BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGHĨA VỤ CUNG CẤP THÔNG TIN
GIAI ĐOẠN TIỀN HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI
Ngành: LUẬT KINH TẾ
TRẦN THỊ NHƯ QUỲNH
Hà Nội – năm 2019
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Nghĩa vụ cung cấp thông tin
giai đoạn tiền hợp đồng thương mại
Ngành: Luật kinh tế
Mã số: 8380107
Người hướng dẫn: TS. Võ Sỹ Mạnh
Họ và tên học viên: Trần Thị Như Quỳnh
Hà Nội – năm 2019
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ “Nghĩa vụ cung cấp thông tin giai đoạn tiền
hợp đồng thương mại” là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu và tài liệu
trong luận văn là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nghiên
cứu nào. Tất cả những tham khảo và kế thừa đều được trích dẫn và tham chiếu đầy
đủ.
Người cam đoan
Trần Thị Như Quỳnh
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp, tác giả đã nhận được sự hướng dẫn, chỉ
đạo nhiệt tình và quý báu của TS. Võ Sỹ Mạnh và tập thể thầy, cô Khoa sau đại học,
Khoa Luật trường Đại học Ngoại thương.
Nhân dịp này, tác giả gửi lời cảm ơn chân thành tới TS. Võ Sỹ Mạnh và tập
thể thầy, cô Khoa sau đại học, Khoa Luật trường Đại học Ngoại thương. Tác giả
cũng gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới gia đình, người thân, bạn bè và đồng
nghiệp đã giúp đỡ, hỗ trợ tài liệu và tạo mọi điều kiện tốt nhất đồng thời đã có
những ý kiến đóng góp quý báu để hoàn thành công trình nghiên cứu cuối khóa của
Trường đại học Ngoại thương.
Mặc dù có nhiều cố gắng trong việc tìm kiếm tài liệu, nghiên cứu và tìm hiểu
thực tế nhưng do thời gian hạn chế nên Luận văn không tránh khỏi những sai sót.
Tác giả rất mong nhận được sự quan tâm đóng góp của Quý thầy cô, bạn bè, đồng
nghiệp và độc giả.
Trân trọng cảm ơn!
Tác giả luận văn
Trần Thị Như Quỳnh
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Từ viết tắt Tiếng Anh Tiếng Việt
Unidroit Insitut International pour Viện Thống nhất Tư pháp
l`Unification des Droits Quốc tế
Privé
Công ước viên Công ước Viên năm 1980
của Liên Hợp quốc về hợp
đồng mua bán hàng hóa
quốc tế
WTO World Trade Organization Tổ chức thương mại Thế
giới
CHLB Đức Cộng hòa Liên Bang Đức
BLDS 2015 Bộ luật dân sự 2015
Hợp đồng TMQT Hợp đồng thương mại Quốc
tế
PICC Principles of International Những nguyên tắc hợp đồng
Commercial Contract thương mại quốc tế của
UNIDROIT
PECL Principles of European Những nguyên tắc Luật hợp
Contract Law đồng châu Âu
Luật KDBH Luật kinh doanh bảo hiểm
TNHH Trách nhiệm hữu hạn
BLHH Bộ luật hàng hải
HĐDV Hợp đồng dịch vụ
TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN VĂN
Tên luận văn: Nghĩa vụ cung cấp thông tin giai đoạn tiền hợp đồng thương
mại.
Luận văn đã đạt các kết quả chính như sau:
- Đã phân tích khái niệm hợp đồng, thông tin và nghĩa vụ cung cấp thông tin
giai đoạn tiền hợp đồng thương mại.
- Đã làm rõ các đặc điểm của giai đoạn tiền hợp đồng thương mại và điều
chỉnh pháp luật giai đoạn tiền hợp đồng thương mại.
- Đã làm rõ và phân tích nghĩa vụ cung cấp thông tin giai đoạn tiền hợp đồng
trong một số nước và văn bản quốc tế.
- Đã rút ra được quy định của một số nước và văn bản quốc tế về nghĩa vụ
cung cấp thông tin giai đoạn tiền hợp đồng thương mại.
- Đã phân tích quy định và thực tiễn áp dụng quy định về nghĩa vụ cung cấp
thông tin giai đoạn tiền hợp đồng thương mại trong pháp luật Việt Nam.
- Đã đưa ra được một số bất cập trong quy định và thực tiễn áp dụng về
nghĩa vụ cung cấp thông tin giai đoạn tiền hợp đồng thương mại.
- Đã đưa ra các kiến nghị cụ thể về áp dụng pháp luật liên quan đến: vi phạm
nghĩa vụ liên quan đến cung cấp thông tin giai đoạn tiền hợp đồng, thời điểm và nội
dung của nghĩa vụ cung cấp thông tin giai đoạn tiền hợp đối với một số loại hợp
đồng thương mại cụ thể.
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN VĂN
LỜI MỞ ĐẦU ............................................................................................................. 1
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI, GIAI ĐOẠN
TIỀN HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI VÀ NGHĨA VỤ CUNG CẤP THÔNG TIN
GIAI ĐOẠN TIỀN HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI ................................................... 9
1.1. Hợp đồng thương mại ................................................................................. 9
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm ................................................................................. 9
1.1.2. Phân loại hợp đồng thương mại ............................................................. 12
1.1.3. Quyền và nghĩa vụ các bên trong hợp đồng thương mại ....................... 14
1.2. Giai đoạn tiền hợp đồng thương mại ............................................................ 22
1.2.1. Khái niệm, đặc điểm ................................................................................. 22
1.2.2. Điều chỉnh pháp luật giai đoạn tiền hợp đồng thương mại ................... 23
1.3. Nghĩa vụ cung cấp thông tin giai đoạn tiền hợp đồng thương mại ............ 26
1.3.1. Khái niệm, đặc điểm ................................................................................. 26
1.3.2. Điều chỉnh pháp luật về nghĩa vụ cung cấp thông tin giai đoạn tiền
hợp đồng thương mại ......................................................................................... 31
1.3.3. Nội dung nghĩa vụ cung cấp thông tin giai đoạn tiền hợp đồng thương
mại .................................................................................................................. 37
CHƯƠNG 2. NGHĨA VỤ CUNG CẤP THÔNG TIN GIAI ĐOẠN TIỀN HỢP
ĐỒNG TRONG PHÁP LUẬT MỘT SỐ NƯỚC VÀ VĂN BẢN QUỐC TẾ ....... 41
2.1. Nghĩa vụ cung cấp thông tin giai đoạn tiền hợp đồng trong pháp luật
một số nước ............................................................................................................ 41
2.1.1. Pháp luật của nước Anh ........................................................................... 41
2.1.2. Pháp luật của nước Pháp ......................................................................... 43
2.2. Nghĩa vụ cung cấp thông tin giai đoạn tiền hợp đồng trong một số văn
bản quốc tế. ............................................................................................................ 46
2.2.1. Bộ nguyên tắc pháp luật Châu Âu .......................................................... 46
2.2.2. Công ước Viên ........................................................................................... 51
2.3. Nhận xét rút ra từ nghiên cứu quy định pháp luật của một số nước và
văn bản quốc tế về nghĩa vụ cung cấp thông tin tiền hợp đồng thương mại ... 53
CHƯƠNG 3. NGHĨA VỤ CUNG CẤP THÔNG TIN GIAI ĐOẠN TIỀN HỢP
ĐỒNG THƯƠNG MẠI TRONG PHÁP LUẬT VIỆT NAM ................................ 56
3.1. Quy định và thực tiễn áp dụng quy định về nghĩa vụ cung cấp thông tin
giai đoạn tiền hợp đồng ......................................................................................... 56
3.1.1. Những quy định chung ............................................................................. 56
3.1.2. Quy định trong một số lĩnh vực thương mại cụ thể ................................ 58
3.2.1. Sự chồng chéo giữa luật chung và luật chuyên ngành .......................... 67
3.2.2. Quy định không rõ ràng, thiếu tính chính xác........................................ 71
CHƯƠNG 4. ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT
VIỆT NAM VỀ NGHĨA VỤ CUNG CẤP THÔNG TIN GIAI ĐOẠN TIỀN
HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI ................................................................................... 74
4.1. Định hướng hoàn thiện về nghĩa vụ cung cấp thông tin tiền hợp đồng
thương mại ............................................................................................................. 74
4.2. Một số giải pháp cụ thể hoàn thiện quy định pháp luật Việt Nam về
nghĩa vụ cung cấp thông tin tiền hợp đồng thương mại .................................... 76
4.2.1. Đối với hoạt động kinh doanh bảo hiểm ................................................. 77
4.2.2. Đối với hợp đồng dịch vụ .......................................................................... 80
KẾT LUẬN ................................................................................................................ 83
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................. 85
PHỤ LỤC ................................................................................................................... 88
1
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hợp đồng theo từ điển Tiếng Việt là sự thỏa thuận, giao ước giữa hai hay
nhiều bên, quy định các quyền lợi, nghĩa vụ của các bên tham gia, thường được viết
thành văn bản. Còn theo Điều 683 BLDS, hợp đồng là sự thỏa thuận giữa hai hay
nhiều bên nhằm mục đích xác lập, thay đổi, chấm dứt nghĩa vụ của các bên. Đồng
thời, hợp đồng là một hành vi pháp lý, thể hiện ý chí của các bên để làm phát sinh
các quyền và nghĩa vụ.
Trong giao kết hợp đồng, nghĩa vụ cung cấp thông tin giữ một vị trí vô cùng
quan trọng. Chính nhờ vào các thông tin được cung cấp mà các bên có thể đánh giá,
dự đoán được các rủi ro có thể xảy ra, giúp các bên hạn chế tối đa nhất thiệt hại đối
với mình, đồng thời nó bảo vệ sự công bằng và lợi ích chính đáng của các bên tham
gia hợp đồng. Trong giai đoạn tiền hợp đồng, mặc dù các bên chưa có sự ràng buộc
với nhau về nội dung của hợp đồng nhưng họ đã có sự qua lại, tác động tới nhau.
Đây là giai đoạn để các chủ thể tìm hiểu nhau, tìm ra các lợi ích của mình trong quá
trình thực hiện hợp đồng. Do đó, pháp luật cần phải điều chỉnh để cân bằng lợi ích
của các bên, cụ thể hơn là điều chỉnh giai đoạn tiền hợp đồng. Ở các nước có nền
kinh tế phát triển và hệ thống pháp luật tương đối ổn định, như Anh, Pháp, Mỹ, Đức
thì pháp luật điều chỉnh giai đoạn tiền hợp đồng không là vấn đề mới. Tại Việt Nam,
nghĩa vụ cung cấp thông tin tiền hợp đồng còn là một khái niệm gần như là không
được chú trọng, chỉ đến khi Bộ luật dân sự 2015, sửa đổi bổ sung Bộ luật dân sự
2005 ra đời, thì nghĩa vụ cung cấp thông tin tiền hợp đồng mới được quy định như
là nguyên tắc chung áp dụng cho tất cả các loại hợp đồng chuyên biệt: như việc
chuyển giao quyền, nghĩa vụ dân sự, hợp đồng hàng hải, hợp đồng bảo hiểm....Cho
đến nay, các quy định này cũng nảy sinh nhiều bất cập và trong quá trình thực hiện
còn nảy sinh nhiều vướng mắc. Do vậy, nghiên cứu các quy định của pháp luật Việt
Nam kết hợp với tham khảo pháp luật nước ngoài để từ đó rút ra những kinh
nghiệm cho việc điều chỉnh giai đoạn tiền hợp đồng là việc cần thiết cả về lý luận
và thực tiễn. Đấy là lý do để tác giả chọn chủ đề “Nghĩa vụ cung cấp thông tin giai
đoạn tiền hợp đồng thương mại” làm đề tài luận văn luật học của mình.
2
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu
a. Tình hình nghiên cứu trong nước:
Ở Việt Nam, tính đến thời điểm BLDS 2015 được ban hành và có hiệu lực,
chưa có một công trình nghiên cứu nào đầy đủ, có hệ thống về nghĩa vụ cung cấp
thông tin tiền hợp đồng thương mại. Mà các bài viết chủ yếu chỉ đi sâu vào một
dạng hợp đồng cụ thể, một số công trình đơn lẻ về từng nội dung thuộc giai đoạn
tiền hợp đồng trong pháp luật Việt Nam. Một số công trình điển hình:
- Cuốn sách “Chế định hợp đồng trong Bộ luật dân sự Việt Nam” của tác giả
Nguyễn Ngọc Khánh do Nhà xuất bản Tư pháp xuất bản năm 2007, đề cập đến khái
niệm, chức năng, vị trí của hợp đồng. Ý chí và tự do ý chí trong hợp đồng, giao kết,
thực hiện và sửa đổi, hủy bỏ hợp đồng, trách nhiệm hợp đồng;
- Cuốn sách “Luật hợp đồng Việt Nam – Bản án và bình luận bản án, tập 1”
của tác giả Đỗ Văn Đại, Nhà xuất bản chính trị quốc gia – Sự thật 2013. Trong cuốn
sách này, tác giả tuyển chọn các bản án về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, đối
chiếu chúng với Bộ luật dân sự và Nghị quyết Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân
tối cao và các văn bản pháp luật khác, có so sánh, tham chiếu với những nội dung
tương ứng của pháp luật của nhiều quốc gia khác và nhất là của Bộ nguyên tắc châu
Âu về bồi thường thiệt hại (ngoài hợp đồng). Từ cơ sở lý luận và thực tiễn, tác giả
đã đưa ra nhiều đề xuất để hoàn thiện pháp luật bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
ở Việt Nam.
- Luận án tiến sĩ luật học “Giai đoạn tiền hợp đồng trong pháp luật Việt Nam”
của tác giả Lê Trường Sơn bảo vệ năm 2015 tại trường Đại học Luật thành phố Hồ
Chí Minh đưa ra đề xuất định hướng và các giải pháp cụ thể để hoàn thiện các quy
định của Bộ luật dân sự 2005 và các vấn đề liên quan đến giai đoạn tiền hợp đồng.
Đồng thời, luận án nghiên cứu một cách có hệ thống, toàn diện dưới góc độ lý luận
và thực tiễn về giai đoạn tiền hợp đồng và pháp luật điều chỉnh giai đoạn tiền hợp
đồng, góp phần làm rõ vai trò và nội dung của giai đoạn tiền hợp đồng;
- Bài viết “Nghĩa vụ cung cấp thông tin trong giai đoạn tiền hợp đồng – Pháp
luật Việt Nam và một số nước trên thế giới” của tác giả Nguyễn Bình Minh và Hà
3
Công Anh Bảo đăng trên tạp chí Kinh tế đối ngoại số 68 năm 2017. Ở bài viết này
tác giả đã phân tích những quy định pháp luật về nghĩa vụ cung cấp thông tin trong
một số hợp đồng chuyên biệt như: Hợp đồng bảo hiểm, hợp đồng lao động, hợp
đồng giao kết với người lao động…tác giả làm rõ những điểm mới của Bộ luật dân
sự 2015, so sánh với quy định pháp luật của các nước trên thế giới và các quy định
trong pháp luật quốc tế, để từ đó đánh giá quy định về loại thông tin cần phải cung
cấp đã rõ ràng, cụ thể hay chưa;
- Bài viết “Cơ sở hình thành nghĩa vụ cung cấp thông tin trong giao kết hợp
đồng bảo hiểm” của tác giả Phạm Si Hải Quỳnh đăng trên Tạp chí khoa học số 3
năm 2017, làm rõ cở sở hình thành nên nghĩa vụ cung cấp thông tin ở các nước
cũng như ở Việt Nam, từ đó phác họa sơ lược giải pháp có thể cho việc hoàn thiện
các quy định pháp luật về lĩnh vực bảo hiểm ở Việt Nam. Đồng thời, tác giả cũng có
những đề nghị, giải pháp thừa nhận và áp dụng tư tưởng, kinh nghiệm của các nước
vào quá trình thống nhất lại các quy định về nghĩa vụ cung cấp thông tin trong hợp
đồng bảo hiểm ở Việt Nam;
- Bài viết “Trách nhiệm tiền hợp đồng và việc bảo vệ quyền của các bên trong
tham gia đàm phán, ký kết hợp đồng” của tác giả Võ Minh Trí và Trần Phú Quý
đăng trên tạp chí Dân chủ và pháp luật năm 2018, cung cấp một số kiến thức cơ bản
về trách nhiệm tiền hợp đồng với tư cách là một công cụ pháp lý bảo vệ quyền và
lợi ích của các bên trong giai đoạn tiền hợp đồng.
Như vậy, với một số công trình điển hình, các tác giả đã phân tích và chỉ rõ
tầm quan trọng của nghĩa vụ cung cấp thông tin giai đoạn tiền hợp đồng nói chung
và một số loại hợp đồng chuyên biệt. Từ đó, định hướng và bổ sung những thiếu sót,
hoàn thiện những quy định về nghĩa vụ cung cấp thông tin giai đoạn tiền hợp đồng.
b. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài:
Pháp luật điều chỉnh nghĩa vụ cung cấp thông tin tiền hợp đồng không phải là
vấn đề mới, nên có nhiều công trình nghiên cứu được công bố, tiêu biểu như sau:
- Cuốn sách Droit européens du contrat của tác giả Resmy Cabrillac Nxb.
LGDJ 2012. Trong cuốn sách, tác giả đã dành một mục riêng về “những quan hệ
4
tiền hợp đồng” từ trang 46 và tiếp theo. Ở đây, tác giả không đưa ra định nghĩa
“quan hệ tiền hợp đồng” và cũng không cho biết quan hệ này bắt đầu từ khi nào và
chấm dứt từ khi nào. Tuy nhiên, tác giả nhận thấy ở đây một số thông tin quan trọng
về các hệ thống pháp luật Châu Âu liên quan đến giai đoạn tiền hợp đồng như tự do
trong giai đoạn tiền hợp đồng, thiện chí trong giai đoạn tiền hợp đồng, nghĩa vụ
thông tin tiền hợp đồng, trách nhiệm tiền hợp đồng cũng như bản chất pháp lý của
trách nhiệm tiền hợp đồng. Những thông tin nêu trên không liên quan đến pháp luật
Việt Nam nhưng sẽ được khai thác trong từng phần tương ứng của luận văn để làm
cơ sở cho những đề xuất hoàn thiện pháp luật Việt Nam;
- Cuốn sách Formation du contrat của các tác giả J. Ghestin, G. Loiseau và Y -
M Seriet, Tome 1, Nxb. LGDJ 2013 công trình này tập trung vào vấn đề xác lập hợp
đồng và cụ thể là tập trung vào sự ưng thuận của các bên trong việc xác lập hợp
đồng theo pháp luật Pháp có đối chiếu với một số hệ thống pháp luật Châu Âu. Liên
quan đến giai đoạn tiền hợp đồng, công trình này có rất nhiều thông tin về nghĩa vụ
tiền hợp đồng (từ trang 1251-1307). Công trình có những nội dung liên quan đến
nghĩa vụ thông tin trong giai đoạn tiền hợp đồng. Ở đây, người đọc thấy sự hình
thành và phát triển nghĩa vụ cung cấp thông tin trong giai đoạn tiền hợp đồng;
- Cuốn sách Projet de cadre commun de reference - Principes contractuels
communs (dịch sang tiếng Việt là Dự thảo khung tham chiếu chung - Bộ nguyên tắc
chung về hợp đồng) do Bénédicte Fauvarque-Cosson và Denis Mazeaud làm chủ
biên, Nxb. Société de lesgislatinon compare 2008. Cuốn sách tập thể này phân tích,
bình luận Bộ nguyên tắc Luật hợp đồng Châu Âu dưới góc độ so sánh với Dự thảo
tham chiếu chung của Châu Âu cũng như các văn bản pháp lý quốc tế về hợp đồng
(như Bộ nguyên tắc Unidroit, Công ước Viên) và với các Dự thảo về pháp luật hợp
đồng (như Tiền Dự Thảo sửa đổi Bộ luật dân sự Pháp, Tiền Dự Thảo Bộ luật Châu
Âu về hợp đồng). Ở cuốn sách này, người đọc thấy những thông tin về giai đoạn
tiền hợp đồng (như yêu cầu thiện chí, nghĩa vụ thông tin và trách nhiệm hợp đồng…)
được trình bày đan xen với việc phân tích, đánh giá Bộ nguyên tắc luật hợp đồng
Châu Âu cũng như so sánh với các văn bản quốc tế, Dự thảo luật nêu trên. Nội dung
về giai đoạn tiền hợp đồng trong cuốn sách này không liên quan trực tiếp tới pháp
5
luật Việt Nam nhưng rất bổ ích cho việc xác định được xu hướng của pháp luật
đương đại và làm sáng tỏ, hoàn thiện pháp luật Việt Nam về giai đoạn tiền hợp đồng.
Các nội dung của cuốn sách về giai đoạn tiền hợp đồng sẽ được khai thác trong các
phần tương ứng của luận văn.
3. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu đề tài là nhằm đề xuất định hướng và các giải pháp hoàn
thiện các quy định pháp luật Việt Nam về nghĩa vụ cung cấp thông tin giai đoạn tiền
hợp đồng thương mại.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là quy định và thực tiễn áp dụng quy định về
nghĩa vụ cung cấp thông tin trong giai đoạn tiền hợp đồng thương mại. Mặt khác,
đối tượng nghiên cứu của luận văn cũng bao gồm pháp luật của một số nước tiêu
biểu cho các hệ thống Civil law, Common law và một số văn bản pháp luật quốc tế.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về thời gian: Luận văn có nghiên cứu một số quy định chuyên biệt của
chuyên ngành kinh tế như Luật thương mại, Luật cạnh tranh, Luật kinh doanh bảo
hiểm nhưng nghiên cứu những quy định của Bộ luật dân sự 2015 và các vấn đề thực
tiễn phát sinh từ việc áp dụng Bộ luật này sẽ là nội dung chủ yếu của luận văn như
đã nêu trong phần mục đích nghiên cứu. Vì vậy kết quả nghiên cứu của luận văn
cũng sẽ tập trung hướng tới đóng góp cho việc sửa đổi, bổ sung Luật thương mại
2005 trong thời gian tới. Các đóng góp này có ý nghĩa thiết thực cho các loại hợp
đồng trong đó có hợp đồng thương mại, đặc biệt là giai đoạn tiền hợp đồng thương
mại, trong giai đoạn hội nhập kinh tế.
- Về không gian: Luận văn chủ yếu nghiên cứu các vấn đề liên quan đến nghĩa
vụ cung cấp thông tin giai đoạn tiền hợp đồng thương mại trong hệ thống pháp luật
Việt Nam, thông qua đó, có sự kết hợp và đối chiếu với hệ thống pháp luật trên thế
giới, tham khảo hệ thống pháp luật của một số nước trong hệ thống Civil law,
6
Common law (điển hình là pháp luật của Pháp và Đức, vì ở các nước này, nguyên
tắc tập trung và thiện chí được ghi nhận và đề cao, theo đó nghĩa vụ cung cấp thông
tin là nghĩa vụ bổ sung, cụ thể hóa và nguyên tắc thiện chí và trung thực), các văn
bản Quốc tế như Bộ nguyên tắc Unidroit về hợp đồng thương mại Quốc tế, Công
ước Viên 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế và dự thảo khung tham chiếu
chung Châu Âu. Đồng thời, luận văn sẽ nghiên cứu về một số quy định chuyên biệt
như Luật thương mại, Luật cạnh tranh, Luật kinh doanh bảo hiểm, Luật sơ hữu trí
tuệ.
- Về nội dung: Tác giả chỉ nghiên cứu nghĩa vụ cung cấp thông tin giai đoạn
xảy ra trước khi hợp đồng thương mại được giao kết, tức là giai đoạn tiền hợp đồng
thương mại. Vì hợp đồng thương mại có rất nhiều loại hợp đồng, tác giả sẽ tập trung
nghiên cứu một số loại cụ thể như hợp đồng bảo hiểm, hợp đồng vận chuyển hàng
hóa, hợp đồng dịch vụ, hợp đồng mua bán nhà ở hình thành trong tương lai…để qua
đó thấy được ý nghĩa và tầm quan trọng của việc cung cấp thông tin tiền hợp đồng
thương mại.
5. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn nghĩa vụ cung cấp thông tin giai đoạn tiền hợp đồng thương mại là
một vấn đề mới, đi sâu vào một dang hợp đồng chuyên biệt cụ thể, đó là hợp đồng
thương mại. Do đó, cần phải áp dụng nhiều phương pháp để vừa phân tích được
những cái mới, bổ sung được những khoảng trống trong khoa học pháp lý Việt Nam.
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu chung:
- Phương pháp kết hợp giữa lý luận và thực tiễn: Đây là một phương pháp cơ
bản, phù hợp cho quá trình nghiên cứu đề tài. Thông qua thực tiễn về tầm quan
trọng của nghĩa vụ cung cấp thông tin giai đoạn tiền hợp đồng, bản thân sẽ có
những nhận thức lý luận đúng đắn và hợp lý, từ đó sẽ rút ra được những hạn chế và
hướng khắc phục để hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ cung cấp thông tin giai đoạn
tiền hợp đồng thương mại.
- Phương pháp phân tích tổng hợp: Là phương pháp thu thập thông tin khoa
học trên cơ sở nghiên cứu các văn bản, tài liệu đã có và bằng các thao tác tư duy
7
lôgic để rút ra các kết luận khoa học cần thiết. Sau đó bằng các liên kết, sắp xếp các
tài liệu, thông tin đã thu thập được để tổng hợp vấn đề một cách cụ thể và toàn diện.
- Phương pháp nghiên cứu tình huống: Đối với đề tài “Nghĩa vụ cung cấp
thông tin giai đoạn tiền hợp đồng thương mại”, chủ yếu sẽ phân tích các tình huống
cụ thể, theo bản án cụ thể. Để từ đó tìm ra các phân tích, đánh giá tính hợp lý, bắt
buộc của nghĩa vụ cung cấp thông tin trong giai đoạn giao kết hợp đồng.
- Phương pháp hệ thống hóa: Phương pháp này cũng được sử dụng xuyên suốt
trong việc nghiên cứu toàn bộ luận văn nhằm trình bày các nội dung của luận văn
theo một trình tự, bố cục hợp lí, chặt chẽ, có sự gắn kết, kế thừa, phát triển các nội
dung để đạt được mục đích và yêu cầu đã được xác định cho luận văn.
- Phương pháp so sánh pháp luật: Phương pháp này được sử dụng trong việc
so sánh các quy định của pháp luật Việt Nam với pháp luật nước ngoài và các văn
bản pháp lí quốc tế, để từ đó tìm ra những điểm tương đồng, sự khác biệt cũng như
xu hướng phát triển của pháp luật trên thế giới về giai đoạn tiền hợp đồng. Phương
pháp này cũng được kết hợp sử dụng trong tất cả các chương của luận văn và từ sự
so sánh này, tác giả đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam về giai
đoạn tiền hợp đồng thương mại.
6. Dự kiến đóng góp của đề tài
Luận văn là công trình pháp lý nghiên cứu cụ thể chi tiết, có hệ thống dưới
góc độ lý luận và thực tiễn, góp phần củng cố và hoàn hiện về cơ sở lý luận, khoa
học pháp lý đối với nghĩa vụ cung cấp thông tin giai đoạn tiền hợp đồng thương mại.
Đồng thời, luận văn cũng làm rõ hơn vai trò của giai đoạn tiền hợp đồng trong hợp
đồng thương mại, góp phần hoàn thiện hơn cơ sở pháp lý trong giai đoạn giao kết
hợp đồng, qua đó, cũng là tài liệu tham khảo để các bên giải quyết tranh chấp về
hợp đồng thương mại.
Luận văn phân tích thực trạng của pháp luật Việt Nam trong áp dụng khoa
học pháp lý về nghĩa vụ cung cấp thông tin giai đoạn tiền hợp đồng thương mại, so
sánh với hệ thống pháp luật của các nước phát triển trên thế giới, để từ đó rút ra
những kinh nghiệm, đồng thời có những kiến nghị kịp thời, phục vụ cho việc hoàn
8
thiện quá trình giao kết hợp đồng thương mại.
7. Bố cục dự kiến của luận văn
Ngoài Phần mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn
gồm 4 Chương.
Chương 1. Cơ sở lý luận về về hợp đồng thương mại, giai đoạn tiền hợp
đồng thương mại và nghĩa vụ cung cấp thông tin giai đoạn tiền hợp đồng.
Chương 2. Nghĩa vụ cung cấp thông tin giai đoạn tiền hợp đồng thương mại
trên thế giới.
Chương 3. Nghĩa vụ cung cấp thông tin giai đoạn tiền hợp đồng thương mại
Chương 4. Định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về nghĩa vụ
cung cấp thông tin.
trong pháp luật Việt Nam.
9
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI, GIAI
ĐOẠN TIỀN HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI VÀ NGHĨA VỤ CUNG CẤP
THÔNG TIN GIAI ĐOẠN TIỀN HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI
Trong quá trình thành lập và hoạt động của mình, việc tham gia ký kết hợp
đồng đặc biệt là hợp đồng trong lĩnh vực kinh doanh, thương mại là yếu tố không
thể thiếu của các doanh nghiệp. Trong hoạt động thương mại thì hợp đồng thương
mại còn đóng vai trò là một phương tiện rất quan trọng để bảo đảm sự an toàn pháp
lý cho các bên trong hợp đồng, giúp các bên kiểm soát và dự báo được lợi nhuận
cũng như các rủi ro có thể xảy ra trong tương lai. Hình thức của hợp đồng thương
mại là đa dạng, từ những bản hợp đồng rất đơn giản với những thỏa thuận cũng rất
đơn giản và ngắn gọn đến những bản hợp đồng phức tạp, đồ sộ được soạn thảo công
phu bởi những luật sư giỏi, dày dặn kinh nghiệm trên thế giới và có hiệu lực áp
dụng vượt ra khỏi phạm vi của một quốc gia.
1.1. Hợp đồng thương mại
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm
Hợp đồng là một cam kết giữa hai hay nhiều bên (pháp nhân) để làm hoặc
không làm một việc nào đó trong khuôn khổ pháp luật. Hợp đồng thường gắn liền
với dự án, trong đó một bên thỏa thuận với các bên khác thực hiện dự án hay một
phần dự án cho mình. Và cũng giống như dự án, có dự án chính trị xã hội và dự án
sản xuất kinh doanh, hợp đồng có thể là các thỏa ước dân sự về kinh tế (hợp đồng
kinh tế) hay xã hội. Hợp đồng có thể được thể hiện bằng văn bản hay bằng lời nói
có thể có người làm chứng, nếu vi phạm hợp đồng hay không theo cam kết thì hai
bên sẽ cùng nhau ra tòa và bên thua sẽ chịu mọi phí tổn.
Theo Điều 385 Bộ luật dân sự, hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận giữa các bên
nhằm mục đích xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ của các bên ký kết.
Như vậy, một hợp đồng phải xuất phát từ yếu tố thỏa thuận nhưng không phải mọi
thỏa thuận đều là hợp đồng. Chỉ những thỏa thuận làm phát sinh, thay đổi hoặc
chấm dứt quyền, nghĩa vụ của các bên mới tạo nên quan hệ hợp đồng. Khái niệm
trên có một tầm bao quát rất rộng, nhưng đã thể hiện được bản chất của một hợp
10
đồng với danh nghĩa là luật chung của Luật thương mại 2005. Luật thương mại
2005 đứng dưới góc độ là một luật riêng so với luật chung là Bộ luật dân sự, nên
hợp đồng thương mại và hợp đồng dân sự có chung một số đặc điểm cơ bản, nhưng
bên cạnh đó hợp đồng thương mại cũng có nhiều đặc điểm riêng biệt, tuy nhiên
Luật thương mại 2005 lại không đưa ra một khái niệm nào về hợp đồng thương mại.
Kể từ khi gia nhập WTO thì hoạt động thương mại Việt Nam có nhiều thay đổi
đáng kể và theo chiều hướng tích cực, hoạt động mua bán hàng hóa diễn ra thường
xuyên, chính vì vậy hợp đồng thương mại cũng được xem trọng hơn. Mặc dù Luật
thương mại Việt Nam không có khái niệm Hợp đồng thương mại, nhưng có thể hiểu
Hợp đồng thương mại là hình thức pháp lý của hành vi thương mại, là sự thỏa thuận
giữa hai hay nhiều bên (ít nhất có một trong các bên phải là thương nhân hoặc các
chủ thể có tư cách thương nhân) nhằm xác lập, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa
vụ của các bên trong việc thực hiện hoạt động thương mại. Nội dung của hợp đồng
thương mại nói riêng và hợp đồng nói chung là tổng hợp các điều khoản mà các bên
tham gia giao kết hợp đồng đã thỏa thuận, các điều khoản này xác định những
quyền và nghĩa vụ dân sự cụ thể của các bên giao kết hợp đồng.
Với cách hiểu về hợp đồng thương mại như trên, hợp đồng thương mại mang
những đặc thù như sau:
- Thứ nhất, về chủ thể của hợp đồng thương mại: Hợp đồng thương mại được
kí kết giữa các bên là thương nhân, hoặc có một bên là thương nhân. Đây cũng
chính là một đặc điểm đặc trưng của hợp đồng thương mại so với hợp đồng dân sự.
Như vậy, chủ thể trong hợp đồng thương mại gồm thương nhân (bao gồm tổ chức
kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập,
thường xuyên và có đăng ký kinh doanh), cá nhân, tổ chức khác có hoạt động liên
quan đến thương mại.1 Trong hợp đồng thương mại, có thể có những hợp đồng đòi
hỏi các bên đều phải là thương nhân như: hợp đồng đại diện cho thương nhân, hợp
đồng đại lý thương mại…hay có những hợp đồng chỉ đòi hỏi có ít nhất một bên là
1 Điều 2 Luật thương mại 2005
thương nhân như: hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa, hợp đồng môi giới thương
11
mại, hợp đồng bảo hiểm…Ngoài ra, các tổ chức, cá nhân không phải là thương nhân
cũng có thể trở thành chủ thể của hợp đồng thương mại khi họ có hoạt động liên
quan đến thương mại. Có hai trường hợp đại diện là đại diện theo pháp luật và đại
diện theo ủy quyền. Trong giao kết hợp đồng thương mại, đại diện theo pháp luật
thường xảy ra khi chủ thể hợp đồng là các doanh nghiệp. Khi đó giám đốc doanh
nghiệp hoặc người mà theo quy định của Điều lệ doanh nghiệp là đại diện hợp pháp
của doanh nghiệp đó sẽ giao kết hợp đồng. Đại diện theo ủy quyền xảy ra khi chủ
thể hợp đồng hoặc người đại diện theo pháp luật ủy quyền cho người khác thay
mình thực hiện giao kết hợp đồng. Người được ủy quyền chỉ được ủy quyền lại nếu
được người ủy quyền đồng ý hoặc pháp luật có quy định cho phép ủy quyền lại.
- Thứ hai: về hình thức thì hợp đồng thương mại được thiết lập theo cách thức
mà hai bên thỏa thuận, có thể được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng
hành vi cụ thể của các bên giao kết. Trong một số trường hợp nhất định, hợp đồng
phải được thiết lập bằng văn bản như hợp đồng đại lý thương mại, hợp đồng ủy thác
mua bán hàng hóa, hợp đồng dịch vụ, hợp đồng bảo hiểm….Điều 24 Luật thương
mại 2005 đã quy định: “Hợp đồng mua bán hàng hóa được thể hiện bằng lời nói,
bằng văn bản hoặc xác lập bằng hành vi cụ thể. Đối với các loại hợp đồng mua bán
hàng hóa mà pháp luật quy định phải được lập thành văn bản thì phải tuân theo các
quy định đó”. Luật thương mại 2005 cũng cho phép thay thế hình thức văn bản
bằng hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương, bao gồm điện báo, telex, fax,
thông điệp dữ liệu điện tử và các hình thức khác theo quy định của pháp luật.
- Thứ ba: về đối tượng của hợp đồng thì đối tượng của hợp đồng thương mại là
hàng hóa. Theo nghĩa thông thường, hàng hóa được hiểu là những sản phẩm lao
động của con người, được tạo ra nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu của con người.
Dựa vào tính chất pháp lý, hàng hóa được chia thành nhiều loại khác nhau như bất
động sản, động sản, tài sản hữu hình, tài sản vô hình, các quyền về tài sản…Tại Việt
Nam, theo khoản 3 Điều 5 Luật thương mại năm 1997, đối tượng được coi là hàng
hóa bao gồm: máy móc, thiết bị, nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu, hàng tiêu dùng,
các động sản khác được lưu thông trên thị trường, nhà ở dùng để kinh doanh dưới
hình thức cho thuê, mua, bán. Trên thực tế, các hoạt động mua bán có tính chất
12
thương mại ở Việt Nam không chỉ dừng lại ở những loại hàng hóa này mà với cách
liệt kê như Luật thương mại 1997 đã bỏ hàng hóa trong một phạm vi hẹp. Khắc
phục bất cập trên, khoản 2 Điều 3 Luật thương mại 2005 quy định: “i, Hàng hóa bao
gồm:
I, Tất cả các loại động sản, kể cả động sản hình thành trong tương lai;
ii, Những vật gắn liền với đất đai”
Như vậy hàng hóa trong hợp đồng thương mại có thể là hàng hóa đang tồn
tại hoặc hàng hóa sẽ hình thành trong tương lai, có thể là động sản hoặc bất động
sản được phép lưu thông trong thương mại.
Thứ tư: Mục đích của hợp đồng thương mại là lợi nhuận. Xuất phát từ mục
đích của hoạt động thương mại là nhằm sinh lợi nên khi các thương nhân tham gia
ký kết một hợp đồng thương mại suy cho cùng cũng đều vì mục đích lợi nhuận.
Theo khoản 3 Điều 1 Luật thương mại 2005, đối với những hợp đồng giữa thương
nhân với chủ thể không phải là thương nhân và không nhằm mục đích sinh lợi, việc
có áp dụng Luật thương mại để điều chỉnh quan hệ họp đồng này hay không là do
bên không có lợi nhuận quyết định.
Thứ năm: Nội dung hợp đồng thương mại thể hiện quyền và nghĩa vụ của
các bên trong quan hệ hợp đồng đó là các điều khoản do các bên thỏa thuận. Các
bên thỏa thuận nội dung hợp đồng càng chi tiết thì việc thực hiện hợp đồng càng
thuận lợi, phòng ngừa được những tranh chấp có thể phát sinh. Luật thương mại
2005 không quy định bắt buộc các bên phải thỏa thuận những nội dung cụ thể nào
nhưng có những điều khoản quan trọng cần phải chú ý là: đối tượng, chất lượng, giá
cả, phương thức thanh toán, thời hạn và địa điểm giao nhận hàng hóa.
1.1.2. Phân loại hợp đồng thương mại
Quan hệ kinh doanh thương mại được xác lập và thực hiện thông qua hình
thức pháp lý chủ yếu là hợp đồng. Hợp đồng trong kinh doanh thương mại có thể
chia thành nhiều loại khác nhau. Việc phân loại hợp đồng nhằm mục đích xác định
cơ chế điều chỉnh cho phù hợp với tính chất của từng loại hợp đồng, nâng cao hiệu
quả điều chỉnh pháp luật đối với hợp đồng. Theo pháp luật hiện hành, hợp đồng
13
trong lĩnh vực thương mại được phân loại theo những tiêu chí chủ yếu sau:
- Căn cứ vào mức độ tương xứng về quyền và nghĩa vụ giữa các bên, hợp đồng
nói chung được phân chia thành hợp đồng song vụ và hợp đồng đơn vụ. Hợp đồng
song vụ là hợp đồng mà mỗi bên đều có nghĩa vụ đối với nhau; các bên đồng thời là
người có nghĩa vụ và có quyền. Hợp đồng đơn vụ là hợp đồng mà chỉ một bên có
nghĩa vụ.
- Căn cứ vào sự phụ thuộc lẫn nhau về hiệu lực giữa các quan hệ hợp đồng,
hợp đồng được phân chia thành hợp đồng chính và hợp đồng phụ. Hợp đồng chính
là hợp đồng mà hiệu lực của nó không phụ thuộc vào hợp đồng phụ. Hợp đồng phụ
là hợp đồng mà hiệu lực của nó phụ thuộc vào hợp đồng chính;
- Căn cứ vào chủ thể được hưởng lợi từ hợp đồng, hợp đồng được phân chia
thành: Hợp đồng vì lợi ích của các bên trong hợp đồng và hợp đồng vì lợi ích của
người thứ ba. Ở hợp đồng vì lợi ích của các bên trong hợp đồng, việc thực hiện
nghĩa vụ của một bên nhằm mang lại lợi ích (bảo đảm quyền) của bên kia trong
quan hệ hợp đồng. Hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba là hợp đồng mà các bên
giao kết hợp đồng đều phải thực hiện nghĩa vụ và người thứ ba được hưởng lợi ích
từ việc thực hiện nghĩa vụ đó.
- Căn cứ vào nội dung của mối quan hệ kinh tế, hợp đồng được chia thành các
loại sau:
+ Hợp đồng mua bán hàng hóa;
+ Hợp đồng vận chuyển hàng hóa;
+ Hợp đồng trong xây dựng cơ bản;
+ Hợp đồng trung gian thương mại (Hợp đồng đại diện cho thương nhân, hợp
đồng môi giới thương mại, hợp đồng đại lý, hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa);
+ Hợp đồng dịch vụ xúc tiến thương mại: Hợp đồng dịch vụ quảng cáo; hợp
đồng trưng bày và giới thiệu sản phẩm hàng hóa.
+ Hợp đồng tín dụng;
14
+ Hợp đồng bảo hiểm;
+ Hợp đồng trong lĩnh vực đầu tư: hợp đồng hợp tác kinh doanh, hợp đồng
liên doanh.
Về mục đích của các bên trong hợp đồng: Hợp đồng kinh doanh phát sinh
trong hoạt động kinh doanh của các chủ thể nên ít nhất phải có một bên chủ thể có
mục đích lợi nhuận khi giao kết hợp đồng. Nếu cả hai bên chủ thể đều không có
mục đích lợi nhuận, hợp đồng được coi là hợp đồng dân sự đơn thuần. Ngược lại,
nếu cả hai bên đều có mục đích lợi nhuận thì hợp đồng được coi là hợp đồng kinh
doanh hay hợp đồng thương mại. Tuy nhiên, vấn đề sẽ trở nên phức tạp hơn nếu
một bên có mục đích lợi nhuận và một bên không có mục đích này. Trường hợp này
gọi là giao dịch hỗn hợp.
Để xác định xem đây là hợp đồng dân sự hay thương mại, Luật Thương mại
Việt Nam sử dụng phương pháp như sau:
- Nếu bên có mục đích lợi nhuận không phải là thương nhân thì hợp đồng đã
giao kết là hợp đồng dân sự.
- Nếu bên có mục đích lợi nhuận là thương nhân thì việc xác định hợp đồng
dựa vào ý chí của bên không có mục đích lợi nhuận, cụ thể là:
- Bên không có mục đích lợi nhuận chọn áp dụng quy định của Bộ Luật Dân
Sự 2005 thì đó là hợp đồng dân sự.
- Bên không có mục đích lợi nhuận chọn áp dụng quy định của Bộ Luật
Thương Mại 2005 thì đó là hợp đồng kinh doanh.
Đối với đề tài nghiên cứu nghĩa vụ cung cấp thông tin giai đoạn tiền hợp đồng
thương mại, tác giả sẽ đi sâu phân tích nghĩa vụ cung cấp thông tin đối với một số
loại hợp đồng cụ thể, chuyên biệt: hợp đồng vận chuyển hàng hóa, hợp đồng bảo
hiểm, hợp đồng mua bán nhà ở hinh thành trong tương lai… để làm rõ hơn nghĩa vụ
cung cấp thông tin của các bên chủ thể khi tham gia kí kết hợp đồng thương mại.
1.1.3. Quyền và nghĩa vụ các bên trong hợp đồng thương mại
Ngày nay, thương mại quốc tế ngày càng phát triển và giữ vai trò quan trọng
15
trong nền kinh tế của mỗi quốc gia. Hoạt động trao đổi hàng hóa ngày càng trở nên
đa dạng và phong phú. Để làm được điều đó mỗi trao đổi đều phải dựa trên sự bình
đẳng. Tức là có sự công bằng về quyền lợi và nghĩa vụ giữa các bên tham gia trao
đổi. Thực tế đã cho thấy, có không ít trường hợp các tranh chấp thương mại xảy ra
là do sự phân chia quyền và nghĩa vụ giữa các bên là không rõ ràng và không hợp lý.
Điều này đã gây ra không ít khó khăn, thiệt hại về thời gian, công sức, uy tín của
các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp trẻ mới bước chân vào ngành…
Việc thỏa thuận hợp đồng có sự công bằng trong quyền và nghĩa vụ của các
bên tham gia hợp đồng là rất cần thiết. Bên cạnh đó, sự thỏa thuận phải tuân theo
đúng quy định của pháp luật, để các bên có thể đảm bảo quyền và nghĩa vụ của
mình khi tham gia giao kết hợp đồng. Do hợp đồng thương mại rất rộng với nhiều
loại hợp đồng, nên tác giả chỉ phân tích quyền và nghĩa vụ của các bên trong một số
hợp đồng cụ thể, để qua đó thấy được nghĩa vụ cung cấp thông tin của các bên trước
khi giao kết hợp đồng thương mại.
Để tiến hành các hoạt động thương mại, thương nhân phải kí kết và thực hiện
các hợp đồng thương mại. Khi hợp đồng được hình thành và có hiệu lực pháp luật,
những cam kết trong hợp đồng có giá trị bắt buộc thực hiện không đúng, không đầy
đủ nghĩa vụ đã thỏa thuận thì coi là vi phạm hợp đồng thương mại. Trong hợp đồng
thương mại ngoài các điều khoản do các bên thỏa thuận và ghi rõ trong hợp đồng thì
các bên còn phải tuân thủ những nội dung pháp lý bắt buộc đã được pháp luật quy
định mà các bên có thể thỏa thuận hoặc không thỏa thuận trong hợp đồng (điều
khoản thường lệ). Mặc dù, những điều khoản này không được đưa vào hợp đồng
theo quy định của pháp luật thì việc các bên không thực hiện những điều khoản này
cũng sẽ bị coi là hành vi vi phạm hợp đồng thương mại cũng tức là vi phạm pháp
luật về hợp đồng thương mại và sẽ bị áp dụng chế tài. Các hình thức chế tài do vi
phạm hợp đồng thương mại bao gồm: buộc thực hiện đúng hợp đồng, phạt vi phạm,
bồi thường thiệt hại… Như vậy, hành vi vi phạm trong lĩnh vực thương mại không
chỉ bao gồm các hành vi vi phạm chế độ quản lý Nhà nước trong lĩnh vực thương
mại, xâm phạm trật tự quản lý hoạt động thương mại của Nhà nước mà còn bao gồm
những hành vi vi phạm hợp đồng thương mại. Phù hợp với từng loại hành vi vi
16
phạm pháp luật hiện hành quy định các hình thức trách nhiệm pháp lý với nhiều loại
chế tài khác nhau. Theo nghĩa này, chế tài trong hoạt động thương mại có thể được
áp dụng đối với mọi vi phạm pháp luật thương mại: từ những hành vi làm tổn hại
đến lợi ích Nhà nước, lợi ích của người tiêu dùng như đầu cơ lũng đoạn thị
trường…đến các vi phạm pháp luật có tính chất “riêng tư” giữa các thương nhân,
như hành vi không thực hiện hoặc thực hiện không đúng các cam kết trong hợp
đồng. Những hình thức chế tài được áp dụng trong các trường hợp này có thể là chế
tài hành chính, chế tài hình sự hoặc chế tài mang tính chất dân sự, phù hợp với tính
chất của từng loại hành vi vi phạm. Về phạm vi áp dụng, chế tài thương mại được
áp dụng đối với mọi hành vi vi phạm trong mọi lĩnh vực thương mại. Chủ thể quyết
định áp dụng biện pháp chế tài là cơ quan Nhà nước có thẩm quyền (cơ quan quản
lý Nhà nước đối với chế tài hành chính, Tòa án đối với chế tài hình sự…) hoặc
chính thương nhân bị vi phạm trong quan hệ hợp đồng. Phân tích rõ quyền và nghĩa
vụ của các bên trong hợp đồng chuyên biệt: Hợp đồng bảo hiểm, hợp đồng vận
chuyển hàng hóa để làm rõ hơn ý nghĩa của việc cung cấp thông tin giai đoạn tiền
hợp đồng thương mại. Vì đây là hai loại hợp đồng thương mại thường gặp nhất,
thông tin thường khó định hình và việc cung cấp thông tin trước khi giao kết hợp
đồng rất cần thiết và có ý nghĩa đối với các bên.
Đối với hợp đồng chuyên biệt như hợp đồng bảo hiểm: Trong giao kết
đồng bảo hiểm, nghĩa vụ cung cấp thông tin giữ một vị trí vô cùng quan trọng.
Chính nhờ vào các thông tin được cung cấp mà các bên có khả năng đánh giá, dự
đoán các rủi ro. Nghĩa vụ cung cấp thông tin cũng giúp bảo vệ sự công bằng và lợi
ích chính đáng của các bên tham gia hợp đồng bảo hiểm. Do đó, hiểu được quyền
và nghĩa vụ của doanh nghiệp bảo hiểm và bên mua bảo hiểm sẽ là tiền đề rất quan
trọng để các bên có đi đến quyết định ký hợp đồng với nhau hay không. Hơn nữa,
hợp đồng bảo hiểm là quan hệ chia sẻ rủi ro. Đối tượng của hợp đồng là rủi ro có
thể xảy ra. Điều này thể hiện ở chỗ, những hiểu biết về rủi ro là căn cứ chủ yếu để
các bên cân nhắc, tính toán lợi ích, thỏa thuận và thể hiện ý chí của mình có tham
gia hay không tham gia hợp đồng bảo hiểm, hoặc nếu có tham gia thì ở mức độ,
điều kiện như thế nào: mức phí bảo hiểm ra sao và các điều kiện bảo hiểm cụ thể là
17
gì. Nói khác đi, nhận thức về rủi ro chính là điểm nút trong quan hệ ý chí giữa các
chủ thể tham gia hợp đồng bảo hiểm. Là điểm nút của quan hệ rủi ro lại không phải
là yếu tố định hình rõ ràng. Không giống như đối tượng của của các hợp đồng thông
thường khác, ví dụ hợp đồng mua bán nhà thì căn nhà có thể được các bên trực quan
đánh giá qua các yếu tố cụ thể, rõ ràng như vị trí địa lý, kết cấu, hình dáng…của căn
nhà, rủi ro – đối tượng của hợp đồng bảo hiểm - lại chỉ có thể được suy đoán đến
một cách gian tiếp thông qua những thông tin liên quan mà mỗi bên có, ví dụ như
thông tin về quy mô, tình trạng pháp lý, vị trí địa lý…của đối tượng bảo hiểm. 2
Tính chất không định hình rõ ràng của rủi ro tiềm ẩn một nguy cơ, theo đó các
bên rất dễ hiểu khác nhau về rủi ro. Nguy cơ này trở nên hiển hiện khi đặc thù quan
hệ bảo hiểm là sự bất cân xứng về dòng thông tin giúp đánh giá và dự đoán rủi ro.
Cụ thể, người mua bảo hiểm, do quen thuộc hơn với đối tượng bảo hiểm, là người
nắm giữ và tiếp cận thông tin về rủi ro so với người bảo hiểm. Còn người bảo hiểm
biết rất ít hoặc thậm chí không có thông tin nào về rủi ro. Hiện tượng dòng thông tin
không cân bằng tạo vị thế kẻ mạnh cho người mua bảo hiểm, theo đó bằng việc
kiểm soát thông tin mà mình biết về rủi ro, bên mua bảo hiểm có thể kiểm soát nhận
thức về rủi ro của bên bảo hiểm. Trong khi đó, mặc dù người bảo hiểm có thể đối
phó với thế mạnh của bên mua bảo hiểm bằng cách tự mình tiến hành điều tra, tìm
hiểu về các thông tin, nhưng vì rất nhiều lý do, ví dụ như lý do về thời gian hạn chế
của quá trình giao kết hợp đồng, công việc điều tra này không phải lúc nào cũng có
thể toàn diện và kết quả đầy đủ, chính xác. Hơn nữa, bản thân công việc điều tra,
xác minh nào cũng đi liền với nó là phí tổn và thời gian. Do vậy, có thể nói rằng, dù
muốn hay không, thì người bảo hiểm vẫn ở vị thế của kẻ yếu, chịu sự lệ thuộc vào
chia sẻ thông tin từ phía người mua bảo hiểm.
Quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp bảo hiểm:
- Quyền cơ bản của doanh nghiệp bảo hiểm:
2 Phạm Si Hải Quỳnh, Nghĩa vụ cung cấp thông tin trong giao kết hợp đồng, tra cứu tại http://tuvanhopdong.net/nghia-vu-cung-cap-thong-tin-trong-giao-ket-hop-dong-110-a8ia.html
+ Thu phí bảo hiểm theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm;
18
+ Yêu cầu bên được mua bảo hiểm cung cấp đầy đủ, trung thực các thông tin
liên quan đến việc giao kết và thực hiện hợp đồng bảo hiểm;
+ Đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng bảo hiểm trong một số trường hợp;
+ Từ chối bồi thường bảo hiểm khi sự kiện xảy ra bị loại trừ, không thuộc
phạm vi trách nhiệm bảo hiểm;
+ Yêu cầu bên được bảo hiểm thực hiện các biện pháp đề phòng rủi ro, hạn
chế tổn thất.
- Nghĩa vụ của doanh nghiệp bảo hiểm:
+ Giải thích cho bên mua bảo hiểm về các điều kiện, điều khoản bảo hiểm,
quyền, nghĩa vụ của bên mua bảo hiểm.
+ Cấp cho bên mua bảo hiểm giấy chứng nhận bảo hiểm, đơn bảo hiểm ngay
sau khi giao kết hợp đồng bảo hiểm;
+ Trả tiền bảo hiểm kịp thời cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người
được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm;
+ Giải thích bằng văn bản lý do từ chối trả tiền bảo hiểm hoặc từ chối bồi
thường;
+ Phối hợp với bên mua bảo hiểm để giải quyết yêu cầu của người thứ ba đòi
bồi thường về những thiệt hại thuộc trách nhiệm bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo
hiểm;
+ Các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.
Quyền và nghĩa vụ của bên được bảo hiểm:
- Quyền của bên được bảo hiểm:
+ Yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm giải thích các điều kiện, điều khoản, tài liệu
liên quan đến hợp đồng bảo hiểm; cung cấp thông tin về hợp đồng bảo hiểm đã giao
kết; giữ bí mật các thông tin mà bên được bảo hiểm đã cung cấp;
+ Được cấp hợp đồng bảo hiểm hoặc bằng chứng của hợp đồng bảo hiểm đã
giao kết;
19
+ Được bồi thường, trả tiền bảo hiểm theo thỏa thuận của hợp đồng bảo hiểm;
+ Đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng bảo hiểm trong một số trường hợp;
+ Chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm theo thỏa thuận của hợp đồng bảo hiểm
hoặc theo quy định của pháp luật.
- Theo quyền của doanh nghiệp bảo hiểm, nghĩa vụ của bên được bảo hiểm
quy định như sau:
+ Nộp phí bảo hiểm theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm;
+ Cung cấp đầy đủ, trung thực các thông tin liên quan đến việc giao kết và
thực hiện hợp đồng bảo hiểm;
+ Đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng bảo hiểm trong một số trường hợp;
+ Thực hiện các biện pháp đề phòng rủi ro, hạn chế tổn thất.3
Như vậy, trong hợp đồng bảo hiểm các quyền và nghĩa vụ của các bên cũng
nêu rõ hơn ở giai đoạn tiền hợp đồng.
Ngoài hợp đồng bảo hiểm, hợp đồng vận chuyển hàng hóa cũng là một
loại hợp đồng thương mại chuyên biệt, trong đó quyền và nghĩa vụ của bên vận
chuyển và bên thuê vận chuyển có ảnh hưởng rất lớn đến việc thực hiện hợp đồng,
đặc biệt là giai đoạn tiền hợp đồng.
Quyền và nghĩa vụ của bên vận chuyển:
a) Tiếp nhận hàng hoá của bên thuê vận chuyển.
– Bên vận chuyển phải đưa phương tiện vận chuyển đến nhận hàng hoá vận
chuyển theo sự thoả thuận của các bên trong hợp đồng vận chuyển. Phương tiện vận
chuyển phải đáp ứng yêu cầu tiếp nhận, vận chuyển và bảo quản hàng hoá phù hợp
với tính chất hàng hoá.
– Bên vận chuyển có nghĩa vụ nhận hàng hoá của bên thuê vận chuyển đúng
thời gian và địa điểm theo thỏa thuận. Trường hợp bên vận chuyển nhận chậm hàng
3 Điều 17 Luật kinh doanh bảo hiểm 2000 sửa đổi, bổ sung 2010.
làm phát sinh chi phí bảo quản hàng hoá cho bên thuê vận chuyển thì phải bồi
20
thường các thiệt hại đó. Trường hợp bên thuê vận chuyển giao hàng chậm thì bên
vận chuyển yêu cầu bên thuê vận chuyển bồi thường các thiệt hại phát sinh do bị
lưu giữ phương tiện vận chuyển.
– Bên vận chuyển được quyền từ chối vận chuyển tài sản không đúng với loại
tài sản đã thoả thuận trong hợp đồng. Nhưng trong thực tế thì người vận chuyển chỉ
có thể từ chối việc vận chuyển trong trường hợp việc thay thế hàng hoá vận chuyển
làm ảnh hưởng đến quyền lợi của người vận chuyển hoặc những người thuê vận
chuyển khác.
Ngoài ra, bên vận chuyển có quyền từ chối nhận những hàng hoá không đảm
bảo các tiêu chuẩn đóng gói cần thiết theo thoả thuận của các bên. Người vận
chuyển được quyền từ chối vận chuyển hàng hoá cấm lưu thông, hàng hoá có tính
chất nguy hiểm, độc hại.
– Nếu hợp đồng quy định bên thuê vận chuyển có nghĩa vụ xếp hàng lên
phương tiện vận chuyển thì bên vận chuyển có nghĩa vụ hướng dẫn việc sắp xếp
hàng hoá trên phương tiện vận chuyển và có quyền yêu cầu bên thuê vận chuyển
phải sắp xếp hàng hóa theo đúng hướng dẫn.
b) Tổ chức vận chuyển hàng hoá theo đúng các điều kiện đã thoả thuận.
Trong giai đoạn này, bên vận chuyển có các quyền và nghĩa vụ cơ bản sau đây:
– Vận chuyển hàng hoá đến đúng địa điểm trả hàng. Trường hợp bên vận
chuyển giao hàng không đúng địa điểm đã quy định thì phải thanh toán chi phí vận
chuyển hàng hoá đến đúng địa điểm đã thoả thuận trong hợp đồng cho bên thuê vận
chuyển.
– Bảo quản hàng hoá trong quá trình vận chuyển: Theo thông lệ chung thì
nghĩa vụ bảo quản hàng hoá của bên vận chuyển phát sinh từ thời điểm bên vận
chuyển tiếp nhận hàng hoá vận chuyển do bên thuê vận chuyển giao và kết thúc khi
đã giao hàng hoá cho người nhận tại địa điểm trả hàng.
c) Trả hàng cho người có quyền nhận hàng.
Trả hàng là nghĩa vụ cơ bản của người vận chuyển trước người gửi hàng cũng
21
như người có quyền nhận hàng (nếu người gửi hàng không đồng thời là người nhận
hàng).
– Trả hàng hoá vận chuyển đúng đối tượng.
– Thông báo về việc hàng hoá đến cho người có quyền nhận hàng. Trường hợp
các bên thoả thuận trả hàng tại địa chỉ của người nhận thì người vận chuyển không
phải thông báo hàng đến.
– Trả hàng đúng phương thức đã thoả thuận.
Một nguyên tắc phải tôn trọng là khi bên vận chuyển nhận hàng theo phương
thức nào thì trả hàng phải theo phương thức đó.
– Nếu bên vận chuyển đã vận chuyển hàng hoá đến địa điểm trả hàng đúng
thời hạn quy định nhưng không có người nhận hàng, thì bên vận chuyển có thể gửi
hàng hoá tại nơi nhận gửi giữ và phải báo ngay cho bên thuê vận chuyển hoặc bên
có quyền nhận hàng biết. Các chi phí gửi giữ, bảo quản hàng hoá do bên thuê vận
chuyển hoặc bên có quyền nhận hàng hoá chịu.
– Bên vận chuyển có quyền từ chối trả hàng và có quyền lưu giữ hàng, nếu
người thuê vận chuyển và người nhận hàng chưa thanh toán đủ các khoản cước phí
và chi phí vận chuyển hoặc khi chưa nhận được sự bảo đảm thoả đáng cho việc
thanh toán các khoản cước phí và chi phí nói trên.
Quyền và nghĩa vụ của bên thuê vận chuyển
a) Giao hàng hoá cho bên vận chuyển.
Bên thuê vận chuyển có nghĩa vụ giao hàng hoá vận chuyển cho bên vận
chuyển đúng thời hạn, địa điểm như đã thoả thuận. Hàng hoá phải được đóng gói
đúng quy cách, ghi ký hiệu, mã hiệu đầy đủ và rõ ràng. Bên thuê vận chuyển phải
chịu chi phí bốc xếp hàng hoá lên phương tiện vận chuyển nếu các bên không thoả
thuận khác.
b) Thanh toán cước phí vận chuyển.
Thanh toán cước phí vận chuyển là nghĩa vụ cơ bản nhất của bên thuê vận
22
chuyển. Cước phí theo thoả thuận của các bên hoặc theo biểu phí của các đơn vị
kinh doanh dịch vụ vận chuyển công cộng.
c) Trông coi hàng hoá trên đường vận chuyển.
Các bên có thể thoả thuận để bên thuê vận chuyển cử người trông coi hàng hoá
trên đường vận chuyển (người áp tải) đối với việc vận chuyển một số loại hàng hoá
có giá trị lớn hoặc hàng hoá yêu cầu phải có chế độ bảo quản, chăm sóc đặc biệt.
Trong trường hợp bên thuê vận chuyển trông coi hàng hoá vận chuyển mà hàng hoá
bị mất mát, hư hỏng thì bên thuê vận chuyển phải tự chịu trách nhiệm trước những
tổn thất tài sản đó.4
Như vậy, qua hai hợp đồng chuyên biệt như trên, ta thấy rằng luật đã quy định
rất rõ quyền và nghĩa vụ của các bên trong giao kết hợp đồng. Bởi hợp đồng là một
trong những công cụ hữu hiệu để thực hiện các hoạt động kinh doanh trong thực tế.
Trong quá trình tồn tại và phát triển của mình, mọi chủ thể kinh doanh đều phải
tham gia vào rất nhiều quan hệ hợp đồng từ những hợp đồng đơn giản tồn tại dưới
hình thức bằng lời nói đến những hợp đồng phức tạp có mức độ yêu cầu cao về mặt
hình thức để đảm bảo tính an toàn về mặt pháp lý như hợp đồng bằng văn bản hoặc
hợp đồng có công chứng chứng thực. Qua nghiên cứu và thực tiễn hoạt động kinh
doanh, chúng ta có thể thấy các sự cố, rủi ro trong quá trình tham gia ký kết hợp
đồng kinh doanh là điều không tránh khỏi. Vì vậy để hạn chế những rủi ro trong
việc tham gia ký kết hợp đồng, với mong muốn phần nào giúp các doanh nghiệp
kinh doanh tránh được các thiệt hại rủi ro và thực hiện hợp đồng hoàn thiện và đạt
được mục đích kinh doanh lợi nhuận, các chủ thể cần phải nắm rõ những khái niệm
trên để phát hiện, sửa chữa và khắc phục kịp thời trong việc ký kết và thực hiện hợp
đồng thương mại.
1.2. Giai đoạn tiền hợp đồng thương mại
1.2.1. Khái niệm, đặc điểm
Năm 1861, luật sư người Đức Rudolph von Jhering đã đưa ra khái niệm về
nghĩa vụ trong giai đoạn đàm phán hợp đồng, hay học thuyết “culpa in 4 Quyền và nghĩa vụ các bên trong hợp đồng vận chuyển hàng hóa – Luật Dương Gia.
23
contrahendo”. Theo đó, một bên phải chịu trách nhiệm đối với vi phạm của mình
trong giai đoạn đàm phán hợp đồng. Đây có thể xem là một trong những người đầu
tiên đưa ra khái niệm về giai đoạn tiền hợp đồng .5 Thực tế, tranh chấp có thể xảy ra
từ khi các bên chưa ký kết hợp đồng mà họ vẫn đang trong giai đoạn thương thảo.
Chính vì sự phù hợp với thực tiễn nên học thuyết này ngày càng được công nhận
rộng rãi trong nền khoa học pháp lý. Có thể hiểu, giai đoạn đàm phán hợp đồng hay
giai đoạn tiền hợp đồng bắt đầu khi một bên thể hiện ý định muốn xác lập một hợp
đồng đến khi hợp đồng được giao kết. Giai đoạn này dài hay ngắn còn phụ thuộc
vào từng hoàn cảnh, phụ thuộc vào việc các bên có dành nhiều thời gian vào việc
thương lượng hay không.6
Do vậy, giai đoạn tiền hợp đồng thương mại có những đặc điểm sau:
- Thứ nhất, ở giai đoạn tiền hợp đồng, các quy định về quyền, nghĩa vụ của
các bên trong hợp đồng chưa được áp dụng. Trong giai đoạn này, nghĩa vụ phát sinh
là nghĩa vụ tiền hợp đồng.
- Thứ hai, trong giai đoạn này các bên được quyền lựa chọn có ký kết hợp
đồng hay không và ký kết hợp đồng nào. Đây là sự thể hiện của nguyên tắc tự do
hợp đồng. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là các bên được hoàn toàn tự do và
tùy tiện trong hành vi của mình.
- Thứ ba, sự độc lập giữa giai đoạn tiền hợp đồng và các giai đoạn khác là
tương đối. Một số hành vi trong giai đoạn đàm phán hợp đồng có thể dẫn đến hậu
quả trong các giai đoạn tiếp theo của hợp đồng.
1.2.2. Điều chỉnh pháp luật giai đoạn tiền hợp đồng thương mại
Việt Nam chưa có đạo luât riêng về hợp đồng mà chế định hợp đồng được quy
5 Nghĩa vụ tiền hợp đồng trong tiếng Anh được gọi là Precontractual liability hoặc thuật ngữ Latin là culpa in contrahendo có nghĩa là “lỗi trong giao kết hợp đồng”. Theo cách hiểu thông thường nghĩa vụ tiền hợp đồng là nghĩa vụ mà một bên phải gánh chịu khi đơn phương phá vỡ thỏa thuận đàm phán với bên còn lại, vi phạm sự tín nhiệm lẫn nhau trong đàm phán hợp đồng. 6 Vũ Thị Ngọc Huyền và Trần Ngọc Phương Minh, Trách nhiệm trung thực, thiện chí trong giai đoạn tiền hợp đồng dưới góc độ luật học so sánh BLDS 2015 và CIGS, tại địa chỉ: https://lracuel.org/2018/03/08/cs-03- 12-2017-trach-nhiem-trung-thuc-thien-chi-trong-giai-doan-tien-hop-dong-duoi-goc-do-luat-hoc-so-sanh- blds-2015-va-cisg/amp/
định trong Bộ luật dân sự và một số luật chuyên ngành: Luật thương mại, Luật cạnh
24
tranh, Luật kinh doanh bảo hiểm…nhưng các quy định chuyên biệt này có phạm vi
hẹp (chỉ điều chỉnh một số hợp đồng) và chưa thể hiện bất cập liên quan đến giai
đoạn tiền hợp đồng. Tuy nhiên, Bộ luật dân sự luôn được coi là đạo luật gốc quy
định các vấn đề chung nhất và cơ bản nhất về hợp đồng, là nền tảng cho pháp luật
về hợp đồng được áp dụng chung cho tất cả các loại hợp đồng, không phân biệt hợp
đồng dân sự hay hợp đồng kinh tế, hợp đồng có mục đích kinh doanh hay hợp đồng
nhằm đáp ứng các nhu cầu hàng ngày.
Dựa trên tình hình thực tế hiện nay, bản chất cũng như thực trạng pháp luật về
hợp đồng của Việt Nam đã đến giai đoạn các nhà làm luật nên bắt đầu chú ý đến
đến việc luật hóa chế định nghĩa vụ cung cấp thông tin tiền hợp đồng. Chúng ta nên
tiếp nhận các quan điểm về vấn đề này của các hệ thống pháp luật trên thế giới phù
hợp với tình hình thực tế và đặc điểm pháp lý của hệ thống pháp luật Việt Nam, để
xây dựng nền móng cho quy định nghĩa vụ cung cấp thông tin tiền hợp đồng, cụ thể
là nghĩa vụ cung cấp thông tin tiền hợp đồng thương mại. Việt Nam chịu ảnh hưởng
sâu sắc của hệ thống luật dân sự (Civil law), chưa thực sự cởi mở với án lệ, nên việc
có các quy định về nghĩa vụ tiền hợp đồng là việc hết sức cần thiết và mang tính
thực tiễn cao, vừa đảm bảo sự công bằng của pháp luật, vừa tạo ra môi trường pháp
lý thuận lợi cho hoạt động kinh doanh.
Ở những nước đang phát triển trong đó có Việt Nam, trong giai đoạn tiền hợp
đồng, các bên không bị ràng buộc bởi bất kỳ một thoả thuận nào liên quan đến quy
trình việc ký kết hợp đồng. Quá trình đàm phán hợp đồng luôn được cho rằng là
một quy trình thông thường, chủ yếu dựa trên tình hình thực tế và các quy tắc đạo
đức được tạo ra trong hoạt động kinh doanh. Do đó, pháp luật ít khi can thiệp vào
quy trình này và thường không áp đặt bắt kỳ nghĩa vụ bắt buộc nào đối với các bên,
cũng như cách thức mà quy trình này được tiến hành. Việc pháp luật của các nước
nói chung không có các quy định điều chỉnh trong giai đoạn tiền hợp đồng dựa trên
các lập luận sau:
Thứ nhất, bất kỳ sự can thiệp nào của pháp luật ở giai đoạn này, khi mà các
bên chưa thực hiện bất kỳ một nghĩa vụ hợp đồng nào hoặc chưa làm điều gì sai sẽ
dẫn đến việc vi phạm nguyên tắc tự nguyện trong ký kết hợp đồng, một nguyên tắc
25
quan trọng nhất của pháp luật hợp đồng.
Thứ hai, sự can thiệp vào quá trình đàm phán hợp đồng trước khi các bên
đồng ý bị ràng buộc bởi các nghĩa vụ bắt buộc, hoặc trước khi các bên thực hiện các
hành vi sai trái, sẽ khiến cho các bên cần phải cẩn thận hơn trước khi tham gia đàm
phán và do đó sẽ tạo rào cản khiến cho số lượng các hợp đồng được ký kết bị suy
giảm đáng kể.
Thứ ba, trừ khi rơi vào phạm vi điều chỉnh của các quy định chính thức, hành
vi của các bên nên được coi không có giá trị về mặt pháp lý.
Tuy nhiên, hiện nay xu hướng chung trong vấn đề xây dựng pháp luật hợp
đồng của các nước trên thế giới là theo hướng tối đa hoá sự linh hoạt của các quy
định pháp luật hợp đồng trong điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong quá trình đàm
phán, ký kết hợp đồng. Pháp luật hợp đồng càng linh hoạt bao nhiêu thì các quy
trình của hợp đồng càng diễn ra thuận lợi, dễ dàng bấy nhiêu. Pháp luật hợp đồng
trở nên “thoải mái” hơn trong việc tạo ra các yêu cầu bắt buộc mà các đề nghị và
chấp nhận đề nghị phải đáp ứng. Đồng thời, pháp luật hợp đồng cũng bắt đầu dành
nhiều sự chú ý hơn đến hành vi của các bên trước khi đưa ra đề nghị và dần dần
thừa nhận các quy trình hợp đồng mới thay thế cho các quy trình cũ.
Do đó, cùng với sự phát triển của hoạt động thương mại và thị trường, ba quan
điểm về pháp luật hợp đồng như trình bày ở trên dần trở nên không còn phù hợp với
thực tiễn và dần mất đi tầm quan trọng của nó trong điều chỉnh các quan hệ hợp
đồng, cũng như tính thuyết phục của chúng. Một thực tế rõ ràng là sự thiếu các quy
định của pháp luật điều chỉnh hành vi của các bên trong giai đoạn tiền hợp đồng có
thể dẫn đến những kết quả không công bằng và không thực hiện được vai trò, bản
chất xã hội của hợp đồng. Do đó, pháp luật hợp đồng phải thay đổi để đáp ứng được
những yêu cầu xuất phát từ thực tế cần phải xem giai đoạn tiền hợp đồng là một
phần không thể tách rời của toàn bộ quá trình “làm” hợp đồng và cần phải có các
quy định cụ thể, rõ ràng điều chỉnh hành vi và quan hệ của các bên trong giai đoạn
này. Hay nói cách khác, pháp luật hợp đồng hiện nay cần phải tìm được sự cân bằng
giữa một mặt là bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên trong giai đoạn đàm
26
phán hợp đồng và mặt khác vẫn phải đảm bảo quyền tự do, tính tự nguyện của các
bên, đồng thời không tạo ra các rào cản cho các bên muốn tiến hành thương lượng
và đàm phán ký kết hợp đồng với nhau.
1.3. Nghĩa vụ cung cấp thông tin giai đoạn tiền hợp đồng thương mại
1.3.1. Khái niệm, đặc điểm
Khái niệm nghĩa vụ: Nghĩa vụ là việc mà pháp luật hay đạo đức bắt buộc
phải làm đối với xã hội, đối với người khác. Luật nghĩa vụ là nền tảng đầy chất lý
luận của luật thương mại. Vấn đề cần nói trước tiên tại đây là định nghĩa về nghĩa
vụ. Điều này tưởng chừng đơn giản, nhưng thực tế lại có nhiều rắc rối riêng trong
pháp luật Việt Nam. Tuy nghĩa vụ có lẽ được hiểu không khác nhau về mặt nội
dung, nhưng nó lại được định nghĩa đôi khi khác nhau không chỉ về ngôn từ, mà cả
từ xuất phát điểm. Việc làm rõ định nghĩa về nghĩa vụ có ích cho việc hiểu rõ hơn
các nguồn gốc của nghĩa vụ (hay căn cứ phát sinh ra nghĩa vụ), phân loại nghĩa vụ
và có ích cho việc nghiên cứu các đặc điểm của nghĩa vụ, cũng như các hệ quả của
các đặc điểm này…
Bộ luật Dân sự 2015 của Việt Nam định nghĩa: “Nghĩa vụ dân sự là việc mà
theo đó, một hoặc nhiều chủ thể (sau đây gọi chung là bên có nghĩa vụ) phải chuyển
giao vật, chuyển giao quyền, trả tiền hoặc giấy tờ có giá, thực hiện công việc khác
hoặc không được thực hiện công việc nhất định vì lợi ích của một hoặc nhiều chủ
thể khác (sau đây gọi chung là bên có quyền)”.7 Định nghĩa này đã nhắc tới các bên
trong quan hệ nghĩa vụ và liệt kê các “đối tượng” của nghĩa vụ. Tại đây cần phải lưu
ý, một số luật gia của Việt Nam hiện nay đưa ra sự phân biệt giữa khách thể của
quan hệ nghĩa vụ và đối tượng của nghĩa vụ. Định nghĩa này không mang tính khái
quát cao. Nhưng điều đáng bình luận hơn là định nghĩa này không xuất phát từ việc
xem nghĩa vụ là một quan hệ mà trong đó có hai loại chủ thể trái ngược nhau về mặt
lợi ích: (1) Một bên có quyền yêu cầu; và (2) một bên khác (bên có nghĩa vụ) phải
thực hiện yêu cầu của bên kia. Định nghĩa như Điều 274 nói trên chỉ xuất phát từ
7 Điều 274 BLDS 2015.
hành vi của bên phải thực hiện một đối tượng vì lợi ích của người khác. Sự định
27
nghĩa thiếu chính xác này có lẽ là do sự nhầm lẫn về thuật ngữ. “Nghĩa vụ dân sự”
có hai nghĩa. Một nghĩa chỉ hành vi phải thực hiện của một bên theo yêu cầu của
bên kia (nghĩa hẹp). Một nghĩa khác chỉ một quan hệ mà theo đó một bên có quyền
yêu cầu, còn bên kia phải thực hiện hành vi nhất định theo yêu cầu đó, có nghĩa là
chỉ mối quan hệ giữa trái chủ và người thụ trái xác định (nghĩa rộng). Vì vậy, với
nghĩa thứ hai này, khi nói hợp đồng là căn cứ phát sinh ra nghĩa vụ, thì có nghĩa là
hợp đồng làm phát sinh ra quan hệ giữa trái chủ và người thụ trái xác định.8
Nghĩa vụ mà tiếng Anh và tiếng Pháp viết là “obligation” có nguồn gốc từ
danh từ “obligatio” của tiếng Latin. Nó có rất nhiều nghĩa khác nhau . Vì vậy khi sử
dụng nó, cần thận trọng. Có thể khảo sát một số định nghĩa khác về nghĩa vụ để làm
rõ hơn cho các bình luận nêu trên.
“Nghĩa vụ là một quan hệ pháp luật được xác lập giữa hai chủ thể theo đó một
chủ thể (chủ thể quyền - người có quyền) có quyền yêu cầu chủ thể kia (chủ thể
nghĩa vụ - người có nghĩa vụ) phải hoàn thành một yêu cầu nhất định. Ở đây các
đặc điểm chính của quan hệ nghĩa vụ được đề cập tới và đối tượng của nghĩa vụ
được trừu tượng hóa để làm rõ bản chất là yêu cầu. Cũng vì vậy, trong khi bình luận
khoa học Bộ luật Dân sự Nhật Bản, Xaca Vacaxum và Tori Aritdumi nêu bật bản
chất của nghĩa vụ là “quyền của một người nhất định yêu cầu một người khác thực
hiện các hành vi nhất định. Cuốn từ điển pháp luật của Pháp mang tên “Petit
Dictionnaire de Droit” định nghĩa: “Nghĩa vụ là một mối quan hệ pháp lý theo đó
một người, được gọi là trái chủ, có thể sử dụng phương cách cưỡng chế của quyền
lực công theo sự lựa chọn của anh ta để buộc người khác, người thụ trái xác định,
chuyển giao tài sản, làm hoặc không làm việc gì đó.
Về pháp luật thực định, các đạo luật, nếu đưa ra định nghĩa về nghĩa vụ, đều
định nghĩa nhấn mạnh đến bản chất của nghĩa vụ là quyền yêu cầu như trên. Bộ luật
Dân sự CHLB Đức qui định: “Hiệu lực của nghĩa vụ là việc trái chủ có quyền yêu
8 Trần Đình Chi, Chuyển giao quyền yêu cầu trong quan hệ nghĩa vụ dân sự, Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2011
cầu sự thực hiện từ người thụ trái. Sự thực hiện này có thể bao gồm việc không
28
hành động”.9 Bộ luật Dân sự và Thương mại Thái Lan cũng có qui định tương tự
như Bộ luật Dân sự CHLB Đức như sau: “Đối với một nghĩa vụ, trái chủ có quyền
yêu cầu sự thực hiện từ người thụ trái. Sự thực hiện có thể bao gồm việc không
hành động”.10
Chúng ta cũng bắt gặp các định nghĩa có cùng một xuất phát điểm trong nhiều
công trình nghiên cứu của nhiều học giả Việt Nam. Ví dụ, trong cuốn “Việt Nam
dân luật lược khảo- Quyển II: Nghĩa vụ và khế ước”, Vũ Văn Mẫu định nghĩa:
“Nghĩa vụ là mối liên hệ pháp lý giữa hai người, nhờ đó một người là trái chủ (hay
chủ nợ) có quyền đòi người kia là người phụ trái (hay con nợ) phải thi hành một
cung khoản có thể trị giá bằng tiền” “Giáo trình Luật Dân sự Việt Nam” của Học
viện Tư pháp, mặc dù không nói thẳng, nhưng đã ngụ ý không đồng ý với định
nghĩa tại Điều 274, Bộ luật Dân sự Việt Nam 2015, và đã đưa ra một định nghĩa
khác hẳn in chữ nghiêng để nhấn mạnh, dù hơi dài và có phần gây tranh luận như
sau: “Nghĩa vụ dân sự được hiểu là quan hệ pháp luật về tài sản và nhân thân của
các chủ thể, theo đó chủ thể mang quyền có quyền yêu cầu chủ thể mang nghĩa vụ
phải chuyển giao một tài sản, thực hiện một việc hoặc không được thực hiện một
việc vì lợi ích của mình hay lợi ích của người thứ ba, phải bồi thường một thiệt hại
về tài sản hoặc nhân thân do có hành vi gây thiệt hại, vi phạm lợi ích hợp pháp của
bên có quyền. Chủ thể mang nghĩa vụ dân sự có nghĩa vụ thực hiện quyền yêu cầu
của chủ thể mang quyền. Các quyền dân sự và nghĩa vụ dân sự của các bên chủ thể
trong quan hệ nghĩa vụ theo qui định của pháp luật hoặc theo thoả thuận của các
bên xác lập quan hệ nghĩa vụ dân sự” Như vậy có thể hiểu, nghĩa vụ dân sự có các
đặc điểm sau: Các bên chủ thể trong nghĩa vụ dân sự được xác định cụ thể; là một
loại quan hệ tài sản; có sự ràng buộc pháp lý giữa các chủ thể và vì lợi ích bên có
quyền. Và nghĩa vụ đó bao gồm cả nghĩa vụ trong hợp đồng và nghĩa vụ ngoài hợp
đồng. Đối tượng thực hiện là bên có nghĩa vụ trong quan hệ dân sự.
Khái niệm thông tin: Chúng ta đang sống trong thời đại mà thuật ngữ thông tin
9 Điều 241 Bộ luật dân sự Đức. 10 Điều 194 Bộ luật Dân sự và Thương mại Thái Lan.
được đề cập mọi lúc, mọi nơi. Khái niệm thông tin là khái niệm cơ bản của khoa
29
học, cũng là khái niệm trung tâm của xã hội trong kỷ nguyên số. Mọi quan hệ, mọi
hoạt động của con người đều dựa trên một hình thức giao lưu thông tin nào đó. Có
rất nhiều cách hiểu về thông tin. Thậm chí ngay các từ điển cũng không thể có một
định nghĩa thống nhất. Từ điển Oxford English Dictionary thì cho rằng thông tin là
điều mà người ta đánh giá hoặc nói đến, là tri thức, tin tức. Một số từ điển thì đơn
giản đồng nhất thông tin với kiến thức – Thông tin là điều mà người ta biết, hoặc
thông tin là sự chuyển giao tri thức làm tăng thêm sự hiểu biết của con người. Theo
nghĩa thông thường, thông tin là tất cả các sự kiện, sự việc, ý tưởng, phán đoán làm
tăng thêm sự hiểu biết của con người. Thông tin hình thành trong quá trình giao tiếp:
một người có thể nhận thông tin trực tiếp từ người khác thông qua các phương tiện
thông tin đại chúng, từ các ngân hàng dữ liệu hoặc từ tất cả các hiện tượng quan sát
được từ môi trường xung quanh. Trong một nghiên cứu gần đây, người ta thấy có
bốn yếu tố tác động đến chất lượng thông tin và đem lại giá trị cho nó. Đó là: tính
chính xác, phạm vi bao quát của nội dung, tính cập nhật và tần số sử dụng. Trong đó
quan trọng nhất là nội dung, thứ đến là tính chính xác. Trên bình diện tổng quát, ta
thấy rằng thông tin có giá trị là những thông tin có tính chất riêng biệt và thông tin
có tính chất dự báo. Tính chất riêng biệt làm cho thông tin phù hợp với yêu cầu của
người sử dụng. Còn tính chất dự báo cho phép người ta có thể lựa chọn một quyết
định trong nhiều khả năng cho phép. Có thể nói thêm rằng giá trị nhận thức của
thông tin dự báo liên quan mật thiết đến tính đúng đắn của việc lựa chọn quyết
định.11
Trong giao kết hợp đồng thương mại, nghĩa vụ cung cấp thông tin giữ một vị
trí vô cùng quan trọng. Chính nhờ vào các thông tin được cung cấp mà các bên có
thể đánh giá, dự đoán được các rủi ro có thể xảy ra, giúp các bên hạn chế tối đa nhất
thiệt hại xảy ra đối với mình, đồng thời nó bảo vệ sự công bằng và lợi ích chính
đáng của các bên tham gia hợp đồng.
Xuất phát từ thực tiễn thực hiện hợp đồng, đặc biệt các tranh chấp xảy ra mà
11 Đoàn Phan Tân, Khái niệm thông tin và các thuộc tính thông tin làm nên giá trị của thông tin của tác giả, Tạp chí Văn hóa – Nghệ thuật, số 3 - 2001
luật sư người Đức Rudolph Von Jhering là người đầu tiên đưa ra học thuyết về
30
nghĩa vụ tiền hợp đồng Culpa in contrahendo vào năm 1861. Hợp đồng chỉ có thể
được thực hiện và đem lại lợi ích cho các bên chủ thể một cách tốt nhất khi nội
dung hợp đồng được giao kết phản ánh gần nhất mong muốn, tiệm cận gần nhất lợi
ích thực sự của các chủ thể. Để đạt được mục tiêu này, giai đoạn trước khi hợp đồng
được giao kết, các bên phải thực hiện tốt các nghĩa vụ của mình như nghĩa vụ cung
cấp thông tin, đảm bảo sự trung thực, thiện chí. Chính sự phù hợp với thực tiễn nên
học thuyết dần dần được thừa nhận, đánh dấu bước nhảy vọt thông qua việc pháp
luật các quốc gia ghi nhận dưới tên gọi như precontractualvliability hoặc culpa in
contrachendoc (pháp luật Đức, Pháp…), được thừa nhận trong phán quyết của Tòa
án (Anh, Hoa Kỳ) hay trong các bộ nguyên tắc về hợp đồng mang tính chất quốc tế
như: Nguyên tắc về hợp đồng thương mại quốc tế (Pricinples of international
commenrcial contracts – viết tắt là PICC), nguyên tắc về luật Hợp đồng châu Âu
(Priciples of European contract law – viết tắt là PECL).
Về cơ bản nghĩa vụ tiền hợp đồng mang các đặc trưng:
+ Thời điểm phát sinh nghĩa vụ tiền hợp đồng là trước khi các bên tiến hành
ký kết hợp đồng.
+ Căn cứ phát sinh nghĩa vụ tiền hợp đồng là các quy định của pháp luật dưới
sự chi phối của nguyên tắc trung thực, thiện chí. Đây cũng là cơ sở để khẳng định
nghĩa vụ tiền hợp đồng là các nghĩa vụ do luật định.
+ Nghĩa vụ tiền hợp đồng là cơ sở làm phát sinh trách nhiệm dân sự nếu có
hành vi vi phạm nghĩa vụ tiền hợp đồng.
Do vậy, nghĩa vụ tiền hợp đồng được hiểu là các xử sự mà pháp luật buộc
các bên chủ thể trước khi tham gia ký kết hợp đồng phải thực hiện và trong trường
hợp các bên có hành vi vi phạm nghĩa vụ phải gánh chịu các hậu quả pháp lý bất lợi
cho mình.
Từ đó có thể hiểu nghĩa vụ cung cấp thông tin tiền hợp đồng thương mại là
việc mà các bên trước khi giao kết hợp đồng bắt buộc phải cung cấp các thông tin
cho nhau, trên nguyên tắc trung thực, thiện chí, để hạn chế tối đa nhất thiệt hại có
31
thể xảy ra.12
1.3.2. Điều chỉnh pháp luật về nghĩa vụ cung cấp thông tin giai đoạn tiền
hợp đồng thương mại
Tại Việt Nam, trước khi có BLDS năm 2015, nghĩa vụ cung cấp thông tin tiền
hợp đồng không được quy định như là nguyên tắc chung áp dụng cho tất cả các loại
hợp đồng dân sự. BLDS năm 2005 chỉ có quy định về nghĩa vụ cung cấp thông tin
đối với một số hợp đồng chuyên biệt như: việc chuyển giao quyền, nghĩa vụ dân sự,
hợp đồng mua bán tài sản, hợp đồng bảo hiểm…Sau mười năm triển khai trên thực
tế, BLDS năm 2005 đã bộc lộ một số bất cập trong các quy định về nghĩa vụ cung
cấp thông tin giai đoạn tiền hợp đồng. BLDS năm 2015 ra đời trên cở sở bổ sung,
hoàn thiện và phòng tránh những bất cập mà BLDS cũ tồn tại. BLDS 2015 đã quy
định về nghĩa vụ cung cấp thông tin tiền hợp đồng tại Điều 387 BLDS 2015, theo
đó: Trường hợp một bên có thông tin ảnh hưởng đến việc chấp nhận giao kết hợp
đồng của bên kia thì phải thông báo cho bên kia biết. Bên vi phạm quy định này thì
phải bồi thường. Cách quy định này đã chỉ ra rằng một bên phải có nghĩa vụ cung
cấp thông tin cho đối tác của mình trước khi các bên giao kết hợp đồng. Tuy nhiên
trong BLDS 2015 không quy định rõ cụ thể loại thông tin nào vì với mỗi loại hợp
đồng thì thông tin cần cung cấp có thể rất khác nhau. Ở Việt Nam, nghĩa vụ cung
cấp thông tin tiền hợp đồng thương mại còn là một vấn đề khá mới, hiện chỉ có một
số công trình nghiên cứu về một số khía cạnh, một số nghĩa vụ cung cấp thông tin
tiền hợp đồng trong một số loại hợp đồng cụ thể hoặc hợp đồng dân sự nói chung.
Một số vấn đề liên quan đến nghĩa vụ cung cấp thông tin giai đoạn tiền hợp đồng,
cụ thể là hợp đồng thương mại vẫn là một vấn đề khá mới mẻ và ít được đề cập đến
trong khoa học pháp lý Việt Nam. Điều 387 của BLDS 2015 chỉ nêu lên vai trò của
loại thông tin này đối với bên được cung cấp thông tin là các thông tin này ảnh
hưởng đến việc chấp nhận giao kết hợp đồng của một bên. Ngoài việc quy định trực
truy cập ngày
12 Kiều Thị Thùy Linh, Nghĩa vụ tiền hợp đồng trong hợp đồng dịch vụ của Nguyên tắc luật châu Âu (PELSC) và bài học kinh nghiệm trong việc hoàn thiện quy định pháp luật ở Việt Nam năm 2016, tại địa chỉ: https://wikiluat.com/2016/03/02/nghia-vu-tien-hop-dong-trong-hop-dong-dich-vu-cua-nguyen-tac-luat-chau- au-pel-sc-va-bai-hoc-kinh-nghiem-trong-viec-hoan-thien-quy-dinh-phap-luat-o-viet-nam/, 20/10/2018
tiếp về nghĩa vụ tiền hợp đồng như trên, Điều 443 BLDS năm 2015 quy định: “Bên
32
bán có nghĩa vụ cung cấp cho bên mua thông tin cần thiết về tài sản mua bán và
hướng dẫn cách sử dụng tài sản đó; nếu bên bán không thực hiện nghĩa vụ này thì
bên mua có quyền yêu cầu bên bán phải thực hiện trong một thời hạn hợp lý; nếu
bên bán vẫn không thực hiện làm cho bên mua không đạt được mục đích giao kết
hợp đồng thì bên mua có quyền hủy bỏ hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại”.
Để làm rõ thêm, tác giả lấy ví dụ cụ thể: Bên A và bên B ký kết hợp đồng mua bán
một lô gạo (thuộc giống đặc biệt) nhưng bên A – bên bán không cung cấp thông tin
về cách bảo quản thích hợp cho bên B dẫn đến lô gạo này bị hư hỏng chỉ ít ngày sau
khi bên B nhận được lô hàng. Như vậy, trong trường hợp này bên B đã không đạt
được mục đích giao kết hợp đồng là mua được thứ hàng hóa có tiêu chuẩn như mình
mong đợi và bên B có yêu cầu bồi thường thiệt hại. Tuy nhiên, sẽ có nhiều vấn đề
pháp lý đặt ra như bên B đã yêu cầu bên A thực hiện cung cấp thông tin vê việc bảo
quản loại gạo này hay chưa và việc bên B không yêu cầu cũng cấu thành yếu tố lỗi
khi cơ quan giải quyết tranh chấp xem xét vấn đề bồi thường thiệt hại.
Điều 443 BLDS năm 2015 đã bổ sung cụm từ “trong một thời hạn hợp lý”,
nhằm phòng ngừa trường hợp người mua đã yêu cầu nhiều lần, trong một thời gian
dài nhưng bên bán vẫn không thiện chí thực hiện nghĩa vụ cung cấp thông tin và cố
tình tạo khó khăn, cản trở cho bên mua trong việc nhận được thông tin và ngăn cản
bên mua thực hiện quyền hủy bỏ hợp đồng.
Tiếp theo, Điều 443 BLDS năm 2015 cũng nêu lên điều kiện để bên mua có
thể áp dụng chế tài hủy hợp đồng, khi và chỉ khi việc không thực hiện nghĩa vụ
cung cấp thông tin của bên bán làm cho bên mua không đạt được mục đích giao kết
hợp đồng. Điều này là phù hợp, thống nhất với các phần khác trong BLDS về việc
áp dụng chế tài hủy hợp đồng. “Hủy bỏ hợp đồng” là một trong những trường hợp
chấm dứt hợp đồng dân sự, là trường hợp khi một bên vi phạm hợp đồng là điều
kiện hủy bỏ mà các bên đã thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định thì bên còn lại có
quyền xóa bỏ hợp đồng và yêu cầu bên vi phạm bồi thường thiệt hại. Từ đó có thể
hiểu rằng quyền hủy bỏ hợp đồng nói chung và hợp đồng thương mại nói riêng có
thể do các bên thỏa thuận hoặc do pháp luật thương mại quy định. Tuy nhiên cũng
đều xuất phát từ quy định của Bộ luật dân sự về hợp đồng để từ đó có thể đánh giá
33
đối với từng loại hợp đồng chuyên biệt trong thương mại.
Hợp đồng mua bán nhà ở hình thành trong tương lai là sự thỏa thuận của các
bên về việc mua bán nhà chưa có vào thời điểm hợp đồng được giao kết. Việc phát
triển nhà ở thương mại chưa được hoàn thành hoặc do nhà ở riêng lẻ của cá nhân,
gia đình chưa được xây dựng hoặc xây dựng chưa xong. Nhà ở hình thành trong
tương lai, cũng như các bất động sản khác sẽ được hình thành trong tương lai là
nhóm đối tượng được pháp luật dân sự các nước phát triển trên thế giới điều chỉnh
với những quy chế cụ thể, chặt chẽ. Đặc trưng quan trọng nhất của hợp đồng mua
bán là việc giao một tài sản để đổi lấy một số tiền, bởi việc giao một số tiền để đổi
lấy tài sản, không có yếu tố đặc trưng ấy, hợp đồng sẽ mang một tên gọi khác chứ
không phải hợp đồng mua bán. Yếu tố đặc trưng quan trọng này cho thấy: mặc dù
tài sản chưa hình thành nhưng hợp đồng mua bán nhà ở hình thành trong tương lai
thuộc phân loại hợp đồng mua bán.
Điều khác biệt cơ bản với các loại Hợp đồng mua bán khác ở chỗ vật/tài sản
đem trao đổi chưa hình thành tại thời điểm kết ước trong hợp đồng. Điều khác biệt
thứ hai là việc tài sản chưa hình thành này gắn bó hữu cơ, mật thiết với một tài sản
đặc biệt: nhà ở. Cụ thể: đối tượng của dạng hợp đồng này là nhà ở gắn liền trên đất
sẽ hình thành trong tương lai thông qua việc xây dựng, tạo lập trước hoặc sau khi
hợp đồng mua bán nhà ở hình thành trong tương lai được ký kết.
Đối tượng của hợp đồng mua bán nhà ở hình thành trong tương lai chính là
nhà ở sẽ chuyển nhượng được các bên thỏa thuận trong hợp đồng. Tài sản chuyển
nhượng là điều khoản quan trọng, chính yếu trong hợp đồng mua bán nhà ở hình
thành trong tương lai. Chính vì vậy, điều khoản này cần được thiết kế chi tiết, thỏa
thuận rõ trong quá trình thương thảo hợp đồng, tránh phát sinh rủi ro pháp lý về sau.
Nhà ở hình thành trong tương lai chỉ có thể trở thành đối tượng của hợp đồng
mua bán nhà ở khi thoả mãn điều kiện: Có giấy tờ về quyền sử dụng đất, hồ sơ dự
án, thiết kế bản vẽ thi công đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt, Giấy phép xây
dựng đối với trường hợp phải có giấy phép xây dựng, giấy tờ về nghiệm thu việc
hoàn thành xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật tương ứng theo tiến độ dự án; trường
34
hợp là nhà trung cư, tòa nhà hỗn hợp có mục đích để hình thành trong tương lai thì
phải có biên bản nghiệm thu đã hoàn thành xong phần móng của tòa nhà đó.
Việc xác định tài sản chuyển nhượng không chỉ đơn thuần được xác định trên
giấy, như đã nói ở trên, tài sản chuyển nhượng nói riêng cũng như Hợp đồng nói
chung, cần được các bên làm rõ với nhau thông qua tổng thể các hứa hẹn, trao đổi,
thỏa thuận, thống nhất giữa hai bên trong quá trình từ khi đề xuất giao ước, thương
thảo, đàm phán hợp đồng cho đến khi hợp đồng được hai bên ký kết, công chứng
theo luật định. Các hứa hẹn, đề xuất, chấp thuận, thống nhất này thường được thể
hiện bằng biên bản thỏa thuận giữa các bên, tài liệu nội bộ trình các cấp có thẩm
quyền phê duyệt việc mua – bán. Các tài liệu này vô cùng quan trọng trong việc xác
định tài sản sẽ hình thành trong tương lai (Bên Mua mua cái gì và Bên Bán bán cái
gì) cũng như là chứng cứ quan trọng trong trường hợp phát sinh tranh chấp giữa các
bên. Đối với một hợp đồng mua bán nhà, công trình xây dựng nói chung phải đảm
bảo các nội dung cơ bản được quy định tại Điều 18 Luật Kinh doanh bất động sản
2014.13 Đây là những điều khoản bắt buộc phải có trong hợp đồng như thông tin bên
bán và bên mua, thông tin về đối tượng mua bán, giá mua bán, thanh toán và bàn
giao nhà, bảo hành, giải quyết tranh chấp… Đối với mua bán nhà ở hình thành trong
tương lai, các điều khoản cơ bản còn phải đảm một số điều khoản cơ bản:
Thứ nhất, điều khoản về thông tin của nhà ở: Do nhà ở hình thành trong tương
lai tại thời điểm ký kết chưa hình thành hoặc đang hình thành các bên chỉ tìm hiểu
thông qua hồ sơ pháp lý hoặc mô hình cho nên yêu cầu đầu tiên là những thông tin
về nhà ở mà chủ đầu tư cung cấp phải rõ ràng và chi tiết tránh nhầm lẫn và hạn chế
tranh chấp xảy ra.Việc quy định cụ thể thông tin của đối tượng mua bán cũng nhằm
thực hiện nguyên tắc của Luật Kinh doanh bất động sản 2014 đó là “hoạt động kinh
doanh bất động sản phải công khai, minh bạch”. Trong đó thông tin thời điểm hoàn
13 Điều 18 Luật kinh doanh bất động sản năm 2014: “Nội dung hợp đồng mua bán, cho thuê, cho thuê nhà, công trình xây dựng phải có các nội dung chính sau: 1. Tên, địa chỉ của các bên; 2. Các thông tin về bất động sản; 3. Giá mua ban, cho thuê, cho thuê mua; 4. Phương thức và thời hạn thanh toán; 5. Thời hạn giao, nhận bất động sản và hồ sơ kèm theo; 6. Bảo hành; 7. Quyền và nghĩa vụ của các bên; 8. Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng; 9. Phạt vi phạm hợp đồng; 10. Các trường hợp chấm dứt, hủy bỏ hợp đồng và các biện pháp xử lý; 11. Giải quyết tranh chấp; 12. Thời điểm có hiệu lực hợp đồng”
thành nhà ở và thông tin về diện tích căn hộ là khá quan trọng đối với người mua và
35
thường xảy ra tranh chấp trên thực tế.
Thứ hai, điều khoản về giá mua bán: Liên quan đến quy định về giá mua bán,
hiện nay pháp luật bắt buộc các bên phải thỏa thuận về giá mua bán tại thời điểm ký
kết hợp đồng và khách hàng được hưởng giá mua nhà ở tại thời điểm ký hợp đồng
trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác. Như vậy các bên phải có hành vi thỏa
thuận về điều khoản giá mua bán ngay tại thời điểm ký hợp đồng, mức giá tính theo
thời điểm nào là do các bên thỏa thuận tuy nhiên nếu khách hàng chọn mức giá theo
thời điểm ký hợp đồng thì bên bán phải tuân theo ý chí của bên mua vì đây là quyền
mà pháp luật dành cho người mua.
Quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng
Hợp đồng mua bán nhà ở hình thành trong tương lai là một loại hợp đồng song
vụ, quyền của bên này là nghĩa vụ tương ứng của bên kia và ngược lại. Tương tự
như quan hệ mua bán thông thường bên bán có quyền và nghĩa vụ chính là nhận tiền
và giao tài sản còn bên mua có nghĩa vụ trả tiền và được nhận tài sản. Ngoài ra các
bên cũng có các quyền và nghĩa vụ cơ bản được quy đinh tại Luật Kinh doanh bất
động sản 2014 áp dụng đối với các chủ thể mua bán nhà, công trình xây dựng nói
chung. Xuất phát từ đặc trưng của quan hệ mua bán nhà ở hình thành trong tương
lai pháp luật hiện hành còn quy định một số quyền và nghĩa vụ khác của các bên
trong hợp đồng như nghĩa vụ sử dụng đúng mục đích tiền ứng trước của chủ đầu tư,
quyền được chuyển nhượng hợp đồng mua bán của người mua…Một số quyền và
nghĩa vụ có vai trò quan trọng đối với các bên trong hợp đồng mua bán nhà ở hình
thành trong tương lai đó là:
- Đối với bên bán:
+ Thứ nhất, nghĩa vụ cung cấp thông tin. Bên bán có nghĩa vụ cung cấp cho
bên mua thông tin cần thiết về tài sản mua bán và hướng dẫn cách sử dụng tài sản
đó. Những thông tin này được công khai thông qua sàn giao dịch bất động sản và
trên các phương tiện thông tin đại chúng nhằm tạo điều kiện cho người mua có thể
nắm bắt thông tin về đối tượng, đảm bảo tính công khai minh bạch trong hoạt động
kinh doanh bất động sản. Thông tin mà bên bán đưa ra phải đầy đủ có nghĩa là bên
36
bán nhà ở hình thành trong tương lai có thể cung cấp những thông tin khác nhau tuy
nhiên phải đảm bảo những nội dung tại khoản 2 Điều 6 Luật kinh doanh bất động
sản 2014 như loại bất động sản; vị trí bất động sản; thông tin về quy hoạch có liên
quan đến bất động sản; quy mô, diện tích, tình trạng pháp lý của bất động sản, giá
bán bất động sản… Như vậy khi giao kết hợp đồng mua bán nhà ở hình thành trong
tương lai nguyên tắc trung thực thiện chí là nguyên tắc quan trọng nhất để hai bên đi
đến thỏa thuận theo như nguyên tắc bên bán phải cung cấp toàn bộ thông tin ngay từ
ban đầu cho bên mua đối với nhà ở hình thành trong tương lai thì cần phải có những
quy định cụ thể về việc xử lý các biến động, đảm bảo lợi ích cho khách hàng và chủ
đầu tư bởi thị trường bất động sản luôn luôn biến động với những biến đổi trong giá
vật liệu, nhân công chính sách của nhà nước… do đó nếu áp dụng những điều khoản
vi phạm hợp đồng thì khá bất lợi cho chủ đầu tư mà vấn đề cũng không được giải
quyết một cách tốt nhất.
Hợp đồng dịch vụ cũng là một loại hợp đồng thương mại điển hình, trong đó
pháp luật phần nào cũng có nhứng quy định về nghĩa vụ cung cấp thông tin tiền hợp
đồng đối với hai bên khi tham gia giao kết hợp đồng. Thương mại vốn dĩ đi từ gốc
dân sự của lĩnh vực tư (hay còn được coi là dân sự theo nghĩa rộng), khi các hoạt
động kinh tế “có một khối lượng nhất định về sản xuất và trao đổi, khi quan hệ quốc
tế trở nên sôi động và khi có một sự tự do vừa đủ cho các thương gia”, tức là hàng
hóa, dịch vụ trở thành đối tượng được trao đổi trên thị trường thì thương mại ra đời.
Trong lĩnh vực dịch vụ, các chủ thể thiết lập quan hệ với nhau trên cơ sở hợp đồng.
Đối với dịch vụ thương mại, hợp đồng sẽ chịu sự điều chỉnh bởi các nguyên tắc
chung về hợp đồng được quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2015 (sau đây gọi tắt
là Bộ luật) và các quy định riêng nằm trong Luật Thương mại. Đối với dịch vụ
không mang tính thương mại (hay còn gọi dịch vụ dân sự) sẽ chịu sự điều chỉnh bởi
chế định hợp đồng dịch vụ - một hợp đồng dân sự thông dụng được ghi nhận trong
Bộ luật. Bản chất hợp đồng dịch vụ là sự kết hợp giữa bản chất của hợp đồng dân sự
với bản chất của dịch vụ - đối tượng của hợp đồng. Hợp đồng dịch vụ được hình
thành trên cơ sở thỏa thuận giữa bên cung ứng dịch vụ với bên thuê dịch vụ nhằm
làm phát sinh ràng buộc pháp lý như bên cung ứng dịch vụ phải thực hiện một công
37
việc mang tính dịch vụ xác định cho bên thuê dịch vụ hoặc người thứ ba (trong
trường hợp hợp đồng dịch vụ vì lợi ích của người thứ ba), bên thuê dịch vụ có nghĩa
vụ tiếp nhận kết quả công việc, trả tiền dịch vụ… Như vậy, hợp đồng dịch vụ có thể
được xem xét dưới nhiều giác độ: Là một căn cứ phát sinh quan hệ trái quyền; căn
cứ phát sinh nghĩa vụ dân sự; một chế định trong Bộ luật; hoặc là một bằng chứng
ghi nhận phạm vi quyền, nghĩa vụ của các bên chủ thể. Hợp đồng dịch vụ hiện nay
được Bộ luật định nghĩa tại Điều 513: “Hợp đồng dịch vụ là sự thỏa thuận giữa các
bên, theo đó bên cung ứng dịch vụ thực hiện công việc cho bên thuê dịch vụ, còn
bên thuê dịch vụ phải trả tiền dịch vụ cho bên cung ứng dịch vụ”. Như vậy, khái
niệm hợp đồng dịch vụ hiện nay được xem xét dưới góc độ là căn cứ phát sinh quan
hệ trái quyền, căn cứ hình thành quan hệ nghĩa vụ với đặc trưng cơ bản về đối tượng
là công việc phải thực hiện, mang tính song vụ và có tính chất đền bù.
1.3.3. Nội dung nghĩa vụ cung cấp thông tin giai đoạn tiền hợp đồng
thương mại
Nội dung cơ bản của nghĩa vụ cung cấp thông tin tiền hợp đồng thương mại là
tập hợp các nguyên tắc quy định về nghĩa vụ của các bên khi giao kết hợp đồng, để
hợp đồng được ký kết đem lại lợi ích cho cả hai bên.
Có thể thấy, vấn đề trách nhiệm cung cấp thông tin của người tham gia hợp
đồng thương mại được đặt ra trên nguyên tắc trung thực tuyệt đối (một trong những
nguyên tắc cơ bản). Để mọi hoạt động kinh doanh trên thương trường được thực
hiện một cách có hiệu quả, các tổ chức, cá nhân (những chủ thể thực hiện hoạt động
sản xuất kinh doanh và những chủ thể sử dụng những hàng hóa, dịch vụ có được từ
từ hoạt động sản xuất kinh doanh) đều phải thiết lập mối quan hệ trên cơ sở tin cậy
lẫn nhau. Trong thực tế, pháp luật về hợp đồng của tât cả các quốc gia trên thế giới
đều diễn đạt tinh thần này, có nghĩa là bất kỳ hành vi gian lận hay âm mưu lừa đảo
đều bị coi là vi phạm pháp luật.
- Nguyên tắc trung thực và ngay thẳng chi phối rất nhiều các quy định điều
chỉnh quan hệ hợp đồng nói chung và quan hệ hợp đồng thương mại nói riêng, đặc
biệt là giai đoạn tiền hợp đồng. Đây là nguyên tắc mang tính quán triệt áp dụng cho
38
mọi quan hệ diễn ra trong lĩnh vực kinh tế và dân sự. Tuy nhiên, tùy thuộc vào đặc
trưng của các quan hệ xã hội thuộc đối tượng điều chỉnh của các ngành luật khác
nhau mà pháp luật trong lĩnh vực đó cũng có những quy định mang tính đặc thù.
Chẳng hạn như trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm nói chung, doanh nghiệp bảo
hiểm không bán sản phẩm hữu hình mà bán sản phẩm vô hình, sản phẩm có thể
hình thành hoặc không hình thành trong tương lai. Tại thời điểm bán bảo hiểm, “sản
phẩm” bảo hiểm là chưa có. Vì vậy, để đảm bảo thực hiện hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp bảo hiểm, pháp luật kinh doanh bảo hiểm phải tuân thủ nguyên tắc
trung thực, tuyệt đối và phải có những quy định phù hợp với đặc thù của hoạt động
kinh doanh này. Để tuân thủ nguyên tắc trung thực tuyệt đối, người mua bảo hiểm
phải có trách nhiệm khai báo cho doanh nghiệp bảo hiểm biết về mọi yếu tố liên
quan đến đối tượng bảo hiểm. Do đó, cung cấp thông tin là một trong những nghĩa
vụ của người tham gia bảo hiểm. Tính chính xác của những thông tin đưa ra là một
trong những yếu tố ảnh hưởng tới tính hiệu lực của hợp đồng. Nếu trong hợp đồng
mua bán thông thường, nguyên tắc thông báo trước (về hàng hóa đươc đem ra bán)
luôn luôn được áp dụng đối với bên bán, và hai bên mua, bán đều biết được (bằng
mắt thường) về đối tượng của quan hệ mua bán, thì trong hợp đồng bảo hiểm cả bên
mua và bên bán đều không thấy được bằng mắt thường sản phẩm mà mình mua, bán
tại thời điểm giao kết hợp đồng. Đặc biệt, trong quan hệ mua bán này, chỉ có một
bên (bên yêu cầu bảo hiểm – bên mua bảo hiểm) biết rõ các đặc điểm có thể liên
quan đến rủi ro đối với tài sản mà mình yêu cầu bảo hiểm, còn bên kia (người bảo
hiểm – doanh nghiệp bảo hiểm) thường không biết được những điều đó. Doanh
nghiệp bảo hiểm gần như phụ thuộc hoàn toàn vào những thông tin do người mua
bảo hiểm cung cấp để xét đoán mức độ rủi ro và quyết định thái độ của mình trong
việc có chấp nhận bảo hiểm hay không. Do hoạt động kinh donh bảo hiểm có đặc
điểm các chủ thể thực hiện hoạt động kinh doanh bảo hiểm phải là các chủ thể có
trình độ chuyên môn, nghiệp vụ nhất định trong lĩnh vực bảo hiểm nên sự am hiểu
của họ trong lĩnh vực này tốt hơn bên mua bảo hiểm. Vì vậy, họ cũng phải có nghĩa
vụ cung cấp những thông tin cần thiết liên quan đến dịch vụ bảo hiểm mà họ cung
ứng. Để quán triệt đặc trưng này của bảo hiểm pháp luật bảo hiểm Việt Nam đã cụ
39
thể hóa nguyên tắc này tại Điều 19 Luật kinh doanh bảo hiểm.
- Nguyên tắc tự do hợp đồng có nguồn gốc từ thuyết tự do ý chí trong giao kết
hợp đồng. Đây “chắc chắn là một nguyên tắc cơ bản của pháp luật hợp đồng” và đã
được ghi nhận trong các văn bản pháp lý quốc tế. Trong pháp luật của các quốc gia,
tự do hợp đồng cũng chính là một trong những nguyên tắc quan trọng. Trong giao
kết hợp đồng thương mại, tự do, bình đẳng, tự nguyện giao kết hợp đồng là nguyên
tắc cơ bản và quan trọng. Theo đó, khi thiết lập hợp đồng thương mại thì các chủ
thể đều tự do về mặt ý chí, không có chủ thể nào có quyền áp đặt ý chí để bắt buộc
hay ngăn cản chủ thể khác giao kết hợp đồng.
Hiện nay, pháp luật hợp đồng ở Việt Nam (Điều 395 BLDS) 14 đã thừa nhận và
khẳng định nguyên tắc tự do ý chí và nguyên tắc bình đẳng như là hai nguyên tắc cơ
bản và không thể xâm phạm trong quá trình hình thành hợp đồng. Yêu cầu của hai
nguyên tắc này về cơ bản tương tự với các nước trên thế giới. Tuy nhiên, đối với
nghĩa vụ cung cấp thông tin trong giai đoạn tiền hợp đồng thương mại thì nguyên
tắc thiện chí, trung thực lại là nguyên tắc quan trọng nhất, xuyên suốt trong toàn bộ
giai đoạn đầu của quá trình giao kết hợp đồng.
Nguyên tắc trung thực, thiện chí là nền tảng của mọi giao dịch dân sự, cụ thể
hơn là trong giai đoạn đầu của giao kết hợp đồng thương mại. Bởi lẽ một giao dịch
thương mại dù đơn giản hay phức tạp, mức độ dù lớn hay nhỏ thì khi thực hiện các
quyền và thi hành các nghĩa vụ, sự trung thực, thiện chí luôn được đặt lên vị trí
hàng đầu. Trung thực, thiện chí là thực hiện hành vi với ý định tốt một cách ngay
thẳng, chính trực, nên cũng có tài liệu ghi nhận nguyên tắc này dưới tên là “nguyên
tắc thẳng thắn và ngay tình”. Nguyên tắc này được quy định nhằm bảo đảm trong
việc giao kết hợp đồng không ai bị cưỡng ép hoặc bị những cản trở trái với ý chí
của mình; đồng thời thể hiện bản chất của quan hệ pháp luật dân sự. Quy luật giá trị
đòi hỏi các bên chủ thể khi tham gia các quan hệ trao đổi phải bình đẳng với nhau;
14 Điều 395 BLDS 2015: “Sửa đổi đề nghị do bên được đề nghị đề xuất: Khi bên được đề nghị đã chấp nhận giao kết hợp đồng, nhưng có nêu điều kiện hoặc sửa đổi đề nghị về việc chấp nhận toàn bộ nội dung của đề nghị ”
không ai được viện lý do khác biệt về hoàn cảnh kinh tế, thành phần xã hội, dân tộc,
40
giới tính hay tôn giáo… để tạo ra sự bất bình đẳng trong quan hệ dân sự. Hơn nữa, ý
chí tự nguyện của các bên chủ thể tham gia hợp đồng chỉ được bảo đảm khi các bên
bình đẳng với nhau trên mọi phương diện. Chính vì vậy, pháp luật không thừa nhận
những hợp đồng được giao kết thiếu sự bình đẳng và ý chí tự nguyện của một trong
các bên chủ thể. Tuy nhiên, trên thực tế thì việc đánh giá một hợp đồng có được
giao kết bảo đảm ý chí tự nguyện của các bên hay chưa, trong một số trường hợp lại
là một công việc hoàn toàn không đơn giản và khá phức tạp bởi nhiều nguyên do
chủ quan và khách quan khác nhau.
Như chúng ta đã biết, ý chí tự nguyện là sự thống nhất giữa ý chí chủ quan bên
trong và sự bày tỏ ý chí ra bên ngoài của chủ thể. Chính vì vậy, sự thống nhất ý chí
của chủ thể giao kết hợp đồng với sự bày tỏ ý chí đó trong nội dung hợp đồng mà
chủ thể này đã giao kết chính là cơ sở quan trọng để xác định một hợp đồng đã đảm
bảo nguyên tắc tự nguyện hay chưa. Hay nói cách khác, việc giao kết hợp đồng chỉ
được coi là tự nguyện khi hình thức của hợp đồng phản ánh một cách khách quan,
trung thực mong muốn, nguyện vọng của các bên chủ thể tham gia hợp đồng.
Do đó, theo quy định của pháp luật thì tất cả những hợp đồng được giao kết do
bị nhầm lẫn, lừa dối hay bị đe doạ đều không đáp ứng được nguyên tắc tự nguyện
khi giao kết và do đó bị vô hiệu.
Tiểu kết Chương 1: Trong giao kết hợp đồng thương mại, nghĩa vụ cung cấp
thông tin giữ một vị trí vô cùng quan trọng. Chính nhờ vào các thông tin được cung
cấp mà các bên có thể đánh giá, dự đoán được các rủi ro có thể xảy ra, giúp các bên
hạn chế tối đa nhất thiệt hại xảy ra đối với mình, đồng thời nó bảo vệ sự công bằng
và lợi ích chính đáng của các bên tham gia hợp đồng.
41
CHƯƠNG 2. NGHĨA VỤ CUNG CẤP THÔNG TIN GIAI ĐOẠN TIỀN HỢP
ĐỒNG TRONG PHÁP LUẬT MỘT SỐ NƯỚC VÀ VĂN BẢN QUỐC TẾ
Nghiên cứu về nghĩa vụ cung cấp thông tin giai đoạn tiền hợp đồng, ta thấy
rằng xuyên suốt toàn bộ giai đoạn đó là nghĩa vụ trung thực và thiện chí của hai bên
khi giao kết hợp đồng. Nhiều hệ thống pháp luật cho rằng thiện chí và trung thực áp
dụng cho toàn bộ pháp luật về các nghĩa vụ, đặc biệt là trong pháp luật về hợp đồng.
Ngoài ra, việc áp dụng thiện chí và trung thực đã thực sự tạo nên tiếng vang trong
sự phát triển của pháp luật châu Âu, trên phạm vi quốc tế và vượt ngoài phạm vi
quốc gia hiện tại. Do vậy, khi đánh giá cách nhìn nhận về thiện chí và trung thực
trong cộng đồng châu Âu và trên phạm vi thế giới, cũng như thông qua pháp luật so
sánh, sẽ giúp tác giải hiểu rõ hơn về nghĩa vụ cung cấp thông tin tiền hợp đồng
thương mại trong pháp luật của các nước, để từ đó có những đề xuất và định hướng
cho pháp luật Việt Nam.
2.1. Nghĩa vụ cung cấp thông tin giai đoạn tiền hợp đồng trong pháp luật
một số nước
2.1.1. Pháp luật của nước Anh
Pháp luật Anh là hệ thống pháp luật được áp dụng cho toàn xứ Anh và xứ
Wales được xây dựng cơ sở của Thông luật.15 Hệ thống pháp luật Anh được sử dụng
trong hầu hết các quốc gia thuộc Khối Thịnh Vượng Chung và Hoa Kỳ, ngoại trừ
tiểu bang Louisiana (sử dụng hệ thống Dân luật). Nó được truyền bá sang các nước
Khối thịnh vượng chung trong khi Đế quốc Anh bành trướng vào thế kỷ 19 và nó
hình thành nên cơ sở của khoa học pháp lý của hầu hết các quốc gia chịu ảnh hưởng.
Pháp luật Anh cũng tác động và ảnh hưởng mạnh mẽ ở nước Mỹ trước khi
cuộc Cách mạng Mỹ năm 1776, nó là một phần của luật pháp của Hoa Kỳ thông
qua quy chế tiếp nhận, ngoại trừ ở Louisiana và cung cấp cơ sở nền tảng cho truyền
thống pháp lý và chính sách ở Mỹ mặc dù nó không có thẩm quyền thay thế pháp
15 Nước Anh theo quan điểm là không tồn tại nghĩa vụ cung cấp thông tin trong giai đoạn tiền hợp đồng. Theo Beatson “nguyên tắc chung của hệ thống pháp luật Common law là một người khi ký kết hợp đồng với người khác thì không chịu nghĩa vụ công bố thông tin đối với người khác.
luật.
42
Khác với Civil law, Pháp luật Anh không phân chia thành Luật công (Công
pháp) và luật tư (Tư pháp) vì sự phân biệt này ít có ý nghĩa trong thời kì phong kiến
ở Anh, giai đoạn đầu của sự phát triển Thông luật vì các quyền công và tư được xác
định thông qua quyền lợi về tài sản, nhưng không có sự phân biệt giữa sở hữu tài
sản và các sơ quan công theo kiểu Civil law. Mặt khác, theo quan điểm của người
Anh thì vua là tối cao, tất cả đều phải phục tùng nhà vua không phân biệt công hay
tư. Hệ thống tòa án trở thành nơi xem xét các hoạt động lập pháp, hành pháp, kể cả
trong tranh chấp tư. Do vậy, pháp luật nước Anh không căn cứ vào văn bản luật,
không có sự phân biệt hoàn toàn về quyền lực theo kiểu Civil law. Theo hệ thống
Common Law, các bên trong giai đoạn đàm phán hợp đồng không có nghĩa vụ tuân
theo nguyên tắc trung thực, thiện chí đối với bên còn lại. Do đó, họ được quyền tự
do hoàn toàn trong việc rút khỏi thương lượng mà không phải chịu trách nhiệm đối
với chi phí của các bên còn lại. Một ngoại lệ của sự tự do đàm phán này là thuyết
promissory estoppel. Lý thuyết này bảo vệ bên đàm phán có niềm tin hợp lý về các
bên sẽ đạt đến thỏa thuận cuối cùng. Vì vậy, Common Law không ghi nhận nghĩa
vụ thiện chí, trung thực trong đàm phán hợp đồng nói chung và hợp đồng thương
mại nói riêng, do đó không tồn tại nghĩa vụ thông tin tiền hợp đồng trong hệ thống
Common Law. Luật Anh Quốc: Không thừa nhận sự tồn tại của nguyên tắc thiện chí
“good faith” trong quan hệ hợp đồng.16 Mỗi bên đều có quyền theo đuổi các mục
tiêu của riêng mình với điều kiện không đưa ra những lời tuyên bố sai. Trong khi đó,
theo pháp luật của Anh, để áp dụng quy định về nghĩa vụ cung cấp thông tin trong
giai đoạn tiền hợp đồng, một hệ thống đồ sộ các án lệ liên quan, với chức năng như
là giá đỡ, là giải thích cho các thuật ngữ được quy định trừu tượng trong văn bản
luật.
Việc xem xét khái niệm thiện chí và trung thực (hiểu theo nghĩa khách quan)
thường là một trong những yếu tố bất đồng giữa các nước civil law và các nước
common law. Tuy nhiên, không nên cho rằng các nước common law và đặc biệt là
pháp luật Anh, vẫn còn khép kín đối với sự phát triển của Châu Âu hiện đại về ý
tưởng của một “công lý hợp đồng”. Cũng tương tự, để thay thế nghĩa vụ thiện chí và 16 Nguyễn Minh Tuấn, Tập bài giảng Lịch sử Nhà nước và pháp luật Thế giới, NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội, năm 2007
43
trung thực nói riêng, án lệ và học thuyết đã sử dụng các cơ chế khác để đạt được
thành công trong việc thúc đẩy một pháp luật hợp đồng đầy đủ về tính trung thực.
Tính mềm dẻo của các học thuyết về thiện chí và trung thực có thể làm suy yếu các
mục đích về tính rõ ràng và khả năng có thể dự kiến. Khái niệm thiện chí và trung
thực có thể được chấp nhận, nhưng theo một cách cẩn trọng và không phải như một
nguyên tắc chủ đạo, xuyên suốt trong lĩnh vực hợp đồng. Ngoài ra, việc đưa vào
trong pháp luật Anh nguyên tắc thiện chí và trung thực được coi như một thách thức
đối với các nguyên tắc tự do ý chí hợp đồng, nó hạn chế các bên giao kết hợp đồng
trong việc theo đuổi lợi ích cá nhân. Đây có thể là lí do tại sao pháp luật Anh không
thừa nhận khái niệm thiện chí trung thực để thay thế các cơ chế trước đó. Chúng ta
có thể tìm thấy trong án lệ17 mà trong một bản án Director General of Fair Trading
v. First national Bank plc đã nêu rằng: “thiện chí và trung thực không phải là một
khái niệm giả tạo hoặc kỹ thuật, nhưng gợi nên một thực tế chân thực và cởi mở về
thương mại, một mặt nó có nghĩa là các điều khoản phải được thể hiện một cách đầy
đủ rõ ràng không có bất cứ trở ngại nào, với một tầm quan trọng thích đáng đối với
những trường hợp có thể chứng minh là bất lợi cho người sử dụng, mặt khác, nó yêu
cầu các nhà cung cấp, cho dù không cố ý hoặc vô thức, không được tận dụng lợi thế
từ các yếu tố cho thấy vị trí yếu hơn của người tiêu dùng trong việc đàm phán.18
2.1.2. Pháp luật của nước Pháp
Pháp là một nước có pháp luật thuộc hệ thống Civil law. Đây là hệ thống pháp
luật lớn nhất thế giới, được xây dựng trên nền tảng di sản của Luật La Mã (ius
civile), phát triển ở các nước Pháp, Đức và một số nước lục địa Châu Âu19. Trong
đó pháp luật của Pháp, Đức là quan trọng nhất và có ảnh hưởng lớn tới pháp luật
của các nước khác trong hệ thống pháp luật này. Hệ thống pháp luật của các nước
luật hiện nay
tại địa chỉ:
thế giới,
trên
17 Lê Hồng Hải, Tìm hiểu về một số pháp http://www2.hvcsnd.edu.vn/vn/Home/PrintArticle.aspx?print=true&zone=84&ArticleID=4245 18 Lê Nguyễn Gia Thiện, Những nguyên tắc cơ bản của các Bộ luật dân sự trên thế giới và kinh nghiệm cho Việt Nam, tại địa chỉ https://wikiluat.com/2017/11/03/nhung-nguyen-tac-co-ban-cua-cac-bo-luat-dan-su-tren- the-gioi-va-kinh-nghiem-cho-viet-nam/, truy cập ngày 03/10/2018 19 Nguyễn Anh Tuấn, Hai hệ thống pháp luật Commont Law và Civil Law năm 2016, tại địa chỉ http://viennccspt.hcma1.vn/nghien-cuu-hoc-thuat/hai-he-thong-phap-luat-common-law-va-civil-law-tac-gia:- nguyen-minh-tuan-a393.html
này nhìn chung đều chịu ảnh hưởng của Luật La Mã, luật vật chất được coi trọng
44
hơn luật thủ tục, luật tư là lĩnh vực pháp luật được chú trọng hơn cả. Họ pháp luật
này coi trọng văn bản quy phạm pháp luật và đã thoát ly khỏi tôn giáo, luân lý, đề
cao tự do cá nhân. Ngày nay, phạm vi ảnh hưởng của hệ thống Civil Law tương đối
rộng bao gồm các nước Châu Âu lục địa (Pháp, Đức, Italia…), Quebec (Canada),
Louisiana (Mỹ), Nhật Bản và một số nước Châu Mỹ Latinh (Brazin, Vênêduêla…).
Trong tư pháp quốc tế Pháp, bản án Lizardi đã quy định rằng một người Pháp
giao kết hợp đồng tại nước Pháp với một người nước ngoài mà người này “không
bắt buộc phải biết pháp luật của các quốc gia khác nhau, đặc biệt là khi các quy định
này liên quan đến thực hiện bởi người nước ngoài trong phạm vi năng lực dân sự
của họ; do đó hợp đồng có đầy đủ hiệu lực khi mà người Pháp đã giao kết không có
khinh suất, thận trọng và với tinh thần thiện chí”. Do vậy, niềm tin nhận thức và lỗi
có thể dung thứ được coi như “một nguồn đem lại giá trị cho một số tình huống
pháp lý mà không tuân theo cách áp dụng thông thường các quy phạm xung đột
pháp luật”20. Thiện chí và trung thực do đó giữ một vai trò đặc biệt trong việc đơn
giản hóa các mối quan hệ pháp luật: nếu không có giải pháp này, “các thương nhân
sẽ sẽ phải tìm hiểu quốc tịch của tất cả các đối tác giao kết hợp đồng với họ và đối
với những bên giao kết được xác nhận là nước ngoài, phải tìm hiểu về nội dung
pháp luật quốc gia đó”.
Điều 11 của Công ước Rôm ngày 19/6/1980 về xác định luật áp dụng đối với
nghĩa vụ hợp đồng “áp dụng giải pháp này bằng cách song phương hóa nó”21 Điều
khoản này quy định: “Trong một hợp đồng ký kết giữa các chủ thể của cùng một
quốc gia, một cá nhân có năng lực pháp luật theo pháp luật của nước đó chỉ được
viện dẫn việc không có năng lực pháp luật theo luật pháp khác khi, vào thời điểm
giao kết hợp đồng, bên giao kết đã biết việc không có năng lực pháp luật, hoặc
không biết điều này do sơ suất từ phía họ”. Sự hợp thức hóa một hành động, bằng
việc loại trừ áp dụng luật pháp quốc gia hủy bỏ hành động vì lý do thiếu năng lực
20 Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử, Phạm vi áp dụng của Công ước CISG cho Hợp đồng mua bán hàng hóa Quốc tế năm 2018, tại dịa chỉ: http: //tapchitoaan.vn/bai-viet/phap-luat/pham-vi-ap-dung-cua-cong-uoc-cisg- cho-hop-dong-mua-ban-hang-hoa-quoc-te, truy cập ngày 08/11/2018. 12. P.MAYER, V.HEUZE, Droit international prive’ – Tư pháp quốc tế, sđd, n0 525.
pháp luật, mang lại lợi ích không chỉ đối với bên giao kết người Pháp, mà còn đối
45
với bên giao kết người nước ngoài, bất kể hợp đồng được ký kết tại quốc gia nào,
miễn là hai bên giao kết ở đó. Dường như bên giao kết hợp đồng, nếu muốn thể hiện
việc không có năng lực pháp luật của mình có bổn phận chứng minh rằng tại thời
điểm giao kết hợp đồng, bên kia đã biết việc không co năng lực pháp luật của bên
này, hoặc không biết điều này do sơ suất từ phía họ. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng sự
viện dẫn đến “thiện chí và trung thực” trong giả định này hoàn toàn xuất phát từ học
thuyết: nó không xuất hiện trong các quy định của Công ước. Đáng lưu ý, theo pháp
luật của Pháp, đối với một số hợp đồng chuyên biệt, bên có nghĩa vụ cung cấp
thông tin còn phải tìm kiếm thông tin mà người thực hiện công việc kinh doanh
thông thường của mình biết và phải biết để cung cấp cho đối tác của mình. Như vậy,
nghĩa vụ cung cấp thông tin không chỉ giới hạn ở cung cấp thông tin đã có, mà còn
phải tìm kiếm thông tin cần thiết khác để cung cấp cho đối tác.
Tuy nhiên, ở các nước theo hệ thống pháp luật Civil law, có hai luồng quan
điểm khác nhau về cơ sở pháp lý cho việc quy trách nhiệm do vi phạm nghĩa vụ
cung cấp thông tin. Thứ nhất, theo pháp luật của Pháp, trách nhiệm do vi phạm
nghĩa vụ cung cấp thông tin được xác định theo trách nhiệm bồi thường thiệt hại
ngoài hợp đồng. Bởi vì, giữa hai bên chưa hình thành hợp đồng, nên việc xác định
trách nhiệm trong giai đoạn tiền hợp đồng phải dựa trên các nguyên tắc của trách
nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Thứ hai, theo pháp luật của Đức, dựa
trên nguyên tắc culpa in contrahendo, trách nhiệm do vi phạm nghĩa vụ cung cấp
thông tin là trách nhiệm theo hợp đồng. Theo nguyên tắc này, một bên không có
quyền tạo ra niềm tin về một hợp đồng sẽ được hình thành, nếu như bản thân họ
không mong muốn như vậy22. Bên có lỗi trong việc đàm phán phải chịu trách nhiệm
bồi thường do việc hợp đồng bị tuyên bố vô hiệu hoặc làm cho hợp đồng không
được thực hiện. Các bên tham gia đàm phán có nghĩa vụ đàm phán với tinh thần
trung thực và thiện chí.
Đi cụ thể vào nghĩa vụ cung cấp thông tin tiền hợp đồng thương mại tại một số
22 F. Kessler and E. Fine, “Culpa in contrahendo, bargain in good faith and freedom of contract: a comparative study”, (1964) 77 Harv.L.Rev. 401
hợp đồng cụ thể, ta thấy rằng: theo quy định của pháp luật Pháp về vấn đề nhà ở
46
hình thành trong tương lai, nếu hợp đồng mua bán quy định rõ kích thước, diện tích
bất động sản đem bán thì bên bán phải giao bất động sản đúng với số liệu nêu trong
hợp đồng, nếu bên mua yêu cầu. Nếu bên bán không thể giao đúng kích thước và
diện tích quy định hoặc nếu bên mua không yêu cầu giao đúng số liệu này và chấp
nhận hiện trạng bất động sản được giao thì bên bán phải giảm giá tương ứng với tỷ
lệ thiếu hụt. Nếu kích thước và diện tích bất động sản lớn hơn số liệu đã thỏa thuận
trong hợp đồng thì bên mua có thể lựa chọn giữa việc trả thêm tiền hoặc rút khỏi
hợp đồng nếu phần phụ trội bằng hoặc lớn hơn 1/20 số liệu đã thỏa thuận trong hợp
đồng. Bên mua rút khỏi hợp đồng thì bên bán phải hoàn lại cho bên mua tiền bán
vật nếu đã nhận và mọi chi phí liên quan đến hợp đồng. Như vậy, BLDS Pháp cho
phép bên bán được hưởng ngoại lệ về trách nhiệm nếu kích thước và diện tích bất
động sản tăng lên nhưng phần phụ trội nhỏ hơn 1/20 số liệu đã thỏa thuận. Thiết
nghĩ, trong các lĩnh vực kinh doanh hàm chứa nhiều rủi ro như kinh doanh bất động
sản, pháp luật cũng nên xem xét vấn đề trách nhiệm của bên bán khi có sự thay đổi
do hoàn cảnh một cách hợp lý để có cơ chế đảm bảo thực hiện hợp đồng công bằng,
hiệu quả. Bởi khi mở rộng quy định cũng là một cách để các bên khi giao kết hợp
đồng vẫn đảm bảo được các quyền và nghĩa vụ của mình, đảm bảo việc thực hiện
hợp đồng được dựa trên nguyên tắc thiện chí, trung thực.
2.2. Nghĩa vụ cung cấp thông tin giai đoạn tiền hợp đồng trong một số văn
bản quốc tế.
2.2.1. Bộ nguyên tắc pháp luật Châu Âu
Hơn cả việc áp dụng cho các điều ước nói chung, khái niệm thiện chí và trung
thực còn giữ một vai trò điều hòa rõ nét khi các điều ước quốc tế đã đề cập ấn định
chính xác về mục tiêu, ít nhiều rõ ràng, thể hiện sự thiện chí trong các mối quan hệ
giữa các cá nhân23. Những dự thảo học thuyết pháp điển hóa quốc tế hoặc của châu
Âu, đều sử dụng nguyên tắc thiện chí và trung thực cho mục đích này. Như M.Ole
23 Đỗ Văn Đại, Cần khôi phục lại phạm vi điều chỉnh của nguyên tắc “thiệc chí, trung thực” năm 2015, Báo điện tử Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, tại địa chỉ: http://baochinhphu.vn/Lay-y-kien-nhan-dan- ve-du-thao-Bo-luat-dan-su-sua-doi/Can-khoi-phuc-lai-pham-vi-dieu-chinh-cua-nguyen-tac-thien-chi-trung- thuc/218047.vgp, truy cập ngày 25/10/2018
LANDO đã viết: “Dưới ảnh hưởng của nhiều hệ thống luật, nhất là luật của Hà Lan,
47
Đức, Bộ nguyên tắc UNIDROIT đã dành một vị trí rất quan trọng cho nguyên tắc
thiện chí và trung thực. Trong mỗi văn bản này, nó được xếp vào vị trí của nguyên
tắc chung, bao trùm lên tất cả các giai đoạn của hợp đồng”. Như vậy, đối với bất kỳ
giai đoạn nào của hợp đồng, kể cả giai đoạn tiền hợp đồng, thì các hệ thống pháp
luật này đều quy định rõ về nghĩa vụ cung cấp thông tin của các bên khi tham gia
giao kết hợp đồng. Bộ luật châu Âu về hợp đồng, biên soạn bởi Viện Hàn lâm tư
pháp châu Âu Pavie trung thành với quan niệm thiện chí và trung thực, đồng thời
như vậy ta cũng có thể hiểu rằng nghĩa vụ cung cấp thông tin không chỉ có giá trị
xuyên suốt trong quá trình thực hiện hợp đồng mà nó còn giá trị đối với giai đoạn
tiền hợp đồng. Điều 10 của Hiệp ước Liên minh châu Âu (điều 5 cũ của Hiệp ước
Cộng đồng chung châu Âu) quy định các nước thành viên đồng thời một nghĩa vụ
phủ định – không áp dụng mọi biện pháp có thể gây tổn hại đến việc thực hiện
những mục tiêu của Hiệp ước. Chúng ta xem xét đến việc từ chối nghĩa vụ thông tin
của Ủy ban châu Âu quy định đối với các nước thành viên ở Điều 10: Tòa án cho
rằng sự từ chối hoặc thiếu thận trọng trong việc cung cấp những thông tin mà Ủy
ban yêu cầu, hoặc bỏ qua việc chuyển giao những chỉ dẫn cần thiết cho việc Ủy ban
kiểm tra sự tuân thủ những nghĩa vụ của các nước thành viên, là vi phạm nghĩa vụ
hợp tác được quy định tại Điều 5 của Hiệp ước. Mặc dù thuật ngữ thiện chí và trung
thực không được sử dụng một cách rõ ràng, mặc dù nguyên tắc này chỉ áp dụng cho
mối quan hệ giữa các nước thành viên và các cơ quan xét xử của Cộng đồng chung,
điều khoản này cũng đã tạo cho thiện chí và trung thực một cơ sở pháp lý đáng kể
trong cách nhìn nhận của Cộng đồng chung châu Âu. Nó cho phép thừa nhận ý
nghĩa gán cho nghĩa vụ chung này: đòi hỏi sự hợp tác trung thực giữa các thành
viên và sự trung thành với những cam kết đã ký. Mặt khác, về mặt học thuyết, đôi
khi người ta cũng nói đến việc áp dụng ở phạm vi châu Âu khái niệm của Đức: “sự
trung thành ở mức độ liên bang”. Do đó, thiện chí và trung thực “là một minh họa
cho mô hình liên bang và chính xác hơn là của nước Đức, nơi mà nguyên tắc này
không chỉ được hiểu như một nghĩa vụ đơn phương của những người xứ Lande đối
với chính quyền trung ương mà như một sự trung thành có nguồn gốc từ chính
quyền trung ương cũng như từ các bang đối với nguyên tắc của chính liên bang”. Sự
48
bắt buộc hợp tác áp dụng không chỉ đối với các quốc gia mà còn đối với các mối
quan hệ giữa các thể chế trong Liên minh châu Âu. Như vậy, ở các nước châu Âu,
nghĩa vụ cung cấp thông tin đã được quy định rõ ràng hơn, đặc biệt nó được quy
định cụ thể ngay trong giai đoạn đàm phán hợp đồng, nghĩa là ở giai đoạn tiền hợp
đồng. Tại điều 17 của Chỉ thị 93/13/CEE ngày 05 tháng 4 năm 1993 của Cộng đồng
kinh tế châu Âu đã quy định rõ rằng: “cho rằng việc đánh giá tính chất lạm dụng
của những điều khoản, theo những tiêu chí chung đã được quy định, nhất là trong
các hoạt động nghề nghiệp mang tính cộng đồng cung cấp các dịch vụ tập thể, có
tính đến tính liên đới giữa những người tiêu dùng, cần thiết phải được bổ sung bởi
một phương tiện đánh giá tổng quát những lợi ích khác nhau kéo theo, điều này tạo
nên đòi hỏi về thiện chí và trung thực; trong đánh giá sự thiện chí và trung thực cần
đặc biệt chú ý đến vị trí của các bên trong đàm phán, đến câu hỏi liệu người tiêu
dùng có bị thúc đẩy để chấp nhận một điều khoản bởi một lý do nào đó hay không,
hoặc liệu hàng hóa và dịch vụ đã bán hoặc cung cấp có phù hợp với yêu cầu cụ thể
của người tiêu dùng hay không, hoặc liệu hàng hóa hoặc dịch vụ đã bán hoặc cung
cấp có phù hợp với yêu cầu cụ thể của người tiêu dùng hay không, yêu cầu về thiện
chí và trung thực có thể được thỏa mãn bởi một người chuyên nghiệp trong việc giải
quyết theo một cách trung thực và công bằng với bên kia, trong đó phải tính đến
những lợi ích hợp pháp của họ”. Như vậy, trong pháp luật châu Âu, ngay từ giai
đoạn đàm phán, để tránh thiệt hại tối thiểu nhất cho hai bên khi giao kết hợp đồng,
pháp luật đã đưa ra những quy định cụ thể, dựa trên nguyên tắc thiện chí, trung thực
và công bằng.
Trong các quy định chung về hợp đồng dịch vụ của Nguyên tắc luật Châu Âu,
tại Điều 1:103[4] ghi nhận cụ thể về nghĩa vụ cảnh báo tiền hợp đồng của bên cung
ứng dịch vụ và bên thuê dịch vụ. Nghĩa vụ cảnh báo tiền hợp đồng bao gồm các nội
dung:
Thứ nhất, quy định về nghĩa vụ cảnh báo tiền hợp đồng của bên cung ứng
dịch vụ, trường hợp miễn không áp dụng nghĩa vụ này đối với bên cung ứng dịch vụ
cũng như hậu quả pháp lý khi bên cung ứng dịch vụ vi phạm nghĩa vụ này của mình.
Bên cung ứng dịch vụ có nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ cảnh báo tiền hợp đồng trong
49
các trường hợp cụ thể nhất định. Tại khoản (1) của Điều luật ghi nhận rằng bên
cung ứng dịch vụ có nghĩa vụ cảnh báo khi bản thân chủ thể này biết hoặc phải biết
những rủi ro khi cung ứng dịch vụ trong ba trường hợp cụ thể: Không đạt được kết
quả như đã thỏa thuận hoặc dự liệu đối với khách hàng; có thể gây thiệt hại khác
cho lợi ích của khách hàng; hoặc có thể làm tăng chi phí hoặc tăng thời gian so với
dự kiến hợp lý ban đầu đã thỏa thuận với khách hàng. Xuất phát từ bản chất của
dịch vụ là các công việc được thực hiện chuyên nghiệp, mang tính chất ngành nghề
kinh doanh, ngành nghề hoạt động hoặc nghề nghiệp của cá nhân, nên khi trở thành
người cung ứng dịch vụ, chủ thể này được kỳ vọng và tin tưởng là người thực hiện
công việc chuyên nghiệp và có chuyên môn. Chính vì thế nên bên cung ứng dịch vụ
được coi là có kinh nghiệm trong việc dự đoán, nắm bắt và xử lý các rủi ro có thể
xảy ra trong quá trình cung ứng dịch vụ.
Tuy nhiên, nhà làm luật của Châu Âu cũng đã dự liệu trường hợp không áp
dụng nghĩa vụ cảnh báo tiền hợp đồng cho bên cung ứng dịch vụ. Theo ghi nhận tại
khoản (2) của Điều luật này, nghĩa vụ cảnh báo tiền hợp đồng sẽ không được áp
dụng khi khách hàng: Hoàn toàn biết các rủi ro có thể xảy ra trong các trường hợp
áp dụng nghĩa vụ cảnh báo tiền hợp đồng; và có cơ sở để biết về những rủi ro có thể
gặp phải khi dịch vụ được thực hiện. Như vậy, khi bản thân khách hàng bằng nhận
thức của mình hoặc có cơ sở để khẳng định rằng họ nhận thức được các rủi ro có thể
xảy ra trong quá trình thực hiện dịch vụ thì bên cung ứng dịch vụ sẽ không phải
thực hiện nghĩa vụ cảnh báo của mình. Điều đó cho thấy, nghĩa vụ cảnh báo tiền
hợp đồng của Bên cung ứng dịch vụ nhằm bảo vệ khách hàng trong trường hợp mặc
định hiểu rằng, khách hàng là người không có đủ kinh nghiệm và chuyên môn để
nhận biết trước các rủi ro khi so sánh với bên cung ứng dịch vụ - người thực hiện
dịch vụ chuyên nghiệp.
Khi bên cung ứng dịch vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa
vụ của mình dẫn đến những rủi ro xảy ra thì bên thuê dịch vụ có quyền: Không chấp
nhận thay đổi dịch vụ theo như nguyên tắc được quy định tại Điều 1:111. Tuy nhiên,
bản thân trường hợp này cũng có ngoại lệ. Khi bên cung ứng dịch vụ chứng minh
được khách hàng đã được cảnh báo đầy đủ nhưng vẫn chấp nhận tham gia vào hợp
50
đồng; và khách hàng có quyền tự mình khắc phục thiệt hại như tại trường hợp đã
được ghi nhận trong Điều 4:117 (2) và (3) của hợp đồng dịch vụ trong Nguyên tắc
luật Châu Âu. Như vậy, các quy định chung của hợp đồng dịch vụ trong Nguyên tắc
luật Châu Âu đã tạo nên thế chủ động đối phó của bên thuê dịch vụ đối với các tình
huống có thể xảy ra và nguyên nhân sâu xa là sẽ giảm thiểu được thiệt hại cho bản
thân mình.
Thứ hai, hợp đồng dịch vụ trong Nguyên tắc luật Châu Âu quy định nghĩa vụ
cảnh báo tiền hợp đồng của bên thuê dịch vụ và những hậu quả pháp lý đặt ra khi
chủ thể này có hành vi phạm nghĩa vụ của mình. Khi bên thuê dịch vụ biết và phải
biết được các sự kiện bất thường mà sự kiện này là nguyên nhân tăng chi phí dịch
vụ hoặc kéo dài thời gian thực hiện dịch vụ thì phải có nghĩa vụ cảnh báo cho bên
cung ứng dịch vụ. Trường hợp này thường áp dụng khi điều kiện khách quan có
thay đổi bất thường mà chỉ có bên thuê dịch vụ mới biết. Nội dung này được ghi
nhận tại khoản (4) của Điều luật 1:103.
Bên thuê dịch vụ khi có hành vi vi phạm nghĩa vụ cảnh báo tiền hợp đồng thì
bên thuê dịch vụ cũng phải gánh chịu những trách nhiệm pháp lý bất lợi cho mình.
Tại khoản (5) của Điều 1:103, nhà làm luật quy định: (a) Bên cung ứng dịch vụ
không phải gánh chịu thiệt hại xảy ra khi dịch vụ không thể thực hiện được do sự
kiện bất thường mà Bên cung ứng dịch vụ không được cảnh báo đầy đủ; (b) Bên
cung ứng dịch vụ có quyền điều chỉnh thời gian thực hiện dịch vụ trên cơ sở yêu
cầu thực tế. Điều đó có thể hiểu, khi thiệt hại xảy ra do lỗi của bên thuê dịch vụ
không thông báo sự kiện bất thường ảnh hưởng trực tiếp thực hiện dịch vụ thì chính
chủ thể này sẽ phải gánh chịu thiệt hại, không được bên cung ứng dịch vụ bồi
thường hoặc chịu sự điều chỉnh thời gian từ phía chủ thể này.
Thứ ba, hợp đồng dịch vụ trong Nguyên tắc luật Châu Âu đưa ra căn cứ để
xác định nghĩa vụ tiền hợp đồng của Bên cung ứng dịch vụ và Bên thuê dịch vụ.
Theo đó, tại khoản (6) Điều 1:103, bên cung ứng dịch vụ khi có đầy đủ ba yêu cầu:
Biết về những rủi ro rõ ràng trong trường hợp những rủi ro đấy được xác định trên
cơ sở kinh nghiệm cung ứng dịch vụ trong cùng điều kiện, hoàn cảnh của mình hoặc
những nhà cung ứng cùng loại; thông tin được thu thập từ yêu cầu kết quả của
51
khách hàng; và điều kiện cụ thể để thực hiện dịch vụ thì bên cung ứng phải thực
hiện nghĩa vụ cảnh báo. Việc quy định minh thị về điều kiện xác định phải có nghĩa
vụ cảnh báo của bên cung ứng dịch vụ là một bước tiến lớn bởi theo quan niệm
truyền thống thông thường, các yếu tố như kinh nghiệm, chuyên nghiệp, chuyên
môn, trách nhiệm của nhà cung ứng dịch vụ… đều là các vấn đề khó định lượng,
khó xác định. Những điều kiện này sẽ cơ sở pháp lý trong việc xác định nghĩa vụ
cảnh báo tiền hợp đồng của bên cung ứng dịch vụ.
Hợp đồng dịch vụ trong Nguyên tắc luật Châu Âu làm rõ điều kiện “có cơ sở
để nhận thức” của bên thuê khách hàng khi chủ thể này có nghĩa vụ cảnh báo tới
bên cung ứng dịch vụ. Người thuê dịch vụ không được coi là biết hoặc buộc phải
biết về rủi ro chỉ đơn thuần do người đó có chuyên môn, trình độ hoặc được tư vấn
bởi người có chuyên môn, trình độ trong lĩnh vực có liên quan, trừ trường hợp
người đó là đại diện cho khách hàng trong trường hợp sử dụng dịch vụ tương tự. Từ
quy định này cho thấy, yêu cầu đối với bên thuê dịch vụ trong nghĩa vụ cảnh báo đặt
ra thấp hơn so với Bên cung ứng dịch vụ. Điều này xuất phát từ quan niệm của các
nhà làm luật về tính chất dịch vụ cũng như trách nhiệm của bên thực hiện công việc
chuyên nghiệp, có chuyên môn và giàu kinh nghiệm là bên cung ứng dịch vụ.
Nguyên tắc luật hợp đồng Châu Âu nói chung và Hợp đồng dịch vụ trong
Nguyên tắc luật Châu Âu nói riêng được đánh giá là bộ nguyên tắc về hợp đồng tiên
tiến theo kịp hơi thở hiện đại của các giao dịch kinh tế hiện nay. Những quy định
nằm trong bộ nguyên tắc này có giá trị tham khảo lớn đối với pháp luật của nhiều
quốc gia, khu vực trên thế giới, trong đó có Việt Nam.
2.2.2. Công ước Viên
Trong nguồn luật quốc tế áp dụng đối với hợp đồng, chủ yếu là trong công ước
Viên ngày 11 tháng 4 năm 1980 về mua bán hàng hóa quốc tế xuất hiện khái niệm
“thiện chí và trung thực”. Khái niệm này được sử dụng rất nhiều trong Công ước.
Tuy vậy, vai trò của nó có tính hai chiều: Công ước không bao gồm điều khoản quy
định nghĩa vụ thiện chí và trung thực trong việc thực hiện hợp đồng. Công ước Viên
không nhìn nhận một cách rõ ràng khái niệm thiện chí và trung thực như là một
52
nguyên tắc cơ bản của pháp luật hợp đồng. Nếu điều 7 trong Công ước quy định
rằng trong việc giải thích Công ước, thiện chí và trung thực phải được ưu tiên, điều
khoản này không bắt buộc các bên một nghĩa vụ thiện chí thực sự. Dường như điều
khoản này là kết quả của một thỏa thuận giữa đại diện các nước civil law, khuyến
khích việc thừa nhận nghĩa vụ thiện chí và trung thực, và đại diện các nước
common law, đối lập một cách mạnh mẽ với giải pháp này. Như vậy có thể hiểu, đối
với một số người, nếu không có một quy định rõ ràng cho các bên về nghĩa vụ thiện
chí và trung thực, hiểu một cách đơn giản rằng nghĩa vụ này không tồn tại. Ngược
lại, với một số khác, nguyên tắc này không cần phải thể hiện trong văn bản để được
chấp nhận: nguyên tắc chung về thiện chí và trung thực sẽ được hiểu một cách
ngầm định. Giữa hai quan điểm này, một xu hướng chung cho rằng một nghĩa vụ
như vậy được ngầm ẩn trong một số điều khoản cụ thể của Công ước, đến mức có
thể coi đây là một trong những nguyên tắc cơ bản mà dựa trên đó Công ước được
thành lập24.
Cách giải thích sau cùng rất được quan tâm. Thực tế khái niệm thiện chí và
trung thực xuất hiện một cách không chính thức trong rất nhiều điều khoản của
Công ước. Ví dụ ở Điều 29.2: “một hợp đồng bằng văn bản chứa đựng một điều
khoản quy định rằng mọi sự sửa đổi hoặc chấm dứt hợp đồng phải được các bên
làm bằng văn bản thì không thể bị sửa đổi hay chấm dứt theo thỏa thuận giữa các
bên dưới một hình thức khác”. Tuy nhiên hành vi của các bên có thể không cho
phép họ được viện dẫn điều khoản ấy trong chừng mực nếu bên kia căn cứ vào hành
vi này. Nó cũng được đề cập trong Điều 35.3: “Người bán không chịu trách nhiệm
về việc giao hàng không đúng hợp đồng như đã nêu trong các điểm từ a đến d của
khoản trên nếu như người mua đã biết hoặc không thể không biết về việc hàng
không phù hợp vào lúc ký kết hợp đồng”.
Điều 77 liên quan đến nghĩa vụ hạn chế thiệt hại, có thể xuất hiện như sự giải
thích một nguyên tắc chung về thiện chí và trung thực giữa các bên giao kết hợp
24 Nguyễn Minh Tuấn, Tập bài giảng Lịch sử Nhà nước và pháp luật thế giới, NXB chính trị Quốc gia, Hà Nội, năm 2007.
đồng: “Bên nào viện dẫn sự vi phạm hợp đồng của bên kia thì phải áp dụng những
53
biện pháp hợp lý căn cứ vào các tình huống cụ thể để hạn chế tổn thất, kể cả khoản
lợi bị bỏ lỡ do sự vi phạm hợp đồng gây ra. Nếu họ không làm theo điều đó, bên vi
phạm hợp đồng có thể yêu cầu giảm bớt một khoản tiền bồi thường thiệt hại bằng
với mức tổn thất đáng lẽ đã có thể hạn chế được”. Cuối cùng, điều 80 của Công ước
quy định rằng: “một bên không được viện dẫn một sự không thực hiện nghĩa vụ đó
là do những hành vi hay sơ suất của chính họ”. Điều khoản sau cùng này đòi hỏi sự
thiện chí và trung thực từ phía bên có nghĩa vụ: bên này không được viện dẫn lỗi
nhẹ hơn của bên có quyền để giải phóng khỏi việc thực hiện nghĩa vụ của mình.
Thiện chí cũng được xem như một định hướng giải thích toàn bộ Công ước:
việc giải thích phải “đảm bảo sự tôn trọng nguyên tắc thiện chí trong thương mại
quốc tế”. Điều khoản này dẫn đến điều không phải tranh cãi “một sự linh hoạt nhất
định trong các quy định của Công ước”. Khái niệm thiện chí và trung thực xuất hiện
như một thuật ngữ thuộc phạm trù đạo đức, sử dụng cho mục đích điều tiết đời sống
kinh doanh. Nếu sự tự do của các bên trong giao kết hợp đồng là chủ đạo trong nền
kinh tế thị trường, thì sự tự do của nhóm người này phải hài hòa với sự tự do của
nhóm người khác: thiện chí và trung thực hiện diện như là một trong những khái
niệm điều tiết góp phần vào sự cùng tồn tại này.
2.3. Nhận xét rút ra từ nghiên cứu quy định pháp luật của một số nước và
văn bản quốc tế về nghĩa vụ cung cấp thông tin tiền hợp đồng thương mại
Việc phân tích các hệ thống pháp luật khác nhau chỉ ra rằng sự phân biệt giữa
thiện chí, trung thực khách quan và thiện chí, trung thực chủ quan cuối cùng là vấn
đề xuyên suốt, thừa nhận sự cộng hưởng ít hay nhiều quan trọng trong mọi hệ thống
luật. Tuy nhiên, thiện chí và trung thực trong ý nghĩa chủ quan dường như không
bao giờ là nguồn gốc phát sinh những khó khăn. Chỉ có thiện chí và trung thực
trong ý nghĩa khách quan đã và đang làm dấy lên nghi ngờ và e ngại, đặc biệt là một
số quốc gia thuộc hệ thống common law. Như vậy đối với giai đoạn tiền hợp đồng
thương mại ở các nước cũng có những bất đồng, đặc biệt là ở nguyên tắc thiện chí
và trung thực. Tuy nhiên, dù có quy định như thế nào đi chăng nữa thì giai đoạn tiền
hợp đồng vẫn là giai đoạn có giá trị pháp lý đặc biệt quan trọng. Do vậy, luật pháp
của các nước trên thế giới và tại hệ thống pháp luật điển hình vẫn luôn đề cao
54
nguyên tắc thiện chí, trung thực để bảo đảm quyền và lợi ích của các bên khi tham
gia giao kết hợp đồng. So sánh với các quy định của pháp luật Việt Nam, pháp luật
của các nước trên thế giới có quy định rõ ràng, cụ thể hơn về loại thông tin cần phải
cung cấp; và ngoài việc áp dụng chế tài bồi thường thiệt hại thực tế phát sinh do
hành vi vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin, bên bị vi phạm còn có quyền tuyên bố
hủy hợp đồng hoặc tuyên bố hợp đồng vô hiệu khi bên có nghĩa vụ cố tình không
cung cấp thông tin hoặc cố tình cung cấp thông tin không chính xác, chứ không chỉ
giới hạn trong trường hợp hành vi vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin cấu thành vi
phạm cơ bản hợp đồng. Các quy định này giúp làm rõ nội dung của nguyên tắc
trung thực và thiện chí trong giai đoạn tiền hợp đồng, bảo vệ quyền, lợi ích chính
đáng của các bên tham gia đàm phán hợp đồng và đảm bảo tính ổn định, chắc chắn
của hợp đồng giữa các bên.
Chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ các nước thuộc hệ thống pháp luật Civil law, các nhà
lập pháp của Việt Nam đã luôn coi trọng nguyên tắc trung thực, thiện chí trong việc
điều chỉnh các mối quan hệ dân sự. Quy định về trung thực, thiện chí trong pháp
luật Việt Nam nằm trong Điều 3 của BLDS 2015 quy định về các nguyên tắc cơ
bản: “Cá nhân, pháp nhân phải xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân
sự của mình một cách thiện chí, trung thực”. Ngoài ra, BLDS 2015 cũng đã loại bỏ
quy định về các nguyên tắc giao kết hợp đồng dân sự, trong đó có nguyên tắc trung
thực, thiện chí. Tuy nhiên, việc này không thực sự ảnh hưởng tới vai trò của nguyên
tắc trung thực, thiện chí như một nguyên tắc cơ bản. BLDS 2015 quy định trách
nhiệm trung thực, thiện chí trong giai đoạn xác lập quyền, nghĩa vụ dân sự, thể hiện
rõ ràng yêu cầu trách nhiệm trung thực, thiện chí đối với các bên trong giai đoạn
tiền hợp đồng.
Sự quan trọng của trách nhiệm trung thực, thiện chí trong giai đoạn tiền hợp
đồng được thể hiện trực tiếp qua quy định tại Điều 387 về nghĩa vụ thông tin trong
giao kết. Nghĩa vụ cung cấp thông tin “ảnh hưởng đến việc giao kết” chính là biểu
hiện của trung thực; nghĩa vụ bảo mật thông tin, “không sử dụng thông tin bí mật
cho mục đích riêng hoặc mục đích trái pháp luật” cũng chính là biểu hiện của thiện
chí. Việc quy định về nghĩa vụ bồi thường của bên vi phạm tại khoản 3 là một quy
55
định thỏa đáng, quy định này sẽ đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các bên
trong giai đoạn tiền hợp đồng25.
Tiểu kết chương 2: Như vậy, khi nghiên cứu nghĩa vụ cung cấp thông tin tiền
hợp đồng thương mại ở một số quốc gia có hệ thống pháp luật điển hình và một số
hệ thống pháp luật trên thế giới, sẽ thấy được vai trò rất quan trọng của thiện chí và
trung thực trong giai đoạn tiền hợp đồng nói chung và tiền hợp đồng thương mại nói
riêng. Đồng thời, qua đó thấy được sự phát triển của pháp luật Việt Nam trong quá
trình hình thành nghĩa vụ cung cấp thông tin tiền hợp đồng, bảo đảm cho quyền và
25 Vũ Thị Ngọc Huyền & Trần Thị Minh Phương – Đại học Kinh tế - Luật, ĐHQG TP. HCM.
lợi ích của các bên trước khi tham gia ký kết hợp đồng thương mại.
56
CHƯƠNG 3. NGHĨA VỤ CUNG CẤP THÔNG TIN GIAI ĐOẠN TIỀN HỢP
ĐỒNG THƯƠNG MẠI TRONG PHÁP LUẬT VIỆT NAM
Ở Việt Nam, nghĩa vụ cung cấp thông tin giai đoạn tiền hợp đồng thương mại
được biết đến muộn hơn so với các nước trên thế giới. Lần đầu tiên nó được ghi
nhận trong Bộ luật hàng hải năm 1990 và tiếp đến là Bộ luật dân sự 1995 và Luật
kinh doanh bảo hiểm 2000. Cho đến nay các quy định này cũng đã nảy sinh những
bất cập và thực tiễn áp dụng có rất nhiều vướng mắc. Vì vậy, nghiên cứu vấn đề này
để tìm ra giải pháp toàn diện nhằm giải quyết gốc rễ các bất cập hiện tại liên quan
đến nghĩa vụ cung cấp thông tin là cần thiết.
3.1. Quy định và thực tiễn áp dụng quy định về nghĩa vụ cung cấp thông tin
giai đoạn tiền hợp đồng
3.1.1. Những quy định chung
Ở các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam, trong giai đoạn tiền hợp
đồng, các bên không bị ràng buộc bởi bất kỳ một thỏa thuận nào liên quan đến quy
trình việc ký kết hợp đồng. Quá trình đàm phán hợp đồng luôn được cho rằng là
một quy trình thông thường, chủ yếu dựa trên tình hình thực tế và các quy tắc đạo
đức được tạo ra trong hoạt động kinh doanh. Do đó, pháp luật ít khi can thiệp vào
quy trình này và thường không áp đặt bất kỳ nghĩa vụ bắt buộc nào đối với các bên,
cũng như cách thức mà các quy trình này được tiến hành. Do đó, thông tin là cơ sở
để đảm bảo nguyên tắc tự do, tự nguyện trong giao kết hợp đồng thương mại. Trước
khi tiến hành giao kết hợp đồng thương mại, các bên phải có đầy đủ các thông tin
của nhau, đồng thời cung cấp cho nhau những thông tin cần thiết, qua đó giúp các
bên có được những quyết định chính xác khi giao kết hợp đồng, hạn chế mức tối đa
nhất những thiệt hại xảy ra.
Trong giao kết hợp đồng thương mại, nghĩa vụ cung cấp thông tin giữ một vị
trí vô cùng quan trọng. Chính nhờ vào các thông tin được cung cấp mà các bên có
thể đánh giá, dự đoán được các rủi ro có thể xảy ra, giúp các bên hạn chế tối đa nhất
thiệt hại đối với mình., đồng thời nó bảo vệ sự công bằng và lợi ích chính đáng của
các bên tham gia hợp đồng.
57
Nghĩa vụ cung cấp thông tin trong hợp đồng thương mại không được quy định
riêng biệt trong một chương nhất định, mà nó được quy định rải rác ở một số điều
luật cụ thể, liên quan đến một hoạt động thương mại cụ thể. Trong Bộ luật dân sự,
thì các nội dung thông tin cần cung cấp cũng chỉ được quy định chung. Như tại
Điều 323 BLDS quy định về Quyền của bên nhận thế chấp “Yêu cầu bên thế chấp
phải cung cấp thông tin về thực trạng tài sản thế chấp”26, song song với nó là quy
định về Nghĩa vụ của bên thế chấp được quy định tại Điều 320 “Cung cấp thông tin
về thực trạng tài sản thế chấp cho bên nhận thế chấp”27.
Quy định như vậy cũng chỉ là mang tính chung chung, yêu cầu các bên thế
chấp phải cung cấp thông tin cho bên nhận thế chấp, mà không quy định rõ các
thông tin đó là thông tin gì, việc cung cấp thông tin không đầy đủ, chính xác thì sẽ
gây ra hậu quả ra sao và các bên sẽ chịu hậu quả đó như thế nào? Việc bồi thường
thiệt hại sẽ được xử lý như thế nào? Đây cũng là một nội dung mà cần phải làm rõ
và có những quy định cụ thể hơn. Có như vậy thì mới có sự ràng buộc chặt chẽ giữa
các bên, đồng thời với những chế tài xử phạt cũng sẽ làm cho các bên có sự thận
trọng và cân nhắc khi thực hiện nghĩa vụ cung cấp thông tin của mình.
Cụ thể hơn, tại Điều 366 BLDS quy định về nghĩa vụ cung cấp thông tin và
chuyển giao giấy tờ: “Người chuyển giao quyền yêu cầu phải cung cấp thông tin
cần thiết, chuyển giao giấy tờ có liên quan cho người thế quyền” 28. Đây cũng là
một quy định cần có sự hiểu sâu và rõ trong quá trình thực hiện hợp đồng. Vì thực
tế, trong việc chuyển giao giấy tờ, thì người chuyển giao quyền yêu cầu phải thực
hiện việc cung cấp thông tin. Và nghĩa vụ cung cấp thông tin sẽ thuộc về người
chuyển giao giấy tờ. Tuy nhiên, thông tin cần thiết là những thông tin gì và hiểu
như thế nào cũng là một vấn đề khó khăn cho các bên khi tham gia giao kết hợp
đồng. Bởi lẽ, khi có tranh chấp xảy ra sẽ rất khó để xác nhận và chứng minh thông
tin như thế nào là cần thiết. Quy định trong BLDS chỉ là những quy định chung
chung, không quy định rõ ràng, cụ thể, mà có lẽ khi đi vào từng luật chuyên ngành
26 Khoản 2 Điều 323 BLDS 2015 27 Khoản 5 Điều 320 BLDS 2015 28 Khoản 1 Điều 366 BLDS 2015
thì nghĩa vụ cung cấp thông tin mới được chi tiết, rõ ràng hơn. Việc cung cấp thông
58
tin trong giao kết hợp đồng cũng được quy định cụ thể và chi tiết hơn tại Điều 387
BLDS quy định về thông tin trong giao kết hợp đồng: “Trường hợp một bên có
thông tin ảnh hưởng đến việc chấp nhận giao kết hợp đồng của bên kia thì phải
thông báo cho bên kia biết”29. Như vậy, khi giao kết hợp đồng, nếu có thông tin ảnh
hưởng đến việc chấp nhận giao kết hợp đồng thì các bên phải thông báo cho nhau
biết, đồng thời điều luật cũng quy định rõ hơn: “Trường hợp một bên nhận được
thông tin bí mật của bên kia trong quá trình giao kết hợp đồng thì có trách nhiệm
bảo mật thông tin và không được sử dụng thông tin đó cho mục đích riêng của mình
hoặc cho mục đích trái pháp luật khác”30. Điều này cũng tránh được những rủi ro
nhất định và giúp cho hai bên có được sự thống nhất, đồng thời là cơ sở để giải
quyết các tranh chấp phát sinh.
Nghiên cứu Điều 443 BLDS về nghĩa vụ cung cấp thông tin và hướng dẫn sử
dụng cũng có quy định “Bên bán có nghĩa vụ cung cấp cho bên mua cần thiết về tài
sản mua bán và hướng dẫn cách sử dụng tài sản đó; nếu bên bán không thực hiện
nghĩa vụ này thì bên mua có quyền yêu cầu bên bán phải thực hiện trong một thời
hạn hợp lý; nếu bên bán vẫn không thực hiện làm cho bên mua không đạt được mục
đích giao kết hợp đồng thì bên mua có quyền hủy bỏ hợp đồng và yêu cầu bồi
thường thiệt hại”. Như vậy ta thấy rằng Điều 443 BLDS đã có quy định cụ thể và
chi tiết hơn. Việc thực hiện nghĩa vụ cung cấp thông tin phải được yêu cầu ngay
trong giai đoạn đầu trước khi hai bên giao kết hợp đồng mua bán. Đồng thời kèm
theo đó là chế tài phạt vi phạm nếu bên bán không thực hiện nghĩa vụ của mình.
Đây cũng là một quy định có tính gợi mở giải quyết được vấn đề triệt để hơn. Vì
thực tế bên cạnh quyền hủy bỏ hợp đồng thì bên bán vẫn phải bồi thường thiệt hại
cho bên mua nếu bên mua có yêu cầu. Quy định này ràng buộc và có phần bảo vệ
quyền lợi của bên mua, hạn chế được những tranh chấp và có hướng giải quyết
được triệt để khi có tranh chấp xảy ra.
3.1.2. Quy định trong một số lĩnh vực thương mại cụ thể
29 Khoản 1 Điều 387 BLDS 2015 30 Khoản 2 Điều 387 BLDS 2015
a. Trong lĩnh vực mua bán hàng hóa
59
Mua bán hàng hoá là hoạt động thương mại, theo đó bên bán có nghĩa vụ
giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận thanh toán; bên
mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hoá theo
thỏa thuận. Đối với hoạt động mua bán hàng hóa, Luật được áp dụng là Luật thương
mại 2005. Nếu Luật thương mại 2005 không điều chỉnh thì áp dụng quy định của
Bộ luật dân sự 2015. Đồng thời liên quan đến nghĩa vụ cung cấp thông tin trong lĩnh
vực mua bán hàng hóa ta cần phải quan tâm đến Luật chất lượng sản phẩm hàng hóa.
Khi hai bên giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa, ngoài thông tin bên bán phải cung
cấp cho bên mua về tài sản mua bán và hướng dẫn cách sử dụng31, Luật chất lượng
sản phẩm, hàng hóa còn quy định rõ về nghĩa vụ của người sản xuất: “Thể hiện các
thông tin về chất lượng trên nhãn hàng hóa, bao bì, trong tài liệu kèm theo hàng hóa
theo quy định của pháp luật về nhãn hàng hóa; thông tin trung thực về chất lượng
sản phẩm, hàng hóa; cung cấp thông tin về việc bảo hành và thực hiện việc bảo
hành sản phẩm, hàng hóa cho người mua, người tiêu dùng”32. Như vậy ta thấy rằng,
Luật chất lượng sản phẩm, hàng hóa đã bổ sung và quy định rõ hơn cho Luật
thương mại và BLDS về thông tin giai đoạn tiền hợp đồng thương mại. Ngoài nghĩa
vụ bên bán phải cung cấp thông tin cho bên mua, người sản xuất còn phải có nghĩa
vụ cung cấp các thông tin về sản phẩm trên nhãn hàng hóa bao bì. Như vậy, các
thông tin công khai của nhà sản xuất sẽ giúp cho bên mua sản phẩm tiếp nhận được
các thông tin cần thiết ngoài thông tin mà bên bán cung cấp cho mình. Tuy nhiên
thông tin trung thực được quy định trong điều luật này cũng khiến cho tác giả phải
suy nghĩ. Liệu thông tin mà người sản xuất cung cấp được đánh giá về độ trung thực
theo tiêu chí nào, căn cứ vào đâu để người mua có thể đánh giá được độ trung thực
đó. Điều 12 của Luật này cũng quy định về nghĩa vụ của người nhập khẩu, trong đó
cũng nêu rõ nghĩa vụ cung cấp thông tin của người nhập khẩu “Thông tin trung thực
về chất lượng sản phẩm, hàng hóa; cung cấp thông tin về việc bảo hành và thực hiện
việc bảo hành hàng hóa cho người bán hàng, người sử dụng” 33. Tại Điều 16 của
31 Điều 443 BLDS 2015 32 Khoản 2, 3, 6 Điều 10 Luật chất lượng sản phẩm hàng hóa 26 Khoản 3, 7 Điểu 12 Luật chất lượng sản phẩm hàng hóa
Luật cũng quy định về nghĩa vụ của người bán hàng: “Thông tin trung thực về chất
60
lượng sản phẩm, hàng hóa; cung cấp thông tin về việc bảo hành hàng hóa cho người
mua; Cung cấp tài liệu, thông tin về hàng hoá bị kiểm tra cho kiểm soát viên chất
lượng, đoàn kiểm tra, cơ quan kiểm tra chất lượng sản phẩm, hàng hoá; Kịp thời cung
cấp thông tin về nguy cơ gây mất an toàn của hàng hoá và cách phòng ngừa cho
người mua khi nhận được thông tin cảnh báo từ người sản xuất, người nhập khẩu;
Kịp thời dừng bán hàng, thông tin cho người sản xuất, người nhập khẩu và người
mua khi phát hiện hàng hoá gây mất an toàn hoặc hàng hoá không phù hợp với tiêu
chuẩn công bố áp dụng, quy chuẩn kỹ thuật tương ứng”. Từ việc phân tích các quy
định của pháp luật về hàng hóa không đảm bảo chất lượng và hàng hóa có khuyết
tật ở các mục trên. Tác giả nhận thấy, các nhà làm luật đang muốn hướng đến một ý
nghĩa chung là dù không đảm bảo chất lượng hay hàng hóa có khuyết tật thì đều có
kết quả là hàng hóa không đúng như cam kết, lợi ích hoặc những giá trị khác như
các bên đã thỏa thuận mà gây thiệt hại thì phải bồi thường. Tuy nhiên, đã là luật
pháp thì không thể quy định chung chung dẫn đến mỗi người có một cách hiểu khác
nhau, mỗi người sử dụng một khái niệm khác nhau, thể hiện sự không thống nhất
trong cách làm luật dẫn đến sự bất cập trong thực tiễn.
b. Trong lĩnh vực bảo hiểm:
ơ
Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2000 có quy định về nghĩa vụ cung cấp thông
tin: “Khi giao kết hợp đồng bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm có trách nhiệm cung
cấp đầy đủ thông tin liên quan đến hợp đồng bảo hiểm, giải thích các điều kiện, điều
khoản bảo hiểm cho bên mua bảo hiểm; bên mua bảo hiểm có trách nhiệm cung cấp
đầy đủ thông tin liên quan đến đối tượng bảo hiểm cho doanh nghiệp bảo hiểm. Các
bên chịu trách nhiệm về tính chính xác, trung thực của thông tin đó. Doanh nghiệp
bảo hiểm có trách nhiệm giữ bí mật về thông tin do bên mua bảo hiểm cung cấp”34.
Như vậy doanh nghiệp bảo hiểm có trách nhiệm cung cấp đầy đủ thông tin liên
quan đến hợp đồng bảo hiểm, giải thích các điều kiện, điều khoản bảo hiểm cho bên
mua bảo hiểm; còn bên mua bảo hiểm có trách nhiệm cung cấp đầy đủ thông tin liên
34 Điều 19, khoản 1 Luật kinh doanh bảo hiểm
quan đến đối tượng bảo hiểm cho doanh nghiệp bảo hiểm. Ở quy định này, nghĩa vụ
61
giữa các bên đã được nêu ra những chưa thực sự rõ ràng, cụ thể. Khái niệm về
thông tin “đầy đủ” không được làm rõ, người mua bảo hiểm không thể biết được họ
đã cung cấp thông tin về đối tượng bảo hiểm hay chưa, còn các công ty bảo kiểm thì
băn khoăn liệu họ đã giải thích đầy đủ cho bêm mua bảo hiểm hay chưa? Giới hạn
về phạm vi thông tin phải cung áp cũng không được làm rõ trong Luật KDBH năm
2000, cũng như trong Luật KDBH sửa đổi năm 2010; hơn nữa, ngày chính trong
quy định của các văn bản này cũng mâu thuẫn với nhau. Điều 19 Luật KDBH năm
2000 yêu cầu bên mua bảo hiểm phải cung cấp mọi thông tin liên quan đến đối
tượng bảo hiểm. Trong khi đó, khoản 2 Điều 18 Luật KDBH năm 2000 quy định
bên mua bảo hiểm phải kê khai đầy đủ, trung thực mọi chi tiết có liên quan đến hợp
đồng bảo hiểm theo yêu cầu của doanh nghiệp bảo hiểm. Người mua bảo hiểm
không biết được rằng lúc nào phải cung cấp mọi thông tin, lúc nào chỉ cần cung cấp
các thông tin mà doanh nghiệp bảo hiểm yêu cầu35. Đi sâu vào bản án cụ thể, để
thấy rõ hơn nghĩa vụ cung cấp thông tin trước khi giao kết hợp đồng, qua đó giúp
cho các bên khi tham gia hợp đồng nắm rõ quy định, quyền lợi, tránh gây thiệt hại
và rủi ro cho các bên.
Tại bản án số 61/2015/DS – PT ngày 15/01/201536 của Tòa phúc thẩm Tòa án
nhân dân thành phố Hồ Chí Minh đã cho rằng ông Trịnh Văn Côn đã khai không
trung thực đối với câu hỏi số 5 Hợp đồng bảo hiểm ngày 29/12/2011 và phía cuối
trang này có chữ ký xác nhận của ông Côn, nên có cơ sở xác định không chấp nhận
yêu cầu của nguyên đơn yêu cầu BĐ_Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ ABC
Việt Nam phải chi trả quyền lợi bảo hiểm cho hợp đồng ngày 29/12/2011 số tiền
300.000.000đ (Ba trăm triệu đồng).
Đối với yêu cầu của bị đơn BĐ_Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ ABC
Việt Nam đề nghị bác yêu cầu của nguyên đơn đòi số tiền bảo hiểm 200.000.000
35 Nguyễn Bình Minh & Hà Công Anh Bảo, Nghĩa vụ cung cấp thông tin tiền hợp đồng – PL Việt Nam và một số nước trên thế giới năm 2017, tại địa chỉ: https://thongtinphapluatdansu.edu.vn/2017/08/17/nghia-vu- truy cập cung-cap-thng-tin-trong-giai-doan-tien-hop-dong-php-luat-viet-nam-v-mot-so-nuoc-trn-the-gioi/, ngày 19/9/2018 36 Bản án dân sự phúc thẩm số 61/2015/DS – PT ngày 15/01/201536 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng bảo hiểm, xem bản án số 01 phụ lục 2.
(Hai trăm triệu) đồng phát sinh từ hợp đồng bảo hiểm ngày 28/10/2011, Hội đồng
62
xét xử nhận thấy nên không có cơ sở xác định ông Côn đã khai như trên. Từ đó
không có cơ sở xác định ông Côn đã khai không trung thực để không chi trả quyền
lợi bảo hiểm.
Như vậy, qua trường hợp bản án trên chúng ta thấy được rằng, thông tin trong
giai đoạn tiền hợp đồng rất quan trọng và có giá trị quyết định đến toàn bộ hợp
đồng. Đối với ông Côn, trong quá trình ký kết hợp đồng bảo hiểm ngày 29/12/2011
do ông đã khai không trung thực, thông tin cung cấp không chính xác, nên dẫn đến
việc yêu cầu thanh toán bảo hiểm của vợ ông là không có cơ sở và không được chấp
nhận. Còn đối với hợp đồng bảo hiểm ngày 28/10/2011, do quá trình cung cấp
thông tin cho bên bảo hiểm, không có chữ ký xác nhận của ông, nên không thể hiện
việc ông khai không trung thực, để bảo hiểm từ chối chi trả cho ông, vì vậy ông vẫn
được bên bảo hiểm thanh toán hợp đồng trên. Qua bản án trên ta thấy rằng, đối với
hợp đồng bảo hiểm, nghĩa vụ cung cấp thông tin giai đoạn tiền hợp đồng là rất quan
trọng. Nó quyết định đến việc hợp đồng có được ký kết giữa các bên hay không? Và
hậu quả pháp lý xảy ra khi hợp đồng được ký kết. Nếu ngay từ ban đầu, khi ông
Côn mua bảo hiểm, thông tin ông cung cấp trung thực về trường hợp sức khỏe của
ông, thì bên bảo hiểm sẽ không ký hai hợp đồng đối với ông. Việc ông được chấp
nhận hợp đồng ngày 28/10/2011 cũng là do một phần sơ suất của công ty bảo hiểm,
trong quá trình ký hợp đồng đã không chú ý đến chi tiết ký vào trang của từng hợp
đồng. Vì vậy, mặc dù công ty bảo hiểm cho rằng ông Côn khi ký hợp đồng cung cấp
thông tin không trung thực để không chi trả bảo hiểm, nhưng theo quy định của
pháp luật tòa án vẫn tuyên công ty bảo hiểm phải thanh toán hợp đồng bảo hiểm cho
bà Hằng (vợ ông Côn) là hợp lý.
Qua trường hợp bản án trên ta thấy rằng, vị thế kẻ mạnh của người mua bảo
hiểm là điều kiện thuận lợi dẫn các bên tới những hiểu biết không đồng đều về một
yếu tố cũng không lấy làm gì rõ ràng – yếu tố rủi ro. Rủi ro là điểm nút của quan hệ
bảo hiểm, cho nên, những hiểu biết khác nhau về rủi ro tiếp đến tự nó ngăn cản
thống nhất ý chí của các bên. Đối với hợp đống bảo hiểm, khi xuất hiện quan hệ bảo
hiểm đồng nghĩa với việc xuất hiện rủi ro. Do vậy, nếu hiểu biết về rủi ro của các
bên không được hiểu trong sự thống nhất, thì đồng nghĩa với việc không có sự
63
thống nhất ý chí của các bên. Trong khi đó, nguyên tắc tự do ý chí – nguyên tắc
pháp lý cơ bản nhất chi phối mọi loại hình quan hệ hợp đồng bao gồm cả quan hệ
bảo hiểm – lại đòi hỏi hợp đồng phải là sự thống nhất ý chí thật của các bên tham
gia. Như vậy, giữa tồn tại đặc thù của quan hệ bảo hiểm và nguyên tắc tự do ý chí
nảy sinh mâu thuẫn hoàn toàn trái ngược. Một bên mà xu thế, hệ quả hiển hiện của
nó phủ định yêu cầu của bên kia. Nhận thức về mâu thuẫn này, luật pháp của các
nước, nhằm đảm bảo sự tồn tại và vận hành thông suốt của nguyên tắc tự do ý chí,
đã đưa ra giải pháp là phải lập lại trật tự nắm giữ dòng thông tin nhằm kéo vị thế
của các bên trong quan hệ bảo hiểm tới vị trí cân bằng hơn. Đây chính là cơ sở cho
việc áp đặt, hình thành một nghĩa vụ mà theo đó bên mua bảo hiểm, trong mọi khả
năng có thể của mình, phải cung cấp cho bên bảo hiểm một cách đầy đủ và trung
thực nhất những thông tin liên quan phục vụ việc dự đoán, đánh giá rủi ro. Nghĩa vụ
này được gọi là nghĩa vụ thiện chí trong giao kết hợp đồng bảo hiểm.
Mặc dù về lý thuyết, hiện tượng mất cân bằng của dòng thông tin nghiêng về
phía người mua bảo hiểm, thế nhưng trong thực tiễn đa dạng, không loại trừ những
trường hợp thông tin nằm trong tay người bảo hiểm mà không đến được với người
mua bảo hiểm. Trong những trường hợp như vậy, theo một logic tương tự, thêm vào
đó, trước yêu cầu của nguyên tắc hai bên trong quan hệ bình đẳng về địa vị pháp lý,
nên nếu như nghĩa vụ thiện chí được áp đặt lên phía người mua bảo hiểm thì cũng
cần phải có nghĩa vụ này từ phía người bảo hiểm. Vì những lý do này, nghĩa vụ
thiện chí được hình thành không thuộc về riêng người mua bảo hiểm cho dù trong
phần lớn trường hợp, nghĩa vụ này được thực hiện bởi chính người mua bảo hiểm.
Có thể thấy rằng lý do pháp lý chủ yếu dẫn tới sự hình thành nên nguyên tắc
thiện chí – nghĩa vụ cung cấp thông tin - ở các nước chính xuất phát từ việc phải
bảo đảm sự tồn tại, vận hành của nguyên tắc tự do ý chí trước đặc thù của quan hệ
bảo hiểm. Bên cạnh đó nguyên tắc bình đẳng cũng là lý do để áp đặt nghĩa vụ lên
phía người bảo hiểm giống như đã áp đặt lên người mua bảo hiểm.
Tại bản án dân sự phúc thẩm số 162/2011/DS – PT ngày 08/3/2011 của Tòa án
64
nhân dân thành phố Hồ Chí Minh37, tòa án nhận định phía người mua bảo hiểm đã có
thủ đoạn gian dối lợi dụng quen biết tình cảm để mua bảo hiểm sau khi tai nạn đã
xảy ra và cố tình giấu xe không đưa cho bảo hiểm kiểm tra xe theo quy định. Do đó,
không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc đòi thanh toán Hợp đồng bảo
hiểm đối với nguyên đơn.
- Như vậy, qua bản án này chúng ta thấy rằng, ngay từ đầu trước khi ký
hợp đồng, nếu đã có sự gian dối thì khi xảy ra tranh chấp, hợp đồng đương
nhiên sẽ vô hiệu. Mục đích của bên gian dối cũng không thực hiện được. Việc
tranh chấp do các bên không cung cấp đầy đủ thông tin cho nhau trước khi giao
kết hợp đồng sẽ làm cho hai bên vừa thiệt hại về vật chất, lại mất thời gian để
theo đuổi vụ kiện. Nếu bên mua bảo hiểm trung thực ngay từ giai đoạn cung cấp
thông tin, thì sẽ không dẫn đến việc hành vi gian dối để trục lợi bảo hiểm của
bên mua được thực hiện. Hơn nữa, khi nếu bên bán bảo hiểm thực hiện nghiêm
túc việc kiểm tra thông tin giai đoạn tiền hợp đồng thì cũng không có hậu quả
xảy ra, dẫn đến việc tranh chấp tại tòa án.
Án lệ: Bản án số 313/2016/DS-PT ngày 16-3-2016 của Tòa án nhân dân
Thành phố Hồ Chí Minh38, tòa án nhận định chưa đủ cơ sở xác định bà H có hành vi
gian dối khi tham gia hợp đồng bảo hiểm, tại đơn yêu cầu bảo hiểm không có câu
hỏi về bệnh đau dạ dày. Như vậy, phía Công ty C cho rằng bà H bị bệnh đau dạ dày
mà không khai báo là cố tình khai báo không trung thực và vi phạm nghĩa vụ cung
cấp thông tin là không có căn cứ. Do đó, chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc
thanh toán hợp đồng bảo hiểm đối với bị đơn.
Đây là bản án lệ số 22/2018/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân
tối cao thông qua ngày 17/10/2018 và được công bố theo Quyết định số 269/QĐ –
CA ngày 06/01/2018 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao. Tình huống của án
lệ: Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ, quy tắc bảo hiểm, đơn yêu cầu bảo hiểm có yêu
37 Bản án dân sự phúc thẩm số 61/2015/DS – PT ngày 15/01/2015 của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng thanh toán bảo hiểm, xem bản án số 02 phụ lục 2. 38 Bản án dân sự phúc thẩm số 313/2016/DS-PT ngày 16-3-2016 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về vụ án tranh chấp hợp đồng bảo hiểm, xem bản án số 03, phụ lục 3.
cầu không rõ ràng về việc kê khai tình trạng bệnh lý của người được bảo hiểm.
65
Thông tin được yêu cầu kê khai không phải là căn cứ quyết định việc các bên xác
lập hợp đồng bảo hiểm nhân thọ. Như vậy, người mua bảo hiểm không vi phạm
nghĩa vụ cung cấp thông tin khi ký hợp đồng bảo hiểm, đơn yêu cầu bảo hiểm.
c. Trong lĩnh vực kinh doanh bất động sản:
Kinh doanh Bất động sản là một hoạt động đang diễn ra rất sôi động trên thị
trường. Mặc dù đòi hỏi một nguồn vốn lớn nhưng nó có sức thu hút rất mạnh mẽ
đối với các nhà đầu tư. Hoạt động này mang lại một nguồn lợi nhuận khổng lồ
nhưng cũng ẩn chứa rất nhiều rủi ro. Tranh chấp về bất động sản là một trong những
tranh chấp điển hình hiện nay trong đời sống xã hội bởi giá trị giao dịch lớn, thủ tục
pháp lý phức tạp, nguy cơ tranh chấp cao. Tranh chấp trong kinh doanh bất động
sản và giải quyết tranh chấp trong kinh doanh bất động sản đã và đang là vấn đề bức
xúc của đời sống.
Điều 6 Luật kinh doanh bất động sản quy định về nghĩa vụ Công khai thông
tin về bất động sản đưa vào kinh doanh như sau: “Doanh nghiệp kinh doanh bất
động sản có trách nhiệm công khai thông tin về bất động sản theo các hình thức sau
đây:
a) Tại trang thông tin điện tử của doanh nghiệp kinh doanh bất động sản;
b) Tại trụ sở Ban Quản lý dự án đối với các dự án đầu tư kinh doanh bất
động sản;
c) Tại sàn giao dịch bất động sản đối với trường hợp kinh doanh qua sàn giao
dịch bất động sản” 39.
Như vậy, trong Luật kinh doanh bất động sản, nghĩa vụ cung cấp thông tin
của doanh nghiệp kinh doanh bất động sản cũng được quy định rõ ràng, cụ thể hơn.
Thông tin được cung cấp phải công khai, minh bạch để đảm bảo quyền lợi cho bên
mua bất động sản khi giao kết hợp đồng. Đồng thời, Luật này cũng quy định những
hành vi bị cấm, liên quan đến cung cấp thông tin của bên kinh doanh bất động sản
39 Khoản 1 Điều 6 Luật kinh doanh bất động sản năm 2014.
như: “Không công khai hoặc công khai không đầy đủ, trung thực thông tin về bất
66
động sản”40. Tuy nhiên, quy định này cũng còn những bất cập và không được đầy
đủ. Vì khái niệm công khai không đầy đủ, trung thực vẫn còn là một khái niệm mơ
hồ, khiến người mua bất động sản gặp phải những khó khăn về lượng thông tin khi
tham gia giao kết hợp đồng. Hay như Điều 39 về nghĩa vụ của bên chuyển nhượng
quyền sử dụng đất cũng quy định: “Cung cấp thông tin đầy đủ, trung thực về quyền
sử dụng đất và chịu trách nhiệm về thông tin do mình cung cấp”41. Việc cung cấp
thông tin không đầy đủ, trung thực sẽ gây cho bên mua, bên nhận chuyển nhượng
nhiều thiệt hại khó lường trước.
d. Trong lĩnh vực vận tải (hàng hải, hàng không…)
Ta thấy rằng, nghĩa vụ cung cấp thông tin được ghi nhận lần đầu tiên trong Bộ
luật hàng hải (BLHH) năm 1990 và được áp dụng cho một loại hợp đồng chuyên
biệt là hợp đồng bảo hiểm hàng hải. Theo Điều 204 BLHH năm 1990, người được
bảo hiểm có nghĩa vụ cung cấp cho người bảo hiểm biết tất cả các thông tin mà
mình biết hoặc cần phải biết liên quan đến việc ký kết hợp đồng bảo hiểm, có thể
ảnh hưởng đến việc xác định khả năng xảy ra hiểm họa hoặc quyết định của người
bảo hiểm về việc nhận bảo hiểm và các điều kiện bảo hiểm, trừ loại thông tin mà
mọi người đều biết hoặc người bảo hiểm đã biết hoặc cần phải biết.
Vào thời điểm ban hành BLHH năm 1990, hoạt động bảo hiểm nói chung và
bảo hiểm hàng hải nói riêng ở Việt Nam chưa phát triển, kinh nghiệm thực tiễn chưa
thực sự phong phú và đặc thù của hoạt động bảo hiểm hàng hải có nhiều nguyên tắc,
thuật ngữ mang tính chuyên biệt, tính quốc tế cao. Do vậy, các nhà làm luật khi
soạn thảo các quy định trong BLHH năm 1990 đã học hỏi kinh nghiệm và dựa trên
các quy định trong pháp luật bảo hiểm hàng hải của Anh để đưa vào BLHH Việt
Nam. Tuy nhiên, các nhà làm luật không đưa ra các giải thích hoặc không đưa thêm
các quy định nhằm làm rõ cách áp dụng hoặc bỏ sót một số thuật ngữ quan trọng so
với phiên bản gốc, dẫn đến, các quy định không rõ ràng, khó hiểu và áp đặt trách
nhiệm nặng nề cho bên mua bảo hiểm. Dường như không có giới hạn đối với nghĩa
vụ cung cấp thông tin của bên mua bảo hiểm. Bên mua bảo hiểm phải cung cấp tất 40 Khoản 3 Điều 8 Luật kinh doanh bất động sản năm 2014. 41 Khoản 1 Điều 39 Luật kinh doanh bất động sản năm 2014.
67
cả các thông tin mà mình biết. Bên mua bảo hiểm không thể biết được loại thông tin
nào không làm ảnh hưởng đến việc xác định khả năng xảy ra hiểm họa hoặc làm
cho công ty bảo hiểm quyết định không ký kết hợp đồng bảo hiểm nếu họ biết được
thông tin đó vào lúc trước khi ký kết hợp đồng.
Theo quy định tại Điều 154 Bộ luật hàng hải quy định về nghĩa vụ của người
giao hàng: “Người giao hàng phải cung cấp trong một thời gian thích hợp cho người
vận chuyển các tài liệu và chỉ dẫn cần thiết đối với hàng hóa dễ nổ, dễ cháy và các
loại hàng hóa nguy hiểm khác hoặc loại hàng hóa cần phải có biện pháp đặc biệt khi
bốc hàng, vận chuyển, bảo quản và dỡ hàng”42. Việc quy định như vậy sẽ khiến cho
bên vận chuyển hàng hóa giảm tải trách nhiệm và có ý thức hơn đối với nhiệm vụ
của mình. Bởi khi nắm được thông tin về hàng hóa vận chuyển, bên vận chuyển sẽ
có những biện pháp để ngăn chặn tối đa nhất những rủi ro có thể xảy ra.
3.2. Một số bất cập trong quy định và thực tiễn áp dụng
Tại Việt Nam, trước khi có BLDS năm 2015, nghĩa vụ cung cấp thông tin tiền
hợp đồng không được quy định như là nguyên tắc chung áp dụng cho tất cả các loại
hợp đồng dân sự. BLDS năm 2005 chỉ có quy định về nghĩa vụ cung cấp thông tin
đối với một số hợp đồng chuyên biệt như: việc chuyển giao quyền, nghĩa vụ dân sự,
hợp đồng mua bán tài sản, hợp đồng bảo hiểm,…Sau mười năm triển khai trên thực
tế, BLDS năm 2005 đã bộc lộ một số bất cập trong các quy định về nghĩa vụ cung
cấp thông tin giai đoạn tiền hợp đồng. BLDS năm 2015 ra đời trên cơ sở bổ sung,
hoàn thiện và phòng tránh những bất cập mà BLDS cũ tồn tại. Tuy trong luật
thương mại không quy định rõ về nghĩa vụ cung cấp thông tiền hợp đồng, nhưng
dựa trên quy định của BLDS để ta đi vào cụ thể từng loại hợp đồng thương mại, qua
đó phân tích để thấy rõ những bất câp trong quy định, thực tiễn áp dụng, qua đó
xem những quy định đó đã phù hợp với thực tiễn hay chưa.
3.2.1. Sự chồng chéo giữa luật chung và luật chuyên ngành
Trong thực tế, quá trình đi đến ký kết hợp đồng là khá phức tạp, không chỉ đơn
42 Khoản 2 Điều 154 Bộ luật hàng hải.
giản bao gồm sự trao đổi một đề nghị và sự chấp thuận đề nghị đó. Có rất nhiều đề
68
nghị khác nhau được đưa ra bởi các bên của hợp đồng trong quá trình đàm phán và
việc đưa ra những đề nghị chỉ thật sự kết thúc khi đi đến kết quả cuối cùng được
chấp nhận bởi các bên. Để đi đến được sự thống nhất cuối cùng đó, các bên phải trải
qua một giai đoạn rất dài, trong đó các bên trao đổi với nhau các ý kiến, thông điệp,
các điều khoản cụ thể, từng bước từng bước một. Quá trình thương thảo lâu dài
cùng với rất nhiều các đề các bên đưa ra như vậy, sẽ là rất khó để cho chúng ta xác
định được thông điệp nào, đề nghị nào của các bên gửi cho nhau là có giá trị pháp lý
bắt buộc đối với bên kia và bảo đảm quyền của bên còn lại và những thông điệp, đề
nghị nào là không có giá trị pháp lý ràng buộc theo nó. Trong cả hai trường hợp trên,
chúng ta có thể thấy, các bên tham gia giao kết hợp đồng rơi vào một quá trình mà
trong đó không có đủ các quy định điều chỉnh quá trình này. Việc này là phổ biến
trong hầu hết các hệ thống pháp luật. Mặt khác, việc không thể xác định được thông
điệp nào được trao đổi giữa các bên được xem là một lời đề nghị hoặc chấp nhận đề
nghị dẫn đến khó khăn trong xác định rằng thoả thuận đã được chấp nhận hay chưa
cũng như các điều khoản của thoả thuận đấy là những điều khoản nào một khi thoả
thuận coi như đã được chấp nhận. Vấn đề này có thể dẫn đến tranh chấp giữa các
bên khi quy trình giao kết hợp đồng cũ được áp dụng, do khi tiến hành đàm phán
các bên đạt được sự thống nhất với nhau về nhiều vấn đề, cũng như điều kiện của
thoả thuận trong tương lai từng bước từng bước một chứ không phải ngay một lúc.
Thậm chí, nhiều khi một vấn đề các bên phải quay đi quay lại đàm phán nhiều lần
mới đạt được sự thống nhất cuối cùng.
Nếu hợp đồng cuối cùng được ký kết giữa các bên thì không có vấn đề gì
nhưng nếu hợp đồng không được ký kết do bất kỳ lý do gì, đặc biệt nếu một trong
các bên cho rằng việc hợp đồng không được ký kết là hoàn toàn do lỗi của bên còn
lại, thì các vấn đề sẽ nảy sinh như: Các bên đã thực sự thiện chí trong quá trình đàm
phán hay chưa và có hay không nghĩa vụ bắt buộc các bên phải thiện chí khi đàm
phán; Một trong các bên có được bồi hoàn các khoản chi phí từ bên còn lại hay
không trong trường hợp bên này đã bắt đầu tiến hành các bước nhất định theo hợp
đồng hoặc đã thực hiện các điều khoản đã được thống nhất và được cho là một phần
của hợp đồng; Bản chất pháp lý của những thoả thuận ban đầu được thực hiện bởi
69
các bên của quá trình đàm phán là gì và các thoả thuận ban đầu này có làm phát sinh
các nghĩa vụ bắt buộc đối với các bên hay không? Ba câu hỏi trên hiện nay vẫn
chưa có câu trả lời thoả đáng nếu chúng ta chỉ căn cứ vào các quy định pháp lý về
hợp đồng trước đây mà chúng ta được biết. Vì vậy, việc phải có các quy định điều
chỉnh quá trình đàm phán, ký kết hợp đồng (giai đoạn tiền hợp đồng) theo hướng
mới là hết sức cần thiết và là vấn đề cần giải quyết đối với mọi hệ thống pháp luật.
Một thực tế rõ ràng là sự thiếu các quy định của pháp luật điều chỉnh hành vi
của các bên trong giai đoạn tiền hợp đồng có thể dẫn đến những kết quả không công
bằng và không thực hiện được vai trò, bản chất xã hội của hợp đồng. Do đó, pháp
luật hợp đồng phải thay đổi để đáp ứng được những yêu cầu xuất phát từ thực tế cần
phải xem giai đoạn tiền hợp đồng là một phần không thể tách rời của toàn bộ quá
trình “làm” hợp đồng và cần phải có các quy định cụ thể, rõ ràng điều chỉnh hành vi
và quan hệ của các bên trong giai đoạn này. Hay nói cách khác, pháp luật hợp đồng
hiện nay cần phải tìm được sự cân bằng giữa một mặt là bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của các bên trong giai việc đàm phán hợp đồng và mặt khác vẫn phải đảm bảo
quyền tự do, tính tự nguyện của các bên, đồng thời không tạo ra các rào cản cho các
bên muốn tiến hành thương lượng và đàm phán ký kết hợp đồng với nhau.
Giới hạn về phạm vi các thông tin phải cung cấp cũng không được làm rõ
trong Luật KDBH năm 2000, cũng như trong Luật KDBH sửa đổi năm 2010; hơn
nữa, ngay chính trong các quy định của các văn bản này cũng mâu thuẫn với nhau.
Điều 19 Luật KDBH năm 2000 yêu cầu bên mua bảo hiểm phải cung cấp mọi thông
tin liên quan đến đối tượng bảo hiểm. Trong khi đó, khoản 2, Điều 18 Luật KDBH
năm 2000 quy định bên mua bảo hiểm phải kê khai đầy đủ, trung thực mọi chi tiết
có liên quan đến hợp đồng bảo hiểm theo yêu cầu của doanh nghiệp bảo hiểm.
Người mua bảo hiểm không biết được rằng lúc nào phải cung cấp mọi thông tin, lúc
nào chỉ cần cung cấp các thông tin mà doanh nghiệp bảo hiểm yêu cầu.
Hiện nay cả ba quy định tại ba đạo luật trên đều giữ nguyên giá trị hiệu lực thi
hành. Như vậy, ở nhiều quốc gia trên thế giới, cho dù có khác nhau về hệ thống
pháp luật và những điều kiện cho những hoạt động bảo hiểm, nhưng vẫn có chung
nội dung cơ bản của nguyên tắc thiện chí – nghĩa vụ cung cấp thông tin theo cách
70
gọi của Việt Nam. Còn ở Việt Nam, mặc dù chỉ có một hệ thống pháp luật thống
nhất nhưng lại có đến ba loại nghĩa vụ cung cấp thông tin cùng tồn tại.
Hiện nay ngoại trừ quy định luật Kinh doanh bảo hiểm (Điều 19), các đạo luật
liên quan đến pháp luật bảo hiểm khác đều không xác định nghĩa vụ cung cấp thông
tin của người bảo hiểm. Bản thân nghĩa vụ cung cấp thông tin của người bảo hiểm
theo quy định của Luật KDBH cũng chỉ dừng lại ở việc giải thích các điều khoản
của hợp đồng hơn là một nghĩa vụ cung cấp cho người mua bảo hiểm các thông tin
liên quan đến rủi ro mà người mua bảo hiểm không biết. Cho nên, có thể nói, không
tồn tại nghĩa vụ cung cấp thông tin của người bảo hiểm theo cách hiểu đúng nghĩa
về nó trong hệ thống pháp luật bảo hiểm hiện hành ở Việt Nam. Điều này đi ngược
lại với vấn đề mà pháp luật các nước đều quan tâm, giải quyết: Tự do ý chí, nguyên
tắc bình đẳng và mục đích bảo vệ lợi ích cho người mua bảo hiểm. Điều 18.2.b Luật
KDBH và Điều 577.1 BLDS quy định “theo yêu cầu của bên bảo hiểm, bên mua
bảo hiểm phải cung cấp cho bên bảo hiểm đầy đủ các thông tin có liên quan đến đối
tượng bảo hiểm, trừ các thông tin mà bên bảo hiểm đã biết hoặc phải biết”. Quy
định này xác định nghĩa vụ của người mua bảo hiểm chỉ là việc trả lời các thông tin
mà người bảo hiểm yêu cầu. Thế nhưng không phải bao giờ thông tin được yêu cầu
cũng bao gồm tất cả thông tin giúp đánh giá đúng đắn rủi ro. Trong trường hợp
người mua bảo hiểm nắm giữ các thông tin quan trọng nhưng không được yêu cầu
cung cấp thông tin này và từ đó quyết định không chia sẻ thông tin với người bảo
hiểm thì rõ ràng, người mua bảo hiểm vẫn thực hiện đúng với yêu cầu của nghĩa vụ
cung cấp thông tin theo Điều 18.2.b Luật KDBH và Điều 577.1 BLDS. Trong khi
đó, việc không chia sẻ thông tin của người mua bảo hiểm như vậy đã xâm phạm tự
do ý chí cũng như bảo vệ lợi ích chính đáng của người bảo hiểm. Như thế, quy định
của hai điều luật đang dẫn đã không hề có giá trị bảo đảm nguyên tắc tự do ý chí
cũng như bảo vệ lợi ích chính đáng của người bảo hiểm. Tương tự, hiện nay, các
quy định tại Luật KDBH (Điều 19.2) và BLDS (Điều 577.2) chỉ cung cấp một biện
pháp pháp lý để người bảo hiểm đối phó lại với những vi phạm nghĩa vụ của người
mua bảo hiểm trong trường hợp duy nhất khi người mua bảo hiểm “cố ý cung cấp
thông tin sai sự thật…”Điều này đồng nghĩa với việc, nếu người mua bảo hiểm cố ý
71
im lặng không cung cấp một thông tin quan trọng nào đó thì người bảo hiểm sẽ
không có một biện pháp pháp lý nào để đối phó lại. Trong khi đó, trước và do sự im
lặng của người mua bảo hiểm, người bảo hiểm hoàn toàn có thể bị nhầm lẫn, lệch
lạc trong việc đánh giá rủi ro dẫn tới bị thiệt hại lợi ích. Rõ ràng, quy định của
BLDS và Luật KDBH về hậu quả pháp lý của “hành vi vi phạm nghĩa vụ cung cấp
thông tin” đã không quan tâm tới việc bảo vệ cho thích đáng và đầy đủ các trường
hợp khi quyền lợi của người bảo hiểm bị xâm hại.
3.2.2. Quy định không rõ ràng, thiếu tính chính xác
Nghĩa vụ cung cấp thông tin giai đoạn tiền hợp đồng thương mại mặc dù
được quy định trong BLDS và một số Điều luật của Luật chuyên ngành nhưng chưa
được quy định thành từng chương riêng. Do đó, trong quá trình áp dụng pháp luật
còn có nhiều vướng mắc, cụ thể là những quy định về nghĩa vụ cung cấp thông tin
giai đoạn tiền hợp đồng thương mại được quy định chưa rõ ràng, thiếu tính chính
xác.
- Trong lĩnh vực mua bán hàng hóa: Luật chất lượng sản phẩm, hàng hóa và
BLDS năm 2015 có tính thống nhất ở chỗ khi hàng hóa không đạt chất lượng gây
thiệt hại thì phải bồi thường. Tuy nhiên, Luật t lượng sản phẩm, hàng hóa còn hạn
chế về mặt ngữ nghĩa, đồng thời cũng hạn chế nếu có trường hợp cụ thể xảy ra. Khi
đã xác định hàng hóa không đảm bảo chất lượng thì không thể áp dụng Luật chất
lượng sản phẩm, hàng hóa. Để xác định đó là hàng hóa không đảm bảo chất lượng
hoặc đó là hàng hóa có khuyết tật, thì dẫn đến sự thao túng khi áp dụng các quy
định pháp luật.
Kiến nghị sửa, đổi Luật chất lượng sản phẩm, hàng hóa như sau tại khoản 9 Điều
10 Luật chất lượng sản phẩm, hàng hóa quy định “ Thu hồi, xử lý sản phẩm, hàng hóa
không bảo đảm chất lượng. Trong trường hợp phải tiêu huỷ hàng hóa thì phải chịu toàn
bộ chi phí cho việc tiêu huỷ hàng hoá và chịu trách nhiệm về hậu quả của việc tiêu huỷ
hàng hoá theo quy định của pháp luật. ..” nên sửa lại “Thu hồi, xử lý sản phẩm, hàng
hóa không bảo đảm chất lượng. Trong trường hợp phải tiêu huỷ hàng hóa thì phải
chịu toàn bộ chi phí cho việc tiêu huỷ hàng hoá và chịu trách nhiệm về hậu quả của
72
việc tiêu huỷ hàng hoá theo quy định của pháp luật và phải chịu trách nhiệm bồi
thường”. Đồng thời, kiến nghị Hội đồngThẩm phán TANDTC ban hành Nghị Quyết
hướng dẫn về “hàng hóa không đảm bảo chất lượng” tại Điều 608 của BLDS năm 2015.
Cần phải đưa ra các tiêu chí để đánh giá một sản phẩm không đảm bảo chất lượng, để
việc xét xử có một quy chuẩn thống nhất, tránh tình trạng áp dụng tùy tiện và áp đặt ý chí
chủ quan trong quá trình xét xử.
- Trong lĩnh vực thế chấp tài sản thuộc BLDS 2015 có quy định về nghĩa vụ
của bên thế chấp đối với việc cung cấp thông tin về thực trạng tài sản thế chấp cho
bên nhận thế chấp. Đây là quy định vẫn còn mang tính chất chung chung, chưa có
sự ràng buộc và chưa thể hiên được hậu quả pháp lý đối với việc cung cấp thông tin
không đầy đủ hoặc thông tin không chính xác liên quan đến quyền lợi của bên nhận
thế chấp.
Kiến nghị sửa đổi như sau: Tại khoản 5 Điều 320 BLDS 2015 quy định nghĩa
vụ của bên thế chấp: “Cung cấp thông tin về thực trạng tài sản thế chấp cho bên
nhận thế chấp”, kiến nghị sửa như sau “Cung cấp thông tin về thực trạng tài sản thế
chấp cho bên nhận thế chấp; trường hợp này không thông tin thì bên nhận thế
chấp có quyền hủy hợp đồng thế chấp tài sản và yêu cầu đòi bồi thường thiệt
hại hoặc duy trì hợp đồng và chấp nhận quyền của người thứ ba đối với tài sản
thế chấp”.
- Điều 443 BLDS 2015 quy định về nghĩa vụ cung cấp thông tin và hướng dẫn
cách sử dụng như sau: “Bên bán có nghĩa vụ cung cấp cho bên mua thông tin cần
thiết về tài sản mua bán và hướng dẫn cách sử dụng tài sản đó; nếu bên bán không
thực hiện nghĩa vụ này thì bên mua có quyền yêu cầu bên bán phải thực hiện trong
một thời hạn hợp lý; nếu bên bán vẫn không thực hiện làm cho bên mua không đạt
được mục đích giao kết hợp đồng thì bên mua có quyền hủy bỏ hợp đồng và yêu
cầu bồi thường thiệt hại”. Nay kiến nghị sửa đổi như sau: “Bên bán có nghĩa vụ
cung cấp cho bên mua thông tin cần thiết về tài sản mua bán và hướng dẫn cách sử
dụng tài sản đó; nếu bên bán không thực hiện nghĩa vụ này hoặc thực hiện không
đầy đủ, không thiện chí thì bên mua có quyền yêu cầu bên bán phải thực hiện
trong một thời hạn hợp lý; nếu bên bán vẫn không thực hiện làm cho bên mua
73
không đạt được mục đích giao kết hợp đồng thì bên mua có quyền hủy bỏ hợp đồng
và yêu cầu bồi thường thiệt hại
Tiểu kết chương 3:
Nghĩa vụ cung cấp thông tin tiền hợp đồng thương mại tại Việt Nam vẫn còn
đang hoàn thiện và cần phải có những quy định cụ thể hơn nữa để có thể đảm bảo
các quyền lợi của các bên khi tham gia giao kết hợp đồng. Bởi lẽ chỉ một hành vi
gian dối của một trong hai bên khi giao kết hợp đồng sẽ gây ra những hậu quả và
thiệt hại đối với bên kia. Đồng thời, làm ảnh hưởng đến uy tín, thời gian và công
sức của hai bên nếu có tranh chấp xảy ra. Do vậy pháp luật Việt Nam, đặc biệt là
Luật thương mại cần phải có những quy định rõ ràng, cụ thể hơn về quyền và nghĩa
vụ của các bên trong giai đoạn tiền hợp đồng thương mại.
74
CHƯƠNG 4. ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT
VIỆT NAM VỀ NGHĨA VỤ CUNG CẤP THÔNG TIN GIAI ĐOẠN TIỀN
HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI
4.1. Định hướng hoàn thiện về nghĩa vụ cung cấp thông tin tiền hợp đồng
thương mại
Nghĩa vụ cung cấp thông tin tiền hợp đồng đã hình thành trong pháp luật Việt
Nam từ lâu ở một số hợp đồng chuyên biệt nhưng chưa có quy định nói chung cho
các loại hợp đồng về nghĩa vụ này. BLDS năm 2015 đã có sự đổi mới khi quy định
cụ thể nghĩa vụ cung cấp thông tin tại Điều 387 BLDS 2015, cũng như có những bổ
sung nhằm khắc phục những vấn đề mà BLDS năm 2005 để lại. Tuy nhiên, để áp
dụng nghĩa vụ cung cấp thông tin tiền hợp đồng theo BLDS năm 2015 vào thực tiễn
sẽ vẫn còn khoảng trống cần quy định và giải thích cụ thể. Ngoài ra vấn đề xem xét
việc vi phạm nghĩa vụ này là ngoài hợp đồng hay vi phạm hợp đồng vẫn còn bỡ ngỡ
mà chúng ta cần làm rõ trong nghiên cứu.
Pháp luật hiện hành chưa có quy định tăng cường quyền được cung cấp thông
tin của người mua nhà sau khi hợp đồng được ký kết, với vai trò là chủ sở hữu trong
tương lai hầu như người mua không được tham gia vào quá trình xây dựng dự án,
việc dự án thực hiện như thế nào, tới đâu là do chủ đầu tư quyết định. Ngoài ra, việc
quy định thông tin cung cấp phải đầy đủ hầu như không được thực hiện bởi bên bán
thường chỉ muốn mô tả những thông tin có lợi nhất cho mình để thu hút khách hàng.
Do đó, cần có đề xuất sửa đổi quy định pháp luật cho phù hợp với tình hình
thực tế hiện nay. Theo quy định tại Điều 16 Luật Kinh doanh bất động sản năm
2014 thì việc phạt và bồi thường thiệt hại do bên mua, bên nhận chuyển nhượng,
bên thuê, bên thuê mua chậm tiến độ thanh toán hoặc bên bán, bên chuyển nhượng,
bên cho thuê, bên cho thuê mua chậm tiến độ bàn giao bất động sản do các bên thỏa
thuận và phải được ghi rõ trong hợp đồng. Tuy nhiên, Điều 18 Luật Kinh doanh bất
động sản lại quy định những nội dung hợp đồng mua bán, cho thuê, cho thuê mua
nhà, công trình xây dựng phải có, trong đó nêu rõ hợp đồng phải có thỏa thuận phạt
mà vấn đề bồi thường thiệt hại không “phải có”. Như vậy, có thể thấy chính trong
75
nội tại Luật Kinh doanh bất động sản đã có sự mâu thuẫn.
Phạt và bồi thường thiệt hại là hai hình thức trách nhiệm do vi phạm hợp đồng
khác nhau và có tính chất khác nhau. Nếu bồi thường thiệt hại là trách nhiệm vật
chất mà bên vi phạm phải gánh chịu đề bù đắp các tổn thất đã gây ra thì phạt hợp
đồng là việc bên vi phạm phải trả một khoản tiền cho bên còn lại nếu có vi phạm
hợp đồng. Về bản chất, phạt hợp đồng mang tính chất răn đe và “phòng ngừa”, mục
đích để các bên ý thức và nghiêm chỉnh tuân thủ hợp đồng, trong khi đó, bồi thường
thiệt hại mang tính chất đền bù đắp những tổn thất đã gây ra.
Theo quy định tại khoản 3 Điều 418 BLDS năm 2015 thì:
“Trường hợp các bên có thỏa thuận về phạt vi phạm nhưng không thỏa thuận
về việc vừa phải chịu phạt vi phạm và vừa phải bồi thường thiệt hại thì bên vi phạm
nghĩa vụ chỉ phải chịu phạt vi phạm”. Như vậy, đối chiếu với quy định của Luật
Kinh doanh bất động sản 2014, nếu các bên chỉ thỏa thuận phạt như quy định tại
Điều 18 thì bên vi phạm chỉ chịu phạt mà không phải chịu bồi thường. Vì vậy, đề
xuất sửa đổi bổ sung Điều 18 Luật Kinh doanh bất động sản 2014 cho đồng bộ, phù
hợp với Điều 16, nêu rõ vấn đề thỏa thuận bồi thường trong hợp đồng.
Đối với các hợp đồng chịu sự điều chỉnh của BLDS không chịu sự điều chỉnh
của Luật chuyên ngành thì cần phải có sự quy định rõ ràng, cụ thể hơn về nghĩa vụ
cung cấp thông tin. Bên cạnh đó, cần có quy định về chế tài đối với việc vi phạm
nghĩa vụ. Có như vậy, các bên mới thể hiện được ý chí tự do, bình đẳng và tự
nguyện khi giao kết hợp đồng. Như quy định tại khoản 5 Điều 320 về nghĩa vụ của
bên thế chấp: “Cung cấp thông tin về thực trạng tài sản thế chấp cho bên nhận thế
chấp”. Quy định này không kèm theo chế tài đối với việc thông tin cung cấp sai,
không trung thực, đầy đủ. Khi xảy ra tranh chấp, sẽ rất khó khăn cho Tòa án trong
việc áp dụng các quy định pháp luật để xử lý. Do đó, khi bên thế chấp không chấp
hành quy định về việc cung cấp thông tin, thì hậu quả bên nhận thế chấp sẽ phải
chịu. Điều này không tạo sự công bằng cho bên nhận thế chấp và buộc bên nhận thế
chấp phải kiểm tra kỹ thông tin về tài sản thế chấp trước khi giao kết hợp đồng.
Để hoàn thiện về nghĩa vụ cung cấp thông tin giai đoạn tiền hợp đồng thương
mại, BLDS cần phải có những quy định rõ ràng, chi tiết hơn đối với các thông tin
76
cần cung cấp trong từng loại hợp đồng cụ thể. Bên cạnh các nghĩa vụ, cần phải có
các quy định cụ thể đối với bên vi phạm nghĩa vụ, giúp cho tòa án có hướng xử lý
khách quan, phù hợp theo quy định pháp luật, tránh chủ quan duy ý chí. Có như vậy
mới tạo được sự công bằng, tự nguyện hợp tác cho các bên trước khi tham gia giao
kết hợp đồng.
4.2. Một số giải pháp cụ thể hoàn thiện quy định pháp luật Việt Nam về
nghĩa vụ cung cấp thông tin tiền hợp đồng thương mại
Ở Việt Nam chưa có đạo luật riêng về luật hợp đồng mà chế định hợp
đồng được quy định trong Bộ luật Dân sự và một số luật chuyên ngành như Bộ luật
Lao động, Luật Thương mại, Luật Kinh doanh bảo hiểm, Luật Kinh doanh bất động
sản…Tuy nhiên, Bộ luật Dân sự luôn được coi là đạo luật gốc quy định các vấn
đề chung nhất và cơ bản nhất về hợp đồng, là nền tảng cho pháp luật về hợp đồng
được áp dụng chung cho tất cả các loại hợp đồng, không phân biệt hợp đồng dân sự
hay hợp đồng kinh tế, hợp đồng có mục đích kinh doanh hay hợp đồng nhằm đáp
ứng các nhu cầu sinh hoạt hàng ngày.
Các hoạt động thương mại là rất đa dạng và phong phú, vì vậy chúng không
thể được điều chỉnh trong một luật hay bộ luật duy nhất. Thực tế, ở Việt Nam đã có
nhiều luật điều chỉnh các hoạt động thương mại khác không được điều chỉnh trong
Luật Thương mại, như Luật Xây dựng, Luật Kinh doanh bảo hiểm, Luật Kinh
doanh bất động sản, Luật Hàng hải, Luật Hàng không dân dụng v.v.. Mối quan hệ
giữa các luật này và Luật Thương mại được được xác lập thông qua quy định “hoạt
động thương mại phải tuân theo Luật Thương mại và pháp luật có liên quan” và quy
định “hoạt động thương mại đặc thù được quy định trong luật khác thì áp dụng quy
định của luật đó”. Các quy định này ấn định cho Luật Thương mại vai trò là luật
chung (lex generalis) đối với hoạt động thương mại nói chung, còn (các) luật khác
quy định về hoạt động thương mại đặc thù là luật chuyên ngành, luật riêng (lex
specialis). Đồng thời quy định này cũng thể hiện một trong các nguyên tắc cơ bản
nhất về áp dụng luật, đó là luật riêng được áp dụng, còn luật chung chỉ áp dụng khi
luật riêng không quy định hay còn gọi là luật riêng loại trừ luật chung (lex specialis
derogat legi generali).
77
Dựa trên tình hình thực tế hiện nay, bản chất cũng như thực trạng pháp luật về
hợp đồng của Việt Nam đã đến giai đoạn các nhà làm luật nên bắt đầu chú ý đến
việc luật hoá chế định TNTHĐ. Chúng ta nên tiếp nhận các quan điểm về vấn đề
này của các hệ thống pháp luật trên thế giới phù hợp với tình hình thực tế và đặc
điểm pháp lý của hệ thống pháp luật Việt Nam, để xây dựng nền móng cho quy định
TNTHĐ. Việt Nam chịu ảnh hưởng sâu sắc của hệ thống luật dân sự (Civil
law), chưa thật sự cởi mở với án lệ, nên việc có các quy định về TNTHĐ là một
việc hết sức cần thiết và mang tính thực tiễn cao, vừa đảm bảo sự công bằng của
pháp luật, vừa tạo ra môi trường pháp lý thuận lợi cho hoạt động kinh doanh. Như
vậy, nghiên cứu TNTHĐ nói chung, cũng như nghĩa vụ cung cấp thông tin tiền hợp
đồng thương mại nói riêng, sẽ có những cái nhìn cụ thể và sâu sắc hơn đối với từng
loại hợp đồng chuyên biệt. Qua đó, sẽ có những kiến nghị và đề xuất phù hợp để
điều chỉnh, hoàn thiện pháp luật Việt Nam về nghĩa vụ tiền hợp đồng thương mại.
4.2.1. Đối với hoạt động kinh doanh bảo hiểm
Theo quy định tại Điều 19 thì một trong các hành vi được cho là vi phạm trách
nhiệm cung cấp thông tin của cả bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm là
“cố ý cung cấp thông tin sai sự thật nhằm giao kết hợp đồng”. Nếu chỉ dừng lại xem
xét riêng quy định về trách nhiệm cung cấp thông tin của các bên trong hợp đồng
bảo hiểm nhân thọ thì việc các nhà làm luật xác định hành vi vi phạm như trên là
hoàn toàn hợp lý. Tuy nhiên, nếu nghiên cứu rộng ra các quy định liên quan, trong
đó có sự so sánh đối chiếu với quy định về các trường hợp hợp đồng bảo hiểm vô
hiệu tại khoản 1 Điều 22 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000 thì lại thấy có vấn đề
cần phải quan tâm làm rõ. Cụ thể, một trong các trường hợp dẫn đến hợp đồng bảo
hiểm vô hiệu là “bên mua bảo hiểm hoặc doanh nghiệp bảo hiểm có hành vi lừa dối
khi giao kết hợp đồng bảo hiểm” (điểm d khoản 1 Điều 20 Luật Kinh doanh bảo
hiểm năm 2000. Quy định này là hết sức phù hợp với những quy định về điều kiện
có hiệu lực của hợp đồng dân sự trong Bộ luật Dân sự năm 2015. Vấn đề đặt ra là từ
góc độ lý luận cũng như thực tiễn việc phân biệt giữa “cố ý cung cấp thông tin sai
sự thật” và “hành vi lừa dối khi giao kết hợp đồng” của các bên trong quan hệ hợp
đồng bảo hiểm nhân thọ không phải điều dễ dàng, ranh giới của hai khái niệm này
78
rất mờ nhạt. Thậm chí, trong một chừng mực nhất định, nội hàm của hai khái niệm
này có thể coi là trùng với nhau. Trong khi đó, hậu quả pháp lý đối với chủ thể thực
hiện một trong hai hành vi này lại rất khác nhau. Giả sử cùng một hành vi kê khai
không đúng tuổi của bên mua bảo hiểm, đồng thời là người được bảo hiểm trong
hợp đồng thì có thể có cách giải quyết không giống nhau giữa các bên của hợp đồng
bảo hiểm nhân thọ. Để bảo vệ quyền lợi của mình, doanh nghiệp bảo hiểm sẽ xác
định hành vi này là “cố ý cung cấp thông tin sai sự thật” để quyết định đình chỉ thực
hiện hợp đồng và thu được khoản phí bảo hiểm. Trong khi đó, để giải thoát khỏi các
nghĩa vụ hợp đồng cũng như nghĩa vụ tài chính khi vi phạm trách nhiệm cung cấp
thông tin, bên mua bảo hiểm sẽ chứng minh hành vi kê khai không đúng tuổi là
hành vi sai. Mục đích là để đưa về trường hợp hợp đồng vô hiệu và được nhận lại
khoản phí đã đóng cho doanh nghiệp bảo hiểm vì hậu quả pháp lý của trường hợp
hợp đồng bảo hiểm vô hiệu là “khôi phục lại trạng thái ban đầu các bên trả lại cho
nhau những gì đã nhận”43. Như vậy là cùng một hành vi vi phạm nhưng các bên có
thể sử dụng các căn cứ pháp lý khác nhau để bảo vệ quyền lợi của mình và các bên
hoàn toàn có cơ sở để làm việc đó. Không dừng lại ở đó, việc Luật Kinh doanh bảo
hiểm năm 2000 không phân định được ranh giới giữa hai khái niệm “cố ý cung cấp
thông tin sai sự thật” và “lừa dối” còn dẫn đến tình trạng cơ quan giải quyết tranh
chấp sẽ tùy tiện và có khả năng hành xử tiêu cực khi tiến hành giải quyết tranh chấp
giữa doanh nghiệp bảo hiểm và bên mua bảo hiểm khi được các bên lựa chọn để
giải quyết những mâu thuẫn, bất đồng của mình.
Như vậy, để giải quyết những tồn tại trên, phải bổ sung nội dung giải thích thế
nào là “lừa dối khi giao kết hợp đồng” và xác định những tiêu chí nhất định để phân
định rõ với hành vi “cố ý cung cấp thông tin không đúng sự thật”. Làm được điều
này mới có thể tránh được những tranh chấp, bất đồng xảy ra trên thực tế trong quá
trình thực hiện hợp đồng bảo hiểm nhân thọ, góp phần đảm bảo quyền và lợi ích
hơp pháp của các bên và từ đó, giúp chủ thể trong xã hội có thể an tâm khi thiết lập
quan hệ hợp đồng thương mại đặc thù này.
43 Khoản 2 Điều 22 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000.
Về hậu quả pháp lý của việc ra quyết định đình chỉ hợp đồng của một bên khi
79
một bên vi phạm trách nhiệm cung cấp thông tin. Theo đó, nếu bên mua bảo hiểm vi
phạm và doanh nghiệp bảo hiểm ra quyết định đơn phương đình chỉ thực hiện hợp
đồng thì doanh nghiệp bảo hiểm được quyền thu phí đến thời điểm đình chỉ. Trong
khi đó, nếu doanh nghiệp bảo hiểm vi phạm và bên mua bảo hiểm quyết định đơn
phương đình chỉ, thì doanh nghiệp bảo hiểm phải bồi thường thiệt hại cho bên mua.
Như vậy là cùng một hành vi vi phạm nghĩa vụ được quy định trong Luật cũng như
trong hợp đồng, nhưng hậu quả pháp lý mà mỗi bên gánh chịu lại không tương
xứng, có thể nói là không có sự cân bằng. Bởi lẽ, với trường hợp bên vi phạm là bên
mua bảo hiểm thì nghĩa vụ tài chính mà họ phải thực hiện rất rõ ràng, cụ thể là
khoản phí mà họ đã và sẽ phải đóng đến thời điểm đình chỉ thực hiện hợp đồng mà
bên bán bảo hiểm không cần phải chứng minh thiệt hại. Nhưng với trường hợp bên
vi phạm là bên bán bảo hiểm thì nghĩa vụ này lại khá mơ hồ, trừu tượng, nó phụ
thuộc vào việc bên mua bảo hiểm có chứng minh được thiệt hại thực tế xảy ra. Điều
đó đồng nghĩa với việc nếu bên mua bảo hiểm không chứng minh được thiệt hại thì
họ sẽ không được bồi thường. Thiết nghĩ, trong mối quan hệ với doanh nghiệp bảo
hiểm, bên mua bảo hiểm có thể được xác định là bên yếu thế cần phải được pháp
luật quan tâm và bảo vệ nhưng dường như trong trường hợp này pháp luật lại
nghiêng về bảo vệ cho các doanh nghiệp bảo hiểm - là bên có cả thế mạnh về tài
chính, khả năng tự bảo vệ so với bên mua bảo hiểm. Để khắc phục hạn chế này, nên
quy định hậu quả pháp lý của doanh nghiệp bảo hiểm và bên mua bảo hiểm trong
Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000 tương tự nhau. Qua đó có thể thấy rằng: Hoặc
giữ nguyên nội dung hiện tại với trường hợp bên bán bảo hiểm quyết định đình chỉ
thực hiện hợp đồng và sửa quy định hậu quả pháp lý trong trường hợp bên mua bảo
hiểm quyết định đình chỉ thành doanh nghiệp bảo hiểm phải “bồi thường thiệt hại
phát sinh do vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin” cho bên mua bảo hiểm; hoặc là
giữ nguyên nội dung hiện tại với trường hợp bên bán bảo hiểm quyết định đình chỉ
nhưng sửa đổi đối với trường hợp bên mua bảo hiểm quyết định đình chỉ theo
hướng quy định những nguyên tắc, tiêu chí cụ thể để xác định nghĩa vụ tài chính mà
bên bán phải thực hiện với bên mua bảo hiểm.
Đối với khoản 2 Điều 19: “Doanh nghiệp bảo hiểm có quyền đơn phương đình
80
chỉ thực hiện hợp đồng…..quy định tại điểm c khoản 2 Điều 18 của Luật này”. Cần
bổ sung thêm: Bên mua bảo hiểm còn phải chịu một khoản phí nhất định đối với
hành vi cố ý cung cấp thông tin mang tính chất lừa dối. Có như vậy, sẽ tránh được
nhiều thiệt hại cho doanh nghiệp bảo hiểm, đồng thời sẽ giúp cho cơ quan luật pháp
dễ dàng điều chỉnh và chọn chế tài phù hợp.
4.2.2. Đối với hợp đồng dịch vụ
Bộ luật Dân sự năm 2015 ghi nhận HĐDV là một trong các hợp đồng dân sự
thông dụng cần pháp luật điều chỉnh. Bộ luật Dân sự năm 2015 tiếp tục kế thừa quy
định này trong Bộ luật Dân sự năm 2005. Tuy nhiên, dịch vụ là một hoạt động kinh
tế đỉnh cao và chất lượng dịch vụ được đảm bảo bởi sự chuyên nghiệp. Nếu pháp
luật tiếp tục quy định như vậy thì sẽ giảm bớt tính năng động, linh hoạt cho các nhà
cung ứng dịch vụ. Tuy nhiên, một thực tiễn hiện nay là các công trình nghiên cứu
chưa đi sâu vào bản chất của HĐDV. Làm rõ bản chất HĐDV là cơ sở xem xét,
đánh giá các quy định pháp luật về hợp đồng này có phù hợp hay không.
Pháp luật cần ghi nhận các nghĩa vụ tiền hợp đồng đối với các chủ thể trong
HĐDV. Toàn bộ chương về hợp đồng dịch vụ được quy định từ Điều 513 đến Điều
521 cũng không có quy định cụ thể về nghĩa vụ cung cấp thông tin. Mà thực tế, đối
với hợp đồng dịch vụ thì thông tin đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình thực
hiện hợp đồng. khi các thông tin đầy đủ, đảm bảo mới tạo nên được sản phẩm chất
lượng. Vì vậy, cần phải có một điều luật cụ thể về nghĩa vụ cung cấp thông tin tiền
hợp đồng, nhằm đảm bảo quyền và lợi ich của các bên khi tham gia giao kết hợp
đồng, Và kiến nghị bổ sung thêm Điều 517 về nghĩa vụ của bên cung ứng dịch vụ
như sau:
+ Nghĩa vụ thu thập thông tin liên quan đến thực hiện dịch vụ của bên cung
ứng dịch vụ;
+ Nghĩa vụ giữ bí mật thông tin, bảo quản tài liệu, giấy phép hoặc chứng chỉ
do bên thuê dịch vụ cung cấp của bên cung ứng dịch vụ;
+ Nghĩa vụ cảnh báo rủi ro của bên cung ứng dịch vụ cho bên thuê dịch vụ;
+ Nghĩa vụ điều chỉnh nội dung đã đàm phán trong HĐDV khi hoàn cảnh thay đổi.
Điều khoản về nghĩa vụ cung cấp thông tin nên ràng buộc bên cung ứng dịch
81
vụ phải cung cấp các giấy tờ chứng minh mình được thành lập và hoạt động hợp
pháp, các dịch vụ mình cung cấp là hoàn toàn hợp pháp. Ngoài ra, có những dịch
vụ đặc thù như ứng dụng trên thiết bị di động, bên cung ứng, về mặt nguyên tắc,
phải cung cấp cho bên sử dụng dịch vụ biết quyền truy cập vào dữ liệu người dùng
để đảm bảo vấn đề bảo mật và quyền riêng tư. Nhất là các công ty thuê ngoài dịch
vụ IT, trong hợp đồng cung ứng dịch vụ nên quy định thật cụ thể điều khoản này để
bảo vệ doanh nghiệp của mình.
Trong thời đại 4.0 như hiện nay, khi Việt Nam hội nhập với nền kinh tế toàn
cầu, thì các ứng dụng trên thiết bị di động, máy tính càng trở nên đa dạng, phong
phú. Vì vậy, cần có những điều khoản quy định cụ thể, rõ ràng, tránh việc khó xử lý
khi có tranh chấp xảy ra. Bởi ngoài nhiệm vụ tạo ra sản phẩm theo yêu cầu của bên
sử dụng dich vụ, bên cung ứng dịch vụ phải đảm bảo được chất lượng sản phẩm tốt
nhất để tránh xảy ra khiếu kiện sau này.
Ngoài ra, cần bổ sung thêm Điều 515 quy định về nghĩa vụ của bên sử dụng
dịch vụ như sau:
+ Nghĩa vụ cảnh báo sự kiện bất thường của bên thuê dịch vụ đối với bên
cung ứng dịch vụ;
+ Bồi thường thiệt hại cho bên cung ứng dịch vụ nếu thông tin cung cấp
không đầy đủ, chính xác, dẫn đến bên cung ứng dịch vụ thực hiện công việc không
đúng, không đạt hiệu quả
Bởi lẽ, bên sử dụng dịch vụ là bên hưởng thành quả dịch vụ và phải thanh toán
tiền cho bên cung ứng dịch vụ. Nên bên cạnh những quyền của mình, họ cũng cần
phải bị ràng buộc bởi những nghĩa vụ nhất định.
Tiểu kết chương 4:
Nghĩa vụ cung cấp thông tin tiền hợp đồng là khái niệm mới được tiếp thu
trong pháp luật thương mại Việt Nam, cụ thể là Luật Thương mại. Tuy nhiên, hiện
nay, khái niệm này vẫn còn mới và chưa được quy định rộng rãi trong pháp luật dân
sự Việt Nam. Do đó, nó vẫn còn nhiều hạn chế và thiếu sót cần được bổ sung, đặc
biệt là về “mục đích của việc giao kết hợp đồng”. Hoàn thiện quy định pháp luật
Việt Nam về vi phạm về nghĩa vụ cung cấp thông tin giai đoạn tiền hợp đồng
82
thương mại là rất cần thiết, theo đó việc hoàn thiện quy định của pháp luật Việt
Nam về vi phạm cơ bản hợp đồng cũng có thể theo hướng đi sâu vào hậu quả của
việc vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin nhằm hoàn thiện hơn, tạo sự tương thích
với pháp luât của một số quốc gia điển hình trong bối cảnh chúng ta đang tích cực
tiến hành các hoạt động để gia nhập Công ước Viên.
83
KẾT LUẬN
1. Nghĩa vụ cung cấp thông tin tiền hợp đồng thương mại là điều kiện rất
quan trọng để xác định tính hiệu lực của hợp đồng. Khi các bên không tuân thủ
nguyên tắc này sẽ phải chịu hậu quả pháp lý nhất định. Đây là vấn đề tuy không
mới nhưng cũng chưa được quy định cụ thể tại Bộ luật dân sự 2015 cũng như các
luật chuyên biệt, đặc biệt là trong Luật thương mại. Nghĩa vụ cung cấp thông tin
tiền hợp đồng thương mại là vấn đề pháp lý phức tạp và có mối liên hệ biện chứng
với nhiều vấn đề pháp lý quan trọng khác của pháp luật hợp đồng thương mại như
vi phạm hợp đồng, thiệt hại, tạm ngừng, đình chỉ hoặc hủy bỏ hợp đồng. Vì vậy
việc nghiên cứu hoàn thiện quy định pháp luật về nghĩa vụ cung cấp thông tin tiền
hợp đồng thương mại cũng có ý nghĩa đối với việc hoàn thiện các vấn đề đó. Luận
văn tập trung nghiên cứu quy định của pháp luật Việt Nam, so sánh với hệ thống
pháp luật của các nước về nghĩa vụ cung cấp thông tin tiền hợp đồng thương mại;
những bất cập trong các quy định và thực tiễn áp dụng, định hướng hoàn thiện. Mỗi
nội dung đều thiết kế thành một chương, kết hợp với chương lý luận về hợp đồng
thương mại, giai đoạn tiền hợp đồng thương mại và nghĩa cụ cung cấp thông tin tiền
hợp đồng thương mại, tạo thành bốn chương của luận văn
2. Nội dung chương 2 tập chung làm rõ nghĩa vụ cung cấp thông tin giai đoạn
tiền hợp đồng trong pháp luật một số nước và văn bản pháp luật quốc tế. Khi nghiên
cứu quy định pháp luật của các nước về giai đoạn tiền hợp đồng, tác giả sẽ thấy
được lịch sử hình thành và phát triển của một số nước và văn bản quốc tế về nghĩa
vụ cung cấp thông tin tiền hợp đồng thương mại, đồng thời rút ra được những nhận
xét từ việc nghiên cứu đó để làm căn cứ so sánh đối với pháp luật Việt Nam…
3. Nội dung chương 3 tập trung nghiên cứu về nghĩa vụ cung cấp thông tin
giai đoạn tiền hợp đồng thương mại trong pháp luật Việt Nam. Kết quả nghiên cứu
của chương 3 là những quy định và thực tiễn áp dụng quy định về nghĩa vụ cung
cấp thông tin tiền hợp đồng, thông qua một số bản án cụ thể trên hệ thống Case Law
để thấy được những bất cập trong quy định và thực tiễn áp dụng trong pháp luật
Việt Nam.
84
4. Nội dung chương 4 nêu lên những định hướng hoàn thiện pháp luật Việt
Nam về nghĩa vụ cung cấp thông tin tiền hợp đồng thương mại. Thông qua những
định hướng để có những giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam như các yếu tố
trung thực, tự nguyện để đạt được mục đích của việc giao kết hợp đồng. Từ đó,
chương 4 cũng đưa ra những định hướng hoàn thiện quy định của pháp luật Việt
Nam về nghĩa vụ cung cấp thông tin tiền hợp đồng thương mại, theo đó hoàn thiện
phải dựa trên sự thống nhất, dễ hiểu và dễ áp dụng cho cộng đồng doanh nghiệp,
cũng như Tòa án, trọng tài trong quá trình giải quyết tranh chấp.
5. Như đã khẳng định nghĩa vụ cung cấp thông tin tiền hợp đồng thương mại
là một đề tài có nội dung phức tạp và phạm vi nghiên cứu rất rộng liên quan đến
nhiều loại hợp đồng thương mại khác nhau, nên trong quá trình nghiên cứu, tác giả
chưa có điều kiện để giải quyết hết được mà mới chỉ giới hạn ở phạm vi đối với một
số hợp đồng thương mại cụ thể như hợp đồng dịch vụ, hợp đồng bảo hiểm, hợp
đồng về nhà ở hình thành trong tương lai.
85
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
I. Văn bản pháp luật, án lệ có liên quan
1. Bộ luật dân sự năm 2005, Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt
Nam ban hành ngày 14/6/2005.
2. Bộ luật dân sự năm 2015, Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt
Nam ban hành ngày 24/11/2015.
3. Bộ luật hàng hải năm 2015, Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt
Nam ban hành ngày 21/11/2015.
4. Công ước Viên ngày 11 tháng 4 năm 1980 về mua bán hàng hóa quốc tế.
5. Luật Thương mại năm 2005, Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt
Nam ban hành ngày 14/6/2005.
6. Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000, Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ
nghĩa Việt Nam ban hành ngày 09/12/2000, sửa đổi bổ sung ngày 24/11/2010.
7. Luật Kinh doanh bất động sản, Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa
Việt Nam ban hành ngày 25/11/2014.
8. Nghị định 37/2015/NĐ - CP ngày 22/4/2015 của Chính phủ quy định chi tiết
về hợp đồng xây dựng.
II. Sách, Luận án, Báo, Tạp chí, Bản án
1. Trần Đình Chi, Chuyển giao quyền yêu cầu trong quan hệ nghĩa vụ dân sự,
Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2011
2. Đỗ Văn Đại, Luật hợp đồng Việt Nam – Bản án và bình luận bản án, tập 1
Nxb chính trị quốc gia – Sự thật 2013.
3. Nguyễn Thị Mơ, Giáo trình Pháp luật thương mại Quốc tế, Đại học Ngoại
thương, 2011.
4. Nguyễn Bình Minh và Hà Công Anh Bảo, Nghĩa vụ cung cấp thông tin trong
giai đoạn tiền hợp đồng – Pháp luật Việt Nam và một số nước trên thế giới,
Tạp chí Kinh tế đối ngoại số 68, 2017.
86
5. Kiều Thị Thùy Linh, Nghĩa vụ tiền hợp đồng trong hợp đồng dịch vụ của
Nguyên tắc Luật Châu Âu (PELSC) và bài học kinh nghiệm trong việc hoàn
thiện quy định pháp luật ở Việt Nam, Kho dữ liệu pháp luật Việt Nam, 2015.
6. Nguyễn Ngọc Khánh, Chế định hợp đồng trong Bộ luật dân sự Việt Nam,
Nxb Tư pháp xuất, 2007.
7. Lê Minh Tâm (chủ biên), Lý luận nhà nước và pháp luật, Nxb. Tư pháp, Hà
Nội, 2007.
8. Từ điển Tiếng Việt, Viện Ngôn ngữ học, Nxb Đà Nẵng, 2006.
9. J. Ghestin, G. Loiseau and Y – M Seriet, Formation du contrat, Tome 1, Nxb.
LGDJ 2013.
10. Resmy Cabrillac, Droit européens du contrat, Nxb. LGDJ, 2012 ;
11. Roger Halson, Contract law, Nxb. PEARSON, 2013 (Ch.Req, 16/1/1861, D.,
1861,1,93; S.,1861,1,306, MASSE, grands arrest du droit international prive’
– những bản án tiêu biểu của tư pháp quốc tế).
12. Lê Trường Sơn, Giai đoạn tiền hợp đồng trong pháp luật Việt Nam, Luận án
tiến sĩ Luật học, Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh, năm 2015.
13. Đoàn Phan Tân, Khái niệm thông tin và các thuộc tính thông tin làm nên giá
trị của thông tin, Tạp chí văn hóa – Nghệ thuật, 2001.
14. Nguyễn Anh Thư, Đề nghị giao kết hợp đồng theo pháp luật Việt Nam, Tạp
chí Nhà nước và pháp luật số 10 (318), 2014.
15. Nguyễn Đình Phong, Nguyễn Thu Hương, Một số bất cập về hợp đồng mua
bán nhà ở hình thành trong tương lai, Tạp chí Tòa án, tháng 3, 2018.
16. Phạm Si Hải Quỳnh, Cơ sở hình thành nghĩa vụ cung cấp thông tin trong
giao kết hợp đồng bảo hiểm, Tạp chí khoa học số 3, 2017;
17. Võ Minh Trí và Trần Phú Quý, Trách nhiệm tiền hợp đồng và việc bảo vệ
quyền của các bên trong tham gia đàm phán, Tạp chí Dân chủ và pháp luật
năm 2018.
87
18. Bản án dân sự phúc thẩm số 162/2011/DS – PT ngày 08/3/2011 của Tòa
phúc thẩm Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh.
19. Bản án dân sự phúc thẩm số 61/2015/DS – PT ngày 15/01/2015 của Tòa án
nhân dân thành phố Hồ Chí Minh.
20. Bản án dân sự phúc thẩm số 313/2016/DS-PT ngày 16-3-2016 của Tòa án
nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về vụ án tranh chấp hợp đồng bảo hiểm.
(Án lệ số 22/2018/AL được Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
thông qua ngày 17 tháng 10 năm 2018 về không vi phạm nghĩa vụ cung cấp
thông tin tình trạng hợp đồng bảo hiểm nhân thọ).
88
PHỤ LỤC TÓM TẮT BẢN ÁN ĐƯỢC TRÍCH DẪN TRONG ĐỀ TÀI
BẢN ÁN SỐ 01
Bản án dân sự phúc thẩm 162/2011/DS – PT ngày 08/3/2011 của Tòa án
nhân dân thành phố Hồ Chí Minh xét xử vụ án tranh chấp hợp đồng bảo hiểm
Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc Thanh
Bị đơn Công ty An Khang.
Nội dung vụ án như sau: Bà Nguyễn Thị Ngọc Thanh có sở hữu một chiếc xe
tải biển số kiểm soát 54Y – 6382. Ngày 29/1/2010 bà có đưa tiền cho ông Nguyễn
để nhờ ông mua bảo hiểm cho xe của bà, trong ngày hôm đó ông Nguyễn đã mua và
đưa cho bà giấy chứng nhận bảo hiểm số 167581 do giám đốc Công ty An Khang
ký, thời gian bảo hiểm là 8 giờ 30 phút ngày 29/1/2010 đến ngày 28/1/2011.
Vào ngày 02/2/2010 xe 54Y - 6382 của bà bị tai nạn tại thành phố CT, qua quá
trình thương lượng với bị hại, nguyên đơn đã thỏa thuận bồi thường với số tiền
50.000.000 đồng, theo quy định thì bị đơn Công ty An Khang phải bồi thường số
tiền này lại cho bà, bà có liên hệ với những người có trách nhiệm để được nhận lại số
tiền này. Ngày 03/6/2010 giám đốc Công ty An Khang ông Nguyễn Văn Thông ký
thông báo số 45/B T -2010 thông báo không bồi thường bảo hiểm tai nạn xe 54Y -
6382 với lý do khi mua bảo hiểm cho xe này là ngày 04/2/2010, ông Nguyễn đã nhờ
người cấp bảo hiểm ghi lùi 06 ngày và Công ty đã đồng ý theo đề nghị này của
ông Nguyễn mà cố ý làm trái quy định của Nhà nước.
Ngày 09/8/2010 bà khởi kiện đến Tòa án nhân dân tỉnh TV yêu cầu Tòa án giải
quyết buộc Công ty An Khang bồi hoàn lại cho bà số tiền 50.000.000 đồng mà bà đã
thỏa thuận bồi thường cho người bị hại vì nguyên đơn cho rằng việc Công ty An
Khang không bồi thường cho bà là có dấu hiệu cố ý làm trái các quy định của Nhà
nước để chiếm đoạt tài sản của nguyên đơn (khoản tiền bồi thường).
Tại công văn số 127/2010/B B ngày 15/12/2010 và biên bản hòa giải ngày
31/12/2010 đại diện bị đơn Công ty An Khang trình bày: Vào ngày 04/2/2010 ông
89
Nguyễn có đến đại lý Q thuộc chi nhánh của bị đơn Công ty An Khang mua bảo
hiểm cho xe 54Y - 6382. Ông Nguyễn yêu cầu đại lý ghi lùi ngày vì ông Nguyễn
cho rằng vào ngày 02/2/2010 xe 54Y - 6382 bị Công an giao thông huyện VL phạt
do đó phải ghi lùi ngày. Chị Loan là chủ đại lý tin lời nên trong giấy chứng nhận
bảo hiểm đã ghi lùi ngày là 29/01/2010. Qua xác minh, đối chiếu với sổ sách xác
định xe 54Y - 6382 gây tai nạn vào ngày 02/2/2010 trước ngày mua bảo hiểm nên
khi nguyên đơn bà Thanh yêu cầu bồi thường bảo hiểm công ty đã giải thích với bà
Thanh về trường hợp tai nạn của xe 54Y - 6382 Công ty An Khang không bồi
thường được. Bà Thanh đã nhất quyết không nghe và có những lời lẽ không tốt đối
với Công ty. Nay bà Thanh khởi kiện đến tòa án yêu cầu Công ty phải bồi thường,
phía Công ty An Khang không đồng ý bồi thường.
Sau khi Tòa án tiến hành lấy lời khai của những người có quyền lợi nghĩa vụ
liên quan là ông Nguyễn và bà Loan đều xác định rằng: Do tin lời bà Thanh cho
rằng chiếc xe 54Y - 6382 bị Công an giao thông huyện VL phạt, hiện đang bị tạm
giữ tại Công an huyện. Do đó, ông Nguyễn đã nói với bà Loan ghi lùi ngày bảo
hiểm cho để tránh việc bị Công an phạt do xe không mua bảo hiểm dân sự. Do là
chỗ quen biết, nên phía bà Loan cũng không kiểm tra kĩ thông tin, mà vẫn ghi lùi
ngày cho chiếc xe. Chỉ sau này khi bà Thanh yêu cầu công ty Bảo hiểm bồi thường,
cả ông Nguyễn và bà Loan mới biết việc bà Thanh lợi dụng lòng tin của mình để
mua bảo hiểm sau khi tai nạn xảy ra. Bản thân ông Nguyễn cũng cho rằng mình
không cố ý lừa dối công ty An Khang mà do ông cũng là bị hại, bà Loan chỉ vì tin
ông cũng đã bị kéo theo vụ việc.
Tại bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 03/2011/KDTM- ST ngày
10/5/2011 của Tòa án nhân dân tỉnh TV đã quyết định:
Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 29, khoản 1 Điều 34, khoản 1 Điều 210, Điều
236, Điều 239 và khoản 1 Điều 245 Bộ lu t tố tụng dân sự; Điều 17, điểm c khoản
1 Điều 22 Luật kinh doanh bảo hiểm;
Pháp lệnh số 10/2009/UBT Q 12 ngày 27/2/2009 của ủy ban thường vụ
Quốc hội về án phí lệ phí Tòa án.
90
Tuyên xử:
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc
Thanh về yêu cầu bị đơn Công ty Bảo hiểm An Khang bồi thường số tiền
50.000.000 đồng. Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về phần án phí, quyền kháng cáo
của các đương sự theo quy định của pháp luật.
Ngày 23/5/2011, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc Thanh có đơn kháng cáo
toàn bộ bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm phía nguyên đơn bà Thanh xuất trình giấy chứng
nhận bảo hiểm số 0167581 do bị đơn Công ty An Khang cấp ghi ngày 29/01/2010.
Nguyên đơn trình bày kháng cáo rằng ngày trên là ngày người của phía bà (ông
Nguyễn) đi mua bảo hiểm. Vì vậy, nguyên đơn yêu cầu tòa buộc bị đơn Công ty
An Khang phải bồi thường theo quy định của hợp đồng bảo hiểm với số tiền 50
triệu đồng.
Phía bị đơn BĐ_Công ty An Khang đã xuất trình các chứng cứ là: giấy nhận
tiền được xác lập là ngày 04/02/2010 có chữ ký của người mua.
Lời khai của người đi mua bảo hiểm (người của phía bà Thanh): ông Nguyễn
khẳng định rằng ngày 04/02/2010 bà Thanh mới nhờ ông đi mua bảo hiểm cho xe
54Y – 6382. Chính ông yêu cầu bên bán bảo hiểm ghi lùi lại 6 ngày ghi ngày
29/01/2010 theo yêu cầu của bà Thanh. Phía chi nhánh bán bảo hiểm đã không
cương quyết kiểm tra xe trước khi giao chứng nhận bảo hiểm.
Các chứng cứ trên có đủ căn cứ để khẳng định phía người mua bảo hiểm đã có
thủ đoạn gian dối lợi dụng quen biết tình cảm để mua bảo hiểm sau khi tai nạn đã
xảy ra và cố tình giấu xe không đưa cho bảo hiểm kiểm tra xe theo quy định. Do đó,
kháng cáo của nguyên đơn yêu cầu bị đơn bồi thường theo hợp đồng bảo hiểm là
không thể chấp nhận được. Vì vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm đã bác kháng
cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc Thanh, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
91
BẢN ÁN SỐ 02
Bản án dân sự phúc thẩm số 61/2015/DS – PT ngày 15/01/2015 của Tòa
phúc thẩm Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh xét xử vụ án tranh chấp
hợp đồng bảo hiểm
Nguyên đơn bà Trịnh Thúy Hằng
Bị đơn Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ ABC Việt Nam.
Nội dung vụ án như sau: Ông Trịnh Văn Côn có mua 02 hợp đồng bảo hiểm
nhân thọ có kỳ hạn với BĐ_Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ ABC Việt Nam
(sau đây gọi tắt là BĐ_Công ty ABC Việt Nam), hợp đồng ngày 28/10/2011 có
mệnh giá bảo hiểm là 200.000.000 đồng và hợp đồng ngày 29/12/2011 có mệnh
giá bảo hiểm là 300.000.000 đồng. Theo hai hợp đồng này thì người mua bảo hiểm
là ông Côn và người thụ hưởng quyền lợi bảo hiểm là bà NĐ_Trịnh Thúy Hằng.
Ông Côn đã đóng phí bảo hiểm đầy đủ cụ thể như sau:
Đối với hợp đồng ngày 28/10/2011 mệnh giá bảo hiểm 200.000.000 đồng thì
ông Côn đã đóng phí đầy đủ theo quy định kể từ ngày 19/9/2012 trở về trước, được
04 kỳ, mỗi kỳ 03 tháng là: 954.800 đồng, tổng cộng cả 04 kỳ là: 3.819.200 đồng.
Đối với hợp đồng ngày 29/12/2011 mệnh giá bảo hiểm 300.000.000 đồng thì
ông Côn đã đóng phí đầy đủ theo quy định kể từ ngày 19/9/2012 trở về trước, được
04 kỳ, mỗi kỳ 03 tháng là: 1.074.000 đồng, tổng cộng cả 04 kỳ là: 4.296.000 đồng.
Sau khi mua 02 hợp đồng bảo hiểm nêu trên được khoản 01 (một) năm thì
ông Trịnh Văn Côn chết (chết ngày 19/9/2012), do đó bà đã liên hệ với BĐ_Công
ty ABC Việt Nam để được thụ hưởng quyền lợi bảo hiểm.
Nay bà Hằng yêu cầu bị đơn Công ty ABC Việt Nam phải có trách nhiệm chi
trả quyền lợi bảo hiểm cho bà đối với hợp đồng ngày 28/10/2011 là: 200.000.000
đồng và đối với hợp đồng ngày 29/12/2011 là: 300.000.000 đồng, tổng cộng là
500.000.000 đồng (năm trăm triệu đồng) ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.
Bị đơn_Công ty ABC Việt Nam cho rằng giữa bị đơn và ông Trịnh Văn Côn
có ký kết 02 hợp đồng bảo hiểm nhân thọ và ông Côn đã đóng phí bảo hiểm như
92
lời trình bày nêu trên của nguyên đơn. Ngày 19/9/2012 ông Côn đột tử, bà_Hằng
đã yêu cầu bị đơn_Công ty ABC Việt Nam chi trả quyền lời bảo hiểm, nhưng sau
khi nghiên cứu hồ sơ thì BĐ Công ty ABC Việt Nam có ý kiến như sau:
- Trong hồ sơ yêu cầu bảo hiểm nhân thọ đối với hợp đồng ngày 28/10/2011
với trị giá là: 200.000.000 đồng, thì tại câu hỏi: số 4 điểm i phía công ty bảo hiểm
đã hỏi người mua bảo hiểm như sau: “bạn đã bao giờ … bị nuốt khó, nuốt nghẹn
hoặc khó phát âm không? Có bị đổi giọng không?”, thì ông Côn đã khai để đánh
dấu X vào ô “không”.
- Trong hồ sơ yêu cầu bảo hiểm nhân thọ đối với hợp đồng ngày 29/12/2011
với trị giá là: 300.000.000 đồng, thì tại câu hỏi: số 4 điểm i phía công ty bảo hiểm
đã hỏi người mua bảo hiểm như sau: “bạn đã bao giờ … bị nuốt khó, nuốt nghẹn
hoặc khó phát âm không? Có bị đổi giọng không?”, thì ông Côn đã khai để đánh
dấu X vào ô “không” và tại câu hỏi: số 5 đã hỏi “Trong vòng 6 tháng vừa qua, bạn
đã phải điều trị bởi một bác sĩ không?”, thì ông Côn đã khai để dấu X vào ô
“không”.
Theo tóm tắt bệnh án của Bệnh viện Đa Khoa Bưu Điện đã xác định ông Côn
đã nhập viện vào lúc 21 giờ ngày 28/10/2011 và xuất viện ngày 04/11/2011 với
bệnh sử là: Bệnh nhân than nuốt nghẹn 02 (hai) tháng trước, có được điều trị viêm
dạ dày. Như vậy, ông Côn đã khai thông tin trong hồ sơ yêu cầu bảo hiểm nhân thọ
không trung thực, nên căn cứ vào Điều 19, Điều 22 Luật Kinh doanh bảo hiểm;
Điều 573 Bộ Luật dân sự năm 2005 thì công ty bảo hiểm không có cơ sở chi trả
quyền lợi bảo hiểm cho bà_Hằng.
Bản án số 57/2014/DS-ST ngày 22/9/2014 của Tòa án nhân dân Quận X,
Thành phố đã quyết định.
Xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn như sau:
- Buộc BĐ_Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ ABC Việt Nam có trách
nhiệm trả cho bà NĐ_Trịnh Thúy Hằng tiền bảo hiểm là: 200.000.000 đồng (Hai
trăm triệu đồng) phát sinh từ Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ ngày 28/10/2011 được
93
ký giữa BĐ_Công ty ABC Việt Nam với ông Côn, ngay sau khi án có hiệu lực
pháp luật.
- BĐ_Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ ABC Việt Nam có trách nhiệm trả
lại cho bà NĐ_Trịnh Thúy Hằng số tiền phí bảo hiểm đã đóng là: 4.296.000 đồng
(Bốn triệu hai trăm chín mươi sáu nghìn đồng) đối với Hợp đồng bảo hiểm nhân
thọ ngày 29/12/2011 ký giữa BĐ_Công ty ABC Việt Nam với ông Côn, ngay sau
khi án có hiệu lực pháp luật.
- Tổng cộng 02 (hai) khoản trên là: 204.296.000 đồng (Hai trăm linh bốn
triệu hai trăm chín mươi sáu nghìn đồng).
- Kể từ ngày bà NĐ_Trịnh Thúy Hằng có đơn có đơn yêu cầu thi
hành án, nếu BĐ_Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ ABC Việt Nam không
thanh toán tiền như quyết định ở trên thì hàng tháng BĐ_Công ty TNHH Bảo hiểm
Nhân thọ ABC Việt Nam còn phải chịu thêm tiền lãi theo mức lãi suất cơ bản do
Ngân hàng Nhà nước quy định tương ứng với số tiền và thời gian chậm trả tại thời
điểm thanh toán. Đồng thời bản án còn quyết định về mức án phí sơ thẩm và quyền
kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.
Ngày 29/9/2014, bị đơn Công ty TNHH Bảo hiểm nhân thọ ACB Việt Nam
đã nộp đơn kháng cáo một phần bản án dân sự sơ thẩm với nội dung: Bác yêu cầu
của nguyên đơn về việc đòi số tiền bảo hiểm 200.000.000đ (hai trăm triệu đồng)
phát sinh từ hợp đồng bảo hiểm số 72647656 ngày 28/10/2011 và không phải chịu
án phí dân sự sơ thẩm là 10.214.800đ (mười triệu hai trăm mười bốn nghìn tám
trăm đồng).
Ngày 06/10/2014, nguyên đơn kháng cáo với nội dung buộc bị đơn phải chi
trả thêm quyền lợi cho hợp đồng bảo hiểm ngày 29/12/2011 là 300.000.000đ (ba
trăm triệu đồng).
Ngày 03/10/2014, Viện kiểm sát nhân dân quận X, thành phố Hồ Chí Minh
ban hành Quyết định kháng nghị số 02/QĐKN – VKS – DS đề nghị Tòa án nhân
dân thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm sửa một phần bản án sơ thẩm theo
hướng không buộc bị đơn Công ty TNHH Bảo hiểm nhân thọ ABC Việt Nam phải
94
trả cho bị đơn bà Trịnh Thúy Hằng số tiền bảo hiểm 200.000.000đ (hai trăm triệu
đồng) phát sinh từ hợp đồng ngày 28/10/2011.
Tại bản án dân sự phúc thẩm, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Xét kháng cáo của Nguyên đơn bà NĐ_Trịnh Thúy Hằng đề nghị Tòa án cấp
phúc thẩm xem xét buộc BĐ_Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ ABC Việt
Nam phải chi trả quyền lợi bảo hiểm cho hợp đồng ngày 29/12/2011 số tiền
300.000.000 (Ba trăm triệu) đồng.
Tại câu hỏi số 5, trang 4/6 của hợp đồng bảo hiểm ngày 29/12/2011 đối với
câu hỏi: “Trong vòng 6 tháng vừa qua, bạn có phải điều trị bởi một bác sĩ nào
không?” ông Côn đã đánh dấu X vào ô “Không”, và phía cuối trang này có chữ ký
xác nhận của ông Côn, nên có cơ sở xác định ông Côn đã khai như trên.
Căn cứ Bản tóm tắt bệnh án của Bệnh viện đa khoa Bưu điện thì ông Trịnh
Văn Côn đã nhập viện lúc 21 giờ 16 phút ngày 28/10/2011 và xuất viện ngày
04/11/2011 với lý do là “nuốt nghẹn”, bệnh sử là “Bệnh nhân than nuốt nghẹn…”.
Do đó, có cơ sở xác định ông Trịnh Văn Côn đã khai không trung thực đối với
câu hỏi số 5 Hợp đồng bảo hiểm ngày 29/12/2011.
Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn yêu cầu
BĐ_Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ ABC Việt Nam phải chi trả quyền lợi bảo
hiểm cho hợp đồng ngày 29/12/2011 số tiền 300.000.000 (Ba trăm triệu) đồng là có
cơ sở, đúng pháp luật.
- Xét kháng cáo của Bị đơn BĐ_Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ ABC
Việt Nam đề nghị bác yêu cầu của nguyên đơn đòi số tiền bảo hiểm 200.000.000
(Hai trăm triệu) đồng phát sinh từ hợp đồng bảo hiểm ngày 28/10/2011, Hội đồng
xét xử nhận thấy:
Tại câu hỏi số 4, Điểm i, trang 3/6 Hợp đồng bảo hiểm ngày 28/10/2011, câu
hỏi: “Bạn có bao giờ bị nuốt khó, nuốt nghẹn hoặc khó phát âm không? Có bị đổi
giọng không?” ông Côn đã đánh dấu X vào ô “Không”. Tuy nhiên phía dưới trang
này không có chữ ký xác nhận của ông Côn, về nguyên tắc khi ký hợp đồng, giao
95
dịch nếu các bên đồng ý toàn bộ nội dung thì ký vào từng trang của hợp đồng, giao
dịch (Điều 35, Điều 36 Luật Công chứng năm 2006), nên không có cơ sở xác định
ông Côn đã khai như trên. Từ đó không có cơ sở xác định ông Côn đã khai không
trung thực để không chi trả quyền lợi bảo hiểm.
Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu này của nguyên đơn là có cơ sở,
đúng pháp luật.
- Kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân Quận X, Thành phố HCM đề nghị
Tòa án nhân dân Thành phố HCM sửa một phần bản án sơ thẩm theo hướng không
buộc BĐ_Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ ABC Việt Nam phải trả cho bà
NĐ_Trịnh Thúy Hằng số tiền bảo hiểm 200.000.000 đồng phát sinh từ hợp đồng
ngày 28/10/2011 không có cơ sở để chấp nhận.
Đối với phần án phí dân sự theo quy định pháp luật.
96
BẢN ÁN SỐ 03
Bản án dân sự phúc thẩm số 313/2016/DS-PT ngày 16-3-2016 của Tòa án
nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về vụ án tranh chấp hợp đồng bảo hiểm Nguyên đơn ông Đặng Văn L (người đại diện theo ủy quyền của ông Đặng
Văn L là ông Trần Xuân H).
Bị đơn Công ty TNHH bảo hiểm nhân thọ C (người đại diện theo ủy quyền là
ông Hoàng P, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp là ông Đinh Quang T, ông
Trần Ngọc T).
Nội dung vụ án như sau:
*Tại đơn khởi kiện ngày 10-11-2010, ngày 08-12-2010 ông Đặng Văn L là nguyên
đơn yêu cầu: Buộc Công ty TNHH Bảo hiểm nhân thọ C (sau đây gọi là Công ty C)
phải trả cho ông 405.000.000 đồng và số tiền lãi phát sinh cho đến thời điểm bản án
có hiệu lực là tiền mà Công ty C phải bồi thường cho hai hợp đồng bảo hiểm do vợ
ông đã mua mang ký hiệu như sau:
- Hợp đồng S11000009505 mua ngày 14-10-2008 số tiền đền bù là 265.000.000
đồng.
- Hợp đồng S11000040924 mua ngày 25-03-2009 số tiền đền bù là 190.000.000
đồng.
Công ty đã trả trước cho ông 50.000.000 đồng.
Tại đơn bổ sung, thay đổi yêu cầu khởi kiện ngày 30-05-2011 ông Đặng Văn L yêu
cầu: Buộc Công ty C phải trả cho ông số tiền 470.000.000 đồng và số tiền lãi phát
sinh đến thời điểm bản án có hiệu lực pháp luật. Số tiền lãi tạm tính đến thời điểm
hiện nay là 43.000.000 đồng.
- Hợp đồng S11000009505 mua ngày 14-10-2008 số tiền đền bù là 287.000.000
đồng.
- Hợp đồng S11000040924 mua ngày 25-03-2009 số tiền đền bù là 190.000.000
đồng.
97
Tại đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện ngày 22-06-2011 ông Đặng Văn L thay đổi yêu
cầu khởi kiện như sau: Buộc Công ty C phải chi trả tổng số tiền là 203.772.500
đồng cho 02 hợp đồng bảo hiểm số S11000009505, S11000040924 và tiếp tục thực
hiện hợp đồng S11000009505 mua ngày 14-10-2008; trả hai hợp đồng bản gốc số
S11000009505; S11000040924 cụ thể:
Hợp đồng Thịnh Trí Thành Tài Bảo Gia đến thời điểm này công ty phải chi
trả quyền lợi bảo hiểm khi tử vong (Điều 4.1.2) 50% số tiền bảo hiểm 35.000.000
đồng.
Quyền lợi hỗ trợ tiền mặt hàng năm (Điều 4.4) 10% số tiền bảo hiểm
7.000.000 đồng.
Đồng thời tiếp tục thực hiện hợp đồng bảo hiểm số S11000009505 chi trả quyền lợi
khi đến thời điểm ghi trong hợp đồng.
- Hợp đồng tử kỳ có hoàn phí.
Quyền lợi bảo hiểm khi tử vong (Điều 4.1): 190.000.000 đồng (Công ty C đã
thanh toán 50.000.000 đồng). Lãi tạm tính cho đến thời điểm này là số tiền lãi do
công ty chậm thanh toán là: 21.772.500 đồng.
Tại đơn bổ sung yêu cầu khởi kiện ngày 18-04-2015 ông Đặng Văn L yêu cầu: Buộc
Công ty C phải trả cho ông số tiền là 405.000.000 đồng và số tiền lãi phát sinh cho
đến thời điểm bản án có hiệu lực pháp luật. Buộc Công ty C phải trả 02 hợp đồng
bảo hiểm gốc số S11000009505 và S11000040924 mà công ty đã thu giữ từ phía
gia đình ông.
Tại văn bản phản hồi số 008/2011/CV ngày 28-01-2011 bị đơn là Công ty C trình
bày: Khách hàng Trương Thị H trước khi giao kết hai hợp đồng bảo hiểm đã có tiền
sử đau dạ dày và mỡ máu tăng nhưng đã không khai báo trong bảng câu hỏi trong
đơn yêu cầu bảo hiểm. Nếu biết được khách hàng Trương Thị H bị đau dạ dày và
mỡ máu tăng Công ty C sẽ từ chối giao kết hợp đồng bảo hiểm. Do vậy Công ty C
từ chối chi trả quyền lợi bảo hiểm và quyết định hủy bỏ hai hợp đồng bảo hiểm của
bà H là có căn cứ (theo Điều 11.2 Quy tắc và điều khoản của hợp đồng) và đúng
quy định của pháp luật (theo Điều 19 Luật Kinh doanh bảo hiểm).
98
Công ty C đề nghị Tòa án nhân dân Quận 1 bác yêu cầu khởi kiện của ông L.
Tại văn bản phản hồi số 024/2011/CV ngày 16-05-2011; Bị đơn là công ty C trình bày:
1. Đối với yêu cầu công ty C trả số tiền 405.000.000 đồng và tiền lãi phát sinh của
hai hợp đồng bảo hiểm số S11000009505 và S11000040924 Công ty C vẫn giữ
nguyên quan điểm. Công ty đã thanh toán tất cả nghĩa vụ của mình được quy định
trong hai hợp đồng bảo hiểm nêu trên. Đồng thời yêu cầu của ông Đặng Văn L là
không có cơ sở theo quy định trong Quy tắc và điều, khoản của hợp đồng bảo hiểm
và không có căn cứ pháp luật. Do vậy, Công ty C đề nghị Tòa án bác bỏ yêu cầu
của ông L.
2. Đối với yêu cầu Công ty C hoàn trả hai (02) bản hợp đồng bảo hiểm gốc số
S11000009505 và S11000040924 Công ty C đồng ý trả lại 02 bản gốc hợp đồng
bảo hiểm cho ông L.
Tòa án xử:
1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
- Buộc công ty TNHH Bảo hiểm nhân thọ C phải chịu trách nhiệm chi trả cho ông
Đặng Văn L số tiền bảo hiểm là 300.875.342 đồng (Ba trăm triệu tám trăm bảy
mươi lăm ngàn ba trăm bốn mươi hai đồng).
- Công ty TNHH Bảo hiểm nhân thọ C phải giao trả cho ông Đặng Văn L hai hợp
đồng bảo hiểm Thịnh Trí Thành Tài Bảo Gia ngày 14-10-2008, hợp đồng bảo hiểm
Tử kỳ có hoàn phí ngày 25-03-2009.
- Hợp đồng bảo hiểm số S11000009505 ngày 14-10-2008 (Thịnh Trí Thành Tài Bảo
Gia) vẫn tiếp tục thực hiện và được giải quyết quyền lợi đáo hạn khi cháu Đặng
Linh N đủ 22 tuổi và còn sống vào ngày đáo hạn.
Ngày 09-9-2015, bị đơn - Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ C (sau đây gọi
tắt là công ty C) có đơn kháng cáo, kháng cáo toàn bộ nội dung bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Nguyên đơn không rút yêu cầu khởi kiện, người
kháng cáo không rút yêu cầu kháng cáo. Các bên đương sự không thỏa thuận được
với nhau về việc giải quyết vụ án.
99
Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Tại câu hỏi số 54 Đơn yêu cầu bảo hiểm ngày 25-3-2009, câu hỏi: “loét
đường tiêu hóa, xuất huyết tiêu hóa, viêm tụy, viêm kiết tràng, khó tiêu thường
xuyên, khó nuốt, hoặc rối loạn tại dạ dày, ruột gan hoặc túi mật” bà H đánh dấu vào
ô không. Tại biên bản hội chẩn số 42/BV-99 của Bệnh viện B ngày 03-9-2009 bà H
khai có tiền sử đau dạ dày 2 năm. Căn cứ theo Biên bản hội chẩn thì bà H có bệnh
đau dạ dày từ ngày 03-9-2007 là trước thời điểm bà H ký Hợp đồng bảo hiểm. Phía
Công ty C cho rằng cụm từ rối loạn tại dạ dày bao gồm tất cả các bệnh liên quan
đến dạ dày trong đó có bệnh đau dạ dày. Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm, phía bị
đơn không đưa ra được bất kỳ chứng cứ nào để chứng minh, không đưa ra được một
giải thích khoa học nào xác định đau dạ dày chính là rối loạn tại dạ dày.
- Tại khoản 2 Điều 407 Bộ luật Dân sự năm 2005: “Trong trường hợp hợp
đồng dân sự theo mẫu có điều khoản không rõ ràng thì bên đưa ra hợp đồng theo
mẫu phải chịu bất lợi khi giải thích điều khoản đó”;
- Tại khoản 4 Điều 409 Bộ luật Dân sự năm 2005: “Khi hợp đồng có điều
khoản hoặc ngôn từ khó hiểu thì phải được giải thích theo tập quán tại địa điểm giao
kết hợp đồng”;
- Tại Điều 21 Luật Kinh doanh bảo hiểm: “Trong trường hợp hợp đồng bảo
hiểm có điều khoản không rõ ràng thì điều khoản đó được giải thích theo hướng có
lợi cho người mua bảo hiểm”.
- Căn cứ theo các quy định pháp luật nêu trên thì trong trường hợp các bên
có sự giải thích khác nhau không rõ ràng khó hiểu thì Điều khoản này phải được
giải thích theo hướng có lợi cho bà H. Như vậy, không đủ cơ sở xác định đau dạ dày
được bao gồm trong rối loạn tại dạ dày như Công ty C trình bày.
- Xét thấy, tại đơn yêu cầu bảo hiểm không có câu hỏi về bệnh đau dạ dày.
Như vậy, phía Công ty C cho rằng bà H bị bệnh đau dạ dày mà không khai báo là cố
tình khai báo không trung thực và vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin là không có
căn cứ.
100
- Tại câu hỏi 61 của Đơn yêu cầu bảo hiểm ngày 25-3-2009: “Trong vòng 5
năm trở lại đây, ông, bà đã có làm xét nghiệm chẩn đoán như X-quang, siêu âm,
điện tim đồ, thử máu, sinh thiết? Hoặc ốm đau, bệnh tật khám y khoa, điều trị tại
bệnh viện nhưng chưa được nêu ở phần trên không?” bà H đánh dấu vào ô không.
Tại phiên tòa phúc thẩm, phía Công ty C cung cấp Phiếu xét nghiệm hóa sinh máu
đề ngày 22-9-2008 mang tên người bệnh là Trương Thị H. Phía Công ty C xác định
đây là tài liệu do Công ty C thu thập trong hồ sơ kiểm tra sức khỏe định kỳ cho
nhân viên của Trường Mầm non C nơi trước đây bà H công tác. Công ty C cho rằng
vào ngày 22-9-2008, bà H có làm xét nghiệm máu nhưng không khai báo tại câu hỏi
số 61, đơn yêu cầu bảo hiểm là bà H cố tình khai báo không trung thực. Xét thấy,
việc kiểm tra sức khỏe định kỳ được các cơ quan, tổ chức thực hiện một cách
thường xuyên và định kỳ. Khi tham gia kiểm tra sức khỏe định kỳ, người được
khám không biết và không buộc phải biết tổ chức khám chữa bệnh đã tiến hành các
biện pháp, phương pháp gì. Hơn nữa, khi kiểm tra sức khỏe định kỳ bà H không
phát hiện dấu hiệu của một căn bệnh nào dẫn đến việc Công ty C từ chối ký kết hợp
đồng với bà H. Do đó, không đủ cơ sở xác định bà H cảm thấy cơ thể bất thường
mới tiến hành đi xét nghiệm máu sau đó mua bảo hiểm của Công ty C.
- Như vậy, chưa đủ cơ sở xác định bà H có gian dối khi ký hợp đồng bảo
hiểm, không có cơ sở xác định việc bà H đánh dấu vào ô không của mục 54 và 61
tại Đơn yêu cầu bảo hiểm làm ảnh hưởng trực tiếp đến việc Công ty C có xem xét
để ký hợp đồng bảo hiểm với bà H hay không.
- Hơn nữa, theo quy tắc và điều khoản của sản phẩm bảo hiểm tử kỳ có hoàn
phí và sản phẩm Thịnh Trí Thành Tài Bảo Gia của Công ty C có nội dung: “Điều
11.2. Nếu bất cứ thông tin nào bên mua bảo hiểm hoặc người được bảo hiểm cung
cấp cố ý che giấu hoặc khai báo sai sự thật làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyết
định đánh giá chấp nhận bảo hiểm thì công ty có thể hủy bỏ hợp đồng và hợp đồng
không có hiệu lực ngay từ đầu”. Cụm từ “ảnh hưởng nghiêm trọng” ở Điều 11.2 nêu
trên, tại phiên tòa hôm nay bên phía Công ty C đã không có giải thích rõ ràng ý
nghĩa ảnh hưởng như thế nào là nghiêm trọng đồng thời trình bày của phía bị đơn
về việc bán bảo hiểm cũng không thống nhất khi quyết định chấp nhận hay không
101
chấp nhận bảo hiểm đối với trường hợp người mua bảo hiểm tử kỳ có tiền sử bệnh
đau dạ dày và mỡ máu tăng. Tại văn bản phản hồi số 008 ngày 28-01-2011 Công ty
C cho rằng: “Nếu biết được khách hàng Trương Thị H bị đau dạ dày và mỡ máu
tăng, Công ty C sẽ từ chối giao kết hợp đồng bảo hiểm”. Tại phiên tòa sơ thẩm và
phúc thẩm, đại diện của Công ty C và luật sư bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của
Công ty C lại cho rằng nếu biết bà H bị đau dạ dày và mỡ máu tăng thì công ty C sẽ
cân nhắc có ký hợp đồng hay không. Điều này cho thấy công ty C đã không có một
tiêu chí cụ thể để giải quyết trường hợp như trên. Do đó, cụm từ “ảnh hưởng
nghiêm trọng” phải được hiểu theo nghĩa bệnh dẫn đến từ chối không được mua bảo
hiểm chứ không thể chấp nhận theo nghĩa có thể bán hoặc không bán bảo hiểm như
lời trình bày của Công ty C, điều khoản này cũng tạo ra sự không rõ ràng, nên căn
cứ khoản 2 Điều 407 Bộ luật Dân sự quy định: “Trong trường hợp hợp đồng theo
mẫu có điều khoản không rõ ràng thì bên đưa ra hợp đồng theo mẫu phải chịu bất
lợi khi giải thích điều khoản đó” và Điều 21 Luật Kinh doanh bảo hiểm quy định:
“Trong trường hợp hợp đồng bảo hiểm có điều khoản không rõ ràng thì điều khoản
đó được giải thích theo hướng có lợi cho bên mua bảo hiểm” nên phải hiểu và giải
thích điều khoản này theo hướng có lợi cho bà H.
Từ các nhận định trên có cơ sở xác định Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu
cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở, đúng pháp luật. Do đó, không có căn cứ
chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Công ty C, giữ nguyên bản án sơ thẩm.