phí theo số giờ à? 257. H22: 150 + 5x = y. 258. H21: Vậy thì 15x = y. 259. H21: Giao điểm có ý nghĩa gì? Nó nằm ở đâu? 260. H22: Nó biểu thị cái gì?
Hết thời gian đại diện các nhóm dán bài làm của mình trên bảng.
261. GV: Thầy mời đại diện nhóm 1 giải thích cách làm của nhóm. 262. H4: Thưa thầy x là số giờ nên hình thức 1 có chi phí y = 150 +5x, hình thức 2 có chi phí y = 15x. Tại giao điểm hai chi phí bằng nhau. Đối với câu 2, gia đình này nên chọn hình thức 1 vì có chi phí rẻ hơn.
263. GV: Thầy mời đại diện nhóm 2 giải thích cách làm của nhóm. 264. H7: Thưa thầy cách làm của nhóm em như nhóm 1, giao điểm là nghiệm hệ phương
trình trên.
265. GV: Các em có đồng ý với cách làm của nhóm 1 và 2 không? 266. GV: Ý nghĩa giao điểm. Nếu trong tháng gia đình này chỉ sử dụng 15 giờ bơm thì chọn hình thức nào chi phí cũng như nhau. Như nhóm 2 đã trình bày, giao điểm cũng là nghiệm của hệ hai phương trình trên.
267. GV: Đối với câu hỏi 5.2 thì cả hai nhóm đều tính chi phi để so sánh. Em nào có cách
chọn mà không cần tính chi phí.
NHÓM 6 (gồm các học sinh H21, H22, H23, H24)
112
268. GV: Có thể dựa vào hình vẽ không? 269. GV: dựa vào đồ thị, các em thấy chi phí của hai hình thức đều tăng, ban đầu chi phí sử dụng hình thức 1 lớn hơn nhưng từ giao điểm trở đi thì chi phí sử dụng hình thức 2 lớn hơn. Do số giờ sử dụng ít nhất là 30 giờ nên gia đình này chọn hình thức 1.
270. GV: Qua hoạt động này các em thấy dựa vào mô hình toán học của một bài toán thực tế chúng ta có thể dự đoán kết quả ứng với nhiều trường hợp khác nhau trong thực tế. Chẳng hạn với bài toán trên chúng ta quyết định được chọn hình thức nào khi số giờ bơm nhỏ hơn 15, bằng 15 và lớn hơn 15.
271. GV: Ngoài ra chúng ta có thêm một cách khác để giải hệ phương trình là cách dùng đồ
thị. Em nào có thể nêu các bước giải hệ phương trình bằng đồ thị?
272. H14: Vẽ đồ thị hai phương trình sau đó xác định giao điểm, giao điểm đó chính là
nghiệm của hệ.
GV trình bày các bước giải hệ phương trình bằng đồ thị, nêu khó khăn của phương pháp này.
273. GV: Chúng ta vừa tìm hiểu xong về hệ phương trình. Tiết học đến đây kết thúc.

