BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN THỊ HẢI VÂN
ĐỊNH HƢỚNG PHÁT TRIỂN
KẾ TOÁN ĐIỀU TRA TẠI VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP. Hồ Chí Minh - Năm 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN THỊ HẢI VÂN
PHÁT TRIỂN
KẾ TOÁN ĐIỀU TRA TẠI VIỆT NAM
Chuyên ngành: Kế toán
Mã số: 60340301
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. TRẦN KHÁNH LÂM
TP. Hồ Chí Minh - Năm 2015
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập của tôi với sự hướng dẫn của
Tiến sĩ Trần Khánh Lâm. Tất cả nguồn tài liệu tham khảo đã được công bố đầy đủ.
Nội dung của luận văn là trung thực.
Người viết
Nguyễn Thị Hải Vân
MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục chữ viết tắt
Danh mục các bảng, biểu đồ và hình vẽ
MỞ ĐẦU ................................................................................................................ 1
CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VỀ GIAN LẬN VÀ KẾ TOÁN ĐIỀU TRA ............................................................................................................. 5
1.1. Tổng quát về gian lận .................................................................................. 5
1.1.1. Định nghĩa về gian lận ........................................................................... 5
1.1.2. Lịch sử phát triển gian lận ..................................................................... 6
1.1.3. Các nghiên cứu về gian lận .................................................................... 7
1.1.3.1. Về học thuật ...................................................................................... 7
1.1.3.2. Nghiên cứu của các tổ chức nghề nghiệp .......................................... 9
1.2. Trách nhiệm phát hiện gian lận ................................................................ 11
1.2.1. Tổng quát từ các nghiên cứu của ACFE ............................................. 11
1.2.2. Trách nhiệm phát hiện gian lận của kiểm toán viên độc lập theo chuẩn mực quốc tế và Việt Nam. .............................................................................. 13
1.2.2.1. Chuẩn mực kiểm toán quốc tế ......................................................... 14
1.2.2.2. Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam ...................................................... 18
1.3. Giới thiệu kế toán điều tra ........................................................................ 20
1.3.1. Khái quát về kế toán điều tra................................................................ 20
1.3.1.1. Định nghĩa về kế toán điều tra ........................................................ 22
1.3.1.2. Công việc kế toán điều tra ............................................................... 22
1.3.1.3. Phân biệt kế toán điều tra (Forensic Accounting) ........................... 24
1.3.2. Một số nghiên cứu về kế toán điều tra ................................................. 26
1.3.3. Kinh nghiệm phát triển kế toán điều tra tại một số nước trên thế giới 29
1.3.3.1. Canada ........................................................................................... 29
1.3.3.2. Australia ......................................................................................... 29
1.3.3.3. Hoa Kỳ ............................................................................................ 29
1.4. Tóm tắt chƣơng 1 ...................................................................................... 30
CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG NHU CẦU KẾ TOÁN ĐIỀU TRA TẠI VIỆT NAM ..................................................................................................................... 32
2.1. Tình hình gian lận tại Việt Nam từ năm 2009 đến nay ............................ 32
2.1.1. Một số loại tội phạm kinh tế trong luật pháp Việt Nam ....................... 32
2.1.1.1. Tội tham ô tài sản ........................................................................... 32
2.1.1.2. Tội cố ý làm trái các quy định về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng. ........................................................................................................... 32
2.1.1.3. Tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản............................................... 33
2.1.2. Phân biệt kế toán điều tra và việc điều tra của các cơ quan Nhà nước34
2.1.2.1. Giống nhau ..................................................................................... 34
2.1.2.2. Khác nhau ....................................................................................... 34
2.1.3. Tình hình gian lận tại Việt Nam từ năm 2009 đến nay ....................... 35
2.2. Thiết kế nghiên cứu ................................................................................... 36
2.3. Phƣơng pháp nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu .................................... 38
2.3.1. Chọn mẫu ............................................................................................. 38
2.3.2. Phương pháp phân tích ........................................................................ 39
2.4. Phân tích dữ liệu ........................................................................................ 43
2.4.1. Mô tả mẫu ............................................................................................ 43
2.4.1.1. Các đặc điểm cá nhân ..................................................................... 43
2.4.1.2. Tóm tắt các câu trả lời bảng khảo sát ............................................. 45
2.4.2. Đánh giá thang đo ................................................................................ 49
2.4.2.1. Phân tích nhân tố khám phá (EFA) ................................................. 49
2.4.2.2. Kiểm tra độ tin cậy của thang đo .................................................... 51
2.4.3. Kiểm định giả thuyết nghiên cứu ......................................................... 53
2.4.4. Kết luận ................................................................................................ 56
2.5. Tóm tắt chƣơng 2 ...................................................................................... 56
CHƢƠNG 3: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ...................................................... 58
3.1. Kết luận ...................................................................................................... 58
3.2. Các cơ hội và khó khăn trong phát triển kế toán điều tra tại các nƣớc đang phát triển nói chung và Việt Nam nói riêng ........................................... 64
3.2.1. Cơ hội ................................................................................................ 64
3.2.2. Các khó khăn ..................................................................................... 66
3.3. Đề xuất các giải pháp phát triển kế toán điều tra tại Việt Nam .............. 68
3.3.1. Về đào tạo ............................................................................................. 68
3.3.1.1. Đào tạo trong nhà trường ............................................................... 68
3.3.1.2. Đào tạo nghề nghiệp ....................................................................... 70
3.3.2. Về môi trường giám sát, pháp lý, phối hợp .......................................... 70
3.3.2.1. Về phía cơ quan Nhà nước ............................................................... 70
3.3.2.2. Về phía công ty kiểm toán ................................................................. 75
3.3. Hạn chế của đề tài ..................................................................................... 77
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Phụ lục 1: Tổng hợp các gian lận lớn trên thế giới
Phụ lục 2: Một số lý thuyết về gian lận
Phụ lục 3: Tóm tắt kết quả nghiên cứu về gian lận của các tổ chức nghề nghiệp trên
thế giới.
Phụ lục 4: Cây gian lận theo ACFE
Phụ lục 5: Kỹ thuật kế toán điều tra: dấu hiệu lá cờ đỏ (red flag)
Phụ lục 6: Kỹ năng kế toán điều tra
Phụ lục 7: Một số vụ án gian lận kinh tế từ năm 2009
Phụ lục 8: Bảng câu hỏi khảo sát
Phụ lục 9: Dàn bài thảo luận
Phụ lục 10: Bảng tóm tắt các câu trả lời khảo sát
Phụ lục 11: Kết quả phân tích dữ liệu bằng phần mềm SPSS
Phụ lục 12: Nội dung phỏng vấn ông Trần Văn Nam_ Trưởng văn phòng giám định
tư pháp Sài Gòn
Phụ lục 13: Danh sách đối tượng khảo sát
Phụ lục 14: Một số tổ chức và bằng cấp nghề nghiệp kế toán điều tra tại Hoa Kỳ
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
STT Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ
1. AAER:
Accounting and Auditing Enforcement Release – Bản án thi hành kế toán và kiểm toán
2. ACFE:
Association of Certified Fraud Examiners – Hiệp hội các nhà điều tra gian lận Hoa kỳ
3. ACFEI:
American College of Forensic Examiners International - Trường Cao đẳng Điều tra Quốc tế Hoa Kỳ
4. ACFI:
Association of certified Forensic Investigators of Canada – Hội Điều tra viên tư pháp công chứng Canada.
5. ACFS:
Association of Certified Fraud Specialists - Hiệp hội chuyên gia gian lận
6. AICPA:
American Institute of Certified Public Accountants – Hiệp hội kế toán viên công chứng Hoa Kỳ
7. BCTC: Báo cáo tài chính
8. CBA:
Certified Business Appraisers – Chứng chỉ Định giá doanh nghiệp công chứng
9. CEO: Chief executive officer – Giám đốc điều hành
10. CFC:
Certified Forensic Consultant – Chứng chỉ Tư vấn điều tra công chứng
11. CFE:
Certified Fraud Examiner – Chứng chỉ Điều tra gian lận công chứng
12. CFF:
Certified in Financial Forensics – Chứng chỉ Điều tra Tài chính công chứng
13. CFO: Chief financial officer – Giám đốc tài chính
14. CFS:
Certified Fraud Specialists – Chứng chỉ Chuyên viên gian lận công chứng
15. COSO:
Committee of Sponsoring Organizations - Ủy ban thuộc Hội đồng quốc gia về chống gian lận trên báo cáo tài chính của Hoa Kỳ
16. Cr.FA:
Certified Forensic Accountant – Chứng chỉ Kế toán Điều tra công chứng
17. CVA:
Certified Valuation Analysts – Chứng chỉ Phân tích Định giá công chứng
18. EFA: Exploratory Factor Analysis – Phân tích nhân tố khám phá
19. IBA:
Insitute of Business Appraisers - Viện Định giá Doanh nghiệp
20. IFAC:
International Federation of Accountants – Liên đoàn Kế toán Quốc tế
21. IIA:
Institute of Internal Auditors – Viện Kiểm toán Nội bộ Hoa Kỳ
22. ISA:
International Standard on Auditing – Chuẩn mực kiểm toán quốc tế
23. ISACA:
Information Systems Audit and Control Association – Hiệp Hội hệ thống thông tin kiểm toán và kiểm soát Hoa Kỳ
24. KTV: Kiểm toán viên
25. NACVA:
National Association of Certified Valuation Analysts - Hiệp hội Quốc gia Phân tích Định giá
26. SAS:
Statement on Auditing Standard – Chuẩn mực kiểm toán Hoa Kỳ
27. SEA:
Securities Exchange Act of 1934 – Đạo luật trao đổi chứng khoán năm 1934
28. SEC:
U.S. Securities and Exchange Commission - Ủy ban chứng khoán Hoa Kỳ
29. SOX: Sarbanes-Oxley Act – Đạo luật Sarbanes-Oxley
30. VACPA:
Vietnam Association of Certified Public Accountants – Hội kiểm toán viên hành nghề Việt Nam
31. VSA:
Vietnam Standard on Auditing – Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam
Trong bài, người viết sử dụng thuật ngữ kiểm toán bên ngoài, kiểm toán độc lập, kiểm toán báo cáo tài chính đều có nghĩa như nhau và thay thế cho nhau.
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Bảng tóm tắt các đặc điểm của gian lận theo ACFE ............................... 11
Bảng 1.2: Các loại dịch vụ hỗ trợ pháp lý (AICPA) ............................................... 23
Bảng 1.3: Bảng tóm tắt phân biệt các thuật ngữ kế toán điều tra, kiểm toán gian lận, kiểm toán điều tra, kiểm toán báo cáo tài chính truyền thống. ................................ 26
Bảng 2.1: Xây dựng thang đo ................................................................................ 39
Bảng 2.2: Bảng tần số về nghề nghiệp, số năm kinh nghiệm .................................. 43
Bảng 2.3: Bảng tóm tắt kết quả phân tích EFA cho các biến nhóm X .................... 49
Bảng 2.4: Bảng kết quả tính hệ số Cronbach Anpha .............................................. 52
Bảng 2.5: Bảng kiểm định Leneve ......................................................................... 54
Bảng 2.6: Bảng kết quả kiểm định ANOVA .......................................................... 55
Bảng 2.7: Bảng kết quả kiểm định phi tham số Kruskal – Wallis ........................... 56
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ VÀ BIỂU ĐỒ
Danh mục các hình vẽ
Hình 2.1: Thiết kế nghiên cứu ............................................................................... 37
Hình 3.1: Cơ sở lý thuyết của kế toán điều tra ....................................................... 69
Danh mục các biểu đồ
Biểu đồ 2.1: Tỷ lệ phần trăm các nhóm nghề nghiệp khảo sát ................................ 44
Biểu đồ 2.2: Tỷ lệ phần trăm số năm kinh nghiệm ................................................. 44
1
MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Trên thế giới, đã có rất nhiều cuộc khủng hoảng kinh tế bắt nguồn từ gian lận
như Enron, Waste Management, Worldcom… đã lan ra toàn cầu, trong đó có liên
quan đến sai phạm của công ty kiểm toán quốc tế lớn là Arthur Andersen khiến cho
công ty này đã chấm dứt hoạt động. Các cuộc khủng hoảng kinh tế cho thấy vai trò
đặc biệt quan trọng của ngành kiểm toán nhưng đồng thời cũng bộc lộ các khiếm
khuyết của ngành kiểm toán. Từ đó, nhu cầu ngăn chặn và phát hiện gian lận làm
dấy lên các cuộc thảo luận về khả năng đáp ứng của nghề nghiệp kế toán, kiểm
toán. Ủy ban dịch vụ điều tra và hỗ trợ pháp lý của AICPA (The AICPA Forensic
and Litigation Services Committee - FLS) đã phát hành bản ghi nhớ thỏa thuận
ngày 15 tháng 7 năm 2004 “Dịch vụ điều tra, kiểm toán, và quản trị doanh nghiệp:
kết nối khoảng cách” nhằm mô tả về dịch vụ kế toán điều tra và các tiêu chuẩn trở
thành kế toán điều tra viên.
Thuật ngữ kế toán điều tra (Forensic Accounting) xuất hiện ở các nước phát
triển từ những năm 1980, được xem như có vai trò chính nối liền khoảng cách giữa
nghề nghiệp kiểm toán và nhu cầu phòng chống gian lận. Kế toán điều tra là sự tổng
hợp giữa kế toán, kiểm toán, luật để thực hiện hai chức năng chính, bao gồm: điều
tra kế toán (Investigative Accounting) và hỗ trợ pháp lý (Litigation Support). Kế
toán điều tra có vai trò khác với kiểm toán báo cáo tài chính. Mục đích của kiểm
toán báo cáo tài chính là đảm bảo báo cáo tài chính phản ánh trung thực và hợp lý
trên các khía cạnh trọng yếu, vì vậy trách nhiệm của kiểm toán độc lập là thiết kế và
thực hiện các thủ tục kiểm toán trọng phạm vi và nội dung vừa đủ để phát hiện các
sai sót trọng yếu trong báo cáo tài chính (không quan tâm đến bản chất, nguồn gốc
của sai sót). Kế toán điều tra rộng hơn mục đích của kiểm toán báo cáo tài chính, kế
toán điều tra không đưa ra ý kiến về báo cáo tài chính dựa trên mức trọng yếu qua
thủ tục chọn mẫu, kế toán điều tra dựa trên các bằng chứng tài liệu và cả bằng
2
chứng thẩm vấn để tìm hiểu ai, cái gì, khi nào, ở đâu, cách thức cũng như nguyên
do sai sót, gian lận xảy ra hay có thể xảy ra, từ đó tư vấn cách khắc phục và ngăn
chặn các hành vi tương tự diễn ra. Bên cạnh đó, các kết luận của kế toán điều tra có
thể là công cụ hỗ trợ pháp lý trong các vụ kiện dân sự hay hình sự chống lại thủ
phạm.
Các nước Trung Quốc, Thổ Nhĩ Kỳ, Nigeria đều là những nước đang phát
triển, các nhà nghiên cứu Xianghua Hao, Cemal Elitas, Efiong đều cho thấy nhu cầu
kế toán điều tra tại các nước này…Việt Nam cũng là một nước đang phát triển (theo
phân loại của Ngân hàng Thế Giới), đang trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại
hóa, kinh tế thị trường phát triển nhanh, vì vậy thông tin kế toán đóng vai trò ngày
càng quan trọng để phát triển thị trường. Tuy nhiên, trong quá trình ấy, gian lận
xuất hiện, kiềm hãm sự phát triển kinh tế, gây thiệt hại ngày càng nghiêm trọng, từ
đó sự phát triển kế toán điều tra là một tất yếu giúp môi trường kinh doanh lành
mạnh hơn. Chính vì vậy tác giả chọn đề tài “Định hƣớng phát triển kế toán điều
tra tại Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu để tìm hiểu nhu cầu nghề nghiệp mới và
khả năng đáp ứng xu hướng phát triển của nghề nghiệp hiện nay.
2. Mục tiêu
Mục tiêu của bài nghiên cứu này nhằm đo lường nhận biết về nghề nghiệp kế
toán điều tra (Forensic Accounting), và nhu cầu kế toán điều tra tại Việt Nam. Từ
đó đưa ra kiến nghị phát triển dịch vụ kế toán điều tra tại Việt Nam.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tƣợng nghiên cứu
Bài tập trung đo lường nhận biết của các đối tượng gồm: kiểm toán viên, kế
toán viên, giảng viên chuyên ngành và luật gia. Sự lựa chọn khảo sát các đối tượng
này dựa trên các nghiên cứu trước như Kasum (2009) [34], Di Gabriele (2010) [23].
3
Trong bài, các kiểm toán viên được phát phiếu khảo sát tại lớp học cập nhật
kiến thức ngày 26/09/2014 tại TP. HCM và đồng nghiệp tại công ty; các kế toán,
luật gia được phát phiếu khảo sát tại các lớp học thạc sỹ của trường Đại học Kinh
Tế TP. HCM, và qua công cụ Google Docs; các giảng viên chuyên ngành được thu
thập trực tiếp, hay qua Google Docs chủ yếu tại các trường Đại học Kỹ Thuật Công
Nghệ TP. HCM, Đại học Kinh Tế TP. HCM, Đại học Mở và một số trường Đại học
khác (Phụ lục 13 – Danh sách đối tượng khảo sát)
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu đo lường hiểu biết, nhận thức về kế toán điều tra tại Việt
Nam. Tuy nhiên trong phạm vi luận văn cao học, tác giả chỉ khảo sát tại thành phố
Hồ Chí Minh, do thành phố Hồ Chí Minh là thành phố lớn, trung tâm kinh tế - xã
hội lớn của cả nước nên có thể đại diện cho tổng thể.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để thực hiện được mục tiêu nghiên cứu, đề tài được thực hiện theo phương
pháp nghiên cứu khoa học chặt chẽ. Trước hết, tác giả tiến hành nghiên cứu định
tính bằng cách tổng quan các lý thuyết về kế toán điều tra, thảo luận nhóm chuyên
gia để xây dựng và đánh giá sơ bộ thang đo. Sau đó, tác giả tiến hành thu thập dữ
liệu định lượng bằng cách phát phiếu khảo sát trực tiếp và gửi email biểu mẫu
Google Docs. Dữ liệu hợp lệ gồm 176 bảng trả lời được tác giả sử dụng phần mềm
SPSS 20 để phân tích và đưa ra kết luận.
5. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Đề tài nghiên cứu về kế toán điều tra là một đề tài mới, các bài nghiên cứu,
luận văn dùng để tham khảo chưa nhiều. Chính vì vậy, đây là một nghiên cứu khám
phá, trình bày một cách hệ thống các lý luận về nhu cầu dịch vụ kế toán điều tra bắt
nguồn từ kỳ vọng phát hiện, ngăn chặn gian lận và sự thất bại trong đáp ứng của
nghề nghiệp kiểm toán truyền thống từ đó xây dựng dịch vụ kế toán điều tra tại Việt
4
Nam. Bên cạnh đó, đề tài được thiết kế nghiên cứu một cách khoa học, thiết lập một
quy trình nghiên cứu chặt chẽ, từ đó vấn đề nghiên cứu được đánh giá một cách
khách quan và có ý nghĩa thống kê.
6. Bố cục luận văn
Nội dung đề tài được trình bày gồm ba chương:
Chƣơng 1: Tổng quan lý thuyết về gian lận và kế toán điều tra
Chƣơng 2: Thực trạng dịch vụ kế toán điều tra tại Việt Nam
Chƣơng 3: Kết luận và kiến nghị
5
CHƢƠNG 1
TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VỀ GIAN LẬN VÀ KẾ TOÁN ĐIỀU TRA
1.1. Tổng quát về gian lận
1.1.1. Định nghĩa về gian lận
Ngày nay, gian lận ngày càng phổ biến và gây ra mức thiệt hại càng ngày càng
nghiêm trọng cho nền kinh tế. Gian lận xảy ra ở tất cả lĩnh vực, ngành nghề và khi
nền kinh tế càng phát triển thì gian lận cũng càng tinh vi hơn. Do đó, gian lận nên
được tìm hiểu và nghiên cứu để có các biện pháp phù hợp nhằm ngăn chặn, và phát
hiện gian lận.
Theo từ điển tiếng Việt [4], gian lận là hành vi thiếu trung thực, dối trá, mánh
khóe nhằm lừa gạt người khác.
Theo từ điển thuật ngữ pháp lý Black’s Law [14], gian lận là việc làm lạm
dụng hoặc áp dụng sai một cách chủ tâm đối với tài sản hoặc nguồn lực của doanh
nghiệp với mục đích tư lợi.
Theo từ điển pháp lý Law.com [36], giải thích gian lận theo cách tiếp cận pháp
lý, “gian lận là việc sử dụng một thủ thuật hoặc phương pháp một cách cố ý lừa dối,
không trung thực để tước đi tiền, tài sản hoặc một quyền hợp pháp của người khác”.
Để thỏa định nghĩa pháp lý về gian lận thì hành vi đó phải gây ra thiệt hại, có
thể quy ra tiền tệ, cho nạn nhân.
Theo Igor Pustylnick (2009) [31] một hành vi được xem là gian lận khi hội đủ
các thành phần:
- Thủ phạm thực hiện gian lận: là người hoặc một nhóm người gây ảnh hưởng
đến kết quả của giao dịch trao đổi bằng cách thay thế hay loại bỏ vật trao đổi.
6
- Nạn nhân của hành vi gian lận là một bên trong giao dịch, người nhận đối
tượng trao đổi bị lỗi hoặc bị tước đối tượng này một phần hoặc hoàn toàn.
- Ngƣời thụ hƣởng là một cá nhân, tổ chức, hoặc một nhóm người, hưởng lợi
trực tiếp hoặc gián tiếp từ hành vi gian lận.
- Chủ thể gian lận là vật chất, tài sản, hoặc đối tượng tài chính, bị thay thế,
lấy đi, hoặc loại bỏ trong các hành vi gian lận.
1.1.2. Lịch sử phát triển gian lận
Gian lận đã xuất hiện cùng với sự tiến hóa của xã hội loài người, từ khi phân
chia giai cấp.
Hình thức ban đầu của gian lận là hành vi biển thủ tài sản của chung nhằm
thoả mãn các nhu cầu cá nhân. Gian lận phát triển cùng với sự ra đời và phát triển
của nền kinh tế, tồn tại sự tách rời giữa quyền sở hữu và chức năng quản lý. Sự tách
rời này đã làm phát triển hình thức gian lận mới đó là gian lận của người quản lý,
nhân viên đối với người chủ sở hữu. Biểu hiện của các hành vi này là tham ô, biển
thủ tài sản của công ty. Đến thế kỷ 20, với sự phát triển nhanh chóng của nền kinh
tế thế giới, đặc biệt là vai trò quan trọng của thị trường chứng khoán - một trong các
kênh huy động vốn hiệu quả của thị trường tài chính thế giới, làm phát sinh nhiều
loại gian lận mới được thực hiện bởi một số người trong Ban Giám đốc, nhân viên.
Ngày nay, sự sụp đổ của các doanh nghiệp lớn trên thế giới gây ra các cuộc
khủng hoảng tài chính, sự suy thoái về đạo đức nghiêm trọng từ đó đã thức tỉnh tầm
quan trọng trong việc ngăn chặn và phát hiện gian lận. (Tham khảo Phụ lục 1: Tổng
hợp các gian lận lớn trên thế giới)
7
1.1.3. Các nghiên cứu về gian lận
1.1.3.1. Về học thuật
o Edwin H. Sutherland (1883 – 1950)
Năm 1928 ông bắt đầu một nghiên cứu về hành vi vi phạm pháp luật trong bảy
tập đoàn lớn nhất tại Hoa Kỳ, từ đó thuật ngữ "tội phạm cổ cồn trắng" ra đời để chỉ
việc vi phạm nghề nghiệp của những người có địa vị xã hội, được xã hội kính trọng.
Sau hơn 20 năm nghiên cứu, tác phẩm “White Collar Crime” cuối cùng được hoàn
thành và xuất bản năm 1949.
Sutherland kiểm tra bốn loại hành vi của các tập đoàn lớn: quảng cáo sai lệch,
hạn chế thương mại, đối xử lao động không công bằng, và sự vi phạm bằng sáng
chế, bản quyền và thương hiệu. Ông đã phát hiện 980 hành vi vi phạm các điều trên
trong số 70 doanh nghiệp mà ông nghiên cứu (trung bình 14 vi phạm cho mỗi công
ty). Chín mươi phần trăm công ty vi phạm thường xuyên, với bốn hoặc nhiều hành
vi vi phạm. Sutherland dựa trên “lý thuyết kết hợp khác biệt” (lý thuyết do
Sutherland phát triển, lý thuyết này giải thích cách các cổ cồn trắng trở thành tội
phạm) để giải thích những hành vi này, và cho rằng các nhà điều hành trẻ sẵn sàng
vi phạm pháp luật nếu điều đó mang lại lợi ích trong kinh doanh. Ông xem tội phạm
cổ cồn trắng là mối đe dọa lớn hơn cho xã hội so với tội phạm đường phố bởi vì
chúng gia tăng sự hoài nghi và mất lòng tin của các tổ chức xã hội cơ bản.
Sutherland (1940, 1944) [50], [51] phân biệt tội phạm cổ cồn trắng và tội
phạm đường phố trong ba điểm chính. Thứ nhất, địa vị của các chuyên gia cổ cồn
trắng trong xã hội tạo ra phản ứng ngưỡng mộ và đe dọa. Các thành viên xã hội
ngưỡng mộ các chuyên gia nhưng cũng rất sợ sự trừng phạt nếu họ đối kháng với
các chuyên gia. Sự ngưỡng mộ và sự sợ hãi từ xã hội dẫn đến ít hình phạt hơn đối
với tội phạm cổ cồn trắng.
8
Thứ hai, các chuyên gia trong xã hội thường có uy tín cao làm giảm sự tin cậy
vào hệ thống xét xử tội phạm truyền thống, và ít hình phạt áp dụng đối với các
chuyên gia. Cho đến ngày nay, tố tụng dân sự, tráp tòa, tiền phạt, án treo thường
được áp dụng cho người phạm tội gian lận, bỏ qua các xem xét về khía cạnh “tội
phạm hình sự”.
Thứ ba, tội phạm cổ cồn trắng thường ít được nhận thức rõ ràng hơn tội phạm
đường phố, do các nguyên nhân: hậu quả do công chúng gánh chịu có thể kéo dài,
sự vi phạm có thể do hơn một cá nhân gây ra, và người thiệt hại có thể khó xác định
và không được tổ chức tốt. Sutherland (1940, 1944) [50] [51] cho rằng chế độ pháp
lý lúc đó chưa thật hữu hiệu với loại hình tội phạm cổ cồn trắng.
Khái niệm về tội phạm cổ trắng và nghiên cứu tiên phong này là sự phát triển
về khoa học tội phạm vô cùng quan trọng. Các khám phá này nhanh chóng là cảm
hứng cho các nghiên cứu về sau của các nhà nghiên cứu tội phạm học như Cressey,
Marshall Clinard, và Frank E. Hartung.
o Donald R. Cressey (1919 – 1987)
Donald R. Cressey bắt đầu nghiên cứu về tội phạm học từ hành vi biển thủ của
nhân viên. Bằng cách phỏng vấn các tù nhân trong Trại cải tạo Joliet bang Illinois,
ông đã nghiên cứu các đặc điểm chung của tội phạm cổ cồn trắng.
Cressey (1950, 1953) [19] [20] nêu ra ba giả thuyết về hành vi vi phạm sự tín
nhiệm: (1) Không chia sẻ các vấn đề khó khăn về tài chính; (2) hiểu biết về môi
trường làm việc và cơ hội vi phạm sự tín nhiệm; (3) khả năng tự điều chỉnh bản thân
về hành vi vi phạm. Cressey (1950, 1953) [19] [20] cho rằng gian lận xảy ra khi
thỏa đồng thời ba yếu tố: áp lực, cơ hội và hợp lý hóa, được gọi là lý thuyết tam
giác gian lận (Tham khảo Phụ lục 2 – Một số lý thuyết về gian lận)
o D.W.Steve Albrecht (1980)
9
Ông là một trong các nhà nghiên cứu tiên phòng hàng đầu về gian lận nghề
nghiệp. Cùng với hai đồng nghiệp khác, Howe và Romney, ông đã tiến hành khảo
sát 212 gian lận trong đầu những năm 1980. Các đối tượng khảo sát gồm các kiểm
toán viên nội bộ của các công ty có xảy ra gian lận.
Nghiên cứu của Albrecht cũng đề xuất ba thành phần cấu thành hành vi gian
lận, gọi là “Bàn cân gian lận”: Tình huống áp lực, cơ hội, và tính trung thực
(Albrecht và cộng sự, 1984) [8]. (Tham khảo Phụ lục 2 – Một số lý thuyết về gian
lận)
1.1.3.2. Nghiên cứu của các tổ chức nghề nghiệp
Cùng với các nghiên cứu học thuật cố gắng giải thích vì sao gian lận, cơ sở
nhận diện gian lận, mô hình hóa gian lận v.v… các tổ chức nghề nghiệp trên thế
giới cũng tiến hành các khảo sát nhằm định lượng thiệt hại do gian lận gây ra, phân
loại gian lận nhằm cảnh báo và tìm ra biện pháp ngăn chặn, phát hiện.
o COSO (2010)
Liên quan đến gian lận tài chính, Ủy ban quốc gia về chống gian lận báo cáo
tài chính của Hoa Kỳ (COSO) đã tiến hành các nghiên cứu mang lại các kết quả
đáng giá. Năm 1998, COSO xuất bản báo cáo “Landmark Study on Fraud in
Financial Reporting”, tiến hành khảo sát 10 năm từ năm 1987 đến năm 1997, với sự
tham gia của hơn 200 trường hợp gian lận do SEC điều tra. Tiếp theo, năm 2010,
COSO tiếp tục cuộc khảo sát trong giai đoạn từ 1998 – 2007 với 347 báo cáo tài
chính gian lận của các công ty niêm yết của Mỹ được phát hành thành ấn phẩm điện
tử “Fraudulent Financial Reporting: 1998 – 2007: An Anlysis of U.S. Public
Companies” [18]. (Tham khảo Phụ lục 3 – Tóm tắt kết quả nghiên cứu về gian lận
của một số tổ chức nghề nghiệp trên thế giới)
10
o PWC (2014)
Năm 2014 công ty kiểm toán PWC tiến hành khảo sát tội phạm kinh tế toàn
cầu trên 100 quốc gia, với hơn 5.000 đối tượng khảo sát và phát hành báo cáo dạng
điện tử “Economic crime: a threat to business process” [44]. Trong đó, báo cáo
thảo luận sâu các vấn đề xoay quanh việc so sánh kết quả của các đối tượng khảo
sát từ Hoa Kỳ và toàn cầu. Báo cáo cũng sử dụng “Tam giác gian lận” để giải thích
các hành vi gian lận. (Tham khảo Phụ lục 3 – Tóm tắt kết quả nghiên cứu về gian
lận của một số tổ chức nghề nghiệp trên thế giới)
o ACFE
ACFE là tổ chức nghiên cứu xu hướng gian lận và thống kê về gian lận tại
Hoa Kỳ. ACFE đã phát hành tám báo cáo mang tên “Report to the Nations on
Occupational Fraud and Abuse” vào các năm 1996, 2002, 2004, 2006, 2008, 2010,
2012 và 2014. Qua đó, ACFE đã khảo sát hàng trăm nhân viên điều tra gian lận
(CFE), kết quả cho thấy số tiền thất thoát do gian lận rất lớn và có xu hướng tăng
dần cũng như số vụ gian lận được báo cáo. (Tham khảo Phụ lục 3 – Tóm tắt kết quả
nghiên cứu về gian lận của một số tổ chức nghề nghiệp trên thế giới)
Hall và Singleton [33] cũng phác họa các đặc điểm thủ phạm gây ra các gian
lận lớn tương tự ACFE như sau: (a) nắm giữ vị trí quan trọng trong tổ chức, (b)
thường là nam giới, (c) trên 50 tuổi, (d) đã kết hôn, (e) được giáo dục cao. Từ đó có
thể rút ra rằng tội phạm cổ cồn trắng cũng là một dạng tội phạm nhưng có những
đặc điểm bên ngoài không giống tội phạm.
Không giống như cách phân loại gian lận theo mục đích của Bologna [13] đã
phân loại gian lận thành: Thủ phạm bên trong công ty chống lại lợi ích của công ty,
thủ phạm gian lận bên ngoài chống lại lợi ích công ty và các gian lận vì lợi ích công
ty, ACFE phân loại gian lận thành ba dạng chính: Gian lận báo cáo tài chính, biển
11
thủ tài sản và tham ô. Từng thành phần này lại bao gồm nhiều loại gian lận khác
nhau tạo thành cây gian lận (Phụ lục 4 - Cây gian lận theo ACFE).
1.2. Trách nhiệm phát hiện gian lận
1.2.1. Tổng quát từ các nghiên cứu của ACFE
Sau khi tổng quát các khía cạnh về gian lận như nguyên nhân gian lận từ các
nghiên cứu học thuật và các thủ thuật gian lận từ các nghiên cứu thực tế của các tổ
chức nghề nghiệp, vậy thì ai thường có trách nhiệm phát hiện ra các gian lận trên?
Theo các báo cáo về gian lận của ACFE, gian lận trên báo cáo tài chính chủ yếu do
các nhà điều hành thực hiện. Đây là loại gian lận có tần suất xuất hiện thấp nhưng
gây ra mức thiệt hại khổng lồ. Thủ phạm biển thủ tài sản thường là nhân viên và thủ
thuật vi phạm rất đa dạng và tinh vi, loại gian lận này hay xảy ra nhưng gây tổn hại
thấp trong ba loại gian lận theo cây gian lận. Nói cách khác mức thiệt hại do biển
thủ gian lận thường không trọng yếu, đặc biệt là các gian lận cá nhân, do đó theo
Tommie W. Singleton [53] kiểm toán độc lập và kiểm toán nội bộ khó có thể phát
hiện trong các cuộc kiểm toán báo cáo tài chính và các cuộc kiểm toán nội bộ thông
thường. Tham ô thường liên quan đến mối quan hệ giữa một người trong công ty và
một người bên ngoài công ty. Vì vậy, tham ô thường dựa trên giao dịch các bên liên
quan, mối quan hệ này thường ít được công khai minh bạch.
Bảng 1.1: Bảng tóm tắt các đặc điểm của gian lận theo ACFE
Nội dung Biển thủ tài sản Tham ô
Nhân viên Hai bên
Thủ phạm gian lận Quy mô gian lận Nhỏ nhất: 150.000 USD Trung bình: 538.000 USD
Gian lận trên Báo cáo tài chính Nhà quản lý điều hành Lớn nhất: Từ 1 triệu USD đến 258 triệu USD Ít nhất là 10,6% Trung bình: 30,8% Tần suất
Nhiều nhất là 91,5% Áp lực cá nhân Động lực Giá cổ phiếu,tiền thưởng Các khó khăn trong kinh doanh
12
Nội dung Biển thủ tài sản Tham ô Gian lận trên Báo cáo tài chính
Tùy thuộc Thủ phạm Trọng yếu Bên hƣởng lợi Trọng yếu Công ty và thủ phạm
Lớn Không trọng yếu Thủ phạm (Lợi ích của thủ phạm ngược với lợi ích của công ty) Nhỏ Tùy thuộc
Quy mô công ty có gian lận
Nguồn: Tommie W. Singleton (2010) tổng hợp từ Report to the Nation (2008)
Bảng 1.1 mô tả các đặc điểm của ba nhánh phân loại chính trên cây gian lận
(Tham ô, biển thủ tài sản, gian lận trên báo cáo tài chính). Một tổ chức có kiểm soát
nội bộ tốt dường như có thể ngăn chặn và phát hiện các gian lận trên. Tuy nhiên,
Tommie W. Singleton (2010) [53] phân tích tổng quát trách nhiệm chủ yếu nhất hay
thông thường nhất về phát hiện các gian lận của kiểm toán nội bộ, kiểm toán độc
lập.
Biển thủ tài sản thường có giá trị nhỏ nhưng có tần suất cao trong các nghiên
cứu của ACFE, thường do các nhân viên trực tiếp vi phạm. Mức thiệt hại gây ra nhỏ
hơn hai loại gian lận còn lại. Vì vậy theo Tommie W. Singleton (2010) [53] biển thủ
tài sản thường do kiểm toán nội bộ phát hiện.
Các gian lận trên báo cáo tài chính thường gây thiệt hại lớn, ảnh hưởng trọng
yếu do đó kiểm toán độc lập là cách hữu hiệu phát hiện ra gian lận này thông qua
kiểm toán báo cáo tài chính, theo Tommie W. Singleton (2010) [53] có ít nhất ba
nguyên nhân:
Thứ nhất, gian lận trên báo cáo tài chính thường gây ra thiệt hại lớn do đó
thường có trình bày sai lệch báo cáo tài chính một cách trọng yếu. Bên cạnh đó,
mục tiêu của kiểm toán độc lập là đảm bảo báo cáo tài chính được trình bày trung
thực, hợp lý tình hình tài chính của công ty trên các khía cạnh trọng yếu. Vì vậy,
các thủ tục kiểm toán báo cáo tài chính được thiết kế để phát hiện các sai sót trọng
13
yếu trên báo cáo tài chính. Ngược lại, biển thủ tài sản và tham ô có giá trị thiệt hại
nhỏ thường có mức trọng yếu thấp nên kiểm toán viên thường bỏ qua. Tuy nhiên
theo ACFE (2014) kiểm toán độc lập chỉ phát hiện được khoảng 3% các trường hợp
gian lận. Như vậy tồn tại sự khác biệt giữa kiểm toán báo cáo tài chính độc lập và
điều tra gian lận viên. Điều này sẽ được tiếp tục làm rõ trong các phần sau.
Thứ hai, thủ tục chọn mẫu của kiểm toán viên độc lập dựa trên mức trọng yếu,
không phải dựa trên rủi ro gian lận. Do đó, kiểm toán báo cáo tài chính phù hợp để
phát hiện các sai sót trọng yếu trên báo cáo tài chính.
Thứ ba, các gian lận trên báo cáo tài chính thường do nhà quản lý điều hành
vượt quyền kiểm soát, hay thông đồng với các nhà quản lý khác để sử dụng các lợi
thế chức quyền gây ảnh hưởng đến các bộ phận kiểm soát khác (ví dụ như kiểm
toán nội bộ) để thực hiện gian lận. Chính vì vậy, kiểm toán viên độc lập bên ngoài
không bị ảnh hưởng của các nhà quản lý điều hành, có thể phát hiện ra các gian lận
trọng yếu.
Bởi vì tham ô liên quan đến ít nhất hai bên, vì vậy để phát hiện tham ô cần tập
trung vào các quan hệ giữa các bên có liên quan, các mối quan hệ đó thường bị giấu
đi. Do đó Tommie W. Singleton (2010) [53] cho rằng, nếu gian lận tham ô đó trọng
yếu thì kiểm toán độc lập cần có trách nhiệm kiểm tra các giao dịch bên liên quan
để xem xét gian lận. Còn gian lận tham ô không tuân thủ quy định trong công ty thì
trách nhiệm kiểm tra chủ yếu thuộc về kiểm toán nội bộ.
1.2.2. Trách nhiệm phát hiện gian lận của kiểm toán viên độc lập theo chuẩn
mực quốc tế và Việt Nam.
Các phân tích của Tommie W. Singleton (2010) [53] dựa vào các báo cáo
nghiên cứu gian lận của ACFE. Các kết luận và phân loại gian lận của ACFE không
thay đổi qua nhiều năm nghiên cứu. Cho thấy các phân tích của Tommie W.
Singleton (2010) [53] báo hiệu một sự bùng nổ nhu cầu về điều tra gian lận toàn
14
diện. Bên cạnh đó, các chuẩn mực kiểm toán quốc tế và Việt Nam có tồn tại khoảng
cách trách nhiệm phát hiện gian lận của kiểm toán viên độc lập như kết luận của
Tommie W.Singleton (2010) [53] (Người viết không trình bày trách nhiệm pháp lý
của kiểm toán viên trong phạm vi bài nghiên cứu, do mục đích là làm rõ trách
nhiệm nghề nghiệp kiểm toán đối với gian lận)
1.2.2.1. Chuẩn mực kiểm toán quốc tế
Chuẩn mực kiểm toán quốc tế ISA 200 [32], đoạn 11, trình bày mục tiêu tổng
thể của cuộc kiểm toán như sau:
(a) Đạt được sự đảm bảo hợp lý rằng tổng thể báo cáo tài chính không có sai
sót trọng yếu, do gian lận hay nhầm lẫn, từ đó cho phép kiểm toán viên đưa ra ý
kiến về việc lập báo cáo tài chính, trên các khía cạnh trọng yếu, phù hợp với khuôn
khổ lập và trình bày báo cáo tài chính được áp dụng.
(b) Lập báo cáo kiểm toán về báo cáo tài chính và trao đổi thông tin theo quy
định của các chuẩn mực kiểm toán quốc tế ISA, phù hợp với các phát hiện của kiểm
toán viên.
ISA 200 [32] cho thấy mục tiêu tổng thể hay trách nhiệm chính của kiểm toán
viên độc lập là đưa ra ý kiến kiểm toán dựa trên các phát hiện trong cuộc kiểm toán
đảm bảo hợp lý báo cáo tài chính không có sai sót trọng yếu.
ISA 240 [32] định nghĩa gian lận: “Một hành vi cố ý do một hay nhiều cá nhân
trong Ban Giám đốc (Management), Ban Quản trị (Governance), nhân viên, hoặc
bên thứ ba thực hiện, bằng các hành vi gian dối, để thu lợi bất chính hoặc bất hợp
pháp” (Đoạn 11 mục (a)). Như vậy ISA 240 [32] phân loại gian lận thành hai thành
phần: gian lận do biển thủ (do nhân viên thực hiện), tham ô (từ cấp độ quản lý thực
hiện) tài sản và gian lận trên báo cáo tài chính. Cách phân loại này của ISA khái
quát hơn cây gian lận của ACFE. Do đó trách nhiệm của kiểm toán viên rộng hơn
so với phân tích của Tommie W. Singleton (2010) [53] dựa trên báo cáo của ACFE.
15
Cụ thể, ISA 240 [32] quy định rõ ràng trách nhiệm của Ban Quản trị và Ban
Giám đốc trong việc ngăn ngừa và phát hiện gian lận, với sự giám sát của Ban Quản
trị (Đoạn 4 ISA 240 [32]). Đối với mục tiêu của kiểm toán viên liên quan đến gian
lận, đoạn 10 ISA 240 [32] quy định như sau:
(a) Nhận diện và đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu trên báo cáo tài chính do
gian lận.
(b) Thu thập đủ các bằng chứng kiểm toán thích hợp liên quan đến rủi ro có
sai sót trọng yếu do gian lận thông qua thiết kế và thực hiện các biện pháp xử lý
thích hợp;
(c) Thực hiện các biện pháp xử lý thích hợp đối với gian lận đã được xác định
hoặc có nghi vấn trong quá trình kiểm toán.
Tóm lại, kiểm toán viên chịu trách nhiệm đạt được sự đảm bảo hợp lý rằng
liệu báo cáo tài chính, xét trên phương diện tổng thể, có còn sai sót trọng yếu do
gian lận hoặc nhầm lẫn hay không (Đoạn 4 ISA 240 [32])
Sự đảm bảo hợp lý của kiểm toán viên độc lập chỉ liên quan đến các gian lận
gây ra sai sót trọng yếu trên báo cáo tài chính hay nói cách khác gian lận ở cấp độ
báo cáo tài chính. Có hai loại trình bày sai một cách cố ý liên quan đến kiểm toán
viên: trình bày sai do gian lận trong lập báo cáo và trình bày sai do biển thủ tài sản
(Đoạn 3 ISA 240 [32]). Mặc dù kiểm toán viên có thể nghi ngờ hoặc, trong trường
hợp hiếm hoi, xác định sự xuất hiện của gian lận, kiểm toán viên không thực hiện
các quyết định pháp lý của việc gian lận đã thực sự xảy ra (Đoạn 3 ISA 240 [32]).
ISA 240 [32] còn nhấn mạnh rủi ro tiềm tàng kiểm toán viên không thể phát
hiện gian lận gây sai sót trọng yếu trên báo cáo tài chính do sự giả mạo tài liệu, sự
thông đồng che giấu tinh vi các gian lận… Rủi ro kiểm toán viên không thể phát
hiện sai sót trọng yếu do hành vi gian lận của cấp quản lý cao hơn hành vi gian lận
của cấp độ nhân viên, bởi vì nhà quản lý ở vị trí thuận lợi để tác động trực tiếp hay
16
gián tiếp lên sổ sách kế toán hoặc dễ dàng vượt quyền kiểm soát để vi phạm gian
lận.
Từ đó, cùng với ISA 200, ISA 240 yêu cầu kiểm toán viên phải duy trì thái độ
hoài nghi nghề nghiệp trong suốt cuộc kiểm toán, xem xét khả năng tồn tại sai sót
trọng yếu do gian lận, mặc dù kinh nghiệm quá khứ của kiểm toán viên về sự trung
thực và tính toàn vẹn ban quản lý và Ban Quản trị của đơn vị được kiểm toán. Các
thành viên trong nhóm kiểm toán phải thường xuyên thảo luận, trao đổi nhóm để
nắm bắt thông tin về đơn vị, về rủi ro gian lận trên các khoản mục. Kiểm toán viên
tiến hành thủ tục đánh giá rủi ro kinh doanh để nắm được tình hình hoạt động và
môi trường kinh doanh của công ty. Kiểm toán viên nên xác định và đánh giá rủi
ro có sai sót trọng yếu do gian lận ở cấp độ báo cáo tài chính, và cấp độ cơ sở dẫn
liệu cho từng nhóm nghiệp vụ, số dư tài khoản, sự trình bày và công bố. Biện pháp
xử lý tổng thể đối với rủi ro có sai sót trọng yếu trên báo cáo tài chính do gian lận đã
xác định: phân công và giám sát kiểm toán viên có kinh nghiệm đảm trách công
việc có rủi ro sai sót trọng yếu cao; Đánh giá việc áp dụng và lựa chọn chính sách
kế toán của công ty, đặc biệt liên quan đến các nghiệp vụ phức tạp, có dấu hiệu gian
lận trong việc lập báo cáo tài chính xuất phát từ nỗ lực nhằm điều chỉnh kết quả
kinh doanh của Ban Giám đốc hay không; Thay đổi hoặc bổ sung một số yếu tố
không thể dự đoán trước được khi lựa chọn nội dung, lịch trình và phạm vi của các
thủ tục kiểm toán. Kiểm toán phải đánh giá bằng chứng kiểm toán khi đưa ra kết
luận có sai sót trọng yếu hay không: thực hiện thủ tục phân tích khi hoàn thành cuộc
kiểm toán để xác định tính nhất quán của các thông tin tài chính trên báo cáo tài
chính và các hiểu biết của kiểm toán viên về đơn vị được kiểm toán; nếu phát hiện
ra sai sót, kiểm toán viên phải đánh giá xem sai sót đó có phải là biểu hiện gian lận
hay không, và phải đánh giá các tác động đến cuộc kiểm toán. Kiểm toán viên luôn
phải xem xét khả năng không thể tiếp tục hợp đồng kiểm toán, do kết quả của một
sai sót do gian lận hoặc nghi ngờ có gian lận. Kiểm toán viên phải thu thập giải
trình bằng văn bản của Ban Giám đốc hoặc/và Ban Quản trị về trách nhiệm của họ
đối với gian lận. Nếu kiểm toán viên xác định được hành vi gian lận hoặc thu thập
17
được thông tin cho thấy có thể có hành vi gian lận thì kiểm toán viên phải kịp thời
trao đổi các vấn đề này với Ban giám đốc/ Ban Quản trị phù hợp của đơn vị nhằm
thông báo với những người có trách nhiệm chính trong việc ngăn ngừa và phát hiện
gian lận về các vấn đề liên quan đến trách nhiệm của họ. Nếu xác định được hành vi
gian lận hoặc nghi ngờ có hành vi gian lận thì kiểm toán viên phải xác định liệu có
trách nhiệm phải báo cáo về hành vi gian lận hoặc nghi ngờ có hành vi gian lận đó
với bên thứ ba ngoài đơn vị hay không. Mặc dù trách nhiệm bảo mật thông tin của
khách hàng có thể không cho phép kiểm toán viên thực hiện việc báo cáo đó nhưng
trong một số trường hợp, trách nhiệm pháp lý của kiểm toán viên có thể cao hơn
trách nhiệm bảo mật đó. Kiểm toán viên phải lưu trong hồ sơ kiểm toán các bằng
chứng, tài liệu các cơ sở dẫn đến kết luận của mình.
ISA 250 [32] định nghĩa hành vi không tuân thủ pháp luật là các hành vi bỏ
sót hay vi phạm của đơn vị được kiểm toán, bất kể cố ý hay vô ý, trái với pháp luật
và các quy định hiện hành. Các hành vi này bao gồm các giao dịch do đơn vị thực
hiện dưới danh nghĩa của đơn vị hoặc do Ban Quản trị, Ban Giám đốc hoặc nhân
viên thực hiện thay mặt đơn vị. Hành vi không tuân thủ không bao gồm các sai
phạm mang tính cá nhân (không liên quan đến hoạt động kinh doanh của đơn vị) do
Ban Quản trị, Ban Giám đốc hoặc nhân viên của đơn vị gây ra. ISA 250 [32] quy
định và hướng dẫn trách nhiệm của kiểm toán viên về việc xem xét tính tuân thủ
pháp luật và các quy định của đơn vị được kiểm toán trong quá trình kiểm toán báo
cáo tài chính. Ban Giám đốc đơn vị được kiểm toán, dưới sự giám sát của Ban Quản
trị, có trách nhiệm đảm bảo các hoạt động của đơn vị được thực hiện theo pháp luật
và các quy định, bao gồm việc tuân thủ pháp luật và các quy định về các số liệu và
thuyết minh được trình bày trên báo cáo tài chính (Đoạn 3 ISA 250 [32]). Kiểm
toán viên có trách nhiệm phát hiện các sai sót trọng yếu của báo cáo tài chính do
hành vi không tuân thủ pháp luật và các quy định (Đoạn 4 ISA 250 [32]).
Như vậy khi so sánh cách phân loại gian lận của ACFE và Chuẩn mực kiểm
toán Quốc tế, gian lận tham ô (như gian lận đấu thầu vì lợi ích công ty) trong Cây
18
gian lận giống với cách phân loại hành vi không tuân thủ pháp luật của ISA. Tóm
lại, cách phân loại gian lận từ đó hình thành trách nhiệm chủ yếu phát hiện gian lận
giữa cây gian lận và ISA (240, 250) khá tương đồng.
1.2.2.2. Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam
Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam [2] soạn thảo dựa trên các chuẩn mực kiểm
toán Quốc tế có điều chỉnh để phù hợp với Việt Nam. Trong năm 2009 và 2010, Hội
Kiểm toán viên hành nghề Việt Nam (VACPA) đã:
(1) Ký thỏa thuận với Liên đoàn kế toán Quốc tế (IFAC) về việc dịch và sử
dụng Bộ Chuẩn mực kiểm toán Quốc tế do IFAC ban hành;
(2) Hoàn thành việc dịch sang tiếng Việt đối với 36 chuẩn mực kiểm toán
quốc tế (ISA 2009) và chuẩn mực ISQC 1 – Kiểm soát chất lượng dịch vụ của công
ty kiểm toán;
(3) tổ chức thảo luận, biên tập, hội thảo lấy ý kiến và biên tập hoàn chỉnh trình
Bộ Tài chính xem xét ban hành chuẩn mực kiểm toán (đợt 1) gồm 9 chuẩn mực
kiểm toán.
Trong năm 2010 và 2011, VACPA đã soạn thảo và hoàn thiện, trình Bộ Tài
chính 13 chuẩn mực kiểm toán Việt Nam (đợt 2). Trong năm 2011 và 2012,
VACPA đã soạn thảo và hoàn thiện, trình Bộ Tài chính 15 chuẩn mực kiểm toán
Việt Nam (đợt 3). Chuẩn mực mới có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2014 (theo
Thông tư 214/2012/TT-BTC về Ban hành hệ thống chuẩn mực kiểm toán Việt
Nam)
Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam (VSA) số 200 “Mục tiêu tổng thể của kiểm
toán viên” yêu cầu kiểm toán viên phải đạt được sự đảm bảo hợp lý về việc liệu báo
cáo tài chính, xét trên phương diện tổng thể, có còn sai sót trọng yếu do gian lận
hoặc do nhầm lẫn hay không. Sự đảm bảo hợp lý là sự đảm bảo ở mức độ cao và chỉ
19
đạt được khi kiểm toán viên đã thu thập được đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích
hợp nhằm làm giảm rủi ro kiểm toán (là rủi ro do kiểm toán viên đưa ra ý kiến
không phù hợp khi báo cáo tài chính còn có những sai sót trọng yếu) tới một mức
độ thấp có thể chấp nhận được. Tuy nhiên, sự đảm bảo hợp lý không phải là đảm
bảo tuyệt đối, do luôn tồn tại những hạn chế vốn có của cuộc kiểm toán làm cho hầu
hết bằng chứng kiểm toán mà kiểm toán viên dựa vào để đưa ra kết luận và ý kiến
kiểm toán đều mang tính thuyết phục hơn là khẳng định. (Đoạn 05)
Theo VSA 240 kiểm toán viên chỉ phải quan tâm đến những gian lận dẫn đến
sai sót trọng yếu trong báo cáo tài chính (Đoạn 03). Tuy nhiên, do những hạn chế
vốn có của kiểm toán, nên có rủi ro không thể tránh khỏi là kiểm toán viên không
phát hiện được một số sai sót làm ảnh hưởng trọng yếu đến báo cáo tài chính, kể cả
khi cuộc kiểm toán đã được lập kế hoạch và thực hiện theo các chuẩn mực kiểm
toán Việt Nam (Đoạn 05). Ngoài ra còn có các vấn đề khác ảnh hưởng đến hạn chế
vốn có của cuộc kiểm toán (Đoạn A51 – VSA 200)
Gian lận, đặc biệt là gian lận có liên quan đến Ban Giám đốc hoặc có sự
thông đồng (VSA 240)
Tính hiện hữu và đầy đủ của các mối quan hệ và giao dịch với các bên liên
quan (VSA 550)
Hành vi không tuân thủ pháp luật và các quy định (VSA 250)
Các sự kiện hoặc điều kiện trong tương lai có thể ảnh hưởng đến khả năng
hoạt động (VSA 570)
Mặt khác, rủi ro có sai sót trọng yếu do gian lận hoặc do nhầm lẫn được phát
hiện sau đó không phải là dấu hiệu về việc cuộc kiểm toán đã không được thực hiện
theo các chuẩn mực kiểm toán. Tuy nhiên, kiểm toán viên không được sử dụng các
hạn chế vốn có của cuộc kiểm toán để biện hộ cho sự hài lòng của mình đối với các
bằng chứng kiểm toán chưa đủ thuyết phục. Để xác định cuộc kiểm toán có được
thực hiện theo các chuẩn mực kiểm toán hay không, cần dựa vào các thủ tục kiểm
toán được thực hiện trong hoàn cảnh cụ thể, tính đầy đủ và thích hợp của các bằng
20
chứng kiểm toán đã thu thập và sự phù hợp của báo cáo kiểm toán trên cơ sở đánh
giá các bằng chứng đó trong mối quan hệ với mục tiêu tổng thể của kiểm toán viên
(Đoạn A52 VSA 200)
Việc ngăn ngừa và phát hiện gian lận trước hết thuộc về trách nhiệm của Ban
quản trị và Ban Giám đốc đơn vị được kiểm toán. Điều quan trọng là Ban Giám
đốc, với sự giám sát của Ban quản trị, phải đặc biệt chú ý đến việc ngăn ngừa gian
lận nhằm làm giảm bớt các cơ hội thực hiện hành vi gian lận và phát hiện gian lận
qua đó thuyết phục các cá nhân không thực hiện hành vi gian lận vì khả năng bị
phát hiện và xử phạt. Trách nhiệm này bao gồm việc cam kết tạo ra văn hóa trung
thực và hành vi có đạo đức mà có thể được tăng cường bằng hoạt động giám sát tích
cực của Ban quản trị. Trong khi thực hiện trách nhiệm giám sát của mình, Ban quản
trị phải xem xét khả năng xảy ra hành vi khống chế kiểm soát hoặc hành động gây
ảnh hưởng không thích hợp đến quy trình lập và trình bày báo cáo tài chính, ví dụ
việc Ban Giám đốc cố gắng điều chỉnh kết quả kinh doanh để các nhà phân tích hiểu
không đúng về hiệu quả hoạt động và khả năng sinh lời của đơn vị được kiểm toán
(Đoạn 04 – VSA 240)
1.3. Giới thiệu kế toán điều tra
1.3.1. Khái quát về kế toán điều tra
Về lịch sử phát triển, kế toán điều tra chắc chắn không phải là lĩnh vực mới.
Chuyên môn này đã tồn tại rất lâu mặc dù trước đó nó không được gọi là kế toán
điều tra. Tại Ai Cập cổ đại, các nhân viên có chịu trách nhiệm quản lý kho thóc,
vàng và các tài sản khác của Pharaoh được gọi là “tai và mắt” của Pharaoh. Các
công việc này có bản chất của kế toán điều tra. Theo Crumbley (2001) [21], bằng
chứng cho sự tồn tại của kế toán điều tra có thể quay lại năm 1817 trong phiên xét
xử Meyer v. Sefton của Tòa án Canada liên quan đến xác định giá trị bất động sản
của vụ phá sản. Tại toà, người đã kiểm tra giá trị tài sản được yêu cầu làm nhân
chứng xác nhận trước toà giá trị tài sản thanh lý của vụ phá sản, vì không thể tiến
21
hành một cuộc điều tra tại Toà án. Đến năm 1824, tại Glasgow, Scotland, một kế
toán trẻ tên James McClelland đã phát hành giấy báo quảng cáo về chuyên môn hỗ
trợ trong các vụ án trọng tài, hay tòa án [9]. Vào cuối những năm 1800 đầu những
năm 1900, đã xuất hiện các bài báo bàn luận về nhân chứng giám định (Expert
Witness), bằng chứng pháp lý (Evidence Arbitration) và tiền phí. Như vậy, kế toán
điều tra bắt nguồn từ công việc giám định bằng chứng trước tòa (Expert
Witnessing).
Mặc dù công việc kế toán điều tra (Forensic Accounting) đã tồn tại từ lâu
nhưng không có tài liệu nào ghi nhận cho đến khi Maurice E. Peloubet, một chủ
phần hùn (partner) tại một công ty kế toán kiểm toán công chứng ở New York lần
đầu tiên xuất bản một bài báo sử dụng thuật ngữ “Forensic Accounting”. Theo
Peloubet (1946) [38], cả kế toán công chứng và kế toán viên đều thực hiện kế toán
điều tra (Forensic Accounting), sử dụng kết quả cho mục đích pháp lý. Kế toán điều
tra luôn bao gồm điều tra thu thập bằng chứng về gian lận, xác định thiệt hại do gian
lận gây ra, cuối cùng là giải trình kết quả tại tòa án.
Đến đầu những năm 1950, các bài báo, bài thảo luận về nhân chứng giám định
xuất hiện ngày càng nhiều. Toàn bộ các tập báo Iowa Law Review xuất bản trong
năm 1951 đều bàn luận về sự tương quan giữa luật và kế toán [24]. Max Lourie,
một luật sư làm việc tại Tòa án Tối cao New York, đã viết một bài báo năm 1953
[39], nêu ra ba ý quan trọng liên quan đến nghề nghiệp kế toán điều tra:
Kế toán viên không nên tham gia trường luật để học về kỹ năng chứng thực
chuyên môn kế toán (Expert Testimony)
Các trường cao đẳng, trường đại học nên đào tạo về kế toán điều tra
(Forensic Accounting)
Nên xuất bản các sách giáo khoa, sách tham khảo về kế toán điều tra cho
sinh viên.
22
1.3.1.1. Định nghĩa về kế toán điều tra
Dịch vụ kế toán điều tra xuất hiện ở các nước phát triển trong những năm
1980 để đáp ứng nhu cầu phát triển của nền kinh tế thị trường và hoàn thiện hệ
thống pháp luật. Theo Xianghua Hao (2010) [54], kế toán điều tra thường do một
bên thứ ba độc lập thực hiện, và thông qua các thủ tục và phương pháp nhất định để
khảo sát, tính toán, phân tích và quản lý các chỉ tiêu tài chính, tổn thất kinh tế, hoặc
các vấn đề pháp lý trong việc quản lý các xung đột lợi ích kinh tế, và lập các báo
cáo kế toán điều tra, cung cấp các tài liệu tham khảo cho tòa án hoặc cơ quan trọng
tài hoặc cơ quan quản lý, xác nhận trách nhiệm pháp lý, hoặc cung cấp dịch vụ tư
vấn quản lý. Kế toán điều tra xuất hiện do sự phát triển của môi trường kinh tế, sự
phát triển của nghề nghiệp.
Theo Apostolou, Hassell, và Webber, (2000) [12] kế toán điều tra là sự kết
hợp chuyên môn kế toán, kiểm toán và các kỹ năng điều tra để hỗ trợ các vấn đề
pháp lý. Đây là một lĩnh vực chuyên ngành kế toán nhằm cam kết xác định kết quả
các vụ tranh chấp, kiện tụng thực tế hoặc dự kiến. Kế toán điều tra có thể, do đó,
được xem như là một lĩnh vực của kế toán, kết hợp với mục đích pháp lý và cung
cấp mức độ đảm bảo cao nhất.
1.3.1.2. Công việc kế toán điều tra
Kế toán điều tra trong tiếng Anh là Forensic Accounting, “Forensic” trong từ
điển Webster [55] có nghĩa là “belonging to, used in, or suitable to courts of
judicature or to public discussions and debate” nghĩa là được dùng cho Tòa án pháp
luật. Theo nghĩa này, kế toán điều tra là một lĩnh vực của kế toán kết hợp với chức
năng tư pháp. Năm 1986, Theo Hiệp hội kế toán viên công chứng Hoa Kỳ AICPA,
kế toán điều tra bao gồm hai lĩnh vực: (1) Hỗ trợ pháp lý (Litigation Support) và (2)
điều tra kế toán (Investigative Accounting).
23
(1) Hỗ trợ pháp lý (Litigation Support): là sự hỗ trợ chuyên môn kế toán trong
các vấn đề liên quan đến pháp lý. Nó chủ yếu liên quan đến việc định lượng giá trị
thiệt hại.
Theo Hiệp hội kế toán viên công chứng Hoa Kỳ AICPA, dịch vụ pháp lý là
hoạt động hỗ trợ không liên quan đến công việc luật sư được thực hiện bởi các
chuyên gia chuyên ngành cung cấp kết quả cho luật sư. AICPA đã phát hành bản
Hỗ trợ thực hành 7 (Practice Aid 7) [37] mô tả sáu hoạt động của dịch vụ hỗ trợ
pháp lý trong bảng 1.3 bên dưới:
Bảng 1.2: Các loại dịch vụ hỗ trợ pháp lý
Định giá Giá trị doanh nghiệp Hưu trí Giá trị vô hình Tài sản Tƣ vấn tổng quát Phân tích thống kê bảo hiểm Phân tích thống kê Dự án
Xác định giá trị thiệt hại Lợi nhuận lỗ Giá trị Dòng tiền Doanh thu Chi phí tăng them Phân tích chống độc quyền Giá cố định (Price-fixing) Thị phần Định giá dưới giá thành Bán phá giá và các hành vi phân biệt giá khác Hệ thống kỹ thuật công nghiệp Các hành động chống cạnh tranh Sự độc quyền Kế toán Phá sản Kiểm tra Chi phí và bồi thường hợp đồng
Phân tích thị trường Tư vấn hệ thống thông tin Phân tích Thuế Phân bổ chi phí Ứng xử thuế trong các nghiệp vụ đặc biệt Tuân thủ quy định công nghiệp Gian lận (Dân sự và hình sự) Phân tích số liệu Luật hôn nhân gia đình
Nguồn: Practice Aid 7, AICPA, 1986
(2) Điều tra kế toán (Investigative Accounting): là việc tìm kiếm bằng chứng
xác định thủ phạm như điều tra biển thủ tài sản của nhân viên, hoặc tìm kiếm bằng
24
chứng làm cơ sở bồi thường thiệt hại như bồi thường bảo hiểm, bồi thường tai nạn
lao động v.v…
1.3.1.3. Phân biệt kế toán điều tra (Forensic Accounting)
Kế toán điều tra bao gồm hoạt động điều tra gian lận (Fraud Investigation) hay
kiểm toán gian lận (Fraud Audit), nhưng ngược lại điều tra gian lận (Fraud
Investigation) hay kiểm toán gian lận (Fraud Audit) không được xem là kế toán điều
tra (Forensic Accounting). Như vậy ta cần phân biệt các thuật ngữ này với nhau. Và
phân biệt kế toán điều tra và kiểm toán độc lập để hiểu rõ hơn về kế toán điều tra.
Kiểm toán gian lận (Fraud Auditing) là việc dùng các kỹ thuật và phương pháp
chuyên môn để phát hiện gian lận; hay nói cách khác, kiểm toán viên tìm kiếm các
bằng chứng làm cơ sở phát hiện gian lận. Mục đích của kiểm toán gian lận hay việc
điều tra gian lận (Fraud Investigation) là chấp nhận hoặc bác bỏ sự tồn tại của gian
lận. Dựa vào các nghiên cứu trước, kế toán điều tra chỉ được yêu cầu sau khi có
bằng chứng hoặc nghi ngờ gian lận đã xảy ra do sự tố giác, phàn nàn hoặc sự phát
hiện tình cờ.
Kiểm toán gian lận có thể là kế toán viên hay kiểm toán viên thỏa các yêu cầu
đạo đức về nghề nghiệp, có chuyên môn cao trong phát hiện và chứng minh gian lận
trên sổ sách kế toán trong các nghiệp vụ và sự kiện. Nói cách khác, kiểm toán gian
lận là công việc phát hiện, ngăn ngừa, và chỉnh sửa gian lận dựa trên sự đảm bảo
hợp lý (loại bỏ gian lận hoàn toàn là không khả thi do các hạn chế vốn có) (Tommie
W. Singleton [53])
Kế toán điều tra được đào tạo, có kinh nghiệm, hiểu biết các cách thức khác
nhau trong điều tra gian lận bao gồm: cách phỏng vấn (đặc biệt là phỏng vấn nghi
phạm), cách viết báo cáo dành cho khách hàng và Tòa án, cách trình bày bằng
chứng chuyên môn (Expert Testimony) tại Tòa án, và nguyên tắc của chứng cớ.
25
Như vậy, kiểm toán gian lận (Fraud Auditing) chỉ là một phần công việc của kế toán
điều tra.
Điều tra gian lận (Fraud Investigation) tương tự như kiểm toán gian lận (Fraud
Auditing), ngoại trừ cách điều tra thu thập nhiều bằng chứng phi tài chính, như
phỏng vấn, hơn là kiểm toán gian lận.Vì vậy, điều tra gian lận bao gồm kiểm toán
gian lận nhưng thu thập nhiều bằng chứng phi tài chính.
Kiểm toán báo cáo tài chính (Financial Auditing) hoàn toàn khác so với kế
toán điều tra và kiểm toán gian lận. Kiểm toán báo cáo tài chính cung cấp sự đảm
bảo hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu rằng báo cáo tài chính được trình bày theo
các chuẩn mực không còn có các sai sót trọng yếu.
Như phân tích ở phần 1.2.1, kiểm toán báo cáo tài chính chịu trách nhiệm về
các gian lận trên báo cáo tài chính. Các kỹ thuật kiểm toán báo cáo tài chính được
thiết kế để phát hiện các sai sót tính gộp hay riêng rẽ đủ lớn để trở nên trọng yếu.
Kiểm toán gian lận và kế toán điều tra không dựa trên mức trọng yếu. Công việc
của kiểm toán báo cáo tài chính hay chương trình kiểm toán được liệt kê thành các
mục cần phải hoàn thành, để có thể phát hành ý kiến kiểm toán về sự đảm bảo hợp
lý rằng báo cáo tài chính không còn sai sót trọng yếu.
Tóm lại, kiểm toán gian lận (Fraud Auditors), kế toán điều tra (Forensic
Accounting), điều tra gian lận (Fraud Investigation) thường đặt các thông tin cùng
với nhau hơn là tách riêng các thông tin như kiểm toán báo cáo tài chính truyền
thống. Phương pháp suy luận của kế toán điều tra thường là quy nạp hơn diễn dịch.
Kiểm toán báo cáo tài chính không có mục tiêu chính là phát hiện gian lận như kiểm
toán gian lận hay điều tra gian lận.
26
Bảng 1.3: Bảng tóm tắt phân biệt các thuật ngữ kế toán điều tra, kiểm toán gian
lận, kiểm toán điều tra, kiểm toán báo cáo tài chính truyền thống.
Mục tiêu
Kế toán điều tra (Forensic Accounting) Kiểm toán gian lận (Fraud Auditting) Kiểm toán điều tra (Investigative Auditing)
thập
Là một hoạt động thuộc kế toán điều tra, tìm kiếm bằng chứng và chứng minh về gian lận. bằng Thu chứng để có thể chứng minh trước lận, Tòa về gian định giá, chống độc quyền v.v…
Kiểm toán báo cáo tài chính (Financial Accounting) KTV đưa ra ý kiến trên cơ sở rủi ro về việc trình bày báo cáo tài chính một trung cách thực trên các hợp lý trọng khía cạnh yếu, phù hợp với các Chuẩn mực và quy định có liên quan. Xem xét các tài liệu tài chính cho các mục đích cụ thể, có thể liên quan đến hỗ trợ pháp lý và xác định các yêu cầu bồi thường bảo hiểm cũng như tội các vấn đề phạm hình sự
1.3.2. Một số nghiên cứu về kế toán điều tra
Fadzly, M.N. và Ahmad, Z. (2004) [26] sử dụng phương pháp định lượng
nhằm chứng minh sự tồn tại khoảng cách kỳ vọng kiểm toán tại Malaysia với bảng
câu hỏi khảo sát được phân phát cho 1.300 đối tượng (300 kiểm toán viên, 400 nhà
đầu tư, 300 chuyên viên môi giới, 300 chuyên viên ngân hàng) . Dựa vào dữ liệu
phân tích hợp lệ của 398 đối tượng (chiếm 30,6% tỷ lệ hồi đáp), tác giả kết luận,
Malaysia tồn tại khoảng cách kỳ vọng về trách nhiệm của kiểm toán viên trong phát
hiện và ngăn chặn gian lận giữa nhóm phi kiểm toán và nhóm kiểm toán. Vì vậy, tác
giả đề xuất tăng cường các tài liệu tham khảo về trách nhiệm của kiểm toán viên
nhằm giảm thiểu các khoảng cách không hợp lý. Như vậy, mong muốn đạt được kết
quả phát hiện và ngăn chặn gian lận không thể tiếp cận từ kiểm toán truyền thống
mà từ một khái niệm mới đang dần trở nên thiết thực – Kế toán điều tra (Forensic
Accounting).
27
Kasum (2009) [34] đánh giá ảnh hưởng của các gian lận tài chính tại các nước
đang phát triển và xác định nhu cầu dịch vụ kế toán điều tra giữa khu vực công và
khu vực tư tại Nigeria. Tác giả tiến hành khảo sát 300 đối tượng gồm kế toán, luật
sư, các nhà kinh tế, chuyên viên ngân hàng; và có 264 phiếu khảo sát hợp lệ để tiến
hành phân tích, kiểm định các giả thuyết nghiên cứu. Kết quả phân tích cho thấy
gian lận và tham ô không những kiềm hãm sự phát triển kinh tế, ảnh hưởng tiêu cực
đến đời sống người dân mà còn tạo ra hình ảnh xấu tại các nước đang phát triển, vì
vậy, dịch vụ kế toán điều tra được xem như công cụ phát hiện và ngăn ngừa gian lận
hữu hiệu, đặc biệt là nhu cầu dịch vụ kế toán điều tra tại khu vực công. Từ đó, tác
giả khuyến nghị Hội nghề nghiệp kế toán tại các nước đang phát triển cần sớm hình
thành và phát triển lĩnh vực kế toán điều tra; Chính phủ nên áp dụng kế toán điều tra
nhằm giám sát và điều tra các gian lận tham ô; Các nhà nghiên cứu học thuật cần
nghiên cứu và phát triển các kỹ thuật về kế toán điều tra; các chuyên gia kế toán nên
thành lập các công ty chuyên về dịch vụ kế toán điều tra.
Cemal Elitas và cộng sự (2011) [15] khảo sát ý kiến của 144 đối tượng liên
quan đến chuyên ngành kế toán tại các trường đại học Thổ Nhĩ Kỳ có học vị gồm
4,2% cử nhân; 22,2% thạc sỹ; 73,6% tiến sỹ. Dữ liệu được xử lý bằng phần mềm
SPSS 15. Cuộc nghiên cứu đo lường mức độ nhận biết của các đối tượng trên về kế
toán điều tra – một chuyên môn mới chưa áp dụng tại Thổ Nhĩ Kỳ. Câu hỏi khảo sát
được thiết kế theo thang đo Likert 5 mức độ. Kết quả cho thấy, giữa các nhóm khảo
sát có sự đồng thuận cao rằng với sự phát triển pháp lý hiện tại, Thổ Nhĩ Kỳ sẵn
sàng triển khai kế toán điều tra; các đối tượng khảo sát cũng mong muốn có các tổ
chức thực hiện hướng dẫn, tổ chức các buổi hội thảo v.v…; bên cạnh đó, cần có bậc
học sau đại học để đào tạo sâu hơn về chuyên môn kế toán điều tra.
Efiong (2012) [25] thiết kế nghiên cứu thực nghiệm khảo sát 168 sinh viên kế
toán năm thứ ba và năm thứ tư tại 3 trường đại học của Nigeria về kế toán điều tra,
gồm đại học Calabar, đại học Công nghệ Cross River và đại học Uyo thông qua
bảng câu hỏi thang đo Likert 5 mức độ. Kết quả khảo sát cho thấy mức độ nhận biết
28
thấp về sự tồn tại của kế toán điều tra của sinh viên. Các sinh viên đồng ý về sự tồn
tại của kế toán điều tra, trả lời nguồn thông tin về kế toán điều tra từ Internet chiếm
36,6%; sách giáo khoa chiếm 10%; thông qua lớp học chỉ chiếm 12,22%... cho thấy
kiến thức về kế toán điều tra trong giảng đường đại học là thấp.
Kennedy (2013) [35] tiến hành khảo sát 143 đối tượng thuộc bốn nhóm: kiểm
toán viên nội bộ, kiểm toán viên độc lập, kế toán viên, các nhà quản lý, trong đó có
37% là thạc sỹ khoa học, 47% là cử nhân kinh tế, và 16% là các học vị khác, thông
qua bảng câu hỏi khảo sát Likert 5 mức độ nhằm kiểm định các giả thuyết về ảnh
hưởng của kế toán điều tra đến kiểm soát gian lận tài chính, mối quan hệ giữa kế
toán điều tra và chất lượng của báo cáo tài chính, và vai trò của kế toán điều tra đến
việc cải thiện kiểm soát nội bộ. Bài nghiên cứu thực nghiệm đã cung cấp cơ sở khoa
học cho các giả thuyết về ngăn ngừa gian lận tài chính của kế toán điều tra tại
Nigeria thông qua mức độ đồng ý cao của các nhóm khảo sát về các giả thuyết
nghiên cứu trên. Từ đó, tác giả khuyến nghị Viện Kế toán Nigeria, Hiệp hội Kế toán
quốc gia Nigeria, và Ủy ban các Đại học quốc gia Nigeria nên phát triển và chuyên
môn hoá về kế toán điều tra; ngoài ra, các cơ quan Nhà nước tại Nigeria nên áp
dụng kế toán điều tra trong giám sát và điều tra về tham nhũng.
Okoye & Gbegi (2013) tiến hành kiểm định giả thuyết nghiên cứu về nhu cầu
kế toán điều tra trong việc phát hiện và ngăn ngừa gian lận tại các tổ chức thuộc khu
vực công tại Kogi State, Nigeria. Dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ 350 nhân
viên từ 5 cơ quan bộ ngành tại Kogi State (Bộ Tài chính, Bộ Tư pháp, Bộ Nội vụ,
Bộ Kế hoạch và Ngân sách, Bộ Công nghiệp và Thương mại) trên 370 phiếu khảo
sát được phát ra. Bằng phương pháp kiểm định ANOVA, kết quả nghiên cứu cho
thấy việc áp dụng kế toán điều tra làm giảm đáng kể các trường hợp vi phạm gian
lận tại khu vực công, đặc biệt đối với nhận định của các kế toán điều tra viên và
kiểm toán viên độc lập, vì vậy việc áp dụng kế toán điều tra giúp phát hiện và ngăn
ngừa hữu hiệu các trường hợp gian lận. Từ đó, dịch vụ kế toán điều tra nên thay thế
dịch vụ kiểm toán độc lập truyền thống tại Kogi State, do đó, cần triển khai đào tạo
29
về lĩnh vực kế toán điều tra và cần thiết xây dựng, phát triển các chuẩn mực nghề
nghiệp liên quan.
1.3.3. Kinh nghiệm phát triển kế toán điều tra tại một số nƣớc trên thế giới
1.3.3.1. Canada
Tại Canada, kế toán điều tra được xem như một nghề nghiệp chuyên môn.
Hiệp hội kế toán Canada (The Certified General Accountants Association of
Canada) công nhận kế toán điều tra là một ngành nghề mới, và hợp tác cùng với
Hiệp hội kế toán công chứng Canada (Canadian Institute of Chartered Accountants)
xây dựng chuẩn mực phù hợp.
1.3.3.2. Australia
Kế toán điều tra có cơ hội làm việc trong các ngành kinh tế, giáo dục, văn
phòng luật sư, các cơ quan Nhà nước như Ủy ban Chứng khoán và Đầu tư Australia
(Australian Securities and Investment Commission), Cơ quan Thuế vụ Australia
(Australian Tax Office), Cơ quan An ninh Kinh tế Australia (Financial Action Task
Force)… Các tổ chức chuyên ngành sẽ hợp tác cùng Hiệp hội kế toán viên công
chứng hành nghề Australia ( Certified Public Accountants) và Viện kế toán công
chứng Australia ( Institute of Chartered Accountants of Australia) về chuyên môn
kế toán điều tra. Bên cạnh đó, Australia là một trong các nước đầu tiên có chương
trình giảng dạy về kế toán điều tra bậc sau đại học. Bậc học thạc sĩ về kế toán điều
tra đào sâu về khả năng điều tra gian lận. Các khóa học được xây dựng trên nền tảng
các nghiên cứu bậc đại học và sau đại học kết hợp các kinh nghiệm thực tế trong
các lĩnh vực pháp luật, quản trị doanh nghiệp, tài chính, và các chuẩn mực đạo đức
nghề nghiệp v.v…
1.3.3.3. Hoa Kỳ
Sau cuộc khủng hoảng tài chính kế toán Enron, WorldCom, Xerox, đạo luật
Ssarbanes – Oxley được Quốc hội Mỹ thông qua nhằm tăng cường tính minh bạch
30
của thị trường và lấy lại sự tin cậy của các nhà đầu tư. Đạo luật trên đã mở ra một
chuyên ngành mới, điều tra gian lận cho kế toán điều tra, dựa trên yêu cầu ban quản
trị công ty xác nhận báo cáo tài chính không còn các sai sót và gian lận trọng yếu.
Tại Hoa Kỳ, kế toán điều tra có nhiều cơ hội làm việc tại Cơ quan điều tra liên
bang Hoa Kỳ (FBI), Cục tình báo Trung ương (CIA), Sở thuế vụ địa phương (IRS),
Ủy ban Thương mại liên bang (FTC), Văn phòng kiểm toán hoạt động của Chính
phủ (GAO) và các cơ quan khác. Văn phòng kiểm toán hoạt động của Chính phủ
(GAO) xây dựng hệ thống FraudNet (địa chỉ email, fax, số điện thoại phản ánh trực
tiếp) nhằm ghi nhận các phản ánh của người dân (thông tin người phản ánh được
bảo mật) về các hành vi lãng phí, gian lận, biển thủ, lạm quyền theo Đạo luật Phục
hồi và Tái đầu tư năm 2009.
Bên cạnh đó, phần mềm và hệ thống thông tin kế toán tại Hoa Kỳ phát triển
nhanh chóng tạo đà phát triển các kỹ thuật của kế toán điều tra nhằm phát hiện các
gian lận.
1.4. Tóm tắt chƣơng 1
Từ đầu thế kỷ 21 đến nay, trên thế giới đã trải qua hai đợt khủng hoảng tài
chính toàn cầu. Đó là cuộc khủng hoảng do sự phá sản của các công ty hàng đầu
trên thế giới vào những năm 2000, trong đó có liên quan đến sai phạm của công ty
kiểm toán quốc tế lớn là Authur Andersen khiến cho công ty này đã bị chấm dứt
hoạt động. Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu gần đây vào năm 2009 dù không
kèm theo sự phá sản của một công ty kiểm toán quốc tế lớn nào nhưng ngành kiểm
toán toàn cầu cũng bộc lộ các khiếm khuyết cần phải điều chỉnh cho phù hợp. Kế
toán điều tra (Forensic Accounting), thuật ngữ trở nên phổ biến từ năm 1946 từ bài
báo của Maurice E. Peloubet, là sự kết hợp kỹ năng kế toán và kiểm toán nhằm thu
thập bằng chứng phục vụ các vấn đề pháp lý. Tuy kế toán điều tra tương tự như
kiểm toán, trong thu thập bằng chứng, nhưng nó không hoàn toàn giống kiểm toán
vì kế toán điều tra có chức năng tư pháp hỗ trợ các vấn đề pháp lý mà kiểm toán
31
không có. Mặt khác, kiểm toán báo cáo tài chính không phát hiện gian lận do thủ
tục chọn mẫu, các thủ tục kiểm toán được thiết kế nhằm phát hiện các gian lận, sai
sót trọng yếu, và sự hạn chế về nguồn lực. Tam giác gian lận, lý thuyết về nguyên
nhân của hành vi gian lận, là phương pháp suy luận hữu ích cho kế toán điều tra khi
phân tích các dấu hiệu gian lận lá cờ đỏ trong phát hiện và ngăn ngừa gian lận.
32
CHƢƠNG 2
THỰC TRẠNG NHU CẦU KẾ TOÁN ĐIỀU TRA TẠI VIỆT NAM
2.1. Tình hình gian lận tại Việt Nam từ năm 2009 đến nay
2.1.1. Một số loại tội phạm kinh tế trong luật pháp Việt Nam
2.1.1.1. Tội tham ô tài sản
Khái niệm:
Điều 278, Chương XXI – Các tội phạm về chức vụ của Bô luật Hình sự nước
Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm 1999 quy định tội tham ô tài sản như
sau “Người lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản mà mình có trách nhiệm
quản lý”. Như vậy tham ô tài sản là hành vi vì mục đích tư lợi đã lợi dụng chức vụ,
quyền hạn để chiếm đoạt tài sản mà mình có trách nhiệm quản lý.
Tác hại của tội phạm tham ô tài sản:
+ Về kinh tế: Tội tham ô tài sản xâm phạm quyền sở hữu tài sản của Nhà nước, của
tập thể; làm thất thoát, lãng phí về tài sản, làm mất cân đối thu chi ngân sách Nhà
nước, tác động trực tiếp đến hiệu quả thực hiện chương trình kinh tế xã hội, cản trở
việc thực hiện chính sách của Đảng, Nhà nước.
+ Về tư tưởng: Làm suy giảm lòng tin của quần chúng nhân dân, của Đảng viên đối
với sự lãnh đạo của Đảng và hiệu lực quản lý của Nhà nước (PGS.TS – Nguyễn
Đình Hựu, 2005) [3].
2.1.1.2. Tội cố ý làm trái các quy định về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm
trọng.
Khái niệm:
33
Điều 165, Bộ luật hình sự nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm
1999 quy định tội cố ý làm trái gây hậu quả nghiêm trọng, như sau: “Người lợi dụng
chức vụ, quyền hạn cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế”.
Dấu hiệu về mặt hành vi của tội phạm:
Hành vi khách quan của tội cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý
kinh tế chính là hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn làm trái quy định của Nhà
nước về quản lý kinh tế, bao gồm hai trường hợp:
Thứ nhất: Không làm những quy định của Nhà nước đã đề ra trong quản lý
kinh tế.
Thư hai: Có làm nhưng làm không đầy đủ hoặc làm nhưng làm khác với quy
định của Nhà nước đề ra.
Hành vi làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế được coi là hệ quả
của hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn; hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn là
tiền đề, là thủ đoạn mà người phạm tội sử dụng để làm trái với quy định của Nhà
nước về quản lý kinh tế (Nguyễn Văn Minh, 2007) [5].
2.1.1.3. Tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Khái niệm:
Điều 139 Chương XIV Tội xâm phạm sở hữu Bộ luật hình sự nước Cộng hòa
Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm 1999 quy định về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
như sau “Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác…”
Đặc điểm của Tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản:
Thủ đoạn gian dối của bọn tội phạm lừa đảo được hiểu là dùng mọi phương
pháp giấu giếm nội dung sai sự thật (ít nhiều hoặc hoàn toàn) làm cho người có
34
trách nhiệm quản lý, bảo quản tài sản tưởng giả là thật nghĩ kẻ gian là người ngay
nên đã giao tài sản cho kẻ tội phạm mà không biết.
Hành vi gian dối trong lừa đảo chiếm đoạt tài sản được thực hiện trước hoặc
sau hành vi chiếm đoạt tài sản. Hành vi dối trá rất đa dạng, có thể bằng lời nói, dùng
hồ sơ giả, giấy tờ giả, giả danh người có chức, có quyền, giả mạo tổ chức ký kết các
hợp đồng (PGS.TS – Nguyễn Đình Hựu, 2005). [3]
2.1.2. Phân biệt kế toán điều tra và việc điều tra của các cơ quan Nhà nƣớc
2.1.2.1. Giống nhau
Cùng thu thập tài liệu chứng cứ, bằng chứng làm rõ hiện tượng, sự việc cụ thể,
nhằm trả lời các câu hỏi “Việc gì, bởi tại làm sao, bao giờ, ai thấy, thế nào, ở đâu”
(PGS.TS – Nguyễn Đình Hựu, 2005) [3].
2.1.2.2. Khác nhau
Vị trí pháp lý:
Việc điều tra của cơ quan điều tra như Công an kinh tế, Viện Kiểm sát… khi
có sự tố giác.Việc điều tra là hoạt động hành pháp, nhân danh quyền lực Nhà nước.
Việc kiểm toán của cơ quan Kiểm toán Nhà nước theo kế hoạch, theo luật Kiểm
toán Nhà nước quy định. Cơ quan điều tra và hoạt động của cơ quan điều tra hình sự
do Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 quy định thể hiện ở các Điều 34, 35, 110, 111.
Dịch vụ kế toán điều tra là dịch vụ được cam kết trên cơ sở hợp đồng có thu
phí, thực hiện theo quyền và nghĩa vụ quy định trong hợp đồng nhằm thu thập bằng
chứng theo yêu cầu của hợp đồng, có chức năng tư pháp khi chứng minh bằng
chứng trước Tòa.
Về phƣơng pháp:
35
Cơ quan điều tra: Trong quá trình điều tra, các cơ quan điều tra có quyền và có
nghĩa vụ áp dụng tất cả các biện pháp do pháp luật tố tụng hình sự quy định để
khám phá tội phạm như: triệu tập, hỏi cung, áp giải, cao hơn nữa là các biện pháp
ngăn chặn như bắt giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lãnh, đặt tiền hoặc tài
sản có giá trị để bảo đảm.
Kế toán điều tra: Căn cứ vào chuẩn mực hành nghề, các Bộ luật, văn bản dưới
luật hướng dẫn, bao gồm: phân tích, phỏng vấn, đối chiếu, kiểm tra sổ sách chứng
từ, thu thập thông tin tố giác trong nội bộ v.v… nhưng không được sử dụng biện
pháp ngăn chặn.
2.1.3. Tình hình gian lận tại Việt Nam từ năm 2009 đến nay
Từ năm 2009, do khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế đã tác động mạnh
đến tình hình tội phạm kinh tế diễn ra ngày càng phức tạp. Trong lĩnh vực tài chính,
ngân hàng, số vụ phạm pháp xảy ra nhiều, gây thiệt hại lớn về tài sản với một số thủ
đoạn mới, nhiều vụ án có sự tiếp tay của cán bộ ngân hàng tạo thành đường dây
khép kín gây khó khăn cho công tác phát hiện, điều tra (vụ cố ý làm trái tại Ngân
hàng Công thương Chi nhánh Long Thành - Đồng Nai thiệt hại hàng trăm tỷ đồng;
vụ Giám đốc Công ty cổ phần Tổng hợp quốc tế T&D và công ty Cao Cường lừa
đảo chiếm đoạt trên 130 tỷ đồng của ngân hàng và một số người dân; vụ cán bộ tín
dụng Ngân hàng Đầu tư và phát triển Đăk Lăk giả mạo chữ ký của lãnh đạo ngân
hàng và của khách hàng để chiếm đoạt 9 tỷ đồng…). Tội phạm tham nhũng vẫn
tiềm ẩn trong các ngành, lĩnh vực kinh tế trọng điểm, nhất là trong quản lý, sử dụng
đất đai, giải phóng mặt bằng, phê duyệt và triển khai các dự án, xây dựng cơ
bản…Các vụ án tham nhũng thường có sự móc nối, câu kết của nhiều loại đối
tượng, với nhiều phương thức, thủ đoạn thực hiện và che dấu hành vi phạm tội (vụ
tham ô tại Công ty cổ phần xi măng Mai Sơn - Sơn La; vụ lợi dụng chức vụ quyền
hạn tại Công ty Công nghiệp rừng Tây Nguyên…). Đáng chú ý, tình trạng tham
nhũng trong thực hiện các chính sách xã hội gây bức xúc trong nhân dân (vụ tham ô
36
hơn 700 triệu đồng tại Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Yên Thủy,
Hòa Bình).
Ngày 30/07/2014, buổi làm việc với Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, trung
tướng Phan Văn Vĩnh, Tổng cục trưởng Tổng cục Cảnh sát phòng chống tội phạm –
Bộ Công an, cho biết tội phạm hình sự giảm mạnh so với cùng kỳ nhưng tội phạm
kinh tế, tham nhũng vẫn diễn ra phức tạp ở nhiều ngành, lĩnh vực. Toàn quốc phát
hiện hơn 7.000 vụ, 7.684 đối tượng, tăng 3,23% về số vụ và 19,73% về đối tượng
so với cùng kỳ năm 2013. Ông Vĩnh đưa ra dẫn chứng các vụ án Bộ Công an đấu
tranh trong thời gian qua như vụ Huỳnh Thị Huyền Như, Nguyễn Đức Kiên, Dương
Chí Dũng và gần nhất là vụ Phạm Công Danh, nguyên Chủ tịch Hội đồng thành
viên Công ty TNHH Tập đoàn Thiên Thanh, nguyên Chủ tịch Hội đồng quản trị
Ngân hàng thương mại cổ phần xây dựng VN (VNCB)… để cho thấy loại tội phạm
kinh tế, tham nhũng trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, cho vay tiền gửi, chứng
khoán tiếp tục có diễn biến phức tạp, gây thất thoát khối lượng lớn tài sản của nhà
nước và doanh nghiệp, tác động xấu đến quá trình tái cơ cấu kinh tế và hoạt động
của hệ thống ngân hàng.
Cụ thể, tác giả cũng thu thập một số vụ án liên quan đến gian lận kinh tế từ
năm 2009 đến tháng 8/2014 được tóm tắt trong phụ lục 4 (Một số vụ án gian lận
kinh tế từ năm 2009). Qua đó cho thấy, các thủ thuật gian lận ngày càng tinh vi, và
mức thiệt hại ngày càng lớn. Các thủ thuật do thủ phạm sử dụng phù hợp với các
công trình nghiên cứu trước. Đa số các vụ án đều do tố giác, công an điều tra, Tòa
án xét xử kéo dài nhiều năm mới đưa ra án phạt cuối cùng.
2.2. Thiết kế nghiên cứu
Qua phân tích trên, tình hình gian lận tại Việt Nam trở nên phức tạp hơn, gây
thiệt hại ngày càng nghiêm trọng. Vì vậy cần có biện pháp phát hiện, ngăn ngừa
càng sớm càng tốt. Bên cạnh đó, kế toán điều tra nổi lên như một phương pháp hữu
hiệu trong phát hiện điều tra gian lận và hỗ trợ pháp lý trong xét xử gian lận. Do
37
vậy, bài nghiên cứu khám phá tập trung đo lường nhận biết về nhu cầu kế toán điều
Vấn đề và mục tiêu nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết
Nghiên cứu định tính n = 100
Đặt giả thuyết, xây dựng thang đo
Nghiên cứu định lượng n = 176
Phát triển thang đo
Xử lý và phân tích dữ liệu
Kiểm định thang đo, kết luận giả thuyết
Báo cáo nghiên cứu
tra tại Việt Nam. Bài nghiên cứu được thiết kế như hình 2.1 bên dưới:
Hình 2.1: Thiết kế nghiên cứu
Bài nghiên cứu nhằm khám phá nhu cầu kế toán điều tra tại Việt Nam gồm hai
bước chính như sau:
o Nghiên cứu định tính: Từ mục tiêu nghiên cứu về nhu cầu kế toán điều tra,
tra cứu lý thuyết (Literature review) đưa ra thang đo nháp. Sau đó tiến hành nghiên
cứu định tính bằng cách thảo luận với chuyên gia (đồng nghiệp là kiểm toán viên)
qua dàn bài thảo luận (Phụ lục 9_Dàn bài thảo luận).
o Nghiên cứu định lượng: Dựa vào thang đo từ nghiên cứu định tính tiếp tục
tiến hành nghiên cứu định lượng, thu thập dữ liệu, phân tích dữ liệu và kiểm định
giả thuyết nghiên cứu.
38
2.3. Phƣơng pháp nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
2.3.1. Chọn mẫu
Phương pháp chọn mẫu phi xác suất được tiến hành theo cách chọn mẫu thuận
tiện, có nghĩa là lấy mẫu dựa trên sự thuận lợi hay dựa trên tính dễ tiếp cận của đối
tượng, ở những nơi mà nhân viên điều tra có nhiều khả năng gặp được đối tượng.
Phương pháp thu thập dữ liệu gồm bảng câu hỏi định lượng được phát trực
tiếp và gửi qua email với biểu mẫu Google Docs. Số lượng bảng câu hỏi gửi đi là
250. Số lượng bảng câu hỏi thu về là 210/250 chiếm tỷ lệ hợp lệ 84%. Sau đó các
bảng câu trả lời này được loại bớt do không điền đầy đủ thông tin theo yêu cầu, còn
lại 176/210, tỷ lệ đạt yêu cầu chiếm 83%.
Bên cạnh đó, cỡ mẫu còn phụ thuộc vào phương pháp phân tích, để thực hiện
phương pháp phân tích nhân tố khám phá, theo Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng
Ngọc (2005) [1], số lượng mẫu cần thu thập gấp 5 lần số lượng thang đo; bài nghiên
cứu xây dựng 20 mục hỏi (20 mục hỏi x 5 = 100 mẫu quan sát), mẫu quan sát ít nhất
là 100. Bài nghiên cứu này tiến hành khảo sát 176 người được xem như phù hợp với
yêu cầu của thống kê.
Trong bài, các kiểm toán viên được phát phiếu khảo sát tại lớp học cập nhật
kiến thức ngày 26/09/2014 tại TP. HCM và đồng nghiệp tại công ty; các kế toán,
luật gia được phát phiếu khảo sát tại các lớp học thạc sỹ của trường Đại học Kinh
Tế TP. HCM, và qua công cụ Google Docs; các giảng viên chuyên ngành được thu
thập trực tiếp, hay qua Google Docs chủ yếu tại các trường Đại học Kỹ Thuật Công
Nghệ TP. HCM, Đại học Kinh Tế TP. HCM, Đại học Mở và một số trường Đại học
khác (Phụ lục 13 – Danh sách đối tượng khảo sát)
39
2.3.2. Phƣơng pháp phân tích
Bảng câu hỏi được thiết kế gồm 20 mục hỏi theo thang đo Likert 5 mức độ,
với 1 là “Hoàn toàn không đồng ý”, 2 là “Không đồng ý”, 3 là “Trung lập”, 4 là
“Đồng ý” và 5 là “Hoàn toàn đồng ý”. Thang đo Likert đo lường các mục hỏi trong
bảng 2.1 bên dưới:
Bảng 2.1: Xây dựng thang đo
STT Câu phát biểu Tham khảo
1 Các thủ tục kiểm toán không thể phát hiện tất cả Tác giả tổng hợp gian lận.
2 Kiểm toán viên không có trách nhiệm phát hiện tất Fadzly (2004) [26]
cả gian lận.
3 Các dư luận về gian lận xảy ra tạo kỳ vọng dịch vụ Kennedy (2013)[35] phát hiện và ngăn chặn gian lận.
Okoye(2013)[42]
4 Dịch vụ kế toán điều tra gian lận (Forensic Accounting) khác với dịch vụ kiểm toán truyền thống.
Kennedy (2013)[35]
5 Dịch vụ kế toán điều tra gian lận (Forensic Accounting) nâng cao chất lượng của thông tin trên báo cáo tài chính.
Kennedy (2013)[35]
6 Dịch vụ kế toán điều tra gian lận (Forensic Accounting) làm tăng độ tin cậy của các nhà đầu tư, người sử dụng báo cáo tài chính.
7 Hiện nay,Việt Nam có nhu cầu về dịch vụ kế toán
điều tra gian lận (Forensic Accounting).
Kasum(2009)[34] Okoye(2013)[42] Cemal (2011)[15]
8 Với điều kiện pháp lý hiện nay (Luật giám định tư pháp, các nghị định, thông tư hướng dẫn) Việt Nam sẵn sàng triển khai thực hiện kế toán điều tra gian lận(Forensic Accounting)
Cemal (2011)[15]
9 Các dịch vụ chuyên ngành tài chính ở Việt Nam đã phát triển cao, do đó không cần có dịch vụ hỗ trợ tư vấn trong tranh chấp, kiện tụng (litigation support consultancy)
10 Khu vực tư có nhu cầu về kế toán điều tra gian lận (Forensic Accounting)hơn
11 Kế toán điều tra là công cụ phát hiện và ngăn chặn Kasum(2009)[34] Okoye(2013)[42] Okoye(2013)[42]
gian lận trong khu vực tư hơn
12 Kế toán điều tra gian lận là công cụ phát hiện thành Cemal (2011)[15]
40
công các tội phạm rửa tiền (money laundering) 13 Các kiểm toán viên và kế toán đã được đào tạo đủ Cemal (2011)[15] để phát hiện và ngăn chặn gian lận
Kennedy (2013)[35]
Kennedy (2013) [35] 14 Kế toán điều tra gian lận (Forensic Accounting) giúp hoàn thiện các hoạt động kiểm soát nội bộ 15 Kế toán điều tra gian lận (Forensic Accounting) nâng cao vai trò các quy định bảo vệ nhân viên tố cáo các hành vi sai trái trong tổ chức.
Kennedy (2013)[35]
16 Kế toán điều tra gian lận (Forensic Accounting) có tính hoài nghi nghề nghiệp cao giúp phát hiện các hành vi biển thủ của nhân viên và tham ô, lạm quyền của ban quản lý
Kennedy (2013)[35] 17 Các công ty cung cấp dịch vụ đảm bảo có chuyên môn cao để thực hiện dịch vụ kế toán điều tra gian lận (Forensic Accounting)
Tác giả đề xuất
18 Hoạt động giám định tư pháp có chức năng điều tra, hỗ trợ quá trình truy tố, xét xử như kế toán điều tra (Forensic Accounting). Để xã hội hóa giám định tư pháp trong lĩnh vực tài chính cần quy định văn phòng giám định tư pháp được thành lập, tổ chức, quản lý theo loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn ngoài 2 loại hình doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp danh đã được quy định trong Luật giám định tư pháp số 13/2012/QH13 quy định.
Cemal (2011)[15]
19 Nhằm phát triển dịch vụ kế toán điều tra hay giám định tư pháp trong lĩnh vực tài chính, cần có sự quản lý, giám sát chuyên môn của Hội nghề nghiệp; sự hoàn chỉnh của các chuẩn mực nghề nghiệp và các quy định pháp luật liên quan.
Cemal (2011)[15]
20 Nhằm tăng cường nhận thức về kế toán điều tra (Forensic Accounting) nên đưa kiến thức về kế toán điều tra (Forensic Accounting) vào chương trình giảng dạy trong chuyên ngành.
Dữ liệu sau khi thu thập đạt yêu cầu về nội dung, các thông tin về người được
khảo sát thì được nhập liệu vào phần mềm SPSS 20. Sau đó phân tích dữ liệu theo 4
bước:
Thống kê mô tả
+ Thống kê mô tả các đặc điểm cá nhân: nghề, số năm kinh nghiệm
41
+ Lập bảng tần số tóm tắt câu trả lời bảng khảo sát
Phần mềm Excel cũng được sử dụng để vẽ các đồ thị, biểu đồ từ dữ liệu thống kê
đầu ra của phần mềm SPSS.
Phân tích nhân tố khám phá EFA
Theo Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc (2005) [1] phân tích nhân tố
là tên chung của một nhóm các thủ tục được sử dụng chủ yếu để thu nhỏ và tóm tắt
dữ liệu. (cũng là mục đích chính sử dụng EFA của bài)
Các tham số trong phân tích nhân tố:
+ Bartlett’s test of sphercity : là đại lượng dùng để xem xét giả thuyết các
biến không có tương quan trong tổng thể. Điều kiện cần để áp dụng phân
tích nhân tố là các biến phải có tương quan với nhau. Do đó nếu kiểm
định cho thấy không có ý nghĩa thống kê (Sig. >0,05) thì không nên áp
dụng phân tích nhân tố vào trường hợp này.
+ Correlation matrix: cho biết hệ số tương quan giữa tất cả các cặp biến
trong phân tích.
+ Communaliy: là lượng biến thiên của một biến được giải thích chung với
các biến khác được xem xét trong phân tích. Đây cũng là phần biến thiên
được giải thích bởi các nhân tố chung.
+ Eigenvalue: đại diện cho phần biến thiên được giải thích bởi mỗi nhân tố.
Chỉ những nhân tố nào có eigenvalue > 1 mới giữ lại trong mô hình phân
tích.
+ Factor loadings (hệ số tải nhân tố) : là những hệ số tương quan đơn giữa
các biến và các nhân tố.
42
+ Factor matrix (ma trận nhân tố): chứa các hệ số tải nhân tố của tất cả các
biến đối với các nhân tố được rút ra.
+ Factor scores: là các điểm số nhân tố tổng hợp được ước lượng cho từng
quan sát trên các nhân tố được rút ra. Còn gọi là “nhân số”.
+ Kaiser – Meyer – Olkin (KMO) measure of sampling adequacy: là chỉ số
dùng để xem xét sự thích hợp của phân tích nhân tố. Trị số KMO lớn hơn
hoặc bằng 0.5 là điều kiện đủ để phân tích nhân tố. Ngược lại, thì không
thích hợp cho phân tích nhân tố cho dữ liệu này.
+ Percentage of variance: phần trăm phương sai toàn bộ được giải thích
bởi từng nhân tố. Nếu coi toàn bộ biến thiên là 100% thì giá trị này cho
biết phân tích nhân tố cô đọng được bao nhiêu phần trăm và bao nhiêu
phần trăm thất thoát.
Bên cạnh đó, đối với bài nghiên cứu khám phá và cỡ mẫu 176 thì mục hỏi có
hệ số tải nhân tố < 0,45 sẽ bị loại bỏ bởi vì chúng không hội tụ phù hợp với vấn đề
cần nghiên cứu (Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc (2005) [1]).
Kiểm tra độ tin cậy thang đo
Sau khi tóm gọn thang đo, thang đo cần đánh giá độ tin cậy. Phương pháp
đánh giá độ tin cậy phổ biến nhất là tính hệ số Cronbach Anpha. Đối với nghiên cứu
khám phá, hệ số Cronbach Apha cần > 0.6, và hệ số tương quan biến tổng>0,3
(Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc (2005) [1])
Kiểm định giả thuyết nghiên cứu
Bước cuối cùng là kiểm định giả thuyết nghiên cứu có liên quan ở mục 2.4.3.
43
2.4. Phân tích dữ liệu
2.4.1. Mô tả mẫu
2.4.1.1. Các đặc điểm cá nhân
Mục tiêu của bài nghiên cứu này nhằm đo lường nhận biết của các đối tượng
gồm: kiểm toán viên, kế toán viên, giảng viên chuyên ngành và luật gia về nghề
nghiệp kế toán điều tra (Forensic Accounting), về nhu cầu kế toán điều tra tại Việt
Nam. Sự lựa chọn khảo sát các đối tượng này dựa trên các nghiên cứu trước như
Kasum (2009), Di Gabriele (2010).
Kasum (2009) [34] khảo sát 264 đối tượng gồm kế toán, luật gia, các chuyên
gia kinh tế, nhân viên ngân hàng, các nhà thầu, kỹ sư, các chuyên gia khác có liên
quan đến vấn đề nghiên cứu về sự thích hợp của công cụ kế toán điều tra trong khu
vực công hay khu vực tư trong đấu tranh chống tội phạm tài chính tại các nước đang
phát triển, cuối cùng ông kết luận khu vực công cần kế toán điều tra hơn.
Di Gabriele (2010) [23] thực hiện một cuộc khảo sát về sự nhận biết chức
năng chuyên gia làm chứng (Expert Testimony) của kế toán điều tra trên mẫu gồm
85 giáo sư, 87 kế toán điều tra viên, 86 luật sư, kết quả kế toán điều tra và luật sư có
mức độ nhận biết khác nhau đối với các câu hỏi nghiên cứu, trong khi giáo sư và kế
toán điều tra viên chỉ khác nhau ở một số câu hỏi nghiên cứu chính.
Bảng 2.2: Bảng tần số về nghề nghiệp, số năm kinh nghiệm
Mẫu n=176
Nghề nghiệp - Kế toán - Luật gia - Giảng viên - Kiểm toán viên Số năm kinh nghiệm - Dưới 3 năm - Từ 3 năm đến 5 năm - Từ 6 năm đến 10 năm - Trên 10 năm
Tần số 78 21 33 44 43 55 42 36
Tỳ lệ % 44% 12% 19% 25% 24% 31% 24% 20%
44
Biểu đồ 2.1: Tỷ lệ phần trăm các nhóm nghề nghiệp khảo sát
Nguồn: Tác giả tổng hợp
Như biểu đồ trên, mẫu khảo sát gồm 4 nhóm nghề nghiệp: 78 kế toán viên
chiếm 44%, 21 luật gia chiếm tỷ lệ 12%, 33 giảng viên chiếm tỷ lệ 19%, 44 kiểm
toán viên chiếm 25% .
Phân tích mẫu gồm 176 người, trong đó có 24% dưới 3 năm, 31% từ 3 năm 5
năm, 24% từ 6 năm đến 10 năm, 21% trên 10 năm kinh nghiệm.
Biểu đồ 2.2: Tỷ lệ phần trăm số năm kinh nghiệm
Nguồn: Tác giả tổng hợp
45
2.4.1.2. Tóm tắt các câu trả lời bảng khảo sát
Dữ liệu được giải thích sau đây, với lựa chọn “Hoàn toàn không đồng ý” và
“Không đồng ý” được xem như không đồng ý. Và lựa chọn “Hoàn toàn đồng ý” và
“Đồng ý” được xem như đồng ý:
Trong số các đối tượng được khảo sát có 10,8% không đồng ý rằng các thủ tục
kiểm toán không thể phát hiện tất cả gian lận. Tỷ lệ này nhỏ so với 84,1% đồng ý,
còn lại 5,1% không có ý kiến. Điều này cho thấy, các thủ tục kiểm toán báo cáo tài
chính đạt được sự đồng thuận rằng chúng không thể áp dụng cho mục đích phát
hiện tất cả các gian lận.
Trong số các đối tượng được khảo sát có 60,2% đồng ý với ý kiến kiểm toán
viên không có trách nhiệm phát hiện tất cả gian lận. Như vậy nhận thức của các đối
tượng khảo sát phù hợp với lý thuyết. Tuy nhiên 33,5% cho ý kiến trái ngược chứng
tỏ Việt Nam vẫn tồn tại một khoảng cách kỳ vọng không hợp lý về trách nhiệm của
kiểm toán viên đối với tất cả gian lận.
Có 70,1% đồng ý rằng họ kỳ vọng dịch vụ phát hiện và ngăn chặn gian lận khi
gian lận ngày nay xuất hiện càng nhiều và gây hậu quả ngày càng nghiêm trọng.
Trong số các đối tượng được khảo sát có 74% nhận thức rằng dịch vụ kế toán
điều tra gian lận (Forensic Accounting) khác với dịch vụ kiểm toán truyền thống.
Các đối tượng được khảo sát đồng ý cao với ý kiến cho rằng dịch vụ kế toán
điều tra gian lận (Forensic Accounting) nâng cao chất lượng của thông tin trên báo
cáo tài chính với tỷ lệ 84,6%.
Trong số các đối tượng được khảo sát có 82,9% đồng ý rằng dịch vụ kế toán
điều tra gian lận (Forensic Accounting) làm tăng độ tin cậy của các nhà đầu tư,
người sử dụng báo cáo tài chính.
46
Có 55,1% đồng ý rằng Việt Nam có nhu cầu về dịch vụ kế toán điều tra
(Forensic Accounting);35,2% trung lập; và chỉ có một tỷ lệ nhỏ 9,7% không đồng ý.
Trong số các đối tượng được khảo sát có 37,6% đồng ý rằng với các điều kiện
pháp lý hiện nay, Việt Nam sẵn sàng triển khai thực hiện kế toán điều tra gian
lận;40,3% trung lập; 22,2% không đồng ý chiếm tỷ lệ nhỏ hơn.
Trong số các đối tượng được khảo sát có 71% không đồng ý với ý kiến các
dịch vụ chuyên ngành tài chính ở Việt Nam đã phát triển cao, do đó không cần có
dịch vụ hỗ trợ tư vấn trong tranh chấp, kiện tụng (Litigation support consultancy)
Có 40,9 % đồng ý rằng khu vực tư có nhu cầu kế toán điều tra hơn; tuy nhiên
28,9% đồng ý cho rằng khu vực công có nhu cầu kế toán điều tra hơn; 30,2% trung
lập.
Có 40% đồng ý rằng kế toán điều tra là công cụ phát hiện và ngăn chặn gian
lận trong khu vực tư; 22,1% không đồng ý về điều đó và 27,8% trung lập.
Trong số các đối tượng được khảo sát có 50% đồng ý kế toán điều tra gian lận
là công cụ phát hiện thành công các tội phạm rửa tiền (Money Laundering); 36,9%
trung lập; còn lại 13,1% không đồng ý.
Trong số các đối tượng được khảo sát có 38% không đồng ý các kiểm toán
viên và kế toán đã được đào tạo đủ để phát hiện và ngăn chặn gian lận; 33,5%
không đồng ý; và 26,1% giữ ý kiến trung lập.
Trong số các đối tượng được khảo sát có 82,4% đồng ý kế toán điều tra gian
lận (Forensic Accounting) giúp hoàn thiện các hoạt động kiểm soát nội bộ; 11,9%
giữ ý kiến trung lập và một tỷ lệ nhỏ 5,7% không đồng ý.
Có 64,8% đồng ý rằng kế toán điều tra gian lận (Forensic Accounting) nâng
cao vai trò các quy định bảo vệ nhân viên tố cáo các hành vi sai trái trong tổ chức;
28,4% trung lập; còn 6,8% không đồng ý.
47
Có 65,3% đồng ý rằng kế toán điều tra gian lận (Forensic Accounting) có tính
hoài nghi nghề nghiệp cao giúp phát hiện các hành vi biển thủ của nhân viên và
tham ô, lạm quyền của ban quản lý; tuy nhiên tỷ lệ trung lập khá cao 27,3%; tỷ lệ
không đồng ý là 7,4%.
Trong số các đối tượng được khảo sát có 68,8% đồng ý rằng các công ty cung
cấp dịch vụ đảm bảo có chuyên môn cao để thực hiện dịch vụ kế toán điều tra gian
lận (Forensic Accounting); 19,9% trung lập; tỷ lệ không đồng ý là 11,3%.
Có 63,4% đồng ý rằng pháp luật nên quy định loại hình công ty trách nhiệm
hữu hạn nhằm xã hội hóa nghề nghiệp kế toán điều tra. Tuy nhiên tỷ lệ trung lập
khá cao chiếm 32,4%;tỷ lệ không đồng ý là 14,2%.
Trong số các đối tượng được khảo sát có 86,9% đồng ý rằng nhằm phát triển
dịch vụ kế toán điều tra hay giám định tư pháp trong lĩnh vực tài chính, cần có sự
quản lý, giám sát chuyên môn của Hội nghề nghiệp; sự hoàn chỉnh của các chuẩn
mực nghề nghiệp và các quy định pháp luật liên quan.
Có 82,4% đồng ý đưa kế toán điều tra vào chương trình giảng dạy chuyên
ngành; chỉ có 14,2% trung lập và 3,4% không đồng ý.
Câu 1 có trung bình và độ lệch chuẩn lần lượt là 4,06 và 1,043 cho thấy các
đối tượng khảo sát đồng ý khá cao rằng các thủ tục kiểm toán không thể phát hiện
tất cả gian lận. Câu 2, câu 3, câu 4, câu 7, câu 8, câu 10, câu 11, câu 12, câu 13, câu
14, câu 15, câu 16, câu 17, câu 18 đều có trung bình từ 3 đến dưới 4, độ lệch chuẩn
khá nhỏ cho thấy các đối tượng khảo sát đồng ý không mạnh, họ chưa chắc chắn
rằng kiểm toán viên không có trách nhiệm phát hiện tất cả gian lận;các dư luận về
gian lận xảy ra có tạo kỳ vọng dịch vụ phát hiện và ngăn chặn gian lận hay không;
dịch vụ kế toán điều tra gian lận (Forensic Accounting) khác hay giống với dịch vụ
kiểm toán truyền thống; hiện nay,Việt Nam có nhu cầu về dịch vụ kế toán điều tra
gian lận (Forensic Accounting) hay không; với điều kiện pháp lý hiện nay Việt Nam
48
sẵn sàng triển khai thực hiện kế toán điều tra gian lận(Forensic Accounting); khu
vực tư hay khu vực công có nhu cầu về kế toán điều tra gian lận (Forensic
Accounting) hơn; kế toán điều tra là công cụ phát hiện và ngăn chặn gian lận trong
khu vực tư hơn; kế toán điều tra gian lận là công cụ phát hiện thành công các tội
phạm rửa tiền (Money Laundering); các kiểm toán viên và kế toán đã được đào tạo
đủ để phát hiện và ngăn chặn gian lận; kế toán điều tra gian lận (Forensic
Accounting) giúp hoàn thiện các hoạt động kiểm soát nội bộ; kế toán điều tra gian
lận (Forensic Accounting) nâng cao vai trò các quy định bảo vệ nhân viên tố cáo
các hành vi sai trái trong tổ chức; kế toán điều tra gian lận (Forensic Accounting) có
tính hoài nghi nghề nghiệp cao giúp phát hiện các hành vi biển thủ của nhân viên và
tham ô, lạm quyền của ban quản lý; các công ty cung cấp dịch vụ đảm bảo có
chuyên môn cao để thực hiện dịch vụ kế toán điều tra gian lận (Forensic
Accounting); để xã hội hóa giám định tư pháp trong lĩnh vực tài chính có cần quy
định văn phòng giám định tư pháp được thành lập, tổ chức, quản lý theo loại hình
công ty trách nhiệm hữu hạn ngoài 2 loại hình doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp
danh đã được quy định trong Luật giám định tư pháp số 13/2012/QH13 quy định
hay không.
Câu 5, câu 6, câu 9, câu 19, và câu 20 đều có trung bình trên 4, độ lệch chuẩn
khá nhỏ, cho thấy các đối tượng khảo sát khá đồng ý rằng dịch vụ kế toán điều tra
gian lận (Forensic Accounting) nâng cao chất lượng của thông tin trên báo cáo tài
chính; dịch vụ kế toán điều tra gian lận (Forensic Accounting) làm tăng độ tin cậy
của các nhà đầu tư, người sử dụng báo cáo tài chính; các dịch vụ chuyên ngành tài
chính ở Việt Nam đã phát triển cao, do đó không cần có dịch vụ hỗ trợ tư vấn trong
tranh chấp, kiện tụng (litigation support consultancy); nhằm phát triển dịch vụ kế
toán điều tra, cần có sự quản lý, giám sát chuyên môn của Hội nghề nghiệp; sự hoàn
chỉnh của các chuẩn mực nghề nghiệp và các quy định pháp luật liên quan; nhằm
tăng cường nhận thức về kế toán điều tra (Forensic Accounting) nên đưa kiến thức
về kế toán điều tra (Forensic Accounting) vào chương trình giảng dạy trong chuyên
ngành.
49
2.4.2. Đánh giá thang đo
2.4.2.1. Phân tích nhân tố khám phá (EFA)
Mục đích thực hiện phân tích nhân tố nhằm làm gọn dữ liệu và gom các biến
thành các nhân tố sẽ làm tăng tính khả thi của đề tài khi đưa vào thực tiễn.
Khi xây dựng thang đo dựa vào hai chỉ tiêu chính để đưa ra các biến: các
biếnđo lường nhu cầu về kế toán điều tra (c7, c17) (nhóm Y) và các biếntác động
đến nhu cầu kế toán điều tra (các biến còn lại) (gọi tắt là nhóm X). Theo Hoàng
Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc (2005) [1] nên chạy EFA tách rời hai nhóm biến
để cho ra kết quả gom biến chính xác.
o Phân tích EFA cho các biến tác động đến nhu cầu kế toán điều tra
Dựa vào kết quả chạy EFA (phụ lục 11) tiến hành đánh giá các phương án
theo các tiêu chí theo bảng 2.3 gồm: giá trị hội tụ và giá trị phân biệt, cụ thể, giá trị
hội tụ thể hiện qua phương sai trích và trọng số nhân tố, giá trị phân biệt thể hiện ở
số nhân tố rút ra và vị trí nhân tố phải phù hợp với lý thuyết. (KMO và Sig là điều
kiện cần và đủ để thực hiện phân tích nhân tố)
Bảng 2.3: Bảng tóm tắt kết quả phân tích EFA cho các biến nhóm X
Phương án 18 biến Loại c4 Loại c13 Loại c4, c13 Chỉ tiêu
0.745 0.735 0.748 0.739 KMO
0.000 0.000 0.000 0.000 Sig
58,334% 59,951% 60,323% 62,137% Phƣơng sai trích
6 6 6 6 Số nhân tố
Xấu Xấu Xấu Không Vị trí
Đạt yêu cầu Đạt yêu cầu Đạt yêu cầu Đạt yêu cầu Hệ số tải
50
Dựa vào bảng 2.3, KMO và Sig. ở các phương án đều thỏa điều kiện thực hiện
EFA. Phương sai trích ở phương án loại c4, c13 cao nhất 62,137%; số nhân tố rút
trích được là 6 nhân tố, hệ số tải >0.45 đạt yêu cầu và vị trí các nhân tố phù hợp.
Phương án loại c4, c13 là tốt hơn các phương án khác. Dựa vào bảng Rotated
Component Matrix, các nhân tố rút trích gồm:
Nhân tố 1: (c5, c6, c3) bao gồm các biến kế toán điều tra giúp tăng chất lượng
thông tin trên BCTC; tăng độ tin cậy của các nhà đầu tư, kỳ vọng dịch vụ phát hiện
gian lận; nên đặt tên ngắn gọn là ảnh hưởngchất lượng thông tin (clgtt)
Nhân tố 2: (c15, c16, c12, c14) bao gồm các biến kế toán điều tra nâng cao
vai trò các quy định bảo vệ nhân viên tố cáo gian lận;kế toán điều tra phát hiện biển
thủ, tham ô lạm quyền; công cụ phát hiện tội phạm rửa tiền; kế toán điều tra hoàn
thiện các hoạt động kiểm soát nội bộ. Tạm gọi ngắn gọn tên nhân tố này là ảnh
hưởng hệ thống nội bộ (htnoibo)
Nhân tố 3: (c20, c19, c18) gồm các biến nên đưa kết toán điều tra vào chương
trình giảng dạy; sự quản lý giám sát của Hội nghề nghiệp, quy định chuẩn mực nghề
nghiệp, các quy định pháp luật; thành lập, quản lý dịch vụ kế toán điều tra theo loại
hình công ty trách nhiệm hữu hạn; gọi ngắn gọn là ảnh hưởng bên ngoài (bngoai)
Nhân tố 4: (c1, c2) gồm các biến nhận định về khả năng phát hiện gian lận
của các thủ tục kiểm toán; trách nhiệm của kiểm toán viên về gian lận; gọi ngắn gọn
là ảnh hưởng kỳ vọng vào kiểm toán viên (kyvong)
Nhân tố 5: (c9, c8) gồm các biến dịch vụ hỗ trợ tư vấn trong tranh chấp kiện
tụng; điều kiện pháp lý thực hiện kế toán điều tra. Ta đặt tên biến ngắn gọn là ảnh
hưởng pháp lý (phaply).
Nhân tố 6: (c10, c11) gồm các biến nhận định về nhu cầu kế toán điều tra
trong khu vực tư hay khu vực công hơn; kế toán điều tra là công cụ phát hiện gian
51
lận trong khu vực tư hay khu vực công hữu hiệu hơn, ta gọi nhân tố đó ngắn gọn là
ảnh hưởng khu vực (khuvuc).
Như vậy, so với dàn bài thảo luận xây dựng thang đo (Phụ lục 9), ngoại trừ
nhân tố kỳ vọng trách nhiệm của kiểm toán viên, các nhân tố còn lại đã thay đổi,
sau khi chạy EFA ta loại 2 biến là c4, c13 không đo lường cùng một vấn đề nghiên
cứu.
o Phân tích EFA cho các biến nhu cầu kế toán điều tra (Phụ lục 11)
Kết quả chạy EFA cho ta 1 nhân tố (nhân tố thứ 7) gồm 2 biến c7, c17 có
phương sai trích giải thích được mô hình 57,515%. Ta gọi ngắn gọn nhân tố này là
nhu cầu kế toán điều tra (nhucau)
2.4.2.2. Kiểm tra độ tin cậy của thang đo
Sau khi phân nhóm các biến, tiến hành tính hệ số Cronbach Anpha để đánh giá
độ tin cậy của thang đo. Kết quả được trình bày trong bảng 2.4 dưới đây:
52
Bảng 2.4: Bảng kết quả tính hệ số Cronbach Anpha
Biến Trung bình Phƣơng sai Tƣơng quan Alpha nếu
quan sát thang đo nếu thang đo nếu biến tổng loại biến
loại biến loại biến này
1.538
7.79
.675
.437
Ảnh hƣởng chất lƣợng thông tin (clgtt), alpha = 0.715 C5
7.84
1.700
.566
.584
C6
8.07
2.126
.381
.794
C3
11.01
3.000
.538
.545
Ảnh hƣởng hệ thống nội bộ (htnoibo), alpha = 0.671 C15
10.93
3.109
.486
.582
C16
11.22
3.256
.388
.651
C12
10.76
3.657
.410
.633
C14
7.59
1.557
.475
.398
Ảnh hƣởng bên ngoài (bngoai), alpha = 0.599 C20
7.60
1.705
.466
.424
C19
8.28
1.699
.301
.667
C18
1.827
.312
3.46
Ảnh hƣởng kỳ vọng vào kiểm toán viên (kyvong), alpha = 0.464 C1
4.06
1.088
.312
C2
3.18
.858
.251
Ảnh hƣởng pháp lý (phaply), alpha = 0.401 C9
2.26
.866
.251
C8
3.38
1.184
.159
Ảnh hƣởng khu vực (khuvuc), anpha = 0.272 C10
3.15
.938
.159
C11
3.71
.778
.150
Nhu cầu kế toán điều tra (nhucau), anpha = 0.261 C7
3.55
.729
.150
C17
53
Hệ số Cronbach Apha cần > 0.6, và hệ số tương quan biến tổng > 0,3 thì nhân
tố 1 và nhân tố hai thỏa điều kiện. Các nhân tố 3, nhân tố 4, nhân tố 5, nhân tố 6,
nhân tố 7 tuy chưa thỏa điều kiện thống kê nhưng là các biến quan trọng trong thảo
luận nên giữ lại để tiếp tục kiểm định.
2.4.3. Kiểm định giả thuyết nghiên cứu
Thang đo được xây dựng để đo lường mức độ nhận biết của các đối tượng kế
toán, luật gia, giảng viên, kiểm toán viên về kế toán điều tra từ đó cho thấy nhu cầu
về dịch vụ kế toán điều tra tại Việt Nam nói chung. Tuy nhiên để kiểm tra sự nhận
biết giữa các nhóm đối tượng này về kế toán điều tra thì cần phải tiến hành kiểm
định giả thuyết. Các giả thuyết nghiên cứu:
H01: Giữa các nhóm đối tượng không có nhận biết khác biệt về ảnh hưởng
của kế toán điều tra đến chất lượng thông tin trên báo cáo tài chính từ tác động đến
độ tin cậy của các nhà đầu tư.
H02: Giữa các nhóm đối tượng không có nhận biết khác biệt về ảnh hưởng
của kế toán điều tra đến hệ thống kiểm soát nội bộ và khả năng phát hiện rửa tiền
của kế toán điều tra.
H03: Giữa các nhóm đối tượng không có nhận biết khác biệt về ảnh hưởng
các yếu tố hỗ trợ bên ngoài đến phát triển dịch vụ kế toán điều tra (bổ sung kế toán
điều tra vào giảng dạy; sự quản lý, giám sát của Hội nghề nghiệp, quy định các
chuẩn mực nghề nghiệp, các quy định pháp luật; sự xã hội hóa kế toán điều tra qua
loại hình trách nhiệm hữu hạn).
H04: Giữa các nhóm đối tượng không có nhận biết khác biệt về ảnh hưởng kỳ
vọng vào kiểm toán viêntừ đó mong muốn dịch vụ phát hiện và ngăn chặn gian lận.
H05: Giữa các nhóm đối tượng không có nhận biết khác biệt về ảnh hưởng
của điều kiện pháp lý đến phát triển dịch vụ kế toán điều tra.
54
H06: Giữa các nhóm đối tượng không có nhận biết khác biệt về khu vực có
nhu cầu về kế toán điều tra.
H07: Giữa các nhóm đối tượng không có nhận biết khác biệt về nhu cầu kế
toán điều tra tại Việt Nam do các công ty cung cấp dịch vụ đảm bảo thực hiện.
Tác giả dùng kiểm định ANOVA để tiến hành kiểm định các giả thuyết nghiên
cứu trên. Trước hết, ta kiểm tra điều kiện cần để thực hiện kiểm định ANOVA là
mẫu phải có phân phối chuẩn bằng cách dùng kiểm định Leneve. Kết quả theo bảng
2.5 dưới đây:
Bảng 2.5: Bảng kiểm định Leneve
Test of Homogeneity
Levene Statistic
df1
df2
Sig.
0.406
3
172
0.749
Clgtt
0.460
3
172
0.710
Htnoibo
1.833
3
172
0.143
Bngoai
2.329
3
172
0.076
Kyvong
0.728
3
172
0.536
Phaply
0.407
3
172
0.748
Khuvuc
2.984
3
172
0.033
Nhucau
55
Các biến thỏa điều kiện, có kết quả chạy ANOVA được trình bày trong bảng 2.6:
Bảng 2.6: Bảng kết quả kiểm định ANOVA
Sum of
Mean
F
Sig.
df
Squares
Square
.378
.106
.957
1.135
3
Between Groups
Clgtt
615.024
172
3.576
Within Groups
616.159
175
Total
4.115
3
.260
.854
1.372
Between Groups
Htnoibo
908.612
172
5.283
Within Groups
912.727
175
Total
10.253
3
3.418
1.105
.349
Between Groups
Bngoai
532.195
172
3.094
Within Groups
542.449
175
Total
20.405
3
6.802
1.818
.146
Between Groups
Kyvong
643.504
172
3.741
Within Groups
663.909
175
Total
9.744
3
3.248
1.764
.156
Between Groups
phaply
316.614
172
1.841
Within Groups
326.358
175
Total
15.087
3
5.029
2.085
.104
Between Groups
khuvuc
414.822
172
2.412
Within Groups
429.909
175
Total
Như vậy bằng kiểm định ANOVA, clgtt, htnoibo, bngoai, kyvong, phaply,
khuvuc không có sự khác biệt về nhận thức của ba nhóm đối tượng.
Chỉ có biến nhucau không thỏa điều kiện kiểm định Leneve ở bảng 2.5 nêu
trên, ta có thể dùng kiểm định phi tham số Kruskal-Wallis để thay thế kiểm định
ANOVA.
56
Bảng 2.7: Bảng kết quả kiểm định phi tham số Kruskal – Wallis
Kết luận Giả thuyết không
Bảng tóm tắt kết quả kiểm định Sig. 0.294 Giữ giả thuyết không.
Kiểm định Kiểm định phi tham số Kruskal – Wallis
Phân phối của biến “nhucau” giống với biến “nghề nghiệp”
Dựa vào kết quả bảng 2.7, nhucau cung không có khác biệt nhận thức giữa các
nhóm.
2.4.4. Kết luận
Giữa các nhóm đối tượng không có nhận thức khác biệt về các vấn đề liên
quan đến kế toán điều tra. Tuy nhiên, mức độ nhận thức của các nhóm còn chưa cao
do kế toán điều tra là thuật ngữ còn khá mới mẻ tại Việt Nam. Mặc dù, tác giả đã
đưa hình ảnh giám định tư pháp về tài chính (có chức năng tương tự kế toán điều
tra) để liên hệ với kế toán điều tra nhưng mức độ nhận biết của các nhóm đối tượng
chưa cao nhưng khá đồng đều.
2.5. Tóm tắt chƣơng 2
Việt Nam là một nước đang phát triển, trong quá trình xây dựng kinh tế đã có
nhiều gian lận xảy ra với mức thiệt hại ngày càng nghiêm trọng. Không có sự khác
biệt về nhận thức giữa các nhóm kế toán, luật gia, giảng viên chuyên ngành kế toán
- kiểm toán, kiểm toán viên rằng Việt Nam có nhu cầu về kế toán điều tra, nhưng
mức độ đồng ý không cao.
Giữa các nhóm đối tượng không có sự khác biệt trong mức độ đồng ý cao
rằng:
Câu 19: Nhằm phát triển dịch vụ kế toán điều tra hay giám định tư pháp trong
lĩnh vực tài chính, cần có sự quản lý, giám sát chuyên môn của Hội nghề nghiệp; sự
hoàn chỉnh của các chuẩn mực nghề nghiệp và các quy định pháp luật liên quan.
57
Câu 20: Nhằm tăng cường nhận thức về kế toán điều tra (Forensic
Accounting) nên đưa kiến thức về toán điều tra (Forensic Accounting) vào chương
trình giảng dạy trong chuyên ngành.
Câu 1: Các thủ tục kiểm toán không thể phát hiện tất cả gian lận.
Câu 5: Dịch vụ kế toán điều tra gian lận (Forensic Accounting) nâng cao chất
lượng của thông tin trên báo cáo tài chính.
Câu 6: Dịch vụ kế toán điều tra gian lận (Forensic Accounting) làm tăng độ
tin cậy của các nhà đầu tư, người sử dụng báo cáo tài chính.
Giữa các nhóm đối tượng không có sự khác biệt khi không đồng ý rằng:
Câu 9: Các dịch vụ chuyên ngành tài chính ở Việt Nam đã phát triển cao, do
đó không cần có dịch vụ hỗ trợ tư vấn trong tranh chấp, kiện tụng (litigation support
consultancy)
Câu 13: Các kiểm toán viên và kế toán đã được đào tạo đủ để phát hiện và
ngăn chặn gian lận
Bên cạnh đó nhu cầu kế toán giữa khu vực tư và khu vự công, không có sự
khác biệt giữa các nhóm đối tượng trong xu hướng nghiêng về khu vực tư hơn.
58
CHƢƠNG 3
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
3.1. Kết luận
Nghiên cứu này tổng quát các cơ sở lý luận về kế toán điều tra (Forensic
Accounting) và đo lường nhận biết của các đối tượng về kế toán điều tra (Forensic
Accounting). Phương pháp nghiên cứu kết hợp phương pháp định lượng và phương
pháp định tính. Phương pháp định tính trong tổng hợp lý thuyết về kế toán điều tra,
nhận diện thang đo, thảo luận với chuyên gia về thang đo để đưa ra thang đo chính
thức. Tiếp tục áp dụng phương pháp định lượng, tiến hành thu thập phiếu khảo sát,
phân tích dữ liệu và kiểm định giả thuyết nghiên cứu. Dữ liệu được thu thập trên
176 đối tượng bao gồm kế toán, luật gia, kiểm toán viên, giảng viên chuyên ngành
kế toán - kiểm toán. Kết quả phân tích cho thấy, nhận biết về kế toán điều tra tại
Việt Nam chưa phổ biến, không có sự khác biệt giữa các đối tượng khảo sát, nhưng
tồn tại và xuất hiện nhận thức về tình hình gian lận, khoảng cách nghề nghiệp đáp
ứng khá mạnh, là tiền đề tiếp thu về kế toán điều tra.
Điều này tương đồng với một số ý kiến phổ biến về kế toán điều tra được thu
thập trong quá trình khảo sát (Phụ lục 10): Kế toán điều tra cần triển khai trong thực
tế và đào tạo trong các trường đại học; Nên thực hiện dịch vụ kế toán điều tra gian
lận và sai sót trong thực tế; Cần thực hiện thử nghiệm (thí điểm) ở một số
nơi/chương trình/…; Hoàn Thiện chuẩn mực và luật kế toán Việt Nam kèm theo các
luật liên quan; Phát triển dịch vụ kế toán điều tra hiện nay và áp dụng vào thực tế;
Đào tạo ở trường học, góp phần xây dựng nền móng cho nghề ghiệp kế toán điều
tra; Cần xây dựng các thông tư, nghị định rõ ràng hơn về kế toán điềutra; Nghề kế
toán điều tra, cần có am hiểu và kiến thức Luật, Kế toán và nghiệp vụ Kiểm toán.
Do vậy, nên có loại hình đào tạo chuyên sâu cho những người đã tốt nghiệp các
ngành có liên quan đến Nghề kế toán điều tra, nên có Hội nghề nghiệp độc lập về
Nghề này như các nghề khác như Luật sư, Kế toán và Kiểm toán v.v…
59
Phát hiện của đề tài phù hợp với kết luận của các nghiên cứu trước, như
Crumbley (2001) [21], Grippo và Ibex (2003) [29], rằng kế toán điều tra là xu
hướng mới du nhập từ các nước phát triển. Vì vậy, tại các nước đang phát triển, kế
toán điều tra chưa phổ biến, chưa được các trường học tổ chức thành bộ môn giảng
dạy. Do đó, sự hiểu biết về kế toán điều tra còn hạn hẹp, khả năng nhận biết về
thuật ngữ này chưa cao.
Việt Nam đang trong thời kỳ chuyển đổi nền kinh tế vì vậy thông tin kế toán
trở nên ngày càng quan trọng trong tất cả hoạt động kinh tế xã hội; Bên cạnh đó, số
lượng vụ kiện dân sự do thông tin kế toán sai lệch ngày càng tăng, càng thúc đẩy sự
kết hợp lĩnh vực pháp luật và kế toán để ra đời một lĩnh vực kế toán mới, kế toán
điều tra.
Kế toán điều tra là một lĩnh vực kế toán mới được hình thành từ các nước phát
triển phương tây trong những năm 1980 đáp ứng sự phát triển của kinh tế thị trường
và sự hoàn thiện dần của hệ thống pháp lý. Công việc kế toán điều tra được một bên
thứ ba độc lập thực hiện, bao gồm các thủ tục và phương pháp xác định để kiểm tra,
tính toán, phân tích các vấn đề quản lý và tài chính, các thiệt hại kinh tế, hoặc các
vấn đề pháp lý liên quan đến mâu thuẫn lợi ích giữa các nhà quản lý, và phát hành
báo cáo kế toán điều tra làm bằng chứng chuyên môn trước toà án hoặc tư vấn
doanh nghiệp. Kế toán điều tra ra đời như một sản phẩm của sự phát triển môi
trường kinh tế và xuất hiện khi nhu cầu thay đổi của nghề nghiệp và sự phát triển
của các chuyên ngành đến mức thắt nút cổ chai.
Dựa vào kết quả khảo sát của bài, tác giả nhận thấy sự cần thiết phát
triển dịch vụ kế toán điều tra tại Việt Nam:
Thứ nhất, thông tin kế toán sai lệch là nguyên nhân chủ yếu làm xuất hiện kế
toán điều tra.
60
Khi thông tin kế toán sai lệch, hoạt động kinh tế xã hội sẽ chịu tổn thất nghiêm
trọng, lợi ích của các nhà đầu tư bị thiệt hại, gây mất niềm tin vào các hoạt động
kinh tế xã hội. Khi sự thiệt hại do thông tin kế toán gây ra tới một mức độ nhất định,
việc kiện cáo tố tụng sẽ xảy ra, từ đó xuất hiện sự giao thoa giữa chuyên môn kế
toán và pháp luật, đòi hỏi sự kết hợp giữa chúng để giải quyết sự việc hữu hiệu hơn
khi xem xét các vấn đề sau: Một là,thông tin kế toán có sai lệch không? Khi đánh
giá vấn đề này, các nhà kế toán chuyên nghiệp và các nhà kế toán không chuyên sẽ
trả lời khác nhau dựa trên các chuẩn mực, bằng chứng khác nhau. Để đưa ra kết
luận, các nhà kế toán chuyên nghiệp sẽ dựa trên các chuẩn mực, quy định và các
nguyên tắc kế toán áp dụng phổ biến, thế nhưng, các nhà kế toán không chuyên sẽ
lập luận dựa trên các sự kiện thực tế. Các nhà chuyên môn tập trung xem xét các thủ
tục hạch toán kế toán có tuân thủ quy định pháp luật hiện hành hay không, còn các
nhà không chuyên sẽ nhấn mạnh đến kết quả hạch toán kế toán có phản ánh chính
xác không, vì vậy cả hai bên sẽ đưa ra các kết luận khác nhau. Hai là, thông tin kế
toán sai lệch do hành vi vô ý, cố ý gián tiếp hay cố ý trực tiếp? Nếu do hành vi vô ý
thì sẽ chịu trách nhiệm dân sự, lỗi do hành vi cố ý sẽ chịu trách nhiệm hình sự. Dựa
vào các kết luận khác nhau, toà án sẽ đưa ra các kết luận xét xử khác nhau. Như
vậy, sẽ rất khó đưa ra kết luận chính xác với các kiến thức chuyên ngành riêng rẽ.
Ba là, mức độ thiệt hại cho người sử dụng thông tin kế toán sai lệch là bao nhiêu?
Người sử dụng thông tin kế toán chịu tổn thất khi họ quyết định dựa trên thông tin
kế toán sai lệch gây ra chi phí lỗ thực tế, chi phí cơ hội, thua lỗ cổ phần, tài sản…
việc xác định mức độ thiệt hại này nếu không có kiến thức chuyên ngành sẽ rất khó
xác định. Như vậy, việc kết hợp kiến thức chuyên ngành kế toán và chuyên ngành
pháp lý sẽ giải quyết các vấn đề hiệu quả hơn, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xã
hội.
Thứ hai, giới hạn kiến thức chuyên ngành luật và kế toán làm hạn chế việc
giải quyết các vấn đề.
61
Nhiều luật sư, quan toà là các chuyên gia về pháp luật, không phải là các
chuyên gia về kế toán, vì vậy họ không thể đưa ra các kết luận xét xử chính xác về
các vụ việc có liên quan đến kế toán. Kinh nghiệm và kiến thức chuyên môn về
pháp luật cũng không thể liên hệ giữa bằng chứng và các sự kiện thực tế, vì vậy họ
phải chuyển quyền xem xét mối liên hệ đó cho các nhà chuyên môn thực sự có khả
năng đánh giá các vấn đề kỹ thuật, đó là các nhà kế toán điều tra, họ xem xét bằng
chứng dựa trên các kiến thức chuyên môn, chuyển tải các thông tin liên quan thành
nội dung dễ tiếp cận hơn, là công cụ hỗ trợ cho quá trình xét xử.
Đối với khoa học kế toán, lý thuyết và thực tiễn kế toán tại Việt Nam chưa thể
đáp ứng triệt để được các yêu cầu pháp lý từ thực tế trong sự phát triển kinh tế xã
hội. Trong quá trình áp dụng, các nhà kế toán gặp phải rất nhiều vấn đề phát sinh
mới từ thực tiễn nhưng ngôn ngữ kế toán chưa thể diễn tả hết, hay các chuẩn mực,
thông tư, quy định không thể có hướng dẫn cụ thể cho từng trường hợp thực tế phát
sinh. Vì vậy, các nhà kế toán phải sử dụng kinh nghiệm và sự hiểu biết pháp luật
của chính họ để giải quyết vấn đề, và như vậy dễ dàng xảy ra các sai lầm. Các
nghiệp vụ kinh tế xã hội ngày càng trở nên phức tạp đòi hỏi phải có các biện pháp
kết hợp để đối phó.
Thứ ba, kiểm toán truyền thống chưa thể đáp ứng nhu cầu của xã hội.
Trong điều kiện kinh tế thị trường, lĩnh vực kiểm toán đóng vai trò ngày càng
quan trọng và tham gia ngày càng sâu rộng trong các hoạt động kinh tế, từ đó xã hội
luôn mong muốn kiểm toán phát hiện và trình bày các mặt hạn chế trong quản lý
doanh nghiệp. Tuy nhiên thông tin kế toán chỉ phản ánh lại các hoạt động kinh tế đã
diễn ra trước đó gây ra thông tin kế toán không kịp thời, mặt khác, các kỹ thuật gian
lận ngày càng phức tạp, tinh vi, kiểm toán viên chỉ có thể đưa ra ý kiến trung thực
hợp lý trên báo cáo tài chính, hơn nữa, chức năng nhận diện gian lận của kiểm toán
cũng bị hạn chế do các hạn chế vốn có. Ngoài ra, do nguyên tắc lợi ích chi phí, và
rủi ro chọn mẫu, cuộc kiểm toán luôn xuất hiện các rủi ro kiểm toán.
62
Kiểm toán gian lận (Fraud auditing) tập trung phát hiện các gian lận, nhưng
không quan tâm đến các yếu tố pháp lý, vì vậy các bằng chứng thu thập có thể
không đáp ứng với các yêu cầu của toà án hay thoả mãn các quy định pháp luật.
Hơn nữa, dù kiểm toán nghi ngờ có gian lận, họ chỉ có thể thực hiện thêm các thủ
tục cần thiết để xác nhận sự hiện hữu của gian lận, từ đó đưa ra tư vấn thích hợp,
thông báo với các cấp quản lý, ban lãnh đạo. Nếu nhà quản lý hay ban lãnh đạo từ
chối chấp nhận các ý kiến trên thì kiểm toán viên chỉ có thể phát hành báo cáo kiểm
toán với ý kiến ngoại trừ, không chấp nhận hoặc từ chối nhận xét hoặc rút lui khỏi
cuộc kiểm toán. So với kiểm toán độc lập, chức năng nhận diện gian lận của kiểm
toán nội bộ củng có các hạn chế nhất định do không đảm bảo tính độc lập cần có,
chi phí triển khai phòng chống gian lận cao.
Như vậy sự xuất hiện của kế toán điều tra không chỉ bù đắp các mặt hạn chế
trong phát hiện gian lận mà còn nâng cao độ tin cậy của thông tin kế toán, giảm
thiểu các rủi ro và các hành vi bất hợp pháp, từ đó hình thành cầu nối khoảng cách
kỳ vọng của xã hội và lực lượng kế toán kiểm toán.
Thứ tƣ, sự phát triển của điều kiện pháp lý hiện nay và sự đáp ứng nhu cầu
dịch vụ kế toán điều tra tại Việt Nam.
Theo Hiệp hội kế toán viên công chứng Hoa Kỳ AICPA, kế toán điều tra bao
gồm hai lĩnh vực: Hỗ trợ pháp lý (litigation Support), và điều tra kế toán
(Investigation Accounting). Về hoạt động điều tra kế toán, theo kết quả khảo sát của
bài rõ ràng tại Việt Nam có xuất hiện nhu cầu nhưng không có tổ chức nào đáp ứng
được do kiến thức chuyên ngành chưa phát triển cao để có thể đáp ứng nhu cầu xã
hội, bên cạnh đó là nguyên tắc chi phí lợi ích chi phối hoạt động của các tổ chức
cung cấp dịch vụ. Về hoạt động hỗ trợ pháp lý, với điều kiện pháp lý tại Việt Nam
hiện nay, khái niệm “giám định tư pháp” gần giống như kế toán điều tra trong hoạt
động hỗ trợ pháp lý, nhất là khi ra đời Luật giám định tư pháp 2012 và các văn bản
hướng dẫn thi hành trong thời gian gần đây như Nghị định 85/2013/NĐ-CP, Thông
tư 138/2013/TT-BTC … Các quy định mới cho phép đương sự trong vụ án hành
63
chính, vụ việc dân sự, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan trong vụ án hình sự hoặc người đại diện hợp pháp của họ được quyền
tự mình yêu cầu giám định tư pháp sau khi đã đề nghị cơ quan tiến hành tố tụng,
người tiến hành tố tụng trưng cầu giám định mà không được chấp nhận, trừ trường
hợp việc yêu cầu giám định liên quan đến việc xác định trách nhiệm hình sự của bị
can, bị cáo (khoản 3, Điều 2 Luật Giám định tư pháp), mở ra cơ hội mới, tạo điều
kiện chủ động cho các bên đương sự chủ động thu thập chứng cứ để chứng minh,
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Bên cạnh đó, tổ chức giám định tư pháp
ngoài công lập là một nội dung mới, mang tính cải cách đột phá trong hoạt động
giám định tư pháp, qua đó tạo điều kiện ra đời những tổ chức giám định chuyên
trách ngoài công lập, nhằm đáp ứng tốt hơn yêu cầu giám định tư pháp. Tổ chức
giám định tư pháp ngoài công lập hoạt động dưới hình thức Văn phòng giám định tư
pháp, được thành lập trong các lĩnh vực tài chính, ngân hàng, xây dựng, cổ vật, di
vật, bản quyền tác giả.
Theo điều 60 Bộ Luật tố tụng hình sự số 19/2003/QH11 ngày 26/11/2003,
người giám định có quyền:
a) Tìm hiểu tài liệu của vụ án có liên quan đến đối tượng phải giám định;
b) Yêu cầu cơ quan trưng cầu giám định cung cấp những tài liệu cần thiết cho
việc kết luận;
c) Tham dự vào việc hỏi cung, lấy lời khai và đặt câu hỏi về những vấn đề có
liên quan đến đối tượng giám định;
d) Từ chối việc thực hiện giám định trong trường hợp thời gian không đủ để
tiến hành giám định, các tài liệu cung cấp không đủ hoặc không có giá trị để kết
luận, nội dung yêu cầu giám định vượt quá phạm vi hiểu biết chuyên môn của mình;
64
đ) Ghi riêng ý kiến kết luận của mình vào bản kết luận chung nếu không thống
nhất với kết luận chung trong trường hợp giám định do một nhóm người giám định
tiến hành.
Người giám định phải có mặt theo giấy triệu tập của Cơ quan điều tra, Viện
kiểm sát, Toà án; không được tiết lộ bí mật điều tra mà họ biết được khi tham gia tố
tụng với tư cách là người giám định.
Bên cạnh đó, khoản e Điều 68 Bộ Luật tố tụng dân sự số 24/2004/QH11 ngày
15/06/2004, cũng nhấn mạnh quyền và nghĩa vụ của giám định viên tư pháp như
sau: “Không được tự mình thu thập tài liệu để tiến hành giám định, tiếp xúc với
những người tham gia tố tụng khác nếu việc tiếp xúc đó làm ảnh hưởng đến kết quả
giám định; không được tiết lộ bí mật thông tin mà mình biết khi tiến hành giám định
hoặc thông báo kết quả giám định cho người khác, trừ trường hợp Thẩm phán quyết
định trưng cầu giám định;”
Như vậy, kế toán điều tra Việt Nam chưa phát triển hoàn thiện, về hoạt động
điều tra kế toán hầu như không đáp ứng nhu cầu của thị trường. Về hoạt động hỗ trợ
pháp lý, kế toán điều tra chỉ đang manh nha phát triển trong phạm vi cho phép của
quy định pháp luật.
3.2. Các cơ hội và khó khăn trong phát triển kế toán điều tra tại các nƣớc đang
phát triển nói chung và Việt Nam nói riêng
3.2.1. Cơ hội
Theo Okoye & Akenbor (2009) [41] kế toán điều tra được xem như một công
cụ hữu hiệu, hỗ trợ các cơ quan điều tra không những truy tố tội phạm như gian lận
đút lót, hối lộ mà còn các gian lận khác như rửa tiền, tội phạm kinh tế khác. Ngoài
ra, kế toán điều tra đưa ra các lợi ích như sau:
65
i) Cơ hội nghề nghiệp: các dư luận về gian lận làm kỳ vọng một ngành nghề
mới đáp ứng được các khoảng cách mong đợi, từ đó người làm chuyên môn liên
quan luôn có các cơ hội làm việc mới.
ii) Theo Ansari (2005) [11] khi các điều kiện pháp luật thay đổi sẽ dẫn đến
hoạt động kinh doanh được kiểm soát chặt chẽ hơn, các hiện tượng mua bán sáp
nhập diễn ra nhiều hơn, đòi hỏi các dịch vụ chuyên môn thuộc kế toán điều tra đi
kèm.
iii) Gomide (2008) [28] cho rằng kế toán điều tra là công cụ hữu hiệu phát
hiện tham ô.
iv) Kế toán điều tra làm tăng độ tin cậy báo cáo tài chính (Ansari (2005)[11])
v) Các tranh chấp thương mại đang trở nên phức tạp, luật sư tranh tụng cần có
các chuyên gia có khả năng giải thích báo cáo tài chính và sự phức tạp của các
nghiệp vụ đang tranh chấp (Pagano (2005) [43])
Đối với thị trường Việt Nam, theo kết quả khảo sát ở chương hai, có 84,1%
đồng ý rằng các thủ tục kiểm toán không thể phát hiện tất cả gian lận, trung bình và
độ lệch chuẩn lần lượt là 4,06 và 1,043 cho thấy các đối tượng khảo sát đồng ý khá
cao rằng các thủ tục kiểm toán không thể phát hiện tất cả gian lận. Điều này mở ra
cơ hội nghề nghiệp mới, đó là kế toán điều tra, bằng các kỹ thuật điều tra thu thập
bằng chứng kế toán điều tra giúp ngăn chặn và phát hiện gian lận hữu hiệu hơn. Bên
cạnh đó, Việt Nam hoạt động theo cơ chế thị trường, đã và đang hội nhập kinh tế
thế giới, mặt khác thị trường chứng khoán còn non trẻ làm phát sinh các sai phạm
gây thiệt hại cho nền kinh tế, quá trình sáp nhập, mua bán càng cần thiết các dịch vụ
chuyên môn cao nhằm giúp các quá trình chuyển đổi này theo đúng luật định. Kết
quả khảo sát chương hai cho thấy 65,3% (Mean 3,71; SD 0,829) đồng ý kế toán
điều tra có tính hoài nghi nghề nghiệp cao giúp phát hiện các hành vi biển thủ của
nhân viên và tham ô, lạm quyền của ban quản lý. Đối với việc dịch vụ kế toán điều
66
tra nâng cao chất lượng của thông tin trên báo cáo tài chính đạt trung bình 4,06
(SD=0,801) cho thấy sự đồng ý cao của các đối tượng khảo sát. Mức độ nhận biết
của các nhóm đối tượng là khá đồng đều.
3.2.2. Các khó khăn
Theo Okoye & Akenbor (2009) [41] khó khăn phát triển kế toán điều tra tại
các nước đang phát triển là các tổ chức giáo dục cho rằng kế toán điều tra không
khác kiểm toán, kế toán điều tra là một bộ phận của các khóa học kiểm toán hơn là
một khóa học riêng biệt.
Tuy hai ngành kiến thức này khá tương đồng nhưng sự phân biệt khá rõ ràng
dựa trên mục tiêu và các yêu cầu của hai ngành (như các phần trên đã phân tích)
Crumbley (2001) [21], Grippo và Ibex (2003) [29] đưa ra các khó khăn phát
triển kế toán điều tra như sau:
i) Thu thập bằng chứng trình bày trước Tòa. Các bằng chứng này phải phù hợp
với các quy định bằng chứng trong luật hình sự, luật dân sự.
ii) Kế toán điều tra khó phát hiện các hành vi gian lận qua hệ thống máy tính.
iii) Toàn cầu hóa khiến tội phạm có thể ở một nước nhưng vi phạm gian lận ở
nước khác, dẫn đến tình trạng liên xét xử (inter-jurisdiction)
iv) Luật pháp không phải lúc nào cũng được cập nhật kịp thời với sự tiến bộ
trong đời sống. Do đó, luật sư và kế toán điều tra phải dựa vào đạo luật, các văn bản
luật đã lỗi thời.
v) Kế toán điều tra được xem như là một dịch vụ đắt tiền mà chỉ các công ty
lớn có thể đủ khả năng về tài chính. Bên cạnh đó, nó sẽ là khá tốn kém nếu các vấn
đề đã được đưa ra tòa và nơi mà nó liên quan đến chứng kiến chuyên gia. Vì vậy,
67
hầu hết các công ty muốn giải quyết vấn đề bên ngoài tòa án để tránh những chi phí
tốn kém và nguy cơ công khai xấu về hình ảnh công ty của họ
vi) Không có yêu cầu bắt buộc được thiết lập bởi bất kỳ cơ quan quản lý
về việc thực hiện kế toán điều tra, ngay cả những công ty bị gian lận.
vii) Thiếu các quy định bảo vệ nhân viên tố giác các hành vi sai trái trong tổ
chức. Điều này cản trở sự phát triển của kế toán điều tra.
viii) Tại các nước đang phát triển, kế toán điều tra là xu hướng mới du nhập từ
các nước phát triển. Vì vậy, kế toán điều tra chưa phổ biến, chưa được các trường
học tổ chức thành bộ môn giảng dạy. Do đó, sự hiểu biết về kế toán điều tra còn hạn
hẹp, khả năng nhận biết về thuật ngữ này còn thấp.
Tại Việt Nam, kế toán điều tra hoàn toàn mới mẻ, chưa được các công ty kiểm
toán trong nước hay quốc tế thực hiện (có thể chỉ quảng cáo trên website nhưng
chưa thực hiện). Mặc dù vậy nhu cầu ngăn chặn gian lận, môi trường pháp lý đang
cải thiện, cho thấy mâu thuẫn phát triển kế toán điều tra tại Việt Nam. Điều này có
thể lý giải như sau:
+ Hiện nay kỳ vọng vào vai trò phát hiện gian lận của kiểm toán độc lập
là rất lớn. Thị trường sử dụng kết quả kiểm toán vẫn chưa phân biệt
được mục đích của kiểm toán báo cáo tài chính và kế toán điều tra.
Như trong kết quả phân tích chương hai, về “Kiểm toán viên không có
trách nhiệm phát hiện tất cả gian lận” có mức đồng ý gần bằng 4 cho
thấy có sự không chắc chắn. Cụ thể, Giảng viên, Kiểm toán viên đồng
ý rằng kiểm toán viên không có trách nhiệm phát hiện tất cả gian lận.
Tuy nhiên, kế toán và luật gia lại có mong muốn một mức độ đảm bảo
cao hơn về gian lận. Chứng tỏ có khoảng cách giữa các nhà chuyên
môn và người sử dụng kết quả kiểm toán.
68
+ Khi có nghi ngờ gian lận trong công ty, ban quản lý thường báo cơ
quan chức năng chứ không chủ động giải quyết vấn đề. Tuy nhiên cơ
quan chức năng chỉ tiến hành điều tra khi có bằng chứng xác đáng về
vấn đề nghi ngờ.
+ Niềm tin kế toán điều tra là một dịch vụ đắt tiền, không phù hợp với thị
hiếu người Việt Nam cho rằng “điều tra” là chức năng của cơ quan
Nhà nước.
+ Ít có doanh nghiệp chú trọng đến xây dựng hệ thống kiểm soát nội bộ
đến mức thuê chuyên gia điều tra hệ thống này giúp ngăn ngừa gian
lận.
+ Kế toán điều tra chưa có địa vị pháp lý trong các văn bản pháp luật
Việt Nam; Việt Nam chưa có chuẩn mực hướng dẫn thực hiện hoạt
động này.
3.3. Đề xuất các giải pháp phát triển kế toán điều tra tại Việt Nam
Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu khoa học, cho thấy tồn tại nhận thức
xã hội về khoảng cách nhu cầu phát hiện ngăn chặn gian lận và khả năng đáp ứng
của nghề nghiệp. Để nối liền khoảng cách này, công cụ kế toán điều tra như một cây
cầu cần được xây dựng trong môi trường Việt Nam hiện nay.
3.3.1. Về đào tạo
3.3.1.1. Đào tạo trong nhà trường
Kết quả khảo sát đạt được sự đồng ý cao rằng, nhằm tăng cường nhận thức về
kế toán điều tra (Forensic Accounting) nên đưa kiến thức về kế toán điều tra
(Forensic Accounting) vào chương trình giảng dạy trong chuyên ngành.
69
Kết quả này phù hợp với các nghiên cứu trước đó như Rezaee và Burton
(1997) [48] kết luận rằng kế toán điều tra nên đào tạo kết hợp với chương trình
giảng dạy kế toán, hoặc là một chương trình riêng biệt hoặc là một bộ môn trong
chương trình kế toán kiểm toán.Từ các thành công áp dụng chương trình giảng dạy
kế toán điều tra tại Hoa Kỳ, Sodders (2005) [49], Efiong (2012) [25] cho rằng nên
đào tạo kế toán điều tra trong bậc sau đại học.
Theo Crumbley (2005) [22], kế toán điều tra cần nắm các kiến thức kế toán,
tội phạm học, luật, và kỹ thuật kiểm toán điều tra. Thêm vào đó, kế toán điều tra cần
có kỹ năng tin học, kỹ năng nói và viết tốt.
Kế toán
Luật
Kế toán điều tra
Tội phạm học
Kiểm toán điều tra
Hình 3.1: Cơ sở lý thuyết của kế toán điều tra
Nguồn: Crumbley (2005)
Từ đó, theo người viết, tại Việt Nam, các trường đại học, cao đẳng, học viện
có đào tạo ngành kế toán nên xây dựng chương trình đào tạo kế toán điều tra kết
hợp các kiến thức về kế toán, kiểm toán chuyên sâu, luật, tội phạm học trong
chương trình đào tạo bậc cao học. Bậc học cử nhân có thể đào tạo ở mức độ cơ bản.
70
3.3.1.2. Đào tạo nghề nghiệp
Từ sự cần thiết và nhu cầu về kế toán điều tra, cũng giống như nghề nghiệp kế
toán hay kiểm toán, kế toán điều tra cũng có hướng đào tạo nghề nghiệp để đạt các
chứng nhận chuyên môn từ các tổ chức chuyên nghiệp.
Tại Hoa Kỳ, một số tổ chức đào tạo và cấp chứng chỉ về kế toán điều tra (Phụ
lục 14) như ACFE cấp chứng chỉ CFE, AICPA cấp chứng chỉ CFF… Tại Việt Nam,
nghề nghiệp kế toán điều tra chưa xuất hiện, chỉ có khái niệm giám định tư pháp về
tài chính khá tương đồng trong thu thập bằng chứng xác định tổn thất phục vụ xét
xử của Tòa án, thẻ giám định viên thường được các cơ quan Nhà nước bổ nhiệm.
Trong tương lai, hướng phát triển nghề nghiệp kế toán điều tra là xu hướng tất yếu
thì Việt Nam cũng cần có sự giám sát, quản lý của Hội nghề nghiệp VACPA. Điều
này phù hợp với kết luận khảo sát các nhóm đối tượng và không có sự khác biệt
giữa các nhóm về mức độ đồng ý cao. Tại Việt Nam, kế toán điều tra cũng sẽ do các
kiểm toán viên có kinh nghiệm và kiến thức chuyên sâu liên quan thực hiện, Hội
nghề nghiệp VACPA công nhận bằng cách tổ chức cấp chứng chỉ sau khi kiểm toán
viên đạt kỳ thi liên quan, hoặc cấp chứng chỉ sau khi hoàn tất khóa học tăng cường
kiến thức v.v… theo xu hướng phát triển chung của thế giới.
Bên cạnh đó, để phát triển ngay một lực lượng kế toán điều tra viên, chúng ta
có thể kết hợp hội nghề nghiệp luật sư, hội nghề nghiệp kiểm toán viên. Các hội
nghề nghiệp này có thể ký kết Biên bản ghi nhớ hình thành cơ chế phối hợp với
nhau, cùng nhau đào tạo kế toán điều tra hoặc thảo luận chuyên đề chuyên sâu có
liên quan.
3.3.2. Về môi trƣờng giám sát, pháp lý, phối hợp
3.3.2.1. Về phía cơ quan Nhà nước
Để phát triển dịch vụ kế toán điều tra, cơ quan pháp luật cần quy định các văn
bản pháp luật quy định quyền và nghĩa vụ tương ứng của kế toán điều tra viên.
71
Luật kế toán Việt Nam hiện nay đang trong giai đoạn dự thảo trong khi ý kiến
của Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng yêu cầu sửa đổi luật theo hướng đề cao
vai trò phòng và chống tham nhũng của kế toán. Như vậy để tạo hướng phát triển
cho kế toán điều tra, Luật nên đề cập và làm rõ các vấn đề sau:
+ Tăng tính độc lập của kế toán viên về hình thức, tư tưởng
+ Tăng tính khách quan của kế toán viên
+ Đăng ký tài khoản ngân hàng của chủ doanh nghiệp tư nhân; ban giám
đốc, Hội đồng thành viên đối với công ty trách nhiệm hữu hạn; Ban
giám đốc, Hội đồng quản trị đối với công ty cổ phần.
+ Tuân thủ nguyên tắc bất kiêm nhiệm
+ Luật mới cũng nên quy định về thưởng phạt hay khuyên doanh nghiệp
thành lập đường dây nóng, khuyến khích sự tố giác trong nhân viên như
email, điện thoại, hộp thư v.v…
Đối với Luật kiểm toán độc lập có hiệu lực năm 2012, nhằm tạo tiền đề phát triển
kế toán điều tra, các nhà lập pháp nên lưu ý đến đạo luật Sarbanes – Oxley 2002 của
Hoa Kỳ. Mục tiêu chính của Đạo luật này nhằm bảo vệ lợi ích của các nhà đầu tư
vào các công ty đại chúng bằng cách buộc các công ty này phải cải thiện sự đảm
bảo và tin tưởng vào các báo cáo, các thông tin tài chính công khai. Từ đó, người
viết kiến nghị sửa đổi Luật kiểm toán độc lập như sau:
+ Quy định thành lập Ủy ban kiểm toán tại các công ty kiểm toán theo luật
định. Ủy ban kiểm toán có nhiệm vụ lựa chọn công ty kiểm toán, kết quả
kiểm toán sẽ báo cáo với Ủy ban này, ban giám đốc, Hội đồng quản trị
v.v…Điều này cho phép giới hạn phần nào các hạn chế vốn có trong cuộc
kiểm toán, từ đó kiểm toán viên có thể tiến hành các thủ tục kiểm toán mang
bản chất điều tra theo chuẩn mực kiểm toán.
72
+ Trong Luật nên quy định rõ các loại hình dịch vụ công ty kiểm toán không
được cung cấp đồng thời cho khách hàng kiểm toán của họ như: Kế toán, ghi
chép sổ sách; Thiết kế và thực hiện hệ thống thông tin tài chính cho doanh
nghiệp; Định giá; đồng thời cung cấp dịch vụ kiểm toán nội bộ cho khách
hàng kiểm toán; cung cấp nhân sự; đồng thời cung cấp dịch vụ quản lý cho
khách hàng kiểm toán; Môi giới chứng khoán, tư vấn đầu tư hoặc các dịch vụ
ngân hàng đầu tư; Dịch vụ pháp lý và các dịch vụ chuyên gia không liên
quan đến kiểm toán; v.v… Hiện nay Luật chỉ đang quy định các dịch vụ
được phép, điều này dường như tạo khe hở cho việc cung cấp các dịch vụ
không đảm bảo tính độc lập của kiểm toán viên, và công ty kiểm toán. Bên
cạnh việc tăng tính độc lập, quy định này còn mở ra hướng phát triển cho kế
toán điều tra, như trong phần 10A (g) của SEA 1934 quy định công ty kiểm
toán không được cung cấp các dịch vụ về pháp lý, chuyên gia phi kiểm toán.
+ Luật nên đưa thêm loại hình dịch vụ kế toán điều tra, từ đó đổi tên Luật kiểm
toán độc lập thành Luật các dịch vụ đảm bảo nhằm đem lại vị thế cho ngành
kế toán điều tra.
Bên cạnh Luật, các văn bản quy định pháp luật, kế toán điều tra cũng cần
Chuẩn mực của riêng nó. Các cơ quan Nhà nước, Hội nghề nghiệp liên quan nên
phối hợp xây dựng chuẩn mực từ tính độc lập cho tới các kỹ thuật sử dụng để hướng
dẫn các kế toán điều tra thực hiện. Như Chuẩn mực thực hành hợp đồng về kế toán
điều tra của Canada tháng 11 năm 2006, quy định về chấp nhận hợp đồng kế toán
điều tra, trường hợp không thể tiếp tục hợp đồng, việc lên kế hoạch và giám sát
công việc, thu thập và phân tích thông tin, lưu trữ hồ sơ, viết báo cáo v.v…
Ngoài chức năng quy định pháp luật, cơ quan Nhà nước còn cần phải giám sát,
kiểm tra chất lượng loại hình hoạt động này:
Quan điểm xây dựng cơ chế kiểm soát chất lượng:
73
+ Hội nhập quốc tế: Tuân thủ các thông lệ chung trên thế giới, từ đó
giúp hội nhập vào kinh tế quốc tế.
+ Phù hợp đặc điểm, điều kiện của Việt Nam: Kế toán điều tra còn rất
mới mẻ tại Việt Nam, do đó để phát triển dịch vụ này trong một cơ
chế kiểm soát mở (hướng hội nhập) vẫn cần phải phù hợp với trình độ
phát triển kinh tế, công nghệ kỹ thuật của Việt Nam. Khi Việt Nam
mở ra loại hình kế toán điều tra dẫn đến nguy cơ thị trường kế toán
điều tra đều do các chi nhánh công ty kiểm toán quốc tế thực hiện. Vì
vậy cần đảm bảo chất lượng kế toán điều tra khá đồng đều giữa công
ty kiểm toán có quy mô nhỏ và công ty có quy mô lớn.
Xây dựng cơ chế kiểm soát chất lượng từ bên trong lẫn bên ngoài:
Kiểm soát chất lượng từ bên trong nghĩa là xây dựng các tiêu chuẩn, quy trình
và cách thức kiểm soát tại các công ty cung cấp dịch vụ kế toán điều tra. Do đó cần
ban hành các Chuẩn mực về kiểm soát chất lượng, ban hành các hướng dẫn chi tiết
kiểm soát chất lượng từ bên trong là rất cần thiết để các công ty cung cấp dịch vụ có
thể dựa vào đó để xây dựng quy trình kiểm soát chất lượng khoa học, phù hợp và
thật sự có chất lượng.
Cơ chế kiểm soát chất lượng từ bên ngoài là tổng thể các nội dung như: xác
định cơ quan thực hiện, quy trình kiểm tra và kinh phí. Xây dựng kiểm soát chất
lượng từ bên ngoài thực chất là xác định cơ quan tổ chức thực hiện kiểm soát phù
hợp, thiết lập tiêu chuẩn kiểm tra viên và xác định nguồn kinh phí tài trợ. Theo ý
kiến của người viết, do sản phẩm kế toán điều tra mang tính chất nội bộ trong công
ty ký kết hợp đồng, không như sản phẩm của kiểm toán độc lập là báo cáo kiểm
toán phục vụ cho rất nhiều người sử dụng báo cáo tài chính, mặc dù kết quả có thể
là công cụ hỗ trợ pháp lý khi cần thiết (công khai trước cơ quan tư pháp), nên chỉ
cần Hội nghề nghiệp kiểm soát chất lượng, kiểm tra việc tuân thủ đạo đức nghề
nghiệp, thực hiện điều tra và tiến hành biện pháp phạt đối với hành vi vi phạm. Tuy
74
nhiên, nếu công ty kiểm toán cung cấp dịch vụ kế toán điều tra thì cần phải phối
hợp cơ chế kiểm soát của cả Bộ tài chính, Hội nghề nghiệp, Ủy ban chứng
khoán, thậm chí cả Bộ Tƣ pháp nhằm đám bảo tính độc lập kiểm toán và dịch vụ
kế toán điều tra giữa các khách hàng kiểm toán và khách hàng phi kiểm toán của
công ty cung cấp dịch vụ (Điều này sẽ được làm rõ trong phần kiến nghị đối với
công ty kiểm toán cung cấp kế toán điều tra). Đối với tiêu chuẩn kiểm tra viên trong
các cuộc kiểm soát chất lượng, kiểm tra viên là thành viên trong Hội nghề nghiệp
(có thể là VACPA hoặc một hội nghề nghiệp riêng), được cấp phép hành nghề,
kiểm tra viên là người độc lập với công ty cung cấp dịch vụ được kiểm tra và phải
bảo mật thông tin liên quan trong cuộc kiểm soát chất lượng. Kinh phí thực hiện các
cuộc kiểm soát chất lượng từ bên ngoài này là từ hội phí hàng năm do công ty cung
cấp dịch vụ đóng góp.
Ngoài ra, các cơ quan chức năng có liên quan như Bộ Tư pháp, Viện Kiểm sát,
Tòa án, Bộ Công an, Bộ Tài chính cần có các văn bản quy định, hướng dẫn về sự
kết hợp kế toán điều tra và các ngành cụ thể như luật sư, kiểm sát viên, thẩm phán,
điều tra viên, giám định viên tài chính trong việc nâng cao kỹ thuật trong từng
ngành nghề nói riêng và phối hợp với chuyên gia nói chung. Về mặt nâng cao kỹ
thuật là việc các ngành tự chuyên môn hóa với các kỹ thuật kế toán điều tra trong cả
điều tra gian lận và hỗ trợ pháp lý: Luật sư (Bộ tư pháp), Kiểm sát viên/Thẩm phán
cần (Viện Kiểm sát/ Tòa án), Điều tra viên (Bộ công an), Giám định viên tài chính
(Bộ Tài chính) cần tăng cường các kiến thức chuyên môn về kế toán trong các vụ
kiện dân sự cũng như hình sự có liên quan đến chuyên môn kế toán; tăng cường khả
năng nhận biết các bằng chứng có liên quan. Về mặt phối hợp với chuyên gia, cụ
thể là kế toán điều tra viên, các văn bản pháp luật cũng như các chuẩn mực nghề
nghiệp cần quy định chức năng, nhiệm vụ và hướng dẫn sự tham gia của chuyên
gia.
75
3.3.2.2. Về phía công ty kiểm toán
Để xã hội hóa loại hình dịch vụ kế toán điều tra, dịch vụ này nên do các công
ty kiểm toán thực hiện, các kiểm toán viên đảm trách vì lực lượng kiểm toán viên có
đủ năng lực và kinh nghiệm, hiểu rõ đạo đức nghề nghiệp cũng như sẵn sàng hấp
thu kiến thức kế toán điều tra và rèn luyện trở thành kế toán điều tra viên. Trong
tương lai, nhu cầu nghề nghiệp tăng cao, Nhà nước có thể quy định về thành lập
Văn phòng kế toán điều tra riêng biệt. Bên cạnh đó, nên bổ sung thêm loại hình
công ty trách nhiệm hữu hạn trong việc thành lập văn phòng nhằm khuyến khích
mở rộng lĩnh vực này.
Tiếp theo các giải pháp luật định về việc công ty kiểm toán không được cung
cấp đồng thời cho khách hàng kiểm toán dịch vụ pháp lý và các dịch vụ chuyên gia
không liên quan đến kiểm toán, mục đích này nhằm duy trì tính độc lập của công ty
kiểm toán trong việc ngăn chặn sự bào chữa cho khách hàng kiểm toán. Cơ sở của
quy định này bắt nguồn từ mâu thuẫn giữa yêu cầu pháp lý và đạo đức nghề nghiệp:
việc hỗ trợ pháp lý (như luật sư) thường mang tính chất bào chữa cho khách hàng,
trong khi đạo đức nghề nghiệp kiểm toán cần tôn trọng tính độc lập Tuy nhiên điều
này không thể ngăn cấm kiểm toán viên thực hiện kế toán điều tra trong trường hợp
mở rộng các thủ tục kiểm toán bằng các kỹ thuật kế toán điều tra khi cần thiết làm
rõ các dấu hiệu nghi ngờ có gian lận. Như vậy, công ty kiểm toán cung cấp dịch vụ
kế toán điều tra tuân thủ đạo đức nghề nghiệp cần phân biệt dịch vụ cung cấp cho
khách hàng kiểm toán và khách hàng phi kiểm toán theo mục đích tiến hành.
Khi khách hàng có nhu cầu điều tra gian lận khi có dấu hiệu nghi ngờ mà cơ
quan chức năng cũng đang tiến hành điều tra thì được phép đối với khách hàng
phi kiểm toán. Ngược lại, điều này vi phạm tính độc lập do vậy công ty kiểm
toán không được phép cung cấp dịch vụ kế toán điều tra đối với khách hàng
kiểm toán.
76
Đối với trường hợp trong một cuộc kiểm toán, kiểm toán viên nhận thấy có
dấu hiệu nghi ngờ có gian lận và cần thiết mở rộng phạm vi kiểm toán bằng
các thủ tục kiểm toán mang bản chất kế toán điều tra dưới sự cho phép của Ủy
ban kiểm toán thì đều được phép đối với khách hàng kiểm toán và khách hàng
phi kiểm toán.
Trường hợp cung cấp dịch vụ chuyên gia hay chuyên viên tư vấn pháp luật,
xây dựng hệ thống thông tin tài chính, kế toán, kiểm soát nội bộ, hỗ trợ pháp
lý thì đối với khách hàng phi kiểm toán thì điều này được phép, và ngược lại
không được phép đối với khách hàng kiểm toán do vi phạm tính chất độc lập.
Trong tường hợp tiến hành điều tra nội bộ nhằm báo cáo Ủy ban kiểm toán các
sái sót và gian lận kế toán cả hai loại khách hàng kiểm toán và phi kiểm toán
đều được chấp thuận. Ngoại trừ trường hợp nhằm mục đích bảo vệ cho Ủy ban
kiểm toán hay công ty nói chung trong các vụ tranh chấp quyền lợi cổ đông,
hoặc trong các cuộc điều tra bởi các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền mang
tính chất dân sự hay hình sự. Việc làm nhân chứng dựa trên kiến thức chuyên
môn được chấp nhận.
Nhu cầu tự bào
Mở rộng phạm
Cung cấp dịch
Tiến hành điều tra
chữa khi cơ
vi kiểm toán để
vụ chuyên gia
nội bộ nhằm báo
quan chức
hỗ trợ cuộc kiểm
hay chuyên
cáo Ủy ban kiểm
năng thực hiện
toán
viên tƣ vấn
toán các sái sót và
điều tra
theo luật định
gian lận kế toán (a)
Khách hàng
Cho phép
Cho phép
Cho phép
Cho phép
phi kiểm toán
Khách hàng
Không được
Không được
Cho phép
Cho phép
kiểm toán
phép
phép
(a) Không được phép nhằm mục đích bảo vệ cho Ủy ban kiểm toán hay công ty nói chung trong
các vụ tranh chấp quyền lợi cổ đông, hoặc trong các cuộc điều tra bởi các cơ quan Nhà nước có
thẩm quyền mang tính chất dân sự hay hình sự. Việc làm nhân chứng dựa trên kiến thức chuyên
môn được chấp nhận.
77
Bên cạnh việc quy định rõ về các hợp đồng kế toán điều tra, để xây dựng lực
lượng kế toán điều tra viên, công ty kiểm toán cần tăng cường đào tạo nhân viên có
đủ năng lực, trình độ tiếp thu các kiến thức về kế toán điều tra. Ngoài ra, công ty
kiểm toán cần tích cực chủ động giới thiệu dịch vụ này rộng rãi cho khách hàng
trong phạm vi luật định. Đồng thời học hỏi kinh nghiệm các công ty kiểm toán lớn
trên thế giới cách tiến hành các cuộc kiểm toán điều tra. Tận dụng mạng lưới thành
viên các công ty kiểm toán quốc tế để trau dồi về nghiệp vụ, nắm bắt thông tin đào
tạo trên thế giới, nhu cầu cũng như xu hướng nghề nghiệp.
3.3. Hạn chế của đề tài
Lý thuyết kế toán điều tra còn khá mới mẻ, nhưng rất rộng. Trong thời hạn
định trước và phạm vi của một luận văn, tác giả đã thu thập các tài liệu tham khảo
liên quan trực tiếp nhưng vẫn có thể thiếu sót trong tổng quan lý thuyết.
Mặt khác, Việt Nam chưa ứng dụng dịch vụ kế toán điều tra, các chương trình
giảng dạy chuyên ngành cũng chưa đề cập phổ biến, nên khó khăn trong xây dựng
thang đo.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài tại thành phố Hồ Chí Minh, chưa tiến hành
khảo sát ở các thành phố lớn khác của Việt Nam như Hà Nội, Đà Nẵng.
Đề tài không đi sâu nghiên cứu các môn học thích hợp trong đào tạo kế toán
điều tra và cũng không đi sâu vào các phương pháp kỹ thuật của kế toán điều tra.
Đây xem như một hướng nghiên cứu mới giúp xây dựng kế toán điều tra cụ thể hơn.
78
TÀI LIỆU THAM KHẢO
A. Danh mục tài liệu tiếng Việt
1. Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc (2005). Phân tích dữ liệu nghiên cứu
với SPSS. Trường Đại học Kinh tế TP. HCM. Nhà xuất bản Hồng Đức.
2. Hội kiểm toán viên hành nghề Việt Nam (VACPA). Hệ thống Chuẩn mực kiểm
toán Việt Nam. Nhà xuất bản tài chính, Hà Nội, tháng 04 năm 2013.
3. Nguyễn Đình Hựu, 2005. Cơ sở lý luận và thực tiễn áp dụng kiểm toán điều tra
trong điều kiện hiện nay của Kiểm toán Nhà nước. Đề tài nghiên cứu khoa học cấp
Bộ. Kiểm toán Nhà nước, 2005.
4. Nguyễn Tôn Nhan. Từ điển tiếng Việt. NXB Từ điển Bách Khoa, 2013.
5. Nguyễn Văn Minh, 2007. Luận văn thạc sĩ: Tội cố ý làm trái quy định của nhà
nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng trong luật hình sự Việt Nam. Đại
học Quốc gia Hà Nội.
6. Trần Khánh Lâm, 2011. Luận văn tiến sĩ: Xây dựng cơ chế kiểm soát chất lượng
cho hoạt động kiểm toán độc lập tại Việt Nam. Đại học Kinh tế TP. HCM.
B. Danh mục tài liệu tiếng Anh
7. AICPA (2009). Characteristics and Skills of the Forensic Accountant. [pdf].
uidance/DownloadableDocuments/ForensicAccountingResearchWhitePaper.pdf> 8. Albrecht et al., (1984). Detering Fraud: TheInternal Auditor's Perspective. Altamonte Springs: The Institute of Internal Auditor's Research Foundation. 9. Alex Moore (1907). The Accountant as an Expert Witness.The Accountant (June 29 1907). 79 10. Allen G. Lux and Sandra Fitiani. Fighting Internal Crime before It Happens.Information Systems Control Journal Vol. III (2002). 11. Ansari (2005). Corruption and Forensic Accounting. Ohio CPA Journal; July - September. 12. Apostolou, B., Hassell, J.M., and S.A. Webber (2000): “Forensic Expert Classification of Management Fraud Risk Factors,” Journal of Forensic Accounting, Vol. I, 181-192. 13. Association of Certified Fraud Examiners (ACFE) (2014). Report to the Nations on Occupational Fraud and Abuse: 2014 Global Fraud Study. [pdf]. 14. Bryan Garner, ed., Black’s Law Dictionary. 8th Ed. (2004). 15. Cemal Elitas et al. (2011). Stance of Accounting Instructors to Forensic Accountancy Profession: Example of Turkey. International Journal of Business and Social Science, Vol. 2 No. 10; June 2011. 17. Cohen, Crain, M. A. Sanders (1996). Skills Used in LitigationServices. Journal of Accountancy. 18. Committee of Sponsoring Organizations (COSO) (2010). Fraudulent Financial Reporting: 1998 – 2007: An Anlysis of U.S. Public Companies. [pdf]. 19. Cressey, D. R. (1950). The criminal violation of financial trust.American Sociological Review15 (6): 738– 743. 20. Cressey, D. R. (1953).Other People‟s Money: The Social Psychology of Embezzlement. New York, NY: The Free Press. 21. Crumbley, L.D. (2001). Forensic Accounting Older Than You Think.Journal of Forensic Accounting; Vol. 2; RT. Edwards. 80 22. Crumbley, L.D. (2005). Forensic And Investigative Accounting 2nd Edition. CCH Incorporated. 23. Di Gabriele, J. A. (2010). An Empirical View of the Transparent Objectivity of Forensic Accounting Expert Witnesses. [pdf]. 24. Editorial. Interrelationship of Law and Accounting. Journal of Accounting 92 (1) (July 1951) 25. Efiong (2012). Forensic Accounting Education: An Exploration of Level of Awareness in Developing Economies - Nigeria as a Case Study. International Journal of Business and Management, Vol. 7, No. 4; February 2012. 26. Fadzly, M.N. and Ahmad, Z. (2004). Audit expectation gap: The case of Malaysia. Managerial Auditing Journal; 2004; 19, 7; Proquest Central; pg.897 27. Festinger, L. (1957).A Theory of Cognitive Dissonance. Stanford, CA: Stanford University Press. 28. Gomide, E. F. (2008).Forensic Accounting and prevention of fraud: Certain practical cases. CONTROLLER'S Bulletin Vol. 8 Nº 2, (June) 29. Grippo, F.I and Ibex, IW. (2003). "Introduction to Forensic Accounting". The National Public Accountant; Washington. 30. Harris C.K., and Brown A.M. (2000). The Qualities of a Forensic Accountant. Pennsylvania CPA Journal. 31. Igor Pustylnick (2009). Financial Data Set Used in Computerized Fraud Detection, ProQuest LLC.[pdf]. /pqcentral/docview/305071773/63E25EDF177F44ADPQ/1?accountid=39958>. [Accessed: 21 August 2014]. 81 32. International Standard on Auditing (2009) [e-book]. VACPA. Available through: VACPA website 33. James A. Hall and Tommie Singleton. IT Auditing and Assurance. New York: Southwestern, 2004 34. Kasum (2009). The relevance of forensic Accounting to Financial Crimes in Private and Public sectors of Third world Economies: A study from Nigeria. [pdf]. 35. Kennedy Prince Modugu et al. (2013). Forensic Accounting and Financial Fraud in Nigeria: An Empirical Approach. International Journal of Business and Social ScienceVol. 4 No. 7; July 2013. 36. Legal Dictionary Law.com. [online] selected=785>. [Accessed: 15 October 2014]. 37. M. J. Wagner and P. B. Frank. Management Advisory Services Technical Consulting Practice Aid 7: Litigation Support. New York: AICPA, 1986. 38. Maurice E. Peloubet (1946). Forensic Accounting: Its Place in Today‟s Economy. Journal of Accountancy 81 (6) (June 1946) 39. Max Lourie (1953). Forensic Accounting. New York CPA (November 1953). 40. Messmer M. (2004). Exploring Options in Forensic Accounting. National Public Accountant. 41. Okoye & Akenbor (2009). Forensic Accounting in Developing Economics: Problems and Prospects. The University: Advanced Research Journal ISSN: 1119 – 8125, Issue 1, July – Sept 2009 42. Okoye & Gbegi (2013). Forensic Accounting: A Tool for Fraud detection and Prevention in the Public Sector (A study of selected Ministries in Kogi State). 82 International Journal of Academic Research in Business and Social SciencesVol. 3, No. 3; March 2013. 43. Pagano (2005). Expert Witnessing in Forensic Accounting.Journal of forensic Accounting; Vol. 6, No.1; RT. Edwards. 44. PWC‟s 2014 Global Economic Crime Survey – US Supplement: Economic crime: a threat to business processes. [pdf]. 45. Ramamoorti (2008). The psychology and sociology of fraud: Integrating the behavioral sciencescomponent into fraud and forensic accounting curricula.Issues in Accounting Education23 (4): 521–533. 46. Ramamoorti et al., (2009). Bringing Freud to Fraud: Understanding the State-of- Mind of the C-Level Suite/White Collar Offender Through„„A-B-C‟‟ Analysis. Working paper, Institute for Fraud Prevention. 47. Ramaswamy V. (2005). Corporate Governance and the Forensic Accountant. The CPA Journal. 48. Rezaee, Z., & Burton, E. J. (1997). Forensic accounting education: insights from academicians and certified fraud examiner practitioners.Managerial AuditingJournal, 12 (9), 479–489. 49. Sodders (2005). New forensic field offered: accountancy specialty at California State in high demand, especially with FBI. The Daily News of Los Angeles, Lexis- Nexis Pace University. 50. Sutherland, E. H. (1940). White-collar criminality.American Sociological Review5 (1): 1–12. [5] 51. Sutherland, E. H. (1944). Is white-collar crime crime?American Sociological Review10 (2): 132–139. 83 52. The Ten Worst Corporate Accounting Scandals of All Time. [online]. 53. Tommie W. Singleton and Aaron J. Singleton (2010). Fraud Auditing and
Forensic Accounting (4th Edition). John Wiley & Sons, Inc. 54. Xianghua Hao (2010). Analysis of the Necessity to Develop the Forensic Accounting in China. International Journal of Business and Management Vol. 5, No. 5; May 2010. 55. Webster‟s Dictionary Online. [online]. /dictionary/forensic?show=0&t=1414845226>. [Accessed:04 June 2014] 84 Phụ lục 1 Dưới đây là mười gian lận trong doanh nghiệp lớn nhất đến nay (Nguồn: Tổng hợp từ website: www.accounting-degree.org) [52] o Waste Management (1998) có trụ sở tại Houston, là công ty đại chúng niêm yết trên thị trường chứng khoán. Công ty đã báo cáo 1,7 triệu USD lợi nhuận giả do tăng thời gian trích khấu hao tài sản, nhà cửa và công cụ dụng cụ trên bảng cân đối kế toán theo sự cho phép của cựu CEO/Chủ tịch Dean L. Buntrock và các nhà điều hành cao cấp lúc đó. Thủ thuật gian lận này bị CEO và ban quản lý mới phát hiện. Kết quả là công ty bị các cổ đông kiện và phải bồi thường 457 triệu USD; Ủy ban chứng khoán Hoa Kỳ SEC phạt công ty Arthur Andersen đã kiểm toán cho Waste Management số tiền 7 triệu USD. o Enron (2001) là công ty cung cấp dịch vụ, hàng hóa về năng lượng, có trụ sở tại Houston. Công ty đã để ngoài sổ sách các khoản nợ lớn, làm các cổ đông bị thiệt hại 74 tỷ USD, hàng ngàn nhân viên và nhà đầu tư bị thiệt hại, nhiều nhân viên bị mất việc. Gian lận được phát hiện do sự tố giác của nhân viên kiểm toán nội bộ Sherron Watkins,và sự đáng ngờ của giá cổ phiếu nhiên liệu cao. CEO Ken Lay chết trước khi bị kết tội, CEO Jeff Skilling bị phạt 24 năm tù. Công ty Enron buộc phải phá sản. Công ty kiểm toán cho Enron là Arthur Andersen bị xem là có tội gian dối trong sổ sách của Enron. o Worldcom (2002) là công ty viễn thông của Hoa Kỳ, ban quản lý của Worldcom đã tăng khống tài sản 11 tỷ USD, làm 30.000 người thất nghiệp và các nhà đầu tư thiệt hại ít nhất 180 tỷ USD. CEO Bernie Ebbers bị phạt 25 năm tù do không báo cáo đầy đủ giá vốn do đã vốn hóa tài sản chứ không đưa vào chi phí, và khai khống doanh thu bằng các bút toán giả, thông đồng và làm giả tài liệu với một số quan chức. Bên cạnh đó CFO của công ty cũng bị sa thải, kiểm soát viên từ chức, 85 công ty rơi vào phá sản. Từ sau vụ bê bối này, Quốc hội Hoa Kỳ đã thông qua Đạo luật Sarbanes – Oxley. o Tyco (2002) là một công ty hệ thống an ninh của Thụy Sĩ, có trụ sở tại New Jersey. CEO Dennis Kozlowski và CFO Mark Swartz đã rút tiền từ các hợp đồng cho vay tiền không được chấp thuận, gian lận trong bán cổ phiếu, đánh cắp tiền trá hình dưới hình thức tiền thưởng hay các khoản trợ cấp gây thiệt hại hơn 150 triệu USD, khai khống lợi nhuận 500 triệu USD. SEC và Manhattan D.A. điều tra phát hiện ra các hoạt động kế toán có vấn đề, bao gồm cả các khoản vay lớn của Kozlowski. Kozlowski và Swart bị kết án 8 – 25 năm tù, Tyco phải đền bù 2,92 tỷ USD cho các nhà đầu tư. o Healthsouth (2003) là công ty niêm yết đại chúng về chăm sóc sức khỏe lớn nhất Hoa Kỳ. CEO Richard Scrushy bị buộc tội chỉ đạo cấp dưới gian dối trong số liệu và các nghiệp vụ từ năm 1996 – 2003 nhằm làm tăng lợi nhuận tăng giá cổ phiếu. Ông ta đã bán ra 75 triệu USD cổ phiếu trước khi công ty tuyên bố kinh doanh lỗ, điều đó làm SEC nghi ngờ và tiến hành điều tra. Cuối cùng, Scrushy đã được tha bổng của tất cả 36 tội danh gian lận kế toán, nhưng bị kết tội hối lộ Thống đốc Alabama, dẫn đến một án tù 7 năm. o Freddie Mac (2003) là công ty hỗ trợ thế chấp - tài chính liên bang khổng lồ. Chủ tịch David Glenn, CEO Leland Brendsel, cựu CFO Vaughn Clarke, Robert Dean và Nazir Dossani cố tình trình bày sai và khai thiếu 5 tỷ USD lợi nhuận. Sự việc bị phát hiện sau một cuộc điều tra của SEC. Công ty bị phạt 125 triệu USD; Glenn, Clarke và Brendsel bị công ty sa thải. o American Insurance Group (AIG) (2005) là tập đoàn đa quốc gia kinh doanh về bảo hiểm. Trong cuộc điều tra thường niên SEC đã phát hiện các gian lận kế toán gây thiệt hại 3,9 tỷ USD, cùng với gian lận đấu thầu và bóp méo giá cổ phiếu. CEO Hank Greenberg chỉ đạo ghi nhận các khoản cho vay thành doanh thu, hướng các khách hàng đến công ty bảo hiểm mà AIG có tiền chi trả thỏa thuận, và nói với các nhà kinh doanh thổi phồng giá cổ phiếu. Ông nộp phạt cho SEC 10 triệu USD năm 2003 và 1,64 triệu USD năm 2006, nộp phạt cho Quỹ Hưu trí Louisiana 86 115 triệu USD, và 3 Quỹ Hưu trí khác ở Ohio số tiền 725 triệu USD, sau đó ông bị sa thải nhưng không phải đối mặt với án hình sự. o Lehman Brothers (2008) là công ty dịch vụ tài chính toàn cầu. Công ty phá sản và trở thành vụ phá sản lớn nhất trong lịch sử Hoa Kỳ. Nguyên nhân chủ yếu do che giấu 50 tỷ USD nợ thành doanh thu. Khi công ty phá sản, gian lận này mới được phát hiện. Ban Giám đốcbị cáo buộc bán các tài sản không an toàncho các ngân hàng Cayman Island với thỏa thuận rằng họ sẽ mua lại cuối cùng. Đưa ra số liệu báo cáo tài chính đẹp khi trình bày Lehman có 50 tỷUSD tiền mặt và ít nhất 50 tỷ USD tài sản không đảm bảo trái ngược với những gìcông ty thực sự có. Công ty kiểm toán Ernst & Young, đơn vị kiểm toán cho Lehman cũng bị truy cứu trách nhiệm trong vụ bê bối này. Tuy nhiên SEC không truy tố vụ việc vì thiếu bằng chứng. o Bernie Madoff (2008) là công ty đầu tư Wall Street do Madoff thành lập. Bernie Madoff và các kế toán viên David Friehling, và Frank DiPascalli đã sử dụng thủ thuật Ponzi, lừa các nhà đầu tư 64,8 tỷ USD. Thủ thuật Ponzi nghĩa là các nhà đầu tư sẽ được trả tiền lời cao trên số tiền họ đầu tư nhưng thực chất đó là tiền đầu tư của các nhà đầu tư khác, chứ không phải lợi nhuận đầu tư. Madoff đã thừa nhận thủ thuật gian lận này với các con trai của ông và họ đã báo cáo lại cho SEC. Madoff bị bắt ngay sau đó. Tòa tuyên án Madoff bị phạt 150 năm tù và 170 tỷ USD tiền bồi thường; Friehling và DiPascalli cũng bị tuyên phạt án tù. o Saytam (2009) là công ty dịch vụ tin học và hỗ trợ dịch vụ kế toán Ấn Độ. Công ty đã khai khống doanh thu lên 1,5 tỷ USD. Chủ tịch công ty Ramalinga Raju đã thừa nhận hành vi gian lận doanh thu, số dư tiền lên đến 50 tỷ rupee trong thư gửi Ban Giám đốc của công ty. Raju và anh trai ông ta bị buộc vi phạm lòng tin, thông đồng, gian lận và giả mạo hồ sơ, được thả ra sau khi Cục Điều tra Trung ương không thể thu thập đầy đủ bằng chứng trong thời gian quy định. 87 Phụ lục 2 1. Lý thuyết tam giac gian lận Cressey (1950, 1953) [19] [20] nêu ra ba giả thuyết về hành vi vi phạm sự tín nhiệm: (1) Không chia sẻ các vấn đề khó khăn về tài chính; (2) hiểu biết về môi trường làm việc và cơ hội vi phạm sự tín nhiệm; (3) khả năng tự điều chỉnh bản thân về hành vi vi phạm. Cressey (1950, 1953) [19] [20] cho rằng gian lận xảy ra khi thỏa đồng thời ba yếu tố: áp lực, cơ hội và hợp lý hóa, được gọi là lý thuyết tam giác gian lận. Cơ hội Hợp lý hóa Áp lực tài chính Hình: Tam giác gian lận – Nguồn: Donald R. Cressey Hình trên mô tả tam giác gian lận gồm các yếu tố: Áp lực từ các vấn đề khó khăn về tài chính không thể chia sẻ với người khác tạo ra động lực phạm tội. Một cá nhân có thể chia sẻ vấn đề tài chính hay không phụ thuộc vào nhận thức của người đó về sự kỳ thị của xã hội đối với vấn đề đó. Ngoài ra, một người có ý thức mạnh mẽ về bản ngã hay quá tự mãn có thể ngăn cản họ tìm kiếm sự giúp đỡ hay chia sẻ các vấn đề. 88 Cơ hội là nhận thức, hiểu biết về (1) các điểm yếu của hệ thống kiểm soát, (2) khả năng bị phát hiện. Vì vậy, cơ hội là khả năng vi phạm nhưng không thể phát hiện. Sự hợp lý hóa là nỗ lực làm giảm mâu thuẫn trong nhận thức của cá nhân về hành vi vi phạm (Festinger (1957)[27]; Ramamoorti (2008)[45]; Ramamoorti và cộng sự (2009)[46]). Cressey (1950, 1953)[19],[20] quan sát thấy rằng các cá nhân tuy có hành vi gian lận nhưng luôn muốn ở lại trong vùng thoải mái đạo đức của họ. Vì vậy, họ luôn tìm cách biện minh cho hành động gian lận trước khi thực hiện gian lận lần đầu tiên. Cressey (1950, 1953) [19],[20] lưu ý rằng thủ phạm gian lận không muốn bị coi là vi phạm sự trung thực, mà xem đó như một tình huống tiến thoái lưỡng nan hay một ngoại lệ đặc biệt, một tình huống cho phép họ không nhận xét bản thân một cách tiêu cực. Chỉ thông qua hợp lý hóa thủ phạm có thể làm giảm sự bất đồng trong suy nghĩ và thực hiện gian lận mà không hối tiếc. 2. Lý thuyết bàn cân gian lận Lý thuyết bàn cân gian lận do D.W.Steve Albrecht xây dựng. Ông đề xuất ba thành phần cầu thành hành vi gian lận, gọi là “Bàn cân gian lận”: Tình huống áp lực, cơ hội, và tính trung thực (Albrecht và cộng sự, 1984) [8] Cao Thấp Áp lực Cao Thấp Cơ hội Thấp Cao Gian
lận cao Không có
gian lận Hình: Bàn cân gian lận – Nguồn: Donald R. Cressey 89 Khi có áp lực, cơ hội cao và tính trung thực của cá nhân thấp thì gian lận xảy ra cao hơn khi áp lực thấp, cơ hội thấp, tính trung thực cao. Nghiên cứu của ông và đồng nghiệp còn tập trung làm rõ các động cơ gian lận và lạm quyền; họ phân loại thành chín loại động cơ khác nhau như sau: Chi tiêu quá mức thu nhập Đam mê quá mức vì lợi ích cá nhân Nợ nần cao Có mối quan hệ thân thiết với khách hàng Thu nhập không tương xứng với trách nhiệm Là người ôm đồm nhiều việc kinh doanh Luôn xem việc phá vỡ các quy định kiểm soát như thử thách cần chinh phục Có thói quen cờ bạc Chịu áp lực gia đình quá mức Ông phân loại gian lận như sau: Biển thủ tài sản của nhân viên Gian lận của quản lý Gian lận đầu tư Gian lận nhà cung cấp Gian lận khách hàng Gian lận vặt 90 Phụ lục 3 1. COSO (2010) COSO tiến hành khảo sát các công ty và các nhà quản lý chủ chốt, các kết quả nghiên cứu chính như sau: Từ năm 1998 đến 2007 có 347 vụ cáo buộc gian lận báo cáo tài chính, con số này tăng 18% so với giai đoạn nghiên cứu 1987 đến 1997 có 294 vụ. Cùng với các vụ gian lận tại Enron, WorldCom v.v… mức độ thiệt hại do gian lận báo cáo tài chính tăng mạnh trong thập kỷ cuối, với tổng số tiền thiệt hại do trình bày sai hay biển thủ gần 120 tỷ USD trên 300 trường hợp gian lận (hay nói cách khác gần 400 triệu USD mỗi trường hợp). So với trung bình 25 triệu USD mỗi gian lận trong mẫu nghiên cứu vào năm 1999 của COSO thì nghiên cứu năm 2010 tăng gấp 15 lần . Các công ty trong mẫu khảo sát có tài sản và doanh thu trung bình dưới 100 triệu USD, lớn rất nhiều so với mẫu nghiên cứu của COSO năm 1999. CEO, CFO liên quan đến 89% các trường hợp gian lận, tăng 83% các trường hợp trong 1987 – 1997. Trong 2 năm điều tra của SEC, khoảng 20% CEO/CFO có liên quan gián tiếp và hơn 60% CEO/CFO bị kết án gián tiếp. COSO 2010
COSO 1999 91 Biểu đồ: Loại và tần số cá nhân vi phạm trong AAER Nguồn: Báo cáo COSO 2010 Thủ thuật gian lận báo cáo tài chính chủ yếu là ghi nhận doanh thu không
phù hợp, khai khống tài sản hay vốn hóa chi phí. Gian lận doanh thu chiếm
60% các trường hợp, tăng so với tỷ lệ giai đoạn nghiên cứu trước chiếm
50%. Bảng 1.1: Các thủ thuật gian lận phổ biến trên BCTC Tỷ lệ
61%
51%
31%
14%
1%
20%
18%
24% Các thủ thuật gian lận trên BCTC
Ghi nhận doanh thu không phù hợp
Ghi nhận doanh thu ảo – 48%
Ghi nhận doanh thu không đúng kỳ - 35%
Khai khống – 2%
Khai khống tài sản (trừ phải thu khai khống do gian lận doanh thu)
Khai khống tài sản hiện có hoặc vốn hóa chi phí – 46%
Hạch toán tài sản ảo hay tài sản không sở hữu – 11%
Khai thiếu chi phí/Nợ phải trả
Biển thủ tài sản
Trình bày không thích hợp
Các kỹ thuật hỗn hợp khác (sáp nhập, liên doanh, cấn trừ v.v…)
Giao dịch các bên liên quan (related party transactions)
Giao dịch nội bộ (Insider trading) Nguồn: Báo cáo COSO 2010 Có 26% các công ty có gian lận thay đổi KTV giữa kỳ báo cáo trung thực cuối cùng và báo cáo chứa đựng gian lận cuối cùng; chỉ có 12% các công ty 92 không có gian lận thay đổi KTV trong các giai đoạn tương tự. 60% công ty gian lận thay đổi KTV trong suốt thời kỳ gian lận, trong khi 40% còn lại thay đổi năm tài chính trước khi gian lận diễn ra. Thay KTV Không
thay KTV Công ty có gian lận Công ty không có gian lận Biểu đồ: Thay đổi KTV – Nguồn: Báo cáo COSO 2010 2. PWC (2014) PWC (2014) phát hành “Economic crime: a threat to business process”[44] thảo luận sâu các vấn đề xoay quanh việc so sánh kết quả của các đối tượng khảo sát từ Hoa Kỳ và toàn cầu. Kết luận đáng chú ý của báo cáo làgian lận tại các công ty Hoa Kỳ thường do cá nhân bên trong gây ra (50%) hơn các đối tượng bên ngoài (44%). Các nhà quản lý cấp trung thường vi phạm (54%) nhiều hơn so với nhân viên cấp thấp (31%), từ đó cho thấy yếu tố “cơ hội” trở thành yếu tố chính gây ra gian lận. Khác Quản lý cấp cao Nhân viên Quản lý cấp
trung 93 Biểu đồ: Thủ phạm chính của các gian lận bên trong Nguồn: Báo cáo Pwc 2014 Các đối tượng gian lận thường có các đặc điểm sau: Giới tính: Đàn ông (77% Hoa Kỳ, 77% toàn cầu) Độ tuổi: 31 đến 40 tuổi (39% Hoa Kỳ, 40% toàn cầu) Thâm niên công tác: từ 3 đến 5 năm (27% Hoa Kỳ, 29% toàn cầu) Học vấn: Cao đẳng (35% Hoa Kỳ, 35% toàn cầu) Theo cách tiến hành khảo sát gian lận năm 2014, PWC cũng phân loại gian lận như sau: Vi phạm luật cạnh tranh/ luật chống độc quyền (6%) Gian lận về cầm cố, ký cược (4%) Xâm phạm địa chỉ IP trộm dữ liệu (19%) Rửa tiền (6%) Gian lận về nhân lực (6%) Gian lận kế toán (23%) 94 Tội phạm máy tính (44%) Hối lộ tham ô (13%) Gian lận mua sắm tài sản (27%) Biền thủ tài sản (69%) 3. ACFE ACFE đã phát hành tám báo cáo mang tên “Report to the Nations on Occupational Fraud and Abuse” vào các năm 1996, 2002, 2004, 2006, 2008, 2010, 2012 và 2014.Thiệt hại do gian lận chiếm 6% doanh thu năm 1996 (400 tỷ USD/2.608 vụ), năm 2002 (600 tỷ USD/663 vụ), năm 2004 (761 triệu USD/508 vụ); 5% trong năm 2006 (652 tỷ USD/1.134 vụ); 7% trong năm 2008 (994 tỷ USD/959 vụ); 5% các năm 2010 (2,9 tỷ tỷ USD/1.843 vụ), năm 2012 (3,5 tỷ tỷ USD/1.388 vụ), năm 2014 (3,7 tỷ tỷ USD/1.483 vụ). Thời gian kéo dài trung bình của gian lận tài chính trước khi được phát hiện là 18 tháng (ACFE 2014). Như vậy, gian lận thường kéo dài ít nhất là một kỳ kiểm toán mà không bị các kiểm toán viên độc lập phát hiện. Các báo cáo của ACFE cũng nghiên cứu các phương pháp phát hiện gian lận phổ biến. Theo báo cáo năm 2014, đơn thư tố giác là phương pháp hữu hiệu nhất để phát hiện gian lận, và là phương pháp phổ biến hơn các phương pháp khác (sự giám sát của ban quản lý, kiểm toán nội bộ, kiểm toán độc lập, các cơ quan thanh tra…). Phương pháp tố giác, than phiền năm 2014 chiếm 42,2% giảm so với các năm 2012, 2010 nhưng trung bình phương pháp này vẫn chiếm trên 40%, đứng đầu các phương pháp phát hiện gian lận. Phương pháp thứ hai là sự kiểm tra của ban quản lý (16%), tiếp theo là kiểm toán nội bộ đứng thứ ba, kiểm toán độc lập chỉ phát hiện được 3% các trường hợp gian lận, đứng thứ bảy trong các phương pháp phát hiện gian lận được thống kê. Thứ bậc này hầu như ít thay đổi trong báo cáo các năm từ 2008 đến 2014. Như vậy, phương pháp phát hiện gian lận hữu hiệu nhất là sự tố giác, than phiền từ nhân viên (49%/2014), khách hàng (21,6%/2014), nặc danh (14,6%/2014), nhà cung cấp (9,6%/2014); thứ hai là kiểm soát nội bộ; thứ ba là kiểm toán nội bộ. 95 Báo cáo ACFE năm 2014 còn phân loại các tổ chức thường có gian lận: Công ty tư nhân(Private Company) cao nhất với 37.9% (giảm so với năm 2012 là 39,3% và năm 2010 là 42,1%), tiếp theo là công ty đại chúng (Public Company), kế tiếp là công ty Nhà nước (Government) (15,1%) và các loại tổ chức khác. Tuy nhiên, mức thiệt hại trung bình cao nhất không phải thuộc về tổ chức có nhiều gian lận nhất, công ty tư nhân, mà là công ty đại chúng với mức thiệt hại bình quân năm 2014 là 200.000 USD cao hơn so với năm 2012 chỉ có 127.000 USD. Thủ phạm gian lận thường là nhân viên chiếm 42% các trường hợp gian lận nghiên cứu trong báo cáo. Tiếp đến là nhà quản lý với 36.2%, đối với các cổ đông sở hữu là 18.6%, thành phần khác chiếm tỷ lệ nhỏ khoảng 3.2% các trường hợp gian lận. Thứ tự này hầu như không thay đổi trong ba báo cáo năm 2010, 2012 và năm 2014. Tuy nhiên, trái ngược với thứ tự xếp hạng thủ phạm gian lận, thứ tự mức độ thiệt hại do thủ phạm gây ra lại cao nhất do các cổ đông sở hữu (500.000 USD); nhân viên thường gây ra gian lận nhất nhưng lại gây thiệt hại thấp nhất (75,000 USD). Việc xếp hạng về mức độ thiệt hại trung bình do các thủ phạm gây ra cũng không thay đổi trong các báo cáo của ACFE từ năm 2010. ACFE cũng xác định các dấu hiệu đối tượng gian lận gây ra mức thiệt hại lớn như: Về độ tuổi: trên 60 tuổi Giới tính: Nam giới Chức vụ: Chủ sở hữu/Điều hành Học vấn: Sau đại học Các biểu hiện: Chi tiêu quá mức thu nhập (43,8%); khó khăn về tài chính (33%), thân thiết với nhà cung cấp/khách hàng (21,8%)… Báo cáo năm 2014 cũng cho thấy biển thủ tài sản chiếm 85,4% các vụ gian lận có mức thiệt hại trung bình là 130.000 USD, tham ô chiếm 36,8% gây thiệt hại trung bình 200.000$, gian lận báo cáo tài chính tuy chỉ chiếm 9% nhưng lại gây 96 mức thiệt hại cao nhất tương đương 1.000.000 USD. Các loại gian lận thường chồng chéo nhau, thủ phạm có thể vi phạm một hay nhiều âm mưu gian lận khác nhau. 97 Phụ lục 4 Gian lận
đấu thầu Gian lận
bán hàng Khác Khác Ghi sai niên độ
Doanh thu ảo
Dấu công nợ,
chi phí
Công bố không
đầy đủ
Đánh giá tài sản
không đúng Tiền Hàng tồn kho và TS khác Đánh cắp Ăn chặn Lạm dụng Đánh cắp Gian lận chi tiêu Tiền mặt Mua hàng Séc giả Doanh
thu Mua TS và
chuyển đi Trả
lương Bồi
thường Bút
toán giả Phải
thu Hoàn trả
& Khác Xóa sổ Tiền gửi Người bán
giả Giả chữ
ký Không
ghi Phân
loại sai Hủy bỏ
sai Nhân
viên giả Giả bán
hàng & v/c Khác Gối đầu Mua và
nhận Khống
chi phí Hoa
hồng giả Ghi
thiếu Hoàn
trả sai Người bán
không hợp
tác Công khai Nghiệp vụ
giả
giả
Sửa người
nhận tiền Cá nhân Công
khai Đền bù
tai nạn Chi phí
ảo Trình ký
séc sai Trả
nhiều lần Khống
lương Nguồn: Report to the Nations, 2014 98 Phụ lục 5 Kế toán điều tra thường bắt đầu từ điều tra gian lận thu thập bằng chứng xác định thủ phạm từ đó là nhân chứng chuyên gia tại Tòa trong các hỗ trợ pháp lý. Kế toán điều tra không dựa trên chọn mẫu mà dựa trên các dấu hiệu nghi ngờ về gian lận, kể các thông tin tài chính và thông tin phi tài chính. Các dấu hiệu nghi ngờ hay được gọi tắt là “red flag” hay là lá cờ đỏ. Lá cờ đỏ này là hình ảnh tượng trưng cho“dấu vân tay” của gian lận. Khi gian lận xảy ra, thủ phạm thường để lại các dấu vết trên hiện trường hay chí ít là trong lý lịch của nghi phạm, giống như “dấu vân tay” thủ phạm để lại hiện thường.Lá cờ đỏ rất đa dạng, có thể bao gồm các tài khoản, mối quan hệ bất thường, không được giải thích hợp lý, hoặc các thay đổi trong hành vi các nghi phạm. Nhận diện lá cờ đỏ rất quan trọng để phát hiện và ngăn chặn gian lận. Từ đó xây dựng và phát triển hệ thống ngăn ngừa gian lận tốt hơn. Tuy nhiên lá cờ đỏ suy cho cùng chỉ là dấu hiệu, chứ chưa phải bằng chứng, kế toán điều tra đưa ra kết luận dựa trên bằng chứng thuyết phục, vì vậy không thể dựa vào dấu hiệu để kết luận gian lận, mà kế toán điều tra cần dựa vào lá cờ đỏ thích hợp, đáng tin cậy để đào sâu tìm kiếm bằng chứng phù hợp. Ngược lại, mục tiêu của kế toán điều tra là đưa ra kết luận chứng minh hay bác bỏ có sự tồn tại của gian lận, chứ không phải tạo ra một danh sách lá cờ đỏ để kiểm tra. Kế toán điều tra xuất hiện và phát triển tại các nước phương Tây, nhất là Hoa Kỳ. Vì vậy các dấu hiệu nghi vấn lá cờ đỏ thường phát triển đầy đủ hơn, trong đó có Viện kiểm toán nội bộ Hoa kỳ (IIA), Hiệp Hội hệ thống thông tin kiểm toán và 99 kiểm soát Hoa Kỳ (ISACA), và Hiệp hội kế toán viên công chứng Hoa Kỳ (AICPA) là những tổ chức tiên phong trong đào tạo, huấn luyện, hội thảo thường kỳ về kiểm toán gian lận. Hiệp hội kế toán viên công chứng Hoa Kỳ(AICPA) Chuẩn mực kiểm toán Hoa Kỳ (SAS) số 99, “Việc xem xét gian lận trong một cuộc kiểm toán báo cáo tài chính”, hệ thống hóa các quy tắc trong SOX và danh sách các dấu hiệu lá cờ đỏ. Danh sách này được lập thành ma trận tam giác gian lận và phân theo ba loại gian lận trong cây gian lận của ACFE. Bảng: Ma trận dấu hiệu lá cờ đỏ theo SAS 99 Tham ô Biển thủ tài sản Gian lận trên báo
cáo tài chính Tam giác/ Cây
gian lận
Áp lực
Cơ hội
Hợp lý hóa Nguồn: SAS 99 Hiệp Hội hệ thống thông tin kiểm toán và kiểm soát Hoa Kỳ (ISACA) ISACA hướng dẫn “Đạo luật các hành vi không tuân thủ và bất hợp pháp” bằng “Các thủ tục kiểm toán hệ thống thông tin” có hiệu lực ngày 01 tháng 11 năm 2003. Trong phần 4.1, chuẩn mực đưa ra danh sách các vấn đề cần xem xét của kiểm toán (Audit Considerations) bao gồm các dấu hiệu lá cờ đỏ. Viện Kiểm toán Nội bộ Hoa Kỳ (IIA) Các văn bản của IIA nêu nhiều ví dụ về các dấu hiệu lá cờ đỏ. Các kỹ thuật và chuẩn mực nghề nghiệp của IIA cũng liên quan đến gian lận. 1. Các dấu hiệu lá cờ đỏ về nghi phạm o Gian lận trên báo cáo tài chính 100 Tommie W. Singleton [52] trình bày các dấu hiệu lá cờ đỏ trên báo cáo tài chính thường là: Sự bất thường trong kế toán Tăng trưởng nhanh Lợi nhuận bất thường Kiểm soát nội bộ yếu kém Sự lộng quyền của ban giám đốc Tầm quan trọng của chính giá cổ phiếu của ban giám đốc Phong cách quản lý quá chi tiết của ban giám đốc o Biển thủ tài sản Theo Lux (2002) [10], các dấu hiệu lá cờ đỏ về hành vi gồm: Sự thay đổi hành vi (thói quen) Không nhìn vào mắt người khác Dễ bị kích động Hồ sơ công việc bất thường Thay đổi các đặc điểm bên ngoài Dễ nổi giận Hay đổ lỗi cho người khác Thay đổi phong cách sống Đối với người có tư tưởng đạo đức cao, các thay đổi về hành vi ứng xử dễ dàng được nhận biết hơn (ví dụ như, dễ kích động, không nhìn vào mắt người khác); đó là do lương tâm họ cắn rứt về hành vi sai trái. Dấu hiệu lá cờ đỏ về biển thủ tài sản phổ biến nhất là thay đổi phong cách sống. Hành vi gian lận có thể bị nghi ngờ khi người nhân viên mua xe hơi, du thuyền, nhà cửa… Các dấu hiệu lá cờ đỏ khác nghi ngờ một nhân viên là thủ phạm: 101 Bất mãn với chủ doanh nghiệp hay người giám sát Không đi du lịch hay chỉ du lịch trong thời gian ngắn (do thủ đoạn gối đầu hay nhân viên ma) Có khó khăn tài chính hay các khoản nợ lớn Có các dấu hiệu tâm thần Hay phàn nàn về các chính sách dành cho nhân viên của công ty. Có thái độ tự cao tự đại hay luôn muốn kiểm soát tất cả công việc Từ chối luân chuyển công việc, thăng chức, hay đảm nhận các công việc khác. o Tham ô Tham ô là hành vi cấu kết của người bên trong công ty với các đối tượng bên ngoài công ty gây thiệt hại cho công ty. Dấu hiệu nghi ngờ thường dựa trên hành vi và sự thay đổi trong phong cách sống của nghi phạm, ngoài ra theo Singleton [52] còn một số dấu hiệu khác như: Mối quan hệ giữa nhân viên và nhà cung cấp Không công khai mối quan hệ với các bên thứ ba Không xem xét sự phê duyệt của ban giám đốc về mối quan hệ với bên thứ ba. Ghi chép các nghiệp vụ kế toán bất thường Sự bất thường trong phê duyệt nhà cung cấp 2. Dấu hiệu lá cờ đỏ chi tiết o Gian lận trên báo cáo tài chính Dấu hiệu lá cờ đỏ của các thủ đoạn/ âm mưu gian lận trên báo cáo tài chính: Các mối đe dọa kinh tế đếnsự ổn định tài chính hay khả năng sinh lợi Áp lực kết quả kinh doanh của ban giám đốc 102 Ban giám đốc hay ban quản trị có sự phụ thuộc cá nhân vào kết quả hoạt động của công ty. Các nghiệp vụ hay mối quan hệ phức tạp với ban thứ ba. Sự giám sát không hiệu quả của ban giám đốc Cơ cấu tổ chức phức tạp và không bền vững Kiểm soát nội bộ chưa hoàn thiện, đặc biệt là các điểm yếu kém trọng yếu. Lợi nhuận gộp tăng không hợp lý, đặc biệt khi so sánh với trung bình ngành. Tốc độ tăng trưởng, lợi nhuận tăng nhanh trên Standard & Poor‟s (S&P) trung bình. Các giao dịch quan trọng với bên liên quan, mà bên liên quan không được kiểm toán hoặc được kiểm toán bởi một công ty kiểm toán khác. Các giao dịch phức tạp, không thường xuyên, số tiền lớn tại thời điểm cuối năm tài chính. Bán hàng với số lượng lớn cho các đơn vị không rõ trụ sở và chủ sở hữu. Doanh thu tăng trưởng bất thường từ số ít các đơn vị kinh doanh Nguồn: SAS 99 Doanh thu ghi nhận không đúng kỳ Thủ thuật này hoặc ghi nhậndanh thu sớm hoặc ghi đảo lại doanh thu sau một thời gian. Dấu hiệu lá cờ đỏ đối vớithủ đoạn “channel stuffing” (thổi phồng doanh thu, thu nhập thông qua việc gởi hàng cho những người bán lẻ theo một kênh phân phối hơn là bán ra ngoài công chúng) thường là doanh thu được ghi nhận trước khi nghiệp vụ thực sự diễn ra (nghĩa là vi phạm GAAP), ngoài ra, hàng bán trả lại tăng bất thường, ghi giảm doanh thu vào niên độ kế toán sau. Doanh thu ảo/giả Thủ thuật ghi nhận doanh thu không có thực. Dấu hiệu lá cờ đỏ thường bao gồm: 103 Tăng tài sản bất thường (đối ứng với doanh thu ảo tăng) Dữ liệu khách hàng không đầy đủ (ví dụ như địa chỉ, số điện thoại v.v…) Sự thay đổi doanh thu vượt kế hoạch hay phân tích xu hướng qua tỷ số tài chính không giải thích được nguyên nhân (ví dụ, doanh thu tăng nhưng khoản phải thu giảm) Che dấu công nợ (ghi nhận công nợ không thích hợp) Lợi nhuận có thể gia tăng khi chuyển công nợ giữa các công ty con. Nợ phải trả có thể che giấu bằng cách không ghi nhận các khoản này. Dấu hiệu lá cờ đỏ bao gồm: Các giao dịch trao đổi quá mức với các đơn vị có liên quan (ví dụ như công ty con) Các giao dịch bất thường hay không thể giải thích từ một đơn vị đến các đơn vị khác. Các công ty con hay các đơn vị kinh doanh khác nhau được công ty kiểm toán khác nhau kiểm toán. Hóa đơn nhà cung cấp và các nghiệp vụ phát sinh nợ không được ghi nhận trên sổ sách. Trình bày và công bố thông tin không phù hợp Trình bày và công bố thông tin không phù hợp có thể dùng để che giấu gian lận. Các dấu hiệu lá cờ đỏ bao gồm: Trình bày thuyết minh quá khó hiểu gây khó khăn xác định bản chất của sự kiện hay các nghiệp vụ. Không công bố các khoản nợ tiềm tàng hay sự kiện phát sinh sau ngày kết thúc niên độ. Không trình bày và công bố về gian lận. Đánh giá tài sản không đúng 104 Lợi nhuận có thể khai khống bằng cách tăng giá trị tà sản bằng cách tăng giá gốc hay giảm khấu hao. Dấu hiệu lá cờ đỏ thường bao gồm: Giá trị sổ sách tài sản tăng bất thường hay không giải thích được (hàng tồn kho, phải thu, các tài sản dài hạn) Phân tích tỷ số để nhận biết xu hướng bất thường giữa tài sản và các thành phần khác trên báo cáo tài chính (ví dụ, kỳ phải thu tăng không hợp lý, tỷ trong phải thu trên doanh thu thay đổi) Vốn hóa chi phí không tuân theo GAAP Thái độ không nhiệt tình của ban giám đốc khi được báo cáo về các tài sản cần đưa ra ngoài bảng cân đối kế toán. (có thể do nghỉ hưu, điều chuyển đến các đơn vị kinh doanh khác) o Biển thủ tài sản Đánh cắp tiền Xảy ra sau khi tiền (tiền mặt, tiền gửi) được ghi nhận vào sổ. Dấu hiệu lá cờ đỏ bao gồm: Số dư tiền gửi giảm bất thường hay không được giải thích hợp lý Chênh lệch số dư tiền gửi giữa sổ sách và sổ phụ Thay đổi phong cách sống Gian lận mua hàng Người bán ảo/ giả mạo (Shell Company) Thủ phạm tạo ra công ty giả để lừa gạt ban giám đốc chuyển tiền cho thủ phạm. Tên công ty cung cấp là giả và địa chỉ thường là địa chỉ bưu điện. Dấu hiệu gian lận là: Sử dụng địa chỉ thùng thư bưu điện là địa chỉ công ty cung cấp Thiếu các dữ liệu liên hệ như số điện thoại Sử dụng các hóa đơn điện tử hay photo 105 Địa chỉ công ty cung cấp chính là địa chỉ nhà nhân viên Công ty cung cấp chỉ xuất hóa đơn cho dịch vụ hay trên một số tiền nhất định Số tiền trên hóa đơn được làm tròn số Hàng hóa mua không liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh Mã số thuế nhà cung cấp trên hóa đơn là giả Giá vốn hàng bán cao bất thường hay vượt kế hoạch Phân tích tỷ số không hợp lý Các gian lận thông qua nhà cung cấp (Pass-through Vendor) Nhà cung cấp thực sự cung cấp hàng hóa nhưng số tiền phải trả đã bị nâng khống, thủ phạm sẽ hưởng số tiền chênh lệch giữa số tiền phải trả và số tiền thực trả. Dấu hiệu lá cờ đỏ bao gồm: Sự tố giác từ các nhân viên trong công ty Giá phải trả cho hàng hóa dịch vụ cao bất thường Lợi nhuận giảm, giá vốn hàng bán tăng Phân tích chênh lệch không tốt trong các báo cáo hoạt động Kiểm soát nội bộ yếu kém, đặc biệt thiếu sự phân chia trách nhiệm trong tìm kiếm nhà cung cấp và phê duyệt hợp đồng hay hóa đơn Số tiền trên hóa đơn thấp hơn mức phê duyệt, đặc biệt có nhiều hóa đơn với số tiền thấp hơn mức quy định. Nhà cung cấp không hợp tác (Nonaccomplice Vendor) Nhà cung cấp không thông đồng với thủ phạm, khi thanh toán, số tiền thừa sẽ bị thủ phạm chiếm đoạt. Các dấu hiệu lá cờ đỏ bao gồm: Hóa đơn mua hàng có ký hiệu không thống nhất với các hóa đơn trước Mua hàng nhiều lần bất thường từ cùng một nhà cung cấp Mua hàng hóa không liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh nhiều lần một cách bất thường. 106 Chi tiêu cá nhân (Personal Purchases) Các khoản tiền này không được ghi chép trong sổ sách vì vậy rất khó phát hiện. Dấu hiệu lá cờ đỏ bao gồm: Các chi tiêu bất thường trong tài khoản của công ty Mua các hàng hóa không liên quan đến sản xuất kinh doanh của công ty. Gian lận thanh toán lương Thủ thuật này thường bao gồm nhân viên ma, trả lương khống, hoa hồng và bồi thường tiền cho tai nạn giả của nhân viên. Nhân viên ma (Ghost Employee) Thủ thuật này là trả lương cho người không phải là nhân viên làm việc trong công ty. Người này thường là do thủ phạm lập hồ sơ giả hay là người thực thông đồng với thủ phạm. Thủ thuật này tương tự như thủ thuật gian lận nhà cung cấp giả (Shell Company): hồ sơ nhân viên giả cần được thêm vào danh sách bảng lương, tiền trả lương bị thủ phạm chiếm đoạt. Hoa hồng giả (Commission) Thủ thuật gian lận này thủ phạm có thể lập số liệu doanh số ảo, khai khống doanh thu, khống tỷ lệ hoa hồng, để chiếm đoạt tiền hoa hồng bán hàng. Bồi thườnggiả (False Workers‟ Compensation) Nhân viên giả bị thương để nhận tiền bồi thường tai nạn từ công ty hay từ cơ quan bảo hiểm. Trả lương khống (Falsified Wages) 107 Lập bảng chấm công sai, tăng hệ số lương hay khống giờ tăng ca, áp dụng sai quy chế trả lương thường của công ty. Lập séc giả (Check tampering) Đây là thủ thuật dùng séc của công ty để rút tiền từ công ty. Các dấu hiệu lá cờ đỏ bao gồm: Có nhiều séc bị hủy bỏ Séc bị mất Séc thanh toán lương nhưng chưa trả Sửa séc phần người nhận hay số tiền trả Sửa lại hoặc ký hậu trên séc bị hủy bỏ Người nhận tiền hay địa chỉ người nhận tiền đáng ngờ Số séc bị trùng hay không có trong dãy đánh số thứ tự liên tục. Ăn chặn (Skimming) Thủ thuật ăn chặn diễn ra trước khi ghi nhận bút toán trên sổ sách. Bởi vì đây là gian lận để ngoài sổ sách nên khó phát hiện. Một phương pháp để phát hiện ăn chặn là thiết lập sự giám sát. Sụ giám sát được thiết lập từ đầu, môi trường hông có gian lận là mục đích làm dấu chuẩn cho các biên nhận hay số tiền thu vào. Các dấu chuẩn sẽ so sánh với doanh thu thực để xác định ăn chặn có diễn ra không. Các gian lận cá nhân thường liên quan đến doanh thu (ví dụ như không hạch toán doanh thu, khai khống doanh thu), khoản phải thu (ví dụ, thủ thuật xóa sổ khoản phải thu, gối đầu, công khai công nợ) và khoản hoàn trả tiền. Các dấu hiệu lá cờ đỏ ba gồm: Doanh thu thấp hơn kế hoạch Lợi nhuận thực ít hơn kế hoạch Lợi nhuận gộp ít hơn kế hoạch một cách đàng kể. Gối đầu (Lapping) 108 Gối đầu là thủ thuật ăn chặn khoản tiền phải thu trước khi ghi sổ. Các dấu hiệu lá cờ đỏ bao gồm: Xác nhận công nợ còn số dư nhưng thực chất đã hết. Kỳ thu tiền khách hàng tăng bất thường Nhân viên không bao giờ nghỉ du lịch dài hạn, thường xuyên làm thêm giờ (để làm hai sổ ghi chép khác nhau về tiền gối đầu) o Tham ô Xung đột lợi ích (Conflicts of Interest) Xung đột lợi ích diễn ra giữa một nhân viên và bên thứ ba, mà nhân viên và/hoặc bên thứ ba có lợi thế về tài chính.Dấu hiệu lá cờ đỏ gồm: Số lượng giao dịch lớn với một nhà cung cấp chính Không phân chia kiêm nhiệm giữa ký hợp đồng và chấp thuận hóa đơn. Đút lót hối lộ (Bribery) Các dấu hiệu lá cờ đỏ bao gồm: Thay đổi phong cách sống của nhân viên Khám phá mối quan hệ giữa nhân viên và nhà cung cấp Không phân chia giữa trách nhiệm chấp thuận nhà cung cấp và hóa đơn Đòi hỏi lợi ích (Economic Extortion) Một cách cơ bản, đòi hỏi lợi ích trái ngược với gian lận đút lót. Thay vì nhà cung cấp hối lộ nhân viên để được chọn làm nhà cung cấp chính, thì nhân viên yêu cầu thanh toán từ nhà cung cấp để thỏa mãn yêu cầu của nhà cung cấp. Các dấu hiệu là cờ đỏ giống với dấu hiệu nghi ngờ của gian lận đút lót. 109 Phụ lục 6 Các công trình nghiên cứu trên thế giới đã bắt đầu tìm hiểu các kỹ năng quan trọng và khả năng cơ bản của kế toán điều tra như Cohen, Crain, & Sanders (1996) [17]; Harris & Brown (2000) [30], Messmer (2004) [40], Ramaswamy (2005) [47]. Hiệp hội kế toán viên công chứng Hoa Kỳ (AICPA) đã tổ chức nghiên cứu nhu cầu dịch vụ kế toán điều tra từ đó tìm hiểu nhu cầu về các kỹ năng thiết yếu đối với người làm kế toán điều tra [7] AICPA tiến hành khảo sát 779 đối tượng chia làm ba nhóm cá nhân: (1) các kiểm toán viên làm kế toán điều tra (77,4%), (2) luật sư (16,2%) (đại diện cho người sử dụng kết quả công việc của kế toán điều tra viên), (3) các giáo sư kế toán (6,4%). Câu hỏi khảo sát được gửi qua email và thời gian tiến hành trong suốt mùa hè năm 2009. Tỷ lệ mẫu hồi đáp đạt: luật sư ( 15,44%), giáo sư kế toán (34,24%) và CPA (45,86%). Cuộc nghiên cứu đưa ra các kết luận về kế toán điều tra được tóm lược như sau: - Năm đặc điểm thiết yếu (Essential Traits and Characteristics) như bảng dưới đây: Bảng: Năm đặc điểm thiết yếu của kế toán điều tra viên Luật sƣ KTV Giáo sƣ chuyên ngành
Khả năng phân tích
Đạo đức Khả năng phân tích
Tò mò lập kế STT
1
2 Khả năng phân tích
Khả năng
hoạch
Đạo đức nghề nghiệp Hoài nghi nghề nghiệp Khả năng lập kế hoạch 3 Khả năng vấn đáp
Hiểu biết sâu sắc Khả năng tò mò
Kiên định 4
5 Đạo đức nghề nghiệp
Hoài nghi nghề nghiệp
Xét đoán/ Trực giác
Nguồn: AICPA (2009) [7] 110 Khả năng phân tích của kế toán điều tra viên là đặc điểm quan trọng nhất, kết luận này giống với các nghiên cứu trước đây. - Các kỹ năng cốt yếu (Core Skills) được trình bày ở bảng dưới đây: Bảng: Năm kỹ năng cốt yếu của kế toán điều tra viên Luật sƣ Giáo sƣ KTV Khả năng suy luận Các kỹ năng kiểm toán Khả năng viết STT
1
2 Khả năng truyền đạt
Khả năng điều tra 3
4 Khả năng truyền đạt Khả năng suy luận
Đơn giản hóa thông
tin
Khả năng suy luận
Nhận diện vấn đề
chính
Khả năng điều tra 5 Khả năng điều tra
Tổng hợp và phân tích
các kết quả
Suy nghĩ như thủ phạm Xét đoán/ Trực giác điều
tra
Nguồn: AICPA (2009) [7] - Năm kỹ năng nâng caođược trình bày ở bảng dưới đây: Bảng: Năm kỹ năng nâng cao của kế toán điều tra viên Giáo sƣ Phát hiện gian lận STT
1 Luật sƣ
Phân tích các thông tin
báo cáo tài chính
Làm chứng
Hiểu biết chuẩn mực KTV
Phân tích các thông tin
báo cáo tài chính
Khả năng phỏng vấn
Phát hiện gian lận 2
3 Làm chứng 4 Thu thập bằng chứng,
phát hiện gian lận Kỷ năng phỏng vấn
Phân tích các thông tin
báo cáo tài chính
tin học
Khả năng
Hiểu biết nguyên tắc
của bằng chứng và các
thủ tục dân sự
Hiểu biết chuẩn mực 5 Truy tìm tài sản (Asset
Tracing) Hiểu biết nguyên tắc của
bằng chứng và các thủ tục
dân sự
Nguồn: AICPA (2009) [7] 111 Phụ lục 7 Công ty CP Không đạt điều Về trách nhiệm hội đồng quản Riêng năm 2006, 2007 Từ đơn kiện tranh UBCK quyết định xử phạt hành Bông Bạch kiện niệm yết cổ trị, ban kiểm soát, ban điều hành có nộp báo cáo cho chấp trong nội bộ, chính đối với CTCP Bông Bạch Tuyết (BBT) phiếu tại Sở giao Bông Bạch Tuyết, đoàn kiểm tra HOSE nhưng không nộp tiến hành thanh Tuyết (BBT) do vi phạm trong dịch chứng đánh giá là đã thiếu trách nhiệm, cho Ủy ban Chứng tra BBT phát hiện việc công bố thông tin báo cáo tài sai phạm khoán TP.HCM không trung thực trong việc lập khoán. Mặt khác, báo chính với tổng mức phạt 90 triệu (HOSE), vi và công bố các báo cáo tài chính cáo tài chính năm được đồng. Sở GDCK TPHCM hủy phạm quy chế để hoạt động kinh doanh công ty kiểm toán cũng vi phạm. niêm yết 6.84 triệu cổ phiếu của công bố thông ngày càng xấu đi. Riêng điều lệ Như kết quả kinh doanh CTCP Bông Bạch Tuyết từ ngày tin công ty còn một số điểm chưa năm 2006 có sự chênh 7/8/2009. Đồng thời, UBCK khiển phù hợp điều lệ mẫu như chưa lệch trước và sau khi trách 2 công ty kiểm toán (A&C, ban hành quy chế nội bộ về thực hiện kiểm toán, liên AISC) và không chấp thuận tư quản trị. tục gia hạn và chậm nộp cách kiểm toán viên trong 2 năm báo cáo tài chính năm 2009, 2010 đối với các kiểm toán 2007. viên thực hiện kiểm toán cho BBT. Công an điều tra. Chi nhánh Tham ô tài sản, Nguyễn Thị Thu Hà, tổ trưởng Trong năm 2006 và Ngày 22/02/2009, TAND tỉnh Ngân hàng cố ý làm trái quy kế toán; Trần Thị Quỳnh tháng 1/2007,Hà và Thừa Thiên Huế tuyên án Nguyễn Phương, Phó giám đốc NN&PTNT định của Nhà Phương thông đồng lập Thị Thu Hà 20 năm tù; Trần Thị Chợ Mai tỉnh nước về quản lý chứng từ giả rút tiền Quỳnh Phương tù chung thân. Thừa Thiên kinh tế gây hậu ngân hàng chiếm đoạt tài (Thời báo tài chính số 25 (1862), Huế sản. ngày 27/02/2009) quả nghiêm trọng, vi phạm quy định về cho vay trong hoạt động của các TCTD, gây thiệt hại hơn 8 tỷ đồng và 8.000 USD Công ty quản Tham ô tài sản, Nguyễn Minh Hậu (kế toán Không tuân thủ pháp Ngày 9/6/2007, Ngày 15/02/2009, TAND tỉnh lý đường sắt thiếu trách lương, TSCĐ kiêm thủ quỹ), Tạ luật về kế toán, quy chế Hậu đến Công an Khánh Hòa tuyên phạt Nguyễn Phú Khánh nhiệm gây thiệt Quang Vinh (kế toán thanh quản lý tài chính nội bộ phường Xương Minh Hậu lãnh 20 năm tù về tội (Khánh Hòa) Huân đầu thú hại nghiêm trọng toán) , Nguyễn Xuân Long (Phó của Công ty để cho Hậu “tham ô tài sản, Nguyễn Xuân cho Nhà nước giám đốc kiêm kế toán trưởng tự tung tự tác “thụt két” Long 7 năm tù, Nguyễn Thành bạc tỷ mang đi đánh đề chiếm đoạt công kiêm Trưởng phòng tài chính kế Quang 3 năm tù và Tạ Quang quỹ hơn 1,668 tỉ toán), Nguyễn Thành Quang Vinh 2 năm 6 tháng tù cùng về đồng để chơi số (Trưởng phòng Tài chính kế tội “thiếu trách nhiệm gây thiệt đề toán) hại nghiêm trọng đến tài sản của 112 Nhà nước” (Báo Công an TP.HCM số 1751 ngày 14/02/2009) 113 Công ty Chế Lừa đảo chiếm Trần Quang Chiêu (nguyên Trong hai năm (2002 - Cảnh sát điều tra. Ngày 05/05/2010, Tòa phúc thẩm biến và Nhập đoạt tài sản và cố Giám đốc Camimex), Nguyễn 2003) mua hóa đơn giá TAND tối cao tại TP.HCM tuyên khẩu thủy sản ý làm trái, gây Tín Ngưỡng (Phó giám đốc), trị gia tăng của một số phạt Trần Quang Chiêu 8 năm tù, Camimex Cà thiệt hại cho Trần Văn Hoàng - nguyên Phó doanh nghiệp để hợp Nguyễn Tín Ngưỡng 7 năm tù, Mau Giám đốc, Vương Trung Tuấn - thức hóa đầu vào cho Vương Trung Tuấn 6 năm tù; Công ty nguyên Kế toán trưởng Trần Văn Hoàng 4 năm tù. nguyên liệu mua trôi nổi Camimex trên thị trường. Chỉ đạo 27.082,801USD sản xuất trên 21 tấn tôm và 18.369,32 đông lạnh sai kích cỡ, AUS (đôla thiếu trọng lượng so với Australia), gây thông tin ghi trên bao bì thiệt hại cho Nhà để xuất khẩu sang nước gần 5 tỉ Australia. đồng từ hoạt động xuất khẩu; 3,6 tỷ đồng thuế GTGT Công an điều tra Công ty Lạm dụng tín Lâm Hữu Phương, nguyên kế Từ tháng 10/2003 đến Ngày 12/05/2010 Tòa phúc thẩm toán trưởng TAND Tối cao tại TP.HCM tuyên TNHH giấy nhiệm chiếm tháng 2/2008 viết ủy mức án 12 năm tù Hưng Long đoạt tài sản số nhiệm chi, giả chữ ký tiền gần 3 tỷ giám đốc chuyển tiền đồng vào tài khoản nhà cung cấp giả. 114 Công ty cổ Thao túng giá Lê Văn Dũng, Chủ tịch Hội Dũng đã mượn tư cách Nhà đầu tư gửi Lê Văn Dũng phạt 4 năm tù, phần Dược chứng khoán, đồng quản trị kiêm Tổng Giám pháp nhân và danh nghĩa đơn tố cáo nặc Mạnh nhận án 2 năm, Truyền 12 phẩm Viễn công bố thông đốc Nguyễn Văn Việt (em vợ của một số tổ chức, cá danh cho SSC tháng tù treo, còn Việt bị phạt 12 Đông (DVD) đầu tháng 9/2010 tin sai lệch gây Dũng), Ủy viên Hội đồng quản nhân là người nhà, người tháng 26 ngày tù (bằng thời hạn thiệt hại hàng trị; Lê Văn Mạnh (em trai thân mở 12 tài khoản tại tạm giam). cổ phiếu DVD bị hủy trăm tỷ đồng cho Dũng), Chủ tịch Hội đồng quản các công ty chứng khoán niêm yết tại HOSE vào tháng nhà đầu tư. trị Công ty cổ phần Quốc tế để tiến hành giao dịch 9/2011. DVD thông báo chấm dứt hoạt động vào ngày 30/09/2011. Viễn Đông và Lê Minh Truyền, mua, bán cổ phiếu DVD, nhân viên môi giới chứng khoán thực hiện giao dịch ảo lên đến trên 221 tỷ đồng của Công ty cổ phần Chứng khoán Ngân hàng Sài Gòn Thương Tín 115 Tổng Công ty Tham ô tài sản Dương Chí Dũng, nguyên Chủ Lập báo cáo khảo sát Thanh tra chính Bị thôi việc, tử hình về tội tham ô phủ điều tra Hàng hải Việt 10 tỷ đồng, mua tịch Hội đồng quản trị Vinalines, giả, mua bán thông qua tài sản, 18 năm tù về tội Cố ý làm Nam ụ nổi 83M đã hư nguyên Cục trưởng Cục Hàng môi giới làm giá thành trái quy định của nhà nước về (Vinalines) hải Việt Nam (Bộ GTVT) tài sản tăng cao. hỏng gây thiệt quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng. Tổng hợp cho hai hại hơn 336 tỷ hình phạt là tử hình đồng Công ty Cổ Lừa đảo chiếm Huỳnh Thái Học, nguyên quyền Sử dụng dịch vụ bảo Đơn tố cáo của Ngày 20/12/2013, TAND Trưởng phòng Giao dịch phần chứng đoạt số tiền gần lãnh tiền mua, ứng trước Công ty Cổ phần TP.HCM đã tuyên phạt Huỳnh 7,5 tỷ đồng khoán Đại tiền mua, ứng trước tiền chứng khoán Đại Thái Học 16 năm tù về tội "lừa Việt Việt bán chứng khoán, nhập đảo chiếm đoạt tài sản". HĐXX tuyên buộc bồi thường 5,4 tỉ đồng khống tiền vào tài khoản, chèn hoàn ứng giả trên các tài khoản Ngân hàng Chiếm đoạt tổng Huỳnh Thị Huyền Như, nguyên Làm giả con dấu để tạo Đơn tố cáo của Ngày 27/1/2014, TAND TP.HCM người bị hại TMCP Công số tiền hơn 4.000 quyền trưởng phòng Giao dịch lập các giấy tờ chứng từ, đã tuyên án tội danh lừa đảo tỷ đồng thương Việt Điện Biên Phủ, Vietinbank chi hợp đồng và sử dụng mô chiếm đoạt tài sản; Làm giả con nhánh TP HCM Nam hình Ponzi để lừa đảo dấu, tài liệu của cơ quan tổ chức. (Vietinbank) Mức án Tù chung thân bằng cách huy động lãi suất cao đối với các tổ chức, cá nhân. Thời gian phạm tội kéo dài từ năm 2007 đến thời điểm khởi tố (tháng 9.2011) Công ty China Chiếm đoạt 5,78 Lữ Cẩm Hy, Diệp Kinh Chi , Lợi dụng chính sách Tổng giám đốc Ngày 29-9-2014, TAND TPHCM Airlines (CA) triệu USD của Phó Vi Nhất nguyên là kế toán, quản lý tài chính sơ hở, CA tại TPHCM tuyên phạt ba bị cáo nguyên là kế thu ngân của công ty tố cáo CA và 184.038 qui định về tài khoản toán, thu ngân Công ty China USD của Hãng chênh lệch tỷ giá giữa Airlines gồm: Lữ Cẩm Hy 12 năm hàng không USD/ Đài tệ/ VNĐ của tù, Diệp Kinh Chi 14 năm, Phó Vi Madarin do CA CA tại TPHCM, lấy tiền Nhất 3 năm tù treo (thử thách 5 làm đại diện năm) mặt thu từ các đại lý trong ngày rồi dùng khoản thu của hôm sau bù vào Công an điều tra Ngân hàng Nhận hối lộ, lừa Vũ Việt Hùng (nguyên GĐ Trong các năm 2008 - Ngày 26/09/2014, TAND tỉnh VDB Đắc Lắc - Đắc Nông) Đắc Nông tuyên án đối với Vũ phát triển Việt đảo chiếm đoạt 2010, nguyên giám đốc Nam chi tài sản, vi phạm Vũ Việt Hùng ký duyệt Việt Hùng tù chung thân về tội nhánh Đắc Lắc quy định về cho hồ sơ giả vay gần 2.000 “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, 20 - Đắc Nông vay, gây thiệt hại tỉ đồng tín dụng xuất năm tù về tội “Vi phạm quy định (VDB Đắc Lắc hơn 1.000 tỷ khẩu với lãi suất ưu đãi về cho vay trong hoạt động của - Đắc Nông) đồng. của VDB Đắc Lắc - Đắc các tổ chức tín dụng”, tử hình về Nông. Các DN đã hối lộ tội “Nhận hối lộ”, tổng hình phạt 116 là tử hình. Bị tuyên phạt bồi Vũ Việt Hùng một xe thường 10 tỉ đồng về tội nhận hối BMW X6 trị giá hơn 3,2 lộ và tịch thu một số tài sản để tỉ đồng. Để có tiền thu đảm bảo công tác thi hành án nợ cho VDB Đắc Lắc - Đắc Nông, Vũ Việt Hùng đã ký khống nhiều giấy tờ, giúp các DN chiếm đoạt 580 tỉ đồng của OCB - Sở Giao dịch TPHCM và Ngân hàng TMCP Nam Á chi nhánh Hà Nội. Ngân hàng Lừa đảo chiếm Dương Thanh Tuấn cán bộ kiểm Kiểm định và hợp thức Cuối năm 2013, Ngày 24/9/2014, Hội đồng xét xử Agribank Việt đoạt tài sản của định vàng của Phòng giao dịch hóa vàng giả thành vàng Tổ kiểm tra của Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau đã Nam (Chi nhà nước, kể từ Đầm Cùng thuộc Ngân hàng thật, nâng trọng lượng Chi nhánh tuyên phạt các bị cáo Dương nhánh huyện cuối năm 2009 Agribank Việt Nam chi nhánh vàng giả lên cao hơn so Agribank huyện Thanh Tuấn 20 năm tù, Dương huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau Cái Nước, tỉnh đến năm 2013 thực tế, lôi kéo giao dịch Cái Nước phát Minh Giỏi 20 năm tù và Phan Văn Cà Mau) gây thiệt hại cầm vàng giả, chiếm hiện khi quá hạn Hải với 15 năm tù về hành vi lừa 19,614 tỷ đồng đoạt số tiền (Tuấn 4,506 thời gian cầm đảo chiếm đoạt tài sản của nhà nước. của Ngân hàng tỷ đồng, Giỏi 11,171 tỷ vàng mà khách Agribank Việt đồng, Hải chiếm đoạt số hàng không làm tiền 3,937 tỷ đồng) Nam (Chi nhánh thủ tục đáo hạn huyện Cái Nước, nên yêu cầu mở 117 tỉnh Cà Mau) niêm phong vàng để kiểm tra. Công ty cổ Lừa đảo chiếm Đàm Vân Anh, nguyên kế toán Ký giả chữ ký của bà Công ty phát hiện Ngày 16/07/2014, Tòa án nhân trưởng công ty phần Viễn đoạt tài sản gần Nguyễn Thị Dung - dân TP.Hà Nội tuyên phạt bị cáo Vân Anh 20 năm tù giam. 10 tỷ Tổng giám đốc Công ty, thông Đầu tư đồng thời dùng ủy nhiệm và Thương mại Quốc tế. chi đã có chữ ký của bà Dung để rút tiền nhằm chiếm đoạt tài sản của công ty Bệnh viện Tham ô tài sản, Tô Văn Dũng, kế toán nhà thuốc Từ tháng 3/2010 đến Thanh tra Sở Y tế Ngày 05/08/2014, TAND tỉnh Tiền Giang Tâm thần Tiền chiếm đoạt 3,1 tỷ bệnh viện; Nguyễn Văn Lĩnh, kế tháng 6-2011 Giám đốc Tiền Giang đã tuyên án Tô Văn Giang đồng toán tổng hợp; Trần Thị Thật, chỉ đạo cho kế toán chỉ Dũng 12 năm tù, Nguyễn Văn giám đốc bệnh viện. đạo mượn tài khoản cá Lĩnh 2 năm tù. Riêng Trần Thị nhân bên ngoài để lập ủy Thật tạm hoãn xét xử điều trị bệnh tâm thần. nhiệm chi khống, rút tiền để chiếm đoạt 118 Nguồn: Tác giả tổng hợp từ Internet, báo Công An từ năm 2009 đến tháng 8/2014 119 Phụ lục 8 Xin chào quý anh/chị, Tôi tên Nguyễn Thị Hải Vân, là học viên cao học khóa 22 trường Đại học Kinh tế TP.HCM,
tôi đang làm đề tài “Xây dựng dịch vụ kế toán điều tra tại Việt Nam”. Bảng câu hỏi khảo sát này được
lập nhằm tổng hợp ý kiến về về đề tài trên. Kế toán điều tra đã có một quá trình hình thành và phát triển tuy nhiên thuật ngữ “kế toán điều
tra”chính thức xuất hiện năm 1946 kể từ khi thành viên một công ty kế toán New York, Maurice E.
Peloubet, lần đầu tiên xuất bản bài báo viết về kế toán điều tra. Các chuyên gia này chịu trách nhiệm
điều tra các trường hợp nghi ngờ về tài chính.Kế toán điều tra khá mới mẻ tại Việt Nam, khái niệm này
gần giống với giám định tư pháp về tài chính theo TT 138/2013/TT-BTC ngày 09 tháng 10 năm 2013
hướng dẫn một số nội dung của Luật giám định tư pháp và nghị định số 85/2013/NĐ-CP ngày
29/07/2013 của chính phủ quy định chi tiết và biện pháp thi hành luật giám định tư pháp. Kế toán điều
tra bao gồm hai lĩnh vực: pháp lý trong kiện tụng và điềutra kế toán. Kế toán điều tra được xem như là
một cam kết tìm kiếm và phân tích bằng chứng cho tòa án xét xử hoặc thẩm định hành chính. Mục tiêu của cuộc khảo sát này là tìm hiểu nhận biết đối với kế toán điều tra (Forensic Accounting). Sự trả lời khách quan của anh/chị sẽ góp phần quyết định sự thành công của công trình nghiên cứu này và sự hiểu biết nghề nghiệp . Tất cả các câu trả lời của từng cá nhân sẽ được giữ kín, chúng tôi chỉ công bố kết quả tổng hợp. Cám ơn sự hợp tác của anh/chị. BCH số: …….Phỏng vấn lúc____giờ, ngày ___/___/2014 Sau đây là những phát biểu liên quan đến kế toán điều tra (Forensic Accounting). Xin anh/chị vui lòng trả lời bằng cách khoanh tròn một con số ở từng dòng. Những con số này thể hiện mức độ anh/chị đồng ý hay không đồng ý đối với các phát biểu theo qui ước sau: Rất không đồng ý Không đồng ý Trung lập Đồng ý Rất đồng ý 1 2 3 4 5 1. Các thủ tục kiểm toán không thể phát hiện tất cả gian lận. 1 2 3 4 5 2. Kiểm toán viên không có trách nhiệm phát hiện tất cả gian lận. 1 2 3 4 5 3. Các dư luận về gian lận xảy ra tạo kỳ vọng dịch vụ phát hiện và ngăn chặn gian 1 2 3 4 5 lận. 4. Dịch vụ kế toán điều tra gian lận (forensic accounting) khác với dịch vụ kiểm 1 2 3 4 5 toán truyền thống. 5. Dịch vụ kế toán điều tra gian lận (forensic accounting) nâng cao chất lượng 1 2 3 4 5 của thông tin trên báo cáo tài chính. 6. Dịch vụ kế toán điều tra gian lận (forensic accounting) làm tăng độ tin cậy của 1 2 3 4 5 các nhà đầu tư, người sử dụng báo cáo tài chính. 7. Hiện nay,Việt Nam có nhu cầu về dịch vụ kế toán điều tra gian lận (forensic 1 2 3 4 5 accounting). 1 2 3 4 5 8. Với điều kiện pháp lý hiện nay (Luật giám định tư pháp, các nghị định, thông
tư hướng dẫn) Việt Nam sẵn sàng triển khai thực hiện kế toán điều tra gian
lận(forensic accounting) 1 2 3 4 5 9. Các dịch vụ chuyên ngành tài chính ở Việt Nam đã phát triển cao, do đó không
cần có dịch vụ hỗ trợ tư vấn trong tranh chấp, kiện tụng (litigation support
consultancy) 10. Khu vực tư có nhu cầu về kế toán điều tra gian lận (forensic accounting)hơn 1 2 3 4 5 11. Kế toán điều tra là công cụ phát hiện và ngăn chặn gian lận trong khu vực tư 1 2 3 4 5 12. Kế toán điều tra gian lận là công cụ phát hiện thành công các tội phạm rửa tiền 1 2 3 4 5 (money laundering) 13. Các kiểm toán viên và kế toán đã được đào tạo đủ để phát hiện và ngăn chặn 1 2 3 4 5 gian lận 14. Kế toán điều tra gian lận (forensic accounting) giúp hoàn thiện các hoạt động 1 2 3 4 5 kiểm soát nội bộ 15. Kế toán điều tra gian lận (forensic accounting) nâng cao vai trò các quy định 1 2 3 4 5 bảo vệ nhân viên tố cáo các hành vi sai trái trong tổ chức. 1 2 3 4 5 16. Kế toán điều tra gian lận (forensic accounting) có tính hoài nghi nghề nghiệp
cao giúp phát hiện các hành vi biển thủ của nhân viên và tham ô, lạm quyền
của ban quản lý. 17. Các công ty cung cấp dịch vụ đảm bảo có chuyên môn cao để thực hiện dịch 1 2 3 4 5 vụ kế toán điều tra gian lận (forensic accounting) 120 1 2 3 4 5 18. Hoạt động giám định tư pháp có chức năng điều tra, hỗ trợ quá trình truy tố,
xét xử như kế toán điều tra (forensic accounting). Để xã hội hóa giám định tư
pháp trong lĩnh vực tài chính cần quy định văn phòng giám định tư pháp được
thành lập, tổ chức, quản lý theo loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn ngoài 2
loại hình doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp danh đã được quy định trong Luật
giám định tư pháp số 13/2012/QH13 quy định. 1 2 3 4 5 19. Nhằm phát triển dịch vụ kế toán điều tra hay giám định tư pháp trong lĩnh vực
tài chính, cần có sự quản lý, giám sát chuyên môn của Hội nghề nghiệp; sự
hoàn chỉnh của các chuẩn mực nghề nghiệp và các quy định pháp luật liên
quan. 1 2 3 4 5 20. Nhằm tăng cường nhận thức về kế toán điều tra (forensic accounting) nên đưa
kiến thức về kế toán điều tra (forensic accounting) vào chương trình giảng dạy
trong chuyên ngành. 121 1. Xin vui lòng cho biết nghề nghiệp của quý anh/chị: Kế toán Luật sư Giảng viên Kiểm toán viên Số năm kinh nghiệm .................................................................................................................................. Khác .......................................................................................................................................................... 2. Xin anh/chị vui lòng cho biết một số thông tin cá nhân sau trong trường hợp việc kiểm chứng khảo
sát khi cần thiết: Quý danh: .................................................................................................................................................. Email: .............................................................................Số điện thoại: ..................................................... 3. Anh/ chị có ý kiến hay đề xuất gì về tương lai nghề nghiệp kế toán điều tra không? ................................................................................................................................................................ 122 Phụ lục 9 Xin chào quý anh/chị, tôi tên Nguyễn Thị Hải Vân, là học viên cao học khóa 22 trường Đại học Kinh tế TP.HCM, tôi đang làm đề tài “Xây dựng dịch vụ kế toán điều tra tại Việt Nam”. Bảng câu hỏi khảo sát này được lập nhằm tổng hợp ý kiến về về đề tài trên. 1/ Anh/chị hãy liệt kê các yêu cầu mong muốn của bản thân về phạm vi phát hiện gian lận của kiểm toán viên độc lập. 2/ Dưới đây là một số câu phát biểu xin anh/chị vui lòng cho biết: Anh/chị có hiểu phát biểu đó không? Nếu không, vì sao? Anh/chị có muốn thay đổi, bổ sung phát biểu cho rõ ràng, dễ hiểu hơn không? 1. Các thủ tục kiểm toán không thể phát hiện tất cả gian lận. 2. Kiểm toán viên không có trách nhiệm phát hiện tất cả gian lận. 3. Các dư luận về gian lận xảy ra tạo kỳ vọng dịch vụ phát hiện và ngăn chặn gian lận. 1/ Khi anh/chị sử dụng báo cáo tài chính đã được kiểm toán, anh chị có quan tâm đến các gian lận ảnh hưởng đến báo cáo tài chính không? 2/ Sau đây là một số câu phát biểu xin anh/chị vui lòng cho biết: Anh/chị có hiểu phát biểu đó không? Nếu không, vì sao? Anh/chị có muốn thay đổi, bổ sung phát biểu cho rõ ràng, dễ hiểu hơn không? 1. Dịch vụ kế toán điều tra (Forensic Accounting) khác với dịch vụ kiểm toán truyền thống 2. Dịch vụ kế toán điều tra (Forensic Accounting) nâng cao chất lượng của thông tin trên báo cáo tài chính. 3. Dịch vụ kế toán điều tra (Forensic Accounting) làm tăng lòng tin cậy của các nhà đầu tư, người sử dụng báo cáo tài chính. 123 1/ Theo anh/chị để dịch vụ kế toán điều tra (Forensic Accounting) phát triển cần có các điều kiện pháp luật nào? 2/ Sau đây là một số câu phát biểu xin anh/chị vui lòng cho biết: Anh/chị có hiểu phát biểu đó không? Nếu không, vì sao? Anh/chị có muốn thay đổi, bổ sung phát biểu cho rõ ràng, dễ hiểu hơn không? 1. Với điều kiện pháp lý hiện nay Việt Nam sẵn sàng triển khai thực hiện kế toán điều tra gian lận (forensic accounting) 2. Các dịch vụ chuyên ngành tài chính ở Việt Nam đã phát triển cao, do đó không cần có dịch vụ hỗ trợ tư vấn trong tranh chấp, kiện tụng (litigation support consultancy) 1/ Nếu chia nhu cầu kế toán điều tra thành khu vực thì anh/chị sẽ phân loại khu vực như thế nào? 2/ Sau đây là một số câu phát biểu xin anh/chị vui lòng cho biết: Anh/chị có hiểu phát biểu đó không? Nếu không, vì sao? Anh/chị có muốn thay đổi, bổ sung phát biểu cho rõ ràng, dễ hiểu hơn không? 1. Khu vực tư có nhu cầu về kế toán điều tra gian lận (forensic accounting)hơn 2. Kế toán điều tra là công cụ phát hiện và ngăn chặn gian lận trong khu vực tư hơn 1/ Với chức năng phát hiện gian lận để ngăn chặn gian lận thì theo anh/chị, kiểm soát nội bộ sẽ được xây dựng tốt hơ không? 2/ Sau đây là một số câu phát biểu xin anh/chị vui lòng cho biết: Anh/chị có hiểu phát biểu đó không? Nếu không, vì sao? Anh/chị có muốn thay đổi, bổ sung phát biểu cho rõ ràng, dễ hiểu hơn không? 1. Kế toán điều tra gian lận là công cụ phát hiện thành công các tội phạm rửa tiền (money laundering) 2. Các kiểm toán viên và kế toán đã được đào tạo đủ để phát hiện và ngăn chặn gian lận 3. Kế toán điều tra gian lận (forensic accounting) giúp hoàn thiện các hoạt động kiểm soát nội bộ 4. Kế toán điều tra gian lận (forensic accounting) nâng cao vai trò các quy định bảo vệ nhân viên tố cáo các hành vi sai trái trong tổ chức. 5. Kế toán điều tra gian lận (forensic accounting) có tính hoài nghi nghề nghiệp cao giúp phát hiện các hành vi biển thủ của nhân viên và tham ô, lạm quyền của ban quản lý. 124 1/ Theo anh/chị, để xã hội hóa kế toán điều tra thì nên có những sự hỗ trợ từ bên ngoài nào? (về đào tạo, về quy định pháp luật, Hội nghề nghiệp…) 2/ Sau đây là một số câu phát biểu xin anh/chị vui lòng cho biết: Anh/chị có hiểu phát biểu đó không? Nếu không, vì sao? Anh/chị có muốn thay đổi, bổ sung phát biểu cho rõ ràng, dễ hiểu hơn không? 1. Hoạt động giám định tư pháp có chức năng điều tra, hỗ trợ quá trình truy tố, xét xử như kế toán điều tra (forensic accounting). Để xã hội hóa giám định tư pháp/kế toán điều tra trong lĩnh vực tài chính cần quy định văn phòng giám định tư pháp/ kế toán điều tra được thành lập, tổ chức, quản lý theo loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn ngoài 2 loại hình doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp danh đã được quy định trong Luật giám định tư pháp số 13/2012/QH13 quy định. 2. Nhằm phát triển dịch vụ kế toán điều tra hay giám định tư pháp trong lĩnh vực tài chính, cần có sự quản lý, giám sát chuyên môn của Hội nghề nghiệp; sự hoàn chỉnh của các chuẩn mực nghề nghiệp và các quy định pháp luật liên quan 3. Nhằm tăng cường nhận thức về kế toán điều tra (forensic accounting) nên đưa kiến thức về kế toán điều tra (forensic accounting) vào chương trình giảng dạy trong chuyên ngành. Sau đây là một số câu phát biểu xin anh/chị vui lòng cho biết: Anh/chị có hiểu phát biểu đó không? Nếu không, vì sao? Anh/chị có muốn thay đổi, bổ sung phát biểu cho rõ ràng, dễ hiểu hơn không? 1. Hiện nay,Việt Nam có nhu cầu về dịch vụ kế toán điều tra gian lận (forensic accounting). 2. Các công ty cung cấp dịch vụ đảm bảo có chuyên môn cao để thực hiện dịch vụ kế toán điều tra gian
lận (forensic accounting) 125 126 Phụ lục 10 1. Bảng tóm tắt theo mức độ đồng ý c1 Các thủ tục kiểm toán không thể phát hiện tất cả gian Hoàn toàn không 8 4,5 lận. đồng ý 11 6,3 Không đồng ý 6
0 3
4
0 , , 4 1 9 5,1 Trung lập 82 46,6 Đồng ý 66 37,5 Hoàn toàn đồng ý c2 Kiểm toán viên không có trách nhiệm phát hiện tất cả Hoàn toàn không 15 8,5 gian lận. đồng ý 44 25 Không đồng ý 6
4 2
5
3 , , 3 1 11 6,3 Trung lập 57 32,4 Đồng ý 49 27,8 Hoàn toàn đồng ý c3 Các dư luận về gian lận xảy ra tạo kỳ vọng dịch vụ Hoàn toàn không 1 0,6 phát hiện và ngăn chặn gian lận. đồng ý 8 4,5 Không đồng ý 8
7 0
5
7 , , 3 0 43 24,4 Trung lập 101 57,4 Đồng ý Hoàn toàn đồng ý 23 13,1 c4 Dịch vụ kế toán điều tra gian lận (Forensic Hoàn toàn không 2 1,1 Accounting) khác với dịch vụ kiểm toán truyền thống. đồng ý 9
8 10 5,7 Không đồng ý , 8
4
8 , 3 0 32 18,2 Trung lập 94 53,4 Đồng ý Hoàn toàn đồng ý 38 21,6 c5 Dịch vụ kế toán điều tra gian lận (Forensic Hoàn toàn không 2 1,1 Accounting) nâng cao chất lượng của thông tin trên đồng ý báo cáo tài chính. 7 4,0 Không đồng ý 6
0 1
0
8 , . 4 0 Trung lập 18 10,2 Đồng ý 100 56,8 Hoàn toàn đồng ý 49 27,8 c6 Dịch vụ kế toán điều tra gian lận (Forensic Hoàn toàn không 3 1,7 Accounting) làm tăng độ tin cậy của các nhà đầu tư, đồng ý người sử dụng báo cáo tài chính. 5 2,8 Không đồng ý 1
0 0
0
8 , , 4 0 Trung lập 22 12,5 Đồng ý 103 58,5 Hoàn toàn đồng ý 43 24,4 c7 Hiện nay,Việt Nam có nhu cầu về dịch vụ kế toán điều Hoàn toàn không 3 1,7 tra gian lận (Forensic Accounting). đồng ý Không đồng ý 14 8,0 Trung lập 62 35,2 5
5 4
5
8 , , 3 0 Đồng ý 78 44,3 Hoàn toàn đồng ý 19 10,8 c8 Với điều kiện pháp lý hiện nay (Luật giám định tư Hoàn toàn không 6 3,4 pháp, các nghị định, thông tư hướng dẫn) Việt Nam đồng ý sẵn sàng triển khai thực hiện kế toán điều tra gian Không đồng ý 33 18,8 8
1 6
2
9 , , 3 lận(Forensic Accounting) 0 Trung lập 71 40,3 Đồng ý 55 31,3 Hoàn toàn đồng ý 11 6,3 c9 Các dịch vụ chuyên ngành tài chính ở Việt Nam đã Hoàn toàn không 31 17,6 phát triển cao, do đó không cần có dịch vụ hỗ trợ tư đồng ý 6
2 0
3
9 , , 2 vấn trong tranh chấp, kiện tụng (Litigation Support 0 Không đồng ý 94 53,4 Consultancy) Trung lập 29 16,5 127 Đồng ý 19 10,8 Hoàn toàn đồng ý 3 1,7 c10 Khu vực tư có nhu cầu về kế toán điều tra gian lận Hoàn toàn không 5 2,8 (Forensic Accounting) hơn đồng ý Không đồng ý 46 26,1 5
1 9
6
9 , , 3 Trung lập 53 30,2 0 Đồng ý 62 35,2 Hoàn toàn đồng ý 10 5,7 c11 Kế toán điều tra là công cụ phát hiện và ngăn chặn Hoàn toàn không 9 5,1 gian lận trong khu vực tư hơn đồng ý Không đồng ý 30 17 8
3 8
8
0 , , 3 1 Trung lập 49 27,8 Đồng ý 62 35,2 Hoàn toàn đồng ý 26 14,8 c12 Kế toán điều tra gian lận là công cụ phát hiện thành Hoàn toàn không 4 2,3 công các tội phạm rửa tiền (money laundering) đồng ý Không đồng ý 19 10,8 2
4 5
6
8 , , 3 0 Trung lập 65 36,9 Đồng ý 75 42,6 Hoàn toàn đồng ý 13 7,4 c13 Các kiểm toán viên và kế toán đã được đào tạo đủ để Hoàn toàn không 8 4,5 phát hiện và ngăn chặn gian lận đồng ý Không đồng ý 59 33,5 9
9 7
1
0 , , 2 Trung lập 46 26,1 1 Đồng ý 54 30,7 Hoàn toàn đồng ý 9 5,1 c14 Kế toán điều tra gian lận (Forensic Accounting) giúp Hoàn toàn không 1 0,6 hoàn thiện các hoạt động kiểm soát nội bộ đồng ý 8
8 9 5,1 Không đồng ý , 0
9
6 , 3 0 Trung lập 21 11,9 Đồng ý 125 71,0 128 Hoàn toàn đồng ý 20 11,4 c15 Kế toán điều tra gian lận (Forensic Accounting) nâng Hoàn toàn không 6 3,4 cao vai trò các quy định bảo vệ nhân viên tố cáo các đồng ý hành vi sai trái trong tổ chức. Không đồng ý 6 3,4 3
6 5
2
8 , , 3 Trung lập 50 28,4 0 Đồng ý 99 56,3 Hoàn toàn đồng ý 15 8,5 c16 Kế toán điều tra gian lận (Forensic Accounting) có tính Hoàn toàn không 2 1,1 hoài nghi nghề nghiệp cao giúp phát hiện các hành vi đồng ý biển thủ của nhân viên và tham ô, lạm quyền của ban Không đồng ý 11 6,3 1
7 9
2
8 , , 3 quản lý 0 Trung lập 48 27,3 Đồng ý 90 51,1 Hoàn toàn đồng ý 25 14,2 c17 Các công ty cung cấp dịch vụ đảm bảo có chuyên môn Hoàn toàn không 2 1,1 cao để thực hiện dịch vụ kế toán điều tra gian lận đồng ý (Forensic Accounting) Không đồng ý 18 10,2 1
7 2
8
8 , , 3 0 Trung lập 35 19,9 Đồng ý 95 54 Hoàn toàn đồng ý 26 14,8 c18 Hoạt động giám định tư pháp có chức năng điều tra, hỗ Hoàn toàn không 2 1,1 trợ quá trình truy tố, xét xử như kế toán điều tra đồng ý (Forensic Accounting). Để xã hội hóa giám định tư Không đồng ý 23 13,1 pháp trong lĩnh vực tài chính cần quy định văn phòng Trung lập 57 32,4 giám định tư pháp được thành lập, tổ chức, quản lý 5
4 4
5
8 , , 3 theo loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn ngoài 2 0 Đồng ý 81 46,0 loại hình doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp danh đã được quy định trong Luật giám định tư pháp số Hoàn toàn đồng ý 13 7,4 13/2012/QH13 quy định. 129 c19 Nhằm phát triển dịch vụ kế toán điều tra hay giám định Hoàn toàn không 0 0 tư pháp trong lĩnh vực tài chính, cần có sự quản lý, đồng ý giám sát chuyên môn của Hội nghề nghiệp; sự hoàn Không đồng ý 6 3,4 4
1 0
2
7 , , 4 chỉnh của các chuẩn mực nghề nghiệp và các quy định 0 Trung lập 17 9,7 pháp luật liên quan. Đồng ý 100 56,8 Hoàn toàn đồng ý 53 30,1 c20 Nhằm tăng cường nhận thức về kế toán điều tra Hoàn toàn không 0 0 (Forensic Accounting) nên đưa kiến thức về kế toán đồng ý điều tra (Forensic Accounting) vào chương trình giảng Không đồng ý 6 3,4 4
1 4
8
7 , , 4 dạy trong chuyên ngành. 0 25 14,2 Trung lập 83 47,2 Đồng ý 62 35,2 Hoàn toàn đồng ý 130 2. Bảng tóm tắt trung bình theo nghề nghiệp của các câu hỏi khảo sát c1 Các thủ tục kiểm toán không thể phát hiện tất cả gian lận. c2 Kiểm toán viên không có trách nhiệm phát hiện tất cả 4 4 4 4 gian lận. c3 Các dư luận về gian lận xảy ra tạo kỳ vọng dịch vụ 3 3 4 4 phát hiện và ngăn chặn gian lận. c4 Dịch vụ kế toán điều tra gian lận (Forensic 4 4 4 4 Accounting) khác với dịch vụ kiểm toán truyền thống. c5 Dịch vụ kế toán điều tra gian lận (Forensic 4 4 4 4 Accounting) nâng cao chất lượng của thông tin trên báo cáo tài chính. c6 Dịch vụ kế toán điều tra gian lận (Forensic 4 4 4 4 Accounting) làm tăng độ tin cậy của các nhà đầu tư, người sử dụng báo cáo tài chính. 4 4 4 4 c7 Hiện nay,Việt Nam có nhu cầu về dịch vụ kế toán điều 131 tra gian lận (Forensic Accounting). c8 Với điều kiện pháp lý hiện nay (Luật giám định tư 4 4 4 3 pháp, các nghị định, thông tư hướng dẫn) Việt Nam sẵn sàng triển khai thực hiện kế toán điều tra gian lận(Forensic Accounting) c9 Các dịch vụ chuyên ngành tài chính ở Việt Nam đã 3 3 3 3 phát triển cao, do đó không cần có dịch vụ hỗ trợ tư vấn trong tranh chấp, kiện tụng (litigation support consultancy) c10 Khu vực tư có nhu cầu về kế toán điều tra gian lận 2 2 2 2 (Forensic Accounting) hơn c11 Kế toán điều tra là công cụ phát hiện và ngăn chặn 3 3 3 3 gian lận trong khu vực tư hơn c12 Kế toán điều tra gian lận là công cụ phát hiện thành 3 3 3 3 công các tội phạm rửa tiền (money laundering) c13 Các kiểm toán viên và kế toán đã được đào tạo đủ để 3 3 3 4 phát hiện và ngăn chặn gian lận c14 Kế toán điều tra gian lận (Forensic Accounting) giúp 3 3 3 3 hoàn thiện các hoạt động kiểm soát nội bộ c15 Kế toán điều tra gian lận (Forensic Accounting) nâng 4 4 4 4 cao vai trò các quy định bảo vệ nhân viên tố cáo các hành vi sai trái trong tổ chức. c16 Kế toán điều tra gian lận (Forensic Accounting) có tính 4 3 4 3 hoài nghi nghề nghiệp cao giúp phát hiện các hành vi biển thủ của nhân viên và tham ô, lạm quyền của ban quản lý c17 Các công ty cung cấp dịch vụ đảm bảo có chuyên môn 4 4 4 4 cao để thực hiện dịch vụ kế toán điều tra gian lận 4 4 4 4 (Forensic Accounting) c18 Hoạt động giám định tư pháp có chức năng điều tra, hỗ 132 trợ quá trình truy tố, xét xử như kế toán điều tra (Forensic Accounting). Để xã hội hóa giám định tư pháp trong lĩnh vực tài chính cần quy định văn phòng giám định tư pháp được thành lập, tổ chức, quản lý theo loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn ngoài 2 loại hình doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp danh đã được quy định trong Luật giám định tư pháp số 13/2012/QH13 quy định. c19 Nhằm phát triển dịch vụ kế toán điều tra hay giám định 3 3 3 3 tư pháp trong lĩnh vực tài chính, cần có sự quản lý, giám sát chuyên môn của Hội nghề nghiệp; sự hoàn chỉnh của các chuẩn mực nghề nghiệp và các quy định pháp luật liên quan. c20 Nhằm tăng cường nhận thức về kế toán điều tra 4 4 4 4 (Forensic Accounting) nên đưa kiến thức về kế toán điều tra (Forensic Accounting) vào chương trình giảng dạy trong chuyên ngành. 4 4 4 4 133 Phụ lục 11 1. Bảng tần số về nghề nghiệp, số năm kinh nghiệm N Valid
Missing 176
0 176
0 Valid Kế toán
Luật gia
Giảng viên
Kiểm toán viên
Total 78
21
33
44
176 44.3
11.9
18.8
25.0
100.0 44.3
11.9
18.8
25.0
100.0 Valid Dưới 3 năm
Từ 3 năm đến 5 năm
Từ 6 năm đến 10 năm
Trên 10 năm 43
55
42
36 24.4
31.3
23.9
20.5 Total 176 100.0 100.0 134 2. Kết quả phân tích nhân tố cho cả 18 biến nhóm X Kaiser-Meyer-Olkin Measure of Sampling Adequacy. .745 Bartlett's Test of Sphericity Approx. Chi-Square 612.857 df 153 Sig. .000 Initial Eigenvalues Extraction Sums of Squared
Loadings Rotation Sums of Squared
Loadings Compo-
nent Total Total Total % of
Variance Cumulative
% % of
Variance Cumulativ
e % % of
Variance Cumulativ
e % 1 3.832 21.287 21.287 3.832 21.287 21.287 2.266 12.591 12.591 2 1.895 10.527 31.814 1.895 10.527 31.814 2.121 11.781 24.372 3 1.394 7.746 39.560 1.394 7.746 39.560 1.811 10.060 34.432 4 1.174 6.523 46.083 1.174 6.523 46.083 1.618 8.990 43.422 5 1.132 6.289 52.372 1.132 6.289 52.372 1.511 8.397 51.819 6 1.073 5.962 1.073 5.962 58.334 1.173 6.515 7 .983 5.462 63.796 8 .910 5.055 68.851 9 .780 4.333 73.184 10 .751 4.170 77.354 11 .695 3.859 81.213 12 .618 3.432 84.645 13 .580 3.225 87.870 14 .536 2.979 90.849 15 .515 2.861 93.710 16 .482 2.680 96.390 17 .362 2.013 98.403 18 .288 1.597 100.000 Extraction Method: Principal Component Analysis. 135 1 2 3 4 5 6 .814 C5-Tăng chất lượng thông tin trên BCTC .769 C6-Tăng độ tin cậy của người sử dụng BCTC .506 C3-Kỳ vọng dịch vụ phát hiện gian lận C4-KTĐT khác vớikiểm toán C15- Bảo vệ nhân viên tố cáo gian lận .744 C16-Có tính hoài nghi nghề nghiệp cao .697 C12-Công cụ phát hiện tội phạm rửa tiền .558 C14-Hoàn thiện các hoạt động kiểm soát nội bộ .526 C20-Đưa KTĐT vào chương trình giảng dạy .780 .744 .617 C19-Cần có sự quản lý của Hội nghề nghiệp,
CMNN và các quy định pháp luật
C18-Cần quy định Văn phòng KTĐT theo loại
hình TNHH C1-KTV không có trách nhiệm phát hiện gian lận .746 .709 .788 C2-Các thủ tục kiểm toán không thể phát hiện tất
cả gian lận
C9-Không cần có dịch vụ hỗ trợ tư vấn trong
tranh chấp, kiện tụng C8-Điều kiện pháp lý sẵn sàng thực hiện KTĐT .658 .476 C13-Các KTV và KT đã được đào tạo đủ để phát
hiện và ngăn chặn gian lận C10-Khu vực tư có nhu cầu về KTĐT hơn .829 .455 C11-công cụ phát hiện gian lận trong khu vực tư
hơn Extraction Method: Principal Component Analysis. Rotation Method: Varimax with Kaiser Normalization.
a Rotation converged in 8 iterations. 136 3.Kết quả phân tích nhân tố chạy cho các biến nhóm X chỉ loại biến c4 Kaiser-Meyer-Olkin Measure of Sampling Adequacy. .735 Bartlett's Test of Sphericity Approx. Chi-Square 564.073 df 136 Sig. .000 Initial Eigenvalues Compo-
nent Total Total Total % of
Variance Cumulative
% Extraction Sums of Squared
Loadings
% of
Variance Cumulativ
e % Rotation Sums of Squared
Loadings
% of
Variance Cumulativ
e % 1 3.647 21.453 21.453 3.647 21.453 21.453 2.112 12.424 12.424 2 1.814 10.670 32.123 1.814 10.670 32.123 2.105 12.379 24.804 3 1.376 8.092 40.215 1.376 8.092 40.215 1.792 10.539 35.343 4 1.161 6.831 47.046 1.161 6.831 47.046 1.515 8.913 44.257 5 1.129 6.644 53.689 1.129 6.644 53.689 1.494 8.789 53.046 6 1.064 6.261 1.064 6.261 59.951 1.174 6.905 7 .982 5.778 65.729 8 .903 5.310 71.039 9 .776 4.567 75.606 10 .703 4.133 79.739 11 .647 3.809 83.548 12 86.974 3.426 .582 13 90.130 3.156 .537 14 93.160 3.030 .515 15 95.998 2.838 .482 16 98.256 2.259 .384 17 100.000 1.744 .296 Extraction Method: Principal Component Analysis. 137 1 2 3 4 5 6 .751 C15- Bảo vệ nhân viên tố cáo gian lận .696 C16-Có tính hoài nghi nghề nghiệp cao .548 C14-Hoàn thiện các hoạt động kiểm soát nội bộ .540 C12-Công cụ phát hiện tội phạm rửa tiền C5- Tăng chất lượng thông tin trên BCTC .815 C6-Tăng độ tin cậy của người sử dụng BCTC .787 C3-Kỳ vọng dịch vụ phát hiện gian lận .528 C20-Đưa KTĐT vào chương trình giảng dạy .786 .746 .618 .774 C19-Cần có sự quản lý của Hội nghề nghiệp,
CMNN và các quy định pháp luật
C18-Cần quy định Văn phòng KTĐT theo loại
hình TNHH
C2-Các thủ tục kiểm toán không thể phát hiện tất
cả gian lận C1-KTV không có trách nhiệm phát hiện gian lận .709 .795 C9-Không cần có dịch vụ hỗ trợ tư vấn trong
tranh chấp, kiện tụng C8-Điều kiện pháp lý sẵn sàng thực hiện KTĐT .656 .456 C13-Các KTV và KT đã được đào tạo đủ để phát
hiện và ngăn chặn gian lận C10-Khu vực tư có nhu cầu về KTĐT hơn .814 .481 C11-công cụ phát hiện gian lận trong khu vực tư
hơn C15- Bảo vệ nhân viên tố cáo gian lận .751 Extraction Method: Principal Component Analysis. Rotation Method: Varimax with Kaiser Normalization.
a Rotation converged in 6 iterations. 138 4.Kết quả phân tích nhân tố chạy cho các biến nhóm X chỉ loại biến c13 Kaiser-Meyer-Olkin Measure of Sampling Adequacy. .748 Bartlett's Test of Sphericity Approx. Chi-Square 581.235 df 136 Sig. .000 Initial Eigenvalues Compo-
nent Total Total Total % of
Variance Cumulative
% Extraction Sums of Squared
Loadings
% of
Variance Cumulativ
e % Rotation Sums of Squared
Loadings
% of
Variance Cumulativ
e % 1 3.801 22.361 22.361 3.801 22.361 22.361 2.233 13.136 13.136 2 1.739 10.227 32.588 1.739 10.227 32.588 2.096 12.327 25.463 3 1.393 8.196 40.785 1.393 8.196 40.785 1.817 10.690 36.153 4 1.170 6.884 47.669 1.170 6.884 47.669 1.588 9.344 45.497 5 1.132 6.659 54.328 1.132 6.659 54.328 1.398 8.222 53.719 6 1.019 5.995 1.019 5.995 60.323 1.123 6.604 7 .983 5.781 66.104 8 .823 4.840 70.944 9 .751 4.417 75.361 10 .711 4.184 79.545 11 .678 3.990 83.535 12 86.957 3.422 .582 13 90.207 3.250 .553 14 93.258 3.050 .519 15 96.096 2.839 .483 16 98.290 2.194 .373 17 100.000 1.710 .291 Extraction Method: Principal Component Analysis. 139 1 2 3 4 5 6 .802 C5- Tăng chất lượng thông tin trên BCTC .768 C6-Tăng độ tin cậy của người sử dụng BCTC .493 C3-Kỳ vọng dịch vụ phát hiện gian lận C15- Bảo vệ nhân viên tố cáo gian lận .733 C16-Có tính hoài nghi nghề nghiệp cao .686 C12-Công cụ phát hiện tội phạm rửa tiền .610 C14-Hoàn thiện các hoạt động kiểm soát nội bộ .495 C20-Đưa KTĐT vào chương trình giảng dạy .794 .741 .592 .760 C19-Cần có sự quản lý của Hội nghề nghiệp,
CMNN và các quy định pháp luật
C18-Cần quy định Văn phòng KTĐT theo loại
hình TNHH
C2-Các thủ tục kiểm toán không thể phát hiện tất
cả gian lận C1-KTV không có trách nhiệm phát hiện gian lận .722 C4-KTĐT khác với kiểm toán .847 C9-Không cần có dịch vụ hỗ trợ tư vấn trong
tranh chấp, kiện tụng C8-Điều kiện pháp lý sẵn sàng thực hiện KTĐT .632 C11-công cụ phát hiện gian lận trong khu vực tư
hơn C10-Khu vực tư có nhu cầu về KTĐT hơn .888 Extraction Method: Principal Component Analysis. Rotation Method: Varimax with Kaiser Normalization.
a Rotation converged in 8 iterations. 140 5. Kết quả phân tích nhân tố chạy cho các biến nhóm X có loại bỏ biến c4, c13 Kaiser-Meyer-Olkin Measure of Sampling Adequacy. .739 Bartlett's Test of Sphericity Approx. Chi-Square 532.321 df 120 Sig. .000 Initial Eigenvalues Compo-
nent Total Total Total % of
Variance Cumulative
% Extraction Sums of Squared
Loadings
% of
Variance Cumulativ
e % Rotation Sums of Squared
Loadings
% of
Variance Cumulativ
e % 1 3.607 22.544 22.544 3.607 22.544 22.544 2.090 13.060 13.060 2 1.673 10.453 32.997 1.673 10.453 32.997 2.083 13.018 26.078 3 1.372 8.576 41.573 1.372 8.576 41.573 1.789 11.182 37.260 4 1.157 7.234 48.807 1.157 7.234 48.807 1.461 9.131 46.391 5 1.129 7.057 55.864 1.129 7.057 55.864 1.373 8.584 54.975 6 1.004 6.272 1.004 6.272 62.137 1.146 7.162 7 .982 6.139 68.276 8 .818 5.109 73.385 9 .727 4.541 77.926 10 .680 4.250 82.176 11 .592 85.879 3.703 12 89.367 3.488 .558 13 92.608 3.241 .519 14 95.626 3.018 .483 15 98.134 2.507 .401 16 100.000 1.866 .299 Extraction Method: Principal Component Analysis. 141 1 2 3 4 5 6 .800 C5- Tăng chất lượng thông tin trên BCTC .788 C6-Tăng độ tin cậy của người sử dụng BCTC .516 C3-Kỳ vọng dịch vụ phát hiện gian lận C15- Bảo vệ nhân viên tố cáo gian lận .741 C16-Phát hiện biển thủ, tham ô lạm quyền .689 C12-Công cụ phát hiện tội phạm rửa tiền .593 C14-Hoàn thiện các hoạt động kiểm soát nội bộ .519 C20-Đưa KTĐT vào chương trình giảng dạy .808 .742 .580 .802 C19-Cần có sự quản lý của Hội nghề nghiệp,
CMNN và các quy định pháp luật
C18-Cần quy định Văn phòng KTĐT theo loại
hình TNHH
C2-Các thủ tục kiểm toán không thể phát hiện tất
cả gian lận C1-KTV không có trách nhiệm phát hiện gian lận .722 .854 C9-Không cần có dịch vụ hỗ trợ tư vấn trong
tranh chấp, kiện tụng C8-Điều kiện pháp lý sẵn sàng thực hiện KTĐT .624 C10-Khu vực tư có nhu cầu về KTĐT hơn .866 .453 C11-công cụ phát hiện gian lận trong khu vực tư
hơn Extraction Method: Principal Component Analysis. Rotation Method: Varimax with Kaiser Normalization.
a Rotation converged in 6 iterations. 142 6. Kết quả phân tích nhân tố chạy cho các biến nhóm Y Kaiser-Meyer-Olkin Measure of Sampling Adequacy. .500 Bartlett's Test of Sphericity Approx. Chi-Square 3.964 df 1 Sig. .046 Initial Eigenvalues Compo-
nent Total Total % of
Variance Cumulative
% Extraction Sums of Squared
Loadings
% of
Variance Cumulativ
e % 1 1.150 57.515 1.150 57.515 2 100.000 42.485 .850 Extraction Method: Principal Component Analysis. 143 7. Kết quả tính hệ số Cronbach Anpha 7. 1. Hệ số Cronbach Anpha của nhân tố 1 Cronbach's Alpha N of Items .715 3 Reliability Statistics Scale Mean if
Item Deleted Scale Variance if
Item Deleted Corrected
Item-Total
Correlation Cronbach's
Alpha if Item
Deleted 7.79 1.538 .675 .437 C5- Tăng chất lượng thông
tin trên BCTC 7.84 1.700 .566 .584 C6-Tăng độ tin cậy của
người sử dụng BCTC 8.07 2.126 .381 .794 C3-Kỳ vọng dịch vụ phát hiện
gian lận 7. 2. Hệ số Cronbach Anpha của nhân tố 2 Cronbach's Alpha N of Items .671 4 Reliability Statistics Scale Mean if
Item Deleted Scale Variance if
Item Deleted Corrected
Item-Total
Correlation Cronbach's
Alpha if Item
Deleted 11.01 3.000 .538 .545 C15- Bảo vệ nhân viên tố cáo
gian lận 10.93 3.109 .486 .582 C16-Phát hiện biển thủ, tham
ô lạm quyền 11.22 3.256 .388 .651 C12-Công cụ phát hiện tội
phạm rửa tiền 10.76 3.657 .410 .633 C14-Hoàn thiện các hoạt
động kiểm soát nội bộ 144 7. 3. Hệ số Cronbach Anpha của nhân tố 3 Cronbach's Alpha N of Items .599 3 Scale Mean if
Item Deleted Scale Variance if
Item Deleted Corrected
Item-Total
Correlation Cronbach's
Alpha if Item
Deleted 7.59 1.557 .475 .398 C20-Đưa KTĐT vào chương
trình giảng dạy 7.60 1.705 .466 .424 C19-Cần có sự quản lý của
Hội nghề nghiệp, CMNN và
các quy định pháp luật 8.28 1.699 .301 .667 C18-Cần quy định Văn phòng
KTĐT theo loại hình TNHH 7. 4. Hệ số Cronbach Anpha của nhân tố 4 Cronbach's Alpha N of Items .464 2 Reliability Statistics Scale Mean if
Item Deleted Scale Variance if
Item Deleted Corrected
Item-Total
Correlation Cronbach's
Alpha if Item
Deleted 3.46 1.827 .312 C1-KTV không có trách
nhiệm phát hiện gian lận 4.06 1.088 .312 C2-Các thủ tục kiểm toán
không thể phát hiện tất cả
gian lận 145 7. 5. Hệ số Cronbach Anpha của nhân tố 5 Cronbach's Alpha N of Items .401 2 Reliability Statistics Scale Mean if
Item Deleted Scale Variance if
Item Deleted Corrected
Item-Total
Correlation Cronbach's
Alpha if Item
Deleted 3.18 .858 .251 . C9-Không cần có dịch vụ hỗ
trợ tư vấn trong tranh chấp,
kiện tụng 2.26 .866 .251 . C8-Điều kiện pháp lý sẵn
sàng thực hiện KTĐT 7. 6. Hệ số Cronbach Anpha của nhân tố 6 Cronbach's Alpha N of Items .272 2 Reliability Statistics Scale Mean if
Item Deleted Scale Variance if
Item Deleted Corrected
Item-Total
Correlation Cronbach's
Alpha if Item
Deleted 3.38 1.184 .159 3.38 C10-Khu vực tư có nhu cầu
về KTĐT hơn 3.15 .938 .159 3.15 C11-công cụ phát hiện gian
lận trong khu vực tư hơn 146 7.7. Hệ số Cronbach Anpha của nhân tố 7 Cronbach's Alpha N of Items .261 2 Reliability Statistics Scale Mean if
Item Deleted Scale Variance if
Item Deleted Corrected
Item-Total
Correlation Cronbach's
Alpha if Item
Deleted 3.71 .778 .150 . C7-VN có nhu cầu về KTĐT 3.55 .729 .150 . C17- Các công ty cung cấp
dịch vụ đảm bảo thực hiện
KTĐT 147 Phụ lục 12 A. Phần giới thiệu Văn phòng Giám định Tư pháp Sài Gòn được Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh ban hành Quyết định thành lập số 5152/QĐ-UBND ngày 20 tháng 09 năm 2013 hoạt động trong lĩnh vực tài chính. Ngày 25/10/2013, Văn phòng giám định tư pháp Sài Gòn đã chính thức đi vào hoạt động theo Giấy đăng ký hoạt động số 41.01.0001/TP-GĐ-ĐKHĐ do Sở Tư pháp cấp. Đây là Văn phòng giám định tư pháp đầu tiên của Thành phố Hồ Chí Minh và cũng là Văn phòng giám định tư pháp đầu tiên của cả nước hoạt động theo mô hình doanh nghiệp. Trưởng văn phòng là ông Trần Văn Nam, được bổ nhiệm ngày 09/11/2003, thẻ giám định viên số 88. B. Phần nội dung Khái niệm kế toán điều tra gần giống với giám định tư pháp về tài chính trong việc thu thập bằng chứng để đưa ra kết luận trước Tòa. Nhằm hiểu rõ hơn về kế toán điều tra (Forensic Accounting), giám định tư pháp về tài chính, kiểm toán độc lập, tác giả đã có cuộc phỏng vấn với ông Trần Văn Nam, Trưởng văn phòng giám định tư pháp Sài Gòn. Cuộc phỏng vấn được ghi âm kéo dài 30 phút thực hiện ngày 14/10/2014 tại Văn phòng giám định tư pháp Sài Gòn. Phỏng vấn viên (PPV): Xin ông giới thiệu về bản thân và quá trình công tác. Ông Trần Văn Nam (TVN): Lúc trước tôi công tác tại cơ quan Kiểm toán Nhà nước phía Nam, rồi chuyển về Sở Tài chính TP. HCM, đảm nhiệm Chánh thanh tra Sở. Sau 148 đó Ủy ban thành phố bổ nhiệm tôi làm giám định viên trưởng, tổ chức giám định tư pháp về kế toán tài chính. Sau này chuẩn bị khi có Luật giám định ra đời, năm 2005 Ủy ban giải thể tổ chức giám định này. Lúc đó Bộ Tư pháp có tổ chức khóa cấp thẻ cho giám định viên thì tôi là một trong năm người của Sở Tài chính được cấp thẻ Giám định tư pháp. Thẻ này cũng chính là thẻ hành nghề giám định tư pháp. Trong quá trình công tác tôi đã giám định ba mươi, bốn mươi vụ án lớn nhỏ, kết quả giám định được cơ quan tiến hành tố tụng thừa nhận và sử dụng. PVV: Theo ông, giữa giám định tư pháp về tài chính và kiểm toán độc lập khác biệt như thế nào? TVN: Kiểm toán có hai dạng chính, kiểm toán Nhà nước và kiểm toán độc lập, kiểm toán Nhà nước chủ yếu kiểm tra các sở, ban, ngành, công ty Nhà nước để xem xét quá trình hoạt động của công ty có chấp hành luật tài chính kế toán, đưa ra kết luận đúng sai, thất thoát. Kiểm toán độc lập thành lập theo loại hình tư nhân, không có chức năng tư pháp, kiểm toán độc lập do công ty thuê làm dịch vụ sổ sách, tư vấn hoặc kiểm tra sổ sách. Chức năng tư pháp là chức năng liên quan đến pháp luật. Kiểm toán viên độc lập có thể theo công ty ra Tòa để trả lời chất vấn của luật sư hai bên nhưng không có chức năng kết luận đúng sai cuối cùng về vụ việc. Còn giám định viên tư pháp có trách nhiệm kết luận đúng sai, số tiền thất thoát bao nhiêu. Và cơ quan tiến hành tố tụng, cảnh sát điều tra, Tòa án sẽ sử dụng kết luận đó làm cơ sở xét xử. Và do đó, khi xử án thì giám định viên sẽ được mời để khi luật sư hai bên hỏi thì giám định viên sẽ giải thích. PVV: Vậy kết luận của kiểm toán viên trong báo cáo kiểm toán thì sao? TVN: Báo cáo kiểm toán của kiểm toán độc lập thường chỉ kết luận chung chung về cách lập báo cáo tài chính. Khi trình bày bằng chứng trước Tòa, không thể dựa vào báo cáo kiểm toán mà phải dựa trên chứng từ hồ sơ. Trước đây, người ta tin tưởng vào báo 149 cáo kiểm toán chủ yếu là để giao dịch, mua bán cổ phiếu, chứng khoán với nhau; báo cáo kiểm toán như sự đảm bảo vừa phải về kết quả lời lỗ hoạt động kinh doanh của một công ty để các nhà đầu tư ra quyết định đầu tư. Chứ kết quả kiểm toán đưa ra Tòa thì không có chức năng tư pháp. Nếu cơ quan điều tra có xem báo cáo kiểm toán độc lập thì cũng chỉ tham khảo chứ không dựa vào đó đưa ra kết luận. PVV: Theo ông, vì sao giám định tư pháp chưa được phổ biến rộng rãi. TVN: Hiện nay đã có Luật giám định tư pháp số 13/2012/QH13 ngày 20/6/2012, nghị định số 85/2013/NĐ-CP ngày 29 tháng 7 năm 2013 quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật Giám định tư pháp, thông tư số 138/2013/TT-BTC ngày 09 tháng 10 năm 2013 hướng dẫn một số nội dung của Luật giám định tư pháp và nghị định số 85/2013/NĐ-CP quy định rõ trách nhiệm, nghĩa vụ, quyền hạn của giám định viên. Tuy nhiên Bộ Tư Pháp không tổ chức cấp thẻ nữa. PVV: Vừa rồi, vụ án China Airline công ty kê khai thất thoát nhiều nhưng Tòa án chỉ kết luận trên kết quả của giám định tư pháp. Ông có biết vụ án này không ạ. TVN: Có. Tôi cũng có tham dự buổi Tòa xét xử. Công ty đi khiếu kiện đòi điều tra lại vì Tòa đã xử rồi. China Airlines là công ty cổ phần hàng không quốc gia Đài Loan (100% vốn nước ngoài), văn phòng đại diện tại TP. HCM chỉ giao dịch báo sổ, có phát sinh doanh thu, chi phí nhưng không có lập báo cáo tài chính mà chuyển số liệu về trụ sở. Lợi dụng quá trình đó, nhân viên cấu kết với một nhân viên nước ngoài tham ô lấy tiền công ty chia nhau nhưng không có hồ sơ chứng từ kế toán. Khi giám định, tôi căn cứ vào hồ sơ do Bộ công an cung cấp bằng cách bắt các nghi phạm tự truy xuất trên sổ sách khai nhận số tiền nào lấy. Không có chứng từ sổ sách chứng minh thành ra cơ quan điều tra căn cứ vào lời tự khai nhận của thủ phạm. Sau đó công ty có thuê kiểm toán độc lập phát hành báo cáo kiểm toán nhưng trên báo cáo kiểm toán có nói rằng số 150 liệu này không đảm bảo chính xác, không xác định được thủ phạm nên tôi không thể sử dụng được. PVV: Vậy công ty kiểm toán độc lập có thể thực hiện dịch vụ giám định tư pháp về tài chính được không? TVN: Kiểm toán viên đã có thẻ kiểm toán viên do Bộ Tài Chính cấp, muốn thực hiện giám định trong lĩnh vực liên quan tư pháp thì kiểm toán viên phải được cấp thẻ giám định tư pháp. Sau khi kiểm toán viên được đào tạo bổ sung thì mới có chức năng giám định để cơ quan điều tra, tố tụng sử dụng kết quả trong xét xử các vụ án. PVV: Báo cáo kiểm toán chỉ đảm bảo số liệu vừa phải có trung thực hợp lý theo chế độ chuẩn và các quy định hiện hành do kiểm toán chỉ kiểm tra chọn mẫu, không có quyền tra hỏi ai. Còn giám định tài chính thì sao. TVN: Tôi không kiểm tra chọn mẫu mà kiểm tra toàn bộ các nghiệp vụ kinh tế. Tôi không làm việc trực tiếp với đối tượng mà thông qua cơ quan điều tra cung cấp số liệu, lời khai của đối tượng. PVV: Vậy vì sao công an kinh tế điều tra không đưa ra kết luận về vụ án. Họ cũng có trình độ chuyên môn về nghiệp vụ kế toán tài chính. TVN: Họ cũng có nắm rõ nghiệp vụ nhưng chỉ có chức năng điều tra về việc đó đúng hay sai, chứ không có chức năng tư pháp. Cơ quan điều tra phải trưng cầu giám định tư pháp. PVV: Vậy cần phân biệt cơ quan điều tra và giám định viên như thế nào. TVN: Công an kinh tế trong quá trình điều tra tìm chứng cứ, tài liệu nhưng để kết luận một cách khách quan thì công an kinh tế phải trưng cầu giám định viên nhằm đảm bảo độc lập. Đối với kiểm toán Nhà nước, họ chỉ có chức năng kiểm tra tài chính các cơ 151 quan Nhà nước. Khi họ có kết luận về gian lận thì chuyển hồ sơ cho cơ quan điều tra chứ chưa qua giám định viên ngay. PVV: Thưa ông, ông có biết về thuật ngữ kế toán điều tra (Forensic Accounting) không TVN: Tôi không nắm về kế toán điều tra. PVV: Thưa ông, ông có kiến nghị gì cho xã hội hóa giám định tư pháp tư nhân không TVN: Cũng mong rằng các tỉnh thành nếu có ngững người đã hoạt động trong lĩnh cực tư pháp thì nên ủng hộ cho thành lập văn phòng giám định tư pháp. PPV: Xin cảm ơn ông về cuộc trò chuyện này. -Hết- 152 Phụ lục 13 Dưới đây là các đối tượng khảo sát trình bày tên và nghề nghiệp, ý kiến đóng góp đề tài. Các thông tin liên lạc cá nhân khác được bảo mật, và chỉ cung cấp khi có yêu cầu chứng thực thông tin khảo sát. STT Họ tên/Địa chỉ email Nghề nghiệp Ý kiến đóng góp 1. Huỳnh Thị Thanh Tuyền Không có 2. Nguyễn Thị Huyền Trang Không có 3. Hoàng Minh Tuấn Không có 4. Trần Thanh Hải Không có 5. Võ Công Tuấn Gắn liền Luật Bảo vệ thông
tin, quy định rõ quyền tiếp
cận thông tin/bằng chứng 6. Đỗ Hoàng Chương Không có 7. Đặng Quốc Việt Không có 8. Nguyễn Thị Trúc Liễu Không có 9. Nguyễn Hữu Thắng Không có Kiểm toán
viên
Kiểm toán
viên
Kiểm toán
viên
Kiểm toán
viên
Kiểm toán
viên số GCN
ĐKHN 0486-
2013-079-1
Kiểm toán
viên số GCN
ĐKHN 2662-
2013-079-1
Kiểm toán
viên số GCN
ĐKHN 0626-
2013-079-1
Kiểm toán
viên
Kiểm toán
viên
Kiểm toán 10. Võ Thị Ngọc Lan Không có 153 11. Nguyễn Thanh Sang Không có 12. Đào Vũ Thiên Long Không có 13. TS. Phan Văn Dũng Cần triển khai trong thực tế
và đào tạo trong các trường
đại học 14. Nguyễn Thị Thanh Hương Không có 15. Vỏ Đoàn Thiên Thanh viên
Kiểm toán
viên số GCN
ĐKHN 0851-
2013-071-1
Kiểm toán
viên số GCN
ĐKHN 1739-
2013-071-1
Kiểm toán
viên số GCN
ĐKHN 0171-
2013-118-1
Kiểm toán
viên số GCN
ĐKHN 0529-
2013-079-1
Kiểm toán
viên 16. Đàm Minh Thúy Nên thực hiện dịch vụ kế
toán điều tra gian lận và sai
sót
Không có 17. Nguyễn Thái Không có 18. Nguyễn Thị Mai Phong Không có 19. Trần Thị Oanh Kiều Không có 20. Mai Thị Tuyết Lan Không có Kiểm toán
viên số GCN
ĐKHN 1547-
2013-142-1
Kiểm toán
viên số GCN
ĐKHN 1623-
2013-002-1
Kiểm toán
viên
Kiểm toán
viên
Kiểm toán
viên 154 21. Nguyễn Đình Khôi Không có 22. Trần Hải Sơn Không có 23. Trần Đình Vinh Không có 24. Nguyễn Văn Ân Kiểm toán
viên
Kiểm toán
viên số GCN
ĐKHN
2172-2013-
05-1
Kiểm toán
viên số GCN
ĐKHN 0339-
2013-007-1
Kiểm toán
viên 25. Bùi Vũ Hoàng Sa Cần thực hiện thử nghiệm
(thí điểm) ở một số
nơi/chương trình/…
Không có 26. Lê Hồng Long Kế toàn điều tra nên hợp
nhất vào đơn vị công an kinh
tế của Bộ Công An 27. Lê Hạ Không có 28. Nguyễn Văn Ngà Kiểm toán
viên
Kiểm toán
viên số GCN
ĐKHN 0786-
2013-079-1
Kiểm toán
viên số GCN
ĐKHN 0082-
2013-079-1
Kiểm toán
viên số GCN
ĐKHN 0703-
2013-107-1 29. Nguyễn Mạnh Quân Cần có biện pháp bảo vệ
người làm "Kế toán điều
tra", tránh rủi ro bị trả thù, bị
khủng bố khi phát hiện gian
lận
Không có 30. Trần Ngọc Linh
31. Lê Văn Lý Không có
Không có Kiểm toán
viên số GCN
ĐKHN 0180-
2013-107-1
Kế toán
Kế toán 155 32. Tạ Thị Thơ
33. Trần Thị Kim Ngân
34. Nguyễn Thị Minh Thúy
35. Trương Thị Mỹ Liên
36. Võ Thị Như Lệ
37. Tuyền
38. Bùi Quốc Toản
39. Thúy
40. Nguyễn Thị Phương Tâm
41. Kế toán
Kế toán
Kế toán
Giảng viên
Kế toán
Kế toán
Kế toán
Kế toán
Kế toán
Kế toán Không có
Không có
Không có
Không có
Không có
Không có
Không có
Không có
Không có
Không có thanhbinhmajestic@gmail.c
om
Phạm Hoài Diễm
Phạm Xuân Quang 42.
43.
44. Trang
45. Đinh Công Thành
46. Bùi Văn Trung
47. Thu
48. Nguyễn Thị Thanh Huyền
49. Huỳnh Hữu Phước Không có
Không có
Không có
Không có
Không có
Không có
Không có
Không có 50. Lê Thị Thu Hương
51. Mai Thị Thu Hà
52.
Phương
53. Võ Thị Việt Thùy
54. Bùi Thị Ngọc Ánh
55. Nguyễn Thị Hoàng Yến
56.
Phan Thị Trà Mỹ
57. Đặng Thị Hiên
58. Kế toán
Kế toán
Kế toán
Giảng viên
Kế toán
Kế toán
Kế toán
Kiểm toán
viên
Kế toán
Kế toán
Kế toán
Kế toán
Kế toán
Kế toán
Kế toán
Kế toán
Kế toán Không có
Không có
Không có
Không có
Không có
Không có
Không có
Không có
Không có khanhtamcthcm@yahoo.co
m 59. Lê Hoàng Vĩnh Phúc
60. Vũ Thị Phương Giang
61. Hồ Quang Dũng
62. Lê Thị Tố Anh Giảng viên
Kế toán
Kế toán
Kế toán Không có
Không có
Không có
Không có 156 63. Hồ Thị Loan Anh
64. Võ Thị Lệ Huyền
65. Nguyễn Thị Huế Phương
66. Lê Minh Vương
67. Bùi Minh Trí Kế toán
Kế toán
Kế toán
Kế toán
Giảng viên 68. Nguyễn Hoàng Nghĩa
69. Trần Thị Lệ Tâm Kế toán
Kế toán 70. Nguyễn Thị Nhật Minh
71. Hoàng Thị Thùy Trang Kế toán
Kế toán 72. Lê Thị Bích Thuân
73. Nguyễn Thị Hồng Em Không có
Không có
Không có
Không có
Hoàn Thiện chuẩn mực và
luật kế toán Việt Nam kèm
theo các luật liên quan.
Không có
Phát triển dịch vụ kế toán
điều tra hiện nay và áp dụng
vào thực tế
Không có
Đào tạo ở trường học, góp
phần xây dựng nền móng
cho nghề ghiệp kế toán điều
tra
Không có
Không có 74. Bùi Lê Thái Bình Không có 75. Tăng Thành Phước
76. Nguyễn Anh Hào
77. Cao Khắc Ba
78. Đinh Vương Thế
79. Trương Thùy Dương
80. Ngô Thị Diệu Thúy Kế toán
Kiểm toán
viên
Kiểm toán
viên
Giảng viên
Giảng viên
Kế toán
Kế toán
Kế toán
Kế toán 81. Nguyễn Ngọc Huyền Trân
82. Nguyễn Thị Quế Ly
83. Trần Thị Thu
84. Huỳnh Thị Hương
85. Nguyễn Văn Quý Giảng viên
Kế toán
Kế toán
Kế toán
Kế toán Không có
Không có
Không có
Không có
Không có
Cần có những quy định rõ
ràng hơn và đưa vào đào tạo
tại các trường đại học
Không có
Phát triển, phổ biến rộng rãi
Không có
Không có
Không có 157 86. Bùi Thị Thu Nguyệt Kiểm toán
viên 87. Nguyễn Đình Huy
88. Nguyễn Trà Giang
89. Thảo
90. Nguyễn Hữu Thông Cần xây dựng các thông tư,
nghị định rõ ràng hơn về kế
toán điều tra
Không có
Không có
Không có
Không có Phạm Thu Phương 91. Trần Lệ Diễm
92. Trần Thị Ái Tiên
93.
94. Nguyễn Thanh Trọng Không có
Không có
Không có
Không có 95.
Phạm Vũ Hoàng Vi
96. Nguyen Thi Huong
97. Cao Thị Huệ
98. Lê Văn Lý
99. Nguyễn Doãn Hải Đăng
100. le minh chien Không có
Không có
Không có
Không có
Không có
Không có 101. Nguyễn Đức Lưu Kế toán
Kế toán
Kế toán
Kiểm toán
viên
Kế toán
Kế toán
Giảng viên
Kiểm toán
viên
Kế toán
Kế toán
Kế toán
Kế toán
Kế toán
Kiểm toán
viên
Kế toán 102. Ls. Trần Quốc Tuấn Luật gia Sẽ phát triển trong tương lai
gần
Nghề kế toán điều tra, cần có
am hiểu và kiến thức Luật,
Kế toán và nghiệp vụ Kiểm
toán. Do vậy, nên có loại
hình đào tạo chuyên sâu cho
những người đã tốt nghiệp
các ngành có liên quan đến
Nghề kế toán điều tra.
Nên có Hội nghề nghiệp độc
lập về Nghề này như các
nghề khác như Luật sư, Kế
toán và Kiểm toán. 158 103. Dương Văn Quang Kế toán 104. Đỗ Đậu Thi Thơ
105. Vũ Quốc Tuấn
106. Sang
107. Trịnh Ngọc Anh Nhà nước cần quan tâm hơn
đến chất lượng đào tạo
Không có
Không có
Không có
Không có 108. Vu Minh Duc Kế toán
Kế toán
Kế toán
Kiểm toán
viên
Kiểm toán
viên 109. Tú
110. Trần Xoa
111. Nguyễn Thị Diệu Hiền Kế toán
Luật gia
Kế toán Cần có hệ thống pháp lý
(Luật) và chuẩn mực liên
quan hoàn thiện để phát triển
dịch vụ này trong tương lai.
Không có
Không có
Theo tình hình thực tế làm
công tác kế toán ở VN hiện
nay thì dịch vụ kế toán Việt
Nam nên phát triển. Tuy
nhiên, bản thân tôi nghĩ
chúng ta KHÔNG NÊN phát
triển dịch vụ này vì hiện nay
Việt Nam đủ điều kiện để
thực hiện công tác kế toán
tốt ( chương trình đào tạo kế
toán tốt, kiểm toán tốt, học
vị cao), nếu không tốt (tức là
có gian lận xảy) cũng vì con
người cố tình làm sai trái. Và
thực tế nếu có phát hiện gian
lận cũng đã có biện pháp xử
lý nhẹ - nặng cụ thể. Vậy hỏi
tác giả kế toán điều tra có
giải quyết được vấn đề nào
khac không? Thay vào đó
nên tăng cường tập trung đạo
đức nghề nghiệp, đạo đức 159 112. Trình Quốc Việt
113. Nguyễn Hữu Lộc
114. Lê Tự Quang Hưng
115. Nguyễn Thị Mộng Ngọc Kế toán
Kế toán
Giảng viên
Kế toán 116. Trần Thị Hiền
117. Lê Thu Hằng
118. Trần Thị Nguyệt Nga
119. Nguyễn Hoàng Thơ
120. Nguyễn Phi Trinh
121. Phạm Trường Quân
122. Hoàng Thị Thu Hương kinh doanh
Không có
Không có
Không có
Theo tôi nhận thấy nghề kế
toán điều tra sẽ phát triển tốt
nếu chi phí thực hiện hợp lý,
thì các doanh nghiệp lớn hay
nhỏ không phân biệt ngành
nghề hoạt động đều rất cần
đến. Bởi vì nghề kế toán
điều tra là công cụ giúp
Doanh nghiệp kiểm soát tốt
tài sản cũng như nhân lực
phục vụ Doanh nghiệp hoạt
động tốt.
Không có
Không có
Không có
Không có
Không có
Không có
Không có 123. Trần Thiện Phúc Giảng viên
Giảng viên
Giảng viên
Giảng viên
Giảng viên
Giảng viên
Kiểm toán
viên số GCN
ĐKHN 0899-
2013-002-1
Kiểm toán
viên 124. Trần Quốc Dũng Kiểm toán
viên Kế toán điều tra nên kết hợp
với kiểm toán làm gia tăng
chất lượng thông tin trên báo
cáo tài chính
Nên cố gắng đào tạo phát
triển mảng này, sẽ rất tốt
trong minh bạch báo cáo tài
chính 160 125. hang
126. Mai Đức Nghĩa
127. Huỳnh Thị Bích Ngọc
128. Đào Khánh Trí
129. Võ Thiện Chánh
130. Trần Tuấn Duy
131. Nguyễn Duy Chính
132. Phan Thị Mỹ Hạnh
133. Phan Thị Ngọc Nhu
134. diepcfo@yahoo.com Không có
Không có
Không có
Không có
Không có
Không có
Không có
Không có
Không có
Đạo đức nghề nghiệp 135. Phạm Ngọc Tỏa
136. Vũ Thị Ha Linh
137. Lê Thị Hồng Nhung
138. vietha@yahoo.com.vn Giảng viên
Giảng viên
Giảng viên
Giảng viên
Luật gia
Luật gia
Luật gia
Luật gia
Luật gia
Kiểm toán
viên
Kế toán
Kế toán
Kế toán
Kế toán thuoanh78@gmail.com 139.
140. Nguyễn Thị Hạnh
141. Nguyễn Tấn
142. Vũ Anh Sao
143. Nguyễn Trí Tri
144. Nguyễn Thị Ngọc Dung Giảng viên
Kế toán
Luật gia
Giảng viên
Giảng viên
Kế toán 145. Trần Lê Thanh Thuyên
146. Nguyễn Thị Tố Quyên
147. Lê Thị Mến
148. Dương Thị Nhàn
149. Trần Minh Dạ Hạnh Kế toán
Kế toán
Kế toán
Giảng viên
Kế toán Không có
Không có
Không có
Nên được nghiên cứu đưa
vào như môn học chuyên
ngành phổ biến và chuyên
sâu khác giúp việc ngăn
ngừa, phát hiện các hành vi
gian lận trong nền kinh tế
phát triển lành mạnh như các
nước văn minh khác
Không có
Không có
Không có
Không có
Không có
Nên thực hiện đối với các
công ty nhà nước và cổ phần
Không có
Không có
Không có
Không có
Không có 161 150. Ngô Thị Mỹ Thúy
151. Nguyễn Hoàng Phi Nam
152. Phạm Thị Phương Thảo Trần Thị Vinh Kế toán
Giảng viên
Giảng viên
Giảng viên Ngọc Hương 153.
154. Nguyễn Bảo Châu
155. Trần Minh Ngọc
156. Nguyễn Thị Ngọc điệp
157. Lê Thị Thanh Xuân
158. Phạm Minh Vương
159. Phạm Hữu Duy
160. Nguyễn Thị Bích Vân
161. Bach Pham Dang Huy
162. Nguyễn Huỳnh Bích Trâm
163. Trần Công Huy
164. Trần Minh Quang
165.
166. Trương Cao Thuận Giảng viên
Giảng viên
Giảng viên
Giảng viên
Giảng viên
Luật gia
Luật gia
Luật gia
Luật gia
Luật gia
Luật gia
Luật gia
Luật gia 167. Hồ Minh Nhật
168. Đạng Anh Tú Luật gia
Luật gia 169. Phạm Công Đức Luật gia 170. Nguyễn Thị Thủy
171. Hiệp
172. Ngô Duy Tùng 173. Võ Như Thường Luật gia
Luật gia
Kiểm toán
viên
Kiểm toán Không có
Không có
Không có
Cần phổ biến nhiều hơn nữa
về kế toán điều tra
Không có
Không có
Không có
Không có
Không có
Không có
Không có
Không có
Không có
Không có
Không có
Không có
Nghề mới, mang tính độc lập
cao, cần có định hứng nhà
nước
Không có
Kế toán điều tra nên thuộc
cơ quan công an
Việt Nam cần phải mở rộng
loại hình kế toán điều tra để
ngăn ngừa gian lận sai sót và
phù hợp với pháp luật Việt
Nam.
Không có
Không có
Tăng cường các khóa đào
tạo, nâng cao kiến thức về kế
toán điều tra
Không có 162 viên
Giảng viên
Giảng viên
Kề toán Không có
Không có
Không có 174. Tâm
175. Võ Văn Hiền
176. Bùi Thu Hồng 163 Phụ lục 14 - Đăng ký với Hội đồng Liên
bang nghề kế
toán - 15 giờ cập
nhật kiến
thức mỗi
năm - Không bị kỷ - Thành viên
của ACFEI Kế toán điều tra
công chứng –
Certified
Forensic
Accountant
(Cr.FA) luật trong vòng
10 năm Trường Cao đẳng
Điều tra Quốc tế
Hoa Kỳ-American
College of Forensic
Examiners
International
(ACFEI)
www.acfei.com Exam 2 giới thiệu
tổng quát về kế
toán điều tra, hợp
đồng, điều tra gian
lận, báo cáo tài
chính gian lận, dịch
vụ kế toán điều tra
và định giá - Không bị kết án
trọng tội trong
10 năm Có bằng cử nhân các ngành
doanh nghiệp hoặc 10 năm
kinh nghiệm làm kế toán
(nhưng không có bằng
CPA, CMA, CFFA, CVA,
CBA, v.v…) và đạt kỳ thi
Exam 1, Exam 2
Nếu đã có một trong các
bằng cấp trên thì chỉ cần
đạt Exam 2. - Đồng ý các quy
định hành nghề
của ACFEI - Là thành viên
của ACFEI CR. FA công nhận
các chuyên gia kế
toán điều tra cho
những người đã đạt
được đào tạo bổ
sung, có kinh
nghiệm, kiến thức,
kỹ năng về kế toán
điều tra và đáp ứng
các điều kiện của
Hội đồng Liên
bang nghề kế toán
(State Board of
Accountancy)
Chứng nhận các
chuyên gia điều tra
đã được đào tạo về
chuẩn mực nghề
nghiệp, luật học - Không vi phạm
kỷ luật, hình sự
trong vòng 10
năm Tư vấn điều tra
công chứng –
Certified
Forensic
Consultant
(CFC) Nếu chứng minh được kinh
nghiệm, có bằng chứng từ
các tổ chức giáo dục được
công nhận sẽ được miễn
học khóa CFC, nhưng phải
thi để đạt giấy chứng nhận. - Có bằng cấp riêng biệt từ các
trường đại học
được công nhận
(trong nước hay Khóa học bắt đầu
với bài giảng trên
lớp, thực hành kịch
bản tương tác nhập
vai, bao gồm cả
một phiên tòa giả,
đối chất lấy lời
khai, làm chứng tại
phiên tòa và thực
hành vai trò nhân nước ngoài)
- Tuân thủ các chứng chuyên gia
trước Tòa quy định nghề
nghiệp - Là thành viên của ACFE Điều tra gian lận
công chứng –
Certified Fraud
Examiner (CFE) Chứng nhận các
chuyên gia trong
phát hiện, ngăn
chặn, điều tra gian
lận Hiệp hội các nhà
điều tra gian lận Hoa
kỳ - Association of
Certified Fraud
Examiners (ACFE)
www.CFEnet.com - Có đạo đức tốt
- Tuân thủ các quy
định pháp luật và
chuẩn mực đạo
đức của ACFE - 20 giờ cập
nhật kiến
thức mỗi
năm, ít nhất
10 giờ cho
các vấn đề
liên quan
đến gian lận. - Là thành Có một trong hai điều kiện:
Bằng tốt nghiệp đại học và
2 năm kinh nghiệm thực tế
trực tiếp hoặc gián tiếp liên
quan đến ngăn chặn và phát
hiện gian lận; hoặc
10 năm kinh nghiệm trong
chuyên môn phòng chống
gian lận 164 - Là thành viên của ACFS - Có đạo đức tốt
- Đồng ý tuân thủ luật lệ của ACFS Chứng nhận các cá
nhân được đào tạo
có đầy đủ kiến
thức, kỹ năng phù
hợp Chuyên viên
gian lận công
chứng –
Certified Fraud
Specialists
(CFS) Đạt kỳ thi viết
Tối thiểu 8 năm kinh
nghiệm thực tế và tối thiểu
là 100 điểm trên bài thi
Tuân thủ quy định của
ACFS - Chấp hành tuân
thủ quy tắc đạo
đức nghề nghiệp
của ACFS - 48 giờ cập
nhật kiến
thức (CPE)
mỗi 2 năm
với 32 giờ
CPE liên
quan chủ đề
gian lận. Kỳ thi CFE bao
quát 4 lĩnh vực
quan trọng trong
phòng chống gian
lận: Tội phạm học
và Đạo đức, Nghiệp
vụ tài chính, Điều
tra gian lận, và các
yếu tố pháp lý của
gian lận. Kỳ thi kéo
dài khoảng 10 giờ
đồng hồ hoàn tất
500 câu hỏi.
Đạt kỳ thi chứng
nhận chuyên gia
gian lận
Hoàn thành khóa
học về học thuật
của ACFS và đạt
điểm đậu trong mỗi
bài thi.
Tuân thủ quy định
của ACFS - Là thành viên
hoạt động của
IBA. Hiệp hội chuyên gia
gian lận –
Association of
Certified Fraud
Specialists (ACFS)
www.acfsnet.org
Viện Định giá
Doanh nghiệp -
Insitute of Business Định giá doanh
nghiệp công
chứng – Chứng nhận các cá
nhân hoàn thành
khóa học về định Có bằng tốt nghiệp cao
đẳng, đại học hệ 4 năm
hoặc tương đương. Đạt kỳ thi viết
(được miễn nếu có
bằng ASA, ABV, - Thỏa các điều - 24 giờ cập
nhật kiến
thức (CPE)
mỗi 2 năm giá doanh nghiệp - Là thành Appraisers (IBA)
www.go-iba.org viên liên tục
của IBA. Certified
Business
Appraisers
(CBA) CVA, hay AVA)
Hoàn tất khóa học
Viết báo cáo kéo
dài 16 giờ của IBA kiện về đạo đức
và sức khỏe
- Nộp hai báo cáo
thuyết minh về
kỹ năng, kiến
thức, phán đoán
của định giá viên - Là kế toán viên
công chứng Hoàn tất 90 giờ học hoặc
các kháo học thực hành cao
hơn về định giá doanh
nghiệp. Hoặc 10,000 giờ
làm việc định giá doanh
nghiệp thực tế.
Các CPA đạt các yêu cầu
về giáo dục và kinh nghiệm - Là thành viên của NACVA CVA công nhận
định giá doanh
nghiệp cho kế toán
công chứng (CPA) Hoàn tất khóa học
5 ngày của
NACVA. Phân tích định
giá công chứng -
Certified
Valuation
Analysts (CVA) Hiệp hội Quốc gia
Phân tích Định giá –
National Association
of Certified
Valuation Analysts
(NACVA)
www. nacva.com Chứng nhận
chuyên môn kế
toán điều tra cho kế
toán viên công
chứng (CPA) - Là kế toán viên
công chứng
- Đạt kỳ thi CFF
- Là thành viên của
AICPA. Điều tra tài
chính công
chứng –
Certified in
Financial
Forensics (CFF) Hiệp hội kế toán
viên công chứng
Hoa Kỳ - American
Institute of Certified
Public Accountants
(AICPA)
http://www.aicpa.org - 36 giờ cập
nhật kiến
thức (CPE)
- Tham dự các
khóa học cập
nhật kiến
thức, các
chương trình
tăng cường
chất lượng
định giá của
NACVA.
Đạt ít nhất
60 giờ cập
nhật kiến
thức về kế
toán điều tra
trong vòng 3
năm. Đạt kỳ thi CFF bao
gồm các lĩnh vực:
phá sản, phân tích
dữ liệu số, luật hôn
nhân gia đình, định
giá, phát hiện
phòng chống gian
lận, trình bày sai
báo cáo tài chính,
và xác định tổn
thất. Các CPA đạt các yêu cầu
về giáo dục và kinh nghiệm
về kế toán điều tra.
Có ít nhất 1.000 giờ inh
nghiệm thực tế về kế toán
điều tra trong vòng 5 năm
trước ngày nộp hồ sơ thi
CFF.
Có ít nhất 75 giờ cập nhật
kiến thức về kế toán điều
tra trong vòng 5 năm trước
ngày nộp hồ sơ thi CFF.
- Trả phí hằng năm. 165 Nguồn: Crumbley (2005)TỔNG HỢP CÁC GIAN LẬN LỚN TRÊN THẾ GIỚI
MỘT SỐ LÝ THUYẾT VỀ GIAN LẬN
Tính trung thực
TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VỀ GIAN LẬN CỦA
CÁC TỔ CHỨC NGHỀ NGHIỆP TRÊN THẾ GIỚI
CÂY GIAN LẬN THEO ACFE
Biển thủ tài sản
Gian lận BCTC
Tham ô
Tiền
thƣởng
Đòi hỏi
lợi ích
Khai khống tài
sản/ doanh thu
Xung đột
lợi ích
Gian lận
mua hàng
Đút lót,
hối lộ
HĐ đút
lót
Khai thiếu tài
sản/ doanh
thu
Ghi sai niên độ
Doanh thu thiếu
Khống công nợ,
chi phí
Công bố không
đầy đủ
Đánh giá tài sản
không đúng
KỸ THUẬT KẾ TOÁN ĐIỀU TRA: DẤU HIỆU LÁ CỜ ĐỎ
(RED FLAG)
KỸ NĂNG KẾ TOÁN ĐIỀU TRA
MỘT SỐ VỤ ÁN GIAN LẬN KINH TẾ TẠI VIỆT NAM TỪ NĂM 2009
Công ty
Sự kiện
Ngƣời tham gia chính
Cách thức tiến hành
Cách thức phát hiện
Hình phạt
Năm 2009
Năm 2010
Năm 2011
Năm 2013
Năm 2014
BẢNG CÂU HỎI KHẢO SÁT
I. Phần câu hỏi:
II. Phần giới thiệu thông tin cá nhân
Xin chân thành cám ơn quý anh/chị đã dành thời gian quý báu đóng góp vào sự hiểu biết nghề
nghiệp nói chung và việc hoàn thành đề tài khảo sát về nhu cầu nghề nghiệp nói riêng.
DÀN BÀI THẢO LUẬN
Phần giới thiệu
Phần câu hỏi
I. Khoảng cách mong đợi về trách nhiệm phát hiện gian lận của kiểm toán viên độc lập
II. Chất lƣợng thông tin báo cáo tài chính
III. Điều kiện pháp lý
IV. Khu vực
V. Kiểm soát nội bộ
VI. Sự hỗ trợ từ bên ngoài
VII. Nhu cầu kế toán điều tra
BẢNG TÓM TẮT CÁC CÂU TRẢ LỜI KHẢO SÁT
Tần
KH
Câu phát biểu
Mức độ đồng ý
%
µ
số
Kế
Giảng
Kiểm toán
KH
Câu phát biểu
Luật gia
toán
viên
viên
KẾT QUẢ PHÂN TÍCH DỮ LIỆU BẰNG PHẦN MỀM SPSS
Statistics
Nghề nghiệp
Số năm kinh
nghiệm
Nghề nghiệp
Frequency
Percent
Valid Percent
Cumulative
Percent
44.3
56.3
75.0
100.0
Số năm kinh nghiệm
Frequency
Percent
Valid
Percent
24.4
31.3
23.9
20.5
Cumulative
Percent
24.4
55.7
79.5
100.0
KMO and Bartlett's Test
Total Variance Explained
58.334
58.334
Rotated Component Matrix(a)
Component
KMO and Bartlett's Test
Total Variance Explained
59.951
59.951
Rotated Component Matrix(a)
Component
KMO and Bartlett's Test
Total Variance Explained
60.323
60.323
Rotated Component Matrix(a)
Component
KMO and Bartlett's Test
Total Variance Explained
62.137
62.137
Rotated Component Matrix(a)
Component
KMO and Bartlett's Test
Total Variance Explained
57.515
57.515
Item-Total Statistics
Item-Total Statistics
Reliability Statistics
Item-Total Statistics
Item-Total Statistics
Item-Total Statistics
Item-Total Statistics
Item-Total Statistics
NỘI DUNG PHỎNG VẤN ÔNG TRẦN VĂN NAM
TRƢỞNG VĂN PHÒNG GIÁM ĐỊNH TƢ PHÁP SÀI GÒN
DANH SÁCH ĐỐI TƢỢNG KHẢO SÁT
MỘT SỐ TỔ CHỨC & BẰNG CẤP NGHỀ NGHIỆP KẾ TOÁN ĐIỀU TRA TẠI HOA KỲ
Tổ chức
Chứng chỉ
Mô tả
Điều kiện
Giáo dục/Kinh nghiệm
Khóa học
Yêu cầu
nghề nghiệp
- 15 giờ cập
nhật kiến
thức mỗi
năm
viên ACFE
đang hoạt
động