BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN THỊ HẢI VÂN

ĐỊNH HƢỚNG PHÁT TRIỂN

KẾ TOÁN ĐIỀU TRA TẠI VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP. Hồ Chí Minh - Năm 2015

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN THỊ HẢI VÂN

PHÁT TRIỂN

KẾ TOÁN ĐIỀU TRA TẠI VIỆT NAM

Chuyên ngành: Kế toán

Mã số: 60340301

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. TRẦN KHÁNH LÂM

TP. Hồ Chí Minh - Năm 2015

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập của tôi với sự hướng dẫn của

Tiến sĩ Trần Khánh Lâm. Tất cả nguồn tài liệu tham khảo đã được công bố đầy đủ.

Nội dung của luận văn là trung thực.

Người viết

Nguyễn Thị Hải Vân

MỤC LỤC

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục chữ viết tắt

Danh mục các bảng, biểu đồ và hình vẽ

MỞ ĐẦU ................................................................................................................ 1

CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VỀ GIAN LẬN VÀ KẾ TOÁN ĐIỀU TRA ............................................................................................................. 5

1.1. Tổng quát về gian lận .................................................................................. 5

1.1.1. Định nghĩa về gian lận ........................................................................... 5

1.1.2. Lịch sử phát triển gian lận ..................................................................... 6

1.1.3. Các nghiên cứu về gian lận .................................................................... 7

1.1.3.1. Về học thuật ...................................................................................... 7

1.1.3.2. Nghiên cứu của các tổ chức nghề nghiệp .......................................... 9

1.2. Trách nhiệm phát hiện gian lận ................................................................ 11

1.2.1. Tổng quát từ các nghiên cứu của ACFE ............................................. 11

1.2.2. Trách nhiệm phát hiện gian lận của kiểm toán viên độc lập theo chuẩn mực quốc tế và Việt Nam. .............................................................................. 13

1.2.2.1. Chuẩn mực kiểm toán quốc tế ......................................................... 14

1.2.2.2. Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam ...................................................... 18

1.3. Giới thiệu kế toán điều tra ........................................................................ 20

1.3.1. Khái quát về kế toán điều tra................................................................ 20

1.3.1.1. Định nghĩa về kế toán điều tra ........................................................ 22

1.3.1.2. Công việc kế toán điều tra ............................................................... 22

1.3.1.3. Phân biệt kế toán điều tra (Forensic Accounting) ........................... 24

1.3.2. Một số nghiên cứu về kế toán điều tra ................................................. 26

1.3.3. Kinh nghiệm phát triển kế toán điều tra tại một số nước trên thế giới 29

1.3.3.1. Canada ........................................................................................... 29

1.3.3.2. Australia ......................................................................................... 29

1.3.3.3. Hoa Kỳ ............................................................................................ 29

1.4. Tóm tắt chƣơng 1 ...................................................................................... 30

CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG NHU CẦU KẾ TOÁN ĐIỀU TRA TẠI VIỆT NAM ..................................................................................................................... 32

2.1. Tình hình gian lận tại Việt Nam từ năm 2009 đến nay ............................ 32

2.1.1. Một số loại tội phạm kinh tế trong luật pháp Việt Nam ....................... 32

2.1.1.1. Tội tham ô tài sản ........................................................................... 32

2.1.1.2. Tội cố ý làm trái các quy định về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng. ........................................................................................................... 32

2.1.1.3. Tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản............................................... 33

2.1.2. Phân biệt kế toán điều tra và việc điều tra của các cơ quan Nhà nước34

2.1.2.1. Giống nhau ..................................................................................... 34

2.1.2.2. Khác nhau ....................................................................................... 34

2.1.3. Tình hình gian lận tại Việt Nam từ năm 2009 đến nay ....................... 35

2.2. Thiết kế nghiên cứu ................................................................................... 36

2.3. Phƣơng pháp nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu .................................... 38

2.3.1. Chọn mẫu ............................................................................................. 38

2.3.2. Phương pháp phân tích ........................................................................ 39

2.4. Phân tích dữ liệu ........................................................................................ 43

2.4.1. Mô tả mẫu ............................................................................................ 43

2.4.1.1. Các đặc điểm cá nhân ..................................................................... 43

2.4.1.2. Tóm tắt các câu trả lời bảng khảo sát ............................................. 45

2.4.2. Đánh giá thang đo ................................................................................ 49

2.4.2.1. Phân tích nhân tố khám phá (EFA) ................................................. 49

2.4.2.2. Kiểm tra độ tin cậy của thang đo .................................................... 51

2.4.3. Kiểm định giả thuyết nghiên cứu ......................................................... 53

2.4.4. Kết luận ................................................................................................ 56

2.5. Tóm tắt chƣơng 2 ...................................................................................... 56

CHƢƠNG 3: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ...................................................... 58

3.1. Kết luận ...................................................................................................... 58

3.2. Các cơ hội và khó khăn trong phát triển kế toán điều tra tại các nƣớc đang phát triển nói chung và Việt Nam nói riêng ........................................... 64

3.2.1. Cơ hội ................................................................................................ 64

3.2.2. Các khó khăn ..................................................................................... 66

3.3. Đề xuất các giải pháp phát triển kế toán điều tra tại Việt Nam .............. 68

3.3.1. Về đào tạo ............................................................................................. 68

3.3.1.1. Đào tạo trong nhà trường ............................................................... 68

3.3.1.2. Đào tạo nghề nghiệp ....................................................................... 70

3.3.2. Về môi trường giám sát, pháp lý, phối hợp .......................................... 70

3.3.2.1. Về phía cơ quan Nhà nước ............................................................... 70

3.3.2.2. Về phía công ty kiểm toán ................................................................. 75

3.3. Hạn chế của đề tài ..................................................................................... 77

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Phụ lục 1: Tổng hợp các gian lận lớn trên thế giới

Phụ lục 2: Một số lý thuyết về gian lận

Phụ lục 3: Tóm tắt kết quả nghiên cứu về gian lận của các tổ chức nghề nghiệp trên

thế giới.

Phụ lục 4: Cây gian lận theo ACFE

Phụ lục 5: Kỹ thuật kế toán điều tra: dấu hiệu lá cờ đỏ (red flag)

Phụ lục 6: Kỹ năng kế toán điều tra

Phụ lục 7: Một số vụ án gian lận kinh tế từ năm 2009

Phụ lục 8: Bảng câu hỏi khảo sát

Phụ lục 9: Dàn bài thảo luận

Phụ lục 10: Bảng tóm tắt các câu trả lời khảo sát

Phụ lục 11: Kết quả phân tích dữ liệu bằng phần mềm SPSS

Phụ lục 12: Nội dung phỏng vấn ông Trần Văn Nam_ Trưởng văn phòng giám định

tư pháp Sài Gòn

Phụ lục 13: Danh sách đối tượng khảo sát

Phụ lục 14: Một số tổ chức và bằng cấp nghề nghiệp kế toán điều tra tại Hoa Kỳ

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

STT Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ

1. AAER:

Accounting and Auditing Enforcement Release – Bản án thi hành kế toán và kiểm toán

2. ACFE:

Association of Certified Fraud Examiners – Hiệp hội các nhà điều tra gian lận Hoa kỳ

3. ACFEI:

American College of Forensic Examiners International - Trường Cao đẳng Điều tra Quốc tế Hoa Kỳ

4. ACFI:

Association of certified Forensic Investigators of Canada – Hội Điều tra viên tư pháp công chứng Canada.

5. ACFS:

Association of Certified Fraud Specialists - Hiệp hội chuyên gia gian lận

6. AICPA:

American Institute of Certified Public Accountants – Hiệp hội kế toán viên công chứng Hoa Kỳ

7. BCTC: Báo cáo tài chính

8. CBA:

Certified Business Appraisers – Chứng chỉ Định giá doanh nghiệp công chứng

9. CEO: Chief executive officer – Giám đốc điều hành

10. CFC:

Certified Forensic Consultant – Chứng chỉ Tư vấn điều tra công chứng

11. CFE:

Certified Fraud Examiner – Chứng chỉ Điều tra gian lận công chứng

12. CFF:

Certified in Financial Forensics – Chứng chỉ Điều tra Tài chính công chứng

13. CFO: Chief financial officer – Giám đốc tài chính

14. CFS:

Certified Fraud Specialists – Chứng chỉ Chuyên viên gian lận công chứng

15. COSO:

Committee of Sponsoring Organizations - Ủy ban thuộc Hội đồng quốc gia về chống gian lận trên báo cáo tài chính của Hoa Kỳ

16. Cr.FA:

Certified Forensic Accountant – Chứng chỉ Kế toán Điều tra công chứng

17. CVA:

Certified Valuation Analysts – Chứng chỉ Phân tích Định giá công chứng

18. EFA: Exploratory Factor Analysis – Phân tích nhân tố khám phá

19. IBA:

Insitute of Business Appraisers - Viện Định giá Doanh nghiệp

20. IFAC:

International Federation of Accountants – Liên đoàn Kế toán Quốc tế

21. IIA:

Institute of Internal Auditors – Viện Kiểm toán Nội bộ Hoa Kỳ

22. ISA:

International Standard on Auditing – Chuẩn mực kiểm toán quốc tế

23. ISACA:

Information Systems Audit and Control Association – Hiệp Hội hệ thống thông tin kiểm toán và kiểm soát Hoa Kỳ

24. KTV: Kiểm toán viên

25. NACVA:

National Association of Certified Valuation Analysts - Hiệp hội Quốc gia Phân tích Định giá

26. SAS:

Statement on Auditing Standard – Chuẩn mực kiểm toán Hoa Kỳ

27. SEA:

Securities Exchange Act of 1934 – Đạo luật trao đổi chứng khoán năm 1934

28. SEC:

U.S. Securities and Exchange Commission - Ủy ban chứng khoán Hoa Kỳ

29. SOX: Sarbanes-Oxley Act – Đạo luật Sarbanes-Oxley

30. VACPA:

Vietnam Association of Certified Public Accountants – Hội kiểm toán viên hành nghề Việt Nam

31. VSA:

Vietnam Standard on Auditing – Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam

Trong bài, người viết sử dụng thuật ngữ kiểm toán bên ngoài, kiểm toán độc lập, kiểm toán báo cáo tài chính đều có nghĩa như nhau và thay thế cho nhau.

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1: Bảng tóm tắt các đặc điểm của gian lận theo ACFE ............................... 11

Bảng 1.2: Các loại dịch vụ hỗ trợ pháp lý (AICPA) ............................................... 23

Bảng 1.3: Bảng tóm tắt phân biệt các thuật ngữ kế toán điều tra, kiểm toán gian lận, kiểm toán điều tra, kiểm toán báo cáo tài chính truyền thống. ................................ 26

Bảng 2.1: Xây dựng thang đo ................................................................................ 39

Bảng 2.2: Bảng tần số về nghề nghiệp, số năm kinh nghiệm .................................. 43

Bảng 2.3: Bảng tóm tắt kết quả phân tích EFA cho các biến nhóm X .................... 49

Bảng 2.4: Bảng kết quả tính hệ số Cronbach Anpha .............................................. 52

Bảng 2.5: Bảng kiểm định Leneve ......................................................................... 54

Bảng 2.6: Bảng kết quả kiểm định ANOVA .......................................................... 55

Bảng 2.7: Bảng kết quả kiểm định phi tham số Kruskal – Wallis ........................... 56

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ VÀ BIỂU ĐỒ

Danh mục các hình vẽ

Hình 2.1: Thiết kế nghiên cứu ............................................................................... 37

Hình 3.1: Cơ sở lý thuyết của kế toán điều tra ....................................................... 69

Danh mục các biểu đồ

Biểu đồ 2.1: Tỷ lệ phần trăm các nhóm nghề nghiệp khảo sát ................................ 44

Biểu đồ 2.2: Tỷ lệ phần trăm số năm kinh nghiệm ................................................. 44

1

MỞ ĐẦU

1. Đặt vấn đề

Trên thế giới, đã có rất nhiều cuộc khủng hoảng kinh tế bắt nguồn từ gian lận

như Enron, Waste Management, Worldcom… đã lan ra toàn cầu, trong đó có liên

quan đến sai phạm của công ty kiểm toán quốc tế lớn là Arthur Andersen khiến cho

công ty này đã chấm dứt hoạt động. Các cuộc khủng hoảng kinh tế cho thấy vai trò

đặc biệt quan trọng của ngành kiểm toán nhưng đồng thời cũng bộc lộ các khiếm

khuyết của ngành kiểm toán. Từ đó, nhu cầu ngăn chặn và phát hiện gian lận làm

dấy lên các cuộc thảo luận về khả năng đáp ứng của nghề nghiệp kế toán, kiểm

toán. Ủy ban dịch vụ điều tra và hỗ trợ pháp lý của AICPA (The AICPA Forensic

and Litigation Services Committee - FLS) đã phát hành bản ghi nhớ thỏa thuận

ngày 15 tháng 7 năm 2004 “Dịch vụ điều tra, kiểm toán, và quản trị doanh nghiệp:

kết nối khoảng cách” nhằm mô tả về dịch vụ kế toán điều tra và các tiêu chuẩn trở

thành kế toán điều tra viên.

Thuật ngữ kế toán điều tra (Forensic Accounting) xuất hiện ở các nước phát

triển từ những năm 1980, được xem như có vai trò chính nối liền khoảng cách giữa

nghề nghiệp kiểm toán và nhu cầu phòng chống gian lận. Kế toán điều tra là sự tổng

hợp giữa kế toán, kiểm toán, luật để thực hiện hai chức năng chính, bao gồm: điều

tra kế toán (Investigative Accounting) và hỗ trợ pháp lý (Litigation Support). Kế

toán điều tra có vai trò khác với kiểm toán báo cáo tài chính. Mục đích của kiểm

toán báo cáo tài chính là đảm bảo báo cáo tài chính phản ánh trung thực và hợp lý

trên các khía cạnh trọng yếu, vì vậy trách nhiệm của kiểm toán độc lập là thiết kế và

thực hiện các thủ tục kiểm toán trọng phạm vi và nội dung vừa đủ để phát hiện các

sai sót trọng yếu trong báo cáo tài chính (không quan tâm đến bản chất, nguồn gốc

của sai sót). Kế toán điều tra rộng hơn mục đích của kiểm toán báo cáo tài chính, kế

toán điều tra không đưa ra ý kiến về báo cáo tài chính dựa trên mức trọng yếu qua

thủ tục chọn mẫu, kế toán điều tra dựa trên các bằng chứng tài liệu và cả bằng

2

chứng thẩm vấn để tìm hiểu ai, cái gì, khi nào, ở đâu, cách thức cũng như nguyên

do sai sót, gian lận xảy ra hay có thể xảy ra, từ đó tư vấn cách khắc phục và ngăn

chặn các hành vi tương tự diễn ra. Bên cạnh đó, các kết luận của kế toán điều tra có

thể là công cụ hỗ trợ pháp lý trong các vụ kiện dân sự hay hình sự chống lại thủ

phạm.

Các nước Trung Quốc, Thổ Nhĩ Kỳ, Nigeria đều là những nước đang phát

triển, các nhà nghiên cứu Xianghua Hao, Cemal Elitas, Efiong đều cho thấy nhu cầu

kế toán điều tra tại các nước này…Việt Nam cũng là một nước đang phát triển (theo

phân loại của Ngân hàng Thế Giới), đang trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại

hóa, kinh tế thị trường phát triển nhanh, vì vậy thông tin kế toán đóng vai trò ngày

càng quan trọng để phát triển thị trường. Tuy nhiên, trong quá trình ấy, gian lận

xuất hiện, kiềm hãm sự phát triển kinh tế, gây thiệt hại ngày càng nghiêm trọng, từ

đó sự phát triển kế toán điều tra là một tất yếu giúp môi trường kinh doanh lành

mạnh hơn. Chính vì vậy tác giả chọn đề tài “Định hƣớng phát triển kế toán điều

tra tại Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu để tìm hiểu nhu cầu nghề nghiệp mới và

khả năng đáp ứng xu hướng phát triển của nghề nghiệp hiện nay.

2. Mục tiêu

Mục tiêu của bài nghiên cứu này nhằm đo lường nhận biết về nghề nghiệp kế

toán điều tra (Forensic Accounting), và nhu cầu kế toán điều tra tại Việt Nam. Từ

đó đưa ra kiến nghị phát triển dịch vụ kế toán điều tra tại Việt Nam.

3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

3.1. Đối tƣợng nghiên cứu

Bài tập trung đo lường nhận biết của các đối tượng gồm: kiểm toán viên, kế

toán viên, giảng viên chuyên ngành và luật gia. Sự lựa chọn khảo sát các đối tượng

này dựa trên các nghiên cứu trước như Kasum (2009) [34], Di Gabriele (2010) [23].

3

Trong bài, các kiểm toán viên được phát phiếu khảo sát tại lớp học cập nhật

kiến thức ngày 26/09/2014 tại TP. HCM và đồng nghiệp tại công ty; các kế toán,

luật gia được phát phiếu khảo sát tại các lớp học thạc sỹ của trường Đại học Kinh

Tế TP. HCM, và qua công cụ Google Docs; các giảng viên chuyên ngành được thu

thập trực tiếp, hay qua Google Docs chủ yếu tại các trường Đại học Kỹ Thuật Công

Nghệ TP. HCM, Đại học Kinh Tế TP. HCM, Đại học Mở và một số trường Đại học

khác (Phụ lục 13 – Danh sách đối tượng khảo sát)

3.2. Phạm vi nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu đo lường hiểu biết, nhận thức về kế toán điều tra tại Việt

Nam. Tuy nhiên trong phạm vi luận văn cao học, tác giả chỉ khảo sát tại thành phố

Hồ Chí Minh, do thành phố Hồ Chí Minh là thành phố lớn, trung tâm kinh tế - xã

hội lớn của cả nước nên có thể đại diện cho tổng thể.

4. Phƣơng pháp nghiên cứu

Để thực hiện được mục tiêu nghiên cứu, đề tài được thực hiện theo phương

pháp nghiên cứu khoa học chặt chẽ. Trước hết, tác giả tiến hành nghiên cứu định

tính bằng cách tổng quan các lý thuyết về kế toán điều tra, thảo luận nhóm chuyên

gia để xây dựng và đánh giá sơ bộ thang đo. Sau đó, tác giả tiến hành thu thập dữ

liệu định lượng bằng cách phát phiếu khảo sát trực tiếp và gửi email biểu mẫu

Google Docs. Dữ liệu hợp lệ gồm 176 bảng trả lời được tác giả sử dụng phần mềm

SPSS 20 để phân tích và đưa ra kết luận.

5. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài

Đề tài nghiên cứu về kế toán điều tra là một đề tài mới, các bài nghiên cứu,

luận văn dùng để tham khảo chưa nhiều. Chính vì vậy, đây là một nghiên cứu khám

phá, trình bày một cách hệ thống các lý luận về nhu cầu dịch vụ kế toán điều tra bắt

nguồn từ kỳ vọng phát hiện, ngăn chặn gian lận và sự thất bại trong đáp ứng của

nghề nghiệp kiểm toán truyền thống từ đó xây dựng dịch vụ kế toán điều tra tại Việt

4

Nam. Bên cạnh đó, đề tài được thiết kế nghiên cứu một cách khoa học, thiết lập một

quy trình nghiên cứu chặt chẽ, từ đó vấn đề nghiên cứu được đánh giá một cách

khách quan và có ý nghĩa thống kê.

6. Bố cục luận văn

Nội dung đề tài được trình bày gồm ba chương:

Chƣơng 1: Tổng quan lý thuyết về gian lận và kế toán điều tra

Chƣơng 2: Thực trạng dịch vụ kế toán điều tra tại Việt Nam

Chƣơng 3: Kết luận và kiến nghị

5

CHƢƠNG 1

TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VỀ GIAN LẬN VÀ KẾ TOÁN ĐIỀU TRA

1.1. Tổng quát về gian lận

1.1.1. Định nghĩa về gian lận

Ngày nay, gian lận ngày càng phổ biến và gây ra mức thiệt hại càng ngày càng

nghiêm trọng cho nền kinh tế. Gian lận xảy ra ở tất cả lĩnh vực, ngành nghề và khi

nền kinh tế càng phát triển thì gian lận cũng càng tinh vi hơn. Do đó, gian lận nên

được tìm hiểu và nghiên cứu để có các biện pháp phù hợp nhằm ngăn chặn, và phát

hiện gian lận.

Theo từ điển tiếng Việt [4], gian lận là hành vi thiếu trung thực, dối trá, mánh

khóe nhằm lừa gạt người khác.

Theo từ điển thuật ngữ pháp lý Black’s Law [14], gian lận là việc làm lạm

dụng hoặc áp dụng sai một cách chủ tâm đối với tài sản hoặc nguồn lực của doanh

nghiệp với mục đích tư lợi.

Theo từ điển pháp lý Law.com [36], giải thích gian lận theo cách tiếp cận pháp

lý, “gian lận là việc sử dụng một thủ thuật hoặc phương pháp một cách cố ý lừa dối,

không trung thực để tước đi tiền, tài sản hoặc một quyền hợp pháp của người khác”.

Để thỏa định nghĩa pháp lý về gian lận thì hành vi đó phải gây ra thiệt hại, có

thể quy ra tiền tệ, cho nạn nhân.

Theo Igor Pustylnick (2009) [31] một hành vi được xem là gian lận khi hội đủ

các thành phần:

- Thủ phạm thực hiện gian lận: là người hoặc một nhóm người gây ảnh hưởng

đến kết quả của giao dịch trao đổi bằng cách thay thế hay loại bỏ vật trao đổi.

6

- Nạn nhân của hành vi gian lận là một bên trong giao dịch, người nhận đối

tượng trao đổi bị lỗi hoặc bị tước đối tượng này một phần hoặc hoàn toàn.

- Ngƣời thụ hƣởng là một cá nhân, tổ chức, hoặc một nhóm người, hưởng lợi

trực tiếp hoặc gián tiếp từ hành vi gian lận.

- Chủ thể gian lận là vật chất, tài sản, hoặc đối tượng tài chính, bị thay thế,

lấy đi, hoặc loại bỏ trong các hành vi gian lận.

1.1.2. Lịch sử phát triển gian lận

Gian lận đã xuất hiện cùng với sự tiến hóa của xã hội loài người, từ khi phân

chia giai cấp.

Hình thức ban đầu của gian lận là hành vi biển thủ tài sản của chung nhằm

thoả mãn các nhu cầu cá nhân. Gian lận phát triển cùng với sự ra đời và phát triển

của nền kinh tế, tồn tại sự tách rời giữa quyền sở hữu và chức năng quản lý. Sự tách

rời này đã làm phát triển hình thức gian lận mới đó là gian lận của người quản lý,

nhân viên đối với người chủ sở hữu. Biểu hiện của các hành vi này là tham ô, biển

thủ tài sản của công ty. Đến thế kỷ 20, với sự phát triển nhanh chóng của nền kinh

tế thế giới, đặc biệt là vai trò quan trọng của thị trường chứng khoán - một trong các

kênh huy động vốn hiệu quả của thị trường tài chính thế giới, làm phát sinh nhiều

loại gian lận mới được thực hiện bởi một số người trong Ban Giám đốc, nhân viên.

Ngày nay, sự sụp đổ của các doanh nghiệp lớn trên thế giới gây ra các cuộc

khủng hoảng tài chính, sự suy thoái về đạo đức nghiêm trọng từ đó đã thức tỉnh tầm

quan trọng trong việc ngăn chặn và phát hiện gian lận. (Tham khảo Phụ lục 1: Tổng

hợp các gian lận lớn trên thế giới)

7

1.1.3. Các nghiên cứu về gian lận

1.1.3.1. Về học thuật

o Edwin H. Sutherland (1883 – 1950)

Năm 1928 ông bắt đầu một nghiên cứu về hành vi vi phạm pháp luật trong bảy

tập đoàn lớn nhất tại Hoa Kỳ, từ đó thuật ngữ "tội phạm cổ cồn trắng" ra đời để chỉ

việc vi phạm nghề nghiệp của những người có địa vị xã hội, được xã hội kính trọng.

Sau hơn 20 năm nghiên cứu, tác phẩm “White Collar Crime” cuối cùng được hoàn

thành và xuất bản năm 1949.

Sutherland kiểm tra bốn loại hành vi của các tập đoàn lớn: quảng cáo sai lệch,

hạn chế thương mại, đối xử lao động không công bằng, và sự vi phạm bằng sáng

chế, bản quyền và thương hiệu. Ông đã phát hiện 980 hành vi vi phạm các điều trên

trong số 70 doanh nghiệp mà ông nghiên cứu (trung bình 14 vi phạm cho mỗi công

ty). Chín mươi phần trăm công ty vi phạm thường xuyên, với bốn hoặc nhiều hành

vi vi phạm. Sutherland dựa trên “lý thuyết kết hợp khác biệt” (lý thuyết do

Sutherland phát triển, lý thuyết này giải thích cách các cổ cồn trắng trở thành tội

phạm) để giải thích những hành vi này, và cho rằng các nhà điều hành trẻ sẵn sàng

vi phạm pháp luật nếu điều đó mang lại lợi ích trong kinh doanh. Ông xem tội phạm

cổ cồn trắng là mối đe dọa lớn hơn cho xã hội so với tội phạm đường phố bởi vì

chúng gia tăng sự hoài nghi và mất lòng tin của các tổ chức xã hội cơ bản.

Sutherland (1940, 1944) [50], [51] phân biệt tội phạm cổ cồn trắng và tội

phạm đường phố trong ba điểm chính. Thứ nhất, địa vị của các chuyên gia cổ cồn

trắng trong xã hội tạo ra phản ứng ngưỡng mộ và đe dọa. Các thành viên xã hội

ngưỡng mộ các chuyên gia nhưng cũng rất sợ sự trừng phạt nếu họ đối kháng với

các chuyên gia. Sự ngưỡng mộ và sự sợ hãi từ xã hội dẫn đến ít hình phạt hơn đối

với tội phạm cổ cồn trắng.

8

Thứ hai, các chuyên gia trong xã hội thường có uy tín cao làm giảm sự tin cậy

vào hệ thống xét xử tội phạm truyền thống, và ít hình phạt áp dụng đối với các

chuyên gia. Cho đến ngày nay, tố tụng dân sự, tráp tòa, tiền phạt, án treo thường

được áp dụng cho người phạm tội gian lận, bỏ qua các xem xét về khía cạnh “tội

phạm hình sự”.

Thứ ba, tội phạm cổ cồn trắng thường ít được nhận thức rõ ràng hơn tội phạm

đường phố, do các nguyên nhân: hậu quả do công chúng gánh chịu có thể kéo dài,

sự vi phạm có thể do hơn một cá nhân gây ra, và người thiệt hại có thể khó xác định

và không được tổ chức tốt. Sutherland (1940, 1944) [50] [51] cho rằng chế độ pháp

lý lúc đó chưa thật hữu hiệu với loại hình tội phạm cổ cồn trắng.

Khái niệm về tội phạm cổ trắng và nghiên cứu tiên phong này là sự phát triển

về khoa học tội phạm vô cùng quan trọng. Các khám phá này nhanh chóng là cảm

hứng cho các nghiên cứu về sau của các nhà nghiên cứu tội phạm học như Cressey,

Marshall Clinard, và Frank E. Hartung.

o Donald R. Cressey (1919 – 1987)

Donald R. Cressey bắt đầu nghiên cứu về tội phạm học từ hành vi biển thủ của

nhân viên. Bằng cách phỏng vấn các tù nhân trong Trại cải tạo Joliet bang Illinois,

ông đã nghiên cứu các đặc điểm chung của tội phạm cổ cồn trắng.

Cressey (1950, 1953) [19] [20] nêu ra ba giả thuyết về hành vi vi phạm sự tín

nhiệm: (1) Không chia sẻ các vấn đề khó khăn về tài chính; (2) hiểu biết về môi

trường làm việc và cơ hội vi phạm sự tín nhiệm; (3) khả năng tự điều chỉnh bản thân

về hành vi vi phạm. Cressey (1950, 1953) [19] [20] cho rằng gian lận xảy ra khi

thỏa đồng thời ba yếu tố: áp lực, cơ hội và hợp lý hóa, được gọi là lý thuyết tam

giác gian lận (Tham khảo Phụ lục 2 – Một số lý thuyết về gian lận)

o D.W.Steve Albrecht (1980)

9

Ông là một trong các nhà nghiên cứu tiên phòng hàng đầu về gian lận nghề

nghiệp. Cùng với hai đồng nghiệp khác, Howe và Romney, ông đã tiến hành khảo

sát 212 gian lận trong đầu những năm 1980. Các đối tượng khảo sát gồm các kiểm

toán viên nội bộ của các công ty có xảy ra gian lận.

Nghiên cứu của Albrecht cũng đề xuất ba thành phần cấu thành hành vi gian

lận, gọi là “Bàn cân gian lận”: Tình huống áp lực, cơ hội, và tính trung thực

(Albrecht và cộng sự, 1984) [8]. (Tham khảo Phụ lục 2 – Một số lý thuyết về gian

lận)

1.1.3.2. Nghiên cứu của các tổ chức nghề nghiệp

Cùng với các nghiên cứu học thuật cố gắng giải thích vì sao gian lận, cơ sở

nhận diện gian lận, mô hình hóa gian lận v.v… các tổ chức nghề nghiệp trên thế

giới cũng tiến hành các khảo sát nhằm định lượng thiệt hại do gian lận gây ra, phân

loại gian lận nhằm cảnh báo và tìm ra biện pháp ngăn chặn, phát hiện.

o COSO (2010)

Liên quan đến gian lận tài chính, Ủy ban quốc gia về chống gian lận báo cáo

tài chính của Hoa Kỳ (COSO) đã tiến hành các nghiên cứu mang lại các kết quả

đáng giá. Năm 1998, COSO xuất bản báo cáo “Landmark Study on Fraud in

Financial Reporting”, tiến hành khảo sát 10 năm từ năm 1987 đến năm 1997, với sự

tham gia của hơn 200 trường hợp gian lận do SEC điều tra. Tiếp theo, năm 2010,

COSO tiếp tục cuộc khảo sát trong giai đoạn từ 1998 – 2007 với 347 báo cáo tài

chính gian lận của các công ty niêm yết của Mỹ được phát hành thành ấn phẩm điện

tử “Fraudulent Financial Reporting: 1998 – 2007: An Anlysis of U.S. Public

Companies” [18]. (Tham khảo Phụ lục 3 – Tóm tắt kết quả nghiên cứu về gian lận

của một số tổ chức nghề nghiệp trên thế giới)

10

o PWC (2014)

Năm 2014 công ty kiểm toán PWC tiến hành khảo sát tội phạm kinh tế toàn

cầu trên 100 quốc gia, với hơn 5.000 đối tượng khảo sát và phát hành báo cáo dạng

điện tử “Economic crime: a threat to business process” [44]. Trong đó, báo cáo

thảo luận sâu các vấn đề xoay quanh việc so sánh kết quả của các đối tượng khảo

sát từ Hoa Kỳ và toàn cầu. Báo cáo cũng sử dụng “Tam giác gian lận” để giải thích

các hành vi gian lận. (Tham khảo Phụ lục 3 – Tóm tắt kết quả nghiên cứu về gian

lận của một số tổ chức nghề nghiệp trên thế giới)

o ACFE

ACFE là tổ chức nghiên cứu xu hướng gian lận và thống kê về gian lận tại

Hoa Kỳ. ACFE đã phát hành tám báo cáo mang tên “Report to the Nations on

Occupational Fraud and Abuse” vào các năm 1996, 2002, 2004, 2006, 2008, 2010,

2012 và 2014. Qua đó, ACFE đã khảo sát hàng trăm nhân viên điều tra gian lận

(CFE), kết quả cho thấy số tiền thất thoát do gian lận rất lớn và có xu hướng tăng

dần cũng như số vụ gian lận được báo cáo. (Tham khảo Phụ lục 3 – Tóm tắt kết quả

nghiên cứu về gian lận của một số tổ chức nghề nghiệp trên thế giới)

Hall và Singleton [33] cũng phác họa các đặc điểm thủ phạm gây ra các gian

lận lớn tương tự ACFE như sau: (a) nắm giữ vị trí quan trọng trong tổ chức, (b)

thường là nam giới, (c) trên 50 tuổi, (d) đã kết hôn, (e) được giáo dục cao. Từ đó có

thể rút ra rằng tội phạm cổ cồn trắng cũng là một dạng tội phạm nhưng có những

đặc điểm bên ngoài không giống tội phạm.

Không giống như cách phân loại gian lận theo mục đích của Bologna [13] đã

phân loại gian lận thành: Thủ phạm bên trong công ty chống lại lợi ích của công ty,

thủ phạm gian lận bên ngoài chống lại lợi ích công ty và các gian lận vì lợi ích công

ty, ACFE phân loại gian lận thành ba dạng chính: Gian lận báo cáo tài chính, biển

11

thủ tài sản và tham ô. Từng thành phần này lại bao gồm nhiều loại gian lận khác

nhau tạo thành cây gian lận (Phụ lục 4 - Cây gian lận theo ACFE).

1.2. Trách nhiệm phát hiện gian lận

1.2.1. Tổng quát từ các nghiên cứu của ACFE

Sau khi tổng quát các khía cạnh về gian lận như nguyên nhân gian lận từ các

nghiên cứu học thuật và các thủ thuật gian lận từ các nghiên cứu thực tế của các tổ

chức nghề nghiệp, vậy thì ai thường có trách nhiệm phát hiện ra các gian lận trên?

Theo các báo cáo về gian lận của ACFE, gian lận trên báo cáo tài chính chủ yếu do

các nhà điều hành thực hiện. Đây là loại gian lận có tần suất xuất hiện thấp nhưng

gây ra mức thiệt hại khổng lồ. Thủ phạm biển thủ tài sản thường là nhân viên và thủ

thuật vi phạm rất đa dạng và tinh vi, loại gian lận này hay xảy ra nhưng gây tổn hại

thấp trong ba loại gian lận theo cây gian lận. Nói cách khác mức thiệt hại do biển

thủ gian lận thường không trọng yếu, đặc biệt là các gian lận cá nhân, do đó theo

Tommie W. Singleton [53] kiểm toán độc lập và kiểm toán nội bộ khó có thể phát

hiện trong các cuộc kiểm toán báo cáo tài chính và các cuộc kiểm toán nội bộ thông

thường. Tham ô thường liên quan đến mối quan hệ giữa một người trong công ty và

một người bên ngoài công ty. Vì vậy, tham ô thường dựa trên giao dịch các bên liên

quan, mối quan hệ này thường ít được công khai minh bạch.

Bảng 1.1: Bảng tóm tắt các đặc điểm của gian lận theo ACFE

Nội dung Biển thủ tài sản Tham ô

Nhân viên Hai bên

Thủ phạm gian lận Quy mô gian lận Nhỏ nhất: 150.000 USD Trung bình: 538.000 USD

Gian lận trên Báo cáo tài chính Nhà quản lý điều hành Lớn nhất: Từ 1 triệu USD đến 258 triệu USD Ít nhất là 10,6% Trung bình: 30,8% Tần suất

Nhiều nhất là 91,5% Áp lực cá nhân Động lực Giá cổ phiếu,tiền thưởng Các khó khăn trong kinh doanh

12

Nội dung Biển thủ tài sản Tham ô Gian lận trên Báo cáo tài chính

Tùy thuộc Thủ phạm Trọng yếu Bên hƣởng lợi Trọng yếu Công ty và thủ phạm

Lớn Không trọng yếu Thủ phạm (Lợi ích của thủ phạm ngược với lợi ích của công ty) Nhỏ Tùy thuộc

Quy mô công ty có gian lận

Nguồn: Tommie W. Singleton (2010) tổng hợp từ Report to the Nation (2008)

Bảng 1.1 mô tả các đặc điểm của ba nhánh phân loại chính trên cây gian lận

(Tham ô, biển thủ tài sản, gian lận trên báo cáo tài chính). Một tổ chức có kiểm soát

nội bộ tốt dường như có thể ngăn chặn và phát hiện các gian lận trên. Tuy nhiên,

Tommie W. Singleton (2010) [53] phân tích tổng quát trách nhiệm chủ yếu nhất hay

thông thường nhất về phát hiện các gian lận của kiểm toán nội bộ, kiểm toán độc

lập.

Biển thủ tài sản thường có giá trị nhỏ nhưng có tần suất cao trong các nghiên

cứu của ACFE, thường do các nhân viên trực tiếp vi phạm. Mức thiệt hại gây ra nhỏ

hơn hai loại gian lận còn lại. Vì vậy theo Tommie W. Singleton (2010) [53] biển thủ

tài sản thường do kiểm toán nội bộ phát hiện.

Các gian lận trên báo cáo tài chính thường gây thiệt hại lớn, ảnh hưởng trọng

yếu do đó kiểm toán độc lập là cách hữu hiệu phát hiện ra gian lận này thông qua

kiểm toán báo cáo tài chính, theo Tommie W. Singleton (2010) [53] có ít nhất ba

nguyên nhân:

Thứ nhất, gian lận trên báo cáo tài chính thường gây ra thiệt hại lớn do đó

thường có trình bày sai lệch báo cáo tài chính một cách trọng yếu. Bên cạnh đó,

mục tiêu của kiểm toán độc lập là đảm bảo báo cáo tài chính được trình bày trung

thực, hợp lý tình hình tài chính của công ty trên các khía cạnh trọng yếu. Vì vậy,

các thủ tục kiểm toán báo cáo tài chính được thiết kế để phát hiện các sai sót trọng

13

yếu trên báo cáo tài chính. Ngược lại, biển thủ tài sản và tham ô có giá trị thiệt hại

nhỏ thường có mức trọng yếu thấp nên kiểm toán viên thường bỏ qua. Tuy nhiên

theo ACFE (2014) kiểm toán độc lập chỉ phát hiện được khoảng 3% các trường hợp

gian lận. Như vậy tồn tại sự khác biệt giữa kiểm toán báo cáo tài chính độc lập và

điều tra gian lận viên. Điều này sẽ được tiếp tục làm rõ trong các phần sau.

Thứ hai, thủ tục chọn mẫu của kiểm toán viên độc lập dựa trên mức trọng yếu,

không phải dựa trên rủi ro gian lận. Do đó, kiểm toán báo cáo tài chính phù hợp để

phát hiện các sai sót trọng yếu trên báo cáo tài chính.

Thứ ba, các gian lận trên báo cáo tài chính thường do nhà quản lý điều hành

vượt quyền kiểm soát, hay thông đồng với các nhà quản lý khác để sử dụng các lợi

thế chức quyền gây ảnh hưởng đến các bộ phận kiểm soát khác (ví dụ như kiểm

toán nội bộ) để thực hiện gian lận. Chính vì vậy, kiểm toán viên độc lập bên ngoài

không bị ảnh hưởng của các nhà quản lý điều hành, có thể phát hiện ra các gian lận

trọng yếu.

Bởi vì tham ô liên quan đến ít nhất hai bên, vì vậy để phát hiện tham ô cần tập

trung vào các quan hệ giữa các bên có liên quan, các mối quan hệ đó thường bị giấu

đi. Do đó Tommie W. Singleton (2010) [53] cho rằng, nếu gian lận tham ô đó trọng

yếu thì kiểm toán độc lập cần có trách nhiệm kiểm tra các giao dịch bên liên quan

để xem xét gian lận. Còn gian lận tham ô không tuân thủ quy định trong công ty thì

trách nhiệm kiểm tra chủ yếu thuộc về kiểm toán nội bộ.

1.2.2. Trách nhiệm phát hiện gian lận của kiểm toán viên độc lập theo chuẩn

mực quốc tế và Việt Nam.

Các phân tích của Tommie W. Singleton (2010) [53] dựa vào các báo cáo

nghiên cứu gian lận của ACFE. Các kết luận và phân loại gian lận của ACFE không

thay đổi qua nhiều năm nghiên cứu. Cho thấy các phân tích của Tommie W.

Singleton (2010) [53] báo hiệu một sự bùng nổ nhu cầu về điều tra gian lận toàn

14

diện. Bên cạnh đó, các chuẩn mực kiểm toán quốc tế và Việt Nam có tồn tại khoảng

cách trách nhiệm phát hiện gian lận của kiểm toán viên độc lập như kết luận của

Tommie W.Singleton (2010) [53] (Người viết không trình bày trách nhiệm pháp lý

của kiểm toán viên trong phạm vi bài nghiên cứu, do mục đích là làm rõ trách

nhiệm nghề nghiệp kiểm toán đối với gian lận)

1.2.2.1. Chuẩn mực kiểm toán quốc tế

Chuẩn mực kiểm toán quốc tế ISA 200 [32], đoạn 11, trình bày mục tiêu tổng

thể của cuộc kiểm toán như sau:

(a) Đạt được sự đảm bảo hợp lý rằng tổng thể báo cáo tài chính không có sai

sót trọng yếu, do gian lận hay nhầm lẫn, từ đó cho phép kiểm toán viên đưa ra ý

kiến về việc lập báo cáo tài chính, trên các khía cạnh trọng yếu, phù hợp với khuôn

khổ lập và trình bày báo cáo tài chính được áp dụng.

(b) Lập báo cáo kiểm toán về báo cáo tài chính và trao đổi thông tin theo quy

định của các chuẩn mực kiểm toán quốc tế ISA, phù hợp với các phát hiện của kiểm

toán viên.

ISA 200 [32] cho thấy mục tiêu tổng thể hay trách nhiệm chính của kiểm toán

viên độc lập là đưa ra ý kiến kiểm toán dựa trên các phát hiện trong cuộc kiểm toán

đảm bảo hợp lý báo cáo tài chính không có sai sót trọng yếu.

ISA 240 [32] định nghĩa gian lận: “Một hành vi cố ý do một hay nhiều cá nhân

trong Ban Giám đốc (Management), Ban Quản trị (Governance), nhân viên, hoặc

bên thứ ba thực hiện, bằng các hành vi gian dối, để thu lợi bất chính hoặc bất hợp

pháp” (Đoạn 11 mục (a)). Như vậy ISA 240 [32] phân loại gian lận thành hai thành

phần: gian lận do biển thủ (do nhân viên thực hiện), tham ô (từ cấp độ quản lý thực

hiện) tài sản và gian lận trên báo cáo tài chính. Cách phân loại này của ISA khái

quát hơn cây gian lận của ACFE. Do đó trách nhiệm của kiểm toán viên rộng hơn

so với phân tích của Tommie W. Singleton (2010) [53] dựa trên báo cáo của ACFE.

15

Cụ thể, ISA 240 [32] quy định rõ ràng trách nhiệm của Ban Quản trị và Ban

Giám đốc trong việc ngăn ngừa và phát hiện gian lận, với sự giám sát của Ban Quản

trị (Đoạn 4 ISA 240 [32]). Đối với mục tiêu của kiểm toán viên liên quan đến gian

lận, đoạn 10 ISA 240 [32] quy định như sau:

(a) Nhận diện và đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu trên báo cáo tài chính do

gian lận.

(b) Thu thập đủ các bằng chứng kiểm toán thích hợp liên quan đến rủi ro có

sai sót trọng yếu do gian lận thông qua thiết kế và thực hiện các biện pháp xử lý

thích hợp;

(c) Thực hiện các biện pháp xử lý thích hợp đối với gian lận đã được xác định

hoặc có nghi vấn trong quá trình kiểm toán.

Tóm lại, kiểm toán viên chịu trách nhiệm đạt được sự đảm bảo hợp lý rằng

liệu báo cáo tài chính, xét trên phương diện tổng thể, có còn sai sót trọng yếu do

gian lận hoặc nhầm lẫn hay không (Đoạn 4 ISA 240 [32])

Sự đảm bảo hợp lý của kiểm toán viên độc lập chỉ liên quan đến các gian lận

gây ra sai sót trọng yếu trên báo cáo tài chính hay nói cách khác gian lận ở cấp độ

báo cáo tài chính. Có hai loại trình bày sai một cách cố ý liên quan đến kiểm toán

viên: trình bày sai do gian lận trong lập báo cáo và trình bày sai do biển thủ tài sản

(Đoạn 3 ISA 240 [32]). Mặc dù kiểm toán viên có thể nghi ngờ hoặc, trong trường

hợp hiếm hoi, xác định sự xuất hiện của gian lận, kiểm toán viên không thực hiện

các quyết định pháp lý của việc gian lận đã thực sự xảy ra (Đoạn 3 ISA 240 [32]).

ISA 240 [32] còn nhấn mạnh rủi ro tiềm tàng kiểm toán viên không thể phát

hiện gian lận gây sai sót trọng yếu trên báo cáo tài chính do sự giả mạo tài liệu, sự

thông đồng che giấu tinh vi các gian lận… Rủi ro kiểm toán viên không thể phát

hiện sai sót trọng yếu do hành vi gian lận của cấp quản lý cao hơn hành vi gian lận

của cấp độ nhân viên, bởi vì nhà quản lý ở vị trí thuận lợi để tác động trực tiếp hay

16

gián tiếp lên sổ sách kế toán hoặc dễ dàng vượt quyền kiểm soát để vi phạm gian

lận.

Từ đó, cùng với ISA 200, ISA 240 yêu cầu kiểm toán viên phải duy trì thái độ

hoài nghi nghề nghiệp trong suốt cuộc kiểm toán, xem xét khả năng tồn tại sai sót

trọng yếu do gian lận, mặc dù kinh nghiệm quá khứ của kiểm toán viên về sự trung

thực và tính toàn vẹn ban quản lý và Ban Quản trị của đơn vị được kiểm toán. Các

thành viên trong nhóm kiểm toán phải thường xuyên thảo luận, trao đổi nhóm để

nắm bắt thông tin về đơn vị, về rủi ro gian lận trên các khoản mục. Kiểm toán viên

tiến hành thủ tục đánh giá rủi ro kinh doanh để nắm được tình hình hoạt động và

môi trường kinh doanh của công ty. Kiểm toán viên nên xác định và đánh giá rủi

ro có sai sót trọng yếu do gian lận ở cấp độ báo cáo tài chính, và cấp độ cơ sở dẫn

liệu cho từng nhóm nghiệp vụ, số dư tài khoản, sự trình bày và công bố. Biện pháp

xử lý tổng thể đối với rủi ro có sai sót trọng yếu trên báo cáo tài chính do gian lận đã

xác định: phân công và giám sát kiểm toán viên có kinh nghiệm đảm trách công

việc có rủi ro sai sót trọng yếu cao; Đánh giá việc áp dụng và lựa chọn chính sách

kế toán của công ty, đặc biệt liên quan đến các nghiệp vụ phức tạp, có dấu hiệu gian

lận trong việc lập báo cáo tài chính xuất phát từ nỗ lực nhằm điều chỉnh kết quả

kinh doanh của Ban Giám đốc hay không; Thay đổi hoặc bổ sung một số yếu tố

không thể dự đoán trước được khi lựa chọn nội dung, lịch trình và phạm vi của các

thủ tục kiểm toán. Kiểm toán phải đánh giá bằng chứng kiểm toán khi đưa ra kết

luận có sai sót trọng yếu hay không: thực hiện thủ tục phân tích khi hoàn thành cuộc

kiểm toán để xác định tính nhất quán của các thông tin tài chính trên báo cáo tài

chính và các hiểu biết của kiểm toán viên về đơn vị được kiểm toán; nếu phát hiện

ra sai sót, kiểm toán viên phải đánh giá xem sai sót đó có phải là biểu hiện gian lận

hay không, và phải đánh giá các tác động đến cuộc kiểm toán. Kiểm toán viên luôn

phải xem xét khả năng không thể tiếp tục hợp đồng kiểm toán, do kết quả của một

sai sót do gian lận hoặc nghi ngờ có gian lận. Kiểm toán viên phải thu thập giải

trình bằng văn bản của Ban Giám đốc hoặc/và Ban Quản trị về trách nhiệm của họ

đối với gian lận. Nếu kiểm toán viên xác định được hành vi gian lận hoặc thu thập

17

được thông tin cho thấy có thể có hành vi gian lận thì kiểm toán viên phải kịp thời

trao đổi các vấn đề này với Ban giám đốc/ Ban Quản trị phù hợp của đơn vị nhằm

thông báo với những người có trách nhiệm chính trong việc ngăn ngừa và phát hiện

gian lận về các vấn đề liên quan đến trách nhiệm của họ. Nếu xác định được hành vi

gian lận hoặc nghi ngờ có hành vi gian lận thì kiểm toán viên phải xác định liệu có

trách nhiệm phải báo cáo về hành vi gian lận hoặc nghi ngờ có hành vi gian lận đó

với bên thứ ba ngoài đơn vị hay không. Mặc dù trách nhiệm bảo mật thông tin của

khách hàng có thể không cho phép kiểm toán viên thực hiện việc báo cáo đó nhưng

trong một số trường hợp, trách nhiệm pháp lý của kiểm toán viên có thể cao hơn

trách nhiệm bảo mật đó. Kiểm toán viên phải lưu trong hồ sơ kiểm toán các bằng

chứng, tài liệu các cơ sở dẫn đến kết luận của mình.

ISA 250 [32] định nghĩa hành vi không tuân thủ pháp luật là các hành vi bỏ

sót hay vi phạm của đơn vị được kiểm toán, bất kể cố ý hay vô ý, trái với pháp luật

và các quy định hiện hành. Các hành vi này bao gồm các giao dịch do đơn vị thực

hiện dưới danh nghĩa của đơn vị hoặc do Ban Quản trị, Ban Giám đốc hoặc nhân

viên thực hiện thay mặt đơn vị. Hành vi không tuân thủ không bao gồm các sai

phạm mang tính cá nhân (không liên quan đến hoạt động kinh doanh của đơn vị) do

Ban Quản trị, Ban Giám đốc hoặc nhân viên của đơn vị gây ra. ISA 250 [32] quy

định và hướng dẫn trách nhiệm của kiểm toán viên về việc xem xét tính tuân thủ

pháp luật và các quy định của đơn vị được kiểm toán trong quá trình kiểm toán báo

cáo tài chính. Ban Giám đốc đơn vị được kiểm toán, dưới sự giám sát của Ban Quản

trị, có trách nhiệm đảm bảo các hoạt động của đơn vị được thực hiện theo pháp luật

và các quy định, bao gồm việc tuân thủ pháp luật và các quy định về các số liệu và

thuyết minh được trình bày trên báo cáo tài chính (Đoạn 3 ISA 250 [32]). Kiểm

toán viên có trách nhiệm phát hiện các sai sót trọng yếu của báo cáo tài chính do

hành vi không tuân thủ pháp luật và các quy định (Đoạn 4 ISA 250 [32]).

Như vậy khi so sánh cách phân loại gian lận của ACFE và Chuẩn mực kiểm

toán Quốc tế, gian lận tham ô (như gian lận đấu thầu vì lợi ích công ty) trong Cây

18

gian lận giống với cách phân loại hành vi không tuân thủ pháp luật của ISA. Tóm

lại, cách phân loại gian lận từ đó hình thành trách nhiệm chủ yếu phát hiện gian lận

giữa cây gian lận và ISA (240, 250) khá tương đồng.

1.2.2.2. Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam

Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam [2] soạn thảo dựa trên các chuẩn mực kiểm

toán Quốc tế có điều chỉnh để phù hợp với Việt Nam. Trong năm 2009 và 2010, Hội

Kiểm toán viên hành nghề Việt Nam (VACPA) đã:

(1) Ký thỏa thuận với Liên đoàn kế toán Quốc tế (IFAC) về việc dịch và sử

dụng Bộ Chuẩn mực kiểm toán Quốc tế do IFAC ban hành;

(2) Hoàn thành việc dịch sang tiếng Việt đối với 36 chuẩn mực kiểm toán

quốc tế (ISA 2009) và chuẩn mực ISQC 1 – Kiểm soát chất lượng dịch vụ của công

ty kiểm toán;

(3) tổ chức thảo luận, biên tập, hội thảo lấy ý kiến và biên tập hoàn chỉnh trình

Bộ Tài chính xem xét ban hành chuẩn mực kiểm toán (đợt 1) gồm 9 chuẩn mực

kiểm toán.

Trong năm 2010 và 2011, VACPA đã soạn thảo và hoàn thiện, trình Bộ Tài

chính 13 chuẩn mực kiểm toán Việt Nam (đợt 2). Trong năm 2011 và 2012,

VACPA đã soạn thảo và hoàn thiện, trình Bộ Tài chính 15 chuẩn mực kiểm toán

Việt Nam (đợt 3). Chuẩn mực mới có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2014 (theo

Thông tư 214/2012/TT-BTC về Ban hành hệ thống chuẩn mực kiểm toán Việt

Nam)

Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam (VSA) số 200 “Mục tiêu tổng thể của kiểm

toán viên” yêu cầu kiểm toán viên phải đạt được sự đảm bảo hợp lý về việc liệu báo

cáo tài chính, xét trên phương diện tổng thể, có còn sai sót trọng yếu do gian lận

hoặc do nhầm lẫn hay không. Sự đảm bảo hợp lý là sự đảm bảo ở mức độ cao và chỉ

19

đạt được khi kiểm toán viên đã thu thập được đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích

hợp nhằm làm giảm rủi ro kiểm toán (là rủi ro do kiểm toán viên đưa ra ý kiến

không phù hợp khi báo cáo tài chính còn có những sai sót trọng yếu) tới một mức

độ thấp có thể chấp nhận được. Tuy nhiên, sự đảm bảo hợp lý không phải là đảm

bảo tuyệt đối, do luôn tồn tại những hạn chế vốn có của cuộc kiểm toán làm cho hầu

hết bằng chứng kiểm toán mà kiểm toán viên dựa vào để đưa ra kết luận và ý kiến

kiểm toán đều mang tính thuyết phục hơn là khẳng định. (Đoạn 05)

Theo VSA 240 kiểm toán viên chỉ phải quan tâm đến những gian lận dẫn đến

sai sót trọng yếu trong báo cáo tài chính (Đoạn 03). Tuy nhiên, do những hạn chế

vốn có của kiểm toán, nên có rủi ro không thể tránh khỏi là kiểm toán viên không

phát hiện được một số sai sót làm ảnh hưởng trọng yếu đến báo cáo tài chính, kể cả

khi cuộc kiểm toán đã được lập kế hoạch và thực hiện theo các chuẩn mực kiểm

toán Việt Nam (Đoạn 05). Ngoài ra còn có các vấn đề khác ảnh hưởng đến hạn chế

vốn có của cuộc kiểm toán (Đoạn A51 – VSA 200)

Gian lận, đặc biệt là gian lận có liên quan đến Ban Giám đốc hoặc có sự

thông đồng (VSA 240)

Tính hiện hữu và đầy đủ của các mối quan hệ và giao dịch với các bên liên

quan (VSA 550)

Hành vi không tuân thủ pháp luật và các quy định (VSA 250)

Các sự kiện hoặc điều kiện trong tương lai có thể ảnh hưởng đến khả năng

hoạt động (VSA 570)

Mặt khác, rủi ro có sai sót trọng yếu do gian lận hoặc do nhầm lẫn được phát

hiện sau đó không phải là dấu hiệu về việc cuộc kiểm toán đã không được thực hiện

theo các chuẩn mực kiểm toán. Tuy nhiên, kiểm toán viên không được sử dụng các

hạn chế vốn có của cuộc kiểm toán để biện hộ cho sự hài lòng của mình đối với các

bằng chứng kiểm toán chưa đủ thuyết phục. Để xác định cuộc kiểm toán có được

thực hiện theo các chuẩn mực kiểm toán hay không, cần dựa vào các thủ tục kiểm

toán được thực hiện trong hoàn cảnh cụ thể, tính đầy đủ và thích hợp của các bằng

20

chứng kiểm toán đã thu thập và sự phù hợp của báo cáo kiểm toán trên cơ sở đánh

giá các bằng chứng đó trong mối quan hệ với mục tiêu tổng thể của kiểm toán viên

(Đoạn A52 VSA 200)

Việc ngăn ngừa và phát hiện gian lận trước hết thuộc về trách nhiệm của Ban

quản trị và Ban Giám đốc đơn vị được kiểm toán. Điều quan trọng là Ban Giám

đốc, với sự giám sát của Ban quản trị, phải đặc biệt chú ý đến việc ngăn ngừa gian

lận nhằm làm giảm bớt các cơ hội thực hiện hành vi gian lận và phát hiện gian lận

qua đó thuyết phục các cá nhân không thực hiện hành vi gian lận vì khả năng bị

phát hiện và xử phạt. Trách nhiệm này bao gồm việc cam kết tạo ra văn hóa trung

thực và hành vi có đạo đức mà có thể được tăng cường bằng hoạt động giám sát tích

cực của Ban quản trị. Trong khi thực hiện trách nhiệm giám sát của mình, Ban quản

trị phải xem xét khả năng xảy ra hành vi khống chế kiểm soát hoặc hành động gây

ảnh hưởng không thích hợp đến quy trình lập và trình bày báo cáo tài chính, ví dụ

việc Ban Giám đốc cố gắng điều chỉnh kết quả kinh doanh để các nhà phân tích hiểu

không đúng về hiệu quả hoạt động và khả năng sinh lời của đơn vị được kiểm toán

(Đoạn 04 – VSA 240)

1.3. Giới thiệu kế toán điều tra

1.3.1. Khái quát về kế toán điều tra

Về lịch sử phát triển, kế toán điều tra chắc chắn không phải là lĩnh vực mới.

Chuyên môn này đã tồn tại rất lâu mặc dù trước đó nó không được gọi là kế toán

điều tra. Tại Ai Cập cổ đại, các nhân viên có chịu trách nhiệm quản lý kho thóc,

vàng và các tài sản khác của Pharaoh được gọi là “tai và mắt” của Pharaoh. Các

công việc này có bản chất của kế toán điều tra. Theo Crumbley (2001) [21], bằng

chứng cho sự tồn tại của kế toán điều tra có thể quay lại năm 1817 trong phiên xét

xử Meyer v. Sefton của Tòa án Canada liên quan đến xác định giá trị bất động sản

của vụ phá sản. Tại toà, người đã kiểm tra giá trị tài sản được yêu cầu làm nhân

chứng xác nhận trước toà giá trị tài sản thanh lý của vụ phá sản, vì không thể tiến

21

hành một cuộc điều tra tại Toà án. Đến năm 1824, tại Glasgow, Scotland, một kế

toán trẻ tên James McClelland đã phát hành giấy báo quảng cáo về chuyên môn hỗ

trợ trong các vụ án trọng tài, hay tòa án [9]. Vào cuối những năm 1800 đầu những

năm 1900, đã xuất hiện các bài báo bàn luận về nhân chứng giám định (Expert

Witness), bằng chứng pháp lý (Evidence Arbitration) và tiền phí. Như vậy, kế toán

điều tra bắt nguồn từ công việc giám định bằng chứng trước tòa (Expert

Witnessing).

Mặc dù công việc kế toán điều tra (Forensic Accounting) đã tồn tại từ lâu

nhưng không có tài liệu nào ghi nhận cho đến khi Maurice E. Peloubet, một chủ

phần hùn (partner) tại một công ty kế toán kiểm toán công chứng ở New York lần

đầu tiên xuất bản một bài báo sử dụng thuật ngữ “Forensic Accounting”. Theo

Peloubet (1946) [38], cả kế toán công chứng và kế toán viên đều thực hiện kế toán

điều tra (Forensic Accounting), sử dụng kết quả cho mục đích pháp lý. Kế toán điều

tra luôn bao gồm điều tra thu thập bằng chứng về gian lận, xác định thiệt hại do gian

lận gây ra, cuối cùng là giải trình kết quả tại tòa án.

Đến đầu những năm 1950, các bài báo, bài thảo luận về nhân chứng giám định

xuất hiện ngày càng nhiều. Toàn bộ các tập báo Iowa Law Review xuất bản trong

năm 1951 đều bàn luận về sự tương quan giữa luật và kế toán [24]. Max Lourie,

một luật sư làm việc tại Tòa án Tối cao New York, đã viết một bài báo năm 1953

[39], nêu ra ba ý quan trọng liên quan đến nghề nghiệp kế toán điều tra:

Kế toán viên không nên tham gia trường luật để học về kỹ năng chứng thực

chuyên môn kế toán (Expert Testimony)

Các trường cao đẳng, trường đại học nên đào tạo về kế toán điều tra

(Forensic Accounting)

Nên xuất bản các sách giáo khoa, sách tham khảo về kế toán điều tra cho

sinh viên.

22

1.3.1.1. Định nghĩa về kế toán điều tra

Dịch vụ kế toán điều tra xuất hiện ở các nước phát triển trong những năm

1980 để đáp ứng nhu cầu phát triển của nền kinh tế thị trường và hoàn thiện hệ

thống pháp luật. Theo Xianghua Hao (2010) [54], kế toán điều tra thường do một

bên thứ ba độc lập thực hiện, và thông qua các thủ tục và phương pháp nhất định để

khảo sát, tính toán, phân tích và quản lý các chỉ tiêu tài chính, tổn thất kinh tế, hoặc

các vấn đề pháp lý trong việc quản lý các xung đột lợi ích kinh tế, và lập các báo

cáo kế toán điều tra, cung cấp các tài liệu tham khảo cho tòa án hoặc cơ quan trọng

tài hoặc cơ quan quản lý, xác nhận trách nhiệm pháp lý, hoặc cung cấp dịch vụ tư

vấn quản lý. Kế toán điều tra xuất hiện do sự phát triển của môi trường kinh tế, sự

phát triển của nghề nghiệp.

Theo Apostolou, Hassell, và Webber, (2000) [12] kế toán điều tra là sự kết

hợp chuyên môn kế toán, kiểm toán và các kỹ năng điều tra để hỗ trợ các vấn đề

pháp lý. Đây là một lĩnh vực chuyên ngành kế toán nhằm cam kết xác định kết quả

các vụ tranh chấp, kiện tụng thực tế hoặc dự kiến. Kế toán điều tra có thể, do đó,

được xem như là một lĩnh vực của kế toán, kết hợp với mục đích pháp lý và cung

cấp mức độ đảm bảo cao nhất.

1.3.1.2. Công việc kế toán điều tra

Kế toán điều tra trong tiếng Anh là Forensic Accounting, “Forensic” trong từ

điển Webster [55] có nghĩa là “belonging to, used in, or suitable to courts of

judicature or to public discussions and debate” nghĩa là được dùng cho Tòa án pháp

luật. Theo nghĩa này, kế toán điều tra là một lĩnh vực của kế toán kết hợp với chức

năng tư pháp. Năm 1986, Theo Hiệp hội kế toán viên công chứng Hoa Kỳ AICPA,

kế toán điều tra bao gồm hai lĩnh vực: (1) Hỗ trợ pháp lý (Litigation Support) và (2)

điều tra kế toán (Investigative Accounting).

23

(1) Hỗ trợ pháp lý (Litigation Support): là sự hỗ trợ chuyên môn kế toán trong

các vấn đề liên quan đến pháp lý. Nó chủ yếu liên quan đến việc định lượng giá trị

thiệt hại.

Theo Hiệp hội kế toán viên công chứng Hoa Kỳ AICPA, dịch vụ pháp lý là

hoạt động hỗ trợ không liên quan đến công việc luật sư được thực hiện bởi các

chuyên gia chuyên ngành cung cấp kết quả cho luật sư. AICPA đã phát hành bản

Hỗ trợ thực hành 7 (Practice Aid 7) [37] mô tả sáu hoạt động của dịch vụ hỗ trợ

pháp lý trong bảng 1.3 bên dưới:

Bảng 1.2: Các loại dịch vụ hỗ trợ pháp lý

Định giá Giá trị doanh nghiệp Hưu trí Giá trị vô hình Tài sản Tƣ vấn tổng quát Phân tích thống kê bảo hiểm Phân tích thống kê Dự án

Xác định giá trị thiệt hại Lợi nhuận lỗ Giá trị Dòng tiền Doanh thu Chi phí tăng them Phân tích chống độc quyền Giá cố định (Price-fixing) Thị phần Định giá dưới giá thành Bán phá giá và các hành vi phân biệt giá khác Hệ thống kỹ thuật công nghiệp Các hành động chống cạnh tranh Sự độc quyền Kế toán Phá sản Kiểm tra Chi phí và bồi thường hợp đồng

Phân tích thị trường Tư vấn hệ thống thông tin Phân tích Thuế Phân bổ chi phí Ứng xử thuế trong các nghiệp vụ đặc biệt Tuân thủ quy định công nghiệp Gian lận (Dân sự và hình sự) Phân tích số liệu Luật hôn nhân gia đình

Nguồn: Practice Aid 7, AICPA, 1986

(2) Điều tra kế toán (Investigative Accounting): là việc tìm kiếm bằng chứng

xác định thủ phạm như điều tra biển thủ tài sản của nhân viên, hoặc tìm kiếm bằng

24

chứng làm cơ sở bồi thường thiệt hại như bồi thường bảo hiểm, bồi thường tai nạn

lao động v.v…

1.3.1.3. Phân biệt kế toán điều tra (Forensic Accounting)

Kế toán điều tra bao gồm hoạt động điều tra gian lận (Fraud Investigation) hay

kiểm toán gian lận (Fraud Audit), nhưng ngược lại điều tra gian lận (Fraud

Investigation) hay kiểm toán gian lận (Fraud Audit) không được xem là kế toán điều

tra (Forensic Accounting). Như vậy ta cần phân biệt các thuật ngữ này với nhau. Và

phân biệt kế toán điều tra và kiểm toán độc lập để hiểu rõ hơn về kế toán điều tra.

Kiểm toán gian lận (Fraud Auditing) là việc dùng các kỹ thuật và phương pháp

chuyên môn để phát hiện gian lận; hay nói cách khác, kiểm toán viên tìm kiếm các

bằng chứng làm cơ sở phát hiện gian lận. Mục đích của kiểm toán gian lận hay việc

điều tra gian lận (Fraud Investigation) là chấp nhận hoặc bác bỏ sự tồn tại của gian

lận. Dựa vào các nghiên cứu trước, kế toán điều tra chỉ được yêu cầu sau khi có

bằng chứng hoặc nghi ngờ gian lận đã xảy ra do sự tố giác, phàn nàn hoặc sự phát

hiện tình cờ.

Kiểm toán gian lận có thể là kế toán viên hay kiểm toán viên thỏa các yêu cầu

đạo đức về nghề nghiệp, có chuyên môn cao trong phát hiện và chứng minh gian lận

trên sổ sách kế toán trong các nghiệp vụ và sự kiện. Nói cách khác, kiểm toán gian

lận là công việc phát hiện, ngăn ngừa, và chỉnh sửa gian lận dựa trên sự đảm bảo

hợp lý (loại bỏ gian lận hoàn toàn là không khả thi do các hạn chế vốn có) (Tommie

W. Singleton [53])

Kế toán điều tra được đào tạo, có kinh nghiệm, hiểu biết các cách thức khác

nhau trong điều tra gian lận bao gồm: cách phỏng vấn (đặc biệt là phỏng vấn nghi

phạm), cách viết báo cáo dành cho khách hàng và Tòa án, cách trình bày bằng

chứng chuyên môn (Expert Testimony) tại Tòa án, và nguyên tắc của chứng cớ.

25

Như vậy, kiểm toán gian lận (Fraud Auditing) chỉ là một phần công việc của kế toán

điều tra.

Điều tra gian lận (Fraud Investigation) tương tự như kiểm toán gian lận (Fraud

Auditing), ngoại trừ cách điều tra thu thập nhiều bằng chứng phi tài chính, như

phỏng vấn, hơn là kiểm toán gian lận.Vì vậy, điều tra gian lận bao gồm kiểm toán

gian lận nhưng thu thập nhiều bằng chứng phi tài chính.

Kiểm toán báo cáo tài chính (Financial Auditing) hoàn toàn khác so với kế

toán điều tra và kiểm toán gian lận. Kiểm toán báo cáo tài chính cung cấp sự đảm

bảo hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu rằng báo cáo tài chính được trình bày theo

các chuẩn mực không còn có các sai sót trọng yếu.

Như phân tích ở phần 1.2.1, kiểm toán báo cáo tài chính chịu trách nhiệm về

các gian lận trên báo cáo tài chính. Các kỹ thuật kiểm toán báo cáo tài chính được

thiết kế để phát hiện các sai sót tính gộp hay riêng rẽ đủ lớn để trở nên trọng yếu.

Kiểm toán gian lận và kế toán điều tra không dựa trên mức trọng yếu. Công việc

của kiểm toán báo cáo tài chính hay chương trình kiểm toán được liệt kê thành các

mục cần phải hoàn thành, để có thể phát hành ý kiến kiểm toán về sự đảm bảo hợp

lý rằng báo cáo tài chính không còn sai sót trọng yếu.

Tóm lại, kiểm toán gian lận (Fraud Auditors), kế toán điều tra (Forensic

Accounting), điều tra gian lận (Fraud Investigation) thường đặt các thông tin cùng

với nhau hơn là tách riêng các thông tin như kiểm toán báo cáo tài chính truyền

thống. Phương pháp suy luận của kế toán điều tra thường là quy nạp hơn diễn dịch.

Kiểm toán báo cáo tài chính không có mục tiêu chính là phát hiện gian lận như kiểm

toán gian lận hay điều tra gian lận.

26

Bảng 1.3: Bảng tóm tắt phân biệt các thuật ngữ kế toán điều tra, kiểm toán gian

lận, kiểm toán điều tra, kiểm toán báo cáo tài chính truyền thống.

Mục tiêu

Kế toán điều tra (Forensic Accounting) Kiểm toán gian lận (Fraud Auditting) Kiểm toán điều tra (Investigative Auditing)

thập

Là một hoạt động thuộc kế toán điều tra, tìm kiếm bằng chứng và chứng minh về gian lận. bằng Thu chứng để có thể chứng minh trước lận, Tòa về gian định giá, chống độc quyền v.v…

Kiểm toán báo cáo tài chính (Financial Accounting) KTV đưa ra ý kiến trên cơ sở rủi ro về việc trình bày báo cáo tài chính một trung cách thực trên các hợp lý trọng khía cạnh yếu, phù hợp với các Chuẩn mực và quy định có liên quan. Xem xét các tài liệu tài chính cho các mục đích cụ thể, có thể liên quan đến hỗ trợ pháp lý và xác định các yêu cầu bồi thường bảo hiểm cũng như tội các vấn đề phạm hình sự

1.3.2. Một số nghiên cứu về kế toán điều tra

Fadzly, M.N. và Ahmad, Z. (2004) [26] sử dụng phương pháp định lượng

nhằm chứng minh sự tồn tại khoảng cách kỳ vọng kiểm toán tại Malaysia với bảng

câu hỏi khảo sát được phân phát cho 1.300 đối tượng (300 kiểm toán viên, 400 nhà

đầu tư, 300 chuyên viên môi giới, 300 chuyên viên ngân hàng) . Dựa vào dữ liệu

phân tích hợp lệ của 398 đối tượng (chiếm 30,6% tỷ lệ hồi đáp), tác giả kết luận,

Malaysia tồn tại khoảng cách kỳ vọng về trách nhiệm của kiểm toán viên trong phát

hiện và ngăn chặn gian lận giữa nhóm phi kiểm toán và nhóm kiểm toán. Vì vậy, tác

giả đề xuất tăng cường các tài liệu tham khảo về trách nhiệm của kiểm toán viên

nhằm giảm thiểu các khoảng cách không hợp lý. Như vậy, mong muốn đạt được kết

quả phát hiện và ngăn chặn gian lận không thể tiếp cận từ kiểm toán truyền thống

mà từ một khái niệm mới đang dần trở nên thiết thực – Kế toán điều tra (Forensic

Accounting).

27

Kasum (2009) [34] đánh giá ảnh hưởng của các gian lận tài chính tại các nước

đang phát triển và xác định nhu cầu dịch vụ kế toán điều tra giữa khu vực công và

khu vực tư tại Nigeria. Tác giả tiến hành khảo sát 300 đối tượng gồm kế toán, luật

sư, các nhà kinh tế, chuyên viên ngân hàng; và có 264 phiếu khảo sát hợp lệ để tiến

hành phân tích, kiểm định các giả thuyết nghiên cứu. Kết quả phân tích cho thấy

gian lận và tham ô không những kiềm hãm sự phát triển kinh tế, ảnh hưởng tiêu cực

đến đời sống người dân mà còn tạo ra hình ảnh xấu tại các nước đang phát triển, vì

vậy, dịch vụ kế toán điều tra được xem như công cụ phát hiện và ngăn ngừa gian lận

hữu hiệu, đặc biệt là nhu cầu dịch vụ kế toán điều tra tại khu vực công. Từ đó, tác

giả khuyến nghị Hội nghề nghiệp kế toán tại các nước đang phát triển cần sớm hình

thành và phát triển lĩnh vực kế toán điều tra; Chính phủ nên áp dụng kế toán điều tra

nhằm giám sát và điều tra các gian lận tham ô; Các nhà nghiên cứu học thuật cần

nghiên cứu và phát triển các kỹ thuật về kế toán điều tra; các chuyên gia kế toán nên

thành lập các công ty chuyên về dịch vụ kế toán điều tra.

Cemal Elitas và cộng sự (2011) [15] khảo sát ý kiến của 144 đối tượng liên

quan đến chuyên ngành kế toán tại các trường đại học Thổ Nhĩ Kỳ có học vị gồm

4,2% cử nhân; 22,2% thạc sỹ; 73,6% tiến sỹ. Dữ liệu được xử lý bằng phần mềm

SPSS 15. Cuộc nghiên cứu đo lường mức độ nhận biết của các đối tượng trên về kế

toán điều tra – một chuyên môn mới chưa áp dụng tại Thổ Nhĩ Kỳ. Câu hỏi khảo sát

được thiết kế theo thang đo Likert 5 mức độ. Kết quả cho thấy, giữa các nhóm khảo

sát có sự đồng thuận cao rằng với sự phát triển pháp lý hiện tại, Thổ Nhĩ Kỳ sẵn

sàng triển khai kế toán điều tra; các đối tượng khảo sát cũng mong muốn có các tổ

chức thực hiện hướng dẫn, tổ chức các buổi hội thảo v.v…; bên cạnh đó, cần có bậc

học sau đại học để đào tạo sâu hơn về chuyên môn kế toán điều tra.

Efiong (2012) [25] thiết kế nghiên cứu thực nghiệm khảo sát 168 sinh viên kế

toán năm thứ ba và năm thứ tư tại 3 trường đại học của Nigeria về kế toán điều tra,

gồm đại học Calabar, đại học Công nghệ Cross River và đại học Uyo thông qua

bảng câu hỏi thang đo Likert 5 mức độ. Kết quả khảo sát cho thấy mức độ nhận biết

28

thấp về sự tồn tại của kế toán điều tra của sinh viên. Các sinh viên đồng ý về sự tồn

tại của kế toán điều tra, trả lời nguồn thông tin về kế toán điều tra từ Internet chiếm

36,6%; sách giáo khoa chiếm 10%; thông qua lớp học chỉ chiếm 12,22%... cho thấy

kiến thức về kế toán điều tra trong giảng đường đại học là thấp.

Kennedy (2013) [35] tiến hành khảo sát 143 đối tượng thuộc bốn nhóm: kiểm

toán viên nội bộ, kiểm toán viên độc lập, kế toán viên, các nhà quản lý, trong đó có

37% là thạc sỹ khoa học, 47% là cử nhân kinh tế, và 16% là các học vị khác, thông

qua bảng câu hỏi khảo sát Likert 5 mức độ nhằm kiểm định các giả thuyết về ảnh

hưởng của kế toán điều tra đến kiểm soát gian lận tài chính, mối quan hệ giữa kế

toán điều tra và chất lượng của báo cáo tài chính, và vai trò của kế toán điều tra đến

việc cải thiện kiểm soát nội bộ. Bài nghiên cứu thực nghiệm đã cung cấp cơ sở khoa

học cho các giả thuyết về ngăn ngừa gian lận tài chính của kế toán điều tra tại

Nigeria thông qua mức độ đồng ý cao của các nhóm khảo sát về các giả thuyết

nghiên cứu trên. Từ đó, tác giả khuyến nghị Viện Kế toán Nigeria, Hiệp hội Kế toán

quốc gia Nigeria, và Ủy ban các Đại học quốc gia Nigeria nên phát triển và chuyên

môn hoá về kế toán điều tra; ngoài ra, các cơ quan Nhà nước tại Nigeria nên áp

dụng kế toán điều tra trong giám sát và điều tra về tham nhũng.

Okoye & Gbegi (2013) tiến hành kiểm định giả thuyết nghiên cứu về nhu cầu

kế toán điều tra trong việc phát hiện và ngăn ngừa gian lận tại các tổ chức thuộc khu

vực công tại Kogi State, Nigeria. Dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ 350 nhân

viên từ 5 cơ quan bộ ngành tại Kogi State (Bộ Tài chính, Bộ Tư pháp, Bộ Nội vụ,

Bộ Kế hoạch và Ngân sách, Bộ Công nghiệp và Thương mại) trên 370 phiếu khảo

sát được phát ra. Bằng phương pháp kiểm định ANOVA, kết quả nghiên cứu cho

thấy việc áp dụng kế toán điều tra làm giảm đáng kể các trường hợp vi phạm gian

lận tại khu vực công, đặc biệt đối với nhận định của các kế toán điều tra viên và

kiểm toán viên độc lập, vì vậy việc áp dụng kế toán điều tra giúp phát hiện và ngăn

ngừa hữu hiệu các trường hợp gian lận. Từ đó, dịch vụ kế toán điều tra nên thay thế

dịch vụ kiểm toán độc lập truyền thống tại Kogi State, do đó, cần triển khai đào tạo

29

về lĩnh vực kế toán điều tra và cần thiết xây dựng, phát triển các chuẩn mực nghề

nghiệp liên quan.

1.3.3. Kinh nghiệm phát triển kế toán điều tra tại một số nƣớc trên thế giới

1.3.3.1. Canada

Tại Canada, kế toán điều tra được xem như một nghề nghiệp chuyên môn.

Hiệp hội kế toán Canada (The Certified General Accountants Association of

Canada) công nhận kế toán điều tra là một ngành nghề mới, và hợp tác cùng với

Hiệp hội kế toán công chứng Canada (Canadian Institute of Chartered Accountants)

xây dựng chuẩn mực phù hợp.

1.3.3.2. Australia

Kế toán điều tra có cơ hội làm việc trong các ngành kinh tế, giáo dục, văn

phòng luật sư, các cơ quan Nhà nước như Ủy ban Chứng khoán và Đầu tư Australia

(Australian Securities and Investment Commission), Cơ quan Thuế vụ Australia

(Australian Tax Office), Cơ quan An ninh Kinh tế Australia (Financial Action Task

Force)… Các tổ chức chuyên ngành sẽ hợp tác cùng Hiệp hội kế toán viên công

chứng hành nghề Australia ( Certified Public Accountants) và Viện kế toán công

chứng Australia ( Institute of Chartered Accountants of Australia) về chuyên môn

kế toán điều tra. Bên cạnh đó, Australia là một trong các nước đầu tiên có chương

trình giảng dạy về kế toán điều tra bậc sau đại học. Bậc học thạc sĩ về kế toán điều

tra đào sâu về khả năng điều tra gian lận. Các khóa học được xây dựng trên nền tảng

các nghiên cứu bậc đại học và sau đại học kết hợp các kinh nghiệm thực tế trong

các lĩnh vực pháp luật, quản trị doanh nghiệp, tài chính, và các chuẩn mực đạo đức

nghề nghiệp v.v…

1.3.3.3. Hoa Kỳ

Sau cuộc khủng hoảng tài chính kế toán Enron, WorldCom, Xerox, đạo luật

Ssarbanes – Oxley được Quốc hội Mỹ thông qua nhằm tăng cường tính minh bạch

30

của thị trường và lấy lại sự tin cậy của các nhà đầu tư. Đạo luật trên đã mở ra một

chuyên ngành mới, điều tra gian lận cho kế toán điều tra, dựa trên yêu cầu ban quản

trị công ty xác nhận báo cáo tài chính không còn các sai sót và gian lận trọng yếu.

Tại Hoa Kỳ, kế toán điều tra có nhiều cơ hội làm việc tại Cơ quan điều tra liên

bang Hoa Kỳ (FBI), Cục tình báo Trung ương (CIA), Sở thuế vụ địa phương (IRS),

Ủy ban Thương mại liên bang (FTC), Văn phòng kiểm toán hoạt động của Chính

phủ (GAO) và các cơ quan khác. Văn phòng kiểm toán hoạt động của Chính phủ

(GAO) xây dựng hệ thống FraudNet (địa chỉ email, fax, số điện thoại phản ánh trực

tiếp) nhằm ghi nhận các phản ánh của người dân (thông tin người phản ánh được

bảo mật) về các hành vi lãng phí, gian lận, biển thủ, lạm quyền theo Đạo luật Phục

hồi và Tái đầu tư năm 2009.

Bên cạnh đó, phần mềm và hệ thống thông tin kế toán tại Hoa Kỳ phát triển

nhanh chóng tạo đà phát triển các kỹ thuật của kế toán điều tra nhằm phát hiện các

gian lận.

1.4. Tóm tắt chƣơng 1

Từ đầu thế kỷ 21 đến nay, trên thế giới đã trải qua hai đợt khủng hoảng tài

chính toàn cầu. Đó là cuộc khủng hoảng do sự phá sản của các công ty hàng đầu

trên thế giới vào những năm 2000, trong đó có liên quan đến sai phạm của công ty

kiểm toán quốc tế lớn là Authur Andersen khiến cho công ty này đã bị chấm dứt

hoạt động. Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu gần đây vào năm 2009 dù không

kèm theo sự phá sản của một công ty kiểm toán quốc tế lớn nào nhưng ngành kiểm

toán toàn cầu cũng bộc lộ các khiếm khuyết cần phải điều chỉnh cho phù hợp. Kế

toán điều tra (Forensic Accounting), thuật ngữ trở nên phổ biến từ năm 1946 từ bài

báo của Maurice E. Peloubet, là sự kết hợp kỹ năng kế toán và kiểm toán nhằm thu

thập bằng chứng phục vụ các vấn đề pháp lý. Tuy kế toán điều tra tương tự như

kiểm toán, trong thu thập bằng chứng, nhưng nó không hoàn toàn giống kiểm toán

vì kế toán điều tra có chức năng tư pháp hỗ trợ các vấn đề pháp lý mà kiểm toán

31

không có. Mặt khác, kiểm toán báo cáo tài chính không phát hiện gian lận do thủ

tục chọn mẫu, các thủ tục kiểm toán được thiết kế nhằm phát hiện các gian lận, sai

sót trọng yếu, và sự hạn chế về nguồn lực. Tam giác gian lận, lý thuyết về nguyên

nhân của hành vi gian lận, là phương pháp suy luận hữu ích cho kế toán điều tra khi

phân tích các dấu hiệu gian lận lá cờ đỏ trong phát hiện và ngăn ngừa gian lận.

32

CHƢƠNG 2

THỰC TRẠNG NHU CẦU KẾ TOÁN ĐIỀU TRA TẠI VIỆT NAM

2.1. Tình hình gian lận tại Việt Nam từ năm 2009 đến nay

2.1.1. Một số loại tội phạm kinh tế trong luật pháp Việt Nam

2.1.1.1. Tội tham ô tài sản

Khái niệm:

Điều 278, Chương XXI – Các tội phạm về chức vụ của Bô luật Hình sự nước

Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm 1999 quy định tội tham ô tài sản như

sau “Người lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản mà mình có trách nhiệm

quản lý”. Như vậy tham ô tài sản là hành vi vì mục đích tư lợi đã lợi dụng chức vụ,

quyền hạn để chiếm đoạt tài sản mà mình có trách nhiệm quản lý.

Tác hại của tội phạm tham ô tài sản:

+ Về kinh tế: Tội tham ô tài sản xâm phạm quyền sở hữu tài sản của Nhà nước, của

tập thể; làm thất thoát, lãng phí về tài sản, làm mất cân đối thu chi ngân sách Nhà

nước, tác động trực tiếp đến hiệu quả thực hiện chương trình kinh tế xã hội, cản trở

việc thực hiện chính sách của Đảng, Nhà nước.

+ Về tư tưởng: Làm suy giảm lòng tin của quần chúng nhân dân, của Đảng viên đối

với sự lãnh đạo của Đảng và hiệu lực quản lý của Nhà nước (PGS.TS – Nguyễn

Đình Hựu, 2005) [3].

2.1.1.2. Tội cố ý làm trái các quy định về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm

trọng.

Khái niệm:

33

Điều 165, Bộ luật hình sự nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm

1999 quy định tội cố ý làm trái gây hậu quả nghiêm trọng, như sau: “Người lợi dụng

chức vụ, quyền hạn cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế”.

Dấu hiệu về mặt hành vi của tội phạm:

Hành vi khách quan của tội cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý

kinh tế chính là hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn làm trái quy định của Nhà

nước về quản lý kinh tế, bao gồm hai trường hợp:

Thứ nhất: Không làm những quy định của Nhà nước đã đề ra trong quản lý

kinh tế.

Thư hai: Có làm nhưng làm không đầy đủ hoặc làm nhưng làm khác với quy

định của Nhà nước đề ra.

Hành vi làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế được coi là hệ quả

của hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn; hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn là

tiền đề, là thủ đoạn mà người phạm tội sử dụng để làm trái với quy định của Nhà

nước về quản lý kinh tế (Nguyễn Văn Minh, 2007) [5].

2.1.1.3. Tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Khái niệm:

Điều 139 Chương XIV Tội xâm phạm sở hữu Bộ luật hình sự nước Cộng hòa

Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm 1999 quy định về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

như sau “Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác…”

Đặc điểm của Tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản:

Thủ đoạn gian dối của bọn tội phạm lừa đảo được hiểu là dùng mọi phương

pháp giấu giếm nội dung sai sự thật (ít nhiều hoặc hoàn toàn) làm cho người có

34

trách nhiệm quản lý, bảo quản tài sản tưởng giả là thật nghĩ kẻ gian là người ngay

nên đã giao tài sản cho kẻ tội phạm mà không biết.

Hành vi gian dối trong lừa đảo chiếm đoạt tài sản được thực hiện trước hoặc

sau hành vi chiếm đoạt tài sản. Hành vi dối trá rất đa dạng, có thể bằng lời nói, dùng

hồ sơ giả, giấy tờ giả, giả danh người có chức, có quyền, giả mạo tổ chức ký kết các

hợp đồng (PGS.TS – Nguyễn Đình Hựu, 2005). [3]

2.1.2. Phân biệt kế toán điều tra và việc điều tra của các cơ quan Nhà nƣớc

2.1.2.1. Giống nhau

Cùng thu thập tài liệu chứng cứ, bằng chứng làm rõ hiện tượng, sự việc cụ thể,

nhằm trả lời các câu hỏi “Việc gì, bởi tại làm sao, bao giờ, ai thấy, thế nào, ở đâu”

(PGS.TS – Nguyễn Đình Hựu, 2005) [3].

2.1.2.2. Khác nhau

Vị trí pháp lý:

Việc điều tra của cơ quan điều tra như Công an kinh tế, Viện Kiểm sát… khi

có sự tố giác.Việc điều tra là hoạt động hành pháp, nhân danh quyền lực Nhà nước.

Việc kiểm toán của cơ quan Kiểm toán Nhà nước theo kế hoạch, theo luật Kiểm

toán Nhà nước quy định. Cơ quan điều tra và hoạt động của cơ quan điều tra hình sự

do Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 quy định thể hiện ở các Điều 34, 35, 110, 111.

Dịch vụ kế toán điều tra là dịch vụ được cam kết trên cơ sở hợp đồng có thu

phí, thực hiện theo quyền và nghĩa vụ quy định trong hợp đồng nhằm thu thập bằng

chứng theo yêu cầu của hợp đồng, có chức năng tư pháp khi chứng minh bằng

chứng trước Tòa.

Về phƣơng pháp:

35

Cơ quan điều tra: Trong quá trình điều tra, các cơ quan điều tra có quyền và có

nghĩa vụ áp dụng tất cả các biện pháp do pháp luật tố tụng hình sự quy định để

khám phá tội phạm như: triệu tập, hỏi cung, áp giải, cao hơn nữa là các biện pháp

ngăn chặn như bắt giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lãnh, đặt tiền hoặc tài

sản có giá trị để bảo đảm.

Kế toán điều tra: Căn cứ vào chuẩn mực hành nghề, các Bộ luật, văn bản dưới

luật hướng dẫn, bao gồm: phân tích, phỏng vấn, đối chiếu, kiểm tra sổ sách chứng

từ, thu thập thông tin tố giác trong nội bộ v.v… nhưng không được sử dụng biện

pháp ngăn chặn.

2.1.3. Tình hình gian lận tại Việt Nam từ năm 2009 đến nay

Từ năm 2009, do khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế đã tác động mạnh

đến tình hình tội phạm kinh tế diễn ra ngày càng phức tạp. Trong lĩnh vực tài chính,

ngân hàng, số vụ phạm pháp xảy ra nhiều, gây thiệt hại lớn về tài sản với một số thủ

đoạn mới, nhiều vụ án có sự tiếp tay của cán bộ ngân hàng tạo thành đường dây

khép kín gây khó khăn cho công tác phát hiện, điều tra (vụ cố ý làm trái tại Ngân

hàng Công thương Chi nhánh Long Thành - Đồng Nai thiệt hại hàng trăm tỷ đồng;

vụ Giám đốc Công ty cổ phần Tổng hợp quốc tế T&D và công ty Cao Cường lừa

đảo chiếm đoạt trên 130 tỷ đồng của ngân hàng và một số người dân; vụ cán bộ tín

dụng Ngân hàng Đầu tư và phát triển Đăk Lăk giả mạo chữ ký của lãnh đạo ngân

hàng và của khách hàng để chiếm đoạt 9 tỷ đồng…). Tội phạm tham nhũng vẫn

tiềm ẩn trong các ngành, lĩnh vực kinh tế trọng điểm, nhất là trong quản lý, sử dụng

đất đai, giải phóng mặt bằng, phê duyệt và triển khai các dự án, xây dựng cơ

bản…Các vụ án tham nhũng thường có sự móc nối, câu kết của nhiều loại đối

tượng, với nhiều phương thức, thủ đoạn thực hiện và che dấu hành vi phạm tội (vụ

tham ô tại Công ty cổ phần xi măng Mai Sơn - Sơn La; vụ lợi dụng chức vụ quyền

hạn tại Công ty Công nghiệp rừng Tây Nguyên…). Đáng chú ý, tình trạng tham

nhũng trong thực hiện các chính sách xã hội gây bức xúc trong nhân dân (vụ tham ô

36

hơn 700 triệu đồng tại Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Yên Thủy,

Hòa Bình).

Ngày 30/07/2014, buổi làm việc với Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, trung

tướng Phan Văn Vĩnh, Tổng cục trưởng Tổng cục Cảnh sát phòng chống tội phạm –

Bộ Công an, cho biết tội phạm hình sự giảm mạnh so với cùng kỳ nhưng tội phạm

kinh tế, tham nhũng vẫn diễn ra phức tạp ở nhiều ngành, lĩnh vực. Toàn quốc phát

hiện hơn 7.000 vụ, 7.684 đối tượng, tăng 3,23% về số vụ và 19,73% về đối tượng

so với cùng kỳ năm 2013. Ông Vĩnh đưa ra dẫn chứng các vụ án Bộ Công an đấu

tranh trong thời gian qua như vụ Huỳnh Thị Huyền Như, Nguyễn Đức Kiên, Dương

Chí Dũng và gần nhất là vụ Phạm Công Danh, nguyên Chủ tịch Hội đồng thành

viên Công ty TNHH Tập đoàn Thiên Thanh, nguyên Chủ tịch Hội đồng quản trị

Ngân hàng thương mại cổ phần xây dựng VN (VNCB)… để cho thấy loại tội phạm

kinh tế, tham nhũng trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, cho vay tiền gửi, chứng

khoán tiếp tục có diễn biến phức tạp, gây thất thoát khối lượng lớn tài sản của nhà

nước và doanh nghiệp, tác động xấu đến quá trình tái cơ cấu kinh tế và hoạt động

của hệ thống ngân hàng.

Cụ thể, tác giả cũng thu thập một số vụ án liên quan đến gian lận kinh tế từ

năm 2009 đến tháng 8/2014 được tóm tắt trong phụ lục 4 (Một số vụ án gian lận

kinh tế từ năm 2009). Qua đó cho thấy, các thủ thuật gian lận ngày càng tinh vi, và

mức thiệt hại ngày càng lớn. Các thủ thuật do thủ phạm sử dụng phù hợp với các

công trình nghiên cứu trước. Đa số các vụ án đều do tố giác, công an điều tra, Tòa

án xét xử kéo dài nhiều năm mới đưa ra án phạt cuối cùng.

2.2. Thiết kế nghiên cứu

Qua phân tích trên, tình hình gian lận tại Việt Nam trở nên phức tạp hơn, gây

thiệt hại ngày càng nghiêm trọng. Vì vậy cần có biện pháp phát hiện, ngăn ngừa

càng sớm càng tốt. Bên cạnh đó, kế toán điều tra nổi lên như một phương pháp hữu

hiệu trong phát hiện điều tra gian lận và hỗ trợ pháp lý trong xét xử gian lận. Do

37

vậy, bài nghiên cứu khám phá tập trung đo lường nhận biết về nhu cầu kế toán điều

Vấn đề và mục tiêu nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết

Nghiên cứu định tính n = 100

Đặt giả thuyết, xây dựng thang đo

Nghiên cứu định lượng n = 176

Phát triển thang đo

Xử lý và phân tích dữ liệu

Kiểm định thang đo, kết luận giả thuyết

Báo cáo nghiên cứu

tra tại Việt Nam. Bài nghiên cứu được thiết kế như hình 2.1 bên dưới:

Hình 2.1: Thiết kế nghiên cứu

Bài nghiên cứu nhằm khám phá nhu cầu kế toán điều tra tại Việt Nam gồm hai

bước chính như sau:

o Nghiên cứu định tính: Từ mục tiêu nghiên cứu về nhu cầu kế toán điều tra,

tra cứu lý thuyết (Literature review) đưa ra thang đo nháp. Sau đó tiến hành nghiên

cứu định tính bằng cách thảo luận với chuyên gia (đồng nghiệp là kiểm toán viên)

qua dàn bài thảo luận (Phụ lục 9_Dàn bài thảo luận).

o Nghiên cứu định lượng: Dựa vào thang đo từ nghiên cứu định tính tiếp tục

tiến hành nghiên cứu định lượng, thu thập dữ liệu, phân tích dữ liệu và kiểm định

giả thuyết nghiên cứu.

38

2.3. Phƣơng pháp nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

2.3.1. Chọn mẫu

Phương pháp chọn mẫu phi xác suất được tiến hành theo cách chọn mẫu thuận

tiện, có nghĩa là lấy mẫu dựa trên sự thuận lợi hay dựa trên tính dễ tiếp cận của đối

tượng, ở những nơi mà nhân viên điều tra có nhiều khả năng gặp được đối tượng.

Phương pháp thu thập dữ liệu gồm bảng câu hỏi định lượng được phát trực

tiếp và gửi qua email với biểu mẫu Google Docs. Số lượng bảng câu hỏi gửi đi là

250. Số lượng bảng câu hỏi thu về là 210/250 chiếm tỷ lệ hợp lệ 84%. Sau đó các

bảng câu trả lời này được loại bớt do không điền đầy đủ thông tin theo yêu cầu, còn

lại 176/210, tỷ lệ đạt yêu cầu chiếm 83%.

Bên cạnh đó, cỡ mẫu còn phụ thuộc vào phương pháp phân tích, để thực hiện

phương pháp phân tích nhân tố khám phá, theo Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng

Ngọc (2005) [1], số lượng mẫu cần thu thập gấp 5 lần số lượng thang đo; bài nghiên

cứu xây dựng 20 mục hỏi (20 mục hỏi x 5 = 100 mẫu quan sát), mẫu quan sát ít nhất

là 100. Bài nghiên cứu này tiến hành khảo sát 176 người được xem như phù hợp với

yêu cầu của thống kê.

Trong bài, các kiểm toán viên được phát phiếu khảo sát tại lớp học cập nhật

kiến thức ngày 26/09/2014 tại TP. HCM và đồng nghiệp tại công ty; các kế toán,

luật gia được phát phiếu khảo sát tại các lớp học thạc sỹ của trường Đại học Kinh

Tế TP. HCM, và qua công cụ Google Docs; các giảng viên chuyên ngành được thu

thập trực tiếp, hay qua Google Docs chủ yếu tại các trường Đại học Kỹ Thuật Công

Nghệ TP. HCM, Đại học Kinh Tế TP. HCM, Đại học Mở và một số trường Đại học

khác (Phụ lục 13 – Danh sách đối tượng khảo sát)

39

2.3.2. Phƣơng pháp phân tích

Bảng câu hỏi được thiết kế gồm 20 mục hỏi theo thang đo Likert 5 mức độ,

với 1 là “Hoàn toàn không đồng ý”, 2 là “Không đồng ý”, 3 là “Trung lập”, 4 là

“Đồng ý” và 5 là “Hoàn toàn đồng ý”. Thang đo Likert đo lường các mục hỏi trong

bảng 2.1 bên dưới:

Bảng 2.1: Xây dựng thang đo

STT Câu phát biểu Tham khảo

1 Các thủ tục kiểm toán không thể phát hiện tất cả Tác giả tổng hợp gian lận.

2 Kiểm toán viên không có trách nhiệm phát hiện tất Fadzly (2004) [26]

cả gian lận.

3 Các dư luận về gian lận xảy ra tạo kỳ vọng dịch vụ Kennedy (2013)[35] phát hiện và ngăn chặn gian lận.

Okoye(2013)[42]

4 Dịch vụ kế toán điều tra gian lận (Forensic Accounting) khác với dịch vụ kiểm toán truyền thống.

Kennedy (2013)[35]

5 Dịch vụ kế toán điều tra gian lận (Forensic Accounting) nâng cao chất lượng của thông tin trên báo cáo tài chính.

Kennedy (2013)[35]

6 Dịch vụ kế toán điều tra gian lận (Forensic Accounting) làm tăng độ tin cậy của các nhà đầu tư, người sử dụng báo cáo tài chính.

7 Hiện nay,Việt Nam có nhu cầu về dịch vụ kế toán

điều tra gian lận (Forensic Accounting).

Kasum(2009)[34] Okoye(2013)[42] Cemal (2011)[15]

8 Với điều kiện pháp lý hiện nay (Luật giám định tư pháp, các nghị định, thông tư hướng dẫn) Việt Nam sẵn sàng triển khai thực hiện kế toán điều tra gian lận(Forensic Accounting)

Cemal (2011)[15]

9 Các dịch vụ chuyên ngành tài chính ở Việt Nam đã phát triển cao, do đó không cần có dịch vụ hỗ trợ tư vấn trong tranh chấp, kiện tụng (litigation support consultancy)

10 Khu vực tư có nhu cầu về kế toán điều tra gian lận (Forensic Accounting)hơn

11 Kế toán điều tra là công cụ phát hiện và ngăn chặn Kasum(2009)[34] Okoye(2013)[42] Okoye(2013)[42]

gian lận trong khu vực tư hơn

12 Kế toán điều tra gian lận là công cụ phát hiện thành Cemal (2011)[15]

40

công các tội phạm rửa tiền (money laundering) 13 Các kiểm toán viên và kế toán đã được đào tạo đủ Cemal (2011)[15] để phát hiện và ngăn chặn gian lận

Kennedy (2013)[35]

Kennedy (2013) [35] 14 Kế toán điều tra gian lận (Forensic Accounting) giúp hoàn thiện các hoạt động kiểm soát nội bộ 15 Kế toán điều tra gian lận (Forensic Accounting) nâng cao vai trò các quy định bảo vệ nhân viên tố cáo các hành vi sai trái trong tổ chức.

Kennedy (2013)[35]

16 Kế toán điều tra gian lận (Forensic Accounting) có tính hoài nghi nghề nghiệp cao giúp phát hiện các hành vi biển thủ của nhân viên và tham ô, lạm quyền của ban quản lý

Kennedy (2013)[35] 17 Các công ty cung cấp dịch vụ đảm bảo có chuyên môn cao để thực hiện dịch vụ kế toán điều tra gian lận (Forensic Accounting)

Tác giả đề xuất

18 Hoạt động giám định tư pháp có chức năng điều tra, hỗ trợ quá trình truy tố, xét xử như kế toán điều tra (Forensic Accounting). Để xã hội hóa giám định tư pháp trong lĩnh vực tài chính cần quy định văn phòng giám định tư pháp được thành lập, tổ chức, quản lý theo loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn ngoài 2 loại hình doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp danh đã được quy định trong Luật giám định tư pháp số 13/2012/QH13 quy định.

Cemal (2011)[15]

19 Nhằm phát triển dịch vụ kế toán điều tra hay giám định tư pháp trong lĩnh vực tài chính, cần có sự quản lý, giám sát chuyên môn của Hội nghề nghiệp; sự hoàn chỉnh của các chuẩn mực nghề nghiệp và các quy định pháp luật liên quan.

Cemal (2011)[15]

20 Nhằm tăng cường nhận thức về kế toán điều tra (Forensic Accounting) nên đưa kiến thức về kế toán điều tra (Forensic Accounting) vào chương trình giảng dạy trong chuyên ngành.

Dữ liệu sau khi thu thập đạt yêu cầu về nội dung, các thông tin về người được

khảo sát thì được nhập liệu vào phần mềm SPSS 20. Sau đó phân tích dữ liệu theo 4

bước:

Thống kê mô tả

+ Thống kê mô tả các đặc điểm cá nhân: nghề, số năm kinh nghiệm

41

+ Lập bảng tần số tóm tắt câu trả lời bảng khảo sát

Phần mềm Excel cũng được sử dụng để vẽ các đồ thị, biểu đồ từ dữ liệu thống kê

đầu ra của phần mềm SPSS.

Phân tích nhân tố khám phá EFA

Theo Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc (2005) [1] phân tích nhân tố

là tên chung của một nhóm các thủ tục được sử dụng chủ yếu để thu nhỏ và tóm tắt

dữ liệu. (cũng là mục đích chính sử dụng EFA của bài)

Các tham số trong phân tích nhân tố:

+ Bartlett’s test of sphercity : là đại lượng dùng để xem xét giả thuyết các

biến không có tương quan trong tổng thể. Điều kiện cần để áp dụng phân

tích nhân tố là các biến phải có tương quan với nhau. Do đó nếu kiểm

định cho thấy không có ý nghĩa thống kê (Sig. >0,05) thì không nên áp

dụng phân tích nhân tố vào trường hợp này.

+ Correlation matrix: cho biết hệ số tương quan giữa tất cả các cặp biến

trong phân tích.

+ Communaliy: là lượng biến thiên của một biến được giải thích chung với

các biến khác được xem xét trong phân tích. Đây cũng là phần biến thiên

được giải thích bởi các nhân tố chung.

+ Eigenvalue: đại diện cho phần biến thiên được giải thích bởi mỗi nhân tố.

Chỉ những nhân tố nào có eigenvalue > 1 mới giữ lại trong mô hình phân

tích.

+ Factor loadings (hệ số tải nhân tố) : là những hệ số tương quan đơn giữa

các biến và các nhân tố.

42

+ Factor matrix (ma trận nhân tố): chứa các hệ số tải nhân tố của tất cả các

biến đối với các nhân tố được rút ra.

+ Factor scores: là các điểm số nhân tố tổng hợp được ước lượng cho từng

quan sát trên các nhân tố được rút ra. Còn gọi là “nhân số”.

+ Kaiser – Meyer – Olkin (KMO) measure of sampling adequacy: là chỉ số

dùng để xem xét sự thích hợp của phân tích nhân tố. Trị số KMO lớn hơn

hoặc bằng 0.5 là điều kiện đủ để phân tích nhân tố. Ngược lại, thì không

thích hợp cho phân tích nhân tố cho dữ liệu này.

+ Percentage of variance: phần trăm phương sai toàn bộ được giải thích

bởi từng nhân tố. Nếu coi toàn bộ biến thiên là 100% thì giá trị này cho

biết phân tích nhân tố cô đọng được bao nhiêu phần trăm và bao nhiêu

phần trăm thất thoát.

Bên cạnh đó, đối với bài nghiên cứu khám phá và cỡ mẫu 176 thì mục hỏi có

hệ số tải nhân tố < 0,45 sẽ bị loại bỏ bởi vì chúng không hội tụ phù hợp với vấn đề

cần nghiên cứu (Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc (2005) [1]).

Kiểm tra độ tin cậy thang đo

Sau khi tóm gọn thang đo, thang đo cần đánh giá độ tin cậy. Phương pháp

đánh giá độ tin cậy phổ biến nhất là tính hệ số Cronbach Anpha. Đối với nghiên cứu

khám phá, hệ số Cronbach Apha cần > 0.6, và hệ số tương quan biến tổng>0,3

(Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc (2005) [1])

Kiểm định giả thuyết nghiên cứu

Bước cuối cùng là kiểm định giả thuyết nghiên cứu có liên quan ở mục 2.4.3.

43

2.4. Phân tích dữ liệu

2.4.1. Mô tả mẫu

2.4.1.1. Các đặc điểm cá nhân

Mục tiêu của bài nghiên cứu này nhằm đo lường nhận biết của các đối tượng

gồm: kiểm toán viên, kế toán viên, giảng viên chuyên ngành và luật gia về nghề

nghiệp kế toán điều tra (Forensic Accounting), về nhu cầu kế toán điều tra tại Việt

Nam. Sự lựa chọn khảo sát các đối tượng này dựa trên các nghiên cứu trước như

Kasum (2009), Di Gabriele (2010).

Kasum (2009) [34] khảo sát 264 đối tượng gồm kế toán, luật gia, các chuyên

gia kinh tế, nhân viên ngân hàng, các nhà thầu, kỹ sư, các chuyên gia khác có liên

quan đến vấn đề nghiên cứu về sự thích hợp của công cụ kế toán điều tra trong khu

vực công hay khu vực tư trong đấu tranh chống tội phạm tài chính tại các nước đang

phát triển, cuối cùng ông kết luận khu vực công cần kế toán điều tra hơn.

Di Gabriele (2010) [23] thực hiện một cuộc khảo sát về sự nhận biết chức

năng chuyên gia làm chứng (Expert Testimony) của kế toán điều tra trên mẫu gồm

85 giáo sư, 87 kế toán điều tra viên, 86 luật sư, kết quả kế toán điều tra và luật sư có

mức độ nhận biết khác nhau đối với các câu hỏi nghiên cứu, trong khi giáo sư và kế

toán điều tra viên chỉ khác nhau ở một số câu hỏi nghiên cứu chính.

Bảng 2.2: Bảng tần số về nghề nghiệp, số năm kinh nghiệm

Mẫu n=176

Nghề nghiệp - Kế toán - Luật gia - Giảng viên - Kiểm toán viên Số năm kinh nghiệm - Dưới 3 năm - Từ 3 năm đến 5 năm - Từ 6 năm đến 10 năm - Trên 10 năm

Tần số 78 21 33 44 43 55 42 36

Tỳ lệ % 44% 12% 19% 25% 24% 31% 24% 20%

44

Biểu đồ 2.1: Tỷ lệ phần trăm các nhóm nghề nghiệp khảo sát

Nguồn: Tác giả tổng hợp

Như biểu đồ trên, mẫu khảo sát gồm 4 nhóm nghề nghiệp: 78 kế toán viên

chiếm 44%, 21 luật gia chiếm tỷ lệ 12%, 33 giảng viên chiếm tỷ lệ 19%, 44 kiểm

toán viên chiếm 25% .

Phân tích mẫu gồm 176 người, trong đó có 24% dưới 3 năm, 31% từ 3 năm 5

năm, 24% từ 6 năm đến 10 năm, 21% trên 10 năm kinh nghiệm.

Biểu đồ 2.2: Tỷ lệ phần trăm số năm kinh nghiệm

Nguồn: Tác giả tổng hợp

45

2.4.1.2. Tóm tắt các câu trả lời bảng khảo sát

Dữ liệu được giải thích sau đây, với lựa chọn “Hoàn toàn không đồng ý” và

“Không đồng ý” được xem như không đồng ý. Và lựa chọn “Hoàn toàn đồng ý” và

“Đồng ý” được xem như đồng ý:

Trong số các đối tượng được khảo sát có 10,8% không đồng ý rằng các thủ tục

kiểm toán không thể phát hiện tất cả gian lận. Tỷ lệ này nhỏ so với 84,1% đồng ý,

còn lại 5,1% không có ý kiến. Điều này cho thấy, các thủ tục kiểm toán báo cáo tài

chính đạt được sự đồng thuận rằng chúng không thể áp dụng cho mục đích phát

hiện tất cả các gian lận.

Trong số các đối tượng được khảo sát có 60,2% đồng ý với ý kiến kiểm toán

viên không có trách nhiệm phát hiện tất cả gian lận. Như vậy nhận thức của các đối

tượng khảo sát phù hợp với lý thuyết. Tuy nhiên 33,5% cho ý kiến trái ngược chứng

tỏ Việt Nam vẫn tồn tại một khoảng cách kỳ vọng không hợp lý về trách nhiệm của

kiểm toán viên đối với tất cả gian lận.

Có 70,1% đồng ý rằng họ kỳ vọng dịch vụ phát hiện và ngăn chặn gian lận khi

gian lận ngày nay xuất hiện càng nhiều và gây hậu quả ngày càng nghiêm trọng.

Trong số các đối tượng được khảo sát có 74% nhận thức rằng dịch vụ kế toán

điều tra gian lận (Forensic Accounting) khác với dịch vụ kiểm toán truyền thống.

Các đối tượng được khảo sát đồng ý cao với ý kiến cho rằng dịch vụ kế toán

điều tra gian lận (Forensic Accounting) nâng cao chất lượng của thông tin trên báo

cáo tài chính với tỷ lệ 84,6%.

Trong số các đối tượng được khảo sát có 82,9% đồng ý rằng dịch vụ kế toán

điều tra gian lận (Forensic Accounting) làm tăng độ tin cậy của các nhà đầu tư,

người sử dụng báo cáo tài chính.

46

Có 55,1% đồng ý rằng Việt Nam có nhu cầu về dịch vụ kế toán điều tra

(Forensic Accounting);35,2% trung lập; và chỉ có một tỷ lệ nhỏ 9,7% không đồng ý.

Trong số các đối tượng được khảo sát có 37,6% đồng ý rằng với các điều kiện

pháp lý hiện nay, Việt Nam sẵn sàng triển khai thực hiện kế toán điều tra gian

lận;40,3% trung lập; 22,2% không đồng ý chiếm tỷ lệ nhỏ hơn.

Trong số các đối tượng được khảo sát có 71% không đồng ý với ý kiến các

dịch vụ chuyên ngành tài chính ở Việt Nam đã phát triển cao, do đó không cần có

dịch vụ hỗ trợ tư vấn trong tranh chấp, kiện tụng (Litigation support consultancy)

Có 40,9 % đồng ý rằng khu vực tư có nhu cầu kế toán điều tra hơn; tuy nhiên

28,9% đồng ý cho rằng khu vực công có nhu cầu kế toán điều tra hơn; 30,2% trung

lập.

Có 40% đồng ý rằng kế toán điều tra là công cụ phát hiện và ngăn chặn gian

lận trong khu vực tư; 22,1% không đồng ý về điều đó và 27,8% trung lập.

Trong số các đối tượng được khảo sát có 50% đồng ý kế toán điều tra gian lận

là công cụ phát hiện thành công các tội phạm rửa tiền (Money Laundering); 36,9%

trung lập; còn lại 13,1% không đồng ý.

Trong số các đối tượng được khảo sát có 38% không đồng ý các kiểm toán

viên và kế toán đã được đào tạo đủ để phát hiện và ngăn chặn gian lận; 33,5%

không đồng ý; và 26,1% giữ ý kiến trung lập.

Trong số các đối tượng được khảo sát có 82,4% đồng ý kế toán điều tra gian

lận (Forensic Accounting) giúp hoàn thiện các hoạt động kiểm soát nội bộ; 11,9%

giữ ý kiến trung lập và một tỷ lệ nhỏ 5,7% không đồng ý.

Có 64,8% đồng ý rằng kế toán điều tra gian lận (Forensic Accounting) nâng

cao vai trò các quy định bảo vệ nhân viên tố cáo các hành vi sai trái trong tổ chức;

28,4% trung lập; còn 6,8% không đồng ý.

47

Có 65,3% đồng ý rằng kế toán điều tra gian lận (Forensic Accounting) có tính

hoài nghi nghề nghiệp cao giúp phát hiện các hành vi biển thủ của nhân viên và

tham ô, lạm quyền của ban quản lý; tuy nhiên tỷ lệ trung lập khá cao 27,3%; tỷ lệ

không đồng ý là 7,4%.

Trong số các đối tượng được khảo sát có 68,8% đồng ý rằng các công ty cung

cấp dịch vụ đảm bảo có chuyên môn cao để thực hiện dịch vụ kế toán điều tra gian

lận (Forensic Accounting); 19,9% trung lập; tỷ lệ không đồng ý là 11,3%.

Có 63,4% đồng ý rằng pháp luật nên quy định loại hình công ty trách nhiệm

hữu hạn nhằm xã hội hóa nghề nghiệp kế toán điều tra. Tuy nhiên tỷ lệ trung lập

khá cao chiếm 32,4%;tỷ lệ không đồng ý là 14,2%.

Trong số các đối tượng được khảo sát có 86,9% đồng ý rằng nhằm phát triển

dịch vụ kế toán điều tra hay giám định tư pháp trong lĩnh vực tài chính, cần có sự

quản lý, giám sát chuyên môn của Hội nghề nghiệp; sự hoàn chỉnh của các chuẩn

mực nghề nghiệp và các quy định pháp luật liên quan.

Có 82,4% đồng ý đưa kế toán điều tra vào chương trình giảng dạy chuyên

ngành; chỉ có 14,2% trung lập và 3,4% không đồng ý.

Câu 1 có trung bình và độ lệch chuẩn lần lượt là 4,06 và 1,043 cho thấy các

đối tượng khảo sát đồng ý khá cao rằng các thủ tục kiểm toán không thể phát hiện

tất cả gian lận. Câu 2, câu 3, câu 4, câu 7, câu 8, câu 10, câu 11, câu 12, câu 13, câu

14, câu 15, câu 16, câu 17, câu 18 đều có trung bình từ 3 đến dưới 4, độ lệch chuẩn

khá nhỏ cho thấy các đối tượng khảo sát đồng ý không mạnh, họ chưa chắc chắn

rằng kiểm toán viên không có trách nhiệm phát hiện tất cả gian lận;các dư luận về

gian lận xảy ra có tạo kỳ vọng dịch vụ phát hiện và ngăn chặn gian lận hay không;

dịch vụ kế toán điều tra gian lận (Forensic Accounting) khác hay giống với dịch vụ

kiểm toán truyền thống; hiện nay,Việt Nam có nhu cầu về dịch vụ kế toán điều tra

gian lận (Forensic Accounting) hay không; với điều kiện pháp lý hiện nay Việt Nam

48

sẵn sàng triển khai thực hiện kế toán điều tra gian lận(Forensic Accounting); khu

vực tư hay khu vực công có nhu cầu về kế toán điều tra gian lận (Forensic

Accounting) hơn; kế toán điều tra là công cụ phát hiện và ngăn chặn gian lận trong

khu vực tư hơn; kế toán điều tra gian lận là công cụ phát hiện thành công các tội

phạm rửa tiền (Money Laundering); các kiểm toán viên và kế toán đã được đào tạo

đủ để phát hiện và ngăn chặn gian lận; kế toán điều tra gian lận (Forensic

Accounting) giúp hoàn thiện các hoạt động kiểm soát nội bộ; kế toán điều tra gian

lận (Forensic Accounting) nâng cao vai trò các quy định bảo vệ nhân viên tố cáo

các hành vi sai trái trong tổ chức; kế toán điều tra gian lận (Forensic Accounting) có

tính hoài nghi nghề nghiệp cao giúp phát hiện các hành vi biển thủ của nhân viên và

tham ô, lạm quyền của ban quản lý; các công ty cung cấp dịch vụ đảm bảo có

chuyên môn cao để thực hiện dịch vụ kế toán điều tra gian lận (Forensic

Accounting); để xã hội hóa giám định tư pháp trong lĩnh vực tài chính có cần quy

định văn phòng giám định tư pháp được thành lập, tổ chức, quản lý theo loại hình

công ty trách nhiệm hữu hạn ngoài 2 loại hình doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp

danh đã được quy định trong Luật giám định tư pháp số 13/2012/QH13 quy định

hay không.

Câu 5, câu 6, câu 9, câu 19, và câu 20 đều có trung bình trên 4, độ lệch chuẩn

khá nhỏ, cho thấy các đối tượng khảo sát khá đồng ý rằng dịch vụ kế toán điều tra

gian lận (Forensic Accounting) nâng cao chất lượng của thông tin trên báo cáo tài

chính; dịch vụ kế toán điều tra gian lận (Forensic Accounting) làm tăng độ tin cậy

của các nhà đầu tư, người sử dụng báo cáo tài chính; các dịch vụ chuyên ngành tài

chính ở Việt Nam đã phát triển cao, do đó không cần có dịch vụ hỗ trợ tư vấn trong

tranh chấp, kiện tụng (litigation support consultancy); nhằm phát triển dịch vụ kế

toán điều tra, cần có sự quản lý, giám sát chuyên môn của Hội nghề nghiệp; sự hoàn

chỉnh của các chuẩn mực nghề nghiệp và các quy định pháp luật liên quan; nhằm

tăng cường nhận thức về kế toán điều tra (Forensic Accounting) nên đưa kiến thức

về kế toán điều tra (Forensic Accounting) vào chương trình giảng dạy trong chuyên

ngành.

49

2.4.2. Đánh giá thang đo

2.4.2.1. Phân tích nhân tố khám phá (EFA)

Mục đích thực hiện phân tích nhân tố nhằm làm gọn dữ liệu và gom các biến

thành các nhân tố sẽ làm tăng tính khả thi của đề tài khi đưa vào thực tiễn.

Khi xây dựng thang đo dựa vào hai chỉ tiêu chính để đưa ra các biến: các

biếnđo lường nhu cầu về kế toán điều tra (c7, c17) (nhóm Y) và các biếntác động

đến nhu cầu kế toán điều tra (các biến còn lại) (gọi tắt là nhóm X). Theo Hoàng

Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc (2005) [1] nên chạy EFA tách rời hai nhóm biến

để cho ra kết quả gom biến chính xác.

o Phân tích EFA cho các biến tác động đến nhu cầu kế toán điều tra

Dựa vào kết quả chạy EFA (phụ lục 11) tiến hành đánh giá các phương án

theo các tiêu chí theo bảng 2.3 gồm: giá trị hội tụ và giá trị phân biệt, cụ thể, giá trị

hội tụ thể hiện qua phương sai trích và trọng số nhân tố, giá trị phân biệt thể hiện ở

số nhân tố rút ra và vị trí nhân tố phải phù hợp với lý thuyết. (KMO và Sig là điều

kiện cần và đủ để thực hiện phân tích nhân tố)

Bảng 2.3: Bảng tóm tắt kết quả phân tích EFA cho các biến nhóm X

Phương án 18 biến Loại c4 Loại c13 Loại c4, c13 Chỉ tiêu

0.745 0.735 0.748 0.739 KMO

0.000 0.000 0.000 0.000 Sig

58,334% 59,951% 60,323% 62,137% Phƣơng sai trích

6 6 6 6 Số nhân tố

Xấu Xấu Xấu Không Vị trí

Đạt yêu cầu Đạt yêu cầu Đạt yêu cầu Đạt yêu cầu Hệ số tải

50

Dựa vào bảng 2.3, KMO và Sig. ở các phương án đều thỏa điều kiện thực hiện

EFA. Phương sai trích ở phương án loại c4, c13 cao nhất 62,137%; số nhân tố rút

trích được là 6 nhân tố, hệ số tải >0.45 đạt yêu cầu và vị trí các nhân tố phù hợp.

Phương án loại c4, c13 là tốt hơn các phương án khác. Dựa vào bảng Rotated

Component Matrix, các nhân tố rút trích gồm:

Nhân tố 1: (c5, c6, c3) bao gồm các biến kế toán điều tra giúp tăng chất lượng

thông tin trên BCTC; tăng độ tin cậy của các nhà đầu tư, kỳ vọng dịch vụ phát hiện

gian lận; nên đặt tên ngắn gọn là ảnh hưởngchất lượng thông tin (clgtt)

Nhân tố 2: (c15, c16, c12, c14) bao gồm các biến kế toán điều tra nâng cao

vai trò các quy định bảo vệ nhân viên tố cáo gian lận;kế toán điều tra phát hiện biển

thủ, tham ô lạm quyền; công cụ phát hiện tội phạm rửa tiền; kế toán điều tra hoàn

thiện các hoạt động kiểm soát nội bộ. Tạm gọi ngắn gọn tên nhân tố này là ảnh

hưởng hệ thống nội bộ (htnoibo)

Nhân tố 3: (c20, c19, c18) gồm các biến nên đưa kết toán điều tra vào chương

trình giảng dạy; sự quản lý giám sát của Hội nghề nghiệp, quy định chuẩn mực nghề

nghiệp, các quy định pháp luật; thành lập, quản lý dịch vụ kế toán điều tra theo loại

hình công ty trách nhiệm hữu hạn; gọi ngắn gọn là ảnh hưởng bên ngoài (bngoai)

Nhân tố 4: (c1, c2) gồm các biến nhận định về khả năng phát hiện gian lận

của các thủ tục kiểm toán; trách nhiệm của kiểm toán viên về gian lận; gọi ngắn gọn

là ảnh hưởng kỳ vọng vào kiểm toán viên (kyvong)

Nhân tố 5: (c9, c8) gồm các biến dịch vụ hỗ trợ tư vấn trong tranh chấp kiện

tụng; điều kiện pháp lý thực hiện kế toán điều tra. Ta đặt tên biến ngắn gọn là ảnh

hưởng pháp lý (phaply).

Nhân tố 6: (c10, c11) gồm các biến nhận định về nhu cầu kế toán điều tra

trong khu vực tư hay khu vực công hơn; kế toán điều tra là công cụ phát hiện gian

51

lận trong khu vực tư hay khu vực công hữu hiệu hơn, ta gọi nhân tố đó ngắn gọn là

ảnh hưởng khu vực (khuvuc).

Như vậy, so với dàn bài thảo luận xây dựng thang đo (Phụ lục 9), ngoại trừ

nhân tố kỳ vọng trách nhiệm của kiểm toán viên, các nhân tố còn lại đã thay đổi,

sau khi chạy EFA ta loại 2 biến là c4, c13 không đo lường cùng một vấn đề nghiên

cứu.

o Phân tích EFA cho các biến nhu cầu kế toán điều tra (Phụ lục 11)

Kết quả chạy EFA cho ta 1 nhân tố (nhân tố thứ 7) gồm 2 biến c7, c17 có

phương sai trích giải thích được mô hình 57,515%. Ta gọi ngắn gọn nhân tố này là

nhu cầu kế toán điều tra (nhucau)

2.4.2.2. Kiểm tra độ tin cậy của thang đo

Sau khi phân nhóm các biến, tiến hành tính hệ số Cronbach Anpha để đánh giá

độ tin cậy của thang đo. Kết quả được trình bày trong bảng 2.4 dưới đây:

52

Bảng 2.4: Bảng kết quả tính hệ số Cronbach Anpha

Biến Trung bình Phƣơng sai Tƣơng quan Alpha nếu

quan sát thang đo nếu thang đo nếu biến tổng loại biến

loại biến loại biến này

1.538

7.79

.675

.437

Ảnh hƣởng chất lƣợng thông tin (clgtt), alpha = 0.715 C5

7.84

1.700

.566

.584

C6

8.07

2.126

.381

.794

C3

11.01

3.000

.538

.545

Ảnh hƣởng hệ thống nội bộ (htnoibo), alpha = 0.671 C15

10.93

3.109

.486

.582

C16

11.22

3.256

.388

.651

C12

10.76

3.657

.410

.633

C14

7.59

1.557

.475

.398

Ảnh hƣởng bên ngoài (bngoai), alpha = 0.599 C20

7.60

1.705

.466

.424

C19

8.28

1.699

.301

.667

C18

1.827

.312

3.46

Ảnh hƣởng kỳ vọng vào kiểm toán viên (kyvong), alpha = 0.464 C1

4.06

1.088

.312

C2

3.18

.858

.251

Ảnh hƣởng pháp lý (phaply), alpha = 0.401 C9

2.26

.866

.251

C8

3.38

1.184

.159

Ảnh hƣởng khu vực (khuvuc), anpha = 0.272 C10

3.15

.938

.159

C11

3.71

.778

.150

Nhu cầu kế toán điều tra (nhucau), anpha = 0.261 C7

3.55

.729

.150

C17

53

Hệ số Cronbach Apha cần > 0.6, và hệ số tương quan biến tổng > 0,3 thì nhân

tố 1 và nhân tố hai thỏa điều kiện. Các nhân tố 3, nhân tố 4, nhân tố 5, nhân tố 6,

nhân tố 7 tuy chưa thỏa điều kiện thống kê nhưng là các biến quan trọng trong thảo

luận nên giữ lại để tiếp tục kiểm định.

2.4.3. Kiểm định giả thuyết nghiên cứu

Thang đo được xây dựng để đo lường mức độ nhận biết của các đối tượng kế

toán, luật gia, giảng viên, kiểm toán viên về kế toán điều tra từ đó cho thấy nhu cầu

về dịch vụ kế toán điều tra tại Việt Nam nói chung. Tuy nhiên để kiểm tra sự nhận

biết giữa các nhóm đối tượng này về kế toán điều tra thì cần phải tiến hành kiểm

định giả thuyết. Các giả thuyết nghiên cứu:

H01: Giữa các nhóm đối tượng không có nhận biết khác biệt về ảnh hưởng

của kế toán điều tra đến chất lượng thông tin trên báo cáo tài chính từ tác động đến

độ tin cậy của các nhà đầu tư.

H02: Giữa các nhóm đối tượng không có nhận biết khác biệt về ảnh hưởng

của kế toán điều tra đến hệ thống kiểm soát nội bộ và khả năng phát hiện rửa tiền

của kế toán điều tra.

H03: Giữa các nhóm đối tượng không có nhận biết khác biệt về ảnh hưởng

các yếu tố hỗ trợ bên ngoài đến phát triển dịch vụ kế toán điều tra (bổ sung kế toán

điều tra vào giảng dạy; sự quản lý, giám sát của Hội nghề nghiệp, quy định các

chuẩn mực nghề nghiệp, các quy định pháp luật; sự xã hội hóa kế toán điều tra qua

loại hình trách nhiệm hữu hạn).

H04: Giữa các nhóm đối tượng không có nhận biết khác biệt về ảnh hưởng kỳ

vọng vào kiểm toán viêntừ đó mong muốn dịch vụ phát hiện và ngăn chặn gian lận.

H05: Giữa các nhóm đối tượng không có nhận biết khác biệt về ảnh hưởng

của điều kiện pháp lý đến phát triển dịch vụ kế toán điều tra.

54

H06: Giữa các nhóm đối tượng không có nhận biết khác biệt về khu vực có

nhu cầu về kế toán điều tra.

H07: Giữa các nhóm đối tượng không có nhận biết khác biệt về nhu cầu kế

toán điều tra tại Việt Nam do các công ty cung cấp dịch vụ đảm bảo thực hiện.

Tác giả dùng kiểm định ANOVA để tiến hành kiểm định các giả thuyết nghiên

cứu trên. Trước hết, ta kiểm tra điều kiện cần để thực hiện kiểm định ANOVA là

mẫu phải có phân phối chuẩn bằng cách dùng kiểm định Leneve. Kết quả theo bảng

2.5 dưới đây:

Bảng 2.5: Bảng kiểm định Leneve

Test of Homogeneity

Levene Statistic

df1

df2

Sig.

0.406

3

172

0.749

Clgtt

0.460

3

172

0.710

Htnoibo

1.833

3

172

0.143

Bngoai

2.329

3

172

0.076

Kyvong

0.728

3

172

0.536

Phaply

0.407

3

172

0.748

Khuvuc

2.984

3

172

0.033

Nhucau

55

Các biến thỏa điều kiện, có kết quả chạy ANOVA được trình bày trong bảng 2.6:

Bảng 2.6: Bảng kết quả kiểm định ANOVA

Sum of

Mean

F

Sig.

df

Squares

Square

.378

.106

.957

1.135

3

Between Groups

Clgtt

615.024

172

3.576

Within Groups

616.159

175

Total

4.115

3

.260

.854

1.372

Between Groups

Htnoibo

908.612

172

5.283

Within Groups

912.727

175

Total

10.253

3

3.418

1.105

.349

Between Groups

Bngoai

532.195

172

3.094

Within Groups

542.449

175

Total

20.405

3

6.802

1.818

.146

Between Groups

Kyvong

643.504

172

3.741

Within Groups

663.909

175

Total

9.744

3

3.248

1.764

.156

Between Groups

phaply

316.614

172

1.841

Within Groups

326.358

175

Total

15.087

3

5.029

2.085

.104

Between Groups

khuvuc

414.822

172

2.412

Within Groups

429.909

175

Total

Như vậy bằng kiểm định ANOVA, clgtt, htnoibo, bngoai, kyvong, phaply,

khuvuc không có sự khác biệt về nhận thức của ba nhóm đối tượng.

Chỉ có biến nhucau không thỏa điều kiện kiểm định Leneve ở bảng 2.5 nêu

trên, ta có thể dùng kiểm định phi tham số Kruskal-Wallis để thay thế kiểm định

ANOVA.

56

Bảng 2.7: Bảng kết quả kiểm định phi tham số Kruskal – Wallis

Kết luận Giả thuyết không

Bảng tóm tắt kết quả kiểm định Sig. 0.294 Giữ giả thuyết không.

Kiểm định Kiểm định phi tham số Kruskal – Wallis

Phân phối của biến “nhucau” giống với biến “nghề nghiệp”

Dựa vào kết quả bảng 2.7, nhucau cung không có khác biệt nhận thức giữa các

nhóm.

2.4.4. Kết luận

Giữa các nhóm đối tượng không có nhận thức khác biệt về các vấn đề liên

quan đến kế toán điều tra. Tuy nhiên, mức độ nhận thức của các nhóm còn chưa cao

do kế toán điều tra là thuật ngữ còn khá mới mẻ tại Việt Nam. Mặc dù, tác giả đã

đưa hình ảnh giám định tư pháp về tài chính (có chức năng tương tự kế toán điều

tra) để liên hệ với kế toán điều tra nhưng mức độ nhận biết của các nhóm đối tượng

chưa cao nhưng khá đồng đều.

2.5. Tóm tắt chƣơng 2

Việt Nam là một nước đang phát triển, trong quá trình xây dựng kinh tế đã có

nhiều gian lận xảy ra với mức thiệt hại ngày càng nghiêm trọng. Không có sự khác

biệt về nhận thức giữa các nhóm kế toán, luật gia, giảng viên chuyên ngành kế toán

- kiểm toán, kiểm toán viên rằng Việt Nam có nhu cầu về kế toán điều tra, nhưng

mức độ đồng ý không cao.

Giữa các nhóm đối tượng không có sự khác biệt trong mức độ đồng ý cao

rằng:

Câu 19: Nhằm phát triển dịch vụ kế toán điều tra hay giám định tư pháp trong

lĩnh vực tài chính, cần có sự quản lý, giám sát chuyên môn của Hội nghề nghiệp; sự

hoàn chỉnh của các chuẩn mực nghề nghiệp và các quy định pháp luật liên quan.

57

Câu 20: Nhằm tăng cường nhận thức về kế toán điều tra (Forensic

Accounting) nên đưa kiến thức về toán điều tra (Forensic Accounting) vào chương

trình giảng dạy trong chuyên ngành.

Câu 1: Các thủ tục kiểm toán không thể phát hiện tất cả gian lận.

Câu 5: Dịch vụ kế toán điều tra gian lận (Forensic Accounting) nâng cao chất

lượng của thông tin trên báo cáo tài chính.

Câu 6: Dịch vụ kế toán điều tra gian lận (Forensic Accounting) làm tăng độ

tin cậy của các nhà đầu tư, người sử dụng báo cáo tài chính.

Giữa các nhóm đối tượng không có sự khác biệt khi không đồng ý rằng:

Câu 9: Các dịch vụ chuyên ngành tài chính ở Việt Nam đã phát triển cao, do

đó không cần có dịch vụ hỗ trợ tư vấn trong tranh chấp, kiện tụng (litigation support

consultancy)

Câu 13: Các kiểm toán viên và kế toán đã được đào tạo đủ để phát hiện và

ngăn chặn gian lận

Bên cạnh đó nhu cầu kế toán giữa khu vực tư và khu vự công, không có sự

khác biệt giữa các nhóm đối tượng trong xu hướng nghiêng về khu vực tư hơn.

58

CHƢƠNG 3

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

3.1. Kết luận

Nghiên cứu này tổng quát các cơ sở lý luận về kế toán điều tra (Forensic

Accounting) và đo lường nhận biết của các đối tượng về kế toán điều tra (Forensic

Accounting). Phương pháp nghiên cứu kết hợp phương pháp định lượng và phương

pháp định tính. Phương pháp định tính trong tổng hợp lý thuyết về kế toán điều tra,

nhận diện thang đo, thảo luận với chuyên gia về thang đo để đưa ra thang đo chính

thức. Tiếp tục áp dụng phương pháp định lượng, tiến hành thu thập phiếu khảo sát,

phân tích dữ liệu và kiểm định giả thuyết nghiên cứu. Dữ liệu được thu thập trên

176 đối tượng bao gồm kế toán, luật gia, kiểm toán viên, giảng viên chuyên ngành

kế toán - kiểm toán. Kết quả phân tích cho thấy, nhận biết về kế toán điều tra tại

Việt Nam chưa phổ biến, không có sự khác biệt giữa các đối tượng khảo sát, nhưng

tồn tại và xuất hiện nhận thức về tình hình gian lận, khoảng cách nghề nghiệp đáp

ứng khá mạnh, là tiền đề tiếp thu về kế toán điều tra.

Điều này tương đồng với một số ý kiến phổ biến về kế toán điều tra được thu

thập trong quá trình khảo sát (Phụ lục 10): Kế toán điều tra cần triển khai trong thực

tế và đào tạo trong các trường đại học; Nên thực hiện dịch vụ kế toán điều tra gian

lận và sai sót trong thực tế; Cần thực hiện thử nghiệm (thí điểm) ở một số

nơi/chương trình/…; Hoàn Thiện chuẩn mực và luật kế toán Việt Nam kèm theo các

luật liên quan; Phát triển dịch vụ kế toán điều tra hiện nay và áp dụng vào thực tế;

Đào tạo ở trường học, góp phần xây dựng nền móng cho nghề ghiệp kế toán điều

tra; Cần xây dựng các thông tư, nghị định rõ ràng hơn về kế toán điềutra; Nghề kế

toán điều tra, cần có am hiểu và kiến thức Luật, Kế toán và nghiệp vụ Kiểm toán.

Do vậy, nên có loại hình đào tạo chuyên sâu cho những người đã tốt nghiệp các

ngành có liên quan đến Nghề kế toán điều tra, nên có Hội nghề nghiệp độc lập về

Nghề này như các nghề khác như Luật sư, Kế toán và Kiểm toán v.v…

59

Phát hiện của đề tài phù hợp với kết luận của các nghiên cứu trước, như

Crumbley (2001) [21], Grippo và Ibex (2003) [29], rằng kế toán điều tra là xu

hướng mới du nhập từ các nước phát triển. Vì vậy, tại các nước đang phát triển, kế

toán điều tra chưa phổ biến, chưa được các trường học tổ chức thành bộ môn giảng

dạy. Do đó, sự hiểu biết về kế toán điều tra còn hạn hẹp, khả năng nhận biết về

thuật ngữ này chưa cao.

Việt Nam đang trong thời kỳ chuyển đổi nền kinh tế vì vậy thông tin kế toán

trở nên ngày càng quan trọng trong tất cả hoạt động kinh tế xã hội; Bên cạnh đó, số

lượng vụ kiện dân sự do thông tin kế toán sai lệch ngày càng tăng, càng thúc đẩy sự

kết hợp lĩnh vực pháp luật và kế toán để ra đời một lĩnh vực kế toán mới, kế toán

điều tra.

Kế toán điều tra là một lĩnh vực kế toán mới được hình thành từ các nước phát

triển phương tây trong những năm 1980 đáp ứng sự phát triển của kinh tế thị trường

và sự hoàn thiện dần của hệ thống pháp lý. Công việc kế toán điều tra được một bên

thứ ba độc lập thực hiện, bao gồm các thủ tục và phương pháp xác định để kiểm tra,

tính toán, phân tích các vấn đề quản lý và tài chính, các thiệt hại kinh tế, hoặc các

vấn đề pháp lý liên quan đến mâu thuẫn lợi ích giữa các nhà quản lý, và phát hành

báo cáo kế toán điều tra làm bằng chứng chuyên môn trước toà án hoặc tư vấn

doanh nghiệp. Kế toán điều tra ra đời như một sản phẩm của sự phát triển môi

trường kinh tế và xuất hiện khi nhu cầu thay đổi của nghề nghiệp và sự phát triển

của các chuyên ngành đến mức thắt nút cổ chai.

Dựa vào kết quả khảo sát của bài, tác giả nhận thấy sự cần thiết phát

triển dịch vụ kế toán điều tra tại Việt Nam:

Thứ nhất, thông tin kế toán sai lệch là nguyên nhân chủ yếu làm xuất hiện kế

toán điều tra.

60

Khi thông tin kế toán sai lệch, hoạt động kinh tế xã hội sẽ chịu tổn thất nghiêm

trọng, lợi ích của các nhà đầu tư bị thiệt hại, gây mất niềm tin vào các hoạt động

kinh tế xã hội. Khi sự thiệt hại do thông tin kế toán gây ra tới một mức độ nhất định,

việc kiện cáo tố tụng sẽ xảy ra, từ đó xuất hiện sự giao thoa giữa chuyên môn kế

toán và pháp luật, đòi hỏi sự kết hợp giữa chúng để giải quyết sự việc hữu hiệu hơn

khi xem xét các vấn đề sau: Một là,thông tin kế toán có sai lệch không? Khi đánh

giá vấn đề này, các nhà kế toán chuyên nghiệp và các nhà kế toán không chuyên sẽ

trả lời khác nhau dựa trên các chuẩn mực, bằng chứng khác nhau. Để đưa ra kết

luận, các nhà kế toán chuyên nghiệp sẽ dựa trên các chuẩn mực, quy định và các

nguyên tắc kế toán áp dụng phổ biến, thế nhưng, các nhà kế toán không chuyên sẽ

lập luận dựa trên các sự kiện thực tế. Các nhà chuyên môn tập trung xem xét các thủ

tục hạch toán kế toán có tuân thủ quy định pháp luật hiện hành hay không, còn các

nhà không chuyên sẽ nhấn mạnh đến kết quả hạch toán kế toán có phản ánh chính

xác không, vì vậy cả hai bên sẽ đưa ra các kết luận khác nhau. Hai là, thông tin kế

toán sai lệch do hành vi vô ý, cố ý gián tiếp hay cố ý trực tiếp? Nếu do hành vi vô ý

thì sẽ chịu trách nhiệm dân sự, lỗi do hành vi cố ý sẽ chịu trách nhiệm hình sự. Dựa

vào các kết luận khác nhau, toà án sẽ đưa ra các kết luận xét xử khác nhau. Như

vậy, sẽ rất khó đưa ra kết luận chính xác với các kiến thức chuyên ngành riêng rẽ.

Ba là, mức độ thiệt hại cho người sử dụng thông tin kế toán sai lệch là bao nhiêu?

Người sử dụng thông tin kế toán chịu tổn thất khi họ quyết định dựa trên thông tin

kế toán sai lệch gây ra chi phí lỗ thực tế, chi phí cơ hội, thua lỗ cổ phần, tài sản…

việc xác định mức độ thiệt hại này nếu không có kiến thức chuyên ngành sẽ rất khó

xác định. Như vậy, việc kết hợp kiến thức chuyên ngành kế toán và chuyên ngành

pháp lý sẽ giải quyết các vấn đề hiệu quả hơn, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xã

hội.

Thứ hai, giới hạn kiến thức chuyên ngành luật và kế toán làm hạn chế việc

giải quyết các vấn đề.

61

Nhiều luật sư, quan toà là các chuyên gia về pháp luật, không phải là các

chuyên gia về kế toán, vì vậy họ không thể đưa ra các kết luận xét xử chính xác về

các vụ việc có liên quan đến kế toán. Kinh nghiệm và kiến thức chuyên môn về

pháp luật cũng không thể liên hệ giữa bằng chứng và các sự kiện thực tế, vì vậy họ

phải chuyển quyền xem xét mối liên hệ đó cho các nhà chuyên môn thực sự có khả

năng đánh giá các vấn đề kỹ thuật, đó là các nhà kế toán điều tra, họ xem xét bằng

chứng dựa trên các kiến thức chuyên môn, chuyển tải các thông tin liên quan thành

nội dung dễ tiếp cận hơn, là công cụ hỗ trợ cho quá trình xét xử.

Đối với khoa học kế toán, lý thuyết và thực tiễn kế toán tại Việt Nam chưa thể

đáp ứng triệt để được các yêu cầu pháp lý từ thực tế trong sự phát triển kinh tế xã

hội. Trong quá trình áp dụng, các nhà kế toán gặp phải rất nhiều vấn đề phát sinh

mới từ thực tiễn nhưng ngôn ngữ kế toán chưa thể diễn tả hết, hay các chuẩn mực,

thông tư, quy định không thể có hướng dẫn cụ thể cho từng trường hợp thực tế phát

sinh. Vì vậy, các nhà kế toán phải sử dụng kinh nghiệm và sự hiểu biết pháp luật

của chính họ để giải quyết vấn đề, và như vậy dễ dàng xảy ra các sai lầm. Các

nghiệp vụ kinh tế xã hội ngày càng trở nên phức tạp đòi hỏi phải có các biện pháp

kết hợp để đối phó.

Thứ ba, kiểm toán truyền thống chưa thể đáp ứng nhu cầu của xã hội.

Trong điều kiện kinh tế thị trường, lĩnh vực kiểm toán đóng vai trò ngày càng

quan trọng và tham gia ngày càng sâu rộng trong các hoạt động kinh tế, từ đó xã hội

luôn mong muốn kiểm toán phát hiện và trình bày các mặt hạn chế trong quản lý

doanh nghiệp. Tuy nhiên thông tin kế toán chỉ phản ánh lại các hoạt động kinh tế đã

diễn ra trước đó gây ra thông tin kế toán không kịp thời, mặt khác, các kỹ thuật gian

lận ngày càng phức tạp, tinh vi, kiểm toán viên chỉ có thể đưa ra ý kiến trung thực

hợp lý trên báo cáo tài chính, hơn nữa, chức năng nhận diện gian lận của kiểm toán

cũng bị hạn chế do các hạn chế vốn có. Ngoài ra, do nguyên tắc lợi ích chi phí, và

rủi ro chọn mẫu, cuộc kiểm toán luôn xuất hiện các rủi ro kiểm toán.

62

Kiểm toán gian lận (Fraud auditing) tập trung phát hiện các gian lận, nhưng

không quan tâm đến các yếu tố pháp lý, vì vậy các bằng chứng thu thập có thể

không đáp ứng với các yêu cầu của toà án hay thoả mãn các quy định pháp luật.

Hơn nữa, dù kiểm toán nghi ngờ có gian lận, họ chỉ có thể thực hiện thêm các thủ

tục cần thiết để xác nhận sự hiện hữu của gian lận, từ đó đưa ra tư vấn thích hợp,

thông báo với các cấp quản lý, ban lãnh đạo. Nếu nhà quản lý hay ban lãnh đạo từ

chối chấp nhận các ý kiến trên thì kiểm toán viên chỉ có thể phát hành báo cáo kiểm

toán với ý kiến ngoại trừ, không chấp nhận hoặc từ chối nhận xét hoặc rút lui khỏi

cuộc kiểm toán. So với kiểm toán độc lập, chức năng nhận diện gian lận của kiểm

toán nội bộ củng có các hạn chế nhất định do không đảm bảo tính độc lập cần có,

chi phí triển khai phòng chống gian lận cao.

Như vậy sự xuất hiện của kế toán điều tra không chỉ bù đắp các mặt hạn chế

trong phát hiện gian lận mà còn nâng cao độ tin cậy của thông tin kế toán, giảm

thiểu các rủi ro và các hành vi bất hợp pháp, từ đó hình thành cầu nối khoảng cách

kỳ vọng của xã hội và lực lượng kế toán kiểm toán.

Thứ tƣ, sự phát triển của điều kiện pháp lý hiện nay và sự đáp ứng nhu cầu

dịch vụ kế toán điều tra tại Việt Nam.

Theo Hiệp hội kế toán viên công chứng Hoa Kỳ AICPA, kế toán điều tra bao

gồm hai lĩnh vực: Hỗ trợ pháp lý (litigation Support), và điều tra kế toán

(Investigation Accounting). Về hoạt động điều tra kế toán, theo kết quả khảo sát của

bài rõ ràng tại Việt Nam có xuất hiện nhu cầu nhưng không có tổ chức nào đáp ứng

được do kiến thức chuyên ngành chưa phát triển cao để có thể đáp ứng nhu cầu xã

hội, bên cạnh đó là nguyên tắc chi phí lợi ích chi phối hoạt động của các tổ chức

cung cấp dịch vụ. Về hoạt động hỗ trợ pháp lý, với điều kiện pháp lý tại Việt Nam

hiện nay, khái niệm “giám định tư pháp” gần giống như kế toán điều tra trong hoạt

động hỗ trợ pháp lý, nhất là khi ra đời Luật giám định tư pháp 2012 và các văn bản

hướng dẫn thi hành trong thời gian gần đây như Nghị định 85/2013/NĐ-CP, Thông

tư 138/2013/TT-BTC … Các quy định mới cho phép đương sự trong vụ án hành

63

chính, vụ việc dân sự, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa

vụ liên quan trong vụ án hình sự hoặc người đại diện hợp pháp của họ được quyền

tự mình yêu cầu giám định tư pháp sau khi đã đề nghị cơ quan tiến hành tố tụng,

người tiến hành tố tụng trưng cầu giám định mà không được chấp nhận, trừ trường

hợp việc yêu cầu giám định liên quan đến việc xác định trách nhiệm hình sự của bị

can, bị cáo (khoản 3, Điều 2 Luật Giám định tư pháp), mở ra cơ hội mới, tạo điều

kiện chủ động cho các bên đương sự chủ động thu thập chứng cứ để chứng minh,

bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Bên cạnh đó, tổ chức giám định tư pháp

ngoài công lập là một nội dung mới, mang tính cải cách đột phá trong hoạt động

giám định tư pháp, qua đó tạo điều kiện ra đời những tổ chức giám định chuyên

trách ngoài công lập, nhằm đáp ứng tốt hơn yêu cầu giám định tư pháp. Tổ chức

giám định tư pháp ngoài công lập hoạt động dưới hình thức Văn phòng giám định tư

pháp, được thành lập trong các lĩnh vực tài chính, ngân hàng, xây dựng, cổ vật, di

vật, bản quyền tác giả.

Theo điều 60 Bộ Luật tố tụng hình sự số 19/2003/QH11 ngày 26/11/2003,

người giám định có quyền:

a) Tìm hiểu tài liệu của vụ án có liên quan đến đối tượng phải giám định;

b) Yêu cầu cơ quan trưng cầu giám định cung cấp những tài liệu cần thiết cho

việc kết luận;

c) Tham dự vào việc hỏi cung, lấy lời khai và đặt câu hỏi về những vấn đề có

liên quan đến đối tượng giám định;

d) Từ chối việc thực hiện giám định trong trường hợp thời gian không đủ để

tiến hành giám định, các tài liệu cung cấp không đủ hoặc không có giá trị để kết

luận, nội dung yêu cầu giám định vượt quá phạm vi hiểu biết chuyên môn của mình;

64

đ) Ghi riêng ý kiến kết luận của mình vào bản kết luận chung nếu không thống

nhất với kết luận chung trong trường hợp giám định do một nhóm người giám định

tiến hành.

Người giám định phải có mặt theo giấy triệu tập của Cơ quan điều tra, Viện

kiểm sát, Toà án; không được tiết lộ bí mật điều tra mà họ biết được khi tham gia tố

tụng với tư cách là người giám định.

Bên cạnh đó, khoản e Điều 68 Bộ Luật tố tụng dân sự số 24/2004/QH11 ngày

15/06/2004, cũng nhấn mạnh quyền và nghĩa vụ của giám định viên tư pháp như

sau: “Không được tự mình thu thập tài liệu để tiến hành giám định, tiếp xúc với

những người tham gia tố tụng khác nếu việc tiếp xúc đó làm ảnh hưởng đến kết quả

giám định; không được tiết lộ bí mật thông tin mà mình biết khi tiến hành giám định

hoặc thông báo kết quả giám định cho người khác, trừ trường hợp Thẩm phán quyết

định trưng cầu giám định;”

Như vậy, kế toán điều tra Việt Nam chưa phát triển hoàn thiện, về hoạt động

điều tra kế toán hầu như không đáp ứng nhu cầu của thị trường. Về hoạt động hỗ trợ

pháp lý, kế toán điều tra chỉ đang manh nha phát triển trong phạm vi cho phép của

quy định pháp luật.

3.2. Các cơ hội và khó khăn trong phát triển kế toán điều tra tại các nƣớc đang

phát triển nói chung và Việt Nam nói riêng

3.2.1. Cơ hội

Theo Okoye & Akenbor (2009) [41] kế toán điều tra được xem như một công

cụ hữu hiệu, hỗ trợ các cơ quan điều tra không những truy tố tội phạm như gian lận

đút lót, hối lộ mà còn các gian lận khác như rửa tiền, tội phạm kinh tế khác. Ngoài

ra, kế toán điều tra đưa ra các lợi ích như sau:

65

i) Cơ hội nghề nghiệp: các dư luận về gian lận làm kỳ vọng một ngành nghề

mới đáp ứng được các khoảng cách mong đợi, từ đó người làm chuyên môn liên

quan luôn có các cơ hội làm việc mới.

ii) Theo Ansari (2005) [11] khi các điều kiện pháp luật thay đổi sẽ dẫn đến

hoạt động kinh doanh được kiểm soát chặt chẽ hơn, các hiện tượng mua bán sáp

nhập diễn ra nhiều hơn, đòi hỏi các dịch vụ chuyên môn thuộc kế toán điều tra đi

kèm.

iii) Gomide (2008) [28] cho rằng kế toán điều tra là công cụ hữu hiệu phát

hiện tham ô.

iv) Kế toán điều tra làm tăng độ tin cậy báo cáo tài chính (Ansari (2005)[11])

v) Các tranh chấp thương mại đang trở nên phức tạp, luật sư tranh tụng cần có

các chuyên gia có khả năng giải thích báo cáo tài chính và sự phức tạp của các

nghiệp vụ đang tranh chấp (Pagano (2005) [43])

Đối với thị trường Việt Nam, theo kết quả khảo sát ở chương hai, có 84,1%

đồng ý rằng các thủ tục kiểm toán không thể phát hiện tất cả gian lận, trung bình và

độ lệch chuẩn lần lượt là 4,06 và 1,043 cho thấy các đối tượng khảo sát đồng ý khá

cao rằng các thủ tục kiểm toán không thể phát hiện tất cả gian lận. Điều này mở ra

cơ hội nghề nghiệp mới, đó là kế toán điều tra, bằng các kỹ thuật điều tra thu thập

bằng chứng kế toán điều tra giúp ngăn chặn và phát hiện gian lận hữu hiệu hơn. Bên

cạnh đó, Việt Nam hoạt động theo cơ chế thị trường, đã và đang hội nhập kinh tế

thế giới, mặt khác thị trường chứng khoán còn non trẻ làm phát sinh các sai phạm

gây thiệt hại cho nền kinh tế, quá trình sáp nhập, mua bán càng cần thiết các dịch vụ

chuyên môn cao nhằm giúp các quá trình chuyển đổi này theo đúng luật định. Kết

quả khảo sát chương hai cho thấy 65,3% (Mean 3,71; SD 0,829) đồng ý kế toán

điều tra có tính hoài nghi nghề nghiệp cao giúp phát hiện các hành vi biển thủ của

nhân viên và tham ô, lạm quyền của ban quản lý. Đối với việc dịch vụ kế toán điều

66

tra nâng cao chất lượng của thông tin trên báo cáo tài chính đạt trung bình 4,06

(SD=0,801) cho thấy sự đồng ý cao của các đối tượng khảo sát. Mức độ nhận biết

của các nhóm đối tượng là khá đồng đều.

3.2.2. Các khó khăn

Theo Okoye & Akenbor (2009) [41] khó khăn phát triển kế toán điều tra tại

các nước đang phát triển là các tổ chức giáo dục cho rằng kế toán điều tra không

khác kiểm toán, kế toán điều tra là một bộ phận của các khóa học kiểm toán hơn là

một khóa học riêng biệt.

Tuy hai ngành kiến thức này khá tương đồng nhưng sự phân biệt khá rõ ràng

dựa trên mục tiêu và các yêu cầu của hai ngành (như các phần trên đã phân tích)

Crumbley (2001) [21], Grippo và Ibex (2003) [29] đưa ra các khó khăn phát

triển kế toán điều tra như sau:

i) Thu thập bằng chứng trình bày trước Tòa. Các bằng chứng này phải phù hợp

với các quy định bằng chứng trong luật hình sự, luật dân sự.

ii) Kế toán điều tra khó phát hiện các hành vi gian lận qua hệ thống máy tính.

iii) Toàn cầu hóa khiến tội phạm có thể ở một nước nhưng vi phạm gian lận ở

nước khác, dẫn đến tình trạng liên xét xử (inter-jurisdiction)

iv) Luật pháp không phải lúc nào cũng được cập nhật kịp thời với sự tiến bộ

trong đời sống. Do đó, luật sư và kế toán điều tra phải dựa vào đạo luật, các văn bản

luật đã lỗi thời.

v) Kế toán điều tra được xem như là một dịch vụ đắt tiền mà chỉ các công ty

lớn có thể đủ khả năng về tài chính. Bên cạnh đó, nó sẽ là khá tốn kém nếu các vấn

đề đã được đưa ra tòa và nơi mà nó liên quan đến chứng kiến chuyên gia. Vì vậy,

67

hầu hết các công ty muốn giải quyết vấn đề bên ngoài tòa án để tránh những chi phí

tốn kém và nguy cơ công khai xấu về hình ảnh công ty của họ

vi) Không có yêu cầu bắt buộc được thiết lập bởi bất kỳ cơ quan quản lý

về việc thực hiện kế toán điều tra, ngay cả những công ty bị gian lận.

vii) Thiếu các quy định bảo vệ nhân viên tố giác các hành vi sai trái trong tổ

chức. Điều này cản trở sự phát triển của kế toán điều tra.

viii) Tại các nước đang phát triển, kế toán điều tra là xu hướng mới du nhập từ

các nước phát triển. Vì vậy, kế toán điều tra chưa phổ biến, chưa được các trường

học tổ chức thành bộ môn giảng dạy. Do đó, sự hiểu biết về kế toán điều tra còn hạn

hẹp, khả năng nhận biết về thuật ngữ này còn thấp.

Tại Việt Nam, kế toán điều tra hoàn toàn mới mẻ, chưa được các công ty kiểm

toán trong nước hay quốc tế thực hiện (có thể chỉ quảng cáo trên website nhưng

chưa thực hiện). Mặc dù vậy nhu cầu ngăn chặn gian lận, môi trường pháp lý đang

cải thiện, cho thấy mâu thuẫn phát triển kế toán điều tra tại Việt Nam. Điều này có

thể lý giải như sau:

+ Hiện nay kỳ vọng vào vai trò phát hiện gian lận của kiểm toán độc lập

là rất lớn. Thị trường sử dụng kết quả kiểm toán vẫn chưa phân biệt

được mục đích của kiểm toán báo cáo tài chính và kế toán điều tra.

Như trong kết quả phân tích chương hai, về “Kiểm toán viên không có

trách nhiệm phát hiện tất cả gian lận” có mức đồng ý gần bằng 4 cho

thấy có sự không chắc chắn. Cụ thể, Giảng viên, Kiểm toán viên đồng

ý rằng kiểm toán viên không có trách nhiệm phát hiện tất cả gian lận.

Tuy nhiên, kế toán và luật gia lại có mong muốn một mức độ đảm bảo

cao hơn về gian lận. Chứng tỏ có khoảng cách giữa các nhà chuyên

môn và người sử dụng kết quả kiểm toán.

68

+ Khi có nghi ngờ gian lận trong công ty, ban quản lý thường báo cơ

quan chức năng chứ không chủ động giải quyết vấn đề. Tuy nhiên cơ

quan chức năng chỉ tiến hành điều tra khi có bằng chứng xác đáng về

vấn đề nghi ngờ.

+ Niềm tin kế toán điều tra là một dịch vụ đắt tiền, không phù hợp với thị

hiếu người Việt Nam cho rằng “điều tra” là chức năng của cơ quan

Nhà nước.

+ Ít có doanh nghiệp chú trọng đến xây dựng hệ thống kiểm soát nội bộ

đến mức thuê chuyên gia điều tra hệ thống này giúp ngăn ngừa gian

lận.

+ Kế toán điều tra chưa có địa vị pháp lý trong các văn bản pháp luật

Việt Nam; Việt Nam chưa có chuẩn mực hướng dẫn thực hiện hoạt

động này.

3.3. Đề xuất các giải pháp phát triển kế toán điều tra tại Việt Nam

Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu khoa học, cho thấy tồn tại nhận thức

xã hội về khoảng cách nhu cầu phát hiện ngăn chặn gian lận và khả năng đáp ứng

của nghề nghiệp. Để nối liền khoảng cách này, công cụ kế toán điều tra như một cây

cầu cần được xây dựng trong môi trường Việt Nam hiện nay.

3.3.1. Về đào tạo

3.3.1.1. Đào tạo trong nhà trường

Kết quả khảo sát đạt được sự đồng ý cao rằng, nhằm tăng cường nhận thức về

kế toán điều tra (Forensic Accounting) nên đưa kiến thức về kế toán điều tra

(Forensic Accounting) vào chương trình giảng dạy trong chuyên ngành.

69

Kết quả này phù hợp với các nghiên cứu trước đó như Rezaee và Burton

(1997) [48] kết luận rằng kế toán điều tra nên đào tạo kết hợp với chương trình

giảng dạy kế toán, hoặc là một chương trình riêng biệt hoặc là một bộ môn trong

chương trình kế toán kiểm toán.Từ các thành công áp dụng chương trình giảng dạy

kế toán điều tra tại Hoa Kỳ, Sodders (2005) [49], Efiong (2012) [25] cho rằng nên

đào tạo kế toán điều tra trong bậc sau đại học.

Theo Crumbley (2005) [22], kế toán điều tra cần nắm các kiến thức kế toán,

tội phạm học, luật, và kỹ thuật kiểm toán điều tra. Thêm vào đó, kế toán điều tra cần

có kỹ năng tin học, kỹ năng nói và viết tốt.

Kế toán

Luật

Kế toán điều tra

Tội phạm học

Kiểm toán điều tra

Hình 3.1: Cơ sở lý thuyết của kế toán điều tra

Nguồn: Crumbley (2005)

Từ đó, theo người viết, tại Việt Nam, các trường đại học, cao đẳng, học viện

có đào tạo ngành kế toán nên xây dựng chương trình đào tạo kế toán điều tra kết

hợp các kiến thức về kế toán, kiểm toán chuyên sâu, luật, tội phạm học trong

chương trình đào tạo bậc cao học. Bậc học cử nhân có thể đào tạo ở mức độ cơ bản.

70

3.3.1.2. Đào tạo nghề nghiệp

Từ sự cần thiết và nhu cầu về kế toán điều tra, cũng giống như nghề nghiệp kế

toán hay kiểm toán, kế toán điều tra cũng có hướng đào tạo nghề nghiệp để đạt các

chứng nhận chuyên môn từ các tổ chức chuyên nghiệp.

Tại Hoa Kỳ, một số tổ chức đào tạo và cấp chứng chỉ về kế toán điều tra (Phụ

lục 14) như ACFE cấp chứng chỉ CFE, AICPA cấp chứng chỉ CFF… Tại Việt Nam,

nghề nghiệp kế toán điều tra chưa xuất hiện, chỉ có khái niệm giám định tư pháp về

tài chính khá tương đồng trong thu thập bằng chứng xác định tổn thất phục vụ xét

xử của Tòa án, thẻ giám định viên thường được các cơ quan Nhà nước bổ nhiệm.

Trong tương lai, hướng phát triển nghề nghiệp kế toán điều tra là xu hướng tất yếu

thì Việt Nam cũng cần có sự giám sát, quản lý của Hội nghề nghiệp VACPA. Điều

này phù hợp với kết luận khảo sát các nhóm đối tượng và không có sự khác biệt

giữa các nhóm về mức độ đồng ý cao. Tại Việt Nam, kế toán điều tra cũng sẽ do các

kiểm toán viên có kinh nghiệm và kiến thức chuyên sâu liên quan thực hiện, Hội

nghề nghiệp VACPA công nhận bằng cách tổ chức cấp chứng chỉ sau khi kiểm toán

viên đạt kỳ thi liên quan, hoặc cấp chứng chỉ sau khi hoàn tất khóa học tăng cường

kiến thức v.v… theo xu hướng phát triển chung của thế giới.

Bên cạnh đó, để phát triển ngay một lực lượng kế toán điều tra viên, chúng ta

có thể kết hợp hội nghề nghiệp luật sư, hội nghề nghiệp kiểm toán viên. Các hội

nghề nghiệp này có thể ký kết Biên bản ghi nhớ hình thành cơ chế phối hợp với

nhau, cùng nhau đào tạo kế toán điều tra hoặc thảo luận chuyên đề chuyên sâu có

liên quan.

3.3.2. Về môi trƣờng giám sát, pháp lý, phối hợp

3.3.2.1. Về phía cơ quan Nhà nước

Để phát triển dịch vụ kế toán điều tra, cơ quan pháp luật cần quy định các văn

bản pháp luật quy định quyền và nghĩa vụ tương ứng của kế toán điều tra viên.

71

Luật kế toán Việt Nam hiện nay đang trong giai đoạn dự thảo trong khi ý kiến

của Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng yêu cầu sửa đổi luật theo hướng đề cao

vai trò phòng và chống tham nhũng của kế toán. Như vậy để tạo hướng phát triển

cho kế toán điều tra, Luật nên đề cập và làm rõ các vấn đề sau:

+ Tăng tính độc lập của kế toán viên về hình thức, tư tưởng

+ Tăng tính khách quan của kế toán viên

+ Đăng ký tài khoản ngân hàng của chủ doanh nghiệp tư nhân; ban giám

đốc, Hội đồng thành viên đối với công ty trách nhiệm hữu hạn; Ban

giám đốc, Hội đồng quản trị đối với công ty cổ phần.

+ Tuân thủ nguyên tắc bất kiêm nhiệm

+ Luật mới cũng nên quy định về thưởng phạt hay khuyên doanh nghiệp

thành lập đường dây nóng, khuyến khích sự tố giác trong nhân viên như

email, điện thoại, hộp thư v.v…

Đối với Luật kiểm toán độc lập có hiệu lực năm 2012, nhằm tạo tiền đề phát triển

kế toán điều tra, các nhà lập pháp nên lưu ý đến đạo luật Sarbanes – Oxley 2002 của

Hoa Kỳ. Mục tiêu chính của Đạo luật này nhằm bảo vệ lợi ích của các nhà đầu tư

vào các công ty đại chúng bằng cách buộc các công ty này phải cải thiện sự đảm

bảo và tin tưởng vào các báo cáo, các thông tin tài chính công khai. Từ đó, người

viết kiến nghị sửa đổi Luật kiểm toán độc lập như sau:

+ Quy định thành lập Ủy ban kiểm toán tại các công ty kiểm toán theo luật

định. Ủy ban kiểm toán có nhiệm vụ lựa chọn công ty kiểm toán, kết quả

kiểm toán sẽ báo cáo với Ủy ban này, ban giám đốc, Hội đồng quản trị

v.v…Điều này cho phép giới hạn phần nào các hạn chế vốn có trong cuộc

kiểm toán, từ đó kiểm toán viên có thể tiến hành các thủ tục kiểm toán mang

bản chất điều tra theo chuẩn mực kiểm toán.

72

+ Trong Luật nên quy định rõ các loại hình dịch vụ công ty kiểm toán không

được cung cấp đồng thời cho khách hàng kiểm toán của họ như: Kế toán, ghi

chép sổ sách; Thiết kế và thực hiện hệ thống thông tin tài chính cho doanh

nghiệp; Định giá; đồng thời cung cấp dịch vụ kiểm toán nội bộ cho khách

hàng kiểm toán; cung cấp nhân sự; đồng thời cung cấp dịch vụ quản lý cho

khách hàng kiểm toán; Môi giới chứng khoán, tư vấn đầu tư hoặc các dịch vụ

ngân hàng đầu tư; Dịch vụ pháp lý và các dịch vụ chuyên gia không liên

quan đến kiểm toán; v.v… Hiện nay Luật chỉ đang quy định các dịch vụ

được phép, điều này dường như tạo khe hở cho việc cung cấp các dịch vụ

không đảm bảo tính độc lập của kiểm toán viên, và công ty kiểm toán. Bên

cạnh việc tăng tính độc lập, quy định này còn mở ra hướng phát triển cho kế

toán điều tra, như trong phần 10A (g) của SEA 1934 quy định công ty kiểm

toán không được cung cấp các dịch vụ về pháp lý, chuyên gia phi kiểm toán.

+ Luật nên đưa thêm loại hình dịch vụ kế toán điều tra, từ đó đổi tên Luật kiểm

toán độc lập thành Luật các dịch vụ đảm bảo nhằm đem lại vị thế cho ngành

kế toán điều tra.

Bên cạnh Luật, các văn bản quy định pháp luật, kế toán điều tra cũng cần

Chuẩn mực của riêng nó. Các cơ quan Nhà nước, Hội nghề nghiệp liên quan nên

phối hợp xây dựng chuẩn mực từ tính độc lập cho tới các kỹ thuật sử dụng để hướng

dẫn các kế toán điều tra thực hiện. Như Chuẩn mực thực hành hợp đồng về kế toán

điều tra của Canada tháng 11 năm 2006, quy định về chấp nhận hợp đồng kế toán

điều tra, trường hợp không thể tiếp tục hợp đồng, việc lên kế hoạch và giám sát

công việc, thu thập và phân tích thông tin, lưu trữ hồ sơ, viết báo cáo v.v…

Ngoài chức năng quy định pháp luật, cơ quan Nhà nước còn cần phải giám sát,

kiểm tra chất lượng loại hình hoạt động này:

Quan điểm xây dựng cơ chế kiểm soát chất lượng:

73

+ Hội nhập quốc tế: Tuân thủ các thông lệ chung trên thế giới, từ đó

giúp hội nhập vào kinh tế quốc tế.

+ Phù hợp đặc điểm, điều kiện của Việt Nam: Kế toán điều tra còn rất

mới mẻ tại Việt Nam, do đó để phát triển dịch vụ này trong một cơ

chế kiểm soát mở (hướng hội nhập) vẫn cần phải phù hợp với trình độ

phát triển kinh tế, công nghệ kỹ thuật của Việt Nam. Khi Việt Nam

mở ra loại hình kế toán điều tra dẫn đến nguy cơ thị trường kế toán

điều tra đều do các chi nhánh công ty kiểm toán quốc tế thực hiện. Vì

vậy cần đảm bảo chất lượng kế toán điều tra khá đồng đều giữa công

ty kiểm toán có quy mô nhỏ và công ty có quy mô lớn.

Xây dựng cơ chế kiểm soát chất lượng từ bên trong lẫn bên ngoài:

Kiểm soát chất lượng từ bên trong nghĩa là xây dựng các tiêu chuẩn, quy trình

và cách thức kiểm soát tại các công ty cung cấp dịch vụ kế toán điều tra. Do đó cần

ban hành các Chuẩn mực về kiểm soát chất lượng, ban hành các hướng dẫn chi tiết

kiểm soát chất lượng từ bên trong là rất cần thiết để các công ty cung cấp dịch vụ có

thể dựa vào đó để xây dựng quy trình kiểm soát chất lượng khoa học, phù hợp và

thật sự có chất lượng.

Cơ chế kiểm soát chất lượng từ bên ngoài là tổng thể các nội dung như: xác

định cơ quan thực hiện, quy trình kiểm tra và kinh phí. Xây dựng kiểm soát chất

lượng từ bên ngoài thực chất là xác định cơ quan tổ chức thực hiện kiểm soát phù

hợp, thiết lập tiêu chuẩn kiểm tra viên và xác định nguồn kinh phí tài trợ. Theo ý

kiến của người viết, do sản phẩm kế toán điều tra mang tính chất nội bộ trong công

ty ký kết hợp đồng, không như sản phẩm của kiểm toán độc lập là báo cáo kiểm

toán phục vụ cho rất nhiều người sử dụng báo cáo tài chính, mặc dù kết quả có thể

là công cụ hỗ trợ pháp lý khi cần thiết (công khai trước cơ quan tư pháp), nên chỉ

cần Hội nghề nghiệp kiểm soát chất lượng, kiểm tra việc tuân thủ đạo đức nghề

nghiệp, thực hiện điều tra và tiến hành biện pháp phạt đối với hành vi vi phạm. Tuy

74

nhiên, nếu công ty kiểm toán cung cấp dịch vụ kế toán điều tra thì cần phải phối

hợp cơ chế kiểm soát của cả Bộ tài chính, Hội nghề nghiệp, Ủy ban chứng

khoán, thậm chí cả Bộ Tƣ pháp nhằm đám bảo tính độc lập kiểm toán và dịch vụ

kế toán điều tra giữa các khách hàng kiểm toán và khách hàng phi kiểm toán của

công ty cung cấp dịch vụ (Điều này sẽ được làm rõ trong phần kiến nghị đối với

công ty kiểm toán cung cấp kế toán điều tra). Đối với tiêu chuẩn kiểm tra viên trong

các cuộc kiểm soát chất lượng, kiểm tra viên là thành viên trong Hội nghề nghiệp

(có thể là VACPA hoặc một hội nghề nghiệp riêng), được cấp phép hành nghề,

kiểm tra viên là người độc lập với công ty cung cấp dịch vụ được kiểm tra và phải

bảo mật thông tin liên quan trong cuộc kiểm soát chất lượng. Kinh phí thực hiện các

cuộc kiểm soát chất lượng từ bên ngoài này là từ hội phí hàng năm do công ty cung

cấp dịch vụ đóng góp.

Ngoài ra, các cơ quan chức năng có liên quan như Bộ Tư pháp, Viện Kiểm sát,

Tòa án, Bộ Công an, Bộ Tài chính cần có các văn bản quy định, hướng dẫn về sự

kết hợp kế toán điều tra và các ngành cụ thể như luật sư, kiểm sát viên, thẩm phán,

điều tra viên, giám định viên tài chính trong việc nâng cao kỹ thuật trong từng

ngành nghề nói riêng và phối hợp với chuyên gia nói chung. Về mặt nâng cao kỹ

thuật là việc các ngành tự chuyên môn hóa với các kỹ thuật kế toán điều tra trong cả

điều tra gian lận và hỗ trợ pháp lý: Luật sư (Bộ tư pháp), Kiểm sát viên/Thẩm phán

cần (Viện Kiểm sát/ Tòa án), Điều tra viên (Bộ công an), Giám định viên tài chính

(Bộ Tài chính) cần tăng cường các kiến thức chuyên môn về kế toán trong các vụ

kiện dân sự cũng như hình sự có liên quan đến chuyên môn kế toán; tăng cường khả

năng nhận biết các bằng chứng có liên quan. Về mặt phối hợp với chuyên gia, cụ

thể là kế toán điều tra viên, các văn bản pháp luật cũng như các chuẩn mực nghề

nghiệp cần quy định chức năng, nhiệm vụ và hướng dẫn sự tham gia của chuyên

gia.

75

3.3.2.2. Về phía công ty kiểm toán

Để xã hội hóa loại hình dịch vụ kế toán điều tra, dịch vụ này nên do các công

ty kiểm toán thực hiện, các kiểm toán viên đảm trách vì lực lượng kiểm toán viên có

đủ năng lực và kinh nghiệm, hiểu rõ đạo đức nghề nghiệp cũng như sẵn sàng hấp

thu kiến thức kế toán điều tra và rèn luyện trở thành kế toán điều tra viên. Trong

tương lai, nhu cầu nghề nghiệp tăng cao, Nhà nước có thể quy định về thành lập

Văn phòng kế toán điều tra riêng biệt. Bên cạnh đó, nên bổ sung thêm loại hình

công ty trách nhiệm hữu hạn trong việc thành lập văn phòng nhằm khuyến khích

mở rộng lĩnh vực này.

Tiếp theo các giải pháp luật định về việc công ty kiểm toán không được cung

cấp đồng thời cho khách hàng kiểm toán dịch vụ pháp lý và các dịch vụ chuyên gia

không liên quan đến kiểm toán, mục đích này nhằm duy trì tính độc lập của công ty

kiểm toán trong việc ngăn chặn sự bào chữa cho khách hàng kiểm toán. Cơ sở của

quy định này bắt nguồn từ mâu thuẫn giữa yêu cầu pháp lý và đạo đức nghề nghiệp:

việc hỗ trợ pháp lý (như luật sư) thường mang tính chất bào chữa cho khách hàng,

trong khi đạo đức nghề nghiệp kiểm toán cần tôn trọng tính độc lập Tuy nhiên điều

này không thể ngăn cấm kiểm toán viên thực hiện kế toán điều tra trong trường hợp

mở rộng các thủ tục kiểm toán bằng các kỹ thuật kế toán điều tra khi cần thiết làm

rõ các dấu hiệu nghi ngờ có gian lận. Như vậy, công ty kiểm toán cung cấp dịch vụ

kế toán điều tra tuân thủ đạo đức nghề nghiệp cần phân biệt dịch vụ cung cấp cho

khách hàng kiểm toán và khách hàng phi kiểm toán theo mục đích tiến hành.

Khi khách hàng có nhu cầu điều tra gian lận khi có dấu hiệu nghi ngờ mà cơ

quan chức năng cũng đang tiến hành điều tra thì được phép đối với khách hàng

phi kiểm toán. Ngược lại, điều này vi phạm tính độc lập do vậy công ty kiểm

toán không được phép cung cấp dịch vụ kế toán điều tra đối với khách hàng

kiểm toán.

76

Đối với trường hợp trong một cuộc kiểm toán, kiểm toán viên nhận thấy có

dấu hiệu nghi ngờ có gian lận và cần thiết mở rộng phạm vi kiểm toán bằng

các thủ tục kiểm toán mang bản chất kế toán điều tra dưới sự cho phép của Ủy

ban kiểm toán thì đều được phép đối với khách hàng kiểm toán và khách hàng

phi kiểm toán.

Trường hợp cung cấp dịch vụ chuyên gia hay chuyên viên tư vấn pháp luật,

xây dựng hệ thống thông tin tài chính, kế toán, kiểm soát nội bộ, hỗ trợ pháp

lý thì đối với khách hàng phi kiểm toán thì điều này được phép, và ngược lại

không được phép đối với khách hàng kiểm toán do vi phạm tính chất độc lập.

Trong tường hợp tiến hành điều tra nội bộ nhằm báo cáo Ủy ban kiểm toán các

sái sót và gian lận kế toán cả hai loại khách hàng kiểm toán và phi kiểm toán

đều được chấp thuận. Ngoại trừ trường hợp nhằm mục đích bảo vệ cho Ủy ban

kiểm toán hay công ty nói chung trong các vụ tranh chấp quyền lợi cổ đông,

hoặc trong các cuộc điều tra bởi các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền mang

tính chất dân sự hay hình sự. Việc làm nhân chứng dựa trên kiến thức chuyên

môn được chấp nhận.

Nhu cầu tự bào

Mở rộng phạm

Cung cấp dịch

Tiến hành điều tra

chữa khi cơ

vi kiểm toán để

vụ chuyên gia

nội bộ nhằm báo

quan chức

hỗ trợ cuộc kiểm

hay chuyên

cáo Ủy ban kiểm

năng thực hiện

toán

viên tƣ vấn

toán các sái sót và

điều tra

theo luật định

gian lận kế toán (a)

Khách hàng

Cho phép

Cho phép

Cho phép

Cho phép

phi kiểm toán

Khách hàng

Không được

Không được

Cho phép

Cho phép

kiểm toán

phép

phép

(a) Không được phép nhằm mục đích bảo vệ cho Ủy ban kiểm toán hay công ty nói chung trong

các vụ tranh chấp quyền lợi cổ đông, hoặc trong các cuộc điều tra bởi các cơ quan Nhà nước có

thẩm quyền mang tính chất dân sự hay hình sự. Việc làm nhân chứng dựa trên kiến thức chuyên

môn được chấp nhận.

77

Bên cạnh việc quy định rõ về các hợp đồng kế toán điều tra, để xây dựng lực

lượng kế toán điều tra viên, công ty kiểm toán cần tăng cường đào tạo nhân viên có

đủ năng lực, trình độ tiếp thu các kiến thức về kế toán điều tra. Ngoài ra, công ty

kiểm toán cần tích cực chủ động giới thiệu dịch vụ này rộng rãi cho khách hàng

trong phạm vi luật định. Đồng thời học hỏi kinh nghiệm các công ty kiểm toán lớn

trên thế giới cách tiến hành các cuộc kiểm toán điều tra. Tận dụng mạng lưới thành

viên các công ty kiểm toán quốc tế để trau dồi về nghiệp vụ, nắm bắt thông tin đào

tạo trên thế giới, nhu cầu cũng như xu hướng nghề nghiệp.

3.3. Hạn chế của đề tài

Lý thuyết kế toán điều tra còn khá mới mẻ, nhưng rất rộng. Trong thời hạn

định trước và phạm vi của một luận văn, tác giả đã thu thập các tài liệu tham khảo

liên quan trực tiếp nhưng vẫn có thể thiếu sót trong tổng quan lý thuyết.

Mặt khác, Việt Nam chưa ứng dụng dịch vụ kế toán điều tra, các chương trình

giảng dạy chuyên ngành cũng chưa đề cập phổ biến, nên khó khăn trong xây dựng

thang đo.

Phạm vi nghiên cứu của đề tài tại thành phố Hồ Chí Minh, chưa tiến hành

khảo sát ở các thành phố lớn khác của Việt Nam như Hà Nội, Đà Nẵng.

Đề tài không đi sâu nghiên cứu các môn học thích hợp trong đào tạo kế toán

điều tra và cũng không đi sâu vào các phương pháp kỹ thuật của kế toán điều tra.

Đây xem như một hướng nghiên cứu mới giúp xây dựng kế toán điều tra cụ thể hơn.

78

TÀI LIỆU THAM KHẢO

A. Danh mục tài liệu tiếng Việt

1. Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc (2005). Phân tích dữ liệu nghiên cứu

với SPSS. Trường Đại học Kinh tế TP. HCM. Nhà xuất bản Hồng Đức.

2. Hội kiểm toán viên hành nghề Việt Nam (VACPA). Hệ thống Chuẩn mực kiểm

toán Việt Nam. Nhà xuất bản tài chính, Hà Nội, tháng 04 năm 2013.

3. Nguyễn Đình Hựu, 2005. Cơ sở lý luận và thực tiễn áp dụng kiểm toán điều tra

trong điều kiện hiện nay của Kiểm toán Nhà nước. Đề tài nghiên cứu khoa học cấp

Bộ. Kiểm toán Nhà nước, 2005.

4. Nguyễn Tôn Nhan. Từ điển tiếng Việt. NXB Từ điển Bách Khoa, 2013.

5. Nguyễn Văn Minh, 2007. Luận văn thạc sĩ: Tội cố ý làm trái quy định của nhà

nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng trong luật hình sự Việt Nam. Đại

học Quốc gia Hà Nội.

6. Trần Khánh Lâm, 2011. Luận văn tiến sĩ: Xây dựng cơ chế kiểm soát chất lượng

cho hoạt động kiểm toán độc lập tại Việt Nam. Đại học Kinh tế TP. HCM.

B. Danh mục tài liệu tiếng Anh

7. AICPA (2009). Characteristics and Skills of the Forensic Accountant. [pdf].

uidance/DownloadableDocuments/ForensicAccountingResearchWhitePaper.pdf>

8. Albrecht et al., (1984). Detering Fraud: TheInternal Auditor's Perspective.

Altamonte Springs: The Institute of Internal Auditor's Research Foundation.

9. Alex Moore (1907). The Accountant as an Expert Witness.The Accountant (June

29 1907).

79

10. Allen G. Lux and Sandra Fitiani. Fighting Internal Crime before It

Happens.Information Systems Control Journal Vol. III (2002).

11. Ansari (2005). Corruption and Forensic Accounting. Ohio CPA Journal; July -

September.

12. Apostolou, B., Hassell, J.M., and S.A. Webber (2000): “Forensic Expert

Classification of Management Fraud Risk Factors,” Journal of Forensic

Accounting, Vol. I, 181-192.

13. Association of Certified Fraud Examiners (ACFE) (2014). Report to the

Nations on Occupational Fraud and Abuse: 2014 Global Fraud Study. [pdf].

.

14. Bryan Garner, ed., Black’s Law Dictionary. 8th Ed. (2004).

15. Cemal Elitas et al. (2011). Stance of Accounting Instructors to Forensic

Accountancy Profession: Example of Turkey. International Journal of Business and

Social Science, Vol. 2 No. 10; June 2011.

17. Cohen, Crain, M. A. Sanders (1996). Skills Used in LitigationServices. Journal

of Accountancy.

18. Committee of Sponsoring Organizations (COSO) (2010). Fraudulent Financial

Reporting: 1998 – 2007: An Anlysis of U.S. Public Companies. [pdf].

.

19. Cressey, D. R. (1950). The criminal violation of financial trust.American

Sociological Review15 (6): 738– 743.

20. Cressey, D. R. (1953).Other People‟s Money: The Social Psychology of

Embezzlement. New York, NY: The Free Press.

21. Crumbley, L.D. (2001). Forensic Accounting Older Than You Think.Journal of

Forensic Accounting; Vol. 2; RT. Edwards.

80

22. Crumbley, L.D. (2005). Forensic And Investigative Accounting 2nd Edition.

CCH Incorporated.

23. Di Gabriele, J. A. (2010). An Empirical View of the Transparent Objectivity of

Forensic Accounting Expert Witnesses. [pdf].

[Accessed: 28 August 2014]

24. Editorial. Interrelationship of Law and Accounting. Journal of Accounting 92

(1) (July 1951)

25. Efiong (2012). Forensic Accounting Education: An Exploration of Level of

Awareness in Developing Economies - Nigeria as a Case Study. International

Journal of Business and Management, Vol. 7, No. 4; February 2012.

26. Fadzly, M.N. and Ahmad, Z. (2004). Audit expectation gap: The case of

Malaysia. Managerial Auditing Journal; 2004; 19, 7; Proquest Central; pg.897

27. Festinger, L. (1957).A Theory of Cognitive Dissonance. Stanford, CA: Stanford

University Press.

28. Gomide, E. F. (2008).Forensic Accounting and prevention of fraud: Certain

practical cases. CONTROLLER'S Bulletin Vol. 8 Nº 2, (June)

29. Grippo, F.I and Ibex, IW. (2003). "Introduction to Forensic Accounting". The

National Public Accountant; Washington.

30. Harris C.K., and Brown A.M. (2000). The Qualities of a Forensic Accountant.

Pennsylvania CPA Journal.

31. Igor Pustylnick (2009). Financial Data Set Used in Computerized Fraud

Detection, ProQuest LLC.[pdf].

/pqcentral/docview/305071773/63E25EDF177F44ADPQ/1?accountid=39958>.

[Accessed: 21 August 2014].

81

32. International Standard on Auditing (2009) [e-book]. VACPA. Available through:

VACPA website . [Accessed 30May 2014]

33. James A. Hall and Tommie Singleton. IT Auditing and Assurance. New York:

Southwestern, 2004

34. Kasum (2009). The relevance of forensic Accounting to Financial Crimes in

Private and Public sectors of Third world Economies: A study from Nigeria. [pdf].

. [Accessed: 17 May 2014]

35. Kennedy Prince Modugu et al. (2013). Forensic Accounting and Financial Fraud

in Nigeria: An Empirical Approach. International Journal of Business and Social

ScienceVol. 4 No. 7; July 2013.

36. Legal Dictionary Law.com. [online]

selected=785>. [Accessed: 15 October 2014].

37. M. J. Wagner and P. B. Frank. Management Advisory Services Technical

Consulting Practice Aid 7: Litigation Support. New York: AICPA, 1986.

38. Maurice E. Peloubet (1946). Forensic Accounting: Its Place in Today‟s

Economy. Journal of Accountancy 81 (6) (June 1946)

39. Max Lourie (1953). Forensic Accounting. New York CPA (November 1953).

40. Messmer M. (2004). Exploring Options in Forensic Accounting. National

Public Accountant.

41. Okoye & Akenbor (2009). Forensic Accounting in Developing Economics:

Problems and Prospects. The University: Advanced Research Journal ISSN: 1119 –

8125, Issue 1, July – Sept 2009

42. Okoye & Gbegi (2013). Forensic Accounting: A Tool for Fraud detection and

Prevention in the Public Sector (A study of selected Ministries in Kogi State).

82

International Journal of Academic Research in Business and Social SciencesVol. 3,

No. 3; March 2013.

43. Pagano (2005). Expert Witnessing in Forensic Accounting.Journal of forensic

Accounting; Vol. 6, No.1; RT. Edwards.

44. PWC‟s 2014 Global Economic Crime Survey – US Supplement: Economic

crime: a threat to business processes. [pdf].

45. Ramamoorti (2008). The psychology and sociology of fraud: Integrating the

behavioral sciencescomponent into fraud and forensic accounting curricula.Issues in

Accounting Education23 (4): 521–533.

46. Ramamoorti et al., (2009). Bringing Freud to Fraud: Understanding the State-of-

Mind of the C-Level Suite/White Collar Offender Through„„A-B-C‟‟ Analysis.

Working paper, Institute for Fraud Prevention.

47. Ramaswamy V. (2005). Corporate Governance and the Forensic Accountant.

The CPA Journal.

48. Rezaee, Z., & Burton, E. J. (1997). Forensic accounting education: insights from

academicians and certified fraud examiner practitioners.Managerial

AuditingJournal, 12 (9), 479–489.

49. Sodders (2005). New forensic field offered: accountancy specialty at California

State in high demand, especially with FBI. The Daily News of Los Angeles, Lexis-

Nexis Pace University.

50. Sutherland, E. H. (1940). White-collar criminality.American Sociological

Review5 (1): 1–12. [5]

51. Sutherland, E. H. (1944). Is white-collar crime crime?American Sociological

Review10 (2): 132–139.

83

52. The Ten Worst Corporate Accounting Scandals of All Time. [online].

. [Accessed: 04 June 2014]

53. Tommie W. Singleton and Aaron J. Singleton (2010). Fraud Auditing and Forensic Accounting (4th Edition). John Wiley & Sons, Inc.

54. Xianghua Hao (2010). Analysis of the Necessity to Develop the Forensic

Accounting in China. International Journal of Business and Management Vol. 5,

No. 5; May 2010.

55. Webster‟s Dictionary Online. [online].

/dictionary/forensic?show=0&t=1414845226>. [Accessed:04 June 2014]

84

Phụ lục 1

TỔNG HỢP CÁC GIAN LẬN LỚN TRÊN THẾ GIỚI

Dưới đây là mười gian lận trong doanh nghiệp lớn nhất đến nay (Nguồn: Tổng

hợp từ website: www.accounting-degree.org) [52]

o Waste Management (1998) có trụ sở tại Houston, là công ty đại chúng niêm

yết trên thị trường chứng khoán. Công ty đã báo cáo 1,7 triệu USD lợi nhuận giả do

tăng thời gian trích khấu hao tài sản, nhà cửa và công cụ dụng cụ trên bảng cân đối

kế toán theo sự cho phép của cựu CEO/Chủ tịch Dean L. Buntrock và các nhà điều

hành cao cấp lúc đó. Thủ thuật gian lận này bị CEO và ban quản lý mới phát hiện.

Kết quả là công ty bị các cổ đông kiện và phải bồi thường 457 triệu USD; Ủy ban

chứng khoán Hoa Kỳ SEC phạt công ty Arthur Andersen đã kiểm toán cho Waste

Management số tiền 7 triệu USD.

o Enron (2001) là công ty cung cấp dịch vụ, hàng hóa về năng lượng, có trụ sở

tại Houston. Công ty đã để ngoài sổ sách các khoản nợ lớn, làm các cổ đông bị thiệt

hại 74 tỷ USD, hàng ngàn nhân viên và nhà đầu tư bị thiệt hại, nhiều nhân viên bị

mất việc. Gian lận được phát hiện do sự tố giác của nhân viên kiểm toán nội bộ

Sherron Watkins,và sự đáng ngờ của giá cổ phiếu nhiên liệu cao. CEO Ken Lay

chết trước khi bị kết tội, CEO Jeff Skilling bị phạt 24 năm tù. Công ty Enron buộc

phải phá sản. Công ty kiểm toán cho Enron là Arthur Andersen bị xem là có tội gian

dối trong sổ sách của Enron.

o Worldcom (2002) là công ty viễn thông của Hoa Kỳ, ban quản lý của

Worldcom đã tăng khống tài sản 11 tỷ USD, làm 30.000 người thất nghiệp và các

nhà đầu tư thiệt hại ít nhất 180 tỷ USD. CEO Bernie Ebbers bị phạt 25 năm tù do

không báo cáo đầy đủ giá vốn do đã vốn hóa tài sản chứ không đưa vào chi phí, và

khai khống doanh thu bằng các bút toán giả, thông đồng và làm giả tài liệu với một

số quan chức. Bên cạnh đó CFO của công ty cũng bị sa thải, kiểm soát viên từ chức,

85

công ty rơi vào phá sản. Từ sau vụ bê bối này, Quốc hội Hoa Kỳ đã thông qua Đạo

luật Sarbanes – Oxley.

o Tyco (2002) là một công ty hệ thống an ninh của Thụy Sĩ, có trụ sở tại New

Jersey. CEO Dennis Kozlowski và CFO Mark Swartz đã rút tiền từ các hợp đồng

cho vay tiền không được chấp thuận, gian lận trong bán cổ phiếu, đánh cắp tiền trá

hình dưới hình thức tiền thưởng hay các khoản trợ cấp gây thiệt hại hơn 150 triệu

USD, khai khống lợi nhuận 500 triệu USD. SEC và Manhattan D.A. điều tra phát

hiện ra các hoạt động kế toán có vấn đề, bao gồm cả các khoản vay lớn của

Kozlowski. Kozlowski và Swart bị kết án 8 – 25 năm tù, Tyco phải đền bù 2,92 tỷ

USD cho các nhà đầu tư.

o Healthsouth (2003) là công ty niêm yết đại chúng về chăm sóc sức khỏe lớn

nhất Hoa Kỳ. CEO Richard Scrushy bị buộc tội chỉ đạo cấp dưới gian dối trong số

liệu và các nghiệp vụ từ năm 1996 – 2003 nhằm làm tăng lợi nhuận tăng giá cổ

phiếu. Ông ta đã bán ra 75 triệu USD cổ phiếu trước khi công ty tuyên bố kinh

doanh lỗ, điều đó làm SEC nghi ngờ và tiến hành điều tra. Cuối cùng, Scrushy đã

được tha bổng của tất cả 36 tội danh gian lận kế toán, nhưng bị kết tội hối lộ Thống

đốc Alabama, dẫn đến một án tù 7 năm.

o Freddie Mac (2003) là công ty hỗ trợ thế chấp - tài chính liên bang khổng

lồ. Chủ tịch David Glenn, CEO Leland Brendsel, cựu CFO Vaughn Clarke, Robert

Dean và Nazir Dossani cố tình trình bày sai và khai thiếu 5 tỷ USD lợi nhuận. Sự

việc bị phát hiện sau một cuộc điều tra của SEC. Công ty bị phạt 125 triệu USD;

Glenn, Clarke và Brendsel bị công ty sa thải.

o American Insurance Group (AIG) (2005) là tập đoàn đa quốc gia kinh

doanh về bảo hiểm. Trong cuộc điều tra thường niên SEC đã phát hiện các gian lận

kế toán gây thiệt hại 3,9 tỷ USD, cùng với gian lận đấu thầu và bóp méo giá cổ

phiếu. CEO Hank Greenberg chỉ đạo ghi nhận các khoản cho vay thành doanh thu,

hướng các khách hàng đến công ty bảo hiểm mà AIG có tiền chi trả thỏa thuận, và

nói với các nhà kinh doanh thổi phồng giá cổ phiếu. Ông nộp phạt cho SEC 10 triệu

USD năm 2003 và 1,64 triệu USD năm 2006, nộp phạt cho Quỹ Hưu trí Louisiana

86

115 triệu USD, và 3 Quỹ Hưu trí khác ở Ohio số tiền 725 triệu USD, sau đó ông bị

sa thải nhưng không phải đối mặt với án hình sự.

o Lehman Brothers (2008) là công ty dịch vụ tài chính toàn cầu. Công ty phá

sản và trở thành vụ phá sản lớn nhất trong lịch sử Hoa Kỳ. Nguyên nhân chủ yếu do

che giấu 50 tỷ USD nợ thành doanh thu. Khi công ty phá sản, gian lận này mới

được phát hiện. Ban Giám đốcbị cáo buộc bán các tài sản không an toàncho các

ngân hàng Cayman Island với thỏa thuận rằng họ sẽ mua lại cuối cùng. Đưa ra số

liệu báo cáo tài chính đẹp khi trình bày Lehman có 50 tỷUSD tiền mặt và ít nhất 50

tỷ USD tài sản không đảm bảo trái ngược với những gìcông ty thực sự có. Công ty

kiểm toán Ernst & Young, đơn vị kiểm toán cho Lehman cũng bị truy cứu trách

nhiệm trong vụ bê bối này. Tuy nhiên SEC không truy tố vụ việc vì thiếu bằng

chứng.

o Bernie Madoff (2008) là công ty đầu tư Wall Street do Madoff thành lập.

Bernie Madoff và các kế toán viên David Friehling, và Frank DiPascalli đã sử dụng

thủ thuật Ponzi, lừa các nhà đầu tư 64,8 tỷ USD. Thủ thuật Ponzi nghĩa là các nhà

đầu tư sẽ được trả tiền lời cao trên số tiền họ đầu tư nhưng thực chất đó là tiền đầu

tư của các nhà đầu tư khác, chứ không phải lợi nhuận đầu tư. Madoff đã thừa nhận

thủ thuật gian lận này với các con trai của ông và họ đã báo cáo lại cho SEC.

Madoff bị bắt ngay sau đó. Tòa tuyên án Madoff bị phạt 150 năm tù và 170 tỷ USD

tiền bồi thường; Friehling và DiPascalli cũng bị tuyên phạt án tù.

o Saytam (2009) là công ty dịch vụ tin học và hỗ trợ dịch vụ kế toán Ấn Độ.

Công ty đã khai khống doanh thu lên 1,5 tỷ USD. Chủ tịch công ty Ramalinga Raju

đã thừa nhận hành vi gian lận doanh thu, số dư tiền lên đến 50 tỷ rupee trong thư

gửi Ban Giám đốc của công ty. Raju và anh trai ông ta bị buộc vi phạm lòng tin,

thông đồng, gian lận và giả mạo hồ sơ, được thả ra sau khi Cục Điều tra Trung ương

không thể thu thập đầy đủ bằng chứng trong thời gian quy định.

87

Phụ lục 2

MỘT SỐ LÝ THUYẾT VỀ GIAN LẬN

1. Lý thuyết tam giac gian lận

Cressey (1950, 1953) [19] [20] nêu ra ba giả thuyết về hành vi vi phạm sự tín

nhiệm: (1) Không chia sẻ các vấn đề khó khăn về tài chính; (2) hiểu biết về môi

trường làm việc và cơ hội vi phạm sự tín nhiệm; (3) khả năng tự điều chỉnh bản thân

về hành vi vi phạm. Cressey (1950, 1953) [19] [20] cho rằng gian lận xảy ra khi

thỏa đồng thời ba yếu tố: áp lực, cơ hội và hợp lý hóa, được gọi là lý thuyết tam

giác gian lận.

Cơ hội

Hợp lý hóa Áp lực tài chính

Hình: Tam giác gian lận – Nguồn: Donald R. Cressey

Hình trên mô tả tam giác gian lận gồm các yếu tố:

Áp lực từ các vấn đề khó khăn về tài chính không thể chia sẻ với người khác

tạo ra động lực phạm tội. Một cá nhân có thể chia sẻ vấn đề tài chính hay không phụ

thuộc vào nhận thức của người đó về sự kỳ thị của xã hội đối với vấn đề đó. Ngoài

ra, một người có ý thức mạnh mẽ về bản ngã hay quá tự mãn có thể ngăn cản họ tìm

kiếm sự giúp đỡ hay chia sẻ các vấn đề.

88

Cơ hội là nhận thức, hiểu biết về (1) các điểm yếu của hệ thống kiểm soát, (2)

khả năng bị phát hiện. Vì vậy, cơ hội là khả năng vi phạm nhưng không thể phát

hiện.

Sự hợp lý hóa là nỗ lực làm giảm mâu thuẫn trong nhận thức của cá nhân về

hành vi vi phạm (Festinger (1957)[27]; Ramamoorti (2008)[45]; Ramamoorti và

cộng sự (2009)[46]). Cressey (1950, 1953)[19],[20] quan sát thấy rằng các cá nhân

tuy có hành vi gian lận nhưng luôn muốn ở lại trong vùng thoải mái đạo đức của họ.

Vì vậy, họ luôn tìm cách biện minh cho hành động gian lận trước khi thực hiện gian

lận lần đầu tiên. Cressey (1950, 1953) [19],[20] lưu ý rằng thủ phạm gian lận không

muốn bị coi là vi phạm sự trung thực, mà xem đó như một tình huống tiến thoái

lưỡng nan hay một ngoại lệ đặc biệt, một tình huống cho phép họ không nhận xét

bản thân một cách tiêu cực. Chỉ thông qua hợp lý hóa thủ phạm có thể làm giảm sự

bất đồng trong suy nghĩ và thực hiện gian lận mà không hối tiếc.

2. Lý thuyết bàn cân gian lận

Lý thuyết bàn cân gian lận do D.W.Steve Albrecht xây dựng. Ông đề xuất ba thành

phần cầu thành hành vi gian lận, gọi là “Bàn cân gian lận”: Tình huống áp lực, cơ

hội, và tính trung thực (Albrecht và cộng sự, 1984) [8]

Cao

Thấp

Áp lực

Cao

Thấp

Cơ hội

Tính trung thực

Thấp

Cao

Gian lận cao

Không có gian lận

Hình: Bàn cân gian lận – Nguồn: Donald R. Cressey

89

Khi có áp lực, cơ hội cao và tính trung thực của cá nhân thấp thì gian lận xảy

ra cao hơn khi áp lực thấp, cơ hội thấp, tính trung thực cao.

Nghiên cứu của ông và đồng nghiệp còn tập trung làm rõ các động cơ gian lận

và lạm quyền; họ phân loại thành chín loại động cơ khác nhau như sau:

 Chi tiêu quá mức thu nhập

 Đam mê quá mức vì lợi ích cá nhân

 Nợ nần cao

 Có mối quan hệ thân thiết với khách hàng

 Thu nhập không tương xứng với trách nhiệm

 Là người ôm đồm nhiều việc kinh doanh

 Luôn xem việc phá vỡ các quy định kiểm soát như thử thách cần chinh phục

 Có thói quen cờ bạc

 Chịu áp lực gia đình quá mức

Ông phân loại gian lận như sau:

 Biển thủ tài sản của nhân viên

 Gian lận của quản lý

 Gian lận đầu tư

 Gian lận nhà cung cấp

 Gian lận khách hàng

 Gian lận vặt

90

Phụ lục 3

TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VỀ GIAN LẬN CỦA

CÁC TỔ CHỨC NGHỀ NGHIỆP TRÊN THẾ GIỚI

1. COSO (2010)

COSO tiến hành khảo sát các công ty và các nhà quản lý chủ chốt, các kết quả

nghiên cứu chính như sau:

 Từ năm 1998 đến 2007 có 347 vụ cáo buộc gian lận báo cáo tài chính, con số

này tăng 18% so với giai đoạn nghiên cứu 1987 đến 1997 có 294 vụ. Cùng

với các vụ gian lận tại Enron, WorldCom v.v… mức độ thiệt hại do gian lận

báo cáo tài chính tăng mạnh trong thập kỷ cuối, với tổng số tiền thiệt hại do

trình bày sai hay biển thủ gần 120 tỷ USD trên 300 trường hợp gian lận

(hay nói cách khác gần 400 triệu USD mỗi trường hợp). So với trung bình

25 triệu USD mỗi gian lận trong mẫu nghiên cứu vào năm 1999 của COSO

thì nghiên cứu năm 2010 tăng gấp 15 lần .

 Các công ty trong mẫu khảo sát có tài sản và doanh thu trung bình dưới 100

triệu USD, lớn rất nhiều so với mẫu nghiên cứu của COSO năm 1999.

 CEO, CFO liên quan đến 89% các trường hợp gian lận, tăng 83% các trường

hợp trong 1987 – 1997. Trong 2 năm điều tra của SEC, khoảng 20%

CEO/CFO có liên quan gián tiếp và hơn 60% CEO/CFO bị kết án gián tiếp.

COSO 2010 COSO 1999

91

Biểu đồ: Loại và tần số cá nhân vi phạm trong AAER

Nguồn: Báo cáo COSO 2010

 Thủ thuật gian lận báo cáo tài chính chủ yếu là ghi nhận doanh thu không phù hợp, khai khống tài sản hay vốn hóa chi phí. Gian lận doanh thu chiếm 60% các trường hợp, tăng so với tỷ lệ giai đoạn nghiên cứu trước chiếm 50%.

Bảng 1.1: Các thủ thuật gian lận phổ biến trên BCTC

Tỷ lệ 61% 51% 31% 14% 1% 20% 18% 24% Các thủ thuật gian lận trên BCTC Ghi nhận doanh thu không phù hợp Ghi nhận doanh thu ảo – 48% Ghi nhận doanh thu không đúng kỳ - 35% Khai khống – 2% Khai khống tài sản (trừ phải thu khai khống do gian lận doanh thu) Khai khống tài sản hiện có hoặc vốn hóa chi phí – 46% Hạch toán tài sản ảo hay tài sản không sở hữu – 11% Khai thiếu chi phí/Nợ phải trả Biển thủ tài sản Trình bày không thích hợp Các kỹ thuật hỗn hợp khác (sáp nhập, liên doanh, cấn trừ v.v…) Giao dịch các bên liên quan (related party transactions) Giao dịch nội bộ (Insider trading)

Nguồn: Báo cáo COSO 2010

 Có 26% các công ty có gian lận thay đổi KTV giữa kỳ báo cáo trung thực

cuối cùng và báo cáo chứa đựng gian lận cuối cùng; chỉ có 12% các công ty

92

không có gian lận thay đổi KTV trong các giai đoạn tương tự. 60% công ty

gian lận thay đổi KTV trong suốt thời kỳ gian lận, trong khi 40% còn lại

thay đổi năm tài chính trước khi gian lận diễn ra.

Thay KTV

Không thay KTV

Công ty có gian lận Công ty không có gian lận

Biểu đồ: Thay đổi KTV – Nguồn: Báo cáo COSO 2010

2. PWC (2014)

PWC (2014) phát hành “Economic crime: a threat to business process”[44]

thảo luận sâu các vấn đề xoay quanh việc so sánh kết quả của các đối tượng khảo

sát từ Hoa Kỳ và toàn cầu.

Kết luận đáng chú ý của báo cáo làgian lận tại các công ty Hoa Kỳ thường do

cá nhân bên trong gây ra (50%) hơn các đối tượng bên ngoài (44%). Các nhà quản

lý cấp trung thường vi phạm (54%) nhiều hơn so với nhân viên cấp thấp (31%), từ

đó cho thấy yếu tố “cơ hội” trở thành yếu tố chính gây ra gian lận.

Khác

Quản lý cấp cao

Nhân viên

Quản lý cấp trung

93

Biểu đồ: Thủ phạm chính của các gian lận bên trong

Nguồn: Báo cáo Pwc 2014

Các đối tượng gian lận thường có các đặc điểm sau:

 Giới tính: Đàn ông (77% Hoa Kỳ, 77% toàn cầu)

 Độ tuổi: 31 đến 40 tuổi (39% Hoa Kỳ, 40% toàn cầu)

 Thâm niên công tác: từ 3 đến 5 năm (27% Hoa Kỳ, 29% toàn cầu)

 Học vấn: Cao đẳng (35% Hoa Kỳ, 35% toàn cầu)

Theo cách tiến hành khảo sát gian lận năm 2014, PWC cũng phân loại gian lận

như sau:

 Vi phạm luật cạnh tranh/ luật chống độc quyền (6%)

 Gian lận về cầm cố, ký cược (4%)

 Xâm phạm địa chỉ IP trộm dữ liệu (19%)

 Rửa tiền (6%)

 Gian lận về nhân lực (6%)

 Gian lận kế toán (23%)

94

 Tội phạm máy tính (44%)

 Hối lộ tham ô (13%)

 Gian lận mua sắm tài sản (27%)

 Biền thủ tài sản (69%)

3. ACFE

ACFE đã phát hành tám báo cáo mang tên “Report to the Nations on

Occupational Fraud and Abuse” vào các năm 1996, 2002, 2004, 2006, 2008, 2010,

2012 và 2014.Thiệt hại do gian lận chiếm 6% doanh thu năm 1996 (400 tỷ

USD/2.608 vụ), năm 2002 (600 tỷ USD/663 vụ), năm 2004 (761 triệu USD/508

vụ); 5% trong năm 2006 (652 tỷ USD/1.134 vụ); 7% trong năm 2008 (994 tỷ

USD/959 vụ); 5% các năm 2010 (2,9 tỷ tỷ USD/1.843 vụ), năm 2012 (3,5 tỷ tỷ

USD/1.388 vụ), năm 2014 (3,7 tỷ tỷ USD/1.483 vụ). Thời gian kéo dài trung bình

của gian lận tài chính trước khi được phát hiện là 18 tháng (ACFE 2014). Như vậy,

gian lận thường kéo dài ít nhất là một kỳ kiểm toán mà không bị các kiểm toán viên

độc lập phát hiện.

Các báo cáo của ACFE cũng nghiên cứu các phương pháp phát hiện gian lận

phổ biến. Theo báo cáo năm 2014, đơn thư tố giác là phương pháp hữu hiệu nhất để

phát hiện gian lận, và là phương pháp phổ biến hơn các phương pháp khác (sự giám

sát của ban quản lý, kiểm toán nội bộ, kiểm toán độc lập, các cơ quan thanh tra…).

Phương pháp tố giác, than phiền năm 2014 chiếm 42,2% giảm so với các năm 2012,

2010 nhưng trung bình phương pháp này vẫn chiếm trên 40%, đứng đầu các phương

pháp phát hiện gian lận. Phương pháp thứ hai là sự kiểm tra của ban quản lý (16%),

tiếp theo là kiểm toán nội bộ đứng thứ ba, kiểm toán độc lập chỉ phát hiện được 3%

các trường hợp gian lận, đứng thứ bảy trong các phương pháp phát hiện gian lận

được thống kê. Thứ bậc này hầu như ít thay đổi trong báo cáo các năm từ 2008 đến

2014. Như vậy, phương pháp phát hiện gian lận hữu hiệu nhất là sự tố giác, than

phiền từ nhân viên (49%/2014), khách hàng (21,6%/2014), nặc danh (14,6%/2014),

nhà cung cấp (9,6%/2014); thứ hai là kiểm soát nội bộ; thứ ba là kiểm toán nội bộ.

95

Báo cáo ACFE năm 2014 còn phân loại các tổ chức thường có gian lận: Công

ty tư nhân(Private Company) cao nhất với 37.9% (giảm so với năm 2012 là 39,3%

và năm 2010 là 42,1%), tiếp theo là công ty đại chúng (Public Company), kế tiếp là

công ty Nhà nước (Government) (15,1%) và các loại tổ chức khác. Tuy nhiên, mức

thiệt hại trung bình cao nhất không phải thuộc về tổ chức có nhiều gian lận nhất,

công ty tư nhân, mà là công ty đại chúng với mức thiệt hại bình quân năm 2014 là

200.000 USD cao hơn so với năm 2012 chỉ có 127.000 USD.

Thủ phạm gian lận thường là nhân viên chiếm 42% các trường hợp gian lận

nghiên cứu trong báo cáo. Tiếp đến là nhà quản lý với 36.2%, đối với các cổ đông

sở hữu là 18.6%, thành phần khác chiếm tỷ lệ nhỏ khoảng 3.2% các trường hợp gian

lận. Thứ tự này hầu như không thay đổi trong ba báo cáo năm 2010, 2012 và năm

2014. Tuy nhiên, trái ngược với thứ tự xếp hạng thủ phạm gian lận, thứ tự mức độ

thiệt hại do thủ phạm gây ra lại cao nhất do các cổ đông sở hữu (500.000 USD);

nhân viên thường gây ra gian lận nhất nhưng lại gây thiệt hại thấp nhất (75,000

USD). Việc xếp hạng về mức độ thiệt hại trung bình do các thủ phạm gây ra cũng

không thay đổi trong các báo cáo của ACFE từ năm 2010.

ACFE cũng xác định các dấu hiệu đối tượng gian lận gây ra mức thiệt hại lớn

như:

 Về độ tuổi: trên 60 tuổi

 Giới tính: Nam giới

 Chức vụ: Chủ sở hữu/Điều hành

 Học vấn: Sau đại học

 Các biểu hiện: Chi tiêu quá mức thu nhập (43,8%); khó khăn về tài

chính (33%), thân thiết với nhà cung cấp/khách hàng (21,8%)…

Báo cáo năm 2014 cũng cho thấy biển thủ tài sản chiếm 85,4% các vụ gian lận

có mức thiệt hại trung bình là 130.000 USD, tham ô chiếm 36,8% gây thiệt hại

trung bình 200.000$, gian lận báo cáo tài chính tuy chỉ chiếm 9% nhưng lại gây

96

mức thiệt hại cao nhất tương đương 1.000.000 USD. Các loại gian lận thường

chồng chéo nhau, thủ phạm có thể vi phạm một hay nhiều âm mưu gian lận khác

nhau.

97

Phụ lục 4

CÂY GIAN LẬN THEO ACFE

Biển thủ tài sản

Gian lận BCTC

Tham ô

Tiền thƣởng

Đòi hỏi lợi ích

Khai khống tài sản/ doanh thu

Xung đột lợi ích Gian lận mua hàng

Đút lót, hối lộ HĐ đút lót

Gian lận đấu thầu

Gian lận bán hàng

Khác

Khác

Khai thiếu tài sản/ doanh thu Ghi sai niên độ Doanh thu thiếu Khống công nợ, chi phí Công bố không đầy đủ Đánh giá tài sản không đúng

Ghi sai niên độ Doanh thu ảo Dấu công nợ, chi phí Công bố không đầy đủ Đánh giá tài sản không đúng

Tiền

Hàng tồn kho và TS khác

Đánh cắp

Ăn chặn

Lạm dụng

Đánh cắp

Gian lận chi tiêu

Tiền mặt

Mua hàng

Séc giả

Doanh thu

Mua TS và chuyển đi

Trả lương

Bồi thường

Bút toán giả

Phải thu

Hoàn trả & Khác

Xóa sổ

Tiền gửi

Người bán giả

Giả chữ ký

Không ghi

Phân loại sai

Hủy bỏ sai

Nhân viên giả

Giả bán hàng & v/c

Khác

Gối đầu

Mua và nhận

Khống chi phí

Hoa hồng giả

Ghi thiếu

Hoàn trả sai

Người bán không hợp tác

Công khai

Nghiệp vụ giả giả Sửa người nhận tiền

Cá nhân

Công khai

Đền bù tai nạn

Chi phí ảo

Trình ký séc sai

Trả nhiều lần

Khống lương

Nguồn: Report to the Nations, 2014

98

Phụ lục 5

KỸ THUẬT KẾ TOÁN ĐIỀU TRA: DẤU HIỆU LÁ CỜ ĐỎ

(RED FLAG)

Kế toán điều tra thường bắt đầu từ điều tra gian lận thu thập bằng chứng xác

định thủ phạm từ đó là nhân chứng chuyên gia tại Tòa trong các hỗ trợ pháp lý. Kế

toán điều tra không dựa trên chọn mẫu mà dựa trên các dấu hiệu nghi ngờ về gian

lận, kể các thông tin tài chính và thông tin phi tài chính.

Các dấu hiệu nghi ngờ hay được gọi tắt là “red flag” hay là lá cờ đỏ. Lá cờ đỏ

này là hình ảnh tượng trưng cho“dấu vân tay” của gian lận. Khi gian lận xảy ra, thủ

phạm thường để lại các dấu vết trên hiện trường hay chí ít là trong lý lịch của nghi

phạm, giống như “dấu vân tay” thủ phạm để lại hiện thường.Lá cờ đỏ rất đa dạng,

có thể bao gồm các tài khoản, mối quan hệ bất thường, không được giải thích hợp

lý, hoặc các thay đổi trong hành vi các nghi phạm.

Nhận diện lá cờ đỏ rất quan trọng để phát hiện và ngăn chặn gian lận. Từ đó

xây dựng và phát triển hệ thống ngăn ngừa gian lận tốt hơn.

Tuy nhiên lá cờ đỏ suy cho cùng chỉ là dấu hiệu, chứ chưa phải bằng chứng,

kế toán điều tra đưa ra kết luận dựa trên bằng chứng thuyết phục, vì vậy không thể

dựa vào dấu hiệu để kết luận gian lận, mà kế toán điều tra cần dựa vào lá cờ đỏ

thích hợp, đáng tin cậy để đào sâu tìm kiếm bằng chứng phù hợp. Ngược lại, mục

tiêu của kế toán điều tra là đưa ra kết luận chứng minh hay bác bỏ có sự tồn tại của

gian lận, chứ không phải tạo ra một danh sách lá cờ đỏ để kiểm tra.

Kế toán điều tra xuất hiện và phát triển tại các nước phương Tây, nhất là Hoa

Kỳ. Vì vậy các dấu hiệu nghi vấn lá cờ đỏ thường phát triển đầy đủ hơn, trong đó có

Viện kiểm toán nội bộ Hoa kỳ (IIA), Hiệp Hội hệ thống thông tin kiểm toán và

99

kiểm soát Hoa Kỳ (ISACA), và Hiệp hội kế toán viên công chứng Hoa Kỳ

(AICPA) là những tổ chức tiên phong trong đào tạo, huấn luyện, hội thảo thường kỳ

về kiểm toán gian lận.

Hiệp hội kế toán viên công chứng Hoa Kỳ(AICPA)

Chuẩn mực kiểm toán Hoa Kỳ (SAS) số 99, “Việc xem xét gian lận trong một

cuộc kiểm toán báo cáo tài chính”, hệ thống hóa các quy tắc trong SOX và danh

sách các dấu hiệu lá cờ đỏ. Danh sách này được lập thành ma trận tam giác gian lận

và phân theo ba loại gian lận trong cây gian lận của ACFE.

Bảng: Ma trận dấu hiệu lá cờ đỏ theo SAS 99

Tham ô Biển thủ tài sản Gian lận trên báo cáo tài chính

Tam giác/ Cây gian lận Áp lực Cơ hội Hợp lý hóa

Nguồn: SAS 99

Hiệp Hội hệ thống thông tin kiểm toán và kiểm soát Hoa Kỳ (ISACA)

ISACA hướng dẫn “Đạo luật các hành vi không tuân thủ và bất hợp pháp”

bằng “Các thủ tục kiểm toán hệ thống thông tin” có hiệu lực ngày 01 tháng 11 năm

2003. Trong phần 4.1, chuẩn mực đưa ra danh sách các vấn đề cần xem xét của

kiểm toán (Audit Considerations) bao gồm các dấu hiệu lá cờ đỏ.

Viện Kiểm toán Nội bộ Hoa Kỳ (IIA)

Các văn bản của IIA nêu nhiều ví dụ về các dấu hiệu lá cờ đỏ. Các kỹ thuật và

chuẩn mực nghề nghiệp của IIA cũng liên quan đến gian lận.

1. Các dấu hiệu lá cờ đỏ về nghi phạm

o Gian lận trên báo cáo tài chính

100

Tommie W. Singleton [52] trình bày các dấu hiệu lá cờ đỏ trên báo cáo tài

chính thường là:

 Sự bất thường trong kế toán

 Tăng trưởng nhanh

 Lợi nhuận bất thường

 Kiểm soát nội bộ yếu kém

 Sự lộng quyền của ban giám đốc

 Tầm quan trọng của chính giá cổ phiếu của ban giám đốc

 Phong cách quản lý quá chi tiết của ban giám đốc

o Biển thủ tài sản

Theo Lux (2002) [10], các dấu hiệu lá cờ đỏ về hành vi gồm:

 Sự thay đổi hành vi (thói quen)

 Không nhìn vào mắt người khác

 Dễ bị kích động

 Hồ sơ công việc bất thường

 Thay đổi các đặc điểm bên ngoài

 Dễ nổi giận

 Hay đổ lỗi cho người khác

 Thay đổi phong cách sống

Đối với người có tư tưởng đạo đức cao, các thay đổi về hành vi ứng xử dễ

dàng được nhận biết hơn (ví dụ như, dễ kích động, không nhìn vào mắt người

khác); đó là do lương tâm họ cắn rứt về hành vi sai trái.

Dấu hiệu lá cờ đỏ về biển thủ tài sản phổ biến nhất là thay đổi phong cách

sống. Hành vi gian lận có thể bị nghi ngờ khi người nhân viên mua xe hơi, du

thuyền, nhà cửa…

Các dấu hiệu lá cờ đỏ khác nghi ngờ một nhân viên là thủ phạm:

101

 Bất mãn với chủ doanh nghiệp hay người giám sát

 Không đi du lịch hay chỉ du lịch trong thời gian ngắn (do thủ đoạn gối đầu

hay nhân viên ma)

 Có khó khăn tài chính hay các khoản nợ lớn

 Có các dấu hiệu tâm thần

 Hay phàn nàn về các chính sách dành cho nhân viên của công ty.

 Có thái độ tự cao tự đại hay luôn muốn kiểm soát tất cả công việc

 Từ chối luân chuyển công việc, thăng chức, hay đảm nhận các công việc

khác.

o Tham ô

Tham ô là hành vi cấu kết của người bên trong công ty với các đối tượng bên

ngoài công ty gây thiệt hại cho công ty. Dấu hiệu nghi ngờ thường dựa trên hành vi

và sự thay đổi trong phong cách sống của nghi phạm, ngoài ra theo Singleton [52]

còn một số dấu hiệu khác như:

 Mối quan hệ giữa nhân viên và nhà cung cấp

 Không công khai mối quan hệ với các bên thứ ba

 Không xem xét sự phê duyệt của ban giám đốc về mối quan hệ với bên thứ

ba.

 Ghi chép các nghiệp vụ kế toán bất thường

 Sự bất thường trong phê duyệt nhà cung cấp

2. Dấu hiệu lá cờ đỏ chi tiết

o Gian lận trên báo cáo tài chính

Dấu hiệu lá cờ đỏ của các thủ đoạn/ âm mưu gian lận trên báo cáo tài chính:

 Các mối đe dọa kinh tế đếnsự ổn định tài chính hay khả năng sinh lợi

 Áp lực kết quả kinh doanh của ban giám đốc

102

 Ban giám đốc hay ban quản trị có sự phụ thuộc cá nhân vào kết quả hoạt

động của công ty.

 Các nghiệp vụ hay mối quan hệ phức tạp với ban thứ ba.

 Sự giám sát không hiệu quả của ban giám đốc

 Cơ cấu tổ chức phức tạp và không bền vững

 Kiểm soát nội bộ chưa hoàn thiện, đặc biệt là các điểm yếu kém trọng yếu.

 Lợi nhuận gộp tăng không hợp lý, đặc biệt khi so sánh với trung bình ngành.

 Tốc độ tăng trưởng, lợi nhuận tăng nhanh trên Standard & Poor‟s (S&P)

trung bình.

 Các giao dịch quan trọng với bên liên quan, mà bên liên quan không được

kiểm toán hoặc được kiểm toán bởi một công ty kiểm toán khác.

 Các giao dịch phức tạp, không thường xuyên, số tiền lớn tại thời điểm cuối

năm tài chính.

 Bán hàng với số lượng lớn cho các đơn vị không rõ trụ sở và chủ sở hữu.

 Doanh thu tăng trưởng bất thường từ số ít các đơn vị kinh doanh

Nguồn: SAS 99

 Doanh thu ghi nhận không đúng kỳ

Thủ thuật này hoặc ghi nhậndanh thu sớm hoặc ghi đảo lại doanh thu sau một

thời gian. Dấu hiệu lá cờ đỏ đối vớithủ đoạn “channel stuffing” (thổi phồng doanh

thu, thu nhập thông qua việc gởi hàng cho những người bán lẻ theo một kênh phân

phối hơn là bán ra ngoài công chúng) thường là doanh thu được ghi nhận trước khi

nghiệp vụ thực sự diễn ra (nghĩa là vi phạm GAAP), ngoài ra, hàng bán trả lại tăng

bất thường, ghi giảm doanh thu vào niên độ kế toán sau.

 Doanh thu ảo/giả

Thủ thuật ghi nhận doanh thu không có thực. Dấu hiệu lá cờ đỏ thường bao

gồm:

103

 Tăng tài sản bất thường (đối ứng với doanh thu ảo tăng)

 Dữ liệu khách hàng không đầy đủ (ví dụ như địa chỉ, số điện thoại v.v…)

 Sự thay đổi doanh thu vượt kế hoạch hay phân tích xu hướng qua tỷ số tài

chính không giải thích được nguyên nhân (ví dụ, doanh thu tăng nhưng

khoản phải thu giảm)

 Che dấu công nợ (ghi nhận công nợ không thích hợp)

Lợi nhuận có thể gia tăng khi chuyển công nợ giữa các công ty con. Nợ phải

trả có thể che giấu bằng cách không ghi nhận các khoản này. Dấu hiệu lá cờ đỏ bao

gồm:

 Các giao dịch trao đổi quá mức với các đơn vị có liên quan (ví dụ như công

ty con)

 Các giao dịch bất thường hay không thể giải thích từ một đơn vị đến các đơn

vị khác.

 Các công ty con hay các đơn vị kinh doanh khác nhau được công ty kiểm

toán khác nhau kiểm toán.

 Hóa đơn nhà cung cấp và các nghiệp vụ phát sinh nợ không được ghi nhận

trên sổ sách.

 Trình bày và công bố thông tin không phù hợp

Trình bày và công bố thông tin không phù hợp có thể dùng để che giấu gian

lận. Các dấu hiệu lá cờ đỏ bao gồm:

 Trình bày thuyết minh quá khó hiểu gây khó khăn xác định bản chất của sự

kiện hay các nghiệp vụ.

 Không công bố các khoản nợ tiềm tàng hay sự kiện phát sinh sau ngày kết

thúc niên độ.

 Không trình bày và công bố về gian lận.

 Đánh giá tài sản không đúng

104

Lợi nhuận có thể khai khống bằng cách tăng giá trị tà sản bằng cách tăng giá

gốc hay giảm khấu hao. Dấu hiệu lá cờ đỏ thường bao gồm:

 Giá trị sổ sách tài sản tăng bất thường hay không giải thích được (hàng tồn

kho, phải thu, các tài sản dài hạn)

 Phân tích tỷ số để nhận biết xu hướng bất thường giữa tài sản và các thành

phần khác trên báo cáo tài chính (ví dụ, kỳ phải thu tăng không hợp lý, tỷ

trong phải thu trên doanh thu thay đổi)

 Vốn hóa chi phí không tuân theo GAAP

 Thái độ không nhiệt tình của ban giám đốc khi được báo cáo về các tài sản

cần đưa ra ngoài bảng cân đối kế toán. (có thể do nghỉ hưu, điều chuyển đến

các đơn vị kinh doanh khác)

o Biển thủ tài sản

 Đánh cắp tiền

Xảy ra sau khi tiền (tiền mặt, tiền gửi) được ghi nhận vào sổ. Dấu hiệu lá cờ

đỏ bao gồm:

 Số dư tiền gửi giảm bất thường hay không được giải thích hợp lý

 Chênh lệch số dư tiền gửi giữa sổ sách và sổ phụ

 Thay đổi phong cách sống

 Gian lận mua hàng

 Người bán ảo/ giả mạo (Shell Company)

Thủ phạm tạo ra công ty giả để lừa gạt ban giám đốc chuyển tiền cho thủ

phạm. Tên công ty cung cấp là giả và địa chỉ thường là địa chỉ bưu điện. Dấu hiệu

gian lận là:

 Sử dụng địa chỉ thùng thư bưu điện là địa chỉ công ty cung cấp

 Thiếu các dữ liệu liên hệ như số điện thoại

 Sử dụng các hóa đơn điện tử hay photo

105

 Địa chỉ công ty cung cấp chính là địa chỉ nhà nhân viên

 Công ty cung cấp chỉ xuất hóa đơn cho dịch vụ hay trên một số tiền nhất

định

 Số tiền trên hóa đơn được làm tròn số

 Hàng hóa mua không liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh

 Mã số thuế nhà cung cấp trên hóa đơn là giả

 Giá vốn hàng bán cao bất thường hay vượt kế hoạch

 Phân tích tỷ số không hợp lý

 Các gian lận thông qua nhà cung cấp (Pass-through Vendor)

Nhà cung cấp thực sự cung cấp hàng hóa nhưng số tiền phải trả đã bị nâng

khống, thủ phạm sẽ hưởng số tiền chênh lệch giữa số tiền phải trả và số tiền thực

trả. Dấu hiệu lá cờ đỏ bao gồm:

 Sự tố giác từ các nhân viên trong công ty

 Giá phải trả cho hàng hóa dịch vụ cao bất thường

 Lợi nhuận giảm, giá vốn hàng bán tăng

 Phân tích chênh lệch không tốt trong các báo cáo hoạt động

 Kiểm soát nội bộ yếu kém, đặc biệt thiếu sự phân chia trách nhiệm trong tìm

kiếm nhà cung cấp và phê duyệt hợp đồng hay hóa đơn

 Số tiền trên hóa đơn thấp hơn mức phê duyệt, đặc biệt có nhiều hóa đơn với

số tiền thấp hơn mức quy định.

 Nhà cung cấp không hợp tác (Nonaccomplice Vendor)

Nhà cung cấp không thông đồng với thủ phạm, khi thanh toán, số tiền thừa sẽ

bị thủ phạm chiếm đoạt. Các dấu hiệu lá cờ đỏ bao gồm:

 Hóa đơn mua hàng có ký hiệu không thống nhất với các hóa đơn trước

 Mua hàng nhiều lần bất thường từ cùng một nhà cung cấp

 Mua hàng hóa không liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh nhiều lần

một cách bất thường.

106

 Chi tiêu cá nhân (Personal Purchases)

Các khoản tiền này không được ghi chép trong sổ sách vì vậy rất khó phát

hiện. Dấu hiệu lá cờ đỏ bao gồm:

 Các chi tiêu bất thường trong tài khoản của công ty

 Mua các hàng hóa không liên quan đến sản xuất kinh doanh của công ty.

 Gian lận thanh toán lương

Thủ thuật này thường bao gồm nhân viên ma, trả lương khống, hoa hồng và

bồi thường tiền cho tai nạn giả của nhân viên.

 Nhân viên ma (Ghost Employee)

Thủ thuật này là trả lương cho người không phải là nhân viên làm việc trong

công ty. Người này thường là do thủ phạm lập hồ sơ giả hay là người thực thông

đồng với thủ phạm.

Thủ thuật này tương tự như thủ thuật gian lận nhà cung cấp giả (Shell

Company): hồ sơ nhân viên giả cần được thêm vào danh sách bảng lương, tiền trả

lương bị thủ phạm chiếm đoạt.

 Hoa hồng giả (Commission)

Thủ thuật gian lận này thủ phạm có thể lập số liệu doanh số ảo, khai khống

doanh thu, khống tỷ lệ hoa hồng, để chiếm đoạt tiền hoa hồng bán hàng.

 Bồi thườnggiả (False Workers‟ Compensation)

Nhân viên giả bị thương để nhận tiền bồi thường tai nạn từ công ty hay từ cơ

quan bảo hiểm.

 Trả lương khống (Falsified Wages)

107

Lập bảng chấm công sai, tăng hệ số lương hay khống giờ tăng ca, áp dụng sai

quy chế trả lương thường của công ty.

 Lập séc giả (Check tampering)

Đây là thủ thuật dùng séc của công ty để rút tiền từ công ty. Các dấu hiệu lá cờ

đỏ bao gồm:

 Có nhiều séc bị hủy bỏ

 Séc bị mất

 Séc thanh toán lương nhưng chưa trả

 Sửa séc phần người nhận hay số tiền trả

 Sửa lại hoặc ký hậu trên séc bị hủy bỏ

 Người nhận tiền hay địa chỉ người nhận tiền đáng ngờ

 Số séc bị trùng hay không có trong dãy đánh số thứ tự liên tục.

 Ăn chặn (Skimming)

Thủ thuật ăn chặn diễn ra trước khi ghi nhận bút toán trên sổ sách. Bởi vì đây

là gian lận để ngoài sổ sách nên khó phát hiện. Một phương pháp để phát hiện ăn

chặn là thiết lập sự giám sát. Sụ giám sát được thiết lập từ đầu, môi trường hông có

gian lận là mục đích làm dấu chuẩn cho các biên nhận hay số tiền thu vào. Các dấu

chuẩn sẽ so sánh với doanh thu thực để xác định ăn chặn có diễn ra không. Các gian

lận cá nhân thường liên quan đến doanh thu (ví dụ như không hạch toán doanh thu,

khai khống doanh thu), khoản phải thu (ví dụ, thủ thuật xóa sổ khoản phải thu, gối

đầu, công khai công nợ) và khoản hoàn trả tiền. Các dấu hiệu lá cờ đỏ ba gồm:

 Doanh thu thấp hơn kế hoạch

 Lợi nhuận thực ít hơn kế hoạch

 Lợi nhuận gộp ít hơn kế hoạch một cách đàng kể.

 Gối đầu (Lapping)

108

Gối đầu là thủ thuật ăn chặn khoản tiền phải thu trước khi ghi sổ. Các dấu hiệu

lá cờ đỏ bao gồm:

 Xác nhận công nợ còn số dư nhưng thực chất đã hết.

 Kỳ thu tiền khách hàng tăng bất thường

 Nhân viên không bao giờ nghỉ du lịch dài hạn, thường xuyên làm thêm giờ

(để làm hai sổ ghi chép khác nhau về tiền gối đầu)

o Tham ô

 Xung đột lợi ích (Conflicts of Interest)

Xung đột lợi ích diễn ra giữa một nhân viên và bên thứ ba, mà nhân viên

và/hoặc bên thứ ba có lợi thế về tài chính.Dấu hiệu lá cờ đỏ gồm:

 Số lượng giao dịch lớn với một nhà cung cấp chính

 Không phân chia kiêm nhiệm giữa ký hợp đồng và chấp thuận hóa đơn.

 Đút lót hối lộ (Bribery)

Các dấu hiệu lá cờ đỏ bao gồm:

 Thay đổi phong cách sống của nhân viên

 Khám phá mối quan hệ giữa nhân viên và nhà cung cấp

 Không phân chia giữa trách nhiệm chấp thuận nhà cung cấp và hóa đơn

 Đòi hỏi lợi ích (Economic Extortion)

Một cách cơ bản, đòi hỏi lợi ích trái ngược với gian lận đút lót. Thay vì nhà

cung cấp hối lộ nhân viên để được chọn làm nhà cung cấp chính, thì nhân viên yêu

cầu thanh toán từ nhà cung cấp để thỏa mãn yêu cầu của nhà cung cấp. Các dấu hiệu

là cờ đỏ giống với dấu hiệu nghi ngờ của gian lận đút lót.

109

Phụ lục 6

KỸ NĂNG KẾ TOÁN ĐIỀU TRA

Các công trình nghiên cứu trên thế giới đã bắt đầu tìm hiểu các kỹ năng quan

trọng và khả năng cơ bản của kế toán điều tra như Cohen, Crain, & Sanders (1996)

[17]; Harris & Brown (2000) [30], Messmer (2004) [40], Ramaswamy (2005) [47].

Hiệp hội kế toán viên công chứng Hoa Kỳ (AICPA) đã tổ chức nghiên cứu nhu cầu

dịch vụ kế toán điều tra từ đó tìm hiểu nhu cầu về các kỹ năng thiết yếu đối với

người làm kế toán điều tra [7]

AICPA tiến hành khảo sát 779 đối tượng chia làm ba nhóm cá nhân: (1) các

kiểm toán viên làm kế toán điều tra (77,4%), (2) luật sư (16,2%) (đại diện cho người

sử dụng kết quả công việc của kế toán điều tra viên), (3) các giáo sư kế toán (6,4%).

Câu hỏi khảo sát được gửi qua email và thời gian tiến hành trong suốt mùa hè năm

2009. Tỷ lệ mẫu hồi đáp đạt: luật sư ( 15,44%), giáo sư kế toán (34,24%) và CPA

(45,86%).

Cuộc nghiên cứu đưa ra các kết luận về kế toán điều tra được tóm lược như

sau:

- Năm đặc điểm thiết yếu (Essential Traits and Characteristics) như bảng dưới đây:

Bảng: Năm đặc điểm thiết yếu của kế toán điều tra viên

Luật sƣ KTV

Giáo sƣ chuyên ngành Khả năng phân tích Đạo đức Khả năng phân tích Tò mò lập kế STT 1 2

Khả năng phân tích Khả năng hoạch Đạo đức nghề nghiệp Hoài nghi nghề nghiệp Khả năng lập kế hoạch 3

Khả năng vấn đáp Hiểu biết sâu sắc Khả năng tò mò Kiên định 4 5

Đạo đức nghề nghiệp Hoài nghi nghề nghiệp Xét đoán/ Trực giác Nguồn: AICPA (2009) [7]

110

Khả năng phân tích của kế toán điều tra viên là đặc điểm quan trọng nhất, kết

luận này giống với các nghiên cứu trước đây.

- Các kỹ năng cốt yếu (Core Skills) được trình bày ở bảng dưới đây:

Bảng: Năm kỹ năng cốt yếu của kế toán điều tra viên

Luật sƣ Giáo sƣ KTV

Khả năng suy luận

Các kỹ năng kiểm toán Khả năng viết STT 1 2

Khả năng truyền đạt Khả năng điều tra 3 4

Khả năng truyền đạt Khả năng suy luận Đơn giản hóa thông tin Khả năng suy luận Nhận diện vấn đề chính Khả năng điều tra 5

Khả năng điều tra Tổng hợp và phân tích các kết quả Suy nghĩ như thủ phạm Xét đoán/ Trực giác điều tra Nguồn: AICPA (2009) [7]

- Năm kỹ năng nâng caođược trình bày ở bảng dưới đây:

Bảng: Năm kỹ năng nâng cao của kế toán điều tra viên

Giáo sƣ

Phát hiện gian lận STT 1

Luật sƣ Phân tích các thông tin báo cáo tài chính Làm chứng Hiểu biết chuẩn mực KTV Phân tích các thông tin báo cáo tài chính Khả năng phỏng vấn Phát hiện gian lận 2 3

Làm chứng 4 Thu thập bằng chứng, phát hiện gian lận

Kỷ năng phỏng vấn Phân tích các thông tin báo cáo tài chính tin học Khả năng Hiểu biết nguyên tắc của bằng chứng và các thủ tục dân sự Hiểu biết chuẩn mực 5 Truy tìm tài sản (Asset Tracing)

Hiểu biết nguyên tắc của bằng chứng và các thủ tục dân sự Nguồn: AICPA (2009) [7]

111

Phụ lục 7

MỘT SỐ VỤ ÁN GIAN LẬN KINH TẾ TẠI VIỆT NAM TỪ NĂM 2009

Công ty

Sự kiện

Ngƣời tham gia chính

Cách thức tiến hành

Cách thức phát hiện

Hình phạt

Năm 2009

Công ty CP

Không đạt điều

Về trách nhiệm hội đồng quản

Riêng năm 2006, 2007

Từ đơn kiện tranh

UBCK quyết định xử phạt hành

Bông Bạch

kiện niệm yết cổ

trị, ban kiểm soát, ban điều hành

có nộp báo cáo cho

chấp trong nội bộ,

chính đối với CTCP Bông Bạch

Tuyết (BBT)

phiếu tại Sở giao

Bông Bạch Tuyết, đoàn kiểm tra

HOSE nhưng không nộp

tiến hành thanh

Tuyết (BBT) do vi phạm trong

dịch chứng

đánh giá là đã thiếu trách nhiệm,

cho Ủy ban Chứng

tra BBT phát hiện

việc công bố thông tin báo cáo tài

sai phạm

khoán TP.HCM

không trung thực trong việc lập

khoán. Mặt khác, báo

chính với tổng mức phạt 90 triệu

(HOSE), vi

và công bố các báo cáo tài chính

cáo tài chính năm được

đồng. Sở GDCK TPHCM hủy

phạm quy chế

để hoạt động kinh doanh công ty

kiểm toán cũng vi phạm.

niêm yết 6.84 triệu cổ phiếu của

công bố thông

ngày càng xấu đi. Riêng điều lệ

Như kết quả kinh doanh

CTCP Bông Bạch Tuyết từ ngày

tin

công ty còn một số điểm chưa

năm 2006 có sự chênh

7/8/2009. Đồng thời, UBCK khiển

phù hợp điều lệ mẫu như chưa

lệch trước và sau khi

trách 2 công ty kiểm toán (A&C,

ban hành quy chế nội bộ về

thực hiện kiểm toán, liên

AISC) và không chấp thuận tư

quản trị.

tục gia hạn và chậm nộp

cách kiểm toán viên trong 2 năm

báo cáo tài chính năm

2009, 2010 đối với các kiểm toán

2007.

viên thực hiện kiểm toán cho

BBT.

Công an điều tra.

Chi nhánh

Tham ô tài sản,

Nguyễn Thị Thu Hà, tổ trưởng

Trong năm 2006 và

Ngày 22/02/2009, TAND tỉnh

Ngân hàng

cố ý làm trái quy

kế toán; Trần Thị Quỳnh

tháng 1/2007,Hà và

Thừa Thiên Huế tuyên án Nguyễn

Phương, Phó giám đốc

NN&PTNT

định của Nhà

Phương thông đồng lập

Thị Thu Hà 20 năm tù; Trần Thị

Chợ Mai tỉnh

nước về quản lý

chứng từ giả rút tiền

Quỳnh Phương tù chung thân.

Thừa Thiên

kinh tế gây hậu

ngân hàng chiếm đoạt tài

(Thời báo tài chính số 25 (1862),

Huế

sản.

ngày 27/02/2009)

quả nghiêm

trọng, vi phạm

quy định về cho

vay trong hoạt

động của các

TCTD, gây thiệt

hại hơn 8 tỷ

đồng và 8.000

USD

Công ty quản

Tham ô tài sản,

Nguyễn Minh Hậu (kế toán

Không tuân thủ pháp

Ngày 9/6/2007,

Ngày 15/02/2009, TAND tỉnh

lý đường sắt

thiếu trách

lương, TSCĐ kiêm thủ quỹ), Tạ

luật về kế toán, quy chế

Hậu đến Công an

Khánh Hòa tuyên phạt Nguyễn

Phú Khánh

nhiệm gây thiệt

Quang Vinh (kế toán thanh

quản lý tài chính nội bộ

phường Xương

Minh Hậu lãnh 20 năm tù về tội

(Khánh Hòa)

Huân đầu thú

hại nghiêm trọng

toán) , Nguyễn Xuân Long (Phó

của Công ty để cho Hậu

“tham ô tài sản, Nguyễn Xuân

cho Nhà nước

giám đốc kiêm kế toán trưởng

tự tung tự tác “thụt két”

Long 7 năm tù, Nguyễn Thành

bạc tỷ mang đi đánh đề

chiếm đoạt công

kiêm Trưởng phòng tài chính kế

Quang 3 năm tù và Tạ Quang

quỹ hơn 1,668 tỉ

toán), Nguyễn Thành Quang

Vinh 2 năm 6 tháng tù cùng về

đồng để chơi số

(Trưởng phòng Tài chính kế

tội “thiếu trách nhiệm gây thiệt

đề

toán)

hại nghiêm trọng đến tài sản của

112

Nhà nước” (Báo Công an

TP.HCM số 1751 ngày

14/02/2009)

113

Năm 2010

Công ty Chế

Lừa đảo chiếm

Trần Quang Chiêu (nguyên

Trong hai năm (2002 -

Cảnh sát điều tra. Ngày 05/05/2010, Tòa phúc thẩm

biến và Nhập

đoạt tài sản và cố

Giám đốc Camimex), Nguyễn

2003) mua hóa đơn giá

TAND tối cao tại TP.HCM tuyên

khẩu thủy sản

ý làm trái, gây

Tín Ngưỡng (Phó giám đốc),

trị gia tăng của một số

phạt Trần Quang Chiêu 8 năm tù,

Camimex Cà

thiệt hại cho

Trần Văn Hoàng - nguyên Phó

doanh nghiệp để hợp

Nguyễn Tín Ngưỡng 7 năm tù,

Mau

Giám đốc, Vương Trung Tuấn -

thức hóa đầu vào cho

Vương Trung Tuấn 6 năm tù;

Công ty

nguyên Kế toán trưởng

Trần Văn Hoàng 4 năm tù.

nguyên liệu mua trôi nổi

Camimex

trên thị trường. Chỉ đạo

27.082,801USD

sản xuất trên 21 tấn tôm

và 18.369,32

đông lạnh sai kích cỡ,

AUS (đôla

thiếu trọng lượng so với

Australia), gây

thông tin ghi trên bao bì

thiệt hại cho Nhà

để xuất khẩu sang

nước gần 5 tỉ

Australia.

đồng từ hoạt

động xuất khẩu;

3,6 tỷ đồng thuế

GTGT

Công an điều tra

Công ty

Lạm dụng tín

Lâm Hữu Phương, nguyên kế

Từ tháng 10/2003 đến

Ngày 12/05/2010 Tòa phúc thẩm

toán trưởng

TAND Tối cao tại TP.HCM tuyên

TNHH giấy

nhiệm chiếm

tháng 2/2008 viết ủy

mức án 12 năm tù

Hưng Long

đoạt tài sản số

nhiệm chi, giả chữ ký

tiền gần 3 tỷ

giám đốc chuyển tiền

đồng

vào tài khoản nhà cung

cấp giả.

114

Năm 2011

Công ty cổ

Thao túng giá

Lê Văn Dũng, Chủ tịch Hội

Dũng đã mượn tư cách

Nhà đầu tư gửi

Lê Văn Dũng phạt 4 năm tù,

phần Dược

chứng khoán,

đồng quản trị kiêm Tổng Giám

pháp nhân và danh nghĩa

đơn tố cáo nặc

Mạnh nhận án 2 năm, Truyền 12

phẩm Viễn

công bố thông

đốc Nguyễn Văn Việt (em vợ

của một số tổ chức, cá

danh cho SSC

tháng tù treo, còn Việt bị phạt 12

Đông (DVD)

đầu tháng 9/2010

tin sai lệch gây

Dũng), Ủy viên Hội đồng quản

nhân là người nhà, người

tháng 26 ngày tù (bằng thời hạn

thiệt hại hàng

trị; Lê Văn Mạnh (em trai

thân mở 12 tài khoản tại

tạm giam). cổ phiếu DVD bị hủy

trăm tỷ đồng cho

Dũng), Chủ tịch Hội đồng quản

các công ty chứng khoán

niêm yết tại HOSE vào tháng

nhà đầu tư.

trị Công ty cổ phần Quốc tế

để tiến hành giao dịch

9/2011. DVD thông báo chấm dứt

hoạt động vào ngày 30/09/2011.

Viễn Đông và Lê Minh Truyền,

mua, bán cổ phiếu DVD,

nhân viên môi giới chứng khoán

thực hiện giao dịch ảo

lên đến trên 221 tỷ đồng

của Công ty cổ phần Chứng

khoán Ngân hàng Sài Gòn

Thương Tín

115

Năm 2013

Tổng Công ty

Tham ô tài sản

Dương Chí Dũng, nguyên Chủ

Lập báo cáo khảo sát

Thanh tra chính

Bị thôi việc, tử hình về tội tham ô

phủ điều tra

Hàng hải Việt

10 tỷ đồng, mua

tịch Hội đồng quản trị Vinalines,

giả, mua bán thông qua

tài sản, 18 năm tù về tội Cố ý làm

Nam

ụ nổi 83M đã hư

nguyên Cục trưởng Cục Hàng

môi giới làm giá thành

trái quy định của nhà nước về

(Vinalines)

hải Việt Nam (Bộ GTVT)

tài sản tăng cao.

hỏng gây thiệt

quản lý kinh tế gây hậu quả

nghiêm trọng. Tổng hợp cho hai

hại hơn 336 tỷ

hình phạt là tử hình

đồng

Công ty Cổ

Lừa đảo chiếm

Huỳnh Thái Học, nguyên quyền

Sử dụng dịch vụ bảo

Đơn tố cáo của

Ngày 20/12/2013, TAND

Trưởng phòng Giao dịch

phần chứng

đoạt số tiền gần

lãnh tiền mua, ứng trước

Công ty Cổ phần

TP.HCM đã tuyên phạt Huỳnh

7,5 tỷ đồng

khoán Đại

tiền mua, ứng trước tiền

chứng khoán Đại

Thái Học 16 năm tù về tội "lừa

Việt

Việt

bán chứng khoán, nhập

đảo chiếm đoạt tài sản". HĐXX

tuyên buộc bồi thường 5,4 tỉ đồng

khống tiền vào tài khoản,

chèn hoàn ứng giả trên

các tài khoản

Năm 2014

Ngân hàng

Chiếm đoạt tổng

Huỳnh Thị Huyền Như, nguyên

Làm giả con dấu để tạo

Đơn tố cáo của

Ngày 27/1/2014, TAND TP.HCM

người bị hại

TMCP Công

số tiền hơn 4.000

quyền trưởng phòng Giao dịch

lập các giấy tờ chứng từ,

đã tuyên án tội danh lừa đảo

tỷ đồng

thương Việt

Điện Biên Phủ, Vietinbank chi

hợp đồng và sử dụng mô

chiếm đoạt tài sản; Làm giả con

nhánh TP HCM

Nam

hình Ponzi để lừa đảo

dấu, tài liệu của cơ quan tổ chức.

(Vietinbank)

Mức án Tù chung thân

bằng cách huy động lãi

suất cao đối với các tổ

chức, cá nhân. Thời gian

phạm tội kéo dài từ năm

2007 đến thời điểm khởi

tố (tháng 9.2011)

Công ty China

Chiếm đoạt 5,78

Lữ Cẩm Hy, Diệp Kinh Chi ,

Lợi dụng chính sách

Tổng giám đốc

Ngày 29-9-2014, TAND TPHCM

Airlines (CA)

triệu USD của

Phó Vi Nhất nguyên là kế toán,

quản lý tài chính sơ hở,

CA tại TPHCM

tuyên phạt ba bị cáo nguyên là kế

thu ngân của công ty

tố cáo

CA và 184.038

qui định về tài khoản

toán, thu ngân Công ty China

USD của Hãng

chênh lệch tỷ giá giữa

Airlines gồm: Lữ Cẩm Hy 12 năm

hàng không

USD/ Đài tệ/ VNĐ của

tù, Diệp Kinh Chi 14 năm, Phó Vi

Madarin do CA

CA tại TPHCM, lấy tiền

Nhất 3 năm tù treo (thử thách 5

làm đại diện

năm)

mặt thu từ các đại lý

trong ngày rồi dùng

khoản thu của hôm sau

bù vào

Công an điều tra

Ngân hàng

Nhận hối lộ, lừa

Vũ Việt Hùng (nguyên GĐ

Trong các năm 2008 -

Ngày 26/09/2014, TAND tỉnh

VDB Đắc Lắc - Đắc Nông)

Đắc Nông tuyên án đối với Vũ

phát triển Việt

đảo chiếm đoạt

2010, nguyên giám đốc

Nam chi

tài sản, vi phạm

Vũ Việt Hùng ký duyệt

Việt Hùng tù chung thân về tội

nhánh Đắc Lắc

quy định về cho

hồ sơ giả vay gần 2.000

“Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, 20

- Đắc Nông

vay, gây thiệt hại

tỉ đồng tín dụng xuất

năm tù về tội “Vi phạm quy định

(VDB Đắc Lắc

hơn 1.000 tỷ

khẩu với lãi suất ưu đãi

về cho vay trong hoạt động của

- Đắc Nông)

đồng.

của VDB Đắc Lắc - Đắc

các tổ chức tín dụng”, tử hình về

Nông. Các DN đã hối lộ

tội “Nhận hối lộ”, tổng hình phạt

116

là tử hình. Bị tuyên phạt bồi

Vũ Việt Hùng một xe

thường 10 tỉ đồng về tội nhận hối

BMW X6 trị giá hơn 3,2

lộ và tịch thu một số tài sản để

tỉ đồng. Để có tiền thu

đảm bảo công tác thi hành án

nợ cho VDB Đắc Lắc -

Đắc Nông, Vũ Việt

Hùng đã ký khống nhiều

giấy tờ, giúp các DN

chiếm đoạt 580 tỉ đồng

của OCB - Sở Giao dịch

TPHCM và Ngân hàng

TMCP Nam Á chi nhánh

Hà Nội.

Ngân hàng

Lừa đảo chiếm

Dương Thanh Tuấn cán bộ kiểm

Kiểm định và hợp thức

Cuối năm 2013,

Ngày 24/9/2014, Hội đồng xét xử

Agribank Việt

đoạt tài sản của

định vàng của Phòng giao dịch

hóa vàng giả thành vàng

Tổ kiểm tra của

Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau đã

Nam (Chi

nhà nước, kể từ

Đầm Cùng thuộc Ngân hàng

thật, nâng trọng lượng

Chi nhánh

tuyên phạt các bị cáo Dương

nhánh huyện

cuối năm 2009

Agribank Việt Nam chi nhánh

vàng giả lên cao hơn so

Agribank huyện

Thanh Tuấn 20 năm tù, Dương

huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau

Cái Nước, tỉnh

đến năm 2013

thực tế, lôi kéo giao dịch

Cái Nước phát

Minh Giỏi 20 năm tù và Phan Văn

Cà Mau)

gây thiệt hại

cầm vàng giả, chiếm

hiện khi quá hạn

Hải với 15 năm tù về hành vi lừa

19,614 tỷ đồng

đoạt số tiền (Tuấn 4,506

thời gian cầm

đảo chiếm đoạt tài sản của nhà

nước.

của Ngân hàng

tỷ đồng, Giỏi 11,171 tỷ

vàng mà khách

Agribank Việt

đồng, Hải chiếm đoạt số

hàng không làm

tiền 3,937 tỷ đồng)

Nam (Chi nhánh

thủ tục đáo hạn

huyện Cái Nước,

nên yêu cầu mở

117

tỉnh Cà Mau)

niêm phong vàng

để kiểm tra.

Công ty cổ

Lừa đảo chiếm

Đàm Vân Anh, nguyên kế toán

Ký giả chữ ký của bà

Công ty phát hiện Ngày 16/07/2014, Tòa án nhân

trưởng công ty

phần Viễn

đoạt tài sản gần

Nguyễn Thị Dung -

dân TP.Hà Nội tuyên phạt bị cáo

Vân Anh 20 năm tù giam.

10 tỷ

Tổng giám đốc Công ty,

thông Đầu tư

đồng thời dùng ủy nhiệm

và Thương

mại Quốc tế.

chi đã có chữ ký của bà

Dung để rút tiền nhằm

chiếm đoạt tài sản của

công ty

Bệnh viện

Tham ô tài sản,

Tô Văn Dũng, kế toán nhà thuốc

Từ tháng 3/2010 đến

Thanh tra Sở Y tế

Ngày 05/08/2014, TAND tỉnh

Tiền Giang

Tâm thần Tiền

chiếm đoạt 3,1 tỷ

bệnh viện; Nguyễn Văn Lĩnh, kế

tháng 6-2011 Giám đốc

Tiền Giang đã tuyên án Tô Văn

Giang

đồng

toán tổng hợp; Trần Thị Thật,

chỉ đạo cho kế toán chỉ

Dũng 12 năm tù, Nguyễn Văn

giám đốc bệnh viện.

đạo mượn tài khoản cá

Lĩnh 2 năm tù. Riêng Trần Thị

nhân bên ngoài để lập ủy

Thật tạm hoãn xét xử điều trị bệnh

tâm thần.

nhiệm chi khống, rút tiền

để chiếm đoạt

118

Nguồn: Tác giả tổng hợp từ Internet, báo Công An từ năm 2009 đến tháng 8/2014

119

Phụ lục 8

BẢNG CÂU HỎI KHẢO SÁT

Xin chào quý anh/chị,

Tôi tên Nguyễn Thị Hải Vân, là học viên cao học khóa 22 trường Đại học Kinh tế TP.HCM, tôi đang làm đề tài “Xây dựng dịch vụ kế toán điều tra tại Việt Nam”. Bảng câu hỏi khảo sát này được lập nhằm tổng hợp ý kiến về về đề tài trên.

Kế toán điều tra đã có một quá trình hình thành và phát triển tuy nhiên thuật ngữ “kế toán điều tra”chính thức xuất hiện năm 1946 kể từ khi thành viên một công ty kế toán New York, Maurice E. Peloubet, lần đầu tiên xuất bản bài báo viết về kế toán điều tra. Các chuyên gia này chịu trách nhiệm điều tra các trường hợp nghi ngờ về tài chính.Kế toán điều tra khá mới mẻ tại Việt Nam, khái niệm này gần giống với giám định tư pháp về tài chính theo TT 138/2013/TT-BTC ngày 09 tháng 10 năm 2013 hướng dẫn một số nội dung của Luật giám định tư pháp và nghị định số 85/2013/NĐ-CP ngày 29/07/2013 của chính phủ quy định chi tiết và biện pháp thi hành luật giám định tư pháp. Kế toán điều tra bao gồm hai lĩnh vực: pháp lý trong kiện tụng và điềutra kế toán. Kế toán điều tra được xem như là một cam kết tìm kiếm và phân tích bằng chứng cho tòa án xét xử hoặc thẩm định hành chính.

Mục tiêu của cuộc khảo sát này là tìm hiểu nhận biết đối với kế toán điều tra (Forensic Accounting).

Sự trả lời khách quan của anh/chị sẽ góp phần quyết định sự thành công của công trình nghiên cứu

này và sự hiểu biết nghề nghiệp . Tất cả các câu trả lời của từng cá nhân sẽ được giữ kín, chúng tôi chỉ

công bố kết quả tổng hợp. Cám ơn sự hợp tác của anh/chị.

BCH số: …….Phỏng vấn lúc____giờ, ngày ___/___/2014

I. Phần câu hỏi:

Sau đây là những phát biểu liên quan đến kế toán điều tra (Forensic Accounting). Xin anh/chị vui lòng

trả lời bằng cách khoanh tròn một con số ở từng dòng. Những con số này thể hiện mức độ anh/chị đồng

ý hay không đồng ý đối với các phát biểu theo qui ước sau:

Rất không đồng ý

Không đồng ý

Trung lập

Đồng ý

Rất đồng ý

1

2

3

4

5

1. Các thủ tục kiểm toán không thể phát hiện tất cả gian lận.

1 2 3 4 5

2. Kiểm toán viên không có trách nhiệm phát hiện tất cả gian lận.

1 2 3 4 5

3. Các dư luận về gian lận xảy ra tạo kỳ vọng dịch vụ phát hiện và ngăn chặn gian

1 2 3 4 5

lận.

4. Dịch vụ kế toán điều tra gian lận (forensic accounting) khác với dịch vụ kiểm

1 2 3 4 5

toán truyền thống.

5. Dịch vụ kế toán điều tra gian lận (forensic accounting) nâng cao chất lượng

1 2 3 4 5

của thông tin trên báo cáo tài chính.

6. Dịch vụ kế toán điều tra gian lận (forensic accounting) làm tăng độ tin cậy của

1 2 3 4 5

các nhà đầu tư, người sử dụng báo cáo tài chính.

7. Hiện nay,Việt Nam có nhu cầu về dịch vụ kế toán điều tra gian lận (forensic

1 2 3 4 5

accounting).

1 2 3 4 5

8. Với điều kiện pháp lý hiện nay (Luật giám định tư pháp, các nghị định, thông tư hướng dẫn) Việt Nam sẵn sàng triển khai thực hiện kế toán điều tra gian lận(forensic accounting)

1 2 3 4 5

9. Các dịch vụ chuyên ngành tài chính ở Việt Nam đã phát triển cao, do đó không cần có dịch vụ hỗ trợ tư vấn trong tranh chấp, kiện tụng (litigation support consultancy)

10. Khu vực tư có nhu cầu về kế toán điều tra gian lận (forensic accounting)hơn

1 2 3 4 5

11. Kế toán điều tra là công cụ phát hiện và ngăn chặn gian lận trong khu vực tư

1 2 3 4 5

12. Kế toán điều tra gian lận là công cụ phát hiện thành công các tội phạm rửa tiền

1 2 3 4 5

(money laundering)

13. Các kiểm toán viên và kế toán đã được đào tạo đủ để phát hiện và ngăn chặn

1 2 3 4 5

gian lận

14. Kế toán điều tra gian lận (forensic accounting) giúp hoàn thiện các hoạt động

1 2 3 4 5

kiểm soát nội bộ

15. Kế toán điều tra gian lận (forensic accounting) nâng cao vai trò các quy định

1 2 3 4 5

bảo vệ nhân viên tố cáo các hành vi sai trái trong tổ chức.

1 2 3 4 5

16. Kế toán điều tra gian lận (forensic accounting) có tính hoài nghi nghề nghiệp cao giúp phát hiện các hành vi biển thủ của nhân viên và tham ô, lạm quyền của ban quản lý.

17. Các công ty cung cấp dịch vụ đảm bảo có chuyên môn cao để thực hiện dịch

1 2 3 4 5

vụ kế toán điều tra gian lận (forensic accounting)

120

1 2 3 4 5

18. Hoạt động giám định tư pháp có chức năng điều tra, hỗ trợ quá trình truy tố, xét xử như kế toán điều tra (forensic accounting). Để xã hội hóa giám định tư pháp trong lĩnh vực tài chính cần quy định văn phòng giám định tư pháp được thành lập, tổ chức, quản lý theo loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn ngoài 2 loại hình doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp danh đã được quy định trong Luật giám định tư pháp số 13/2012/QH13 quy định.

1 2 3 4 5

19. Nhằm phát triển dịch vụ kế toán điều tra hay giám định tư pháp trong lĩnh vực tài chính, cần có sự quản lý, giám sát chuyên môn của Hội nghề nghiệp; sự hoàn chỉnh của các chuẩn mực nghề nghiệp và các quy định pháp luật liên quan.

1 2 3 4 5

20. Nhằm tăng cường nhận thức về kế toán điều tra (forensic accounting) nên đưa kiến thức về kế toán điều tra (forensic accounting) vào chương trình giảng dạy trong chuyên ngành.

121

II. Phần giới thiệu thông tin cá nhân

1. Xin vui lòng cho biết nghề nghiệp của quý anh/chị:

Kế toán

Luật sư

Giảng viên

Kiểm toán viên

Số năm kinh nghiệm ..................................................................................................................................

Khác ..........................................................................................................................................................

2. Xin anh/chị vui lòng cho biết một số thông tin cá nhân sau trong trường hợp việc kiểm chứng khảo sát khi cần thiết:

Quý danh: ..................................................................................................................................................

Email: .............................................................................Số điện thoại: .....................................................

3. Anh/ chị có ý kiến hay đề xuất gì về tương lai nghề nghiệp kế toán điều tra không?

................................................................................................................................................................

Xin chân thành cám ơn quý anh/chị đã dành thời gian quý báu đóng góp vào sự hiểu biết nghề nghiệp nói chung và việc hoàn thành đề tài khảo sát về nhu cầu nghề nghiệp nói riêng.

122

Phụ lục 9

DÀN BÀI THẢO LUẬN

Phần giới thiệu

Xin chào quý anh/chị, tôi tên Nguyễn Thị Hải Vân, là học viên cao học khóa 22 trường Đại học Kinh

tế TP.HCM, tôi đang làm đề tài “Xây dựng dịch vụ kế toán điều tra tại Việt Nam”. Bảng câu hỏi khảo

sát này được lập nhằm tổng hợp ý kiến về về đề tài trên.

Phần câu hỏi

I. Khoảng cách mong đợi về trách nhiệm phát hiện gian lận của kiểm toán viên độc lập

1/ Anh/chị hãy liệt kê các yêu cầu mong muốn của bản thân về phạm vi phát hiện gian lận của kiểm

toán viên độc lập.

2/ Dưới đây là một số câu phát biểu xin anh/chị vui lòng cho biết: Anh/chị có hiểu phát biểu đó không?

Nếu không, vì sao? Anh/chị có muốn thay đổi, bổ sung phát biểu cho rõ ràng, dễ hiểu hơn không?

1. Các thủ tục kiểm toán không thể phát hiện tất cả gian lận.

2. Kiểm toán viên không có trách nhiệm phát hiện tất cả gian lận.

3. Các dư luận về gian lận xảy ra tạo kỳ vọng dịch vụ phát hiện và ngăn chặn gian lận.

II. Chất lƣợng thông tin báo cáo tài chính

1/ Khi anh/chị sử dụng báo cáo tài chính đã được kiểm toán, anh chị có quan tâm đến các gian lận ảnh

hưởng đến báo cáo tài chính không?

2/ Sau đây là một số câu phát biểu xin anh/chị vui lòng cho biết: Anh/chị có hiểu phát biểu đó không?

Nếu không, vì sao? Anh/chị có muốn thay đổi, bổ sung phát biểu cho rõ ràng, dễ hiểu hơn không?

1. Dịch vụ kế toán điều tra (Forensic Accounting) khác với dịch vụ kiểm toán truyền thống

2. Dịch vụ kế toán điều tra (Forensic Accounting) nâng cao chất lượng của thông tin trên báo cáo tài

chính.

3. Dịch vụ kế toán điều tra (Forensic Accounting) làm tăng lòng tin cậy của các nhà đầu tư, người sử

dụng báo cáo tài chính.

123

III. Điều kiện pháp lý

1/ Theo anh/chị để dịch vụ kế toán điều tra (Forensic Accounting) phát triển cần có các điều kiện pháp

luật nào?

2/ Sau đây là một số câu phát biểu xin anh/chị vui lòng cho biết: Anh/chị có hiểu phát biểu đó không?

Nếu không, vì sao? Anh/chị có muốn thay đổi, bổ sung phát biểu cho rõ ràng, dễ hiểu hơn không?

1. Với điều kiện pháp lý hiện nay Việt Nam sẵn sàng triển khai thực hiện kế toán điều tra gian lận

(forensic accounting)

2. Các dịch vụ chuyên ngành tài chính ở Việt Nam đã phát triển cao, do đó không cần có dịch vụ hỗ

trợ tư vấn trong tranh chấp, kiện tụng (litigation support consultancy)

IV. Khu vực

1/ Nếu chia nhu cầu kế toán điều tra thành khu vực thì anh/chị sẽ phân loại khu vực như thế nào?

2/ Sau đây là một số câu phát biểu xin anh/chị vui lòng cho biết: Anh/chị có hiểu phát biểu đó không?

Nếu không, vì sao? Anh/chị có muốn thay đổi, bổ sung phát biểu cho rõ ràng, dễ hiểu hơn không?

1. Khu vực tư có nhu cầu về kế toán điều tra gian lận (forensic accounting)hơn

2. Kế toán điều tra là công cụ phát hiện và ngăn chặn gian lận trong khu vực tư hơn

V. Kiểm soát nội bộ

1/ Với chức năng phát hiện gian lận để ngăn chặn gian lận thì theo anh/chị, kiểm soát nội bộ sẽ được

xây dựng tốt hơ không?

2/ Sau đây là một số câu phát biểu xin anh/chị vui lòng cho biết: Anh/chị có hiểu phát biểu đó không?

Nếu không, vì sao? Anh/chị có muốn thay đổi, bổ sung phát biểu cho rõ ràng, dễ hiểu hơn không?

1. Kế toán điều tra gian lận là công cụ phát hiện thành công các tội phạm rửa tiền (money laundering)

2. Các kiểm toán viên và kế toán đã được đào tạo đủ để phát hiện và ngăn chặn gian lận

3. Kế toán điều tra gian lận (forensic accounting) giúp hoàn thiện các hoạt động kiểm soát nội bộ

4. Kế toán điều tra gian lận (forensic accounting) nâng cao vai trò các quy định bảo vệ nhân viên tố

cáo các hành vi sai trái trong tổ chức.

5. Kế toán điều tra gian lận (forensic accounting) có tính hoài nghi nghề nghiệp cao giúp phát hiện

các hành vi biển thủ của nhân viên và tham ô, lạm quyền của ban quản lý.

124

VI. Sự hỗ trợ từ bên ngoài

1/ Theo anh/chị, để xã hội hóa kế toán điều tra thì nên có những sự hỗ trợ từ bên ngoài nào? (về đào

tạo, về quy định pháp luật, Hội nghề nghiệp…)

2/ Sau đây là một số câu phát biểu xin anh/chị vui lòng cho biết: Anh/chị có hiểu phát biểu đó không?

Nếu không, vì sao? Anh/chị có muốn thay đổi, bổ sung phát biểu cho rõ ràng, dễ hiểu hơn không?

1. Hoạt động giám định tư pháp có chức năng điều tra, hỗ trợ quá trình truy tố, xét xử như kế toán

điều tra (forensic accounting). Để xã hội hóa giám định tư pháp/kế toán điều tra trong lĩnh vực tài

chính cần quy định văn phòng giám định tư pháp/ kế toán điều tra được thành lập, tổ chức, quản lý

theo loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn ngoài 2 loại hình doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp danh

đã được quy định trong Luật giám định tư pháp số 13/2012/QH13 quy định.

2. Nhằm phát triển dịch vụ kế toán điều tra hay giám định tư pháp trong lĩnh vực tài chính, cần có sự

quản lý, giám sát chuyên môn của Hội nghề nghiệp; sự hoàn chỉnh của các chuẩn mực nghề nghiệp và

các quy định pháp luật liên quan

3. Nhằm tăng cường nhận thức về kế toán điều tra (forensic accounting) nên đưa kiến thức về kế toán

điều tra (forensic accounting) vào chương trình giảng dạy trong chuyên ngành.

VII. Nhu cầu kế toán điều tra

Sau đây là một số câu phát biểu xin anh/chị vui lòng cho biết: Anh/chị có hiểu phát biểu đó không?

Nếu không, vì sao? Anh/chị có muốn thay đổi, bổ sung phát biểu cho rõ ràng, dễ hiểu hơn không?

1. Hiện nay,Việt Nam có nhu cầu về dịch vụ kế toán điều tra gian lận (forensic accounting).

2. Các công ty cung cấp dịch vụ đảm bảo có chuyên môn cao để thực hiện dịch vụ kế toán điều tra gian lận (forensic accounting)

125

126

Phụ lục 10

BẢNG TÓM TẮT CÁC CÂU TRẢ LỜI KHẢO SÁT

1. Bảng tóm tắt theo mức độ đồng ý

Tần

KH

Câu phát biểu

Mức độ đồng ý

%

µ

số

c1

Các thủ tục kiểm toán không thể phát hiện tất cả gian

Hoàn toàn không

8

4,5

lận.

đồng ý

11

6,3

Không đồng ý

6 0

3 4 0

,

,

4

1

9

5,1

Trung lập

82

46,6

Đồng ý

66

37,5

Hoàn toàn đồng ý

c2 Kiểm toán viên không có trách nhiệm phát hiện tất cả

Hoàn toàn không

15

8,5

gian lận.

đồng ý

44

25

Không đồng ý

6 4

2 5 3

,

,

3

1

11

6,3

Trung lập

57

32,4

Đồng ý

49

27,8

Hoàn toàn đồng ý

c3

Các dư luận về gian lận xảy ra tạo kỳ vọng dịch vụ

Hoàn toàn không

1

0,6

phát hiện và ngăn chặn gian lận.

đồng ý

8

4,5

Không đồng ý

8 7

0 5 7

,

,

3

0

43

24,4

Trung lập

101

57,4

Đồng ý

Hoàn toàn đồng ý

23

13,1

c4 Dịch vụ kế

toán điều

tra gian

lận (Forensic

Hoàn toàn không

2

1,1

Accounting) khác với dịch vụ kiểm toán truyền thống.

đồng ý

9 8

10

5,7

Không đồng ý

,

8 4 8

,

3

0

32

18,2

Trung lập

94

53,4

Đồng ý

Hoàn toàn đồng ý

38

21,6

c5 Dịch vụ kế

toán điều

tra gian

lận (Forensic

Hoàn toàn không

2

1,1

Accounting) nâng cao chất lượng của thông tin trên

đồng ý

báo cáo tài chính.

7

4,0

Không đồng ý

6 0

1 0 8

,

.

4

0

Trung lập

18

10,2

Đồng ý

100

56,8

Hoàn toàn đồng ý

49

27,8

c6 Dịch vụ kế

toán điều

tra gian

lận (Forensic

Hoàn toàn không

3

1,7

Accounting) làm tăng độ tin cậy của các nhà đầu tư,

đồng ý

người sử dụng báo cáo tài chính.

5

2,8

Không đồng ý

1 0

0 0 8

,

,

4

0

Trung lập

22

12,5

Đồng ý

103

58,5

Hoàn toàn đồng ý

43

24,4

c7 Hiện nay,Việt Nam có nhu cầu về dịch vụ kế toán điều

Hoàn toàn không

3

1,7

tra gian lận (Forensic Accounting).

đồng ý

Không đồng ý

14

8,0

Trung lập

62

35,2

5 5

4 5 8

,

,

3

0

Đồng ý

78

44,3

Hoàn toàn đồng ý

19

10,8

c8 Với điều kiện pháp lý hiện nay (Luật giám định tư

Hoàn toàn không

6

3,4

pháp, các nghị định, thông tư hướng dẫn) Việt Nam

đồng ý

sẵn sàng triển khai thực hiện kế toán điều tra gian

Không đồng ý

33

18,8

8 1

6 2 9

,

,

3

lận(Forensic Accounting)

0

Trung lập

71

40,3

Đồng ý

55

31,3

Hoàn toàn đồng ý

11

6,3

c9

Các dịch vụ chuyên ngành tài chính ở Việt Nam đã

Hoàn toàn không

31

17,6

phát triển cao, do đó không cần có dịch vụ hỗ trợ tư

đồng ý

6 2

0 3 9

,

,

2

vấn trong tranh chấp, kiện tụng (Litigation Support

0

Không đồng ý

94

53,4

Consultancy)

Trung lập

29

16,5

127

Đồng ý

19

10,8

Hoàn toàn đồng ý

3

1,7

c10 Khu vực tư có nhu cầu về kế toán điều tra gian lận

Hoàn toàn không

5

2,8

(Forensic Accounting) hơn

đồng ý

Không đồng ý

46

26,1

5 1

9 6 9

,

,

3

Trung lập

53

30,2

0

Đồng ý

62

35,2

Hoàn toàn đồng ý

10

5,7

c11 Kế toán điều tra là công cụ phát hiện và ngăn chặn

Hoàn toàn không

9

5,1

gian lận trong khu vực tư hơn

đồng ý

Không đồng ý

30

17

8 3

8 8 0

,

,

3

1

Trung lập

49

27,8

Đồng ý

62

35,2

Hoàn toàn đồng ý

26

14,8

c12 Kế toán điều tra gian lận là công cụ phát hiện thành

Hoàn toàn không

4

2,3

công các tội phạm rửa tiền (money laundering)

đồng ý

Không đồng ý

19

10,8

2 4

5 6 8

,

,

3

0

Trung lập

65

36,9

Đồng ý

75

42,6

Hoàn toàn đồng ý

13

7,4

c13 Các kiểm toán viên và kế toán đã được đào tạo đủ để

Hoàn toàn không

8

4,5

phát hiện và ngăn chặn gian lận

đồng ý

Không đồng ý

59

33,5

9 9

7 1 0

,

,

2

Trung lập

46

26,1

1

Đồng ý

54

30,7

Hoàn toàn đồng ý

9

5,1

c14 Kế toán điều tra gian lận (Forensic Accounting) giúp

Hoàn toàn không

1

0,6

hoàn thiện các hoạt động kiểm soát nội bộ

đồng ý

8 8

9

5,1

Không đồng ý

,

0 9 6

,

3

0

Trung lập

21

11,9

Đồng ý

125

71,0

128

Hoàn toàn đồng ý

20

11,4

c15 Kế toán điều tra gian lận (Forensic Accounting) nâng

Hoàn toàn không

6

3,4

cao vai trò các quy định bảo vệ nhân viên tố cáo các

đồng ý

hành vi sai trái trong tổ chức.

Không đồng ý

6

3,4

3 6

5 2 8

,

,

3

Trung lập

50

28,4

0

Đồng ý

99

56,3

Hoàn toàn đồng ý

15

8,5

c16 Kế toán điều tra gian lận (Forensic Accounting) có tính

Hoàn toàn không

2

1,1

hoài nghi nghề nghiệp cao giúp phát hiện các hành vi

đồng ý

biển thủ của nhân viên và tham ô, lạm quyền của ban

Không đồng ý

11

6,3

1 7

9 2 8

,

,

3

quản lý

0

Trung lập

48

27,3

Đồng ý

90

51,1

Hoàn toàn đồng ý

25

14,2

c17 Các công ty cung cấp dịch vụ đảm bảo có chuyên môn

Hoàn toàn không

2

1,1

cao để thực hiện dịch vụ kế toán điều tra gian lận

đồng ý

(Forensic Accounting)

Không đồng ý

18

10,2

1 7

2 8 8

,

,

3

0

Trung lập

35

19,9

Đồng ý

95

54

Hoàn toàn đồng ý

26

14,8

c18 Hoạt động giám định tư pháp có chức năng điều tra, hỗ

Hoàn toàn không

2

1,1

trợ quá trình truy tố, xét xử như kế toán điều tra

đồng ý

(Forensic Accounting). Để xã hội hóa giám định tư

Không đồng ý

23

13,1

pháp trong lĩnh vực tài chính cần quy định văn phòng

Trung lập

57

32,4

giám định tư pháp được thành lập, tổ chức, quản lý

5 4

4 5 8

,

,

3

theo loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn ngoài 2

0

Đồng ý

81

46,0

loại hình doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp danh đã

được quy định trong Luật giám định tư pháp số

Hoàn toàn đồng ý

13

7,4

13/2012/QH13 quy định.

129

c19 Nhằm phát triển dịch vụ kế toán điều tra hay giám định

Hoàn toàn không

0

0

tư pháp trong lĩnh vực tài chính, cần có sự quản lý,

đồng ý

giám sát chuyên môn của Hội nghề nghiệp; sự hoàn

Không đồng ý

6

3,4

4 1

0 2 7

,

,

4

chỉnh của các chuẩn mực nghề nghiệp và các quy định

0

Trung lập

17

9,7

pháp luật liên quan.

Đồng ý

100

56,8

Hoàn toàn đồng ý

53

30,1

c20 Nhằm tăng cường nhận thức về kế toán điều tra

Hoàn toàn không

0

0

(Forensic Accounting) nên đưa kiến thức về kế toán

đồng ý

điều tra (Forensic Accounting) vào chương trình giảng

Không đồng ý

6

3,4

4 1

4 8 7

,

,

4

dạy trong chuyên ngành.

0

25

14,2

Trung lập

83

47,2

Đồng ý

62

35,2

Hoàn toàn đồng ý

130

2. Bảng tóm tắt trung bình theo nghề nghiệp của các câu hỏi khảo sát

Kế

Giảng

Kiểm toán

KH

Câu phát biểu

Luật gia

toán

viên

viên

c1

Các thủ tục kiểm toán không thể phát hiện tất cả gian

lận.

c2 Kiểm toán viên không có trách nhiệm phát hiện tất cả

4 4 4 4

gian lận.

c3

Các dư luận về gian lận xảy ra tạo kỳ vọng dịch vụ

3 3 4 4

phát hiện và ngăn chặn gian lận.

c4 Dịch vụ kế

toán điều

tra gian

lận (Forensic

4 4 4 4

Accounting) khác với dịch vụ kiểm toán truyền thống.

c5 Dịch vụ kế

toán điều

tra gian

lận (Forensic

4 4 4 4

Accounting) nâng cao chất lượng của thông tin trên

báo cáo tài chính.

c6 Dịch vụ kế

toán điều

tra gian

lận (Forensic

4 4 4 4

Accounting) làm tăng độ tin cậy của các nhà đầu tư,

người sử dụng báo cáo tài chính.

4 4 4 4

c7 Hiện nay,Việt Nam có nhu cầu về dịch vụ kế toán điều

131

tra gian lận (Forensic Accounting).

c8 Với điều kiện pháp lý hiện nay (Luật giám định tư

4 4 4 3

pháp, các nghị định, thông tư hướng dẫn) Việt Nam

sẵn sàng triển khai thực hiện kế toán điều tra gian

lận(Forensic Accounting)

c9

Các dịch vụ chuyên ngành tài chính ở Việt Nam đã

3 3 3 3

phát triển cao, do đó không cần có dịch vụ hỗ trợ tư

vấn trong tranh chấp, kiện tụng (litigation support

consultancy)

c10 Khu vực tư có nhu cầu về kế toán điều tra gian lận

2 2 2 2

(Forensic Accounting) hơn

c11 Kế toán điều tra là công cụ phát hiện và ngăn chặn

3 3 3 3

gian lận trong khu vực tư hơn

c12 Kế toán điều tra gian lận là công cụ phát hiện thành

3 3 3 3

công các tội phạm rửa tiền (money laundering)

c13 Các kiểm toán viên và kế toán đã được đào tạo đủ để

3 3 3 4

phát hiện và ngăn chặn gian lận

c14 Kế toán điều tra gian lận (Forensic Accounting) giúp

3 3 3 3

hoàn thiện các hoạt động kiểm soát nội bộ

c15 Kế toán điều tra gian lận (Forensic Accounting) nâng

4 4 4 4

cao vai trò các quy định bảo vệ nhân viên tố cáo các

hành vi sai trái trong tổ chức.

c16 Kế toán điều tra gian lận (Forensic Accounting) có tính

4 3 4 3

hoài nghi nghề nghiệp cao giúp phát hiện các hành vi

biển thủ của nhân viên và tham ô, lạm quyền của ban

quản lý

c17 Các công ty cung cấp dịch vụ đảm bảo có chuyên môn

4 4 4 4

cao để thực hiện dịch vụ kế toán điều tra gian lận

4 4 4 4

(Forensic Accounting)

c18 Hoạt động giám định tư pháp có chức năng điều tra, hỗ

132

trợ quá trình truy tố, xét xử như kế toán điều tra

(Forensic Accounting). Để xã hội hóa giám định tư

pháp trong lĩnh vực tài chính cần quy định văn phòng

giám định tư pháp được thành lập, tổ chức, quản lý

theo loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn ngoài 2

loại hình doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp danh đã

được quy định trong Luật giám định tư pháp số

13/2012/QH13 quy định.

c19 Nhằm phát triển dịch vụ kế toán điều tra hay giám định

3 3 3 3

tư pháp trong lĩnh vực tài chính, cần có sự quản lý,

giám sát chuyên môn của Hội nghề nghiệp; sự hoàn

chỉnh của các chuẩn mực nghề nghiệp và các quy định

pháp luật liên quan.

c20 Nhằm tăng cường nhận thức về kế toán điều tra

4 4 4 4

(Forensic Accounting) nên đưa kiến thức về kế toán

điều tra (Forensic Accounting) vào chương trình giảng

dạy trong chuyên ngành.

4 4 4 4

133

Phụ lục 11

KẾT QUẢ PHÂN TÍCH DỮ LIỆU BẰNG PHẦN MỀM SPSS

1. Bảng tần số về nghề nghiệp, số năm kinh nghiệm

Statistics

Nghề nghiệp

Số năm kinh nghiệm

N

Valid Missing

176 0

176 0

Nghề nghiệp

Frequency

Percent

Valid Percent

Valid

Kế toán Luật gia Giảng viên Kiểm toán viên Total

78 21 33 44 176

44.3 11.9 18.8 25.0 100.0

44.3 11.9 18.8 25.0 100.0

Cumulative Percent 44.3 56.3 75.0 100.0

Số năm kinh nghiệm

Frequency

Percent

Valid

Dưới 3 năm Từ 3 năm đến 5 năm Từ 6 năm đến 10 năm Trên 10 năm

43 55 42 36

24.4 31.3 23.9 20.5

Valid Percent 24.4 31.3 23.9 20.5

Total

176

100.0

100.0

Cumulative Percent 24.4 55.7 79.5 100.0

134

2. Kết quả phân tích nhân tố cho cả 18 biến nhóm X

KMO and Bartlett's Test

Kaiser-Meyer-Olkin Measure of Sampling Adequacy.

.745

Bartlett's Test of Sphericity Approx. Chi-Square

612.857

df

153

Sig.

.000

Total Variance Explained

Initial Eigenvalues

Extraction Sums of Squared Loadings

Rotation Sums of Squared Loadings

Compo- nent

Total

Total

Total

% of Variance

Cumulative %

% of Variance

Cumulativ e %

% of Variance

Cumulativ e %

1

3.832

21.287

21.287

3.832

21.287

21.287

2.266

12.591

12.591

2

1.895

10.527

31.814

1.895

10.527

31.814

2.121

11.781

24.372

3

1.394

7.746

39.560

1.394

7.746

39.560

1.811

10.060

34.432

4

1.174

6.523

46.083

1.174

6.523

46.083

1.618

8.990

43.422

5

1.132

6.289

52.372

1.132

6.289

52.372

1.511

8.397

51.819

6

1.073

5.962

58.334

1.073

5.962

58.334

1.173

6.515

58.334

7

.983

5.462

63.796

8

.910

5.055

68.851

9

.780

4.333

73.184

10

.751

4.170

77.354

11

.695

3.859

81.213

12

.618

3.432

84.645

13

.580

3.225

87.870

14

.536

2.979

90.849

15

.515

2.861

93.710

16

.482

2.680

96.390

17

.362

2.013

98.403

18

.288

1.597

100.000

Extraction Method: Principal Component Analysis.

135

Rotated Component Matrix(a)

Component

1

2

3

4

5

6

.814

C5-Tăng chất lượng thông tin trên BCTC

.769

C6-Tăng độ tin cậy của người sử dụng BCTC

.506

C3-Kỳ vọng dịch vụ phát hiện gian lận

C4-KTĐT khác vớikiểm toán

C15- Bảo vệ nhân viên tố cáo gian lận

.744

C16-Có tính hoài nghi nghề nghiệp cao

.697

C12-Công cụ phát hiện tội phạm rửa tiền

.558

C14-Hoàn thiện các hoạt động kiểm soát nội bộ

.526

C20-Đưa KTĐT vào chương trình giảng dạy

.780

.744

.617

C19-Cần có sự quản lý của Hội nghề nghiệp, CMNN và các quy định pháp luật C18-Cần quy định Văn phòng KTĐT theo loại hình TNHH

C1-KTV không có trách nhiệm phát hiện gian lận

.746

.709

.788

C2-Các thủ tục kiểm toán không thể phát hiện tất cả gian lận C9-Không cần có dịch vụ hỗ trợ tư vấn trong tranh chấp, kiện tụng

C8-Điều kiện pháp lý sẵn sàng thực hiện KTĐT

.658

.476

C13-Các KTV và KT đã được đào tạo đủ để phát hiện và ngăn chặn gian lận

C10-Khu vực tư có nhu cầu về KTĐT hơn

.829

.455

C11-công cụ phát hiện gian lận trong khu vực tư hơn

Extraction Method: Principal Component Analysis. Rotation Method: Varimax with Kaiser Normalization. a Rotation converged in 8 iterations.

136

3.Kết quả phân tích nhân tố chạy cho các biến nhóm X chỉ loại biến c4

KMO and Bartlett's Test

Kaiser-Meyer-Olkin Measure of Sampling Adequacy.

.735

Bartlett's Test of Sphericity Approx. Chi-Square

564.073

df

136

Sig.

.000

Total Variance Explained

Initial Eigenvalues

Compo- nent

Total

Total

Total

% of Variance

Cumulative %

Extraction Sums of Squared Loadings % of Variance

Cumulativ e %

Rotation Sums of Squared Loadings % of Variance

Cumulativ e %

1

3.647

21.453

21.453

3.647

21.453

21.453

2.112

12.424

12.424

2

1.814

10.670

32.123

1.814

10.670

32.123

2.105

12.379

24.804

3

1.376

8.092

40.215

1.376

8.092

40.215

1.792

10.539

35.343

4

1.161

6.831

47.046

1.161

6.831

47.046

1.515

8.913

44.257

5

1.129

6.644

53.689

1.129

6.644

53.689

1.494

8.789

53.046

6

1.064

6.261

59.951

1.064

6.261

59.951

1.174

6.905

59.951

7

.982

5.778

65.729

8

.903

5.310

71.039

9

.776

4.567

75.606

10

.703

4.133

79.739

11

.647

3.809

83.548

12

86.974

3.426

.582

13

90.130

3.156

.537

14

93.160

3.030

.515

15

95.998

2.838

.482

16

98.256

2.259

.384

17

100.000

1.744

.296

Extraction Method: Principal Component Analysis.

137

Rotated Component Matrix(a)

Component

1

2

3

4

5

6

.751

C15- Bảo vệ nhân viên tố cáo gian lận

.696

C16-Có tính hoài nghi nghề nghiệp cao

.548

C14-Hoàn thiện các hoạt động kiểm soát nội bộ

.540

C12-Công cụ phát hiện tội phạm rửa tiền

C5- Tăng chất lượng thông tin trên BCTC

.815

C6-Tăng độ tin cậy của người sử dụng BCTC

.787

C3-Kỳ vọng dịch vụ phát hiện gian lận

.528

C20-Đưa KTĐT vào chương trình giảng dạy

.786

.746

.618

.774

C19-Cần có sự quản lý của Hội nghề nghiệp, CMNN và các quy định pháp luật C18-Cần quy định Văn phòng KTĐT theo loại hình TNHH C2-Các thủ tục kiểm toán không thể phát hiện tất cả gian lận

C1-KTV không có trách nhiệm phát hiện gian lận

.709

.795

C9-Không cần có dịch vụ hỗ trợ tư vấn trong tranh chấp, kiện tụng

C8-Điều kiện pháp lý sẵn sàng thực hiện KTĐT

.656

.456

C13-Các KTV và KT đã được đào tạo đủ để phát hiện và ngăn chặn gian lận

C10-Khu vực tư có nhu cầu về KTĐT hơn

.814

.481

C11-công cụ phát hiện gian lận trong khu vực tư hơn

C15- Bảo vệ nhân viên tố cáo gian lận

.751

Extraction Method: Principal Component Analysis. Rotation Method: Varimax with Kaiser Normalization. a Rotation converged in 6 iterations.

138

4.Kết quả phân tích nhân tố chạy cho các biến nhóm X chỉ loại biến c13

KMO and Bartlett's Test

Kaiser-Meyer-Olkin Measure of Sampling Adequacy.

.748

Bartlett's Test of Sphericity Approx. Chi-Square

581.235

df

136

Sig.

.000

Total Variance Explained

Initial Eigenvalues

Compo- nent

Total

Total

Total

% of Variance

Cumulative %

Extraction Sums of Squared Loadings % of Variance

Cumulativ e %

Rotation Sums of Squared Loadings % of Variance

Cumulativ e %

1

3.801

22.361

22.361

3.801

22.361

22.361

2.233

13.136

13.136

2

1.739

10.227

32.588

1.739

10.227

32.588

2.096

12.327

25.463

3

1.393

8.196

40.785

1.393

8.196

40.785

1.817

10.690

36.153

4

1.170

6.884

47.669

1.170

6.884

47.669

1.588

9.344

45.497

5

1.132

6.659

54.328

1.132

6.659

54.328

1.398

8.222

53.719

6

1.019

5.995

60.323

1.019

5.995

60.323

1.123

6.604

60.323

7

.983

5.781

66.104

8

.823

4.840

70.944

9

.751

4.417

75.361

10

.711

4.184

79.545

11

.678

3.990

83.535

12

86.957

3.422

.582

13

90.207

3.250

.553

14

93.258

3.050

.519

15

96.096

2.839

.483

16

98.290

2.194

.373

17

100.000

1.710

.291

Extraction Method: Principal Component Analysis.

139

Rotated Component Matrix(a)

Component

1

2

3

4

5

6

.802

C5- Tăng chất lượng thông tin trên BCTC

.768

C6-Tăng độ tin cậy của người sử dụng BCTC

.493

C3-Kỳ vọng dịch vụ phát hiện gian lận

C15- Bảo vệ nhân viên tố cáo gian lận

.733

C16-Có tính hoài nghi nghề nghiệp cao

.686

C12-Công cụ phát hiện tội phạm rửa tiền

.610

C14-Hoàn thiện các hoạt động kiểm soát nội bộ

.495

C20-Đưa KTĐT vào chương trình giảng dạy

.794

.741

.592

.760

C19-Cần có sự quản lý của Hội nghề nghiệp, CMNN và các quy định pháp luật C18-Cần quy định Văn phòng KTĐT theo loại hình TNHH C2-Các thủ tục kiểm toán không thể phát hiện tất cả gian lận

C1-KTV không có trách nhiệm phát hiện gian lận

.722

C4-KTĐT khác với kiểm toán

.847

C9-Không cần có dịch vụ hỗ trợ tư vấn trong tranh chấp, kiện tụng

C8-Điều kiện pháp lý sẵn sàng thực hiện KTĐT

.632

C11-công cụ phát hiện gian lận trong khu vực tư hơn

C10-Khu vực tư có nhu cầu về KTĐT hơn

.888

Extraction Method: Principal Component Analysis. Rotation Method: Varimax with Kaiser Normalization. a Rotation converged in 8 iterations.

140

5. Kết quả phân tích nhân tố chạy cho các biến nhóm X có loại bỏ biến c4, c13

KMO and Bartlett's Test

Kaiser-Meyer-Olkin Measure of Sampling Adequacy.

.739

Bartlett's Test of Sphericity Approx. Chi-Square

532.321

df

120

Sig.

.000

Total Variance Explained

Initial Eigenvalues

Compo- nent

Total

Total

Total

% of Variance

Cumulative %

Extraction Sums of Squared Loadings % of Variance

Cumulativ e %

Rotation Sums of Squared Loadings % of Variance

Cumulativ e %

1

3.607

22.544

22.544

3.607

22.544

22.544

2.090

13.060

13.060

2

1.673

10.453

32.997

1.673

10.453

32.997

2.083

13.018

26.078

3

1.372

8.576

41.573

1.372

8.576

41.573

1.789

11.182

37.260

4

1.157

7.234

48.807

1.157

7.234

48.807

1.461

9.131

46.391

5

1.129

7.057

55.864

1.129

7.057

55.864

1.373

8.584

54.975

6

1.004

6.272

62.137

1.004

6.272

62.137

1.146

7.162

62.137

7

.982

6.139

68.276

8

.818

5.109

73.385

9

.727

4.541

77.926

10

.680

4.250

82.176

11

.592

85.879

3.703

12

89.367

3.488

.558

13

92.608

3.241

.519

14

95.626

3.018

.483

15

98.134

2.507

.401

16

100.000

1.866

.299

Extraction Method: Principal Component Analysis.

141

Rotated Component Matrix(a)

Component

1

2

3

4

5

6

.800

C5- Tăng chất lượng thông tin trên BCTC

.788

C6-Tăng độ tin cậy của người sử dụng BCTC

.516

C3-Kỳ vọng dịch vụ phát hiện gian lận

C15- Bảo vệ nhân viên tố cáo gian lận

.741

C16-Phát hiện biển thủ, tham ô lạm quyền

.689

C12-Công cụ phát hiện tội phạm rửa tiền

.593

C14-Hoàn thiện các hoạt động kiểm soát nội bộ

.519

C20-Đưa KTĐT vào chương trình giảng dạy

.808

.742

.580

.802

C19-Cần có sự quản lý của Hội nghề nghiệp, CMNN và các quy định pháp luật C18-Cần quy định Văn phòng KTĐT theo loại hình TNHH C2-Các thủ tục kiểm toán không thể phát hiện tất cả gian lận

C1-KTV không có trách nhiệm phát hiện gian lận

.722

.854

C9-Không cần có dịch vụ hỗ trợ tư vấn trong tranh chấp, kiện tụng

C8-Điều kiện pháp lý sẵn sàng thực hiện KTĐT

.624

C10-Khu vực tư có nhu cầu về KTĐT hơn

.866

.453

C11-công cụ phát hiện gian lận trong khu vực tư hơn

Extraction Method: Principal Component Analysis. Rotation Method: Varimax with Kaiser Normalization. a Rotation converged in 6 iterations.

142

6. Kết quả phân tích nhân tố chạy cho các biến nhóm Y

KMO and Bartlett's Test

Kaiser-Meyer-Olkin Measure of Sampling Adequacy.

.500

Bartlett's Test of Sphericity Approx. Chi-Square

3.964

df

1

Sig.

.046

Total Variance Explained

Initial Eigenvalues

Compo- nent

Total

Total

% of Variance

Cumulative %

Extraction Sums of Squared Loadings % of Variance

Cumulativ e %

1

1.150

57.515

57.515

1.150

57.515

57.515

2

100.000

42.485

.850

Extraction Method: Principal Component Analysis.

143

7. Kết quả tính hệ số Cronbach Anpha

7. 1. Hệ số Cronbach Anpha của nhân tố 1

Cronbach's Alpha

N of Items

.715

3

Reliability Statistics

Item-Total Statistics

Scale Mean if Item Deleted

Scale Variance if Item Deleted

Corrected Item-Total Correlation

Cronbach's Alpha if Item Deleted

7.79

1.538

.675

.437

C5- Tăng chất lượng thông tin trên BCTC

7.84

1.700

.566

.584

C6-Tăng độ tin cậy của người sử dụng BCTC

8.07

2.126

.381

.794

C3-Kỳ vọng dịch vụ phát hiện gian lận

7. 2. Hệ số Cronbach Anpha của nhân tố 2

Cronbach's Alpha

N of Items

.671

4

Reliability Statistics

Item-Total Statistics

Scale Mean if Item Deleted

Scale Variance if Item Deleted

Corrected Item-Total Correlation

Cronbach's Alpha if Item Deleted

11.01

3.000

.538

.545

C15- Bảo vệ nhân viên tố cáo gian lận

10.93

3.109

.486

.582

C16-Phát hiện biển thủ, tham ô lạm quyền

11.22

3.256

.388

.651

C12-Công cụ phát hiện tội phạm rửa tiền

10.76

3.657

.410

.633

C14-Hoàn thiện các hoạt động kiểm soát nội bộ

144

7. 3. Hệ số Cronbach Anpha của nhân tố 3

Reliability Statistics

Cronbach's Alpha

N of Items

.599

3

Item-Total Statistics

Scale Mean if Item Deleted

Scale Variance if Item Deleted

Corrected Item-Total Correlation

Cronbach's Alpha if Item Deleted

7.59

1.557

.475

.398

C20-Đưa KTĐT vào chương trình giảng dạy

7.60

1.705

.466

.424

C19-Cần có sự quản lý của Hội nghề nghiệp, CMNN và các quy định pháp luật

8.28

1.699

.301

.667

C18-Cần quy định Văn phòng KTĐT theo loại hình TNHH

7. 4. Hệ số Cronbach Anpha của nhân tố 4

Cronbach's Alpha

N of Items

.464

2

Reliability Statistics

Item-Total Statistics

Scale Mean if Item Deleted

Scale Variance if Item Deleted

Corrected Item-Total Correlation

Cronbach's Alpha if Item Deleted

3.46

1.827

.312

C1-KTV không có trách nhiệm phát hiện gian lận

4.06

1.088

.312

C2-Các thủ tục kiểm toán không thể phát hiện tất cả gian lận

145

7. 5. Hệ số Cronbach Anpha của nhân tố 5

Cronbach's Alpha

N of Items

.401

2

Reliability Statistics

Item-Total Statistics

Scale Mean if Item Deleted

Scale Variance if Item Deleted

Corrected Item-Total Correlation

Cronbach's Alpha if Item Deleted

3.18

.858

.251

.

C9-Không cần có dịch vụ hỗ trợ tư vấn trong tranh chấp, kiện tụng

2.26

.866

.251

.

C8-Điều kiện pháp lý sẵn sàng thực hiện KTĐT

7. 6. Hệ số Cronbach Anpha của nhân tố 6

Cronbach's Alpha

N of Items

.272

2

Reliability Statistics

Item-Total Statistics

Scale Mean if Item Deleted

Scale Variance if Item Deleted

Corrected Item-Total Correlation

Cronbach's Alpha if Item Deleted

3.38

1.184

.159

3.38

C10-Khu vực tư có nhu cầu về KTĐT hơn

3.15

.938

.159

3.15

C11-công cụ phát hiện gian lận trong khu vực tư hơn

146

7.7. Hệ số Cronbach Anpha của nhân tố 7

Cronbach's Alpha

N of Items

.261

2

Reliability Statistics

Item-Total Statistics

Scale Mean if Item Deleted

Scale Variance if Item Deleted

Corrected Item-Total Correlation

Cronbach's Alpha if Item Deleted

3.71

.778

.150

.

C7-VN có nhu cầu về KTĐT

3.55

.729

.150

.

C17- Các công ty cung cấp dịch vụ đảm bảo thực hiện KTĐT

147

Phụ lục 12

NỘI DUNG PHỎNG VẤN ÔNG TRẦN VĂN NAM

TRƢỞNG VĂN PHÒNG GIÁM ĐỊNH TƢ PHÁP SÀI GÒN

A. Phần giới thiệu

Văn phòng Giám định Tư pháp Sài Gòn được Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố

Hồ Chí Minh ban hành Quyết định thành lập số 5152/QĐ-UBND ngày 20 tháng 09

năm 2013 hoạt động trong lĩnh vực tài chính. Ngày 25/10/2013, Văn phòng giám định

tư pháp Sài Gòn đã chính thức đi vào hoạt động theo Giấy đăng ký hoạt động số

41.01.0001/TP-GĐ-ĐKHĐ do Sở Tư pháp cấp. Đây là Văn phòng giám định tư pháp

đầu tiên của Thành phố Hồ Chí Minh và cũng là Văn phòng giám định tư pháp đầu tiên

của cả nước hoạt động theo mô hình doanh nghiệp. Trưởng văn phòng là ông Trần Văn

Nam, được bổ nhiệm ngày 09/11/2003, thẻ giám định viên số 88.

B. Phần nội dung

Khái niệm kế toán điều tra gần giống với giám định tư pháp về tài chính trong việc thu

thập bằng chứng để đưa ra kết luận trước Tòa. Nhằm hiểu rõ hơn về kế toán điều tra

(Forensic Accounting), giám định tư pháp về tài chính, kiểm toán độc lập, tác giả đã

có cuộc phỏng vấn với ông Trần Văn Nam, Trưởng văn phòng giám định tư pháp Sài

Gòn. Cuộc phỏng vấn được ghi âm kéo dài 30 phút thực hiện ngày 14/10/2014 tại Văn

phòng giám định tư pháp Sài Gòn.

Phỏng vấn viên (PPV): Xin ông giới thiệu về bản thân và quá trình công tác.

Ông Trần Văn Nam (TVN): Lúc trước tôi công tác tại cơ quan Kiểm toán Nhà nước

phía Nam, rồi chuyển về Sở Tài chính TP. HCM, đảm nhiệm Chánh thanh tra Sở. Sau

148

đó Ủy ban thành phố bổ nhiệm tôi làm giám định viên trưởng, tổ chức giám định tư

pháp về kế toán tài chính. Sau này chuẩn bị khi có Luật giám định ra đời, năm 2005 Ủy

ban giải thể tổ chức giám định này. Lúc đó Bộ Tư pháp có tổ chức khóa cấp thẻ cho

giám định viên thì tôi là một trong năm người của Sở Tài chính được cấp thẻ Giám

định tư pháp. Thẻ này cũng chính là thẻ hành nghề giám định tư pháp. Trong quá trình

công tác tôi đã giám định ba mươi, bốn mươi vụ án lớn nhỏ, kết quả giám định được cơ

quan tiến hành tố tụng thừa nhận và sử dụng.

PVV: Theo ông, giữa giám định tư pháp về tài chính và kiểm toán độc lập khác biệt

như thế nào?

TVN: Kiểm toán có hai dạng chính, kiểm toán Nhà nước và kiểm toán độc lập, kiểm

toán Nhà nước chủ yếu kiểm tra các sở, ban, ngành, công ty Nhà nước để xem xét quá

trình hoạt động của công ty có chấp hành luật tài chính kế toán, đưa ra kết luận đúng

sai, thất thoát. Kiểm toán độc lập thành lập theo loại hình tư nhân, không có chức năng

tư pháp, kiểm toán độc lập do công ty thuê làm dịch vụ sổ sách, tư vấn hoặc kiểm tra sổ

sách. Chức năng tư pháp là chức năng liên quan đến pháp luật. Kiểm toán viên độc lập

có thể theo công ty ra Tòa để trả lời chất vấn của luật sư hai bên nhưng không có chức

năng kết luận đúng sai cuối cùng về vụ việc. Còn giám định viên tư pháp có trách

nhiệm kết luận đúng sai, số tiền thất thoát bao nhiêu. Và cơ quan tiến hành tố tụng,

cảnh sát điều tra, Tòa án sẽ sử dụng kết luận đó làm cơ sở xét xử. Và do đó, khi xử án

thì giám định viên sẽ được mời để khi luật sư hai bên hỏi thì giám định viên sẽ giải

thích.

PVV: Vậy kết luận của kiểm toán viên trong báo cáo kiểm toán thì sao?

TVN: Báo cáo kiểm toán của kiểm toán độc lập thường chỉ kết luận chung chung về

cách lập báo cáo tài chính. Khi trình bày bằng chứng trước Tòa, không thể dựa vào báo

cáo kiểm toán mà phải dựa trên chứng từ hồ sơ. Trước đây, người ta tin tưởng vào báo

149

cáo kiểm toán chủ yếu là để giao dịch, mua bán cổ phiếu, chứng khoán với nhau; báo

cáo kiểm toán như sự đảm bảo vừa phải về kết quả lời lỗ hoạt động kinh doanh của một

công ty để các nhà đầu tư ra quyết định đầu tư. Chứ kết quả kiểm toán đưa ra Tòa thì

không có chức năng tư pháp. Nếu cơ quan điều tra có xem báo cáo kiểm toán độc lập

thì cũng chỉ tham khảo chứ không dựa vào đó đưa ra kết luận.

PVV: Theo ông, vì sao giám định tư pháp chưa được phổ biến rộng rãi.

TVN: Hiện nay đã có Luật giám định tư pháp số 13/2012/QH13 ngày 20/6/2012, nghị

định số 85/2013/NĐ-CP ngày 29 tháng 7 năm 2013 quy định chi tiết và biện pháp thi

hành Luật Giám định tư pháp, thông tư số 138/2013/TT-BTC ngày 09 tháng 10 năm

2013 hướng dẫn một số nội dung của Luật giám định tư pháp và nghị định số

85/2013/NĐ-CP quy định rõ trách nhiệm, nghĩa vụ, quyền hạn của giám định viên. Tuy

nhiên Bộ Tư Pháp không tổ chức cấp thẻ nữa.

PVV: Vừa rồi, vụ án China Airline công ty kê khai thất thoát nhiều nhưng Tòa án chỉ

kết luận trên kết quả của giám định tư pháp. Ông có biết vụ án này không ạ.

TVN: Có. Tôi cũng có tham dự buổi Tòa xét xử. Công ty đi khiếu kiện đòi điều tra lại

vì Tòa đã xử rồi. China Airlines là công ty cổ phần hàng không quốc gia Đài Loan

(100% vốn nước ngoài), văn phòng đại diện tại TP. HCM chỉ giao dịch báo sổ, có phát

sinh doanh thu, chi phí nhưng không có lập báo cáo tài chính mà chuyển số liệu về trụ

sở. Lợi dụng quá trình đó, nhân viên cấu kết với một nhân viên nước ngoài tham ô lấy

tiền công ty chia nhau nhưng không có hồ sơ chứng từ kế toán. Khi giám định, tôi căn

cứ vào hồ sơ do Bộ công an cung cấp bằng cách bắt các nghi phạm tự truy xuất trên sổ

sách khai nhận số tiền nào lấy. Không có chứng từ sổ sách chứng minh thành ra cơ

quan điều tra căn cứ vào lời tự khai nhận của thủ phạm. Sau đó công ty có thuê kiểm

toán độc lập phát hành báo cáo kiểm toán nhưng trên báo cáo kiểm toán có nói rằng số

150

liệu này không đảm bảo chính xác, không xác định được thủ phạm nên tôi không thể sử

dụng được.

PVV: Vậy công ty kiểm toán độc lập có thể thực hiện dịch vụ giám định tư pháp về tài

chính được không?

TVN: Kiểm toán viên đã có thẻ kiểm toán viên do Bộ Tài Chính cấp, muốn thực hiện

giám định trong lĩnh vực liên quan tư pháp thì kiểm toán viên phải được cấp thẻ giám

định tư pháp. Sau khi kiểm toán viên được đào tạo bổ sung thì mới có chức năng giám

định để cơ quan điều tra, tố tụng sử dụng kết quả trong xét xử các vụ án.

PVV: Báo cáo kiểm toán chỉ đảm bảo số liệu vừa phải có trung thực hợp lý theo chế độ

chuẩn và các quy định hiện hành do kiểm toán chỉ kiểm tra chọn mẫu, không có quyền

tra hỏi ai. Còn giám định tài chính thì sao.

TVN: Tôi không kiểm tra chọn mẫu mà kiểm tra toàn bộ các nghiệp vụ kinh tế. Tôi

không làm việc trực tiếp với đối tượng mà thông qua cơ quan điều tra cung cấp số liệu,

lời khai của đối tượng.

PVV: Vậy vì sao công an kinh tế điều tra không đưa ra kết luận về vụ án. Họ cũng có

trình độ chuyên môn về nghiệp vụ kế toán tài chính.

TVN: Họ cũng có nắm rõ nghiệp vụ nhưng chỉ có chức năng điều tra về việc đó đúng

hay sai, chứ không có chức năng tư pháp. Cơ quan điều tra phải trưng cầu giám định tư

pháp.

PVV: Vậy cần phân biệt cơ quan điều tra và giám định viên như thế nào.

TVN: Công an kinh tế trong quá trình điều tra tìm chứng cứ, tài liệu nhưng để kết luận

một cách khách quan thì công an kinh tế phải trưng cầu giám định viên nhằm đảm bảo

độc lập. Đối với kiểm toán Nhà nước, họ chỉ có chức năng kiểm tra tài chính các cơ

151

quan Nhà nước. Khi họ có kết luận về gian lận thì chuyển hồ sơ cho cơ quan điều tra

chứ chưa qua giám định viên ngay.

PVV: Thưa ông, ông có biết về thuật ngữ kế toán điều tra (Forensic Accounting) không

TVN: Tôi không nắm về kế toán điều tra.

PVV: Thưa ông, ông có kiến nghị gì cho xã hội hóa giám định tư pháp tư nhân không

TVN: Cũng mong rằng các tỉnh thành nếu có ngững người đã hoạt động trong lĩnh cực

tư pháp thì nên ủng hộ cho thành lập văn phòng giám định tư pháp.

PPV: Xin cảm ơn ông về cuộc trò chuyện này.

-Hết-

152

Phụ lục 13

DANH SÁCH ĐỐI TƢỢNG KHẢO SÁT

Dưới đây là các đối tượng khảo sát trình bày tên và nghề nghiệp, ý kiến đóng góp đề

tài. Các thông tin liên lạc cá nhân khác được bảo mật, và chỉ cung cấp khi có yêu cầu

chứng thực thông tin khảo sát.

STT Họ tên/Địa chỉ email Nghề nghiệp Ý kiến đóng góp

1. Huỳnh Thị Thanh Tuyền Không có

2. Nguyễn Thị Huyền Trang Không có

3. Hoàng Minh Tuấn Không có

4. Trần Thanh Hải Không có

5. Võ Công Tuấn

Gắn liền Luật Bảo vệ thông tin, quy định rõ quyền tiếp cận thông tin/bằng chứng

6. Đỗ Hoàng Chương Không có

7. Đặng Quốc Việt Không có

8. Nguyễn Thị Trúc Liễu Không có

9. Nguyễn Hữu Thắng Không có

Kiểm toán viên Kiểm toán viên Kiểm toán viên Kiểm toán viên Kiểm toán viên số GCN ĐKHN 0486- 2013-079-1 Kiểm toán viên số GCN ĐKHN 2662- 2013-079-1 Kiểm toán viên số GCN ĐKHN 0626- 2013-079-1 Kiểm toán viên Kiểm toán viên Kiểm toán 10. Võ Thị Ngọc Lan Không có

153

11. Nguyễn Thanh Sang Không có

12. Đào Vũ Thiên Long Không có

13. TS. Phan Văn Dũng

Cần triển khai trong thực tế và đào tạo trong các trường đại học

14. Nguyễn Thị Thanh Hương Không có

15. Vỏ Đoàn Thiên Thanh

viên Kiểm toán viên số GCN ĐKHN 0851- 2013-071-1 Kiểm toán viên số GCN ĐKHN 1739- 2013-071-1 Kiểm toán viên số GCN ĐKHN 0171- 2013-118-1 Kiểm toán viên số GCN ĐKHN 0529- 2013-079-1 Kiểm toán viên

16. Đàm Minh Thúy Nên thực hiện dịch vụ kế toán điều tra gian lận và sai sót Không có

17. Nguyễn Thái Không có

18. Nguyễn Thị Mai Phong Không có

19. Trần Thị Oanh Kiều Không có

20. Mai Thị Tuyết Lan Không có

Kiểm toán viên số GCN ĐKHN 1547- 2013-142-1 Kiểm toán viên số GCN ĐKHN 1623- 2013-002-1 Kiểm toán viên Kiểm toán viên Kiểm toán viên

154

21. Nguyễn Đình Khôi Không có

22. Trần Hải Sơn Không có

23. Trần Đình Vinh Không có

24. Nguyễn Văn Ân

Kiểm toán viên Kiểm toán viên số GCN ĐKHN 2172-2013- 05-1 Kiểm toán viên số GCN ĐKHN 0339- 2013-007-1 Kiểm toán viên

25. Bùi Vũ Hoàng Sa Cần thực hiện thử nghiệm (thí điểm) ở một số nơi/chương trình/… Không có

26. Lê Hồng Long

Kế toàn điều tra nên hợp nhất vào đơn vị công an kinh tế của Bộ Công An

27. Lê Hạ Không có

28. Nguyễn Văn Ngà

Kiểm toán viên Kiểm toán viên số GCN ĐKHN 0786- 2013-079-1 Kiểm toán viên số GCN ĐKHN 0082- 2013-079-1 Kiểm toán viên số GCN ĐKHN 0703- 2013-107-1

29. Nguyễn Mạnh Quân Cần có biện pháp bảo vệ người làm "Kế toán điều tra", tránh rủi ro bị trả thù, bị khủng bố khi phát hiện gian lận Không có

30. Trần Ngọc Linh 31. Lê Văn Lý Không có Không có Kiểm toán viên số GCN ĐKHN 0180- 2013-107-1 Kế toán Kế toán

155

32. Tạ Thị Thơ 33. Trần Thị Kim Ngân 34. Nguyễn Thị Minh Thúy 35. Trương Thị Mỹ Liên 36. Võ Thị Như Lệ 37. Tuyền 38. Bùi Quốc Toản 39. Thúy 40. Nguyễn Thị Phương Tâm 41. Kế toán Kế toán Kế toán Giảng viên Kế toán Kế toán Kế toán Kế toán Kế toán Kế toán Không có Không có Không có Không có Không có Không có Không có Không có Không có Không có

thanhbinhmajestic@gmail.c om Phạm Hoài Diễm Phạm Xuân Quang

42. 43. 44. Trang 45. Đinh Công Thành 46. Bùi Văn Trung 47. Thu 48. Nguyễn Thị Thanh Huyền 49. Huỳnh Hữu Phước Không có Không có Không có Không có Không có Không có Không có Không có

50. Lê Thị Thu Hương 51. Mai Thị Thu Hà 52. Phương 53. Võ Thị Việt Thùy 54. Bùi Thị Ngọc Ánh 55. Nguyễn Thị Hoàng Yến 56. Phan Thị Trà Mỹ 57. Đặng Thị Hiên 58. Kế toán Kế toán Kế toán Giảng viên Kế toán Kế toán Kế toán Kiểm toán viên Kế toán Kế toán Kế toán Kế toán Kế toán Kế toán Kế toán Kế toán Kế toán Không có Không có Không có Không có Không có Không có Không có Không có Không có

khanhtamcthcm@yahoo.co m

59. Lê Hoàng Vĩnh Phúc 60. Vũ Thị Phương Giang 61. Hồ Quang Dũng 62. Lê Thị Tố Anh Giảng viên Kế toán Kế toán Kế toán Không có Không có Không có Không có

156

63. Hồ Thị Loan Anh 64. Võ Thị Lệ Huyền 65. Nguyễn Thị Huế Phương 66. Lê Minh Vương 67. Bùi Minh Trí Kế toán Kế toán Kế toán Kế toán Giảng viên

68. Nguyễn Hoàng Nghĩa 69. Trần Thị Lệ Tâm Kế toán Kế toán

70. Nguyễn Thị Nhật Minh 71. Hoàng Thị Thùy Trang Kế toán Kế toán

72. Lê Thị Bích Thuân 73. Nguyễn Thị Hồng Em Không có Không có Không có Không có Hoàn Thiện chuẩn mực và luật kế toán Việt Nam kèm theo các luật liên quan. Không có Phát triển dịch vụ kế toán điều tra hiện nay và áp dụng vào thực tế Không có Đào tạo ở trường học, góp phần xây dựng nền móng cho nghề ghiệp kế toán điều tra Không có Không có

74. Bùi Lê Thái Bình Không có

75. Tăng Thành Phước 76. Nguyễn Anh Hào 77. Cao Khắc Ba 78. Đinh Vương Thế 79. Trương Thùy Dương 80. Ngô Thị Diệu Thúy Kế toán Kiểm toán viên Kiểm toán viên Giảng viên Giảng viên Kế toán Kế toán Kế toán Kế toán

81. Nguyễn Ngọc Huyền Trân 82. Nguyễn Thị Quế Ly 83. Trần Thị Thu 84. Huỳnh Thị Hương 85. Nguyễn Văn Quý Giảng viên Kế toán Kế toán Kế toán Kế toán Không có Không có Không có Không có Không có Cần có những quy định rõ ràng hơn và đưa vào đào tạo tại các trường đại học Không có Phát triển, phổ biến rộng rãi Không có Không có Không có

157

86. Bùi Thị Thu Nguyệt

Kiểm toán viên

87. Nguyễn Đình Huy 88. Nguyễn Trà Giang 89. Thảo 90. Nguyễn Hữu Thông Cần xây dựng các thông tư, nghị định rõ ràng hơn về kế toán điều tra Không có Không có Không có Không có

Phạm Thu Phương

91. Trần Lệ Diễm 92. Trần Thị Ái Tiên 93. 94. Nguyễn Thanh Trọng Không có Không có Không có Không có

95. Phạm Vũ Hoàng Vi 96. Nguyen Thi Huong 97. Cao Thị Huệ 98. Lê Văn Lý 99. Nguyễn Doãn Hải Đăng 100. le minh chien Không có Không có Không có Không có Không có Không có

101. Nguyễn Đức Lưu Kế toán Kế toán Kế toán Kiểm toán viên Kế toán Kế toán Giảng viên Kiểm toán viên Kế toán Kế toán Kế toán Kế toán Kế toán Kiểm toán viên Kế toán

102. Ls. Trần Quốc Tuấn Luật gia

Sẽ phát triển trong tương lai gần Nghề kế toán điều tra, cần có am hiểu và kiến thức Luật, Kế toán và nghiệp vụ Kiểm toán. Do vậy, nên có loại hình đào tạo chuyên sâu cho những người đã tốt nghiệp các ngành có liên quan đến Nghề kế toán điều tra. Nên có Hội nghề nghiệp độc lập về Nghề này như các nghề khác như Luật sư, Kế toán và Kiểm toán.

158

103. Dương Văn Quang Kế toán

104. Đỗ Đậu Thi Thơ 105. Vũ Quốc Tuấn 106. Sang 107. Trịnh Ngọc Anh Nhà nước cần quan tâm hơn đến chất lượng đào tạo Không có Không có Không có Không có

108. Vu Minh Duc

Kế toán Kế toán Kế toán Kiểm toán viên Kiểm toán viên

109. Tú 110. Trần Xoa 111. Nguyễn Thị Diệu Hiền Kế toán Luật gia Kế toán

Cần có hệ thống pháp lý (Luật) và chuẩn mực liên quan hoàn thiện để phát triển dịch vụ này trong tương lai. Không có Không có Theo tình hình thực tế làm công tác kế toán ở VN hiện nay thì dịch vụ kế toán Việt Nam nên phát triển. Tuy nhiên, bản thân tôi nghĩ chúng ta KHÔNG NÊN phát triển dịch vụ này vì hiện nay Việt Nam đủ điều kiện để thực hiện công tác kế toán tốt ( chương trình đào tạo kế toán tốt, kiểm toán tốt, học vị cao), nếu không tốt (tức là có gian lận xảy) cũng vì con người cố tình làm sai trái. Và thực tế nếu có phát hiện gian lận cũng đã có biện pháp xử lý nhẹ - nặng cụ thể. Vậy hỏi tác giả kế toán điều tra có giải quyết được vấn đề nào khac không? Thay vào đó nên tăng cường tập trung đạo đức nghề nghiệp, đạo đức

159

112. Trình Quốc Việt 113. Nguyễn Hữu Lộc 114. Lê Tự Quang Hưng 115. Nguyễn Thị Mộng Ngọc Kế toán Kế toán Giảng viên Kế toán

116. Trần Thị Hiền 117. Lê Thu Hằng 118. Trần Thị Nguyệt Nga 119. Nguyễn Hoàng Thơ 120. Nguyễn Phi Trinh 121. Phạm Trường Quân 122. Hoàng Thị Thu Hương kinh doanh Không có Không có Không có Theo tôi nhận thấy nghề kế toán điều tra sẽ phát triển tốt nếu chi phí thực hiện hợp lý, thì các doanh nghiệp lớn hay nhỏ không phân biệt ngành nghề hoạt động đều rất cần đến. Bởi vì nghề kế toán điều tra là công cụ giúp Doanh nghiệp kiểm soát tốt tài sản cũng như nhân lực phục vụ Doanh nghiệp hoạt động tốt. Không có Không có Không có Không có Không có Không có Không có

123. Trần Thiện Phúc

Giảng viên Giảng viên Giảng viên Giảng viên Giảng viên Giảng viên Kiểm toán viên số GCN ĐKHN 0899- 2013-002-1 Kiểm toán viên

124. Trần Quốc Dũng

Kiểm toán viên

Kế toán điều tra nên kết hợp với kiểm toán làm gia tăng chất lượng thông tin trên báo cáo tài chính Nên cố gắng đào tạo phát triển mảng này, sẽ rất tốt trong minh bạch báo cáo tài chính

160

125. hang 126. Mai Đức Nghĩa 127. Huỳnh Thị Bích Ngọc 128. Đào Khánh Trí 129. Võ Thiện Chánh 130. Trần Tuấn Duy 131. Nguyễn Duy Chính 132. Phan Thị Mỹ Hạnh 133. Phan Thị Ngọc Nhu 134. diepcfo@yahoo.com Không có Không có Không có Không có Không có Không có Không có Không có Không có Đạo đức nghề nghiệp

135. Phạm Ngọc Tỏa 136. Vũ Thị Ha Linh 137. Lê Thị Hồng Nhung 138. vietha@yahoo.com.vn Giảng viên Giảng viên Giảng viên Giảng viên Luật gia Luật gia Luật gia Luật gia Luật gia Kiểm toán viên Kế toán Kế toán Kế toán Kế toán

thuoanh78@gmail.com

139. 140. Nguyễn Thị Hạnh 141. Nguyễn Tấn 142. Vũ Anh Sao 143. Nguyễn Trí Tri 144. Nguyễn Thị Ngọc Dung Giảng viên Kế toán Luật gia Giảng viên Giảng viên Kế toán

145. Trần Lê Thanh Thuyên 146. Nguyễn Thị Tố Quyên 147. Lê Thị Mến 148. Dương Thị Nhàn 149. Trần Minh Dạ Hạnh Kế toán Kế toán Kế toán Giảng viên Kế toán Không có Không có Không có Nên được nghiên cứu đưa vào như môn học chuyên ngành phổ biến và chuyên sâu khác giúp việc ngăn ngừa, phát hiện các hành vi gian lận trong nền kinh tế phát triển lành mạnh như các nước văn minh khác Không có Không có Không có Không có Không có Nên thực hiện đối với các công ty nhà nước và cổ phần Không có Không có Không có Không có Không có

161

150. Ngô Thị Mỹ Thúy 151. Nguyễn Hoàng Phi Nam 152. Phạm Thị Phương Thảo

Trần Thị Vinh Kế toán Giảng viên Giảng viên Giảng viên

Ngọc Hương

153. 154. Nguyễn Bảo Châu 155. Trần Minh Ngọc 156. Nguyễn Thị Ngọc điệp 157. Lê Thị Thanh Xuân 158. Phạm Minh Vương 159. Phạm Hữu Duy 160. Nguyễn Thị Bích Vân 161. Bach Pham Dang Huy 162. Nguyễn Huỳnh Bích Trâm 163. Trần Công Huy 164. Trần Minh Quang 165. 166. Trương Cao Thuận Giảng viên Giảng viên Giảng viên Giảng viên Giảng viên Luật gia Luật gia Luật gia Luật gia Luật gia Luật gia Luật gia Luật gia

167. Hồ Minh Nhật 168. Đạng Anh Tú Luật gia Luật gia

169. Phạm Công Đức Luật gia

170. Nguyễn Thị Thủy 171. Hiệp 172. Ngô Duy Tùng

173. Võ Như Thường Luật gia Luật gia Kiểm toán viên Kiểm toán Không có Không có Không có Cần phổ biến nhiều hơn nữa về kế toán điều tra Không có Không có Không có Không có Không có Không có Không có Không có Không có Không có Không có Không có Nghề mới, mang tính độc lập cao, cần có định hứng nhà nước Không có Kế toán điều tra nên thuộc cơ quan công an Việt Nam cần phải mở rộng loại hình kế toán điều tra để ngăn ngừa gian lận sai sót và phù hợp với pháp luật Việt Nam. Không có Không có Tăng cường các khóa đào tạo, nâng cao kiến thức về kế toán điều tra Không có

162

viên Giảng viên Giảng viên Kề toán Không có Không có Không có

174. Tâm 175. Võ Văn Hiền 176. Bùi Thu Hồng

163

Phụ lục 14

MỘT SỐ TỔ CHỨC & BẰNG CẤP NGHỀ NGHIỆP KẾ TOÁN ĐIỀU TRA TẠI HOA KỲ

Tổ chức

Chứng chỉ

Mô tả

Điều kiện

Giáo dục/Kinh nghiệm

Khóa học

Yêu cầu nghề nghiệp

- Đăng ký với

Hội đồng Liên bang nghề kế toán

- 15 giờ cập nhật kiến thức mỗi năm

- Không bị kỷ

- Thành viên của ACFEI

Kế toán điều tra công chứng – Certified Forensic Accountant (Cr.FA)

luật trong vòng 10 năm

Trường Cao đẳng Điều tra Quốc tế Hoa Kỳ-American College of Forensic Examiners International (ACFEI) www.acfei.com

Exam 2 giới thiệu tổng quát về kế toán điều tra, hợp đồng, điều tra gian lận, báo cáo tài chính gian lận, dịch vụ kế toán điều tra và định giá

- Không bị kết án trọng tội trong 10 năm

Có bằng cử nhân các ngành doanh nghiệp hoặc 10 năm kinh nghiệm làm kế toán (nhưng không có bằng CPA, CMA, CFFA, CVA, CBA, v.v…) và đạt kỳ thi Exam 1, Exam 2 Nếu đã có một trong các bằng cấp trên thì chỉ cần đạt Exam 2.

- Đồng ý các quy định hành nghề của ACFEI

- Là thành viên của ACFEI

- 15 giờ cập nhật kiến thức mỗi năm

CR. FA công nhận các chuyên gia kế toán điều tra cho những người đã đạt được đào tạo bổ sung, có kinh nghiệm, kiến thức, kỹ năng về kế toán điều tra và đáp ứng các điều kiện của Hội đồng Liên bang nghề kế toán (State Board of Accountancy) Chứng nhận các chuyên gia điều tra đã được đào tạo về chuẩn mực nghề nghiệp, luật học

- Không vi phạm kỷ luật, hình sự trong vòng 10 năm

Tư vấn điều tra công chứng – Certified Forensic Consultant (CFC)

Nếu chứng minh được kinh nghiệm, có bằng chứng từ các tổ chức giáo dục được công nhận sẽ được miễn học khóa CFC, nhưng phải thi để đạt giấy chứng nhận.

- Có bằng cấp

riêng biệt từ các trường đại học được công nhận (trong nước hay

Khóa học bắt đầu với bài giảng trên lớp, thực hành kịch bản tương tác nhập vai, bao gồm cả một phiên tòa giả, đối chất lấy lời khai, làm chứng tại phiên tòa và thực hành vai trò nhân

nước ngoài) - Tuân thủ các

chứng chuyên gia trước Tòa

quy định nghề nghiệp

- Là thành viên của

ACFE

Điều tra gian lận công chứng – Certified Fraud Examiner (CFE)

Chứng nhận các chuyên gia trong phát hiện, ngăn chặn, điều tra gian lận

Hiệp hội các nhà điều tra gian lận Hoa kỳ - Association of Certified Fraud Examiners (ACFE) www.CFEnet.com

- Có đạo đức tốt - Tuân thủ các quy định pháp luật và chuẩn mực đạo đức của ACFE

- 20 giờ cập nhật kiến thức mỗi năm, ít nhất 10 giờ cho các vấn đề liên quan đến gian lận.

- Là thành

Có một trong hai điều kiện: Bằng tốt nghiệp đại học và 2 năm kinh nghiệm thực tế trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan đến ngăn chặn và phát hiện gian lận; hoặc 10 năm kinh nghiệm trong chuyên môn phòng chống gian lận

164

viên ACFE đang hoạt động

- Là thành viên của

ACFS

- Có đạo đức tốt - Đồng ý tuân thủ

luật lệ của ACFS

Chứng nhận các cá nhân được đào tạo có đầy đủ kiến thức, kỹ năng phù hợp

Chuyên viên gian lận công chứng – Certified Fraud Specialists (CFS)

Đạt kỳ thi viết Tối thiểu 8 năm kinh nghiệm thực tế và tối thiểu là 100 điểm trên bài thi Tuân thủ quy định của ACFS

- Chấp hành tuân thủ quy tắc đạo đức nghề nghiệp của ACFS

- 48 giờ cập nhật kiến thức (CPE) mỗi 2 năm với 32 giờ CPE liên quan chủ đề gian lận.

Kỳ thi CFE bao quát 4 lĩnh vực quan trọng trong phòng chống gian lận: Tội phạm học và Đạo đức, Nghiệp vụ tài chính, Điều tra gian lận, và các yếu tố pháp lý của gian lận. Kỳ thi kéo dài khoảng 10 giờ đồng hồ hoàn tất 500 câu hỏi. Đạt kỳ thi chứng nhận chuyên gia gian lận Hoàn thành khóa học về học thuật của ACFS và đạt điểm đậu trong mỗi bài thi. Tuân thủ quy định của ACFS

- Là thành viên hoạt động của IBA.

Hiệp hội chuyên gia gian lận – Association of Certified Fraud Specialists (ACFS) www.acfsnet.org Viện Định giá Doanh nghiệp - Insitute of Business

Định giá doanh nghiệp công chứng –

Chứng nhận các cá nhân hoàn thành khóa học về định

Có bằng tốt nghiệp cao đẳng, đại học hệ 4 năm hoặc tương đương.

Đạt kỳ thi viết (được miễn nếu có bằng ASA, ABV,

- Thỏa các điều

- 24 giờ cập nhật kiến thức (CPE) mỗi 2 năm

giá doanh nghiệp

- Là thành

Appraisers (IBA) www.go-iba.org

viên liên tục của IBA.

Certified Business Appraisers (CBA)

CVA, hay AVA) Hoàn tất khóa học Viết báo cáo kéo dài 16 giờ của IBA

kiện về đạo đức và sức khỏe - Nộp hai báo cáo thuyết minh về kỹ năng, kiến thức, phán đoán của định giá viên

- Là kế toán viên công chứng

Hoàn tất 90 giờ học hoặc các kháo học thực hành cao hơn về định giá doanh nghiệp. Hoặc 10,000 giờ làm việc định giá doanh nghiệp thực tế. Các CPA đạt các yêu cầu về giáo dục và kinh nghiệm

- Là thành viên của

NACVA

CVA công nhận định giá doanh nghiệp cho kế toán công chứng (CPA)

Hoàn tất khóa học 5 ngày của NACVA.

Phân tích định giá công chứng - Certified Valuation Analysts (CVA)

Hiệp hội Quốc gia Phân tích Định giá – National Association of Certified Valuation Analysts (NACVA) www. nacva.com

Chứng nhận chuyên môn kế toán điều tra cho kế toán viên công chứng (CPA)

- Là kế toán viên công chứng - Đạt kỳ thi CFF - Là thành viên của AICPA.

Điều tra tài chính công chứng – Certified in Financial Forensics (CFF)

Hiệp hội kế toán viên công chứng Hoa Kỳ - American Institute of Certified Public Accountants (AICPA) http://www.aicpa.org

- 36 giờ cập nhật kiến thức (CPE) - Tham dự các khóa học cập nhật kiến thức, các chương trình tăng cường chất lượng định giá của NACVA. Đạt ít nhất 60 giờ cập nhật kiến thức về kế toán điều tra trong vòng 3 năm.

Đạt kỳ thi CFF bao gồm các lĩnh vực: phá sản, phân tích dữ liệu số, luật hôn nhân gia đình, định giá, phát hiện phòng chống gian lận, trình bày sai báo cáo tài chính, và xác định tổn thất.

Các CPA đạt các yêu cầu về giáo dục và kinh nghiệm về kế toán điều tra. Có ít nhất 1.000 giờ inh nghiệm thực tế về kế toán điều tra trong vòng 5 năm trước ngày nộp hồ sơ thi CFF. Có ít nhất 75 giờ cập nhật kiến thức về kế toán điều tra trong vòng 5 năm trước ngày nộp hồ sơ thi CFF. - Trả phí hằng năm.

165

Nguồn: Crumbley (2005)