LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập, của riêng tôi. Các kết luận,

số liệu được sử dụng trong Luận văn Thạc sỹ này là trung thực, đảm bảo độ tin cậy.

Nội dung nghiên cứu của Luận văn Thạc sỹ chưa từng được đăng tải, công bố tại

bất kì đâu.

Tác giả Luận văn Thạc sỹ

i

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN ...................................................................................................... i

MỤC LỤC ................................................................................................................. ii

DANH MỤC KÍ HIỆU VÀ CÁC CHỮ VIẾT TẮT ............................................. iv

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SỸ ....................................................................... vi

PHẦN MỞ ĐẦU ........................................................................................................ 1

CHƯƠNG I- NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN HOÀN CẢNH THAY ĐỔI CƠ BẢN ................................................................................................ 7

1.1. Sự ra đời của điều khoản hoàn cảnh thay đổi cơ bản theo Bộ luật Dân sự Việt Nam 2015, CISG và PICC ............................................................................ 8 1.1.1. Quá trình soạn thảo Điều 420 về thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản ............................................................................................................. 8 1.1.2. Sự ra đời của Hardship theo PICC ........................................................... 13 1.1.3. Sự ra đời của hoàn cảnh thay đổi cơ bản theo Công ước CISG ............... 15

1.2. Khái niệm Hoàn cảnh thay đổi cơ bản theo CISG, PICC và Bộ luật Dân sự Việt Nam 2015 ................................................................................................. 17 1.2.1. Khái niệm hoàn cảnh thay đổi cơ bản theo CISG .................................... 17 1.2.2. Khái niệm hoàn cảnh thay đổi cơ bản theo PICC .................................... 18 1.2.3. Khái niệm hoàn cảnh thay đổi cơ bản theo Bộ luật Dân sự Việt Nam 2015 ............................................................................................................................ 21

1.3. So sánh Bất khả kháng và Hoàn cảnh thay đổi cơ bản ............................. 22

CHƯƠNG II – ĐIỀU KIỆN XÁC LẬP HOÀN CẢNH THAY ĐỔI CƠ BẢN THEO BỘ LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM VÀ SO SÁNH VỚI CISG VÀ PICC . 28

2.1. Sự thay đổi hoàn cảnh do nguyên nhân khách quan xảy ra sau khi giao kết hợp đồng ......................................................................................................... 28

2.2. Tại thời điểm giao kết hợp đồng, các bên không thể lường trước được về sự thay đổi hoàn cảnh .......................................................................................... 29

2.3. Hoàn cảnh thay đổi lớn đến mức nếu như các bên biết trước thì hợp đồng đã không được giao kết hoặc được giao kết nhưng với nội dung hoàn toàn khác ............................................................................................................... 30

2.4. Việc tiếp tục thực hiện hợp đồng mà không có sự thay đổi nội dung hợp đồng sẽ gây thiệt hại nghiêm trọng cho một bên .............................................. 31

ii

2.5. Bên có lợi ích bị ảnh hưởng đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết trong khả năng cho phép, phù hợp với tính chất của hợp đồng mà không thể ngăn chặn, giảm thiểu mức độ ảnh hưởng đến lợi ích ............................................... 33

CHƯƠNG III –QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA CÁC BÊN TRONG TRƯỜNG HỢP HOÀN CẢNH THAY ĐỔI CƠ BẢN VÀ NHỮNG BẤT CẬP TRONG QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM 2015 ................................... 40

3.1. Quyền yêu cầu đàm phán lại hợp đồng của các bên trong hợp đồng ...... 40 3.1.1. Luật không đặt ra nghĩa vụ phải đàm phán .............................................. 42 3.1.2. Chủ thể trong đàm phán ........................................................................... 42 3.1.3. Nghĩa vụ chứng minh ............................................................................... 45 3.1.4. Khái niệm “thời hạn hợp lý” .................................................................... 46

3.2. Quyền yêu cầu Tòa án chấm dứt hoặc sửa đổi hợp đồng ......................... 47 3.2.1. Thẩm quyền của Tòa án bị bó hẹp ........................................................... 48 3.2.2. Việc xác định “chi phí để thực hiện hợp đồng” ....................................... 49

3.3. Nghĩa vụ của các bên vẫn phải tiếp tục thực hiện hợp đồng trong quá trình đàm phán sửa đổi, chấm dứt hợp đồng, Tòa án giải quyết .................... 50

3.4. Đánh giá thực trạng ...................................................................................... 52 3.4.1. Những điểm tích cực ................................................................................ 52 3.4.2. Hạn chế ..................................................................................................... 53 3.4.3. Nguyên nhân ............................................................................................. 54

CHƯƠNG IV- GIẢI PHÁP VỀ GIẢI THÍCH VÀ ÁP DỤNG QUY ĐỊNH VỀ THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG KHI HOÀN CẢNH THAY ĐỔI CƠ BẢN TẠI VIỆT NAM .............................................................................................................. 56

4.1- Định hướng nhằm giải thích và áp dụng quy định về thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản ............................................................................ 56

4.2. Các giải pháp ................................................................................................. 56 4.2.1. Giải pháp giải thích Điều 420 BLDS 2015 .............................................. 57 4.2.2. Đề xuất bổ sung cơ chế Trọng tài áp dụng Điều 420 ............................... 63 4.2.3. Đề xuất về việc soạn thảo điều khoản Hoàn cảnh thay đổi cơ bản trong hợp đồng ............................................................................................................. 66

4.3. Kiến nghị ........................................................................................................ 68

KẾT LUẬN .............................................................................................................. 71

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................... 73

PHỤ LỤC ................................................................................................................. 79

iii

DANH MỤC KÍ HIỆU VÀ CÁC CHỮ VIẾT TẮT

UBND Ủy ban Nhân dân

BLDS Bộ luật Dân sự

ULIS Luật thống nhất về bán hàng hóa quốc

tế

CISG Công ước của Liên Hợp Quốc về hợp

đồng mua bán hàng hóa quốc tế

PICC Bộ nguyên tắc UNIDROIT về hợp

đồng thương mại quốc tế

PECL Bộ nguyên tắc Châu Âu về hợp đồng

UNCITRAL Ủy ban của Liên Hợp Quốc về Luật

thương mại quốc tế

UNIDROIT Viện Thống nhất Tư pháp quốc tế

WTO Tổ chức Thương mại Thế giới

VIAC Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam

ICSID Trung tâm giải quyết tranh chấp đầu tư

quốc tế

ICC Phòng Thương mại Quốc tế

Hardship Hoàn cảnh thay đổi cơ bản

GS. Giáo sư

iv

PGS. Phó Giáo sư

TS. Tiến sĩ

NXB. Nhà xuất bản

v. với

v

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SỸ

Đề tài của Luận văn Thạc sỹ có tên là “Thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay

đổi cơ bản theo Bộ luật Dân sự Việt Nam 2015, CISG và Bộ nguyên tắc UNIDROIT

về hợp đồng thương mại quốc tế”.

Luận văn gồm 04 chương. Chương I “Những vấn đề lý luận liên quan đến hoàn

cảnh thay đổi cơ bản”. Chương I gồm ba phần. Phần 1.1 sẽ nêu Sự ra đời của điều

khoản hoàn cảnh thay đổi cơ bản theo BLDS Việt Nam 2015, CISG và PICC (bao

gồm quá trình soạn thảo Điều 420 về thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ

bản, sự ra đời của Hardship theo PICC và sự ra đời của hoàn cảnh thay đổi cơ bản

theo Công ước CISG). Phần 1.2 giới thiệu khái niệm hoàn cảnh thay đởi cơ bản theo

CISG, PICC và BLDS Việt Nam 2015. Phần 1.3 sẽ so sánh điểm giống và khác nhau

giữa trường hợp bất khả kháng và hoàn cảnh thay đổi cơ bản.

Chương II của Luận văn Thạc sỹ “Điều kiện xác lập Hoàn cảnh thay đổi cơ bản

theo BLDS Việt Nam và so sánh với CISG và PICC”, người viết trước hết sẽ phân

tích các điều kiện xác lập Hoàn cảnh thay đổi cơ bản theo 05 điều kiện: (1) Sự thay

đổi hoàn cảnh do nguyên nhân khách quan xảy ra sau khi giao kết hợp đồng; (2) Tại

thời điểm giao kết hợp đồng, các bên không thể lường trước được về sự thay đổi hoàn

cảnh; (3) Hoàn cảnh thay đổi lớn đến mức nếu như các bên biết trước thì hợp đồng

đã không được giao kết hoặc được giao kết nhưng với nội dung hoàn toàn khác; (4)

Việc tiếp tục thực hiện hợp đồng mà không có sự thay đổi nội dung hợp đồng sẽ gây

thiệt hại nghiêm trọng cho một bên; (5) Bên có lợi ích bị ảnh hưởng đã áp dụng mọi

biện pháp cần thiết trong khả năng cho phép, phù hợp với tính chất của hợp đồng mà

không thể ngăn chặn, giảm thiểu mức độ ảnh hưởng đến lợi ích (ứng với từng mục).

Người viết so sánh từng điều kiện để xác lập hoàn cảnh thay đổi cơ bản theo BLDS

Việt Nam 2015 với những điều kiện theo PICC và CISG. Sau đó, người viết dẫn các

ví dụ minh họa để phân tích các điều kiện này.

Ở chương III “Quyền và nghĩa vụ của các bên trong trường hợp Hoàn cảnh thay

đổi cơ bản và những bất cập trong quy định của BLDS Việt Nam 2015”, người viết

sẽ nêu các quyền và nghĩa vụ về đàm phán lại hợp đồng, quyền yêu cầu Tòa án chấm

vi

dứt hay sửa đổi hợp đồng và nghĩa vụ tiếp tục thực hiện hợp đồng và phân tích những

bất cập trong những quy định này.

Chương IV – chương cuối cùng của Luận văn Thạc sỹ “Giải pháp, đề xuất về giải

thích và áp dụng quy định về thực hiện hợp đồng khi Hoàn cảnh thay đổi cơ bản tại

Việt Nam”, người viết sẽ đề xuất giải pháp giải thích một số thuật ngữ trong điều

khoản Hoàn cảnh thay đổi cơ bản (phần 4.1). Phần 4.2 sẽ nêu đề xuất bổ sung cơ chế

Trọng tài áp dụng Điều 420. Phần 4.3 sẽ là những đề xuất của người viết về việc soạn

thảo điều khoản hoàn cảnh thay đổi cơ bản trong hợp đồng. Cuối cùng, người viết sẽ

nêu những kiến nghị để phù hợp với thực trạng hiện nay của nước ta.

vii

PHẦN MỞ ĐẦU

1, Tính cấp thiết của đề tài

Tiến trình phát triển của Bộ luật Dân sự Việt Nam đã trải qua ba lần thay đổi cơ

bản: Từ Bộ luật Dân sự đầu tiên sau khi Việt Nam được hoà bình, thống nhất là Bộ

luật Dân sự 1995. Sau gần 10 năm đi vào đời sống thực tiễn, Bộ luật Dân sự 1995 đã

bộc lộ nhiều điểm bất cập và có nhiều quy định không còn phù hợp với thực tế xã hội

luôn không ngừng phát triển, nên Bộ luật Dân sự 1995 đã được thay thế bằng Bộ luật

Dân sự 2005. Cũng 10 năm sau sự ra đời của Bộ luật Dân sự 2005, Quốc hội Việt

Nam luôn không ngừng xây dựng những dự thảo luật sửa đổi, bổ sung cho Bộ luật

Dân sự nhằm loại bỏ những quy định còn bất cập, hạn chế và thay thế bằng những

quy định có tính hợp lý và khả thi hơn. Bộ luật Dân sự 2015 hiện hành đã ra đời phù

hợp với xu hướng chung của nền kinh tế thế giới hiện nay là xu hướng toàn cầu hoá

và khu vực hoá đời sống kinh tế quốc tế.

Trong bối cảnh nền kinh tế thế giới đang phát triển không ngừng như hiện nay

và bối cảnh nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội Chủ nghĩa của Việt Nam nói

riêng, các quan hệ dân sự và kinh tế ngày một trở nên phức tạp và mở rộng và được

thể hiện dưới hình thức hợp đồng. Hợp đồng có vai trò quan trọng trong nền kinh tế

và xã hội như: là sự cụ thể hoá ý chí, nguyện vọng của các chủ thể khi giao kết, đồng

thời thể hiện được phạm vi quyền và nghĩa vụ của các bên khi thực hiện hợp đồng, là

cơ sở để các chủ thể giải quyết các tranh chấp khi phát sinh,…

Trong quá trình giao kết hợp đồng, các chủ thể đều mong muốn hợp đồng có

khả năng được thực hiện, bảo đảm được tính pháp lý đồng thời là cơ sở để xử lý các

mâu thuẫn, tranh chấp xảy ra (nếu có). Tuy nhiên, vì nhiều lý do khách quan cũng

như chủ quan mà việc thực hiện hợp đồng trở thành một nghĩa vụ không thể thực hiện

được hoặc thực hiện không trọn vẹn hoặc thực hiện không đúng như mong muốn giao

kết ban đầu của các bên. Vậy, những lý do khiến các bên không hoàn thành nghĩa vụ

là gì, các bên có thể dự liệu trước được những nguyên nhân này bằng cách ghi nhận

trong hợp đồng hay không, trong trường hợp nào được miễn thực hiện nghĩa vụ do

1

những nguyên nhân khách quan, và các cơ quan có thẩm quyền có thể can thiệp vào

việc thực hiện nghĩa vụ khi xảy ra những sự kiện không lường trước này được hay

không?

Việt Nam là thành viên tích cực của Tổ chức Thương mại Thế giới WTO năm

2007,1 và trở thành thành viên của CISG năm 2015,2 cũng như luôn tích cực tham

khảo Bộ nguyên tắc UNIDROIT về hợp đồng thương mại quốc tế để hoàn thiện pháp

luật hợp đồng của nước mình. Thuật ngữ “Hoàn cảnh thay đổi cơ bản” đã xuất hiện

trong Bộ nguyên tắc UNIDROIT; trong khi đó, Công ước quốc tế CISG không quy

định cụ thể về “Hoàn cảnh thay đổi cơ bản”, nhưng một số học giả vẫn cho rằng có

tồn tại khái niệm này trong Công ước CISG. Tuy nhiên, đây là một thuật ngữ khá mới

mẻ trong pháp luật Việt Nam (lần đầu tiên được quy định trong Bộ luật Dân sự 2015).

Do vậy, khái niệm “hoàn cảnh thay đổi cơ bản” vẫn còn tương đối mơ hồ và thiếu

tính cụ thể trong pháp luật Việt Nam.

Xuất phát từ những lý do nêu trên, người viết lựa chọn đề tài “Thực hiện hợp

đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản theo Bộ luật Dân sự Việt Nam 2015, CISG và

Bộ nguyên tắc UNIDROIT về hợp đồng thương mại quốc tế”. Đây là vấn đề có ý

nghĩa lý luận và thực tiễn cấp thiết trong việc thực hiện hợp đồng trong tình hình hiện

nay.

2- Tổng quan tình hình nghiên cứu

a) Tình hình nghiên cứu nước ngoài

Có rất nhiều công trình nghiên cứu nước ngoài liên quan đến Hoàn cảnh thay

đổi cơ bản. Các công trình nghiên cứu đã đi sâu vào phân tích các điều kiện để đánh

giá thế nào là Hoàn cảnh thay đổi cơ bản, quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp

đồng khi xảy ra sự kiện này. Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu tiêu biểu

như: “Hardship under the UN Convention on the International Sale of Goods

1 Ngày 11/01/2007, Việt Nam đã chính thức trở thành viên thứ 150 của tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). 2 Ngày 18/12/2015, Việt Nam đã chính thức phê duyệt việc gia nhập Công ước Viên về Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế của Liên hợp quốc (“CISG”) để trở thành viên thứ 84 của Công ước này.

(CISG)” của Markus Petsche, được đăng trên Tạp chí Vindobona Law Journal,

2

“Fundamental Alteration of the Contractual Equilibrium under Hardship Exemption,

Jurisprudence”, của Daniel Girsberger và Paulius Zapolskis, hay “Force majeure and

hardship: Application in international trade practice with specific regard to the CISG

and the UNIDROIT Principles of International Commercial Contracts” của Joern

Rimke,...

Những công trình nghiên cứu kể trên là nguồn tài liệu rất giá trị để người viết

nắm được những quy định về hoàn cảnh thay đổi cơ bản trong CISG và PICC. Đồng

thời, những phân tích của các học giả trong những công trình nghiên cứu kể trên cũng

là tài liệu tham khảo có ý nghĩa để so sánh với những quy định trong Bộ luật Dân sự

Việt Nam 2015.

b) Tình hình nghiên cứu trong nước

Trong mối liên hệ so sánh “Hoàn cảnh thay đổi cơ bản” của Bộ luật Dân sự Việt

Nam với các Công ước CISG và Bộ nguyên tắc UNIDRIOIT, hiện ở Việt Nam, có

rất nhiều bài báo khoa học đăng trên các tạp chí, hay tại các hội nghị như Hội thảo

Chế định hợp đồng trong Dự thảo Bộ luật dân sự (sửa đổi) của PGS. TS. Đỗ Văn Đại,

“Đề xuất diễn giải và áp dụng Điều 420 Bộ luật Dân sự 2015 về thực hiện hợp đồng

khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản” của PGS. TS. Nguyễn Minh Hằng và Trần Thị Giang

Thu, được đăng trên Tạp chí kinh tế đối ngoại số 86/2016, hay “Điều khoản điều

chỉnh hợp đồng do hoàn cảnh thay đổi (Hardship) trong pháp luật nước ngoài và kinh

nghiệm cho Việt Nam” của Lê Minh Hùng được đăng trên Tạp chí nghiên cứu lập

pháp số 6/2009,…

Những công trình khoa học kể trên là nguồn tài liệu rất quý giá, là một trong

những căn cứ giúp người viết có thêm nhiều thông tin quan trọng để phục vụ cho việc

nghiên cứu và hoàn thiện bài luận văn này. Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên

cứu so sánh các quy định về Hoàn cảnh thay đổi cơ bản của pháp luật Việt Nam trên

cơ sở so sánh, đối chiếu các quy định của Công ước CISG, Bộ nguyên tắc UNIDROIT

và đưa ra những đề xuất trong việc giải thích và áp dụng những điều khoản này. Đây

là Luận văn Thạc sỹ Luật học đầu tiên nghiên cứu so sánh cả ba văn bản này.

3

3- Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

Các hoạt động thương mại nói chung thường được quy định cụ thể trong luật

chuyên ngành. Ví dụ ở Anh có Đạo luật Bán hàng hóa (Sale of Goods Act), ở Pháp

có Luật Thương mại (French Commercial Code), Luật Hợp đồng (Contract Law),…

Còn ở Việt Nam, Luật Thương mại là luật chuyên ngành điều chỉnh những hoạt động

của thương nhân như: đầu tư, mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ đầu tư, xúc tiến

thương mại và các hoạt động khác nhằm mục đích sinh lợi; hoặc các hoạt động mang

tính tổ chức của cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhưng liên quan trực tiếp đến hoạt

động thương mại như: Đăng ký kinh doanh, kiểm tra, giám sát hoạt động kinh doanh,

thương mại; giải thể và phá sản doanh nghiệp.3

Tuy nhiên, vấn đề “Hoàn cảnh thay đổi cơ bản” lại không được quy định trong

Luật Thương mại của Việt Nam nhưng lần đầu được quy định ở trong Bộ luật Dân

sự 2015. Do vậy, “Hoàn cảnh thay đổi cơ bản” là thuật ngữ hết sức mới mẻ và thu

hút sự quan tâm của không chỉ những nhà luật gia mà còn số đông những chuyên gia

đầu ngành nghiên cứu và có hoạt động liên quan trong lĩnh vực này. Đề tài nghiên

cứu được thực hiện nhằm cung cấp những lý luận về việc thực hiện hợp đồng khi

hoàn cảnh thay đổi cơ bản và đề xuất một số giải pháp để giải thích và áp dụng điều

khoản này cho các luật sư, doanh nghiệp cũng như đối với Tòa án, Trọng tài tại Việt

Nam. Thành công của đề tài này sẽ làm phong phú kho tàng lý luận về Bộ luật Dân

sự ở Việt Nam.

Nhiệm vụ nguyên cứu của đề tài tập trung vào việc liệu có tồn tại điều khoản

Hoàn cảnh thay đổi cơ bản trong Công ước CISG; các quy định về quyền và nghĩa

vụ của các bên trong trường hợp Hoàn cảnh thay đổi cơ bản theo Bộ nguyên tắc

UNIDROIT và Công ước CISG. Từ đó, xem xét các quy định Hoàn cảnh thay đổi cơ

bản của Bộ luật dân sự Việt Nam 2015 có phù hợp với các công ước quốc tế và

nguyên tắc về hợp đồng thương mại quốc tế hay không và còn tồn tại bất cập, hạn

3 Luật Thương mại Việt Nam, ngày 14/06/2005, Điều 1.

chế hay không.

4

4- Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

Với đề tài này, đối tượng nghiên cứu là quy định của pháp luật về thực hiện hợp

đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản..

Phạm vi nghiên cứu của đề tài sẽ được giới hạn bởi các quy định của Công ước

CISG, Bộ nguyên tắc UNIDROIT và Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 2015. Các vụ

việc tranh chấp liên quan đến cách giải thích và áp dụng Hoàn cảnh thay đổi cơ bản

sẽ bao gồm cả ở Việt Nam và trên thế giới.

5- Phương pháp nghiên cứu

Luận văn Thạc sỹ được thực hiện với sự áp dụng tổng hợp các phương pháp

nghiên cứu như phương pháp lịch sử, phương pháp phân tích và tổng hợp, thống kê,

so sánh luật học, phân loại và hệ thống hóa,…

Trong quá trình nghiên cứu, người viết đã sử dụng phương pháp phân tích –

tổng hợp các quy định trong Công ước, Bộ nguyên tắc, Bộ luật. Đồng thời, việc phân

tích cũng được lồng ghép các ví dụ và liên hệ với tình hình thực tiễn thực hiện hợp

đồng và giải quyết tranh chấp hợp đồng ở Việt Nam và trên thế giới để đưa ra những

giải pháp phù hợp trong thời gian tới.

Phương pháp so sánh luật học được sử dụng khi so sánh các quy định của pháp

luật Việt Nam với Công ước CISG và Bộ nguyên tắc UNIDROIT và so sánh các quy

định của Bộ luật Dân sự Việt Nam qua các năm, so sánh Dự thảo với Bộ luật hiện

hành, cũng như so sánh các quy định của Bộ nguyên tắc UNIDROIT qua các ấn bản.

Phương pháp nghiên cứu tình huống cũng được vận dụng khi người viết đưa ra

những ví dụ để nhận định trường hợp nào được coi là Hoàn cảnh thay đổi cơ bản,

trường hợp nào không.

Phương pháp kết hợp lý luận và thực tiễn được áp dụng xuyên suốt luận văn,

kết hợp phân tích lý luận cũng như quy định hiện hành về sự kiện Hoàn cảnh thay đổi

cơ bản, kết hợp với việc phân tích thực tiễn giải quyết tranh chấp thông qua một số

5

án lệ cụ thể. Từ đó đưa ra những kiến nghị để hoàn thiện pháp luật cũng như để giải

quyết các tranh chấp một cách hiệu quả tại Chương IV của luận văn này.

6- Kết quả dự kiến của Luận văn

Dự kiến Luận văn sẽ đi sâu phân tích và làm rõ được sự kiện Hoàn cảnh thay

đổi cơ bản và những hệ quả pháp lý của sự kiện này. Thông qua Luận văn, những đề

xuất góp ý về cách diễn giải vấn đề pháp lý cũng hi vọng sẽ được đón nhận bởi không

chỉ các Luật sư, chuyên gia, Doanh nghiệp, mà còn được sử dụng bởi Tòa án, Trọng

tài.

7- Kết cấu của Luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tóm tắt, Danh mục tài liệu tham khảo và Danh

mục kí hiệu - chữ viết tắt, nội dung của bài Luận văn gồm 04 chương:

Chương I – Những vấn đề lý luận liên quan đến hoàn cảnh thay đổi cơ bản

Chương II – Điều kiện xác lập hoàn cảnh thay đổi cơ bản theo Bộ luật Dân sự

Việt Nam và so sánh với CISG và PICC

Chương III – Quyền và nghĩa vụ của các bên trong trường hợp hoàn cảnh thay

đổi cơ bản và những bất cập trong quy định của Bộ luật Dân sự Việt Nam 2015

Chương IV – Giải pháp giải thích và áp dụng quy định về thực hiện Hợp đồng

khi Hoàn cảnh thay đổi cơ bản tại Việt Nam

6

CHƯƠNG I- NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN HOÀN CẢNH

THAY ĐỔI CƠ BẢN

Khi thực hiện hợp đồng, thực tiễn nảy sinh rất nhiều sự kiện bất ngờ, khiến hợp

đồng khó có thể thực hiện được như ban đầu. Việc xuất hiện những sự kiện không

lường trước được khiến chi phí thực hiện nghĩa vụ tăng lên, gây thiệt hại rõ rệt cho

một bên nếu như hai bên vẫn tiếp tục thực hiện nghĩa vụ như thỏa thuận ban đầu. Bởi

vậy, nhằm đảm bảo sự công bằng cho các bên trong hợp đồng trong quá trình thực

hiện nghĩa vụ, và chia sẻ hợp lý rủi ro cũng như quyền và lợi ích của các bên trong

hợp đồng, điều khoản Hoàn cảnh thay đổi cơ bản ra đời.

Thực tiễn trên thế giới đã chứng minh việc tồn tại một quy định về hoàn cảnh

thay đổi cơ bản là rất quan trọng. Trong vụ Fibrosa Spolka Akcyjna v Fairbairn

Lawson Combe Barbour Ltd.,4 một công ty Anh, đã sản xuất một số máy móc cho

công ty Ba Lan và trong hợp đồng có điều khoản giao hàng CIF tại Gdynia, Ba Lan.5

Tổng số tiền theo hợp đồng là £4,800, trong đó thực tế Công ty Ba Lan mới chỉ trả

£1,000. Chiến tranh giữa Đức và Ba Lan nổ ra vào năm 1939, cùng thời điểm Anh

tuyên chiến với Đức. Cảng Gdynia bị xâm chiếm khiến Công ty Anh không gửi hàng

tới như thỏa thuận. Nghị viện quyết định rằng Công ty Anh đã vi phạm hợp đồng và

phải hoàn £1,000. Thời điểm ấy, chưa có những quy định về hoàn cảnh thay đổi khiến

Công ty Fibrosa không có quyền hưởng những bồi thường về chi phí mà họ đã phải

chịu khi sản xuất máy móc theo một phần hợp đồng. Các học giả sau này nhận định

rằng: một quy định về Hoàn cảnh thay đổi cơ bản có thể làm tăng tính công bằng của

v Fairbairn

SA

[1943] AC

Ltd.

32;

4 Vụ Fibrosa Lawson Combe Barbour http://www.bailii.org/uk/cases/UKHL/1942/4.html (truy cập ngày 20/11/2019) 5 CIF (Cost-Insurance and Freight): Tiền hàng, bảo hiểm và cước phí tàu, Các quy tắc của ICC về sử dụng các điều kiện Thương mại quốc tế và nội địa – INCOTERMS 2010, có hiệu lực ngày 01/01/2011. - Đây là điều kiện khá phổ biến trong xuất nhập khẩu. Người bán phải chịu thêm phí bảo hiểm cho lô hàng trong quá trình vậy chuyển bằng tàu biển. Chẳng hạn như lô hàng Chuối của bạn khi đi trên biển gặp các rủi ro như bão, cướp biểm hoặc con chuột nó cắn đứt dây điện máy lạnh làm lô hàng hư hỏng thì lúc này bảo hiểm sẽ chịu trách nhiệm tức nhiên bạn có trách nhiệm liên đới và người mua không chịu trách nhiệm gì cả. Người bán ( shipper) có thể mua bảo hiểm ở mức tối thiểu theo FPA hay ICC(C) -110%.

7

luật và bảo vệ các bên bị chịu thiệt hại. Điều khoản ấy cũng sẽ mang lại những lợi ích

kinh tế nhất định.6

1.1. Sự ra đời của điều khoản hoàn cảnh thay đổi cơ bản theo Bộ luật Dân sự Việt Nam 2015, CISG và PICC

1.1.1. Quá trình soạn thảo Điều 420 về thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản

Từ năm 1995 tới nay, Việt Nam đã trải qua hai lần sửa đổi BLDS đó là BLDS

20057 và Bộ luật hiện hành đang có hiệu lực là BLDS 2015.8 BLDS năm 2015 được

kỳ vọng sẽ tạo nên môi trường pháp lý thuận lợi cho sự phát triển kinh tế - xã hội của

đất nước cũng như cho việc công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm các quyền dân

sự của người dân.

Quá trình xây dựng dự án BLDS 2015 được thực hiện qua các bước soạn thảo,

lấy ý kiến, thảo luận và thông qua. Cụ thể, có rất nhiều điểm mới được đưa vào BLDS

2015 như: Xác lập, thực hiện và bảo vệ quyền dân sự, quyền xác định lại giới tính,

quy định về tài sản và quyền sở hữu, thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ

bản,…

Bảng thống kê lý do Doanh nghiệp sẽ không sử dụng điều khoản Hoàn cảnh thay

đổi cơ bản được trình bày dưới đây:

Bảng 01: Lý do Doanh nghiệp sẽ không sử dụng điều khoản Hoàn cảnh

thay đổi cơ bản

Lý do sẽ không sử dụng Tỷ lệ phần trăm (%)

Sẽ không có trường hợp Hoàn cảnh thay đổi diễn ra 19,23%

6 Angelika Awasthi & Gaurangi Kapoor (2018), “UNIDROIT Principles: Commercial Hardship in India context”, Indian Journal of Law & International Affairs, Số II(2), 47-63, tr. 56. 7 Bộ luật Dân sự Việt Nam 2005, ngày 14/06/2005. 8 Bộ luật Dân sự Việt Nam 2015, ngày 24/11/2015.

Pháp luật Việt Nam chưa công nhận 88,46%

8

Đã có điều khoản Bất khả kháng 84,61%

Có những biện pháp khắc phụ như bảo hiểm, trái phiếu, 100% đảm bảo, đàm phán,…

(Thực hiện 12/2013 – 03/2014)9

Dựa vào Bảng thống kê ở trên, có thể thấy, bên cạnh yếu tố Việt Nam chưa đưa

điều khoản Hoàn cảnh thay đổi cơ bản vào nội luật, Doanh nghiệp và những người

trực tiếp soạn thảo hợp đồng chưa nắm được bản chất của sự kiện Hoàn cảnh thay đổi

cơ bản này, cũng như chưa phân biệt được điều khoản hoàn cảnh thay đổi cơ bản và

bất khả kháng. Do vậy, điều khoản hoàn cảnh thay đổi cơ bản rất mới mẻ đối với

pháp luật Việt Nam. Ngay khi thuật ngữ hoàn cảnh thay đổi cơ bản ra đời trong Dự

thảo BLDS đã nhận được rất nhiều thảo luận từ các cán bộ, học giả, luật gia và người

dân.

Trong Báo cáo giải trình, tiếp thu về về thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay

đổi cơ bản, Chủ nhiệm Uỷ ban Pháp luật Phan Trung Lý cho biết, vấn đề này qua

thảo luận có hai loại ý kiến. Loại ý kiến thứ nhất không tán thành việc bổ sung Điều

419 về việc Tòa án được quyền điều chỉnh hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản.

Loại ý kiến thứ hai, tuy tán thành với cơ chế điều chỉnh hợp đồng khi hoàn cảnh thay

đổi cơ bản, nhưng đề nghị cần quy định cụ thể hơn về hoàn cảnh thay đổi, các trường

hợp thay đổi và chủ thể được thay đổi hợp đồng.

Vì vậy, Uỷ ban thường vụ Quốc hội đề nghị cho giữ nội dung này và chỉnh lý

chặt chẽ theo hướng: “Làm rõ các điều kiện xác định hoàn cảnh được coi là thay đổi

cơ bản; khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản, bên có lợi ích bị ảnh hưởng có quyền yêu cầu

bên kia đàm phán lại hợp đồng trong một thời hạn hợp lý; trong trường hợp các bên

không thể thỏa thuận được về việc sửa đổi hợp đồng trong một thời hạn hợp lý, một

trong các bên có thể yêu cầu Tòa án chấm dứt hợp đồng hoặc sửa đổi hợp đồng để

cân bằng quyền và lợi ích hợp pháp của các bên do hoàn cảnh thay đổi cơ bản. Tòa

9 Trần Minh Tâm & Nguyễn Minh Hiển (2015), tlđd., tr. 57.

án chỉ được quyết định việc sửa đổi hợp đồng trong trường hợp việc chấm dứt hợp

9

đồng sẽ gây thiệt hại lớn hơn so với việc thực hiện hợp đồng nếu được sửa đổi”, Chủ

nhiệm Uỷ ban Pháp luật nêu.

Cho ý kiến tại phiên thảo luận, Đại biểu Đinh Xuân Thảo (Hà Nội) cho hay:

“Cách xử lý lại như lần này, tôi cho là hợp lý. Vì trước hết trong dự thảo điều này có

quy định hoàn cảnh thay đổi đặc biệt là trong trường hợp nào. Ở đây có quy định ra

năm trường hợp đặc biệt. Tôi cho rằng rất phù hợp rất chặt chẽ. Tránh sự tùy tiện,

cái gì cũng cho là đặc biệt để yêu cầu sửa đổi hợp đồng thì không đúng”.

Cũng tại phiên thảo luận, các Đại biểu Lê Đắc Lâm (Bình Thuận), Đại biểu

Huỳnh Thành (Gia Lai)... cũng đồng thuận với phương án này.10

Bên cạnh những ý kiến của các đại biểu nhân dân, các học giả, chuyên gia cũng

để lại những bình luận đáng chú ý:

Cần bổ sung điều khoản về việc áp dụng Hardship như là ngoại lệ của nguyên

tắc Pacta sunt servanda

BLDS Việt Nam năm 2005 mới chỉ điều chỉnh một trường hợp ngoại lệ của

nguyên tắc tôn trọng cam kết hay hiệu lực bắt buộc của hợp đồng (pacta sunt

servanda) là sự kiện bất khả kháng (force majeure) chứ chưa điều chỉnh ngoại lệ thứ

hai của nguyên tắc này được luật hợp đồng thế giới thừa nhận rộng rãi là hardship.

Dưới góc độ luật hợp đồng quốc tế, hardship và force majeure là hai khái niệm được

xây dựng nhằm phân chia rủi ro trong hợp đồng và được thiết kế như các quy tắc để

giải quyết các xung đột về lợi ích khi có hoàn cảnh thay đổi hoặc xảy ra các tình

huống không thể lường trước được làm thay đổi hoàn toàn cục diện của hợp đồng.11

Đây là hai ngoại lệ của nguyên tắc nền tảng - pacta sunt servanda nhằm giới hạn bớt

tính chất nghiêm ngặt của nguyên tắc pacta sunt servanda.12

of Goods, Kluwer,

on Contracts

Sale

the

for

10 http://daibieunhandan.vn/default.aspx?tabid=81&NewsId=346916s (truy cập ngày 19/10/2019). 11 Nguyễn Anh Thư, (2014), “Đề xuất sửa đổi, bổ sung qui định liên quan đến nguyên tắc thiện chí trong Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2005”, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Luật học, Số 30(3), 61-72, tr. 64. 12 Joern Rimke (2001), “Force majeure and hardship: Application in international trade practice with specific regard to the CISG and the UNIDROIT Principles of International Commercial Contracts”, Pace Review of the Convention 197-243, International http://www.cisg.law.pace.edu/cisg/biblio/rimke.html (truy cập ngày 04/08/2019).

10

Theo các chuyên gia, việc bổ sung một điều khoản về việc áp dụng Hoàn cảnh

thay đổi cơ bản là ngoại lệ của nguyên tắc pacta sunt servanda vào điều khoản về

Thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản là rất cần thiết. Tuy nhiên, ý kiến

này cuối cùng đã không được ban soạn thảo chấp nhận và không được đưa vào BLDS

2015.

Phù hợp với thông lệ quốc tế

Theo TS. Đỗ Văn Đại – Trưởng Khoa Luật Dân sự, Đại học Luật Thành phố Hồ

Chí Minh, khái niệm điều chỉnh hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi bắt nguồn từ thực

tiễn thương mại quốc tế, cho phép các bên gặp khó khăn được yêu cầu bên kia đàm

phán lại hợp đồng khi có sự thay đổi hoàn cảnh nhưng chưa tới mức không thể thực

hiện được như trường hợp bất khả kháng. Ở cấp độ quốc tế, có hai bộ nguyên tắc về

hợp đồng rất nổi tiếng và có ảnh hưởng nhiều trên thế giới. Đó là Bộ Nguyên tắc

UNIDROIT về hợp đồng thương mại quốc tế và Bộ Nguyên tắc châu Âu về hợp đồng

(PECL). Cả hai bộ nguyên tắc này đều có quy định cho phép điều chỉnh lại hợp đồng

và việc quy định về thay đổi hoàn cảnh tương ứng với xu hướng hiện đại đề xuất trao

cho Tòa án (Trọng tài) quyền điều tiết để giảm bớt những hà khắc của tự do hợp đồng

và của hiệu lực ràng buộc của hợp đồng.

Theo các chuyên gia, hiện có nhiều nước đã công nhận điều khoản của những bộ

nguyên tắc này và đưa vào luật thực định để điều chỉnh hợp đồng trong trường hợp

hoàn cảnh thay đổi nhằm mục đích phân chia hợp lý rủi ro và tái lập lại sự cân bằng

của hợp đồng. Đơn cử như BLDS Italy năm 1942 là bộ luật đầu tiên chấp nhận thuyết

“Thay đổi hoàn cảnh”, hay Tòa án Công lý tối cao Colombia cũng chấp nhận khả

năng thay đổi hợp đồng khi trong quá trình thực hiện có một số sự kiện đặc biệt không

lường trước được hay không thể lường trước được xuất hiện. Bên cạnh đó, nhiều nước

cũng đang có xu hướng luật hóa cơ chế này. Chẳng hạn, Dự thảo sửa đổi BLDS được

Pháp công bố năm 2012 và 2013 liên quan đến hợp đồng, đã thấy có quy định về điều

chỉnh lại hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản.

Bảo đảm tự do thỏa thuận

11

Một trong những băn khoăn lớn nhất của các chuyên gia khi đưa quy định này

vào dự thảo là quy định này cho phép Tòa án can thiệp nhằm chấm dứt hoặc điều

chỉnh hợp đồng khi các bên không đạt được thỏa thuận. Do vậy, điều khoản đó có thể

không phù hợp với bản chất của hợp đồng là tự do ý chí, tự do thỏa thuận và không

khả thi trên thực tiễn.

Tuy nhiên, không ít chuyên gia cho rằng, quy định không làm ảnh hưởng đến

nguyên tắc tự do thỏa thuận hợp đồng của các bên, do Điều 443 của Dự thảo luật (sau

này trở thành Điều 420 BLDS 2015) có những quy định rất chặt chẽ về căn cứ, điều

kiện, trình tự (các bước) của việc điều chỉnh hợp đồng.13 Theo khoản 1 Điều 443, Dự

luật cho phép bên có nghĩa vụ do hoàn cảnh thay đổi mà việc tiếp tục hợp đồng quá

bất công, có quyền đề nghị với bên kia điều chỉnh lại hợp đồng. Quy định này vẫn

tôn trọng tự do thỏa thuận của các bên tham gia hợp đồng thể hiện ở chỗ nếu không

có đề nghị của bên bị thiệt hại thì dù có thay đổi hoàn cảnh, hợp đồng đã ký vẫn tiếp

tục thực hiện. Mặt khác, luật cũng quy định, trước khi đề nghị Tòa án can thiệp, bên

đề nghị điều chỉnh hợp đồng phải chứng minh hai bên đã có một thời gian hợp lý thực

hiện hợp đồng nhưng không có kết quả hoặc không được bên kia đáp ứng. Việc đưa

quy định này vào không làm mất đi tính chất tự do thỏa thuận vì chỉ khi các bên không

điều chỉnh hợp đồng trong một khoảng thời gian hợp lý thì tòa án mới có quyền can

thiệp để chấm dứt hoặc điều chỉnh hợp đồng theo cách công bằng nhất.

Mặt khác, việc điều chỉnh lại hợp đồng hoàn toàn phù hợp với nguyên tắc thiện

13 Dự thảo BLDS 2015: “Điều 443 - Điều chỉnh hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi 1. Trường hợp hoàn cảnh thay đổi dẫn đến quyền, lợi ích của một trong các bên bị ảnh hưởng nghiêm trọng thì cho phép các bên điều chỉnh hợp đồng. 2. Hoàn cảnh thay đổi dẫn tới điều chỉnh hợp đồng được xác lập khi xảy ra các sự kiện làm thay đổi cơ bản sự cân bằng giữa lợi ích của các bên và bảo đảm các điều kiện sau đây: a) Hoàn cảnh thay đổi sau khi hợp đồng đã được giao kết; b) Việc hoàn cảnh thay đổi là không thể lường trước được một cách hợp lý vào thời điểm giao kết hợp đồng; c) Rủi ro phát sinh từ việc thay đổi hoàn cảnh không phải là rủi ro mà bên bị ảnh hưởng đáng phải gánh chịu. 3. Trường hợp các bên không đạt được thoả thuận trong một khoảng thời gian hợp lý thì toà án có thể: a) Chấm dứt hợp đồng vào ngày và theo những điều khoản do toà án quyết định; b) Điều chỉnh hợp đồng để phân chia cho các bên các thiệt hại và lợi ích phát sinh từ việc thay đổi hoàn cảnh một cách công bằng và bình đẳng. Tuỳ theo từng trường hợp, toà án có thể buộc bên từ chối đàm phán hoặc phá vỡ đàm phán một cách không thiện chí, trung thực phải bồi thường thiệt hại.”

chí, theo hướng các bên không chỉ quan tâm, chăm lo đến quyền, lợi ích hợp pháp

12

của mình mà còn phải tôn trọng, quan tâm đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích công

cộng, quyền, lợi ích hợp pháp của người khác, giúp đỡ, tạo điều kiện cho nhau thực

hiện quyền, nghĩa vụ dân sự. Do vậy, việc bổ sung quy định này vào dự thảo luật là

cần thiết, hợp lý và hợp pháp.14

Cuối cùng, sau các thảo luận được đưa ra, Điều 420 về Hoàn cảnh thay đổi cơ

bản được đưa vào trong BLDS 2015 bao gồm các điều kiện để xác lập Hoàn cảnh

thay đổi cơ bản,15 các quyền và nghĩa vụ của các bên khi xảy ra sự kiện Hoàn cảnh

thay đổi cơ bản.16

1.1.2. Sự ra đời của Hardship theo PICC

Đã từ lâu, Viện Thống nhất Tư pháp Quốc tế, viết tắt theo Tiếng Pháp là

UNIDROIT, (Insitute International pour l`Unification des Droits Privé), một tổ chức

quốc tế liên chính phủ thành lập năm 1929, đặt trụ sở tại Roma, Italia, đã tập trung

nghiên cứu tìm kiếm các quy định chung để điều chỉnh hợp đồng sao cho có thể thiết

lập một hệ thống hài hòa các quy phạm có thể được sử dụng trên toàn thế giới, tại

mọi quốc gia mặc dù quốc gia đó có truyền thống pháp lý và điều kiện kinh tế, chính

trị như thế nào.

Năm 1994, UNIDROIT đã cho ra đời “Nguyên tắc Hợp đồng Thương mại Quốc

tế”, viết tắt theo tiếng Anh là PICC (Principles of International Commercial

Contracts) – đây là phiên bản đầu tiên của Bộ nguyên tắc này. PICC 2010 đã bổ sung

thêm các điều khoản mới so với ấn bản PICC 2004 nhằm phù hợp với thực tiễn phát

triển của các hợp đồng điện tử và giải quyết các vấn đề mới và quan trọng đối với

14 Quyền yêu cầu điều chỉnh hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi – Dự thảo Bộ luật dân sự (Sửa đổi), http://daibieunhandan.vn/default.aspx?tabid=81&NewsId=346916 (truy cập ngày 07/10/2019). 15 BLDS Việt Nam, (2015), Khoản 1, Điều 420. 16 BLDS Việt Nam, (2015), tlđd., Khoản 2, 3, 4, Điều 420. 17 Trong Luận văn này, người viết sử dụng International Institute for the Unification of Private Law Unidroit – (eds) (2016) “Unidroit Principles of International Commercial Contracts”, (bản Tiếng Anh) và “Bộ nguyên tắc Unidroit về Hợp đồng thương mại quốc tế”, (2014), NXB. Đại học Quốc gia, Hà Nội, dịch giả: TS. Nguyễn Minh Hằng (trưởng nhóm) - (bản Tiếng Việt).

cộng đồng pháp lý và kinh tế quốc tế.17

13

Trải qua ba lần sửa đổi (năm 2004, năm 2010 và năm 2016), tương tự ấn bản

PICC 2010, ấn bản PICC 2016 bao gồm 211 điều,18 được bố cục thành 11 chương,

đề cập đến hầu hết các vấn đề pháp lý trong quá trình giao kết và thực hiện hợp đồng

thương mại quốc tế: giao kết hợp đồng, hiệu lực của hợp đồng, giải thích hợp đồng,

nội dung của hợp đồng, thực hiện hợp đồng, các biện pháp áp dụng khi không thực

hiện hợp đồng, quyền yêu cầu thực hiện hợp đồng, hủy hợp đồng, bồi thường thiệt

hại... cũng như các vấn đề liên quan đến việc giao kết và thực hiện hợp đồng như

thẩm quyền đại diện, quyền của người thứ ba, chuyển giao quyền, chuyển giao nghĩa

vụ, chuyển giao hợp đồng. So với ấn bản PICC 2010, ấn bản PICC 2016 chỉ có 06

điều khoản bị sửa đổi.19

Cùng với Công ước CISG, PICC là tài liệu tham khảo được nhắc đến nhiều

nhất trong luật thương mại quốc tế ở châu Âu. Bộ nguyên tắc này đã được dịch và

phổ biến ở nhiều nước trên thế giới, trong đó có các nước đang phát triển.

Trước đó, Hardship lần đầu được đề cập trong ấn bản PICC 1994. Ấn bản PICC

1994 đã dành hẳn một mục để phân tích về Hardship.20 Điều này cho thấy tầm quan

trọng của điều khoản này trong cách đánh giá của các nhà soạn thảo luật. Các ấn bản

PICC sau này cũng đều dành hẳn một mục trong chương để quy định về điều khoản

Hardship. Điểm khác biệt giữa các ấn bản chủ yếu là phần diễn giải để phù hợp với

tiến trình phát triển của luật và thực tiễn đời sống phát triển của hợp đồng. Tuy nhiên,

trong khuôn khổ của Luận văn Thạc sỹ này, người viết sẽ chỉ phân tích chủ yếu dựa

trên ấn bản PICC 2016 - ấn bản đang hiện hành.

Trên tinh thần về hiệu lực bắt buộc của hợp đồng, các điều khoản của hợp đồng

vẫn phải được tôn trọng.

18 Bộ nguyên tắc UNIDROIT về Hợp đồng thương mại quốc tế năm 1994 gồm 120 điều; năm 2004 gồm 185 điều; năm 2010 gồm 211 điều. 19 06 điều khoản bị sửa đổi là: Lời nói đầu, Điều 1.11, Điều 2.1.14, Điều 5.1.7, Điều 5.1.8 và Điều 7.3.7. 20 Bộ nguyên tắc UNIDROIT về Hợp đồng thương mại quốc tế (PICC), Mục 2, Chương 6 (bao gồm Điều 6.2.1, Điều 6.2.2 và Điều 6.2.3).

“Điều 6.2.1. Tuân thủ hợp đồng

14

Các bên có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ của mình, ngay cả khi chi phí thực

hiện nghĩa vụ đó tăng lên, với điều kiện tuân thủ các quy định dưới đây về hardship.”

Tuy nhiên, nguyên tắc hiệu lực bắt buộc của hợp đồng không phải là một nguyên

tắc tuyệt đối; khi xảy ra những hoàn cảnh làm thay đổi cơ bản sự cân bằng giữa các

nghĩa vụ hợp đồng thì sẽ làm phát sinh trường hợp ngoại lệ (sau đây sẽ gọi là

“Hardship”). Thuật ngữ “hardship” được sử dụng trong bản tiếng Pháp vì đã được

chấp nhận rộng rãi trong thực tiễn thương mại quốc tế và đã được thừa nhận trong

phần mở đầu của nhiều Hợp đồng quốc tế dưới tên gọi “Điều khoản Hardship”.21

1.1.3. Sự ra đời của hoàn cảnh thay đổi cơ bản theo Công ước CISG

Công ước Viên của Liên Hợp Quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (viết

tắt theo tiếng Anh là CISG - Convention on Contracts for the International Sale of

Goods), (sau đây gọi là Công ước CISG), được soạn thảo bởi Ủy ban của Liên Hợp

Quốc về Luật thương mại quốc tế (UNCITRAL) trong một nỗ lực hướng tới việc

thống nhất nguồn luật áp dụng cho hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế.22 CISG có

hiệu lực từ ngày 01/01/1988.23 Công ước Viên 1980 đã thống nhất hóa và khắc phục

được nhiều mâu thuẫn giữa các hệ thống pháp luật khác nhau trên thế giới, đóng vai

trò quan trọng trong việc giải quyết các xung đột pháp luật trong thương mại quốc tế

và thúc đẩy thương mại quốc tế phát triển.24

Tại Việt Nam, hoạt động xuất nhập khẩu của nước ta diễn ra khá nhộn nhịp,

trong đó, các hợp đồng về mua bán hàng hóa quốc tế chiếm tỷ trọng lớn trong tổng

số hợp đồng nói chung.25 Tính đến hết năm 2015, các thị trường xuất khẩu chủ yếu

của Việt Nam hầu hết đều là thành viên của Công ước CISG.26 Bên cạnh đó, lợi ích

điển hình đối với doanh nghiệp Việt Nam là sẽ tiết kiệm được các chi phí trong đàm

http://www.trungtamwto.vn/chuyen-de/9291-viet-nam-ap-dung-cong-uoc-vien-ve-hop-dong-mua-ban-

21 Bộ nguyên tắc UNIDROIT về Hợp đồng thương mại quốc tế, (2014), tlđd., tr. 262. 22 TS. Nguyễn Minh Hằng; TS. Đinh Thị Mỹ Loan, (2013), Đề xuất Việt Nam gia nhập Công ước Viên về Hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế, http://www.trungtamwto.vn/chuyen-de/912-de-xuat-viet-nam-gia-nhap-cong- uoc-vien-ve-hop-dong-mua-ban-hang-hoa-quoc-te, (truy cập ngày 09/10/2019). 23 khi có 10 quốc gia phê chuẩn, theo Công ước CISG, Điều 99. 24 http://www.trungtamwto.vn/chuyen-de/1214-thuan-loi-hon-trong-mua-ban-quoc-te-viet-nam-huong-den- gia-nhap-cisg, (truy cập ngày 09/10/2019). 25 hang-hoa-quoc-te-tu-nam-2017, (truy cập ngày 09/10/2019). 26 Như trên.

15

phán hợp đồng (trước đó, quá trình đàm phán để lựa chọn luật áp dụng cho hợp đồng

đã mất khoảng 2 tiếng, chi tiết về thực hiện hợp đồng cũng như từng điều khoản trong

hợp đồng cũng khiến Doanh nghiệp mất nhiều thời gian do chưa có điều khoản thống

nhất để tham khảo,…).27 Khi Việt Nam trở thành thành viên của Công ước CISG

thì Công ước này sẽ được áp dụng tự động trong trường hợp hai bên doanh nghiệp

đối tác đến từ các nước thành viên của Công ước CISG. 28 Do vậy, việc Công ước

CISG có hiệu lực được đánh giá là đem đến nhiều lợi ích cho các doanh nghiệp Việt

Nam, giúp các doanh nghiệp sẽ chủ động hơn trong việc kinh doanh với bạn hàng

quốc tế.29

Việt Nam đã gia nhập CISG vào cuối tháng 12/2015 và Công ước CISG chính

thức có hiệu lực tại Việt Nam từ ngày 01/01/2017. Việc gia nhập Công ước CISG đã

đánh dấu một mốc mới trong quá trình tham gia vào các điều ước quốc tế đa phương

về thương mại, tăng cường mức độ hội nhập của Việt Nam, đồng thời, cũng góp phần

hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam về mua bán hàng hóa quốc tế và tạo cho các

doanh nghiệp việt nam một khung pháp lý hiện đại, công bằng và an toàn để thực

hiện hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế.30

Có rất nhiều học giả cho rằng Công ước Quốc tế CISG có đề cập tới Hoàn cảnh

thay đổi cơ bản, cụ thể tại Điều 79 của Công ước Quốc tế CISG;31 một số khác lại

http://www.trungtamwto.vn/chuyen-de/9291-viet-nam-ap-dung-cong-uoc-vien-ve-hop-dong-mua-ban-

http://www.trungtamwto.vn/chuyen-de/8401-viet-nam-chinh-thuc-tro-thanh-thanh-vien-thu-84-cua-cisg,

27 hang-hoa-quoc-te-tu-nam-2017, (truy cập ngày 09/10/2019). 28 Như trên. 29 Như trên. 30 (truy cập ngày 09/10/2019). 31 Rolf Kofod, (2011), “Hardship in International Sales CISG and the UNIDROIT Principles 3.1.2.”, NXB. Đại học Copenhagen, Copenhagen, https://www.cisg.law.pace.edu/cisg/biblio/kofod.html, (truy cập ngày 08/09/2019), “Bằng cách tránh tham chiếu đến điều khoản Hoàn cảnh thay đổi (Hardship), hay bất kỳ khái niệm tương tự nào khác như Bất khả kháng, không thể thực hiện được, hay wegfall der Geschäftsgrundlage, thuật ngữ “trở ngại” (impediment) được sử dụng để tóm gọn những nguyên tắc trên đây vào một điều khoản bằng một từ ngữ khá linh hoạt.

16

phủ nhận điều này.32 Sở dĩ có những ý kiến trái chiều như vậy là bởi Điều 79 được

xem rất “mơ hồ”, “thiếu chính xác” và “chứa đựng những từ ngữ lỏng lẻo”.33

Không tập trung đưa ra kết luận rằng liệu Điều 79 Công ước CISG có “bao hàm”

(covers) điều khoản Hoàn cảnh thay đổi cơ bản hay không, trong Luận văn này, người

viết muốn tiếp cận điều khoản Hoàn cảnh thay đổi cơ bản được diễn giải và áp dụng

thế nào theo Điều 79. Giả thuyết rằng, Điều 79 Công ước CISG có bao hàm cả điều

khoản Hoàn cảnh thay đổi cơ bản. Khoản 1, Điều 79 của Công ước CISG có quy định

như sau:

“1. Một bên không chịu trách nhiệm về việc không thực hiện bất kỳ một nghĩa

vụ nào đó của họ nếu chứng minh được rằng việc không thực hiện ấy là do một trở

ngại (an impediment) nằm ngoài sự kiểm soát của bên đó và người ta không thể chờ

đợi một cách hợp lý rằng họ phải tính tới trở ngại đó vào lúc ký kết hợp đồng hoặc

là tránh được hay khắc phục các hậu quả của nó.”34

1.2. Khái niệm Hoàn cảnh thay đổi cơ bản theo CISG, PICC và Bộ luật

Dân sự Việt Nam 2015

1.2.1. Khái niệm hoàn cảnh thay đổi cơ bản theo CISG

Thuật ngữ “trở ngại” trong Điều 79 được nhiều học giả đánh giá rằng mơ hồ và

32 Markus Petsche, (2005), “Hardship under the UN Convention on the International Sale of Goods (CISG)”, Vindobona Law Journal, Số 19, tr. 147, 148; John Honnold (1989), Documentary History of the Uniform Law for International Sales, NXB. Kluwer Law and Taxation Publishers, Deventer, tr. 252, “Theo một số nhà bình luận pháp lý, việc loại trừ (rectius: loại bỏ) Hoàn cảnh thay đổi (Hardship) trong phạm vi Điều 79 đã xuất hiện từ lịch sử soạn thảo điều khoản này.” Lovro Klepac, (2017), Luận văn thạc sỹ, “The availability of a Hardship Defense under the UN Convention on Contracts for the International Sale of Goods (CISG)”, Trường Đại học Centeral European University, tr. 19., “Một lý do nữa để kết luận rằng điều khoản Hoàn cảnh thay đổi cơ bản (Hardship) bị loại trừ khỏi Công ước CISG, đó là ngay trong từ ngữ của Điều 79 Công ước CISG quy định rằng, "bên bị bất lợi không mong đợi một cách hợp lý để tránh hoặc khắc phục hậu quả của sự kiện đó". Điều này là phù hợp với những tình huống Hoàn cảnh thay đổi cơ bản”; 33 Albert H. Kritzer (1994), “International Contract Manual - Guide to Practical Applications of the United Nations Convention on Contracts for the International Sale of Goods”, Detailed Analysis 623, tr. 642. 34 Bản dịch của VIAC, http://www.trungtamwto.vn/upload/files/chu_de_khac/303-cong-uoc-vien/307-van- kien/Cong%20uoc%20vien%201980%20-%20TV.pdf, (truy cập ngày 09/08/2019). 35 B. Nicholas (1984), “Impracticability and Impossibility in the U.N. Convention on Contracts for the International Sale of Goods”, International Sales: The United Nations Convention on Contracts for the International Sale of Goods, Số 5(02), tr. 5-4 (Có thể tìm đọc tại Nina M. Galston & Hans Smit, (ed), NXB.

thiếu chính xác,35 số khác lại chỉ ra một số "mâu thuẫn và mơ hồ" trong việc sử dụng

17

thuật ngữ này.36 Bởi vậy các học giả trên thế giới rất cố gắng để định nghĩa thuật ngữ

này và những định nghĩa này cũng rất đa dạng.

Vậy điều gì cấu thành nên “trở ngại”? Bất kì việc gì khiến việc thực hiện nghĩa

vụ không thể thực hiện một cách khách quan sẽ được coi là “trở ngại”.37 “Trở ngại”

theo Điều 79 có thể được hiểu là trở ngại vật lý, chẳng hạn như sự kiện chiến tranh,

nội chiến, các hành động khủng bố, hoặc cấm vận thương mại, kinh tế, hay các thảm

hoạ tự nhiên, khó khăn gây ra bởi sự gia tăng chi phí để thực hiện hợp đồng.38 Rất

khó để có thể đưa ra một danh sách đầy đủ các sự kiện được coi là “trở ngại”,39 do

đó, việc đánh giá này phải được xem xét theo từng trường hợp cụ thể. Ví dụ, tình

trạng chiến tranh không thể được coi là “trở ngại” nếu các bên đều thoả thuận rằng

việc thực hiện nghĩa vụ ngay cả trong chiến tranh là hoàn toàn có thể.

Từ những phân tích ở trên về định nghĩa thuật ngữ “trở ngại”, có thể coi định

nghĩa Hoàn cảnh thay đổi cơ bản tương tự như “trở ngại” trong Công ước CISG.

Hoàn cảnh thay đổi cơ bản có những đặc điểm như: là trở ngại không thể thấy trước

được cũng như nằm ngoài tầm kiểm soát của bên vi phạm, xảy ra sau khi ký kết hợp

đồng và hậu quả rất nặng nề.40

1.2.2. Khái niệm hoàn cảnh thay đổi cơ bản theo PICC

Theo PICC, “hardship” được xác lập khi có “Các sự kiện khách quan xảy ra làm

thay đổi cơ bản sự cân bằng giữa các nghĩa vụ hợp đồng, hoặc chi phí thực hiện nghĩa

vụ tăng lên, hoặc do giá trị của nghĩa vụ đối trừ giảm xuống…” và thỏa mãn các điều

kiện như (1) Các sự kiện này xảy ra hoặc được bên bị thiệt hại biết đến sau khi giao

kết hợp đồng; (2) Bên bị bất lợi đã không tính đến một cách hợp lý các sự kiện đó khi

of

School

Foreign

Law, Đại

and Comparative

học Columbia, Columbia,

Parker http://cisgw3.law.pace.edu/cisg/biblio/nicholas1.html, (truy cập ngày 07/08/2019) 36 D. Tallon (1987), “Commentary to Article 79”, Commentary on the International Sales Law. The 1980 Vienna Sales Convention, http://cisgw3.law.pace.edu/cisg/biblio/tallon-bb79.html. 37 Gomard & Rechnagel (1990), International Kjabelov, tr. 222. 38 Jenni Miettinen (2015), Luận văn Thạc sỹ, “Interpreting CISG Article 79 (1): Economic impediment and the reasonability requirement” - Đại học University of Lapland, tr. 2. 39 Niklas Lindström (2006), “Changed Circumstances and Hardship in the International Sale of Goods”, Nordic Journal of Commercial Law, Số 2006(1), https://cisgw3.law.pace.edu/cisg/biblio/lindstrom.html (truy cập ngày 08/09/2019). 40 Lukas Rusch (2019), “Force Majure and Hardship under the CISG”, Hội thảo 13th Annual Generations in Arbitration Conference, ngày 31 Tháng Ba năm 2019, Hồng Kông, tr. 14

18

giao kết hợp đồng; (3) Các sự kiện đó nằm ngoài sự kiểm soát của bên bị bất lợi; và

(4) Rủi ro về các sự kiện này không được bên bị bất lợi gánh chịu”.41

Việc xác định chính xác "thay đổi cơ bản sự cân bằng các nghĩa vụ hợp đồng"

(được biểu thị bằng tỷ lệ phần trăm hoặc thuật ngữ số khác) dường như là một công

việc hết sức khó khăn trong các văn bản pháp lý.42. Từ “thay đổi cơ bản” sẽ được xem

xét tùy trường hợp cụ thể.43

Trong vụ tranh chấp Spanish advertising agency,44 giữa công ty quảng cáo của

Tây Ban Nha (Nguyên đơn) với Công ty vận tải thành phố Valencia (Bị đơn): Nguyên

đơn và Bị đơn ký kết một hợp đồng thỏa thuận về việc khai thác quảng cáo trên xe

bus (xe bus thuộc sở hữu của Bị đơn), tuy nhiên do khủng hoảng kinh tế dẫn đến

nguồn đầu tư cho lĩnh vực marketing trên các phương tiện vận tải sụt giảm, Nguyên

đơn đã yêu cầu Bị đơn giảm 70% giá thuê hàng tháng do sự giảm sút không lường

trước được trong đầu tư tiếp thị trong lĩnh vực vận tải. Tòa án cấp sơ thẩm đã điều

chỉnh tiền thuê ở mức 80% doanh thu thuần hàng tháng của Nguyên đơn. Các bên

kháng cáo.

Tòa án cấp phúc thẩm tiếp nhận vụ việc, tuyên bố rằng cuộc khủng hoảng kinh

tế xảy ra ở Tây Ban Nha năm 2008, bao gồm cả ngành quảng cáo, có thể dẫn đến một

sự thay đổi đáng kể về hoàn cảnh clusula rebus sic stantibus.

Có thể thấy trong vụ việc trên, Tòa án phúc thẩm cũng không đưa ra tiêu chí để

xem xét Hoàn cảnh thay đổi cơ bản dựa trên mức giảm 70% giá thuê hàng tháng. Ấn

bản của PICC năm 1994 có đưa ra diễn giải “sự thay đổi đến 50% hoặc hơn về giá

hay giá trị của nghĩa vụ thì sẽ được coi là một sự thay đổi cơ bản”.45 Tuy nhiên đến

ấn bản năm 2004 và 2010, phần diễn giải đã không giữ lại con số “50%”. BLDS một

41 PICC, (2016), tlđd., Điều 6.2.2. 42 Daniel Girsberger & Paulius Zapolskis, (2012), “Fundamental Alteration of the Contractual Equilibrium under Hardship Exemption”, Jurisprudence, Số 19(1), 121–141, tr. 125. 43 PICC, (2016), tlđd., Comment, tr. 213. 44 Vụ Spanish advertising agency, [2014], The Tribunal Supremo, http://www.unilex.info/case.cfm?id=1949, (truy cập ngày 24/11/2019). 45 Vụ Spanish advertising agency, [2014], tlđd..

số quốc gia như Pháp, Đức, Italia,.. cũng chỉ đưa ra quy định về thiệt hại một cách

19

chung chung và không đặt ra một mức độ cụ thể.46 Trong các vụ việc được xét xử tại

trọng tài thương mại quốc tế, chi phí thực hiện nghĩa vụ tăng 13%, 30%, 44% hoặc

25-50% vẫn được cho là không đủ để đủ cấu thành Hardship.47 Không một phán quyết

trọng tài nào mà trọng tài viên so sánh mức "chi phí thực hiện nghĩa vụ" đã tăng 50%

hoặc ít hơn với những gì đã được thỏa thuận trong hợp đồng.48 Như vậy, có thể thấy,

các nhà lập pháp đều có chung quan điểm là không nên quy định một lượng cụ thể về

mức độ thiệt hại để đảm bảo tính khái quát và linh hoạt của quy định.49

Các sự kiện khách quan xảy ra liên quan đến cuộc khủng hoảng tài chính ở các

quốc gia khác nhau thì cũng khác nhau. Ví dụ, cuộc khủng hoảng kinh tế ở Indonesia

đạt đến đỉnh điểm vào những năm 1998-1999, dẫn đến sự giảm sút của nền kinh tế

nước này khoảng 15%, mất năm triệu việc làm, mất 80% giá trị của đồng rupiah và

tỷ lệ lạm phát vượt quá 75%. Tuy nhiên, trong vụ việc Himpurna California Energy

Ltd. v. PT. (Persero) Perusahaan Listruik Negara, cả Trọng tài và các học giả cho

rằng cuộc khủng hoảng này không đủ nghiêm trọng để đánh giá là Hardship.50 Tương

tự, cuộc khủng hoảng kinh tế ở Argentina năm 2002 dẫn đến sự sụt giảm GDP của

nước này là 10,9%, tỷ lệ lạm phát là 25,9% và sự mất giá của đồng peso là 2/3 giá trị

so với đồng đô la Mỹ. Trong Vụ việc này, Tòa Trọng tài của ICSID cho rằng: “Hội

đồng Trọng tài tin rằng cuộc khủng hoảng ở Argentina là nghiêm trọng nhưng không

dẫn đến sự sụp đổ hoàn toàn về kinh tế và xã hội. Khi so sánh cuộc khủng hoảng ở

Argentina với các cuộc khủng hoảng cùng thời điểm khác ảnh hưởng đến các quốc

46 PGS. TS. Nguyễn Minh Hằng và Trần Thị Giang Thu, (2016), “Đề xuất diễn giải và áp dụng Điều 420 Bộ luật Dân sự 2015 về thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản”, Tạp chí kinh tế đối ngoại, Số 86/2016. 47 Brunner, C., (2009), Force Majeure and Hardship under General Contract Principles. Exemption for NonPerformance in International Arbitration, NXB. Kluwer Law International, Alphen aan den Rijin, tr. 427. 48 Zaccaria, E. C. (2005), The Effects of Changed Circumstances in International Commercial Trade, International Trade & Business Law Review, Số 9, tr. 169; Brunner, C. (2009), tlđd., tr. 428−431; Houtte van, H. (1995), The UNIDROIT Principles of International Commercial Contracts and International Commercial Arbitration: Their Reciprocal Relevance in: The UNIDROIT Principles for International Commercial Contracts: A New Lex Mercatoria?, ICC Publication, Số 490(1), tr. 190. 49 PGS. TS. Nguyễn Minh Hằng và Trần Thị Giang Thu, (2016), tlđd. 50 Vụ Himpurna California Energy Ltd. v. PT. (Persero) Perusahaan Listruik Negara (Phán quyết chung thẩm) [1999], Yearbook Commercial Arbitration. 2000, XXV: 13−108. Vụ này có thể tìm trong Fucci, F. R. (2006), Hardship and Changed Circumstances as Grounds for Adjustment or Non-Performance of Contracts. Practical Considerations in International Infrastructure Investment and Finance, American Bar Association, Section of International Law.

gia ở các khu vực khác nhau trên thế giới, có thể lưu ý rằng những cuộc khủng hoảng

20

khác đã không dẫn đến việc không thực hiện các nghĩa vụ hợp đồng hoặc hiệp ước

quốc tế. Các bên đều đã tái đàm phán, cố gắng thực hiện và việc tạm hoãn thực hiện

nghĩa vụ, nhưng bản chất của các nghĩa vụ quốc tế vẫn được giữ nguyên.”51

Tóm lại, theo quy định trong PICC, hardship là một hoàn cảnh trong đó xảy ra

các sự kiện “làm thay đổi cơ bản sự cân bằng giữa các nghĩa vụ hợp đồng”, và phải

đáp ứng các điều kiện bổ sung để có thể xác định hardship. Những điều kiện này sẽ

được phân tích ở Chương II dưới đây.

1.2.3. Khái niệm hoàn cảnh thay đổi cơ bản theo Bộ luật Dân sự Việt Nam 2015

Điều 420 BLDS Việt Nam 2015 không đưa ra khái niệm Hoàn cảnh thay đổi cơ

bản một cách rõ ràng. Nhưng tại Khoản 1, Điều 420 có nêu những điều kiện xác lập

hoàn cảnh thay đổi cơ bản sẽ được người viết phân tích trong Chương II dưới đây.

Từ đó, người viết đề xuất khái niệm Hoàn cảnh thay đổi cơ bản nên được hiểu

như sau:

Hoàn cảnh thay đổi cơ bản là những thay đổi bất ngờ của hoàn cảnh mà các

bên không thể tính toán đến một cách hợp lý vào thời điểm giao kết hợp đồng, cản

trợ việc thực hiện hợp đồng của một bên và đáp ứng những điều kiện như: là sự

kiện khách quan xảy ra sau khi hợp đồng được giao kết, các bên không thể lường

trước được về sự thay đổi hoàn cảnh khi giao kết hợp đồng, nếu như các bên biết

trước về sự thay dổi thì hợp đồng đã không được giao kết hoặc được giao kết nhưng

với nội dung hoàn toàn khác, việc tiếp tục thực hiện hợp đồng mà không có sự thay

đổi nội dung hợp đồng sẽ gây thiệt hại nghiêm trọng cho một bên, bên có lợi ích bị

ảnh hưởng đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết trong khả năng cho phép, phù hợp

với tính chất của hợp đồng mà không thể ngăn chặn, giảm thiểu mức độ ảnh hưởng

51 Vụ Gaz de Bordeaux (CMS Gas Transmission Company v. The Argentine Republic), Số. ARB/01/8 (Phán quyết) [2005] ICSID, đoạn 355.

đến lợi ích.”

21

1.3. So sánh Bất khả kháng và Hoàn cảnh thay đổi cơ bản

Lý thuyết về Hoàn cảnh thay đổi cơ bản (lý thuyết hardship) có những điểm

tương đồng nhất định với khái niệm Bất khả kháng đã tồn tại rất lâu trong pháp luật

hợp đồng của Việt Nam. Vì vậy, để hiểu rõ hơn bản chất của Hardship, người viết sẽ

tiến hành so sánh giữa Bất khả kháng và Hoàn cảnh thay đổi cơ bản.

"Sự kiện bất khả kháng" là một thuật ngữ có nguồn gốc tiếng Pháp “force

majeure” có nghĩa là “sức mạnh tối cao” hoặc “sức người không thể kháng cự nổi”.

Sự kiện bất khả kháng được quy định trong Công ước CISG, PICC và trong

BLDS Việt Nam 2015 lần lượt như sau:

“Điều 79 – Công ước CISG

1. Một bên không chịu trách nhiệm về việc không thực hiện bất kỳ một nghĩa vụ

nào đó của họ nếu chứng minh được rằng việc không thực hiện ấy là do một trở ngại

nằm ngoài sự kiểm soát của bên đó và người ta không thể chờ đợi một cách hợp lý

rằng họ phải tính tới trở ngại đó vào lúc ký kết hợp đồng hoặc là tránh được hay

khắc phục các hậu quả của nó.”52

“Điều 7.1.7: Trường hợp bất khả kháng - PICC

1) Bên có nghĩa vụ được miễn trừ hậu quả do việc không thực hiện của bên

mình, nếu chứng minh được rằng việc không thực hiện là do một trở ngại vượt khỏi

tầm kiểm soát của mình, và không thể mong chờ một cách hợp lý ở mình xem xét được

những trở ngại này vào thời điểm ký kết hợp đồng, dự đoán hay vượt qua được trở

ngại hoặc dự đoán được hay vượt qua được hậu quả của trở ngại đó.”53

“Điều 156. Thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự, thời

52 Bản dịch của VIAC, http://www.trungtamwto.vn/upload/files/chu_de_khac/303-cong-uoc-vien/307-van- kien/Cong%20uoc%20vien%201980%20-%20TV.pdf, (truy cập ngày 09/08/2019). 53 Bộ nguyên tắc Unidroit về hợp đồng thương mại quốc tế, tlđd., Điều 7.1.7.

hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự - BLDS 2015

22

1. Sự kiện bất khả kháng là sự kiện xảy ra một cách khách quan không thể lường

trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết

và khả năng cho phép.”54

Từ những định nghĩa trên, có thể thấy Bất khả kháng là sự kiện xảy ra sau khi

ký hợp đồng, không phải do lỗi của bất kỳ bên tham gia hợp đồng nào, nằm ngoài ý

muốn và sự dự đoán của các bên, cũng như không thể tránh và khắc phục được, dẫn

đến việc không thể thực hiện hoặc không thể thực hiện đúng hoặc đầy đủ nghĩa vụ

của mình như trong hợp đồng.

Sự kiện bất khả kháng có thể là những hiện tượng do thiên nhiên gây ra (thiên

tai) như lũ lụt, hỏa hoạn, bão, động đất, sóng thần, đóng băng55… Việc coi các hiện

tượng thiên tai có thể là sự kiện bất khả kháng được áp dụng khá thống nhất trong

luật pháp và thực tiễn của các nước trên thế giới. Sự kiện bất khả kháng cũng có thể

là những hiện tượng xã hội như chiến tranh, bạo loạn, đảo chính, đình công, cấm vận,

thay đổi chính sách của chính phủ… Tuy nhiên cách hiểu và thừa nhận các hiện tượng

xã hội là sự kiện bất khả kháng lại rất đa dạng và nhiều điểm chưa có sự thống nhất.

Như vậy, sự kiện bất khả kháng và sự kiện hoàn cảnh thay đổi cơ bản có những

đặc điểm sau đây: Đều là những sự kiện khách quan xảy ra sau khi ký hợp đồng; xảy

ra không do lỗi của các bên trong hợp đồng; các bên trong hợp đồng không thể dự

đoán, tính đến trước được.

Bên cạnh đó, hoàn cảnh thay đổi cơ bản có thể là những sự kiện gây ra bởi sự

54 BLDS Việt Nam, (2015), tlđd., Điều 156. 55 Vụ United States (Raw Materials Inc. v. Manfred Forberich GmbH & Co.), [2004] U.S. Federal District Court, Northern District of Illinois, http://cisgw3.law.pace.edu/cases/040706u1.html (truy cập ngày 02/12/2019), “Việc cảng bị đóng băng đã cản trở Forberich thực hiện nghĩa vụ của mình”, “Forberich đã đưa ra bằng chứng rằng sự khắc nghiệt của mùa đông năm 2002 và sự đóng băng sớm tại cảng và những hậu quả của nó khác xa so với những gì thường xảy ra (thông thường cảng chỉ bị đóng băng từ cuối Tháng Một), thậm chí làm cho máy phá băng ngừng hoạt động. RMI cho rằng sự đóng băng sớm này là có thể dự đoán được, song lại không đưa ra được một bằng chứng hoặc một ý kiến thuyết phục nào khác. Thêm vào đó, tòa cho rằng việc dẫn chiếu đến một án lệ về bất khả kháng do đóng băng ở thượng nguồn sông Mississippi là thuyết phục (Vụ Louis Dreyf Corp. v. Continental Grain Co., [1981] La.Ct.App).”

56 Vụ Nuova Fucinati S.p.A. v. Fondmetal International A.B. [1993], Tribunale Civile [District Court] http://cisgw3.law.pace.edu/cases/930114i3.html, (truy cập ngày 02/12/2019).

tăng giá đến 30% giá trị ban đầu của hàng hóa,56 không có khả năng giao hàng vì tình

23

trạng ngừng sản xuất khẩn cấp,57 và những khó khăn tài chính của bên nhà cung cấp

cho người bán.58 Tuy nhiên, Hoàn cảnh thay đổi cơ bản còn được đặt trong các sự so

sánh như: sự thay đổi hoàn cảnh đe dọa con người hoặc tài sản, phá sản hoặc vấn đề

tài chính của bên cung cấp sản phẩm cho bên bán, chi phí cơ hội, lợi nhuận và việc

không đạt được mục đích.59 Trong bình luận của UNIDROIT Principles of

International Commercial Contracts” (Comment), sự kiện hoàn cảnh thay đổi cơ bản

còn thường được chấp nhận đối với những hợp đồng dài hạn, mặc dù điều này không

loại trừ khả năng hoàn cảnh thay đổi cơ bản xuất hiện với các loại hợp đồng khác.60

Thực tiễn có thể đồng thời tồn tại hoàn cảnh thay đổi cơ bản và sự kiện bất khả

kháng và hai sự kiện này cũng có thể gây nhầm lẫn. Trong trường hợp này, bên bị

ảnh hưởng bởi các sự kiện đó phải quyết định viện dẫn lý do nào.61 Nếu bên đó viện

dẫn sự kiện Bất khả kháng thì nhằm lý giải việc không thực hiện nghĩa vụ của mình.62

Còn nếu viện dẫn sự kiện hoàn cảnh thay đổi cơ bản thì nhằm đàm phán lại các điều

khoản của hợp đồng để hợp đồng tiếp tục tồn tại với các điều khoản được sửa đổi.63

Tóm lại, có thể so sánh hai sự kiện bất khả kháng và hoàn cảnh thay đổi cơ bản

dưới các góc độ như sau:

Bất khả kháng Hoàn cảnh thay đổi cơ bản

(Force Majeure) (Hardship)

Sự kiện bất khả kháng là sự Hoàn cảnh thay đổi cơ bản khi có Theo

kiện xảy ra một cách khách đủ các điều kiện sau đây: Định BLDS

quan không thể lường trước a) Sự thay đổi hoàn cảnh do nghĩa Việt

được và không thể khắc nguyên nhân khách quan xảy ra Nam

57 CLOUT Case No. 140 [1995], ICA Arbitral Tribunal, http://cisgw3.law.pace.edu/cases/950316r1.html, (truy cập ngày 02/12/2019). 58 Vụ Schiedsgericht der Handelskammer, [1996], tlđd. 59 Daniel Girsberger & Paulius Zapolskis (2012), “Fundamental Alteration of the Contractual Equilibrium under Hardship Exemption,” Jurisprudence, Số 19(1): 121–141, tr. 130. 60 Dịch giả: TS. Nguyễn Minh Hằng (2014), tlđd., tr. 267. 61 Như trên. 62 Dịch giả: TS. Nguyễn Minh Hằng (2014), tlđd., tr. 270. 63 Như trên.

phục được mặc dù đã áp sau khi giao kết hợp đồng;

24

dụng mọi biện pháp cần thiết b) Tại thời điểm giao kết hợp đồng,

và khả năng cho phép. các bên không thể lường trước

được về sự thay đổi hoàn cảnh;

c) Hoàn cảnh thay đổi lớn đến mức

nếu như các bên biết trước thì hợp

đồng đã không được giao kết hoặc

được giao kết nhưng với nội dung

hoàn toàn khác;

d) Việc tiếp tục thực hiện hợp đồng

mà không có sự thay đổi nội dung

hợp đồng sẽ gây thiệt hại nghiêm

trọng cho một bên;

đ) Bên có lợi ích bị ảnh hưởng đã

áp dụng mọi biện pháp cần thiết

trong khả năng cho phép, phù hợp

với tính chất của hợp đồng mà

không thể ngăn chặn, giảm thiểu

mức độ ảnh hưởng đến lợi ích.

Một bên không chịu trách nhiệm Một bên không chịu trách

về việc không thực hiện bất kỳ một nhiệm về việc không thực

nghĩa vụ nào đó của họ nếu chứng hiện bất kỳ một nghĩa vụ nào

minh được rằng việc không thực đó của họ nếu chứng minh Theo hiện ấy là do một trở ngại nằm được rằng việc không thực Công ngoài sự kiểm soát của bên đó và hiện ấy là do một trở ngại ước người ta không thể chờ đợi một nằm ngoài sự kiểm soát của CISG cách hợp lý rằng họ phải tính tới bên đó và người ta không thể

trở ngại đó vào lúc ký kết hợp đồng chờ đợi một cách hợp lý rằng

hoặc là tránh được hay khắc phục họ phải tính tới trở ngại đó

các hậu quả của nó vào lúc ký kết hợp đồng

25

hoặc là tránh được hay khắc

phục các hậu quả của nó

Hoàn cảnh hardship được xác lập

Bên có nghĩa vụ được miễn khi xảy ra các sự kiện làm thay đổi

trừ hậu quả do việc không cơ bản sự cân bằng giữa các nghĩa

thực hiện của bên mình, nếu vụ hợp đồng, hoặc do chi phí thực

chứng minh được rằng việc hiện nghĩa vụ tăng lên, hoặc do giá

không thực hiện là do một trị của nghĩa vụ đối trừ giảm

trở ngại vượt khỏi tầm kiểm xuống, và:

soát của mình, và không thể a) các sự kiện này xảy ra hoặc Theo mong chờ một cách hợp lý ở được bên bị thiệt hại biết đến sau PICC mình xem xét được những khi giao kết hợp đồng;

trở ngại này vào thời điểm b) bên bị bất lợi đã không thể tính

ký kết hợp đồng, dự đoán một cách hợp lý đến các sự kiện đó

hay vượt qua được trở ngại khi giao kết hợp đồng;

hoặc dự đoán được hay vượt c) các sự kiện này nằm ngoài sự

qua được hậu quả của trở kiểm soát của bên bị bất lợi; và

ngại đó d) rủi ro về các sự kiện này không

được bên bị bất lợi gánh chịu.

Lũ lụt, hỏa hoạn, bão, động Việc tăng giá so với giá trị ban đầu

đất, sóng thần, đóng băng, của hàng hóa, không có khả năng

chiến tranh, bạo loạn, đảo giao hàng vì tình trạng ngừng sản Ví dụ chính, đình công, cấm vận, xuất khẩn cấp, những khó khăn tài

thay đổi chính sách của chính của bên nhà cung cấp cho

chính phủ,… người bán,…

- Là những sự kiện khách quan xảy - Là những sự kiện khách ra sau khi ký hợp đồng; Đặc điểm quan xảy ra sau khi ký hợp - Xảy ra không do lỗi của các bên đồng; trong hợp đồng;

26

- Xảy ra không do lỗi của các - Các bên trong hợp đồng không

bên trong hợp đồng; thể dự đoán, tính đến trước được;

- Các bên trong hợp đồng - Các bên vẫn có thể tiếp tục thực

không thể dự đoán, tính đến hiện hợp đồng tuy nhiên việc tiếp

trước được; tục thực hiện hợp đồng sẽ gây

- Các bên không thể khắc nhiều khó khăn và tốn kém chi phí.

phục được và không thể thực

hiện được hợp đồng nữa.

Nếu viện dẫn sự kiện hoàn cảnh Nếu viện dẫn sự kiện bất khả

thay đổi cơ bản thì nhằm đàm phán Mục đích viện kháng thì nhằm lý giải việc

lại các điều khoản của hợp đồng để dẫn không thực hiện nghĩa vụ

hợp đồng tiếp tục tồn tại với các của mình.

điều khoản được sửa đổi.

TIỂU KẾT

Chương I đã giới thiệu khái quát sự ra đời của quy định về hoàn cảnh thay đổi

cơ bản (Hardship) trong BLDS Việt Nam 2015, Công ước CISG và PICC. Qua những

phân tích trên đây, có thể thấy được tính cần thiết của việc tồn tại quy định điều khoản

Hoàn cảnh thay đổi cơ bản trong luật. Đối với Việt Nam nói riêng, việc bổ sung quy

định về điều khoản hoàn cảnh thay đổi cơ bản là một bước tiến trong BLDS Việt

Nam, phù hợp với quy định của pháp luật quốc tế cũng như xu hướng phát triển của

xã hội, góp phần bảo đảm và duy trì lợi ích của các bên trong quan hệ hợp đồng.

Chương I đồng thời cũng nêu được khái niệm của hoàn cảnh thay đổi cơ bản theo

Công ước CISG và PICC. Từ những vấn đề lý luận về hoàn cảnh thay đổi cơ bản,

những điểm giống và khác nhau với trường hợp bất khả kháng.

Các điều kiện để xác lập điều khoản hoàn cảnh thay đổi cơ bản sẽ được phân

tích trong Chương II. Người viết sẽ phân tích những điều kiện trong BLDS Việt Nam

sau đó so sánh với những điều kiện về Hardship trong PICC và CISG.

27

CHƯƠNG II – ĐIỀU KIỆN XÁC LẬP HOÀN CẢNH THAY ĐỔI CƠ BẢN THEO BỘ LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM VÀ SO SÁNH VỚI CISG VÀ PICC

Trong Chương II này, người viết sẽ phân tích những điều kiện xác lập Hoàn

cảnh thay đổi cơ bản dựa trên các quy định trong BLDS Việt Nam năm 2015. Người

viết cũng sẽ so sánh các điều kiện này với Công ước CISG và PICC.

Để tránh sự lạm dụng, gây thiệt hại cho một bên trong hợp đồng, các điều kiện

áp dụng quy định về hoàn cảnh thay đổi cơ bản đã được đưa vào trong luật. Theo đó,

một hoàn cảnh được xem là “thay đổi cơ bản” theo BLDS Việt Nam 2015 phải thỏa

mãn đồng thời các điều kiện sau:

2.1. Sự thay đổi hoàn cảnh do nguyên nhân khách quan xảy ra sau khi

giao kết hợp đồng

“Điều 420…

a) Sự thay đổi hoàn cảnh do nguyên nhân khách quan xảy ra sau khi giao kết

hợp đồng;”

Nguyên nhân dẫn đến Hoàn cảnh thay đổi cơ bản không phụ thuộc vào ý chí

chủ quan của các bên trong hợp đồng. Những nguyên nhân khách quan có thể được

viện dẫn như bão, lũ lụt, đình công, quyết định của cơ quan có thẩm quyền,…

Còn trong PICC,

“Điều 6.2.2. Định nghĩa

a) các sự kiện này xảy ra hoặc được bên bị thiệt hại biết đến sau khi giao kết

hợp đồng;”

Nếu bên bị thiệt hại đã biết các sự kiện đó khi giao kết hợp đồng thì sẽ phải tính

tới các sự kiện đó. Trong trường hợp như vậy, điều khoản hardship sẽ không thể được

viện dẫn.

Điểm khác biệt giữa BLDS Việt Nam và PICC chính là quy định trong PICC về

sự kiện “được bên bị thiệt hại biết đến”. PICC nhấn mạnh vào việc nhận thức “biết

đến” của bên bị thiệt hại trong trường hợp này.

28

2.2. Tại thời điểm giao kết hợp đồng, các bên không thể lường trước được

về sự thay đổi hoàn cảnh

“Điều 420…

b) Tại thời điểm giao kết hợp đồng, các bên không thể lường trước được về sự

thay đổi hoàn cảnh;”

BLDS của một số quốc gia trên thế giới cũng đã ghi nhận quy định tương tự về

vấn đề này, như trong BLDS Pháp: “….xảy ra một sự thay đổi về hoàn cảnh không

thể tính trước được tại thời điểm giao kết hợp đồng….”,64 hay trong quy định của

BLDS Đức: “…các bên nếu lường trước được sự thay đổi đó thì đã không ký hợp

đồng hoặc đã kí hợp đồng với một nội dung khác…”.65

Theo quy định tại điểm b, khoản 1, điều 420 BLDS Việt Nam 2015, hoàn cảnh

thay đổi cơ bản xảy ra sau khi hợp đồng đã được giao kết và các bên “không thể lường

trước về sự thay đổi” này, tức là “sự thay đổi của hoàn cảnh” nằm ngoài ý chí của các

bên;

Việc “lường trước được về sự thay đổi của hoàn cảnh” cũng phải dựa trên thực

tế vụ việc, đồng thời cần phân định rõ “sự thay đổi hoàn cảnh” thuộc trường hợp có

thể lường trước được nhưng do bên bị bất lợi cố tình hoặc vô tình không nhận thức

được (do năng lực dự đoán yếu kém), hay do bản chất sự thay đổi hoàn cảnh đó là

không lường trước được.66 Việc quy định chặt chẽ và rõ ràng về vấn đề này sẽ có tác

dụng ràng buộc các bên phải có ý thức nghiên cứu cẩn thận, kĩ càng hơn trước khi

quyết định ký kết hợp đồng, từ đó làm cho môi trường giao dịch ổn định hơn và giảm

thiểu các tranh chấp không đáng có.67

Quy định về điều kiện thứ hai này của BLDS Việt Nam 2015 được ghi nhận ở

64 BLDS Pháp sửa đổi, bổ sung sau đợt cải cách các quy định về pháp luật hợp đồng (theo Điều 2 sắc lệnh 2016 – 131 ngày 10/02/2016), Điều 1195 dưới tên gọi “sự thay đổi của hoàn cảnh” (changement de circonstances). 65 BLDS Đức (BGB), Điều 313 BGB dưới tên gọi “sự xáo trộn cơ sở của hợp đồng” (Störung der Geschäftsgrundlage). 66 PGS. TS. Nguyễn Minh Hằng và Trần Thị Giang Thu, (2016), tlđd. 67 Như trên. 68 Đàm Thị Diễm Hạnh và ThS. Lê Thị Kim Oanh (2010), “Quy định về hoàn cảnh thay đổi cơ bản dưới góc độ so sánh pháp luật Dân sự Việt Nam và Pháp – một số đề xuất, kiến nghị”, Hội thảo quốc tế: Trách nhiệm

hầu hết các quốc gia,68 đồng thời có điểm tương đồng với quy định trong Công ước

29

CISG “người ta không thể chờ đợi một cách hợp lý rằng họ phải tính tới trở ngại đó

vào lúc ký kết hợp đồng”,69 và PICC về việc bên bị bất lợi đã không thể tính đến sự

kiện đó một cách hợp lý.

“Điều 6.2.2. Định nghĩa

b) bên bị bất lợi đã không thể tính một cách hợp lý đến các sự kiện đó khi giao

kết hợp đồng;”

Ví dụ về điều kiện Bên bị bất lợi đã không tính đến một cách hợp lý các sự kiện

đó khi giao kết hợp đồng đã được dẫn ra như sau: A cung cấp dầu thô ở quốc gia X

cho B với một mức giá cố định trong vòng 05 năm, và nhận thức về căng thẳng chính

trị trong khu vực. Hai năm sau khi ký kết hợp đồng, chiến tranh đã xảy ra khiến khủng

hoảng năng lượng thế giới và giá dầu tăng đột biến. A trong trường hợp này không

được viện dẫn Hoàn cảnh thay đổi vì giá dầu thô tăng như vậy không phải là không

thể lường trước được.70

Đôi khi sự thay đổi hoàn cảnh là dần dần, nhưng kết quả cuối cùng của quá trình

thay đổi dần dần có thể tạo thành một trường hợp Hardship.71 Nếu sự thay đổi đó bắt

đầu trước khi hợp đồng được ký kết, Hardship sẽ không phát sinh, trừ khi tốc độ thay

đổi tăng lên đáng kể trong suốt thời hạn của hợp đồng.72

2.3. Hoàn cảnh thay đổi lớn đến mức nếu như các bên biết trước thì hợp

đồng đã không được giao kết hoặc được giao kết nhưng với nội dung hoàn toàn

khác

“Điều 420

c) Hoàn cảnh thay đổi lớn đến mức nếu như các bên biết trước thì hợp đồng đã

không được giao kết hoặc được giao kết nhưng với nội dung hoàn toàn khác;”

Khoản này chỉ ra trường hợp sự thay đổi của hoàn cảnh làm cho các bên khó

khăn trong việc thực hiện hợp đồng theo những điều khoản đã cam kết. Điều kiện này

Dân sự và hợp đồng: Kinh nghiệm của Việt Nam và Liên minh Châu Âu, ngày 27 tháng Sáu năm 2019, Trường Đại học Luật, Đại học Huế và Hội Hợp tác pháp lý Châu Âu và Việt Nam, Thừa Thiên Huế, Việt Nam. 69 Công ước CISG, tlđd., Điều 79(1). 70 PICC, (2016), tlđd., Illustration, tr. 215. 71 Dịch giả: TS. Nguyễn Minh Hằng (2014), tlđd., tr. 265. 72 Như trên.

30

có liên quan với điều kiện thứ hai, cho thấy tính chất “không lường trước được” của

hoàn cảnh thay đổi cơ bản là quan trọng và cần phải lưu tâm trong việc công nhận

Hoàn cảnh thay đổi cơ bản;

2.4. Việc tiếp tục thực hiện hợp đồng mà không có sự thay đổi nội dung

hợp đồng sẽ gây thiệt hại nghiêm trọng cho một bên

“Điều 420

d) Việc tiếp tục thực hiện hợp đồng mà không có sự thay đổi nội dung hợp đồng

sẽ gây thiệt hại nghiêm trọng cho một bên;”

Theo đó, khi thiệt hại xảy ra thì một trong các bên không đạt được mục đích

giao kết hợp đồng như ban đầu. Tuy nhiên, điều khoản này cũng không đưa ra một

tiêu chí hay mức độ cụ thể để xác định “thiệt hại nghiêm trọng”. Trong trường hợp

này, luật trao toàn quyền cho các bên và cơ quan có thẩm quyền để xác định có “thiệt

hại nghiêm trọng” hay không tùy vào từng vụ việc cụ thể. Điều này có thể dẫn đến

một số ý kiến bất đồng trong việc diễn giải và áp dụng quy định này trên thực tế.73

Trong thực tiễn xét xử tại Việt Nam từ trước đã có không ít những vụ việc sau

khi hợp đồng có hiệu lực, việc tiếp tục thực hiện hợp đồng gây “thiệt hại nghiêm

trọng” cho một bên. Người viết xin dẫn lại hai vụ việc (một vụ việc tại Trung tâm

trọng tài quốc tế Việt Nam - VIAC và một vụ việc tại Tòa án nhân dân) dưới đây. Cả

hai vụ việc này đều liên quan đến nhu cầu thay đổi giá đã được các bên thỏa thuận

trong hợp đồng (chủ đề chính của việc áp dụng cơ chế điều chỉnh hợp đồng khi hoàn

cảnh thay đổi cơ bản).74

Vụ việc thứ nhất: Công ty Việt Nam (Bên Mua) và Công ty nước ngoài (Bên

Bán) đã ký một hợp đồng 05 năm với nội dung mua bán hàng hóa cho từng năm và

mỗi năm với số lượng cụ thể, giá cụ thể (cùng với thỏa thuận chọn VIAC). Sau đó,

các bên tranh chấp với nhau xuất phát từ việc các bên không đạt được thỏa thuận từ

việc giá của hàng hóa năm thứ ba trên thị trường chỉ còn bằng 1/3 giá nêu trong hợp

73 PGS. TS. Nguyễn Minh Hằng và Trần Thị Giang Thu, (2016), tlđd. 74 Đỗ Văn Đại (2015), “Tham luận 4: Điều chỉnh Hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi”, Hội thảo chế định Hợp đồng trong Dự thảo Bộ luật Dân sự (sửa đổi), ngày 18 tháng Ba năm 2015, Bộ tư pháp, USAID và VIAC, Hà Nội, Việt Nam.

31

đồng (bên bán yêu cầu giữ nguyên giá trong hợp đồng còn bên mua yêu cầu giá mới

do giá trên thị trường đã giảm còn bằng 1/3 giá trong hợp đồng đã ký trước đó 03

năm) và đưa tranh chấp ra VIAC.75

Trong vụ việc thứ nhất, bên mua Việt Nam có nghĩa vụ phải thực hiện đúng hợp

đồng là nhận đúng số lượng đã cam kết cho năm thứ ba với giá đã được nêu cho năm

thứ ba ở các cam kết trước đó 03 năm mà các bên thỏa thuận. Rõ ràng, với mức giá

như vậy Bên Mua có thể mua được hàng hóa tương đương trên thị trường với khối

lượng nhiều gấp 03 lần khối lượng đã nêu trong hợp đồng. Nếu tiếp tục thực hiện hợp

đồng, phía Việt Nam sẽ gặp bất lợi rất lớn.

Vụ việc thứ hai: Năm 1992, ông Hồ Khắc Thiết và bà Hoàng Thị Lới (Bên Mua)

đăng ký mua một kiốt số 29B1 của ông Hồ Văn Son và bà Trương Thị Thìn (Bên

Bán) với giá 7.800.000 đồng (Bảy triệu tám trăm nghìn đồng) và Bên Mua đã thanh

toán được 4.800.000 đồng (Bốn triệu tám trăm nghìn đồng), tức còn thiếu 3.000.000

(Ba triệu đồng) và nhận kiốt. Sau đó các bên có tranh chấp và năm 2006 (14 năm

sau), Tòa án nhân dân tối cao tỉnh Quảng Bình xác định thỏa thuận mua bán trên “là

hợp pháp, các bên có nghĩa vụ tiếp tục thực hiện”.76

Ở vụ việc thứ hai này, chúng ta thấy có bất công bằng cho bên bán: Nếu áp dụng

đúng hợp đồng thì Bên Mua là ông Thiết và bà Lới chỉ phải trả số tiền còn thiếu, là

3.000.000 đồng (Ba triệu đồng) như đã nêu trong thỏa thuận nhưng giá trị của

3.000.000 đồng được thỏa thuận năm 1992 không còn giá trị như ở năm 2006. Vì vậy,

nếu tiếp tục thực hiện hợp đồng, bên bán chỉ được nhận lại 3.000.000 đồng - giá trị

không tương xứng vào thời điểm sau đó 14 năm. Điều này cho thấy sự bất công bằng

75 Đỗ Văn Đại (2015), “Tham luận 4: Điều chỉnh Hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi”, tlđd. 76 Quyết định Giám đốc Thẩm số 14/2006/DS-GDT ngày 06/06/2006 về vụ án tranh chấp quyền sở hữu tài sản; Xem thêm tại: Đỗ Văn Đại (2014), Luật nghĩa vụ dân sự và bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, Bản án số 37-39.

cho Bên Bán (ông Son và bà Thìn).

32

2.5. Bên có lợi ích bị ảnh hưởng đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết trong

khả năng cho phép, phù hợp với tính chất của hợp đồng mà không thể ngăn

chặn, giảm thiểu mức độ ảnh hưởng đến lợi ích

“Điều 420

đ) Bên có lợi ích bị ảnh hưởng đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết trong khả

năng cho phép, phù hợp với tính chất của hợp đồng mà không thể ngăn chặn, giảm

thiểu mức độ ảnh hưởng đến lợi ích.”

Điều kiện này đặt ra nghĩa vụ ngăn chặn, giảm thiểu mức độ ảnh hưởng đến lợi

ích của bên bị ảnh hưỏng bởi sự thay đổi của hoàn cảnh thực hiện hợp đồng. Khi bên

có lợi ích bị ảnh hưởng đưa ra yêu cầu nhằm chấm dứt hoặc thay đổi nội dung của

hợp đồng thì phải chứng minh rằng mình đã áp dụng “mọi biện pháp cần thiết” mà

vẫn không thể ngăn chặn, giảm thiểu mức độ ảnh hưởng đến lợi ích từ sự thay đổi đó.

Tuy nhiên, luật cũng không quy định thế nào là “biện pháp cần thiết”, có thể gây khó

khăn trong việc xác định mức độ thực hiện hành vi ngăn chặn giảm thiểu ảnh hưởng

của bên có quyền và lợi ích của bên bị thiệt hại.

Điều kiện thứ năm này được quy định trong BLDS 2015 có thể coi là tương tự

với quy định trong Công ước CISG và PICC. Trong khi PICC quy định như sau:

“Điều 6.2.2.

c) các sự kiện này nằm ngoài sự kiểm soát của bên bị bất lợi;”,

thì Công ước CISG quy định như sau: “một trở ngại nằm ngoài sự kiểm soát

của bên đó… người ta không thể… tránh được hay khắc phục các hậu quả của nó”,77

Từ các quy định tại khoản 1 Điều 420 BLDS năm 2015, để được xem là “hoàn

cảnh thay đổi cơ bản” thì phải đáp ứng đồng thời tất cả điều kiện trên, thiếu một trong

các điều kiện thì cũng không được xem là thỏa mãn.

Năm điều kiện ở trên là các định nghĩa để xem xét sự kiện “hoàn cảnh thay đổi

cơ bản” trong BLDS Việt Nam 2015. Bên cạnh các điều kiện như: (1) Các sự kiện

này xảy ra hoặc được bên bị thiệt hại biết đến sau khi giao kết hợp đồng; (2) Bên bị

bất lợi đã không tính đến một cách hợp lý các sự kiện đó khi giao kết hợp đồng; (3)

77 Công ước CISG, tlđd., Điều 79(1).

33

Các sự kiện đó nằm ngoài sự kiểm soát của bên bị bất lợi, PICC lại quy định về điều

kiện (4) Rủi ro về các sự kiện này không được bên bị bất lợi gánh chịu. Điều kiện này

là điều kiện khác biệt so với BLDS Việt Nam 2015.

Khoản d, Điều 6.2.2 PICC chỉ ra rằng sự kiện Hoàn cảnh thay đổi cơ bản sẽ

không nảy sinh nếu nếu bên thiệt hại đã gánh chịu sự rủi ro. Từ "gánh chịu" cho thấy

rõ rằng các rủi ro không nhất thiết phải được gánh chịu một cách rõ ràng, nhưng điều

này có thể xuất phát từ chính bản chất của hợp đồng.78 Một bên tham gia vào một

giao dịch được coi là chấp nhận một mức độ rủi ro nhất định, mặc dù có thể không

nhận thức đầy đủ về rủi ro đó tại thời điểm giao kết hợp đồng.79

* Các ví dụ giả định

Để phân tích rõ hơn các điều kiện để áp dụng quy định về hoàn cảnh thay đổi

cơ bản, người viết xin lấy hai ví dụ nhằm mục đích nhận diện “hoàn cảnh thay đổi cơ

bản” hay nói cách khác nhằm xem xét các điều kiện của quy định về hoàn cảnh thay

đổi cơ bản có được thỏa mãn hay không.

Ví dụ 01: Tháng 01/2017, Công ty A (bên bán) và Công ty B (bên mua) ký hợp

đồng mua bán hàng hóa là tinh bột mì, trong đó các bên thỏa thuận đơn giá là không

đổi trong suốt quá trình thực hiện hợp đồng. Đến tháng 08/2017, các bên tiếp tục ký

Phụ lục Hợp đồng vẫn thống nhất giá không đổi trong suốt quá trình thực hiện hợp

đồng. Tháng 10/2017, bên B có thông báo yêu cầu giao hàng, tuy nhiên vài ngày sau

đó bên A gửi thông báo không giao được hàng với lí do đưa ra là bệnh khảm lá ở cây

mì (truyền thông đưa tin về bệnh này vào tháng 07/2017) làm giá nguyên liệu tăng

dẫn đến nguyên liệu đầu vào không ổn định, khan hiếm và đề xuất tăng giá bán. Bên

B không đồng ý và khởi kiện yêu cầu bên A chịu phạt vi phạm hợp đồng và bồi

thường thiệt hại.

Ví dụ 02: Công ty A (bên cho thuê lại) và Công ty B (bên thuê lại) ký hợp đồng

78 Dịch giả: TS. Nguyễn Minh Hằng (2014), tlđd., tr. 266. 79 Như trên.

thuê lại đất, thời hạn thuê là từ năm 2001 đến năm 2050, trong đó các bên thỏa thuận

34

giá hợp đồng là giá thị trường tại thời điểm ký kết. Khi Uỷ ban Nhân dân (UBND)

cấp tỉnh có quyết định tăng giá thuê đất, dẫn đến việc bên A phải trả tiền thuê đất với

giá cao hơn, hai bên xảy ra tranh chấp về giá đất thuê lại khi bên A yêu cầu bên B trả

giá thuê đất tương ứng với giá thuê mà bên A trả cho Nhà nước. Do điều khoản về

tiền thuê đất trong hợp đồng không rõ ràng dẫn đến tranh chấp vẫn chưa được giải

quyết.

Sau khi nghiên cứu tình huống của hai vụ việc, người viết có những bình luận

như sau:

Về điều kiện thứ nhất, sự thay đổi hoàn cảnh do nguyên nhân khách quan

xảy ra sau khi giao kết hợp đồng. Trong Ví dụ 01, điều kiện này là không được thỏa

mãn. Mặc dù xuất hiện nguyên nhân khách quan là dịch bệnh khảm lá ở cây mì, tuy

nhiên thời điểm xảy ra dịch bệnh này là trước khi ký Phụ lục hợp đồng (theo thông

tin trên phương tiện truyền thông cho thấy tháng 07/2017 đã có thông tin dịch bệnh

ở cây mì, trong khi đến tháng 08/2017 các bên mới ký phụ lục hợp đồng thống nhất

giá vẫn không đổi). Do đó không thể nói đây là sự kiện nằm ngoài sự kiểm soát của

các bên làm cho bên vi phạm không thực hiện được hợp đồng.

Ngược lại, ở Ví dụ 02, điều kiện này lại được thỏa mãn. Nguyên nhân khách

quan chính là quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, mà cụ thể là quyết

định về tăng giá đất của UBND tỉnh được ban hành sau khi hai bên đã ký kết hợp

đồng thuê lại đất.

Về điều kiện thứ hai, tại thời điểm giao kết hợp đồng, các bên không thể

lường trước được về sự thay đổi hoàn cảnh. Trong Ví dụ 01, điều kiện này là không

thỏa mãn, vì xét thời điểm ký Hợp đồng, phụ lục hợp đồng, thời điểm phát sinh dịch

bệnh cũng như thời điểm có thông báo yêu cầu giao hàng thì rõ ràng có thể thấy vì

thời điểm phát sinh dịch bệnh là khoảng tháng 07/2017 hoặc trước đó, đến tháng

08/2017 khi ký Phụ lục hợp đồng các bên vẫn thống nhất giá không đổi trong suốt

quá trình thực hiện hợp đồng. Bên cung cấp sản phẩm tinh bột mì cần biết và có nghĩa

vụ phải biết về các dịch bệnh có thể xảy ra ở cây mì thông qua các bản tin trên phương

35

tiện truyền thông. Việc bên cung cấp không dự đoán được dịch bệnh là do năng lực

yếu kém hoặc không sát sao vào công việc.

Còn ở Ví dụ 02, câu hỏi đặt ra là liệu quyết định tăng giá thuê đất của UBND

tỉnh có thể lường trước được hay không? Trong trường hợp này, bên A không thể

viện dẫn điều khoản “hoàn cảnh thay đổi cơ bản”, bởi tại thời điểm ký hợp đồng, A

đáng lẽ phải tính đến việc giá đất có thể biến động (tăng hoặc giảm) so với thời điểm

ký hợp đồng, nhất là khi khoảng thời gian thực hiện hợp đồng là một khoảng thời

gian tương đối dài (50 năm).

Về điều kiện thứ ba, hoàn cảnh thay đổi lớn đến mức nếu như các bên biết

trước thì hợp đồng đã không được giao kết hoặc được giao kết nhưng với nội

dung hoàn toàn khác. Điều kiện này là thỏa mãn ở cả hai ví dụ được nêu ra phía

trên. Trong Ví dụ 01, nếu biết trước xảy ra dịch bệnh khảm lá ở cây mì dẫn đến giá

nguyên liệu đầu vào tăng thì bên A đã không đồng ý với mức giá tinh bột mì (gây bất

lợi cho mình). Tương tự, trong Ví dụ 02, nếu biết trước giá thuê đất sẽ tăng theo quyết

định của cơ quan nhà nước thì Bên A đã không thống nhất mức giá thuê như trong

hợp đồng ký kết.

Có thể thấy ở Ví dụ 01, dù cho bên bị bất lợi vô tình không nhận thức được sự

thay đổi hoàn cảnh cơ bản có thể xảy ra (có thể do năng lực dự đoán kém) thì điều

kiện này vẫn được thỏa mãn. Quy định này cho thấy các bên cần có ý thức nghiên

cứu cẩn thận, kỹ càng trước khi quyết định giao kết hợp đồng.

Về điều kiện thứ tư, việc tiếp tục thực hiện hợp đồng mà không có sự thay

đổi nội dung hợp đồng sẽ gây thiệt hại nghiêm trọng cho một bên. Trong Ví dụ

01, điều kiện này là không thỏa mãn. Tuy thực tế dịch bệnh khảm lá ở cây khoai mì

đã khiến cho nguyên liệu đầu vào không ổn định và khan hiếm, nếu tiếp tục thực hiện

việc giao hàng với mức giá đã thỏa thuận trong hợp đồng thì sẽ gây thiệt hại cho bên

bán, nhất là khi số lượng hàng hóa phải giao là rất lớn. Nhưng việc không lường trước

được dịch bệnh có thể xảy ra, nhất là khi mầm dịch bệnh đã được thông báo rộng rãi

trên các phương tiện truyền thông thì đây là rủi ro mà bên bán phải gánh chịu do sự

thiếu tìm hiểu của mình.

36

Còn ở Ví dụ 02, nếu tiếp tục hợp đồng thì bên cho thuê lại sẽ phải trả tiền thuê

đất cho Nhà nước cao hơn so với giá đã thỏa thuận với Bên thuê lại trong khoảng thời

gian quy định trong hợp đồng. Điều này sẽ gây thiệt hại nghiêm trọng cho Bên cho

thuê.

Về điều kiện thứ năm, bên có lợi ích bị ảnh hưởng đã áp dụng mọi biện

pháp cần thiết trong khả năng cho phép, phù hợp với tính chất của hợp đồng

mà không thể ngăn chặn, giảm thiểu mức độ ảnh hưởng đến lợi ích. Điều kiện

này là không thỏa mãn trong Ví dụ 01, bởi vì khi nhận được thông báo yêu cầu giao

hàng của bên A thì ngay sau đó bên B đã gửi thông báo là không giao được hàng.

Liệu trong vài ngày bên B đã áp dụng “mọi biện pháp cần thiết và trong khả năng cho

phép” hay chưa? Và trước khi có thông báo giao hàng của bên A, bên B cũng không

chủ động liên lạc trước với bên A để thông báo về khó khăn mình gặp phải để các

bên cùng đàm phán lại hợp đồng hoặc tìm cách khắc phục mà chỉ khi bên A yêu cầu

giao hàng thì bên B mới phản hồi lại là không giao hàng được do bệnh dịch và đề

nghị bên A tăng giá.

Trái lại, trong Ví dụ 02, điều kiện này là thỏa mãn bởi quyết định tăng giá thuê

đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền được ban hành có tính chất bắt buộc, đặt

bên bị điều chỉnh (bên cho thuê lại) trong tình thế bị động, bắt buộc phải thực hiện và

không thể làm gì để ngăn chặn hay "giảm thiểu mức độ ảnh hưởng" từ quyết định của

UBND này.

Từ những phân tích về các ví dụ ở trên, để được công nhận là hoàn cảnh thay

đổi cơ bản thì cần phải đáp ứng đủ 05 điều kiện luật định như đã nêu. Trong cả hai ví

dụ ở trên, có một số điều kiện được thỏa mãn, nhưng một số điều kiện khác không

được thỏa mãn; vì vậy đều không được coi là hoàn cảnh thay đổi cơ bản.

* Các ví dụ thực tế

Trên thực tế, có rất nhiều vụ việc liên quan đến việc xác định sự kiện Hoàn cảnh

thay đổi cơ bản. Người viết sẽ dẫn ra một số án lệ thực tế dưới đây nhằm làm phong

phú hơn cách nhận định sự tồn tại của trường hợp này trong thực tiễn xét xử.

37

Trong vụ Egypt v. Yugo.,80 các bên có quốc tịch Ai Cập (Bên Mua) và Nam Tư

(Bên Bán) đã ký kết hợp đồng mua bán một số lượng 80.000 tấn thép thanh vào năm

1987 với giá là $24.00 mỗi tấn. Tranh chấp nảy sinh từ việc người bán từ chối giao

số lượng thép bổ sung theo giá hợp đồng, do giá thị trường tăng (tăng 13.16% mỗi

tấn, là $26.25), do đó Bên Mua buộc phải lấy hàng từ một nguồn khác với giá cao

hơn.

ICC đã so sánh luật Nam Tư với Điều 74.1 của Luật thống nhất về bán hàng hóa

quốc tế (ULIS) và với Điều 79(1) CISG và thấy rằng việc từ chối giao thêm hàng hóa

với giá quy định trong hợp đồng, Bên Bán đã vi phạm hợp đồng. Toà Trọng tài cho

rằng Bên Bán chỉ có thể được miễn nghĩa vụ giao hàng với giá trong hợp đồng chỉ

khi hợp đồng có điều khoản điều chỉnh giá, hoặc trong trường hợp không thể thực

hiện được hợp đồng, chứ không phải trường hợp này - vì sự tăng giá thị trường, trên

thực tế, không đột ngột, không đáng kể và không phải là không thể lường trước được.

Còn trong vụ việc Schiedsgericht der Handelskammer,81 Bên Bán - một công ty

Hồng Kông và Bên Mua - một công ty Đức, đã ký kết một thỏa thuận chung về việc

giao hàng và phân phối độc quyền bán sắt-molypden Trung Quốc. Theo thỏa thuận

này, Bên Bán chịu trách nhiệm về quan hệ kinh doanh với các nhà sản xuất Trung

Quốc, còn Bên Mua chịu trách nhiệm phân phối hàng hóa ở châu Âu. Trên cơ sở này,

các Bên thường xuyên ký kết những hợp đồng mua bán hàng hóa riêng rẽ. Do những

khó khăn tài chính, một nhà sản xuất Trung Quốc không thể giao hàng đã đặt cho Bên

Bán khiến Bên Bán không thể thực hiện nghĩa vụ của mình theo hợp đồng với Bên

Mua.

Hội đồng Trọng tài trong vụ việc này đã áp dụng Công ước CISG, cho rằng Bên

Bán chỉ có thể viện dẫn trở ngại (impediment) nếu hàng hóa có chất lượng tương

đương hoặc tương tự không còn có sẵn trên thị trường; hơn nữa, Bên Bán cũng phải

80 Egypt v. Yugo., [1989], Int'l Comm. Arb. No. 628, http://cisgw3.law.pace.edu/cases/896281i1.html (truy cập ngày 10/12/2019). 81 Vụ Schiedsgericht der Handelskammer, [1996], Hamburg Số 3229. Xem thêm tại, OLG Hamburg 1 U 167/95, ngày 28/02/1997.

chịu rủi ro tăng giá thị trường tại thời điểm giao dịch thay thế. Tòa Trọng tài cũng

38

cho rằng mặc dù giá thị trường đã tăng gấp ba lần giá thỏa thuận, nhưng điều này

không tương đương với "giá bán hy sinh" (sacrificial sale price) vì giao dịch bán sắt-

molypden này được cho là có tính đầu cơ cao.

Tóm lại, có thể thấy, tuy là một ngoại lệ của nguyên tắc buộc thực hiện đúng

nghĩa vụ của hợp đồng, nhưng ngoại lệ Hoàn cảnh thay đổi cơ bản này không phải

được áp dụng một cách rộng rãi, tùy tiện mà chỉ được áp dụng một cách hạn chế,

trong những trường hợp thật đặc biệt.

TIỂU KẾT:

Như vậy, qua phần trình bày nêu trên, người viết đã trình bày các nội dung cơ

bản về điều kiện xác lập Hoàn cảnh thay đổi cơ bản trong CISG, Bộ nguyên tắc

UNIDROIT về hợp đồng thương mại quốc tế và đặc biệt là quy định trong BLDS

Việt Nam 2015. Đồng thời, các điều kiện về Hoàn cảnh thay đổi cơ bản cũng được

xem xét với vụ việc và các ví dụ cụ thể. Quy định này được áp dụng không phụ thuộc

vào trường hợp các bên có thỏa thuận hay không và được áp dụng hết sức ngặt nghèo,

không hề tùy tiện. Bên cạnh đó, sự khác biệt giữa sự kiện Bất khả kháng và Hoàn

cảnh thay đổi cũng được đề cập trong Chương II này. Việc áp dụng những quy định

về Bất khả kháng hay Hoàn cảnh thay đổi cũng phải được xem xét với từng trường

hợp một cách chính xác và phù hợp.

Chương III sẽ nêu những quyền và nghĩa vụ phát sinh đối với các bên trong

quan hệ hợp đồng khi xảy ra sự kiện hoàn cảnh thay đổi cơ bản. Chương III sẽ tập

trung phân tích những quyền và nghĩa vụ được quy định trong BLDS Việt Nam 2015,

trên cơ sở so sánh, đối chiếu với những quyền và nghĩa vụ được nêu trong Công ước

CISG và PICC.

39

CHƯƠNG III –QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA CÁC BÊN TRONG TRƯỜNG

HỢP HOÀN CẢNH THAY ĐỔI CƠ BẢN VÀ NHỮNG BẤT CẬP TRONG

QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM 2015

Quy định về thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản là một điểm mới

quan trọng trong pháp luật Việt Nam, mặc dù đã được ghi nhận trong pháp luật thương

mại quốc tế. Trước hết phải khẳng định, “việc bổ sung quy định cho phép điều chỉnh

hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi trong BLDS là cần thiết, phù hợp với quy định của

pháp luật quốc tế cũng như xu hướng phát triển của xã hội, góp phần bảo đảm và duy

trì lợi ích của các bên trong quan hệ hợp đồng”.82 Việc quy định về việc cho phép sửa

đổi lại hợp đồng đều được ghi nhận ở phần lớn các hệ thống,83 điển hình như BLDS

Ý, và các nước Mỹ Latinh. Quy định này cũng rất tiệm cận với Công ước CISG và

Bộ nguyên tắc UNIDROIT về hợp đồng thương mại quốc tế.

Quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản

bao gồm: (i) quyền yêu cầu đàm phán lại hợp đồng; (ii) quyền yêu cầu Tòa án chấm

dứt và sửa đổi hợp đồng; và (iii) trong quá trình đàm phán hoặc Tòa án giải quyết,

các bên vẫn phải tiếp tục thực hiện hợp đồng, cụ thể quy định tại các khoản 2, 3 và 4,

Điều 420 BLDS 2015.

3.1. Quyền yêu cầu đàm phán lại hợp đồng của các bên trong hợp đồng

Nhắc lại hai vụ việc đã được xét xử tại Việt Nam được nêu ở mục 2.1., Chương

II để thấy quy định điều chỉnh lại hợp đồng có những ý nghĩa nhất định. Cụ thể, đối

với vụ việc thứ nhất, nếu cho phép điều chỉnh lại hợp đồng, các bên vẫn tiếp tục duy

trì hợp đồng cho năm thứ ba và những năm tiếp theo. Đồng thời giá mà bên mua Việt

Nam phải trả sẽ không còn là giá quá cao như trong hợp đồng quy định nữa (vì giá

thực tế trên thị trường đã giảm xuống ba lần). Điều này sẽ loại bỏ bất công cho doanh

82 Đỗ Văn Đại (2016), Bình luận khoa học Những điểm mới của Bộ luật Dân sự năm 2015 (Sách chuyên khảo), NXB. Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam, tr. 388. 83 F. Hinestrosa (2008), Rapport Général-Révision du contrat, in Le Contrat, NXB. Société de législation comparée, tr. 406.

nghiệp Việt Nam khỏi việc bắt buộc phải tiếp tục thực hiện hợp đồng.

40

Còn trong vụ việc thứ hai, nếu hợp đồng được điều chỉnh, Bên Bán (ông Son và

bà Thìn) sẽ được nhận lại số tiền cao hơn, tương ứng với 03 triệu đồng năm 1992

được quy đổi lại vào năm 2006 (bởi giá trị kiot sau 14 năm kể từ ngày ký kết hợp

đồng đã cao hơn rất nhiều mức giá 7.800.000 đồng). Thật vậy, Hội đồng thẩm phán

Tòa án nhân dân tối cao đã xét rằng “số tiền còn thiếu, bên mua là ông Thiết, bà Lới

phải thanh toán cho bên bán là ông Son, bà Thìn theo thời giá (kiốt phải được định

giá để ông Thiết, bà Lới thanh toán theo giá mới phần chưa thanh toán theo tỷ lệ

tương ứng)”.84 Ở đây, Tòa án tối cao theo hướng cần phải định giá lại kiốt có tranh

chấp và bên mua phải thanh toán phần chưa thanh toán theo tỷ lệ tương ứng. Ví dụ,

nếu giá trị tài sản có tranh chấp được định giá lại với giá là 78.000.000 đồng thì bên

mua phải trả cho bên bán là 3/7.800.000 x 78.000.000 = 30.000.000 đồng.

Khoản 2 Điều 420 của BLDS 2015 đặt ra quyền đàm phán lại hợp đồng cho bên

có lợi ích bị ảnh hưởng.

“Điều 420. Thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản

2. Trong trường hợp hoàn cảnh thay đổi cơ bản, bên có lợi ích bị ảnh hưởng có

quyền yêu cầu bên kia đàm phán lại hợp đồng trong một thời hạn hợp lý.”

Theo quy định này, chủ thể có quyền yêu cầu đàm phán lại hợp đồng là “bên có

lợi ích bị ảnh hưởng” bởi hoàn cảnh thay đổi cơ bản. Trong trường hợp này bên có

lợi ích bị ảnh hưởng cần chủ động trong việc yêu cầu bên kia đàm phán hợp đồng.

Điều này giống với quy định trong PICC.

“Điều 6.2.3.

1) Trong trường hợp hardship, bên bị bất lợi có quyền yêu cầu tiến hành đàm

phán lại hợp đồng. Yêu cầu này phải được đưa ra không chậm trễ và phải có căn

cứ.”

Theo các quy định của PICC, bên bị bất lợi có quyền yêu cầu tiến hành đàm

84 Quyết định Giám đốc Thẩm số 14/2006/DS-GDT, tlđd.

phán lại hợp đồng. Yêu cầu này phải được đưa ra không chậm trễ và phải có căn cứ

41

trong trường hợp xảy ra Hardship.85 Quy định này không nói rõ cụ thể thời hạn mà

các bên được đàm phán lại hợp đồng, mà chỉ quy định một cách khái quát là thời hạn

hợp lý hoặc là đúng lúc.86 Yêu cầu đàm phán lại hợp đồng phải được đưa ra sớm nhất

có thể ngay sau khi suy đoán là có hardship. Thời hạn yêu cầu đàm phán lại hợp đồng

phụ thuộc vào từng hoàn cảnh cụ thể… Bên bị bất lợi không mất quyền yêu cầu đàm

phán lại hợp đồng vì lý do duy nhất là đã không đưa ra yêu cầu đó trong thời hạn sớm

nhất có thể.87

Tuy nhiên, người viết nhận định một số vấn đề từ quy định của BLDS Việt Nam

như sau.

3.1.1. Luật không đặt ra nghĩa vụ phải đàm phán

BLDS Việt Nam không đặt ra nghĩa vụ phải đàm phán trong trường hợp hoàn

cảnh thay đổi cơ bản. Khi nhận được yêu cầu đàm phán lại hợp đồng từ bên có quyền,

bên kia có nghĩa vụ phải đàm phán lại hay không? Liệu có nên mặc nhiên thừa nhận

quyền của bên này là nghĩa vụ của bên kia? Nếu có quy định minh thị trong điều

khoản sẽ nêu rõ được quyền và nghĩa cụ thể cho mỗi bên, tránh trường hợp việc lợi

dụng quy định “sơ hở” này mà từ chối thỏa thuận, đàm phán.

3.1.2. Chủ thể trong đàm phán

Trong Công ước CISG, ngoài các chủ thể của hợp đồng, Công ước có nhắc tới

“người thứ ba” như sau:

“Điều 79

2. Nếu một bên không thực hiện nghĩa vụ của mình do người thứ ba mà họ nhờ

thực hiện toàn phần hay một phần hợp đồng cũng không thực hiện điều đó thì bên ấy

chỉ được miễn trách nhiệm trong trường hợp:

85 PICC (2016), tlđd.,Điều 6.2.3.1 86 Nguyễn Huy Hoàng (2015), Hệ quả pháp lý khi Hoàn cảnh thay đổi cơ bản theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015, Trường Đại học Trà Vinh. 87 Dịch giả: TS. Nguyễn Minh Hằng (2014), tlđd., tr. 270.

a. Ðược miễn trách nhiệm chiếu theo quy định của khoản trên, và.

42

b. Nếu người thứ ba cũng sẽ được miễn trách nếu các quy định của khoản trên

được áp dụng cho họ.”

Khoản (2), Điều 79 Công ước CISG là một quy định tương đối khắt khe, nghiêm

ngặt, đặt ra quyền được miễn trách của một bên trong trường hợp “do người thứ ba”

nhưng phải đáp ứng hai điều kiện: (i) Ðược miễn trách nhiệm chiếu theo quy định

của khoản trên, và (ii) Nếu người thứ ba cũng sẽ được miễn trách nếu các quy định

của khoản trên được áp dụng cho họ.

Nghĩa là, một bên được miễn trách trong trường hợp bên thứ ba không thực hiện

hợp đồng cấu thành một trường hợp trở ngại/hoàn cảnh thay đổi cơ bản đối với bên

vi phạm và bên thứ ba cũng được miễn trách khi đáp ứng đồng thời ba điều kiện: xảy

ra ngoài tầm kiểm soát của các bên; không thể lường trước được một cách hợp lý tại

thời điểm ký kết hợp đồng; sự kiện và hậu quả của nó không tránh được hoặc không

thể khắc phục được.88

Khoản 2, Điều 79 nêu ra một chủ thể “bên thứ ba”. “Bên thứ ba” cần được hiểu

theo nghĩa hẹp, bao gồm những trường hợp như bên bán chuyển giao nghĩa vụ của

mình cho bên thứ ba để sản xuất hàng hóa theo yêu cầu về mặt chất lượng, kỹ thuật

được đưa ra bởi bên mua; bên bán ủy quyền cho bên thứ ba để mua và giao dịch với

bên mua. Như vậy, sự tham gia của bên thứ ba phải có mục đích trực tiếp thực hiện

hợp đồng giữa bên bán và bên mua.89 Khoản 2 Điều 79 không áp dụng cho bên thứ

ba nào đơn thuần tham gia với tư cách hỗ trợ hoặc tạo tiền đề cho một bên thực hiện

hợp đồng chính, phải có một liên kết hữu cơ “organic link” giữa hợp đồng chính

(bên bán và bên mua) và hợp đồng phụ (bên thứ ba với một bên hợp đồng).90

Chủ thể trong đàm phán lại hợp đồng bao gồm những đối tượng nào chưa được

xác định cụ thể trong BLDS Việt Nam. Quy định về thực hiện hợp đồng khi hoàn

cảnh thay đổi cơ bản là quy định áp dụng cho tất cả các hợp đồng, kể cả hợp đồng vì

lợi ích của người thứ ba. Nếu việc điều chỉnh hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ

88 Công ước CISG, tlđd., Điều 79(1). 89 CISG Advisory Council, Mục 22, Opinion No 7, http://www.cisgac.com/cisgac-opinion-no7/ (truy cập ngày 04/12/2019). 90 John O. Honnold; Uniform Laws for International Trade: Early "Care and Feeding" for Uniform Growth; http://www.cisg.law.pace.edu/cisg/biblio/honnold.html (truy cập ngày 04/12/2019).

43

bản có thể tác động đến lợi ích của người thứ ba thì có cần sự đồng ý của người thứ

ba hay không?

Khi đặt điều khoản “Thực hiện Hợp đồng khi Hoàn cảnh thay đổi cơ bản” trong

so sánh với các điều khoản khác của BLDS 2015, người viết nhận thấy có điểm mâu

thuẫn, điển hình như quy định giữa Điều 417 với Điều 420 BLDS 2015.

“Điều 417. Không được sửa đổi hoặc hủy bỏ hợp đồng vì lợi ích của người

thứ ba

Khi người thứ ba đã đồng ý hưởng lợi ích thì dù hợp đồng chưa được thực hiện,

các bên giao kết hợp đồng cũng không được sửa đổi hoặc hủy bỏ hợp đồng, trừ trường

hợp được người thứ ba đồng ý.”

Trong việc thực hiện hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba, Điều 417 BLDS Việt

Nam 2015 quy định không được sửa đổi, hủy bỏ hợp đồng vì lợi ích của người thứ

ba, trừ trường hợp được người thứ ba đồng ý. Vậy nếu người thứ ba không đồng ý

việc sửa đổi và hủy bỏ hợp đồng thì thỏa thuận để cân bằng quyền và lợi ích giữa các

bên tham gia giao kết theo Điều 420 liệu còn có giá trị? Và nếu người thứ không đồng

ý thì Tòa án có quyền can thiệp nữa hay không?

Có học giả cho rằng: “Sửa đổi hợp đồng chỉ có hậu quả là làm thay đổi các

quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng, chứ không làm ảnh hưởng đến lợi ích

của người thứ ba. Trong trường hợp như vậy, việc sửa đổi hợp đồng có thể được thực

hiện theo ý chí của các bên” còn nếu “sửa đổi hợp đồng có hậu quả là làm thay đổi

(gia tăng hoặc giảm bớt) lợi ích của người thứ ba, thì cần phải có sự đồng ý của người

thứ ba”.91 Tuy nhiên, người viết cho rằng việc sửa đổi hợp đồng trong trường hợp

Hoàn cảnh thay đổi cơ bản không cần thiết cần phải có sự đồng ý của người thứ ba.

Bởi việc xảy ra hoàn cảnh thay đổi cơ bản là sự kiện khách quan mà không bên nào

trong hợp đồng mong muốn xảy ra. Nên việc sửa đổi hợp đồng là do nguyên nhân

91 Ngô Quốc Chiến (2015),“Điều chỉnh hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi và việc sửa đổi Bộ luật Dân sự 2005”, Nghiên cứu lập pháp, Số 14, tr 29 – 33.

khách quan tác động, nhằm đảm bảo lợi ích của các bên chứ không phải do ý chí chủ

44

quan. Hơn nữa, trong hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba, bên thứ ba là người hưởng

quyền mà không phải thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng cho nên khi sửa đổi hợp

đồng không cần phải có sự đồng ý của người thứ ba. Kể cả trong trường hợp quyền

lợi của bên thứ ba bị giảm sút sau khi hợp đồng được điều chỉnh thì họ vẫn là bên

hưởng quyền (dù có thể quyền lợi bị giảm đi so với thỏa thuận ban đầu) và cũng phải

thực hiện nguyên tắc thiện chí, chia sẻ những khó khăn với bên bị bất lợi khi xảy ra

sự kiện hoàn cảnh thay đổi cơ bản.

3.1.3. Nghĩa vụ chứng minh

BLDS 2015 không quy định nghĩa vụ chứng minh những bất lợi mà bên yêu

cầu đàm phán gặp phải. Tuy nhiên, trong Công ước CISG và PICC đều quy định

nghĩa vụ đưa ra căn cứ để được miễn trừ do sự kiện, trở ngại khách quan.

“Điều 79

1. Một bên không chịu trách nhiệm về việc không thực hiện bất kỳ một nghĩa vụ

nào đó của họ nếu chứng minh được rằng việc không thực hiện ấy là do một trở

ngại nằm ngoài sự kiểm soát của bên đó và người ta không thể chờ đợi một cách hợp

lý rằng họ phải tính tới trở ngại đó vào lúc ký kết hợp đồng hoặc là tránh được hay

khắc phục các hậu quả của nó.”92

“Điều 6.2.3.

1) Trong trường hợp hardship, bên bị bất lợi có quyền yêu cầu tiến hành đàm

phán lại hợp đồng. Yêu cầu này phải được đưa ra không chậm trễ và phải có căn

cứ.”93

Việc yêu cầu chứng minh là hoàn toàn hợp lý trước khi nhận được những quyền

miễn trừ, vậy nhưng vẫn chưa được quy định trong BLDS Việt Nam. Đây có thể coi

92 Bản dịch của VIAC, http://www.trungtamwto.vn/upload/files/chu_de_khac/303-cong-uoc-vien/307-van- kien/Cong%20uoc%20vien%201980%20-%20TV.pdf, (truy cập ngày 09/08/2019). 93 PICC (2016), tlđd.,Điều 6.2.3.1

là một hạn chế của quy định Hoàn cảnh thay đổi cơ bản này.

45

3.1.4. Khái niệm “thời hạn hợp lý”

Các nhà soạn thảo Việt Nam có thể đã kế thừa thuật ngữ “thời hạn hợp lý” của

Khoản 4, Điều 79 Công ước CISG.

“Điều 79

4. Bên nào không thực hiện nghĩa vụ của mình thì phải báo cáo cho bên kia biết

về trở ngại và ảnh hưởng của nó đối với khả năng thực hiện nghĩa vụ. Nếu thông báo

không tới tay bên kia trong một thời hạn hợp lý từ khi bên không thực hiện nghĩa vụ

đã biết hay đáng lẽ phải biết về trở ngại đó thì họ sẽ phải chịu trách nhiệm về những

thiệt hại do việc bên kia không nhận được thông báo.”

Nhưng trong Công ước này, thuật ngữ “thời hạn hợp lý” cũng không được giải

thích mà chỉ có ý kiến của học giả. “Thời hạn hợp lý” có thể là một thời gian ngắn:

tùy vào hoàn cảnh có thể yêu cầu thông báo ngay lập tức.94 Thời gian bắt đầu được

tính ngay khi trở ngại và hậu quả của trở ngại đối với hợp đồng được biết đến; hoặc

từ khi bên không thực hiện nghĩa vụ phải biết.95 Thiện chí được thể hiện khi cả hai

bên thông báo liên tiếp, nếu trong trường hợp bên không thực hiện nghĩa vụ không

thể ngay lập tức cho biết hậu quả của trở ngại sẽ là gì.96

Còn theo PICC, quy định về thời hạn yêu cầu đàm phán lại hợp đồng là phải

được đưa ra đúng lúc.

“Điều 6.2.3.

1) Trong trường hợp hardship, bên bị bất lợi có quyền yêu cầu tiến hành đàm

phán lại hợp đồng. Yêu cầu này phải được đưa ra không chậm trễ và phải có căn

cứ.”

“Thời hạn hợp lý”, có thể nhìn nhận là khái niệm tương đối mơ hồ. BLDS 2015

94 Dionysios Flambouras (2002), “Comparative Remarks on CISG Article 79 & PECL Articles 6:111, 8:108” http://www.cisg.law.pace.edu/cisg/text/peclcomp79.html (truy cập ngày 01/12/2019). 95 Như trên. 96 Như trên.

không quy định cách xác định khoảng thời gian “hợp lý” là bao lâu. Tuy nhiên, thuật

46

ngữ “thời hạn hợp lý” cũng được nhắc đến trong nhiều quy định khác của BLDS 2015

như: Điều 142,97 Điều 143,98 hay Điều 300.99

Vậy khái niệm “thời hạn hợp lý” tại Điều 420 cần phải được đặt trong mối tương

quan diễn giải chung của BLDS, xét đến các yếu tố của giao dịch và của hoàn cảnh.100

Thông thường, để đảm bảo tiêu chí khách quan, tính “hợp lý” được xem xét bởi một

bài test khách quan, theo đó, thời hạn hợp lý là thời hạn mà trong hoàn cảnh tương

tự, một bên nếu tuân thủ đúng nguyên tắc thiện chí phải đưa ra yêu cầu.101

3.2. Quyền yêu cầu Tòa án chấm dứt hoặc sửa đổi hợp đồng

Có nhiều quan điểm cho rằng, việc can thiệp của Tòa án vào “luật của các bên”

là trái với bản chất của nguyên tắc Pacta sunt servenda. Tuy nhiên, việc can thiệp

này là cần thiết bởi nó như “sợi dây trói buộc” mà bên bị ảnh hưởng sẽ mong muốn

được “giải thoát” và chỉ Tòa án mới có khả khả năng “giải phóng” cho họ.102

Khoản 3 Điều 420 BLDS năm 2015 quy định về nguyên tắc và thẩm quyền can

thiệp quan hệ hợp đồng của Tòa án trong trường hợp “các bên không thể thỏa thuận

được về việc sửa đổi hợp đồng”.

“Điều 420. Thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản

97 BLDS Việt Nam (2015), tlđd., Điều 142: “Điều 142. Hậu quả của giao dịch dân sự do người không có quyền đại diện xác lập, thực hiện 1. Giao dịch dân sự do người không có quyền đại diện xác lập, thực hiện không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với người được đại diện, trừ một trong các trường hợp sau đây: b) Người được đại diện biết mà không phản đối trong một thời hạn hợp lý;” 98 BLDS Việt Nam (2015), tlđd., Điều 143: “Điều 143. Hậu quả của giao dịch dân sự do người đại diện xác lập, thực hiện vượt quá phạm vi đại diện 1. Giao dịch dân sự do người đại diện xác lập, thực hiện vượt quá phạm vi đại diện không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của người được đại diện đối với phần giao dịch được thực hiện vượt quá phạm vi đại diện, trừ một trong các trường hợp sau đây: b) Người được đại diện biết mà không phản đối trong một thời hạn hợp lý;” 99 BLDS Việt Nam (2015), tlđd., Điều 300: “Điều 300. Thông báo về việc xử lý tài sản bảo đảm 1. Trước khi xử lý tài sản bảo đảm, bên nhận bảo đảm phải thông báo bằng văn bản trong một thời hạn hợp lý về việc xử lý tài sản bảo đảm cho bên bảo đảm và các bên cùng nhận bảo đảm khác.” 100 PGS. TS. Nguyễn Minh Hằng và Trần Thị Giang Thu, (2016), tlđd. 101 Như trên. 102 Nguyễn Thị Thúy Hường (2019), “Hậu quả pháp lý khi hoàn cảnh có sự thay đổi cơ bản trong quá trình thực hiện hợp đồng”, Tạp chí Tòa án, https://tapchitoaan.vn/bai-viet/xay-dung-phat-luat/hau-qua-phap-ly-khi- hoan-canh-co-su-thay-doi-co-ban-trong-qua-trinh-thuc-hien-hop-dong (truy cập ngày 10/10/2019)

47

3. Trường hợp các bên không thể thỏa thuận được về việc sửa đổi hợp đồng

trong một thời hạn hợp lý, một trong các bên có thể yêu cầu Tòa án:

a) Chấm dứt hợp đồng tại một thời điểm xác định;

b) Sửa đổi hợp đồng để cân bằng quyền và lợi ích hợp pháp của các bên do

hoàn cảnh thay đổi cơ bản.

Tòa án chỉ được quyết định việc sửa đổi hợp đồng trong trường hợp việc chấm

dứt hợp đồng sẽ gây thiệt hại lớn hơn so với các chi phí để thực hiện hợp đồng nếu

được sửa đổi.”

Việc “không thể thỏa thuận được” có thể là do một bên từ chối đàm phán hợp

đồng hoặc là do các bên không đạt được thỏa thuận về việc sửa đổi hợp đồng. Quy

định tiến bộ này của BLDS Việt Nam là kế thừa từ PICC.103

“Điều 6.2.3. Hệ quả

3. Nếu các bên không thỏa thuận được trong một thời hạn hợp lý thì mỗi bên có

quyền yêu cầu toà án giải quyết.

Tuy nhiên, người viết có một số ý kiến bình luận về điều khoản này như sau.

3.2.1. Thẩm quyền của Tòa án bị bó hẹp

Quy định “trường hợp các bên không thể đàm phán lại về việc sửa đổi hợp đồng”

là chưa hợp lý. Ở đây mở ra một tình huống nếu các bên không đàm phán lại về việc

sửa đổi thì có được quyền yêu cầu Tòa án can thiệp hay không?

Theo PICC, Tòa án đóng vai trò một người trọng tài giúp các bên trong quá

trình thương lượng để đi đến giải pháp chung, nhất là khi quá trình tự đàm phán của

các bên trở nên bế tắc.104

Còn tại BLDS Việt Nam, từ “chỉ” trong câu “Tòa án chỉ được quyền sửa đổi

hợp đồng trong trường hợp việc chấm dứt hợp đồng sẽ gây thiệt hại lớn hơn so với

103 PICC (2016), tlđd., Điều 6.2.3.3. 104 PICC, (2016), tlđd., Comment, tr. 221.

48

các chi phí để thực hiện hợp đồng nếu được sửa đổi” khiến người đọc hiểu là sự ưu

tiên của luật pháp khi trao quyền cho Tòa án chấm dứt hợp đồng. Về quyền sửa đổi

hợp đồng của Tòa án, có thể thấy hướng giải quyết là sửa đổi hợp đồng của Tòa án

bị áp dụng hạn chế hơn so với hướng giải quyết chấm dứt hợp đồng.105 Trong khi

quyền chấm dứt hợp đồng của Tòa án không kèm theo điều kiện nào khác, thì quyền

sửa đổi hợp đồng lại bị giới hạn. Điều này sẽ dẫn tới việc các bên và Tòa án đều

hướng tới việc chấm dứt hợp đồng khi xảy ra hoàn cảnh thay đổi cơ bản.

Việc quy định chặt chẽ như vậy sẽ ngăn ngừa được các trường hợp Tòa án lạm

dụng để can thiệp quá mức vào thỏa thuận giữa các bên, tuy nhiên, quy định này cũng

đồng thời đặt ra gánh nặng trong việc áp dụng trên thực tế, bởi việc xác định thiệt hại

“trong trường hợp chấm dứt hợp đồng” và xác định “chi phí để thực hiện hợp đồng”

là các vấn đề hết sức phức tạp và khó khăn, không phải người xét xử nào cũng có đủ

hiểu biết và trình độ để tính toán, đặc biệt là với các hợp đồng trong các lĩnh vực có

tính đặc thù cao như kỹ thuật, công nghệ thông tin,106… Hơn nữa, ngay cả khi Tòa ra

quyết định sửa đổi hợp đồng, thì việc sửa đổi các điều khoản cụ thể có được đặt trong

chừng mực nào không, hay hoàn toàn dựa trên ý kiến chủ quan của người xét xử.107

3.2.2. Việc xác định “chi phí để thực hiện hợp đồng”

Việc xác định “chi phí để thực hiện hợp đồng” và “gây thiệt hại lớn hơn” không

phải dễ dàng. “Chi phí để thực hiện hợp đồng” là chi phí của bên nào? Ở đây nên căn

cứ vào tình thế của bên có lợi ích bị ảnh hưởng bởi hoàn cảnh thay đổi cơ bản xảy ra

trong khoảng thời gian bên bị ảnh hưởng đang phải thực hiện nghĩa vụ của mình. Và

việc “chấm dứt hợp đồng gây thiệt hại lớn hơn” có bao gồm thiệt hại của người khác

nữa không? Việc chưa quy định cụ thể về cách xác định thiệt hại và cách xác định

các chi phí thực hiện hợp đồng tại khoản 3, Điều 420 BLDS 2015 sẽ tạo ra những

105 Vũ Thị Lan Anh (2016), “Các vấn đề pháp lý đặt ra trong việc thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản”, Tạp chí nhà nước và pháp luật, số 337. 106 PGS. TS. Nguyễn Minh Hằng và Trần Thị Giang Thu, (2016), tlđd. 107 PGS. TS. Nguyễn Minh Hằng và Trần Thị Giang Thu, (2016), tlđd.

cách hiểu không thống nhất và gây khó khăn cho việc áp dụng quy định này.

49

3.3. Nghĩa vụ của các bên vẫn phải tiếp tục thực hiện hợp đồng trong quá

trình đàm phán sửa đổi, chấm dứt hợp đồng, Tòa án giải quyết

“Điều 420. Thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản

4. Trong quá trình đàm phán sửa đổi, chấm dứt hợp đồng, Tòa án giải quyết vụ

việc, các bên vẫn phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ của mình theo hợp đồng, trừ trường

hợp có thỏa thuận khác.”

Khoản 4 này nằm trong Điều 420, tiểu mục 2 - Thực hiện hợp đồng của BLDS

năm 2015 tức là ngoài trường hợp có thỏa thuận khác thì các bên trong hợp đồng vẫn

phải thực hiện nghĩa vụ của mình để đảm bảo quyền và lợi ích của bên còn lại được

diễn ra đúng như những gì đã được thống nhất.

Quy định về nghĩa vụ này trong PICC được thể hiện như sau:

“Điều 6.2.3. Hệ quả

2) Yêu cầu đàm phán lại hợp đồng, bản thân nó, không cho phép bên bị bất lợi

có quyền tạm đình chỉ thực hiện nghĩa vụ của mình.”

Quy định này của PICC có phần hợp lý và đảm bảo quyền của bên có lợi ích bị

ảnh hưởng hơn,108 bởi “Yêu cầu thương lượng lại tự thân nó không cho phép bên bị

khó khăn ngừng thực hiện nghĩa vụ nhằm tránh việc các bên lợi dụng điều khoản này.

Việc ngừng thực hiện nghĩa vụ chỉ có thể được xem xét trong một số trường hợp

ngoại lệ.”109 Ngoại lệ này có thể đến từ chủ thể có thẩm quyền như Tòa án (hoặc

Trọng tài, mặc dù pháp luật hiện hành chưa quy định vai trò của chủ thể này trong

việc giải quyết hậu quả pháp lý khi hoàn cảnh có sự thay đổi cơ bản). Vấn đề được

đặt ra là bên không có lợi ích bị ảnh hưởng có thể lợi dụng để chuộc lợi hay bảo vệ

lợi ích của riêng mình mà không tính đến những khó khăn mà bên kia đang gánh chịu.

Vậy câu hỏi đặt ra là: Trong quá trình giải quyết, bên có lợi ích bị ảnh hưởng có quyền

108 Nguyễn Thị Thúy Hường (2019), tlđd. 109 PICC, (2016), tlđd., Comment, tr. 221.

yêu cầu cơ quan có thẩm quyền áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời hay không?

50

*** Một số quyền và nghĩa vụ khác được đặt ra theo Công ước CISG và PICC

Theo BLDS Việt Nam, khi xảy ra Hoàn cảnh thay đổi cơ bản, các bên có các

quyền và nghĩa vụ như được phân tích ở trên. Tuy nhiên, khi đối chiếu so sánh với

Công ước CISG và PICC, người viết có nhận thấy còn một số quyền và nghĩa vụ khác

bên cạnh những quyền và nghĩa vụ được nêu trong luật Việt Nam. Cụ thể:

a) Theo Công ước CISG

Khoản 3, Điều 79 quy định hiệu lực của hành vi miễn trách như sau:

“3. Sự miễn trách được quy định tại điều này chỉ có hiệu lực trong thời kỳ tồn

tại trở ngại đó.”

Việc một trở ngại ngăn cản một bên thực hiện nghĩa vụ được miễn không thực

hiện trách nhiệm chỉ trong khoảng thời gian tồn tại trở ngại đó. Do đó, ngày miễn trừ

thiệt hại chấm dứt là ngày hợp đồng thực hiện hoặc ngày mà các trở ngại đã được gỡ

bỏ, tùy theo thời điểm nào muộn hơn.110

Khoản 5 của Điều 79 như sau:

“Điều 79

5. Các sự quy định của điều này không cản trở từng bên được sử dụng mọi

quyền khác ngoài quyền được bồi thường thiệt hại chiếu theo Công ước này.”

Hiện tại, có rất nhiều cách tiếp cận về điều khoản này. Có học giả cho rằng,

Khoản 5 Điều 79 đề xuất rằng một trở ngại miễn trừ chỉ "có tác dụng hạn chế đối với

các biện pháp khắc phục có sẵn cho bên không thực hiện nghĩa vụ, Khoản 5 điều này

dường như đảm bảo quyền yêu cầu thực hiện ngay cả khi việc thực hiện đã trở nên

vĩnh viễn không thực hiện được nữa.111 Bên cạnh đó đó, cách tiếp cận hiện tại (cho

phép một số việc thực hiện cụ thể ngay cả trong trường hợp miễn trừ trở ngại) dường

như đã được đồng thuận: ít nhất quyền tiếp tục thực hiện tồn tại trong trường hợp tạm

(truy cập ngày

110 Commentary 13, https://cisgw3.law.pace.edu/cisg/text/secomm/secomm-79.html 09/10/2019). 111 Arthur Hartkamp (1994), "The UNIDROIT Principles For International Commercial Contracts and the United Nations Convention on Contracts for the International Sale of Goods", Comparability and Evaluation, tr. 96, http://tldb.uni-koeln.de/TLDB.html, (truy cập ngày 10/09/2019).

51

thời miễn trừ và yêu cầu phụ trợ có liên quan như lãi suất, tiếp tục tích lũy, do đó thúc

đẩy các bên liên quan nỗ lực hơn để vượt qua trở ngại.112

b) Theo PICC

Việc yêu cầu đàm phán lại hợp đồng không cho phép bên bị bất lợi có quyền

tạm đình chỉ việc thực hiện nghĩa vụ của mình113 chưa được ghi nhận trong BLDS

Việt Nam (BLDS Việt Nam quy định “phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ”, nghĩa là

không được tạm ngừng, đình chỉ việc thực hiện nghĩa vụ), nhưng nghĩa vụ này được

coi là nguyên tắc pacta sunt servanda đi theo tinh thần chung của luật quốc tế, rằng

việc đàm phán lại giữa các bên phải được tiến hành theo nguyên tắc thiện chí, trung

thực và hợp tác (tại Điều 1.7 và 5.1.3 PICC).

3.4. Đánh giá thực trạng của việc quy định quyền và nghĩa vụ các bên

trong trường hợp hoàn cảnh thay đổi cơ bản theo Bộ luật Dân sự 2015

3.4.1. Những điểm tích cực

Từ khi BLDS Việt Nam 2015 có hiệu lực vào ngày 01/01/2017, điều khoản hoàn

cảnh thay đổi cơ bản đã chứng minh được giá trị trong thực tiễn đời sống hợp đồng,

giúp các chủ thể của hợp đồng có định hướng xử lý hợp đồng trong trường hợp xảy

ra hoàn cảnh thay đổi cơ bản.

Thật vậy, từ khi điều khoản hoàn cảnh thay đổi cơ bản được đưa vào BLDS 2015,

các thẩm phán có thể sử dụng công cụ hoàn cảnh thay đổi cơ bản để đánh giá sự kiện

khách quan cản trở việc thực hiện hợp đồng có phải là hoàn cảnh thay đổi cơ bản hay

không trong một số bản án. Có thể kể đến như: Vụ tranh chấp kinh doanh thương mại

giữa Nguyên đơn là Công ty TNHH một thành viên Thương mại du lịch P (sau đây

gọi là Công ty P) và Bị đơn là Công ty TNHH V (sau đây gọi là Công ty V).114 Nguyên

đơn đã viện dẫn Điều 420 để yêu cầu chấm dứt hợp đồng thuê thương hiệu vì lý do

112 Fritz Enderlein & Dietrich Maskow (1992), International Sales Law: United Nations Convention on Contracts for the International Sale of Goods, NXB. Oceana Publication, New York, tr. 353; http://www.cisg.law.pace.edu/cisg/biblio/enderlein.html, (truy cập ngày 10/09/2019). 113 PICC (2016), tlđd.,Điều 6.2.3.2. 114 Bản án số 06/2017/KDTM-ST về tranh chấp hợp đồng chuyển quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp; tuyên hủy thư bảo lãnh [2017], Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, Thành phố Đà Nẵng.

Nguyên đơn bị chủ cửa hàng chấm dứt hợp đồng thuê cửa hàng dẫn đến không còn

52

địa bàn để kinh doanh thương hiệu của Bị đơn. Điều đáng lưu ý là nguyên nhân dẫn

đến Công ty P bị chủ nhà chấm dứt hợp đồng cho thuê mặt bằng là do bên này đã

không thanh toán được tiền thuê nhà ba tháng liên tiếp. Như vậy, mặc dù việc bị thu

hồi mặt bằng kinh doanh có thể coi là hoàn cảnh thay đổi cơ bản, nhưng nguyên nhân

một phần do lỗi của bên bị ảnh hưởng nên trường hợp này không thể viện dẫn Điều

420 để yêu cầu chấm dứt hay sửa đổi hợp đồng.

Hoặc như trong vụ tranh chấp liên quan đến hợp đồng chuyển nhượng giữa Công

ty Cổ phần Kinh doanh bất động sản C (Nguyên đơn) và bà Huỳnh Ngọc D (Bị đơn),

Tòa án xem xét việc chấm dứt thực hiện hợp đồng một phần cũng do hoàn cảnh đã

thay đổi cơ bản (giá trị quyền sử dụng đất thay đổi so với khi ký kết hợp đồng nhưng

hai bên không thỏa thuận lại) theo quy định tại Điều 420 Bộ luật Dân sự.115

Có thể thấy quy định của luật Việt Nam khá cụ thể và chặt chẽ trong việc giải

thích rõ các điều kiện cho phép không tiếp tục thực hiện (chấm dứt) hợp đồng khi

hoàn cảnh thay đổi cơ bản.116 Tinh thần của điều luật hoàn toàn phù hợp với thực tiễn

tại Việt Nam trong bối cảnh áp dụng nguyên tắc về tôn trọng quyền tự định đoạt của

các bên vì suy cho cùng, hợp đồng là kết quả của sự thoả thuận tự nguyện và rằng các

bên phải chịu trách nhiệm với các quyết định của mình khi tham gia vào hợp đồng.117

Với nhìn nhận như vậy, có thể thấy pháp luật hợp đồng Việt Nam một mặt thừa nhận

thông lệ quốc tế trong lĩnh vực này,118 mặt khác giữ lại những nét riêng cần có phù

hợp với bối cảnh pháp lý của Việt Nam hiện nay.119

3.4.2. Hạn chế

Từ những phân tích tại Chương III phía trên, có thể thấy những hạn chế của điều

115 Bản án số 46/2020/DS-PT về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất [2020], Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương. 116 TS. Đoàn Thị Phương Diệp (2019), “Pháp luật hợp đồng Việt Nam nhìn ở góc độ so sánh với luật Cộng hòa Pháp”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, Số 11(386). 117 Như trên. 118 Ngô Thu Trang - Nguyễn Thế Đức Tâm (2017), “Thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 1(345), tr. 60-67. 119 TS. Đoàn Thị Phương Diệp (2019), tlđd.

khoản hoàn cảnh thay đổi cơ bản như sau:

53

Một là, một số khái niệm vẫn còn chưa rõ ràng.

Điều 420 xuất hiện một số khái niệm như “gây thiệt hại nghiêm trọng”, “thời hạn

hợp lý”, “chi phí thực hiện hợp đồng”,… Những khái niệm này chưa được giải thích

trong luật cũng như từ ngữ sử dụng còn mơ hồ, chung chung. Điều này sẽ gây khó

khăn cho các bên trong việc thực hiện hợp đồng, đồng thời cũng gây khó khăn cho

các Thẩm phán trong việc xác định.

Hai là, thiếu quy định về những nghĩa vụ.

Điều khoản hoàn cảnh thay đổi cơ bản chỉ quy định về quyền đàm phán lại hợp

đồng. Điều khoản này cần phải kèm theo nghĩa vụ đàm phán và nghĩa vụ chứng minh.

Việc thiếu quy định về nghĩa vụ đàm phán là không phù hợp với nguyên tắc thiện chí

xuyên suốt BLDS nói riêng và pháp luật Việt Nam nói chung, cũng như nguyên tắc

pacta sunt servanda được thừa nhận rộng rãi trong luật quốc tế. Hơn nữa, việc thiếu

quy định về nghĩa vụ đàm phán và nghĩa vụ chứng minh sẽ giảm trách nhiệm của các

bên trong việc cố gắng tìm giải pháp trước khi đưa vụ việc ra Tòa án sau khi sự kiện

hoàn cảnh thay đổi xảy ra.

Ba là, có sự mâu thuẫn giữa BLDS và Luật Trọng tài thương mại.

Sự mâu thuẫn giữa BLDS và Luật Trọng tài thương mại là dễ nhận thấy nhất như

đã trình bày phía trên. Khi quy định Tòa án là cơ quan tài phán duy nhất có thẩm

quyền trong việc xử lý những tranh chấp có yếu tố liên quan tới sự kiện hoàn cảnh

thay đổi mô hình chung đã làm nảy sinh mâu thuẫn về thẩm quyền với Trọng tài nếu

các bên đã thỏa thuận giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài trước đó.

3.4.3. Nguyên nhân

Trước khi điều khoản Hoàn cảnh thay đổi cơ bản được đưa vào BLDS 2015, khái

niệm điều khoản hoàn cảnh thay đổi cơ bản vẫn còn tương đối xa lạ với những cá

120 Trần Minh Tâm & Nguyễn Minh Hiển (2015), “Điều khoản Hardship trong Hợp đồng mua bán Hàng hóa quốc tế”, Tạp chí Kinh tế đối ngoại, Số 70, 50-59, tr. 50.

nhân trực tiếp tham gia soạn thảo hợp đồng của các Doanh nghiệp Việt Nam,120 và

54

những người trực tiếp soạn thảo hợp đồng cũng không có ý định sử dụng điều khoản

hoàn cảnh thay đổi cơ bản,121 mặc dù khái niệm Hardship đã xuất hiện từ năm 1960,

được trình bày lần đầu tiên trong các nghiên cứu của Marcel Fontaine, in trong quyển

“Pháp luật hợp đồng quốc tế”, xuất bản năm 1989.122

Tuy nhiên, do điều khoản hoàn cảnh thay đổi cơ bản này lần đầu tiên được quy

định trong BLDS Việt Nam 2015 nên vẫn là một quy định mới và khá phức tạp. Để

triển khai thi hành trên thực tiễn, cần có sự nghiên cứu và nhìn nhận nghiêm túc từ

phía nhà làm luật, nhà nghiên cứu, đặc biệt là của các thẩm phán trong việc giải quyết

các vụ việc liên quan.123 Đặc biệt, những vấn đề bất cập được nêu trong Chương III

này cần phải xem xét kĩ và cần có những giải pháp, đề xuất kịp thời.

TIỂU KẾT

Qua những phân tích và so sánh về các điều khoản trong Công ước CISG, PICC

và BLDS Việt Nam, khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản sẽ phát sinh các hệ quả pháp lý

như quyền yêu cầu đàm phán lại hợp đồng để cân bằng lợi ích cho các bên. Các bên

trong hợp đồng có thể thỏa thuận sửa đổi hợp đồng hoặc là chấm dứt hợp đồng, trong

trường hợp các bên không thể tự thỏa thuận được thì có quyền yêu cầu Tòa án giải

quyết tranh chấp.

Qua quá trình nghiên cứu và phân tích, người viết nhận thấy còn một số vấn đề

còn bất cập về hệ quả pháp lý khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản được quy định trong

BLDS Việt Nam 2015. Bởi thế, người viết có những đề xuất nhằm hoàn thiện các

quy định trong Bộ luật liên quan đến hệ quả pháp lý khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản

121 Trần Minh Tâm & Nguyễn Minh Hiển (2015), tlđd., tr. 57. 122 Ugo Draetta (2004), “Điều khoản về trường hợp bất khả kháng và điều khoản Hardship trong hợp đồng quốc tế”, Kỷ yếu Hội thảo “Hợp đồng thương mại quốc tế” do Nhà pháp luật Việt –Pháp, ngày 13-14, tháng Mười Hai năm 2004, Hà Nội, Việt Nam, tr.181. 123 Ngô Thu Trang - Nguyễn Thế Đức Tâm (2017), tlđd.

như được trình bày ở Chương IV dưới đây.

55

CHƯƠNG IV- GIẢI PHÁP VỀ GIẢI THÍCH VÀ ÁP DỤNG QUY ĐỊNH VỀ

THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG KHI HOÀN CẢNH THAY ĐỔI CƠ BẢN TẠI

VIỆT NAM

Quy định về Hoàn cảnh thay đổi cơ bản là một quy định mới trong BLDS 2015

(lần đầu tiên được các nhà soạn thảo luật Việt Nam đưa vào trong chế định của

BLDS). Cũng do sự thiếu vắng các án lệ và giải thích từ cơ quan chuyên môn nên

việc áp dụng còn nhiều khó khăn. Bởi vậy, việc nghiên cứu để nắm rõ được bản chất

và cách áp dụng quy định này là việc hết sức cần thiết. Sau khi phân tích điều khoản

Hoàn cảnh thay đổi cơ bản như ba chương nêu trên, tại Chương IV này, người viết sẽ

nêu đề xuất giải thích điều khoản để phù hợp với việc hiểu và áp dụng các quy định

này vào thực tiễn đời sống soạn thảo hợp đồng.

4.1- Định hướng nhằm giải thích và áp dụng quy định về thực hiện hợp

đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản

Qua việc đánh giá những thành tựu đạt được cũng như những bất cập trong quy

định pháp luật như đã phân tích ở Chương III, định hướng nhằm giải thích và áp dụng

quy định về thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản sẽ liên quan đến: (a)

nghĩa vụ đàm phán, (b) chủ thể đàm phán lại hợp đồng, (c) nghĩa vụ chứng minh ảnh

hưởng của Hoàn cảnh thay đổi, (d) cách giải thích các thuật ngữ “thời hạn hợp lý”,

“thiệt hại nghiêm trọng”, (e) thẩm quyền của Tòa án. Bên cạnh đó, người viết cũng

đề cao vai trò của Trọng tài – một cơ quan tài phán có thẩm quyền trong việc cân

bằng quyền và lợi ích của các bên khi xảy ra sự kiện hoàn cảnh thay đổi cơ bản.

Từ việc thiếu quy định về một số khái niệm, quy định chưa đầy đủ về nghĩa vụ

của các bên, cũng như bỏ sót thẩm quyền của Trọng tài trong các phương pháp giải

quyết tranh chấp dẫn đến gây mâu thuẫn giữa BLDS và luật chuyên ngành, người viết

nhận thấy yêu cầu chỉnh lý quy định về hoàn cảnh thay đổi cơ bản đã trở thành một

yêu cầu cấp bách hiện nay. Để thực hiện được điều này, người viết đề xuất Hội đồng

thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao nên xem xét ban hành nghị quyết hướng dẫn các

56

Tòa án áp dụng thống nhất Điều 420 BLDS năm 2015,124 đặc biệt là đối với các vấn

đề đã được trình bày trong Chương III nêu trên.

Bên cạnh đó, khi việc chỉnh lý, bổ sung về điều khoản hoàn cảnh thay đổi cơ bản

chưa được kịp thời hoàn thiện, các Luật sư, doanh nghiệp và những người tham gia

soạn thảo hợp đồng cũng cần chủ động nghiên cứu và soạn thảo điều khoản Hoàn

cảnh thay đổi cơ bản vào trong hợp đồng với những quy định cách hiểu một số thuật

ngữ trong điều khoản này. Những giải pháp này sẽ liên quan đến cách giải thích và

áp dụng điều khoản cho các bên trong hợp đồng khi xảy ra sự kiện hoàn cảnh thay

đổi cơ bản.

4.2. Các giải pháp nhằm giải thích và áp dụng quy định về thực hiện hợp

đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản

4.2.1. Giải pháp giải thích Điều 420 BLDS 2015

a) Nghĩa vụ đàm phán

Trong luật hiện nay mới chỉ đề cập đến quyền của bên có lợi ích bị ảnh hưởng

“bên có lợi ích bị ảnh hưởng có quyền yêu cầu bên kia đàm phán lại hợp đồng”,125

chứ không chỉ ra nghĩa vụ của bên kia. Mặc dù, khi xét đến nguyên tắc cơ bản chi

phối nghĩa vụ tiền hợp đồng nói riêng và quá trình hợp đồng có hiệu lực pháp lý nói

chung là trung thực, thiện chí, nghĩa vụ này cũng được ghi nhận trong BLDS 2015

“Cá nhân, pháp nhân phải xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của

mình một cách thiện chí, trung thực”.126

Vậy trong trường hợp này, người viết đề xuất cách hiểu cho Doanh nghiệp cũng

như Luật sư khi tư vấn cho khách hàng: Khi bên có lợi ích bị ảnh hưởng yêu cầu bên

kia đàm phán lại hợp đồng, thì bên nhận được yêu cầu phải có nghĩa vụ đàm phán

124 Ngô Thu Trang - Nguyễn Thế Đức Tâm (2017), tlđd. 125 BLDS Việt Nam (2015), tlđd., Khoản 2 Điều 420. 126 BLDS Việt Nam (2015), tlđd., Điều 3.

một cách kịp thời, thiện chí. Việc không tuân thủ yêu cầu này có thể kéo theo trách

57

nhiệm bồi thường thiệt hại gây ra cho bên kia do không đàm phán một cách thiện chí.

Điều khoản này có thể được ghi nhận trong hợp đồng.

b) Chủ thể đàm phán hợp đồng

Như đã phân tích trong Chương II và III, việc sửa đổi hợp đồng có thể có liên

quan đến bên thứ ba. Nhưng việc sửa đổi hợp đồng là do nguyên nhân khách quan

tác động, nhằm đảm bảo lợi ích của các bên chứ không phải do ý chí chủ quan. Hơn

nữa, trong hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba, bên thứ ba là người hưởng quyền mà

không phải thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng cho nên khi sửa đổi hợp đồng không

cần phải có sự đồng ý của người thứ ba. Kể cả trong trường hợp quyền lợi của bên

thứ ba bị giảm sút sau khi hợp đồng được điều chỉnh thì họ vẫn là bên hưởng quyền

(dù có thể quyền lợi bị giảm đi so với thỏa thuận ban đầu) và cũng phải thực hiện

nguyên tắc thiện chí, chia sẻ những khó khăn với bên bị bất lợi khi xảy ra sự kiện

hoàn cảnh thay đổi cơ bản.

Do vậy, người viết đề xuất cách hiểu cho Doanh nghiệp, Luật sư và các cơ quan

tài phán: việc sửa đổi hợp đồng trong trường hợp Hoàn cảnh thay đổi cơ bản không

cần thiết cần phải có sự đồng ý của người thứ ba. Việc điều chỉnh hợp đồng chỉ nên

là sự nhất trí của các bên trong hợp đồng. Các bên có thể thông báo cho bên có quyền

và lợi ích liên quan sau khi hợp đồng đã được thống nhất sửa đổi.

c) Nghĩa vụ chứng minh

Điều 420 của BLDS 2015 đã “bỏ quên” nghĩa vụ chứng minh những thiệt hại

mà mình có thể gặp phải khi xảy ra sự kiện Hoàn cảnh thay đổi cơ bản. Nghĩa vụ

chứng minh này đều được quy định trong Công ước CISG và PICC: “nếu chứng

minh được rằng việc không thực hiện ấy là do một trở ngại nằm ngoài sự kiểm soát

của bên đó”,127 “lời đề nghị (đàm phán) phải được đưa ra đúng lúc và đầy đủ cơ

sở”.128

Khi xảy ra sự kiện Hoàn cảnh thay đổi cơ bản, bên đưa ra yêu cầu đàm phán lại

127 Công ước CISG, tlđd., Điều 79(1). 128 PICC (2016), tlđd.,Điều 6.2.3.1.

phải đưa ra căn cứ một cách rõ ràng về sự thay đổi hoàn cảnh cơ bản và bằng chứng

58

về việc sự thay đổi hoàn cảnh này ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc thực hiện hợp

đồng của mình. Nếu không có căn cứ rõ ràng thì bên kia có quyền từ chối đàm phán

lại. Do vậy, khi soạn thảo hợp đồng, các Luật sư có thể lồng ghép thêm điều khoản

về nghĩa vụ chứng minh của bên chịu bất lợi do sự kiện Hoàn cảnh thay đổi cơ bản

và trường hợp bên kia có quyền từ chối nếu bên chịu bất lợi không chứng minh được

thiệt hại. Có thể sử dụng cụm từ “đầy đủ cơ sở” như trong quy định của PICC. Người

viết nhận định quy định như trong PICC là tương đối đầy đủ, chặt chẽ và rõ ràng.

d) Cách giải thích các thuật ngữ

* “Thiệt hại nghiêm trọng”

Thuật ngữ “Thiệt hại nghiêm trọng” được quy định tại Điểm d, Khoản 1, Điều

420 của BLDS 2015:

d) Việc tiếp tục thực hiện hợp đồng mà không có sự thay đổi nội dung hợp đồng sẽ

gây thiệt hại nghiêm trọng cho một bên”.

Quy định này không đưa ra tiêu chí xác định thiệt hại ở mức độ nào thì được coi

là “nghiêm trọng”. Luật trao toàn quyền cho các bên và cơ quan xét xử việc quyết

định thiệt hại có “nghiêm trọng” hay không. Việc chưa quy định về cách hiểu có thể

dẫn đến một số ý kiến bất đồng trong việc diễn giải và áp dụng điều khoản này trên

thực tế.

Trong một số án lệ trên thế giới, những phán quyết của Tòa án có thể được sử

dụng như một nguồn tham khảo trong việc giải thích thuật ngữ này. Trong vụ Scafom

International BV v. Lorraine Tubes (S.A.S.),129 biến động trên thị trường thép khiến

cho giá thép đã tăng lên 70% so với giá ban đầu. Tòa án Tối cao của Phần Lan cho

rằng sự kiện giá thép tăng là không dự tính trước được, tạo ra sự mất cân bằng nghiêm

129 Vụ Scafom International BV v. Lorraine Tubes (S.A.S) [2009], Supreme Court. 130 “3. The judgment finds that:

trọng, khiến cho việc tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trở nên bất lợi cho phía Người Bán.130

- [Buyer] concluded with ... [Seller], a number of contracts of sale for the delivery of steel tubes; - After the contracts had been concluded, the price of steel has unforeseeably increased by 70%;”

http://cisgw3.law.pace.edu/cases/050125b1.html, (truy cập ngày 30/09/2019).

59

Tiếp đến, trong vụ Compagnie générale d'éclairage de Bordeaux (hay còn được

gọi là vụ Gaz de Bordeaux) năm 1916,131 Chính quyền thành phố Bordeaux nhượng

quyền cho Công ty Gaz de Bordeaux quyền cung cấp khí gas chiếu sáng cho thành

phố. Hợp đồng đã ấn định mức giá cố định, tuy nhiên cũng quy định một cơ chế điều

chỉnh trong phạm vi biến động về giá nhất định. Hệ quả của Chiến tranh thế giới thứ

nhất đã khiến giá than đá mà Gaz de Bordeaux sử dụng nhiều hơn gấp ba lần, vượt

quá mức giá đã được ấn định trong hợp đồng nhượng quyền. Tranh chấp đã xảy ra và

được xét xử bởi Conseil d'Etat là tòa án hành chính và cuối cùng của Pháp. Conseil

d'Etat đã cho rằng Công ty Gaz de Bordeaux không bắt buộc phải chịu bất kì sự tăng

giá nào, việc tăng giá nằm ngoài những rủi ro kinh doanh thông thường.132 Conseil

d'Etat đã đưa ra các yếu tố để thể hiện sự kiện tăng giá này là không lường trước

được, nằm ngoài sự kiểm soát của Công ty và dẫn đến sự mất cân bằng cơ nghiêm

trọng của hợp đồng và để nghị giải pháp tạm thời về việc đàm phán lại hợp đồng. Kết

quả của vụ việc Gaz de Bordeaux là Conseil d'Etat quyết định Thành phố Bordeaux

phải bồi thường cho Công ty Gaz de Bordeaux. Nếu họ không chấp nhận, thì “Công

ty khí đốt có quyền đòi một khoản tiền bù đắp tổn thất, gọi là tiền bồi thường cho

khoản tổn thất không thể dự đoán”.

Do sự nhấn mạnh vào tính “không thể dự đoán được” của sự kiện trong các yếu

tố này, học thuyết đã được biết đến với tên gọi là théorie de l'imprévision trong tiếng

Pháp, được gọi là "Hardship" trong tiếng Anh.133

Với hai tranh chấp trên, các cơ quan xét xử xem xét “thiệt hại nghiêm trọng”

dựa trên việc xét đến phần tăng thêm của chi phí thực hiện nghĩa vụ so với chi phí

ban đầu. Tuy nhiên nhằm tái thiết sự bằng và bảo vệ quyền và lợi ích cho các bên,

cần lưu ý đến yếu tố “sự thay đổi cơ bản sự cân bằng giữa các nghĩa vụ hợp đồng”

131 Vụ Gaz de Bordeaux (CMS Gas Transmission Company v. The Argentine Republic), tlđd. 132 Như trên. 133 Frederick R. Fucci (2016), “Hardship and Changed Circumstances as Grounds for Adjustment or Non- Performance of Contracts Practical Considerations”, International Infrastructure Investment and Finance https://www.cisg.law.pace.edu/cisg/biblio/fucci.html (truy cập ngày 24/11/2019). 134 PICC (2016), tlđd., Điều 6.2.2.

như trong quy định của PICC.134 Thực tế cho thấy đây là một trong các yếu tố cốt lõi

60

mang bản chất của hoàn cảnh hardship để từ đó nhận diện và công nhận hoàn cảnh

hardship.135

Cùng với các vụ việc và ý kiến học giả đã được dẫn trong Chương II và III trên

đây liên quan đến phần giá trị nghĩa vụ đối trừ bị giảm xuống, người viết đề xuất

không sử dụng một con số “hợp lý” nào để “định lượng” sự kiện Hoàn cảnh thay đổi

cơ bản. Tuy nhiên, một sự thay đổi giá thị trường nhỏ hơn 50% không được coi là

thay đổi cơ bản.136 Tòa án, Trọng tài có thể sử dụng cách diễn giải như vậy trong quá

trình xem xét, tố tụng. Bên cạnh đó, các Luật sư cũng có thể áp dụng cách hiểu này

bằng cách đàm phán, tư vấn với khách hàng và đối tác về việc quy định nếu mức thay

đổi giá thị trường nhỏ hơn 50% thì không được xem xét là sự kiện hoàn cảnh thay đổi

cơ bản. Tuy nhiên việc quy định vào hợp đồng mức 50% nên được xem xét tùy từng

trường hợp cụ thể nếu khách hàng là bên bị bất lợi hay không. Mức 50% này cũng có

thể là sợi dây trói buộc khi khách hàng không phải là bên bị bất lợi.

* “Thời hạn hợp lý”

Việc xác định khoảng “thời hạn hợp lý” liên quan rất lớn đến quyền và nghĩa

vụ của các chủ thể tham gia hợp đồng. Bởi, chỉ khi các bên không đạt được sự thỏa

thuận thì mới nhờ Tòa án can thiệp, tức là các bên phải thống nhất với nhau dù đã có

thỏa thuận nhưng cũng không thể đưa ra được giải pháp nào thì mới được nhờ Tòa

án giải quyết còn nếu một trong các bên mà vẫn muốn thỏa thuận thì lại không thể.

Theo quy định của BLDS, dù hợp đồng có thay đổi, có tăng chi phí, có “gây thiệt hại”

cho một bên nhưng không có thỏa thuận nào khác giữa hai bên thì hợp đồng vẫn được

tiếp tục thực hiện cho tới khi “được” Tòa giải quyết trên cơ sở “sự buông tha” của

bên còn lại. Nếu như vậy, khi ấy, mục đích tham gia giao kết hợp đồng có thể đã mất

hoàn toàn. Thậm chí, thời gian còn ảnh hưởng rất lớn đến việc mong muốn của các

bên có được hoàn thành đúng thời hạn hay không. Như vậy, vấn đề này cần phải có

hướng khắc phục: Yêu cầu về các cuộc thương lượng lại, phải được thực hiện ngay

khi có thể được, sau thời điểm hoàn cảnh cơ bản xảy ra.

135 PGS. TS. Nguyễn Minh Hằng và Trần Thị Giang Thu, (2016), tlđd. 136 Như trên.

61

Theo người viết, khoảng “thời hạn thời lý” để bên có lợi ích bị ảnh hưởng yêu

cầu đàm phán lại hợp đồng sẽ bắt đầu từ khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản và kết thúc

trước khi các bên có lợi ích bị ảnh hưởng hoàn thành nghĩa vụ theo đúng hợp đồng.

Như vậy, bên có lợi ích bị ảnh hưởng phải đưa lời đề nghị đàm phán lại hợp đồng

trước khi họ hoàn thành các nghĩa vụ trong hợp đồng. Trường hợp nếu như bên có

lợi ích bị ảnh hưởng đưa ra đề nghị đàm phán lại hợp đồng sau khi họ đã thực hiện

xong các nghĩa vụ trong hợp đồng, thì coi như không có khó khăn xảy ra và hợp đồng

sẽ không được điều chỉnh lại.

Liên quan đến cách giải thích thuật ngữ, các ý kiến học giả khi bình luận về

thuật ngữ “thời hạn hợp lý” trong Công ước CISG cũng rất đáng lưu tâm cho không

chỉ Tòa án, Trọng tài Việt Nam mà còn cả các Luật sư tư vấn. Như đã trích dẫn các

ý kiến học giả ở Chương III, “thỏa thuận về việc sửa đổi hợp đồng trong một thời hạn

hợp lý” nên được hiểu là tùy vào hoàn cảnh yêu cầu và thiện chí của các bên. Nếu

sau một khoảng thời gian mà các bên đã rất nỗ lực, cố gắng để thỏa thuận sửa đổi hợp

đồng nhưng không thể đi đến kết luận chung thì có thể coi là đã “thỏa thuận trong

một thời hạn hợp lý”. Ngược lại, nếu quá “thời hạn hợp lý” mà không có thông báo

về yêu cầu đàm phán lại, thì có thể ngầm hiểu rằng bên có lợi ích bị ảnh hưởng đã từ

bỏ quyền của mình, không mong muốn đàm phán lại và sẵn sàng chấp nhận thiệt hại

do hoàn cảnh thay đổi cơ bản. Các Luật sư có thể đưa điều khoản về “thời hạn hợp

lý” vào trong hợp đồng để các bên có thể lấy đó làm căn cứ đưa ra những yêu cầu

đàm phán sửa đổi của mình. Đây cũng là một cách diễn giải được ghi nhận trong

BLDS Việt Nam về quyền phản đối:

“Điều 521. Tiếp tục hợp đồng dịch vụ

Sau khi kết thúc thời hạn thực hiện công việc theo hợp đồng dịch vụ mà công

việc chưa hoàn thành và bên cung ứng dịch vụ vẫn tiếp tục thực hiện công việc, bên

sử dụng dịch vụ biết nhưng không phản đối thì hợp đồng dịch vụ đương nhiên được

tiếp tục thực hiện theo nội dung đã thỏa thuận cho đến khi công việc được hoàn

thành.”

e) Thẩm quyền của Tòa án

62

Như đã trình bày trong Chương III, việc quy định “Tòa án chỉ được quyền sửa

đổi hợp đồng trong trường hợp việc chấm dứt hợp đồng sẽ gây thiệt hại lớn hơn so

với các chi phí để thực hiện hợp đồng nếu được sửa đổi” khiến cho thẩm quyền của

Tòa án bị bó hẹp, quyền sửa đổi hợp đồng của Tòa án sẽ bị hạn chế hơn nhiều so với

quyền chấm dứt hợp đồng. Quyền hạn và trách nhiệm của Tòa án có thể được tận

dụng để bảo vệ quyền và lợi ích của các chủ thể tốt hơn bằng việc cho phép Tòa án

có thể căn cứ vào tình hình thực tế đang diễn ra mà quyết định cho tạm đình chỉ hợp

đồng đến khi có quyết định mới, chứ không chỉ dựa vào thỏa thuận giữa các bên.

Về vấn đề này, người viết khuyến nghị Tòa án, Trọng tài có thể tham khảo các

ý kiến của học giả trên thế giới, theo đó cơ quan xét xử có thể thay đổi một số điều

khoản của hợp đồng như: thay đổi thời hạn thực hiện nghĩa vụ, tăng hay giảm giá, số

lượng,… tuy nhiên không được khiến cho hợp đồng thay đổi hoàn toàn về mặt bản

chất, hay nói cách khác, không được sửa đổi hợp đồng đến mức áp đặt cho các bên

một hợp đồng hoàn toàn mới về mặt bản chất so với hợp đồng ban đầu.137

Nếu bổ sung quy định để tạo sự linh động hơn đối với Tòa án và hướng “giải

thoát” dễ dàng hơn của bên bị ảnh hưởng về lợi ích, người viết đề xuất cần được xem

xét sửa đổi như sau: “Trong quá trình đàm phán sửa đổi, chấm dứt hợp đồng, Tòa án

giải quyết vụ việc, các bên vẫn phải thực hiện nghĩa vụ của mình theo hợp đồng, trừ

trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc Tòa án có quyết định khác.”

4.2.2. Đề xuất bổ sung cơ chế Trọng tài áp dụng Điều 420

a) Vai trò của Trọng tài chưa được phát huy

Trước khi BLDS 2015 ra đời, đã có rất nhiều ý kiến cho rằng Dự thảo BLDS

năm 2015 “bỏ quên” Trọng tài dẫn đến nhiều bất cập lớn trong quá trình vận dụng và

giải quyết vấn đề về hợp đồng trong trường hợp Hoàn cảnh thay đổi cơ bản. Cụ thể,

Dự thảo BLDS có quy định về sự kiện “Hoàn cảnh thay đổi” như sau:

137 Georges Rouhette, Isabelle de Lamberterie, Denis Tallon & Claude Witz (2003), Principle du Droit Européen du contrat (bản tiếng Pháp), NXB. Société de législation comparée, tr. 288.

“Điều 443 – Điều chỉnh hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi

63

3. Trường hợp các bên không đạt được thoả thuận trong một khoảng thời gian

hợp lý thì toà án có thể:

a) Chấm dứt hợp đồng vào ngày và theo những điều khoản do toà án quyết

định;

b) Điều chỉnh hợp đồng để phân chia cho các bên các thiệt hại và lợi ích phát

sinh từ việc thay đổi hoàn cảnh một cách công bằng và bình đẳng.

Tuỳ theo từng trường hợp, toà án có thể buộc bên từ chối đàm phán hoặc phá

vỡ đàm phán một cách không thiện chí, trung thực phải bồi thường thiệt hại.”

Tại thời điểm đó, cũng đã có rất nhiều ý kiến đề xuất sửa đổi Dự thảo BLDS

2015 đề nghị xem xét bổ sung quy định về thẩm quyền của Trọng tài trong Dự thảo

BLDS bên cạnh thẩm quyền của Tòa án.138

Hiện tại, Khoản 4, Điều 420 BLDS 2015 – điều khoản hiện hành (trên cơ sở

Điều 443 Dự thảo BLDS 2015) mới chỉ nhắc đến chủ thể giải quyết tranh chấp là Tòa

án, và vẫn bỏ ngỏ quy định về thẩm quyền của một chủ thể khác rất quan trọng và

thường được sử dụng là Trọng tài. Xem xét mối tương quan giữa Điều 420 và quy

định về thẩm quyền của Trọng tài trong Luật Trọng tài thương mại 2010, có thể thấy

một số mâu thuẫn còn đang tồn tại: như quy định tại Điều 5 Luật Trọng tài thương

mại 2010:

“Điều 5. Điều kiện giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài

1. Tranh chấp được giải quyết bằng Trọng tài nếu các bên có thoả thuận trọng

tài. Thỏa thuận trọng tài có thể được lập trước hoặc sau khi xảy ra tranh chấp.”

Hay như quy định tại Điều 6 Luật Trọng tài thương mại 2010:

“Điều 6. Toà án từ chối thụ lý trong trường hợp có thoả thuận trọng tài

Trong trường hợp các bên tranh chấp đã có thoả thuận trọng tài mà một bên

khởi kiện tại Toà án thì Toà án phải từ chối thụ lý, trừ trường hợp thoả thuận trọng

tài vô hiệu hoặc thoả thuận trọng tài không thể thực hiện được”.

thuộc

138 Đỗ Văn Đại (2015), Hội thảo chế định Hợp đồng trong Dự thảo Bộ luật Dân sự (sửa đổi), tlđd.; PGS. TS. Đỗ Văn Đại tổng hợp, “Tổng hợp góp ý dự thảo sửa đổi Bộ luật Dân sự của Hội đồng Khoa học pháp VIAC”, http://duthaoonline.quochoi.vn/DuThao/Lists/DT_DUTHAO_LUAT/View_Detail.aspx?ItemID=588&TabIn dex=5&YKienID=540 (truy cập ngày 10/09/2019).

64

Như vậy, có thể xảy ra khả năng hợp đồng các bên ký kết thỏa thuận giải quyết

tranh chấp bằng Trọng tài, nhưng trong quá trình thực hiện hợp đồng lại xảy ra tình

huống Hoàn cảnh thay đổi cơ bản và các bên không đạt được thỏa thuận trong thời

hạn hợp lý. Trong trường hợp này, Tòa án không có thẩm quyền giải quyết tranh chấp

do các bên đã có thỏa thuận Trọng tài theo Điều 6 Luật Trọng tài thương mại 2010.

Vậy Tòa án sẽ phải từ chối giải quyết và không thể áp dụng các quy định về điều

chỉnh lại hợp đồng theo như quy định tại Điều 420 BLDS 2015. Với quy định này,

nảy sinh sự thiếu nhất quán của pháp luật, không những làm cho vấn đề khó khăn hơn

vì bó hẹp cơ quan có thẩm quyền giải quyết vụ việc, mà còn gây mâu thuẫn giữa các

ngành luật với nhau.

Vậy liệu các bên có thể đưa tranh chấp ra trước Trọng tài để xem xét trường hợp

hoàn cảnh thay đổi cơ bản hay không?

Thực tiễn án lệ trên thế giới áp dụng PICC tại Tòa án trọng tài quốc tế ICC (số

7365/FMS, số 8873, 9994, 12446…) cũng như thực tiễn xét xử trọng tài của nhiều

quốc gia (Hà Lan, Đức,…) cho thấy mặc dù luật chỉ định cơ quan xét xử là “Court”

(Tòa án), tuy nhiên thuật ngữ “Tòa án” ở đây được diễn giải là bao gồm cả Tòa án

Trọng tài (Arbitration Court) và vẫn cho phép Trọng tài có thẩm quyền xét xử trong

trường hợp Hoàn cảnh thay đổi cơ bản.139 PGS.TS. Đỗ Văn Đại cũng cho rằng: “Điều

luật đề cập tới vai trò của “Tòa án” và thuật ngữ “Tòa án” đã được lý giải tại khoản

2 Điều 1:301 theo đó “Thuật ngữ Tòa án cũng được áp dụng cho Tòa án trọng tài”.

Nói cách khác, chủ thể được can thiệp để điều chỉnh lại hợp đồng không chỉ là Tòa

án mà còn có thể cả Trọng tài”.140

b) Đề xuất diễn giải và sửa đổi

Như đã phân tích ở trên, Trọng tài cũng đóng vai trò vô cùng quan trọng. Vì

vậy, việc định đoạt số phận của hợp đồng nên là chức năng của cả Tòa án và Trọng

tài Điều này là hoàn toàn hợp lý và có cơ sở để tiếp tục đề xuất yêu cầu sửa đổi, điều

139 PGS. TS. Nguyễn Minh Hằng và Trần Thị Giang Thu, (2016), tlđd. 140 Đỗ Văn Đại (2015), “Bàn thêm về điều chỉnh hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi”, Tạp chí nghiên cứu lập pháp, Số 13, tr.31 – 40.

65

chỉnh lại Điều 420 BLDS để tránh mâu thuẫn với Luật Trọng tài Thương mại 2010

cũng như phù hợp với thông lệ và thực tiễn quốc tế. Vậy có nên chăng việc sửa đổi

để tạo ra sự thống nhất trong quy định của pháp luật?

Bản thân công việc của người viết và thực tiễn các tranh chấp hợp đồng thương

mại tại Văn phòng Luật cũng sử dụng đến chế tài Trọng tài rất nhiều. Do đó, người

viết luôn mong mỏi có những điều chỉnh, sửa đổi luật hoặc thông tư hướng dẫn việc

áp dụng quy định về Trọng tài trong trường hợp này. Tuy nhiên, người viết cũng nắm

được rằng việc sửa đổi là nên nhưng không phải có thể thực hiện ngay lập tức, nên

trong Luận văn này, người viết sẽ đề xuất việc diễn giải Khoản 4, Điều 420 này như

sau: Tòa án có quyền giải quyết tranh chấp dựa trên cơ sở có yêu cầu của nguyên đơn,

tuy nhiên không bắt buộc các bên phải giải quyết tranh chấp tại Tòa án. Trong trường

hợp các bên có thỏa thuận Trọng tài, thì Trọng tài vẫn được vận dụng Điều 420 để

giải quyết tranh chấp. Cách diễn giải này sẽ tránh tình trạng không có cơ quan nào có

thẩm quyền xét xử vụ việc.

4.2.3. Đề xuất về việc soạn thảo điều khoản Hoàn cảnh thay đổi cơ bản

trong hợp đồng

Điều khoản “hoàn cảnh thay đổi cơ bản” cần được các bên soạn thảo trong hợp

đồng một cách chặt chẽ, để tránh những mâu thuẫn, rủi ro không đáng có khi sự kiện

xảy ra. Người viết đề xuất bên cạnh những quy định trong Điều 420 BLDS, nên soạn

thảo thêm những điều khoản trong hợp đồng về hoàn cảnh thay đổi cơ bản như sau.

Một là, nên cân nhắc thỏa thuận về tính nghiêm trọng của thiệt hại do Hoàn

cảnh thay đổi cơ bản gây ra (ví dụ giá tăng 50%,…) theo từng trường hợp cụ thể

“1. Hoàn cảnh thay đổi cơ bản khi có đủ các điều kiện sau đây:

a) Sự thay đổi hoàn cảnh do nguyên nhân khách quan xảy ra sau khi giao kết

hợp đồng;

b) Tại thời điểm giao kết hợp đồng, các bên không thể lường trước được về sự

thay đổi hoàn cảnh;

66

c) Hoàn cảnh thay đổi lớn đến mức nếu như các bên biết trước thì hợp đồng đã

không được giao kết hoặc được giao kết nhưng với nội dung hoàn toàn khác;

d) Việc tiếp tục thực hiện hợp đồng mà không có sự thay đổi nội dung hợp đồng

sẽ gây thiệt hại nghiêm trọng cho một bên;

Tuy nhiên, một thiệt hại dưới 50% giá trị hợp đồng sẽ không được coi là thiệt

hại nghiêm trọng.

đ) Bên có lợi ích bị ảnh hưởng đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết trong khả

năng cho phép, phù hợp với tính chất của hợp đồng mà không thể ngăn chặn, giảm

thiểu mức độ ảnh hưởng đến lợi ích.”

Hai là, nên quy định về sự thiện chí và thời gian yêu cầu đàm phán

“2. Trong trường hợp hoàn cảnh thay đổi cơ bản, bên có lợi ích bị ảnh hưởng

có quyền yêu cầu bên kia đàm phán lại hợp đồng trong một thời hạn hợp lý và đầy

đủ cơ sở. Bên kia phải có nghĩa vụ thiện chí khi yêu cầu đàm phán hợp đồng được

đưa ra.

Khoảng thời hạn hợp lý mà bên có lợi ích bị ảnh hưởng bởi hoàn cảnh thay

đổi cơ bản có quyền yêu cầu bên kia đàm phán lại hợp đồng được tính từ thời điểm

có đủ căn cứ xác định hoàn cảnh thay đổi cơ bản cho đến trước khi bên có lợi ích

bị ảnh hưởng hoàn thành các nghĩa vụ trong hợp đồng. Nếu ngoài khoảng thời

hạn hợp lý mà bên có lợi ích bị ảnh hưởng không đưa ra yêu cầu đàm phán lại

hoặc căn cứ chứng minh thì có thể ngầm hiểu rằng bên có lợi ích bị ảnh hưởng

đã từ bỏ quyền của mình, không mong muốn đàm phán lại và sẵn sàng chấp nhận

thiệt hại do hoàn cảnh thay đổi cơ bản.”

Ba là, nên bổ sung Trọng tài là cơ quan có quyền sửa đổi chấm dứt hợp đồng

trong trường hợp Hoàn cảnh thay đổi cơ bản

“3. Trường hợp các bên không thể thỏa thuận được về việc sửa đổi hợp đồng

trong một thời hạn hợp lý, một trong các bên có thể yêu cầu Tòa án hoặc Trọng tài:

67

a) Chấm dứt hợp đồng tại một thời điểm xác định;

b) Sửa đổi hợp đồng để cân bằng quyền và lợi ích hợp pháp của các bên do

hoàn cảnh thay đổi cơ bản.

Bốn là, bổ sung quyền tự thỏa thuận của các bên về việc có tiếp tục thực hiện

nghĩa vụ hay không trong trường hợp Hoàn cảnh thay đổi cơ bản

“4. Trong quá trình đàm phán sửa đổi, chấm dứt hợp đồng, Tòa án hoặc Trọng

tài giải quyết vụ việc, các bên vẫn phải thực hiện nghĩa vụ của mình theo hợp đồng,

trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc Tòa án, Trọng tài có quyết định

khác.”

Nếu quy định như vậy, quy định về Hoàn cảnh thay đổi cơ bản trong hợp đồng

có phần sẽ chặt chẽ hơn so với quy định tại Điều 420 BLDS Việt Nam 2015. Tuy

nhiên, những đề xuất soạn thảo điều khoản trong hợp đồng như vậy chỉ mang tính

chất tham khảo, các Luật sư, Doanh nghiệp nên soạn thảo điều khoản tùy vào từng

trường hợp cụ thể.

4.3. Một số kiến nghị

Dựa trên những đề xuất người viết trình bày phía trên, người viết nhận thấy rằng

việc hoàn thiện pháp luật (sửa đổi điều khoản, hoặc ban hành nghị định hướng dẫn,…)

là điều rất cần thiết. Sẽ rất lý tưởng nếu điều khoản hoàn cảnh thay đổi được bổ sung

thêm nghĩa vụ chứng minh như sau:

“2. Trong trường hợp hoàn cảnh thay đổi cơ bản, bên có lợi ích bị ảnh hưởng

có quyền yêu cầu bên kia đàm phán lại hợp đồng trong một thời hạn hợp lý và đầy

đủ cơ sở. Bên kia phải có nghĩa vụ thiện chí khi yêu cầu đàm phán hợp đồng được

đưa ra.”

Hoặc bổ sung thêm cơ chế Trọng tài để không gây mâu thuẫn với luật chuyên

ngành như nêu tại Mục 4.2:

“4. Trong quá trình đàm phán sửa đổi, chấm dứt hợp đồng, Tòa án hoặc Trọng

tài giải quyết vụ việc, các bên vẫn phải thực hiện nghĩa vụ của mình theo hợp đồng,

68

trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc Tòa án, Trọng tài có quyết định

khác.”

Tuy nhiên, với đặc thù pháp luật Việt Nam hiện nay, việc sửa đổi hay ban hành

một văn bản pháp luật đòi hỏi một thời gian dài và quy trình thông qua phức tạp. Để

sửa đổi hay ban hành một văn bản pháp luật cần phải trải qua những trình tự như sau:

trình bày tờ trình về dự kiến sửa đổi, ban hành; Quốc hội thảo luận tại phiên họp toàn

thể; sau khi dự kiến chương trình xây dựng luật, pháp lệnh được Quốc hội thảo luận,

cho ý kiến, Ủy ban thường vụ Quốc hội chỉ đạo Ủy ban pháp luật chủ trì, phối hợp

với đại diện Chính phủ và cơ quan, tổ chức có liên quan nghiên cứu, giải trình, tiếp

thu, chỉnh lý dự thảo nghị quyết của Quốc hội về chương trình xây dựng luật, pháp

lệnh và xây dựng báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo nghị quyết; Ủy ban

thường vụ Quốc hội báo cáo Quốc hội về việc giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo

nghị quyết của Quốc hội về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh; Quốc hội biểu

quyết thông qua nghị quyết của Quốc hội về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh.141

Do đó, giải pháp hoàn thiện pháp luật khó có thể thực hiện được trong thời gian tới.

Từ năm 2015 tới nay, khi BLDS Việt Nam đã đi vào cuộc sống, các chủ thể

trong hợp đồng vẫn phải thường xuyên sử dụng, viện dẫn điều khoản hoàn cảnh thay

đổi cơ bản trong việc giải quyết những tranh chấp phát sinh. Khi rơi vào những trường

hợp như vậy, giải pháp tình thế (khi luật chưa kịp sửa đổi) cho các bên trong tranh

chấp để xử lý dễ dàng hơn đó là việc quy định trực tiếp trong hợp đồng như đề xuất

của người viết tại Mục 4.3. nêu trên. Luật sư hoặc người soạn thảo hợp đồng có thể

quy định trực tiếp về điều khoản hoàn cảnh thay đổi cơ bản tại hợp đồng. Bên cạnh

đó, các thẩm phán Tòa án có thể sử dụng cách giải thích như nêu tại Mục 4.1. để áp

dụng trong những tình huống các bên đề nghị Tòa án giải thích hoặc sử dụng để giải

141 Xem thêm tại Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật, ngày 22/06/2015.

thích, thỏa thuận giải pháp trong trường hợp hoàn cảnh thay đổi cơ bản.

69

Tóm lại, dựa trên những đề xuất ở trên, người viết kiến nghị những giải pháp

liên quan đến việc diễn giải điều khoản và soạn thảo hợp đồng trong sự kiện hoàn

cảnh thay đổi để có giá trị thực tiễn tối ưu.

TIỂU KẾT:

Với những đề xuất nhằm hoàn cthiện các quy định của BLDS Việt Nam 2015

liên quan đến quy định hoàn cảnh thay đổi cơ bản, dựa trên những công việc thực tiễn

của bản thân, người viết hi vọng những giải pháp được đề cập ở Chương IV này là

những giải pháp phù hợp với thực tiễn và hỗ trợ phần nào các Luật sư tư vấn, Doanh

nghiệp và Tòa án – Trọng tài trong việc giải thích và áp dụng điều khoản hoàn cảnh

thay đổi cơ bản.

70

KẾT LUẬN Với 04 chương trong bài Luận văn, người viết hi vọng đã mang tới một cái nhìn

tổng quát về mặt lí luận và thực tiễn sự kiện hoàn cảnh thay đổi cơ bản trên thế giới

nói chung và Việt Nam nói riêng. Bài Luận văn đã nêu khái niệm hoàn cảnh thay đổi

cơ bản, các điều kiện bổ sung để xác định hoàn cảnh thay đổi cơ bản thường thấy.

Hoàn cảnh thay đổi cơ bản được phân tích trong bài Luận văn dựa trên không chỉ

điều khoản 79 của Công ước CISG, Điều 6.2.1, Điều 6.2.2 và Điều 6.2.3 PICC, Điều

420 BLDS Việt Nam 2015, mà còn dựa trên các vụ việc, bình luận của Hội đồng Điều

hành UNIDROIT và ý kiến các học giả trong và ngoài nước. Việc sử dụng điều khoản

hoàn cảnh thay đổi là không thể phủ nhận từ nhu cầu làm cân bằng lại các nghĩa vụ

hợp đồng của các bên trong quan hệ hợp đồng. Tuy nhiên, việc áp dụng các điều

khoản hoàn cảnh thay đổi cơ bản phải đáp ứng những điều kiện nhất định.

Trong Luận văn của mình, người viết đưa ra những án lệ “điển hình” liên quan

đến điều khoản “impediment” (trở ngại khách quan) và “hardship” (hoàn cảnh thay

đổi cơ bản) trên thế giới (trong đó có 02 vụ việc đã được xem xét tại Việt Nam).

Những án lệ này đã tạo nên một bức tranh rộng lớn và sinh động về đời sống của hợp

đồng và những mâu thuẫn, tranh chấp phát sinh từ hợp đồng trên thế giới hiện nay.

Qua phân tích các vụ việc này, người viết nhận thấy không phải mọi sự thay đổi về

hoàn cảnh đều được coi là hoàn cảnh thay đổi cơ bản; cũng như không phải mọi vụ

việc đều có thể áp đặt những tiêu chí đánh giá giống nhau. Việc đánh giá sự kiện hoàn

cảnh thay đổi cơ bản này thường được Tòa án, Trọng tài xem xét dưới nhiều góc độ

và có những cách giải thích khác nhau về các thuật ngữ trong luật,…

Hiện nay, pháp luật quốc tế cũng không có bất kì quy định nào là “hình mẫu”

để các quốc gia áp dụng như một mẫu số chung. Sự kiện hoàn cảnh thay đổi cơ bản

cần được tiếp thu, chỉnh lý và hoàn thiện trong hệ thống nội luật qua từng giai đoạn.

Đối với Việt Nam, Điều 420 của BLDS 2015 - quy định về hoàn cảnh thay đổi cơ

bản bộc lộ cả những ưu và khuyết điểm. Giải pháp để điều khoản về hoàn cảnh thay

đổi cơ bản phát huy được hiệu quả trong thực tiễn đó là hoàn thiện các bất cập của

luật, đề cao vai trò, thẩm quyền của Tòa án – Trọng tài trong quá trình xét xử, và dựa

trên thiện chí của các bên tham gia hợp đồng. Để làm được điều này, các nhà soạn

71

thảo luật ở Việt Nam có thể tiếp tục học hỏi các chế định từ các điều khoản được ghi

nhận trong Công ước CISG, PICC hay quy định của các nước khác để hoàn thiện

những bất cập trong luật. Đối với Tòa án – Trọng tài, thẩm phán và Trọng tài viên có

thể coi phán quyết, quyết định của Tòa án, Trọng tài trong các án lệ cũng như ý kiến

của học giả là một nguồn tham khảo trong việc nhận định trường hợp hoàn cảnh thay

đổi cơ bản, cũng như có hướng giải thích các thuật ngữ chưa được quy định trong luật

một cách phù hợp. Đối với các bên trong hợp đồng, khi xảy ra sự kiện nằm ngoài

kiểm soát và gây bất lợi cho một bên, các bên cần phải nỗ lực đàm phán, tìm kiếm

giải pháp khắc phục trên tinh thần cầu thị để đạt được mục tiêu hoàn thành nghĩa vụ

quy định trong hợp đồng – mà chính luật sư, doanh nghiệp là đối tượng cần tiếp cận

các quy định trong luật cũng như cách giải thích để tư vấn và hỗ trợ đàm phán kịp

thời. Qua đó, người viết đã đạt được nhiệm vụ nghiên cứu của mình đặt ra trong phần

Mở đầu.

Xét về khía cạnh lí luận pháp lí lẫn thực tiễn, sự kiện hoàn cảnh thay đổi cơ bản

vẫn là một vấn đề mới mẻ với Việt Nam (lần đầu tiên được ghi nhận trong BLDS

2015) và vẫn được coi là vấn đề “tốn không ít giấy mực” của các học giả trên thế

giới. Bởi vậy, trong khuôn khổ hạn chế của Luận văn này, những nội dung mà người

viết đưa ra không thể bao quát được toàn bộ các khía cạnh pháp lí trong tất cả các

Công ước, Bộ quy tắc,… và các án lệ trên thực tiễn hết sức phong phú, đa dạng của

trường hợp này. Do vậy, Luận văn khó có thể tiếp cận vấn đề “Hoàn cảnh thay đổi

cơ bản” một cách toàn diện.

Bài Luận văn là những nỗ lực tối đa của người viết nhằm đưa tới cách tiếp cận

vấn đề khách quan và đa chiều nhất. Tuy vậy, do một số yếu tố như năng lực, ngôn

ngữ, khả năng tiếp cận các án lệ, thời gian hạn chế,… bài Luận văn không thể tránh

khỏi những thiếu sót. Tác giả bài Luận rất mong muốn nhận được sự trao đổi, đóng

góp ý kiến từ các luật gia, luật sư, trọng tài viên, thẩm phán, các chuyên gia pháp lý,

đặc biệt là các Doanh nghiệp tại Việt Nam và các quý bạn đọc để có thể rút kinh

nghiệm, sửa đổi và tiếp tục hoàn thiện.

Người viết chân thành cảm ơn.

72

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

I. Các văn bản pháp lý

1. Công ước Viên của Liên Hợp Quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (CISG) ngày 01/01/1988.

2. Bộ nguyên tắc UNIDROIT về Hợp đồng thương mại quốc tế (PICC) năm 2016.

3. Bộ luật Dân sự Pháp ngày 10/02/2016.

4. Sắc lệnh số 47, ngày 10/10/1945.

5. Bộ luật Dân sự Việt Nam 2005 ngày 14/06/2005.

6. Bộ luật Dân sự Việt Nam 2015 ngày 24/11/2015.

7. Luật Thương mại Việt Nam 2005 ngày 14/06/2005.

8. Luật Trọng tài thương mại 2010 ngày 17/06/2010.

9. Luật Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật ngày 22/06/2015.

II- Phán quyết các vụ việc

10. Quyết định Giám đốc Thẩm số 14/2006/DS-GDT ngày 06/06/2006 về vụ án

tranh chấp quyền sở hữu tài sản.

11. Bản án số 06/2017/KDTM-ST ngày 26/12/2017 về tranh chấp hợp đồng mua

bán tài sản.

12. Bản án số: 46/2020/DS-PT Ngày 12-3-2020 về tranh chấp hợp đồng chuyển

nhượng quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

13. Vụ Egypt v. Yugo., [1989], Int'l Comm. Arb. No. 628.

14. Vụ Fibrosa SA v Fairbairn Lawson Combe Barbour Ltd. [1943] AC 32.

15. Vụ Spanish advertising agency, [2014], The Tribunal Supremo.

16. Vụ Gaz de Bordeaux (CMS Gas Transmission Company v. The Argentine

Republic), Số. ARB/01/8 (Phán quyết) [2005] ICSID.

73

17. Vụ Schiedsgericht der Handelskammer, [1996], Hamburg Số 3229.

18. Vụ United States (Raw Materials Inc. v. Manfred Forberich GmbH & Co.),

[2004] U.S. Federal District Court, Northern District of Illinois.

19. Vụ Nuova Fucinati S.p.A. v. Fondmetal International A.B., [1993] Tribunale

Civile (District Court).

20. Vụ Louis Dreyf Corp. v. Continental Grain Co., [1981].

21. Vụ Scafom International BV v. Lorraine Tubes (S.A.S) [2009], Supreme Court.

22. Vụ Himpurna California Energy Ltd. v. PT. (Persero) Perusahaan Listruik

Negara (Phán quyết chung thẩm) [1999], Yearbook Commercial Arbitration. 2000.

III- Tài liệu nghiên cứu là sách

a) Sách Tiếng Việt

23. Đỗ Văn Đại (2014), Luật nghĩa vụ dân sự và bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân

sự Việt Nam, NXB. Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

24. Đỗ Văn Đại (2016), Bình luận khoa học Những điểm mới của Bộ luật Dân sự

năm 2015 (Sách chuyên khảo), NXB. Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam.

25. Nguyễn Ngọc Điện (2016), Giáo trình Luật Dân sự Việt Nam (Tập 1) – Trường

Đại học Mở TP. HCM, NXB. Đại học Quốc gia, Hà Nội.

26. Dịch giả: TS. Nguyễn Minh Hằng (trưởng nhóm), Bộ nguyên tắc Unidroit về

Hợp đồng thương mại quốc tế”, (2014), NXB. Đại học Quốc gia, Hà Nội.

b) Sách Tiếng Anh

27. Brunner, C., (2009), Force Majeure and Hardship under General Contract

Principles. Exemption for NonPerformance in International Arbitration, NXB.

Kluwer Law International, Alphen aan den Rijin.

74

28. Fritz Enderlein & Dietrich Maskow (1992), International Sales Law: United

Nations Convention on Contracts for the International Sale of Goods, NXB. Oceana

Publication, New York.

29. F. Hinestrosa (2008), Rapport Général-Révision du contrat, in Le Contrat, NXB.

Société de législation comparée.

30. John Honnold (1989), Documentary History of the Uniform Law for

International Sales, NXB. Kluwer Law and Taxation Publishers, Deventer

31. Rolf Kofod, (2011), “Hardship in International Sales CISG and the UNIDROIT

Principles 3.1.2.”, NXB. Đại học Copenhagen, Copenhagen.

IV- Tài liệu nghiên cứu là báo chí

a) Báo chí trong nước

32. Vũ Thị Lan Anh (2016), “Các vấn đề pháp lý đặt ra trong việc thực hiện hợp

đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản”, Tạp chí nhà nước và pháp luật, số 337.

33. Ngô Quốc Chiến (2015),“Điều chỉnh hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi và việc

sửa đổi Bộ luật Dân sự 2005”, Nghiên cứu lập pháp, số 14, tr 29 – 33.

34. TS. Đoàn Thị Phương Diệp (2019), “Pháp luật hợp đồng Việt Nam nhìn ở góc

độ so sánh với luật Cộng hòa Pháp”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, Số 11(386).

35. Đỗ Văn Đại (2015), “Bàn thêm về điều chỉnh hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi”,

Tạp chí nghiên cứu lập pháp, Số 13.

36. PGS. TS. Nguyễn Minh Hằng và Trần Thị Giang Thu, (2016), “Đề xuất diễn

giải và áp dụng Điều 420 Bộ luật Dân sự 2015 về thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh

thay đổi cơ bản”, Tạp chí kinh tế đối ngoại, Số 86/2016.

37. Lê Minh Hùng (2009), “Điều khoản điều chỉnh hợp đồng do hoàn cảnh thay đổi

(Hardship) trong pháp luật nước ngoài và kinh nghiệm cho Việt Nam”, Tạp chí

nghiên cứu lập pháp, Số 6/2009.

75

38. Nguyễn Thị Thúy Hường (2019), Hậu quả pháp lý khi hoàn cảnh có sự thay đổi

cơ bản trong quá trình thực hiện hợp đồng, Tạp chí Tòa án.

39. Trần Minh Tâm & Nguyễn Minh Hiển (2015), “Điều khoản Hardship trong Hợp

đồng mua bán Hàng hóa quốc tế”, Tạp chí Kinh tế đối ngoại, Số 70/2015, 50-59.

40. Nguyễn Anh Thư, (2014), “Đề xuất sửa đổi, bổ sung qui định liên quan đến

nguyên tắc thiện chí trong Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2005”, Tạp chí Khoa học

ĐHQGHN: Luật học, Số 30(3), 61-72.

41. Ngô Thu Trang - Nguyễn Thế Đức Tâm (2017), “Thực hiện hợp đồng khi hoàn

cảnh thay đổi cơ bản”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 1(345), tr. 60-67.

b) Báo chí nước ngoài

42. Albert H. Kritzer (1994), “International Contract Manual - Guide to Practical

Applications of the United Nations Convention on Contracts for the International

Sale of Goods”, Detailed Analysis 623.

43. Angelika Awasthi & Gaurangi Kapoor (2018), “UNIDROIT Principles:

Commercial Hardship in India context”, Indian Journal of Law & International

Affairs, Số II(2), 47-63.

44. Daniel Girsberger & Paulius Zapolskis, (2012), “Fundamental Alteration of the

Contractual Equilibrium under Hardship Exemption”, Jurisprudence, Số 19(1),

121–141.

45. Frederick R. Fucci (2016), “Hardship and Changed Circumstances as Grounds

for Adjustment or Non-Performance of Contracts Practical Considerations”,

International Infrastructure Investment and Finance.

46. B. Nicholas (1984), “Impracticability and Impossibility in the U.N. Convention

on Contracts for the International Sale of Goods”, International Sales: The United

Nations Convention on Contracts for the International Sale of Goods, Số 5(02),

76

47. Niklas Lindström (2006), “Changed Circumstances and Hardship in the

International Sale of Goods”, Nordic Journal of Commercial Law, Số 2006(1),

48. Zaccaria, E. C. (2005), The Effects of Changed Circumstances in International

Commercial Trade, International Trade & Business Law Review, Số 9.

V- Tài liệu nghiên cứu là bài viết hội thảo

49. Đỗ Văn Đại (2015), “Tham luận 4: Điều chỉnh Hợp đồng khi hoàn cảnh thay

đổi”, Hội thảo chế định Hợp đồng trong Dự thảo Bộ luật Dân sự (sửa đổi), ngày 18

tháng Ba năm 2015, Bộ tư pháp, USAID và VIAC, Hà Nội, Việt Nam.

50. Đàm Thị Diễm Hạnh và ThS. Lê Thị Kim Oanh (2010), “Quy định về hoàn

cảnh thay đổi cơ bản dưới góc độ so sánh pháp luật Dân sự Việt Nam và Pháp – một

số đề xuất, kiến nghị”, Hội thảo quốc tế: Trách nhiệm Dân sự và hợp đồng: Kinh

nghiệm của Việt Nam và Liên minh Châu Âu, ngày 27 tháng Sáu năm 2019,

Trường Đại học Luật, Đại học Huế và Hội Hợp tác pháp lý Châu Âu và Việt Nam,

Thừa Thiên Huế, Việt Nam.

51. Lukas Rusch (2019), “Force Majure and Hardship under the CISG”, Hội thảo

13th Annual Generations in Arbitration Conference, ngày 31 Tháng Ba năm 2019,

Hồng Kông.

52. Ugo Draetta (2004), “Điều khoản về trường hợp bất khả kháng và điều khoản

Hardship trong hợp đồng quốc tế”, Kỷ yếu Hội thảo “Hợp đồng thương mại quốc

tế” do Nhà pháp luật Việt –Pháp, ngày 13-14, tháng Mười Hai năm 2004, Hà Nội,

Việt Nam.

VI- Tài liệu từ các nguồn khác

53. Nguyễn Huy Hoàng (2015), Hệ quả pháp lý khi Hoàn cảnh thay đổi cơ bản theo

quy định của Bộ luật Dân sự 2015, Trường Đại học Trà Vinh.

54. Jenni Miettinen (2015), Luận văn Thạc sỹ, “Interpreting CISG Article 79 (1):

Economic impediment and the reasonability requirement” - Đại học University of

Lapland.

77

55. Lovro Klepac, (2017), Luận văn thạc sỹ, “The availability of a Hardship

Defense under the UN Convention on Contracts for the International Sale of Goods

(CISG)”, Trường Đại học Centeral European University.

VII- Trang WEB

56. http://cisgw3.law.pace.edu/cases

57. TS. Nguyễn Minh Hằng; TS. Đinh Thị Mỹ Loan, (2013), Đề xuất Việt Nam gia

nhập Công ước Viên về Hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế,

http://www.trungtamwto.vn/chuyen-de/912-de-xuat-viet-nam-gia-nhap-cong-uoc-

vien-ve-hop-dong-mua-ban-hang-hoa-quoc-te

58. http://www.trungtamwto.vn/chuyen-de/1214-thuan-loi-hon-trong-mua-ban-

quoc-te-viet-nam-huong-den-gia-nhap-cisg

59. http://www.trungtamwto.vn/chuyen-de/9291-viet-nam-ap-dung-cong-uoc-vien-

ve-hop-dong-mua-ban-hang-hoa-quoc-te-tu-nam-2017

60. http://daibieunhandan.vn/default.aspx?tabid=81&NewsId=346916s

61.http://duthaoonline.quochoi.vn/DuThao/Lists/DT_DUTHAO_LUAT/View_Deta

il.aspx?ItemID=588&TabIndex=5&YKienID=540

78

PHỤ LỤC

Bảng 01: Lý do Doanh nghiệp sẽ không sử dụng điều khoản Hoàn cảnh

thay đổi cơ bản

Lý do sẽ không sử dụng Tỷ lệ phần trăm (%)

Sẽ không có trường hợp Hoàn cảnh thay đổi diễn ra 19,23%

Pháp luật Việt Nam chưa công nhận 88,46%

Đã có điều khoản Bất khả kháng 84,61%

Có những biện pháp khắc phụ như bảo hiểm, trái phiếu, 100% đảm bảo, đàm phán,…

(Thực hiện bởi Trần Minh Tâm & Nguyễn Minh Hiển trong “Điều khoản Hardship

trong Hợp đồng mua bán Hàng hóa quốc tế”, Tạp chí Kinh tế đối ngoại (2015), Số

70, 50-59,

Thời gian thực hiện: 12/2013 – 03/2014)

79