BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ

NGHĨA VỤ CUNG CẤP THÔNG TIN

GIAI ĐOẠN TIỀN HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI

Ngành: LUẬT KINH TẾ

TRẦN THỊ NHƯ QUỲNH

Hà Nội – năm 2019

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ

Nghĩa vụ cung cấp thông tin

giai đoạn tiền hợp đồng thương mại

Ngành: Luật kinh tế

Mã số: 8380107

Người hướng dẫn: TS. Võ Sỹ Mạnh

Họ và tên học viên: Trần Thị Như Quỳnh

Hà Nội – năm 2019

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ “Nghĩa vụ cung cấp thông tin giai đoạn tiền

hợp đồng thương mại” là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu và tài liệu

trong luận văn là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nghiên

cứu nào. Tất cả những tham khảo và kế thừa đều được trích dẫn và tham chiếu đầy

đủ.

Người cam đoan

Trần Thị Như Quỳnh

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp, tác giả đã nhận được sự hướng dẫn, chỉ

đạo nhiệt tình và quý báu của TS. Võ Sỹ Mạnh và tập thể thầy, cô Khoa sau đại học,

Khoa Luật trường Đại học Ngoại thương.

Nhân dịp này, tác giả gửi lời cảm ơn chân thành tới TS. Võ Sỹ Mạnh và tập

thể thầy, cô Khoa sau đại học, Khoa Luật trường Đại học Ngoại thương. Tác giả

cũng gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới gia đình, người thân, bạn bè và đồng

nghiệp đã giúp đỡ, hỗ trợ tài liệu và tạo mọi điều kiện tốt nhất đồng thời đã có

những ý kiến đóng góp quý báu để hoàn thành công trình nghiên cứu cuối khóa của

Trường đại học Ngoại thương.

Mặc dù có nhiều cố gắng trong việc tìm kiếm tài liệu, nghiên cứu và tìm hiểu

thực tế nhưng do thời gian hạn chế nên Luận văn không tránh khỏi những sai sót.

Tác giả rất mong nhận được sự quan tâm đóng góp của Quý thầy cô, bạn bè, đồng

nghiệp và độc giả.

Trân trọng cảm ơn!

Tác giả luận văn

Trần Thị Như Quỳnh

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Từ viết tắt Tiếng Anh Tiếng Việt

Unidroit Insitut International pour Viện Thống nhất Tư pháp

l`Unification des Droits Quốc tế

Privé

Công ước viên Công ước Viên năm 1980

của Liên Hợp quốc về hợp

đồng mua bán hàng hóa

quốc tế

WTO World Trade Organization Tổ chức thương mại Thế

giới

CHLB Đức Cộng hòa Liên Bang Đức

BLDS 2015 Bộ luật dân sự 2015

Hợp đồng TMQT Hợp đồng thương mại Quốc

tế

PICC Principles of International Những nguyên tắc hợp đồng

Commercial Contract thương mại quốc tế của

UNIDROIT

PECL Principles of European Những nguyên tắc Luật hợp

Contract Law đồng châu Âu

Luật KDBH Luật kinh doanh bảo hiểm

TNHH Trách nhiệm hữu hạn

BLHH Bộ luật hàng hải

HĐDV Hợp đồng dịch vụ

TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN VĂN

Tên luận văn: Nghĩa vụ cung cấp thông tin giai đoạn tiền hợp đồng thương

mại.

Luận văn đã đạt các kết quả chính như sau:

- Đã phân tích khái niệm hợp đồng, thông tin và nghĩa vụ cung cấp thông tin

giai đoạn tiền hợp đồng thương mại.

- Đã làm rõ các đặc điểm của giai đoạn tiền hợp đồng thương mại và điều

chỉnh pháp luật giai đoạn tiền hợp đồng thương mại.

- Đã làm rõ và phân tích nghĩa vụ cung cấp thông tin giai đoạn tiền hợp đồng

trong một số nước và văn bản quốc tế.

- Đã rút ra được quy định của một số nước và văn bản quốc tế về nghĩa vụ

cung cấp thông tin giai đoạn tiền hợp đồng thương mại.

- Đã phân tích quy định và thực tiễn áp dụng quy định về nghĩa vụ cung cấp

thông tin giai đoạn tiền hợp đồng thương mại trong pháp luật Việt Nam.

- Đã đưa ra được một số bất cập trong quy định và thực tiễn áp dụng về

nghĩa vụ cung cấp thông tin giai đoạn tiền hợp đồng thương mại.

- Đã đưa ra các kiến nghị cụ thể về áp dụng pháp luật liên quan đến: vi phạm

nghĩa vụ liên quan đến cung cấp thông tin giai đoạn tiền hợp đồng, thời điểm và nội

dung của nghĩa vụ cung cấp thông tin giai đoạn tiền hợp đối với một số loại hợp

đồng thương mại cụ thể.

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN VĂN

LỜI MỞ ĐẦU ............................................................................................................. 1

CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI, GIAI ĐOẠN

TIỀN HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI VÀ NGHĨA VỤ CUNG CẤP THÔNG TIN

GIAI ĐOẠN TIỀN HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI ................................................... 9

1.1. Hợp đồng thương mại ................................................................................. 9

1.1.1. Khái niệm, đặc điểm ................................................................................. 9

1.1.2. Phân loại hợp đồng thương mại ............................................................. 12

1.1.3. Quyền và nghĩa vụ các bên trong hợp đồng thương mại ....................... 14

1.2. Giai đoạn tiền hợp đồng thương mại ............................................................ 22

1.2.1. Khái niệm, đặc điểm ................................................................................. 22

1.2.2. Điều chỉnh pháp luật giai đoạn tiền hợp đồng thương mại ................... 23

1.3. Nghĩa vụ cung cấp thông tin giai đoạn tiền hợp đồng thương mại ............ 26

1.3.1. Khái niệm, đặc điểm ................................................................................. 26

1.3.2. Điều chỉnh pháp luật về nghĩa vụ cung cấp thông tin giai đoạn tiền

hợp đồng thương mại ......................................................................................... 31

1.3.3. Nội dung nghĩa vụ cung cấp thông tin giai đoạn tiền hợp đồng thương

mại .................................................................................................................. 37

CHƯƠNG 2. NGHĨA VỤ CUNG CẤP THÔNG TIN GIAI ĐOẠN TIỀN HỢP

ĐỒNG TRONG PHÁP LUẬT MỘT SỐ NƯỚC VÀ VĂN BẢN QUỐC TẾ ....... 41

2.1. Nghĩa vụ cung cấp thông tin giai đoạn tiền hợp đồng trong pháp luật

một số nước ............................................................................................................ 41

2.1.1. Pháp luật của nước Anh ........................................................................... 41

2.1.2. Pháp luật của nước Pháp ......................................................................... 43

2.2. Nghĩa vụ cung cấp thông tin giai đoạn tiền hợp đồng trong một số văn

bản quốc tế. ............................................................................................................ 46

2.2.1. Bộ nguyên tắc pháp luật Châu Âu .......................................................... 46

2.2.2. Công ước Viên ........................................................................................... 51

2.3. Nhận xét rút ra từ nghiên cứu quy định pháp luật của một số nước và

văn bản quốc tế về nghĩa vụ cung cấp thông tin tiền hợp đồng thương mại ... 53

CHƯƠNG 3. NGHĨA VỤ CUNG CẤP THÔNG TIN GIAI ĐOẠN TIỀN HỢP

ĐỒNG THƯƠNG MẠI TRONG PHÁP LUẬT VIỆT NAM ................................ 56

3.1. Quy định và thực tiễn áp dụng quy định về nghĩa vụ cung cấp thông tin

giai đoạn tiền hợp đồng ......................................................................................... 56

3.1.1. Những quy định chung ............................................................................. 56

3.1.2. Quy định trong một số lĩnh vực thương mại cụ thể ................................ 58

3.2.1. Sự chồng chéo giữa luật chung và luật chuyên ngành .......................... 67

3.2.2. Quy định không rõ ràng, thiếu tính chính xác........................................ 71

CHƯƠNG 4. ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT

VIỆT NAM VỀ NGHĨA VỤ CUNG CẤP THÔNG TIN GIAI ĐOẠN TIỀN

HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI ................................................................................... 74

4.1. Định hướng hoàn thiện về nghĩa vụ cung cấp thông tin tiền hợp đồng

thương mại ............................................................................................................. 74

4.2. Một số giải pháp cụ thể hoàn thiện quy định pháp luật Việt Nam về

nghĩa vụ cung cấp thông tin tiền hợp đồng thương mại .................................... 76

4.2.1. Đối với hoạt động kinh doanh bảo hiểm ................................................. 77

4.2.2. Đối với hợp đồng dịch vụ .......................................................................... 80

KẾT LUẬN ................................................................................................................ 83

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................. 85

PHỤ LỤC ................................................................................................................... 88

1

LỜI MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Hợp đồng theo từ điển Tiếng Việt là sự thỏa thuận, giao ước giữa hai hay

nhiều bên, quy định các quyền lợi, nghĩa vụ của các bên tham gia, thường được viết

thành văn bản. Còn theo Điều 683 BLDS, hợp đồng là sự thỏa thuận giữa hai hay

nhiều bên nhằm mục đích xác lập, thay đổi, chấm dứt nghĩa vụ của các bên. Đồng

thời, hợp đồng là một hành vi pháp lý, thể hiện ý chí của các bên để làm phát sinh

các quyền và nghĩa vụ.

Trong giao kết hợp đồng, nghĩa vụ cung cấp thông tin giữ một vị trí vô cùng

quan trọng. Chính nhờ vào các thông tin được cung cấp mà các bên có thể đánh giá,

dự đoán được các rủi ro có thể xảy ra, giúp các bên hạn chế tối đa nhất thiệt hại đối

với mình, đồng thời nó bảo vệ sự công bằng và lợi ích chính đáng của các bên tham

gia hợp đồng. Trong giai đoạn tiền hợp đồng, mặc dù các bên chưa có sự ràng buộc

với nhau về nội dung của hợp đồng nhưng họ đã có sự qua lại, tác động tới nhau.

Đây là giai đoạn để các chủ thể tìm hiểu nhau, tìm ra các lợi ích của mình trong quá

trình thực hiện hợp đồng. Do đó, pháp luật cần phải điều chỉnh để cân bằng lợi ích

của các bên, cụ thể hơn là điều chỉnh giai đoạn tiền hợp đồng. Ở các nước có nền

kinh tế phát triển và hệ thống pháp luật tương đối ổn định, như Anh, Pháp, Mỹ, Đức

thì pháp luật điều chỉnh giai đoạn tiền hợp đồng không là vấn đề mới. Tại Việt Nam,

nghĩa vụ cung cấp thông tin tiền hợp đồng còn là một khái niệm gần như là không

được chú trọng, chỉ đến khi Bộ luật dân sự 2015, sửa đổi bổ sung Bộ luật dân sự

2005 ra đời, thì nghĩa vụ cung cấp thông tin tiền hợp đồng mới được quy định như

là nguyên tắc chung áp dụng cho tất cả các loại hợp đồng chuyên biệt: như việc

chuyển giao quyền, nghĩa vụ dân sự, hợp đồng hàng hải, hợp đồng bảo hiểm....Cho

đến nay, các quy định này cũng nảy sinh nhiều bất cập và trong quá trình thực hiện

còn nảy sinh nhiều vướng mắc. Do vậy, nghiên cứu các quy định của pháp luật Việt

Nam kết hợp với tham khảo pháp luật nước ngoài để từ đó rút ra những kinh

nghiệm cho việc điều chỉnh giai đoạn tiền hợp đồng là việc cần thiết cả về lý luận

và thực tiễn. Đấy là lý do để tác giả chọn chủ đề “Nghĩa vụ cung cấp thông tin giai

đoạn tiền hợp đồng thương mại” làm đề tài luận văn luật học của mình.

2

2. Tổng quan tình hình nghiên cứu

a. Tình hình nghiên cứu trong nước:

Ở Việt Nam, tính đến thời điểm BLDS 2015 được ban hành và có hiệu lực,

chưa có một công trình nghiên cứu nào đầy đủ, có hệ thống về nghĩa vụ cung cấp

thông tin tiền hợp đồng thương mại. Mà các bài viết chủ yếu chỉ đi sâu vào một

dạng hợp đồng cụ thể, một số công trình đơn lẻ về từng nội dung thuộc giai đoạn

tiền hợp đồng trong pháp luật Việt Nam. Một số công trình điển hình:

- Cuốn sách “Chế định hợp đồng trong Bộ luật dân sự Việt Nam” của tác giả

Nguyễn Ngọc Khánh do Nhà xuất bản Tư pháp xuất bản năm 2007, đề cập đến khái

niệm, chức năng, vị trí của hợp đồng. Ý chí và tự do ý chí trong hợp đồng, giao kết,

thực hiện và sửa đổi, hủy bỏ hợp đồng, trách nhiệm hợp đồng;

- Cuốn sách “Luật hợp đồng Việt Nam – Bản án và bình luận bản án, tập 1”

của tác giả Đỗ Văn Đại, Nhà xuất bản chính trị quốc gia – Sự thật 2013. Trong cuốn

sách này, tác giả tuyển chọn các bản án về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, đối

chiếu chúng với Bộ luật dân sự và Nghị quyết Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân

tối cao và các văn bản pháp luật khác, có so sánh, tham chiếu với những nội dung

tương ứng của pháp luật của nhiều quốc gia khác và nhất là của Bộ nguyên tắc châu

Âu về bồi thường thiệt hại (ngoài hợp đồng). Từ cơ sở lý luận và thực tiễn, tác giả

đã đưa ra nhiều đề xuất để hoàn thiện pháp luật bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

ở Việt Nam.

- Luận án tiến sĩ luật học “Giai đoạn tiền hợp đồng trong pháp luật Việt Nam”

của tác giả Lê Trường Sơn bảo vệ năm 2015 tại trường Đại học Luật thành phố Hồ

Chí Minh đưa ra đề xuất định hướng và các giải pháp cụ thể để hoàn thiện các quy

định của Bộ luật dân sự 2005 và các vấn đề liên quan đến giai đoạn tiền hợp đồng.

Đồng thời, luận án nghiên cứu một cách có hệ thống, toàn diện dưới góc độ lý luận

và thực tiễn về giai đoạn tiền hợp đồng và pháp luật điều chỉnh giai đoạn tiền hợp

đồng, góp phần làm rõ vai trò và nội dung của giai đoạn tiền hợp đồng;

- Bài viết “Nghĩa vụ cung cấp thông tin trong giai đoạn tiền hợp đồng – Pháp

luật Việt Nam và một số nước trên thế giới” của tác giả Nguyễn Bình Minh và Hà

3

Công Anh Bảo đăng trên tạp chí Kinh tế đối ngoại số 68 năm 2017. Ở bài viết này

tác giả đã phân tích những quy định pháp luật về nghĩa vụ cung cấp thông tin trong

một số hợp đồng chuyên biệt như: Hợp đồng bảo hiểm, hợp đồng lao động, hợp

đồng giao kết với người lao động…tác giả làm rõ những điểm mới của Bộ luật dân

sự 2015, so sánh với quy định pháp luật của các nước trên thế giới và các quy định

trong pháp luật quốc tế, để từ đó đánh giá quy định về loại thông tin cần phải cung

cấp đã rõ ràng, cụ thể hay chưa;

- Bài viết “Cơ sở hình thành nghĩa vụ cung cấp thông tin trong giao kết hợp

đồng bảo hiểm” của tác giả Phạm Si Hải Quỳnh đăng trên Tạp chí khoa học số 3

năm 2017, làm rõ cở sở hình thành nên nghĩa vụ cung cấp thông tin ở các nước

cũng như ở Việt Nam, từ đó phác họa sơ lược giải pháp có thể cho việc hoàn thiện

các quy định pháp luật về lĩnh vực bảo hiểm ở Việt Nam. Đồng thời, tác giả cũng có

những đề nghị, giải pháp thừa nhận và áp dụng tư tưởng, kinh nghiệm của các nước

vào quá trình thống nhất lại các quy định về nghĩa vụ cung cấp thông tin trong hợp

đồng bảo hiểm ở Việt Nam;

- Bài viết “Trách nhiệm tiền hợp đồng và việc bảo vệ quyền của các bên trong

tham gia đàm phán, ký kết hợp đồng” của tác giả Võ Minh Trí và Trần Phú Quý

đăng trên tạp chí Dân chủ và pháp luật năm 2018, cung cấp một số kiến thức cơ bản

về trách nhiệm tiền hợp đồng với tư cách là một công cụ pháp lý bảo vệ quyền và

lợi ích của các bên trong giai đoạn tiền hợp đồng.

Như vậy, với một số công trình điển hình, các tác giả đã phân tích và chỉ rõ

tầm quan trọng của nghĩa vụ cung cấp thông tin giai đoạn tiền hợp đồng nói chung

và một số loại hợp đồng chuyên biệt. Từ đó, định hướng và bổ sung những thiếu sót,

hoàn thiện những quy định về nghĩa vụ cung cấp thông tin giai đoạn tiền hợp đồng.

b. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài:

Pháp luật điều chỉnh nghĩa vụ cung cấp thông tin tiền hợp đồng không phải là

vấn đề mới, nên có nhiều công trình nghiên cứu được công bố, tiêu biểu như sau:

- Cuốn sách Droit européens du contrat của tác giả Resmy Cabrillac Nxb.

LGDJ 2012. Trong cuốn sách, tác giả đã dành một mục riêng về “những quan hệ

4

tiền hợp đồng” từ trang 46 và tiếp theo. Ở đây, tác giả không đưa ra định nghĩa

“quan hệ tiền hợp đồng” và cũng không cho biết quan hệ này bắt đầu từ khi nào và

chấm dứt từ khi nào. Tuy nhiên, tác giả nhận thấy ở đây một số thông tin quan trọng

về các hệ thống pháp luật Châu Âu liên quan đến giai đoạn tiền hợp đồng như tự do

trong giai đoạn tiền hợp đồng, thiện chí trong giai đoạn tiền hợp đồng, nghĩa vụ

thông tin tiền hợp đồng, trách nhiệm tiền hợp đồng cũng như bản chất pháp lý của

trách nhiệm tiền hợp đồng. Những thông tin nêu trên không liên quan đến pháp luật

Việt Nam nhưng sẽ được khai thác trong từng phần tương ứng của luận văn để làm

cơ sở cho những đề xuất hoàn thiện pháp luật Việt Nam;

- Cuốn sách Formation du contrat của các tác giả J. Ghestin, G. Loiseau và Y -

M Seriet, Tome 1, Nxb. LGDJ 2013 công trình này tập trung vào vấn đề xác lập hợp

đồng và cụ thể là tập trung vào sự ưng thuận của các bên trong việc xác lập hợp

đồng theo pháp luật Pháp có đối chiếu với một số hệ thống pháp luật Châu Âu. Liên

quan đến giai đoạn tiền hợp đồng, công trình này có rất nhiều thông tin về nghĩa vụ

tiền hợp đồng (từ trang 1251-1307). Công trình có những nội dung liên quan đến

nghĩa vụ thông tin trong giai đoạn tiền hợp đồng. Ở đây, người đọc thấy sự hình

thành và phát triển nghĩa vụ cung cấp thông tin trong giai đoạn tiền hợp đồng;

- Cuốn sách Projet de cadre commun de reference - Principes contractuels

communs (dịch sang tiếng Việt là Dự thảo khung tham chiếu chung - Bộ nguyên tắc

chung về hợp đồng) do Bénédicte Fauvarque-Cosson và Denis Mazeaud làm chủ

biên, Nxb. Société de lesgislatinon compare 2008. Cuốn sách tập thể này phân tích,

bình luận Bộ nguyên tắc Luật hợp đồng Châu Âu dưới góc độ so sánh với Dự thảo

tham chiếu chung của Châu Âu cũng như các văn bản pháp lý quốc tế về hợp đồng

(như Bộ nguyên tắc Unidroit, Công ước Viên) và với các Dự thảo về pháp luật hợp

đồng (như Tiền Dự Thảo sửa đổi Bộ luật dân sự Pháp, Tiền Dự Thảo Bộ luật Châu

Âu về hợp đồng). Ở cuốn sách này, người đọc thấy những thông tin về giai đoạn

tiền hợp đồng (như yêu cầu thiện chí, nghĩa vụ thông tin và trách nhiệm hợp đồng…)

được trình bày đan xen với việc phân tích, đánh giá Bộ nguyên tắc luật hợp đồng

Châu Âu cũng như so sánh với các văn bản quốc tế, Dự thảo luật nêu trên. Nội dung

về giai đoạn tiền hợp đồng trong cuốn sách này không liên quan trực tiếp tới pháp

5

luật Việt Nam nhưng rất bổ ích cho việc xác định được xu hướng của pháp luật

đương đại và làm sáng tỏ, hoàn thiện pháp luật Việt Nam về giai đoạn tiền hợp đồng.

Các nội dung của cuốn sách về giai đoạn tiền hợp đồng sẽ được khai thác trong các

phần tương ứng của luận văn.

3. Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu đề tài là nhằm đề xuất định hướng và các giải pháp hoàn

thiện các quy định pháp luật Việt Nam về nghĩa vụ cung cấp thông tin giai đoạn tiền

hợp đồng thương mại.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1. Đối tượng nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là quy định và thực tiễn áp dụng quy định về

nghĩa vụ cung cấp thông tin trong giai đoạn tiền hợp đồng thương mại. Mặt khác,

đối tượng nghiên cứu của luận văn cũng bao gồm pháp luật của một số nước tiêu

biểu cho các hệ thống Civil law, Common law và một số văn bản pháp luật quốc tế.

4.2. Phạm vi nghiên cứu

- Về thời gian: Luận văn có nghiên cứu một số quy định chuyên biệt của

chuyên ngành kinh tế như Luật thương mại, Luật cạnh tranh, Luật kinh doanh bảo

hiểm nhưng nghiên cứu những quy định của Bộ luật dân sự 2015 và các vấn đề thực

tiễn phát sinh từ việc áp dụng Bộ luật này sẽ là nội dung chủ yếu của luận văn như

đã nêu trong phần mục đích nghiên cứu. Vì vậy kết quả nghiên cứu của luận văn

cũng sẽ tập trung hướng tới đóng góp cho việc sửa đổi, bổ sung Luật thương mại

2005 trong thời gian tới. Các đóng góp này có ý nghĩa thiết thực cho các loại hợp

đồng trong đó có hợp đồng thương mại, đặc biệt là giai đoạn tiền hợp đồng thương

mại, trong giai đoạn hội nhập kinh tế.

- Về không gian: Luận văn chủ yếu nghiên cứu các vấn đề liên quan đến nghĩa

vụ cung cấp thông tin giai đoạn tiền hợp đồng thương mại trong hệ thống pháp luật

Việt Nam, thông qua đó, có sự kết hợp và đối chiếu với hệ thống pháp luật trên thế

giới, tham khảo hệ thống pháp luật của một số nước trong hệ thống Civil law,

6

Common law (điển hình là pháp luật của Pháp và Đức, vì ở các nước này, nguyên

tắc tập trung và thiện chí được ghi nhận và đề cao, theo đó nghĩa vụ cung cấp thông

tin là nghĩa vụ bổ sung, cụ thể hóa và nguyên tắc thiện chí và trung thực), các văn

bản Quốc tế như Bộ nguyên tắc Unidroit về hợp đồng thương mại Quốc tế, Công

ước Viên 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế và dự thảo khung tham chiếu

chung Châu Âu. Đồng thời, luận văn sẽ nghiên cứu về một số quy định chuyên biệt

như Luật thương mại, Luật cạnh tranh, Luật kinh doanh bảo hiểm, Luật sơ hữu trí

tuệ.

- Về nội dung: Tác giả chỉ nghiên cứu nghĩa vụ cung cấp thông tin giai đoạn

xảy ra trước khi hợp đồng thương mại được giao kết, tức là giai đoạn tiền hợp đồng

thương mại. Vì hợp đồng thương mại có rất nhiều loại hợp đồng, tác giả sẽ tập trung

nghiên cứu một số loại cụ thể như hợp đồng bảo hiểm, hợp đồng vận chuyển hàng

hóa, hợp đồng dịch vụ, hợp đồng mua bán nhà ở hình thành trong tương lai…để qua

đó thấy được ý nghĩa và tầm quan trọng của việc cung cấp thông tin tiền hợp đồng

thương mại.

5. Phương pháp nghiên cứu

Luận văn nghĩa vụ cung cấp thông tin giai đoạn tiền hợp đồng thương mại là

một vấn đề mới, đi sâu vào một dang hợp đồng chuyên biệt cụ thể, đó là hợp đồng

thương mại. Do đó, cần phải áp dụng nhiều phương pháp để vừa phân tích được

những cái mới, bổ sung được những khoảng trống trong khoa học pháp lý Việt Nam.

Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu chung:

- Phương pháp kết hợp giữa lý luận và thực tiễn: Đây là một phương pháp cơ

bản, phù hợp cho quá trình nghiên cứu đề tài. Thông qua thực tiễn về tầm quan

trọng của nghĩa vụ cung cấp thông tin giai đoạn tiền hợp đồng, bản thân sẽ có

những nhận thức lý luận đúng đắn và hợp lý, từ đó sẽ rút ra được những hạn chế và

hướng khắc phục để hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ cung cấp thông tin giai đoạn

tiền hợp đồng thương mại.

- Phương pháp phân tích tổng hợp: Là phương pháp thu thập thông tin khoa

học trên cơ sở nghiên cứu các văn bản, tài liệu đã có và bằng các thao tác tư duy

7

lôgic để rút ra các kết luận khoa học cần thiết. Sau đó bằng các liên kết, sắp xếp các

tài liệu, thông tin đã thu thập được để tổng hợp vấn đề một cách cụ thể và toàn diện.

- Phương pháp nghiên cứu tình huống: Đối với đề tài “Nghĩa vụ cung cấp

thông tin giai đoạn tiền hợp đồng thương mại”, chủ yếu sẽ phân tích các tình huống

cụ thể, theo bản án cụ thể. Để từ đó tìm ra các phân tích, đánh giá tính hợp lý, bắt

buộc của nghĩa vụ cung cấp thông tin trong giai đoạn giao kết hợp đồng.

- Phương pháp hệ thống hóa: Phương pháp này cũng được sử dụng xuyên suốt

trong việc nghiên cứu toàn bộ luận văn nhằm trình bày các nội dung của luận văn

theo một trình tự, bố cục hợp lí, chặt chẽ, có sự gắn kết, kế thừa, phát triển các nội

dung để đạt được mục đích và yêu cầu đã được xác định cho luận văn.

- Phương pháp so sánh pháp luật: Phương pháp này được sử dụng trong việc

so sánh các quy định của pháp luật Việt Nam với pháp luật nước ngoài và các văn

bản pháp lí quốc tế, để từ đó tìm ra những điểm tương đồng, sự khác biệt cũng như

xu hướng phát triển của pháp luật trên thế giới về giai đoạn tiền hợp đồng. Phương

pháp này cũng được kết hợp sử dụng trong tất cả các chương của luận văn và từ sự

so sánh này, tác giả đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam về giai

đoạn tiền hợp đồng thương mại.

6. Dự kiến đóng góp của đề tài

Luận văn là công trình pháp lý nghiên cứu cụ thể chi tiết, có hệ thống dưới

góc độ lý luận và thực tiễn, góp phần củng cố và hoàn hiện về cơ sở lý luận, khoa

học pháp lý đối với nghĩa vụ cung cấp thông tin giai đoạn tiền hợp đồng thương mại.

Đồng thời, luận văn cũng làm rõ hơn vai trò của giai đoạn tiền hợp đồng trong hợp

đồng thương mại, góp phần hoàn thiện hơn cơ sở pháp lý trong giai đoạn giao kết

hợp đồng, qua đó, cũng là tài liệu tham khảo để các bên giải quyết tranh chấp về

hợp đồng thương mại.

Luận văn phân tích thực trạng của pháp luật Việt Nam trong áp dụng khoa

học pháp lý về nghĩa vụ cung cấp thông tin giai đoạn tiền hợp đồng thương mại, so

sánh với hệ thống pháp luật của các nước phát triển trên thế giới, để từ đó rút ra

những kinh nghiệm, đồng thời có những kiến nghị kịp thời, phục vụ cho việc hoàn

8

thiện quá trình giao kết hợp đồng thương mại.

7. Bố cục dự kiến của luận văn

Ngoài Phần mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn

gồm 4 Chương.

Chương 1. Cơ sở lý luận về về hợp đồng thương mại, giai đoạn tiền hợp

đồng thương mại và nghĩa vụ cung cấp thông tin giai đoạn tiền hợp đồng.

Chương 2. Nghĩa vụ cung cấp thông tin giai đoạn tiền hợp đồng thương mại

trên thế giới.

Chương 3. Nghĩa vụ cung cấp thông tin giai đoạn tiền hợp đồng thương mại

Chương 4. Định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về nghĩa vụ

cung cấp thông tin.

trong pháp luật Việt Nam.

9

CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI, GIAI

ĐOẠN TIỀN HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI VÀ NGHĨA VỤ CUNG CẤP

THÔNG TIN GIAI ĐOẠN TIỀN HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI

Trong quá trình thành lập và hoạt động của mình, việc tham gia ký kết hợp

đồng đặc biệt là hợp đồng trong lĩnh vực kinh doanh, thương mại là yếu tố không

thể thiếu của các doanh nghiệp. Trong hoạt động thương mại thì hợp đồng thương

mại còn đóng vai trò là một phương tiện rất quan trọng để bảo đảm sự an toàn pháp

lý cho các bên trong hợp đồng, giúp các bên kiểm soát và dự báo được lợi nhuận

cũng như các rủi ro có thể xảy ra trong tương lai. Hình thức của hợp đồng thương

mại là đa dạng, từ những bản hợp đồng rất đơn giản với những thỏa thuận cũng rất

đơn giản và ngắn gọn đến những bản hợp đồng phức tạp, đồ sộ được soạn thảo công

phu bởi những luật sư giỏi, dày dặn kinh nghiệm trên thế giới và có hiệu lực áp

dụng vượt ra khỏi phạm vi của một quốc gia.

1.1. Hợp đồng thương mại

1.1.1. Khái niệm, đặc điểm

Hợp đồng là một cam kết giữa hai hay nhiều bên (pháp nhân) để làm hoặc

không làm một việc nào đó trong khuôn khổ pháp luật. Hợp đồng thường gắn liền

với dự án, trong đó một bên thỏa thuận với các bên khác thực hiện dự án hay một

phần dự án cho mình. Và cũng giống như dự án, có dự án chính trị xã hội và dự án

sản xuất kinh doanh, hợp đồng có thể là các thỏa ước dân sự về kinh tế (hợp đồng

kinh tế) hay xã hội. Hợp đồng có thể được thể hiện bằng văn bản hay bằng lời nói

có thể có người làm chứng, nếu vi phạm hợp đồng hay không theo cam kết thì hai

bên sẽ cùng nhau ra tòa và bên thua sẽ chịu mọi phí tổn.

Theo Điều 385 Bộ luật dân sự, hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận giữa các bên

nhằm mục đích xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ của các bên ký kết.

Như vậy, một hợp đồng phải xuất phát từ yếu tố thỏa thuận nhưng không phải mọi

thỏa thuận đều là hợp đồng. Chỉ những thỏa thuận làm phát sinh, thay đổi hoặc

chấm dứt quyền, nghĩa vụ của các bên mới tạo nên quan hệ hợp đồng. Khái niệm

trên có một tầm bao quát rất rộng, nhưng đã thể hiện được bản chất của một hợp

10

đồng với danh nghĩa là luật chung của Luật thương mại 2005. Luật thương mại

2005 đứng dưới góc độ là một luật riêng so với luật chung là Bộ luật dân sự, nên

hợp đồng thương mại và hợp đồng dân sự có chung một số đặc điểm cơ bản, nhưng

bên cạnh đó hợp đồng thương mại cũng có nhiều đặc điểm riêng biệt, tuy nhiên

Luật thương mại 2005 lại không đưa ra một khái niệm nào về hợp đồng thương mại.

Kể từ khi gia nhập WTO thì hoạt động thương mại Việt Nam có nhiều thay đổi

đáng kể và theo chiều hướng tích cực, hoạt động mua bán hàng hóa diễn ra thường

xuyên, chính vì vậy hợp đồng thương mại cũng được xem trọng hơn. Mặc dù Luật

thương mại Việt Nam không có khái niệm Hợp đồng thương mại, nhưng có thể hiểu

Hợp đồng thương mại là hình thức pháp lý của hành vi thương mại, là sự thỏa thuận

giữa hai hay nhiều bên (ít nhất có một trong các bên phải là thương nhân hoặc các

chủ thể có tư cách thương nhân) nhằm xác lập, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa

vụ của các bên trong việc thực hiện hoạt động thương mại. Nội dung của hợp đồng

thương mại nói riêng và hợp đồng nói chung là tổng hợp các điều khoản mà các bên

tham gia giao kết hợp đồng đã thỏa thuận, các điều khoản này xác định những

quyền và nghĩa vụ dân sự cụ thể của các bên giao kết hợp đồng.

Với cách hiểu về hợp đồng thương mại như trên, hợp đồng thương mại mang

những đặc thù như sau:

- Thứ nhất, về chủ thể của hợp đồng thương mại: Hợp đồng thương mại được

kí kết giữa các bên là thương nhân, hoặc có một bên là thương nhân. Đây cũng

chính là một đặc điểm đặc trưng của hợp đồng thương mại so với hợp đồng dân sự.

Như vậy, chủ thể trong hợp đồng thương mại gồm thương nhân (bao gồm tổ chức

kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập,

thường xuyên và có đăng ký kinh doanh), cá nhân, tổ chức khác có hoạt động liên

quan đến thương mại.1 Trong hợp đồng thương mại, có thể có những hợp đồng đòi

hỏi các bên đều phải là thương nhân như: hợp đồng đại diện cho thương nhân, hợp

đồng đại lý thương mại…hay có những hợp đồng chỉ đòi hỏi có ít nhất một bên là

1 Điều 2 Luật thương mại 2005

thương nhân như: hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa, hợp đồng môi giới thương

11

mại, hợp đồng bảo hiểm…Ngoài ra, các tổ chức, cá nhân không phải là thương nhân

cũng có thể trở thành chủ thể của hợp đồng thương mại khi họ có hoạt động liên

quan đến thương mại. Có hai trường hợp đại diện là đại diện theo pháp luật và đại

diện theo ủy quyền. Trong giao kết hợp đồng thương mại, đại diện theo pháp luật

thường xảy ra khi chủ thể hợp đồng là các doanh nghiệp. Khi đó giám đốc doanh

nghiệp hoặc người mà theo quy định của Điều lệ doanh nghiệp là đại diện hợp pháp

của doanh nghiệp đó sẽ giao kết hợp đồng. Đại diện theo ủy quyền xảy ra khi chủ

thể hợp đồng hoặc người đại diện theo pháp luật ủy quyền cho người khác thay

mình thực hiện giao kết hợp đồng. Người được ủy quyền chỉ được ủy quyền lại nếu

được người ủy quyền đồng ý hoặc pháp luật có quy định cho phép ủy quyền lại.

- Thứ hai: về hình thức thì hợp đồng thương mại được thiết lập theo cách thức

mà hai bên thỏa thuận, có thể được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng

hành vi cụ thể của các bên giao kết. Trong một số trường hợp nhất định, hợp đồng

phải được thiết lập bằng văn bản như hợp đồng đại lý thương mại, hợp đồng ủy thác

mua bán hàng hóa, hợp đồng dịch vụ, hợp đồng bảo hiểm….Điều 24 Luật thương

mại 2005 đã quy định: “Hợp đồng mua bán hàng hóa được thể hiện bằng lời nói,

bằng văn bản hoặc xác lập bằng hành vi cụ thể. Đối với các loại hợp đồng mua bán

hàng hóa mà pháp luật quy định phải được lập thành văn bản thì phải tuân theo các

quy định đó”. Luật thương mại 2005 cũng cho phép thay thế hình thức văn bản

bằng hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương, bao gồm điện báo, telex, fax,

thông điệp dữ liệu điện tử và các hình thức khác theo quy định của pháp luật.

- Thứ ba: về đối tượng của hợp đồng thì đối tượng của hợp đồng thương mại là

hàng hóa. Theo nghĩa thông thường, hàng hóa được hiểu là những sản phẩm lao

động của con người, được tạo ra nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu của con người.

Dựa vào tính chất pháp lý, hàng hóa được chia thành nhiều loại khác nhau như bất

động sản, động sản, tài sản hữu hình, tài sản vô hình, các quyền về tài sản…Tại Việt

Nam, theo khoản 3 Điều 5 Luật thương mại năm 1997, đối tượng được coi là hàng

hóa bao gồm: máy móc, thiết bị, nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu, hàng tiêu dùng,

các động sản khác được lưu thông trên thị trường, nhà ở dùng để kinh doanh dưới

hình thức cho thuê, mua, bán. Trên thực tế, các hoạt động mua bán có tính chất

12

thương mại ở Việt Nam không chỉ dừng lại ở những loại hàng hóa này mà với cách

liệt kê như Luật thương mại 1997 đã bỏ hàng hóa trong một phạm vi hẹp. Khắc

phục bất cập trên, khoản 2 Điều 3 Luật thương mại 2005 quy định: “i, Hàng hóa bao

gồm:

I, Tất cả các loại động sản, kể cả động sản hình thành trong tương lai;

ii, Những vật gắn liền với đất đai”

Như vậy hàng hóa trong hợp đồng thương mại có thể là hàng hóa đang tồn

tại hoặc hàng hóa sẽ hình thành trong tương lai, có thể là động sản hoặc bất động

sản được phép lưu thông trong thương mại.

Thứ tư: Mục đích của hợp đồng thương mại là lợi nhuận. Xuất phát từ mục

đích của hoạt động thương mại là nhằm sinh lợi nên khi các thương nhân tham gia

ký kết một hợp đồng thương mại suy cho cùng cũng đều vì mục đích lợi nhuận.

Theo khoản 3 Điều 1 Luật thương mại 2005, đối với những hợp đồng giữa thương

nhân với chủ thể không phải là thương nhân và không nhằm mục đích sinh lợi, việc

có áp dụng Luật thương mại để điều chỉnh quan hệ họp đồng này hay không là do

bên không có lợi nhuận quyết định.

Thứ năm: Nội dung hợp đồng thương mại thể hiện quyền và nghĩa vụ của

các bên trong quan hệ hợp đồng đó là các điều khoản do các bên thỏa thuận. Các

bên thỏa thuận nội dung hợp đồng càng chi tiết thì việc thực hiện hợp đồng càng

thuận lợi, phòng ngừa được những tranh chấp có thể phát sinh. Luật thương mại

2005 không quy định bắt buộc các bên phải thỏa thuận những nội dung cụ thể nào

nhưng có những điều khoản quan trọng cần phải chú ý là: đối tượng, chất lượng, giá

cả, phương thức thanh toán, thời hạn và địa điểm giao nhận hàng hóa.

1.1.2. Phân loại hợp đồng thương mại

Quan hệ kinh doanh thương mại được xác lập và thực hiện thông qua hình

thức pháp lý chủ yếu là hợp đồng. Hợp đồng trong kinh doanh thương mại có thể

chia thành nhiều loại khác nhau. Việc phân loại hợp đồng nhằm mục đích xác định

cơ chế điều chỉnh cho phù hợp với tính chất của từng loại hợp đồng, nâng cao hiệu

quả điều chỉnh pháp luật đối với hợp đồng. Theo pháp luật hiện hành, hợp đồng

13

trong lĩnh vực thương mại được phân loại theo những tiêu chí chủ yếu sau:

- Căn cứ vào mức độ tương xứng về quyền và nghĩa vụ giữa các bên, hợp đồng

nói chung được phân chia thành hợp đồng song vụ và hợp đồng đơn vụ. Hợp đồng

song vụ là hợp đồng mà mỗi bên đều có nghĩa vụ đối với nhau; các bên đồng thời là

người có nghĩa vụ và có quyền. Hợp đồng đơn vụ là hợp đồng mà chỉ một bên có

nghĩa vụ.

- Căn cứ vào sự phụ thuộc lẫn nhau về hiệu lực giữa các quan hệ hợp đồng,

hợp đồng được phân chia thành hợp đồng chính và hợp đồng phụ. Hợp đồng chính

là hợp đồng mà hiệu lực của nó không phụ thuộc vào hợp đồng phụ. Hợp đồng phụ

là hợp đồng mà hiệu lực của nó phụ thuộc vào hợp đồng chính;

- Căn cứ vào chủ thể được hưởng lợi từ hợp đồng, hợp đồng được phân chia

thành: Hợp đồng vì lợi ích của các bên trong hợp đồng và hợp đồng vì lợi ích của

người thứ ba. Ở hợp đồng vì lợi ích của các bên trong hợp đồng, việc thực hiện

nghĩa vụ của một bên nhằm mang lại lợi ích (bảo đảm quyền) của bên kia trong

quan hệ hợp đồng. Hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba là hợp đồng mà các bên

giao kết hợp đồng đều phải thực hiện nghĩa vụ và người thứ ba được hưởng lợi ích

từ việc thực hiện nghĩa vụ đó.

- Căn cứ vào nội dung của mối quan hệ kinh tế, hợp đồng được chia thành các

loại sau:

+ Hợp đồng mua bán hàng hóa;

+ Hợp đồng vận chuyển hàng hóa;

+ Hợp đồng trong xây dựng cơ bản;

+ Hợp đồng trung gian thương mại (Hợp đồng đại diện cho thương nhân, hợp

đồng môi giới thương mại, hợp đồng đại lý, hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa);

+ Hợp đồng dịch vụ xúc tiến thương mại: Hợp đồng dịch vụ quảng cáo; hợp

đồng trưng bày và giới thiệu sản phẩm hàng hóa.

+ Hợp đồng tín dụng;

14

+ Hợp đồng bảo hiểm;

+ Hợp đồng trong lĩnh vực đầu tư: hợp đồng hợp tác kinh doanh, hợp đồng

liên doanh.

Về mục đích của các bên trong hợp đồng: Hợp đồng kinh doanh phát sinh

trong hoạt động kinh doanh của các chủ thể nên ít nhất phải có một bên chủ thể có

mục đích lợi nhuận khi giao kết hợp đồng. Nếu cả hai bên chủ thể đều không có

mục đích lợi nhuận, hợp đồng được coi là hợp đồng dân sự đơn thuần. Ngược lại,

nếu cả hai bên đều có mục đích lợi nhuận thì hợp đồng được coi là hợp đồng kinh

doanh hay hợp đồng thương mại. Tuy nhiên, vấn đề sẽ trở nên phức tạp hơn nếu

một bên có mục đích lợi nhuận và một bên không có mục đích này. Trường hợp này

gọi là giao dịch hỗn hợp.

Để xác định xem đây là hợp đồng dân sự hay thương mại, Luật Thương mại

Việt Nam sử dụng phương pháp như sau:

- Nếu bên có mục đích lợi nhuận không phải là thương nhân thì hợp đồng đã

giao kết là hợp đồng dân sự.

- Nếu bên có mục đích lợi nhuận là thương nhân thì việc xác định hợp đồng

dựa vào ý chí của bên không có mục đích lợi nhuận, cụ thể là:

- Bên không có mục đích lợi nhuận chọn áp dụng quy định của Bộ Luật Dân

Sự 2005 thì đó là hợp đồng dân sự.

- Bên không có mục đích lợi nhuận chọn áp dụng quy định của Bộ Luật

Thương Mại 2005 thì đó là hợp đồng kinh doanh.

Đối với đề tài nghiên cứu nghĩa vụ cung cấp thông tin giai đoạn tiền hợp đồng

thương mại, tác giả sẽ đi sâu phân tích nghĩa vụ cung cấp thông tin đối với một số

loại hợp đồng cụ thể, chuyên biệt: hợp đồng vận chuyển hàng hóa, hợp đồng bảo

hiểm, hợp đồng mua bán nhà ở hinh thành trong tương lai… để làm rõ hơn nghĩa vụ

cung cấp thông tin của các bên chủ thể khi tham gia kí kết hợp đồng thương mại.

1.1.3. Quyền và nghĩa vụ các bên trong hợp đồng thương mại

Ngày nay, thương mại quốc tế ngày càng phát triển và giữ vai trò quan trọng

15

trong nền kinh tế của mỗi quốc gia. Hoạt động trao đổi hàng hóa ngày càng trở nên

đa dạng và phong phú. Để làm được điều đó mỗi trao đổi đều phải dựa trên sự bình

đẳng. Tức là có sự công bằng về quyền lợi và nghĩa vụ giữa các bên tham gia trao

đổi. Thực tế đã cho thấy, có không ít trường hợp các tranh chấp thương mại xảy ra

là do sự phân chia quyền và nghĩa vụ giữa các bên là không rõ ràng và không hợp lý.

Điều này đã gây ra không ít khó khăn, thiệt hại về thời gian, công sức, uy tín của

các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp trẻ mới bước chân vào ngành…

Việc thỏa thuận hợp đồng có sự công bằng trong quyền và nghĩa vụ của các

bên tham gia hợp đồng là rất cần thiết. Bên cạnh đó, sự thỏa thuận phải tuân theo

đúng quy định của pháp luật, để các bên có thể đảm bảo quyền và nghĩa vụ của

mình khi tham gia giao kết hợp đồng. Do hợp đồng thương mại rất rộng với nhiều

loại hợp đồng, nên tác giả chỉ phân tích quyền và nghĩa vụ của các bên trong một số

hợp đồng cụ thể, để qua đó thấy được nghĩa vụ cung cấp thông tin của các bên trước

khi giao kết hợp đồng thương mại.

Để tiến hành các hoạt động thương mại, thương nhân phải kí kết và thực hiện

các hợp đồng thương mại. Khi hợp đồng được hình thành và có hiệu lực pháp luật,

những cam kết trong hợp đồng có giá trị bắt buộc thực hiện không đúng, không đầy

đủ nghĩa vụ đã thỏa thuận thì coi là vi phạm hợp đồng thương mại. Trong hợp đồng

thương mại ngoài các điều khoản do các bên thỏa thuận và ghi rõ trong hợp đồng thì

các bên còn phải tuân thủ những nội dung pháp lý bắt buộc đã được pháp luật quy

định mà các bên có thể thỏa thuận hoặc không thỏa thuận trong hợp đồng (điều

khoản thường lệ). Mặc dù, những điều khoản này không được đưa vào hợp đồng

theo quy định của pháp luật thì việc các bên không thực hiện những điều khoản này

cũng sẽ bị coi là hành vi vi phạm hợp đồng thương mại cũng tức là vi phạm pháp

luật về hợp đồng thương mại và sẽ bị áp dụng chế tài. Các hình thức chế tài do vi

phạm hợp đồng thương mại bao gồm: buộc thực hiện đúng hợp đồng, phạt vi phạm,

bồi thường thiệt hại… Như vậy, hành vi vi phạm trong lĩnh vực thương mại không

chỉ bao gồm các hành vi vi phạm chế độ quản lý Nhà nước trong lĩnh vực thương

mại, xâm phạm trật tự quản lý hoạt động thương mại của Nhà nước mà còn bao gồm

những hành vi vi phạm hợp đồng thương mại. Phù hợp với từng loại hành vi vi

16

phạm pháp luật hiện hành quy định các hình thức trách nhiệm pháp lý với nhiều loại

chế tài khác nhau. Theo nghĩa này, chế tài trong hoạt động thương mại có thể được

áp dụng đối với mọi vi phạm pháp luật thương mại: từ những hành vi làm tổn hại

đến lợi ích Nhà nước, lợi ích của người tiêu dùng như đầu cơ lũng đoạn thị

trường…đến các vi phạm pháp luật có tính chất “riêng tư” giữa các thương nhân,

như hành vi không thực hiện hoặc thực hiện không đúng các cam kết trong hợp

đồng. Những hình thức chế tài được áp dụng trong các trường hợp này có thể là chế

tài hành chính, chế tài hình sự hoặc chế tài mang tính chất dân sự, phù hợp với tính

chất của từng loại hành vi vi phạm. Về phạm vi áp dụng, chế tài thương mại được

áp dụng đối với mọi hành vi vi phạm trong mọi lĩnh vực thương mại. Chủ thể quyết

định áp dụng biện pháp chế tài là cơ quan Nhà nước có thẩm quyền (cơ quan quản

lý Nhà nước đối với chế tài hành chính, Tòa án đối với chế tài hình sự…) hoặc

chính thương nhân bị vi phạm trong quan hệ hợp đồng. Phân tích rõ quyền và nghĩa

vụ của các bên trong hợp đồng chuyên biệt: Hợp đồng bảo hiểm, hợp đồng vận

chuyển hàng hóa để làm rõ hơn ý nghĩa của việc cung cấp thông tin giai đoạn tiền

hợp đồng thương mại. Vì đây là hai loại hợp đồng thương mại thường gặp nhất,

thông tin thường khó định hình và việc cung cấp thông tin trước khi giao kết hợp

đồng rất cần thiết và có ý nghĩa đối với các bên.

 Đối với hợp đồng chuyên biệt như hợp đồng bảo hiểm: Trong giao kết

đồng bảo hiểm, nghĩa vụ cung cấp thông tin giữ một vị trí vô cùng quan trọng.

Chính nhờ vào các thông tin được cung cấp mà các bên có khả năng đánh giá, dự

đoán các rủi ro. Nghĩa vụ cung cấp thông tin cũng giúp bảo vệ sự công bằng và lợi

ích chính đáng của các bên tham gia hợp đồng bảo hiểm. Do đó, hiểu được quyền

và nghĩa vụ của doanh nghiệp bảo hiểm và bên mua bảo hiểm sẽ là tiền đề rất quan

trọng để các bên có đi đến quyết định ký hợp đồng với nhau hay không. Hơn nữa,

hợp đồng bảo hiểm là quan hệ chia sẻ rủi ro. Đối tượng của hợp đồng là rủi ro có

thể xảy ra. Điều này thể hiện ở chỗ, những hiểu biết về rủi ro là căn cứ chủ yếu để

các bên cân nhắc, tính toán lợi ích, thỏa thuận và thể hiện ý chí của mình có tham

gia hay không tham gia hợp đồng bảo hiểm, hoặc nếu có tham gia thì ở mức độ,

điều kiện như thế nào: mức phí bảo hiểm ra sao và các điều kiện bảo hiểm cụ thể là

17

gì. Nói khác đi, nhận thức về rủi ro chính là điểm nút trong quan hệ ý chí giữa các

chủ thể tham gia hợp đồng bảo hiểm. Là điểm nút của quan hệ rủi ro lại không phải

là yếu tố định hình rõ ràng. Không giống như đối tượng của của các hợp đồng thông

thường khác, ví dụ hợp đồng mua bán nhà thì căn nhà có thể được các bên trực quan

đánh giá qua các yếu tố cụ thể, rõ ràng như vị trí địa lý, kết cấu, hình dáng…của căn

nhà, rủi ro – đối tượng của hợp đồng bảo hiểm - lại chỉ có thể được suy đoán đến

một cách gian tiếp thông qua những thông tin liên quan mà mỗi bên có, ví dụ như

thông tin về quy mô, tình trạng pháp lý, vị trí địa lý…của đối tượng bảo hiểm. 2

Tính chất không định hình rõ ràng của rủi ro tiềm ẩn một nguy cơ, theo đó các

bên rất dễ hiểu khác nhau về rủi ro. Nguy cơ này trở nên hiển hiện khi đặc thù quan

hệ bảo hiểm là sự bất cân xứng về dòng thông tin giúp đánh giá và dự đoán rủi ro.

Cụ thể, người mua bảo hiểm, do quen thuộc hơn với đối tượng bảo hiểm, là người

nắm giữ và tiếp cận thông tin về rủi ro so với người bảo hiểm. Còn người bảo hiểm

biết rất ít hoặc thậm chí không có thông tin nào về rủi ro. Hiện tượng dòng thông tin

không cân bằng tạo vị thế kẻ mạnh cho người mua bảo hiểm, theo đó bằng việc

kiểm soát thông tin mà mình biết về rủi ro, bên mua bảo hiểm có thể kiểm soát nhận

thức về rủi ro của bên bảo hiểm. Trong khi đó, mặc dù người bảo hiểm có thể đối

phó với thế mạnh của bên mua bảo hiểm bằng cách tự mình tiến hành điều tra, tìm

hiểu về các thông tin, nhưng vì rất nhiều lý do, ví dụ như lý do về thời gian hạn chế

của quá trình giao kết hợp đồng, công việc điều tra này không phải lúc nào cũng có

thể toàn diện và kết quả đầy đủ, chính xác. Hơn nữa, bản thân công việc điều tra,

xác minh nào cũng đi liền với nó là phí tổn và thời gian. Do vậy, có thể nói rằng, dù

muốn hay không, thì người bảo hiểm vẫn ở vị thế của kẻ yếu, chịu sự lệ thuộc vào

chia sẻ thông tin từ phía người mua bảo hiểm.

Quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp bảo hiểm:

- Quyền cơ bản của doanh nghiệp bảo hiểm:

2 Phạm Si Hải Quỳnh, Nghĩa vụ cung cấp thông tin trong giao kết hợp đồng, tra cứu tại http://tuvanhopdong.net/nghia-vu-cung-cap-thong-tin-trong-giao-ket-hop-dong-110-a8ia.html

+ Thu phí bảo hiểm theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm;

18

+ Yêu cầu bên được mua bảo hiểm cung cấp đầy đủ, trung thực các thông tin

liên quan đến việc giao kết và thực hiện hợp đồng bảo hiểm;

+ Đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng bảo hiểm trong một số trường hợp;

+ Từ chối bồi thường bảo hiểm khi sự kiện xảy ra bị loại trừ, không thuộc

phạm vi trách nhiệm bảo hiểm;

+ Yêu cầu bên được bảo hiểm thực hiện các biện pháp đề phòng rủi ro, hạn

chế tổn thất.

- Nghĩa vụ của doanh nghiệp bảo hiểm:

+ Giải thích cho bên mua bảo hiểm về các điều kiện, điều khoản bảo hiểm,

quyền, nghĩa vụ của bên mua bảo hiểm.

+ Cấp cho bên mua bảo hiểm giấy chứng nhận bảo hiểm, đơn bảo hiểm ngay

sau khi giao kết hợp đồng bảo hiểm;

+ Trả tiền bảo hiểm kịp thời cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người

được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm;

+ Giải thích bằng văn bản lý do từ chối trả tiền bảo hiểm hoặc từ chối bồi

thường;

+ Phối hợp với bên mua bảo hiểm để giải quyết yêu cầu của người thứ ba đòi

bồi thường về những thiệt hại thuộc trách nhiệm bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo

hiểm;

+ Các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.

Quyền và nghĩa vụ của bên được bảo hiểm:

- Quyền của bên được bảo hiểm:

+ Yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm giải thích các điều kiện, điều khoản, tài liệu

liên quan đến hợp đồng bảo hiểm; cung cấp thông tin về hợp đồng bảo hiểm đã giao

kết; giữ bí mật các thông tin mà bên được bảo hiểm đã cung cấp;

+ Được cấp hợp đồng bảo hiểm hoặc bằng chứng của hợp đồng bảo hiểm đã

giao kết;

19

+ Được bồi thường, trả tiền bảo hiểm theo thỏa thuận của hợp đồng bảo hiểm;

+ Đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng bảo hiểm trong một số trường hợp;

+ Chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm theo thỏa thuận của hợp đồng bảo hiểm

hoặc theo quy định của pháp luật.

- Theo quyền của doanh nghiệp bảo hiểm, nghĩa vụ của bên được bảo hiểm

quy định như sau:

+ Nộp phí bảo hiểm theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm;

+ Cung cấp đầy đủ, trung thực các thông tin liên quan đến việc giao kết và

thực hiện hợp đồng bảo hiểm;

+ Đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng bảo hiểm trong một số trường hợp;

+ Thực hiện các biện pháp đề phòng rủi ro, hạn chế tổn thất.3

Như vậy, trong hợp đồng bảo hiểm các quyền và nghĩa vụ của các bên cũng

nêu rõ hơn ở giai đoạn tiền hợp đồng.

 Ngoài hợp đồng bảo hiểm, hợp đồng vận chuyển hàng hóa cũng là một

loại hợp đồng thương mại chuyên biệt, trong đó quyền và nghĩa vụ của bên vận

chuyển và bên thuê vận chuyển có ảnh hưởng rất lớn đến việc thực hiện hợp đồng,

đặc biệt là giai đoạn tiền hợp đồng.

Quyền và nghĩa vụ của bên vận chuyển:

a) Tiếp nhận hàng hoá của bên thuê vận chuyển.

– Bên vận chuyển phải đưa phương tiện vận chuyển đến nhận hàng hoá vận

chuyển theo sự thoả thuận của các bên trong hợp đồng vận chuyển. Phương tiện vận

chuyển phải đáp ứng yêu cầu tiếp nhận, vận chuyển và bảo quản hàng hoá phù hợp

với tính chất hàng hoá.

– Bên vận chuyển có nghĩa vụ nhận hàng hoá của bên thuê vận chuyển đúng

thời gian và địa điểm theo thỏa thuận. Trường hợp bên vận chuyển nhận chậm hàng

3 Điều 17 Luật kinh doanh bảo hiểm 2000 sửa đổi, bổ sung 2010.

làm phát sinh chi phí bảo quản hàng hoá cho bên thuê vận chuyển thì phải bồi

20

thường các thiệt hại đó. Trường hợp bên thuê vận chuyển giao hàng chậm thì bên

vận chuyển yêu cầu bên thuê vận chuyển bồi thường các thiệt hại phát sinh do bị

lưu giữ phương tiện vận chuyển.

– Bên vận chuyển được quyền từ chối vận chuyển tài sản không đúng với loại

tài sản đã thoả thuận trong hợp đồng. Nhưng trong thực tế thì người vận chuyển chỉ

có thể từ chối việc vận chuyển trong trường hợp việc thay thế hàng hoá vận chuyển

làm ảnh hưởng đến quyền lợi của người vận chuyển hoặc những người thuê vận

chuyển khác.

Ngoài ra, bên vận chuyển có quyền từ chối nhận những hàng hoá không đảm

bảo các tiêu chuẩn đóng gói cần thiết theo thoả thuận của các bên. Người vận

chuyển được quyền từ chối vận chuyển hàng hoá cấm lưu thông, hàng hoá có tính

chất nguy hiểm, độc hại.

– Nếu hợp đồng quy định bên thuê vận chuyển có nghĩa vụ xếp hàng lên

phương tiện vận chuyển thì bên vận chuyển có nghĩa vụ hướng dẫn việc sắp xếp

hàng hoá trên phương tiện vận chuyển và có quyền yêu cầu bên thuê vận chuyển

phải sắp xếp hàng hóa theo đúng hướng dẫn.

b) Tổ chức vận chuyển hàng hoá theo đúng các điều kiện đã thoả thuận.

Trong giai đoạn này, bên vận chuyển có các quyền và nghĩa vụ cơ bản sau đây:

– Vận chuyển hàng hoá đến đúng địa điểm trả hàng. Trường hợp bên vận

chuyển giao hàng không đúng địa điểm đã quy định thì phải thanh toán chi phí vận

chuyển hàng hoá đến đúng địa điểm đã thoả thuận trong hợp đồng cho bên thuê vận

chuyển.

– Bảo quản hàng hoá trong quá trình vận chuyển: Theo thông lệ chung thì

nghĩa vụ bảo quản hàng hoá của bên vận chuyển phát sinh từ thời điểm bên vận

chuyển tiếp nhận hàng hoá vận chuyển do bên thuê vận chuyển giao và kết thúc khi

đã giao hàng hoá cho người nhận tại địa điểm trả hàng.

c) Trả hàng cho người có quyền nhận hàng.

Trả hàng là nghĩa vụ cơ bản của người vận chuyển trước người gửi hàng cũng

21

như người có quyền nhận hàng (nếu người gửi hàng không đồng thời là người nhận

hàng).

– Trả hàng hoá vận chuyển đúng đối tượng.

– Thông báo về việc hàng hoá đến cho người có quyền nhận hàng. Trường hợp

các bên thoả thuận trả hàng tại địa chỉ của người nhận thì người vận chuyển không

phải thông báo hàng đến.

– Trả hàng đúng phương thức đã thoả thuận.

Một nguyên tắc phải tôn trọng là khi bên vận chuyển nhận hàng theo phương

thức nào thì trả hàng phải theo phương thức đó.

– Nếu bên vận chuyển đã vận chuyển hàng hoá đến địa điểm trả hàng đúng

thời hạn quy định nhưng không có người nhận hàng, thì bên vận chuyển có thể gửi

hàng hoá tại nơi nhận gửi giữ và phải báo ngay cho bên thuê vận chuyển hoặc bên

có quyền nhận hàng biết. Các chi phí gửi giữ, bảo quản hàng hoá do bên thuê vận

chuyển hoặc bên có quyền nhận hàng hoá chịu.

– Bên vận chuyển có quyền từ chối trả hàng và có quyền lưu giữ hàng, nếu

người thuê vận chuyển và người nhận hàng chưa thanh toán đủ các khoản cước phí

và chi phí vận chuyển hoặc khi chưa nhận được sự bảo đảm thoả đáng cho việc

thanh toán các khoản cước phí và chi phí nói trên.

Quyền và nghĩa vụ của bên thuê vận chuyển

a) Giao hàng hoá cho bên vận chuyển.

Bên thuê vận chuyển có nghĩa vụ giao hàng hoá vận chuyển cho bên vận

chuyển đúng thời hạn, địa điểm như đã thoả thuận. Hàng hoá phải được đóng gói

đúng quy cách, ghi ký hiệu, mã hiệu đầy đủ và rõ ràng. Bên thuê vận chuyển phải

chịu chi phí bốc xếp hàng hoá lên phương tiện vận chuyển nếu các bên không thoả

thuận khác.

b) Thanh toán cước phí vận chuyển.

Thanh toán cước phí vận chuyển là nghĩa vụ cơ bản nhất của bên thuê vận

22

chuyển. Cước phí theo thoả thuận của các bên hoặc theo biểu phí của các đơn vị

kinh doanh dịch vụ vận chuyển công cộng.

c) Trông coi hàng hoá trên đường vận chuyển.

Các bên có thể thoả thuận để bên thuê vận chuyển cử người trông coi hàng hoá

trên đường vận chuyển (người áp tải) đối với việc vận chuyển một số loại hàng hoá

có giá trị lớn hoặc hàng hoá yêu cầu phải có chế độ bảo quản, chăm sóc đặc biệt.

Trong trường hợp bên thuê vận chuyển trông coi hàng hoá vận chuyển mà hàng hoá

bị mất mát, hư hỏng thì bên thuê vận chuyển phải tự chịu trách nhiệm trước những

tổn thất tài sản đó.4

Như vậy, qua hai hợp đồng chuyên biệt như trên, ta thấy rằng luật đã quy định

rất rõ quyền và nghĩa vụ của các bên trong giao kết hợp đồng. Bởi hợp đồng là một

trong những công cụ hữu hiệu để thực hiện các hoạt động kinh doanh trong thực tế.

Trong quá trình tồn tại và phát triển của mình, mọi chủ thể kinh doanh đều phải

tham gia vào rất nhiều quan hệ hợp đồng từ những hợp đồng đơn giản tồn tại dưới

hình thức bằng lời nói đến những hợp đồng phức tạp có mức độ yêu cầu cao về mặt

hình thức để đảm bảo tính an toàn về mặt pháp lý như hợp đồng bằng văn bản hoặc

hợp đồng có công chứng chứng thực. Qua nghiên cứu và thực tiễn hoạt động kinh

doanh, chúng ta có thể thấy các sự cố, rủi ro trong quá trình tham gia ký kết hợp

đồng kinh doanh là điều không tránh khỏi. Vì vậy để hạn chế những rủi ro trong

việc tham gia ký kết hợp đồng, với mong muốn phần nào giúp các doanh nghiệp

kinh doanh tránh được các thiệt hại rủi ro và thực hiện hợp đồng hoàn thiện và đạt

được mục đích kinh doanh lợi nhuận, các chủ thể cần phải nắm rõ những khái niệm

trên để phát hiện, sửa chữa và khắc phục kịp thời trong việc ký kết và thực hiện hợp

đồng thương mại.

1.2. Giai đoạn tiền hợp đồng thương mại

1.2.1. Khái niệm, đặc điểm

Năm 1861, luật sư người Đức Rudolph von Jhering đã đưa ra khái niệm về

nghĩa vụ trong giai đoạn đàm phán hợp đồng, hay học thuyết “culpa in 4 Quyền và nghĩa vụ các bên trong hợp đồng vận chuyển hàng hóa – Luật Dương Gia.

23

contrahendo”. Theo đó, một bên phải chịu trách nhiệm đối với vi phạm của mình

trong giai đoạn đàm phán hợp đồng. Đây có thể xem là một trong những người đầu

tiên đưa ra khái niệm về giai đoạn tiền hợp đồng .5 Thực tế, tranh chấp có thể xảy ra

từ khi các bên chưa ký kết hợp đồng mà họ vẫn đang trong giai đoạn thương thảo.

Chính vì sự phù hợp với thực tiễn nên học thuyết này ngày càng được công nhận

rộng rãi trong nền khoa học pháp lý. Có thể hiểu, giai đoạn đàm phán hợp đồng hay

giai đoạn tiền hợp đồng bắt đầu khi một bên thể hiện ý định muốn xác lập một hợp

đồng đến khi hợp đồng được giao kết. Giai đoạn này dài hay ngắn còn phụ thuộc

vào từng hoàn cảnh, phụ thuộc vào việc các bên có dành nhiều thời gian vào việc

thương lượng hay không.6

Do vậy, giai đoạn tiền hợp đồng thương mại có những đặc điểm sau:

- Thứ nhất, ở giai đoạn tiền hợp đồng, các quy định về quyền, nghĩa vụ của

các bên trong hợp đồng chưa được áp dụng. Trong giai đoạn này, nghĩa vụ phát sinh

là nghĩa vụ tiền hợp đồng.

- Thứ hai, trong giai đoạn này các bên được quyền lựa chọn có ký kết hợp

đồng hay không và ký kết hợp đồng nào. Đây là sự thể hiện của nguyên tắc tự do

hợp đồng. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là các bên được hoàn toàn tự do và

tùy tiện trong hành vi của mình.

- Thứ ba, sự độc lập giữa giai đoạn tiền hợp đồng và các giai đoạn khác là

tương đối. Một số hành vi trong giai đoạn đàm phán hợp đồng có thể dẫn đến hậu

quả trong các giai đoạn tiếp theo của hợp đồng.

1.2.2. Điều chỉnh pháp luật giai đoạn tiền hợp đồng thương mại

Việt Nam chưa có đạo luât riêng về hợp đồng mà chế định hợp đồng được quy

5 Nghĩa vụ tiền hợp đồng trong tiếng Anh được gọi là Precontractual liability hoặc thuật ngữ Latin là culpa in contrahendo có nghĩa là “lỗi trong giao kết hợp đồng”. Theo cách hiểu thông thường nghĩa vụ tiền hợp đồng là nghĩa vụ mà một bên phải gánh chịu khi đơn phương phá vỡ thỏa thuận đàm phán với bên còn lại, vi phạm sự tín nhiệm lẫn nhau trong đàm phán hợp đồng. 6 Vũ Thị Ngọc Huyền và Trần Ngọc Phương Minh, Trách nhiệm trung thực, thiện chí trong giai đoạn tiền hợp đồng dưới góc độ luật học so sánh BLDS 2015 và CIGS, tại địa chỉ: https://lracuel.org/2018/03/08/cs-03- 12-2017-trach-nhiem-trung-thuc-thien-chi-trong-giai-doan-tien-hop-dong-duoi-goc-do-luat-hoc-so-sanh- blds-2015-va-cisg/amp/

định trong Bộ luật dân sự và một số luật chuyên ngành: Luật thương mại, Luật cạnh

24

tranh, Luật kinh doanh bảo hiểm…nhưng các quy định chuyên biệt này có phạm vi

hẹp (chỉ điều chỉnh một số hợp đồng) và chưa thể hiện bất cập liên quan đến giai

đoạn tiền hợp đồng. Tuy nhiên, Bộ luật dân sự luôn được coi là đạo luật gốc quy

định các vấn đề chung nhất và cơ bản nhất về hợp đồng, là nền tảng cho pháp luật

về hợp đồng được áp dụng chung cho tất cả các loại hợp đồng, không phân biệt hợp

đồng dân sự hay hợp đồng kinh tế, hợp đồng có mục đích kinh doanh hay hợp đồng

nhằm đáp ứng các nhu cầu hàng ngày.

Dựa trên tình hình thực tế hiện nay, bản chất cũng như thực trạng pháp luật về

hợp đồng của Việt Nam đã đến giai đoạn các nhà làm luật nên bắt đầu chú ý đến

đến việc luật hóa chế định nghĩa vụ cung cấp thông tin tiền hợp đồng. Chúng ta nên

tiếp nhận các quan điểm về vấn đề này của các hệ thống pháp luật trên thế giới phù

hợp với tình hình thực tế và đặc điểm pháp lý của hệ thống pháp luật Việt Nam, để

xây dựng nền móng cho quy định nghĩa vụ cung cấp thông tin tiền hợp đồng, cụ thể

là nghĩa vụ cung cấp thông tin tiền hợp đồng thương mại. Việt Nam chịu ảnh hưởng

sâu sắc của hệ thống luật dân sự (Civil law), chưa thực sự cởi mở với án lệ, nên việc

có các quy định về nghĩa vụ tiền hợp đồng là việc hết sức cần thiết và mang tính

thực tiễn cao, vừa đảm bảo sự công bằng của pháp luật, vừa tạo ra môi trường pháp

lý thuận lợi cho hoạt động kinh doanh.

Ở những nước đang phát triển trong đó có Việt Nam, trong giai đoạn tiền hợp

đồng, các bên không bị ràng buộc bởi bất kỳ một thoả thuận nào liên quan đến quy

trình việc ký kết hợp đồng. Quá trình đàm phán hợp đồng luôn được cho rằng là

một quy trình thông thường, chủ yếu dựa trên tình hình thực tế và các quy tắc đạo

đức được tạo ra trong hoạt động kinh doanh. Do đó, pháp luật ít khi can thiệp vào

quy trình này và thường không áp đặt bắt kỳ nghĩa vụ bắt buộc nào đối với các bên,

cũng như cách thức mà quy trình này được tiến hành. Việc pháp luật của các nước

nói chung không có các quy định điều chỉnh trong giai đoạn tiền hợp đồng dựa trên

các lập luận sau:

Thứ nhất, bất kỳ sự can thiệp nào của pháp luật ở giai đoạn này, khi mà các

bên chưa thực hiện bất kỳ một nghĩa vụ hợp đồng nào hoặc chưa làm điều gì sai sẽ

dẫn đến việc vi phạm nguyên tắc tự nguyện trong ký kết hợp đồng, một nguyên tắc

25

quan trọng nhất của pháp luật hợp đồng.

Thứ hai, sự can thiệp vào quá trình đàm phán hợp đồng trước khi các bên

đồng ý bị ràng buộc bởi các nghĩa vụ bắt buộc, hoặc trước khi các bên thực hiện các

hành vi sai trái, sẽ khiến cho các bên cần phải cẩn thận hơn trước khi tham gia đàm

phán và do đó sẽ tạo rào cản khiến cho số lượng các hợp đồng được ký kết bị suy

giảm đáng kể.

Thứ ba, trừ khi rơi vào phạm vi điều chỉnh của các quy định chính thức, hành

vi của các bên nên được coi không có giá trị về mặt pháp lý.

Tuy nhiên, hiện nay xu hướng chung trong vấn đề xây dựng pháp luật hợp

đồng của các nước trên thế giới là theo hướng tối đa hoá sự linh hoạt của các quy

định pháp luật hợp đồng trong điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong quá trình đàm

phán, ký kết hợp đồng. Pháp luật hợp đồng càng linh hoạt bao nhiêu thì các quy

trình của hợp đồng càng diễn ra thuận lợi, dễ dàng bấy nhiêu. Pháp luật hợp đồng

trở nên “thoải mái” hơn trong việc tạo ra các yêu cầu bắt buộc mà các đề nghị và

chấp nhận đề nghị phải đáp ứng. Đồng thời, pháp luật hợp đồng cũng bắt đầu dành

nhiều sự chú ý hơn đến hành vi của các bên trước khi đưa ra đề nghị và dần dần

thừa nhận các quy trình hợp đồng mới thay thế cho các quy trình cũ.

Do đó, cùng với sự phát triển của hoạt động thương mại và thị trường, ba quan

điểm về pháp luật hợp đồng như trình bày ở trên dần trở nên không còn phù hợp với

thực tiễn và dần mất đi tầm quan trọng của nó trong điều chỉnh các quan hệ hợp

đồng, cũng như tính thuyết phục của chúng. Một thực tế rõ ràng là sự thiếu các quy

định của pháp luật điều chỉnh hành vi của các bên trong giai đoạn tiền hợp đồng có

thể dẫn đến những kết quả không công bằng và không thực hiện được vai trò, bản

chất xã hội của hợp đồng. Do đó, pháp luật hợp đồng phải thay đổi để đáp ứng được

những yêu cầu xuất phát từ thực tế cần phải xem giai đoạn tiền hợp đồng là một

phần không thể tách rời của toàn bộ quá trình “làm” hợp đồng và cần phải có các

quy định cụ thể, rõ ràng điều chỉnh hành vi và quan hệ của các bên trong giai đoạn

này. Hay nói cách khác, pháp luật hợp đồng hiện nay cần phải tìm được sự cân bằng

giữa một mặt là bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên trong giai đoạn đàm

26

phán hợp đồng và mặt khác vẫn phải đảm bảo quyền tự do, tính tự nguyện của các

bên, đồng thời không tạo ra các rào cản cho các bên muốn tiến hành thương lượng

và đàm phán ký kết hợp đồng với nhau.

1.3. Nghĩa vụ cung cấp thông tin giai đoạn tiền hợp đồng thương mại

1.3.1. Khái niệm, đặc điểm

Khái niệm nghĩa vụ: Nghĩa vụ là việc mà pháp luật hay đạo đức bắt buộc

phải làm đối với xã hội, đối với người khác. Luật nghĩa vụ là nền tảng đầy chất lý

luận của luật thương mại. Vấn đề cần nói trước tiên tại đây là định nghĩa về nghĩa

vụ. Điều này tưởng chừng đơn giản, nhưng thực tế lại có nhiều rắc rối riêng trong

pháp luật Việt Nam. Tuy nghĩa vụ có lẽ được hiểu không khác nhau về mặt nội

dung, nhưng nó lại được định nghĩa đôi khi khác nhau không chỉ về ngôn từ, mà cả

từ xuất phát điểm. Việc làm rõ định nghĩa về nghĩa vụ có ích cho việc hiểu rõ hơn

các nguồn gốc của nghĩa vụ (hay căn cứ phát sinh ra nghĩa vụ), phân loại nghĩa vụ

và có ích cho việc nghiên cứu các đặc điểm của nghĩa vụ, cũng như các hệ quả của

các đặc điểm này…

Bộ luật Dân sự 2015 của Việt Nam định nghĩa: “Nghĩa vụ dân sự là việc mà

theo đó, một hoặc nhiều chủ thể (sau đây gọi chung là bên có nghĩa vụ) phải chuyển

giao vật, chuyển giao quyền, trả tiền hoặc giấy tờ có giá, thực hiện công việc khác

hoặc không được thực hiện công việc nhất định vì lợi ích của một hoặc nhiều chủ

thể khác (sau đây gọi chung là bên có quyền)”.7 Định nghĩa này đã nhắc tới các bên

trong quan hệ nghĩa vụ và liệt kê các “đối tượng” của nghĩa vụ. Tại đây cần phải lưu

ý, một số luật gia của Việt Nam hiện nay đưa ra sự phân biệt giữa khách thể của

quan hệ nghĩa vụ và đối tượng của nghĩa vụ. Định nghĩa này không mang tính khái

quát cao. Nhưng điều đáng bình luận hơn là định nghĩa này không xuất phát từ việc

xem nghĩa vụ là một quan hệ mà trong đó có hai loại chủ thể trái ngược nhau về mặt

lợi ích: (1) Một bên có quyền yêu cầu; và (2) một bên khác (bên có nghĩa vụ) phải

thực hiện yêu cầu của bên kia. Định nghĩa như Điều 274 nói trên chỉ xuất phát từ

7 Điều 274 BLDS 2015.

hành vi của bên phải thực hiện một đối tượng vì lợi ích của người khác. Sự định

27

nghĩa thiếu chính xác này có lẽ là do sự nhầm lẫn về thuật ngữ. “Nghĩa vụ dân sự”

có hai nghĩa. Một nghĩa chỉ hành vi phải thực hiện của một bên theo yêu cầu của

bên kia (nghĩa hẹp). Một nghĩa khác chỉ một quan hệ mà theo đó một bên có quyền

yêu cầu, còn bên kia phải thực hiện hành vi nhất định theo yêu cầu đó, có nghĩa là

chỉ mối quan hệ giữa trái chủ và người thụ trái xác định (nghĩa rộng). Vì vậy, với

nghĩa thứ hai này, khi nói hợp đồng là căn cứ phát sinh ra nghĩa vụ, thì có nghĩa là

hợp đồng làm phát sinh ra quan hệ giữa trái chủ và người thụ trái xác định.8

Nghĩa vụ mà tiếng Anh và tiếng Pháp viết là “obligation” có nguồn gốc từ

danh từ “obligatio” của tiếng Latin. Nó có rất nhiều nghĩa khác nhau . Vì vậy khi sử

dụng nó, cần thận trọng. Có thể khảo sát một số định nghĩa khác về nghĩa vụ để làm

rõ hơn cho các bình luận nêu trên.

“Nghĩa vụ là một quan hệ pháp luật được xác lập giữa hai chủ thể theo đó một

chủ thể (chủ thể quyền - người có quyền) có quyền yêu cầu chủ thể kia (chủ thể

nghĩa vụ - người có nghĩa vụ) phải hoàn thành một yêu cầu nhất định. Ở đây các

đặc điểm chính của quan hệ nghĩa vụ được đề cập tới và đối tượng của nghĩa vụ

được trừu tượng hóa để làm rõ bản chất là yêu cầu. Cũng vì vậy, trong khi bình luận

khoa học Bộ luật Dân sự Nhật Bản, Xaca Vacaxum và Tori Aritdumi nêu bật bản

chất của nghĩa vụ là “quyền của một người nhất định yêu cầu một người khác thực

hiện các hành vi nhất định. Cuốn từ điển pháp luật của Pháp mang tên “Petit

Dictionnaire de Droit” định nghĩa: “Nghĩa vụ là một mối quan hệ pháp lý theo đó

một người, được gọi là trái chủ, có thể sử dụng phương cách cưỡng chế của quyền

lực công theo sự lựa chọn của anh ta để buộc người khác, người thụ trái xác định,

chuyển giao tài sản, làm hoặc không làm việc gì đó.

Về pháp luật thực định, các đạo luật, nếu đưa ra định nghĩa về nghĩa vụ, đều

định nghĩa nhấn mạnh đến bản chất của nghĩa vụ là quyền yêu cầu như trên. Bộ luật

Dân sự CHLB Đức qui định: “Hiệu lực của nghĩa vụ là việc trái chủ có quyền yêu

8 Trần Đình Chi, Chuyển giao quyền yêu cầu trong quan hệ nghĩa vụ dân sự, Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2011

cầu sự thực hiện từ người thụ trái. Sự thực hiện này có thể bao gồm việc không

28

hành động”.9 Bộ luật Dân sự và Thương mại Thái Lan cũng có qui định tương tự

như Bộ luật Dân sự CHLB Đức như sau: “Đối với một nghĩa vụ, trái chủ có quyền

yêu cầu sự thực hiện từ người thụ trái. Sự thực hiện có thể bao gồm việc không

hành động”.10

Chúng ta cũng bắt gặp các định nghĩa có cùng một xuất phát điểm trong nhiều

công trình nghiên cứu của nhiều học giả Việt Nam. Ví dụ, trong cuốn “Việt Nam

dân luật lược khảo- Quyển II: Nghĩa vụ và khế ước”, Vũ Văn Mẫu định nghĩa:

“Nghĩa vụ là mối liên hệ pháp lý giữa hai người, nhờ đó một người là trái chủ (hay

chủ nợ) có quyền đòi người kia là người phụ trái (hay con nợ) phải thi hành một

cung khoản có thể trị giá bằng tiền” “Giáo trình Luật Dân sự Việt Nam” của Học

viện Tư pháp, mặc dù không nói thẳng, nhưng đã ngụ ý không đồng ý với định

nghĩa tại Điều 274, Bộ luật Dân sự Việt Nam 2015, và đã đưa ra một định nghĩa

khác hẳn in chữ nghiêng để nhấn mạnh, dù hơi dài và có phần gây tranh luận như

sau: “Nghĩa vụ dân sự được hiểu là quan hệ pháp luật về tài sản và nhân thân của

các chủ thể, theo đó chủ thể mang quyền có quyền yêu cầu chủ thể mang nghĩa vụ

phải chuyển giao một tài sản, thực hiện một việc hoặc không được thực hiện một

việc vì lợi ích của mình hay lợi ích của người thứ ba, phải bồi thường một thiệt hại

về tài sản hoặc nhân thân do có hành vi gây thiệt hại, vi phạm lợi ích hợp pháp của

bên có quyền. Chủ thể mang nghĩa vụ dân sự có nghĩa vụ thực hiện quyền yêu cầu

của chủ thể mang quyền. Các quyền dân sự và nghĩa vụ dân sự của các bên chủ thể

trong quan hệ nghĩa vụ theo qui định của pháp luật hoặc theo thoả thuận của các

bên xác lập quan hệ nghĩa vụ dân sự” Như vậy có thể hiểu, nghĩa vụ dân sự có các

đặc điểm sau: Các bên chủ thể trong nghĩa vụ dân sự được xác định cụ thể; là một

loại quan hệ tài sản; có sự ràng buộc pháp lý giữa các chủ thể và vì lợi ích bên có

quyền. Và nghĩa vụ đó bao gồm cả nghĩa vụ trong hợp đồng và nghĩa vụ ngoài hợp

đồng. Đối tượng thực hiện là bên có nghĩa vụ trong quan hệ dân sự.

Khái niệm thông tin: Chúng ta đang sống trong thời đại mà thuật ngữ thông tin

9 Điều 241 Bộ luật dân sự Đức. 10 Điều 194 Bộ luật Dân sự và Thương mại Thái Lan.

được đề cập mọi lúc, mọi nơi. Khái niệm thông tin là khái niệm cơ bản của khoa

29

học, cũng là khái niệm trung tâm của xã hội trong kỷ nguyên số. Mọi quan hệ, mọi

hoạt động của con người đều dựa trên một hình thức giao lưu thông tin nào đó. Có

rất nhiều cách hiểu về thông tin. Thậm chí ngay các từ điển cũng không thể có một

định nghĩa thống nhất. Từ điển Oxford English Dictionary thì cho rằng thông tin là

điều mà người ta đánh giá hoặc nói đến, là tri thức, tin tức. Một số từ điển thì đơn

giản đồng nhất thông tin với kiến thức – Thông tin là điều mà người ta biết, hoặc

thông tin là sự chuyển giao tri thức làm tăng thêm sự hiểu biết của con người. Theo

nghĩa thông thường, thông tin là tất cả các sự kiện, sự việc, ý tưởng, phán đoán làm

tăng thêm sự hiểu biết của con người. Thông tin hình thành trong quá trình giao tiếp:

một người có thể nhận thông tin trực tiếp từ người khác thông qua các phương tiện

thông tin đại chúng, từ các ngân hàng dữ liệu hoặc từ tất cả các hiện tượng quan sát

được từ môi trường xung quanh. Trong một nghiên cứu gần đây, người ta thấy có

bốn yếu tố tác động đến chất lượng thông tin và đem lại giá trị cho nó. Đó là: tính

chính xác, phạm vi bao quát của nội dung, tính cập nhật và tần số sử dụng. Trong đó

quan trọng nhất là nội dung, thứ đến là tính chính xác. Trên bình diện tổng quát, ta

thấy rằng thông tin có giá trị là những thông tin có tính chất riêng biệt và thông tin

có tính chất dự báo. Tính chất riêng biệt làm cho thông tin phù hợp với yêu cầu của

người sử dụng. Còn tính chất dự báo cho phép người ta có thể lựa chọn một quyết

định trong nhiều khả năng cho phép. Có thể nói thêm rằng giá trị nhận thức của

thông tin dự báo liên quan mật thiết đến tính đúng đắn của việc lựa chọn quyết

định.11

Trong giao kết hợp đồng thương mại, nghĩa vụ cung cấp thông tin giữ một vị

trí vô cùng quan trọng. Chính nhờ vào các thông tin được cung cấp mà các bên có

thể đánh giá, dự đoán được các rủi ro có thể xảy ra, giúp các bên hạn chế tối đa nhất

thiệt hại xảy ra đối với mình, đồng thời nó bảo vệ sự công bằng và lợi ích chính

đáng của các bên tham gia hợp đồng.

Xuất phát từ thực tiễn thực hiện hợp đồng, đặc biệt các tranh chấp xảy ra mà

11 Đoàn Phan Tân, Khái niệm thông tin và các thuộc tính thông tin làm nên giá trị của thông tin của tác giả, Tạp chí Văn hóa – Nghệ thuật, số 3 - 2001

luật sư người Đức Rudolph Von Jhering là người đầu tiên đưa ra học thuyết về

30

nghĩa vụ tiền hợp đồng Culpa in contrahendo vào năm 1861. Hợp đồng chỉ có thể

được thực hiện và đem lại lợi ích cho các bên chủ thể một cách tốt nhất khi nội

dung hợp đồng được giao kết phản ánh gần nhất mong muốn, tiệm cận gần nhất lợi

ích thực sự của các chủ thể. Để đạt được mục tiêu này, giai đoạn trước khi hợp đồng

được giao kết, các bên phải thực hiện tốt các nghĩa vụ của mình như nghĩa vụ cung

cấp thông tin, đảm bảo sự trung thực, thiện chí. Chính sự phù hợp với thực tiễn nên

học thuyết dần dần được thừa nhận, đánh dấu bước nhảy vọt thông qua việc pháp

luật các quốc gia ghi nhận dưới tên gọi như precontractualvliability hoặc culpa in

contrachendoc (pháp luật Đức, Pháp…), được thừa nhận trong phán quyết của Tòa

án (Anh, Hoa Kỳ) hay trong các bộ nguyên tắc về hợp đồng mang tính chất quốc tế

như: Nguyên tắc về hợp đồng thương mại quốc tế (Pricinples of international

commenrcial contracts – viết tắt là PICC), nguyên tắc về luật Hợp đồng châu Âu

(Priciples of European contract law – viết tắt là PECL).

Về cơ bản nghĩa vụ tiền hợp đồng mang các đặc trưng:

+ Thời điểm phát sinh nghĩa vụ tiền hợp đồng là trước khi các bên tiến hành

ký kết hợp đồng.

+ Căn cứ phát sinh nghĩa vụ tiền hợp đồng là các quy định của pháp luật dưới

sự chi phối của nguyên tắc trung thực, thiện chí. Đây cũng là cơ sở để khẳng định

nghĩa vụ tiền hợp đồng là các nghĩa vụ do luật định.

+ Nghĩa vụ tiền hợp đồng là cơ sở làm phát sinh trách nhiệm dân sự nếu có

hành vi vi phạm nghĩa vụ tiền hợp đồng.

Do vậy, nghĩa vụ tiền hợp đồng được hiểu là các xử sự mà pháp luật buộc

các bên chủ thể trước khi tham gia ký kết hợp đồng phải thực hiện và trong trường

hợp các bên có hành vi vi phạm nghĩa vụ phải gánh chịu các hậu quả pháp lý bất lợi

cho mình.

Từ đó có thể hiểu nghĩa vụ cung cấp thông tin tiền hợp đồng thương mại là

việc mà các bên trước khi giao kết hợp đồng bắt buộc phải cung cấp các thông tin

cho nhau, trên nguyên tắc trung thực, thiện chí, để hạn chế tối đa nhất thiệt hại có

31

thể xảy ra.12

1.3.2. Điều chỉnh pháp luật về nghĩa vụ cung cấp thông tin giai đoạn tiền

hợp đồng thương mại

Tại Việt Nam, trước khi có BLDS năm 2015, nghĩa vụ cung cấp thông tin tiền

hợp đồng không được quy định như là nguyên tắc chung áp dụng cho tất cả các loại

hợp đồng dân sự. BLDS năm 2005 chỉ có quy định về nghĩa vụ cung cấp thông tin

đối với một số hợp đồng chuyên biệt như: việc chuyển giao quyền, nghĩa vụ dân sự,

hợp đồng mua bán tài sản, hợp đồng bảo hiểm…Sau mười năm triển khai trên thực

tế, BLDS năm 2005 đã bộc lộ một số bất cập trong các quy định về nghĩa vụ cung

cấp thông tin giai đoạn tiền hợp đồng. BLDS năm 2015 ra đời trên cở sở bổ sung,

hoàn thiện và phòng tránh những bất cập mà BLDS cũ tồn tại. BLDS 2015 đã quy

định về nghĩa vụ cung cấp thông tin tiền hợp đồng tại Điều 387 BLDS 2015, theo

đó: Trường hợp một bên có thông tin ảnh hưởng đến việc chấp nhận giao kết hợp

đồng của bên kia thì phải thông báo cho bên kia biết. Bên vi phạm quy định này thì

phải bồi thường. Cách quy định này đã chỉ ra rằng một bên phải có nghĩa vụ cung

cấp thông tin cho đối tác của mình trước khi các bên giao kết hợp đồng. Tuy nhiên

trong BLDS 2015 không quy định rõ cụ thể loại thông tin nào vì với mỗi loại hợp

đồng thì thông tin cần cung cấp có thể rất khác nhau. Ở Việt Nam, nghĩa vụ cung

cấp thông tin tiền hợp đồng thương mại còn là một vấn đề khá mới, hiện chỉ có một

số công trình nghiên cứu về một số khía cạnh, một số nghĩa vụ cung cấp thông tin

tiền hợp đồng trong một số loại hợp đồng cụ thể hoặc hợp đồng dân sự nói chung.

Một số vấn đề liên quan đến nghĩa vụ cung cấp thông tin giai đoạn tiền hợp đồng,

cụ thể là hợp đồng thương mại vẫn là một vấn đề khá mới mẻ và ít được đề cập đến

trong khoa học pháp lý Việt Nam. Điều 387 của BLDS 2015 chỉ nêu lên vai trò của

loại thông tin này đối với bên được cung cấp thông tin là các thông tin này ảnh

hưởng đến việc chấp nhận giao kết hợp đồng của một bên. Ngoài việc quy định trực

truy cập ngày

12 Kiều Thị Thùy Linh, Nghĩa vụ tiền hợp đồng trong hợp đồng dịch vụ của Nguyên tắc luật châu Âu (PELSC) và bài học kinh nghiệm trong việc hoàn thiện quy định pháp luật ở Việt Nam năm 2016, tại địa chỉ: https://wikiluat.com/2016/03/02/nghia-vu-tien-hop-dong-trong-hop-dong-dich-vu-cua-nguyen-tac-luat-chau- au-pel-sc-va-bai-hoc-kinh-nghiem-trong-viec-hoan-thien-quy-dinh-phap-luat-o-viet-nam/, 20/10/2018

tiếp về nghĩa vụ tiền hợp đồng như trên, Điều 443 BLDS năm 2015 quy định: “Bên

32

bán có nghĩa vụ cung cấp cho bên mua thông tin cần thiết về tài sản mua bán và

hướng dẫn cách sử dụng tài sản đó; nếu bên bán không thực hiện nghĩa vụ này thì

bên mua có quyền yêu cầu bên bán phải thực hiện trong một thời hạn hợp lý; nếu

bên bán vẫn không thực hiện làm cho bên mua không đạt được mục đích giao kết

hợp đồng thì bên mua có quyền hủy bỏ hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại”.

Để làm rõ thêm, tác giả lấy ví dụ cụ thể: Bên A và bên B ký kết hợp đồng mua bán

một lô gạo (thuộc giống đặc biệt) nhưng bên A – bên bán không cung cấp thông tin

về cách bảo quản thích hợp cho bên B dẫn đến lô gạo này bị hư hỏng chỉ ít ngày sau

khi bên B nhận được lô hàng. Như vậy, trong trường hợp này bên B đã không đạt

được mục đích giao kết hợp đồng là mua được thứ hàng hóa có tiêu chuẩn như mình

mong đợi và bên B có yêu cầu bồi thường thiệt hại. Tuy nhiên, sẽ có nhiều vấn đề

pháp lý đặt ra như bên B đã yêu cầu bên A thực hiện cung cấp thông tin vê việc bảo

quản loại gạo này hay chưa và việc bên B không yêu cầu cũng cấu thành yếu tố lỗi

khi cơ quan giải quyết tranh chấp xem xét vấn đề bồi thường thiệt hại.

Điều 443 BLDS năm 2015 đã bổ sung cụm từ “trong một thời hạn hợp lý”,

nhằm phòng ngừa trường hợp người mua đã yêu cầu nhiều lần, trong một thời gian

dài nhưng bên bán vẫn không thiện chí thực hiện nghĩa vụ cung cấp thông tin và cố

tình tạo khó khăn, cản trở cho bên mua trong việc nhận được thông tin và ngăn cản

bên mua thực hiện quyền hủy bỏ hợp đồng.

Tiếp theo, Điều 443 BLDS năm 2015 cũng nêu lên điều kiện để bên mua có

thể áp dụng chế tài hủy hợp đồng, khi và chỉ khi việc không thực hiện nghĩa vụ

cung cấp thông tin của bên bán làm cho bên mua không đạt được mục đích giao kết

hợp đồng. Điều này là phù hợp, thống nhất với các phần khác trong BLDS về việc

áp dụng chế tài hủy hợp đồng. “Hủy bỏ hợp đồng” là một trong những trường hợp

chấm dứt hợp đồng dân sự, là trường hợp khi một bên vi phạm hợp đồng là điều

kiện hủy bỏ mà các bên đã thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định thì bên còn lại có

quyền xóa bỏ hợp đồng và yêu cầu bên vi phạm bồi thường thiệt hại. Từ đó có thể

hiểu rằng quyền hủy bỏ hợp đồng nói chung và hợp đồng thương mại nói riêng có

thể do các bên thỏa thuận hoặc do pháp luật thương mại quy định. Tuy nhiên cũng

đều xuất phát từ quy định của Bộ luật dân sự về hợp đồng để từ đó có thể đánh giá

33

đối với từng loại hợp đồng chuyên biệt trong thương mại.

Hợp đồng mua bán nhà ở hình thành trong tương lai là sự thỏa thuận của các

bên về việc mua bán nhà chưa có vào thời điểm hợp đồng được giao kết. Việc phát

triển nhà ở thương mại chưa được hoàn thành hoặc do nhà ở riêng lẻ của cá nhân,

gia đình chưa được xây dựng hoặc xây dựng chưa xong. Nhà ở hình thành trong

tương lai, cũng như các bất động sản khác sẽ được hình thành trong tương lai là

nhóm đối tượng được pháp luật dân sự các nước phát triển trên thế giới điều chỉnh

với những quy chế cụ thể, chặt chẽ. Đặc trưng quan trọng nhất của hợp đồng mua

bán là việc giao một tài sản để đổi lấy một số tiền, bởi việc giao một số tiền để đổi

lấy tài sản, không có yếu tố đặc trưng ấy, hợp đồng sẽ mang một tên gọi khác chứ

không phải hợp đồng mua bán. Yếu tố đặc trưng quan trọng này cho thấy: mặc dù

tài sản chưa hình thành nhưng hợp đồng mua bán nhà ở hình thành trong tương lai

thuộc phân loại hợp đồng mua bán.

Điều khác biệt cơ bản với các loại Hợp đồng mua bán khác ở chỗ vật/tài sản

đem trao đổi chưa hình thành tại thời điểm kết ước trong hợp đồng. Điều khác biệt

thứ hai là việc tài sản chưa hình thành này gắn bó hữu cơ, mật thiết với một tài sản

đặc biệt: nhà ở. Cụ thể: đối tượng của dạng hợp đồng này là nhà ở gắn liền trên đất

sẽ hình thành trong tương lai thông qua việc xây dựng, tạo lập trước hoặc sau khi

hợp đồng mua bán nhà ở hình thành trong tương lai được ký kết.

Đối tượng của hợp đồng mua bán nhà ở hình thành trong tương lai chính là

nhà ở sẽ chuyển nhượng được các bên thỏa thuận trong hợp đồng. Tài sản chuyển

nhượng là điều khoản quan trọng, chính yếu trong hợp đồng mua bán nhà ở hình

thành trong tương lai. Chính vì vậy, điều khoản này cần được thiết kế chi tiết, thỏa

thuận rõ trong quá trình thương thảo hợp đồng, tránh phát sinh rủi ro pháp lý về sau.

Nhà ở hình thành trong tương lai chỉ có thể trở thành đối tượng của hợp đồng

mua bán nhà ở khi thoả mãn điều kiện: Có giấy tờ về quyền sử dụng đất, hồ sơ dự

án, thiết kế bản vẽ thi công đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt, Giấy phép xây

dựng đối với trường hợp phải có giấy phép xây dựng, giấy tờ về nghiệm thu việc

hoàn thành xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật tương ứng theo tiến độ dự án; trường

34

hợp là nhà trung cư, tòa nhà hỗn hợp có mục đích để hình thành trong tương lai thì

phải có biên bản nghiệm thu đã hoàn thành xong phần móng của tòa nhà đó.

Việc xác định tài sản chuyển nhượng không chỉ đơn thuần được xác định trên

giấy, như đã nói ở trên, tài sản chuyển nhượng nói riêng cũng như Hợp đồng nói

chung, cần được các bên làm rõ với nhau thông qua tổng thể các hứa hẹn, trao đổi,

thỏa thuận, thống nhất giữa hai bên trong quá trình từ khi đề xuất giao ước, thương

thảo, đàm phán hợp đồng cho đến khi hợp đồng được hai bên ký kết, công chứng

theo luật định. Các hứa hẹn, đề xuất, chấp thuận, thống nhất này thường được thể

hiện bằng biên bản thỏa thuận giữa các bên, tài liệu nội bộ trình các cấp có thẩm

quyền phê duyệt việc mua – bán. Các tài liệu này vô cùng quan trọng trong việc xác

định tài sản sẽ hình thành trong tương lai (Bên Mua mua cái gì và Bên Bán bán cái

gì) cũng như là chứng cứ quan trọng trong trường hợp phát sinh tranh chấp giữa các

bên. Đối với một hợp đồng mua bán nhà, công trình xây dựng nói chung phải đảm

bảo các nội dung cơ bản được quy định tại Điều 18 Luật Kinh doanh bất động sản

2014.13 Đây là những điều khoản bắt buộc phải có trong hợp đồng như thông tin bên

bán và bên mua, thông tin về đối tượng mua bán, giá mua bán, thanh toán và bàn

giao nhà, bảo hành, giải quyết tranh chấp… Đối với mua bán nhà ở hình thành trong

tương lai, các điều khoản cơ bản còn phải đảm một số điều khoản cơ bản:

Thứ nhất, điều khoản về thông tin của nhà ở: Do nhà ở hình thành trong tương

lai tại thời điểm ký kết chưa hình thành hoặc đang hình thành các bên chỉ tìm hiểu

thông qua hồ sơ pháp lý hoặc mô hình cho nên yêu cầu đầu tiên là những thông tin

về nhà ở mà chủ đầu tư cung cấp phải rõ ràng và chi tiết tránh nhầm lẫn và hạn chế

tranh chấp xảy ra.Việc quy định cụ thể thông tin của đối tượng mua bán cũng nhằm

thực hiện nguyên tắc của Luật Kinh doanh bất động sản 2014 đó là “hoạt động kinh

doanh bất động sản phải công khai, minh bạch”. Trong đó thông tin thời điểm hoàn

13 Điều 18 Luật kinh doanh bất động sản năm 2014: “Nội dung hợp đồng mua bán, cho thuê, cho thuê nhà, công trình xây dựng phải có các nội dung chính sau: 1. Tên, địa chỉ của các bên; 2. Các thông tin về bất động sản; 3. Giá mua ban, cho thuê, cho thuê mua; 4. Phương thức và thời hạn thanh toán; 5. Thời hạn giao, nhận bất động sản và hồ sơ kèm theo; 6. Bảo hành; 7. Quyền và nghĩa vụ của các bên; 8. Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng; 9. Phạt vi phạm hợp đồng; 10. Các trường hợp chấm dứt, hủy bỏ hợp đồng và các biện pháp xử lý; 11. Giải quyết tranh chấp; 12. Thời điểm có hiệu lực hợp đồng”

thành nhà ở và thông tin về diện tích căn hộ là khá quan trọng đối với người mua và

35

thường xảy ra tranh chấp trên thực tế.

Thứ hai, điều khoản về giá mua bán: Liên quan đến quy định về giá mua bán,

hiện nay pháp luật bắt buộc các bên phải thỏa thuận về giá mua bán tại thời điểm ký

kết hợp đồng và khách hàng được hưởng giá mua nhà ở tại thời điểm ký hợp đồng

trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác. Như vậy các bên phải có hành vi thỏa

thuận về điều khoản giá mua bán ngay tại thời điểm ký hợp đồng, mức giá tính theo

thời điểm nào là do các bên thỏa thuận tuy nhiên nếu khách hàng chọn mức giá theo

thời điểm ký hợp đồng thì bên bán phải tuân theo ý chí của bên mua vì đây là quyền

mà pháp luật dành cho người mua.

Quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng

Hợp đồng mua bán nhà ở hình thành trong tương lai là một loại hợp đồng song

vụ, quyền của bên này là nghĩa vụ tương ứng của bên kia và ngược lại. Tương tự

như quan hệ mua bán thông thường bên bán có quyền và nghĩa vụ chính là nhận tiền

và giao tài sản còn bên mua có nghĩa vụ trả tiền và được nhận tài sản. Ngoài ra các

bên cũng có các quyền và nghĩa vụ cơ bản được quy đinh tại Luật Kinh doanh bất

động sản 2014 áp dụng đối với các chủ thể mua bán nhà, công trình xây dựng nói

chung. Xuất phát từ đặc trưng của quan hệ mua bán nhà ở hình thành trong tương

lai pháp luật hiện hành còn quy định một số quyền và nghĩa vụ khác của các bên

trong hợp đồng như nghĩa vụ sử dụng đúng mục đích tiền ứng trước của chủ đầu tư,

quyền được chuyển nhượng hợp đồng mua bán của người mua…Một số quyền và

nghĩa vụ có vai trò quan trọng đối với các bên trong hợp đồng mua bán nhà ở hình

thành trong tương lai đó là:

- Đối với bên bán:

+ Thứ nhất, nghĩa vụ cung cấp thông tin. Bên bán có nghĩa vụ cung cấp cho

bên mua thông tin cần thiết về tài sản mua bán và hướng dẫn cách sử dụng tài sản

đó. Những thông tin này được công khai thông qua sàn giao dịch bất động sản và

trên các phương tiện thông tin đại chúng nhằm tạo điều kiện cho người mua có thể

nắm bắt thông tin về đối tượng, đảm bảo tính công khai minh bạch trong hoạt động

kinh doanh bất động sản. Thông tin mà bên bán đưa ra phải đầy đủ có nghĩa là bên

36

bán nhà ở hình thành trong tương lai có thể cung cấp những thông tin khác nhau tuy

nhiên phải đảm bảo những nội dung tại khoản 2 Điều 6 Luật kinh doanh bất động

sản 2014 như loại bất động sản; vị trí bất động sản; thông tin về quy hoạch có liên

quan đến bất động sản; quy mô, diện tích, tình trạng pháp lý của bất động sản, giá

bán bất động sản… Như vậy khi giao kết hợp đồng mua bán nhà ở hình thành trong

tương lai nguyên tắc trung thực thiện chí là nguyên tắc quan trọng nhất để hai bên đi

đến thỏa thuận theo như nguyên tắc bên bán phải cung cấp toàn bộ thông tin ngay từ

ban đầu cho bên mua đối với nhà ở hình thành trong tương lai thì cần phải có những

quy định cụ thể về việc xử lý các biến động, đảm bảo lợi ích cho khách hàng và chủ

đầu tư bởi thị trường bất động sản luôn luôn biến động với những biến đổi trong giá

vật liệu, nhân công chính sách của nhà nước… do đó nếu áp dụng những điều khoản

vi phạm hợp đồng thì khá bất lợi cho chủ đầu tư mà vấn đề cũng không được giải

quyết một cách tốt nhất.

Hợp đồng dịch vụ cũng là một loại hợp đồng thương mại điển hình, trong đó

pháp luật phần nào cũng có nhứng quy định về nghĩa vụ cung cấp thông tin tiền hợp

đồng đối với hai bên khi tham gia giao kết hợp đồng. Thương mại vốn dĩ đi từ gốc

dân sự của lĩnh vực tư (hay còn được coi là dân sự theo nghĩa rộng), khi các hoạt

động kinh tế “có một khối lượng nhất định về sản xuất và trao đổi, khi quan hệ quốc

tế trở nên sôi động và khi có một sự tự do vừa đủ cho các thương gia”, tức là hàng

hóa, dịch vụ trở thành đối tượng được trao đổi trên thị trường thì thương mại ra đời.

Trong lĩnh vực dịch vụ, các chủ thể thiết lập quan hệ với nhau trên cơ sở hợp đồng.

Đối với dịch vụ thương mại, hợp đồng sẽ chịu sự điều chỉnh bởi các nguyên tắc

chung về hợp đồng được quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2015 (sau đây gọi tắt

là Bộ luật) và các quy định riêng nằm trong Luật Thương mại. Đối với dịch vụ

không mang tính thương mại (hay còn gọi dịch vụ dân sự) sẽ chịu sự điều chỉnh bởi

chế định hợp đồng dịch vụ - một hợp đồng dân sự thông dụng được ghi nhận trong

Bộ luật. Bản chất hợp đồng dịch vụ là sự kết hợp giữa bản chất của hợp đồng dân sự

với bản chất của dịch vụ - đối tượng của hợp đồng. Hợp đồng dịch vụ được hình

thành trên cơ sở thỏa thuận giữa bên cung ứng dịch vụ với bên thuê dịch vụ nhằm

làm phát sinh ràng buộc pháp lý như bên cung ứng dịch vụ phải thực hiện một công

37

việc mang tính dịch vụ xác định cho bên thuê dịch vụ hoặc người thứ ba (trong

trường hợp hợp đồng dịch vụ vì lợi ích của người thứ ba), bên thuê dịch vụ có nghĩa

vụ tiếp nhận kết quả công việc, trả tiền dịch vụ… Như vậy, hợp đồng dịch vụ có thể

được xem xét dưới nhiều giác độ: Là một căn cứ phát sinh quan hệ trái quyền; căn

cứ phát sinh nghĩa vụ dân sự; một chế định trong Bộ luật; hoặc là một bằng chứng

ghi nhận phạm vi quyền, nghĩa vụ của các bên chủ thể. Hợp đồng dịch vụ hiện nay

được Bộ luật định nghĩa tại Điều 513: “Hợp đồng dịch vụ là sự thỏa thuận giữa các

bên, theo đó bên cung ứng dịch vụ thực hiện công việc cho bên thuê dịch vụ, còn

bên thuê dịch vụ phải trả tiền dịch vụ cho bên cung ứng dịch vụ”. Như vậy, khái

niệm hợp đồng dịch vụ hiện nay được xem xét dưới góc độ là căn cứ phát sinh quan

hệ trái quyền, căn cứ hình thành quan hệ nghĩa vụ với đặc trưng cơ bản về đối tượng

là công việc phải thực hiện, mang tính song vụ và có tính chất đền bù.

1.3.3. Nội dung nghĩa vụ cung cấp thông tin giai đoạn tiền hợp đồng

thương mại

Nội dung cơ bản của nghĩa vụ cung cấp thông tin tiền hợp đồng thương mại là

tập hợp các nguyên tắc quy định về nghĩa vụ của các bên khi giao kết hợp đồng, để

hợp đồng được ký kết đem lại lợi ích cho cả hai bên.

Có thể thấy, vấn đề trách nhiệm cung cấp thông tin của người tham gia hợp

đồng thương mại được đặt ra trên nguyên tắc trung thực tuyệt đối (một trong những

nguyên tắc cơ bản). Để mọi hoạt động kinh doanh trên thương trường được thực

hiện một cách có hiệu quả, các tổ chức, cá nhân (những chủ thể thực hiện hoạt động

sản xuất kinh doanh và những chủ thể sử dụng những hàng hóa, dịch vụ có được từ

từ hoạt động sản xuất kinh doanh) đều phải thiết lập mối quan hệ trên cơ sở tin cậy

lẫn nhau. Trong thực tế, pháp luật về hợp đồng của tât cả các quốc gia trên thế giới

đều diễn đạt tinh thần này, có nghĩa là bất kỳ hành vi gian lận hay âm mưu lừa đảo

đều bị coi là vi phạm pháp luật.

- Nguyên tắc trung thực và ngay thẳng chi phối rất nhiều các quy định điều

chỉnh quan hệ hợp đồng nói chung và quan hệ hợp đồng thương mại nói riêng, đặc

biệt là giai đoạn tiền hợp đồng. Đây là nguyên tắc mang tính quán triệt áp dụng cho

38

mọi quan hệ diễn ra trong lĩnh vực kinh tế và dân sự. Tuy nhiên, tùy thuộc vào đặc

trưng của các quan hệ xã hội thuộc đối tượng điều chỉnh của các ngành luật khác

nhau mà pháp luật trong lĩnh vực đó cũng có những quy định mang tính đặc thù.

Chẳng hạn như trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm nói chung, doanh nghiệp bảo

hiểm không bán sản phẩm hữu hình mà bán sản phẩm vô hình, sản phẩm có thể

hình thành hoặc không hình thành trong tương lai. Tại thời điểm bán bảo hiểm, “sản

phẩm” bảo hiểm là chưa có. Vì vậy, để đảm bảo thực hiện hoạt động kinh doanh của

doanh nghiệp bảo hiểm, pháp luật kinh doanh bảo hiểm phải tuân thủ nguyên tắc

trung thực, tuyệt đối và phải có những quy định phù hợp với đặc thù của hoạt động

kinh doanh này. Để tuân thủ nguyên tắc trung thực tuyệt đối, người mua bảo hiểm

phải có trách nhiệm khai báo cho doanh nghiệp bảo hiểm biết về mọi yếu tố liên

quan đến đối tượng bảo hiểm. Do đó, cung cấp thông tin là một trong những nghĩa

vụ của người tham gia bảo hiểm. Tính chính xác của những thông tin đưa ra là một

trong những yếu tố ảnh hưởng tới tính hiệu lực của hợp đồng. Nếu trong hợp đồng

mua bán thông thường, nguyên tắc thông báo trước (về hàng hóa đươc đem ra bán)

luôn luôn được áp dụng đối với bên bán, và hai bên mua, bán đều biết được (bằng

mắt thường) về đối tượng của quan hệ mua bán, thì trong hợp đồng bảo hiểm cả bên

mua và bên bán đều không thấy được bằng mắt thường sản phẩm mà mình mua, bán

tại thời điểm giao kết hợp đồng. Đặc biệt, trong quan hệ mua bán này, chỉ có một

bên (bên yêu cầu bảo hiểm – bên mua bảo hiểm) biết rõ các đặc điểm có thể liên

quan đến rủi ro đối với tài sản mà mình yêu cầu bảo hiểm, còn bên kia (người bảo

hiểm – doanh nghiệp bảo hiểm) thường không biết được những điều đó. Doanh

nghiệp bảo hiểm gần như phụ thuộc hoàn toàn vào những thông tin do người mua

bảo hiểm cung cấp để xét đoán mức độ rủi ro và quyết định thái độ của mình trong

việc có chấp nhận bảo hiểm hay không. Do hoạt động kinh donh bảo hiểm có đặc

điểm các chủ thể thực hiện hoạt động kinh doanh bảo hiểm phải là các chủ thể có

trình độ chuyên môn, nghiệp vụ nhất định trong lĩnh vực bảo hiểm nên sự am hiểu

của họ trong lĩnh vực này tốt hơn bên mua bảo hiểm. Vì vậy, họ cũng phải có nghĩa

vụ cung cấp những thông tin cần thiết liên quan đến dịch vụ bảo hiểm mà họ cung

ứng. Để quán triệt đặc trưng này của bảo hiểm pháp luật bảo hiểm Việt Nam đã cụ

39

thể hóa nguyên tắc này tại Điều 19 Luật kinh doanh bảo hiểm.

- Nguyên tắc tự do hợp đồng có nguồn gốc từ thuyết tự do ý chí trong giao kết

hợp đồng. Đây “chắc chắn là một nguyên tắc cơ bản của pháp luật hợp đồng” và đã

được ghi nhận trong các văn bản pháp lý quốc tế. Trong pháp luật của các quốc gia,

tự do hợp đồng cũng chính là một trong những nguyên tắc quan trọng. Trong giao

kết hợp đồng thương mại, tự do, bình đẳng, tự nguyện giao kết hợp đồng là nguyên

tắc cơ bản và quan trọng. Theo đó, khi thiết lập hợp đồng thương mại thì các chủ

thể đều tự do về mặt ý chí, không có chủ thể nào có quyền áp đặt ý chí để bắt buộc

hay ngăn cản chủ thể khác giao kết hợp đồng.

Hiện nay, pháp luật hợp đồng ở Việt Nam (Điều 395 BLDS) 14 đã thừa nhận và

khẳng định nguyên tắc tự do ý chí và nguyên tắc bình đẳng như là hai nguyên tắc cơ

bản và không thể xâm phạm trong quá trình hình thành hợp đồng. Yêu cầu của hai

nguyên tắc này về cơ bản tương tự với các nước trên thế giới. Tuy nhiên, đối với

nghĩa vụ cung cấp thông tin trong giai đoạn tiền hợp đồng thương mại thì nguyên

tắc thiện chí, trung thực lại là nguyên tắc quan trọng nhất, xuyên suốt trong toàn bộ

giai đoạn đầu của quá trình giao kết hợp đồng.

Nguyên tắc trung thực, thiện chí là nền tảng của mọi giao dịch dân sự, cụ thể

hơn là trong giai đoạn đầu của giao kết hợp đồng thương mại. Bởi lẽ một giao dịch

thương mại dù đơn giản hay phức tạp, mức độ dù lớn hay nhỏ thì khi thực hiện các

quyền và thi hành các nghĩa vụ, sự trung thực, thiện chí luôn được đặt lên vị trí

hàng đầu. Trung thực, thiện chí là thực hiện hành vi với ý định tốt một cách ngay

thẳng, chính trực, nên cũng có tài liệu ghi nhận nguyên tắc này dưới tên là “nguyên

tắc thẳng thắn và ngay tình”. Nguyên tắc này được quy định nhằm bảo đảm trong

việc giao kết hợp đồng không ai bị cưỡng ép hoặc bị những cản trở trái với ý chí

của mình; đồng thời thể hiện bản chất của quan hệ pháp luật dân sự. Quy luật giá trị

đòi hỏi các bên chủ thể khi tham gia các quan hệ trao đổi phải bình đẳng với nhau;

14 Điều 395 BLDS 2015: “Sửa đổi đề nghị do bên được đề nghị đề xuất: Khi bên được đề nghị đã chấp nhận giao kết hợp đồng, nhưng có nêu điều kiện hoặc sửa đổi đề nghị về việc chấp nhận toàn bộ nội dung của đề nghị ”

không ai được viện lý do khác biệt về hoàn cảnh kinh tế, thành phần xã hội, dân tộc,

40

giới tính hay tôn giáo… để tạo ra sự bất bình đẳng trong quan hệ dân sự. Hơn nữa, ý

chí tự nguyện của các bên chủ thể tham gia hợp đồng chỉ được bảo đảm khi các bên

bình đẳng với nhau trên mọi phương diện. Chính vì vậy, pháp luật không thừa nhận

những hợp đồng được giao kết thiếu sự bình đẳng và ý chí tự nguyện của một trong

các bên chủ thể. Tuy nhiên, trên thực tế thì việc đánh giá một hợp đồng có được

giao kết bảo đảm ý chí tự nguyện của các bên hay chưa, trong một số trường hợp lại

là một công việc hoàn toàn không đơn giản và khá phức tạp bởi nhiều nguyên do

chủ quan và khách quan khác nhau.

Như chúng ta đã biết, ý chí tự nguyện là sự thống nhất giữa ý chí chủ quan bên

trong và sự bày tỏ ý chí ra bên ngoài của chủ thể. Chính vì vậy, sự thống nhất ý chí

của chủ thể giao kết hợp đồng với sự bày tỏ ý chí đó trong nội dung hợp đồng mà

chủ thể này đã giao kết chính là cơ sở quan trọng để xác định một hợp đồng đã đảm

bảo nguyên tắc tự nguyện hay chưa. Hay nói cách khác, việc giao kết hợp đồng chỉ

được coi là tự nguyện khi hình thức của hợp đồng phản ánh một cách khách quan,

trung thực mong muốn, nguyện vọng của các bên chủ thể tham gia hợp đồng.

Do đó, theo quy định của pháp luật thì tất cả những hợp đồng được giao kết do

bị nhầm lẫn, lừa dối hay bị đe doạ đều không đáp ứng được nguyên tắc tự nguyện

khi giao kết và do đó bị vô hiệu.

Tiểu kết Chương 1: Trong giao kết hợp đồng thương mại, nghĩa vụ cung cấp

thông tin giữ một vị trí vô cùng quan trọng. Chính nhờ vào các thông tin được cung

cấp mà các bên có thể đánh giá, dự đoán được các rủi ro có thể xảy ra, giúp các bên

hạn chế tối đa nhất thiệt hại xảy ra đối với mình, đồng thời nó bảo vệ sự công bằng

và lợi ích chính đáng của các bên tham gia hợp đồng.

41

CHƯƠNG 2. NGHĨA VỤ CUNG CẤP THÔNG TIN GIAI ĐOẠN TIỀN HỢP

ĐỒNG TRONG PHÁP LUẬT MỘT SỐ NƯỚC VÀ VĂN BẢN QUỐC TẾ

Nghiên cứu về nghĩa vụ cung cấp thông tin giai đoạn tiền hợp đồng, ta thấy

rằng xuyên suốt toàn bộ giai đoạn đó là nghĩa vụ trung thực và thiện chí của hai bên

khi giao kết hợp đồng. Nhiều hệ thống pháp luật cho rằng thiện chí và trung thực áp

dụng cho toàn bộ pháp luật về các nghĩa vụ, đặc biệt là trong pháp luật về hợp đồng.

Ngoài ra, việc áp dụng thiện chí và trung thực đã thực sự tạo nên tiếng vang trong

sự phát triển của pháp luật châu Âu, trên phạm vi quốc tế và vượt ngoài phạm vi

quốc gia hiện tại. Do vậy, khi đánh giá cách nhìn nhận về thiện chí và trung thực

trong cộng đồng châu Âu và trên phạm vi thế giới, cũng như thông qua pháp luật so

sánh, sẽ giúp tác giải hiểu rõ hơn về nghĩa vụ cung cấp thông tin tiền hợp đồng

thương mại trong pháp luật của các nước, để từ đó có những đề xuất và định hướng

cho pháp luật Việt Nam.

2.1. Nghĩa vụ cung cấp thông tin giai đoạn tiền hợp đồng trong pháp luật

một số nước

2.1.1. Pháp luật của nước Anh

Pháp luật Anh là hệ thống pháp luật được áp dụng cho toàn xứ Anh và xứ

Wales được xây dựng cơ sở của Thông luật.15 Hệ thống pháp luật Anh được sử dụng

trong hầu hết các quốc gia thuộc Khối Thịnh Vượng Chung và Hoa Kỳ, ngoại trừ

tiểu bang Louisiana (sử dụng hệ thống Dân luật). Nó được truyền bá sang các nước

Khối thịnh vượng chung trong khi Đế quốc Anh bành trướng vào thế kỷ 19 và nó

hình thành nên cơ sở của khoa học pháp lý của hầu hết các quốc gia chịu ảnh hưởng.

Pháp luật Anh cũng tác động và ảnh hưởng mạnh mẽ ở nước Mỹ trước khi

cuộc Cách mạng Mỹ năm 1776, nó là một phần của luật pháp của Hoa Kỳ thông

qua quy chế tiếp nhận, ngoại trừ ở Louisiana và cung cấp cơ sở nền tảng cho truyền

thống pháp lý và chính sách ở Mỹ mặc dù nó không có thẩm quyền thay thế pháp

15 Nước Anh theo quan điểm là không tồn tại nghĩa vụ cung cấp thông tin trong giai đoạn tiền hợp đồng. Theo Beatson “nguyên tắc chung của hệ thống pháp luật Common law là một người khi ký kết hợp đồng với người khác thì không chịu nghĩa vụ công bố thông tin đối với người khác.

luật.

42

Khác với Civil law, Pháp luật Anh không phân chia thành Luật công (Công

pháp) và luật tư (Tư pháp) vì sự phân biệt này ít có ý nghĩa trong thời kì phong kiến

ở Anh, giai đoạn đầu của sự phát triển Thông luật vì các quyền công và tư được xác

định thông qua quyền lợi về tài sản, nhưng không có sự phân biệt giữa sở hữu tài

sản và các sơ quan công theo kiểu Civil law. Mặt khác, theo quan điểm của người

Anh thì vua là tối cao, tất cả đều phải phục tùng nhà vua không phân biệt công hay

tư. Hệ thống tòa án trở thành nơi xem xét các hoạt động lập pháp, hành pháp, kể cả

trong tranh chấp tư. Do vậy, pháp luật nước Anh không căn cứ vào văn bản luật,

không có sự phân biệt hoàn toàn về quyền lực theo kiểu Civil law. Theo hệ thống

Common Law, các bên trong giai đoạn đàm phán hợp đồng không có nghĩa vụ tuân

theo nguyên tắc trung thực, thiện chí đối với bên còn lại. Do đó, họ được quyền tự

do hoàn toàn trong việc rút khỏi thương lượng mà không phải chịu trách nhiệm đối

với chi phí của các bên còn lại. Một ngoại lệ của sự tự do đàm phán này là thuyết

promissory estoppel. Lý thuyết này bảo vệ bên đàm phán có niềm tin hợp lý về các

bên sẽ đạt đến thỏa thuận cuối cùng. Vì vậy, Common Law không ghi nhận nghĩa

vụ thiện chí, trung thực trong đàm phán hợp đồng nói chung và hợp đồng thương

mại nói riêng, do đó không tồn tại nghĩa vụ thông tin tiền hợp đồng trong hệ thống

Common Law. Luật Anh Quốc: Không thừa nhận sự tồn tại của nguyên tắc thiện chí

“good faith” trong quan hệ hợp đồng.16 Mỗi bên đều có quyền theo đuổi các mục

tiêu của riêng mình với điều kiện không đưa ra những lời tuyên bố sai. Trong khi đó,

theo pháp luật của Anh, để áp dụng quy định về nghĩa vụ cung cấp thông tin trong

giai đoạn tiền hợp đồng, một hệ thống đồ sộ các án lệ liên quan, với chức năng như

là giá đỡ, là giải thích cho các thuật ngữ được quy định trừu tượng trong văn bản

luật.

Việc xem xét khái niệm thiện chí và trung thực (hiểu theo nghĩa khách quan)

thường là một trong những yếu tố bất đồng giữa các nước civil law và các nước

common law. Tuy nhiên, không nên cho rằng các nước common law và đặc biệt là

pháp luật Anh, vẫn còn khép kín đối với sự phát triển của Châu Âu hiện đại về ý

tưởng của một “công lý hợp đồng”. Cũng tương tự, để thay thế nghĩa vụ thiện chí và 16 Nguyễn Minh Tuấn, Tập bài giảng Lịch sử Nhà nước và pháp luật Thế giới, NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội, năm 2007

43

trung thực nói riêng, án lệ và học thuyết đã sử dụng các cơ chế khác để đạt được

thành công trong việc thúc đẩy một pháp luật hợp đồng đầy đủ về tính trung thực.

Tính mềm dẻo của các học thuyết về thiện chí và trung thực có thể làm suy yếu các

mục đích về tính rõ ràng và khả năng có thể dự kiến. Khái niệm thiện chí và trung

thực có thể được chấp nhận, nhưng theo một cách cẩn trọng và không phải như một

nguyên tắc chủ đạo, xuyên suốt trong lĩnh vực hợp đồng. Ngoài ra, việc đưa vào

trong pháp luật Anh nguyên tắc thiện chí và trung thực được coi như một thách thức

đối với các nguyên tắc tự do ý chí hợp đồng, nó hạn chế các bên giao kết hợp đồng

trong việc theo đuổi lợi ích cá nhân. Đây có thể là lí do tại sao pháp luật Anh không

thừa nhận khái niệm thiện chí trung thực để thay thế các cơ chế trước đó. Chúng ta

có thể tìm thấy trong án lệ17 mà trong một bản án Director General of Fair Trading

v. First national Bank plc đã nêu rằng: “thiện chí và trung thực không phải là một

khái niệm giả tạo hoặc kỹ thuật, nhưng gợi nên một thực tế chân thực và cởi mở về

thương mại, một mặt nó có nghĩa là các điều khoản phải được thể hiện một cách đầy

đủ rõ ràng không có bất cứ trở ngại nào, với một tầm quan trọng thích đáng đối với

những trường hợp có thể chứng minh là bất lợi cho người sử dụng, mặt khác, nó yêu

cầu các nhà cung cấp, cho dù không cố ý hoặc vô thức, không được tận dụng lợi thế

từ các yếu tố cho thấy vị trí yếu hơn của người tiêu dùng trong việc đàm phán.18

2.1.2. Pháp luật của nước Pháp

Pháp là một nước có pháp luật thuộc hệ thống Civil law. Đây là hệ thống pháp

luật lớn nhất thế giới, được xây dựng trên nền tảng di sản của Luật La Mã (ius

civile), phát triển ở các nước Pháp, Đức và một số nước lục địa Châu Âu19. Trong

đó pháp luật của Pháp, Đức là quan trọng nhất và có ảnh hưởng lớn tới pháp luật

của các nước khác trong hệ thống pháp luật này. Hệ thống pháp luật của các nước

luật hiện nay

tại địa chỉ:

thế giới,

trên

17 Lê Hồng Hải, Tìm hiểu về một số pháp http://www2.hvcsnd.edu.vn/vn/Home/PrintArticle.aspx?print=true&zone=84&ArticleID=4245 18 Lê Nguyễn Gia Thiện, Những nguyên tắc cơ bản của các Bộ luật dân sự trên thế giới và kinh nghiệm cho Việt Nam, tại địa chỉ https://wikiluat.com/2017/11/03/nhung-nguyen-tac-co-ban-cua-cac-bo-luat-dan-su-tren- the-gioi-va-kinh-nghiem-cho-viet-nam/, truy cập ngày 03/10/2018 19 Nguyễn Anh Tuấn, Hai hệ thống pháp luật Commont Law và Civil Law năm 2016, tại địa chỉ http://viennccspt.hcma1.vn/nghien-cuu-hoc-thuat/hai-he-thong-phap-luat-common-law-va-civil-law-tac-gia:- nguyen-minh-tuan-a393.html

này nhìn chung đều chịu ảnh hưởng của Luật La Mã, luật vật chất được coi trọng

44

hơn luật thủ tục, luật tư là lĩnh vực pháp luật được chú trọng hơn cả. Họ pháp luật

này coi trọng văn bản quy phạm pháp luật và đã thoát ly khỏi tôn giáo, luân lý, đề

cao tự do cá nhân. Ngày nay, phạm vi ảnh hưởng của hệ thống Civil Law tương đối

rộng bao gồm các nước Châu Âu lục địa (Pháp, Đức, Italia…), Quebec (Canada),

Louisiana (Mỹ), Nhật Bản và một số nước Châu Mỹ Latinh (Brazin, Vênêduêla…).

Trong tư pháp quốc tế Pháp, bản án Lizardi đã quy định rằng một người Pháp

giao kết hợp đồng tại nước Pháp với một người nước ngoài mà người này “không

bắt buộc phải biết pháp luật của các quốc gia khác nhau, đặc biệt là khi các quy định

này liên quan đến thực hiện bởi người nước ngoài trong phạm vi năng lực dân sự

của họ; do đó hợp đồng có đầy đủ hiệu lực khi mà người Pháp đã giao kết không có

khinh suất, thận trọng và với tinh thần thiện chí”. Do vậy, niềm tin nhận thức và lỗi

có thể dung thứ được coi như “một nguồn đem lại giá trị cho một số tình huống

pháp lý mà không tuân theo cách áp dụng thông thường các quy phạm xung đột

pháp luật”20. Thiện chí và trung thực do đó giữ một vai trò đặc biệt trong việc đơn

giản hóa các mối quan hệ pháp luật: nếu không có giải pháp này, “các thương nhân

sẽ sẽ phải tìm hiểu quốc tịch của tất cả các đối tác giao kết hợp đồng với họ và đối

với những bên giao kết được xác nhận là nước ngoài, phải tìm hiểu về nội dung

pháp luật quốc gia đó”.

Điều 11 của Công ước Rôm ngày 19/6/1980 về xác định luật áp dụng đối với

nghĩa vụ hợp đồng “áp dụng giải pháp này bằng cách song phương hóa nó”21 Điều

khoản này quy định: “Trong một hợp đồng ký kết giữa các chủ thể của cùng một

quốc gia, một cá nhân có năng lực pháp luật theo pháp luật của nước đó chỉ được

viện dẫn việc không có năng lực pháp luật theo luật pháp khác khi, vào thời điểm

giao kết hợp đồng, bên giao kết đã biết việc không có năng lực pháp luật, hoặc

không biết điều này do sơ suất từ phía họ”. Sự hợp thức hóa một hành động, bằng

việc loại trừ áp dụng luật pháp quốc gia hủy bỏ hành động vì lý do thiếu năng lực

20 Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử, Phạm vi áp dụng của Công ước CISG cho Hợp đồng mua bán hàng hóa Quốc tế năm 2018, tại dịa chỉ: http: //tapchitoaan.vn/bai-viet/phap-luat/pham-vi-ap-dung-cua-cong-uoc-cisg- cho-hop-dong-mua-ban-hang-hoa-quoc-te, truy cập ngày 08/11/2018. 12. P.MAYER, V.HEUZE, Droit international prive’ – Tư pháp quốc tế, sđd, n0 525.

pháp luật, mang lại lợi ích không chỉ đối với bên giao kết người Pháp, mà còn đối

45

với bên giao kết người nước ngoài, bất kể hợp đồng được ký kết tại quốc gia nào,

miễn là hai bên giao kết ở đó. Dường như bên giao kết hợp đồng, nếu muốn thể hiện

việc không có năng lực pháp luật của mình có bổn phận chứng minh rằng tại thời

điểm giao kết hợp đồng, bên kia đã biết việc không co năng lực pháp luật của bên

này, hoặc không biết điều này do sơ suất từ phía họ. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng sự

viện dẫn đến “thiện chí và trung thực” trong giả định này hoàn toàn xuất phát từ học

thuyết: nó không xuất hiện trong các quy định của Công ước. Đáng lưu ý, theo pháp

luật của Pháp, đối với một số hợp đồng chuyên biệt, bên có nghĩa vụ cung cấp

thông tin còn phải tìm kiếm thông tin mà người thực hiện công việc kinh doanh

thông thường của mình biết và phải biết để cung cấp cho đối tác của mình. Như vậy,

nghĩa vụ cung cấp thông tin không chỉ giới hạn ở cung cấp thông tin đã có, mà còn

phải tìm kiếm thông tin cần thiết khác để cung cấp cho đối tác.

Tuy nhiên, ở các nước theo hệ thống pháp luật Civil law, có hai luồng quan

điểm khác nhau về cơ sở pháp lý cho việc quy trách nhiệm do vi phạm nghĩa vụ

cung cấp thông tin. Thứ nhất, theo pháp luật của Pháp, trách nhiệm do vi phạm

nghĩa vụ cung cấp thông tin được xác định theo trách nhiệm bồi thường thiệt hại

ngoài hợp đồng. Bởi vì, giữa hai bên chưa hình thành hợp đồng, nên việc xác định

trách nhiệm trong giai đoạn tiền hợp đồng phải dựa trên các nguyên tắc của trách

nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Thứ hai, theo pháp luật của Đức, dựa

trên nguyên tắc culpa in contrahendo, trách nhiệm do vi phạm nghĩa vụ cung cấp

thông tin là trách nhiệm theo hợp đồng. Theo nguyên tắc này, một bên không có

quyền tạo ra niềm tin về một hợp đồng sẽ được hình thành, nếu như bản thân họ

không mong muốn như vậy22. Bên có lỗi trong việc đàm phán phải chịu trách nhiệm

bồi thường do việc hợp đồng bị tuyên bố vô hiệu hoặc làm cho hợp đồng không

được thực hiện. Các bên tham gia đàm phán có nghĩa vụ đàm phán với tinh thần

trung thực và thiện chí.

Đi cụ thể vào nghĩa vụ cung cấp thông tin tiền hợp đồng thương mại tại một số

22 F. Kessler and E. Fine, “Culpa in contrahendo, bargain in good faith and freedom of contract: a comparative study”, (1964) 77 Harv.L.Rev. 401

hợp đồng cụ thể, ta thấy rằng: theo quy định của pháp luật Pháp về vấn đề nhà ở

46

hình thành trong tương lai, nếu hợp đồng mua bán quy định rõ kích thước, diện tích

bất động sản đem bán thì bên bán phải giao bất động sản đúng với số liệu nêu trong

hợp đồng, nếu bên mua yêu cầu. Nếu bên bán không thể giao đúng kích thước và

diện tích quy định hoặc nếu bên mua không yêu cầu giao đúng số liệu này và chấp

nhận hiện trạng bất động sản được giao thì bên bán phải giảm giá tương ứng với tỷ

lệ thiếu hụt. Nếu kích thước và diện tích bất động sản lớn hơn số liệu đã thỏa thuận

trong hợp đồng thì bên mua có thể lựa chọn giữa việc trả thêm tiền hoặc rút khỏi

hợp đồng nếu phần phụ trội bằng hoặc lớn hơn 1/20 số liệu đã thỏa thuận trong hợp

đồng. Bên mua rút khỏi hợp đồng thì bên bán phải hoàn lại cho bên mua tiền bán

vật nếu đã nhận và mọi chi phí liên quan đến hợp đồng. Như vậy, BLDS Pháp cho

phép bên bán được hưởng ngoại lệ về trách nhiệm nếu kích thước và diện tích bất

động sản tăng lên nhưng phần phụ trội nhỏ hơn 1/20 số liệu đã thỏa thuận. Thiết

nghĩ, trong các lĩnh vực kinh doanh hàm chứa nhiều rủi ro như kinh doanh bất động

sản, pháp luật cũng nên xem xét vấn đề trách nhiệm của bên bán khi có sự thay đổi

do hoàn cảnh một cách hợp lý để có cơ chế đảm bảo thực hiện hợp đồng công bằng,

hiệu quả. Bởi khi mở rộng quy định cũng là một cách để các bên khi giao kết hợp

đồng vẫn đảm bảo được các quyền và nghĩa vụ của mình, đảm bảo việc thực hiện

hợp đồng được dựa trên nguyên tắc thiện chí, trung thực.

2.2. Nghĩa vụ cung cấp thông tin giai đoạn tiền hợp đồng trong một số văn

bản quốc tế.

2.2.1. Bộ nguyên tắc pháp luật Châu Âu

Hơn cả việc áp dụng cho các điều ước nói chung, khái niệm thiện chí và trung

thực còn giữ một vai trò điều hòa rõ nét khi các điều ước quốc tế đã đề cập ấn định

chính xác về mục tiêu, ít nhiều rõ ràng, thể hiện sự thiện chí trong các mối quan hệ

giữa các cá nhân23. Những dự thảo học thuyết pháp điển hóa quốc tế hoặc của châu

Âu, đều sử dụng nguyên tắc thiện chí và trung thực cho mục đích này. Như M.Ole

23 Đỗ Văn Đại, Cần khôi phục lại phạm vi điều chỉnh của nguyên tắc “thiệc chí, trung thực” năm 2015, Báo điện tử Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, tại địa chỉ: http://baochinhphu.vn/Lay-y-kien-nhan-dan- ve-du-thao-Bo-luat-dan-su-sua-doi/Can-khoi-phuc-lai-pham-vi-dieu-chinh-cua-nguyen-tac-thien-chi-trung- thuc/218047.vgp, truy cập ngày 25/10/2018

LANDO đã viết: “Dưới ảnh hưởng của nhiều hệ thống luật, nhất là luật của Hà Lan,

47

Đức, Bộ nguyên tắc UNIDROIT đã dành một vị trí rất quan trọng cho nguyên tắc

thiện chí và trung thực. Trong mỗi văn bản này, nó được xếp vào vị trí của nguyên

tắc chung, bao trùm lên tất cả các giai đoạn của hợp đồng”. Như vậy, đối với bất kỳ

giai đoạn nào của hợp đồng, kể cả giai đoạn tiền hợp đồng, thì các hệ thống pháp

luật này đều quy định rõ về nghĩa vụ cung cấp thông tin của các bên khi tham gia

giao kết hợp đồng. Bộ luật châu Âu về hợp đồng, biên soạn bởi Viện Hàn lâm tư

pháp châu Âu Pavie trung thành với quan niệm thiện chí và trung thực, đồng thời

như vậy ta cũng có thể hiểu rằng nghĩa vụ cung cấp thông tin không chỉ có giá trị

xuyên suốt trong quá trình thực hiện hợp đồng mà nó còn giá trị đối với giai đoạn

tiền hợp đồng. Điều 10 của Hiệp ước Liên minh châu Âu (điều 5 cũ của Hiệp ước

Cộng đồng chung châu Âu) quy định các nước thành viên đồng thời một nghĩa vụ

phủ định – không áp dụng mọi biện pháp có thể gây tổn hại đến việc thực hiện

những mục tiêu của Hiệp ước. Chúng ta xem xét đến việc từ chối nghĩa vụ thông tin

của Ủy ban châu Âu quy định đối với các nước thành viên ở Điều 10: Tòa án cho

rằng sự từ chối hoặc thiếu thận trọng trong việc cung cấp những thông tin mà Ủy

ban yêu cầu, hoặc bỏ qua việc chuyển giao những chỉ dẫn cần thiết cho việc Ủy ban

kiểm tra sự tuân thủ những nghĩa vụ của các nước thành viên, là vi phạm nghĩa vụ

hợp tác được quy định tại Điều 5 của Hiệp ước. Mặc dù thuật ngữ thiện chí và trung

thực không được sử dụng một cách rõ ràng, mặc dù nguyên tắc này chỉ áp dụng cho

mối quan hệ giữa các nước thành viên và các cơ quan xét xử của Cộng đồng chung,

điều khoản này cũng đã tạo cho thiện chí và trung thực một cơ sở pháp lý đáng kể

trong cách nhìn nhận của Cộng đồng chung châu Âu. Nó cho phép thừa nhận ý

nghĩa gán cho nghĩa vụ chung này: đòi hỏi sự hợp tác trung thực giữa các thành

viên và sự trung thành với những cam kết đã ký. Mặt khác, về mặt học thuyết, đôi

khi người ta cũng nói đến việc áp dụng ở phạm vi châu Âu khái niệm của Đức: “sự

trung thành ở mức độ liên bang”. Do đó, thiện chí và trung thực “là một minh họa

cho mô hình liên bang và chính xác hơn là của nước Đức, nơi mà nguyên tắc này

không chỉ được hiểu như một nghĩa vụ đơn phương của những người xứ Lande đối

với chính quyền trung ương mà như một sự trung thành có nguồn gốc từ chính

quyền trung ương cũng như từ các bang đối với nguyên tắc của chính liên bang”. Sự

48

bắt buộc hợp tác áp dụng không chỉ đối với các quốc gia mà còn đối với các mối

quan hệ giữa các thể chế trong Liên minh châu Âu. Như vậy, ở các nước châu Âu,

nghĩa vụ cung cấp thông tin đã được quy định rõ ràng hơn, đặc biệt nó được quy

định cụ thể ngay trong giai đoạn đàm phán hợp đồng, nghĩa là ở giai đoạn tiền hợp

đồng. Tại điều 17 của Chỉ thị 93/13/CEE ngày 05 tháng 4 năm 1993 của Cộng đồng

kinh tế châu Âu đã quy định rõ rằng: “cho rằng việc đánh giá tính chất lạm dụng

của những điều khoản, theo những tiêu chí chung đã được quy định, nhất là trong

các hoạt động nghề nghiệp mang tính cộng đồng cung cấp các dịch vụ tập thể, có

tính đến tính liên đới giữa những người tiêu dùng, cần thiết phải được bổ sung bởi

một phương tiện đánh giá tổng quát những lợi ích khác nhau kéo theo, điều này tạo

nên đòi hỏi về thiện chí và trung thực; trong đánh giá sự thiện chí và trung thực cần

đặc biệt chú ý đến vị trí của các bên trong đàm phán, đến câu hỏi liệu người tiêu

dùng có bị thúc đẩy để chấp nhận một điều khoản bởi một lý do nào đó hay không,

hoặc liệu hàng hóa và dịch vụ đã bán hoặc cung cấp có phù hợp với yêu cầu cụ thể

của người tiêu dùng hay không, hoặc liệu hàng hóa hoặc dịch vụ đã bán hoặc cung

cấp có phù hợp với yêu cầu cụ thể của người tiêu dùng hay không, yêu cầu về thiện

chí và trung thực có thể được thỏa mãn bởi một người chuyên nghiệp trong việc giải

quyết theo một cách trung thực và công bằng với bên kia, trong đó phải tính đến

những lợi ích hợp pháp của họ”. Như vậy, trong pháp luật châu Âu, ngay từ giai

đoạn đàm phán, để tránh thiệt hại tối thiểu nhất cho hai bên khi giao kết hợp đồng,

pháp luật đã đưa ra những quy định cụ thể, dựa trên nguyên tắc thiện chí, trung thực

và công bằng.

Trong các quy định chung về hợp đồng dịch vụ của Nguyên tắc luật Châu Âu,

tại Điều 1:103[4] ghi nhận cụ thể về nghĩa vụ cảnh báo tiền hợp đồng của bên cung

ứng dịch vụ và bên thuê dịch vụ. Nghĩa vụ cảnh báo tiền hợp đồng bao gồm các nội

dung:

Thứ nhất, quy định về nghĩa vụ cảnh báo tiền hợp đồng của bên cung ứng

dịch vụ, trường hợp miễn không áp dụng nghĩa vụ này đối với bên cung ứng dịch vụ

cũng như hậu quả pháp lý khi bên cung ứng dịch vụ vi phạm nghĩa vụ này của mình.

Bên cung ứng dịch vụ có nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ cảnh báo tiền hợp đồng trong

49

các trường hợp cụ thể nhất định. Tại khoản (1) của Điều luật ghi nhận rằng bên

cung ứng dịch vụ có nghĩa vụ cảnh báo khi bản thân chủ thể này biết hoặc phải biết

những rủi ro khi cung ứng dịch vụ trong ba trường hợp cụ thể: Không đạt được kết

quả như đã thỏa thuận hoặc dự liệu đối với khách hàng; có thể gây thiệt hại khác

cho lợi ích của khách hàng; hoặc có thể làm tăng chi phí hoặc tăng thời gian so với

dự kiến hợp lý ban đầu đã thỏa thuận với khách hàng. Xuất phát từ bản chất của

dịch vụ là các công việc được thực hiện chuyên nghiệp, mang tính chất ngành nghề

kinh doanh, ngành nghề hoạt động hoặc nghề nghiệp của cá nhân, nên khi trở thành

người cung ứng dịch vụ, chủ thể này được kỳ vọng và tin tưởng là người thực hiện

công việc chuyên nghiệp và có chuyên môn. Chính vì thế nên bên cung ứng dịch vụ

được coi là có kinh nghiệm trong việc dự đoán, nắm bắt và xử lý các rủi ro có thể

xảy ra trong quá trình cung ứng dịch vụ.

Tuy nhiên, nhà làm luật của Châu Âu cũng đã dự liệu trường hợp không áp

dụng nghĩa vụ cảnh báo tiền hợp đồng cho bên cung ứng dịch vụ. Theo ghi nhận tại

khoản (2) của Điều luật này, nghĩa vụ cảnh báo tiền hợp đồng sẽ không được áp

dụng khi khách hàng: Hoàn toàn biết các rủi ro có thể xảy ra trong các trường hợp

áp dụng nghĩa vụ cảnh báo tiền hợp đồng; và có cơ sở để biết về những rủi ro có thể

gặp phải khi dịch vụ được thực hiện. Như vậy, khi bản thân khách hàng bằng nhận

thức của mình hoặc có cơ sở để khẳng định rằng họ nhận thức được các rủi ro có thể

xảy ra trong quá trình thực hiện dịch vụ thì bên cung ứng dịch vụ sẽ không phải

thực hiện nghĩa vụ cảnh báo của mình. Điều đó cho thấy, nghĩa vụ cảnh báo tiền

hợp đồng của Bên cung ứng dịch vụ nhằm bảo vệ khách hàng trong trường hợp mặc

định hiểu rằng, khách hàng là người không có đủ kinh nghiệm và chuyên môn để

nhận biết trước các rủi ro khi so sánh với bên cung ứng dịch vụ - người thực hiện

dịch vụ chuyên nghiệp.

Khi bên cung ứng dịch vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa

vụ của mình dẫn đến những rủi ro xảy ra thì bên thuê dịch vụ có quyền: Không chấp

nhận thay đổi dịch vụ theo như nguyên tắc được quy định tại Điều 1:111. Tuy nhiên,

bản thân trường hợp này cũng có ngoại lệ. Khi bên cung ứng dịch vụ chứng minh

được khách hàng đã được cảnh báo đầy đủ nhưng vẫn chấp nhận tham gia vào hợp

50

đồng; và khách hàng có quyền tự mình khắc phục thiệt hại như tại trường hợp đã

được ghi nhận trong Điều 4:117 (2) và (3) của hợp đồng dịch vụ trong Nguyên tắc

luật Châu Âu. Như vậy, các quy định chung của hợp đồng dịch vụ trong Nguyên tắc

luật Châu Âu đã tạo nên thế chủ động đối phó của bên thuê dịch vụ đối với các tình

huống có thể xảy ra và nguyên nhân sâu xa là sẽ giảm thiểu được thiệt hại cho bản

thân mình.

Thứ hai, hợp đồng dịch vụ trong Nguyên tắc luật Châu Âu quy định nghĩa vụ

cảnh báo tiền hợp đồng của bên thuê dịch vụ và những hậu quả pháp lý đặt ra khi

chủ thể này có hành vi phạm nghĩa vụ của mình. Khi bên thuê dịch vụ biết và phải

biết được các sự kiện bất thường mà sự kiện này là nguyên nhân tăng chi phí dịch

vụ hoặc kéo dài thời gian thực hiện dịch vụ thì phải có nghĩa vụ cảnh báo cho bên

cung ứng dịch vụ. Trường hợp này thường áp dụng khi điều kiện khách quan có

thay đổi bất thường mà chỉ có bên thuê dịch vụ mới biết. Nội dung này được ghi

nhận tại khoản (4) của Điều luật 1:103.

Bên thuê dịch vụ khi có hành vi vi phạm nghĩa vụ cảnh báo tiền hợp đồng thì

bên thuê dịch vụ cũng phải gánh chịu những trách nhiệm pháp lý bất lợi cho mình.

Tại khoản (5) của Điều 1:103, nhà làm luật quy định: (a) Bên cung ứng dịch vụ

không phải gánh chịu thiệt hại xảy ra khi dịch vụ không thể thực hiện được do sự

kiện bất thường mà Bên cung ứng dịch vụ không được cảnh báo đầy đủ; (b) Bên

cung ứng dịch vụ có quyền điều chỉnh thời gian thực hiện dịch vụ trên cơ sở yêu

cầu thực tế. Điều đó có thể hiểu, khi thiệt hại xảy ra do lỗi của bên thuê dịch vụ

không thông báo sự kiện bất thường ảnh hưởng trực tiếp thực hiện dịch vụ thì chính

chủ thể này sẽ phải gánh chịu thiệt hại, không được bên cung ứng dịch vụ bồi

thường hoặc chịu sự điều chỉnh thời gian từ phía chủ thể này.

Thứ ba, hợp đồng dịch vụ trong Nguyên tắc luật Châu Âu đưa ra căn cứ để

xác định nghĩa vụ tiền hợp đồng của Bên cung ứng dịch vụ và Bên thuê dịch vụ.

Theo đó, tại khoản (6) Điều 1:103, bên cung ứng dịch vụ khi có đầy đủ ba yêu cầu:

Biết về những rủi ro rõ ràng trong trường hợp những rủi ro đấy được xác định trên

cơ sở kinh nghiệm cung ứng dịch vụ trong cùng điều kiện, hoàn cảnh của mình hoặc

những nhà cung ứng cùng loại; thông tin được thu thập từ yêu cầu kết quả của

51

khách hàng; và điều kiện cụ thể để thực hiện dịch vụ thì bên cung ứng phải thực

hiện nghĩa vụ cảnh báo. Việc quy định minh thị về điều kiện xác định phải có nghĩa

vụ cảnh báo của bên cung ứng dịch vụ là một bước tiến lớn bởi theo quan niệm

truyền thống thông thường, các yếu tố như kinh nghiệm, chuyên nghiệp, chuyên

môn, trách nhiệm của nhà cung ứng dịch vụ… đều là các vấn đề khó định lượng,

khó xác định. Những điều kiện này sẽ cơ sở pháp lý trong việc xác định nghĩa vụ

cảnh báo tiền hợp đồng của bên cung ứng dịch vụ.

Hợp đồng dịch vụ trong Nguyên tắc luật Châu Âu làm rõ điều kiện “có cơ sở

để nhận thức” của bên thuê khách hàng khi chủ thể này có nghĩa vụ cảnh báo tới

bên cung ứng dịch vụ. Người thuê dịch vụ không được coi là biết hoặc buộc phải

biết về rủi ro chỉ đơn thuần do người đó có chuyên môn, trình độ hoặc được tư vấn

bởi người có chuyên môn, trình độ trong lĩnh vực có liên quan, trừ trường hợp

người đó là đại diện cho khách hàng trong trường hợp sử dụng dịch vụ tương tự. Từ

quy định này cho thấy, yêu cầu đối với bên thuê dịch vụ trong nghĩa vụ cảnh báo đặt

ra thấp hơn so với Bên cung ứng dịch vụ. Điều này xuất phát từ quan niệm của các

nhà làm luật về tính chất dịch vụ cũng như trách nhiệm của bên thực hiện công việc

chuyên nghiệp, có chuyên môn và giàu kinh nghiệm là bên cung ứng dịch vụ.

Nguyên tắc luật hợp đồng Châu Âu nói chung và Hợp đồng dịch vụ trong

Nguyên tắc luật Châu Âu nói riêng được đánh giá là bộ nguyên tắc về hợp đồng tiên

tiến theo kịp hơi thở hiện đại của các giao dịch kinh tế hiện nay. Những quy định

nằm trong bộ nguyên tắc này có giá trị tham khảo lớn đối với pháp luật của nhiều

quốc gia, khu vực trên thế giới, trong đó có Việt Nam.

2.2.2. Công ước Viên

Trong nguồn luật quốc tế áp dụng đối với hợp đồng, chủ yếu là trong công ước

Viên ngày 11 tháng 4 năm 1980 về mua bán hàng hóa quốc tế xuất hiện khái niệm

“thiện chí và trung thực”. Khái niệm này được sử dụng rất nhiều trong Công ước.

Tuy vậy, vai trò của nó có tính hai chiều: Công ước không bao gồm điều khoản quy

định nghĩa vụ thiện chí và trung thực trong việc thực hiện hợp đồng. Công ước Viên

không nhìn nhận một cách rõ ràng khái niệm thiện chí và trung thực như là một

52

nguyên tắc cơ bản của pháp luật hợp đồng. Nếu điều 7 trong Công ước quy định

rằng trong việc giải thích Công ước, thiện chí và trung thực phải được ưu tiên, điều

khoản này không bắt buộc các bên một nghĩa vụ thiện chí thực sự. Dường như điều

khoản này là kết quả của một thỏa thuận giữa đại diện các nước civil law, khuyến

khích việc thừa nhận nghĩa vụ thiện chí và trung thực, và đại diện các nước

common law, đối lập một cách mạnh mẽ với giải pháp này. Như vậy có thể hiểu, đối

với một số người, nếu không có một quy định rõ ràng cho các bên về nghĩa vụ thiện

chí và trung thực, hiểu một cách đơn giản rằng nghĩa vụ này không tồn tại. Ngược

lại, với một số khác, nguyên tắc này không cần phải thể hiện trong văn bản để được

chấp nhận: nguyên tắc chung về thiện chí và trung thực sẽ được hiểu một cách

ngầm định. Giữa hai quan điểm này, một xu hướng chung cho rằng một nghĩa vụ

như vậy được ngầm ẩn trong một số điều khoản cụ thể của Công ước, đến mức có

thể coi đây là một trong những nguyên tắc cơ bản mà dựa trên đó Công ước được

thành lập24.

Cách giải thích sau cùng rất được quan tâm. Thực tế khái niệm thiện chí và

trung thực xuất hiện một cách không chính thức trong rất nhiều điều khoản của

Công ước. Ví dụ ở Điều 29.2: “một hợp đồng bằng văn bản chứa đựng một điều

khoản quy định rằng mọi sự sửa đổi hoặc chấm dứt hợp đồng phải được các bên

làm bằng văn bản thì không thể bị sửa đổi hay chấm dứt theo thỏa thuận giữa các

bên dưới một hình thức khác”. Tuy nhiên hành vi của các bên có thể không cho

phép họ được viện dẫn điều khoản ấy trong chừng mực nếu bên kia căn cứ vào hành

vi này. Nó cũng được đề cập trong Điều 35.3: “Người bán không chịu trách nhiệm

về việc giao hàng không đúng hợp đồng như đã nêu trong các điểm từ a đến d của

khoản trên nếu như người mua đã biết hoặc không thể không biết về việc hàng

không phù hợp vào lúc ký kết hợp đồng”.

Điều 77 liên quan đến nghĩa vụ hạn chế thiệt hại, có thể xuất hiện như sự giải

thích một nguyên tắc chung về thiện chí và trung thực giữa các bên giao kết hợp

24 Nguyễn Minh Tuấn, Tập bài giảng Lịch sử Nhà nước và pháp luật thế giới, NXB chính trị Quốc gia, Hà Nội, năm 2007.

đồng: “Bên nào viện dẫn sự vi phạm hợp đồng của bên kia thì phải áp dụng những

53

biện pháp hợp lý căn cứ vào các tình huống cụ thể để hạn chế tổn thất, kể cả khoản

lợi bị bỏ lỡ do sự vi phạm hợp đồng gây ra. Nếu họ không làm theo điều đó, bên vi

phạm hợp đồng có thể yêu cầu giảm bớt một khoản tiền bồi thường thiệt hại bằng

với mức tổn thất đáng lẽ đã có thể hạn chế được”. Cuối cùng, điều 80 của Công ước

quy định rằng: “một bên không được viện dẫn một sự không thực hiện nghĩa vụ đó

là do những hành vi hay sơ suất của chính họ”. Điều khoản sau cùng này đòi hỏi sự

thiện chí và trung thực từ phía bên có nghĩa vụ: bên này không được viện dẫn lỗi

nhẹ hơn của bên có quyền để giải phóng khỏi việc thực hiện nghĩa vụ của mình.

Thiện chí cũng được xem như một định hướng giải thích toàn bộ Công ước:

việc giải thích phải “đảm bảo sự tôn trọng nguyên tắc thiện chí trong thương mại

quốc tế”. Điều khoản này dẫn đến điều không phải tranh cãi “một sự linh hoạt nhất

định trong các quy định của Công ước”. Khái niệm thiện chí và trung thực xuất hiện

như một thuật ngữ thuộc phạm trù đạo đức, sử dụng cho mục đích điều tiết đời sống

kinh doanh. Nếu sự tự do của các bên trong giao kết hợp đồng là chủ đạo trong nền

kinh tế thị trường, thì sự tự do của nhóm người này phải hài hòa với sự tự do của

nhóm người khác: thiện chí và trung thực hiện diện như là một trong những khái

niệm điều tiết góp phần vào sự cùng tồn tại này.

2.3. Nhận xét rút ra từ nghiên cứu quy định pháp luật của một số nước và

văn bản quốc tế về nghĩa vụ cung cấp thông tin tiền hợp đồng thương mại

Việc phân tích các hệ thống pháp luật khác nhau chỉ ra rằng sự phân biệt giữa

thiện chí, trung thực khách quan và thiện chí, trung thực chủ quan cuối cùng là vấn

đề xuyên suốt, thừa nhận sự cộng hưởng ít hay nhiều quan trọng trong mọi hệ thống

luật. Tuy nhiên, thiện chí và trung thực trong ý nghĩa chủ quan dường như không

bao giờ là nguồn gốc phát sinh những khó khăn. Chỉ có thiện chí và trung thực

trong ý nghĩa khách quan đã và đang làm dấy lên nghi ngờ và e ngại, đặc biệt là một

số quốc gia thuộc hệ thống common law. Như vậy đối với giai đoạn tiền hợp đồng

thương mại ở các nước cũng có những bất đồng, đặc biệt là ở nguyên tắc thiện chí

và trung thực. Tuy nhiên, dù có quy định như thế nào đi chăng nữa thì giai đoạn tiền

hợp đồng vẫn là giai đoạn có giá trị pháp lý đặc biệt quan trọng. Do vậy, luật pháp

của các nước trên thế giới và tại hệ thống pháp luật điển hình vẫn luôn đề cao

54

nguyên tắc thiện chí, trung thực để bảo đảm quyền và lợi ích của các bên khi tham

gia giao kết hợp đồng. So sánh với các quy định của pháp luật Việt Nam, pháp luật

của các nước trên thế giới có quy định rõ ràng, cụ thể hơn về loại thông tin cần phải

cung cấp; và ngoài việc áp dụng chế tài bồi thường thiệt hại thực tế phát sinh do

hành vi vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin, bên bị vi phạm còn có quyền tuyên bố

hủy hợp đồng hoặc tuyên bố hợp đồng vô hiệu khi bên có nghĩa vụ cố tình không

cung cấp thông tin hoặc cố tình cung cấp thông tin không chính xác, chứ không chỉ

giới hạn trong trường hợp hành vi vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin cấu thành vi

phạm cơ bản hợp đồng. Các quy định này giúp làm rõ nội dung của nguyên tắc

trung thực và thiện chí trong giai đoạn tiền hợp đồng, bảo vệ quyền, lợi ích chính

đáng của các bên tham gia đàm phán hợp đồng và đảm bảo tính ổn định, chắc chắn

của hợp đồng giữa các bên.

Chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ các nước thuộc hệ thống pháp luật Civil law, các nhà

lập pháp của Việt Nam đã luôn coi trọng nguyên tắc trung thực, thiện chí trong việc

điều chỉnh các mối quan hệ dân sự. Quy định về trung thực, thiện chí trong pháp

luật Việt Nam nằm trong Điều 3 của BLDS 2015 quy định về các nguyên tắc cơ

bản: “Cá nhân, pháp nhân phải xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân

sự của mình một cách thiện chí, trung thực”. Ngoài ra, BLDS 2015 cũng đã loại bỏ

quy định về các nguyên tắc giao kết hợp đồng dân sự, trong đó có nguyên tắc trung

thực, thiện chí. Tuy nhiên, việc này không thực sự ảnh hưởng tới vai trò của nguyên

tắc trung thực, thiện chí như một nguyên tắc cơ bản. BLDS 2015 quy định trách

nhiệm trung thực, thiện chí trong giai đoạn xác lập quyền, nghĩa vụ dân sự, thể hiện

rõ ràng yêu cầu trách nhiệm trung thực, thiện chí đối với các bên trong giai đoạn

tiền hợp đồng.

Sự quan trọng của trách nhiệm trung thực, thiện chí trong giai đoạn tiền hợp

đồng được thể hiện trực tiếp qua quy định tại Điều 387 về nghĩa vụ thông tin trong

giao kết. Nghĩa vụ cung cấp thông tin “ảnh hưởng đến việc giao kết” chính là biểu

hiện của trung thực; nghĩa vụ bảo mật thông tin, “không sử dụng thông tin bí mật

cho mục đích riêng hoặc mục đích trái pháp luật” cũng chính là biểu hiện của thiện

chí. Việc quy định về nghĩa vụ bồi thường của bên vi phạm tại khoản 3 là một quy

55

định thỏa đáng, quy định này sẽ đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các bên

trong giai đoạn tiền hợp đồng25.

Tiểu kết chương 2: Như vậy, khi nghiên cứu nghĩa vụ cung cấp thông tin tiền

hợp đồng thương mại ở một số quốc gia có hệ thống pháp luật điển hình và một số

hệ thống pháp luật trên thế giới, sẽ thấy được vai trò rất quan trọng của thiện chí và

trung thực trong giai đoạn tiền hợp đồng nói chung và tiền hợp đồng thương mại nói

riêng. Đồng thời, qua đó thấy được sự phát triển của pháp luật Việt Nam trong quá

trình hình thành nghĩa vụ cung cấp thông tin tiền hợp đồng, bảo đảm cho quyền và

25 Vũ Thị Ngọc Huyền & Trần Thị Minh Phương – Đại học Kinh tế - Luật, ĐHQG TP. HCM.

lợi ích của các bên trước khi tham gia ký kết hợp đồng thương mại.

56

CHƯƠNG 3. NGHĨA VỤ CUNG CẤP THÔNG TIN GIAI ĐOẠN TIỀN HỢP

ĐỒNG THƯƠNG MẠI TRONG PHÁP LUẬT VIỆT NAM

Ở Việt Nam, nghĩa vụ cung cấp thông tin giai đoạn tiền hợp đồng thương mại

được biết đến muộn hơn so với các nước trên thế giới. Lần đầu tiên nó được ghi

nhận trong Bộ luật hàng hải năm 1990 và tiếp đến là Bộ luật dân sự 1995 và Luật

kinh doanh bảo hiểm 2000. Cho đến nay các quy định này cũng đã nảy sinh những

bất cập và thực tiễn áp dụng có rất nhiều vướng mắc. Vì vậy, nghiên cứu vấn đề này

để tìm ra giải pháp toàn diện nhằm giải quyết gốc rễ các bất cập hiện tại liên quan

đến nghĩa vụ cung cấp thông tin là cần thiết.

3.1. Quy định và thực tiễn áp dụng quy định về nghĩa vụ cung cấp thông tin

giai đoạn tiền hợp đồng

3.1.1. Những quy định chung

Ở các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam, trong giai đoạn tiền hợp

đồng, các bên không bị ràng buộc bởi bất kỳ một thỏa thuận nào liên quan đến quy

trình việc ký kết hợp đồng. Quá trình đàm phán hợp đồng luôn được cho rằng là

một quy trình thông thường, chủ yếu dựa trên tình hình thực tế và các quy tắc đạo

đức được tạo ra trong hoạt động kinh doanh. Do đó, pháp luật ít khi can thiệp vào

quy trình này và thường không áp đặt bất kỳ nghĩa vụ bắt buộc nào đối với các bên,

cũng như cách thức mà các quy trình này được tiến hành. Do đó, thông tin là cơ sở

để đảm bảo nguyên tắc tự do, tự nguyện trong giao kết hợp đồng thương mại. Trước

khi tiến hành giao kết hợp đồng thương mại, các bên phải có đầy đủ các thông tin

của nhau, đồng thời cung cấp cho nhau những thông tin cần thiết, qua đó giúp các

bên có được những quyết định chính xác khi giao kết hợp đồng, hạn chế mức tối đa

nhất những thiệt hại xảy ra.

Trong giao kết hợp đồng thương mại, nghĩa vụ cung cấp thông tin giữ một vị

trí vô cùng quan trọng. Chính nhờ vào các thông tin được cung cấp mà các bên có

thể đánh giá, dự đoán được các rủi ro có thể xảy ra, giúp các bên hạn chế tối đa nhất

thiệt hại đối với mình., đồng thời nó bảo vệ sự công bằng và lợi ích chính đáng của

các bên tham gia hợp đồng.

57

Nghĩa vụ cung cấp thông tin trong hợp đồng thương mại không được quy định

riêng biệt trong một chương nhất định, mà nó được quy định rải rác ở một số điều

luật cụ thể, liên quan đến một hoạt động thương mại cụ thể. Trong Bộ luật dân sự,

thì các nội dung thông tin cần cung cấp cũng chỉ được quy định chung. Như tại

Điều 323 BLDS quy định về Quyền của bên nhận thế chấp “Yêu cầu bên thế chấp

phải cung cấp thông tin về thực trạng tài sản thế chấp”26, song song với nó là quy

định về Nghĩa vụ của bên thế chấp được quy định tại Điều 320 “Cung cấp thông tin

về thực trạng tài sản thế chấp cho bên nhận thế chấp”27.

Quy định như vậy cũng chỉ là mang tính chung chung, yêu cầu các bên thế

chấp phải cung cấp thông tin cho bên nhận thế chấp, mà không quy định rõ các

thông tin đó là thông tin gì, việc cung cấp thông tin không đầy đủ, chính xác thì sẽ

gây ra hậu quả ra sao và các bên sẽ chịu hậu quả đó như thế nào? Việc bồi thường

thiệt hại sẽ được xử lý như thế nào? Đây cũng là một nội dung mà cần phải làm rõ

và có những quy định cụ thể hơn. Có như vậy thì mới có sự ràng buộc chặt chẽ giữa

các bên, đồng thời với những chế tài xử phạt cũng sẽ làm cho các bên có sự thận

trọng và cân nhắc khi thực hiện nghĩa vụ cung cấp thông tin của mình.

Cụ thể hơn, tại Điều 366 BLDS quy định về nghĩa vụ cung cấp thông tin và

chuyển giao giấy tờ: “Người chuyển giao quyền yêu cầu phải cung cấp thông tin

cần thiết, chuyển giao giấy tờ có liên quan cho người thế quyền” 28. Đây cũng là

một quy định cần có sự hiểu sâu và rõ trong quá trình thực hiện hợp đồng. Vì thực

tế, trong việc chuyển giao giấy tờ, thì người chuyển giao quyền yêu cầu phải thực

hiện việc cung cấp thông tin. Và nghĩa vụ cung cấp thông tin sẽ thuộc về người

chuyển giao giấy tờ. Tuy nhiên, thông tin cần thiết là những thông tin gì và hiểu

như thế nào cũng là một vấn đề khó khăn cho các bên khi tham gia giao kết hợp

đồng. Bởi lẽ, khi có tranh chấp xảy ra sẽ rất khó để xác nhận và chứng minh thông

tin như thế nào là cần thiết. Quy định trong BLDS chỉ là những quy định chung

chung, không quy định rõ ràng, cụ thể, mà có lẽ khi đi vào từng luật chuyên ngành

26 Khoản 2 Điều 323 BLDS 2015 27 Khoản 5 Điều 320 BLDS 2015 28 Khoản 1 Điều 366 BLDS 2015

thì nghĩa vụ cung cấp thông tin mới được chi tiết, rõ ràng hơn. Việc cung cấp thông

58

tin trong giao kết hợp đồng cũng được quy định cụ thể và chi tiết hơn tại Điều 387

BLDS quy định về thông tin trong giao kết hợp đồng: “Trường hợp một bên có

thông tin ảnh hưởng đến việc chấp nhận giao kết hợp đồng của bên kia thì phải

thông báo cho bên kia biết”29. Như vậy, khi giao kết hợp đồng, nếu có thông tin ảnh

hưởng đến việc chấp nhận giao kết hợp đồng thì các bên phải thông báo cho nhau

biết, đồng thời điều luật cũng quy định rõ hơn: “Trường hợp một bên nhận được

thông tin bí mật của bên kia trong quá trình giao kết hợp đồng thì có trách nhiệm

bảo mật thông tin và không được sử dụng thông tin đó cho mục đích riêng của mình

hoặc cho mục đích trái pháp luật khác”30. Điều này cũng tránh được những rủi ro

nhất định và giúp cho hai bên có được sự thống nhất, đồng thời là cơ sở để giải

quyết các tranh chấp phát sinh.

Nghiên cứu Điều 443 BLDS về nghĩa vụ cung cấp thông tin và hướng dẫn sử

dụng cũng có quy định “Bên bán có nghĩa vụ cung cấp cho bên mua cần thiết về tài

sản mua bán và hướng dẫn cách sử dụng tài sản đó; nếu bên bán không thực hiện

nghĩa vụ này thì bên mua có quyền yêu cầu bên bán phải thực hiện trong một thời

hạn hợp lý; nếu bên bán vẫn không thực hiện làm cho bên mua không đạt được mục

đích giao kết hợp đồng thì bên mua có quyền hủy bỏ hợp đồng và yêu cầu bồi

thường thiệt hại”. Như vậy ta thấy rằng Điều 443 BLDS đã có quy định cụ thể và

chi tiết hơn. Việc thực hiện nghĩa vụ cung cấp thông tin phải được yêu cầu ngay

trong giai đoạn đầu trước khi hai bên giao kết hợp đồng mua bán. Đồng thời kèm

theo đó là chế tài phạt vi phạm nếu bên bán không thực hiện nghĩa vụ của mình.

Đây cũng là một quy định có tính gợi mở giải quyết được vấn đề triệt để hơn. Vì

thực tế bên cạnh quyền hủy bỏ hợp đồng thì bên bán vẫn phải bồi thường thiệt hại

cho bên mua nếu bên mua có yêu cầu. Quy định này ràng buộc và có phần bảo vệ

quyền lợi của bên mua, hạn chế được những tranh chấp và có hướng giải quyết

được triệt để khi có tranh chấp xảy ra.

3.1.2. Quy định trong một số lĩnh vực thương mại cụ thể

29 Khoản 1 Điều 387 BLDS 2015 30 Khoản 2 Điều 387 BLDS 2015

a. Trong lĩnh vực mua bán hàng hóa

59

Mua bán hàng hoá là hoạt động thương mại, theo đó bên bán có nghĩa vụ

giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận thanh toán; bên

mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hoá theo

thỏa thuận. Đối với hoạt động mua bán hàng hóa, Luật được áp dụng là Luật thương

mại 2005. Nếu Luật thương mại 2005 không điều chỉnh thì áp dụng quy định của

Bộ luật dân sự 2015. Đồng thời liên quan đến nghĩa vụ cung cấp thông tin trong lĩnh

vực mua bán hàng hóa ta cần phải quan tâm đến Luật chất lượng sản phẩm hàng hóa.

Khi hai bên giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa, ngoài thông tin bên bán phải cung

cấp cho bên mua về tài sản mua bán và hướng dẫn cách sử dụng31, Luật chất lượng

sản phẩm, hàng hóa còn quy định rõ về nghĩa vụ của người sản xuất: “Thể hiện các

thông tin về chất lượng trên nhãn hàng hóa, bao bì, trong tài liệu kèm theo hàng hóa

theo quy định của pháp luật về nhãn hàng hóa; thông tin trung thực về chất lượng

sản phẩm, hàng hóa; cung cấp thông tin về việc bảo hành và thực hiện việc bảo

hành sản phẩm, hàng hóa cho người mua, người tiêu dùng”32. Như vậy ta thấy rằng,

Luật chất lượng sản phẩm, hàng hóa đã bổ sung và quy định rõ hơn cho Luật

thương mại và BLDS về thông tin giai đoạn tiền hợp đồng thương mại. Ngoài nghĩa

vụ bên bán phải cung cấp thông tin cho bên mua, người sản xuất còn phải có nghĩa

vụ cung cấp các thông tin về sản phẩm trên nhãn hàng hóa bao bì. Như vậy, các

thông tin công khai của nhà sản xuất sẽ giúp cho bên mua sản phẩm tiếp nhận được

các thông tin cần thiết ngoài thông tin mà bên bán cung cấp cho mình. Tuy nhiên

thông tin trung thực được quy định trong điều luật này cũng khiến cho tác giả phải

suy nghĩ. Liệu thông tin mà người sản xuất cung cấp được đánh giá về độ trung thực

theo tiêu chí nào, căn cứ vào đâu để người mua có thể đánh giá được độ trung thực

đó. Điều 12 của Luật này cũng quy định về nghĩa vụ của người nhập khẩu, trong đó

cũng nêu rõ nghĩa vụ cung cấp thông tin của người nhập khẩu “Thông tin trung thực

về chất lượng sản phẩm, hàng hóa; cung cấp thông tin về việc bảo hành và thực hiện

việc bảo hành hàng hóa cho người bán hàng, người sử dụng” 33. Tại Điều 16 của

31 Điều 443 BLDS 2015 32 Khoản 2, 3, 6 Điều 10 Luật chất lượng sản phẩm hàng hóa 26 Khoản 3, 7 Điểu 12 Luật chất lượng sản phẩm hàng hóa

Luật cũng quy định về nghĩa vụ của người bán hàng: “Thông tin trung thực về chất

60

lượng sản phẩm, hàng hóa; cung cấp thông tin về việc bảo hành hàng hóa cho người

mua; Cung cấp tài liệu, thông tin về hàng hoá bị kiểm tra cho kiểm soát viên chất

lượng, đoàn kiểm tra, cơ quan kiểm tra chất lượng sản phẩm, hàng hoá; Kịp thời cung

cấp thông tin về nguy cơ gây mất an toàn của hàng hoá và cách phòng ngừa cho

người mua khi nhận được thông tin cảnh báo từ người sản xuất, người nhập khẩu;

Kịp thời dừng bán hàng, thông tin cho người sản xuất, người nhập khẩu và người

mua khi phát hiện hàng hoá gây mất an toàn hoặc hàng hoá không phù hợp với tiêu

chuẩn công bố áp dụng, quy chuẩn kỹ thuật tương ứng”. Từ việc phân tích các quy

định của pháp luật về hàng hóa không đảm bảo chất lượng và hàng hóa có khuyết

tật ở các mục trên. Tác giả nhận thấy, các nhà làm luật đang muốn hướng đến một ý

nghĩa chung là dù không đảm bảo chất lượng hay hàng hóa có khuyết tật thì đều có

kết quả là hàng hóa không đúng như cam kết, lợi ích hoặc những giá trị khác như

các bên đã thỏa thuận mà gây thiệt hại thì phải bồi thường. Tuy nhiên, đã là luật

pháp thì không thể quy định chung chung dẫn đến mỗi người có một cách hiểu khác

nhau, mỗi người sử dụng một khái niệm khác nhau, thể hiện sự không thống nhất

trong cách làm luật dẫn đến sự bất cập trong thực tiễn.

b. Trong lĩnh vực bảo hiểm:

ơ

Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2000 có quy định về nghĩa vụ cung cấp thông

tin: “Khi giao kết hợp đồng bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm có trách nhiệm cung

cấp đầy đủ thông tin liên quan đến hợp đồng bảo hiểm, giải thích các điều kiện, điều

khoản bảo hiểm cho bên mua bảo hiểm; bên mua bảo hiểm có trách nhiệm cung cấp

đầy đủ thông tin liên quan đến đối tượng bảo hiểm cho doanh nghiệp bảo hiểm. Các

bên chịu trách nhiệm về tính chính xác, trung thực của thông tin đó. Doanh nghiệp

bảo hiểm có trách nhiệm giữ bí mật về thông tin do bên mua bảo hiểm cung cấp”34.

Như vậy doanh nghiệp bảo hiểm có trách nhiệm cung cấp đầy đủ thông tin liên

quan đến hợp đồng bảo hiểm, giải thích các điều kiện, điều khoản bảo hiểm cho bên

mua bảo hiểm; còn bên mua bảo hiểm có trách nhiệm cung cấp đầy đủ thông tin liên

34 Điều 19, khoản 1 Luật kinh doanh bảo hiểm

quan đến đối tượng bảo hiểm cho doanh nghiệp bảo hiểm. Ở quy định này, nghĩa vụ

61

giữa các bên đã được nêu ra những chưa thực sự rõ ràng, cụ thể. Khái niệm về

thông tin “đầy đủ” không được làm rõ, người mua bảo hiểm không thể biết được họ

đã cung cấp thông tin về đối tượng bảo hiểm hay chưa, còn các công ty bảo kiểm thì

băn khoăn liệu họ đã giải thích đầy đủ cho bêm mua bảo hiểm hay chưa? Giới hạn

về phạm vi thông tin phải cung áp cũng không được làm rõ trong Luật KDBH năm

2000, cũng như trong Luật KDBH sửa đổi năm 2010; hơn nữa, ngày chính trong

quy định của các văn bản này cũng mâu thuẫn với nhau. Điều 19 Luật KDBH năm

2000 yêu cầu bên mua bảo hiểm phải cung cấp mọi thông tin liên quan đến đối

tượng bảo hiểm. Trong khi đó, khoản 2 Điều 18 Luật KDBH năm 2000 quy định

bên mua bảo hiểm phải kê khai đầy đủ, trung thực mọi chi tiết có liên quan đến hợp

đồng bảo hiểm theo yêu cầu của doanh nghiệp bảo hiểm. Người mua bảo hiểm

không biết được rằng lúc nào phải cung cấp mọi thông tin, lúc nào chỉ cần cung cấp

các thông tin mà doanh nghiệp bảo hiểm yêu cầu35. Đi sâu vào bản án cụ thể, để

thấy rõ hơn nghĩa vụ cung cấp thông tin trước khi giao kết hợp đồng, qua đó giúp

cho các bên khi tham gia hợp đồng nắm rõ quy định, quyền lợi, tránh gây thiệt hại

và rủi ro cho các bên.

Tại bản án số 61/2015/DS – PT ngày 15/01/201536 của Tòa phúc thẩm Tòa án

nhân dân thành phố Hồ Chí Minh đã cho rằng ông Trịnh Văn Côn đã khai không

trung thực đối với câu hỏi số 5 Hợp đồng bảo hiểm ngày 29/12/2011 và phía cuối

trang này có chữ ký xác nhận của ông Côn, nên có cơ sở xác định không chấp nhận

yêu cầu của nguyên đơn yêu cầu BĐ_Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ ABC

Việt Nam phải chi trả quyền lợi bảo hiểm cho hợp đồng ngày 29/12/2011 số tiền

300.000.000đ (Ba trăm triệu đồng).

Đối với yêu cầu của bị đơn BĐ_Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ ABC

Việt Nam đề nghị bác yêu cầu của nguyên đơn đòi số tiền bảo hiểm 200.000.000

35 Nguyễn Bình Minh & Hà Công Anh Bảo, Nghĩa vụ cung cấp thông tin tiền hợp đồng – PL Việt Nam và một số nước trên thế giới năm 2017, tại địa chỉ: https://thongtinphapluatdansu.edu.vn/2017/08/17/nghia-vu- truy cập cung-cap-thng-tin-trong-giai-doan-tien-hop-dong-php-luat-viet-nam-v-mot-so-nuoc-trn-the-gioi/, ngày 19/9/2018 36 Bản án dân sự phúc thẩm số 61/2015/DS – PT ngày 15/01/201536 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng bảo hiểm, xem bản án số 01 phụ lục 2.

(Hai trăm triệu) đồng phát sinh từ hợp đồng bảo hiểm ngày 28/10/2011, Hội đồng

62

xét xử nhận thấy nên không có cơ sở xác định ông Côn đã khai như trên. Từ đó

không có cơ sở xác định ông Côn đã khai không trung thực để không chi trả quyền

lợi bảo hiểm.

Như vậy, qua trường hợp bản án trên chúng ta thấy được rằng, thông tin trong

giai đoạn tiền hợp đồng rất quan trọng và có giá trị quyết định đến toàn bộ hợp

đồng. Đối với ông Côn, trong quá trình ký kết hợp đồng bảo hiểm ngày 29/12/2011

do ông đã khai không trung thực, thông tin cung cấp không chính xác, nên dẫn đến

việc yêu cầu thanh toán bảo hiểm của vợ ông là không có cơ sở và không được chấp

nhận. Còn đối với hợp đồng bảo hiểm ngày 28/10/2011, do quá trình cung cấp

thông tin cho bên bảo hiểm, không có chữ ký xác nhận của ông, nên không thể hiện

việc ông khai không trung thực, để bảo hiểm từ chối chi trả cho ông, vì vậy ông vẫn

được bên bảo hiểm thanh toán hợp đồng trên. Qua bản án trên ta thấy rằng, đối với

hợp đồng bảo hiểm, nghĩa vụ cung cấp thông tin giai đoạn tiền hợp đồng là rất quan

trọng. Nó quyết định đến việc hợp đồng có được ký kết giữa các bên hay không? Và

hậu quả pháp lý xảy ra khi hợp đồng được ký kết. Nếu ngay từ ban đầu, khi ông

Côn mua bảo hiểm, thông tin ông cung cấp trung thực về trường hợp sức khỏe của

ông, thì bên bảo hiểm sẽ không ký hai hợp đồng đối với ông. Việc ông được chấp

nhận hợp đồng ngày 28/10/2011 cũng là do một phần sơ suất của công ty bảo hiểm,

trong quá trình ký hợp đồng đã không chú ý đến chi tiết ký vào trang của từng hợp

đồng. Vì vậy, mặc dù công ty bảo hiểm cho rằng ông Côn khi ký hợp đồng cung cấp

thông tin không trung thực để không chi trả bảo hiểm, nhưng theo quy định của

pháp luật tòa án vẫn tuyên công ty bảo hiểm phải thanh toán hợp đồng bảo hiểm cho

bà Hằng (vợ ông Côn) là hợp lý.

Qua trường hợp bản án trên ta thấy rằng, vị thế kẻ mạnh của người mua bảo

hiểm là điều kiện thuận lợi dẫn các bên tới những hiểu biết không đồng đều về một

yếu tố cũng không lấy làm gì rõ ràng – yếu tố rủi ro. Rủi ro là điểm nút của quan hệ

bảo hiểm, cho nên, những hiểu biết khác nhau về rủi ro tiếp đến tự nó ngăn cản

thống nhất ý chí của các bên. Đối với hợp đống bảo hiểm, khi xuất hiện quan hệ bảo

hiểm đồng nghĩa với việc xuất hiện rủi ro. Do vậy, nếu hiểu biết về rủi ro của các

bên không được hiểu trong sự thống nhất, thì đồng nghĩa với việc không có sự

63

thống nhất ý chí của các bên. Trong khi đó, nguyên tắc tự do ý chí – nguyên tắc

pháp lý cơ bản nhất chi phối mọi loại hình quan hệ hợp đồng bao gồm cả quan hệ

bảo hiểm – lại đòi hỏi hợp đồng phải là sự thống nhất ý chí thật của các bên tham

gia. Như vậy, giữa tồn tại đặc thù của quan hệ bảo hiểm và nguyên tắc tự do ý chí

nảy sinh mâu thuẫn hoàn toàn trái ngược. Một bên mà xu thế, hệ quả hiển hiện của

nó phủ định yêu cầu của bên kia. Nhận thức về mâu thuẫn này, luật pháp của các

nước, nhằm đảm bảo sự tồn tại và vận hành thông suốt của nguyên tắc tự do ý chí,

đã đưa ra giải pháp là phải lập lại trật tự nắm giữ dòng thông tin nhằm kéo vị thế

của các bên trong quan hệ bảo hiểm tới vị trí cân bằng hơn. Đây chính là cơ sở cho

việc áp đặt, hình thành một nghĩa vụ mà theo đó bên mua bảo hiểm, trong mọi khả

năng có thể của mình, phải cung cấp cho bên bảo hiểm một cách đầy đủ và trung

thực nhất những thông tin liên quan phục vụ việc dự đoán, đánh giá rủi ro. Nghĩa vụ

này được gọi là nghĩa vụ thiện chí trong giao kết hợp đồng bảo hiểm.

Mặc dù về lý thuyết, hiện tượng mất cân bằng của dòng thông tin nghiêng về

phía người mua bảo hiểm, thế nhưng trong thực tiễn đa dạng, không loại trừ những

trường hợp thông tin nằm trong tay người bảo hiểm mà không đến được với người

mua bảo hiểm. Trong những trường hợp như vậy, theo một logic tương tự, thêm vào

đó, trước yêu cầu của nguyên tắc hai bên trong quan hệ bình đẳng về địa vị pháp lý,

nên nếu như nghĩa vụ thiện chí được áp đặt lên phía người mua bảo hiểm thì cũng

cần phải có nghĩa vụ này từ phía người bảo hiểm. Vì những lý do này, nghĩa vụ

thiện chí được hình thành không thuộc về riêng người mua bảo hiểm cho dù trong

phần lớn trường hợp, nghĩa vụ này được thực hiện bởi chính người mua bảo hiểm.

Có thể thấy rằng lý do pháp lý chủ yếu dẫn tới sự hình thành nên nguyên tắc

thiện chí – nghĩa vụ cung cấp thông tin - ở các nước chính xuất phát từ việc phải

bảo đảm sự tồn tại, vận hành của nguyên tắc tự do ý chí trước đặc thù của quan hệ

bảo hiểm. Bên cạnh đó nguyên tắc bình đẳng cũng là lý do để áp đặt nghĩa vụ lên

phía người bảo hiểm giống như đã áp đặt lên người mua bảo hiểm.

Tại bản án dân sự phúc thẩm số 162/2011/DS – PT ngày 08/3/2011 của Tòa án

64

nhân dân thành phố Hồ Chí Minh37, tòa án nhận định phía người mua bảo hiểm đã có

thủ đoạn gian dối lợi dụng quen biết tình cảm để mua bảo hiểm sau khi tai nạn đã

xảy ra và cố tình giấu xe không đưa cho bảo hiểm kiểm tra xe theo quy định. Do đó,

không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc đòi thanh toán Hợp đồng bảo

hiểm đối với nguyên đơn.

- Như vậy, qua bản án này chúng ta thấy rằng, ngay từ đầu trước khi ký

hợp đồng, nếu đã có sự gian dối thì khi xảy ra tranh chấp, hợp đồng đương

nhiên sẽ vô hiệu. Mục đích của bên gian dối cũng không thực hiện được. Việc

tranh chấp do các bên không cung cấp đầy đủ thông tin cho nhau trước khi giao

kết hợp đồng sẽ làm cho hai bên vừa thiệt hại về vật chất, lại mất thời gian để

theo đuổi vụ kiện. Nếu bên mua bảo hiểm trung thực ngay từ giai đoạn cung cấp

thông tin, thì sẽ không dẫn đến việc hành vi gian dối để trục lợi bảo hiểm của

bên mua được thực hiện. Hơn nữa, khi nếu bên bán bảo hiểm thực hiện nghiêm

túc việc kiểm tra thông tin giai đoạn tiền hợp đồng thì cũng không có hậu quả

xảy ra, dẫn đến việc tranh chấp tại tòa án.

Án lệ: Bản án số 313/2016/DS-PT ngày 16-3-2016 của Tòa án nhân dân

Thành phố Hồ Chí Minh38, tòa án nhận định chưa đủ cơ sở xác định bà H có hành vi

gian dối khi tham gia hợp đồng bảo hiểm, tại đơn yêu cầu bảo hiểm không có câu

hỏi về bệnh đau dạ dày. Như vậy, phía Công ty C cho rằng bà H bị bệnh đau dạ dày

mà không khai báo là cố tình khai báo không trung thực và vi phạm nghĩa vụ cung

cấp thông tin là không có căn cứ. Do đó, chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc

thanh toán hợp đồng bảo hiểm đối với bị đơn.

Đây là bản án lệ số 22/2018/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân

tối cao thông qua ngày 17/10/2018 và được công bố theo Quyết định số 269/QĐ –

CA ngày 06/01/2018 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao. Tình huống của án

lệ: Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ, quy tắc bảo hiểm, đơn yêu cầu bảo hiểm có yêu

37 Bản án dân sự phúc thẩm số 61/2015/DS – PT ngày 15/01/2015 của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng thanh toán bảo hiểm, xem bản án số 02 phụ lục 2. 38 Bản án dân sự phúc thẩm số 313/2016/DS-PT ngày 16-3-2016 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về vụ án tranh chấp hợp đồng bảo hiểm, xem bản án số 03, phụ lục 3.

cầu không rõ ràng về việc kê khai tình trạng bệnh lý của người được bảo hiểm.

65

Thông tin được yêu cầu kê khai không phải là căn cứ quyết định việc các bên xác

lập hợp đồng bảo hiểm nhân thọ. Như vậy, người mua bảo hiểm không vi phạm

nghĩa vụ cung cấp thông tin khi ký hợp đồng bảo hiểm, đơn yêu cầu bảo hiểm.

c. Trong lĩnh vực kinh doanh bất động sản:

Kinh doanh Bất động sản là một hoạt động đang diễn ra rất sôi động trên thị

trường. Mặc dù đòi hỏi một nguồn vốn lớn nhưng nó có sức thu hút rất mạnh mẽ

đối với các nhà đầu tư. Hoạt động này mang lại một nguồn lợi nhuận khổng lồ

nhưng cũng ẩn chứa rất nhiều rủi ro. Tranh chấp về bất động sản là một trong những

tranh chấp điển hình hiện nay trong đời sống xã hội bởi giá trị giao dịch lớn, thủ tục

pháp lý phức tạp, nguy cơ tranh chấp cao. Tranh chấp trong kinh doanh bất động

sản và giải quyết tranh chấp trong kinh doanh bất động sản đã và đang là vấn đề bức

xúc của đời sống.

Điều 6 Luật kinh doanh bất động sản quy định về nghĩa vụ Công khai thông

tin về bất động sản đưa vào kinh doanh như sau: “Doanh nghiệp kinh doanh bất

động sản có trách nhiệm công khai thông tin về bất động sản theo các hình thức sau

đây:

a) Tại trang thông tin điện tử của doanh nghiệp kinh doanh bất động sản;

b) Tại trụ sở Ban Quản lý dự án đối với các dự án đầu tư kinh doanh bất

động sản;

c) Tại sàn giao dịch bất động sản đối với trường hợp kinh doanh qua sàn giao

dịch bất động sản” 39.

Như vậy, trong Luật kinh doanh bất động sản, nghĩa vụ cung cấp thông tin

của doanh nghiệp kinh doanh bất động sản cũng được quy định rõ ràng, cụ thể hơn.

Thông tin được cung cấp phải công khai, minh bạch để đảm bảo quyền lợi cho bên

mua bất động sản khi giao kết hợp đồng. Đồng thời, Luật này cũng quy định những

hành vi bị cấm, liên quan đến cung cấp thông tin của bên kinh doanh bất động sản

39 Khoản 1 Điều 6 Luật kinh doanh bất động sản năm 2014.

như: “Không công khai hoặc công khai không đầy đủ, trung thực thông tin về bất

66

động sản”40. Tuy nhiên, quy định này cũng còn những bất cập và không được đầy

đủ. Vì khái niệm công khai không đầy đủ, trung thực vẫn còn là một khái niệm mơ

hồ, khiến người mua bất động sản gặp phải những khó khăn về lượng thông tin khi

tham gia giao kết hợp đồng. Hay như Điều 39 về nghĩa vụ của bên chuyển nhượng

quyền sử dụng đất cũng quy định: “Cung cấp thông tin đầy đủ, trung thực về quyền

sử dụng đất và chịu trách nhiệm về thông tin do mình cung cấp”41. Việc cung cấp

thông tin không đầy đủ, trung thực sẽ gây cho bên mua, bên nhận chuyển nhượng

nhiều thiệt hại khó lường trước.

d. Trong lĩnh vực vận tải (hàng hải, hàng không…)

Ta thấy rằng, nghĩa vụ cung cấp thông tin được ghi nhận lần đầu tiên trong Bộ

luật hàng hải (BLHH) năm 1990 và được áp dụng cho một loại hợp đồng chuyên

biệt là hợp đồng bảo hiểm hàng hải. Theo Điều 204 BLHH năm 1990, người được

bảo hiểm có nghĩa vụ cung cấp cho người bảo hiểm biết tất cả các thông tin mà

mình biết hoặc cần phải biết liên quan đến việc ký kết hợp đồng bảo hiểm, có thể

ảnh hưởng đến việc xác định khả năng xảy ra hiểm họa hoặc quyết định của người

bảo hiểm về việc nhận bảo hiểm và các điều kiện bảo hiểm, trừ loại thông tin mà

mọi người đều biết hoặc người bảo hiểm đã biết hoặc cần phải biết.

Vào thời điểm ban hành BLHH năm 1990, hoạt động bảo hiểm nói chung và

bảo hiểm hàng hải nói riêng ở Việt Nam chưa phát triển, kinh nghiệm thực tiễn chưa

thực sự phong phú và đặc thù của hoạt động bảo hiểm hàng hải có nhiều nguyên tắc,

thuật ngữ mang tính chuyên biệt, tính quốc tế cao. Do vậy, các nhà làm luật khi

soạn thảo các quy định trong BLHH năm 1990 đã học hỏi kinh nghiệm và dựa trên

các quy định trong pháp luật bảo hiểm hàng hải của Anh để đưa vào BLHH Việt

Nam. Tuy nhiên, các nhà làm luật không đưa ra các giải thích hoặc không đưa thêm

các quy định nhằm làm rõ cách áp dụng hoặc bỏ sót một số thuật ngữ quan trọng so

với phiên bản gốc, dẫn đến, các quy định không rõ ràng, khó hiểu và áp đặt trách

nhiệm nặng nề cho bên mua bảo hiểm. Dường như không có giới hạn đối với nghĩa

vụ cung cấp thông tin của bên mua bảo hiểm. Bên mua bảo hiểm phải cung cấp tất 40 Khoản 3 Điều 8 Luật kinh doanh bất động sản năm 2014. 41 Khoản 1 Điều 39 Luật kinh doanh bất động sản năm 2014.

67

cả các thông tin mà mình biết. Bên mua bảo hiểm không thể biết được loại thông tin

nào không làm ảnh hưởng đến việc xác định khả năng xảy ra hiểm họa hoặc làm

cho công ty bảo hiểm quyết định không ký kết hợp đồng bảo hiểm nếu họ biết được

thông tin đó vào lúc trước khi ký kết hợp đồng.

Theo quy định tại Điều 154 Bộ luật hàng hải quy định về nghĩa vụ của người

giao hàng: “Người giao hàng phải cung cấp trong một thời gian thích hợp cho người

vận chuyển các tài liệu và chỉ dẫn cần thiết đối với hàng hóa dễ nổ, dễ cháy và các

loại hàng hóa nguy hiểm khác hoặc loại hàng hóa cần phải có biện pháp đặc biệt khi

bốc hàng, vận chuyển, bảo quản và dỡ hàng”42. Việc quy định như vậy sẽ khiến cho

bên vận chuyển hàng hóa giảm tải trách nhiệm và có ý thức hơn đối với nhiệm vụ

của mình. Bởi khi nắm được thông tin về hàng hóa vận chuyển, bên vận chuyển sẽ

có những biện pháp để ngăn chặn tối đa nhất những rủi ro có thể xảy ra.

3.2. Một số bất cập trong quy định và thực tiễn áp dụng

Tại Việt Nam, trước khi có BLDS năm 2015, nghĩa vụ cung cấp thông tin tiền

hợp đồng không được quy định như là nguyên tắc chung áp dụng cho tất cả các loại

hợp đồng dân sự. BLDS năm 2005 chỉ có quy định về nghĩa vụ cung cấp thông tin

đối với một số hợp đồng chuyên biệt như: việc chuyển giao quyền, nghĩa vụ dân sự,

hợp đồng mua bán tài sản, hợp đồng bảo hiểm,…Sau mười năm triển khai trên thực

tế, BLDS năm 2005 đã bộc lộ một số bất cập trong các quy định về nghĩa vụ cung

cấp thông tin giai đoạn tiền hợp đồng. BLDS năm 2015 ra đời trên cơ sở bổ sung,

hoàn thiện và phòng tránh những bất cập mà BLDS cũ tồn tại. Tuy trong luật

thương mại không quy định rõ về nghĩa vụ cung cấp thông tiền hợp đồng, nhưng

dựa trên quy định của BLDS để ta đi vào cụ thể từng loại hợp đồng thương mại, qua

đó phân tích để thấy rõ những bất câp trong quy định, thực tiễn áp dụng, qua đó

xem những quy định đó đã phù hợp với thực tiễn hay chưa.

3.2.1. Sự chồng chéo giữa luật chung và luật chuyên ngành

Trong thực tế, quá trình đi đến ký kết hợp đồng là khá phức tạp, không chỉ đơn

42 Khoản 2 Điều 154 Bộ luật hàng hải.

giản bao gồm sự trao đổi một đề nghị và sự chấp thuận đề nghị đó. Có rất nhiều đề

68

nghị khác nhau được đưa ra bởi các bên của hợp đồng trong quá trình đàm phán và

việc đưa ra những đề nghị chỉ thật sự kết thúc khi đi đến kết quả cuối cùng được

chấp nhận bởi các bên. Để đi đến được sự thống nhất cuối cùng đó, các bên phải trải

qua một giai đoạn rất dài, trong đó các bên trao đổi với nhau các ý kiến, thông điệp,

các điều khoản cụ thể, từng bước từng bước một. Quá trình thương thảo lâu dài

cùng với rất nhiều các đề các bên đưa ra như vậy, sẽ là rất khó để cho chúng ta xác

định được thông điệp nào, đề nghị nào của các bên gửi cho nhau là có giá trị pháp lý

bắt buộc đối với bên kia và bảo đảm quyền của bên còn lại và những thông điệp, đề

nghị nào là không có giá trị pháp lý ràng buộc theo nó. Trong cả hai trường hợp trên,

chúng ta có thể thấy, các bên tham gia giao kết hợp đồng rơi vào một quá trình mà

trong đó không có đủ các quy định điều chỉnh quá trình này. Việc này là phổ biến

trong hầu hết các hệ thống pháp luật. Mặt khác, việc không thể xác định được thông

điệp nào được trao đổi giữa các bên được xem là một lời đề nghị hoặc chấp nhận đề

nghị dẫn đến khó khăn trong xác định rằng thoả thuận đã được chấp nhận hay chưa

cũng như các điều khoản của thoả thuận đấy là những điều khoản nào một khi thoả

thuận coi như đã được chấp nhận. Vấn đề này có thể dẫn đến tranh chấp giữa các

bên khi quy trình giao kết hợp đồng cũ được áp dụng, do khi tiến hành đàm phán

các bên đạt được sự thống nhất với nhau về nhiều vấn đề, cũng như điều kiện của

thoả thuận trong tương lai từng bước từng bước một chứ không phải ngay một lúc.

Thậm chí, nhiều khi một vấn đề các bên phải quay đi quay lại đàm phán nhiều lần

mới đạt được sự thống nhất cuối cùng.

Nếu hợp đồng cuối cùng được ký kết giữa các bên thì không có vấn đề gì

nhưng nếu hợp đồng không được ký kết do bất kỳ lý do gì, đặc biệt nếu một trong

các bên cho rằng việc hợp đồng không được ký kết là hoàn toàn do lỗi của bên còn

lại, thì các vấn đề sẽ nảy sinh như: Các bên đã thực sự thiện chí trong quá trình đàm

phán hay chưa và có hay không nghĩa vụ bắt buộc các bên phải thiện chí khi đàm

phán; Một trong các bên có được bồi hoàn các khoản chi phí từ bên còn lại hay

không trong trường hợp bên này đã bắt đầu tiến hành các bước nhất định theo hợp

đồng hoặc đã thực hiện các điều khoản đã được thống nhất và được cho là một phần

của hợp đồng; Bản chất pháp lý của những thoả thuận ban đầu được thực hiện bởi

69

các bên của quá trình đàm phán là gì và các thoả thuận ban đầu này có làm phát sinh

các nghĩa vụ bắt buộc đối với các bên hay không? Ba câu hỏi trên hiện nay vẫn

chưa có câu trả lời thoả đáng nếu chúng ta chỉ căn cứ vào các quy định pháp lý về

hợp đồng trước đây mà chúng ta được biết. Vì vậy, việc phải có các quy định điều

chỉnh quá trình đàm phán, ký kết hợp đồng (giai đoạn tiền hợp đồng) theo hướng

mới là hết sức cần thiết và là vấn đề cần giải quyết đối với mọi hệ thống pháp luật.

Một thực tế rõ ràng là sự thiếu các quy định của pháp luật điều chỉnh hành vi

của các bên trong giai đoạn tiền hợp đồng có thể dẫn đến những kết quả không công

bằng và không thực hiện được vai trò, bản chất xã hội của hợp đồng. Do đó, pháp

luật hợp đồng phải thay đổi để đáp ứng được những yêu cầu xuất phát từ thực tế cần

phải xem giai đoạn tiền hợp đồng là một phần không thể tách rời của toàn bộ quá

trình “làm” hợp đồng và cần phải có các quy định cụ thể, rõ ràng điều chỉnh hành vi

và quan hệ của các bên trong giai đoạn này. Hay nói cách khác, pháp luật hợp đồng

hiện nay cần phải tìm được sự cân bằng giữa một mặt là bảo vệ quyền và lợi ích hợp

pháp của các bên trong giai việc đàm phán hợp đồng và mặt khác vẫn phải đảm bảo

quyền tự do, tính tự nguyện của các bên, đồng thời không tạo ra các rào cản cho các

bên muốn tiến hành thương lượng và đàm phán ký kết hợp đồng với nhau.

Giới hạn về phạm vi các thông tin phải cung cấp cũng không được làm rõ

trong Luật KDBH năm 2000, cũng như trong Luật KDBH sửa đổi năm 2010; hơn

nữa, ngay chính trong các quy định của các văn bản này cũng mâu thuẫn với nhau.

Điều 19 Luật KDBH năm 2000 yêu cầu bên mua bảo hiểm phải cung cấp mọi thông

tin liên quan đến đối tượng bảo hiểm. Trong khi đó, khoản 2, Điều 18 Luật KDBH

năm 2000 quy định bên mua bảo hiểm phải kê khai đầy đủ, trung thực mọi chi tiết

có liên quan đến hợp đồng bảo hiểm theo yêu cầu của doanh nghiệp bảo hiểm.

Người mua bảo hiểm không biết được rằng lúc nào phải cung cấp mọi thông tin, lúc

nào chỉ cần cung cấp các thông tin mà doanh nghiệp bảo hiểm yêu cầu.

Hiện nay cả ba quy định tại ba đạo luật trên đều giữ nguyên giá trị hiệu lực thi

hành. Như vậy, ở nhiều quốc gia trên thế giới, cho dù có khác nhau về hệ thống

pháp luật và những điều kiện cho những hoạt động bảo hiểm, nhưng vẫn có chung

nội dung cơ bản của nguyên tắc thiện chí – nghĩa vụ cung cấp thông tin theo cách

70

gọi của Việt Nam. Còn ở Việt Nam, mặc dù chỉ có một hệ thống pháp luật thống

nhất nhưng lại có đến ba loại nghĩa vụ cung cấp thông tin cùng tồn tại.

Hiện nay ngoại trừ quy định luật Kinh doanh bảo hiểm (Điều 19), các đạo luật

liên quan đến pháp luật bảo hiểm khác đều không xác định nghĩa vụ cung cấp thông

tin của người bảo hiểm. Bản thân nghĩa vụ cung cấp thông tin của người bảo hiểm

theo quy định của Luật KDBH cũng chỉ dừng lại ở việc giải thích các điều khoản

của hợp đồng hơn là một nghĩa vụ cung cấp cho người mua bảo hiểm các thông tin

liên quan đến rủi ro mà người mua bảo hiểm không biết. Cho nên, có thể nói, không

tồn tại nghĩa vụ cung cấp thông tin của người bảo hiểm theo cách hiểu đúng nghĩa

về nó trong hệ thống pháp luật bảo hiểm hiện hành ở Việt Nam. Điều này đi ngược

lại với vấn đề mà pháp luật các nước đều quan tâm, giải quyết: Tự do ý chí, nguyên

tắc bình đẳng và mục đích bảo vệ lợi ích cho người mua bảo hiểm. Điều 18.2.b Luật

KDBH và Điều 577.1 BLDS quy định “theo yêu cầu của bên bảo hiểm, bên mua

bảo hiểm phải cung cấp cho bên bảo hiểm đầy đủ các thông tin có liên quan đến đối

tượng bảo hiểm, trừ các thông tin mà bên bảo hiểm đã biết hoặc phải biết”. Quy

định này xác định nghĩa vụ của người mua bảo hiểm chỉ là việc trả lời các thông tin

mà người bảo hiểm yêu cầu. Thế nhưng không phải bao giờ thông tin được yêu cầu

cũng bao gồm tất cả thông tin giúp đánh giá đúng đắn rủi ro. Trong trường hợp

người mua bảo hiểm nắm giữ các thông tin quan trọng nhưng không được yêu cầu

cung cấp thông tin này và từ đó quyết định không chia sẻ thông tin với người bảo

hiểm thì rõ ràng, người mua bảo hiểm vẫn thực hiện đúng với yêu cầu của nghĩa vụ

cung cấp thông tin theo Điều 18.2.b Luật KDBH và Điều 577.1 BLDS. Trong khi

đó, việc không chia sẻ thông tin của người mua bảo hiểm như vậy đã xâm phạm tự

do ý chí cũng như bảo vệ lợi ích chính đáng của người bảo hiểm. Như thế, quy định

của hai điều luật đang dẫn đã không hề có giá trị bảo đảm nguyên tắc tự do ý chí

cũng như bảo vệ lợi ích chính đáng của người bảo hiểm. Tương tự, hiện nay, các

quy định tại Luật KDBH (Điều 19.2) và BLDS (Điều 577.2) chỉ cung cấp một biện

pháp pháp lý để người bảo hiểm đối phó lại với những vi phạm nghĩa vụ của người

mua bảo hiểm trong trường hợp duy nhất khi người mua bảo hiểm “cố ý cung cấp

thông tin sai sự thật…”Điều này đồng nghĩa với việc, nếu người mua bảo hiểm cố ý

71

im lặng không cung cấp một thông tin quan trọng nào đó thì người bảo hiểm sẽ

không có một biện pháp pháp lý nào để đối phó lại. Trong khi đó, trước và do sự im

lặng của người mua bảo hiểm, người bảo hiểm hoàn toàn có thể bị nhầm lẫn, lệch

lạc trong việc đánh giá rủi ro dẫn tới bị thiệt hại lợi ích. Rõ ràng, quy định của

BLDS và Luật KDBH về hậu quả pháp lý của “hành vi vi phạm nghĩa vụ cung cấp

thông tin” đã không quan tâm tới việc bảo vệ cho thích đáng và đầy đủ các trường

hợp khi quyền lợi của người bảo hiểm bị xâm hại.

3.2.2. Quy định không rõ ràng, thiếu tính chính xác

Nghĩa vụ cung cấp thông tin giai đoạn tiền hợp đồng thương mại mặc dù

được quy định trong BLDS và một số Điều luật của Luật chuyên ngành nhưng chưa

được quy định thành từng chương riêng. Do đó, trong quá trình áp dụng pháp luật

còn có nhiều vướng mắc, cụ thể là những quy định về nghĩa vụ cung cấp thông tin

giai đoạn tiền hợp đồng thương mại được quy định chưa rõ ràng, thiếu tính chính

xác.

- Trong lĩnh vực mua bán hàng hóa: Luật chất lượng sản phẩm, hàng hóa và

BLDS năm 2015 có tính thống nhất ở chỗ khi hàng hóa không đạt chất lượng gây

thiệt hại thì phải bồi thường. Tuy nhiên, Luật t lượng sản phẩm, hàng hóa còn hạn

chế về mặt ngữ nghĩa, đồng thời cũng hạn chế nếu có trường hợp cụ thể xảy ra. Khi

đã xác định hàng hóa không đảm bảo chất lượng thì không thể áp dụng Luật chất

lượng sản phẩm, hàng hóa. Để xác định đó là hàng hóa không đảm bảo chất lượng

hoặc đó là hàng hóa có khuyết tật, thì dẫn đến sự thao túng khi áp dụng các quy

định pháp luật.

Kiến nghị sửa, đổi Luật chất lượng sản phẩm, hàng hóa như sau tại khoản 9 Điều

10 Luật chất lượng sản phẩm, hàng hóa quy định “ Thu hồi, xử lý sản phẩm, hàng hóa

không bảo đảm chất lượng. Trong trường hợp phải tiêu huỷ hàng hóa thì phải chịu toàn

bộ chi phí cho việc tiêu huỷ hàng hoá và chịu trách nhiệm về hậu quả của việc tiêu huỷ

hàng hoá theo quy định của pháp luật. ..” nên sửa lại “Thu hồi, xử lý sản phẩm, hàng

hóa không bảo đảm chất lượng. Trong trường hợp phải tiêu huỷ hàng hóa thì phải

chịu toàn bộ chi phí cho việc tiêu huỷ hàng hoá và chịu trách nhiệm về hậu quả của

72

việc tiêu huỷ hàng hoá theo quy định của pháp luật và phải chịu trách nhiệm bồi

thường”. Đồng thời, kiến nghị Hội đồngThẩm phán TANDTC ban hành Nghị Quyết

hướng dẫn về “hàng hóa không đảm bảo chất lượng” tại Điều 608 của BLDS năm 2015.

Cần phải đưa ra các tiêu chí để đánh giá một sản phẩm không đảm bảo chất lượng, để

việc xét xử có một quy chuẩn thống nhất, tránh tình trạng áp dụng tùy tiện và áp đặt ý chí

chủ quan trong quá trình xét xử.

- Trong lĩnh vực thế chấp tài sản thuộc BLDS 2015 có quy định về nghĩa vụ

của bên thế chấp đối với việc cung cấp thông tin về thực trạng tài sản thế chấp cho

bên nhận thế chấp. Đây là quy định vẫn còn mang tính chất chung chung, chưa có

sự ràng buộc và chưa thể hiên được hậu quả pháp lý đối với việc cung cấp thông tin

không đầy đủ hoặc thông tin không chính xác liên quan đến quyền lợi của bên nhận

thế chấp.

Kiến nghị sửa đổi như sau: Tại khoản 5 Điều 320 BLDS 2015 quy định nghĩa

vụ của bên thế chấp: “Cung cấp thông tin về thực trạng tài sản thế chấp cho bên

nhận thế chấp”, kiến nghị sửa như sau “Cung cấp thông tin về thực trạng tài sản thế

chấp cho bên nhận thế chấp; trường hợp này không thông tin thì bên nhận thế

chấp có quyền hủy hợp đồng thế chấp tài sản và yêu cầu đòi bồi thường thiệt

hại hoặc duy trì hợp đồng và chấp nhận quyền của người thứ ba đối với tài sản

thế chấp”.

- Điều 443 BLDS 2015 quy định về nghĩa vụ cung cấp thông tin và hướng dẫn

cách sử dụng như sau: “Bên bán có nghĩa vụ cung cấp cho bên mua thông tin cần

thiết về tài sản mua bán và hướng dẫn cách sử dụng tài sản đó; nếu bên bán không

thực hiện nghĩa vụ này thì bên mua có quyền yêu cầu bên bán phải thực hiện trong

một thời hạn hợp lý; nếu bên bán vẫn không thực hiện làm cho bên mua không đạt

được mục đích giao kết hợp đồng thì bên mua có quyền hủy bỏ hợp đồng và yêu

cầu bồi thường thiệt hại”. Nay kiến nghị sửa đổi như sau: “Bên bán có nghĩa vụ

cung cấp cho bên mua thông tin cần thiết về tài sản mua bán và hướng dẫn cách sử

dụng tài sản đó; nếu bên bán không thực hiện nghĩa vụ này hoặc thực hiện không

đầy đủ, không thiện chí thì bên mua có quyền yêu cầu bên bán phải thực hiện

trong một thời hạn hợp lý; nếu bên bán vẫn không thực hiện làm cho bên mua

73

không đạt được mục đích giao kết hợp đồng thì bên mua có quyền hủy bỏ hợp đồng

và yêu cầu bồi thường thiệt hại

Tiểu kết chương 3:

Nghĩa vụ cung cấp thông tin tiền hợp đồng thương mại tại Việt Nam vẫn còn

đang hoàn thiện và cần phải có những quy định cụ thể hơn nữa để có thể đảm bảo

các quyền lợi của các bên khi tham gia giao kết hợp đồng. Bởi lẽ chỉ một hành vi

gian dối của một trong hai bên khi giao kết hợp đồng sẽ gây ra những hậu quả và

thiệt hại đối với bên kia. Đồng thời, làm ảnh hưởng đến uy tín, thời gian và công

sức của hai bên nếu có tranh chấp xảy ra. Do vậy pháp luật Việt Nam, đặc biệt là

Luật thương mại cần phải có những quy định rõ ràng, cụ thể hơn về quyền và nghĩa

vụ của các bên trong giai đoạn tiền hợp đồng thương mại.

74

CHƯƠNG 4. ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT

VIỆT NAM VỀ NGHĨA VỤ CUNG CẤP THÔNG TIN GIAI ĐOẠN TIỀN

HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI

4.1. Định hướng hoàn thiện về nghĩa vụ cung cấp thông tin tiền hợp đồng

thương mại

Nghĩa vụ cung cấp thông tin tiền hợp đồng đã hình thành trong pháp luật Việt

Nam từ lâu ở một số hợp đồng chuyên biệt nhưng chưa có quy định nói chung cho

các loại hợp đồng về nghĩa vụ này. BLDS năm 2015 đã có sự đổi mới khi quy định

cụ thể nghĩa vụ cung cấp thông tin tại Điều 387 BLDS 2015, cũng như có những bổ

sung nhằm khắc phục những vấn đề mà BLDS năm 2005 để lại. Tuy nhiên, để áp

dụng nghĩa vụ cung cấp thông tin tiền hợp đồng theo BLDS năm 2015 vào thực tiễn

sẽ vẫn còn khoảng trống cần quy định và giải thích cụ thể. Ngoài ra vấn đề xem xét

việc vi phạm nghĩa vụ này là ngoài hợp đồng hay vi phạm hợp đồng vẫn còn bỡ ngỡ

mà chúng ta cần làm rõ trong nghiên cứu.

Pháp luật hiện hành chưa có quy định tăng cường quyền được cung cấp thông

tin của người mua nhà sau khi hợp đồng được ký kết, với vai trò là chủ sở hữu trong

tương lai hầu như người mua không được tham gia vào quá trình xây dựng dự án,

việc dự án thực hiện như thế nào, tới đâu là do chủ đầu tư quyết định. Ngoài ra, việc

quy định thông tin cung cấp phải đầy đủ hầu như không được thực hiện bởi bên bán

thường chỉ muốn mô tả những thông tin có lợi nhất cho mình để thu hút khách hàng.

Do đó, cần có đề xuất sửa đổi quy định pháp luật cho phù hợp với tình hình

thực tế hiện nay. Theo quy định tại Điều 16 Luật Kinh doanh bất động sản năm

2014 thì việc phạt và bồi thường thiệt hại do bên mua, bên nhận chuyển nhượng,

bên thuê, bên thuê mua chậm tiến độ thanh toán hoặc bên bán, bên chuyển nhượng,

bên cho thuê, bên cho thuê mua chậm tiến độ bàn giao bất động sản do các bên thỏa

thuận và phải được ghi rõ trong hợp đồng. Tuy nhiên, Điều 18 Luật Kinh doanh bất

động sản lại quy định những nội dung hợp đồng mua bán, cho thuê, cho thuê mua

nhà, công trình xây dựng phải có, trong đó nêu rõ hợp đồng phải có thỏa thuận phạt

mà vấn đề bồi thường thiệt hại không “phải có”. Như vậy, có thể thấy chính trong

75

nội tại Luật Kinh doanh bất động sản đã có sự mâu thuẫn.

Phạt và bồi thường thiệt hại là hai hình thức trách nhiệm do vi phạm hợp đồng

khác nhau và có tính chất khác nhau. Nếu bồi thường thiệt hại là trách nhiệm vật

chất mà bên vi phạm phải gánh chịu đề bù đắp các tổn thất đã gây ra thì phạt hợp

đồng là việc bên vi phạm phải trả một khoản tiền cho bên còn lại nếu có vi phạm

hợp đồng. Về bản chất, phạt hợp đồng mang tính chất răn đe và “phòng ngừa”, mục

đích để các bên ý thức và nghiêm chỉnh tuân thủ hợp đồng, trong khi đó, bồi thường

thiệt hại mang tính chất đền bù đắp những tổn thất đã gây ra.

Theo quy định tại khoản 3 Điều 418 BLDS năm 2015 thì:

“Trường hợp các bên có thỏa thuận về phạt vi phạm nhưng không thỏa thuận

về việc vừa phải chịu phạt vi phạm và vừa phải bồi thường thiệt hại thì bên vi phạm

nghĩa vụ chỉ phải chịu phạt vi phạm”. Như vậy, đối chiếu với quy định của Luật

Kinh doanh bất động sản 2014, nếu các bên chỉ thỏa thuận phạt như quy định tại

Điều 18 thì bên vi phạm chỉ chịu phạt mà không phải chịu bồi thường. Vì vậy, đề

xuất sửa đổi bổ sung Điều 18 Luật Kinh doanh bất động sản 2014 cho đồng bộ, phù

hợp với Điều 16, nêu rõ vấn đề thỏa thuận bồi thường trong hợp đồng.

Đối với các hợp đồng chịu sự điều chỉnh của BLDS không chịu sự điều chỉnh

của Luật chuyên ngành thì cần phải có sự quy định rõ ràng, cụ thể hơn về nghĩa vụ

cung cấp thông tin. Bên cạnh đó, cần có quy định về chế tài đối với việc vi phạm

nghĩa vụ. Có như vậy, các bên mới thể hiện được ý chí tự do, bình đẳng và tự

nguyện khi giao kết hợp đồng. Như quy định tại khoản 5 Điều 320 về nghĩa vụ của

bên thế chấp: “Cung cấp thông tin về thực trạng tài sản thế chấp cho bên nhận thế

chấp”. Quy định này không kèm theo chế tài đối với việc thông tin cung cấp sai,

không trung thực, đầy đủ. Khi xảy ra tranh chấp, sẽ rất khó khăn cho Tòa án trong

việc áp dụng các quy định pháp luật để xử lý. Do đó, khi bên thế chấp không chấp

hành quy định về việc cung cấp thông tin, thì hậu quả bên nhận thế chấp sẽ phải

chịu. Điều này không tạo sự công bằng cho bên nhận thế chấp và buộc bên nhận thế

chấp phải kiểm tra kỹ thông tin về tài sản thế chấp trước khi giao kết hợp đồng.

Để hoàn thiện về nghĩa vụ cung cấp thông tin giai đoạn tiền hợp đồng thương

mại, BLDS cần phải có những quy định rõ ràng, chi tiết hơn đối với các thông tin

76

cần cung cấp trong từng loại hợp đồng cụ thể. Bên cạnh các nghĩa vụ, cần phải có

các quy định cụ thể đối với bên vi phạm nghĩa vụ, giúp cho tòa án có hướng xử lý

khách quan, phù hợp theo quy định pháp luật, tránh chủ quan duy ý chí. Có như vậy

mới tạo được sự công bằng, tự nguyện hợp tác cho các bên trước khi tham gia giao

kết hợp đồng.

4.2. Một số giải pháp cụ thể hoàn thiện quy định pháp luật Việt Nam về

nghĩa vụ cung cấp thông tin tiền hợp đồng thương mại

Ở Việt Nam chưa có đạo luật riêng về luật hợp đồng mà chế định hợp

đồng được quy định trong Bộ luật Dân sự và một số luật chuyên ngành như Bộ luật

Lao động, Luật Thương mại, Luật Kinh doanh bảo hiểm, Luật Kinh doanh bất động

sản…Tuy nhiên, Bộ luật Dân sự luôn được coi là đạo luật gốc quy định các vấn

đề chung nhất và cơ bản nhất về hợp đồng, là nền tảng cho pháp luật về hợp đồng

được áp dụng chung cho tất cả các loại hợp đồng, không phân biệt hợp đồng dân sự

hay hợp đồng kinh tế, hợp đồng có mục đích kinh doanh hay hợp đồng nhằm đáp

ứng các nhu cầu sinh hoạt hàng ngày.

Các hoạt động thương mại là rất đa dạng và phong phú, vì vậy chúng không

thể được điều chỉnh trong một luật hay bộ luật duy nhất. Thực tế, ở Việt Nam đã có

nhiều luật điều chỉnh các hoạt động thương mại khác không được điều chỉnh trong

Luật Thương mại, như Luật Xây dựng, Luật Kinh doanh bảo hiểm, Luật Kinh

doanh bất động sản, Luật Hàng hải, Luật Hàng không dân dụng v.v.. Mối quan hệ

giữa các luật này và Luật Thương mại được được xác lập thông qua quy định “hoạt

động thương mại phải tuân theo Luật Thương mại và pháp luật có liên quan” và quy

định “hoạt động thương mại đặc thù được quy định trong luật khác thì áp dụng quy

định của luật đó”. Các quy định này ấn định cho Luật Thương mại vai trò là luật

chung (lex generalis) đối với hoạt động thương mại nói chung, còn (các) luật khác

quy định về hoạt động thương mại đặc thù là luật chuyên ngành, luật riêng (lex

specialis). Đồng thời quy định này cũng thể hiện một trong các nguyên tắc cơ bản

nhất về áp dụng luật, đó là luật riêng được áp dụng, còn luật chung chỉ áp dụng khi

luật riêng không quy định hay còn gọi là luật riêng loại trừ luật chung (lex specialis

derogat legi generali).

77

Dựa trên tình hình thực tế hiện nay, bản chất cũng như thực trạng pháp luật về

hợp đồng của Việt Nam đã đến giai đoạn các nhà làm luật nên bắt đầu chú ý đến

việc luật hoá chế định TNTHĐ. Chúng ta nên tiếp nhận các quan điểm về vấn đề

này của các hệ thống pháp luật trên thế giới phù hợp với tình hình thực tế và đặc

điểm pháp lý của hệ thống pháp luật Việt Nam, để xây dựng nền móng cho quy định

TNTHĐ. Việt Nam chịu ảnh hưởng sâu sắc của hệ thống luật dân sự (Civil

law), chưa thật sự cởi mở với án lệ, nên việc có các quy định về TNTHĐ là một

việc hết sức cần thiết và mang tính thực tiễn cao, vừa đảm bảo sự công bằng của

pháp luật, vừa tạo ra môi trường pháp lý thuận lợi cho hoạt động kinh doanh. Như

vậy, nghiên cứu TNTHĐ nói chung, cũng như nghĩa vụ cung cấp thông tin tiền hợp

đồng thương mại nói riêng, sẽ có những cái nhìn cụ thể và sâu sắc hơn đối với từng

loại hợp đồng chuyên biệt. Qua đó, sẽ có những kiến nghị và đề xuất phù hợp để

điều chỉnh, hoàn thiện pháp luật Việt Nam về nghĩa vụ tiền hợp đồng thương mại.

4.2.1. Đối với hoạt động kinh doanh bảo hiểm

Theo quy định tại Điều 19 thì một trong các hành vi được cho là vi phạm trách

nhiệm cung cấp thông tin của cả bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm là

“cố ý cung cấp thông tin sai sự thật nhằm giao kết hợp đồng”. Nếu chỉ dừng lại xem

xét riêng quy định về trách nhiệm cung cấp thông tin của các bên trong hợp đồng

bảo hiểm nhân thọ thì việc các nhà làm luật xác định hành vi vi phạm như trên là

hoàn toàn hợp lý. Tuy nhiên, nếu nghiên cứu rộng ra các quy định liên quan, trong

đó có sự so sánh đối chiếu với quy định về các trường hợp hợp đồng bảo hiểm vô

hiệu tại khoản 1 Điều 22 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000 thì lại thấy có vấn đề

cần phải quan tâm làm rõ. Cụ thể, một trong các trường hợp dẫn đến hợp đồng bảo

hiểm vô hiệu là “bên mua bảo hiểm hoặc doanh nghiệp bảo hiểm có hành vi lừa dối

khi giao kết hợp đồng bảo hiểm” (điểm d khoản 1 Điều 20 Luật Kinh doanh bảo

hiểm năm 2000. Quy định này là hết sức phù hợp với những quy định về điều kiện

có hiệu lực của hợp đồng dân sự trong Bộ luật Dân sự năm 2015. Vấn đề đặt ra là từ

góc độ lý luận cũng như thực tiễn việc phân biệt giữa “cố ý cung cấp thông tin sai

sự thật” và “hành vi lừa dối khi giao kết hợp đồng” của các bên trong quan hệ hợp

đồng bảo hiểm nhân thọ không phải điều dễ dàng, ranh giới của hai khái niệm này

78

rất mờ nhạt. Thậm chí, trong một chừng mực nhất định, nội hàm của hai khái niệm

này có thể coi là trùng với nhau. Trong khi đó, hậu quả pháp lý đối với chủ thể thực

hiện một trong hai hành vi này lại rất khác nhau. Giả sử cùng một hành vi kê khai

không đúng tuổi của bên mua bảo hiểm, đồng thời là người được bảo hiểm trong

hợp đồng thì có thể có cách giải quyết không giống nhau giữa các bên của hợp đồng

bảo hiểm nhân thọ. Để bảo vệ quyền lợi của mình, doanh nghiệp bảo hiểm sẽ xác

định hành vi này là “cố ý cung cấp thông tin sai sự thật” để quyết định đình chỉ thực

hiện hợp đồng và thu được khoản phí bảo hiểm. Trong khi đó, để giải thoát khỏi các

nghĩa vụ hợp đồng cũng như nghĩa vụ tài chính khi vi phạm trách nhiệm cung cấp

thông tin, bên mua bảo hiểm sẽ chứng minh hành vi kê khai không đúng tuổi là

hành vi sai. Mục đích là để đưa về trường hợp hợp đồng vô hiệu và được nhận lại

khoản phí đã đóng cho doanh nghiệp bảo hiểm vì hậu quả pháp lý của trường hợp

hợp đồng bảo hiểm vô hiệu là “khôi phục lại trạng thái ban đầu các bên trả lại cho

nhau những gì đã nhận”43. Như vậy là cùng một hành vi vi phạm nhưng các bên có

thể sử dụng các căn cứ pháp lý khác nhau để bảo vệ quyền lợi của mình và các bên

hoàn toàn có cơ sở để làm việc đó. Không dừng lại ở đó, việc Luật Kinh doanh bảo

hiểm năm 2000 không phân định được ranh giới giữa hai khái niệm “cố ý cung cấp

thông tin sai sự thật” và “lừa dối” còn dẫn đến tình trạng cơ quan giải quyết tranh

chấp sẽ tùy tiện và có khả năng hành xử tiêu cực khi tiến hành giải quyết tranh chấp

giữa doanh nghiệp bảo hiểm và bên mua bảo hiểm khi được các bên lựa chọn để

giải quyết những mâu thuẫn, bất đồng của mình.

Như vậy, để giải quyết những tồn tại trên, phải bổ sung nội dung giải thích thế

nào là “lừa dối khi giao kết hợp đồng” và xác định những tiêu chí nhất định để phân

định rõ với hành vi “cố ý cung cấp thông tin không đúng sự thật”. Làm được điều

này mới có thể tránh được những tranh chấp, bất đồng xảy ra trên thực tế trong quá

trình thực hiện hợp đồng bảo hiểm nhân thọ, góp phần đảm bảo quyền và lợi ích

hơp pháp của các bên và từ đó, giúp chủ thể trong xã hội có thể an tâm khi thiết lập

quan hệ hợp đồng thương mại đặc thù này.

43 Khoản 2 Điều 22 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000.

Về hậu quả pháp lý của việc ra quyết định đình chỉ hợp đồng của một bên khi

79

một bên vi phạm trách nhiệm cung cấp thông tin. Theo đó, nếu bên mua bảo hiểm vi

phạm và doanh nghiệp bảo hiểm ra quyết định đơn phương đình chỉ thực hiện hợp

đồng thì doanh nghiệp bảo hiểm được quyền thu phí đến thời điểm đình chỉ. Trong

khi đó, nếu doanh nghiệp bảo hiểm vi phạm và bên mua bảo hiểm quyết định đơn

phương đình chỉ, thì doanh nghiệp bảo hiểm phải bồi thường thiệt hại cho bên mua.

Như vậy là cùng một hành vi vi phạm nghĩa vụ được quy định trong Luật cũng như

trong hợp đồng, nhưng hậu quả pháp lý mà mỗi bên gánh chịu lại không tương

xứng, có thể nói là không có sự cân bằng. Bởi lẽ, với trường hợp bên vi phạm là bên

mua bảo hiểm thì nghĩa vụ tài chính mà họ phải thực hiện rất rõ ràng, cụ thể là

khoản phí mà họ đã và sẽ phải đóng đến thời điểm đình chỉ thực hiện hợp đồng mà

bên bán bảo hiểm không cần phải chứng minh thiệt hại. Nhưng với trường hợp bên

vi phạm là bên bán bảo hiểm thì nghĩa vụ này lại khá mơ hồ, trừu tượng, nó phụ

thuộc vào việc bên mua bảo hiểm có chứng minh được thiệt hại thực tế xảy ra. Điều

đó đồng nghĩa với việc nếu bên mua bảo hiểm không chứng minh được thiệt hại thì

họ sẽ không được bồi thường. Thiết nghĩ, trong mối quan hệ với doanh nghiệp bảo

hiểm, bên mua bảo hiểm có thể được xác định là bên yếu thế cần phải được pháp

luật quan tâm và bảo vệ nhưng dường như trong trường hợp này pháp luật lại

nghiêng về bảo vệ cho các doanh nghiệp bảo hiểm - là bên có cả thế mạnh về tài

chính, khả năng tự bảo vệ so với bên mua bảo hiểm. Để khắc phục hạn chế này, nên

quy định hậu quả pháp lý của doanh nghiệp bảo hiểm và bên mua bảo hiểm trong

Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000 tương tự nhau. Qua đó có thể thấy rằng: Hoặc

giữ nguyên nội dung hiện tại với trường hợp bên bán bảo hiểm quyết định đình chỉ

thực hiện hợp đồng và sửa quy định hậu quả pháp lý trong trường hợp bên mua bảo

hiểm quyết định đình chỉ thành doanh nghiệp bảo hiểm phải “bồi thường thiệt hại

phát sinh do vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin” cho bên mua bảo hiểm; hoặc là

giữ nguyên nội dung hiện tại với trường hợp bên bán bảo hiểm quyết định đình chỉ

nhưng sửa đổi đối với trường hợp bên mua bảo hiểm quyết định đình chỉ theo

hướng quy định những nguyên tắc, tiêu chí cụ thể để xác định nghĩa vụ tài chính mà

bên bán phải thực hiện với bên mua bảo hiểm.

Đối với khoản 2 Điều 19: “Doanh nghiệp bảo hiểm có quyền đơn phương đình

80

chỉ thực hiện hợp đồng…..quy định tại điểm c khoản 2 Điều 18 của Luật này”. Cần

bổ sung thêm: Bên mua bảo hiểm còn phải chịu một khoản phí nhất định đối với

hành vi cố ý cung cấp thông tin mang tính chất lừa dối. Có như vậy, sẽ tránh được

nhiều thiệt hại cho doanh nghiệp bảo hiểm, đồng thời sẽ giúp cho cơ quan luật pháp

dễ dàng điều chỉnh và chọn chế tài phù hợp.

4.2.2. Đối với hợp đồng dịch vụ

Bộ luật Dân sự năm 2015 ghi nhận HĐDV là một trong các hợp đồng dân sự

thông dụng cần pháp luật điều chỉnh. Bộ luật Dân sự năm 2015 tiếp tục kế thừa quy

định này trong Bộ luật Dân sự năm 2005. Tuy nhiên, dịch vụ là một hoạt động kinh

tế đỉnh cao và chất lượng dịch vụ được đảm bảo bởi sự chuyên nghiệp. Nếu pháp

luật tiếp tục quy định như vậy thì sẽ giảm bớt tính năng động, linh hoạt cho các nhà

cung ứng dịch vụ. Tuy nhiên, một thực tiễn hiện nay là các công trình nghiên cứu

chưa đi sâu vào bản chất của HĐDV. Làm rõ bản chất HĐDV là cơ sở xem xét,

đánh giá các quy định pháp luật về hợp đồng này có phù hợp hay không.

Pháp luật cần ghi nhận các nghĩa vụ tiền hợp đồng đối với các chủ thể trong

HĐDV. Toàn bộ chương về hợp đồng dịch vụ được quy định từ Điều 513 đến Điều

521 cũng không có quy định cụ thể về nghĩa vụ cung cấp thông tin. Mà thực tế, đối

với hợp đồng dịch vụ thì thông tin đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình thực

hiện hợp đồng. khi các thông tin đầy đủ, đảm bảo mới tạo nên được sản phẩm chất

lượng. Vì vậy, cần phải có một điều luật cụ thể về nghĩa vụ cung cấp thông tin tiền

hợp đồng, nhằm đảm bảo quyền và lợi ich của các bên khi tham gia giao kết hợp

đồng, Và kiến nghị bổ sung thêm Điều 517 về nghĩa vụ của bên cung ứng dịch vụ

như sau:

+ Nghĩa vụ thu thập thông tin liên quan đến thực hiện dịch vụ của bên cung

ứng dịch vụ;

+ Nghĩa vụ giữ bí mật thông tin, bảo quản tài liệu, giấy phép hoặc chứng chỉ

do bên thuê dịch vụ cung cấp của bên cung ứng dịch vụ;

+ Nghĩa vụ cảnh báo rủi ro của bên cung ứng dịch vụ cho bên thuê dịch vụ;

+ Nghĩa vụ điều chỉnh nội dung đã đàm phán trong HĐDV khi hoàn cảnh thay đổi.

Điều khoản về nghĩa vụ cung cấp thông tin nên ràng buộc bên cung ứng dịch

81

vụ phải cung cấp các giấy tờ chứng minh mình được thành lập và hoạt động hợp

pháp, các dịch vụ mình cung cấp là hoàn toàn hợp pháp. Ngoài ra, có những dịch

vụ đặc thù như ứng dụng trên thiết bị di động, bên cung ứng, về mặt nguyên tắc,

phải cung cấp cho bên sử dụng dịch vụ biết quyền truy cập vào dữ liệu người dùng

để đảm bảo vấn đề bảo mật và quyền riêng tư. Nhất là các công ty thuê ngoài dịch

vụ IT, trong hợp đồng cung ứng dịch vụ nên quy định thật cụ thể điều khoản này để

bảo vệ doanh nghiệp của mình.

Trong thời đại 4.0 như hiện nay, khi Việt Nam hội nhập với nền kinh tế toàn

cầu, thì các ứng dụng trên thiết bị di động, máy tính càng trở nên đa dạng, phong

phú. Vì vậy, cần có những điều khoản quy định cụ thể, rõ ràng, tránh việc khó xử lý

khi có tranh chấp xảy ra. Bởi ngoài nhiệm vụ tạo ra sản phẩm theo yêu cầu của bên

sử dụng dich vụ, bên cung ứng dịch vụ phải đảm bảo được chất lượng sản phẩm tốt

nhất để tránh xảy ra khiếu kiện sau này.

Ngoài ra, cần bổ sung thêm Điều 515 quy định về nghĩa vụ của bên sử dụng

dịch vụ như sau:

+ Nghĩa vụ cảnh báo sự kiện bất thường của bên thuê dịch vụ đối với bên

cung ứng dịch vụ;

+ Bồi thường thiệt hại cho bên cung ứng dịch vụ nếu thông tin cung cấp

không đầy đủ, chính xác, dẫn đến bên cung ứng dịch vụ thực hiện công việc không

đúng, không đạt hiệu quả

Bởi lẽ, bên sử dụng dịch vụ là bên hưởng thành quả dịch vụ và phải thanh toán

tiền cho bên cung ứng dịch vụ. Nên bên cạnh những quyền của mình, họ cũng cần

phải bị ràng buộc bởi những nghĩa vụ nhất định.

Tiểu kết chương 4:

Nghĩa vụ cung cấp thông tin tiền hợp đồng là khái niệm mới được tiếp thu

trong pháp luật thương mại Việt Nam, cụ thể là Luật Thương mại. Tuy nhiên, hiện

nay, khái niệm này vẫn còn mới và chưa được quy định rộng rãi trong pháp luật dân

sự Việt Nam. Do đó, nó vẫn còn nhiều hạn chế và thiếu sót cần được bổ sung, đặc

biệt là về “mục đích của việc giao kết hợp đồng”. Hoàn thiện quy định pháp luật

Việt Nam về vi phạm về nghĩa vụ cung cấp thông tin giai đoạn tiền hợp đồng

82

thương mại là rất cần thiết, theo đó việc hoàn thiện quy định của pháp luật Việt

Nam về vi phạm cơ bản hợp đồng cũng có thể theo hướng đi sâu vào hậu quả của

việc vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin nhằm hoàn thiện hơn, tạo sự tương thích

với pháp luât của một số quốc gia điển hình trong bối cảnh chúng ta đang tích cực

tiến hành các hoạt động để gia nhập Công ước Viên.

83

KẾT LUẬN

1. Nghĩa vụ cung cấp thông tin tiền hợp đồng thương mại là điều kiện rất

quan trọng để xác định tính hiệu lực của hợp đồng. Khi các bên không tuân thủ

nguyên tắc này sẽ phải chịu hậu quả pháp lý nhất định. Đây là vấn đề tuy không

mới nhưng cũng chưa được quy định cụ thể tại Bộ luật dân sự 2015 cũng như các

luật chuyên biệt, đặc biệt là trong Luật thương mại. Nghĩa vụ cung cấp thông tin

tiền hợp đồng thương mại là vấn đề pháp lý phức tạp và có mối liên hệ biện chứng

với nhiều vấn đề pháp lý quan trọng khác của pháp luật hợp đồng thương mại như

vi phạm hợp đồng, thiệt hại, tạm ngừng, đình chỉ hoặc hủy bỏ hợp đồng. Vì vậy

việc nghiên cứu hoàn thiện quy định pháp luật về nghĩa vụ cung cấp thông tin tiền

hợp đồng thương mại cũng có ý nghĩa đối với việc hoàn thiện các vấn đề đó. Luận

văn tập trung nghiên cứu quy định của pháp luật Việt Nam, so sánh với hệ thống

pháp luật của các nước về nghĩa vụ cung cấp thông tin tiền hợp đồng thương mại;

những bất cập trong các quy định và thực tiễn áp dụng, định hướng hoàn thiện. Mỗi

nội dung đều thiết kế thành một chương, kết hợp với chương lý luận về hợp đồng

thương mại, giai đoạn tiền hợp đồng thương mại và nghĩa cụ cung cấp thông tin tiền

hợp đồng thương mại, tạo thành bốn chương của luận văn

2. Nội dung chương 2 tập chung làm rõ nghĩa vụ cung cấp thông tin giai đoạn

tiền hợp đồng trong pháp luật một số nước và văn bản pháp luật quốc tế. Khi nghiên

cứu quy định pháp luật của các nước về giai đoạn tiền hợp đồng, tác giả sẽ thấy

được lịch sử hình thành và phát triển của một số nước và văn bản quốc tế về nghĩa

vụ cung cấp thông tin tiền hợp đồng thương mại, đồng thời rút ra được những nhận

xét từ việc nghiên cứu đó để làm căn cứ so sánh đối với pháp luật Việt Nam…

3. Nội dung chương 3 tập trung nghiên cứu về nghĩa vụ cung cấp thông tin

giai đoạn tiền hợp đồng thương mại trong pháp luật Việt Nam. Kết quả nghiên cứu

của chương 3 là những quy định và thực tiễn áp dụng quy định về nghĩa vụ cung

cấp thông tin tiền hợp đồng, thông qua một số bản án cụ thể trên hệ thống Case Law

để thấy được những bất cập trong quy định và thực tiễn áp dụng trong pháp luật

Việt Nam.

84

4. Nội dung chương 4 nêu lên những định hướng hoàn thiện pháp luật Việt

Nam về nghĩa vụ cung cấp thông tin tiền hợp đồng thương mại. Thông qua những

định hướng để có những giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam như các yếu tố

trung thực, tự nguyện để đạt được mục đích của việc giao kết hợp đồng. Từ đó,

chương 4 cũng đưa ra những định hướng hoàn thiện quy định của pháp luật Việt

Nam về nghĩa vụ cung cấp thông tin tiền hợp đồng thương mại, theo đó hoàn thiện

phải dựa trên sự thống nhất, dễ hiểu và dễ áp dụng cho cộng đồng doanh nghiệp,

cũng như Tòa án, trọng tài trong quá trình giải quyết tranh chấp.

5. Như đã khẳng định nghĩa vụ cung cấp thông tin tiền hợp đồng thương mại

là một đề tài có nội dung phức tạp và phạm vi nghiên cứu rất rộng liên quan đến

nhiều loại hợp đồng thương mại khác nhau, nên trong quá trình nghiên cứu, tác giả

chưa có điều kiện để giải quyết hết được mà mới chỉ giới hạn ở phạm vi đối với một

số hợp đồng thương mại cụ thể như hợp đồng dịch vụ, hợp đồng bảo hiểm, hợp

đồng về nhà ở hình thành trong tương lai.

85

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

I. Văn bản pháp luật, án lệ có liên quan

1. Bộ luật dân sự năm 2005, Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt

Nam ban hành ngày 14/6/2005.

2. Bộ luật dân sự năm 2015, Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt

Nam ban hành ngày 24/11/2015.

3. Bộ luật hàng hải năm 2015, Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt

Nam ban hành ngày 21/11/2015.

4. Công ước Viên ngày 11 tháng 4 năm 1980 về mua bán hàng hóa quốc tế.

5. Luật Thương mại năm 2005, Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt

Nam ban hành ngày 14/6/2005.

6. Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000, Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ

nghĩa Việt Nam ban hành ngày 09/12/2000, sửa đổi bổ sung ngày 24/11/2010.

7. Luật Kinh doanh bất động sản, Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa

Việt Nam ban hành ngày 25/11/2014.

8. Nghị định 37/2015/NĐ - CP ngày 22/4/2015 của Chính phủ quy định chi tiết

về hợp đồng xây dựng.

II. Sách, Luận án, Báo, Tạp chí, Bản án

1. Trần Đình Chi, Chuyển giao quyền yêu cầu trong quan hệ nghĩa vụ dân sự,

Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2011

2. Đỗ Văn Đại, Luật hợp đồng Việt Nam – Bản án và bình luận bản án, tập 1

Nxb chính trị quốc gia – Sự thật 2013.

3. Nguyễn Thị Mơ, Giáo trình Pháp luật thương mại Quốc tế, Đại học Ngoại

thương, 2011.

4. Nguyễn Bình Minh và Hà Công Anh Bảo, Nghĩa vụ cung cấp thông tin trong

giai đoạn tiền hợp đồng – Pháp luật Việt Nam và một số nước trên thế giới,

Tạp chí Kinh tế đối ngoại số 68, 2017.

86

5. Kiều Thị Thùy Linh, Nghĩa vụ tiền hợp đồng trong hợp đồng dịch vụ của

Nguyên tắc Luật Châu Âu (PELSC) và bài học kinh nghiệm trong việc hoàn

thiện quy định pháp luật ở Việt Nam, Kho dữ liệu pháp luật Việt Nam, 2015.

6. Nguyễn Ngọc Khánh, Chế định hợp đồng trong Bộ luật dân sự Việt Nam,

Nxb Tư pháp xuất, 2007.

7. Lê Minh Tâm (chủ biên), Lý luận nhà nước và pháp luật, Nxb. Tư pháp, Hà

Nội, 2007.

8. Từ điển Tiếng Việt, Viện Ngôn ngữ học, Nxb Đà Nẵng, 2006.

9. J. Ghestin, G. Loiseau and Y – M Seriet, Formation du contrat, Tome 1, Nxb.

LGDJ 2013.

10. Resmy Cabrillac, Droit européens du contrat, Nxb. LGDJ, 2012 ;

11. Roger Halson, Contract law, Nxb. PEARSON, 2013 (Ch.Req, 16/1/1861, D.,

1861,1,93; S.,1861,1,306, MASSE, grands arrest du droit international prive’

– những bản án tiêu biểu của tư pháp quốc tế).

12. Lê Trường Sơn, Giai đoạn tiền hợp đồng trong pháp luật Việt Nam, Luận án

tiến sĩ Luật học, Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh, năm 2015.

13. Đoàn Phan Tân, Khái niệm thông tin và các thuộc tính thông tin làm nên giá

trị của thông tin, Tạp chí văn hóa – Nghệ thuật, 2001.

14. Nguyễn Anh Thư, Đề nghị giao kết hợp đồng theo pháp luật Việt Nam, Tạp

chí Nhà nước và pháp luật số 10 (318), 2014.

15. Nguyễn Đình Phong, Nguyễn Thu Hương, Một số bất cập về hợp đồng mua

bán nhà ở hình thành trong tương lai, Tạp chí Tòa án, tháng 3, 2018.

16. Phạm Si Hải Quỳnh, Cơ sở hình thành nghĩa vụ cung cấp thông tin trong

giao kết hợp đồng bảo hiểm, Tạp chí khoa học số 3, 2017;

17. Võ Minh Trí và Trần Phú Quý, Trách nhiệm tiền hợp đồng và việc bảo vệ

quyền của các bên trong tham gia đàm phán, Tạp chí Dân chủ và pháp luật

năm 2018.

87

18. Bản án dân sự phúc thẩm số 162/2011/DS – PT ngày 08/3/2011 của Tòa

phúc thẩm Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh.

19. Bản án dân sự phúc thẩm số 61/2015/DS – PT ngày 15/01/2015 của Tòa án

nhân dân thành phố Hồ Chí Minh.

20. Bản án dân sự phúc thẩm số 313/2016/DS-PT ngày 16-3-2016 của Tòa án

nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về vụ án tranh chấp hợp đồng bảo hiểm.

(Án lệ số 22/2018/AL được Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao

thông qua ngày 17 tháng 10 năm 2018 về không vi phạm nghĩa vụ cung cấp

thông tin tình trạng hợp đồng bảo hiểm nhân thọ).

88

PHỤ LỤC TÓM TẮT BẢN ÁN ĐƯỢC TRÍCH DẪN TRONG ĐỀ TÀI

BẢN ÁN SỐ 01

Bản án dân sự phúc thẩm 162/2011/DS – PT ngày 08/3/2011 của Tòa án

nhân dân thành phố Hồ Chí Minh xét xử vụ án tranh chấp hợp đồng bảo hiểm

Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc Thanh

Bị đơn Công ty An Khang.

Nội dung vụ án như sau: Bà Nguyễn Thị Ngọc Thanh có sở hữu một chiếc xe

tải biển số kiểm soát 54Y – 6382. Ngày 29/1/2010 bà có đưa tiền cho ông Nguyễn

để nhờ ông mua bảo hiểm cho xe của bà, trong ngày hôm đó ông Nguyễn đã mua và

đưa cho bà giấy chứng nhận bảo hiểm số 167581 do giám đốc Công ty An Khang

ký, thời gian bảo hiểm là 8 giờ 30 phút ngày 29/1/2010 đến ngày 28/1/2011.

Vào ngày 02/2/2010 xe 54Y - 6382 của bà bị tai nạn tại thành phố CT, qua quá

trình thương lượng với bị hại, nguyên đơn đã thỏa thuận bồi thường với số tiền

50.000.000 đồng, theo quy định thì bị đơn Công ty An Khang phải bồi thường số

tiền này lại cho bà, bà có liên hệ với những người có trách nhiệm để được nhận lại số

tiền này. Ngày 03/6/2010 giám đốc Công ty An Khang ông Nguyễn Văn Thông ký

thông báo số 45/B T -2010 thông báo không bồi thường bảo hiểm tai nạn xe 54Y -

6382 với lý do khi mua bảo hiểm cho xe này là ngày 04/2/2010, ông Nguyễn đã nhờ

người cấp bảo hiểm ghi lùi 06 ngày và Công ty đã đồng ý theo đề nghị này của

ông Nguyễn mà cố ý làm trái quy định của Nhà nước.

Ngày 09/8/2010 bà khởi kiện đến Tòa án nhân dân tỉnh TV yêu cầu Tòa án giải

quyết buộc Công ty An Khang bồi hoàn lại cho bà số tiền 50.000.000 đồng mà bà đã

thỏa thuận bồi thường cho người bị hại vì nguyên đơn cho rằng việc Công ty An

Khang không bồi thường cho bà là có dấu hiệu cố ý làm trái các quy định của Nhà

nước để chiếm đoạt tài sản của nguyên đơn (khoản tiền bồi thường).

Tại công văn số 127/2010/B B ngày 15/12/2010 và biên bản hòa giải ngày

31/12/2010 đại diện bị đơn Công ty An Khang trình bày: Vào ngày 04/2/2010 ông

89

Nguyễn có đến đại lý Q thuộc chi nhánh của bị đơn Công ty An Khang mua bảo

hiểm cho xe 54Y - 6382. Ông Nguyễn yêu cầu đại lý ghi lùi ngày vì ông Nguyễn

cho rằng vào ngày 02/2/2010 xe 54Y - 6382 bị Công an giao thông huyện VL phạt

do đó phải ghi lùi ngày. Chị Loan là chủ đại lý tin lời nên trong giấy chứng nhận

bảo hiểm đã ghi lùi ngày là 29/01/2010. Qua xác minh, đối chiếu với sổ sách xác

định xe 54Y - 6382 gây tai nạn vào ngày 02/2/2010 trước ngày mua bảo hiểm nên

khi nguyên đơn bà Thanh yêu cầu bồi thường bảo hiểm công ty đã giải thích với bà

Thanh về trường hợp tai nạn của xe 54Y - 6382 Công ty An Khang không bồi

thường được. Bà Thanh đã nhất quyết không nghe và có những lời lẽ không tốt đối

với Công ty. Nay bà Thanh khởi kiện đến tòa án yêu cầu Công ty phải bồi thường,

phía Công ty An Khang không đồng ý bồi thường.

Sau khi Tòa án tiến hành lấy lời khai của những người có quyền lợi nghĩa vụ

liên quan là ông Nguyễn và bà Loan đều xác định rằng: Do tin lời bà Thanh cho

rằng chiếc xe 54Y - 6382 bị Công an giao thông huyện VL phạt, hiện đang bị tạm

giữ tại Công an huyện. Do đó, ông Nguyễn đã nói với bà Loan ghi lùi ngày bảo

hiểm cho để tránh việc bị Công an phạt do xe không mua bảo hiểm dân sự. Do là

chỗ quen biết, nên phía bà Loan cũng không kiểm tra kĩ thông tin, mà vẫn ghi lùi

ngày cho chiếc xe. Chỉ sau này khi bà Thanh yêu cầu công ty Bảo hiểm bồi thường,

cả ông Nguyễn và bà Loan mới biết việc bà Thanh lợi dụng lòng tin của mình để

mua bảo hiểm sau khi tai nạn xảy ra. Bản thân ông Nguyễn cũng cho rằng mình

không cố ý lừa dối công ty An Khang mà do ông cũng là bị hại, bà Loan chỉ vì tin

ông cũng đã bị kéo theo vụ việc.

Tại bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 03/2011/KDTM- ST ngày

10/5/2011 của Tòa án nhân dân tỉnh TV đã quyết định:

Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 29, khoản 1 Điều 34, khoản 1 Điều 210, Điều

236, Điều 239 và khoản 1 Điều 245 Bộ lu t tố tụng dân sự; Điều 17, điểm c khoản

1 Điều 22 Luật kinh doanh bảo hiểm;

Pháp lệnh số 10/2009/UBT Q 12 ngày 27/2/2009 của ủy ban thường vụ

Quốc hội về án phí lệ phí Tòa án.

90

Tuyên xử:

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc

Thanh về yêu cầu bị đơn Công ty Bảo hiểm An Khang bồi thường số tiền

50.000.000 đồng. Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về phần án phí, quyền kháng cáo

của các đương sự theo quy định của pháp luật.

Ngày 23/5/2011, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc Thanh có đơn kháng cáo

toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm phía nguyên đơn bà Thanh xuất trình giấy chứng

nhận bảo hiểm số 0167581 do bị đơn Công ty An Khang cấp ghi ngày 29/01/2010.

Nguyên đơn trình bày kháng cáo rằng ngày trên là ngày người của phía bà (ông

Nguyễn) đi mua bảo hiểm. Vì vậy, nguyên đơn yêu cầu tòa buộc bị đơn Công ty

An Khang phải bồi thường theo quy định của hợp đồng bảo hiểm với số tiền 50

triệu đồng.

Phía bị đơn BĐ_Công ty An Khang đã xuất trình các chứng cứ là: giấy nhận

tiền được xác lập là ngày 04/02/2010 có chữ ký của người mua.

Lời khai của người đi mua bảo hiểm (người của phía bà Thanh): ông Nguyễn

khẳng định rằng ngày 04/02/2010 bà Thanh mới nhờ ông đi mua bảo hiểm cho xe

54Y – 6382. Chính ông yêu cầu bên bán bảo hiểm ghi lùi lại 6 ngày ghi ngày

29/01/2010 theo yêu cầu của bà Thanh. Phía chi nhánh bán bảo hiểm đã không

cương quyết kiểm tra xe trước khi giao chứng nhận bảo hiểm.

Các chứng cứ trên có đủ căn cứ để khẳng định phía người mua bảo hiểm đã có

thủ đoạn gian dối lợi dụng quen biết tình cảm để mua bảo hiểm sau khi tai nạn đã

xảy ra và cố tình giấu xe không đưa cho bảo hiểm kiểm tra xe theo quy định. Do đó,

kháng cáo của nguyên đơn yêu cầu bị đơn bồi thường theo hợp đồng bảo hiểm là

không thể chấp nhận được. Vì vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm đã bác kháng

cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc Thanh, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

91

BẢN ÁN SỐ 02

Bản án dân sự phúc thẩm số 61/2015/DS – PT ngày 15/01/2015 của Tòa

phúc thẩm Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh xét xử vụ án tranh chấp

hợp đồng bảo hiểm

Nguyên đơn bà Trịnh Thúy Hằng

Bị đơn Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ ABC Việt Nam.

Nội dung vụ án như sau: Ông Trịnh Văn Côn có mua 02 hợp đồng bảo hiểm

nhân thọ có kỳ hạn với BĐ_Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ ABC Việt Nam

(sau đây gọi tắt là BĐ_Công ty ABC Việt Nam), hợp đồng ngày 28/10/2011 có

mệnh giá bảo hiểm là 200.000.000 đồng và hợp đồng ngày 29/12/2011 có mệnh

giá bảo hiểm là 300.000.000 đồng. Theo hai hợp đồng này thì người mua bảo hiểm

là ông Côn và người thụ hưởng quyền lợi bảo hiểm là bà NĐ_Trịnh Thúy Hằng.

Ông Côn đã đóng phí bảo hiểm đầy đủ cụ thể như sau:

Đối với hợp đồng ngày 28/10/2011 mệnh giá bảo hiểm 200.000.000 đồng thì

ông Côn đã đóng phí đầy đủ theo quy định kể từ ngày 19/9/2012 trở về trước, được

04 kỳ, mỗi kỳ 03 tháng là: 954.800 đồng, tổng cộng cả 04 kỳ là: 3.819.200 đồng.

Đối với hợp đồng ngày 29/12/2011 mệnh giá bảo hiểm 300.000.000 đồng thì

ông Côn đã đóng phí đầy đủ theo quy định kể từ ngày 19/9/2012 trở về trước, được

04 kỳ, mỗi kỳ 03 tháng là: 1.074.000 đồng, tổng cộng cả 04 kỳ là: 4.296.000 đồng.

Sau khi mua 02 hợp đồng bảo hiểm nêu trên được khoản 01 (một) năm thì

ông Trịnh Văn Côn chết (chết ngày 19/9/2012), do đó bà đã liên hệ với BĐ_Công

ty ABC Việt Nam để được thụ hưởng quyền lợi bảo hiểm.

Nay bà Hằng yêu cầu bị đơn Công ty ABC Việt Nam phải có trách nhiệm chi

trả quyền lợi bảo hiểm cho bà đối với hợp đồng ngày 28/10/2011 là: 200.000.000

đồng và đối với hợp đồng ngày 29/12/2011 là: 300.000.000 đồng, tổng cộng là

500.000.000 đồng (năm trăm triệu đồng) ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.

Bị đơn_Công ty ABC Việt Nam cho rằng giữa bị đơn và ông Trịnh Văn Côn

có ký kết 02 hợp đồng bảo hiểm nhân thọ và ông Côn đã đóng phí bảo hiểm như

92

lời trình bày nêu trên của nguyên đơn. Ngày 19/9/2012 ông Côn đột tử, bà_Hằng

đã yêu cầu bị đơn_Công ty ABC Việt Nam chi trả quyền lời bảo hiểm, nhưng sau

khi nghiên cứu hồ sơ thì BĐ Công ty ABC Việt Nam có ý kiến như sau:

- Trong hồ sơ yêu cầu bảo hiểm nhân thọ đối với hợp đồng ngày 28/10/2011

với trị giá là: 200.000.000 đồng, thì tại câu hỏi: số 4 điểm i phía công ty bảo hiểm

đã hỏi người mua bảo hiểm như sau: “bạn đã bao giờ … bị nuốt khó, nuốt nghẹn

hoặc khó phát âm không? Có bị đổi giọng không?”, thì ông Côn đã khai để đánh

dấu X vào ô “không”.

- Trong hồ sơ yêu cầu bảo hiểm nhân thọ đối với hợp đồng ngày 29/12/2011

với trị giá là: 300.000.000 đồng, thì tại câu hỏi: số 4 điểm i phía công ty bảo hiểm

đã hỏi người mua bảo hiểm như sau: “bạn đã bao giờ … bị nuốt khó, nuốt nghẹn

hoặc khó phát âm không? Có bị đổi giọng không?”, thì ông Côn đã khai để đánh

dấu X vào ô “không” và tại câu hỏi: số 5 đã hỏi “Trong vòng 6 tháng vừa qua, bạn

đã phải điều trị bởi một bác sĩ không?”, thì ông Côn đã khai để dấu X vào ô

“không”.

Theo tóm tắt bệnh án của Bệnh viện Đa Khoa Bưu Điện đã xác định ông Côn

đã nhập viện vào lúc 21 giờ ngày 28/10/2011 và xuất viện ngày 04/11/2011 với

bệnh sử là: Bệnh nhân than nuốt nghẹn 02 (hai) tháng trước, có được điều trị viêm

dạ dày. Như vậy, ông Côn đã khai thông tin trong hồ sơ yêu cầu bảo hiểm nhân thọ

không trung thực, nên căn cứ vào Điều 19, Điều 22 Luật Kinh doanh bảo hiểm;

Điều 573 Bộ Luật dân sự năm 2005 thì công ty bảo hiểm không có cơ sở chi trả

quyền lợi bảo hiểm cho bà_Hằng.

Bản án số 57/2014/DS-ST ngày 22/9/2014 của Tòa án nhân dân Quận X,

Thành phố đã quyết định.

Xử:

1. Chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn như sau:

- Buộc BĐ_Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ ABC Việt Nam có trách

nhiệm trả cho bà NĐ_Trịnh Thúy Hằng tiền bảo hiểm là: 200.000.000 đồng (Hai

trăm triệu đồng) phát sinh từ Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ ngày 28/10/2011 được

93

ký giữa BĐ_Công ty ABC Việt Nam với ông Côn, ngay sau khi án có hiệu lực

pháp luật.

- BĐ_Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ ABC Việt Nam có trách nhiệm trả

lại cho bà NĐ_Trịnh Thúy Hằng số tiền phí bảo hiểm đã đóng là: 4.296.000 đồng

(Bốn triệu hai trăm chín mươi sáu nghìn đồng) đối với Hợp đồng bảo hiểm nhân

thọ ngày 29/12/2011 ký giữa BĐ_Công ty ABC Việt Nam với ông Côn, ngay sau

khi án có hiệu lực pháp luật.

- Tổng cộng 02 (hai) khoản trên là: 204.296.000 đồng (Hai trăm linh bốn

triệu hai trăm chín mươi sáu nghìn đồng).

- Kể từ ngày bà NĐ_Trịnh Thúy Hằng có đơn có đơn yêu cầu thi

hành án, nếu BĐ_Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ ABC Việt Nam không

thanh toán tiền như quyết định ở trên thì hàng tháng BĐ_Công ty TNHH Bảo hiểm

Nhân thọ ABC Việt Nam còn phải chịu thêm tiền lãi theo mức lãi suất cơ bản do

Ngân hàng Nhà nước quy định tương ứng với số tiền và thời gian chậm trả tại thời

điểm thanh toán. Đồng thời bản án còn quyết định về mức án phí sơ thẩm và quyền

kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.

Ngày 29/9/2014, bị đơn Công ty TNHH Bảo hiểm nhân thọ ACB Việt Nam

đã nộp đơn kháng cáo một phần bản án dân sự sơ thẩm với nội dung: Bác yêu cầu

của nguyên đơn về việc đòi số tiền bảo hiểm 200.000.000đ (hai trăm triệu đồng)

phát sinh từ hợp đồng bảo hiểm số 72647656 ngày 28/10/2011 và không phải chịu

án phí dân sự sơ thẩm là 10.214.800đ (mười triệu hai trăm mười bốn nghìn tám

trăm đồng).

Ngày 06/10/2014, nguyên đơn kháng cáo với nội dung buộc bị đơn phải chi

trả thêm quyền lợi cho hợp đồng bảo hiểm ngày 29/12/2011 là 300.000.000đ (ba

trăm triệu đồng).

Ngày 03/10/2014, Viện kiểm sát nhân dân quận X, thành phố Hồ Chí Minh

ban hành Quyết định kháng nghị số 02/QĐKN – VKS – DS đề nghị Tòa án nhân

dân thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm sửa một phần bản án sơ thẩm theo

hướng không buộc bị đơn Công ty TNHH Bảo hiểm nhân thọ ABC Việt Nam phải

94

trả cho bị đơn bà Trịnh Thúy Hằng số tiền bảo hiểm 200.000.000đ (hai trăm triệu

đồng) phát sinh từ hợp đồng ngày 28/10/2011.

Tại bản án dân sự phúc thẩm, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Xét kháng cáo của Nguyên đơn bà NĐ_Trịnh Thúy Hằng đề nghị Tòa án cấp

phúc thẩm xem xét buộc BĐ_Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ ABC Việt

Nam phải chi trả quyền lợi bảo hiểm cho hợp đồng ngày 29/12/2011 số tiền

300.000.000 (Ba trăm triệu) đồng.

Tại câu hỏi số 5, trang 4/6 của hợp đồng bảo hiểm ngày 29/12/2011 đối với

câu hỏi: “Trong vòng 6 tháng vừa qua, bạn có phải điều trị bởi một bác sĩ nào

không?” ông Côn đã đánh dấu X vào ô “Không”, và phía cuối trang này có chữ ký

xác nhận của ông Côn, nên có cơ sở xác định ông Côn đã khai như trên.

Căn cứ Bản tóm tắt bệnh án của Bệnh viện đa khoa Bưu điện thì ông Trịnh

Văn Côn đã nhập viện lúc 21 giờ 16 phút ngày 28/10/2011 và xuất viện ngày

04/11/2011 với lý do là “nuốt nghẹn”, bệnh sử là “Bệnh nhân than nuốt nghẹn…”.

Do đó, có cơ sở xác định ông Trịnh Văn Côn đã khai không trung thực đối với

câu hỏi số 5 Hợp đồng bảo hiểm ngày 29/12/2011.

Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn yêu cầu

BĐ_Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ ABC Việt Nam phải chi trả quyền lợi bảo

hiểm cho hợp đồng ngày 29/12/2011 số tiền 300.000.000 (Ba trăm triệu) đồng là có

cơ sở, đúng pháp luật.

- Xét kháng cáo của Bị đơn BĐ_Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ ABC

Việt Nam đề nghị bác yêu cầu của nguyên đơn đòi số tiền bảo hiểm 200.000.000

(Hai trăm triệu) đồng phát sinh từ hợp đồng bảo hiểm ngày 28/10/2011, Hội đồng

xét xử nhận thấy:

Tại câu hỏi số 4, Điểm i, trang 3/6 Hợp đồng bảo hiểm ngày 28/10/2011, câu

hỏi: “Bạn có bao giờ bị nuốt khó, nuốt nghẹn hoặc khó phát âm không? Có bị đổi

giọng không?” ông Côn đã đánh dấu X vào ô “Không”. Tuy nhiên phía dưới trang

này không có chữ ký xác nhận của ông Côn, về nguyên tắc khi ký hợp đồng, giao

95

dịch nếu các bên đồng ý toàn bộ nội dung thì ký vào từng trang của hợp đồng, giao

dịch (Điều 35, Điều 36 Luật Công chứng năm 2006), nên không có cơ sở xác định

ông Côn đã khai như trên. Từ đó không có cơ sở xác định ông Côn đã khai không

trung thực để không chi trả quyền lợi bảo hiểm.

Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu này của nguyên đơn là có cơ sở,

đúng pháp luật.

- Kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân Quận X, Thành phố HCM đề nghị

Tòa án nhân dân Thành phố HCM sửa một phần bản án sơ thẩm theo hướng không

buộc BĐ_Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ ABC Việt Nam phải trả cho bà

NĐ_Trịnh Thúy Hằng số tiền bảo hiểm 200.000.000 đồng phát sinh từ hợp đồng

ngày 28/10/2011 không có cơ sở để chấp nhận.

Đối với phần án phí dân sự theo quy định pháp luật.

96

BẢN ÁN SỐ 03

Bản án dân sự phúc thẩm số 313/2016/DS-PT ngày 16-3-2016 của Tòa án

nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về vụ án tranh chấp hợp đồng bảo hiểm Nguyên đơn ông Đặng Văn L (người đại diện theo ủy quyền của ông Đặng

Văn L là ông Trần Xuân H).

Bị đơn Công ty TNHH bảo hiểm nhân thọ C (người đại diện theo ủy quyền là

ông Hoàng P, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp là ông Đinh Quang T, ông

Trần Ngọc T).

Nội dung vụ án như sau:

*Tại đơn khởi kiện ngày 10-11-2010, ngày 08-12-2010 ông Đặng Văn L là nguyên

đơn yêu cầu: Buộc Công ty TNHH Bảo hiểm nhân thọ C (sau đây gọi là Công ty C)

phải trả cho ông 405.000.000 đồng và số tiền lãi phát sinh cho đến thời điểm bản án

có hiệu lực là tiền mà Công ty C phải bồi thường cho hai hợp đồng bảo hiểm do vợ

ông đã mua mang ký hiệu như sau:

- Hợp đồng S11000009505 mua ngày 14-10-2008 số tiền đền bù là 265.000.000

đồng.

- Hợp đồng S11000040924 mua ngày 25-03-2009 số tiền đền bù là 190.000.000

đồng.

Công ty đã trả trước cho ông 50.000.000 đồng.

Tại đơn bổ sung, thay đổi yêu cầu khởi kiện ngày 30-05-2011 ông Đặng Văn L yêu

cầu: Buộc Công ty C phải trả cho ông số tiền 470.000.000 đồng và số tiền lãi phát

sinh đến thời điểm bản án có hiệu lực pháp luật. Số tiền lãi tạm tính đến thời điểm

hiện nay là 43.000.000 đồng.

- Hợp đồng S11000009505 mua ngày 14-10-2008 số tiền đền bù là 287.000.000

đồng.

- Hợp đồng S11000040924 mua ngày 25-03-2009 số tiền đền bù là 190.000.000

đồng.

97

Tại đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện ngày 22-06-2011 ông Đặng Văn L thay đổi yêu

cầu khởi kiện như sau: Buộc Công ty C phải chi trả tổng số tiền là 203.772.500

đồng cho 02 hợp đồng bảo hiểm số S11000009505, S11000040924 và tiếp tục thực

hiện hợp đồng S11000009505 mua ngày 14-10-2008; trả hai hợp đồng bản gốc số

S11000009505; S11000040924 cụ thể:

Hợp đồng Thịnh Trí Thành Tài Bảo Gia đến thời điểm này công ty phải chi

trả quyền lợi bảo hiểm khi tử vong (Điều 4.1.2) 50% số tiền bảo hiểm 35.000.000

đồng.

Quyền lợi hỗ trợ tiền mặt hàng năm (Điều 4.4) 10% số tiền bảo hiểm

7.000.000 đồng.

Đồng thời tiếp tục thực hiện hợp đồng bảo hiểm số S11000009505 chi trả quyền lợi

khi đến thời điểm ghi trong hợp đồng.

- Hợp đồng tử kỳ có hoàn phí.

Quyền lợi bảo hiểm khi tử vong (Điều 4.1): 190.000.000 đồng (Công ty C đã

thanh toán 50.000.000 đồng). Lãi tạm tính cho đến thời điểm này là số tiền lãi do

công ty chậm thanh toán là: 21.772.500 đồng.

Tại đơn bổ sung yêu cầu khởi kiện ngày 18-04-2015 ông Đặng Văn L yêu cầu: Buộc

Công ty C phải trả cho ông số tiền là 405.000.000 đồng và số tiền lãi phát sinh cho

đến thời điểm bản án có hiệu lực pháp luật. Buộc Công ty C phải trả 02 hợp đồng

bảo hiểm gốc số S11000009505 và S11000040924 mà công ty đã thu giữ từ phía

gia đình ông.

Tại văn bản phản hồi số 008/2011/CV ngày 28-01-2011 bị đơn là Công ty C trình

bày: Khách hàng Trương Thị H trước khi giao kết hai hợp đồng bảo hiểm đã có tiền

sử đau dạ dày và mỡ máu tăng nhưng đã không khai báo trong bảng câu hỏi trong

đơn yêu cầu bảo hiểm. Nếu biết được khách hàng Trương Thị H bị đau dạ dày và

mỡ máu tăng Công ty C sẽ từ chối giao kết hợp đồng bảo hiểm. Do vậy Công ty C

từ chối chi trả quyền lợi bảo hiểm và quyết định hủy bỏ hai hợp đồng bảo hiểm của

bà H là có căn cứ (theo Điều 11.2 Quy tắc và điều khoản của hợp đồng) và đúng

quy định của pháp luật (theo Điều 19 Luật Kinh doanh bảo hiểm).

98

Công ty C đề nghị Tòa án nhân dân Quận 1 bác yêu cầu khởi kiện của ông L.

Tại văn bản phản hồi số 024/2011/CV ngày 16-05-2011; Bị đơn là công ty C trình bày:

1. Đối với yêu cầu công ty C trả số tiền 405.000.000 đồng và tiền lãi phát sinh của

hai hợp đồng bảo hiểm số S11000009505 và S11000040924 Công ty C vẫn giữ

nguyên quan điểm. Công ty đã thanh toán tất cả nghĩa vụ của mình được quy định

trong hai hợp đồng bảo hiểm nêu trên. Đồng thời yêu cầu của ông Đặng Văn L là

không có cơ sở theo quy định trong Quy tắc và điều, khoản của hợp đồng bảo hiểm

và không có căn cứ pháp luật. Do vậy, Công ty C đề nghị Tòa án bác bỏ yêu cầu

của ông L.

2. Đối với yêu cầu Công ty C hoàn trả hai (02) bản hợp đồng bảo hiểm gốc số

S11000009505 và S11000040924 Công ty C đồng ý trả lại 02 bản gốc hợp đồng

bảo hiểm cho ông L.

Tòa án xử:

1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

- Buộc công ty TNHH Bảo hiểm nhân thọ C phải chịu trách nhiệm chi trả cho ông

Đặng Văn L số tiền bảo hiểm là 300.875.342 đồng (Ba trăm triệu tám trăm bảy

mươi lăm ngàn ba trăm bốn mươi hai đồng).

- Công ty TNHH Bảo hiểm nhân thọ C phải giao trả cho ông Đặng Văn L hai hợp

đồng bảo hiểm Thịnh Trí Thành Tài Bảo Gia ngày 14-10-2008, hợp đồng bảo hiểm

Tử kỳ có hoàn phí ngày 25-03-2009.

- Hợp đồng bảo hiểm số S11000009505 ngày 14-10-2008 (Thịnh Trí Thành Tài Bảo

Gia) vẫn tiếp tục thực hiện và được giải quyết quyền lợi đáo hạn khi cháu Đặng

Linh N đủ 22 tuổi và còn sống vào ngày đáo hạn.

Ngày 09-9-2015, bị đơn - Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ C (sau đây gọi

tắt là công ty C) có đơn kháng cáo, kháng cáo toàn bộ nội dung bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm: Nguyên đơn không rút yêu cầu khởi kiện, người

kháng cáo không rút yêu cầu kháng cáo. Các bên đương sự không thỏa thuận được

với nhau về việc giải quyết vụ án.

99

Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Tại câu hỏi số 54 Đơn yêu cầu bảo hiểm ngày 25-3-2009, câu hỏi: “loét

đường tiêu hóa, xuất huyết tiêu hóa, viêm tụy, viêm kiết tràng, khó tiêu thường

xuyên, khó nuốt, hoặc rối loạn tại dạ dày, ruột gan hoặc túi mật” bà H đánh dấu vào

ô không. Tại biên bản hội chẩn số 42/BV-99 của Bệnh viện B ngày 03-9-2009 bà H

khai có tiền sử đau dạ dày 2 năm. Căn cứ theo Biên bản hội chẩn thì bà H có bệnh

đau dạ dày từ ngày 03-9-2007 là trước thời điểm bà H ký Hợp đồng bảo hiểm. Phía

Công ty C cho rằng cụm từ rối loạn tại dạ dày bao gồm tất cả các bệnh liên quan

đến dạ dày trong đó có bệnh đau dạ dày. Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm, phía bị

đơn không đưa ra được bất kỳ chứng cứ nào để chứng minh, không đưa ra được một

giải thích khoa học nào xác định đau dạ dày chính là rối loạn tại dạ dày.

- Tại khoản 2 Điều 407 Bộ luật Dân sự năm 2005: “Trong trường hợp hợp

đồng dân sự theo mẫu có điều khoản không rõ ràng thì bên đưa ra hợp đồng theo

mẫu phải chịu bất lợi khi giải thích điều khoản đó”;

- Tại khoản 4 Điều 409 Bộ luật Dân sự năm 2005: “Khi hợp đồng có điều

khoản hoặc ngôn từ khó hiểu thì phải được giải thích theo tập quán tại địa điểm giao

kết hợp đồng”;

- Tại Điều 21 Luật Kinh doanh bảo hiểm: “Trong trường hợp hợp đồng bảo

hiểm có điều khoản không rõ ràng thì điều khoản đó được giải thích theo hướng có

lợi cho người mua bảo hiểm”.

- Căn cứ theo các quy định pháp luật nêu trên thì trong trường hợp các bên

có sự giải thích khác nhau không rõ ràng khó hiểu thì Điều khoản này phải được

giải thích theo hướng có lợi cho bà H. Như vậy, không đủ cơ sở xác định đau dạ dày

được bao gồm trong rối loạn tại dạ dày như Công ty C trình bày.

- Xét thấy, tại đơn yêu cầu bảo hiểm không có câu hỏi về bệnh đau dạ dày.

Như vậy, phía Công ty C cho rằng bà H bị bệnh đau dạ dày mà không khai báo là cố

tình khai báo không trung thực và vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin là không có

căn cứ.

100

- Tại câu hỏi 61 của Đơn yêu cầu bảo hiểm ngày 25-3-2009: “Trong vòng 5

năm trở lại đây, ông, bà đã có làm xét nghiệm chẩn đoán như X-quang, siêu âm,

điện tim đồ, thử máu, sinh thiết? Hoặc ốm đau, bệnh tật khám y khoa, điều trị tại

bệnh viện nhưng chưa được nêu ở phần trên không?” bà H đánh dấu vào ô không.

Tại phiên tòa phúc thẩm, phía Công ty C cung cấp Phiếu xét nghiệm hóa sinh máu

đề ngày 22-9-2008 mang tên người bệnh là Trương Thị H. Phía Công ty C xác định

đây là tài liệu do Công ty C thu thập trong hồ sơ kiểm tra sức khỏe định kỳ cho

nhân viên của Trường Mầm non C nơi trước đây bà H công tác. Công ty C cho rằng

vào ngày 22-9-2008, bà H có làm xét nghiệm máu nhưng không khai báo tại câu hỏi

số 61, đơn yêu cầu bảo hiểm là bà H cố tình khai báo không trung thực. Xét thấy,

việc kiểm tra sức khỏe định kỳ được các cơ quan, tổ chức thực hiện một cách

thường xuyên và định kỳ. Khi tham gia kiểm tra sức khỏe định kỳ, người được

khám không biết và không buộc phải biết tổ chức khám chữa bệnh đã tiến hành các

biện pháp, phương pháp gì. Hơn nữa, khi kiểm tra sức khỏe định kỳ bà H không

phát hiện dấu hiệu của một căn bệnh nào dẫn đến việc Công ty C từ chối ký kết hợp

đồng với bà H. Do đó, không đủ cơ sở xác định bà H cảm thấy cơ thể bất thường

mới tiến hành đi xét nghiệm máu sau đó mua bảo hiểm của Công ty C.

- Như vậy, chưa đủ cơ sở xác định bà H có gian dối khi ký hợp đồng bảo

hiểm, không có cơ sở xác định việc bà H đánh dấu vào ô không của mục 54 và 61

tại Đơn yêu cầu bảo hiểm làm ảnh hưởng trực tiếp đến việc Công ty C có xem xét

để ký hợp đồng bảo hiểm với bà H hay không.

- Hơn nữa, theo quy tắc và điều khoản của sản phẩm bảo hiểm tử kỳ có hoàn

phí và sản phẩm Thịnh Trí Thành Tài Bảo Gia của Công ty C có nội dung: “Điều

11.2. Nếu bất cứ thông tin nào bên mua bảo hiểm hoặc người được bảo hiểm cung

cấp cố ý che giấu hoặc khai báo sai sự thật làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyết

định đánh giá chấp nhận bảo hiểm thì công ty có thể hủy bỏ hợp đồng và hợp đồng

không có hiệu lực ngay từ đầu”. Cụm từ “ảnh hưởng nghiêm trọng” ở Điều 11.2 nêu

trên, tại phiên tòa hôm nay bên phía Công ty C đã không có giải thích rõ ràng ý

nghĩa ảnh hưởng như thế nào là nghiêm trọng đồng thời trình bày của phía bị đơn

về việc bán bảo hiểm cũng không thống nhất khi quyết định chấp nhận hay không

101

chấp nhận bảo hiểm đối với trường hợp người mua bảo hiểm tử kỳ có tiền sử bệnh

đau dạ dày và mỡ máu tăng. Tại văn bản phản hồi số 008 ngày 28-01-2011 Công ty

C cho rằng: “Nếu biết được khách hàng Trương Thị H bị đau dạ dày và mỡ máu

tăng, Công ty C sẽ từ chối giao kết hợp đồng bảo hiểm”. Tại phiên tòa sơ thẩm và

phúc thẩm, đại diện của Công ty C và luật sư bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của

Công ty C lại cho rằng nếu biết bà H bị đau dạ dày và mỡ máu tăng thì công ty C sẽ

cân nhắc có ký hợp đồng hay không. Điều này cho thấy công ty C đã không có một

tiêu chí cụ thể để giải quyết trường hợp như trên. Do đó, cụm từ “ảnh hưởng

nghiêm trọng” phải được hiểu theo nghĩa bệnh dẫn đến từ chối không được mua bảo

hiểm chứ không thể chấp nhận theo nghĩa có thể bán hoặc không bán bảo hiểm như

lời trình bày của Công ty C, điều khoản này cũng tạo ra sự không rõ ràng, nên căn

cứ khoản 2 Điều 407 Bộ luật Dân sự quy định: “Trong trường hợp hợp đồng theo

mẫu có điều khoản không rõ ràng thì bên đưa ra hợp đồng theo mẫu phải chịu bất

lợi khi giải thích điều khoản đó” và Điều 21 Luật Kinh doanh bảo hiểm quy định:

“Trong trường hợp hợp đồng bảo hiểm có điều khoản không rõ ràng thì điều khoản

đó được giải thích theo hướng có lợi cho bên mua bảo hiểm” nên phải hiểu và giải

thích điều khoản này theo hướng có lợi cho bà H.

Từ các nhận định trên có cơ sở xác định Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu

cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở, đúng pháp luật. Do đó, không có căn cứ

chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Công ty C, giữ nguyên bản án sơ thẩm.