BOÄ GIAÙO DUÏC VAØ ÑAØO TAÏO TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC SÖ PHAÏM TP.HOÀ CHÍ MINH ___________________
Traàn Thò Myõ Haïnh
: Quaûn lyù Giaùo duïc : 60 14 05
Chuyeân ngaønh Maõ soá LUAÄN VAÊN THAÏC SĨ GIAÙO DUÏC HOÏC
NGÖÔØI HÖÔÙNG DAÃN KHOA HOÏC PGS-TS. ÑOAØN VAÊN ÑIEÀU
Thaønh phoá Hoà Chí Minh - 2010
LỜI CAM ĐOAN
Tôi tên : TRẦN THỊ MỸ HẠNH, học viên cao học, chuyên ngành Quản lý giáo dục,
khóa 17 (2006-2009) tại Trường Đại Học Sư Phạm Thành Phố Hồ Chí Minh.
Tôi xin cam đoan trong quá trình học tập và nghiên cứu để hoàn thành luận văn này
dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Đoàn Văn Điều thì kết quả nghiên cứu đạt được
trong luận văn là do chính bản thân tôi thực hiện và chưa có ai công bố trong bất kỳ công
trình nào khác.
Người cam đoan
TRẦN THỊ MỸ HẠNH
LỜI CẢM ƠN
Tác giả luận văn xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn đến:
Ban giám hiệu Trường Đại học Sư Phạm TPHCM.
Quý Thầy Cô Phòng Khoa Học Công Nghệ & Sau Đại Học Trường Đại học Sư
Phạm TPHCM.
Ban chủ nhiệm Khoa Tâm Lý Giáo Dục Trường ĐHSP TPHCM.
Quý Thầy Cô giảng dạy lớp Cao học Quản lý giáo dục khóa 17.
Ban lãnh đạo Phòng giáo dục và đào tạo Quận 11 TPHCM.
Ban giám hiệu, quý Thầy Cô, quý phụ huynh và các em học sinh tại các trường
trung học cơ sở Lê Quý Đôn, Chu Văn An, Lê Anh Xuân, Lữ Gia, Hậu Giang, Phú
Thọ thuộc Quận 11 TPHCM đã nhiệt tình giúp đỡ, hỗ trợ tác giả trong suốt quá trình
thu thập thông tin, số liệu nhằm hoàn thành tốt luận văn này.
Đặc biệt cảm ơn PGS.TS Đoàn Văn Điều đã hướng dẫn tận tình và hết lòng giúp đỡ
để tác giả hoàn thành luận văn tốt nghiệp.
Mặc dù đã rất cố gắng song luận văn vẫn không tránh khỏi những thiếu sót, tác giả
rất mong Quý Thầy, Cô và các bạn đồng nghiệp chân tình góp ý thêm.
TRẦN THỊ MỸ HẠNH
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
- Con người ngoài là một thực thể sinh lý còn là một thực thể mang bản chất tâm lý-xã hội
bao gồm những phẩm chất, những thuộc tính tâm lý có ý nghĩa xã hội được hình thành do kết quả
tác động qua lại giữa họ với nhau, giữa họ với các sự vật, hiện tượng xung quanh trong từng hoạt
động. Con người càng hoạt động thì càng có cơ hội khám phá, hiểu biết và phát triển. Vì thế, họ cần
phải có kiến thức, kỹ năng và thái độ để có thể giúp họ tự kiểm soát được hành vi của bản thân và
kiểm soát được môi trường xung quanh một cách thành công. Nói cách khác, để sống tốt và hoạt
động hiệu quả, con người cần phải có những kỹ năng sống. Kỹ năng sống có thể được hình thành
một cách tự nhiên qua trãi nghiệm hoặc có thể thông qua giáo dục-học tập, rèn luyện.
- Việc giáo dục kỹ năng sống ở trường học sẽ giúp thúc đẩy những hành vi mang tính xã hội
tích cực cho người học; đồng thời tạo những tác động tốt đối với các mối quan hệ giữa thầy và trò,
giữa các học sinh, bạn bè với nhau; giúp tạo nên sự hứng thú học tập cho trẻ đồng thời giúp hoàn
thành nhiệm vụ của người giáo viên một cách đầy đủ hơn và đề cao các chuẩn mực đạo đức, góp
phần nâng cao vị trí của nhà trường trong xã hội. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, cùng với sự
mở cửa, hội nhập quốc tế về quan hệ kinh tế, giao lưu văn hóa,… của đất nước một số thanh thiếu
niên học sinh thiếu hiểu biết về thực tế cuộc sống, chưa được rèn dạy kỹ năng sống, có khi lại sớm
phải tự mình đương đầu với nhiều vấn đề tâm lý xã hội phức tạp, đã bị lôi cuốn vào lối sống thực
dụng, đua đòi, không đủ bản lĩnh nói “không” với cái xấu.
- Trong những giai đoạn phát triển của con người thì lứa tuổi thiếu niên tức lứa tuổi học sinh
bậc trung học cơ sở (từ 11, 12 tuổi đến 14, 15 thậm chí 16, 17 tuổi nếu trẻ học trễ) là lứa tuổi đang ở
thời kỳ phát triển phức tạp nhất, nhiều biến động nhất nhưng cũng là thời kỳ chuẩn bị quan trọng
nhất cho những bước trưởng thành sau này của trẻ. Các em cần được quan tâm giáo dục, rèn luyện
nhiều hơn những kỹ năng cần thiết trong học tập, trong quan hệ giao tiếp, trong xử trí, ứng phó
trước những đòi hỏi, thử thách của cuộc sống.
1.2. Tính khả thi của đề tài
- Căn cứ chỉ thị 40/2008/ CT – BGDĐT ngày 22/7/2008 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào
tạo và kế hoạch số 1842/GDĐT – TrH ngày 29/8/2008 của Sở Giáo dục và Đào tạo thành phố Hồ
Chí Minh về “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” trong các trường phổ thông giai
đoạn 2008 – 2013 và kế hoạch số 606/KH – GDĐT ngày 16/9/2008 của Phòng giáo dục và đào tạo
Quận 11 thì rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh bậc trung học cơ sở là một trong 5 nội dung thiết
thực để xây dựng trường học thân thiện. Đây là cơ sở pháp lý để việc giáo dục kỹ năng sống và
công tác quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh bậc trung học cơ sở được quan tâm nhiều hơn
từ trước tới nay.
- Bản thân tác giả hiện đang công tác tại một trường trung học cơ sở của Quận 11, có một số
điều kiện tối thiểu để tìm hiểu thực trạng quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh bậc học này.
Từ một số lý do trên, đề tài: “Thực trạng quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh từ
các lực lượng giáo dục của Hiệu trưởng các trường trung học cơ sở tại Quận 11- Thành phố Hồ
2. Mục đích nghiên cứu
Chí Minh” được thực hiện.
Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng quản lý của Hiệu trưởng về giáo dục kỹ năng sống cho học
sinh các trường Trung học cơ sở tại Quận 11, Tp. Hồ Chí Minh, tìm ra các giải pháp để tiến hành
các hoạt động giáo dục kỹ năng sống nhằm chuẩn bị cho các em tham gia vào việc học tập và đời
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
sống một cách hiệu quả.
Công tác giáo dục kỹ năng sống bậc trung học cơ sở ở các trường tại Quận 11, Tp. Hồ Chí
3.1. Khách thể nghiên cứu
Minh .
Thực trạng quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh từ các lực lượng giáo dục của các
3.2. Đối tượng nghiên cứu
4. Giả thuyết khoa học
Việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh các trường trung học cơ sở tại Quận 11, Tp. Hồ Chí
Hiệu trưởng trường Trung học cơ sở.
Minh là một việc làm cần thiết trong hỗ trợ việc học tập và vận dụng vào đời sống của các em.
Muốn việc giáo dục những kỹ năng này hiệu quả hơn cần có sự tham gia của các lực lượng giáo dục
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
dưới sự quản lý của Hiệu trưởng trong nhà trường.
5.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh bậc THCS
Phân tích, tổng hợp các tài liệu, sách báo, tham khảo các văn bản chỉ đạo của ngành, các
công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài để hình thành cơ sở lý luận và thực tiễn cho đề tài.
5.2. Nghiên cứu thực trạng quản lý công tác giáo dục kỹ năng sống cho học sinh bậc THCS
Tìm hiểu thực trạng vấn đề quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh bậc THCS tại
Quận 11, Tp Hồ Chí Minh.
5.3. Đề xuất một số giải pháp quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh bậc THCS.
6. Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp nghiên cứu sau đây được sử dụng :
6.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận
Nghiên cứu các tài liệu, hồ sơ, sách, tạp chí, công trình nghiên cứu để hình thành cơ sở lý
luận cho đề tài.
6.2. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi, thang đo
Thực hiện tại 6/9 trường THCS tại Quận 11 với các mẫu điều tra dự kiến dành cho các đối
tượng sau :
Cán bộ quản lý trường (Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng, Cán bộ Đoàn-Đội), Giáo viên, Học
sinh khối lớp 8, 9 để nắm được thực trạng giáo dục và quản lý giáo dục kỹ năng sống cho các em.
6.3. Phương pháp phỏng vấn
Phỏng vấn, trò chuyện với các Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng, các Cán bộ đoàn thể, với các
giáo viên, với đại diện Hội Cha mẹ học sinh, một số học sinh đại diện các khối lớp, đại diện các Chi
đội, …
6.4. Phương pháp quan sát
Quan sát các hoạt động của nhà trường, của đoàn thể, của thầy và trò thông qua dự giờ một
số bộ môn (Văn học, Sinh vật, Giáo dục công dân, Thể dục, Mỹ thuật, …), thông qua các buổi Sinh
hoạt của Hội đồng giáo dục, các buổi Sinh hoạt dưới cờ, các buổi Sinh hoạt ngoại khóa, Sinh hoạt
Đội thiếu niên, các tiết Sinh hoạt chủ nhiệm, các tiết Hoạt động ngoài giờ lên lớp, các giờ chơi, nề
nếp đầu giờ và cuối buổi học, các buổi tham quan dã ngoại, …
6.5. Phương pháp nghiên cứu sản phẩm
Theo dõi các hoạt động học tập, sinh hoạt, vui chơi của học sinh nhằm tìm hiểu về các kỹ
năng được biểu hiện, vận dụng trong học tập, giao tiếp ứng xử của các em.
6.6. Phương pháp thống kê toán học
Lập bảng biểu, thống kê, phân tích, xử lý các số liệu của đề tài, giúp đánh giá vấn đề chính
7. Giới hạn đề tài
xác, khoa học.
Đề tài này được thực hiện tại 6/9 trường THCS công lập của Quận 11, TP. Hồ Chí Minh. Tuy
nhiên, chỉ nghiên cứu trong giới hạn quản lý giáo dục một số kỹ năng sống đối với học sinh 2 khối
lớp 8 và 9 (chủ yếu là những kỹ năng học tập, kỹ năng giao tiếp ứng xử trong các mối quan hệ thầy
trò, bạn bè,… trong xử trí, ứng phó trước những đòi hỏi, thử thách của cuộc sống).
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 . Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Ngay từ những năm 60 của thế kỷ 20, tổ chức UNESCO đã vạch rõ ba thành tố của học vấn,
đó là : kiến thức, kỹ năng và thái độ, trong đó thái độ và kỹ năng đóng vai trò then chốt [36]. Chính
thái độ tích cực, năng động, dấn thân,... và những kỹ năng cần thiết trong học tập và làm việc, trong
quan hệ giao tiếp, trong xử trí, ứng phó trước những đòi hỏi, thử thách của cuộc sống đã chủ yếu
giúp cho người học tự tin để vững bước tới một tương lai có định hướng. Riêng về giáo dục kỹ năng
sống tuy chỉ mới xuất hiện từ những năm 1990 của thế kỷ trước song đã nhanh chóng lan rộng ra
khắp thế giới. Và có nơi, giáo dục kỹ năng sống không chỉ là một sinh hoạt ngoại khóa mà còn là
một môn học chính qui ở nhà trường.
Ở Việt Nam, dù giáo dục kỹ năng sống được du nhập vào ngay sau đó nhưng triết lý và
phương pháp giáo dục kỹ năng sống ít nhiều hãy còn lạ lẫm đối với xã hội ta nên chưa được sự quan
tâm đúng mức [21, tr.2]. Hơn nữa, giáo dục tại Việt Nam nhìn chung còn kém phát triển. Ngoại trừ
một số rất ít các trung tâm giáo dục phi chính quy như Trung tâm ABS Training, Trung tâm dạy
nghề GDVT Swisscontact, Công ty Tâm Việt ở Hà Nội, Công ty bảo hiểm nhân thọ Dai-ichi Việt
Nam phối hợp với Báo Người lao động, Cung văn hóa Lao động Thành phố Hồ Chí Minh, Nhà văn
hóa Thanh niên Thành phố Hồ Chí Minh, Trung tâm hỗ trợ sinh viên Thành phố Hồ Chí Minh,
Trung tâm học tập cộng đồng ở một số địa phương... hay một số trường giáo dục trẻ khuyết tật, một
số ít trường tiểu học trọng điểm ở Hà Nội,... có các chương trình giáo dục kỹ năng sống. Còn lại,
các trường phổ thông nhất là các trường từ bậc trung học cơ sở trở lên chưa quan tâm nhiều cũng
như chưa tạo ra được môi trường học tập trang bị đầy đủ kỹ năng sống cho thanh thiếu niên học
sinh. Cho nên giới trẻ Việt Nam nhìn chung còn kém so với thanh thiếu niên tại các nước phát triển.
Trong khi đó, bản lĩnh sống của thanh thiếu niên trong xã hội ngày càng chuyên môn hoá cao như
xã hội Việt Nam hiện nay không thể thiếu được và cần phải được nâng cao hơn ở hai mảng kỹ năng
đó là kỹ năng chuyên môn và kỹ năng mềm mà có thể gọi chung là những kỹ năng cuộc sống [35].
Kể từ năm học 2008-2009, Bộ GD-ĐT nước ta đã phát động trong các trường phổ thông trên
toàn quốc phong trào "Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực" nhằm mang lại cho học
sinh cả nước một "môi trường giáo dục an toàn thân thiện, hiệu quả, phù hợp điều kiện địa phương
và đáp ứng nhu cầu xã hội". Hưởng ứng phong trào này, Trung tâm Giáo dục môi trường và các vấn
đề xã hội đã phối hợp với Ban dự án Phát triển giáo dục THPT nhanh chóng xây dựng kế hoạch tổ
chức hoạt động nhằm hỗ trợ triển khai đến cơ sở một số nội dung thiết thực. Một trong những hoạt
động đó là chương trình Tập huấn giáo dục kỹ năng sống và bình đẳng giới tổ chức tại Hà Nội vào 5
ngày đầu tháng 10/2008 cho các giáo viên cốt cán một số trường THPT của 11 tỉnh phía Bắc tham
gia. (Trong thời gian tới, nội dung hoạt động trên sẽ được Trung tâm triển khai tiếp tục cho các tỉnh
phía Nam). Qua đợt tập huấn này, giáo viên sẽ biết cách hình thành cho học sinh các kỹ năng tự
nhận thức, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng đặt mục tiêu, ... biết cách giúp các em hiểu kỹ hơn về giới và
bình đẳng giới cùng các tri thức thiết yếu để hiểu biết bản thân, tự bảo vệ mình và hòa nhập cộng
đồng. Đồng thời chính bản thân giáo viên được củng cố và phát triển nhiều kỹ năng khác như hoạt
động nhóm, xây dựng kế hoạch, xử lý tình huống, các cách giải quyết vấn đề,... mà các học sinh cần
được trang bị để tồn tại, đáp ứng được nhu cầu của cuộc sống và phát triển tốt trong một xã hội đầy
biến động như hiện nay... Từ đó, tháng 11/2008 Phòng tư vấn và hỗ trợ đào tạo Trường THPT
Lương Thế Vinh ở Ba Vì, Hà Tây đã xây dựng môn học “Kỹ năng sống và học tập hiệu quả”
nhằm trang bị cho học sinh những kỹ năng sống, những công cụ học tập thích hợp nhằm đạt được
kết quả cao trong học tập cũng như có thái độ sống tích cực [35]. Ở Thành phố Hồ Chí Minh, các
trường THPT chuyên Lê Hồng Phong, Trần Đại Nghĩa,... chỉ mới lồng ghép việc giáo dục kỹ năng
sống vào trong các buổi hội thảo chuyên đề, sinh hoạt câu lạc bộ từng bộ môn. Bên cạnh đó, dần
dần cũng có một số ít cá nhân giáo viên có hứng thú nghiên cứu, vận dụng giáo dục kỹ năng sống
cho học sinh trung học cơ sở một cách đơn lẻ, tự phát, sáng tạo.
Tuy nhiên, việc nghiên cứu thực trạng giáo dục kỹ năng sống cũng như nghiên cứu thực trạng
quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh bậc trung học cơ sở cả nước nói chung và
trên địa bàn Quận 11 - Tp. Hồ Chí Minh nói riêng từ trước đến nay thật sự còn lạ lẫm, chưa được
1.2 . Cơ sở thực tiễn của việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh các trường trung học
cơ sở tại Quận 11
các đơn vị trường học cũng như các lực lượng giáo dục quan tâm thực hiện một cách có hệ thống.
1.2.1. Khái quát về địa bàn Quận 11
Quận 11 chính thức có tên trên bản đồ Sài Gòn-Gia Định từ ngày 01/07/1969 theo sắc luật số
73 của chính quyền Sài Gòn cũ. Ban đầu gồm 4 phường được tách ra từ Quận 5 và Quận 6: Phường
Phú Thọ (Quận 5 cũ), Phường Cầu Tre, Bình Thới, Phú Thọ Hòa (Quận 6 cũ). Sau đó lập thêm 2
phường là Bình Thạnh và Phú Thạnh.
Sau ngày giải phóng 30/04/1975, địa bàn Quận 11 được giữ nguyên với 6 phường và 47
(Bản đồ địa giới Quận 11- Nguồn : Ủy ban nhân dân Quận 11-Năm 2008)
khóm. Đến ngày 01/06/1976 được phân chia lại thành 21 phường. Sau nhiều lần điều chỉnh địa giới,
đến nay Quận 11 có 16 phường.
Quận 11 có tổng diện tích 513,58 ha, nằm ở Tây Nam thành phố. Giáp quận Tân Bình ở phía
Bắc và Tây Bắc; phía Đông giáp Quận 5, Quận 10; phía Nam và Tây Nam giáp ranh Quận 6. Tính
đến cuối năm 2007, quận 11 có dân số là 230.014 người, có 120.562 nữ (tỷ lệ 52,41%). Người Hoa có 108.003 người (tỷ lệ 46,95%), mật độ dân số trung bình là 44.540 người/km2.
Hơn 30 năm qua, Đảng bộ, Chính quyền và nhân dân quận 11 đã ra sức phấn đấu phát huy
các nhân tố thuận lợi, vượt qua mọi khó khăn thử thách thực hiện công cuộc đổi mới đất nước và
các mục tiêu nhiệm vụ của các Nghị quyết Đại hội Đảng bộ quận đề ra trong từng thời kỳ. Đến nay
kinh tế - xã hội của quận có những nét chuyển biến tích cực như sau :
Về kinh tế : - Giá trị sản lượng công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp giai đoạn 1986-2000 tăng bình
quân là 11%, giai đoạn 2001-2004 tăng bình quân 10,2%. Doanh thu thương mại - dịch vụ giai
đoạn 1986-2000 tăng bình quân 18%, giai đoạn 2001-2004 tăng bình quân 16%.
- Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng thương mại dịch vụ - sản xuất CN-
TTCN. Cơ cấu thành phần kinh tế có bước chuyển đổi theo chủ trương phát triển kinh tế nhiều
thành phần của Đảng và Nhà nước. Tính đến nay, có hơn 900 doanh nghiệp dân doanh và hơn
10.000 cơ sở hoạt động sản xuất kinh doanh trên địa bàn quận, đã đóng góp đáng kể vào nguồn
thu ngân sách Nhà nước, nhiều sản phẩm được người tiêu dùng bình chọn là hàng Việt Nam chất
lượng cao, hình thành các khu vực chuyên doanh cung cấp hành hóa cho các tỉnh và cả nước.
- Công viên Văn hoá Đầm Sen không ngừng đầu tư phát triển, mở rộng nhiều loại
hình dịch vụ phong phú, hiện đại đáp ứng nhu cầu giải trí ngày càng tăng của nhân dân, góp
phần vào sự phát triển chung của quận.
Về cơ sở hạ tầng kỹ thuật - xã hội phục vụ đời sống, sinh hoạt của nhân dân : luôn được Đảng
bộ, Chính quyền quận quan tâm đầu tư. Đến nay toàn bộ các hẻm trong quận đã được xi măng
hoá; nhiều tuyến đường lớn được mở rộng, nhiều khu nhà ở, cơ sở vật chất cho giáo dục, y tế,
thể dục thể thao được xây dựng... Đặc biệt trong năm 2003 - 2004 cùng với việc triển khai thực
hiện các dự án lớn, các công trình trọng điểm, quận đã hoàn thành công tác giải toả di dời và tái
định cư hơn 1.600 hộ dân khu vực Trường đua Phú Thọ, đã góp phần làm thay đổi diện mạo đô
thị của quận ngày càng khang trang, sạch đẹp hơn, thúc đẩy kinh tế phát triển, nâng cao đời sống
nhân dân.
Hoạt động văn hoá xã hội : luôn được đẩy mạnh nhằm phát huy truyền thống yêu nước, cách
mạng, giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc. Cơ sở vật chất phục vụ các hoạt động văn hoá - thể thao
được đầu tư mới và nâng cấp trở thành nơi vui chơi, giải trí, sinh hoạt văn hoá lành mạnh trong
nhân dân.
- Song song với việc phát triển các loại hình văn hoá văn nghệ, các phong trào rèn
luyện thân thể theo chủ trương xã hội hoá, nhiều phong trào thi đua xây dựng các thiết chế văn
hoá như : gương người tốt việc tốt, gia đình văn hoá, cuộc vận động toàn dân xây dựng đời sống
văn hoá ở cơ sở, ... đã bắt rễ sâu rộng, được đông đảo các ngành, các giới và quần chúng nhân
dân đồng tình hưởng ứng.
- Bên cạnh việc thực hiện tốt chính sách đền ơn đáp nghĩa, xoá đói giảm nghèo,
thúc đẩy xã hội hoá các hoạt động văn hoá - giáo dục - y tế - thể dục thể thao, nâng cao đời sống
nhân dân, Đảng bộ, Chính quyền và nhân dân quận luôn ra sức chăm lo sự nghiệp phát triển giáo
dục. Hàng năm tỷ lệ trẻ 6 tuổi vào lớp 1 đạt 99% trở lên; trẻ 5 tuổi vào mẫu giáo đạt 98% trở lên.
Quận đã hoàn thành xóa mù chữ, phổ cập tiểu học và trung học cơ sở.
Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội : tiếp tục được giữ vững và ổn định. Hiện nay
trên địa bàn quận cơ bản không còn tệ nạn ma túy.
Sơ đồ tổ chức bộ máy chính quyền quận 11 : Trải qua hơn 30 năm hình thành và phát triển, cơ
cấu tổ chức chính quyền Quận 11 có nhiều thay đổi theo hướng ngày càng hoàn thiện, chuyên
môn hóa. Hiện nay, bộ máy chính quyền Quận 11 chia thành các phòng ban hành chính và cấp
phường. Mỗi phòng ban đảm nhận một chức năng riêng, luôn đảm bảo hoạt động tốt để phục vụ
nhân dân.
SƠ ĐỒ TỔ CHỨC BỘ MÁY CHÍNH QUYỀN QUẬN 11
1.2.2. Khái quát về Phòng giáo dục và đào tạo Quận 11
Phòng giáo dục và đào tạo quận 11 : là cơ quan chuyên môn trực thuộc UBND Quận, chịu sự
lãnh đạo trực tiếp và toàn diện của UBND Quận, đồng thời chịu sự chỉ đạo và hướng dẫn về
chuyên môn nghiệp vụ của Sở Giáo dục và Đào tạo Thành phố; có chức năng giúp UBND Quận
quản lý nhà nước đúng chủ trương chính sách đối với toàn bộ hoạt động có liên quan đến lĩnh
vực giáo dục và đào tạo theo thẩm quyền được UBND thành phố phân cấp. Phòng giáo dục và
đào tạo có nhiệm vụ xây dựng kế hoạch dài hạn và hàng năm về Giáo dục và Đào tạo tại địa
phương, tổ chức chỉ đạo việc thực hiện các chỉ tiêu, kế hoạch do Sở Giáo dục - Đào tạo giao sau
khi Sở đã thống nhất với UBND Quận giúp UBND Quận tổ chức thực hiện các Nghị quyết, chủ
trương, chính sách của Đảng, Nhà nước trên các mặt công tác có liên quan đến lĩnh vực giáo
dục, đào tạo; thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với các trường lớp, cơ sở giáo dục dạy
nghề tập thể, tư nhân đóng trên địa bàn quận theo sự phân cấp của UBND Thành phố.
Khối các trường trung học cơ sở thuộc Phòng giáo dục và đào tạo quận 11:
Trường THCS Trường THCS Trường THCS
Nguyễn Văn Phú Nguyễn Huệ Lê Quý Đôn – Phường 3 – Phường 5 – Phường 5
Nguyễn Minh Hoàng Chu Văn An Lê Anh Xuân – Phường 7 – Phường 8 – Phường 10
Phú Thọ Lữ Gia Hậu Giang – Phường 12 – Phường 15 – Phường 16
(Nguồn : Ủy ban nhân dân Quận 11- Năm 2008)
Tính đến cuối năm học 2008 -2009, quận 11 có 09 trường trung học cơ sở trong đó có 03 trường
công lập chuyên, đạt chuẩn quốc gia (Chu Văn An, Lê Quý Đôn, Nguyễn Văn Phú), 04 trường
công lập (Lữ Gia, Hậu Giang, Lê Anh Xuân, Nguyễn Minh Hoàng), 02 trường gốc bán công
nhiều năm liền mới chuyển sang công lập (Phú Thọ và Nguyễn Huệ).
Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của CBQL các trường trung học cơ sở thuộc Quận 11 :
Bảng 1.1 : Cơ cấu đội ngũ cán bộ quản lý bậc THCS Q11 về trình độ tay nghề
Sau ĐH
ĐH
CĐ
NVQL
CBQL Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ
Trường THCS Tổng Nữ TS Nữ TS Nữ TS Nữ TS Nữ
Lê Quý Đôn 4 3 4 3 3 2
Hậu Giang 4 2 1 3 2 3 1
Nguyễn Huệ 2 1 2 1 2 1
Lữ Gia 3 1 3 1 3 1
Lê Anh Xuân 3 1 3 1 3 1
Chu Văn An 3 1 3 1 3 1
Nguyễn Minh Hoàng 2 2 2
Phú Thọ 3 2 3 2 2 2
Nguyễn Văn Phú 3 2 1 1 3 2 2 1
2 1 Tổng 27 13 25 12 23 10
Tỉ lệ % 7,4 92,6 85,2
(Nguồn : Trường Bồi dưỡng giáo viên Quận 11-Năm 2008)
Nhìn chung đội ngũ CBQL các trường THCS ở Quận 11 có trình độ chuyên môn đạt chuẩn và
trên chuẩn (100%). Tỉ lệ CBQL đã qua đào tạo về nghiệp vụ quản lý giáo dục chiếm 85,2% số còn
lại đều là các Phó Hiệu trưởng các trường sẽ và đang theo các khóa đào tạo về nghiệp vụ quản lý
giáo dục bằng hình thức học tại chức.
Trình độ chuyên môn của đội ngũ giáo viên các trường trung học cơ sở thuộc quận 11 :
Bảng 1.2 : Cơ cấu đội ngũ giáo viên THCS Q11 về trình độ chuyên môn
ĐH
CĐ
Sau ĐH dưới chuẩn TS Nữ TS Nữ TS Nữ TS Nữ
GV Trình độ chuyên môn Trường THCS Tổng Nữ
Lê Quý Đôn 70 57 54 47 16 10
Hậu Giang 91 67 63 49 24 17 4 1
Nguyễn Huệ 36 28 21 17 14 10 1 1
Lữ Gia 74 43 49 29 24 14 1
Lê Anh Xuân 41 31 24 18 17 13
Chu Văn An 80 51 50 31 30 20
Ng Minh Hoàng 37 27 1 1 27 19 9 7
Phú Thọ 61 48 30 23 31 25
Ng Văn Phú 69 52 54 42 15 10
Tỉ lệ %
72,3
0,2
66,5
32,2
1,1
Tổng 559 404 1 1 372 275 180 126 6 2
(Nguồn : Trường Bồi dưỡng giáo viên Quận 11-Năm 2008)
Từ bảng số liệu khảo sát tình hình đội ngũ giáo viên các trường THCS thuộc Quận 11 trên ta
thấy về tổng thể, so với nhiều địa phương trong cả nước và so với một số quận huyện trong
Tp.HCM thì lực lượng giáo viên bậc THCS của Quận 11 có trình độ chuyên môn đạt chuẩn và trên
chuẩn cao (chiếm 98,9% ), chỉ còn 1,1% giáo viên chưa đạt chuẩn do sắp đến tuổi nghỉ hưu nên
ngại khó không tham gia học nâng chuẩn, do phần lớn thời gian học bồi dưỡng nâng cao là ngoài
giờ và số giáo viên này lại ngại mình lớn tuổi tiếp thu bài vở có hạn chế.
Thâm niên công tác của đội ngũ cán bộ-giáo viên các trường trung học cơ sở thuộc quận 11 :
Bảng 1.3 : Cơ cấu đội ngũ cán bộ giáo viên THCS Q11 về thâm niên nghề
CB-GV
Trường THCS Tổng Nữ
Dưới 5 năm TS Nữ 29 36 Thâm niên công tác Trên Từ 16 – Từ 6 – 15 25 năm 25 năm năm TS Nữ TS Nữ TS Nữ 4 25 22 7 5 6 Lê Quý Đôn 74 60
27 24 20 14 Hậu Giang 95 69 23 15 25 16
Nguyễn Huệ 38 29 10 8 7 6 14 10 7 5
Lữ Gia 77 44 24 14 18 11 19 10 16 9
Lê Anh Xuân 44 32 9 7 12 8 14 12 9 5
Chu Văn An 83 52 14 8 28 18 23 14 18 12
Ng Minh Hoàng 39 27 11 9 18 13 6 3 4 2
Phú Thọ 64 50 23 18 16 14 13 10 12 8
96
Tổng
586
417 168
122
173
133 142
103
66
Tỉ lệ %
71,2 28,7
29,5
24,2
17,6
Ng Văn Phú 72 54 18 14 22 17 21 16 11 7
(Nguồn : Phòng giáo dục và đào tạo Quận 11- Quý 1 Năm 2009)
Bảng số liệu này cho thấy hơn một nửa đội ngũ CBGV Quận 11 (chiếm 58.2%) có thâm niên
dưới 15 năm nghĩa là có tuổi nghề trẻ nên có thể thể hiện tốt sự năng động sáng tạo phù hợp với xu
thế phát triển và hội nhập thế giới, dễ dàng nắm bắt và thực hiện chủ trương đổi mới của giáo dục
theo nhu cầu chung hiện nay.
Bên cạnh đó, còn gần một nửa lực lượng có thâm niên từ 16 năm trở lên thể hiện được sự dày
dạn kinh nghiệm chuyên môn. Lực lượng này có tuổi nghề cao, tay nghề vững có thể rèn dạy các
phẩm chất đạo đức, hình thành nhân cách tốt cho học sinh, giúp các em trở nên người hữu dụng cho
xã hội.
Tuy nhiên, thông qua quan sát thực tiễn số CBGV cao tuổi nghề này thường dựa vào kinh
nghiệm, thiếu sự năng động trong việc tiếp nhận, chọn lọc những tri thức mới, năng lực tự học, tự
bồi dưỡng chưa cao, chưa nhạy bén, linh hoạt trong việc tổ chức các hoạt động theo hướng tích cực
hóa. Nhìn chung số CBGV này còn khá lúng túng, thụ động đối với việc tổ chức các hình thức rèn
1.3 . Cơ sở lý luận
1.3.1 . Một số khái niệm
dạy kỹ năng sống cho học sinh theo yêu cầu đổi mới giáo dục.
1.3.1.1. Quản lý
Có nhiều quan niệm khác nhau về khái niệm quản lý, cụ thể như sau :
- Từ điển Từ và ngữ Hán Việt của tác giả Nguyễn Lân (1989) có ghi : “Quản lý là phụ trách
việc chăm nom và sắp đặt công việc trong một tổ chức” [16, tr.555].
- Còn theo Nguyễn Ngọc Quang (1989), nhà sư phạm, người góp phần đổi mới lý luận dạy
học, đã nêu về khái niệm quản lý trong tập bài giảng “Những khái niệm cơ bản về quản lý giáo dục”
như sau : “Quản lý là sự tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những
người lao động gọi chung là khách thể quản lý, nhằm thực hiện các hoạt động để đạt được mục tiêu
dự kiến” [22, tr.130].
- Trần Kiểm (1997), trong giáo trình “Quản lý giáo dục và trường học” dùng cho học viên cao
học chuyên ngành Giáo dục học đã viết : “Quản lý là nhằm phối hợp nỗ lực của nhiều người, sao
cho mục tiêu của từng cá nhân biến thành những thành tựu của xã hội” [15, tr. 15].
- Và cũng chính Nguyễn Ngọc Quang (1989), trong tác phẩm của mình đã nêu: “Quản lý là
những tác động có định hướng, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến đối tượng bị quản lý trong tổ
chức để vận hành tổ chức, nhằm đạt mục đích nhất định” [22, tr. 131].
- Còn Nguyễn Bá Sơn (2000), trong tác phẩm “Một số vấn đề cơ bản về khoa học quản lý” đã
viết : “Quản lý là tác động có mục đích đến tập thể những con người để tổ chức và phối hợp hoạt
động của họ trong quá trình lao động” [23, tr.15]. Như vậy, có thể nói : Quản lý là những tác động
của chủ thể quản lý trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các
nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu
nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất.
Tóm lại, quản lý là một khoa học vì nó nghiên cứu, phân tích về công việc quản lý, các quan
hệ quản lý trong các tổ chức. Nó tổng quát hóa các kinh nghiệm tốt thành các nguyên tắc và lý
thuyết áp dụng cho mọi hình thức quản lý tương tự. Nó cung cấp khái niệm cơ bản làm nền tảng cho
việc nghiên cứu các môn học về quản lý.
Để quản lý có hiệu quả, nhà quản lý phải linh hoạt vận dụng các lý thuyết vào những tình
huống cụ thể. Nó đòi hỏi sự khôn khéo và tinh tế cao để đạt tới mục tiêu. Nghệ thuật này chủ yếu
phải được học ngay trong thực tiễn.
1.3.1.2. Giáo dục
- Từ điển Từ và ngữ Hán Việt của tác giả Nguyễn Lân (1989) có nêu : “Giáo dục là quá trình
hoạt động có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có tổ chức nhằm bồi dưỡng cho người học những
phẩm chất đạo đức và tri thức cần thiết để họ có khả năng tham gia mọi mặt đời sống của xã hội”
[16, tr.269].
- Trong Giáo dục học : Giáo dục là quá trình toàn vẹn tác động đến thế hệ trẻ về đạo đức, tư
tưởng, động cơ, tình cảm, thái độ và những hành vi, thói quen cư xử đúng đắn trong xã hội [14,
tr.52].
- Theo tinh thần nghị quyết TW2 Khóa 8 của Đảng ta về giáo dục đào tạo thì nhà trường phải
đào tạo ra những con người có đủ tri thức và kỹ xảo, năng lực và phẩm chất với tinh thần trách
nhiệm đầy đủ của người công dân tham gia vào cuộc sống lao động xã hội, tham gia vào cuộc Cách
mạng trí tuệ, thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển; nhà trường phải đào tạo những con người học được
cách chung sống, hợp tác với nhau, cùng nhau giải quyết những vấn đề chung của dân tộc, của quốc
gia, của toàn cầu, của thời đại [6, 11].
Do đó giáo dục ngày nay không phải chỉ là tích tụ tri thức mà còn thức tỉnh tiềm năng sáng
tạo to lớn trong mỗi con người.
1.3.1.3. Quản lý giáo dục
- Theo tác giả Hồ văn Liên, trong tập bài giảng về “Tổ chức và quản lý giáo dục trường học”
thì : “Quản lý giáo dục là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý giáo dục đến
khách thể quản lý trong một tổ chức, làm cho tổ chức đó vận hành và đạt được mục đích của tổ
chức” [17, tr.9].
- Cụ thể hơn : “Quản lý giáo dục là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ
thể quản lý (người quản lý hay tổ chức quản lý) lên đối tượng giáo dục và khách thể quản lý giáo
dục về các mặt chính trị, văn hóa, xã hội, kinh tế, ... bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách,
các nguyên tắc, các phương pháp, các biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự
phát triển của đối tượng” [8, tr.7].
Như vậy, quản lý giáo dục là một loại hình quản lý được hiểu là sự tác động có ý thức của
chủ thể quản lý tới khách thể quản lý nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống giáo dục đạt tới kết
quả mong muốn bằng cách hiệu quả nhất. Trong tác động của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý
có sự tác động của người đến người. Đó là sự tác động qua lại tạo thành một loại quan hệ xã hội đặc
biệt là quan hệ quản lý.
Tóm lại, quản lý giáo dục là một loại lao động điều khiển lao động. Quản lý giáo dục trong
xã hội ta hiện nay là hướng tới việc nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài [7,
tr.21].
Ở cấp độ nhân cách, quản lý giáo dục là quản lý sự hình thành và phát triển nhân cách.
Bản chất của quản lý giáo dục được biểu hiện ở các chức năng quản lý. Các công trình
nghiên cứu về khoa học quản lý trong những năm gần đây đã đưa đến một kết luận tương đối thống
nhất về 5 chức năng cơ bản của quản lý, đó là:
* Kế hoạch hóa tức là lập kế hoạch, phổ biến kế hoạch hoạt động.
* Tổ chức gồm tổ chức triển khai hoạt động, tổ chức nhân sự, phân công trách nhiệm trong
thực hiện kế hoạch hoạt động.
* Kích thích nghĩa là khuyến khích, tạo động cơ hoạt động.
* Kiểm tra gồm theo dõi thực hiện, kiểm soát, kiểm kê, hạch toán, phân tích quá trình thực
hiện.
* Và Điều phối nghĩa là phối hợp, điều chỉnh công tác.
Tổ hợp tất cả các chức năng quản lý nêu trên tạo nên nội dung của quá trình quản lý, nội
dung làm việc của chủ thể quản lý, phương pháp quản lý và là cơ sở để phân công lao động quản lý.
Vậy : “Quản lý giáo dục là quá trình đạt đến mục tiêu giáo dục của hệ thống giáo dục bằng cách vận
dụng các chức năng kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra,…” [17, tr.9].
1.3.1.4. Quản lý trường học : Trường học (hay nhà trường) là tổ chức cơ sở của hệ thống
giáo dục quốc dân Việt Nam, là nơi trực tiếp thực hiện công tác đào tạo và giáo dục thế hệ trẻ.
Khái niệm quản lý trường học đã được các nhà lý luận quản lý giáo dục giải thích như sau :
- Theo nhà giáo Phạm Minh Hạc : “Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối giáo dục của
Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục
để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và từng học sinh”
[10, tr.13].
- Phạm Viết Vượng đã nêu : “Quản lý nhà trường là hoạt động của các cơ quan quản lý nhằm
tập hợp và tổ chức các hoạt động của giáo viên, học sinh và các lực lượng giáo dục khác, huy động
tối đa các nguồn lực giáo dục để nâng cao giáo dục và đào tạo trong nhà trường” [34, tr.26].
- Hoặc “Quản lý trường học chính là những công việc của nhà trường mà người cán bộ quản
lý trường học thực hiện những chức năng quản lý để thực hiện các nhiệm vụ công tác của mình. Đó
chính là những hoạt động có ý thức, có kế hoạch và hướng đích của chủ thể quản lý tác động tới các
hoạt động của nhà trường nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ mà tiêu điểm là quá trình dạy và
học” [19, tr.8].
Từ đó có thể nói : “Quản lý trường học được hiểu là một hệ thống những tác động sư phạm
hợp lý và có hướng đích của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, học sinh, các lực lượng xã hội
trong và ngoài trường nhằm huy động và phối hợp sức lực, trí tuệ của họ vào mọi mặt hoạt động của
nhà trường, hướng vào việc hoàn thành có chất lượng và hiệu quả mục tiêu đã đề ra” [19, tr. 10].
1.3.1.5. Kỹ năng
Trong Từ điển Từ và ngữ Hán Việt của tác giả Nguyễn Lân (1989) có ghi : “Kỹ năng là khả
năng ứng dụng tri thức khoa học vào thực tiễn” [16, tr.390].
Còn trong Tâm lý học, kỹ năng được hiểu là khả năng thực hiện những thao tác được hình
thành và củng cố qua quá trình thực hành và trãi nghiệm của bản thân. Kỹ năng chính là công cụ để
gia tăng giá trị cho kiến thức của bản thân.
1.3.1.6. Kỹ năng sống
- Theo nhóm biên soạn tài liệu giáo dục kỹ năng sống của Vụ giáo dục thể chất mà chủ biên
là Nguyễn Võ Kỳ Anh thì : “Kỹ năng sống là khả năng có được những hành vi thích nghi và tích
cực, cho phép chúng ta xử trí một cách có hiệu quả các đòi hỏi và thử thách của cuộc sống thường
ngày” [1, tr.3].
- Định nghĩa vừa nêu trên cũng trùng lặp với định nghĩa về kỹ năng sống của Tổ chức Y tế
thế giới WHO : “Kỹ năng sống là khả năng thích nghi và những hành vi tích cực để cá nhân có thể
đáp ứng hiệu quả những yêu cầu và thách thức của cuộc sống hàng ngày” [37].
Như vậy, kỹ năng sống khuyến khích thái độ tích cực, phòng ngừa và giảm thiểu các hành vi
nguy cơ. Nó giúp con người phát huy sức mạnh nội lực để có thể làm chủ được cuộc sống của mình
và sống khỏe mạnh, hạnh phúc, có mục đích, có ý nghĩa.
- Còn theo UNICEF : “Kỹ năng sống là tập hợp nhiều kỹ năng tâm lý xã hội và giao tiếp cá
nhân giúp cho con người đưa ra những quyết định có cơ sở, giao tiếp một cách có hiệu quả, phát
triển các kỹ năng tự xử lý và quản lý bản thân nhằm giúp họ có một cuộc sống lành mạnh và có hiệu
quả. Từ kỹ năng sống có thể được thể hiện thành những hành động cá nhân và những hành động đó
sẽ tác động đến hành động của những người khác cũng như dẫn đến những hành động nhằm thay
đổi môi trường xung quanh, giúp nó trở nên lành mạnh” [33].
1.3.1.7. Giáo dục kỹ năng sống
- Giáo dục kỹ năng sống là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch đến học sinh nhằm
giúp học sinh có những kiến thức về cuộc sống, có những thao tác, hành vi ứng xử đúng mực trong
các mối quan hệ xã hội như quan hệ của cá nhân với xã hội, của cá nhân với lao động, của cá nhân
với mọi người chung quanh và của cá nhân với chính mình, giúp cho nhân cách mỗi học sinh được
phát triển đúng đắn đồng thời thích ứng tốt nhất với môi trường sống.
Việc giáo dục những kỹ năng cuộc sống chính là sự bổ sung về kiến thức và năng lực cần
thiết cho các cá nhân thanh thiếu niên học sinh để họ có thể hoạt động độc lập và giúp họ chủ động
tránh được những khó khăn trong thực tế đời sống.
- Đối với học sinh, nhất là học sinh bậc trung học cơ sở, giáo dục kỹ năng sống là môn học
trang bị những tri thức giúp học sinh hình thành những kỹ năng sống cần thiết, phù hợp với từng
giai đoạn phát triển của con người với môi trường sống. Thông qua hoạt động Giáo dục kỹ năng
sống sẽ trang bị thêm cho học sinh những kỹ năng tự chủ, kỹ năng nói không, khả năng tự đưa ra
quyết định và thích nghi, biết chấp nhận, hóa giải được những tác động tiêu cực trong cuộc sống
chung quanh [1, tr.6].
- Giáo dục kỹ năng sống là hoạt động giúp cho người học có khả năng về mặt tâm lý xã hội
để phán đoán và ra quyết định tích cực, nghĩa là để “nói không với cái xấu” [21, 4]. Nhưng giáo dục
kỹ năng sống cho trẻ không phải là đưa ra những lời giải đơn giản cho những câu hỏi thông thường
mà giáo dục kỹ năng sống phải nhằm hướng đến thay đổi hành vi.
Công tác giáo dục kỹ năng sống cho học sinh chỉ đạt được kết quả tốt khi nó có sự tác động
1.3.2 . Lý thuyết về giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trung học cơ sở
đồng thời của các lực lượng giáo dục : Nhà trường, gia đình và các lực lượng xã hội.
1.3.2.1. Đặc điểm tâm-sinh lý lứa tuổi của học sinh THCS
Lứa tuổi học sinh trung học cơ sở từ lớp 6 đến lớp 9 (còn gọi là lứa tuổi thiếu niên) là giai
đoạn phát triển của trẻ từ 11 đến 15, 16 tuổi. Lứa tuổi này có một vị trí đặc biệt và tầm quan trọng
trong thời kỳ phát triển của trẻ em vì nó là thời kỳ chuyển tiếp từ tuổi thơ sang tuổi trưởng thành và
được phản ánh bằng những tên gọi khác nhau như: “thời kỳ quá độ”, “tuổi khó bảo”, “tuổi khủng
hoảng”, “tuổi bất trị”.
Đây là lứa tuổi có bước phát triển nhảy vọt về thể chất lẫn tinh thần, các em đang tách dần
khỏi thời thơ ấu để tiến sang giai đoạn phát triển cao hơn (người trưởng thành) tạo nên nội dung cơ
bản và sự khác biệt trong mọi mặt phát triển: thể chất, trí tuệ, tình cảm, đạo đức… của thời kỳ này
[4, tr.20].
Ở lứa tuổi này có sự tồn tại song song “vừa tính trẻ con, vừa tính người lớn”, điều này phụ
thuộc vào sự phát triển mạnh mẽ về cơ thể, sự phát dục, điều kiện sống và hoạt động… của các em.
Mặt khác, ở những em cùng độ tuổi lại có sự khác biệt về mức độ phát triển các khía cạnh khác
nhau của tính người lớn - điều này do hoàn cảnh sống, hoạt động khác nhau của các em tạo nên.
Hoàn cảnh đó có cả hai mặt:
- Mặt thứ nhất: Những điểm yếu của hoàn cảnh kiềm hãm sự phát triển tính người lớn: đó là
trẻ chỉ bận tâm vào việc học tập, không có những nghĩa vụ khác, nhiều bậc cha mẹ có xu thế không
để cho trẻ hoạt động, làm những công việc khác nhau của gia đình, của xã hội.
- Mặt thứ hai: Những yếu tố của hoàn cảnh thúc đẩy sự phát triển tính người lớn: đó là sự gia
tăng về thể chất, về giáo dục, nhiều bậc cha mẹ quá bận, gia đình gặp khó khăn trong đời sống, đòi
hỏi trẻ phải lao động nhiều để sinh sống. Điều đó đưa đến trẻ sớm có tính độc lập, tự chủ hơn.
Phương hướng phát triển tính người lớn ở lứa tuổi này có thể xảy ra theo các hướng sau:
- Đối với một số em, tri thức sách vở làm cho các em hiểu biết nhiều, nhưng còn nhiều mặt
khác nhau trong đời sống thì các em hiểu biết rất ít.
- Có những em ít quan tâm đến việc học tập ở nhà trường, mà chỉ quan tâm đến những vấn đề
làm thế nào cho phù hợp với “mốt”, coi trọng việc giao tiếp với người lớn, với bạn lớn tuổi để bàn
bạc, trao đổi với họ về các vấn đề trong cuộc sống để tỏ ra mình cũng như người lớn.
- Ở một số em khác không biểu hiện tính người lớn ra bên ngoài, nhưng thực tế đang cố gắng
rèn luyện mình có những đức tính của người lớn như : dũng cảm, tự chủ, độc lập, e ấp, dịu dàng, …
không còn quan hệ với bạn khác phái như trẻ con.
Thời kỳ thiếu niên quan trọng ở chỗ: trong thời kỳ này những cơ sở, phương hướng chung
của sự hình thành quan điểm xã hội và đạo đức của nhân cách được hình thành, chúng sẽ được tiếp
tục phát triển trong tuổi thanh niên.
Hiểu rõ vị trí, ý nghĩa của giai đoạn phát triển tâm lý thiếu niên sẽ giúp ta có cách đối xử
đúng đắn và giáo dục để các em có một nhân cách toàn diện.
1.3.2.2. Mục tiêu của giáo dục kỹ năng sống cho học sinh THCS
Giáo dục kỹ năng sống ở bậc trung học cơ sở nhằm thực hiện mục tiêu sau:
Chuyển dịch kiến thức (cái chúng ta biết), thái độ và giá trị (cái chúng ta nghĩ, cảm thấy hoặc
tin tưởng) thành thao tác, hành động và thực hiện thuần thục các thao tác, hành động đó như khả
năng thực tế (cái cần làm và cách thức cần làm nó) theo xu hướng tích cực và mang tính chất xây
dựng [1, tr.4].
1.3.2.3. Nội dung giáo dục kỹ năng sống cho học sinh THCS [1, tr.6]
Với ý nghĩa kỹ năng sống là những kỹ năng mang tính cá nhân và xã hội cần thiết đối với
thanh thiếu niên giúp họ có khả năng học tập tốt hơn, ứng xử một cách tự tin đồng thời là một
phương sách để hoàn thiện bản thân mình trước mọi người và cộng đồng thì kỹ năng sống cần thiết
cho học sinh THCS, theo WHO, gồm các nhóm kỹ năng chính sau đây, cần được giảng dạy và tổ
chức cho các em thực hành :
* Nhóm kỹ năng nhận biết và sống với chính mình :
- Kỹ năng tự nhận thức : là kỹ năng mà mỗi con người, trước hết, cần phải tự nhận biết và
hiểu rõ bản thân, hiểu rõ những tiềm năng, tình cảm, những xúc cảm cũng như vị trí của mình trong
cuộc sống và xã hội, cả những mặt mạnh và mặt yếu của họ nữa. Khi các cá nhân càng nhận thức
được khả năng của mình, họ càng có khả năng sử dụng các kỹ năng sống khác một cách có hiệu quả
và càng có khả năng lựa chọn những gì phù hợp với các điều kiện sẵn có với bản thân, với xã hội
mà họ sống và với khả năng của bản thân họ nữa. Họ cũng cần có sự hiểu biết rõ ràng về bản sắc
dân tộc và nền văn hóa mà từ đó họ đã được sinh ra và cũng chính nền văn hóa đó đã tạo nên con
người họ.
- Lòng tự trọng : Sự tự nhận thức đưa đến sự tự trọng. Khi mỗi người tự nhận thức được năng
lực tiềm tàng của bản thân và vị trí của mình trong cộng đồng thì lòng tự trọng được mô tả như là
”sự nhận thức những điều tốt đẹp của bản thân”. Nó còn đề cập đến việc mỗi người cảm nhận như
thế nào những khía cạnh mang tính cá nhân như diện mạo, khả năng và hành vi, … và họ sẽ phát
triển như thế nào trên cơ sở những kinh nghiệm bản thân để trở nên thành thạo và thành công khi
làm những điều mà họ dự định.
Tuy nhiên, lòng tự trọng bị ảnh hưởng một cách mạnh mẽ bởi mối quan hệ của một cá nhân
với những người khác. Những người lớn tuổi có ảnh hưởng đến trẻ như bố mẹ, các thành viên trong
gia đình, thầy cô giáo và cả bạn bè đồng lứa có thể hoặc trợ giúp nhằm phát triển hoặc làm mất sự tự
trọng của một cá nhân qua những quan hệ, tiếp xúc của họ đối với cá nhân đó.
- Sự kiên quyết : Sự kiên quyết hay tính kiên định có nghĩa là nhận biết được những gì bản
thân mình muốn và tại sao lại muốn đồng thời là khả năng tiến hành các bước cần thiết để đạt được
những gì bản thân mình muốn trong những hoàn cảnh cụ thể bao gồm một loạt các tình huống khác
nhau như : từ chối sự tán tỉnh, cám dỗ; thuyết phục người khác đồng thuận theo mình; nêu gương,
kêu gọi, hướng dẫn mọi người làm những việc có lợi cho cộng đồng,… Tuy nhiên, cách thể hiện
tính kiên định có liên quan đến văn hóa và việc lắng nghe, đánh giá những điều người khác cảm
nhận và mong muốn bởi vì kiên định là biết được nhu cầu và quyền của mình, cũng như điều mình
mong muốn và thực hiện những điều đó có xét tới nhu cầu, quyền và mong muốn của người khác.
- Đương đầu với cảm xúc : Xúc cảm là sự phản ánh rõ nét bản chất của mỗi người. Những
cảm xúc như sợ hãi, yêu thích, e thẹn, phẫn nộ, mong muốn được thừa nhận,… hoàn toàn mang tính
chủ quan và thường có là do đáp ứng một cách tức thời đối với tình huống. Vì thế mà chúng không
thể đoán trước được và có thể dễ dàng đưa con người ta đến những hành vi mà sau này họ sẽ phải
hối tiếc.
Do vậy, việc xác định và sau đó là đối phó với những cảm xúc là khả năng cho thấy rằng con
người ta có thể nhận thấy và phải tính đến những xúc cảm của mình cùng nguyên nhân cụ thể của
chúng để có những quyết định chế ngự, không để cho những cảm xúc của bản thân chi phối.
- Đương đầu với căng thẳng (kỹ năng ứng phó với stress) : Căng thẳng là một phần hiển
nhiên của cuộc sống. Những vấn đề trắc trở của bản thân, của bạn bè thân thiết, của các thành viên
trong gia đình; những mối quan hệ bị đổ vỡ, … là những minh họa các tình huống gây căng thẳng
trong cuộc sống con người. Trong những mức độ hữu hạn, khi một cá nhân có khả năng đương đầu
với sự căng thẳng thì căng thẳng lại có thể là một nhân tố tích cực bởi vì chính những sức ép của sự
căng thẳng đó buộc cá nhân phải tập trung vào công việc của mình và hưởng ứng một cách thích
hợp. Tuy nhiên, sự căng thẳng còn có một sức mạnh hủy diệt cuộc sống cá nhân nếu sự căng thẳng
đó quá lớn và không giải tỏa nổi. Do đó, cũng như kỹ năng đối phó với cảm xúc, thanh thiếu niên
học sinh cần phải có khả năng nhận biết sự căng thẳng, nguyên nhân và hậu quả cũng như biết cách
khắc phục nó.
** Nhóm kỹ năng nhận biết và sống với người khác :
- Mối quan hệ giữa các cá nhân : Các mối quan hệ là bản chất của cuộc sống. Chúng có hình
thái và quy mô khác nhau. Khi đứa trẻ lớn lên, trẻ phải phát triển các mối quan hệ với những người
lớn có vai trò quan trọng trong cuộc sống của trẻ như bố mẹ, họ hàng, láng giềng, thầy cô giáo,...
với những con người mà trẻ gặp gỡ trong cuộc sống như bạn bè của bố mẹ, những người bán hàng,
những nhà lãnh đạo địa phương,... với bạn bè đồng lứa trong và ngoài trường lớp. Tuy nhiên, không
phải ai cũng có thể là bạn bè tốt, thân thiết, ngang hàng được. Trẻ cần phải biết cách đối xử một
cách phù hợp trong từng mối quan hệ để chúng có thể phát triển tối đa tiềm năng sẵn có trong môi
trường của chúng.
- Kỹ năng thiết lập tình bạn : Một cá nhân cần có nhiều bạn để cùng chia sẻ các hoạt động,
niềm hy vọng, sự sợ hãi, chia sẻ cuộc sống và cả tham vọng. Việc thiết lập tình bạn bắt đầu từ giai
đoạn sớm nhất của cuộc đời. Vì vậy, trẻ cần phải nhận biết rằng tình bạn được hình thành như thế
nào và phải thiết lập, phát triển tình bạn ra sao để cả hai bên cùng đạt được những lợi ích chân
chính.
Trẻ cần phải có khả năng nhận biết, để khi cần thiết, mạnh dạn khước từ kiểu tình bạn có thể
đưa trẻ đến những hành vi nguy hiểm hoặc phạm tội như hành vi sử dụng ma túy, trộm cắp,...
- Sự cảm thông (kỹ năng thấu cảm) : là khả năng tự đặt mình vào vị trí của người khác khi họ
phải đương đầu với những vấn đề nghiêm trọng do hoàn cảnh hoặc do những hành động của chính
bản thân họ gây ra để hiểu được tình cảnh của họ và tìm ra cách giảm bớt gánh nặng bằng sự chia sẻ
chân tình với người đó thay vì lên án, thương hại hoặc coi khinh họ với bất kỳ lý do nào. Cảm thông
cũng đồng nghĩa với việc hỗ trợ người đó để họ có thể tự quyết định và đứng vững trên đôi chân của
họ một cách nhanh chóng nhất.
- Đứng vững trước sự lôi kéo của bạn bè : Đối với thanh thiếu niên, sức ép để bản thân được
giống như các thành viên khác trong nhóm bạn là rất lớn. Vì vậy, đứng vững trước sự lôi kéo của
bạn bè cùng lứa là một kỹ năng rất quan trọng. Nếu phải đương đầu với những ý nghĩ hoặc những
việc làm trái ngược của bạn bè cùng lứa khi họ gây ảnh hưởng và thói quen xấu thì bản thân cần
phải dũng cảm khước từ, phản đối, dừng ngay những đề xuất không thể chấp nhận được đó, kiên
quyết bảo vệ những giá trị và niềm tin của bản thân cho dù có thể bị chế nhạo, đe dọa hoặc ghẻ lạnh
từ nhóm bạn đó.
- Kỹ năng thương lượng : là một kỹ năng quan trọng trong mối quan hệ giữa các cá nhân với
nhau. Kỹ năng này có liên quan đến tính kiên định, sự cảm thông và mối quan hệ giữa cá nhân với
cá nhân cũng như khả năng thỏa hiệp những vấn đề không có tính nguyên tắc của bản thân. Kỹ năng
thương lượng còn liên quan đến khả năng đương đầu với những áp lực, sự đe dọa của hoàn cảnh,
những rủi ro tiềm tàng trong các mối quan hệ giữa các cá nhân với nhau kể cả sức ép của bạn bè.
Cần phải nhận định rõ vị trí của cá nhân và thiết lập kỹ sự hiểu biết lẫn nhau trong các mối quan hệ
để có kỹ năng thương lượng tốt.
- Kỹ năng giải quyết xung đột không dùng bạo lực : là kỹ năng có liên quan đến mối quan hệ
giữa các cá nhân với nhau, đến kỹ năng thương lượng và các kỹ năng đương đầu với xúc cảm, với
căng thẳng, lo âu. Xung đột là điều không thể tránh khỏi và đôi khi lại là điều cần thiết song kỹ
năng giải quyết xung đột không dùng bạo lực sẽ giúp cho những xung đột trở nên có tính xây dựng.
- Kỹ năng giao tiếp có hiệu quả : Giao tiếp là bản chất của các mối quan hệ của con người.
Do vậy, một trong những kỹ năng sống quan trọng nhất là khả năng giao tiếp một cách có hiệu quả
với mọi người. Khả năng này bao gồm cả kỹ năng lắng nghe và hiểu được người khác thực hiện
việc giao tiếp của họ như thế nào cũng như nhận biết được nhiều cách giao tiếp của họ khác nhau ra
sao.
*** Nhóm kỹ năng ra quyết định một cách có hiệu quả :
- Tư duy phê phán : Như đã nêu, giới trẻ lớn lên trong thế giới ngày nay phải đối đầu với
nhiều vấn đề, sự mong đợi, những đòi hỏi đa dạng, phức tạp và trái ngược của bố mẹ, thầy cô, bạn
bè,... phải tiếp nhận, đáp ứng nhiều thông điệp của các phương tiện truyền thông đại chúng, của các
nhà lãnh đạo, của quảng cáo, cuả âm nhạc, tôn giáo,... Vì thế, trẻ cần phải có khả năng phân tích,
gạn lọc, phê phán để có được quyết định phù hợp.
- Tư duy sáng tạo : Trong cuộc sống, con người thường xuyên bị đặt vào những hoàn cảnh
bất ngờ và bất thường. Do vậy, họ cần phải có tư duy sáng tạo nghĩa là có khả năng tiếp cận với sự
việc mới, phương thức mới, ý tưởng mới, cách sắp xếp và tổ chức mới để có thể có một hoặc nhiều
phương cách đáp ứng lại những hoàn cảnh đó một cách phù hợp.
- Kỹ năng ra quyết định : Mỗi ngày, mỗi người đều phải đứng trước những lựa chọn để ra
những quyết định. Có những quyết định tương đối đơn giản và có thể không ảnh hưởng nghiêm
trọng đến định hướng cuộc sống nhưng cũng có những quyết định nghiêm túc liên quan đến các mối
quan hệ, đến tương lai cuộc đời. Do đó, khi không thể đáp ứng liền một lúc những nhu cầu đối lập
người ta cần có khả năng lựa chọn để ra một quyết định có hiệu quả đồng thời phải ý thức được các
tình huống có thể xảy ra, phải lường được những hậu quả trước khi ra quyết định từ sự lựa chọn của
mình.
- Kỹ năng giải quyết vấn đề : là khả năng xem xét tình hình một cách cẩn thận, phân tích
những vấn đề gì đang tồn tại và xác định các bước nhằm cải thiện tình hình. Đây là kỹ năng có liên
quan đến kỹ năng ra quyết định và nhiều kỹ năng khác. Chỉ khi trãi qua thực hành việc ra quyết định
và giải quyết vấn đề thì trẻ mới có thể xây dựng được những kỹ năng cần thiết để có thể có những
lựa chọn tốt nhất trong bất kỳ hoàn cảnh nào mà chúng phải đương đầu.
Tóm lại, trong cuộc sống, các kỹ năng sống thường không hoàn toàn tách rời nhau và để đạt
được hiệu quả mong muốn thì việc giáo dục kỹ năng sống cho trẻ không nên giảng dạy riêng biệt
mà phải được thực hiện như là một phần không thể tách rời của các chương trình giáo dục đa dạng
gồm giáo dục sức khỏe thể chất, giáo dục trách nhiệm công dân,...
1.3.2.3. Một số hình thức và phương pháp giáo dục kỹ năng sống cho học sinh THCS
Để tạo thuận lợi cho việc học tập kỹ năng sống của học sinh bậc trung học cơ sở, có thể kể
đến các phương pháp giáo dục cụ thể sau : [1, tr.14]
* Phương pháp động não : Động não là một kỹ thuật sáng tạo để làm nảy sinh ra các ý
tưởng và giả định về một vấn đề. Để nắm bắt được các ý tưởng của đối tượng về một chủ đề, ta có
thể đặt câu hỏi, nêu vấn đề, thăm dò đối tượng bằng phương pháp động não. Với phương pháp này,
ta yêu cầu đối tượng nói ra cái mà họ nghĩ về chủ đề được đặt ra để xem mức độ hiểu vấn đề và
cách mô tả vấn đề bằng thuật ngữ riêng của họ. Phương pháp này cho phép tạo cơ hội để ý tưởng
của mỗi người đều có giá trị và chấp nhận không cần phê phán đồng thời cũng là một cách rất hiệu
quả để nghe các ý tưởng từ các đối tượng trong một giai đoạn thời gian hạn chế.
* Phương pháp đóng vai : là phương pháp thể hiện hành động trong một trò giả định đối
tượng học sinh của ta là nhân vật của một kịch bản định sẵn đứng trước một tình huống đặt ra. Đây
là phương pháp quan trọng trong giảng dạy kỹ năng sống vì những học sinh tham gia có thể được
thử trãi qua việc sử dụng các kỹ năng đã học trong các tình huống khác nhau. Bên cạnh đó, người
học còn có thể tham quan, thực hành các cách xử trí trong một môi trường an toàn và được giám sát
trước khi chạm trán với các tình huống thực.
* Phương pháp học tập trên cơ sở tham gia : Học tập tham gia là trọng tâm của việc giảng
dạy kỹ năng sống, phương pháp này chủ yếu dựa vào việc học và làm việc theo nhóm để các thành
viên có thể học tập, chia sẻ kinh nghiệm và thực hành các kỹ năng cùng nhau. Tính ưu việt của
phương pháp học tập tham gia thể hiện ở chỗ làm tăng sự nhận thức của mỗi thành viên về bản thân
họ và về những người khác, tạo điều kiện cho các thành viên trong nhóm hiểu nhau tốt hơn, động
viên sự hợp tác, phát triển kỹ năng nghe và kỹ năng giao tiếp,...
* Phương pháp giải quyết vấn đề : là phương pháp sử dụng kỹ năng giải quyết vấn đề làm
kỹ năng cơ bản giúp học sinh hình thành các kỹ năng xác định (phát hiện) vấn đề; xem xét, phân
tích vấn đề; tiến hành thử nghiệm về những giải pháp khác nhau, lựa chọn giải pháp tốt nhất, xây
dựng kế hoạch tạo ra những thay đổi để cải thiện, kết thúc vấn đề.
* Phương pháp xây dựng đề án : là phương pháp hướng dẫn học sinh học tập thông qua
việc xây dựng kế hoạch hoạt động và tổ chức thực hiện hoạt động đó nhằm khắc sâu ý nghĩa thực
tiễn của tri thức khoa học. Phương pháp này giúp rèn các kỹ năng xác định vấn đề; xem xét, phân
tích vấn đề; giải quyết vấn đề, kỹ năng hoạt động nhóm,...
* Và một số hình thức, phương pháp giáo dục khác như kể chuyện, thảo luận nhóm, thực
nghiệm, chơi các trò chơi giáo dục minh họa,… thông thường là các phương pháp giáo dục mang
tính trãi nghiệm.
1.3.2.4. Các lực lượng tham gia giáo dục kỹ năng sống cho học sinh THCS
Chủ yếu gồm đội ngũ thầy cô giáo (giáo viên bộ môn, giáo viên chủ nhiệm), cán bộ đoàn thể
trường học, tổ chức đoàn thể địa phương,… và đặc biệt là gồm cả cha mẹ học sinh tại chính trong
gia đình các em. Cụ thể :
* Giáo viên bộ môn : là những người đã qua trường lớp sư phạm đào tạo để giảng dạy cho
học sinh các tri thức khoa học tự nhiên, xã hội được phân thành các bộ môn như Toán học, Vật lý,
Hóa học, Sinh học, Ngữ văn, Lịch sử, Địa lý, Âm nhạc, Mỹ thuật,... Giáo viên bộ môn có những
nhiệm vụ sau đây : [2, tr.14]
a) Dạy học và giáo dục theo chương trình, kế hoạch giáo dục; soạn bài; dạy thực hành thí
nghiệm, kiểm tra, đánh giá theo quy định; vào sổ điểm, ghi học bạ đầy đủ, lên lớp đúng giờ,
quản lý học sinh trong các hoạt động giáo dục do nhà trường tổ chức, tham gia các hoạt động
của tổ chuyên môn;
b) Tham gia công tác phổ cập giáo dục ở địa phương;
c) Rèn luyện đạo đức, học tập văn hoá, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ để nâng cao chất
lượng, hiệu quả giảng dạy và giáo dục;
d) Thực hiện Điều lệ nhà trường; thực hiện quyết định của Hiệu trưởng, chịu sự kiểm tra của
Hiệu trưởng và các cấp quản lý giáo dục;
đ) Giữ gìn phẩm chất, danh dự, uy tín của nhà giáo, gương mẫu trước học sinh, thương yêu, tôn
trọng học sinh, đối xử công bằng với học sinh, bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của học
sinh, đoàn kết, giúp đỡ đồng nghiệp;
e) Phối hợp với giáo viên chủ nhiệm, các giáo viên khác, gia đình học sinh, Đoàn Thanh niên
Cộng sản Hồ Chí Minh, Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh trong dạy học và giáo dục học
sinh.
g) Thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật.
* Giáo viên chủ nhiệm lớp : là các giáo viên bộ môn được phân công thêm các nhiệm vụ sau
đây : [2, tr.15]
a) Tìm hiểu và nắm vững học sinh trong một lớp được giao về mọi mặt để có biện pháp tổ chức
giáo dục sát đối tượng, nhằm thúc đẩy sự tiến bộ của cả lớp;
b) Cộng tác chặt chẽ với gia đình học sinh, chủ động phối hợp với các giáo viên bộ môn, Đoàn
thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh, các tổ chức xã hội
có liên quan trong hoạt động giảng dạy và giáo dục học sinh của lớp mình chủ nhiệm;
c) Nhận xét, đánh giá và xếp loại học sinh cuối kỳ và cuối năm học, đề nghị khen thưởng và kỷ
luật học sinh, đề nghị danh sách học sinh được lên lớp thẳng, phải kiểm tra lại, phải rèn luyện
thêm về hạnh kiểm trong kỳ nghỉ hè, phải ở lại lớp, hoàn chỉnh việc ghi vào sổ điểm và học bạ
học sinh;
d) Báo cáo thường kỳ hoặc đột xuất về tình hình của lớp với Hiệu trưởng.
* Cán bộ đoàn thể trường học - Tổng phụ trách Đội :
Giáo viên làm Tổng phụ trách Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh là giáo viên bộ môn
được bồi dưỡng về công tác Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh, có nhiệm vụ thiết kế các hoạt
động của Đội ở nhà trường và phối hợp hoạt động với địa phương nhằm tổ chức cho Đội viên, thiếu
niên tham gia nhiều hoạt động phong trào học tập, vui chơi bổ ích. Qua đó xác định mục tiêu, định
hướng cho các em đội viên học sinh, giáo dục các em về nhận thức tư tưởng, dìu dắt các em học tập
tiến bộ, giúp các em phát triển một cách toàn diện về thể chất cũng như tinh thần.
Tổng phụ trách Đội phải có lòng yêu trẻ và thích làm việc với trẻ. Vì chỉ khi yêu thích, quan
tâm chăm sóc trẻ thì mới hòa nhập cùng vui chơi, sinh hoạt với trẻ, mới hiểu được trẻ cần gì để chia
sẻ với trẻ; tạo được sự tôn trọng, tin tưởng, gần gũi, quý trọng nơi trẻ ; thật sự là một chỗ dựa tinh
thần cho trẻ, giúp các em có ý thức sâu sắc về lối sống và mục đích của bản thân. Từ đó, thực hiện
tốt hơn công tác gáo dục kỹ năng sống cho trẻ.
Vai trò trách nhiệm của người phụ trách Đội càng quan trọng hơn khi được giao nhiệm vụ
giáo dục và hướng dẫn thiếu nhi thực hiện 5 điều Bác Hồ dạy để các em xứng đáng là một “thế hệ
cách mạng" của Đảng.
* Cha mẹ học sinh : là các bậc sinh ra và nuôi dưỡng các em học sinh; chịu trách nhiệm trong
gia đình và trước xã hội (pháp luật) đối với việc chăm lo việc học tập và giáo dục các con mình khi
chúng còn độ tuổi vị thành niên để chúng phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ và đạo đức, trở
thành người con hiếu thảo của gia đình, thành công dân có ích cho xã hội.
Trong gia đình mối quan hệ cha mẹ - con cái là quan hệ huyết thống cật ruột, là cha mẹ thì
phải hiền từ biết thương yêu và nuôi dạy con cái, biết làm gương cho con cái học tập. Ngược lại,
phận làm con phải biết ghi nhớ công ơn sinh thành dưỡng dục của cha mẹ, biết hiếu thuận với cha
mẹ. Cần tạo điều kiện để con cái biết ơn, thương yêu, gần gũi cả cha và mẹ. Thiếu cha hay thiếu mẹ
đều là một sự thiệt thòi không thể bù đắp đối với trẻ, đặc biệt là trong việc hình thành nhân cách
toàn diện của chúng. Thiếu cha, trẻ thấy thiếu sự tự tin, mạnh dạn. Thiếu mẹ, trẻ thấy cuộc sống khô
khan, cô độc và thiếu tình mẫu tử, sự hiền từ, dịu dàng của người mẹ [9, tr.6].
* Các đoàn thể xã hội : Có vai trò rất quan trọng trong việc tập hợp, vận động, đoàn kết rộng
rãi các tầng lớp nhân dân; các đoàn thể xã hội đại diện cho quyền lợi hợp pháp và nguyện vọng
chính đáng của nhân dân; đưa các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, các chương trình
kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng thành hoạt động thực tiễn sinh động trong cuộc sống
của nhân dân.
Đối với đơn vị trường học, các tổ chức đoàn thể xã hội như Công đoàn, Chi đoàn, Đội thiếu
niên,... thực hiện đúng vai trò chức năng của tổ chức mình đồng thời thông qua các hoạt động góp
phần thực hiện nhiệm vụ năm học của nhà trường: tạo môi trường sinh hoạt, học tập sinh động,
1.3.3 . Lý thuyết về quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trung học cơ sở
thuận lợi, thoải mái cho học sinh, giáo dục các em thông qua các hoạt động thực tiễn.
1.3.3.1. Mục tiêu và nội dung quản lý trường học
* Mục tiêu quản lý : là các nhiệm vụ, chức năng, các mong muốn, dự kiến phải thực hiện đạt
được trong quá trình triển khai các hoạt động. Mục tiêu quản lý cũng chính là kết quả của hoạt động
và là lực thúc đẩy quá trình hoạt động.
* Nội dung quản lý : bao gồm các nội dung sau :
- Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện.
- Xây dựng đội ngũ giáo viên và học sinh, xây dựng các đoàn thể và tổ chức trong nhà
trường.
- Sử dụng, xây dựng và bảo quản cơ sở vật chất kỹ thuật.
- Thu hút, tổ chức và phối hợp sự tham gia hỗ trợ của các lực lượng xă hội.
- Tiến hành kiểm tra nội bộ kết hợp với sự thanh tra từ bên ngoài trường nhằm đảm bảo mối
liên hệ nghịch thường xuyên và bền vững trong đánh giá khách quan chất lượng và hiệu quả của
giáo dục.
1.3.3.2. Vai trò, nhiệm vụ quản lý của Hiệu trưởng trường THCS : Hiệu trưởng là người
đứng đầu đơn vị trường học có nhiệm vụ : [2, tr.12]
a) Xây dựng, tổ chức bộ máy nhà trường;
b) Xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện nhiệm vụ năm học;
c) Quản lý giáo viên, nhân viên; quản lý chuyên môn; phân công công tác, kiểm tra, đánh giá
xếp loại giáo viên, nhân viên; thực hiện công tác khen thưởng, kỉ luật đối với giáo viên, nhân
viên theo quy định của Nhà nước; quản lý hồ sơ tuyển dụng giáo viên, nhân viên;
d) Quản lý học sinh và các hoạt động của học sinh do nhà trường tổ chức; xét duyệt kết quả đánh
giá, xếp loại học sinh, ký xác nhận học bạ, ký xác nhận hoàn thành chương trình tiểu học vào
học bạ học sinh tiểu học (nếu có) của trường phổ thông có nhiều cấp học và quyết định khen
thưởng, kỷ luật học sinh theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo;
e) Quản lý tài chính, tài sản của nhà trường;
g) Thực hiện các chế độ chính sách của Nhà nước đối với giáo viên, nhân viên, học sinh; tổ chức
thực hiện Quy chế dân chủ trong hoạt động của nhà trường; thực hiện công tác xã hội hoá giáo
dục của nhà trường.
h) Được đào tạo nâng cao trình độ, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ và hưởng các chế độ,
chính sách theo quy định của pháp luật;
i) Chịu trách nhiệm trước cấp trên về toàn bộ các nhiệm vụ được quy định.
Trong nhà trường phổ thông : “Hiệu trưởng quản lý mọi hoạt động của nhà trường theo chế
độ thủ trưởng” (điều 4 theo điều lệ nhà trường phổ thông). “Hiệu trưởng là người phụ trách cao
nhất ở nhà trường, chịu trách nhiệm trước nhà nước, trước nhân dân, trước cấp trên trực tiếp quản
lý mình, về mọi hoạt động giáo dục của nhà trường” (điều 2, quyết định số 243 – CP ngày
28/06/1979 của Hội đồng chính phủ về tổ chức bộ máy biên chế của nhà trường phổ thông).
Vì thế, hiệu trưởng các nhà trường phải có vai trò như những nhạc trưởng trong một dàn giao
hưởng.
1.3.3.3. Các nội dung quản lý của Hiệu trưởng đối với công tác giáo dục kỹ năng sống cho
học sinh
* Hiệu Trưởng quản lý chỉ đạo thực hiện mục tiêu giáo dục kỹ năng sống cho học sinh :
Cũng như tất cả các hoạt động giáo dục khác, để thực hiện đạt hiệu quả công tác giáo dục kỹ năng
sống cho học sinh, người Hiệu trưởng phải quản lý chỉ đạo việc thực hiện mục tiêu của giáo dục kỹ
năng sống, đó là : “Chuyển dịch kiến thức, thái độ và giá trị thành thao tác, hành động và thực hiện
thuần thục các thao tác, hành động đó như khả năng thực tế theo xu hướng tích cực và mang tính
chất xây dựng”. Muốn vậy, người Hiệu trưởng phải đảm bảo việc chỉ đạo thực hiện một số nguyên
tắc sau :
Giáo dục học sinh qua thực tiễn sinh động của xã hội : Nguyên tắc này đòi hỏi nhà trường
phải gắn liền với đời sống thực tiễn của xã hội, của cả nước và địa phương, phải nhạy bén
với tình hình chuyển biến của địa phương và của cả nước, đưa những thực tiễn đó vào
những giờ lên lớp, vào những hoạt động của nhà trường để giáo dục các em học sinh.
Giáo dục theo nguyên tắc tập thể : Nguyên tắc này thể hiện ở cả 3 nội dung: Hướng dẫn,
dìu dắt học sinh trong sinh hoạt tập thể; Giáo dục các phẩm chất, các kỹ năng bằng sức
mạnh của tập thể; Giáo dục học sinh tinh thần vì tập thể. Bởi vì tập thể ở đây có vai trò làm
nảy nở, khuyến khích các phẩm chất tốt đẹp như tinh thần tập thể, tính tổ chức kỷ luật, tình
đồng chí và tình bạn, tinh thần hợp tác và giúp đỡ lẫn nhau, tính khiêm tốn học hỏi mọi
người,… nó phát huy và có tác dụng điều chỉnh những động cơ kích thích bên trong góp
phần rất lớn vào việc giáo dục kỹ năng sống cũng như việc hình thành và phát triển nhân
cách học sinh.
Giáo dục kỹ năng sống phải phối hợp với đặc điểm lứa tuổi học sinh và đặc điểm hoàn
cảnh cá nhân học sinh : Đối với học sinh trung học cơ sở, là lứa học sinh có đặc điểm quá
độ, phức tạp và nhiều mâu thuẫn trong sự phát triển tâm lý cũng như sinh lý lứa tuổi. Các
em dễ vui, dễ buồn, dễ hăng say, dễ chán nản, muốn hiểu biết nhiều và làm nhiều việc lớn
nhưng vì khả năng còn hạn chế nên dễ nảy sinh mâu thuẫn giữa ước mơ và năng lực. Do
đó, công tác giáo dục kỹ năng sống cần phải chú ý những đặc điểm đó đồng thời chú ý đến
cá tính, giới tính của các em để có hình thức tổ chức các hoạt động giáo dục phong phú,
sinh động cũng như có phương pháp giáo dục thích hợp.
* Hiệu Trưởng quản lý chỉ đạo công tác giáo dục kỹ năng sống thông qua công tác xây dựng
kế hoạch giáo dục : Việc xây dựng kế hoạch là một công đoạn không thể thiếu được trong quản lý
bất kỳ một công tác nào của Hiệu Trưởng. Có xây dựng kế hoạch, người Hiệu Trưởng mới xác định
được mục tiêu sẽ đạt đến, các biện pháp thực hiện, thời gian tiến hành và hoàn thành, chỉ tiêu cần
đạt, … Tránh trường hợp được chăng hay chớ, tới đâu hay tới đó.
Để việc xây dựng kế hoạch giáo dục được tốt, người Hiệu Trưởng phải dựa trên cơ sở tình
hình cụ thể của học sinh, của đội ngũ giáo viên trường mình trong năm học, của địa phương mà
trường đóng để định ra nội dung, yêu cầu, biện pháp cho thích hợp. Việc nắm tình hình thực tế đội
ngũ giáo viên và học sinh phải bao gồm tình hình có tính chất thường xuyên, lâu dài, phổ biến và
tình hình có tính chất thời sự, tình hình cá biệt, có thể ảnh hưởng tiêu cực ít nhiều đối với tập thể
học sinh trường.
* Hiệu Trưởng quản lý công tác giáo dục kỹ năng sống thông qua công tác bồi dưỡng đội
ngũ giáo viên và quản lý tốt các hoạt động trường, lớp : Bằng nhiều hình thức và nhiều biện pháp,
người Hiệu Trưởng cần làm cho tập thể sư phạm của nhà trường nhận thức được rằng giáo dục kỹ
năng sống cho học sinh là công tác cấp thiết, cần tiến hành thường xuyên, liên tục, ở mọi lúc, mọi
nơi; trong tất cả các hoạt động đều có thể và phải thực hiện yêu cầu này. Một giờ dạy trên lớp không
chỉ đơn thuần là truyền thụ kiến thức khoa học cho học sinh mà còn là rèn các thao tác, kỹ năng học
tập, ứng xử, giáo dục cho các em những hành vi, cử chỉ, tình cảm, nhân sinh quan, thế giới quan
đúng đắn… như : trong một giờ tập thể dục không chỉ yêu cầu học sinh biết kỹ thuật động tác mà
còn yêu cầu các em phải rèn luyện được ý thức tổ chức kỷ luật, tinh thần tập thể, thao tác linh hoạt
để rèn luyện phát triển thể chất tự bảo vệ bản thân tránh được bệnh tật … Với những bài dạy thuộc
các môn khoa học xã hội có khả năng rất phong phú trong việc giáo dục những nhận thức chính trị
đúng đắn, những tình cảm đạo đức tốt như : tình yêu quê hương đất nước, yêu lao động, lòng tự hào
dân tộc, lòng căm ghét bọn cướp nước, bán nước, ăn bám,… “chuẩn bị cho các em một cuộc sống
có trách nhiệm trong một xã hội tự do, với tinh thần hiểu biết, hòa bình, khả năng dung thứ, bình
đẳng về giới tính, và hữu nghị,...” theo Công ước quốc tế về quyền trẻ em rất phù hợp với mục tiêu
giáo dục kỹ năng sống. Còn những bài học về các môn tự nhiên lại có khả năng giáo dục cho học
sinh lòng yêu thiên nhiên, yêu đất nước, tác phong khoa học, tính chính xác, tính cần cù, kiên trì,
nhẫn nại, lòng ham thích khoa học, chống mê tín dị đoan,… những kỹ năng tính toán, tư duy phân
tích, phê phán, kỹ năng giải quyết vấn đề,...
Nói chung, nhiều bài giảng nếu dạy tốt theo nghĩa đầy đủ là : đảm bảo tính chính xác khoa
học, có hệ thống, có trọng tâm và dạy với cả lương tâm người thầy thì tự bản thân những giờ lên lớp
đó đã mang tính giáo dục cao, đạt được hiệu quả ở cả ba thành tố của học vấn, đó là : kiến thức, kỹ
năng và thái độ.
Tuy nhiên người Hiệu Trưởng cũng cần lưu ý giáo viên tránh lối giáo dục kỹ năng sống một
cách đơn giản, lý thuyết sáo rỗng, gượng ép hoặc đơn điệu,… bởi sẽ kém hiệu quả, mất đi tác dụng
giáo dục vì bản thân các kỹ năng sống là khả năng ứng xử theo những cách nhất định trong một môi
trường cụ thể phù hợp với các giới hạn về kinh tế, xã hội và văn hóa mà người ta sống; giáo dục kỹ
năng sống phải là hoạt động sinh động bổ sung cho các cá nhân thanh thiếu niên học sinh về kiến
thức và năng lực cần thiết để họ có thể hoạt động độc lập và giúp họ chủ động tránh được những
khó khăn trong thực tế đời sống.
* Hiệu Trưởng quản lý công tác giáo dục kỹ năng sống thông qua lao động, qua các hoạt
động ngoại khóa, hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, hoạt động đoàn thể, xã hội và sinh hoạt tập
thể : Hoạt động lao động, hoạt động học tập ngoại khóa, hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, hoạt
động đoàn thể, xã hội và sinh hoạt tập thể,... là những hoạt động có nhiều thuận lợi để giáo dục, rèn
luyện học sinh các kỹ năng sống trong thực tế, có tác dụng trực tiếp đến việc giáo dục tư tưởng, giáo
dục nhận thức, thái độ cho học sinh. Thông qua những hoạt động này sẽ rèn luyện cho các em
những thao tác, kỹ năng, thói quen, hành vi tốt.
Vì vậy, người Hiệu Trưởng phải có kế hoạch cụ thể, cân đối; phải quan tâm tổ chức tốt đối
với các hoạt động này.
* Hiệu Trưởng tổ chức, xây dựng các lực lượng và điều kiện giáo dục trong và ngoài nhà
trường để giáo dục kỹ năng sống cho học sinh : Một đặc điểm quan trọng của công tác giáo dục học
sinh là giáo dục thông qua nêu gương có tính thuyết phục cao. Công tác giáo dục cho học sinh là
công việc và trách nhiệm của mỗi giáo viên, của toàn bộ các thành viên trong nhà trường chứ không
phải là của riêng giáo viên chủ nhiệm hay một vài giáo viên nào. Do đó, để làm tròn trách nhiệm
này thì trước hết mỗi thầy cô giáo phải là người thể hiện tốt những mẩu mực về nhân cách, về các
kỹ năng nhất là kỹ năng giải quyết vấn đề, kỹ năng giao tiếp ứng xử,...
Hiệu Trưởng phải giúp cho giáo viên nhận thức rõ trách nhiệm nặng nề nhưng vẻ vang của
mình là đào tạo con người, để giáo viên phải thương yêu học sinh thật sự, phải có ý thức trách
nhiệm về mọi hành vi, ngôn ngữ, cử chỉ của mình đối với học sinh, bản thân thầy cô phải là tấm
gương cho học sinh noi theo, phải tin tưởng, tôn trọng học sinh thì mới có thể giáo dục tốt được.
Muốn vậy, người Hiệu Trưởng phải chú trọng công tác bồi dưỡng, phải tổ chức làm sao cho tập thể
giáo viên trong trường gương mẫu về mọi mặt, đoàn kết nhất trí thành một khối thống nhất có tác
dụng giáo dục mạnh mẽ đối với học sinh. Vì một trong những nguyên tắc giáo dục là : Phải thống
nhất mọi ảnh hưởng giáo dục ngay trong nhà trường, tránh tình trạng “ông nói gà, bà nói vịt”, người
quan tâm, kẻ thờ ơ …
Ngoài ra, người Hiệu Trưởng cũng cần phải lưu ý đến việc tạo những điều kiện phương tiện
cần thiết để các em thực hiện những yêu cầu, những thao tác, kỹ năng, những hành vi do nhà trường
đề ra cho các em, tránh việc nhà trường chỉ biết yêu cầu này đến yêu cầu khác mà không xây dựng,
không tạo điều kiện, phương tiện để thực hiện những yêu cầu đó.
* Hiệu trưởng chỉ đạo giáo viên chủ động phối hợp với gia đình và xã hội để giáo dục kỹ
năng sống cho học sinh :
Nhà trường cần phối hợp với Ban đại diện cha mẹ học sinh, các tổ chức đoàn thể xã hội và cá
nhân nhằm : Tạo mối quan hệ gắn kết giữa nhà trường, gia đình và xã hội để thống nhất quan điểm,
nội dung, phương pháp giáo dục giữa nhà trường, gia đình và xã hội; huy động mọi lực lượng của
cộng đồng chăm lo sự nghiệp giáo dục, xây dựng phong trào học tập và môi trường giáo dục lành
mạnh, góp phần xây dựng cơ sở vật chất nhà trường.
Bên cạnh đó, nhà trường phải làm sao xứng đáng là trung tâm giáo dục của địa phương phải
làm sao để địa phương đồng tình ủng hộ, kết hợp với nhà trường nhằm mục đích chung là: giáo dục
con em nên người.
* Hiệu Trưởng quản lý công tác giáo dục kỹ năng sống thông qua chỉ đạo xây dựng môi
trường giáo dục tốt để giáo dục học sinh :
Một trong các yếu tố góp phần hết sức quan trong việc giáo dục học sinh đó là : cảnh quan sư
phạm. Làm sao để “trường ra trường, lớp ra lớp” và tự nhà trường đúng nghĩa của nó đã mang yếu
tố giáo dục.
Dù trong hoàn cảnh nào, Hiệu Trưởng cũng cần tổ chức, sắp xếp tu sửa, tô điểm bộ mặt vật
chất, khung cảnh của nhà trường, làm sao cho toàn bộ khung cảnh của trường đều toát lên ý nghĩa
giáo dục đối với học sinh. Ngoài khung cảnh vật chất, Hiệu Trưởng cần tạo ra một bầu không khí
giáo dục trong toàn trường và ở mỗi lớp học, hình thành nên một phong cách sinh hoạt của nhà
trường, biểu hiện ở những nề nếp tốt như trật tự, vệ sinh, ngăn nắp, nghiêm túc. Có dư luận tập thể
tốt, ủng hộ cái tốt, cái tiến bộ, phê phán cái sai, cái lạc hậu, có phong trào thi đua sôi nổi và đúng
thực chất. Và có quan hệ tốt giữa các thành viên trong trường như giữa thầy và thầy, giữa thầy và
trò, giữa học sinh với nhau.
Trong các mối quan hệ phải thật sự đúng mực, hài hòa; giáo viên thương yêu tôn trọng học
sinh, không đánh đập xỉ vả, mỉa mai, chế giễu, áp bức, dọa nạt, thiên vị hay thành kiến. Học sinh
không hỗn xược, không khúm núm sợ sệt mà thật lòng yêu kính, tin tưởng thầy cô. Học sinh đối với
nhau thì đoàn kết, thân ái, giúp đỡ nhau cùng tiến bộ, không kèn cựa, suy bì, thù hằn, bè cánh,
không đánh cãi nhau, không nói tục chưởi bậy. Với một bầu không khí như vậy, sẽ có tác dụng hết
sức tích cực đến việc hình thành các kỹ năng cần thiết trong học tập, trong các mối quan hệ, trong
giao tiếp ứng xử và góp phần hình thành nên các phẩm chất đạo đức tốt đẹp cho các em.
1.3.3.4. Các phương pháp quản lý của Hiệu Trưởng
Trước hết ta cần phải nhớ lại rằng: Các phương pháp quản lý giáo dục của Hiệu trưởng chính
là cách thức tác động đến khách thể quản lý bằng việc sử dụng các phương tiện khác nhau của hệ
thống quản lý giáo dục nhằm đạt được mục tiêu quản lý giáo dục [25].
Thông thường, các phương pháp quản lý của Hiệu Trưởng gồm:
* Phương pháp kế hoạch hóa : là phương pháp Hiệu trưởng đi tìm những quyết định và
những giải pháp thực hiện các quyết định đó của nhà quản lý nhằm đạt được mục tiêu đề ra và hoàn
thành tốt nhiệm vụ năm học.
* Phương pháp tổ chức hành chính : là phương pháp tác động trực tiếp bằng những quyết
định, bằng mệnh lệnh có tính bắt buộc của Hiệu trưởng đối với tập thể sư phạm.
Đây là phương pháp thường sử dụng của nhà quản lý có ưu điểm nổi bật là đạt hiệu quả
nhanh chóng nếu nhà quản lý làm cho khách thể quản lý hiểu rõ các cơ sở khoa học và thực tiễn của
các quyết định của mình tức là làm cho họ ý thức được quyền uy của các quy luật khách quan chứ
không phải là uy quyền hành chính của một vị Hiệu trưởng.
* Phương pháp kinh tế : là phương pháp tác động gián tiếp của Hiệu trưởng đối với tập thể
sư phạm thông qua cơ chế tác động vào lợi ích kinh tế của từng thành viên, của tập thể, … trong đó
lợi ích chính đáng của từng thành viên chính là nguồn động lực phấn đấu giúp hoàn thành nhiệm vụ
đề ra.
* Phương pháp giáo dục : là phương pháp tác động về tinh thần của Hiệu trưởng đối với tập
thể sư phạm thông qua công tác giáo dục tư tưởng và qua các phong trào thi đua nhằm nâng cao ý
thức tự giác, tích cực và năng lực sáng tạo, chủ động của mỗi thành viên.
* Phương pháp tâm lý – xã hội : là phương pháp vận dụng những tri thức về tâm lý của Hiệu
trưởng vào công tác quản lý giáo dục.
Với phương pháp này, nhà quản lý phải chú ý tìm hiểu được bản chất tâm lý người của khách
thể quản lý, phải quan sát tìm hiểu động cơ phấn đấu của thuộc cấp, phải luu tâm phát triển nhân
cách của người dưới quyền để họ làm việc tích cực hơn khi được tác động.
Và còn một số phương pháp khác mà Hiệu trưởng phải nghiên cứu vận dụng một cách thích
hợp đối với từng thành viên, từng yêu cầu công tác.
Chương 2 . THỰC TRẠNG QUẢN LÝ GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC
SINH THCS TẠI QUẬN 11
Trong phần này, các mục sau đây được trình bày theo thứ tự:
- Kết quả tổng quát các tham số nghiên cứu từ cán bộ, giáo viên và học sinh.
- Đánh giá của giáo viên về việc giáo dục rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh trung học cơ sở.
- Tự đánh giá của học sinh về việc rèn luyện kỹ năng sống.
- Thực trạng quản lý của Hiệu trưởng trường trung học cơ sở tại Quận 11 đối với công tác giáo
dục kỹ năng sống cho học sinh.
2.1. Kết quả tổng quát các tham số nghiên cứu của cán bộ, giáo viên và học sinh
2.1.1 Thông tin về cán bộ giáo viên
* Công việc: - Giáo viên: 96 - Giáo viên chủ nhiệm: 60
- Ban Giám hiệu: 16 - Tổ trưởng Bộ môn: 12
* Trình độ chuyên môn: - Không ghi: 17 - Cử nhân: 156
- Thạc sĩ: 1 - Tiến sĩ: 0 - Khác: 10
* Giới tính: - Nam: 55 - Nữ: 129
* Thâm niên công tác: - dưới 5 năm: 33 - từ 6 đến 15 năm: 60
- từ 16 đến 25 năm: 50 - 25 năm trở lên: 41
* Đơn vị trường công tác :
Không ghi 1. Chu Văn An 2. Hậu Giang 3. Lê Anh Xuân 4. Lê Quý Đôn 5. Lữ Gia 6. Phú Thọ 4 27 34 27 32 23 37
2.1.2. Thông tin về học sinh
Giới tính: - Nam: 266 - Nữ: 325
Tuổi: - Không ghi: 14 - 14 tuổi: 244 - 15 tuổi: 299 - 16 tuổi: 24 - khác: 10
Học lớp: - Không ghi: 18 - Lớp 8: 256 - Lớp 9: 317
Trường:
Không ghi 1. Chu Văn An 2. Hậu Giang 3. Lê Anh Xuân 4. Lê Quý Đôn 5. Lữ Gia 6. Phú Thọ 6 99 87 98 99 95 107
2.2. Đánh giá của giáo viên về việc giáo dục rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh trung học cơ
sở
Ghi chú:
Khác biệt ý nghĩa thống kê giữa các tham số của khách thể nghiên cứu về cách đánh giá một
ý kiến : nếu P > 0,05 thì kiểm nghiệm chi bình phương không có sự khác biệt ý nghĩa thống
kê giữa các tham số của khách thể nghiên cứu về cách đánh giá ý kiến đó.
Khi kiểm nghiệm F được dùng và 2 cột trị số F và P có trong bảng:
- Nếu P < 0,05 thì kiểm nghiệm F có sự khác biệt ý nghĩa thống kê giữa các tham số của
khách thể nghiên cứu về cách đánh giá ý kiến đó;
- Nếu P > 0,05 thì kiểm nghiệm F không có sự khác biệt ý nghĩa thống kê giữa các tham
số của khách thể nghiên cứu về cách đánh giá một ý kiến đó.
Khi kiểm nghiệm X2 được dùng và 2 cột trị số X2 và P có trong bảng:
- Nếu P < 0,05 thì kiểm nghiệm chi bình phương có sự khác biệt ý nghĩa thống kê giữa
các tham số của khách thể nghiên cứu về cách đánh giá ý kiến đó;
- Nếu P > 0,05 thì kiểm nghiệm chi bình phương không có sự khác biệt ý nghĩa thống kê
giữa các tham số của khách thể nghiên cứu về cách đánh giá ý kiến đó.
Tùùy theo thang đo, điểm trung bình cộng sẽ thay đổi. Trong phiếu thăm dò ý kiến, có hai loại
thang:
- đối với thang 5 bậc, thì trung bình cộng là 3;
- đối với thang 3 bậc, thì trung bình cộng là 2.
Theo kết quả này, có thể quy định về các bậc như sau:
+ Đối với thang 3 bậc: + Đối với thang 5 bậc:
* từ 2,5 đến 3: tốt * từ 4,5 đến 5: tốt
* từ 1,5 đến 2,4: trung bình * từ 3,5 đến 4,4: khá
* dưới 1,4: kém * từ 2,5 đến 3,4: trung bình
* dưới 2,4: kém
Do đó, khi nhìn vào trung bình cộng của các câu, ta sẽ biết việc đánh giá ở thứ bậc nào so với
trung bình cộng.
Một số từ viết tắt trong các bảng:
- ĐLTC: độ lệch tiêu chuẩn
- TB: trung bình cộng
- N: số khách thể tham gia nghiên cứu.
Bảng 2.1. Đánh giá của giáo viên về kỹ năng sống tổng quát cần cho học sinh trung học cơ sở:
(Thang 5 bậc)
Kỹ năng ĐLTC Thứ bậc
1. Kỹ năng kiếm sống và tay nghề 2. Những kỹ năng có liên quan đến thực hành
TB 4,33 0,91 11
4,38 0,64 8 sức khỏe
3. Các kỹ năng vận động thể chất 4. Các kỹ năng có liên quan đến hành vi và
4,27 0,57 13
5. Các kỹ năng học tập 6. Ghi nhớ 7. Tính toán 8. Soạn thảo văn bản thông thường 9. Sắp xếp thời gian 10. Sáng tạo 11. Sống trong cộng đồng 12. Thông tin 13. Tự nhận biết bản thân 14. Giải quyết vấn đề riêng tư 15. Kiểm soát cảm xúc 16. Lập kế hoạch tài chính cho bản thân 17. Sống thực tế 18. Lịch thiệp 19. Nhận biết trách nhiệm 20. Vươn lên
4,62 0,54 3 giao tiếp
4,77 4,30 4,19 3,91 4,43 4,34 4,48 4,18 4,49 4,01 4,12 3,89 4,17 4,35 4,71 4,59 0,44 0,63 0,68 0,73 0,57 0,68 0,54 0,66 0,57 0,69 0,68 0,82 0,55 0,57 0,45 0,54 1 12 14 19 7 10 6 15 5 18 17 20 16 9 2 4
Qua kết quả bảng 2.1 cho thấy theo đánh giá của giáo viên các kỹ năng sống tổng quát cần
cho học sinh trung học cơ sở theo thứ bậc:
Kỹ năng học tập (thứ bậc 1), Kỹ năng nhận biết trách nhiệm (thứ bậc 2), các kỹ năng có liên
quan đến hành vi và giao tiếp (thứ bậc 3), Kỹ năng vươn lên (thứ bậc 4), Kỹ năng tự nhận biết bản
thân (thứ bậc 5).
Kỹ năng sống trong cộng đồng (thứ bậc 6), Kỹ năng sắp xếp thời gian (thứ bậc 7), những kỹ
năng có liên quan đến thực hành sức khỏe (thứ bậc 8), Kỹ năng lịch thiệp (thứ bậc 9), Sáng tạo (thứ
bậc 10).
Kỹ năng kiếm sống và tay nghề (thứ bậc 11), Ghi nhớ (thứ bậc 12), Các kỹ năng vận động
thể chất (thứ bậc 13), Kỹ năng tính toán (thứ bậc 14), Kỹ năng thông tin (thứ bậc 15).
Kỹ năng sống thực tế (thứ bậc 16), Kỹ năng kiểm soát cảm xúc (thứ bậc 17), Kỹ năng giải
quyết vấn đề riêng tư (thứ bậc 18), Kỹ năng soạn thảo văn bản thông thường (thứ bậc 19), Lập kế
hoạch tài chính cho bản thân (thứ bậc 20).
Như vậy, các kỹ năng liên quan đến học tập và tự ý thức của học sinh trung học cơ sở được
đánh giá ở các thứ bậc từ 1 đến 5; tiếp theo là những kỹ năng liên quan đến giao tiếp, lập kế hoạch,
giữ gìn sức khỏe; rồi đến các kỹ năng học tập thông thường như ghi nhớ, tính toán, trao đổi thông
tin, vận động thể chất và kỹ năng nghề nghiệp. Ngoài ra, những kỹ năng dành cho người lớn tuổi
hơn được xếp ở các thứ bậc từ 16 đến 20.
Nói cách khác, việc đánh giá của giáo viên về các kỹ năng sống cần cho học sinh trung học
cơ sở mang tính thực tế và phù hợp với độ tuổi của các em. Điều này cho thấy trong đội ngũ giáo
viên hiện nay đã có nhận thức về nội dung giáo dục kỹ năng sống cho học sinh của mình.
Bảng 2.2. Đánh giá của giáo viên về kỹ năng sống cần bồi dưỡng cho học sinh trung học cơ sở:
(Thang 5 bậc)
Kỹ năng cần bồi dưỡng
TB 4,68 4,26 4,57 4,66 4,49 3,96 4,40 4,48 3,43 3,88 3,60 3,98 3,90 4,06 4,38 4,10 4,02 ĐLTC 0,48 0,60 0,51 0,47 0,54 0,66 0,58 0,56 0,69 0,72 0,78 0,68 0,73 0,66 0,68 0,73 0,73 Thứ bậc 1 23 3 2 7 44 13 8 61 53 59 43 50 37 14 34 39
1. Giao tiếp 2. Sử dụng máy tính 3. Ứng xử 4. Kỹ năng học tập 5. Kỹ năng sống 6. Kỹ năng định hướng các giá trị 7. Kỹ năng chăm sóc sức khỏe 8. Kỹ năng tư duy 9. Kỹ năng quản lý trò chơi 10. Kỹ năng thuyết phục 11. Kỹ năng thương lượng 12. Kỹ năng sử dụng trang thiết bị 13. 14. 15. 16. 17. 18. 4,13 0,67 31
19. 62 3,40 0,96
20. 4,02 0,69 40
Kỹ năng quan tâm đến nhu cầu của người khác Kỹ năng biết đặt mình vào vai trò của người khác Tử tế với những người xung quanh. Kỹ năng diễn tả một cách hoạt bát qua viết và nói. Kỹ năng lý giải một cách hoạt bát qua viết và nói. Kỹ năng thể hiện thái độ chừng mực trong giao tiếp với người khác Kỹ năng sử dụng ngôn ngữ không lời trong giao tiếp với người khác Kỹ năng thể hiện sự đồng cảm trong giao tiếp với người khác Kỹ năng cảm nhận tâm trạng của người đối thoại Kỹ năng nhận biết lập trường của bản thân Kỹ năng nhận biết vị thế xã hội của bản thân Kỹ năng nhận biết niềm tin của bản thân Kỹ năng nhận biết khả năng của bản thân Kỹ năng làm chủ xúc cảm của bản thân Kỹ năng tự khẳng định của bản thân Kỹ năng độc lập suy nghĩ của bản thân 21. 22. 23. 24. 25. 26. 27. 28. 3,87 4,28 3,89 4,25 4,32 4,29 4,25 4,37 0,71 0,75 0,88 0,75 0,73 0,70 0,68 0,61 55 22 52 24 18 20 25 15
29.
4,14 0,74 30
30. 4,11 0,78 33
31. 4,24 0,64 26
32. 4,06 0,69 38
4,42 4,32 3,95 0,66 0,73 0,88 10 19 47
33. 34. 35. 36. 3,90 0,84 51
3,64 4,01 3,88 1,02 0,70 0,96 58 42 54
37. 38. 39. 40. 4,08 0,75 35
4,17 3,72 3,96 4,12 4,33 0,75 0,77 0,66 0,64 0,57 28 57 45 32 17
41. 42. 43. 44. 45. 46. 3,52 0,81 60
3,92 4,48 4,02 4,42 4,52 0,62 0,52 0,77 0,58 0,54 48 9 41 11 5
47. 48. 49. 50. 51. 52. 4,15 0,68 29
4,57 0,55 4
53. 54. 4,36 0,55 16
55. 4,18 0,73 27
56. 3,96 0,84 46
4,51 0,55 6
57. 58. 4,41 0,55 12
59. 60. Kỹ năng đối đầu với những vấn đề tình cảm riêng tư của bản thân Kỹ năng giải quyết những vấn đề liên quan đến giới tính của bản thân Kỹ năng giải quyết những vấn đề liên quan đến sức khỏe của bản thân Kỹ năng giải quyết những vấn đề tế nhị đối với bạn khác giới của bản thân Kỹ năng kiềm hãm tính nông nỗi Kỹ năng giải quyết vấn đề bằng suy nghĩ chín chắn Kỹ năng thể hiện một con người trưởng thành Kỹ năng lập kế hoạch chi tiêu theo khả năng tài chánh của bản thân Kỹ năng sống độc lập về tài chánh Kỹ năng biết đánh giá đúng giá trị của sự vật và bản thân Kỹ năng biết chi tiêu theo khả năng thu nhập của bản thân Kỹ năng kiềm hãm những nhu cầu không cần thiết của bản thân Kỹ năng tổ chức cuộc sống hằng ngày Kỹ năng nấu nướng những món thông thường Kỹ năng dọn dẹp nhà cửa Kỹ năng sắp xếp phòng riêng của bản thân Kỹ năng chăm sóc thể chất của bản thân Kỹ năng sử dụng các công cụ cơ khí trong sửa chữa vật dụng thông thường trong nhà Kỹ năng sử dụng năng lượng một cách tiết kiệm Kỹ năng xưng hô lịch thiệp với người khác Kỹ năng trình bày bằng văn bản một cách lịch sự Kỹ năng thể hiện lòng biết ơn người khác Kỹ năng thể hiện lòng tôn trọng người khác Kỹ năng thể hiện những quy ước giao tiếp (như bắt tay, chào hỏi lịch sự ) Kỹ năng dám chịu trách nhiệm về việc làm của bản thân Kỹ năng nhận biết trách nhiệm và thực hiện việc giúp đỡ người khác (cho dù chưa quen biết) Kỹ năng nhận biết trách nhiệm và thực hiện các hoạt động chung của cộng đồng, đất nước Kỹ năng nhận biết trách nhiệm và đóng góp vào sự phát triển của cộng đồng, đất nước Kỹ năng nhận biết và thực hiện trách nhiệm đối với gia đình Kỹ năng nhận biết trách nhiệm và giúp đỡ đối với người thân Kỹ năng đối mặt với những thất bại trong cuộc sống Kỹ năng xác định và thực hiện có kết quả mục tiêu trong 4,29 3,92 0,67 0,83 21 49
61. 3,78 0,85 56
62. 4,07 0,73 36 các giai đoạn cuộc đời Kỹ năng chống lại những điều không thỏa mãn trong cuộc sống Kỹ năng thực hiện những công việc làm tăng tính tự trọng của bản thân
Qua kết quả bảng 2.2 cho thấy đánh giá của giáo viên về các kỹ năng sống cần bồi dưỡng cho
học sinh trung học cơ sở theo thứ bậc:
+ Cần thiết ở mức độ rất cao:
Kỹ năng giao tiếp (thứ bậc 1), Kỹ năng học tập (thứ bậc 2), Kỹ năng ứng xử (thứ bậc 3), Kỹ
năng dám chịu trách nhiệm về việc làm của bản thân (thứ bậc 4), Kỹ năng thể hiện lòng tôn trọng
người khác (thứ bậc 5), Kỹ năng nhận biết và thực hiện trách nhiệm đối với gia đình (thứ bậc 6), các
kỹ năng sống nói chung (thứ bậc 7), Kỹ năng tư duy (thứ bậc 8), Kỹ năng xưng hô lịch thiệp với
người khác (thứ bậc 9), Kỹ năng kiềm hãm tính nông nỗi (thứ bậc 10), Kỹ năng thể hiện lòng biết
ơn người khác (thứ bậc 11), Kỹ năng nhận biết trách nhiệm và giúp đỡ đối với người thân (thứ bậc
12), Kỹ năng chăm sóc sức khỏe (thứ bậc 13), Kỹ năng tử tế với những người xung quanh (thứ bậc
14), Kỹ năng độc lập suy nghĩ của bản thân (thứ bậc 15).
Từ những đánh giá của giáo viên về các kỹ năng sống cần bồi dưỡng cho học sinh qua bảng
2.2, chúng ta thấy kĩ năng được đánh giá cao nhất vượt lên trên cả kỹ năng học tập đó là kĩ năng
giao tiếp.
Bởi hằng ngày, chúng ta thấy trẻ vẫn còn nhiều hạn chế trong giao tiếp, thể hiện rõ trong ứng
xử, xưng hô với người khác. Đa số trẻ còn tỏ ra thiếu lịch thiệp, không thể hiện được sự tôn trọng
đúng mực, ngại bày tỏ lòng biết ơn, ngại xin lỗi, nhận lỗi khi sai phạm. Hầu hết các em chưa biết
cũng như chưa có kỹ năng dám chịu trách nhiệm về việc làm của bản thân. Số đông trẻ thiếu kỹ
năng nhận biết và thực hiện trách nhiệm đối với gia đình cũng như chưa biết giúp đỡ người thân.
Đặc biệt, do sự thay đổi tâm sinh lý lứa tuổi cùng với sự phát triển nhanh về thể chất nên
trong giao tiếp các em chưa biết cách kiềm hãm tính nông nỗi, thiếu sự cảm thông đối với những
người xung quanh. Ngoài ra các em cũng chưa biết tự chăm sóc sức khỏe bản thân mình. Trong học
tập các em chưa có kỹ năng học tập tốt, khoa học; đa số chưa có được kỹ năng độc lập suy nghĩ của
bản thân, tư duy còn yếu kém hoặc còn phụ thuộc vào người khác khi suy nghĩ để giải quyết một
vấn đề.
+ Cần thiết ở mức độ cao:
Kỹ năng nhận biết trách nhiệm và thực hiện việc giúp đỡ người khác (cho dù chưa quen biết)
(thứ bậc 16), Kỹ năng chăm sóc thể chất của bản thân (thứ bậc 17), Kỹ năng nhận biết khả năng của
bản thân (thứ bậc 18), Kỹ năng giải quyết vấn đề bằng suy nghĩ chín chắn (thứ bậc 19), Kỹ năng
làm chủ xúc cảm của bản thân (thứ bậc 20), Kỹ năng đối mặt với những thất bại trong cuộc sống
(thứ bậc 21), Kỹ năng nhận biết lập trường của bản thân (thứ bậc 22), Kỹ năng sử dụng máy tính
(thứ bậc 23), Kỹ năng nhận biết niềm tin của bản thân (thứ bậc 24), Kỹ năng tự khẳng định của bản
thân (thứ bậc 25), Kỹ năng giải quyết những vấn đề liên quan đến sức khỏe của bản thân (thứ bậc
26), Kỹ năng nhận biết trách nhiệm và thực hiện các hoạt động chung của cộng đồng, đất nước (thứ
bậc 27).
Qua đánh giá của giáo viên đã nêu trên và qua thực tế quan sát ta thấy còn nhiều học sinh
chưa có kỹ năng làm chủ cảm xúc bản thân nên cũng chưa có kỹ năng nhận biết lập trường, niềm tin
cũng như khả năng của bản thân, từ đó thiếu nhận biết trách nhiệm và thực hiện việc giúp đỡ người
khác. Trong cuộc sống nhiều em chỉ lo học và vui chơi mà quên chăm sóc bản thân, ít tham gia các
môn thể dục, thể thao rèn luyện thể chất. Một số em không có kỹ năng đối mặt với những thất bại
trong cuộc sống nên khi gặp thất bại trong học tập thì tìm cách giải thoát bằng con đường tự tử, bỏ
nhà ra đi. Trong thực tế, có một số em thiếu kỹ năng giải quyết vấn đề bằng suy nghĩ chín chắn nên
đôi lúc gây ra hậu quả nghiêm trọng: Bạn chết, bản thân mình vào tù, gián đoạn học tập.
+ Cần thiết ở mức trung bình:
Kỹ năng tổ chức cuộc sống hằng ngày (thứ bậc 28), Kỹ năng thể hiện những quy ước giao
tiếp (như bắt tay, chào hỏi lịch sự…) (thứ bậc 29), Kỹ năng đối đầu với những vấn đề tình cảm
riêng tư của bản thân (thứ bậc 30), Kỹ năng thể hiện thái độ chừng mực trong giao tiếp với người
khác (thứ bậc 31), Kỹ năng sắp xếp phòng riêng của bản thân (thứ bậc 32), Kỹ năng giải quyết
những vấn đề liên quan đến giới tính của bản thân (thứ bậc 33), Kỹ năng diễn tả một cách hoạt bát
qua viết và nói (thứ bậc 34), Kỹ năng kiềm hãm những nhu cầu không cần thiết của bản thân (thứ
bậc 35), Kỹ năng thực hiện những công việc làm tăng tính tự trọng của bản thân (thứ bậc 36), Kỹ
năng biết đặt mình vào vai trò của người khác (thứ bậc 37), Kỹ năng giải quyết những vấn đề tế nhị
đối với bạn khác giới của bản thân (thứ bậc 38), Kỹ năng lý giải một cách hoạt bát qua viết và nói
(thứ bậc 39), Kỹ năng thể hiện sự đồng cảm trong giao tiếp với người khác (thứ bậc 40).
Xuyên suốt các ý kiến đánh giá xếp loại của giáo viên qua các thứ bậc thể hiện trong bảng
2.2 trên, ta thấy rõ chính kỹ năng giao tiếp giúp cho quá trình tương tác giữa các cá nhân, tương tác
trong nhóm và với tập thể đông đảo hơn sẽ giúp đạt kết quả tốt đẹp. Kỹ năng giao tiếp giúp cá nhân
bày tỏ suy nghĩ cảm xúc và tâm trạng của mình, giúp người khác hiểu mình rõ hơn. Thái độ cảm
thông đối với người khác cũng góp phần giúp họ giải quyết vấn đề mà họ gặp phải nhưng thực tế
cũng còn nhiều trẻ nhất là trẻ được sinh ra trong những gia đình ít con thì hầu như thiếu kỹ năng tổ
chức cuộc sống hằng ngày, không biết sắp xếp phòng riêng của bản thân, không biết kiềm hãm
những nhu cầu không cần thiết của bản thân.
+ Cần thiết ở mức dưới trung bình:
Kỹ năng trình bày bằng văn bản một cách lịch sự (thứ bậc 41), Kỹ năng biết đánh giá đúng
giá trị của sự vật và bản thân (thứ bậc 42), Kỹ năng sử dụng trang thiết bị (thứ bậc 43), Kỹ năng
định hướng các giá trị (thứ bậc 44), Kỹ năng dọn dẹp nhà cửa (thứ bậc 45), Kỹ năng nhận biết trách
nhiệm và đóng góp vào sự phát triển của cộng đồng, đất nước (thứ bậc 46), Kỹ năng thể hiện một
con người trưởng thành (thứ bậc 47), Kỹ năng sử dụng năng lượng một cách tiết kiệm (thứ bậc 48),
Kỹ năng xác định và thực hiện có kết quả mục tiêu trong các giai đoạn cuộc đời (thứ bậc 49), Kỹ
năng quan tâm đến nhu cầu của người khác (thứ bậc 50), Kỹ năng lập kế hoạch chi tiêu theo khả
năng tài chánh của bản thân (thứ bậc 51),
+ Cần thiết ở mức thấp:
Kỹ năng nhận biết vị thế xã hội của bản thân (thứ bậc 52), Kỹ năng thuyết phục (thứ bậc 53),
Kỹ năng biết chi tiêu theo khả năng thu nhập của bản thân (thứ bậc 54), Kỹ năng cảm nhận tâm
trạng của người đối thoại (thứ bậc 55), Kỹ năng chống lại những điều không thỏa mãn trong cuộc
sống (thứ bậc 56), Kỹ năng nấu nướng những món thông thường (thứ bậc 57), Kỹ năng sống độc lập
về tài chánh (thứ bậc 58), Kỹ năng thương lượng (thứ bậc 59), Kỹ năng sử dụng các công cụ cơ khí
trong sửa chửa vật dụng thông thường trong nhà (thứ bậc 60), Kỹ năng quản lý trò chơi (thứ bậc
61), Kỹ năng sử dụng ngôn ngữ không lời trong giao tiếp với người khác (thứ bậc 62).
Đa số trẻ ngày nay đều được cha mẹ chăm lo, bao bọc (vì mỗi gia đình hầu như chỉ có từ một
đến hai con) nên trẻ thiếu những kĩ năng sử dụng trang thiết bị dọn dẹp nhà cửa (dù rất nhanh nhạy
trong việc sự dụng trang thiết bị phục vụ cho nhu cầu vui chơi giải trí của bản thân như điện thọai di
động, máy vi tính để chơi games…), nhiều em trai không biết sử dụng các công cụ cơ khí trong sửa
chữa vật dụng thông thường trong nhà; đa số các em gái không biết nấu nướng những món thông
thường.
Tóm lại, hầu hết các em chưa có kỹ năng nhận biết trách nhiệm đóng góp vào sự phát triển
của cộng đồng, đất nước, thiếu quan tâm đến người khác. Tuy nhiên, nhóm các kỹ năng này được đa
số giáo viên đánh giá ở mức dưới trung bình và mức thấp là do đặc điểm lứa tuổi mà sắp xếp thứ
bậc ưu tiên để rèn luyện.
Bảng 2.3. Đánh giá của giáo viên về lý do học sinh chưa hình thành được những kỹ năng sống cần
thiết:
Nguyên nhân TB ĐLTC
1. Trình độ dân trí, 2. Phương pháp giáo dục 3. Điều kiện xã hội 4. Phụ huynh nuông chìu 5. Các em ít có điều kiện giao tiếp ngoài xã hội 6. Thời gian học tập của các em chiếm nhiều quá 7. Các em ít có điều kiện thực hành 8. Các em ít có điều kiện luyện tập 9. Các em ỷ lại gia đình 3,87 3,83 4,00 4,16 3,73 3,80 4,10 4,07 4,09 0.92 0.89 0.75 0.73 0.97 1.04 0.83 0.85 0.85 Thứ bậc 9 12 7 3 15 14 4 6 5
10. Các em chưa ý thức được tầm quan trọng của kỹ 4,27 0.59 1 năng sống.
3,84 0.97 10
11. Các em chưa được giáo dục định hướng 12. Gia đình các em chưa nhận thức được sự cần thiết 4,21 0.74 2 của kỹ năng sống
3,84 3,97 0.97 0.91 11 8
13. Các em thiếu giờ sinh họat vui chơi 14. Các em thiếu các sinh hoạt ngoại khóa đa dạng 15. Tri thức học được trong nhà trường của các em 3,82 1.00 13 chưa gắn với thực tiễn cuộc sống
Qua kết quả bảng 2.3 chúng ta thấy, các em chưa ý thức được tầm quan trọng của kỹ năng
sống (thứ bậc 1), Gia đình các em chưa nhận thức được sự cần thiết của kỹ năng sống (thứ bậc 2),
Phụ huynh học sinh quá nuông chìu con em (thứ bậc 3), Các em ít có điều kiện thực hành (thứ bậc
4), Các em ỷ lại gia đình (thứ bậc 5).
Các em ít có điều kiện luyện tập (thứ bậc 6), Điều kiện xã hội (thứ bậc 7), Các em thiếu các
sinh hoạt ngoại khóa đa dạng (thứ bậc 8), Trình độ dân trí (thứ bậc 9), Các em chưa được giáo dục
định hướng (thứ bậc 10).
Các em thiếu giờ sinh hoạt vui chơi (thứ bậc 11), Phương pháp giáo dục (thứ bậc 12), Tri
thức học được trong nhà trường của các em chưa gắn với thực tiễn cuộc sống (thứ bậc 13), Thời
gian học tập của các em chiếm nhiều quá (thứ bậc 14), Các em ít có điều kiện giao tiếp ngoài xã hội
(thứ bậc 15).
Với kết quả ở bảng này cho thấy sở dĩ các em chưa rèn luyện được các kỹ năng là do điều
kiện khách quan chưa tạo ra những hỗ trợ thuận lợi cho hoạt động giáo dục này. Cụ thể ta thấy việc
học tập của trẻ chiếm nhiều thời gian trong ngày, trong tuần mà nội dung học tập trong nhà trường
thì chưa gắn với thực tiễn xã hội. Đa số các em chỉ quanh quẩn với một số lý thuyết hàn lâm cổ điển
trong học tập. Trong việc giải trí tiêu khiển hầu hết trẻ đều mê mải với các games vi tính, các thần
tượng thời trang âm nhạc từ các show diễn của chương trình truyền hình.
Nhìn chung trẻ thiếu thời gian không gian vui chơi bổ ích; thiếu các sinh hoạt ngoại khóa đa
dạng thiết thực để có thể rèn kỹ năng giao tiếp tốt với người khác. Đặc biệt, các em chưa ý thức
được tầm quan trọng của kỹ năng sống (thứ bậc 1). Còn về phía gia đình các em thì hoặc còn lạ lẫm
chưa nhận thức được sự cần thiết của kỹ năng sống hoặc quá nuông chìu con em khiến các em ít có
điều kiện thực hành và vô tình tạo cho các em thói ỷ lại gia đình (được xếp thứ bậc 2, 3, 4, 5 là các
thứ bậc cao trong bảng đánh giá của giáo viên về lý do học sinh chưa hình thành được những kỹ
năng sống cần thiết).
Bảng 2.4. Đánh giá của giáo viên về đơn vị quản lý việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trung
học cơ sở có hiệu quả:
Ñôn vò quaûn lyù TB ÑLTC
1. Nhaø tröôøng 2. Loàng gheùp daïy kyõ naêng vaøo vieäc kieán thöùc 3. Giaùo vieân boä moân 4. Ban giaùm hieäu 5. Phuï huynh 6. Gia ñình 7. Chính quyeàn ñòa phöông 8. Hoäi ñoàng sö phaïm 9. Phoøng Giaùo duïc 4,16 4,10 4,00 3,87 4,44 4,49 3,74 3,80 3,56 0,70 0,69 0,67 0,73 0,52 0,52 0,73 0,79 0,84 Thöù baäc 3 4 5 6 2 1 8 7 9
Qua kết quả bảng 2.4 cho thấy ý kiến về các đơn vị bồi dưỡng kỹ năng sống cho học sinh
trung học cơ sở theo thứ bậc:
Gia đình (thứ bậc 1), Phụ huynh học sinh (thứ bậc 2), Nhà trường (thứ bậc 3), Lồng ghép dạy
kỹ năng vào việc kiến thức (thứ bậc 4), Giáo viên bộ môn (thứ bậc 5).
Ban giám hiệu (thứ bậc 6), Hội đồng sư phạm (thứ bậc 7), Chính quyền địa phương (thứ bậc
8), Phòng Giáo dục (thứ bậc 9).
Về nhận định của giáo viên đối với đơn vị quản lý giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trung
học cơ sở đạt hiệu quả thể hiện qua bảng 2.4 cho thấy gia đình, phụ huynh và nhà trường là ba đơn
vị được cho là có hiệu quả nhất thực hiện việc quản lý này. Điều này thể hiện qua số liệu thống kê
lần lượt theo thứ bậc là gia đình đạt tỉ lệ trung bình 4.49, phụ huynh đạt tỉ lệ trung bình là 4.44 và
nhà trường đạt tỉ lệ trung bình là 4.16.
Từ số liệu trên, ta thấy rằng lực lượng chính quản lý hiệu quả việc giáo dục kĩ năng sống cho
học sinh không phải là các tổ chức đoàn thể, cũng không phải là chính quyền địa phương mà chính
là gia đình và nhà trường, hai “chiếc nôi” chính thúc đẩy, quản lý nền tảng sự phát triển kĩ năng
sống cho học sinh lứa tuổi trung học cơ sở.
Bảng 2.5. Đánh giá của giáo viên về lực lượng thực hiện giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trung
học cơ sở:
Lực lượng thực hiện ĐLTC Thứ bậc
TB 4,18 4,52 0,67 0,60
1. Giáo viên bộ môn 2. Phụ huynh 3. Nội dung mỗi môn học đều có khả năng 4 1 6 4,10 0,81
dạy kỹ năng sống 4. Tổ chức Đoàn Đội 5. Giáo viên chủ nhiệm 6. Tổng phụ trách đội 4,27 4,34 4,13 0,62 0,62 0,70 3 2 5
Qua kết quả bảng 2.5 cho thấy ý kiến của giáo viên về các lực lượng thực hiện bồi dưỡng kỹ
năng sống cho học sinh trung học cơ sở theo thứ bậc :
Phụ huynh (thứ bậc1), Giáo viên chủ nhiệm (thứ bậc 2), Tổ chức Đoàn Đội (thứ bậc 3), Giáo
viên bộ môn (thứ bậc 4), Tổng phụ trách đội (thứ bậc 5), Nội dung mỗi môn học đều có khả năng
dạy kỹ năng sống (thứ bậc 6).
Kết quả thể hiện trong bảng 2.5 cho ta thấy lực lượng chính để thực hiện giáo dục kỹ năng
sống cho học sinh trung học cơ sở chủ yếu là các lực lượng gồm phụ huynh (trung bình 4.52), giáo
viên chủ nhiệm (trung bình 4.34) và tổ chức đoàn đội (trung bình 4.27).
Qua kiểm chứng bằng SPSS ta thấy tất cả các hệ số trên đều có kết quả lớn hơn 0.5, điều này
cho thấy kết quả nghiên cứu điều tra là khoa học và có giá trị nghiên cứu. Ba lực lượng chính bằng
vai trò và chức năng của mình có thể thực hiện tốt giáo dục kỹ năng sống cho các em thực chính là:
Phụ huynh, giáo viên chủ nhiệm và đoàn thể xã hội.
Phụ huynh chính là những người gần gũi nhất với các em, hằng ngày, họ là những người
thường xuyên đi lại, ăn ngủ cùng các em, nên tất nhiên họ sẽ hiểu rõ ràng tính cách và năng lực cụ
thể của con em mình để từ đó có những uốn nắn, giáo dục để định hình kỹ năng sống cho con em
mình.
Song song đó, tổ chức đoàn đội và giáo viên chủ nhiệm là hai lực lượng chính trong trường
học có sự gần gũi và gắn bó nhiều hơn nhất với học sinh. Vì vậy, đây cũng là hai lực lượng hỗ trợ
Bảng 2.6. Đánh giá của giáo viên về môn học, những hoạt động có thể góp phần vào việc giáo dục
đắc lực nhất cho phụ huynh trong việc giáo dục kỹ năng sống cho các em.
Môn học và hoạt động góp phần vào việc giáo dục
kỹ năng sống cho học sinh :
1. Tất cả môn học ở trường 2. Giáo dục hướng nghiệp 3. Công tác giáo dục ngoài giờ lên lớp 4. Hoạt động vui chơi 5. Môn Toán
TB ĐLTC kỹ năng sống
4,19 4,32 4,36 4,31 3,73 0.77 0.57 0.55 0.62 0.78 Thứ bậc 11 3 2 4 18
6. Hoạt động hình thành kỹ năng suy luận, phán đoán 7. Môn Ngữ văn 8. Hoạt động hình thành kỹ năng giao tiếp 9. Môn Giáo dục thể chất 10. Môn Giáo dục công dân 11. Hoạt động xã hội ngoài giờ lên lớp 12. Các môn Khoa học Xã hội 13. Các môn Khoa học Tự nhiên 14. Các môn Năng khiếu (Nhạc, Họa) 15. Phong trào Đoàn Đội 16. Hoạt động Văn nghệ 17. Hoạt động từ thiện 18. Sinh hoạt chủ nhiệm
4,13 4,16 4,30 4,04 4,44 4,31 4,21 4,01 3,83 4,21 3,87 4,22 4,27 0.67 0.65 0.62 0.63 0.63 0.59 0.63 0.66 0.70 0.63 0.78 0.63 0.63 13 12 6 14 1 5 9 15 17 10 16 8 7
Qua kết quả bảng 2.6 cho thấy ý kiến của giáo viên về những môn học và những hoạt động
có thể đóng góp bồi dưỡng các kỹ năng sống cho học sinh trung học cơ sở theo thứ bậc sau:
Môn Giáo dục công dân (thứ bậc 1), Công tác giáo dục ngoài giờ lên lớp (thứ bậc 2), Hoạt
động giáo dục hướng nghiệp (thứ bậc 3), Hoạt động vui chơi (thứ bậc 4), Hoạt động xã hội ngoài
giờ lên lớp (thứ bậc 5), Hoạt động hình thành kỹ năng giao tiếp (thứ bậc 6), Sinh hoạt chủ nhiệm
(thứ bậc 7), Hoạt động từ thiện (thứ bậc 8), Các môn Khoa học Xã hội (thứ bậc 9), Phong trào Đoàn
Đội (thứ bậc 10), Tất cả môn học ở trường (thứ bậc 11), Môn Ngữ văn (thứ bậc 12), Hoạt động hình
thành kỹ năng suy luận, phán đoán (thứ bậc 13), Môn Giáo dục thể chất (thứ bậc 14), Các môn
Khoa học Tự nhiên (thứ bậc 15), Hoạt động Văn nghệ (thứ bậc 16), Các môn Năng khiếu (Nhạc,
Họa) ( thứ bậc 17), Môn Toán (thứ bậc 18).
Với kết quả bảng 2.6 trên và qua trao đổi phỏng vấn thì đội ngũ giáo viên được khảo sát đã
đánh giá cao nhóm các môn học và các hoạt động ngoại khóa gồm môn Giáo dục công dân, công tác
giáo dục ngoài giờ lên lớp, hoạt động giáo dục hướng nghiệp, hoạt động vui chơi và hoạt động
ngoài giờ lên lớp. Theo họ, nhóm các môn học và các hoạt động ngoại khóa đó đã góp phần thúc
đẩy việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh đạt hiệu quả cao hơn, chúng được đánh giá cao hơn là
vì bản thân chúng luôn đem lại sự hứng thú cho học sinh trong hoạt động học tập đồng thời thông
qua những môn học và các hoạt động ngoại khoá đó các em được hòa mình vào những sinh hoạt
chung của nhóm, của lớp, của tập thể, các em được thể hiện hết năng khiếu, sở trường và sở đoản
của mình.
Như vậy, các ý kiến của giáo viên phù hợp với thực tiễn rèn luyện kỹ năng sống trong điều
kiện hiện nay vì đây là hoạt động giáo dục đang được bắt đầu chú trọng đưa vào nhà trường trung
học cơ sở thông qua giáo dục tích hợp, lồng ghép vào các bộ môn học và các hoạt động ngoại khóa.
Những bộ môn và các hoạt động được xếp thứ bậc cao là những bộ môn, những hoạt động đóng góp
trực tiếp vào việc hình thành kỹ năng sống cho các em.
Bảng 2.7. Ý kiến của giáo viên về địa chỉ hướng dẫn kỹ năng sống cho học sinh:
N 18 12 8 147 % 9,8 6,5 4,3 79,9 Thứ bậc 2 3 4 1
Nơi hướng dẫn kỹ năng sống cho học sinh Gia đình Nhà trường Tổ chức đoàn thể xã hội như Đoàn, Đội Tất cả các ý nêu trên (gia đình, nhà trường, tổ chức đoàn thể xã hội như Đoàn, Đội)
Qua kết quả bảng 2.7 cho thấy ý kiến của giáo viên về địa chỉ hướng dẫn kỹ năng sống cần
bồi dưỡng cho học sinh trung học cơ sở theo thứ bậc:
Tất cả các ý gồm: gia đình, nhà trường, tổ chức đoàn thể xã hội như Đoàn, Đội (thứ bậc 1),
Gia đình (thứ bậc 2) , Nhà trường (thứ bậc 3), Tổ chức đoàn thể xã hội như Đoàn, Đội (thứ bậc 4).
Địa chỉ hướng dẫn kỹ năng sống cho học sinh là nơi mà các em hoạt động, trưởng thành về
mặt nhân cách, kiến thức khoa học và xã hội. Qua nghiên cứu, 79.9% số khách thể nghiên cứu cho
rằng tất cả các nơi mà các em học tập, sinh hoạt, vui chơi đều là những nơi giúp hình thành và phát
triển kỹ năng sống cho các em học sinh lứa tuổi trung học cơ sở. Từ kết quả trên cho ta thấy rõ vai
trò của môi trường sống, học tập, vui chơi đều có ảnh hưởng mạnh đến sự hình thành nhân cách
cũng như kỹ năng sống cho trẻ.
Đồng thời qua kết quả khảo sát trên, chúng ta cũng thấy rằng để phát triển toàn diện nhân
cách trẻ, không thể chỉ trông chờ vào một địa chỉ duy nhất như gia đình, nhà trường hoặc chỉ có
đoàn đội mà phải là sự kết hợp nhịp nhàng cả ba địa chỉ trên cộng với những hoạt động mang tính
riêng lẻ và đặc thù của từng địa chỉ. Và công tác phối hợp 3 môi trường giáo dục: gia đình – nhà
trường – đòan thể xã hội là một trong các nội dung quản lý của Hiệu trưởng nhà trường : Hiệu
Trưởng tổ chức, xây dựng các lực lượng và điều kiện giáo dục trong và ngoài nhà trường để giáo
dục kỹ năng sống cho học sinh, Hiệu trưởng chỉ đạo giáo viên chủ động phối hợp với gia đình và xã
hội để giáo dục kỹ năng sống cho học sinh (chương 1, mục 3, tiểu mục 3.3).
Tóm lại, thông qua các nội dung khảo sát ở các bảng trong chương 2 mục 2, ta kết luận được:
giáo viên là nhân tố quyết định chất lượng giáo dục, việc tăng cường nhận thức và phát triển chuyên
môn nghiệp vụ cho giáo viên theo định hướng phát huy tính tích cực học tập, rèn luyện của học sinh
trong các họat động giáo dục nói chung, giáo dục kỹ năng sống cho các em nói riêng là nhiệm vụ
hàng đầu của người Hiệu trưởng.
Quản lý việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh, một mảng hoạt động còn khá mới ở bậc
THCS, đòi hỏi người Hiệu trưởng phải nắm được mức độ nhận thức của giáo viên đối với công tác
này, phải đánh giá đúng năng lực chuyên môn của đội ngũ, phải đưa ra chuẩn về chất lượng giáo
dục của giáo viên đồng thời phải lập kế hoạch bồi dưỡng phát triển chuyên môn phù hợp từng nhu
cầu cá nhân giáo viên nhằm góp phần nâng cao chất lượng giáo dục. Bên cạnh đó, qua kết quả khảo
sát thể hiện ở bảng 2.3 Hiệu trưởng cũng nắm được nguyên nhân trẻ chưa trang bị được các kỹ năng
sống cần thiết, thứ tự ưu tiên giữa các kỹ năng cần được chú trọng giáo dục cho học sinh (bảng 2.1,
2.2), các lực lượng giáo dục và quản lý giáo dục bên trong và ngoài nhà trường (bảng 2.4, 2.5) cũng
như các hình thức tổ chức giáo dục kỹ năng sống cho học sinh theo nhận định của giáo viên (bảng
2.6) để có tính khách quan trong việc kế hoạch tổ chức phối hợp, có biện pháp quản lý đạt hiệu quả
2.3. Tự đánh giá của học sinh về việc rèn luyện kỹ năng sống
cao.
Kỹ năng
1. Kỹ năng kiếm sống và tay nghề 2. Những kỹ năng có liên quan đến thực
Bảng 2.8. Tự đánh giá của học sinh về kỹ năng sống cần có:
TB 4,19 4,04 ĐLTC 0,91 0,83 Thứ bậc 12 15
3. Các kỹ năng vận động thể chất 4. Các kỹ năng có liên quan đến hành vi và
hành sức khỏe
3,90 4,55 0,82 0,67 19 3
giao tiếp
5. Các kỹ năng học tập 6. Kỹ năng ghi nhớ 7. Kỹ năng tính toán 8. Kỹ năng soạn thảo văn bản thông thường 9. Kỹ năng sắp xếp thời gian 10. Kỹ năng sáng tạo 11. Kỹ năng sống trong cộng đồng 12. Kỹ năng thông tin 13. Kỹ năng tự nhận biết bản thân 14. Kỹ năng giải quyết vấn đề riêng tư 15. Kỹ năng kiểm soát cảm xúc 16. Lập kế hoạch tài chính cho bản thân 17. Sống thực tế 18. Lịch thiệp 19. Nhận biết trách nhiệm 20. Kỹ năng vươn lên
4,66 4,33 4,39 3,40 4,25 4,41 4,34 3,92 4,31 3,92 4,12 3,99 4,29 4,10 4,43 4,61 0,58 0,76 0,73 0,93 0,78 0,75 0,78 0,85 0,84 0,96 0,95 1,02 0,82 0,89 0,68 0,64 1 8 6 20 11 5 7 17 9 18 13 16 10 14 4 2
Qua kết quả bảng 2.8 cho thấy tự đánh giá của học sinh trung học cơ sở về các kỹ năng sống
cần bồi dưỡng cho các em:
Các kỹ năng học tập (thứ bậc 1), Vươn lên (thứ bậc 2), Các kỹ năng có liên quan đến hành vi
và giao tiếp (thứ bậc 3), Kỹ năng nhận biết trách nhiệm (thứ bậc 4), Kỹ năng sáng tạo (thứ bậc 5).
Kỹ năng tính toán (thứ bậc 6), Sống trong cộng đồng (thứ bậc 7), Ghi nhớ (thứ bậc 8), Tự
nhận biết bản thân (thứ bậc 9), Sống thực tế (thứ bậc 10), Kỹ năng sắp xếp thời gian (thứ bậc 11),
Kỹ năng kiếm sống và tay nghề (thứ bậc 12), Kỹ năng kiểm soát cảm xúc (thứ bậc 13), Lịch thiệp
(thứ bậc 14), Những kỹ năng có liên quan đến thực hành sức khỏe (thứ bậc 15), Lập kế hoạch tài
chính cho bản thân (thứ bậc 16), Kỹ năng thông tin (thứ bậc 17), Kỹ năng giải quyết vấn đề riêng tư
(thứ bậc 18), Các kỹ năng vận động thể chất (thứ bậc 19), Kỹ năng soạn thảo văn bản thông thường
(thứ bậc 20).
Qua khảo sát về các kỹ năng sống cần có thể hiện qua bảng 2.8, chúng ta có thể chia các kỹ
năng được khảo sát thành hai nhóm chính, nhóm kỹ năng cần và nhóm kỹ năng đủ.
Nhóm kỹ năng cần là nhóm kỹ năng quan trọng bao gồm các kỹ năng sau: kỹ năng học tập
đạt tỉ lệ trung bình 4.66, kỹ năng vươn lên đạt trung bình 4.61, kỹ năng giao tiếp đạt 4.55, kỹ năng
nhận biết trách nhiệm đạt tỉ lệ trung bình 4.43 và cuối cùng là kỹ năng sáng tạo đạt trung bình 4.41.
Các kỹ năng thuộc nhóm cần này được cho là quan trọng và cần thiết hơn là vì đây là những kỹ
năng giúp các em có thể học tập tốt và hòa nhập tốt với môi trường xung quanh.
Nhóm các kỹ năng còn lại được xếp vào nhóm kỹ năng đủ, có vai trò bổ trợ cho nhóm kỹ
năng cần, bao gồm kỹ năng tính toán, kỹ năng sống trong cộng đồng, kỹ năng ghi nhớ… Nhóm kỹ
năng này có tác dụng bổ trợ cho nhóm kỹ năng cần với nhiệm vụ hoàn thiện thêm nhân cách cho
học sinh cũng như bổ trợ thêm cho các em những tính năng vượt trội trong hoạt động sống hằng
ngày.
Bảng 2.9. Tự đánh giá của học sinh về kỹ năng sống rèn luyện được: (thang 5 bậc)
1. Kỹ năng giao tiếp 2. Kỹ năng sử dụng máy tính 3. Kỹ năng ứng xử 4. Kỹ năng học tập 5. Kỹ năng sống 6. Kỹ năng định hướng các giá trị 7. Kỹ năng chăm sóc sức khỏe 8. Kỹ năng tư duy 9. Kỹ năng quản lý trò chơi 10. Kỹ năng thuyết phục 11. Kỹ năng thương lượng 12. Kỹ năng sử dụng trang thiết bị 13.
Kỹ năng rèn luyện được
14.
15.
N 407 439 400 459 342 198 354 354 214 286 269 273 324 290 % 68,9 74,3 67,7 77,7 57,9 33,5 59,9 59,9 36,2 48,4 45,5 46,2 54,8 49,1 Thứ bậc 13 7 15 6 29 58 24 25 54 44 50 48 35 42
16.
482 200 81,6 33,8 3 56
17.
168 28,4 60
18.
19.
409 69,2 11
Kỹ năng quan tâm đến nhu cầu của người khác Kỹ năng biết đặt mình vào vai trò của người khác Kỹ năng tử tế với những người xung quanh. Kỹ năng diễn tả một cách hoạt bát qua viết và nói. Kỹ năng lý giải một cách hoạt bát qua viết và nói. Kỹ năng thể hiện thái độ chừng mực trong giao tiếp với người khác Kỹ năng sử dụng ngôn ngữ không lời trong 112 19,0 62
20.
397 67,2 16
21.
22. 23. 24. 25. 26. 27. 28.
375 63,5 19
29.
339 280 374 392 368 313 370 290 57,4 47,4 63,3 66,3 62,3 53,0 62,6 49,1 30 47 20 18 23 36 22 43
30.
349 59,1 26
31.
372 62,9 21
32.
33. 34. 35.
331 56,0 33
36.
37.
291 292 206 282 49,2 49,4 34,9 47,7 41 40 55 45
38.
130 305 22,0 51,6 61 38
39.
302 51,1 39
40.
41. 42. 43. 44. 45.
310 52,5 37
46.
272 343 438 437 408 183 46,0 58,0 74,1 73,9 69,0 31,0 49 28 8 9 12 59
47.
48.
349 59,1 27
49.
50. 51.
473 263 80,0 44,5 4 51
52.
53.
493 499 395 83,4 84,4 66,8 2 1 17
giao tiếp với người khác Kỹ năng thể hiện sự đồng cảm trong giao tiếp với người khác Kỹ năng cảm nhận tâm trạng của người đối thoại Kỹ năng nhận biết lập trường của bản thân Kỹ năng nhận biết vị thế xã hội của bản thân Kỹ năng nhận biết niềm tin của bản thân Kỹ năng nhận biết khả năng của bản thân Kỹ năng làm chủ xúc cảm của bản thân Kỹ năng tự khẳng định của bản thân Kỹ năng độc lập suy nghĩ của bản thân Kỹ năng đối đầu với những vấn đề tình cảm riêng tư của bản thân Kỹ năng giải quyết những vấn đề liên quan đến giới tính của bản thân Kỹ năng giải quyết những vấn đề liên quan đến sức khỏe của bản thân Kỹ năng giải quyết những vấn đề tế nhị đối với bạn khác giới của bản thân Kỹ năng kiềm hãm tính nông nỗi Kỹ năng giải quyết vấn đề chín chắn Kỹ năng thể hiện một con người trưởng thành Kỹ năng lập kế hoạch chi tiêu theo khả năng tài chánh của bản thân Kỹ năng sống độc lập về tài chánh Kỹ năng biết đánh giá đúng giá trị của sự vật và bản thân Kỹ năng biết chi tiêu theo khả năng thu nhập của bản thân Kỹ năng kiềm hãm những nhu cầu không cần thiết của bản thân Kỹ năng tổ chức cuộc sống hằng ngày Kỹ năng nấu nướng những món thông thường Kỹ năng dọn dẹp nhà cửa Kỹ năng sắp xếp phòng riêng của bản thân Kỹ năng chăm sóc thể chất của bản thân Kỹ năng sử dụng các công cụ cơ khí trong sửa chữa vật dụng thông thường trong nhà Kỹ năng sử dụng năng lượng một cách tiết kiệm Kỹ năng xưng hô lịch thiệp với người khác Kỹ năng trình bày bằng văn bản một cách lịch sự Kỹ năng thể hiện lòng biết ơn người khác Kỹ năng thể hiện lòng tôn trọng người khác Kỹ năng thể hiện những quy ước giao tiếp (như bắt tay, chào hỏi lịch sự) Kỹ năng dám chịu trách nhiệm về việc làm của 405 68,5 14
54.
338 57,2 31
55.
199 33,7 57
56.
219 37,1 53
57.
424 71,7 10
58.
465 78,7 5
59.
338 57,2 32
60.
242 40,9 52
61.
282 47,7 46
62.
331 56,0 34 bản thân Kỹ năng nhận biết trách nhiệm và thực hiện việc giúp đỡ người khác (cho dù chưa quen biết) Kỹ năng nhận biết trách nhiệm và thực hiện các hoạt động chung của đất nước Kỹ năng nhận biết trách nhiệm và đóng góp vào sự phát triển của đất nước Kỹ năng nhận biết và thực hiện trách nhiệm đối với gia đình Kỹ năng nhận biết trách nhiệm và giúp đỡ đối với người thân Kỹ năng đối mặt với những thất bại trong cuộc sống Kỹ năng xác định và thực hiện có kết quả mục tiêu trong các giai đoạn cuộc đời Kỹ năng chống lại những điều không thỏa mãn trong cuộc sống Kỹ năng thực hiện những công việc làm tăng tính tự trọng của bản thân
Qua kết quả bảng 2.9 cho thấy tự đánh giá của học sinh về các kỹ năng sống học sinh trung
học cơ sở đã rèn luyện được theo các thứ bậc sau:
+ Cần thiết ở mức độ rất cao:
Kỹ năng thể hiện lòng tôn trọng người khác (thứ bậc 1), Kỹ năng thể hiện lòng biết ơn người
khác (thứ bậc 2), Kỹ năng tử tế với những người xung quanh (thứ bậc 3), Kỹ năng xưng hô lịch
thiệp với người khác (thứ bậc 4), Kỹ năng nhận biết trách nhiệm và giúp đỡ đối với người thân (thứ
bậc 5), Kỹ năng học tập (thứ bậc 6), Kỹ năng sử dụng máy tính (thứ bậc 7), Kỹ năng dọn dẹp nhà
cửa (thứ bậc 8), Kỹ năng sắp xếp phòng riêng của bản thân (thứ bậc 9), Kỹ năng nhận biết và thực
hiện trách nhiệm đối với gia đình (thứ bậc 10).
Từ đánh giá của học sinh về các kỹ năng sống các em đã được giáo dục rèn luyện qua bảng
2.9 cho ta thấy các kỹ năng được đánh giá cao nhất vượt lên trên cả kỹ năng học tập đó là các kỹ
năng thuộc về giao tiếp ứng xử. Điều này thể hiện rằng trong tự nhận thức của mình, các em học
sinh cũng thấy được những hạn chế của bản thân và sự cần thiết để phải rèn một số kỹ năng sống ở
mức độ cao nhất đồng thời kết quả ở bảng 2.9 cho ta thấy có sự thống nhất trong tự đánh giá của
học sinh và kết quả đánh giá của giáo viên về các kỹ năng sống cần bồi dưỡng cho các em (nêu ở
bảng 2.2).
+ Cần thiết ở mức độ cao:
Kỹ năng thể hiện thái độ chừng mực trong giao tiếp với người khác (thứ bậc 11), Kỹ năng
chăm sóc thể chất của bản thân (thứ bậc 12), Kỹ năng giao tiếp (thứ bậc 13), Kỹ năng dám chịu
trách nhiệm về việc làm của bản thân (thứ bậc 14), Kỹ năng ứng xử (thứ bậc 15), Kỹ năng thể hiện
sự đồng cảm trong giao tiếp với người khác (thứ bậc 16), Kỹ năng thể hiện những quy ước giao tiếp
(như bắt tay, chào hỏi lịch sự) (thứ bậc 17), Kỹ năng nhận biết khả năng của bản thân (thứ bậc 18),
Kỹ năng cảm nhận tâm trạng của người đối thoại (thứ bậc 19), Kỹ năng nhận biết niềm tin của bản
thân (thứ bậc 20).
Tiếp theo các kỹ năng sống được đánh giá cao nhất trong việc đã được bồi dưỡng cho học
sinh qua bảng 2.9 và qua trao đổi phỏng vấn, chúng ta thấy đa số các em tự nhận rằng chúng chưa
biết tự chăm sóc sức khỏe bản thân mình, còn ngại giao tiếp. Hầu hết các em tự đánh giá là chúng
cần có các kỹ năng về nhận biết khả năng, niềm tin của bản thân, kỹ năng cảm nhận tâm trạng của
người đối thoại, kỹ năng dám chịu trách nhiệm về việc làm của bản thân, ... và chúng luôn được
thầy cô chú trọng rèn dạy, nhắc nhở thực hiện. Kết quả này cũng khá trùng khớp với kết quả đánh
giá của giáo viên ở bảng 2.2.
+ Cần thiết ở mức trung bình:
Kỹ năng giải quyết những vấn đề liên quan đến sức khỏe của bản thân (thứ bậc 21), Kỹ năng
độc lập suy nghĩ của bản thân (thứ bậc 22), Kỹ năng làm chủ xúc cảm của bản thân (thứ bậc 23), Kỹ
năng chăm sóc sức khỏe (thứ bậc 24), Kỹ năng tư duy (thứ bậc 25), Kỹ năng giải quyết những vấn
đề liên quan đến giới tính của bản thân (thứ bậc 26), Kỹ năng sử dụng năng lượng một cách tiết
kiệm (thứ bậc 27), Kỹ năng nấu nướng những món thông thường (thứ bậc 28), Kỹ năng sống (thứ
bậc 29), Kỹ năng nhận biết lập trường của bản thân (thứ bậc 30).
Do đặc điểm lứa tuổi có bước phát triển nhảy vọt về thể chất lẫn tinh thần, có sự tồn tại song
song “vừa tính trẻ con, vừa tính người lớn” nên trẻ ưu tiên xếp các kỹ năng giao tiếp lên hàng đầu,
các kỹ năng như Kỹ năng độc lập suy nghĩ của bản thân, Kỹ năng làm chủ xúc cảm của bản thân,
Kỹ năng chăm sóc sức khỏe, Kỹ năng tư duy, Kỹ năng giải quyết những vấn đề liên quan đến giới
tính của bản thân, Kỹ năng sử dụng năng lượng một cách tiết kiệm, Kỹ năng nấu nướng những món
thông thường, Kỹ năng nhận biết lập trường của bản thân,... là các kỹ năng được trẻ xếp vào mức độ
trung bình trong thực hiện rèn luyện.
+ Cần thiết ở mức dưới trung bình:
Kỹ năng nhận biết trách nhiệm và thực hiện việc giúp đỡ người khác (cho dù chưa quen biết)
(thứ bậc 31), Kỹ năng đối mặt với những thất bại trong cuộc sống (thứ bậc 32), Kỹ năng giải quyết
những vấn đề tế nhị đối với bạn khác giới của bản thân (thứ bậc 33), Kỹ năng thực hiện những công
việc làm tăng tính tự trọng của bản thân (thứ bậc 34), Kỹ năng quan tâm đến nhu cầu của người
khác (thứ bậc 35), Kỹ năng tự khẳng định của bản thân (thứ bậc 36), Kỹ năng kiềm hãm những nhu
cầu không cần thiết của bản thân (thứ bậc 37), Kỹ năng biết đánh giá đúng giá trị của sự vật và bản
thân (thứ bậc 38), Kỹ năng biết chi tiêu theo khả năng thu nhập của bản thân (thứ bậc 39), Kỹ năng
giải quyết vấn đề bằng suy nghĩ chin chắn (thứ bậc 40), Kỹ năng kiềm hãm tính nông nỗi (thứ bậc
41), Kỹ năng biết đặt mình vào vai trò của người khác (thứ bậc 42), Kỹ năng đối đầu với những vấn
đề tình cảm riêng tư của bản thân (thứ bậc 43), Kỹ năng thuyết phục (thứ bậc 44), Kỹ năng lập kế
hoạch chi tiêu theo khả năng tài chánh của bản thân (thứ bậc 45).
Qua tự đánh giá của học sinh ta thấy hầu hết các em chưa rèn luyện được nhóm kỹ năng nhận
biết và sống với người khác bao gồm các kỹ năng nhận biết trách nhiệm và thực hiện việc giúp đỡ
người khác, kỹ năng quan tâm đến nhu cầu của người khác, kỹ năng biết đặt mình vào vai trò của
người khác, kỹ năng giải quyết những vấn đề tế nhị đối với bạn khác giới của bản thân,… Trong
cuộc sống nhiều em không có kỹ năng đối mặt với những thất bại trong cuộc sống, kỹ năng kiềm
hãm những nhu cầu không cần thiết của bản thân, kỹ năng biết đánh giá đúng giá trị của sự vật và
bản thân, kỹ năng biết chi tiêu theo khả năng thu nhập của bản thân, kỹ năng giải quyết vấn đề bằng
suy nghĩ chin chắn, kỹ năng kiềm hãm tính nông nỗi, … Đây là những kỹ năng mà các em cho rằng
mình chỉ rèn luyện xếp vào thứ bậc dưới mức trung bình.
+ Cần thiết ở mức thấp:
Kỹ năng chống lại những điều không thỏa mãn trong cuộc sống (thứ bậc 46), Kỹ năng nhận
biết vị thế xã hội của bản thân (thứ bậc 47), Kỹ năng sử dụng trang thiết bị (thứ bậc 48), Kỹ năng tổ
chức cuộc sống hằng ngày (thứ bậc 49), Kỹ năng thương lượng (thứ bậc 50), Kỹ năng trình bày
bằng văn bản một cách lịch sự (thứ bậc 51), Kỹ năng xác định và thực hiện có kết quả mục tiêu
trong các giai đoạn cuộc đời (thứ bậc 52), Kỹ năng nhận biết trách nhiệm và đóng góp vào sự phát
triển của đất nước (thứ bậc 53), Kỹ năng quản lý trò chơi (thứ bậc 54), Kỹ năng thể hiện một con
người trưởng thành (thứ bậc 55), Kỹ năng diễn tả một cách hoạt bát qua viết và nói (thứ bậc 56), Kỹ
năng nhận biết trách nhiệm và thực hiện các hoạt động chung của đất nước (thứ bậc 57), Kỹ năng
định hướng các giá trị (thứ bậc 58), Kỹ năng sử dụng các công cụ cơ khí trong sửa chửa vật dụng
thông thường trong nhà (thứ bậc 59), Kỹ năng lý giải một cách hoạt bát qua viết và nói (thứ bậc 60),
Kỹ năng sống độc lập về tài chánh (thứ bậc 61), Kỹ năng sử dụng ngôn ngữ không lời trong giao
tiếp với người khác (thứ bậc 62).
Tóm lại, hầu hết các em tự đánh giá mình chưa có kỹ năng nhận biết trách nhiệm thực hiện
các hoạt động chung, đóng góp vào sự phát triền của đất nước, kỹ năng xác định và thực hiện có kết
quả mục tiêu trong các giai đoạn cuộc đời,... Vì vậy, nhóm các kỹ năng này được các em tự đánh giá
ở mức thấp cần được sắp xếp thứ bậc ưu tiên để rèn luyện.
Kỹ năng cần bồi dưỡng
1. Kỹ năng giao tiếp
Bảng 2.10. Tự đánh giá của học sinh về kỹ năng sống cần bồi dưỡng: (thang 3 bậc)
TB ĐLTC Thứ bậc 1, 35 0, 53 59
2. Kỹ năng sử dụng máy tính 3. Kỹ năng ứng xử 4. Kỹ năng học tập 5. Kỹ năng sống nói chung 6. Kỹ năng định hướng các giá trị 7. Kỹ năng chăm sóc sức khỏe 8. Kỹ năng tư duy 9. Kỹ năng quản lý trò chơi 10. Kỹ năng thuyết phục 11. Kỹ năng thương lượng 12. Kỹ năng sử dụng trang thiết bị 13. Kỹ năng quan tâm đến nhu cầu của người khác 14. Kỹ năng biết đặt mình vào vai trò của người
1, 59 1, 41 1, 31 1, 41 1, 80 1, 54 1, 46 2, 14 1, 58 1, 63 1, 81 1, 74 0, 58 0, 56 0, 52 0, 55 0, 65 0, 60 0, 57 0, 73 0, 61 0, 62 0, 66 0, 67 31 52 62 53 5 36 46 2 32 22 4 8
1, 72 0, 66 10 khác
15. Kỹ năng tử tế với những người xung quanh. 16. Kỹ năng diễn tả một cách hoạt bát qua viết và
1, 38 0, 57 55
1, 54 0, 60 37 nói.
17. Kỹ năng lý giải vấn đề hoạt bát qua viết và nói. 18. Kỹ năng thể hiện thái độ chừng mực trong giao
1, 58 0, 63 33
19.
1, 52 0, 60 41
20. Kỹ năng thể hiện sự đồng cảm trong giao tiếp
2, 17 0, 75 1 tiếp với người khác Kỹ năng sử dụng ngôn ngữ không lời trong giao tiếp với người khác
21.
1, 63 0, 63 23
1, 63 0, 62 24
22. 23. 24. 25. 26. 27. 28. 29.
1, 45 1, 74 1, 41 1, 44 1, 54 1, 61 1, 47 0, 58 0, 69 0, 58 0, 56 0, 64 0, 64 0, 60 47 9 54 48 38 28 45
30.
1, 68 0, 73 13
31.
1, 72 0, 72 11
32.
1, 51 0, 60 42
1, 67 0, 68 17
33. 34.
1, 49 0, 63 44
1, 35 0, 54 60
35. 36.
1, 54 0, 63 39
37. 38.
1, 62 0, 66 27
với người khác Kỹ năng cảm nhận tâm trạng của người đối thoại Kỹ năng nhận biết lập trường của bản thân Kỹ năng nhận biết vị thế xã hội của bản thân Kỹ năng nhận biết niềm tin của bản thân Kỹ năng nhận biết khả năng của bản thân Kỹ năng làm chủ xúc cảm của bản thân Kỹ năng tự khẳng định của bản thân Kỹ năng độc lập suy nghĩ của bản thân Kỹ năng đối đầu với những vấn đề tình cảm riêng tư của bản thân Kỹ năng giải quyết những vấn đề liên quan đến giới tính của bản thân Kỹ năng giải quyết những vấn đề liên quan đến sức khỏe của bản thân Kỹ năng giải quyết những vấn đề tế nhị đối với bạn khác giới của bản thân Kỹ năng kiềm hãm tính nông nỗi Kỹ năng giải quyết vấn đề bằng suy nghĩ chín chắn Kỹ năng thể hiện một con người trưởng thành Kỹ năng lập kế hoạch chi tiêu theo khả năng tài chánh của bản thân 1, 68 Kỹ năng sống độc lập về tài chánh Kỹ năng biết đánh giá đúng giá trị của sự vật và 1, 63 0, 74 0, 63 14 25
39.
40.
1, 55 0, 68 35
1, 64 0, 69 20
41. 42. 43. 44. 45. 46.
1, 66 1, 75 1, 76 1, 68 1, 53 0, 66 0, 71 0, 68 0, 64 0, 62 18 7 6 15 40
1, 95 0, 74 3
47. 48. 49. 50. 51. 52.
0, 66 0, 60 0, 64 0, 57 0, 56 29 49 19 57 58
53.
1, 61 0, 65 30
54.
1, 42 0, 60 51
55.
1, 64 0, 65 21
56.
1, 69 0, 67 12
57.
1, 63 0, 66 26
58.
1, 38 0, 55 56
59.
1, 43 0, 58 50
60.
1, 34 0, 55 61
61.
1, 51 0, 64 43
62.
1, 68 0, 70 16
1, 57 0, 65 34 bản thân Kỹ năng biết chi tiêu theo khả năng thu nhập của bản thân Kỹ năng kiềm hãm những nhu cầu không cần thiết của bản thân Kỹ năng tổ chức cuộc sống hằng ngày Kỹ năng nấu nướng những món thong thường Kỹ năng dọn dẹp nhà cửa Kỹ năng sắp xếp phòng riêng của bản thân Kỹ năng chăm sóc thể chất của bản thân Kỹ năng sử dụng các công cụ cơ khí trong sửa chữa vật dụng thông thường trong nhà Kỹ năng sử dụng năng lượng một cách tiết kiệm 1, 61 1, 44 Kỹ năng xưng hô lịch thiệp với người khác 1, 66 Kỹ năng trình bày bằng văn bản 1 cách lịch sự 1, 37 Kỹ năng thể hiện lòng biết ơn người khác Kỹ năng thể hiện lòng tôn trọng người khác 1, 36 Kỹ năng thể hiện những quy ước giao tiếp (như bắt tay, chào hỏi lịch sự Kỹ năng dám chịu trách nhiệm về việc làm của bản thân Kỹ năng nhận biết trách nhiệm và thực hiện việc giúp đỡ người khác (cho dù chưa quen biết) Kỹ năng nhận biết trách nhiệm và thực hiện các hoạt động chung của đất nước Kỹ năng nhận biết trách nhiệm và đóng góp vào sự phát triển của đất nước Kỹ năng nhận biết và thực hiện trách nhiệm đối với gia đình Kỹ năng nhận biết trách nhiệm và giúp đỡ đối với người thân Kỹ năng đối mặt với những thất bại trong cuộc sống Kỹ năng xác định và thực hiện có kết quả mục tiêu trong các giai đoạn cuộc đời Kỹ năng chống lại những điều không thỏa mãn trong cuộc sống Kỹ năng thực hiện những công việc làm tăng tính tự trọng của bản thân
Qua kết quả bảng 2.10 cho thấy tự đánh giá của học sinh về các kỹ năng sống học sinh trung
học cơ sở cần được bồi dưỡng theo các thứ bậc sau:
+ Cần thiết ở mức độ rất cao:
Kỹ năng sử dụng ngôn ngữ không lời trong giao tiếp với người khác (thứ bậc 1), Kỹ năng
quản lý trò chơi (thứ bậc 2), Kỹ năng sử dụng các công cụ cơ khí trong sửa chữa vật dụng thông
thường trong nhà (thứ bậc 3), Kỹ năng sử dụng trang thiết bị (thứ bậc 4), Kỹ năng định hướng các
giá trị (thứ bậc 5), Kỹ năng dọn dẹp nhà cửa (thứ bậc 6), Kỹ năng nấu nướng những món thông
thường (thứ bậc 7), Kỹ năng quan tâm đến nhu cầu của người khác (thứ bậc 8), Kỹ năng nhận biết
vị thế xã hội của bản thân (thứ bậc 9), Kỹ năng biết đặt mình vào vai trò của người khác (thứ bậc
10).
Với thứ bậc được sắp xếp như trên ta thấy được có sự thống nhất trong tự đánh giá của các
em giữa hai bảng 2.9 và 2.10, chính những kỹ năng mà các em rèn luyện được dưới mức trung bình
hoặc mức thấp (bảng 2.9) đã được các em ưu tiên chú trọng xếp ở mức độ cần thiết bồi dưỡng cao
nhất (bảng 2.10). Điều này cho thấy sự tự ý thức về sự cần thiết phải trang bị kỹ năng sống trong
các em là rất tốt.
+ Cần thiết ở mức độ cao:
Kỹ năng giải quyết những vấn đề liên quan đến giới tính của bản thân (thứ bậc 11), Kỹ năng
nhận biết trách nhiệm và thực hiện các hoạt động chung của đất nước (thứ bậc 12), Kỹ năng đối đầu
với những vấn đề tình cảm riêng tư của bản thân (thứ bậc 13), Kỹ năng sống độc lập về tài chánh
(thứ bậc 14), Kỹ năng sắp xếp phòng riêng của bản thân (thứ bậc 15), Kỹ năng chống lại những điều
không thỏa mãn trong cuộc sống (thứ bậc 16), Kỹ năng giải quyết những vấn đề tế nhị đối với bạn
khác giới của bản thân (thứ bậc 17), Kỹ năng tổ chức cuộc sống hằng ngày (thứ bậc 18), Kỹ năng
trình bày bằng văn bản một cách lịch sự (thứ bậc 19), Kỹ năng kiềm hãm những nhu cầu không cần
thiết của bản thân (thứ bậc 20).
Tương tự trên, học sinh đã tự sắp xếp thứ bậc ưu tiên các kỹ năng cần bồi dưỡng một cách
khá thống nhất đối với những kỹ năng mà các em còn hạn chế trong rèn luyện bồi dưỡng (đã nêu ở
bảng 2.9)
+ Cần thiết ở mức trung bình:
Kỹ năng nhận biết trách nhiệm và thực hiện việc giúp đỡ người khác (cho dù chưa quen biết)
(thứ bậc 21), Kỹ năng thương lượng (thứ bậc 22), Kỹ năng thể hiện sự đồng cảm trong giao tiếp với
người khác (thứ bậc 23), Kỹ năng cảm nhận tâm trạng của người đối thoại (thứ bậc 24), Kỹ năng
biết đánh giá đúng giá trị của sự vật và bản thân (thứ bậc 25), Kỹ năng nhận biết trách nhiệm và
đóng góp vào sự phát triển của đất nước (thứ bậc 26), Kỹ năng lập kế hoạch chi tiêu theo khả năng
tài chánh của bản thân (thứ bậc 27), Kỹ năng tự khẳng định của bản thân (thứ bậc 28), Kỹ năng sử
dụng năng lượng một cách tiết kiệm (thứ bậc 29), Kỹ năng thể hiện những quy ước giao tiếp (như
bắt tay, chào hỏi lịch sự) (thứ bậc 30).
+ Cần thiết ở mức dưới trung bình:
Kỹ năng sử dụng máy tính (thứ bậc 31), Kỹ năng thuyết phục (thứ bậc 32), Kỹ năng lý giải
một cách hoạt bát qua viết và nói (thứ bậc 33), Kỹ năng thực hiện những công việc làm tăng tính tự
trọng của bản thân (thứ bậc 34), Kỹ năng biết chi tiêu theo khả năng thu nhập của bản thân (thứ bậc
35), Kỹ năng chăm sóc sức khỏe (thứ bậc 36), Kỹ năng diễn tả một cách hoạt bát qua viết và nói
(thứ bậc 37), Kỹ năng làm chủ xúc cảm của bản thân (thứ bậc 38), Kỹ năng thể hiện một con người
trưởng thành (thứ bậc 39), Kỹ năng chăm sóc thể chất của bản thân (thứ bậc 40), Kỹ năng thể hiện
thái độ chừng mực trong giao tiếp với người khác (thứ bậc 41), Kỹ năng giải quyết những vấn đề
liên quan đến sức khỏe của bản thân (thứ bậc 42), Kỹ năng xác định và thực hiện có kết quả mục
tiêu trong các giai đoạn cuộc đời (thứ bậc 43), Kỹ năng kiềm hãm tính nông nỗi (thứ bậc 44), Kỹ
năng độc lập suy nghĩ của bản thân (thứ bậc 45).
+ Cần thiết ở mức thấp:
Kỹ năng tư duy (thứ bậc 46), Kỹ năng nhận biết lập trường của bản thân (thứ bậc 47), Kỹ
năng nhận biết khả năng của bản thân (thứ bậc 48), Kỹ năng xưng hô lịch thiệp với người khác (thứ
bậc 49), Kỹ năng nhận biết trách nhiệm và giúp đỡ đối với người thân (thứ bậc 50), Kỹ năng dám
chịu trách nhiệm về việc làm của bản thân (thứ bậc 51), Kỹ năng ứng xử (thứ bậc 52), Kỹ năng sống
nói chung (thứ bậc 53), Kỹ năng nhận biết niềm tin của bản thân (thứ bậc 54), Kỹ năng tử tế với
những người xung quanh (thứ bậc 55), Kỹ năng nhận biết và thực hiện trách nhiệm đối với gia đình
(thứ bậc 56), Kỹ năng thể hiện lòng biết ơn người khác (thứ bậc 57), Kỹ năng thể hiện lòng tôn
trọng người khác (thứ bậc 58), Kỹ năng giao tiếp (thứ bậc 59), Kỹ năng giải quyết vấn đề bằng suy
nghĩ chín chắn (thứ bậc 60), Kỹ năng đối mặt với những thất bại trong cuộc sống (thứ bậc 61), Kỹ
năng học tập (thứ bậc 62).
Vậy, hầu hết các kỹ năng được bọn trẻ tự đánh giá mình đã được giáo dục rèn luyện (bảng
2.9) đều được xếp thứ bậc cần thiết bồi dưỡng ở mức trung bình trở xuống (bảng 2.10). Tuy nhiên,
có một vài kỹ năng chưa được quan tâm lắm (có thể trẻ chưa cân nhắc kỹ khi đánh dấu chọn trong
phiếu khảo sát) nên chưa thể hiện được sự thống nhất cao giữa kỹ năng đã có được với thứ tự ưu
tiên cần bồi dưỡng như kỹ năng xác định và thực hiện có kết quả mục tiêu trong các giai đoạn cuộc
đời, kỹ năng kiềm hãm tính nông nỗi, kỹ năng giải quyết vấn đề bằng suy nghĩ chín chắn, kỹ năng
đối mặt với những thất bại trong cuộc sống là những kỹ năng các em hầu như chưa hình thành được
(bảng 2.9) lại có thứ bậc dưới trung bình và thấp ở bảng 2.10.
Bảng 2.11. Đánh giá của học sinh về lý do học sinh chưa hình thành được những kỹ năng sống cần
Nguyên nhân 1. Trình độ dân trí, 2. Phương pháp giáo dục 3. Điều kiện xã hội 4. Phụ huynh nuông chìu 5. Các em ít có điều kiện giao tiếp ngoài xã hội
thiết
TB 4, 19 3, 81 4, 01 3, 92 3, 92 ĐLTC Thứ bậc 1, 08 1, 03 1, 06 0, 98 1, 18 1 10 3 8 9
6. Thời gian học tập của các em chiếm nhiều quá 4, 00 7. Các em ít có điều kiện luyện tập 4, 00 8. Các em ỷ lại gia đình 4, 04 9. Các em chưa ý thức được tầm quan trọng của
1, 02 1, 16 0, 97 4 5 2
10. Gia đình các em chưa nhận thức được sự cần
3, 62 1, 27 11 kỹ năng sống
3, 95 1, 05 6 thiết của kỹ năng sống
11. Các em thiếu giờ sinh hoạt vui chơi 12. Các em thiếu các sinh hoạt ngoại khóa đa
3, 45 1, 23 12
3, 93 1, 13 7 dạng
Qua kết quả bảng 2.11 cho thấy việc tự đánh giá của học sinh về lý do các em chưa hình
thành được các kỹ năng sống được xếp theo các thứ bậc sau:
Trình độ dân trí (thứ bậc 1), Các em ỷ lại gia đình (thứ bậc 2), Điều kiện xã hội (thứ bậc 3),
Thời gian học tập của các em chiếm nhiều quá (thứ bậc 4), Các em ít có điều kiện luyện tập (thứ bậc
5), Gia đình các em chưa nhận thức được sự cần thiết của kỹ năng sống (thứ bậc 6).
Các em thiếu các sinh hoạt ngoại khóa đa dạng (thứ bậc 7), Phụ huynh nuông chìu (thứ bậc
8), Các em ít có điều kiện giao tiếp ngoài xã hội (thứ bậc 9), Phương pháp giáo dục (thứ bậc 10),
Các em chưa ý thức được tầm quan trọng của kỹ năng sống (thứ bậc 11), Các em thiếu giờ sinh hoạt
vui chơi (thứ bậc 12).
Kết quả ở bảng 2.11 cho ta thấy hầu hết các em tự nhận định rằng chúng chưa hình thành
được các kỹ năng sống là do các điều kiện khách quan: xã hội, gia đình. Bản thân các em do phải
học tập nhiều, thiếu giờ sinh hoạt vui chơi, thiếu các sinh hoạt ngoại khóa đa dạng, ít có điều kiện
giao tiếp ngoài xã hội,…và đặc biệt do trình độ dân trí, do gia đình các em chưa nhận thức được sự
cần thiết của kỹ năng sống, do cả phương pháp giáo dục đã thực hiện mà các em chưa hình thành
được các kỹ năng sống. Kết quả khảo sát được thể hiện ở bảng 2.11 trên cũng cho thấy hạn chế
trong công tác quản lý việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh của Hiệu trưởng các trường trong
thời gian qua.
Bảng 2.12. Ý kiến của học sinh về địa chỉ hướng dẫn kỹ năng sống
Nơi hướng dẫn kỹ năng sống cho học sinh Gia đình Nhà trường Tổ chức đoàn thể xã hội như Đoàn, Đội Tất cả các ý nêu trên N 42 52 13 474 % 7, 1 8, 8 2, 2 80, 2
Qua kết quả bảng 2.12 cho thấy ý kiến của học sinh về địa chỉ hướng dẫn kỹ năng sống cần
bồi dưỡng cho học sinh trung học cơ sở theo thứ bậc:
Tổ chức đoàn thể xã hội như Đoàn, Đội (thứ bậc 4), Nhà trường (thứ bậc 3), Gia đình (thứ
bậc 2), Tất cả các ý nêu trên (gia đình, nhà trường, tổ chức đoàn thể xã hội như Đoàn, Đội) (thứ bậc
1).
Từ kết quả khảo sát trên cho ta thấy sự hình thành và phát triển toàn diện nhân cách cũng như
kỹ năng sống cho trẻ không thể chỉ trông chờ vào một địa chỉ duy nhất như gia đình, nhà trường
hoặc chỉ có tổ chức Đoàn Đội giáo dục mà nên. Để tổ chức giáo dục kỹ năng sống cho học sinh đạt
hiệu quả cao phải là sự kết hợp nhịp nhàng cả ba địa chỉ trên cộng với những hoạt động mang tính
riêng lẻ và đặc thù của từng địa chỉ.
Nhận định này của bọn trẻ cũng thống nhất với ý kiến đánh giá của giáo viên (bảng 2.7).
Bảng 2.13. So sánh đánh giá của học sinh theo giới tính về các mặt kỹ năng sống tổng quát bồi
dưỡng cho các em
TB
ĐLTC
TB
ĐLTC
Nam Nữ Yếu tố F P
54,49 6,23 54,76 5,894 0,29 0,58
11,34 2,23 11,48 2,086 0,62 0,42
13,29 1,78 13,32 1,733 0,03 0,85
4,16 1,06 4,17 0,903 0,00 0,93 Kỹ năng nhận biết và sống với người khác Kỹ năng ra quyết định một cách có hiệu quả Kỹ năng nhận biết và sống với chính mình Kỹ năng nghề nghiệp Qua kết quả bảng 2.13 cho thấy đánh giá của học sinh theo giới tính về các kỹ năng sống
tổng quát cần bồi dưỡng cho các em như:
Kỹ năng nhận biết và sống với người khác, Kỹ năng nhận biết và sống với chính mình, Kỹ
năng ra quyết định một cách có hiệu quả và Kỹ năng nghề nghiệp là không có sự khác biệt ý nghĩa
thống kê (P > 0,05).
Như vậy, tuy có khác nhau về giới tính song hầu hết học sinh được khảo sát đều có nhận thức
tương tự nhau về các kỹ năng sống tổng quát cần thiết.
Bảng 2.14. So sánh đánh giá của học sinh theo giới tính về các mặt kỹ năng sống cụ thể cần bồi
Nam
Nữ
dưỡng cho các em:
TB 34,18 26,74 14,19 13,29 4,82
ĐLTC 9,73 8,70 4,23 3,72 1,72
TB 33,24 26,53 14,18 13,86 4,93
ĐLTC 9,968 7,782 4,284 3,478 1,671
1,31 0,09 0,00 3,64 0,64
0,25 0,75 0,98 0,05 0,42
Yếu tố F P
Kỹ năng giao tiếp và ứng xử Kỹ năng xác định giá trị Kỹ năng học tập Kỹ năng hành động cụ thể Kỹ năng liên quan đến thể chất
Qua kết quả bảng 2.14 cho thấy đánh giá của học sinh theo giới tính về các kỹ năng sống cụ
thể cần bồi dưỡng cho các em như Kỹ năng học tập, Kỹ năng thể hiện bản ngã, Kỹ năng liên quan
đến thể chất, Kỹ năng giao tiếp và ứng xử không có sự khác biệt ý nghĩa thống kê (P >0,05); riêng
Kỹ năng hành động cụ thể có sự khác biệt ý nghĩa thống kê (P = 0,05).
Như vậy, do có khác nhau về giới tính nên mặc dù hầu hết học sinh được khảo sát đều có
nhận thức tương tự nhau về các kỹ năng sống cụ thể cần bồi dưỡng cho các em nhưng đối với kỹ
năng hành động cụ thể thì có độ chênh dù rất nhỏ giữa học sinh nam và học sinh nữ.
Bảng 2.15. So sánh đánh giá của học sinh theo lớp về các mặt kỹ năng sống tổng quát cần bồi
dưỡng cho các em:
TB
ĐLTC
TB
ĐLTC
8,98
0,003
55,42
5,72
53,90
6,28
15,28
0,00
11,77
2,05
11,07
2,19
6,28
0,012
13,51
1,66
13,14
1,83
0,01
0,90
4,16
1,02
4,17
0,94
Lớp 8 Lớp 9 Yếu tố F P
Kỹ năng nhận biết và sống với người khác Kỹ năng ra quyết định một cách có hiệu quả Kỹ năng nhận biết và sống với chính mình Kỹ năng nghề nghiệp
Qua kết quả bảng 2.15 cho thấy đánh giá của học sinh theo lớp về các kỹ năng sống tổng
quát cần bồi dưỡng cho các em như: Kỹ năng nhận biết và sống với người khác, Kỹ năng ra quyết
định một cách có hiệu quả, Kỹ năng nhận biết và sống với chính mình có sự khác biệt ý nghĩa
thống kê (P < 0,05); chỉ Kỹ năng nghề nghiệp là không có sự khác biệt ý nghĩa thống kê (P > 0,05).
Vậy do khác nhau về trình độ học vấn nên có độ chênh giữa học sinh 2 khối lớp 8 và 9 mà
tác giả khảo sát về các kỹ năng sống tổng quát cần bồi dưỡng cho các em.
Bảng 2.16. So sánh đánh giá của học sinh theo lớp về các mặt kỹ năng sống cụ thể cần bồi dưỡng
Lớp 8
Lớp 9
F
P
cho các em
TB
ĐLTC
TB
ĐLTC
32,82 9,57
34,65
9,72
4,99 0,02
Yếu tố
26,42 8,05
27,24
7,78
1,52 0,21
Kỹ năng giao tiếp và ứng xử
13,65 4,40
14,64
4,09
7,61 0,006
Kỹ năng xác định giá trị
13,40 3,46
13,92
3,53
3,01 0,08
Kỹ năng học tập
4,80 1,68
4,96
1,69
1,26 0,26
Kỹ năng hành động cụ thể
Kỹ năng liên quan đến thể chất
Qua kết quả bảng 2.16 cho thấy đánh giá của học sinh theo lớp về các kỹ năng sống cụ thể
cần bồi dưỡng cho các em như:
Kỹ năng giao tiếp và ứng xử, Kỹ năng học tập có sự khác biệt ý nghĩa thống kê (P < 0,05);
còn Kỹ năng hành động cụ thể, Kỹ năng liên quan đến thể chất, Kỹ năng thể hiện bản ngã là không
có sự khác biệt ý nghĩa thống kê (P > 0,05).
Như vậy, về mặt nhận thức có độ chênh giữa học sinh khối lớp 8 và học sinh khối lớp 9 đối
với kỹ năng cụ thể cần bồi dưỡng cho các em.
Tóm lại, thông qua các nội dung khảo sát ở các bảng trong chương 2 mục 3, ta kết luận được:
Giáo viên và học sinh đều là chủ thể của hoạt động giảng dạy và giáo dục, phương pháp tương tác
giữa giáo viên và học sinh giữ vai trò quan trọng trong suốt quá trình giáo dục.
Mặc dù qua kết quả khảo sát thể hiện ở các bảng cho ta thấy Hiệu trưởng của các trường
không trực tiếp quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho các em, nhưng thông qua công việc
quản lý thường ngày các Hiệu trưởng cũng đã tham gia quản lý một cách gián tiếp hoạt động giáo
dục này. Tuy nhiên, để việc giáo dục kỹ năng sống cho các em hiệu quả hơn, không chỉ đòi hỏi sự
đồng tâm hợp tác giữa gia đình các em, sự tham gia của các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà
trường mà cả các cấp quản lý cần quan tâm nhiều hơn đến hoạt động này.
2.4. Thực trạng quản lý của Hiệu trưởng trường trung học cơ sở tại Quận 11 đối với công tác
giáo dục kỹ năng sống cho học sinh
2.4.1. Đánh giá về nhận thức đối với các nội dung giáo dục kỹ năng sống cho học sinh
THCS của Hiệu trưởng
Quản lý công tác giáo dục kỹ năng sống cho học sinh đòi hỏi Hiệu trưởng không những phải
đánh giá đúng năng lực chuyên môn của đội ngũ, phải phát huy được tính chủ động, tích cực của cả
thầy trò, phải làm phát triển những tiềm năng trong mỗi con người mà còn phải nắm được mức độ
nhận thức của giáo viên cả những hiểu biết, nhận thức của học sinh đối với hoạt động giáo dục này.
Bảng 2.17. So sánh đánh giá của cán bộ quản lý và giáo viên về các mặt kỹ năng sống tổng quát
cần bồi dưỡng cho học sinh
Cán bộ quản lý Giáo viên Yếu tố F P TB ĐLTC TB ĐLTC
Kỹ năng nhận biết và sống với 57,08 4,68 57,81 4,18 0,35 0,55
người khác
Kỹ năng ra quyết định một cách 11,98 1,69 11,42 1,34 1,95 0,16
có hiệu quả
Kỹ năng nhận biết và sống với 13,19 1,46 13,42 1,53 0,39 0,53
chính mình
Kỹ năng nghề nghiệp 4,36 0,91 4,05 0,97 1,94 0,16
Qua kết quả bảng 2.17 cho thấy đánh giá của cán bộ quản lý và giáo viên về các kỹ năng
sống tổng quát cần bồi dưỡng cho học sinh trung học cơ sở là không có sự khác biệt ý nghĩa thống
kê (P > 0,05). Như vậy, có thể nói rằng, có sự tương đồng về mặt nhận thức giữa cán bộ quản lý và
giáo viên về các nội dung giáo dục nêu trên.
Nói cách khác, cán bộ quản lý và giáo viên đánh giá tương tự nhau về các mặt kỹ năng sống
cần bồi dưỡng tổng quát cho học sinh.
Bảng 2.18. So sánh đánh giá của cán bộ quản lý và giáo viên về các mặt kỹ năng sống cụ thể cần
bồi dưỡng cho học sinh
Cán bộ quản lý Giáo viên Yếu tố F P
Kỹ năng giao tiếp và ứng xử Kỹ năng xác định giá trị Kỹ năng học tập Kỹ năng hành động cụ thể Kỹ năng liên quan đến thể chất TB ĐLTC TB ĐLTC 6,84 75,01 2,62 32,89 5,05 69,14 4,03 31,86 2,19 47,26 76,41 33,05 69,00 31,94 47,00 8,91 3,63 7,01 5,28 6,06 0,39 0,53 0,03 0,85 0,00 0,93 0,00 0,95 0,03 0,85
Qua kết quả bảng 2.18 cho thấy đánh giá của cán bộ quản lý và giáo viên về các kỹ năng
sống cụ thể cần bồi dưỡng cho học sinh trung học cơ sở là không có sự khác biệt ý nghĩa thống kê
(P > 0,05).
Vậy cũng như ý kiến đánh giá về nhóm những kỹ năng sống tổng quát nêu ở bảng 2.17, ta
thấy cán bộ quản lý và giáo viên đã đánh giá tương tự nhau về các mặt kỹ năng sống cần cụ thể bồi
dưỡng cho học sinh.
Bảng 2.19. So sánh đánh giá của cán bộ quản lý và giáo viên theo thâm niên về các mặt kỹ năng
Thâm niên
dưới 5 năm
F
P
từ 6 đến 15 năm
25 năm trở lên
sống tổng quát bồi dưỡng cho học sinh
TB
TB
TB
TB
ĐL TC
ĐL TC
từ 16 đến 25 năm ĐL TC
ĐL TC
57,10
2,91
57,54
5,23
56,80
4,64
57,24
4,72
0,198
0,89
12,09
1,70
12,10
1,88
11,82
1,44
11,68
1,54
0,632
0,59
13,06
1,43
13,15
1,34
13,55
1,58
13,18
1,57
0,826
0,48
4,625
0,65
4,40
0,94
4,00
0,98 4,26
0,94
2,903
0,03
Kỹ năng nhận biết và sống với người khác Kỹ năng ra quyết định một cách có hiệu quả Kỹ năng nhận biết và sống với chính mình Kỹ năng nghề nghiệp
Yếu tố
Qua kết quả bảng 2.19 cho thấy đánh giá của cán bộ quản lý và giáo viên theo thâm niên về
các kỹ năng sống tổng quát cần bồi dưỡng cho học sinh trung học cơ sở như: Kỹ năng nhận biết và
sống với người khác, Kỹ năng nhận biết và sống với chính mình, Kỹ năng ra quyết định một cách có
hiệu quả là không có sự khác biệt ý nghĩa thống kê (P > 0,05).
Chỉ có một kỹ năng tổng quát được đánh giá khác nhau là Kỹ năng nghề nghiệp (P < 0,05),
các cán bộ quản lý và giáo viên có thâm niên từ 16 đến 25 năm đánh giá Kỹ năng nghề nghiệp cần
bồi dưỡng cho học sinh trung học cơ sở đạt tỉ lệ trung bình là 4,00 trong khi số còn lại đều có tỉ lệ
đánh giá đạt trên 4,00.
Bảng 2.20. So sánh đánh giá của cán bộ quản lý và giáo viên theo thâm niên về các mặt kỹ năng
Thâm niên
dưới 5 năm
25 năm trở lên
Yếu tố
F
P
TB
TB
TB
TB
ĐL TC
từ 6 đến 15 năm ĐL TC
từ 16 đến 25 năm ĐL TC
ĐL TC
75,78
7,40
76,09
8,99
74,72
7,71 74,21
10,01
0,421
0,73
32,68
3,56
33,22
4,11
32,66
3,07 32,81
2,95
0,256
0,85
69,16
6,41
70,23
7,41
68,32
6,06 68,67
6,89
0,701
0,55
31,33
4,51
33,08
5,60
31,15
5,08 31,31
4,68
1,596
0,19
46,03
6,08
48,50
5,92
46,23
5,67 47,27
5,22
1,709
0,16
Kỹ năng giao tiếp và ứng xử Kỹ năng xác định giá trị Kỹ năng học tập Kỹ năng hành động cụ thể Kỹ năng liên quan đến thể chất
sống cụ thể bồi dưỡng cho học sinh
Qua kết quả bảng 2.20 cho thấy đánh giá của cán bộ quản lý và giáo viên theo thâm niên về
các kỹ năng sống cụ thể cần bồi dưỡng cho học sinh trung học cơ sở như Kỹ năng giao tiếp và ứng
xử, Kỹ năng thể hiện bản ngã, Kỹ năng học tập là không có sự khác biệt ý nghĩa thống kê,... (P
>0,05).
Nói cách khác, dù có khác nhau về thâm niên nghề nghiệp nhưng hầu hết cán bộ quản lý và
giáo viên đánh giá tương tự nhau về các mặt kỹ năng sống cụ thể cần bồi dưỡng cho học sinh. Đồng
thời, thông qua so sánh các tỉ lệ % thu được ta thấy có sự thống nhất về thứ tự ưu tiên giữa các kỹ
năng cụ thể bồi dưỡng cho các em.
2.4.2. Những nội dung đã thực hiện trong quản lý giáo dục kỹ năng sống của Hiệu trưởng
Để thực hiện tốt công tác quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trong nhà
trường THCS thì bên cạnh việc đánh giá, nhận định về mặt nhận thức của học sinh, của đội ngũ
người Hiệu trưởng phải thực hiện tốt một số nội dung quản lý sau:
Bảng 2.21. So sánh đánh giá của cán bộ quản lý và giáo viên về các nội dung quản lý việc giáo dục
Nhận định của đội ngũ giáo viên THCS và của các Hiệu trưởng (tỉ lệ %)
Các nội dung quàn lý đã thực hiện
Tốt
Khá
Số thứ tự
Trung bình Còn yếu GV HT GV HT GV HT GV HT
10.0
7.7
5.4
1
90.0 86.9
84.0 80.8
16.0 15.4
3.8
2
70.5 78.5
10.0
3.6
3
19.5 17.9
63.1 56.2
11.5 17.9
15.2
19.4
10.2
6.5
4
78.0 46.2
10.0 28.1
10.0
16.7
2.0
9.0
5
Quản lý việc phân công cho giáo viên thực hiện mục tiêu giáo dục kỹ năng sống Quản lý việc thực hiện kế hoạch và nội dung giáo dục Quản lý công tác bồi dưỡng đội ngũ giáo viên và tổ chức tốt các hoạt động trường, lớp Quản lý công tác phối hợp các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường Quản lý phương tiện, môi trường giáo dục và các điều kiện hỗ trợ hoạt động giáo dục kỹ năng sống
kỹ năng sống cho học sinh đã được chỉ đạo thực hiện
Số liệu điều tra ở bảng 2.21 cho thấy trong số 5 nội dung quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng
sống cho học sinh THCS thì có 2 nội dụng được cả cán bộ quản lý và giáo viên đánh giá đã thực
hiện đạt loại khá tốt ở mức trên 90%. Hoàn toàn không có bất kỳ cán bộ quản lý và giáo viên nào
đánh giá việc thực hiện 2 nội dung này ở mức còn yếu.
Riêng với nội dung quản lý thứ 3 trong bảng tuy có khác biệt chút ít khi so sánh các số liệu
giữa các mức độ Tốt, Khá, Trung bình cụ thể song nhìn chung được 100% CBQL và GV đã thống
nhất đánh giá nội dung quản lý này đạt mức trung bình trở lên.
Bên cạnh đó, vẫn còn 9,0% ý kiến cán bộ quản lý, 2,0% ý kiến giáo viên đánh giá nội dung
Quản lý phương tiện, môi trường giáo dục và các điều kiện hỗ trợ hoạt động giáo dục kỹ năng sống
của Hiệu trưởng thực hiện còn yếu và còn 6,5% cán bộ quản lý cùng với 10.2% giáo viên cho rằng
công tác quản lý việc phối hợp các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường là còn yếu. Đây là
điều đáng để cho các cơ quan hữu quan, các nhà quản lý giáo dục phải suy nghĩ.
Tóm lại, kết quả ở bảng trên cho thấy: hầu như có sự tương đồng về mặt nhận định giữa cán bộ
quản lý và giáo viên đối với các nội dung quản lý đã nêu.
2.4.3. Những biện pháp đã thực hiện trong chỉ đạo, quản lý giáo dục kỹ năng sống của
Hiệu trưởng
Công tác quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trong nhà trường THCS muốn
đạt hiệu quả cao, người Hiệu trưởng cần phải có biện pháp thực hiện tốt các nội dung quản lý đã nêu
trên.
Bảng 2.22. So sánh đánh giá của cán bộ quản lý và giáo viên về các biện pháp đã thực hiện trong
Nhận định của đội ngũ giáo viên THCS và của các Hiệu trưởng (tỉ lệ %)
Các biện pháp đã thực hiện
Tốt
Khá
Số thứ tự
Trung bình Còn yếu GV HT GV HT GV HT GV HT
7.5
7.1
27.0 34.3
65.5 58.6
1
26.4 22.9
64.0 67.1
10.0
9.6
2
48.5 45.2
41.2 42.9
2.1
1.9
9.0
8.2
3
42.1 34.3
28.7 27.2
10.1
11.6
28.4
17.6
4
48.0 44.8
27.2 29.8
15,1
10.3
24.8
5
chỉ đạo, quản lý việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh
Quản lý mục tiêu, kế hoạch Quản lượng, lý số chất lượng các hoạt động Quản lý xây dựng đội ngũ Quản lý đầu tư cơ sở vật chất Công tác kiểm tra, đánh giá Với kết quả bảng 2.22 thì trong số 5 biện pháp đã đưa ra thực hiện thì chỉ có 2 biện pháp là
Quản lý mục tiêu, kế hoạch và Quản lý số lượng, chất lượng các hoạt động đạt được sự nhất trí cao
giữa cán bộ quản lý và giáo viên được khảo sát (chiếm tỉ lệ từ 90% trở lên CBQL và GV đánh giá ở
mức độ Tốt – Khá, còn khoảng xấp xỉ 10% CBQL và GV đánh giá là trung bình, không có ai đánh
giá còn yếu). Các biện pháp còn lại chỉ có một biện pháp chưa có sự tương đồng cao giữa CBQL và
GV đó là biện pháp Kiểm tra, đánh giá được 100% GV đánh giá đạt mức trung bình trở lên, riêng
10% CBQL cho rằng vẫn còn yếu. Điều này cho thấy chưa có sự thống nhất hoàn toàn giữa CBQL
và GV trong việc nhìn nhận, đánh giá về thực trạng các biện pháp đã thực hiện trong chỉ đạo, quản
lý việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh.
Tóm lại, qua khảo sát bằng phiếu thể hiện ở các bảng trên kết hợp với phỏng vấn, trao đổi ta
thấy: việc quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh bậc THCS ở các trường thuộc Quận 11 theo
nhận định của CBQL và GV thì phần lớn đang được đưa vào kế hoạch tổ chức thực hiện, khởi đầu
từ năm học 2008- 2009 và đã đạt mức độ khá tốt. Trong đội ngũ giáo viên, học sinh và các lực
lượng giáo dục cũng đã bắt đầu có sự nhận thức, hiểu biết về tính cấp thiết của hoạt động giáo dục
này. Tuy nhiên, đây cũng chỉ là những chú trọng ban đầu, cần phải được quan tâm nhiều hơn. Đây
cũng chính là điều khá phổ biến trong các trường trung học cơ sở nói chung chứ không chỉ riêng tại
các trường THCS của Quận 11.
Đáng lưu ý là các nội dung Quản lý phương tiện, môi trường giáo dục và các điều kiện hỗ trợ
hoạt động giáo dục kỹ năng sống, Quản lý công tác phối hợp các lực lượng giáo dục trong và ngoài
nhà trường cũng như biện pháp Quản lý đầu tư cơ sở vật chất vẫn chưa được đánh giá cao. Do đó,
để thực sự đạt được hiệu quả cao trong việc quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh theo hướng
tích cực thì nhà trường cần phải quan tâm hơn nữa đến vấn đề đầu tư cơ sở vật chất trang thiết bị
giảng dạy, giáo dục hiện đại,...cần phải quan tâm đối với một số giải pháp được đề xuất ở chương
sau.
Chương 3 . MỘT SỐ GIẢI PHÁP TRONG CÔNG TÁC QUẢN LÝ GIÁO DỤC KỸ
NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ
3.1. Cơ sở xác lập giải pháp
Để xác lập các giải pháp một cách đúng hướng, có hiệu quả ta dựa trên những cơ sở sau:
31.1. Cơ sở lý luận
- Căn cứ vào quan điểm phát triển Giáo dục và Đào tạo của Đảng Cộng sản Việt Nam : “
Phát triển giáo dục và đào tạo là một trong những động lực thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa-
hiện đại hóa, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người - yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng
trưởng kinh tế nhanh và bền vững” [6,25].
- Căn cứ vào cơ sở lý luận đã nêu ở chương 1 về các nhiệm vụ quản lý của Hiệu trưởng
trường trung học cơ sở về quản lý giáo dục, quản lý trường học và quản lý việc giáo dục kỹ năng
sống cho học sinh bậc trung học cơ sở.
3.1.2. Cơ sở thực tiễn
- Căn cứ vào kết quả điều tra, khảo sát thực trạng quản lý việc giáo dục kỹ năng sống cho học
sinh bậc trung học cơ sở tại Quận 11, Tp. Hồ Chí Minh, những nguyên nhân, tồn tại và những hạn
chế của các giải pháp đã thực hiện được trình bày ở chương 2 mà ta cần rút kinh nghiệm để đáp ứng
với yêu cầu đổi mới giáo dục góp phần thực hiện công nghiệp hóa-hiện đại hóa đất nước.
3.1.3. Cơ sở pháp lý
- Căn cứ vào các văn bản pháp quy gồm Chỉ thị 40/2008/ CT – BGDĐT ngày 22/7/2008 của
Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo; Kế hoạch số 1842/GDĐT – TrH ngày 29/8/2008 của Sở Giáo
dục và Đào tạo thành phố Hồ Chí Minh về “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”
trong các trường phổ thông giai đoạn 2008 – 2013 và Kế hoạch số 606/KH – GDĐT ngày
16/9/2008 của Phòng giáo dục và đào tạo Quận 11. Đó là cơ sở pháp lý quan trọng để chỉ đạo và
hướng dẫn cho các trường học hoạt động.
3.2. Các giải pháp
Nhằm góp phần tạo chuyển biến tích cực trong quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh bậc
trung học cơ sở tại Quận 11, Tp. Hồ Chí Minh, tác giả xin đề xuất những giải pháp sau:
3.2.1. Giải pháp 1 : Nâng cao nhận thức của các lực lượng giáo dục về ý nghĩa, lợi ích của
hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh
3.2.1.1. Biện pháp 1 : Xác định tầm quan trọng của công tác giáo dục kỹ năng sống :
Từ việc phân tích thực trạng quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tại các trường
trung học cơ sở trên địa bàn Quận 11 ta thấy rằng : Thành công trong công tác giáo dục chính là làm
cho các lực lượng tham gia nhận thức rõ tầm quan trọng của công tác, thể hiện qua việc làm cho mọi
lực lượng tham gia hiểu rõ ý nghĩa, lợi ích của hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh.
Có thế, người Hiệu trưởng mới quan tâm đầu tư kỹ cho công tác chỉ đạo các lực lượng phối
hợp thực hiện nhiệm vụ giáo dục kỹ năng sống một cách có hệ thống, đồng thời làm cho người được
giáo dục (học sinh) ý thức được hoạt động giáo dục kỹ năng sống là hoạt động thiết thực đáp ứng tốt
nhu cầu của bản thân họ và nhu cầu của xã hội. Từ đó, người được giáo dục mới tự nguyện chấp
nhận những yêu cầu của nhà giáo dục để từng bước lĩnh hội tri thức, rèn luyện kỹ năng, trang bị dần
những thao tác ứng xử, giao tiếp, đối phó với những thách thức của cuộc sống.
Về phía người thực hiện nhiệm vụ giáo dục cần phải hiểu rõ việc thực hiện công tác giáo
dục, rèn luyện cho học sinh các kĩ năng nhận biết và sống với chính mình như : kỹ năng tự nhận
thức, lòng tự trọng, sự kiên quyết, kỹ năng biết đương đầu với cảm xúc,… là một nhiệm vụ cần thiết
cũng như việc giáo dục cho học sinh kỹ năng nhận biết và sống với người khác; kỹ năng ra quyết
định trong công việc, trong cuộc sống cũng là nhiệm vụ không kém phần quan trọng.
Do đó, người Hiệu trưởng nên thường xuyên nâng cao nhận thức cho các lực lượng giáo dục
bằng cách :
- Tổ chức cho giáo viên nghe nói chuyện, tìm hiểu về sự cần thiết của công tác giáo dục kĩ
năng sống.
- Tạo điều kiện cho 100% các lực lượng giáo dục được tập huấn về công tác này.
- Mời chuyên gia đến trường bồi dưỡng cho lực lượng giáo dục về kỹ năng, kinh nghiệm
thực hiện công tác giáo dục kĩ năng sống cho học sinh THCS,…
3.2.1.2. Biện pháp 2 : Xác định rõ công tác giáo dục kỹ năng sống là một công tác của
nhà trường, của các lực lượng giáo dục : Một tập thể sư phạm đoàn kết, gắn bó thì hiệu quả công
tác giáo dục cao. Công tác giáo dục kỹ năng sống là một công tác còn rất mới trong nhà trường
trung học cơ sở. Do vậy, người Hiệu trưởng cần phải có biện pháp đảm bảo sự nhất trí cao về yêu
cầu giáo dục kỹ năng sống cho học sinh giữa các thành viên trong nội bộ nhà trường. Phải xác định
rõ trong tập thể sư phạm công tác giáo dục kỹ năng sống là một công tác của nhà trường, của các
lực lượng giáo dục nhằm xây dựng ý thức cộng đồng trách nhiệm, tinh thần phối hợp nhịp nhàng tạo
hiệu quả giáo dục cao.
Cụ thể, người Hiệu trưởng nên :
- Mở hội thảo để giáo viên toạ đàm về tầm quan trọng của công tác giáo dục kỹ năng sống
cho học sinh THCS.
- Nhân rộng những nhân tố tích cực trong việc giáo dục, rèn kỹ năng sống cho học sinh.
- Tăng cường các biện pháp kích thích về tinh thần (thi đua, khen thưởng) để các lực lượng
tích cực tìm hiểu và có những hoạt động nhằm giáo dục, rèn kỹ năng sống cho học sinh.
- Xây dựng môi trường học tập tốt ở trường và cộng đồng nhằm tạo được một khối đoàn
kết, nhất trí cao trong việc giáo dục học sinh.
3.2.1.3. Biện pháp 3 : Làm tốt công tác truyền thông, tuyên truyền góp phần nâng cao
nhận thức của đội ngũ về yêu cầu giáo dục kỹ năng sống : Hiện nay hầu hết các trường THCS
đều có mạng Internet. Đây là một trong những phương tiện giúp chúng ta làm tốt công tác truyền
thông. Bên cạnh đó, sách báo, tạp chíi, ti-vi, radio cũng là những phương tiện tuyên truyền hỗ trợ tốt
cho công tác góp phần nâng cao nhận thức của đội ngũ về yêu cầu giáo dục kỹ năng sống cho học
sinh. Cụ thể, nhà trường cần :
- Triển khai các văn bản chỉ đạo về giáo dục kỹ năng sống của ngành đến với đội ngũ thầy
trò và các lực lượng giáo dục.
- Giới thiệu những trang web hay có liên quan đến việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh
đến các lực lượng tham gia giáo dục.
- Tìm hiểu và thống kê những giáo viên chưa có máy vi tính, chưa được phổ cập tin học để
có kế hoạch giúp đỡ, bồi dưỡng.
- Trang bị những tạp chí, sách báo liên quan đến công tác giáo dục kỹ năng sống,...
3.2.2. Giải pháp 2: Tăng cường các biện pháp tổ chức, quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng
sống của Hiệu trưởng.
3.2.2.1.Biện pháp 1: Kế hoạch hóa công tác giáo dục kỹ năng sống: Người Hiệu trưởng
phải luôn ghi nhớ rằng việc lập kế hoạch là hành động đầu tiên của nhà quản lý vì : kế hoạch là
công cụ quản lý, là phương pháp quản lý và là con đường đạt mục tiêu quản lý. Đảm bảo tính kế
hoạch là một trong các nguyên tắc quản lý đồng thời việc lập kế hoạch hay còn gọi là hoạch định
cũng là một trong các chức năng quản lý mà lại là chức năng đầu tiên có vai trò quan trọng, đó là
vai trò xác định phương hướng hoạt động và phát triển của tổ chức, của hoạt động đồng thời xác
định các kết quả cần đạt được trong tương lai.
Việc lập kế hoạch quản lý công tác giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trung học cơ sở là
để thiết kế một chương trình hành động tối ưu có thể quản lý được và huy động được mọi tiềm năng
để thực hiện có hiệu quả cao nhất những mục tiêu cụ thể trong từng giai đoạn phát triển nhất định
của nhà trường. Vì vậy khi lập kế hoạch quản lý công tác giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trung
học cơ sở phải dựa trên những cơ sở lý luận và thực tế thật vững chắc, đồng thời phải sử dụng
những phương pháp khoa học thì kế hoạch mới khả thi và đạt được mục tiêu đề ra.
Chính vì thế, Hiệu trưởng cần phải :
- Phân tích kỹ nhu cầu và khả năng để xác định đúng phương hướng hoạt động và phát triển
công tác giáo dục kỹ năng sống cho học sinh.
- Lập kế hoạch tổng thể đối với công tác giáo dục kỹ năng sống.
- Đưa công tác nội dung giáo dục kỹ năng sống tích hợp trong các bộ môn văn hóa, trong
nội dung sinh hoạt chủ nhiệm lớp, trong các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, trong việc tổ
chức các hoạt động sinh hoạt giao lưu với các đơn vị, cá nhân tiêu biểu,…
Khi xây dựng kế hoạch quản lý công tác giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trung học cơ sở
người Hiệu trưởng cần lưu ý đến các yếu tố cấu thành kế hoạch quản lý bao gồm :
- Các dự kiến về mục tiêu, chỉ tiêu, kết quả đạt tới.
- Tiến độ về thời gian.
- Nội dung công việc gắn liền với hoạt động dạy học, hoạt động giáo dục rèn luyện.
- Người thực hiện và các điều kiện khả thi.
- Công tác tổ chức, chỉ đạo và điều hành từng nội dung công việc.
- Kế hoạch quản lý công tác giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trung học cơ sở phải dựa
vào kế hoạch tổng thể của năm học. Phải đảm bảo công khai kế hoạch hoá công tác quản lý giáo dục
kĩ năng sống cho học sinh trung học cơ sở, phát huy tối đa ý kiến của tập thể. Đồng thời huy động
sức mạnh của mỗi cá nhân, của các đơn vị, các tổ chức và các tập thể sư phạm trong các trường
trung học cơ sở. Thực hiện nghiêm túc sự phân cấp quản lý, trách nhiệm và quyền hạn của đội ngũ
cán bộ quản lý.
- Ngoài ra cũng cần phải có kế hoạch theo dõi tiến độ, mức độ công tác, có kế hoạch kiểm
tra giám sát việc quản lý công tác giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trung học cơ sở.
3.2.2.2.Biện pháp 2: Xây dựng, bồi dưỡng, hoàn thiện dần và phát triển đội ngũ thực
hiện công tác giáo dục kỹ năng sống : Trong cộng đồng, giáo viên là người có học vấn cao, là đội
ngũ quyết định đến chất lượng dạy học của nhà trường trong đó có công tác giáo dục kĩ năng sống
cho học sinh, giáo viên là chỗ dựa đáng tin cậy của các bậc cha mẹ học sinh trong giáo dục con em
họ nên người. Vì vậy, đội ngũ giáo viên chính là một trong những lực lượng tích cực, điển hình tốt
trong vai trò tư vấn, nêu gương, giúp đỡ cha mẹ học sinh trong việc giáo dục con em họ.
Theo tinh thần Chỉ thị 40-CT/TW của Ban chấp hành Trung ương Đảng: “Phát triển giáo
dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là một trong những động lực thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nước, là điều kiện phát huy nguồn lực con người. Đây là trách nhiệm của toàn
Đảng, toàn dân, trong đó nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục là lực lượng nòng cốt, có vai trò
quan trọng” [6, tr.36].
Đặc biệt, như đã nêu trên, do giáo dục kỹ năng sống là một công tác ít nhiều còn lạ lẫm đối
với xã hội ta nên chưa được sự quan tâm đúng mức. Vì thế, người Hiệu trưởng sau khi xây dựng tốt
kế hoạch giáo dục kỹ năng sống cho học sinh thì tiến tới bước triển khai, tổ chức thực hiện kế hoạch
và để đạt được kết quả tốt đẹp trong việc tổ chức thực hiện các hoạt động giáo dục, Hiệu trưởng
cần:
- Chú trọng xây dựng hoàn thiện đội ngũ thầy cô giáo trong nhà trường. Họ là đội ngũ quyết
định đến chất lượng dạy học trong đó có công tác giáo dục kĩ năng sống cho học sinh. Họ gồm lực
lượng giáo viên chủ nhiệm lớp, là những người có nhiều điều kiện tiếp xúc với học sinh, có nhiều
điều kiện giáo dục, rèn luyện cho các em các kỹ năng sống thông qua nội dung sinh hoạt chủ
nhiệm, thông qua tổ chức các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp. Cả với lực lượng giáo viên
giảng dạy các bộ môn như Giáo dục công dân, Sinh vật, Ngữ Văn, Lịch Sử, Địa lý, Vật Lý, Hóa
học, Công nghệ, Nhạc, Họa, Thể dục, … là đội ngũ thông qua từng bộ môn văn hóa truyền đạt đến
học sinh, họ trực tiếp thực hiện công tác rèn luyện cho các em những kỹ năng cần thiết như kỹ năng
học tập, kỹ năng giao tiếp ứng xử trong các mối quan hệ, kỹ năng tự nhận thức,… để hiểu biết bản
thân, tự bảo vệ mình và hòa nhập cộng đồng.
- Đối với bộ phận tư vấn như nhân viên Y Tế, nhân viên Thư viện, các thầy cô tổ, nhóm
trưởng bộ môn, lực lượng quản sinh,… Người Hiệu trưởng cần tạo điều kiện để bộ phận này tham
dự các khóa tập huấn giáo dục kỹ năng sống, đồng thời cũng cần xây dựng qui chế làm việc, khen
thưởng riêng đối với bộ phận làm công tác này vì ngày nay, trong một “nhà trường thân thiện”, công
tác tư vấn giáo dục kỹ năng sống cần phải được tiến hành thường xuyên.
- Hiệu trưởng cũng cần quan tâm tạo điều kiện bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ cán bộ quản lí
nhà trường vì họ là những người chịu trách nhiệm trước Nhà nước và nhân dân việc thực thi nhiệm
vụ chính trị ở đơn vị mình phụ trách; họ là người thiết kế xây dựng kế hoạch và tổ chức thành công
đường lối và quan điểm của Đảng về giáo dục. Họ cần phải được bồi dưỡng để có sự hiểu biết sâu
sắc về khoa học giáo dục, có lý luận và thực tiễn chuyên môn, có kinh nghiệm sư phạm ; cần bồi
dưỡng cho đội ngũ cán bộ quản lí trường nắm bắt được các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của
Quận 11 và của đất nước để góp sức mình trong quá trình thực hiện các mục tiêu nhiệm vụ giáo dục.
- Đặc biệt, cần phải quan tâm đào tạo, bồi dưỡng Tổng phụ trách Đội là người chỉ huy trực
tiếp cao nhất của tổ chức Đội thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh chịu trách nhiệm toàn diện về chất
lượng công tác của tổ chức Đội trước tổ chức Đoàn Thanh niên và Hiệu trưởng nhà trường. Vì thế,
Hiệu trưởng cần tạo điều kiện cho Tổng phụ trách Đội hoàn thiện về nhiều mặt, trước nhất là phải
khẳng định phẩm chất đạo đức của mình, đây là yếu tố quyết định trong quá trình công tác, giáo dục
thiếu nhi. Bên cạnh đó, Tổng phụ trách Đội phải tự hoàn thiện mình về trình độ hiểu biết các khoa
học tự nhiên, khoa học xã hội-nhân văn, tâm lý học, giáo dục học, xã hội học,… là những kiến thức
nền tảng giúp TPT Đội đi sâu vào lòng trẻ, hiểu được nội tâm trẻ từ đó định hướng từ suy nghĩ đến
hành động của trẻ một cách đúng đắn.
3.2.2.3. Biện pháp 3: Tăng cường các điều kiện về cơ sở vật chất phục vụ các hoạt động
giáo dục kỹ năng sống: Môi trường sư phạm khang trang, xanh-sạch-đẹp, có sân chơi, bãi tập, các
phòng chức năng,… rộng rãi, thoáng mát với đầy đủ tiện nghi phục vụ cho các hoạt động học tâp,
sinh hoạt vui chơi của học sinh luôn là mơ ước của các em, là mong muốn của các bậc cha mẹ học
sinh và của đội ngũ cán bộ giáo viên toàn trường. Hiệu trưởng cần có kế hoạch đầu tư trang bị cơ sở
vật chất, phương tiện thiết bị phục vụ hoạt động giảng dạy, sinh hoạt học tập bằng mọi nguồn lực
như từ nguồn kinh phí thuộc ngân sách nhà nước, từ sự hỗ trợ của địa phương, của các tổ chức xã
hội, từ sự chung sức của cha mẹ học sinh,… theo phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm”,
tăng cường xã hội hóa giáo dục để nâng cao cơ sở vật chất trường học phục vụ các hoạt động giáo
dục, giảng dạy-học tập trong nhà trường nhất là trong điều kiện hiện nay, biện pháp này tuy có được
quan tâm nhưng chưa được đội ngũ đánh giá cao một phần do trói buộc bởi khâu quản lý tài chính.
Tuy vậy, Hiệu trưởng cũng nên lưu ý không để xảy ra tình trạng lãng phí, tham ô, sử dụng kinh phí
sai mục đích trong quá trình thực hiện biện pháp này.
3.2.2.4. Biện pháp 4: Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, đánh giá
Kiểm tra là một chức năng cơ bản và quan trọng của quản lý. Lãnh đạo mà không kiểm tra
thì coi như không lãnh đạo. Theo lý thuyết hệ thống kiểm tra chính là thiết lập mối quan hệ ngược
trong quản lý. Kiểm tra trong quản lý là một nổ lực có hệ thống nhằm thực hiện ba chức năng : phát
hiện, điều chỉnh và khuyến khích. Nhờ có kiểm tra mà người cán bộ quản lý có được thông tin để
đánh giá được thành tựu công việc và uốn nắn, điều chỉnh hoạt động một cách đúng hướng nhằm
đạt mục tiêu.
Đánh giá là quá trình hình thành những nhận định, phán đoán về kết quả của công việc trên
cơ sở những thông tin thu được, đối chiếu với những mục tiêu, tiêu chuẩn đã đề ra nhằm đề xuất
những quyết định thích hợp để cải thiện thực trạng, điều chỉnh, nâng cao chất lượng và hiệu quả
công việc.
3.2.2.5. Biện pháp 5: Chú trọng các biện pháp thi đua khen thưởng: Việc khen thưởng,
chê trách đúng và kịp thời có ý nghĩa tích cực đối với hoạt động của con người. Đây là một cách
thức tác động vào tâm lý của cá nhân và của tập thể. Các hình thức khen thưởng một cách trân trọng
trước tập thể làm cho đối tượng quản lý phấn khởi, tích cực hoạt động và giúp họ tự khẳng định
mình. Việc trách phạt thật tế nhị, khéo léo khi cần thiết sẽ giúp cho đối tượng quản lý tự điều chỉnh
bản thân.
Tuy nhiên, không nên lạm dụng thái quá phương pháp này. Phải cân nhắc thận trọng, lường
trước hiệu quả, hậu quả, tác dụng giáo dục của việc khen, chê đồng thời tính đến đặc điểm tâm lý cá
nhân của người được khen hay bị chê.
3.2.3. Giải pháp 3: Tăng cường sự phối hợp giữa các lực lượng giáo dục: gia đình – nhà
trường – xã hội
3.2.3.1. Biện pháp 1: Chú trọng vai trò của gia đình trong công tác giáo dục kỹ năng
sống : Gia đình là tế bào của xã hội, là cái nôi thân yêu nuôi dưỡng cả đời người, là môi trường
quan trọng giáo dục nếp sống và hình thành nhân cách. Theo Ma-ca-ren-cô, “Gia đình là nhà
trường đầu tiên của đứa trẻ” [9, tr.2]. Con người được sinh ra từ gia đình và lớn lên từ nơi đó. Giáo
dục gia đình đem lại hiệu quả tích cực cho giáo dục nhân cách, nhất là về lối sống, giao tiếp, ứng
xử,… Việc phối hợp chặt chẽ với gia đình học sinh sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho nhà trường trong
việc giáo dục, rèn luyện các thao tác, kỹ năng, hình thành các thói quen, hành vi tốt; tránh tình trạng
“trống đánh xuôi, kèn thổi ngược”. Chính Bác Hồ, vào năm 1963, cũng đã nêu: “Gia đình, nhà
trường và xã hội là phương châm, phương tiện và phương pháp giáo dục, nếu không kết hợp được
thì không đạt được kết quả” [17, tr.43]. Muốn thế, ngay từ đầu năm học, Hiệu trưởng cần sớm có
kế hoạch hình thành và ổn định tổ chức Ban đại diẹn cha mẹ học sinh của lớp và của toàn trường để
nhà trường nắm chắc điều kiện, hoàn cảnh của học sinh đồng thời để cha mẹ học sinh cùng thấm
nhuần và thống nhất quan điểm, nội dung, phương pháp giáo dục con em mình, tạo điều kiện cho
con em học tập, rèn luyện và làm gương cho con em mình về các mặt. Trong năm học, giáo viên cần
chủ động phối hợp chặt chẽ với gia đình và địa phương để quản lý tốt quá trình học tập rèn luyện
của học sinh.
3.2.3.2. Biện pháp 2: Phát huy hơn nữa vai trò của tổ chức Đoàn – Đội trong công tác
giáo dục kỹ năng sống : Lứa tuổi Đội viên, học sinh trung học cơ sở là lứa tuổi mà tâm sinh lý
đang phát triển phức tạp đòi hỏi việc sinh hoạt, học tập, rèn luyện phải thường xuyên được đổi mới
về hình thức lẫn nội dung, về phương pháp, cách thức tổ chức các hoạt động giúp phát hiện năng
khiếu của trẻ, tạo điều kiện cho trẻ phát triển vừa giúp trẻ vui chơi giải trí vừa phải mang tính giáo
dục cao.
3.2.3.3.Biện pháp 3: Tăng cường phối hợp với chính quyền, với các đoàn thể chính trị
– xã hội ở địa phương trong công tác giáo dục kỹ năng sống: Theo K. Marx : “Hoàn cảnh đã
sáng tạo ra con người, trong chừng mực mà con người đã sáng tạo ra hoàn cảnh”. Trong việc giáo
dục cho trẻ có sự tác động, ảnh hưởng của điều kiện, hoàn cảnh xã hội. Chính vì thế, cần gắn chặt
từng bước việc học tập, sinh hoạt, giáo dục rèn luyện kỹ năng sống cho trẻ với thực tiễn cải tạo xã
hội, xây dựng môi trường. Cần phải có sự thống nhất trong phối hợp giáo dục học sinh giữa nhà
trường - gia đình - xã hội để tránh xảy ra mâu thuẫn, tréo ngoe. Đó cũng là một con đường để giáo
dục, phát triển nhân cách cho học sinh.
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Kết luận
Kết quả của đề tài nghiên cứu cho thấy trên cơ sở phân tích và nghiên cứu thực trạng quản lý
giáo dục kỹ năng sống cho học sinh bậc THCS, tác giả rút ra kết luận sau:
* Về mặt lý luận: - Việc nghiên cứu lý luận đã định hướng và xác lập cơ sở khoa học, giúp tác
giả nghiên cứu đề tài này nắm bắt một cách có hệ thống lý luận về quản lý bao gồm quản lý trường
học, quản lý các hoạt động giáo dục đặc biệt là quản lý việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh
THCS; giúp tác giả hệ thống được các nội dung, phương pháp giáo dục kỹ năng sống về mặt lý
thuyết hiện còn tản mạn bởi đây là đề tài còn khá mới đối với bậc học.
* Về thực trạng: Trên cơ sở điều tra xã hội học về thực trạng quản lý việc giáo dục kỹ năng
sống cho học sinh các trường THCS Quận 11, thành phố Hồ Chí Minh, tác giả đã thu thập được
những ý kiến đánh giá từ các khách thể được chọn khảo sát, phỏng vấn gồm cán bộ quản lý trường
THCS, giáo viên và học sinh Quận 11. Qua việc xử lý kết quả điều tra được, có thể khẳng định rằng
công tác quản lý việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh các trường THCS Quận 11 đã có những
ưu điểm sau:
+ Hầu hết Hiệu trưởng các trường đã bắt đầu quan tâm thực hiện tốt các nội dung quản lý việc
giáo dục kỹ năng sống cho học sinh căn cứ theo sự chỉ đạo của Bộ, Sở và Phòng giáo dục - đào
tạo.
+ Hiệu trưởng các trường THCS Quận 11, nhìn chung, đã nắm được nội dung quản lý việc giáo
dục kỹ năng sống cho học sinh và đã chú trọng xây dựng kế hoạch tăng cường nhận thức trong
đội ngũ thầy trò và các lực lượng giáo dục về hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh,
bước đầu có quan tâm tổ chức thực hiện công tác giáo dục kỹ năng sống cho học sinh.
+ Những kết quả đạt được trong công tác quản lý việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh
THCS đã góp phần tích cực cho hoạt động giáo dục hình thành nhân cách, phẩm chất đạo đức tốt
đẹp cho các em đồng thời góp phần xây dựng nên môi trường học tập thân thiện và tích cực bởi
những kỹ năng xác định giá trị, kỹ năng giao tiếp ứng xử mà các em rèn luyện được.
Tuy nhiên, vẫn còn một vài nội dung và biện pháp quản lý việc giáo dục kỹ năng sống
cho học sinh của Hiệu trưởng các trường THCS Quận 11, thành phố Hồ Chí Minh chưa thực sự đạt
hiệu quả cao như:
- Công tác quản lý cơ sở vật chất và sử dụng, khai thác sử dụng các phương tiện trang thiết bị
hỗ trợ cho các hoạt động giáo dục nói chung cho việc giáo dục kỹ năng sống nói riêng chưa đạt
được hiệu quả cao, còn bị gò bó bởi cơ chế quản lý, đặc biệt là quản lý tài chính.
- Công tác kiểm tra hoạt động giáo dục ở một số trường chưa thật sự đi vào chiều sâu, còn
mang tính đối phó, nặng về tính hành chính, sự vụ.
- Công tác quản lý xây dựng đội ngũ giáo viên có kỹ năng thực hành, sử dụng các trang thiết
bị, phương tiện hiện đại trong tổ chức thực hiện việc giáo dục kỹ năng sống chưa được các trường
chủ động thực hiện mà chủ yếu là dựa vào các lớp tập huấn, bồi dưỡng do ngành tổ chức.
- Đặc biệt, hiện nay trong các trường THCS Quận 11 vẫn chưa có được giáo trình chính thức
về giáo dục kỹ năng sống cho học sinh THCS nhằm giúp cho đội ngũ giáo viên và các lực lượng
giáo dục có cơ sở khoa học cũng như cơ sở pháp lý trong việc thực hiện giáo dục kỹ năng sống cho
trẻ.
Những hạn chế của công tác giáo dục kỹ năng sống cho học sinh bậc THCS có nguyên nhân từ
nhiều phía song nguyên nhân về quản lý dù khách quan hay chủ quan bao giờ cũng giữ vai trò quyết
định. Vì thế, tác giả thiết nghĩ cần phải thực hiện các giải pháp với một số biện pháp cụ thể được đề
nghị gồm:
* Giải pháp 1: Nâng cao nhận thức của các lực lượng giáo dục về ý nghĩa, lợi ích của hoạt
động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh.
* Giải pháp 2 : Tăng cường các biện pháp tổ chức, quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống
của Hiệu trưởng.
* Giải pháp 3: Tăng cường sự phối hợp giữa các lực lượng giáo dục: gia đình – nhà trường –
Kiến nghị :
xã hội.
– Đối với ngành (Bộ, Sở và Phòng giáo dục- đào tạo nói chung):
Cần thường xuyên tổ chức các buổi sinh hoạt chuyên đề, hội thảo về giáo dục kỹ năng sống
và quản lý việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh THCS để CBQL và giáo viên các trường
tham dự học tập.
Chú trọng xây dựng và triển khai giáo trình cùng với phân phối chương trình giáo dục kỹ
năng sống cho học sinh từng khối lớp thuộc bậc THCS làm cơ sở khoa học và cơ sở pháp lý.
– Đối với Phòng giáo dục Quận 11 :
Tham mưu với UBND Quận xây dựng đầy đủ các phòng học, phòng chức năng, trang bị mới
các phương tiện vật chất trang thiết bị hiện đại hỗ trợ hoạt động giáo dục cho các trường
nhằm giảm sĩ số học sinh trong một lớp đảm bảo thực hiện có chất lượng các hoạt động giáo
dục theo hướng đổi mới giáo dục.
Tăng cường công tác bồi dưỡng, tập huấn cho các lực lượng giáo dục về nội dung, phương
pháp cụ thể tổ chức hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh.
– Đối với các trường THCS tại Quận 11 :
Hiệu trưởng các trường cần phải phân tích đúng thực trạng công tác quản lý của nhà trường,
phải thường xuyên nghiên cứu và cập nhật, áp dụng các biện pháp quản lý phù hợp để nâng
cao chất lượng công tác quản lý.
Có kế hoạch và biện pháp cụ thể hơn nữa trong việc chỉ đạo, kiểm tra công tác giáo dục kỹ
năng sống cho học sinh THCS.
Tăng cường công tác xã hội hoá giáo dục, thu hút các nguồn lực tham gia vào hoạt động giáo
dục nhằm tăng cường cơ sở vật chất và trang thiết bị dạy học để phục vụ cho hoạt động giảng
dạy và giáo dục của nhà trường.
Cần chú trọng tạo điều kiện hơn nữa đối với các lực lượng nòng cốt như cán bộ Đoàn, Đội, tổ
trưởng chuyên môn,… trong việc bồi dưỡng nâng cao trình độ, năng lực hoạt động giáo dục,
nhất là họat động giáo dục kỹ năng sống là mảng họat động còn khá mới đối với bậc học.
TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Nguyễn Võ Kỳ Anh (1998), Bộ Giáo dục đào tạo, Vụ giáo dục thể chất, Giáo dục kỹ năng sống
trong giáo dục sức khỏe cho học sinh, Cục xuất bản Bộ Văn hóa, Hà Nội.
2. Bộ Giáo dục đào tạo (2000), Điều lệ trường trung học, NXB Giáo dục, Hà Nội.
3. Lê Thị Bừng, Hải Vang (2007), Tâm lý học ứng xử, NXB Giáo dục, Hà Nội.
4. Nguyễn Đức Chữ (2007), Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm, Trường Đại học Cần Thơ.
5. Quang Dương (2008), “Thái độ sống và kỹ năng sống chưa được quan tâm giáo dục?”, Hội
thảo tại Viện nghiên cứu giáo dục - Trường Đại học Sư phạm Tp. Hồ Chí Minh.
6. Đảng Cộng sản Việt Nam (1997), Văn kiện Hội nghị lần thứ II, Ban Chấp hành Trung ương
khoá VIII, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
7. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nhà xuất bản
Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
8. Nguyễn Minh Đạo (1997), Cơ sở của khoa học quản lý, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà
Nội.
9. Thiên Giang (2001), Gia đình giáo dục, Nhà xuất bản Tp. Hồ Chí Minh.
10. Phạm Minh Hạc (2002), Giáo dục thế giới đi vào thế kỷ XXI, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia,
Hà Nội.
11. Lê Huỳnh (2008), “Những bài học đầu đời quan trọng nhất đối với con trẻ”, Trung tâm đào tạo
Huấn luyện viên Việt Nam.
12. Harold Koontz, Cyril Odnnell, Heinz Weihrich (1999), Những vấn đề cốt yếu của quản lý, Nhà
xuất bản khoa học và kỹ thuật, Hà Nội.
13. DDK (2006), “Tuổi teen: nhiều bất ổn tâm lý khó lường”, http://tintuconline.com.vn.
14. Phan Kim Khanh (2003), Hiệu trưởng quản lý hoạt động giáo dục thể chất ở trường trung học
cơ sở, Trường Cán bộ QLGD Tp. Hồ Chí Minh.
15. Trần Kiểm (2004), Khoa học quản lý giáo dục - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, NXB Giáo
dục, Tp. Hồ Chí Minh.
16. Nguyễn Lân (1989), Từ điển Từ và ngữ Hán Việt, NXB Giáo dục, Tp. Hồ Chí Minh.
17. Hồ Văn Liên (2007), Tổ chức quản lý hoạt động giáo dục, Trường Đại học Sư phạm Tp. Hồ Chí
Minh.
18. Luật Giáo dục (2005), Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
19. Nguyễn Minh Lý, Phan Kim Khanh (2003), Nghiệp vụ quản lý trường THCS, tập 4, Trường
Cán bộ QLGD Tp. Hồ Chí Minh.
20. Kim Oanh (2003), Nhìn thấu lòng người, NXB Thanh niên.
21. Nguyễn Thị Oanh (2006), Mười cách thức rèn kỹ năng sống cho trẻ vị thành niên, NXB Trẻ,
Tp. Hồ Chí Minh.
22. Nguyễn Ngọc Quang (1989), Những khái niệm cơ bản về lý luận quản lý giáo dục , Trường
CBQLGD-ĐT I, Hà Nội.
23. Nguyễn Bá Sơn (2000), Một số vấn đề cơ bản về khoa học quản lý, NXB Trẻ, Tp. Hồ Chí Minh.
24. Nguyễn Minh Sơn (2008), “Kỹ năng sống, tiếp cận con em ta bằng cách nào?”,
www.thanhnien.com.vn.
25. Hoàng Tâm Sơn (2007), “Bài giảng Khoa học quản lý giáo dục”, Trường Đại học Sư phạm Tp.
Hồ Chí Minh.
26. Huỳnh Văn Sơn (2007), “Tự đánh giá về mình - thước đo đầu tiên của kỹ năng sống”, Trường
Đại học Sư phạm Tp. Hồ Chí Minh.
27. Huỳnh Văn Sơn (2008), “Kỹ năng sống, ai cũng cần nhưng không phải ai cũng có”,
http://www.dai-ichi-life.com.vn/vn/article22.asp.
28. Huỳnh Văn Sơn (2008), Tài liệu đọc thêm, Lớp huấn luyện “Bạn trẻ và kỹ năng sống”, DAI-
ICHI-LIFE Tp. Hồ Chí Minh .
29. Lê Phương Thúy hoảng tuổi thanh thiếu (2007), “Khủng niên”,
http://www.songmanhonline.com
30. Trần Duy Thực (2006), “Tâm lý tuổi dậy thì”, http://www.nutifood.com.vn.
31. Đoan Trúc, Hoàng Lê (2006), “Trẻ tự tử tập thể: bỏ ngõ kỹ năng sống?”, VietNamNet.
32. Thế Uyên (2007), “Dạy kỹ năng sống- tại sao không?”, Báo Lao động, số 44, 26/02/2007.
33. Tâm Việt Group (2007), “Kỹ năng hay là chết!”, xem từ Internet.
34. UNICEFF- Quỹ Trẻ em Liên Hợp Quốc (2008), “Một số mảng kỹ năng sống”, xem từ Internet.
35. Phạm Viết Vượng (1998), Phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục, Nhà xuất bản Giáo dục,
Hà Nội.
36. Website Bộ Giáo Dục và Đào Tạo: www.moet.gov.vn
37. Webite Sở Giáo Dục và Đào Tạo Thành phố Hồ Chí Minh: www.hcm.edu.vn
38. Who - Tổ chức Y tế thế giới (2008), “ Đào tạo kỹ năng sống”, xem từ Internet.
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH PHÒNG KHOA HỌC CÔNG NGHỆ - SAU ĐẠI HỌC
PHIẾU KHẢO SÁT ( MẪU 1) (Dành cho CÁN BỘ QUẢN LÝ, GIÁO VIÊN tại các trường trung học cơ sở)
- BGH (cid:0)
- Tiến sĩ (cid:0)
- Nam (cid:0)
Kính thưa Quý Thầy (Cô), Nhằm thu thập thông tin cho đề tài khoa học nghiên cứu về công tác quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tại các trường THCS tại Quận 11 Thành phố Hồ Chí Minh làm cơ sở đề ra biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động này. Xin Quý Thầy (Cô) vui lòng cho ý kiến riêng của mình về các thông tin liên quan dưới đây bằng cách đánh dấu X vào ô tương ứng trong các bảng hỏi sau. Chân thành cảm ơn Quý Thầy (Cô). I. PHẦN THÔNG TIN CÁ NHÂN 1. Công việc: - GV (cid:0) - GVCN (cid:0) 2. Trình độ chuyên môn: - Cử nhân (cid:0) 3. Giới tính 4. Thâm niên công tác: - Dưới 5 năm (cid:0) - TTCM (cid:0) - Thạc sĩ (cid:0) - Khác (cid:0) - Nữ (cid:0)
- Từ 16 đến 25 năm (cid:0) - Từ 6 đến 15 năm (cid:0) - 25 năm trở lên (cid:0)
II. PHẦN Ý KIẾN CÁ NHÂN
5. Đơn vị công tác (Trường): ..................................................................................
Cần
TT
Câu 1/ Xin thầy (cô) cho biết theo thầy (cô), ngày nay kỹ năng sống cần cho học sinh gồm những kỹ năng nào?
Rất cần
Không cần
Hoàn toàn không cần
Lúc cần lúc không
1 Kỹ năng kiếm sống và tay nghề
2
Kỹ năng
3 Các kỹ năng vận động thể chất
4
Những kỹ năng có liên quan đến thực hành sức khỏe
5 Các kỹ năng học tập 6 Kỹ năng ghi nhớ 7 Kỹ năng tính toán
8 Kỹ năng soạn thảo văn bản thông thường
9 Kỹ năng sắp xếp thời gian 10 Kỹ năng sáng tạo 11 Kỹ năng sống trong cộng đồng 12 Kỹ năng thông tin 13 Kỹ năng tự nhận biết bản thân
Các kỹ năng có liên quan đến hành vi và giao tiếp
14 Kỹ năng giải quyết vấn đề riêng tư
15 Kỹ năng kiểm soát cảm xúc
16
17 Kỹ năng sống thực tế 18 Kỹ năng lịch thiệp 19 Kỹ năng nhận biết trách nhiệm 20 Kỹ năng vươn lên
Câu 2/ Theo thầy (cô) hiện nay học sinh trung học cơ sở đã có được những kĩ năng cụ thể nào và kỹ năng nào là cần thiết? Thầy (Cô) nhớ trả lời 2 cột.
Cần
Có
Kỹ năng lập kế hoạch tài chính cho bản thân
Chưa có
Rất cần
Không cần
TT Kỹ năng
1 Kỹ năng giao tiếp 2 Kỹ năng sử dụng máy tính 3 Ứng xử 4 Kỹ năng học tập
5 Kỹ năng sống 6 Kỹ năng định hướng các giá trị
7 Kỹ năng chăm sóc sức khỏe
8 Kỹ năng tư duy
9 Kỹ năng quản lý trò chơi
10 Kỹ năng thuyết phục
11 Kỹ năng thương lượng
12 Kỹ năng sử dụng trang thiết bị
13
14
15
16
17
18
19
20
21
22 Kỹ năng quan tâm đến nhu cầu của người khác Kỹ năng biết đặt mình vào vai trò của người khác Kỹ năng tử tế với những người xung quanh. Kỹ năng diễn tả một cách hoạt bát qua viết và nói. Kỹ năng lý giải một cách hoạt bát qua viết và nói. Kỹ năng thể hiện thái độ chừng mực trong giao tiếp với người khác Kỹ năng sử dụng ngôn ngữ không lời trong giao tiếp với người khác Kỹ năng thể hiện sự đồng cảm trong giao tiếp với người khác Kỹ năng cảm nhận tâm trạng của người đối thoại Kỹ năng nhận biết lập trường của bản
23
24
25
26 27 28 29
30
31
32
33 34
35
36
37 38
39
40
41 42 thân Kỹ năng nhận biết vị thế xã hội của bản thân Kỹ năng nhận biết niềm tin của bản thân Kỹ năng nhận biết khả năng của bản thân Kỹ năng làm chủ xúc cảm của bản thân Kỹ năng tự khẳng định của bản thân Kỹ năng độc lập suy nghĩ của bản thân Kỹ năng đối đầu với những vấn đề tình cảm riêng tư của bản thân Kỹ năng giải quyết những vấn đề liên quan đến giới tính của bản thân Kỹ năng giải quyết những vấn đề liên quan đến sức khỏe của bản thân Kỹ năng giải quyết những vấn đề tế nhị đối với bạn khác giới của bản thân Kỹ năng kiềm hãm tính nông nỗi Kỹ năng giải quyết vấn đề bằng suy nghĩ chín chắn Kỹ năng thể hiện một con người trưởng thành Kỹ năng lập kế hoạch chi tiêu theo khả năng tài chánh của bản thân Kỹ năng sống độc lập về tài chánh Kỹ năng biết đánh giá đúng giá trị của sự vật và bản thân Kỹ năng biết chi tiêu theo khả năng thu nhập của bản thân Kỹ năng kiềm hãm những nhu cầu không cần thiết của bản thân Kỹ năng tổ chức cuộc sống hằng ngày Kỹ năng nấu các món thông thường
43 44
45 46
47
48
49
Kỹ năng dọn dẹp nhà cửa Kỹ năng sắp xếp phòng riêng của bản thân Kỹ năng chăm sóc thể chất bản thân Kỹ năng sử dụng các công cụ cơ khí trong sửa chữa vật dụng thông thường trong nhà Kỹ năng sử dụng năng lượng một cách tiết kiệm Kỹ năng xưng hô lịch thiệp với người khác Kỹ năng trình bày bằng văn bản một cách lịch sự
50
51
52
53
54
55
56
57
58
59
60
61
Câu 3/ Theo thầy (cô) thì việc hướng dẫn kỹ năng sống cho học sinh cần thực hiện ở đâu? (Gia đình, nhà trường hay tổ chức đoàn thể xã hội nào?)
62 Kỹ năng thể hiện lòng biết ơn người khác Kỹ năng thể hiện lòng tôn trọng người khác Kỹ năng thể hiện những quy ước giao tiếp (như bắt tay, chào hỏi lịch sự ) Kỹ năng dám chịu trách nhiệm về việc làm của bản thân Kỹ năng nhận biết trách nhiệm và thực hiện việc giúp đỡ người khác (cho dù chưa quen biết) Kỹ năng nhận biết trách nhiệm và thực hiện các hoạt động chung của cộng đồng, đất nước Kỹ năng nhận biết trách nhiệm và đóng góp vào sự phát triển của cộng đồng, đất nước Kỹ năng nhận biết và thực hiện trách nhiệm đối với gia đình Kỹ năng nhận biết trách nhiệm và giúp đỡ đối với người thân Kỹ năng đối mặt với những thất bại trong cuộc sống Kỹ năng xác định, thực hiện có kết quả mục tiêu trong các giai đoạn cuộc đời Kỹ năng chống lại những điều không thỏa mãn trong cuộc sống Kỹ năng thực hiện những công việc làm tăng tính tự trọng của bản thân
(cid:0) (cid:0) (cid:0) (cid:0)
A. Gia đình B. Nhà trường C. Tổ chức đoàn thể xã hội như Đoàn, Đội D. Tất cả các ý nêu trên
Đúng
Sai
Câu 4/ Xin thầy (cô) hãy cho biết lý do tại sao học sinh chúng ta chưa hình thành được những kỹ năng sống cần thiết cho chính các em?
Lúc đúng lúc không
Rất đúng
Hoàn toàn sai
TT Nguyên nhân
1 Trình độ dân trí
2 Phương pháp giáo dục
3 Điều kiện xã hội
4 Phụ huynh nuông chiều
5 Các em ít có điều kiện giao tiếp
ngoài xã hội
6 Thời gian học tập của các em chiếm quá nhiều
7 Các em ít có điều kiện thực hành
8 Các em ít có điều kiện luyện tập
9 Các em ỷ lại gia đình
10 Các em chưa ý thức được tầm quan trọng của kĩ năng sống
11 Các em chưa được g/ dục định hướng
12 Các em chưa nhận thức được sự cần thiết của kỹ năng sống
14
Câu 5/ Theo thầy (cô) bộ phận (đơn vị) nào quản lý việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trung học cơ sở là hiệu quả?
Đúng
Sai
15 13 Các em thiếu giờ sinh hoạt vui chơi Các em thiếu các sinh hoạt ngoại khóa đa dạng Tri thức học được trong nhà trường của các em chưa gắn với thực tiễn cuộc sống
Rất đúng
Lúc đúng lúc không
Hoàn toàn sai
TT Đơn vị quản lý
1. Nhaø tröôøng
2. Loàng gheùp daïy kyõ naêng vaøo vieäc
daïy kieán thöùc 3. Giaùo vieân boä moân
4. Ban giaùm hieäu
5. Phuï huynh
6. Gia ñình
7. Chính quyeàn ñòa phöông
8. Hoäi ñoàng sö phaïm
Câu 6/ Theo thầy (cô) bộ phận (lực lượng) nào thực hiện việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trung học cơ sở là hiệu quả?
Đúng
Sai
9. Phoøng Giaùo duïc
Rất đúng
Hoàn toàn sai
Lúc đúng lúc không
TT Lực lượng thực hiện
1. Giáo viên bộ môn 2. Phụ huynh
3. Nội dung mỗi môn học đều có khả năng
dạy kỹ năng sống
4. Tổ chức Đoàn Đội
5. Giáo viên chủ nhiệm
Câu 7/ Theo thầy (cô) những môn học nào, những hoạt động nào có thể góp phần vào việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh?
Đúng
Sai
6. Tổng phụ trách đội
Rất đúng
Hoàn toàn sai
Lúc đúng lúc không
TT Môn học và hoạt động góp phần vào việc giáo dục kỹ năng sống
1 Tất cả môn học ở trường
2 Giáo dục hướng nghiệp
3 Công tác giáo dục ngoài giờ lên lớp
4 Hoạt động vui chơi
5 Môn Toán
6
Hoạt động hình thành kỹ năng suy luận, phán đoán 7 Môn Ngữ văn
8 Hoạt động hình thành kỹ năng giao tiếp
9 Môn Giáo dục thể chất
10 Môn Giáo dục công dân
11 Hoạt động xã hội ngoài giờ lên lớp
12 Các môn Khoa học Xã hội
13 Các môn Khoa học Tự nhiên
14 Các môn Năng khiếu (Nhạc, Họa)
17. Hoạt động từ thiện
18. Sinh hoạt chủ nhiệm
Câu 8/ Theo thầy (cô) các nội dung quản lý việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh sau đây đã được Hiệu trưởng chỉ đạo thực hiện đạt mức độ nào?
Tốt
Khá
Các nội dung quàn lý đã thực hiện
Trung bình
Còn yếu
Số thứ tự
15 Phong trào Đoàn Đội 16. Hoạt động Văn nghệ
1
2 Quản lý việc phân công cho giáo viên thực hiện mục tiêu giáo dục kỹ năng sống Quản lý việc thực hiện kế hoạch và nội dung giáo dục
3
4
Câu 9/ Theo thầy (cô) các biện pháp quản lý việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh sau đây đã được Hiệu trưởng thực hiện đạt mức độ nào?
Tốt
Khá
Trung bình
Còn yếu
Các biện pháp quàn lý đã thực hiện
Số thứ tự 1 Quản lý mục tiêu, kế hoạch 2 Quản lý số lượng, chất lượng 3 Quản lý xây dựng đội ngũ 4 Quản lý đầu tư cơ sở vật chất 5 Công tác kiểm tra, đánh giá
Xin chân thành cảm ơn Quý Thầy (Cô). Trân trọng kính chào!
5 Quản lý công tác bồi dưỡng đội ngũ giáo viên và tổ chức tốt các hoạt động trường, lớp Quản lý công tác phối hợp các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường Quản lý phương tiện, môi trường giáo dục và các điều kiện hỗ trợ hoạt động giáo dục kỹ năng sống
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH PHÒNG KHOA HỌC CÔNG NGHỆ - SAU ĐẠI HỌC
PHIẾU KHẢO SÁT ( MẪU 2) (Dành cho HỌC SINH tại các trường trung học cơ sở)
Các em học sinh thân mến, Nhằm thu thập thông tin cho việc nghiên cứu về công tác quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tại các trường THCS tại Quận 11 Tp. Hồ Chí Minh làm cơ sở đề ra biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động này. Mong các em vui lòng trả lời các thông tin liên quan dưới đâytheo ý kiến riêng của các em bằng cách đánh dấu X vào ô tương ứng trong bảng hỏi. Cảm ơn các em.
Trước hết, em hãy cho biết thông tin cá nhân của mình:
- Nam (cid:0)
- Nữ (cid:0) - 16 (cid:0) - khác (cid:0)
- 15 (cid:0) - 9 (cid:0)
6. Giới tính 7. Tuổi: - 14 (cid:0) 8. Học lớp: - 8 (cid:0) 9. Trường : ..............................................................................................................
Cần
TT
Câu 1/ Theo em, hiện nay em cần có những kỹ năng sống nào?
Rất cần
Không cần
Hoàn toàn không cần
Lúc cần lúc không
1 Kỹ năng kiếm sống và tay nghề
2
Kỹ năng
3 Các kỹ năng vận động thể chất
4
Những kỹ năng có liên quan đến thực hành sức khỏe
5 Các kỹ năng học tập 6 Kỹ năng ghi nhớ 7 Kỹ năng tính toán
8 Kỹ năng soạn thảo văn bản thông thường
9 Kỹ năng sắp xếp thời gian 10 Kỹ năng sáng tạo 11 Kỹ năng sống trong cộng đồng 12 Kỹ năng thông tin 13 Kỹ năng tự nhận biết bản thân
14 Kỹ năng giải quyết vấn đề riêng tư
15 Kỹ năng kiểm soát cảm xúc
16
Các kỹ năng có liên quan đến hành vi và giao tiếp
17 Kỹ năng sống thực tế
Kỹ năng lập kế hoạch tài chính cho bản thân
18 Kỹ năng lịch thiệp 19 Kỹ năng nhận biết trách nhiệm 20 Kỹ năng vươn lên
Câu 2/ Hiện nay em đã có những kỹnăng nào và kỹ năng nào là cần thiết? Nhớ trả lời 2 cột.
Cần
Có
Chưa có
Rất cần
Không cần
TT Kỹ năng
1 Kỹ năng giao tiếp 2 Kỹ năng sử dụng máy tính 3 Ứng xử 4 Kỹ năng học tập
5 Kỹ năng sống 6 Kỹ năng định hướng các giá trị
7 Kỹ năng chăm sóc sức khỏe
8 Kỹ năng tư duy
9 Kỹ năng quản lý trò chơi
10 Kỹ năng thuyết phục
11 Kỹ năng thương lượng
12 Kỹ năng sử dụng trang thiết bị
13
14
15
16
17
18
19
20
21
22
23
24
25
Kỹ năng quan tâm đến nhu cầu của người khác Kỹ năng biết đặt mình vào vai trò của người khác Kỹ năng tử tế với những người xung quanh. Kỹ năng diễn tả một cách hoạt bát qua viết và nói. Kỹ năng lý giải một cách hoạt bát qua viết và nói. Kỹ năng thể hiện thái độ chừng mực trong giao tiếp với người khác Kỹ năng sử dụng ngôn ngữ không lời trong giao tiếp với người khác Kỹ năng thể hiện sự đồng cảm trong giao tiếp với người khác Kỹ năng cảm nhận tâm trạng của người đối thoại Kỹ năng nhận biết lập trường của bản thân Kỹ năng nhận biết vị thế xã hội của bản thân Kỹ năng nhận biết niềm tin của bản thân Kỹ năng nhận biết khả năng của bản thân
26 27 28 29
30
31
32
33 34
35
36
37 38
39
40
41 42 43 44
45 46
47
48
49
50
51
52 Kỹ năng làm chủ xúc cảm của bản thân Kỹ năng tự khẳng định của bản thân Kỹ năng độc lập suy nghĩ của bản thân Kỹ năng đối đầu với những vấn đề tình cảm riêng tư của bản thân Kỹ năng giải quyết những vấn đề liên quan đến giới tính của bản thân Kỹ năng giải quyết những vấn đề liên quan đến sức khỏe của bản thân Kỹ năng giải quyết những vấn đề tế nhị đối với bạn khác giới của bản thân Kỹ năng kiềm hãm tính nông nỗi Kỹ năng giải quyết vấn đề bằng suy nghĩ chín chắn Kỹ năng thể hiện một con người trưởng thành Kỹ năng lập kế hoạch chi tiêu theo khả năng tài chánh của bản thân Kỹ năng sống độc lập về tài chánh Kỹ năng biết đánh giá đúng giá trị của sự vật và bản thân Kỹ năng biết chi tiêu theo khả năng thu nhập của bản thân Kỹ năng kiềm hãm những nhu cầu không cần thiết của bản thân Kỹ năng tổ chức cuộc sống hằng ngày Kỹ năng nấu các món thông thường Kỹ năng dọn dẹp nhà cửa Kỹ năng sắp xếp phòng riêng của bản thân Kỹ năng chăm sóc thể chất bản thân Kỹ năng sử dụng các công cụ cơ khí trong sửa chữa vật dụng thông thường trong nhà Kỹ năng sử dụng năng lượng một cách tiết kiệm Kỹ năng xưng hô lịch thiệp với người khác Kỹ năng trình bày bằng văn bản một cách lịch sự Kỹ năng thể hiện lòng biết ơn người khác Kỹ năng thể hiện lòng tôn trọng người khác Kỹ năng thể hiện những quy ước giao tiếp (như bắt tay, chào hỏi lịch sự )
53
54
55
56
57
58
59
60
61
Câu 3/ Theo em thì việc hướng dẫn kỹ năng sống cho học sinh cần thực hiện ở đâu? (Gia đình, nhà trường hay tổ chức đoàn thể xã hội nào?)
E. Gia đình
F. Nhà trường
G. Tổ chức đoàn thể xã hội như Đoàn, Đội
H. Tất cả các ý nêu trên
(cid:0) (cid:0) (cid:0) (cid:0)
62 Kỹ năng dám chịu trách nhiệm về việc làm của bản thân Kỹ năng nhận biết trách nhiệm và thực hiện việc giúp đỡ người khác (cho dù chưa quen biết) Kỹ năng nhận biết trách nhiệm và thực hiện các hoạt động chung của cộng đồng, đất nước Kỹ năng nhận biết trách nhiệm và đóng góp vào sự phát triển của cộng đồng, đất nước Kỹ năng nhận biết và thực hiện trách nhiệm đối với gia đình Kỹ năng nhận biết trách nhiệm và giúp đỡ đối với người thân Kỹ năng đối mặt với những thất bại trong cuộc sống Kỹ năng xác định, thực hiện có kết quả mục tiêu trong các giai đoạn cuộc đời Kỹ năng chống lại những điều không thỏa mãn trong cuộc sống Kỹ năng thực hiện những công việc làm tăng tính tự trọng của bản thân
Đúng
Sai
Câu 4/ Em hãy cho biết lý do tại sao học sinh chúng ta chưa hình thành được những kỹ năng sống cần thiết cho chính các em?
Rất đúng
Hoàn toàn sai
Lúc đúng lúc không
Nguyên nhân TT
1 Trình độ dân trí
2 Phương pháp giáo dục
3 Điều kiện xã hội
4 Phụ huynh nuông chiều
5
6 Các em ít có điều kiện giao tiếp ngoài xã hội Thời gian học tập của các em chiếm quá nhiều
7 Các em ít có điều kiện thực hành
8 Các em ít có điều kiện luyện tập
9 Các em ỷ lại gia đình
10 Các em chưa ý thức được tầm quan trọng của kĩ năng sống
11 Các em chưa được giáo dục định hướng
12 Các em chưa nhận thức được sự cần thiết của kĩ năng sống
13 Các em thiếu giờ sinh hoạt vui chơi
14
Cảm ơn các em.
15 Các em thiếu các sinh hoạt ngoại khóa đa dạng Tri thức học được trong nhà trường của các em chưa gắn với thực tiễn cuộc sống
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH PHÒNG KHOA HỌC CÔNG NGHỆ - SAU ĐẠI HỌC
PHIẾU KHẢO SÁT ( MẪU 3) (Dành riêng cho HIỆU TRƯỞNG trường trung học cơ sở)
ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH TRƯỜNG THCS . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . NĂM HỌC 2008 – 2009
Kính thưa Quý Thầy (Cô), Nhằm thu thập thông tin cho đề tài khoa học nghiên cứu về công tác quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tại các trường THCS tại Quận 11 Thành phố Hồ Chí Minh làm cơ sở đề ra biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động này. Xin Quý Thầy (Cô) vui lòng chia sẻ điền giúp cho các số liệu, thông tin liên quan dưới đây. Chân thành cảm ơn Quý Thầy (Cô).
a) Về Cán bộ-Giáo viên :
Giới tính
Thâm niên công tác
Tổng
Nữ
ĐH Sau ĐH CĐ
Dưới 5 năm
Từ 6 – 15 năm
Từ 16 – 25 năm
Trên 25 năm
SL % SL % SL % SL % SL % SL % SL % SL % SL %
CBQL
Giáo viên
Tổng số CB-GV-CNV: . . . . . . . . . . . người Trong đó: CBQL: . . . . . . . người GV: . . . . . . người Tổng số GV hiện chủ nhiệm các lớp, giảng dạy các bộ môn ở 2 khối 8, 9: . . . . . . . Trình độ chuyên môn
Thành phần gia đình
Nữ
Dân tộc Hoa
Tổng số
Khối lớp Số lớp
CB-CNV
Lao động
HS
SL %
SL %
SL %
SL %
6
7
8
9
b) Về Học sinh :
Tổng cộng
c) Về đặc điểm tình hình trường :
* Trường thuộc địa bàn phường nào ? Những thuận lợi, khó khăn (cơ bản) của trường trong công tác giáo dục, giảng dạy học sinh ?
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
* Đặc điểm nguồn học sinh vào trường ? (Từ những phường nào, trường tiểu học nào, trình độ đầu vào, thành phần gia đình và sự quan tâm của CMHS đối với việc học tập của con em ? Ý thức học tập, rèn luyện của các em, nhất là các kỹ năng học tập, giao tiếp ứng xử ? )
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
* Đặc điểm của học sinh khối 8, 9 của trường trong năm học này ? (Về tâm lý, ý thức của các em trong học tập và tham gia các hoạt động phong trào, sự quan tâm của CMHS,…) ...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
* Các nội dung, hình thức tổ chức giáo dục kỹ năng sống cho học sinh khối 8, 9 trong thực hiện chủ đề xây dựng “trường học thân thiện, học sinh tích cực” mà trường đã thực hiện được ? Bộ phận nào thực hiện? (GVCN, Đoàn-Đội, Cán bộ Y tế, Cán bộ Thư viện hay GVBM nào ?) Kết quả? ...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
Một lần nữa, chân thành cảm ơn Quý Thầy (Cô). Trân trọng kính chào.

