LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập, của riêng tôi. Các kết luận,
số liệu được sử dụng trong Luận văn Thạc sỹ này là trung thực, đảm bảo độ tin cậy.
Nội dung nghiên cứu của Luận văn Thạc sỹ chưa từng được đăng tải, công bố tại
bất kì đâu.
Tác giả Luận văn Thạc sỹ
i
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ...................................................................................................... i
MỤC LỤC ................................................................................................................. ii
DANH MỤC KÍ HIỆU VÀ CÁC CHỮ VIẾT TẮT ............................................. iv
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SỸ ....................................................................... vi
PHẦN MỞ ĐẦU ........................................................................................................ 1
CHƯƠNG I- NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN HOÀN CẢNH THAY ĐỔI CƠ BẢN ................................................................................................ 7
1.1. Sự ra đời của điều khoản hoàn cảnh thay đổi cơ bản theo Bộ luật Dân sự Việt Nam 2015, CISG và PICC ............................................................................ 8 1.1.1. Quá trình soạn thảo Điều 420 về thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản ............................................................................................................. 8 1.1.2. Sự ra đời của Hardship theo PICC ........................................................... 13 1.1.3. Sự ra đời của hoàn cảnh thay đổi cơ bản theo Công ước CISG ............... 15
1.2. Khái niệm Hoàn cảnh thay đổi cơ bản theo CISG, PICC và Bộ luật Dân sự Việt Nam 2015 ................................................................................................. 17 1.2.1. Khái niệm hoàn cảnh thay đổi cơ bản theo CISG .................................... 17 1.2.2. Khái niệm hoàn cảnh thay đổi cơ bản theo PICC .................................... 18 1.2.3. Khái niệm hoàn cảnh thay đổi cơ bản theo Bộ luật Dân sự Việt Nam 2015 ............................................................................................................................ 21
1.3. So sánh Bất khả kháng và Hoàn cảnh thay đổi cơ bản ............................. 22
CHƯƠNG II – ĐIỀU KIỆN XÁC LẬP HOÀN CẢNH THAY ĐỔI CƠ BẢN THEO BỘ LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM VÀ SO SÁNH VỚI CISG VÀ PICC . 28
2.1. Sự thay đổi hoàn cảnh do nguyên nhân khách quan xảy ra sau khi giao kết hợp đồng ......................................................................................................... 28
2.2. Tại thời điểm giao kết hợp đồng, các bên không thể lường trước được về sự thay đổi hoàn cảnh .......................................................................................... 29
2.3. Hoàn cảnh thay đổi lớn đến mức nếu như các bên biết trước thì hợp đồng đã không được giao kết hoặc được giao kết nhưng với nội dung hoàn toàn khác ............................................................................................................... 30
2.4. Việc tiếp tục thực hiện hợp đồng mà không có sự thay đổi nội dung hợp đồng sẽ gây thiệt hại nghiêm trọng cho một bên .............................................. 31
ii
2.5. Bên có lợi ích bị ảnh hưởng đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết trong khả năng cho phép, phù hợp với tính chất của hợp đồng mà không thể ngăn chặn, giảm thiểu mức độ ảnh hưởng đến lợi ích ............................................... 33
CHƯƠNG III –QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA CÁC BÊN TRONG TRƯỜNG HỢP HOÀN CẢNH THAY ĐỔI CƠ BẢN VÀ NHỮNG BẤT CẬP TRONG QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM 2015 ................................... 40
3.1. Quyền yêu cầu đàm phán lại hợp đồng của các bên trong hợp đồng ...... 40 3.1.1. Luật không đặt ra nghĩa vụ phải đàm phán .............................................. 42 3.1.2. Chủ thể trong đàm phán ........................................................................... 42 3.1.3. Nghĩa vụ chứng minh ............................................................................... 45 3.1.4. Khái niệm “thời hạn hợp lý” .................................................................... 46
3.2. Quyền yêu cầu Tòa án chấm dứt hoặc sửa đổi hợp đồng ......................... 47 3.2.1. Thẩm quyền của Tòa án bị bó hẹp ........................................................... 48 3.2.2. Việc xác định “chi phí để thực hiện hợp đồng” ....................................... 49
3.3. Nghĩa vụ của các bên vẫn phải tiếp tục thực hiện hợp đồng trong quá trình đàm phán sửa đổi, chấm dứt hợp đồng, Tòa án giải quyết .................... 50
3.4. Đánh giá thực trạng ...................................................................................... 52 3.4.1. Những điểm tích cực ................................................................................ 52 3.4.2. Hạn chế ..................................................................................................... 53 3.4.3. Nguyên nhân ............................................................................................. 54
CHƯƠNG IV- GIẢI PHÁP VỀ GIẢI THÍCH VÀ ÁP DỤNG QUY ĐỊNH VỀ THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG KHI HOÀN CẢNH THAY ĐỔI CƠ BẢN TẠI VIỆT NAM .............................................................................................................. 56
4.1- Định hướng nhằm giải thích và áp dụng quy định về thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản ............................................................................ 56
4.2. Các giải pháp ................................................................................................. 56 4.2.1. Giải pháp giải thích Điều 420 BLDS 2015 .............................................. 57 4.2.2. Đề xuất bổ sung cơ chế Trọng tài áp dụng Điều 420 ............................... 63 4.2.3. Đề xuất về việc soạn thảo điều khoản Hoàn cảnh thay đổi cơ bản trong hợp đồng ............................................................................................................. 66
4.3. Kiến nghị ........................................................................................................ 68
KẾT LUẬN .............................................................................................................. 71
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................... 73
PHỤ LỤC ................................................................................................................. 79
iii
DANH MỤC KÍ HIỆU VÀ CÁC CHỮ VIẾT TẮT
UBND Ủy ban Nhân dân
BLDS Bộ luật Dân sự
ULIS Luật thống nhất về bán hàng hóa quốc
tế
CISG Công ước của Liên Hợp Quốc về hợp
đồng mua bán hàng hóa quốc tế
PICC Bộ nguyên tắc UNIDROIT về hợp
đồng thương mại quốc tế
PECL Bộ nguyên tắc Châu Âu về hợp đồng
UNCITRAL Ủy ban của Liên Hợp Quốc về Luật
thương mại quốc tế
UNIDROIT Viện Thống nhất Tư pháp quốc tế
WTO Tổ chức Thương mại Thế giới
VIAC Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam
ICSID Trung tâm giải quyết tranh chấp đầu tư
quốc tế
ICC Phòng Thương mại Quốc tế
Hardship Hoàn cảnh thay đổi cơ bản
GS. Giáo sư
iv
PGS. Phó Giáo sư
TS. Tiến sĩ
NXB. Nhà xuất bản
v. với
v
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SỸ
Đề tài của Luận văn Thạc sỹ có tên là “Thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay
đổi cơ bản theo Bộ luật Dân sự Việt Nam 2015, CISG và Bộ nguyên tắc UNIDROIT
về hợp đồng thương mại quốc tế”.
Luận văn gồm 04 chương. Chương I “Những vấn đề lý luận liên quan đến hoàn
cảnh thay đổi cơ bản”. Chương I gồm ba phần. Phần 1.1 sẽ nêu Sự ra đời của điều
khoản hoàn cảnh thay đổi cơ bản theo BLDS Việt Nam 2015, CISG và PICC (bao
gồm quá trình soạn thảo Điều 420 về thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ
bản, sự ra đời của Hardship theo PICC và sự ra đời của hoàn cảnh thay đổi cơ bản
theo Công ước CISG). Phần 1.2 giới thiệu khái niệm hoàn cảnh thay đởi cơ bản theo
CISG, PICC và BLDS Việt Nam 2015. Phần 1.3 sẽ so sánh điểm giống và khác nhau
giữa trường hợp bất khả kháng và hoàn cảnh thay đổi cơ bản.
Chương II của Luận văn Thạc sỹ “Điều kiện xác lập Hoàn cảnh thay đổi cơ bản
theo BLDS Việt Nam và so sánh với CISG và PICC”, người viết trước hết sẽ phân
tích các điều kiện xác lập Hoàn cảnh thay đổi cơ bản theo 05 điều kiện: (1) Sự thay
đổi hoàn cảnh do nguyên nhân khách quan xảy ra sau khi giao kết hợp đồng; (2) Tại
thời điểm giao kết hợp đồng, các bên không thể lường trước được về sự thay đổi hoàn
cảnh; (3) Hoàn cảnh thay đổi lớn đến mức nếu như các bên biết trước thì hợp đồng
đã không được giao kết hoặc được giao kết nhưng với nội dung hoàn toàn khác; (4)
Việc tiếp tục thực hiện hợp đồng mà không có sự thay đổi nội dung hợp đồng sẽ gây
thiệt hại nghiêm trọng cho một bên; (5) Bên có lợi ích bị ảnh hưởng đã áp dụng mọi
biện pháp cần thiết trong khả năng cho phép, phù hợp với tính chất của hợp đồng mà
không thể ngăn chặn, giảm thiểu mức độ ảnh hưởng đến lợi ích (ứng với từng mục).
Người viết so sánh từng điều kiện để xác lập hoàn cảnh thay đổi cơ bản theo BLDS
Việt Nam 2015 với những điều kiện theo PICC và CISG. Sau đó, người viết dẫn các
ví dụ minh họa để phân tích các điều kiện này.
Ở chương III “Quyền và nghĩa vụ của các bên trong trường hợp Hoàn cảnh thay
đổi cơ bản và những bất cập trong quy định của BLDS Việt Nam 2015”, người viết
sẽ nêu các quyền và nghĩa vụ về đàm phán lại hợp đồng, quyền yêu cầu Tòa án chấm
vi
dứt hay sửa đổi hợp đồng và nghĩa vụ tiếp tục thực hiện hợp đồng và phân tích những
bất cập trong những quy định này.
Chương IV – chương cuối cùng của Luận văn Thạc sỹ “Giải pháp, đề xuất về giải
thích và áp dụng quy định về thực hiện hợp đồng khi Hoàn cảnh thay đổi cơ bản tại
Việt Nam”, người viết sẽ đề xuất giải pháp giải thích một số thuật ngữ trong điều
khoản Hoàn cảnh thay đổi cơ bản (phần 4.1). Phần 4.2 sẽ nêu đề xuất bổ sung cơ chế
Trọng tài áp dụng Điều 420. Phần 4.3 sẽ là những đề xuất của người viết về việc soạn
thảo điều khoản hoàn cảnh thay đổi cơ bản trong hợp đồng. Cuối cùng, người viết sẽ
nêu những kiến nghị để phù hợp với thực trạng hiện nay của nước ta.
vii
PHẦN MỞ ĐẦU
1, Tính cấp thiết của đề tài
Tiến trình phát triển của Bộ luật Dân sự Việt Nam đã trải qua ba lần thay đổi cơ
bản: Từ Bộ luật Dân sự đầu tiên sau khi Việt Nam được hoà bình, thống nhất là Bộ
luật Dân sự 1995. Sau gần 10 năm đi vào đời sống thực tiễn, Bộ luật Dân sự 1995 đã
bộc lộ nhiều điểm bất cập và có nhiều quy định không còn phù hợp với thực tế xã hội
luôn không ngừng phát triển, nên Bộ luật Dân sự 1995 đã được thay thế bằng Bộ luật
Dân sự 2005. Cũng 10 năm sau sự ra đời của Bộ luật Dân sự 2005, Quốc hội Việt
Nam luôn không ngừng xây dựng những dự thảo luật sửa đổi, bổ sung cho Bộ luật
Dân sự nhằm loại bỏ những quy định còn bất cập, hạn chế và thay thế bằng những
quy định có tính hợp lý và khả thi hơn. Bộ luật Dân sự 2015 hiện hành đã ra đời phù
hợp với xu hướng chung của nền kinh tế thế giới hiện nay là xu hướng toàn cầu hoá
và khu vực hoá đời sống kinh tế quốc tế.
Trong bối cảnh nền kinh tế thế giới đang phát triển không ngừng như hiện nay
và bối cảnh nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội Chủ nghĩa của Việt Nam nói
riêng, các quan hệ dân sự và kinh tế ngày một trở nên phức tạp và mở rộng và được
thể hiện dưới hình thức hợp đồng. Hợp đồng có vai trò quan trọng trong nền kinh tế
và xã hội như: là sự cụ thể hoá ý chí, nguyện vọng của các chủ thể khi giao kết, đồng
thời thể hiện được phạm vi quyền và nghĩa vụ của các bên khi thực hiện hợp đồng, là
cơ sở để các chủ thể giải quyết các tranh chấp khi phát sinh,…
Trong quá trình giao kết hợp đồng, các chủ thể đều mong muốn hợp đồng có
khả năng được thực hiện, bảo đảm được tính pháp lý đồng thời là cơ sở để xử lý các
mâu thuẫn, tranh chấp xảy ra (nếu có). Tuy nhiên, vì nhiều lý do khách quan cũng
như chủ quan mà việc thực hiện hợp đồng trở thành một nghĩa vụ không thể thực hiện
được hoặc thực hiện không trọn vẹn hoặc thực hiện không đúng như mong muốn giao
kết ban đầu của các bên. Vậy, những lý do khiến các bên không hoàn thành nghĩa vụ
là gì, các bên có thể dự liệu trước được những nguyên nhân này bằng cách ghi nhận
trong hợp đồng hay không, trong trường hợp nào được miễn thực hiện nghĩa vụ do
1
những nguyên nhân khách quan, và các cơ quan có thẩm quyền có thể can thiệp vào
việc thực hiện nghĩa vụ khi xảy ra những sự kiện không lường trước này được hay
không?
Việt Nam là thành viên tích cực của Tổ chức Thương mại Thế giới WTO năm
2007,1 và trở thành thành viên của CISG năm 2015,2 cũng như luôn tích cực tham
khảo Bộ nguyên tắc UNIDROIT về hợp đồng thương mại quốc tế để hoàn thiện pháp
luật hợp đồng của nước mình. Thuật ngữ “Hoàn cảnh thay đổi cơ bản” đã xuất hiện
trong Bộ nguyên tắc UNIDROIT; trong khi đó, Công ước quốc tế CISG không quy
định cụ thể về “Hoàn cảnh thay đổi cơ bản”, nhưng một số học giả vẫn cho rằng có
tồn tại khái niệm này trong Công ước CISG. Tuy nhiên, đây là một thuật ngữ khá mới
mẻ trong pháp luật Việt Nam (lần đầu tiên được quy định trong Bộ luật Dân sự 2015).
Do vậy, khái niệm “hoàn cảnh thay đổi cơ bản” vẫn còn tương đối mơ hồ và thiếu
tính cụ thể trong pháp luật Việt Nam.
Xuất phát từ những lý do nêu trên, người viết lựa chọn đề tài “Thực hiện hợp
đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản theo Bộ luật Dân sự Việt Nam 2015, CISG và
Bộ nguyên tắc UNIDROIT về hợp đồng thương mại quốc tế”. Đây là vấn đề có ý
nghĩa lý luận và thực tiễn cấp thiết trong việc thực hiện hợp đồng trong tình hình hiện
nay.
2- Tổng quan tình hình nghiên cứu
a) Tình hình nghiên cứu nước ngoài
Có rất nhiều công trình nghiên cứu nước ngoài liên quan đến Hoàn cảnh thay
đổi cơ bản. Các công trình nghiên cứu đã đi sâu vào phân tích các điều kiện để đánh
giá thế nào là Hoàn cảnh thay đổi cơ bản, quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp
đồng khi xảy ra sự kiện này. Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu tiêu biểu
như: “Hardship under the UN Convention on the International Sale of Goods
1 Ngày 11/01/2007, Việt Nam đã chính thức trở thành viên thứ 150 của tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). 2 Ngày 18/12/2015, Việt Nam đã chính thức phê duyệt việc gia nhập Công ước Viên về Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế của Liên hợp quốc (“CISG”) để trở thành viên thứ 84 của Công ước này.
(CISG)” của Markus Petsche, được đăng trên Tạp chí Vindobona Law Journal,
2
“Fundamental Alteration of the Contractual Equilibrium under Hardship Exemption,
Jurisprudence”, của Daniel Girsberger và Paulius Zapolskis, hay “Force majeure and
hardship: Application in international trade practice with specific regard to the CISG
and the UNIDROIT Principles of International Commercial Contracts” của Joern
Rimke,...
Những công trình nghiên cứu kể trên là nguồn tài liệu rất giá trị để người viết
nắm được những quy định về hoàn cảnh thay đổi cơ bản trong CISG và PICC. Đồng
thời, những phân tích của các học giả trong những công trình nghiên cứu kể trên cũng
là tài liệu tham khảo có ý nghĩa để so sánh với những quy định trong Bộ luật Dân sự
Việt Nam 2015.
b) Tình hình nghiên cứu trong nước
Trong mối liên hệ so sánh “Hoàn cảnh thay đổi cơ bản” của Bộ luật Dân sự Việt
Nam với các Công ước CISG và Bộ nguyên tắc UNIDRIOIT, hiện ở Việt Nam, có
rất nhiều bài báo khoa học đăng trên các tạp chí, hay tại các hội nghị như Hội thảo
Chế định hợp đồng trong Dự thảo Bộ luật dân sự (sửa đổi) của PGS. TS. Đỗ Văn Đại,
“Đề xuất diễn giải và áp dụng Điều 420 Bộ luật Dân sự 2015 về thực hiện hợp đồng
khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản” của PGS. TS. Nguyễn Minh Hằng và Trần Thị Giang
Thu, được đăng trên Tạp chí kinh tế đối ngoại số 86/2016, hay “Điều khoản điều
chỉnh hợp đồng do hoàn cảnh thay đổi (Hardship) trong pháp luật nước ngoài và kinh
nghiệm cho Việt Nam” của Lê Minh Hùng được đăng trên Tạp chí nghiên cứu lập
pháp số 6/2009,…
Những công trình khoa học kể trên là nguồn tài liệu rất quý giá, là một trong
những căn cứ giúp người viết có thêm nhiều thông tin quan trọng để phục vụ cho việc
nghiên cứu và hoàn thiện bài luận văn này. Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên
cứu so sánh các quy định về Hoàn cảnh thay đổi cơ bản của pháp luật Việt Nam trên
cơ sở so sánh, đối chiếu các quy định của Công ước CISG, Bộ nguyên tắc UNIDROIT
và đưa ra những đề xuất trong việc giải thích và áp dụng những điều khoản này. Đây
là Luận văn Thạc sỹ Luật học đầu tiên nghiên cứu so sánh cả ba văn bản này.
3
3- Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
Các hoạt động thương mại nói chung thường được quy định cụ thể trong luật
chuyên ngành. Ví dụ ở Anh có Đạo luật Bán hàng hóa (Sale of Goods Act), ở Pháp
có Luật Thương mại (French Commercial Code), Luật Hợp đồng (Contract Law),…
Còn ở Việt Nam, Luật Thương mại là luật chuyên ngành điều chỉnh những hoạt động
của thương nhân như: đầu tư, mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ đầu tư, xúc tiến
thương mại và các hoạt động khác nhằm mục đích sinh lợi; hoặc các hoạt động mang
tính tổ chức của cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhưng liên quan trực tiếp đến hoạt
động thương mại như: Đăng ký kinh doanh, kiểm tra, giám sát hoạt động kinh doanh,
thương mại; giải thể và phá sản doanh nghiệp.3
Tuy nhiên, vấn đề “Hoàn cảnh thay đổi cơ bản” lại không được quy định trong
Luật Thương mại của Việt Nam nhưng lần đầu được quy định ở trong Bộ luật Dân
sự 2015. Do vậy, “Hoàn cảnh thay đổi cơ bản” là thuật ngữ hết sức mới mẻ và thu
hút sự quan tâm của không chỉ những nhà luật gia mà còn số đông những chuyên gia
đầu ngành nghiên cứu và có hoạt động liên quan trong lĩnh vực này. Đề tài nghiên
cứu được thực hiện nhằm cung cấp những lý luận về việc thực hiện hợp đồng khi
hoàn cảnh thay đổi cơ bản và đề xuất một số giải pháp để giải thích và áp dụng điều
khoản này cho các luật sư, doanh nghiệp cũng như đối với Tòa án, Trọng tài tại Việt
Nam. Thành công của đề tài này sẽ làm phong phú kho tàng lý luận về Bộ luật Dân
sự ở Việt Nam.
Nhiệm vụ nguyên cứu của đề tài tập trung vào việc liệu có tồn tại điều khoản
Hoàn cảnh thay đổi cơ bản trong Công ước CISG; các quy định về quyền và nghĩa
vụ của các bên trong trường hợp Hoàn cảnh thay đổi cơ bản theo Bộ nguyên tắc
UNIDROIT và Công ước CISG. Từ đó, xem xét các quy định Hoàn cảnh thay đổi cơ
bản của Bộ luật dân sự Việt Nam 2015 có phù hợp với các công ước quốc tế và
nguyên tắc về hợp đồng thương mại quốc tế hay không và còn tồn tại bất cập, hạn
3 Luật Thương mại Việt Nam, ngày 14/06/2005, Điều 1.
chế hay không.
4
4- Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
Với đề tài này, đối tượng nghiên cứu là quy định của pháp luật về thực hiện hợp
đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản..
Phạm vi nghiên cứu của đề tài sẽ được giới hạn bởi các quy định của Công ước
CISG, Bộ nguyên tắc UNIDROIT và Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 2015. Các vụ
việc tranh chấp liên quan đến cách giải thích và áp dụng Hoàn cảnh thay đổi cơ bản
sẽ bao gồm cả ở Việt Nam và trên thế giới.
5- Phương pháp nghiên cứu
Luận văn Thạc sỹ được thực hiện với sự áp dụng tổng hợp các phương pháp
nghiên cứu như phương pháp lịch sử, phương pháp phân tích và tổng hợp, thống kê,
so sánh luật học, phân loại và hệ thống hóa,…
Trong quá trình nghiên cứu, người viết đã sử dụng phương pháp phân tích –
tổng hợp các quy định trong Công ước, Bộ nguyên tắc, Bộ luật. Đồng thời, việc phân
tích cũng được lồng ghép các ví dụ và liên hệ với tình hình thực tiễn thực hiện hợp
đồng và giải quyết tranh chấp hợp đồng ở Việt Nam và trên thế giới để đưa ra những
giải pháp phù hợp trong thời gian tới.
Phương pháp so sánh luật học được sử dụng khi so sánh các quy định của pháp
luật Việt Nam với Công ước CISG và Bộ nguyên tắc UNIDROIT và so sánh các quy
định của Bộ luật Dân sự Việt Nam qua các năm, so sánh Dự thảo với Bộ luật hiện
hành, cũng như so sánh các quy định của Bộ nguyên tắc UNIDROIT qua các ấn bản.
Phương pháp nghiên cứu tình huống cũng được vận dụng khi người viết đưa ra
những ví dụ để nhận định trường hợp nào được coi là Hoàn cảnh thay đổi cơ bản,
trường hợp nào không.
Phương pháp kết hợp lý luận và thực tiễn được áp dụng xuyên suốt luận văn,
kết hợp phân tích lý luận cũng như quy định hiện hành về sự kiện Hoàn cảnh thay đổi
cơ bản, kết hợp với việc phân tích thực tiễn giải quyết tranh chấp thông qua một số
5
án lệ cụ thể. Từ đó đưa ra những kiến nghị để hoàn thiện pháp luật cũng như để giải
quyết các tranh chấp một cách hiệu quả tại Chương IV của luận văn này.
6- Kết quả dự kiến của Luận văn
Dự kiến Luận văn sẽ đi sâu phân tích và làm rõ được sự kiện Hoàn cảnh thay
đổi cơ bản và những hệ quả pháp lý của sự kiện này. Thông qua Luận văn, những đề
xuất góp ý về cách diễn giải vấn đề pháp lý cũng hi vọng sẽ được đón nhận bởi không
chỉ các Luật sư, chuyên gia, Doanh nghiệp, mà còn được sử dụng bởi Tòa án, Trọng
tài.
7- Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tóm tắt, Danh mục tài liệu tham khảo và Danh
mục kí hiệu - chữ viết tắt, nội dung của bài Luận văn gồm 04 chương:
Chương I – Những vấn đề lý luận liên quan đến hoàn cảnh thay đổi cơ bản
Chương II – Điều kiện xác lập hoàn cảnh thay đổi cơ bản theo Bộ luật Dân sự
Việt Nam và so sánh với CISG và PICC
Chương III – Quyền và nghĩa vụ của các bên trong trường hợp hoàn cảnh thay
đổi cơ bản và những bất cập trong quy định của Bộ luật Dân sự Việt Nam 2015
Chương IV – Giải pháp giải thích và áp dụng quy định về thực hiện Hợp đồng
khi Hoàn cảnh thay đổi cơ bản tại Việt Nam
6
CHƯƠNG I- NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN HOÀN CẢNH
THAY ĐỔI CƠ BẢN
Khi thực hiện hợp đồng, thực tiễn nảy sinh rất nhiều sự kiện bất ngờ, khiến hợp
đồng khó có thể thực hiện được như ban đầu. Việc xuất hiện những sự kiện không
lường trước được khiến chi phí thực hiện nghĩa vụ tăng lên, gây thiệt hại rõ rệt cho
một bên nếu như hai bên vẫn tiếp tục thực hiện nghĩa vụ như thỏa thuận ban đầu. Bởi
vậy, nhằm đảm bảo sự công bằng cho các bên trong hợp đồng trong quá trình thực
hiện nghĩa vụ, và chia sẻ hợp lý rủi ro cũng như quyền và lợi ích của các bên trong
hợp đồng, điều khoản Hoàn cảnh thay đổi cơ bản ra đời.
Thực tiễn trên thế giới đã chứng minh việc tồn tại một quy định về hoàn cảnh
thay đổi cơ bản là rất quan trọng. Trong vụ Fibrosa Spolka Akcyjna v Fairbairn
Lawson Combe Barbour Ltd.,4 một công ty Anh, đã sản xuất một số máy móc cho
công ty Ba Lan và trong hợp đồng có điều khoản giao hàng CIF tại Gdynia, Ba Lan.5
Tổng số tiền theo hợp đồng là £4,800, trong đó thực tế Công ty Ba Lan mới chỉ trả
£1,000. Chiến tranh giữa Đức và Ba Lan nổ ra vào năm 1939, cùng thời điểm Anh
tuyên chiến với Đức. Cảng Gdynia bị xâm chiếm khiến Công ty Anh không gửi hàng
tới như thỏa thuận. Nghị viện quyết định rằng Công ty Anh đã vi phạm hợp đồng và
phải hoàn £1,000. Thời điểm ấy, chưa có những quy định về hoàn cảnh thay đổi khiến
Công ty Fibrosa không có quyền hưởng những bồi thường về chi phí mà họ đã phải
chịu khi sản xuất máy móc theo một phần hợp đồng. Các học giả sau này nhận định
rằng: một quy định về Hoàn cảnh thay đổi cơ bản có thể làm tăng tính công bằng của
v Fairbairn
SA
[1943] AC
Ltd.
32;
4 Vụ Fibrosa Lawson Combe Barbour http://www.bailii.org/uk/cases/UKHL/1942/4.html (truy cập ngày 20/11/2019) 5 CIF (Cost-Insurance and Freight): Tiền hàng, bảo hiểm và cước phí tàu, Các quy tắc của ICC về sử dụng các điều kiện Thương mại quốc tế và nội địa – INCOTERMS 2010, có hiệu lực ngày 01/01/2011. - Đây là điều kiện khá phổ biến trong xuất nhập khẩu. Người bán phải chịu thêm phí bảo hiểm cho lô hàng trong quá trình vậy chuyển bằng tàu biển. Chẳng hạn như lô hàng Chuối của bạn khi đi trên biển gặp các rủi ro như bão, cướp biểm hoặc con chuột nó cắn đứt dây điện máy lạnh làm lô hàng hư hỏng thì lúc này bảo hiểm sẽ chịu trách nhiệm tức nhiên bạn có trách nhiệm liên đới và người mua không chịu trách nhiệm gì cả. Người bán ( shipper) có thể mua bảo hiểm ở mức tối thiểu theo FPA hay ICC(C) -110%.
7
luật và bảo vệ các bên bị chịu thiệt hại. Điều khoản ấy cũng sẽ mang lại những lợi ích
kinh tế nhất định.6
1.1. Sự ra đời của điều khoản hoàn cảnh thay đổi cơ bản theo Bộ luật Dân sự Việt Nam 2015, CISG và PICC
1.1.1. Quá trình soạn thảo Điều 420 về thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản
Từ năm 1995 tới nay, Việt Nam đã trải qua hai lần sửa đổi BLDS đó là BLDS
20057 và Bộ luật hiện hành đang có hiệu lực là BLDS 2015.8 BLDS năm 2015 được
kỳ vọng sẽ tạo nên môi trường pháp lý thuận lợi cho sự phát triển kinh tế - xã hội của
đất nước cũng như cho việc công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm các quyền dân
sự của người dân.
Quá trình xây dựng dự án BLDS 2015 được thực hiện qua các bước soạn thảo,
lấy ý kiến, thảo luận và thông qua. Cụ thể, có rất nhiều điểm mới được đưa vào BLDS
2015 như: Xác lập, thực hiện và bảo vệ quyền dân sự, quyền xác định lại giới tính,
quy định về tài sản và quyền sở hữu, thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ
bản,…
Bảng thống kê lý do Doanh nghiệp sẽ không sử dụng điều khoản Hoàn cảnh thay
đổi cơ bản được trình bày dưới đây:
Bảng 01: Lý do Doanh nghiệp sẽ không sử dụng điều khoản Hoàn cảnh
thay đổi cơ bản
Lý do sẽ không sử dụng Tỷ lệ phần trăm (%)
Sẽ không có trường hợp Hoàn cảnh thay đổi diễn ra 19,23%
6 Angelika Awasthi & Gaurangi Kapoor (2018), “UNIDROIT Principles: Commercial Hardship in India context”, Indian Journal of Law & International Affairs, Số II(2), 47-63, tr. 56. 7 Bộ luật Dân sự Việt Nam 2005, ngày 14/06/2005. 8 Bộ luật Dân sự Việt Nam 2015, ngày 24/11/2015.
Pháp luật Việt Nam chưa công nhận 88,46%
8
Đã có điều khoản Bất khả kháng 84,61%
Có những biện pháp khắc phụ như bảo hiểm, trái phiếu, 100% đảm bảo, đàm phán,…
(Thực hiện 12/2013 – 03/2014)9
Dựa vào Bảng thống kê ở trên, có thể thấy, bên cạnh yếu tố Việt Nam chưa đưa
điều khoản Hoàn cảnh thay đổi cơ bản vào nội luật, Doanh nghiệp và những người
trực tiếp soạn thảo hợp đồng chưa nắm được bản chất của sự kiện Hoàn cảnh thay đổi
cơ bản này, cũng như chưa phân biệt được điều khoản hoàn cảnh thay đổi cơ bản và
bất khả kháng. Do vậy, điều khoản hoàn cảnh thay đổi cơ bản rất mới mẻ đối với
pháp luật Việt Nam. Ngay khi thuật ngữ hoàn cảnh thay đổi cơ bản ra đời trong Dự
thảo BLDS đã nhận được rất nhiều thảo luận từ các cán bộ, học giả, luật gia và người
dân.
Trong Báo cáo giải trình, tiếp thu về về thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay
đổi cơ bản, Chủ nhiệm Uỷ ban Pháp luật Phan Trung Lý cho biết, vấn đề này qua
thảo luận có hai loại ý kiến. Loại ý kiến thứ nhất không tán thành việc bổ sung Điều
419 về việc Tòa án được quyền điều chỉnh hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản.
Loại ý kiến thứ hai, tuy tán thành với cơ chế điều chỉnh hợp đồng khi hoàn cảnh thay
đổi cơ bản, nhưng đề nghị cần quy định cụ thể hơn về hoàn cảnh thay đổi, các trường
hợp thay đổi và chủ thể được thay đổi hợp đồng.
Vì vậy, Uỷ ban thường vụ Quốc hội đề nghị cho giữ nội dung này và chỉnh lý
chặt chẽ theo hướng: “Làm rõ các điều kiện xác định hoàn cảnh được coi là thay đổi
cơ bản; khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản, bên có lợi ích bị ảnh hưởng có quyền yêu cầu
bên kia đàm phán lại hợp đồng trong một thời hạn hợp lý; trong trường hợp các bên
không thể thỏa thuận được về việc sửa đổi hợp đồng trong một thời hạn hợp lý, một
trong các bên có thể yêu cầu Tòa án chấm dứt hợp đồng hoặc sửa đổi hợp đồng để
cân bằng quyền và lợi ích hợp pháp của các bên do hoàn cảnh thay đổi cơ bản. Tòa
9 Trần Minh Tâm & Nguyễn Minh Hiển (2015), tlđd., tr. 57.
án chỉ được quyết định việc sửa đổi hợp đồng trong trường hợp việc chấm dứt hợp
9
đồng sẽ gây thiệt hại lớn hơn so với việc thực hiện hợp đồng nếu được sửa đổi”, Chủ
nhiệm Uỷ ban Pháp luật nêu.
Cho ý kiến tại phiên thảo luận, Đại biểu Đinh Xuân Thảo (Hà Nội) cho hay:
“Cách xử lý lại như lần này, tôi cho là hợp lý. Vì trước hết trong dự thảo điều này có
quy định hoàn cảnh thay đổi đặc biệt là trong trường hợp nào. Ở đây có quy định ra
năm trường hợp đặc biệt. Tôi cho rằng rất phù hợp rất chặt chẽ. Tránh sự tùy tiện,
cái gì cũng cho là đặc biệt để yêu cầu sửa đổi hợp đồng thì không đúng”.
Cũng tại phiên thảo luận, các Đại biểu Lê Đắc Lâm (Bình Thuận), Đại biểu
Huỳnh Thành (Gia Lai)... cũng đồng thuận với phương án này.10
Bên cạnh những ý kiến của các đại biểu nhân dân, các học giả, chuyên gia cũng
để lại những bình luận đáng chú ý:
Cần bổ sung điều khoản về việc áp dụng Hardship như là ngoại lệ của nguyên
tắc Pacta sunt servanda
BLDS Việt Nam năm 2005 mới chỉ điều chỉnh một trường hợp ngoại lệ của
nguyên tắc tôn trọng cam kết hay hiệu lực bắt buộc của hợp đồng (pacta sunt
servanda) là sự kiện bất khả kháng (force majeure) chứ chưa điều chỉnh ngoại lệ thứ
hai của nguyên tắc này được luật hợp đồng thế giới thừa nhận rộng rãi là hardship.
Dưới góc độ luật hợp đồng quốc tế, hardship và force majeure là hai khái niệm được
xây dựng nhằm phân chia rủi ro trong hợp đồng và được thiết kế như các quy tắc để
giải quyết các xung đột về lợi ích khi có hoàn cảnh thay đổi hoặc xảy ra các tình
huống không thể lường trước được làm thay đổi hoàn toàn cục diện của hợp đồng.11
Đây là hai ngoại lệ của nguyên tắc nền tảng - pacta sunt servanda nhằm giới hạn bớt
tính chất nghiêm ngặt của nguyên tắc pacta sunt servanda.12
of Goods, Kluwer,
on Contracts
Sale
the
for
10 http://daibieunhandan.vn/default.aspx?tabid=81&NewsId=346916s (truy cập ngày 19/10/2019). 11 Nguyễn Anh Thư, (2014), “Đề xuất sửa đổi, bổ sung qui định liên quan đến nguyên tắc thiện chí trong Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2005”, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Luật học, Số 30(3), 61-72, tr. 64. 12 Joern Rimke (2001), “Force majeure and hardship: Application in international trade practice with specific regard to the CISG and the UNIDROIT Principles of International Commercial Contracts”, Pace Review of the Convention 197-243, International http://www.cisg.law.pace.edu/cisg/biblio/rimke.html (truy cập ngày 04/08/2019).
10
Theo các chuyên gia, việc bổ sung một điều khoản về việc áp dụng Hoàn cảnh
thay đổi cơ bản là ngoại lệ của nguyên tắc pacta sunt servanda vào điều khoản về
Thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản là rất cần thiết. Tuy nhiên, ý kiến
này cuối cùng đã không được ban soạn thảo chấp nhận và không được đưa vào BLDS
2015.
Phù hợp với thông lệ quốc tế
Theo TS. Đỗ Văn Đại – Trưởng Khoa Luật Dân sự, Đại học Luật Thành phố Hồ
Chí Minh, khái niệm điều chỉnh hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi bắt nguồn từ thực
tiễn thương mại quốc tế, cho phép các bên gặp khó khăn được yêu cầu bên kia đàm
phán lại hợp đồng khi có sự thay đổi hoàn cảnh nhưng chưa tới mức không thể thực
hiện được như trường hợp bất khả kháng. Ở cấp độ quốc tế, có hai bộ nguyên tắc về
hợp đồng rất nổi tiếng và có ảnh hưởng nhiều trên thế giới. Đó là Bộ Nguyên tắc
UNIDROIT về hợp đồng thương mại quốc tế và Bộ Nguyên tắc châu Âu về hợp đồng
(PECL). Cả hai bộ nguyên tắc này đều có quy định cho phép điều chỉnh lại hợp đồng
và việc quy định về thay đổi hoàn cảnh tương ứng với xu hướng hiện đại đề xuất trao
cho Tòa án (Trọng tài) quyền điều tiết để giảm bớt những hà khắc của tự do hợp đồng
và của hiệu lực ràng buộc của hợp đồng.
Theo các chuyên gia, hiện có nhiều nước đã công nhận điều khoản của những bộ
nguyên tắc này và đưa vào luật thực định để điều chỉnh hợp đồng trong trường hợp
hoàn cảnh thay đổi nhằm mục đích phân chia hợp lý rủi ro và tái lập lại sự cân bằng
của hợp đồng. Đơn cử như BLDS Italy năm 1942 là bộ luật đầu tiên chấp nhận thuyết
“Thay đổi hoàn cảnh”, hay Tòa án Công lý tối cao Colombia cũng chấp nhận khả
năng thay đổi hợp đồng khi trong quá trình thực hiện có một số sự kiện đặc biệt không
lường trước được hay không thể lường trước được xuất hiện. Bên cạnh đó, nhiều nước
cũng đang có xu hướng luật hóa cơ chế này. Chẳng hạn, Dự thảo sửa đổi BLDS được
Pháp công bố năm 2012 và 2013 liên quan đến hợp đồng, đã thấy có quy định về điều
chỉnh lại hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản.
Bảo đảm tự do thỏa thuận
11
Một trong những băn khoăn lớn nhất của các chuyên gia khi đưa quy định này
vào dự thảo là quy định này cho phép Tòa án can thiệp nhằm chấm dứt hoặc điều
chỉnh hợp đồng khi các bên không đạt được thỏa thuận. Do vậy, điều khoản đó có thể
không phù hợp với bản chất của hợp đồng là tự do ý chí, tự do thỏa thuận và không
khả thi trên thực tiễn.
Tuy nhiên, không ít chuyên gia cho rằng, quy định không làm ảnh hưởng đến
nguyên tắc tự do thỏa thuận hợp đồng của các bên, do Điều 443 của Dự thảo luật (sau
này trở thành Điều 420 BLDS 2015) có những quy định rất chặt chẽ về căn cứ, điều
kiện, trình tự (các bước) của việc điều chỉnh hợp đồng.13 Theo khoản 1 Điều 443, Dự
luật cho phép bên có nghĩa vụ do hoàn cảnh thay đổi mà việc tiếp tục hợp đồng quá
bất công, có quyền đề nghị với bên kia điều chỉnh lại hợp đồng. Quy định này vẫn
tôn trọng tự do thỏa thuận của các bên tham gia hợp đồng thể hiện ở chỗ nếu không
có đề nghị của bên bị thiệt hại thì dù có thay đổi hoàn cảnh, hợp đồng đã ký vẫn tiếp
tục thực hiện. Mặt khác, luật cũng quy định, trước khi đề nghị Tòa án can thiệp, bên
đề nghị điều chỉnh hợp đồng phải chứng minh hai bên đã có một thời gian hợp lý thực
hiện hợp đồng nhưng không có kết quả hoặc không được bên kia đáp ứng. Việc đưa
quy định này vào không làm mất đi tính chất tự do thỏa thuận vì chỉ khi các bên không
điều chỉnh hợp đồng trong một khoảng thời gian hợp lý thì tòa án mới có quyền can
thiệp để chấm dứt hoặc điều chỉnh hợp đồng theo cách công bằng nhất.
Mặt khác, việc điều chỉnh lại hợp đồng hoàn toàn phù hợp với nguyên tắc thiện
13 Dự thảo BLDS 2015: “Điều 443 - Điều chỉnh hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi 1. Trường hợp hoàn cảnh thay đổi dẫn đến quyền, lợi ích của một trong các bên bị ảnh hưởng nghiêm trọng thì cho phép các bên điều chỉnh hợp đồng. 2. Hoàn cảnh thay đổi dẫn tới điều chỉnh hợp đồng được xác lập khi xảy ra các sự kiện làm thay đổi cơ bản sự cân bằng giữa lợi ích của các bên và bảo đảm các điều kiện sau đây: a) Hoàn cảnh thay đổi sau khi hợp đồng đã được giao kết; b) Việc hoàn cảnh thay đổi là không thể lường trước được một cách hợp lý vào thời điểm giao kết hợp đồng; c) Rủi ro phát sinh từ việc thay đổi hoàn cảnh không phải là rủi ro mà bên bị ảnh hưởng đáng phải gánh chịu. 3. Trường hợp các bên không đạt được thoả thuận trong một khoảng thời gian hợp lý thì toà án có thể: a) Chấm dứt hợp đồng vào ngày và theo những điều khoản do toà án quyết định; b) Điều chỉnh hợp đồng để phân chia cho các bên các thiệt hại và lợi ích phát sinh từ việc thay đổi hoàn cảnh một cách công bằng và bình đẳng. Tuỳ theo từng trường hợp, toà án có thể buộc bên từ chối đàm phán hoặc phá vỡ đàm phán một cách không thiện chí, trung thực phải bồi thường thiệt hại.”
chí, theo hướng các bên không chỉ quan tâm, chăm lo đến quyền, lợi ích hợp pháp
12
của mình mà còn phải tôn trọng, quan tâm đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích công
cộng, quyền, lợi ích hợp pháp của người khác, giúp đỡ, tạo điều kiện cho nhau thực
hiện quyền, nghĩa vụ dân sự. Do vậy, việc bổ sung quy định này vào dự thảo luật là
cần thiết, hợp lý và hợp pháp.14
Cuối cùng, sau các thảo luận được đưa ra, Điều 420 về Hoàn cảnh thay đổi cơ
bản được đưa vào trong BLDS 2015 bao gồm các điều kiện để xác lập Hoàn cảnh
thay đổi cơ bản,15 các quyền và nghĩa vụ của các bên khi xảy ra sự kiện Hoàn cảnh
thay đổi cơ bản.16
1.1.2. Sự ra đời của Hardship theo PICC
Đã từ lâu, Viện Thống nhất Tư pháp Quốc tế, viết tắt theo Tiếng Pháp là
UNIDROIT, (Insitute International pour l`Unification des Droits Privé), một tổ chức
quốc tế liên chính phủ thành lập năm 1929, đặt trụ sở tại Roma, Italia, đã tập trung
nghiên cứu tìm kiếm các quy định chung để điều chỉnh hợp đồng sao cho có thể thiết
lập một hệ thống hài hòa các quy phạm có thể được sử dụng trên toàn thế giới, tại
mọi quốc gia mặc dù quốc gia đó có truyền thống pháp lý và điều kiện kinh tế, chính
trị như thế nào.
Năm 1994, UNIDROIT đã cho ra đời “Nguyên tắc Hợp đồng Thương mại Quốc
tế”, viết tắt theo tiếng Anh là PICC (Principles of International Commercial
Contracts) – đây là phiên bản đầu tiên của Bộ nguyên tắc này. PICC 2010 đã bổ sung
thêm các điều khoản mới so với ấn bản PICC 2004 nhằm phù hợp với thực tiễn phát
triển của các hợp đồng điện tử và giải quyết các vấn đề mới và quan trọng đối với
14 Quyền yêu cầu điều chỉnh hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi – Dự thảo Bộ luật dân sự (Sửa đổi), http://daibieunhandan.vn/default.aspx?tabid=81&NewsId=346916 (truy cập ngày 07/10/2019). 15 BLDS Việt Nam, (2015), Khoản 1, Điều 420. 16 BLDS Việt Nam, (2015), tlđd., Khoản 2, 3, 4, Điều 420. 17 Trong Luận văn này, người viết sử dụng International Institute for the Unification of Private Law Unidroit – (eds) (2016) “Unidroit Principles of International Commercial Contracts”, (bản Tiếng Anh) và “Bộ nguyên tắc Unidroit về Hợp đồng thương mại quốc tế”, (2014), NXB. Đại học Quốc gia, Hà Nội, dịch giả: TS. Nguyễn Minh Hằng (trưởng nhóm) - (bản Tiếng Việt).
cộng đồng pháp lý và kinh tế quốc tế.17
13
Trải qua ba lần sửa đổi (năm 2004, năm 2010 và năm 2016), tương tự ấn bản
PICC 2010, ấn bản PICC 2016 bao gồm 211 điều,18 được bố cục thành 11 chương,
đề cập đến hầu hết các vấn đề pháp lý trong quá trình giao kết và thực hiện hợp đồng
thương mại quốc tế: giao kết hợp đồng, hiệu lực của hợp đồng, giải thích hợp đồng,
nội dung của hợp đồng, thực hiện hợp đồng, các biện pháp áp dụng khi không thực
hiện hợp đồng, quyền yêu cầu thực hiện hợp đồng, hủy hợp đồng, bồi thường thiệt
hại... cũng như các vấn đề liên quan đến việc giao kết và thực hiện hợp đồng như
thẩm quyền đại diện, quyền của người thứ ba, chuyển giao quyền, chuyển giao nghĩa
vụ, chuyển giao hợp đồng. So với ấn bản PICC 2010, ấn bản PICC 2016 chỉ có 06
điều khoản bị sửa đổi.19
Cùng với Công ước CISG, PICC là tài liệu tham khảo được nhắc đến nhiều
nhất trong luật thương mại quốc tế ở châu Âu. Bộ nguyên tắc này đã được dịch và
phổ biến ở nhiều nước trên thế giới, trong đó có các nước đang phát triển.
Trước đó, Hardship lần đầu được đề cập trong ấn bản PICC 1994. Ấn bản PICC
1994 đã dành hẳn một mục để phân tích về Hardship.20 Điều này cho thấy tầm quan
trọng của điều khoản này trong cách đánh giá của các nhà soạn thảo luật. Các ấn bản
PICC sau này cũng đều dành hẳn một mục trong chương để quy định về điều khoản
Hardship. Điểm khác biệt giữa các ấn bản chủ yếu là phần diễn giải để phù hợp với
tiến trình phát triển của luật và thực tiễn đời sống phát triển của hợp đồng. Tuy nhiên,
trong khuôn khổ của Luận văn Thạc sỹ này, người viết sẽ chỉ phân tích chủ yếu dựa
trên ấn bản PICC 2016 - ấn bản đang hiện hành.
Trên tinh thần về hiệu lực bắt buộc của hợp đồng, các điều khoản của hợp đồng
vẫn phải được tôn trọng.
18 Bộ nguyên tắc UNIDROIT về Hợp đồng thương mại quốc tế năm 1994 gồm 120 điều; năm 2004 gồm 185 điều; năm 2010 gồm 211 điều. 19 06 điều khoản bị sửa đổi là: Lời nói đầu, Điều 1.11, Điều 2.1.14, Điều 5.1.7, Điều 5.1.8 và Điều 7.3.7. 20 Bộ nguyên tắc UNIDROIT về Hợp đồng thương mại quốc tế (PICC), Mục 2, Chương 6 (bao gồm Điều 6.2.1, Điều 6.2.2 và Điều 6.2.3).
“Điều 6.2.1. Tuân thủ hợp đồng
14
Các bên có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ của mình, ngay cả khi chi phí thực
hiện nghĩa vụ đó tăng lên, với điều kiện tuân thủ các quy định dưới đây về hardship.”
Tuy nhiên, nguyên tắc hiệu lực bắt buộc của hợp đồng không phải là một nguyên
tắc tuyệt đối; khi xảy ra những hoàn cảnh làm thay đổi cơ bản sự cân bằng giữa các
nghĩa vụ hợp đồng thì sẽ làm phát sinh trường hợp ngoại lệ (sau đây sẽ gọi là
“Hardship”). Thuật ngữ “hardship” được sử dụng trong bản tiếng Pháp vì đã được
chấp nhận rộng rãi trong thực tiễn thương mại quốc tế và đã được thừa nhận trong
phần mở đầu của nhiều Hợp đồng quốc tế dưới tên gọi “Điều khoản Hardship”.21
1.1.3. Sự ra đời của hoàn cảnh thay đổi cơ bản theo Công ước CISG
Công ước Viên của Liên Hợp Quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (viết
tắt theo tiếng Anh là CISG - Convention on Contracts for the International Sale of
Goods), (sau đây gọi là Công ước CISG), được soạn thảo bởi Ủy ban của Liên Hợp
Quốc về Luật thương mại quốc tế (UNCITRAL) trong một nỗ lực hướng tới việc
thống nhất nguồn luật áp dụng cho hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế.22 CISG có
hiệu lực từ ngày 01/01/1988.23 Công ước Viên 1980 đã thống nhất hóa và khắc phục
được nhiều mâu thuẫn giữa các hệ thống pháp luật khác nhau trên thế giới, đóng vai
trò quan trọng trong việc giải quyết các xung đột pháp luật trong thương mại quốc tế
và thúc đẩy thương mại quốc tế phát triển.24
Tại Việt Nam, hoạt động xuất nhập khẩu của nước ta diễn ra khá nhộn nhịp,
trong đó, các hợp đồng về mua bán hàng hóa quốc tế chiếm tỷ trọng lớn trong tổng
số hợp đồng nói chung.25 Tính đến hết năm 2015, các thị trường xuất khẩu chủ yếu
của Việt Nam hầu hết đều là thành viên của Công ước CISG.26 Bên cạnh đó, lợi ích
điển hình đối với doanh nghiệp Việt Nam là sẽ tiết kiệm được các chi phí trong đàm
http://www.trungtamwto.vn/chuyen-de/9291-viet-nam-ap-dung-cong-uoc-vien-ve-hop-dong-mua-ban-
21 Bộ nguyên tắc UNIDROIT về Hợp đồng thương mại quốc tế, (2014), tlđd., tr. 262. 22 TS. Nguyễn Minh Hằng; TS. Đinh Thị Mỹ Loan, (2013), Đề xuất Việt Nam gia nhập Công ước Viên về Hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế, http://www.trungtamwto.vn/chuyen-de/912-de-xuat-viet-nam-gia-nhap-cong- uoc-vien-ve-hop-dong-mua-ban-hang-hoa-quoc-te, (truy cập ngày 09/10/2019). 23 khi có 10 quốc gia phê chuẩn, theo Công ước CISG, Điều 99. 24 http://www.trungtamwto.vn/chuyen-de/1214-thuan-loi-hon-trong-mua-ban-quoc-te-viet-nam-huong-den- gia-nhap-cisg, (truy cập ngày 09/10/2019). 25 hang-hoa-quoc-te-tu-nam-2017, (truy cập ngày 09/10/2019). 26 Như trên.
15
phán hợp đồng (trước đó, quá trình đàm phán để lựa chọn luật áp dụng cho hợp đồng
đã mất khoảng 2 tiếng, chi tiết về thực hiện hợp đồng cũng như từng điều khoản trong
hợp đồng cũng khiến Doanh nghiệp mất nhiều thời gian do chưa có điều khoản thống
nhất để tham khảo,…).27 Khi Việt Nam trở thành thành viên của Công ước CISG
thì Công ước này sẽ được áp dụng tự động trong trường hợp hai bên doanh nghiệp
đối tác đến từ các nước thành viên của Công ước CISG. 28 Do vậy, việc Công ước
CISG có hiệu lực được đánh giá là đem đến nhiều lợi ích cho các doanh nghiệp Việt
Nam, giúp các doanh nghiệp sẽ chủ động hơn trong việc kinh doanh với bạn hàng
quốc tế.29
Việt Nam đã gia nhập CISG vào cuối tháng 12/2015 và Công ước CISG chính
thức có hiệu lực tại Việt Nam từ ngày 01/01/2017. Việc gia nhập Công ước CISG đã
đánh dấu một mốc mới trong quá trình tham gia vào các điều ước quốc tế đa phương
về thương mại, tăng cường mức độ hội nhập của Việt Nam, đồng thời, cũng góp phần
hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam về mua bán hàng hóa quốc tế và tạo cho các
doanh nghiệp việt nam một khung pháp lý hiện đại, công bằng và an toàn để thực
hiện hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế.30
Có rất nhiều học giả cho rằng Công ước Quốc tế CISG có đề cập tới Hoàn cảnh
thay đổi cơ bản, cụ thể tại Điều 79 của Công ước Quốc tế CISG;31 một số khác lại
http://www.trungtamwto.vn/chuyen-de/9291-viet-nam-ap-dung-cong-uoc-vien-ve-hop-dong-mua-ban-
http://www.trungtamwto.vn/chuyen-de/8401-viet-nam-chinh-thuc-tro-thanh-thanh-vien-thu-84-cua-cisg,
27 hang-hoa-quoc-te-tu-nam-2017, (truy cập ngày 09/10/2019). 28 Như trên. 29 Như trên. 30 (truy cập ngày 09/10/2019). 31 Rolf Kofod, (2011), “Hardship in International Sales CISG and the UNIDROIT Principles 3.1.2.”, NXB. Đại học Copenhagen, Copenhagen, https://www.cisg.law.pace.edu/cisg/biblio/kofod.html, (truy cập ngày 08/09/2019), “Bằng cách tránh tham chiếu đến điều khoản Hoàn cảnh thay đổi (Hardship), hay bất kỳ khái niệm tương tự nào khác như Bất khả kháng, không thể thực hiện được, hay wegfall der Geschäftsgrundlage, thuật ngữ “trở ngại” (impediment) được sử dụng để tóm gọn những nguyên tắc trên đây vào một điều khoản bằng một từ ngữ khá linh hoạt.
16
phủ nhận điều này.32 Sở dĩ có những ý kiến trái chiều như vậy là bởi Điều 79 được
xem rất “mơ hồ”, “thiếu chính xác” và “chứa đựng những từ ngữ lỏng lẻo”.33
Không tập trung đưa ra kết luận rằng liệu Điều 79 Công ước CISG có “bao hàm”
(covers) điều khoản Hoàn cảnh thay đổi cơ bản hay không, trong Luận văn này, người
viết muốn tiếp cận điều khoản Hoàn cảnh thay đổi cơ bản được diễn giải và áp dụng
thế nào theo Điều 79. Giả thuyết rằng, Điều 79 Công ước CISG có bao hàm cả điều
khoản Hoàn cảnh thay đổi cơ bản. Khoản 1, Điều 79 của Công ước CISG có quy định
như sau:
“1. Một bên không chịu trách nhiệm về việc không thực hiện bất kỳ một nghĩa
vụ nào đó của họ nếu chứng minh được rằng việc không thực hiện ấy là do một trở
ngại (an impediment) nằm ngoài sự kiểm soát của bên đó và người ta không thể chờ
đợi một cách hợp lý rằng họ phải tính tới trở ngại đó vào lúc ký kết hợp đồng hoặc
là tránh được hay khắc phục các hậu quả của nó.”34
1.2. Khái niệm Hoàn cảnh thay đổi cơ bản theo CISG, PICC và Bộ luật
Dân sự Việt Nam 2015
1.2.1. Khái niệm hoàn cảnh thay đổi cơ bản theo CISG
Thuật ngữ “trở ngại” trong Điều 79 được nhiều học giả đánh giá rằng mơ hồ và
32 Markus Petsche, (2005), “Hardship under the UN Convention on the International Sale of Goods (CISG)”, Vindobona Law Journal, Số 19, tr. 147, 148; John Honnold (1989), Documentary History of the Uniform Law for International Sales, NXB. Kluwer Law and Taxation Publishers, Deventer, tr. 252, “Theo một số nhà bình luận pháp lý, việc loại trừ (rectius: loại bỏ) Hoàn cảnh thay đổi (Hardship) trong phạm vi Điều 79 đã xuất hiện từ lịch sử soạn thảo điều khoản này.” Lovro Klepac, (2017), Luận văn thạc sỹ, “The availability of a Hardship Defense under the UN Convention on Contracts for the International Sale of Goods (CISG)”, Trường Đại học Centeral European University, tr. 19., “Một lý do nữa để kết luận rằng điều khoản Hoàn cảnh thay đổi cơ bản (Hardship) bị loại trừ khỏi Công ước CISG, đó là ngay trong từ ngữ của Điều 79 Công ước CISG quy định rằng, "bên bị bất lợi không mong đợi một cách hợp lý để tránh hoặc khắc phục hậu quả của sự kiện đó". Điều này là phù hợp với những tình huống Hoàn cảnh thay đổi cơ bản”; 33 Albert H. Kritzer (1994), “International Contract Manual - Guide to Practical Applications of the United Nations Convention on Contracts for the International Sale of Goods”, Detailed Analysis 623, tr. 642. 34 Bản dịch của VIAC, http://www.trungtamwto.vn/upload/files/chu_de_khac/303-cong-uoc-vien/307-van- kien/Cong%20uoc%20vien%201980%20-%20TV.pdf, (truy cập ngày 09/08/2019). 35 B. Nicholas (1984), “Impracticability and Impossibility in the U.N. Convention on Contracts for the International Sale of Goods”, International Sales: The United Nations Convention on Contracts for the International Sale of Goods, Số 5(02), tr. 5-4 (Có thể tìm đọc tại Nina M. Galston & Hans Smit, (ed), NXB.
thiếu chính xác,35 số khác lại chỉ ra một số "mâu thuẫn và mơ hồ" trong việc sử dụng
17
thuật ngữ này.36 Bởi vậy các học giả trên thế giới rất cố gắng để định nghĩa thuật ngữ
này và những định nghĩa này cũng rất đa dạng.
Vậy điều gì cấu thành nên “trở ngại”? Bất kì việc gì khiến việc thực hiện nghĩa
vụ không thể thực hiện một cách khách quan sẽ được coi là “trở ngại”.37 “Trở ngại”
theo Điều 79 có thể được hiểu là trở ngại vật lý, chẳng hạn như sự kiện chiến tranh,
nội chiến, các hành động khủng bố, hoặc cấm vận thương mại, kinh tế, hay các thảm
hoạ tự nhiên, khó khăn gây ra bởi sự gia tăng chi phí để thực hiện hợp đồng.38 Rất
khó để có thể đưa ra một danh sách đầy đủ các sự kiện được coi là “trở ngại”,39 do
đó, việc đánh giá này phải được xem xét theo từng trường hợp cụ thể. Ví dụ, tình
trạng chiến tranh không thể được coi là “trở ngại” nếu các bên đều thoả thuận rằng
việc thực hiện nghĩa vụ ngay cả trong chiến tranh là hoàn toàn có thể.
Từ những phân tích ở trên về định nghĩa thuật ngữ “trở ngại”, có thể coi định
nghĩa Hoàn cảnh thay đổi cơ bản tương tự như “trở ngại” trong Công ước CISG.
Hoàn cảnh thay đổi cơ bản có những đặc điểm như: là trở ngại không thể thấy trước
được cũng như nằm ngoài tầm kiểm soát của bên vi phạm, xảy ra sau khi ký kết hợp
đồng và hậu quả rất nặng nề.40
1.2.2. Khái niệm hoàn cảnh thay đổi cơ bản theo PICC
Theo PICC, “hardship” được xác lập khi có “Các sự kiện khách quan xảy ra làm
thay đổi cơ bản sự cân bằng giữa các nghĩa vụ hợp đồng, hoặc chi phí thực hiện nghĩa
vụ tăng lên, hoặc do giá trị của nghĩa vụ đối trừ giảm xuống…” và thỏa mãn các điều
kiện như (1) Các sự kiện này xảy ra hoặc được bên bị thiệt hại biết đến sau khi giao
kết hợp đồng; (2) Bên bị bất lợi đã không tính đến một cách hợp lý các sự kiện đó khi
of
School
Foreign
Law, Đại
and Comparative
học Columbia, Columbia,
Parker http://cisgw3.law.pace.edu/cisg/biblio/nicholas1.html, (truy cập ngày 07/08/2019) 36 D. Tallon (1987), “Commentary to Article 79”, Commentary on the International Sales Law. The 1980 Vienna Sales Convention, http://cisgw3.law.pace.edu/cisg/biblio/tallon-bb79.html. 37 Gomard & Rechnagel (1990), International Kjabelov, tr. 222. 38 Jenni Miettinen (2015), Luận văn Thạc sỹ, “Interpreting CISG Article 79 (1): Economic impediment and the reasonability requirement” - Đại học University of Lapland, tr. 2. 39 Niklas Lindström (2006), “Changed Circumstances and Hardship in the International Sale of Goods”, Nordic Journal of Commercial Law, Số 2006(1), https://cisgw3.law.pace.edu/cisg/biblio/lindstrom.html (truy cập ngày 08/09/2019). 40 Lukas Rusch (2019), “Force Majure and Hardship under the CISG”, Hội thảo 13th Annual Generations in Arbitration Conference, ngày 31 Tháng Ba năm 2019, Hồng Kông, tr. 14
18
giao kết hợp đồng; (3) Các sự kiện đó nằm ngoài sự kiểm soát của bên bị bất lợi; và
(4) Rủi ro về các sự kiện này không được bên bị bất lợi gánh chịu”.41
Việc xác định chính xác "thay đổi cơ bản sự cân bằng các nghĩa vụ hợp đồng"
(được biểu thị bằng tỷ lệ phần trăm hoặc thuật ngữ số khác) dường như là một công
việc hết sức khó khăn trong các văn bản pháp lý.42. Từ “thay đổi cơ bản” sẽ được xem
xét tùy trường hợp cụ thể.43
Trong vụ tranh chấp Spanish advertising agency,44 giữa công ty quảng cáo của
Tây Ban Nha (Nguyên đơn) với Công ty vận tải thành phố Valencia (Bị đơn): Nguyên
đơn và Bị đơn ký kết một hợp đồng thỏa thuận về việc khai thác quảng cáo trên xe
bus (xe bus thuộc sở hữu của Bị đơn), tuy nhiên do khủng hoảng kinh tế dẫn đến
nguồn đầu tư cho lĩnh vực marketing trên các phương tiện vận tải sụt giảm, Nguyên
đơn đã yêu cầu Bị đơn giảm 70% giá thuê hàng tháng do sự giảm sút không lường
trước được trong đầu tư tiếp thị trong lĩnh vực vận tải. Tòa án cấp sơ thẩm đã điều
chỉnh tiền thuê ở mức 80% doanh thu thuần hàng tháng của Nguyên đơn. Các bên
kháng cáo.
Tòa án cấp phúc thẩm tiếp nhận vụ việc, tuyên bố rằng cuộc khủng hoảng kinh
tế xảy ra ở Tây Ban Nha năm 2008, bao gồm cả ngành quảng cáo, có thể dẫn đến một
sự thay đổi đáng kể về hoàn cảnh clusula rebus sic stantibus.
Có thể thấy trong vụ việc trên, Tòa án phúc thẩm cũng không đưa ra tiêu chí để
xem xét Hoàn cảnh thay đổi cơ bản dựa trên mức giảm 70% giá thuê hàng tháng. Ấn
bản của PICC năm 1994 có đưa ra diễn giải “sự thay đổi đến 50% hoặc hơn về giá
hay giá trị của nghĩa vụ thì sẽ được coi là một sự thay đổi cơ bản”.45 Tuy nhiên đến
ấn bản năm 2004 và 2010, phần diễn giải đã không giữ lại con số “50%”. BLDS một
41 PICC, (2016), tlđd., Điều 6.2.2. 42 Daniel Girsberger & Paulius Zapolskis, (2012), “Fundamental Alteration of the Contractual Equilibrium under Hardship Exemption”, Jurisprudence, Số 19(1), 121–141, tr. 125. 43 PICC, (2016), tlđd., Comment, tr. 213. 44 Vụ Spanish advertising agency, [2014], The Tribunal Supremo, http://www.unilex.info/case.cfm?id=1949, (truy cập ngày 24/11/2019). 45 Vụ Spanish advertising agency, [2014], tlđd..
số quốc gia như Pháp, Đức, Italia,.. cũng chỉ đưa ra quy định về thiệt hại một cách
19
chung chung và không đặt ra một mức độ cụ thể.46 Trong các vụ việc được xét xử tại
trọng tài thương mại quốc tế, chi phí thực hiện nghĩa vụ tăng 13%, 30%, 44% hoặc
25-50% vẫn được cho là không đủ để đủ cấu thành Hardship.47 Không một phán quyết
trọng tài nào mà trọng tài viên so sánh mức "chi phí thực hiện nghĩa vụ" đã tăng 50%
hoặc ít hơn với những gì đã được thỏa thuận trong hợp đồng.48 Như vậy, có thể thấy,
các nhà lập pháp đều có chung quan điểm là không nên quy định một lượng cụ thể về
mức độ thiệt hại để đảm bảo tính khái quát và linh hoạt của quy định.49
Các sự kiện khách quan xảy ra liên quan đến cuộc khủng hoảng tài chính ở các
quốc gia khác nhau thì cũng khác nhau. Ví dụ, cuộc khủng hoảng kinh tế ở Indonesia
đạt đến đỉnh điểm vào những năm 1998-1999, dẫn đến sự giảm sút của nền kinh tế
nước này khoảng 15%, mất năm triệu việc làm, mất 80% giá trị của đồng rupiah và
tỷ lệ lạm phát vượt quá 75%. Tuy nhiên, trong vụ việc Himpurna California Energy
Ltd. v. PT. (Persero) Perusahaan Listruik Negara, cả Trọng tài và các học giả cho
rằng cuộc khủng hoảng này không đủ nghiêm trọng để đánh giá là Hardship.50 Tương
tự, cuộc khủng hoảng kinh tế ở Argentina năm 2002 dẫn đến sự sụt giảm GDP của
nước này là 10,9%, tỷ lệ lạm phát là 25,9% và sự mất giá của đồng peso là 2/3 giá trị
so với đồng đô la Mỹ. Trong Vụ việc này, Tòa Trọng tài của ICSID cho rằng: “Hội
đồng Trọng tài tin rằng cuộc khủng hoảng ở Argentina là nghiêm trọng nhưng không
dẫn đến sự sụp đổ hoàn toàn về kinh tế và xã hội. Khi so sánh cuộc khủng hoảng ở
Argentina với các cuộc khủng hoảng cùng thời điểm khác ảnh hưởng đến các quốc
46 PGS. TS. Nguyễn Minh Hằng và Trần Thị Giang Thu, (2016), “Đề xuất diễn giải và áp dụng Điều 420 Bộ luật Dân sự 2015 về thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản”, Tạp chí kinh tế đối ngoại, Số 86/2016. 47 Brunner, C., (2009), Force Majeure and Hardship under General Contract Principles. Exemption for NonPerformance in International Arbitration, NXB. Kluwer Law International, Alphen aan den Rijin, tr. 427. 48 Zaccaria, E. C. (2005), The Effects of Changed Circumstances in International Commercial Trade, International Trade & Business Law Review, Số 9, tr. 169; Brunner, C. (2009), tlđd., tr. 428−431; Houtte van, H. (1995), The UNIDROIT Principles of International Commercial Contracts and International Commercial Arbitration: Their Reciprocal Relevance in: The UNIDROIT Principles for International Commercial Contracts: A New Lex Mercatoria?, ICC Publication, Số 490(1), tr. 190. 49 PGS. TS. Nguyễn Minh Hằng và Trần Thị Giang Thu, (2016), tlđd. 50 Vụ Himpurna California Energy Ltd. v. PT. (Persero) Perusahaan Listruik Negara (Phán quyết chung thẩm) [1999], Yearbook Commercial Arbitration. 2000, XXV: 13−108. Vụ này có thể tìm trong Fucci, F. R. (2006), Hardship and Changed Circumstances as Grounds for Adjustment or Non-Performance of Contracts. Practical Considerations in International Infrastructure Investment and Finance, American Bar Association, Section of International Law.
gia ở các khu vực khác nhau trên thế giới, có thể lưu ý rằng những cuộc khủng hoảng
20
khác đã không dẫn đến việc không thực hiện các nghĩa vụ hợp đồng hoặc hiệp ước
quốc tế. Các bên đều đã tái đàm phán, cố gắng thực hiện và việc tạm hoãn thực hiện
nghĩa vụ, nhưng bản chất của các nghĩa vụ quốc tế vẫn được giữ nguyên.”51
Tóm lại, theo quy định trong PICC, hardship là một hoàn cảnh trong đó xảy ra
các sự kiện “làm thay đổi cơ bản sự cân bằng giữa các nghĩa vụ hợp đồng”, và phải
đáp ứng các điều kiện bổ sung để có thể xác định hardship. Những điều kiện này sẽ
được phân tích ở Chương II dưới đây.
1.2.3. Khái niệm hoàn cảnh thay đổi cơ bản theo Bộ luật Dân sự Việt Nam 2015
Điều 420 BLDS Việt Nam 2015 không đưa ra khái niệm Hoàn cảnh thay đổi cơ
bản một cách rõ ràng. Nhưng tại Khoản 1, Điều 420 có nêu những điều kiện xác lập
hoàn cảnh thay đổi cơ bản sẽ được người viết phân tích trong Chương II dưới đây.
Từ đó, người viết đề xuất khái niệm Hoàn cảnh thay đổi cơ bản nên được hiểu
như sau:
Hoàn cảnh thay đổi cơ bản là những thay đổi bất ngờ của hoàn cảnh mà các
bên không thể tính toán đến một cách hợp lý vào thời điểm giao kết hợp đồng, cản
trợ việc thực hiện hợp đồng của một bên và đáp ứng những điều kiện như: là sự
kiện khách quan xảy ra sau khi hợp đồng được giao kết, các bên không thể lường
trước được về sự thay đổi hoàn cảnh khi giao kết hợp đồng, nếu như các bên biết
trước về sự thay dổi thì hợp đồng đã không được giao kết hoặc được giao kết nhưng
với nội dung hoàn toàn khác, việc tiếp tục thực hiện hợp đồng mà không có sự thay
đổi nội dung hợp đồng sẽ gây thiệt hại nghiêm trọng cho một bên, bên có lợi ích bị
ảnh hưởng đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết trong khả năng cho phép, phù hợp
với tính chất của hợp đồng mà không thể ngăn chặn, giảm thiểu mức độ ảnh hưởng
51 Vụ Gaz de Bordeaux (CMS Gas Transmission Company v. The Argentine Republic), Số. ARB/01/8 (Phán quyết) [2005] ICSID, đoạn 355.
đến lợi ích.”
21
1.3. So sánh Bất khả kháng và Hoàn cảnh thay đổi cơ bản
Lý thuyết về Hoàn cảnh thay đổi cơ bản (lý thuyết hardship) có những điểm
tương đồng nhất định với khái niệm Bất khả kháng đã tồn tại rất lâu trong pháp luật
hợp đồng của Việt Nam. Vì vậy, để hiểu rõ hơn bản chất của Hardship, người viết sẽ
tiến hành so sánh giữa Bất khả kháng và Hoàn cảnh thay đổi cơ bản.
"Sự kiện bất khả kháng" là một thuật ngữ có nguồn gốc tiếng Pháp “force
majeure” có nghĩa là “sức mạnh tối cao” hoặc “sức người không thể kháng cự nổi”.
Sự kiện bất khả kháng được quy định trong Công ước CISG, PICC và trong
BLDS Việt Nam 2015 lần lượt như sau:
“Điều 79 – Công ước CISG
1. Một bên không chịu trách nhiệm về việc không thực hiện bất kỳ một nghĩa vụ
nào đó của họ nếu chứng minh được rằng việc không thực hiện ấy là do một trở ngại
nằm ngoài sự kiểm soát của bên đó và người ta không thể chờ đợi một cách hợp lý
rằng họ phải tính tới trở ngại đó vào lúc ký kết hợp đồng hoặc là tránh được hay
khắc phục các hậu quả của nó.”52
“Điều 7.1.7: Trường hợp bất khả kháng - PICC
1) Bên có nghĩa vụ được miễn trừ hậu quả do việc không thực hiện của bên
mình, nếu chứng minh được rằng việc không thực hiện là do một trở ngại vượt khỏi
tầm kiểm soát của mình, và không thể mong chờ một cách hợp lý ở mình xem xét được
những trở ngại này vào thời điểm ký kết hợp đồng, dự đoán hay vượt qua được trở
ngại hoặc dự đoán được hay vượt qua được hậu quả của trở ngại đó.”53
“Điều 156. Thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự, thời
52 Bản dịch của VIAC, http://www.trungtamwto.vn/upload/files/chu_de_khac/303-cong-uoc-vien/307-van- kien/Cong%20uoc%20vien%201980%20-%20TV.pdf, (truy cập ngày 09/08/2019). 53 Bộ nguyên tắc Unidroit về hợp đồng thương mại quốc tế, tlđd., Điều 7.1.7.
hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự - BLDS 2015
22
1. Sự kiện bất khả kháng là sự kiện xảy ra một cách khách quan không thể lường
trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết
và khả năng cho phép.”54
Từ những định nghĩa trên, có thể thấy Bất khả kháng là sự kiện xảy ra sau khi
ký hợp đồng, không phải do lỗi của bất kỳ bên tham gia hợp đồng nào, nằm ngoài ý
muốn và sự dự đoán của các bên, cũng như không thể tránh và khắc phục được, dẫn
đến việc không thể thực hiện hoặc không thể thực hiện đúng hoặc đầy đủ nghĩa vụ
của mình như trong hợp đồng.
Sự kiện bất khả kháng có thể là những hiện tượng do thiên nhiên gây ra (thiên
tai) như lũ lụt, hỏa hoạn, bão, động đất, sóng thần, đóng băng55… Việc coi các hiện
tượng thiên tai có thể là sự kiện bất khả kháng được áp dụng khá thống nhất trong
luật pháp và thực tiễn của các nước trên thế giới. Sự kiện bất khả kháng cũng có thể
là những hiện tượng xã hội như chiến tranh, bạo loạn, đảo chính, đình công, cấm vận,
thay đổi chính sách của chính phủ… Tuy nhiên cách hiểu và thừa nhận các hiện tượng
xã hội là sự kiện bất khả kháng lại rất đa dạng và nhiều điểm chưa có sự thống nhất.
Như vậy, sự kiện bất khả kháng và sự kiện hoàn cảnh thay đổi cơ bản có những
đặc điểm sau đây: Đều là những sự kiện khách quan xảy ra sau khi ký hợp đồng; xảy
ra không do lỗi của các bên trong hợp đồng; các bên trong hợp đồng không thể dự
đoán, tính đến trước được.
Bên cạnh đó, hoàn cảnh thay đổi cơ bản có thể là những sự kiện gây ra bởi sự
54 BLDS Việt Nam, (2015), tlđd., Điều 156. 55 Vụ United States (Raw Materials Inc. v. Manfred Forberich GmbH & Co.), [2004] U.S. Federal District Court, Northern District of Illinois, http://cisgw3.law.pace.edu/cases/040706u1.html (truy cập ngày 02/12/2019), “Việc cảng bị đóng băng đã cản trở Forberich thực hiện nghĩa vụ của mình”, “Forberich đã đưa ra bằng chứng rằng sự khắc nghiệt của mùa đông năm 2002 và sự đóng băng sớm tại cảng và những hậu quả của nó khác xa so với những gì thường xảy ra (thông thường cảng chỉ bị đóng băng từ cuối Tháng Một), thậm chí làm cho máy phá băng ngừng hoạt động. RMI cho rằng sự đóng băng sớm này là có thể dự đoán được, song lại không đưa ra được một bằng chứng hoặc một ý kiến thuyết phục nào khác. Thêm vào đó, tòa cho rằng việc dẫn chiếu đến một án lệ về bất khả kháng do đóng băng ở thượng nguồn sông Mississippi là thuyết phục (Vụ Louis Dreyf Corp. v. Continental Grain Co., [1981] La.Ct.App).”
56 Vụ Nuova Fucinati S.p.A. v. Fondmetal International A.B. [1993], Tribunale Civile [District Court] http://cisgw3.law.pace.edu/cases/930114i3.html, (truy cập ngày 02/12/2019).
tăng giá đến 30% giá trị ban đầu của hàng hóa,56 không có khả năng giao hàng vì tình
23
trạng ngừng sản xuất khẩn cấp,57 và những khó khăn tài chính của bên nhà cung cấp
cho người bán.58 Tuy nhiên, Hoàn cảnh thay đổi cơ bản còn được đặt trong các sự so
sánh như: sự thay đổi hoàn cảnh đe dọa con người hoặc tài sản, phá sản hoặc vấn đề
tài chính của bên cung cấp sản phẩm cho bên bán, chi phí cơ hội, lợi nhuận và việc
không đạt được mục đích.59 Trong bình luận của UNIDROIT Principles of
International Commercial Contracts” (Comment), sự kiện hoàn cảnh thay đổi cơ bản
còn thường được chấp nhận đối với những hợp đồng dài hạn, mặc dù điều này không
loại trừ khả năng hoàn cảnh thay đổi cơ bản xuất hiện với các loại hợp đồng khác.60
Thực tiễn có thể đồng thời tồn tại hoàn cảnh thay đổi cơ bản và sự kiện bất khả
kháng và hai sự kiện này cũng có thể gây nhầm lẫn. Trong trường hợp này, bên bị
ảnh hưởng bởi các sự kiện đó phải quyết định viện dẫn lý do nào.61 Nếu bên đó viện
dẫn sự kiện Bất khả kháng thì nhằm lý giải việc không thực hiện nghĩa vụ của mình.62
Còn nếu viện dẫn sự kiện hoàn cảnh thay đổi cơ bản thì nhằm đàm phán lại các điều
khoản của hợp đồng để hợp đồng tiếp tục tồn tại với các điều khoản được sửa đổi.63
Tóm lại, có thể so sánh hai sự kiện bất khả kháng và hoàn cảnh thay đổi cơ bản
dưới các góc độ như sau:
Bất khả kháng Hoàn cảnh thay đổi cơ bản
(Force Majeure) (Hardship)
Sự kiện bất khả kháng là sự Hoàn cảnh thay đổi cơ bản khi có Theo
kiện xảy ra một cách khách đủ các điều kiện sau đây: Định BLDS
quan không thể lường trước a) Sự thay đổi hoàn cảnh do nghĩa Việt
được và không thể khắc nguyên nhân khách quan xảy ra Nam
57 CLOUT Case No. 140 [1995], ICA Arbitral Tribunal, http://cisgw3.law.pace.edu/cases/950316r1.html, (truy cập ngày 02/12/2019). 58 Vụ Schiedsgericht der Handelskammer, [1996], tlđd. 59 Daniel Girsberger & Paulius Zapolskis (2012), “Fundamental Alteration of the Contractual Equilibrium under Hardship Exemption,” Jurisprudence, Số 19(1): 121–141, tr. 130. 60 Dịch giả: TS. Nguyễn Minh Hằng (2014), tlđd., tr. 267. 61 Như trên. 62 Dịch giả: TS. Nguyễn Minh Hằng (2014), tlđd., tr. 270. 63 Như trên.
phục được mặc dù đã áp sau khi giao kết hợp đồng;
24
dụng mọi biện pháp cần thiết b) Tại thời điểm giao kết hợp đồng,
và khả năng cho phép. các bên không thể lường trước
được về sự thay đổi hoàn cảnh;
c) Hoàn cảnh thay đổi lớn đến mức
nếu như các bên biết trước thì hợp
đồng đã không được giao kết hoặc
được giao kết nhưng với nội dung
hoàn toàn khác;
d) Việc tiếp tục thực hiện hợp đồng
mà không có sự thay đổi nội dung
hợp đồng sẽ gây thiệt hại nghiêm
trọng cho một bên;
đ) Bên có lợi ích bị ảnh hưởng đã
áp dụng mọi biện pháp cần thiết
trong khả năng cho phép, phù hợp
với tính chất của hợp đồng mà
không thể ngăn chặn, giảm thiểu
mức độ ảnh hưởng đến lợi ích.
Một bên không chịu trách nhiệm Một bên không chịu trách
về việc không thực hiện bất kỳ một nhiệm về việc không thực
nghĩa vụ nào đó của họ nếu chứng hiện bất kỳ một nghĩa vụ nào
minh được rằng việc không thực đó của họ nếu chứng minh Theo hiện ấy là do một trở ngại nằm được rằng việc không thực Công ngoài sự kiểm soát của bên đó và hiện ấy là do một trở ngại ước người ta không thể chờ đợi một nằm ngoài sự kiểm soát của CISG cách hợp lý rằng họ phải tính tới bên đó và người ta không thể
trở ngại đó vào lúc ký kết hợp đồng chờ đợi một cách hợp lý rằng
hoặc là tránh được hay khắc phục họ phải tính tới trở ngại đó
các hậu quả của nó vào lúc ký kết hợp đồng
25
hoặc là tránh được hay khắc
phục các hậu quả của nó
Hoàn cảnh hardship được xác lập
Bên có nghĩa vụ được miễn khi xảy ra các sự kiện làm thay đổi
trừ hậu quả do việc không cơ bản sự cân bằng giữa các nghĩa
thực hiện của bên mình, nếu vụ hợp đồng, hoặc do chi phí thực
chứng minh được rằng việc hiện nghĩa vụ tăng lên, hoặc do giá
không thực hiện là do một trị của nghĩa vụ đối trừ giảm
trở ngại vượt khỏi tầm kiểm xuống, và:
soát của mình, và không thể a) các sự kiện này xảy ra hoặc Theo mong chờ một cách hợp lý ở được bên bị thiệt hại biết đến sau PICC mình xem xét được những khi giao kết hợp đồng;
trở ngại này vào thời điểm b) bên bị bất lợi đã không thể tính
ký kết hợp đồng, dự đoán một cách hợp lý đến các sự kiện đó
hay vượt qua được trở ngại khi giao kết hợp đồng;
hoặc dự đoán được hay vượt c) các sự kiện này nằm ngoài sự
qua được hậu quả của trở kiểm soát của bên bị bất lợi; và
ngại đó d) rủi ro về các sự kiện này không
được bên bị bất lợi gánh chịu.
Lũ lụt, hỏa hoạn, bão, động Việc tăng giá so với giá trị ban đầu
đất, sóng thần, đóng băng, của hàng hóa, không có khả năng
chiến tranh, bạo loạn, đảo giao hàng vì tình trạng ngừng sản Ví dụ chính, đình công, cấm vận, xuất khẩn cấp, những khó khăn tài
thay đổi chính sách của chính của bên nhà cung cấp cho
chính phủ,… người bán,…
- Là những sự kiện khách quan xảy - Là những sự kiện khách ra sau khi ký hợp đồng; Đặc điểm quan xảy ra sau khi ký hợp - Xảy ra không do lỗi của các bên đồng; trong hợp đồng;
26
- Xảy ra không do lỗi của các - Các bên trong hợp đồng không
bên trong hợp đồng; thể dự đoán, tính đến trước được;
- Các bên trong hợp đồng - Các bên vẫn có thể tiếp tục thực
không thể dự đoán, tính đến hiện hợp đồng tuy nhiên việc tiếp
trước được; tục thực hiện hợp đồng sẽ gây
- Các bên không thể khắc nhiều khó khăn và tốn kém chi phí.
phục được và không thể thực
hiện được hợp đồng nữa.
Nếu viện dẫn sự kiện hoàn cảnh Nếu viện dẫn sự kiện bất khả
thay đổi cơ bản thì nhằm đàm phán Mục đích viện kháng thì nhằm lý giải việc
lại các điều khoản của hợp đồng để dẫn không thực hiện nghĩa vụ
hợp đồng tiếp tục tồn tại với các của mình.
điều khoản được sửa đổi.
TIỂU KẾT
Chương I đã giới thiệu khái quát sự ra đời của quy định về hoàn cảnh thay đổi
cơ bản (Hardship) trong BLDS Việt Nam 2015, Công ước CISG và PICC. Qua những
phân tích trên đây, có thể thấy được tính cần thiết của việc tồn tại quy định điều khoản
Hoàn cảnh thay đổi cơ bản trong luật. Đối với Việt Nam nói riêng, việc bổ sung quy
định về điều khoản hoàn cảnh thay đổi cơ bản là một bước tiến trong BLDS Việt
Nam, phù hợp với quy định của pháp luật quốc tế cũng như xu hướng phát triển của
xã hội, góp phần bảo đảm và duy trì lợi ích của các bên trong quan hệ hợp đồng.
Chương I đồng thời cũng nêu được khái niệm của hoàn cảnh thay đổi cơ bản theo
Công ước CISG và PICC. Từ những vấn đề lý luận về hoàn cảnh thay đổi cơ bản,
những điểm giống và khác nhau với trường hợp bất khả kháng.
Các điều kiện để xác lập điều khoản hoàn cảnh thay đổi cơ bản sẽ được phân
tích trong Chương II. Người viết sẽ phân tích những điều kiện trong BLDS Việt Nam
sau đó so sánh với những điều kiện về Hardship trong PICC và CISG.
27
CHƯƠNG II – ĐIỀU KIỆN XÁC LẬP HOÀN CẢNH THAY ĐỔI CƠ BẢN THEO BỘ LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM VÀ SO SÁNH VỚI CISG VÀ PICC
Trong Chương II này, người viết sẽ phân tích những điều kiện xác lập Hoàn
cảnh thay đổi cơ bản dựa trên các quy định trong BLDS Việt Nam năm 2015. Người
viết cũng sẽ so sánh các điều kiện này với Công ước CISG và PICC.
Để tránh sự lạm dụng, gây thiệt hại cho một bên trong hợp đồng, các điều kiện
áp dụng quy định về hoàn cảnh thay đổi cơ bản đã được đưa vào trong luật. Theo đó,
một hoàn cảnh được xem là “thay đổi cơ bản” theo BLDS Việt Nam 2015 phải thỏa
mãn đồng thời các điều kiện sau:
2.1. Sự thay đổi hoàn cảnh do nguyên nhân khách quan xảy ra sau khi
giao kết hợp đồng
“Điều 420…
a) Sự thay đổi hoàn cảnh do nguyên nhân khách quan xảy ra sau khi giao kết
hợp đồng;”
Nguyên nhân dẫn đến Hoàn cảnh thay đổi cơ bản không phụ thuộc vào ý chí
chủ quan của các bên trong hợp đồng. Những nguyên nhân khách quan có thể được
viện dẫn như bão, lũ lụt, đình công, quyết định của cơ quan có thẩm quyền,…
Còn trong PICC,
“Điều 6.2.2. Định nghĩa
a) các sự kiện này xảy ra hoặc được bên bị thiệt hại biết đến sau khi giao kết
hợp đồng;”
Nếu bên bị thiệt hại đã biết các sự kiện đó khi giao kết hợp đồng thì sẽ phải tính
tới các sự kiện đó. Trong trường hợp như vậy, điều khoản hardship sẽ không thể được
viện dẫn.
Điểm khác biệt giữa BLDS Việt Nam và PICC chính là quy định trong PICC về
sự kiện “được bên bị thiệt hại biết đến”. PICC nhấn mạnh vào việc nhận thức “biết
đến” của bên bị thiệt hại trong trường hợp này.
28
2.2. Tại thời điểm giao kết hợp đồng, các bên không thể lường trước được
về sự thay đổi hoàn cảnh
“Điều 420…
b) Tại thời điểm giao kết hợp đồng, các bên không thể lường trước được về sự
thay đổi hoàn cảnh;”
BLDS của một số quốc gia trên thế giới cũng đã ghi nhận quy định tương tự về
vấn đề này, như trong BLDS Pháp: “….xảy ra một sự thay đổi về hoàn cảnh không
thể tính trước được tại thời điểm giao kết hợp đồng….”,64 hay trong quy định của
BLDS Đức: “…các bên nếu lường trước được sự thay đổi đó thì đã không ký hợp
đồng hoặc đã kí hợp đồng với một nội dung khác…”.65
Theo quy định tại điểm b, khoản 1, điều 420 BLDS Việt Nam 2015, hoàn cảnh
thay đổi cơ bản xảy ra sau khi hợp đồng đã được giao kết và các bên “không thể lường
trước về sự thay đổi” này, tức là “sự thay đổi của hoàn cảnh” nằm ngoài ý chí của các
bên;
Việc “lường trước được về sự thay đổi của hoàn cảnh” cũng phải dựa trên thực
tế vụ việc, đồng thời cần phân định rõ “sự thay đổi hoàn cảnh” thuộc trường hợp có
thể lường trước được nhưng do bên bị bất lợi cố tình hoặc vô tình không nhận thức
được (do năng lực dự đoán yếu kém), hay do bản chất sự thay đổi hoàn cảnh đó là
không lường trước được.66 Việc quy định chặt chẽ và rõ ràng về vấn đề này sẽ có tác
dụng ràng buộc các bên phải có ý thức nghiên cứu cẩn thận, kĩ càng hơn trước khi
quyết định ký kết hợp đồng, từ đó làm cho môi trường giao dịch ổn định hơn và giảm
thiểu các tranh chấp không đáng có.67
Quy định về điều kiện thứ hai này của BLDS Việt Nam 2015 được ghi nhận ở
64 BLDS Pháp sửa đổi, bổ sung sau đợt cải cách các quy định về pháp luật hợp đồng (theo Điều 2 sắc lệnh 2016 – 131 ngày 10/02/2016), Điều 1195 dưới tên gọi “sự thay đổi của hoàn cảnh” (changement de circonstances). 65 BLDS Đức (BGB), Điều 313 BGB dưới tên gọi “sự xáo trộn cơ sở của hợp đồng” (Störung der Geschäftsgrundlage). 66 PGS. TS. Nguyễn Minh Hằng và Trần Thị Giang Thu, (2016), tlđd. 67 Như trên. 68 Đàm Thị Diễm Hạnh và ThS. Lê Thị Kim Oanh (2010), “Quy định về hoàn cảnh thay đổi cơ bản dưới góc độ so sánh pháp luật Dân sự Việt Nam và Pháp – một số đề xuất, kiến nghị”, Hội thảo quốc tế: Trách nhiệm
hầu hết các quốc gia,68 đồng thời có điểm tương đồng với quy định trong Công ước
29
CISG “người ta không thể chờ đợi một cách hợp lý rằng họ phải tính tới trở ngại đó
vào lúc ký kết hợp đồng”,69 và PICC về việc bên bị bất lợi đã không thể tính đến sự
kiện đó một cách hợp lý.
“Điều 6.2.2. Định nghĩa
b) bên bị bất lợi đã không thể tính một cách hợp lý đến các sự kiện đó khi giao
kết hợp đồng;”
Ví dụ về điều kiện Bên bị bất lợi đã không tính đến một cách hợp lý các sự kiện
đó khi giao kết hợp đồng đã được dẫn ra như sau: A cung cấp dầu thô ở quốc gia X
cho B với một mức giá cố định trong vòng 05 năm, và nhận thức về căng thẳng chính
trị trong khu vực. Hai năm sau khi ký kết hợp đồng, chiến tranh đã xảy ra khiến khủng
hoảng năng lượng thế giới và giá dầu tăng đột biến. A trong trường hợp này không
được viện dẫn Hoàn cảnh thay đổi vì giá dầu thô tăng như vậy không phải là không
thể lường trước được.70
Đôi khi sự thay đổi hoàn cảnh là dần dần, nhưng kết quả cuối cùng của quá trình
thay đổi dần dần có thể tạo thành một trường hợp Hardship.71 Nếu sự thay đổi đó bắt
đầu trước khi hợp đồng được ký kết, Hardship sẽ không phát sinh, trừ khi tốc độ thay
đổi tăng lên đáng kể trong suốt thời hạn của hợp đồng.72
2.3. Hoàn cảnh thay đổi lớn đến mức nếu như các bên biết trước thì hợp
đồng đã không được giao kết hoặc được giao kết nhưng với nội dung hoàn toàn
khác
“Điều 420
c) Hoàn cảnh thay đổi lớn đến mức nếu như các bên biết trước thì hợp đồng đã
không được giao kết hoặc được giao kết nhưng với nội dung hoàn toàn khác;”
Khoản này chỉ ra trường hợp sự thay đổi của hoàn cảnh làm cho các bên khó
khăn trong việc thực hiện hợp đồng theo những điều khoản đã cam kết. Điều kiện này
Dân sự và hợp đồng: Kinh nghiệm của Việt Nam và Liên minh Châu Âu, ngày 27 tháng Sáu năm 2019, Trường Đại học Luật, Đại học Huế và Hội Hợp tác pháp lý Châu Âu và Việt Nam, Thừa Thiên Huế, Việt Nam. 69 Công ước CISG, tlđd., Điều 79(1). 70 PICC, (2016), tlđd., Illustration, tr. 215. 71 Dịch giả: TS. Nguyễn Minh Hằng (2014), tlđd., tr. 265. 72 Như trên.
30
có liên quan với điều kiện thứ hai, cho thấy tính chất “không lường trước được” của
hoàn cảnh thay đổi cơ bản là quan trọng và cần phải lưu tâm trong việc công nhận
Hoàn cảnh thay đổi cơ bản;
2.4. Việc tiếp tục thực hiện hợp đồng mà không có sự thay đổi nội dung
hợp đồng sẽ gây thiệt hại nghiêm trọng cho một bên
“Điều 420
d) Việc tiếp tục thực hiện hợp đồng mà không có sự thay đổi nội dung hợp đồng
sẽ gây thiệt hại nghiêm trọng cho một bên;”
Theo đó, khi thiệt hại xảy ra thì một trong các bên không đạt được mục đích
giao kết hợp đồng như ban đầu. Tuy nhiên, điều khoản này cũng không đưa ra một
tiêu chí hay mức độ cụ thể để xác định “thiệt hại nghiêm trọng”. Trong trường hợp
này, luật trao toàn quyền cho các bên và cơ quan có thẩm quyền để xác định có “thiệt
hại nghiêm trọng” hay không tùy vào từng vụ việc cụ thể. Điều này có thể dẫn đến
một số ý kiến bất đồng trong việc diễn giải và áp dụng quy định này trên thực tế.73
Trong thực tiễn xét xử tại Việt Nam từ trước đã có không ít những vụ việc sau
khi hợp đồng có hiệu lực, việc tiếp tục thực hiện hợp đồng gây “thiệt hại nghiêm
trọng” cho một bên. Người viết xin dẫn lại hai vụ việc (một vụ việc tại Trung tâm
trọng tài quốc tế Việt Nam - VIAC và một vụ việc tại Tòa án nhân dân) dưới đây. Cả
hai vụ việc này đều liên quan đến nhu cầu thay đổi giá đã được các bên thỏa thuận
trong hợp đồng (chủ đề chính của việc áp dụng cơ chế điều chỉnh hợp đồng khi hoàn
cảnh thay đổi cơ bản).74
Vụ việc thứ nhất: Công ty Việt Nam (Bên Mua) và Công ty nước ngoài (Bên
Bán) đã ký một hợp đồng 05 năm với nội dung mua bán hàng hóa cho từng năm và
mỗi năm với số lượng cụ thể, giá cụ thể (cùng với thỏa thuận chọn VIAC). Sau đó,
các bên tranh chấp với nhau xuất phát từ việc các bên không đạt được thỏa thuận từ
việc giá của hàng hóa năm thứ ba trên thị trường chỉ còn bằng 1/3 giá nêu trong hợp
73 PGS. TS. Nguyễn Minh Hằng và Trần Thị Giang Thu, (2016), tlđd. 74 Đỗ Văn Đại (2015), “Tham luận 4: Điều chỉnh Hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi”, Hội thảo chế định Hợp đồng trong Dự thảo Bộ luật Dân sự (sửa đổi), ngày 18 tháng Ba năm 2015, Bộ tư pháp, USAID và VIAC, Hà Nội, Việt Nam.
31
đồng (bên bán yêu cầu giữ nguyên giá trong hợp đồng còn bên mua yêu cầu giá mới
do giá trên thị trường đã giảm còn bằng 1/3 giá trong hợp đồng đã ký trước đó 03
năm) và đưa tranh chấp ra VIAC.75
Trong vụ việc thứ nhất, bên mua Việt Nam có nghĩa vụ phải thực hiện đúng hợp
đồng là nhận đúng số lượng đã cam kết cho năm thứ ba với giá đã được nêu cho năm
thứ ba ở các cam kết trước đó 03 năm mà các bên thỏa thuận. Rõ ràng, với mức giá
như vậy Bên Mua có thể mua được hàng hóa tương đương trên thị trường với khối
lượng nhiều gấp 03 lần khối lượng đã nêu trong hợp đồng. Nếu tiếp tục thực hiện hợp
đồng, phía Việt Nam sẽ gặp bất lợi rất lớn.
Vụ việc thứ hai: Năm 1992, ông Hồ Khắc Thiết và bà Hoàng Thị Lới (Bên Mua)
đăng ký mua một kiốt số 29B1 của ông Hồ Văn Son và bà Trương Thị Thìn (Bên
Bán) với giá 7.800.000 đồng (Bảy triệu tám trăm nghìn đồng) và Bên Mua đã thanh
toán được 4.800.000 đồng (Bốn triệu tám trăm nghìn đồng), tức còn thiếu 3.000.000
(Ba triệu đồng) và nhận kiốt. Sau đó các bên có tranh chấp và năm 2006 (14 năm
sau), Tòa án nhân dân tối cao tỉnh Quảng Bình xác định thỏa thuận mua bán trên “là
hợp pháp, các bên có nghĩa vụ tiếp tục thực hiện”.76
Ở vụ việc thứ hai này, chúng ta thấy có bất công bằng cho bên bán: Nếu áp dụng
đúng hợp đồng thì Bên Mua là ông Thiết và bà Lới chỉ phải trả số tiền còn thiếu, là
3.000.000 đồng (Ba triệu đồng) như đã nêu trong thỏa thuận nhưng giá trị của
3.000.000 đồng được thỏa thuận năm 1992 không còn giá trị như ở năm 2006. Vì vậy,
nếu tiếp tục thực hiện hợp đồng, bên bán chỉ được nhận lại 3.000.000 đồng - giá trị
không tương xứng vào thời điểm sau đó 14 năm. Điều này cho thấy sự bất công bằng
75 Đỗ Văn Đại (2015), “Tham luận 4: Điều chỉnh Hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi”, tlđd. 76 Quyết định Giám đốc Thẩm số 14/2006/DS-GDT ngày 06/06/2006 về vụ án tranh chấp quyền sở hữu tài sản; Xem thêm tại: Đỗ Văn Đại (2014), Luật nghĩa vụ dân sự và bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, Bản án số 37-39.
cho Bên Bán (ông Son và bà Thìn).
32
2.5. Bên có lợi ích bị ảnh hưởng đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết trong
khả năng cho phép, phù hợp với tính chất của hợp đồng mà không thể ngăn
chặn, giảm thiểu mức độ ảnh hưởng đến lợi ích
“Điều 420
đ) Bên có lợi ích bị ảnh hưởng đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết trong khả
năng cho phép, phù hợp với tính chất của hợp đồng mà không thể ngăn chặn, giảm
thiểu mức độ ảnh hưởng đến lợi ích.”
Điều kiện này đặt ra nghĩa vụ ngăn chặn, giảm thiểu mức độ ảnh hưởng đến lợi
ích của bên bị ảnh hưỏng bởi sự thay đổi của hoàn cảnh thực hiện hợp đồng. Khi bên
có lợi ích bị ảnh hưởng đưa ra yêu cầu nhằm chấm dứt hoặc thay đổi nội dung của
hợp đồng thì phải chứng minh rằng mình đã áp dụng “mọi biện pháp cần thiết” mà
vẫn không thể ngăn chặn, giảm thiểu mức độ ảnh hưởng đến lợi ích từ sự thay đổi đó.
Tuy nhiên, luật cũng không quy định thế nào là “biện pháp cần thiết”, có thể gây khó
khăn trong việc xác định mức độ thực hiện hành vi ngăn chặn giảm thiểu ảnh hưởng
của bên có quyền và lợi ích của bên bị thiệt hại.
Điều kiện thứ năm này được quy định trong BLDS 2015 có thể coi là tương tự
với quy định trong Công ước CISG và PICC. Trong khi PICC quy định như sau:
“Điều 6.2.2.
c) các sự kiện này nằm ngoài sự kiểm soát của bên bị bất lợi;”,
thì Công ước CISG quy định như sau: “một trở ngại nằm ngoài sự kiểm soát
của bên đó… người ta không thể… tránh được hay khắc phục các hậu quả của nó”,77
Từ các quy định tại khoản 1 Điều 420 BLDS năm 2015, để được xem là “hoàn
cảnh thay đổi cơ bản” thì phải đáp ứng đồng thời tất cả điều kiện trên, thiếu một trong
các điều kiện thì cũng không được xem là thỏa mãn.
Năm điều kiện ở trên là các định nghĩa để xem xét sự kiện “hoàn cảnh thay đổi
cơ bản” trong BLDS Việt Nam 2015. Bên cạnh các điều kiện như: (1) Các sự kiện
này xảy ra hoặc được bên bị thiệt hại biết đến sau khi giao kết hợp đồng; (2) Bên bị
bất lợi đã không tính đến một cách hợp lý các sự kiện đó khi giao kết hợp đồng; (3)
77 Công ước CISG, tlđd., Điều 79(1).
33
Các sự kiện đó nằm ngoài sự kiểm soát của bên bị bất lợi, PICC lại quy định về điều
kiện (4) Rủi ro về các sự kiện này không được bên bị bất lợi gánh chịu. Điều kiện này
là điều kiện khác biệt so với BLDS Việt Nam 2015.
Khoản d, Điều 6.2.2 PICC chỉ ra rằng sự kiện Hoàn cảnh thay đổi cơ bản sẽ
không nảy sinh nếu nếu bên thiệt hại đã gánh chịu sự rủi ro. Từ "gánh chịu" cho thấy
rõ rằng các rủi ro không nhất thiết phải được gánh chịu một cách rõ ràng, nhưng điều
này có thể xuất phát từ chính bản chất của hợp đồng.78 Một bên tham gia vào một
giao dịch được coi là chấp nhận một mức độ rủi ro nhất định, mặc dù có thể không
nhận thức đầy đủ về rủi ro đó tại thời điểm giao kết hợp đồng.79
* Các ví dụ giả định
Để phân tích rõ hơn các điều kiện để áp dụng quy định về hoàn cảnh thay đổi
cơ bản, người viết xin lấy hai ví dụ nhằm mục đích nhận diện “hoàn cảnh thay đổi cơ
bản” hay nói cách khác nhằm xem xét các điều kiện của quy định về hoàn cảnh thay
đổi cơ bản có được thỏa mãn hay không.
Ví dụ 01: Tháng 01/2017, Công ty A (bên bán) và Công ty B (bên mua) ký hợp
đồng mua bán hàng hóa là tinh bột mì, trong đó các bên thỏa thuận đơn giá là không
đổi trong suốt quá trình thực hiện hợp đồng. Đến tháng 08/2017, các bên tiếp tục ký
Phụ lục Hợp đồng vẫn thống nhất giá không đổi trong suốt quá trình thực hiện hợp
đồng. Tháng 10/2017, bên B có thông báo yêu cầu giao hàng, tuy nhiên vài ngày sau
đó bên A gửi thông báo không giao được hàng với lí do đưa ra là bệnh khảm lá ở cây
mì (truyền thông đưa tin về bệnh này vào tháng 07/2017) làm giá nguyên liệu tăng
dẫn đến nguyên liệu đầu vào không ổn định, khan hiếm và đề xuất tăng giá bán. Bên
B không đồng ý và khởi kiện yêu cầu bên A chịu phạt vi phạm hợp đồng và bồi
thường thiệt hại.
Ví dụ 02: Công ty A (bên cho thuê lại) và Công ty B (bên thuê lại) ký hợp đồng
78 Dịch giả: TS. Nguyễn Minh Hằng (2014), tlđd., tr. 266. 79 Như trên.
thuê lại đất, thời hạn thuê là từ năm 2001 đến năm 2050, trong đó các bên thỏa thuận
34
giá hợp đồng là giá thị trường tại thời điểm ký kết. Khi Uỷ ban Nhân dân (UBND)
cấp tỉnh có quyết định tăng giá thuê đất, dẫn đến việc bên A phải trả tiền thuê đất với
giá cao hơn, hai bên xảy ra tranh chấp về giá đất thuê lại khi bên A yêu cầu bên B trả
giá thuê đất tương ứng với giá thuê mà bên A trả cho Nhà nước. Do điều khoản về
tiền thuê đất trong hợp đồng không rõ ràng dẫn đến tranh chấp vẫn chưa được giải
quyết.
Sau khi nghiên cứu tình huống của hai vụ việc, người viết có những bình luận
như sau:
Về điều kiện thứ nhất, sự thay đổi hoàn cảnh do nguyên nhân khách quan
xảy ra sau khi giao kết hợp đồng. Trong Ví dụ 01, điều kiện này là không được thỏa
mãn. Mặc dù xuất hiện nguyên nhân khách quan là dịch bệnh khảm lá ở cây mì, tuy
nhiên thời điểm xảy ra dịch bệnh này là trước khi ký Phụ lục hợp đồng (theo thông
tin trên phương tiện truyền thông cho thấy tháng 07/2017 đã có thông tin dịch bệnh
ở cây mì, trong khi đến tháng 08/2017 các bên mới ký phụ lục hợp đồng thống nhất
giá vẫn không đổi). Do đó không thể nói đây là sự kiện nằm ngoài sự kiểm soát của
các bên làm cho bên vi phạm không thực hiện được hợp đồng.
Ngược lại, ở Ví dụ 02, điều kiện này lại được thỏa mãn. Nguyên nhân khách
quan chính là quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, mà cụ thể là quyết
định về tăng giá đất của UBND tỉnh được ban hành sau khi hai bên đã ký kết hợp
đồng thuê lại đất.
Về điều kiện thứ hai, tại thời điểm giao kết hợp đồng, các bên không thể
lường trước được về sự thay đổi hoàn cảnh. Trong Ví dụ 01, điều kiện này là không
thỏa mãn, vì xét thời điểm ký Hợp đồng, phụ lục hợp đồng, thời điểm phát sinh dịch
bệnh cũng như thời điểm có thông báo yêu cầu giao hàng thì rõ ràng có thể thấy vì
thời điểm phát sinh dịch bệnh là khoảng tháng 07/2017 hoặc trước đó, đến tháng
08/2017 khi ký Phụ lục hợp đồng các bên vẫn thống nhất giá không đổi trong suốt
quá trình thực hiện hợp đồng. Bên cung cấp sản phẩm tinh bột mì cần biết và có nghĩa
vụ phải biết về các dịch bệnh có thể xảy ra ở cây mì thông qua các bản tin trên phương
35
tiện truyền thông. Việc bên cung cấp không dự đoán được dịch bệnh là do năng lực
yếu kém hoặc không sát sao vào công việc.
Còn ở Ví dụ 02, câu hỏi đặt ra là liệu quyết định tăng giá thuê đất của UBND
tỉnh có thể lường trước được hay không? Trong trường hợp này, bên A không thể
viện dẫn điều khoản “hoàn cảnh thay đổi cơ bản”, bởi tại thời điểm ký hợp đồng, A
đáng lẽ phải tính đến việc giá đất có thể biến động (tăng hoặc giảm) so với thời điểm
ký hợp đồng, nhất là khi khoảng thời gian thực hiện hợp đồng là một khoảng thời
gian tương đối dài (50 năm).
Về điều kiện thứ ba, hoàn cảnh thay đổi lớn đến mức nếu như các bên biết
trước thì hợp đồng đã không được giao kết hoặc được giao kết nhưng với nội
dung hoàn toàn khác. Điều kiện này là thỏa mãn ở cả hai ví dụ được nêu ra phía
trên. Trong Ví dụ 01, nếu biết trước xảy ra dịch bệnh khảm lá ở cây mì dẫn đến giá
nguyên liệu đầu vào tăng thì bên A đã không đồng ý với mức giá tinh bột mì (gây bất
lợi cho mình). Tương tự, trong Ví dụ 02, nếu biết trước giá thuê đất sẽ tăng theo quyết
định của cơ quan nhà nước thì Bên A đã không thống nhất mức giá thuê như trong
hợp đồng ký kết.
Có thể thấy ở Ví dụ 01, dù cho bên bị bất lợi vô tình không nhận thức được sự
thay đổi hoàn cảnh cơ bản có thể xảy ra (có thể do năng lực dự đoán kém) thì điều
kiện này vẫn được thỏa mãn. Quy định này cho thấy các bên cần có ý thức nghiên
cứu cẩn thận, kỹ càng trước khi quyết định giao kết hợp đồng.
Về điều kiện thứ tư, việc tiếp tục thực hiện hợp đồng mà không có sự thay
đổi nội dung hợp đồng sẽ gây thiệt hại nghiêm trọng cho một bên. Trong Ví dụ
01, điều kiện này là không thỏa mãn. Tuy thực tế dịch bệnh khảm lá ở cây khoai mì
đã khiến cho nguyên liệu đầu vào không ổn định và khan hiếm, nếu tiếp tục thực hiện
việc giao hàng với mức giá đã thỏa thuận trong hợp đồng thì sẽ gây thiệt hại cho bên
bán, nhất là khi số lượng hàng hóa phải giao là rất lớn. Nhưng việc không lường trước
được dịch bệnh có thể xảy ra, nhất là khi mầm dịch bệnh đã được thông báo rộng rãi
trên các phương tiện truyền thông thì đây là rủi ro mà bên bán phải gánh chịu do sự
thiếu tìm hiểu của mình.
36
Còn ở Ví dụ 02, nếu tiếp tục hợp đồng thì bên cho thuê lại sẽ phải trả tiền thuê
đất cho Nhà nước cao hơn so với giá đã thỏa thuận với Bên thuê lại trong khoảng thời
gian quy định trong hợp đồng. Điều này sẽ gây thiệt hại nghiêm trọng cho Bên cho
thuê.
Về điều kiện thứ năm, bên có lợi ích bị ảnh hưởng đã áp dụng mọi biện
pháp cần thiết trong khả năng cho phép, phù hợp với tính chất của hợp đồng
mà không thể ngăn chặn, giảm thiểu mức độ ảnh hưởng đến lợi ích. Điều kiện
này là không thỏa mãn trong Ví dụ 01, bởi vì khi nhận được thông báo yêu cầu giao
hàng của bên A thì ngay sau đó bên B đã gửi thông báo là không giao được hàng.
Liệu trong vài ngày bên B đã áp dụng “mọi biện pháp cần thiết và trong khả năng cho
phép” hay chưa? Và trước khi có thông báo giao hàng của bên A, bên B cũng không
chủ động liên lạc trước với bên A để thông báo về khó khăn mình gặp phải để các
bên cùng đàm phán lại hợp đồng hoặc tìm cách khắc phục mà chỉ khi bên A yêu cầu
giao hàng thì bên B mới phản hồi lại là không giao hàng được do bệnh dịch và đề
nghị bên A tăng giá.
Trái lại, trong Ví dụ 02, điều kiện này là thỏa mãn bởi quyết định tăng giá thuê
đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền được ban hành có tính chất bắt buộc, đặt
bên bị điều chỉnh (bên cho thuê lại) trong tình thế bị động, bắt buộc phải thực hiện và
không thể làm gì để ngăn chặn hay "giảm thiểu mức độ ảnh hưởng" từ quyết định của
UBND này.
Từ những phân tích về các ví dụ ở trên, để được công nhận là hoàn cảnh thay
đổi cơ bản thì cần phải đáp ứng đủ 05 điều kiện luật định như đã nêu. Trong cả hai ví
dụ ở trên, có một số điều kiện được thỏa mãn, nhưng một số điều kiện khác không
được thỏa mãn; vì vậy đều không được coi là hoàn cảnh thay đổi cơ bản.
* Các ví dụ thực tế
Trên thực tế, có rất nhiều vụ việc liên quan đến việc xác định sự kiện Hoàn cảnh
thay đổi cơ bản. Người viết sẽ dẫn ra một số án lệ thực tế dưới đây nhằm làm phong
phú hơn cách nhận định sự tồn tại của trường hợp này trong thực tiễn xét xử.
37
Trong vụ Egypt v. Yugo.,80 các bên có quốc tịch Ai Cập (Bên Mua) và Nam Tư
(Bên Bán) đã ký kết hợp đồng mua bán một số lượng 80.000 tấn thép thanh vào năm
1987 với giá là $24.00 mỗi tấn. Tranh chấp nảy sinh từ việc người bán từ chối giao
số lượng thép bổ sung theo giá hợp đồng, do giá thị trường tăng (tăng 13.16% mỗi
tấn, là $26.25), do đó Bên Mua buộc phải lấy hàng từ một nguồn khác với giá cao
hơn.
ICC đã so sánh luật Nam Tư với Điều 74.1 của Luật thống nhất về bán hàng hóa
quốc tế (ULIS) và với Điều 79(1) CISG và thấy rằng việc từ chối giao thêm hàng hóa
với giá quy định trong hợp đồng, Bên Bán đã vi phạm hợp đồng. Toà Trọng tài cho
rằng Bên Bán chỉ có thể được miễn nghĩa vụ giao hàng với giá trong hợp đồng chỉ
khi hợp đồng có điều khoản điều chỉnh giá, hoặc trong trường hợp không thể thực
hiện được hợp đồng, chứ không phải trường hợp này - vì sự tăng giá thị trường, trên
thực tế, không đột ngột, không đáng kể và không phải là không thể lường trước được.
Còn trong vụ việc Schiedsgericht der Handelskammer,81 Bên Bán - một công ty
Hồng Kông và Bên Mua - một công ty Đức, đã ký kết một thỏa thuận chung về việc
giao hàng và phân phối độc quyền bán sắt-molypden Trung Quốc. Theo thỏa thuận
này, Bên Bán chịu trách nhiệm về quan hệ kinh doanh với các nhà sản xuất Trung
Quốc, còn Bên Mua chịu trách nhiệm phân phối hàng hóa ở châu Âu. Trên cơ sở này,
các Bên thường xuyên ký kết những hợp đồng mua bán hàng hóa riêng rẽ. Do những
khó khăn tài chính, một nhà sản xuất Trung Quốc không thể giao hàng đã đặt cho Bên
Bán khiến Bên Bán không thể thực hiện nghĩa vụ của mình theo hợp đồng với Bên
Mua.
Hội đồng Trọng tài trong vụ việc này đã áp dụng Công ước CISG, cho rằng Bên
Bán chỉ có thể viện dẫn trở ngại (impediment) nếu hàng hóa có chất lượng tương
đương hoặc tương tự không còn có sẵn trên thị trường; hơn nữa, Bên Bán cũng phải
80 Egypt v. Yugo., [1989], Int'l Comm. Arb. No. 628, http://cisgw3.law.pace.edu/cases/896281i1.html (truy cập ngày 10/12/2019). 81 Vụ Schiedsgericht der Handelskammer, [1996], Hamburg Số 3229. Xem thêm tại, OLG Hamburg 1 U 167/95, ngày 28/02/1997.
chịu rủi ro tăng giá thị trường tại thời điểm giao dịch thay thế. Tòa Trọng tài cũng
38
cho rằng mặc dù giá thị trường đã tăng gấp ba lần giá thỏa thuận, nhưng điều này
không tương đương với "giá bán hy sinh" (sacrificial sale price) vì giao dịch bán sắt-
molypden này được cho là có tính đầu cơ cao.
Tóm lại, có thể thấy, tuy là một ngoại lệ của nguyên tắc buộc thực hiện đúng
nghĩa vụ của hợp đồng, nhưng ngoại lệ Hoàn cảnh thay đổi cơ bản này không phải
được áp dụng một cách rộng rãi, tùy tiện mà chỉ được áp dụng một cách hạn chế,
trong những trường hợp thật đặc biệt.
TIỂU KẾT:
Như vậy, qua phần trình bày nêu trên, người viết đã trình bày các nội dung cơ
bản về điều kiện xác lập Hoàn cảnh thay đổi cơ bản trong CISG, Bộ nguyên tắc
UNIDROIT về hợp đồng thương mại quốc tế và đặc biệt là quy định trong BLDS
Việt Nam 2015. Đồng thời, các điều kiện về Hoàn cảnh thay đổi cơ bản cũng được
xem xét với vụ việc và các ví dụ cụ thể. Quy định này được áp dụng không phụ thuộc
vào trường hợp các bên có thỏa thuận hay không và được áp dụng hết sức ngặt nghèo,
không hề tùy tiện. Bên cạnh đó, sự khác biệt giữa sự kiện Bất khả kháng và Hoàn
cảnh thay đổi cũng được đề cập trong Chương II này. Việc áp dụng những quy định
về Bất khả kháng hay Hoàn cảnh thay đổi cũng phải được xem xét với từng trường
hợp một cách chính xác và phù hợp.
Chương III sẽ nêu những quyền và nghĩa vụ phát sinh đối với các bên trong
quan hệ hợp đồng khi xảy ra sự kiện hoàn cảnh thay đổi cơ bản. Chương III sẽ tập
trung phân tích những quyền và nghĩa vụ được quy định trong BLDS Việt Nam 2015,
trên cơ sở so sánh, đối chiếu với những quyền và nghĩa vụ được nêu trong Công ước
CISG và PICC.
39
CHƯƠNG III –QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA CÁC BÊN TRONG TRƯỜNG
HỢP HOÀN CẢNH THAY ĐỔI CƠ BẢN VÀ NHỮNG BẤT CẬP TRONG
QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM 2015
Quy định về thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản là một điểm mới
quan trọng trong pháp luật Việt Nam, mặc dù đã được ghi nhận trong pháp luật thương
mại quốc tế. Trước hết phải khẳng định, “việc bổ sung quy định cho phép điều chỉnh
hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi trong BLDS là cần thiết, phù hợp với quy định của
pháp luật quốc tế cũng như xu hướng phát triển của xã hội, góp phần bảo đảm và duy
trì lợi ích của các bên trong quan hệ hợp đồng”.82 Việc quy định về việc cho phép sửa
đổi lại hợp đồng đều được ghi nhận ở phần lớn các hệ thống,83 điển hình như BLDS
Ý, và các nước Mỹ Latinh. Quy định này cũng rất tiệm cận với Công ước CISG và
Bộ nguyên tắc UNIDROIT về hợp đồng thương mại quốc tế.
Quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản
bao gồm: (i) quyền yêu cầu đàm phán lại hợp đồng; (ii) quyền yêu cầu Tòa án chấm
dứt và sửa đổi hợp đồng; và (iii) trong quá trình đàm phán hoặc Tòa án giải quyết,
các bên vẫn phải tiếp tục thực hiện hợp đồng, cụ thể quy định tại các khoản 2, 3 và 4,
Điều 420 BLDS 2015.
3.1. Quyền yêu cầu đàm phán lại hợp đồng của các bên trong hợp đồng
Nhắc lại hai vụ việc đã được xét xử tại Việt Nam được nêu ở mục 2.1., Chương
II để thấy quy định điều chỉnh lại hợp đồng có những ý nghĩa nhất định. Cụ thể, đối
với vụ việc thứ nhất, nếu cho phép điều chỉnh lại hợp đồng, các bên vẫn tiếp tục duy
trì hợp đồng cho năm thứ ba và những năm tiếp theo. Đồng thời giá mà bên mua Việt
Nam phải trả sẽ không còn là giá quá cao như trong hợp đồng quy định nữa (vì giá
thực tế trên thị trường đã giảm xuống ba lần). Điều này sẽ loại bỏ bất công cho doanh
82 Đỗ Văn Đại (2016), Bình luận khoa học Những điểm mới của Bộ luật Dân sự năm 2015 (Sách chuyên khảo), NXB. Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam, tr. 388. 83 F. Hinestrosa (2008), Rapport Général-Révision du contrat, in Le Contrat, NXB. Société de législation comparée, tr. 406.
nghiệp Việt Nam khỏi việc bắt buộc phải tiếp tục thực hiện hợp đồng.
40
Còn trong vụ việc thứ hai, nếu hợp đồng được điều chỉnh, Bên Bán (ông Son và
bà Thìn) sẽ được nhận lại số tiền cao hơn, tương ứng với 03 triệu đồng năm 1992
được quy đổi lại vào năm 2006 (bởi giá trị kiot sau 14 năm kể từ ngày ký kết hợp
đồng đã cao hơn rất nhiều mức giá 7.800.000 đồng). Thật vậy, Hội đồng thẩm phán
Tòa án nhân dân tối cao đã xét rằng “số tiền còn thiếu, bên mua là ông Thiết, bà Lới
phải thanh toán cho bên bán là ông Son, bà Thìn theo thời giá (kiốt phải được định
giá để ông Thiết, bà Lới thanh toán theo giá mới phần chưa thanh toán theo tỷ lệ
tương ứng)”.84 Ở đây, Tòa án tối cao theo hướng cần phải định giá lại kiốt có tranh
chấp và bên mua phải thanh toán phần chưa thanh toán theo tỷ lệ tương ứng. Ví dụ,
nếu giá trị tài sản có tranh chấp được định giá lại với giá là 78.000.000 đồng thì bên
mua phải trả cho bên bán là 3/7.800.000 x 78.000.000 = 30.000.000 đồng.
Khoản 2 Điều 420 của BLDS 2015 đặt ra quyền đàm phán lại hợp đồng cho bên
có lợi ích bị ảnh hưởng.
“Điều 420. Thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản
2. Trong trường hợp hoàn cảnh thay đổi cơ bản, bên có lợi ích bị ảnh hưởng có
quyền yêu cầu bên kia đàm phán lại hợp đồng trong một thời hạn hợp lý.”
Theo quy định này, chủ thể có quyền yêu cầu đàm phán lại hợp đồng là “bên có
lợi ích bị ảnh hưởng” bởi hoàn cảnh thay đổi cơ bản. Trong trường hợp này bên có
lợi ích bị ảnh hưởng cần chủ động trong việc yêu cầu bên kia đàm phán hợp đồng.
Điều này giống với quy định trong PICC.
“Điều 6.2.3.
1) Trong trường hợp hardship, bên bị bất lợi có quyền yêu cầu tiến hành đàm
phán lại hợp đồng. Yêu cầu này phải được đưa ra không chậm trễ và phải có căn
cứ.”
Theo các quy định của PICC, bên bị bất lợi có quyền yêu cầu tiến hành đàm
84 Quyết định Giám đốc Thẩm số 14/2006/DS-GDT, tlđd.
phán lại hợp đồng. Yêu cầu này phải được đưa ra không chậm trễ và phải có căn cứ
41
trong trường hợp xảy ra Hardship.85 Quy định này không nói rõ cụ thể thời hạn mà
các bên được đàm phán lại hợp đồng, mà chỉ quy định một cách khái quát là thời hạn
hợp lý hoặc là đúng lúc.86 Yêu cầu đàm phán lại hợp đồng phải được đưa ra sớm nhất
có thể ngay sau khi suy đoán là có hardship. Thời hạn yêu cầu đàm phán lại hợp đồng
phụ thuộc vào từng hoàn cảnh cụ thể… Bên bị bất lợi không mất quyền yêu cầu đàm
phán lại hợp đồng vì lý do duy nhất là đã không đưa ra yêu cầu đó trong thời hạn sớm
nhất có thể.87
Tuy nhiên, người viết nhận định một số vấn đề từ quy định của BLDS Việt Nam
như sau.
3.1.1. Luật không đặt ra nghĩa vụ phải đàm phán
BLDS Việt Nam không đặt ra nghĩa vụ phải đàm phán trong trường hợp hoàn
cảnh thay đổi cơ bản. Khi nhận được yêu cầu đàm phán lại hợp đồng từ bên có quyền,
bên kia có nghĩa vụ phải đàm phán lại hay không? Liệu có nên mặc nhiên thừa nhận
quyền của bên này là nghĩa vụ của bên kia? Nếu có quy định minh thị trong điều
khoản sẽ nêu rõ được quyền và nghĩa cụ thể cho mỗi bên, tránh trường hợp việc lợi
dụng quy định “sơ hở” này mà từ chối thỏa thuận, đàm phán.
3.1.2. Chủ thể trong đàm phán
Trong Công ước CISG, ngoài các chủ thể của hợp đồng, Công ước có nhắc tới
“người thứ ba” như sau:
“Điều 79
2. Nếu một bên không thực hiện nghĩa vụ của mình do người thứ ba mà họ nhờ
thực hiện toàn phần hay một phần hợp đồng cũng không thực hiện điều đó thì bên ấy
chỉ được miễn trách nhiệm trong trường hợp:
85 PICC (2016), tlđd.,Điều 6.2.3.1 86 Nguyễn Huy Hoàng (2015), Hệ quả pháp lý khi Hoàn cảnh thay đổi cơ bản theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015, Trường Đại học Trà Vinh. 87 Dịch giả: TS. Nguyễn Minh Hằng (2014), tlđd., tr. 270.
a. Ðược miễn trách nhiệm chiếu theo quy định của khoản trên, và.
42
b. Nếu người thứ ba cũng sẽ được miễn trách nếu các quy định của khoản trên
được áp dụng cho họ.”
Khoản (2), Điều 79 Công ước CISG là một quy định tương đối khắt khe, nghiêm
ngặt, đặt ra quyền được miễn trách của một bên trong trường hợp “do người thứ ba”
nhưng phải đáp ứng hai điều kiện: (i) Ðược miễn trách nhiệm chiếu theo quy định
của khoản trên, và (ii) Nếu người thứ ba cũng sẽ được miễn trách nếu các quy định
của khoản trên được áp dụng cho họ.
Nghĩa là, một bên được miễn trách trong trường hợp bên thứ ba không thực hiện
hợp đồng cấu thành một trường hợp trở ngại/hoàn cảnh thay đổi cơ bản đối với bên
vi phạm và bên thứ ba cũng được miễn trách khi đáp ứng đồng thời ba điều kiện: xảy
ra ngoài tầm kiểm soát của các bên; không thể lường trước được một cách hợp lý tại
thời điểm ký kết hợp đồng; sự kiện và hậu quả của nó không tránh được hoặc không
thể khắc phục được.88
Khoản 2, Điều 79 nêu ra một chủ thể “bên thứ ba”. “Bên thứ ba” cần được hiểu
theo nghĩa hẹp, bao gồm những trường hợp như bên bán chuyển giao nghĩa vụ của
mình cho bên thứ ba để sản xuất hàng hóa theo yêu cầu về mặt chất lượng, kỹ thuật
được đưa ra bởi bên mua; bên bán ủy quyền cho bên thứ ba để mua và giao dịch với
bên mua. Như vậy, sự tham gia của bên thứ ba phải có mục đích trực tiếp thực hiện
hợp đồng giữa bên bán và bên mua.89 Khoản 2 Điều 79 không áp dụng cho bên thứ
ba nào đơn thuần tham gia với tư cách hỗ trợ hoặc tạo tiền đề cho một bên thực hiện
hợp đồng chính, phải có một liên kết hữu cơ “organic link” giữa hợp đồng chính
(bên bán và bên mua) và hợp đồng phụ (bên thứ ba với một bên hợp đồng).90
Chủ thể trong đàm phán lại hợp đồng bao gồm những đối tượng nào chưa được
xác định cụ thể trong BLDS Việt Nam. Quy định về thực hiện hợp đồng khi hoàn
cảnh thay đổi cơ bản là quy định áp dụng cho tất cả các hợp đồng, kể cả hợp đồng vì
lợi ích của người thứ ba. Nếu việc điều chỉnh hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ
88 Công ước CISG, tlđd., Điều 79(1). 89 CISG Advisory Council, Mục 22, Opinion No 7, http://www.cisgac.com/cisgac-opinion-no7/ (truy cập ngày 04/12/2019). 90 John O. Honnold; Uniform Laws for International Trade: Early "Care and Feeding" for Uniform Growth; http://www.cisg.law.pace.edu/cisg/biblio/honnold.html (truy cập ngày 04/12/2019).
43
bản có thể tác động đến lợi ích của người thứ ba thì có cần sự đồng ý của người thứ
ba hay không?
Khi đặt điều khoản “Thực hiện Hợp đồng khi Hoàn cảnh thay đổi cơ bản” trong
so sánh với các điều khoản khác của BLDS 2015, người viết nhận thấy có điểm mâu
thuẫn, điển hình như quy định giữa Điều 417 với Điều 420 BLDS 2015.
“Điều 417. Không được sửa đổi hoặc hủy bỏ hợp đồng vì lợi ích của người
thứ ba
Khi người thứ ba đã đồng ý hưởng lợi ích thì dù hợp đồng chưa được thực hiện,
các bên giao kết hợp đồng cũng không được sửa đổi hoặc hủy bỏ hợp đồng, trừ trường
hợp được người thứ ba đồng ý.”
Trong việc thực hiện hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba, Điều 417 BLDS Việt
Nam 2015 quy định không được sửa đổi, hủy bỏ hợp đồng vì lợi ích của người thứ
ba, trừ trường hợp được người thứ ba đồng ý. Vậy nếu người thứ ba không đồng ý
việc sửa đổi và hủy bỏ hợp đồng thì thỏa thuận để cân bằng quyền và lợi ích giữa các
bên tham gia giao kết theo Điều 420 liệu còn có giá trị? Và nếu người thứ không đồng
ý thì Tòa án có quyền can thiệp nữa hay không?
Có học giả cho rằng: “Sửa đổi hợp đồng chỉ có hậu quả là làm thay đổi các
quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng, chứ không làm ảnh hưởng đến lợi ích
của người thứ ba. Trong trường hợp như vậy, việc sửa đổi hợp đồng có thể được thực
hiện theo ý chí của các bên” còn nếu “sửa đổi hợp đồng có hậu quả là làm thay đổi
(gia tăng hoặc giảm bớt) lợi ích của người thứ ba, thì cần phải có sự đồng ý của người
thứ ba”.91 Tuy nhiên, người viết cho rằng việc sửa đổi hợp đồng trong trường hợp
Hoàn cảnh thay đổi cơ bản không cần thiết cần phải có sự đồng ý của người thứ ba.
Bởi việc xảy ra hoàn cảnh thay đổi cơ bản là sự kiện khách quan mà không bên nào
trong hợp đồng mong muốn xảy ra. Nên việc sửa đổi hợp đồng là do nguyên nhân
91 Ngô Quốc Chiến (2015),“Điều chỉnh hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi và việc sửa đổi Bộ luật Dân sự 2005”, Nghiên cứu lập pháp, Số 14, tr 29 – 33.
khách quan tác động, nhằm đảm bảo lợi ích của các bên chứ không phải do ý chí chủ
44
quan. Hơn nữa, trong hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba, bên thứ ba là người hưởng
quyền mà không phải thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng cho nên khi sửa đổi hợp
đồng không cần phải có sự đồng ý của người thứ ba. Kể cả trong trường hợp quyền
lợi của bên thứ ba bị giảm sút sau khi hợp đồng được điều chỉnh thì họ vẫn là bên
hưởng quyền (dù có thể quyền lợi bị giảm đi so với thỏa thuận ban đầu) và cũng phải
thực hiện nguyên tắc thiện chí, chia sẻ những khó khăn với bên bị bất lợi khi xảy ra
sự kiện hoàn cảnh thay đổi cơ bản.
3.1.3. Nghĩa vụ chứng minh
BLDS 2015 không quy định nghĩa vụ chứng minh những bất lợi mà bên yêu
cầu đàm phán gặp phải. Tuy nhiên, trong Công ước CISG và PICC đều quy định
nghĩa vụ đưa ra căn cứ để được miễn trừ do sự kiện, trở ngại khách quan.
“Điều 79
1. Một bên không chịu trách nhiệm về việc không thực hiện bất kỳ một nghĩa vụ
nào đó của họ nếu chứng minh được rằng việc không thực hiện ấy là do một trở
ngại nằm ngoài sự kiểm soát của bên đó và người ta không thể chờ đợi một cách hợp
lý rằng họ phải tính tới trở ngại đó vào lúc ký kết hợp đồng hoặc là tránh được hay
khắc phục các hậu quả của nó.”92
“Điều 6.2.3.
1) Trong trường hợp hardship, bên bị bất lợi có quyền yêu cầu tiến hành đàm
phán lại hợp đồng. Yêu cầu này phải được đưa ra không chậm trễ và phải có căn
cứ.”93
Việc yêu cầu chứng minh là hoàn toàn hợp lý trước khi nhận được những quyền
miễn trừ, vậy nhưng vẫn chưa được quy định trong BLDS Việt Nam. Đây có thể coi
92 Bản dịch của VIAC, http://www.trungtamwto.vn/upload/files/chu_de_khac/303-cong-uoc-vien/307-van- kien/Cong%20uoc%20vien%201980%20-%20TV.pdf, (truy cập ngày 09/08/2019). 93 PICC (2016), tlđd.,Điều 6.2.3.1
là một hạn chế của quy định Hoàn cảnh thay đổi cơ bản này.
45
3.1.4. Khái niệm “thời hạn hợp lý”
Các nhà soạn thảo Việt Nam có thể đã kế thừa thuật ngữ “thời hạn hợp lý” của
Khoản 4, Điều 79 Công ước CISG.
“Điều 79
4. Bên nào không thực hiện nghĩa vụ của mình thì phải báo cáo cho bên kia biết
về trở ngại và ảnh hưởng của nó đối với khả năng thực hiện nghĩa vụ. Nếu thông báo
không tới tay bên kia trong một thời hạn hợp lý từ khi bên không thực hiện nghĩa vụ
đã biết hay đáng lẽ phải biết về trở ngại đó thì họ sẽ phải chịu trách nhiệm về những
thiệt hại do việc bên kia không nhận được thông báo.”
Nhưng trong Công ước này, thuật ngữ “thời hạn hợp lý” cũng không được giải
thích mà chỉ có ý kiến của học giả. “Thời hạn hợp lý” có thể là một thời gian ngắn:
tùy vào hoàn cảnh có thể yêu cầu thông báo ngay lập tức.94 Thời gian bắt đầu được
tính ngay khi trở ngại và hậu quả của trở ngại đối với hợp đồng được biết đến; hoặc
từ khi bên không thực hiện nghĩa vụ phải biết.95 Thiện chí được thể hiện khi cả hai
bên thông báo liên tiếp, nếu trong trường hợp bên không thực hiện nghĩa vụ không
thể ngay lập tức cho biết hậu quả của trở ngại sẽ là gì.96
Còn theo PICC, quy định về thời hạn yêu cầu đàm phán lại hợp đồng là phải
được đưa ra đúng lúc.
“Điều 6.2.3.
1) Trong trường hợp hardship, bên bị bất lợi có quyền yêu cầu tiến hành đàm
phán lại hợp đồng. Yêu cầu này phải được đưa ra không chậm trễ và phải có căn
cứ.”
“Thời hạn hợp lý”, có thể nhìn nhận là khái niệm tương đối mơ hồ. BLDS 2015
94 Dionysios Flambouras (2002), “Comparative Remarks on CISG Article 79 & PECL Articles 6:111, 8:108” http://www.cisg.law.pace.edu/cisg/text/peclcomp79.html (truy cập ngày 01/12/2019). 95 Như trên. 96 Như trên.
không quy định cách xác định khoảng thời gian “hợp lý” là bao lâu. Tuy nhiên, thuật
46
ngữ “thời hạn hợp lý” cũng được nhắc đến trong nhiều quy định khác của BLDS 2015
như: Điều 142,97 Điều 143,98 hay Điều 300.99
Vậy khái niệm “thời hạn hợp lý” tại Điều 420 cần phải được đặt trong mối tương
quan diễn giải chung của BLDS, xét đến các yếu tố của giao dịch và của hoàn cảnh.100
Thông thường, để đảm bảo tiêu chí khách quan, tính “hợp lý” được xem xét bởi một
bài test khách quan, theo đó, thời hạn hợp lý là thời hạn mà trong hoàn cảnh tương
tự, một bên nếu tuân thủ đúng nguyên tắc thiện chí phải đưa ra yêu cầu.101
3.2. Quyền yêu cầu Tòa án chấm dứt hoặc sửa đổi hợp đồng
Có nhiều quan điểm cho rằng, việc can thiệp của Tòa án vào “luật của các bên”
là trái với bản chất của nguyên tắc Pacta sunt servenda. Tuy nhiên, việc can thiệp
này là cần thiết bởi nó như “sợi dây trói buộc” mà bên bị ảnh hưởng sẽ mong muốn
được “giải thoát” và chỉ Tòa án mới có khả khả năng “giải phóng” cho họ.102
Khoản 3 Điều 420 BLDS năm 2015 quy định về nguyên tắc và thẩm quyền can
thiệp quan hệ hợp đồng của Tòa án trong trường hợp “các bên không thể thỏa thuận
được về việc sửa đổi hợp đồng”.
“Điều 420. Thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản
97 BLDS Việt Nam (2015), tlđd., Điều 142: “Điều 142. Hậu quả của giao dịch dân sự do người không có quyền đại diện xác lập, thực hiện 1. Giao dịch dân sự do người không có quyền đại diện xác lập, thực hiện không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với người được đại diện, trừ một trong các trường hợp sau đây: b) Người được đại diện biết mà không phản đối trong một thời hạn hợp lý;” 98 BLDS Việt Nam (2015), tlđd., Điều 143: “Điều 143. Hậu quả của giao dịch dân sự do người đại diện xác lập, thực hiện vượt quá phạm vi đại diện 1. Giao dịch dân sự do người đại diện xác lập, thực hiện vượt quá phạm vi đại diện không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của người được đại diện đối với phần giao dịch được thực hiện vượt quá phạm vi đại diện, trừ một trong các trường hợp sau đây: b) Người được đại diện biết mà không phản đối trong một thời hạn hợp lý;” 99 BLDS Việt Nam (2015), tlđd., Điều 300: “Điều 300. Thông báo về việc xử lý tài sản bảo đảm 1. Trước khi xử lý tài sản bảo đảm, bên nhận bảo đảm phải thông báo bằng văn bản trong một thời hạn hợp lý về việc xử lý tài sản bảo đảm cho bên bảo đảm và các bên cùng nhận bảo đảm khác.” 100 PGS. TS. Nguyễn Minh Hằng và Trần Thị Giang Thu, (2016), tlđd. 101 Như trên. 102 Nguyễn Thị Thúy Hường (2019), “Hậu quả pháp lý khi hoàn cảnh có sự thay đổi cơ bản trong quá trình thực hiện hợp đồng”, Tạp chí Tòa án, https://tapchitoaan.vn/bai-viet/xay-dung-phat-luat/hau-qua-phap-ly-khi- hoan-canh-co-su-thay-doi-co-ban-trong-qua-trinh-thuc-hien-hop-dong (truy cập ngày 10/10/2019)
47
3. Trường hợp các bên không thể thỏa thuận được về việc sửa đổi hợp đồng
trong một thời hạn hợp lý, một trong các bên có thể yêu cầu Tòa án:
a) Chấm dứt hợp đồng tại một thời điểm xác định;
b) Sửa đổi hợp đồng để cân bằng quyền và lợi ích hợp pháp của các bên do
hoàn cảnh thay đổi cơ bản.
Tòa án chỉ được quyết định việc sửa đổi hợp đồng trong trường hợp việc chấm
dứt hợp đồng sẽ gây thiệt hại lớn hơn so với các chi phí để thực hiện hợp đồng nếu
được sửa đổi.”
Việc “không thể thỏa thuận được” có thể là do một bên từ chối đàm phán hợp
đồng hoặc là do các bên không đạt được thỏa thuận về việc sửa đổi hợp đồng. Quy
định tiến bộ này của BLDS Việt Nam là kế thừa từ PICC.103
“Điều 6.2.3. Hệ quả
3. Nếu các bên không thỏa thuận được trong một thời hạn hợp lý thì mỗi bên có
quyền yêu cầu toà án giải quyết.
Tuy nhiên, người viết có một số ý kiến bình luận về điều khoản này như sau.
3.2.1. Thẩm quyền của Tòa án bị bó hẹp
Quy định “trường hợp các bên không thể đàm phán lại về việc sửa đổi hợp đồng”
là chưa hợp lý. Ở đây mở ra một tình huống nếu các bên không đàm phán lại về việc
sửa đổi thì có được quyền yêu cầu Tòa án can thiệp hay không?
Theo PICC, Tòa án đóng vai trò một người trọng tài giúp các bên trong quá
trình thương lượng để đi đến giải pháp chung, nhất là khi quá trình tự đàm phán của
các bên trở nên bế tắc.104
Còn tại BLDS Việt Nam, từ “chỉ” trong câu “Tòa án chỉ được quyền sửa đổi
hợp đồng trong trường hợp việc chấm dứt hợp đồng sẽ gây thiệt hại lớn hơn so với
103 PICC (2016), tlđd., Điều 6.2.3.3. 104 PICC, (2016), tlđd., Comment, tr. 221.
48
các chi phí để thực hiện hợp đồng nếu được sửa đổi” khiến người đọc hiểu là sự ưu
tiên của luật pháp khi trao quyền cho Tòa án chấm dứt hợp đồng. Về quyền sửa đổi
hợp đồng của Tòa án, có thể thấy hướng giải quyết là sửa đổi hợp đồng của Tòa án
bị áp dụng hạn chế hơn so với hướng giải quyết chấm dứt hợp đồng.105 Trong khi
quyền chấm dứt hợp đồng của Tòa án không kèm theo điều kiện nào khác, thì quyền
sửa đổi hợp đồng lại bị giới hạn. Điều này sẽ dẫn tới việc các bên và Tòa án đều
hướng tới việc chấm dứt hợp đồng khi xảy ra hoàn cảnh thay đổi cơ bản.
Việc quy định chặt chẽ như vậy sẽ ngăn ngừa được các trường hợp Tòa án lạm
dụng để can thiệp quá mức vào thỏa thuận giữa các bên, tuy nhiên, quy định này cũng
đồng thời đặt ra gánh nặng trong việc áp dụng trên thực tế, bởi việc xác định thiệt hại
“trong trường hợp chấm dứt hợp đồng” và xác định “chi phí để thực hiện hợp đồng”
là các vấn đề hết sức phức tạp và khó khăn, không phải người xét xử nào cũng có đủ
hiểu biết và trình độ để tính toán, đặc biệt là với các hợp đồng trong các lĩnh vực có
tính đặc thù cao như kỹ thuật, công nghệ thông tin,106… Hơn nữa, ngay cả khi Tòa ra
quyết định sửa đổi hợp đồng, thì việc sửa đổi các điều khoản cụ thể có được đặt trong
chừng mực nào không, hay hoàn toàn dựa trên ý kiến chủ quan của người xét xử.107
3.2.2. Việc xác định “chi phí để thực hiện hợp đồng”
Việc xác định “chi phí để thực hiện hợp đồng” và “gây thiệt hại lớn hơn” không
phải dễ dàng. “Chi phí để thực hiện hợp đồng” là chi phí của bên nào? Ở đây nên căn
cứ vào tình thế của bên có lợi ích bị ảnh hưởng bởi hoàn cảnh thay đổi cơ bản xảy ra
trong khoảng thời gian bên bị ảnh hưởng đang phải thực hiện nghĩa vụ của mình. Và
việc “chấm dứt hợp đồng gây thiệt hại lớn hơn” có bao gồm thiệt hại của người khác
nữa không? Việc chưa quy định cụ thể về cách xác định thiệt hại và cách xác định
các chi phí thực hiện hợp đồng tại khoản 3, Điều 420 BLDS 2015 sẽ tạo ra những
105 Vũ Thị Lan Anh (2016), “Các vấn đề pháp lý đặt ra trong việc thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản”, Tạp chí nhà nước và pháp luật, số 337. 106 PGS. TS. Nguyễn Minh Hằng và Trần Thị Giang Thu, (2016), tlđd. 107 PGS. TS. Nguyễn Minh Hằng và Trần Thị Giang Thu, (2016), tlđd.
cách hiểu không thống nhất và gây khó khăn cho việc áp dụng quy định này.
49
3.3. Nghĩa vụ của các bên vẫn phải tiếp tục thực hiện hợp đồng trong quá
trình đàm phán sửa đổi, chấm dứt hợp đồng, Tòa án giải quyết
“Điều 420. Thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản
4. Trong quá trình đàm phán sửa đổi, chấm dứt hợp đồng, Tòa án giải quyết vụ
việc, các bên vẫn phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ của mình theo hợp đồng, trừ trường
hợp có thỏa thuận khác.”
Khoản 4 này nằm trong Điều 420, tiểu mục 2 - Thực hiện hợp đồng của BLDS
năm 2015 tức là ngoài trường hợp có thỏa thuận khác thì các bên trong hợp đồng vẫn
phải thực hiện nghĩa vụ của mình để đảm bảo quyền và lợi ích của bên còn lại được
diễn ra đúng như những gì đã được thống nhất.
Quy định về nghĩa vụ này trong PICC được thể hiện như sau:
“Điều 6.2.3. Hệ quả
2) Yêu cầu đàm phán lại hợp đồng, bản thân nó, không cho phép bên bị bất lợi
có quyền tạm đình chỉ thực hiện nghĩa vụ của mình.”
Quy định này của PICC có phần hợp lý và đảm bảo quyền của bên có lợi ích bị
ảnh hưởng hơn,108 bởi “Yêu cầu thương lượng lại tự thân nó không cho phép bên bị
khó khăn ngừng thực hiện nghĩa vụ nhằm tránh việc các bên lợi dụng điều khoản này.
Việc ngừng thực hiện nghĩa vụ chỉ có thể được xem xét trong một số trường hợp
ngoại lệ.”109 Ngoại lệ này có thể đến từ chủ thể có thẩm quyền như Tòa án (hoặc
Trọng tài, mặc dù pháp luật hiện hành chưa quy định vai trò của chủ thể này trong
việc giải quyết hậu quả pháp lý khi hoàn cảnh có sự thay đổi cơ bản). Vấn đề được
đặt ra là bên không có lợi ích bị ảnh hưởng có thể lợi dụng để chuộc lợi hay bảo vệ
lợi ích của riêng mình mà không tính đến những khó khăn mà bên kia đang gánh chịu.
Vậy câu hỏi đặt ra là: Trong quá trình giải quyết, bên có lợi ích bị ảnh hưởng có quyền
108 Nguyễn Thị Thúy Hường (2019), tlđd. 109 PICC, (2016), tlđd., Comment, tr. 221.
yêu cầu cơ quan có thẩm quyền áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời hay không?
50
*** Một số quyền và nghĩa vụ khác được đặt ra theo Công ước CISG và PICC
Theo BLDS Việt Nam, khi xảy ra Hoàn cảnh thay đổi cơ bản, các bên có các
quyền và nghĩa vụ như được phân tích ở trên. Tuy nhiên, khi đối chiếu so sánh với
Công ước CISG và PICC, người viết có nhận thấy còn một số quyền và nghĩa vụ khác
bên cạnh những quyền và nghĩa vụ được nêu trong luật Việt Nam. Cụ thể:
a) Theo Công ước CISG
Khoản 3, Điều 79 quy định hiệu lực của hành vi miễn trách như sau:
“3. Sự miễn trách được quy định tại điều này chỉ có hiệu lực trong thời kỳ tồn
tại trở ngại đó.”
Việc một trở ngại ngăn cản một bên thực hiện nghĩa vụ được miễn không thực
hiện trách nhiệm chỉ trong khoảng thời gian tồn tại trở ngại đó. Do đó, ngày miễn trừ
thiệt hại chấm dứt là ngày hợp đồng thực hiện hoặc ngày mà các trở ngại đã được gỡ
bỏ, tùy theo thời điểm nào muộn hơn.110
Khoản 5 của Điều 79 như sau:
“Điều 79
5. Các sự quy định của điều này không cản trở từng bên được sử dụng mọi
quyền khác ngoài quyền được bồi thường thiệt hại chiếu theo Công ước này.”
Hiện tại, có rất nhiều cách tiếp cận về điều khoản này. Có học giả cho rằng,
Khoản 5 Điều 79 đề xuất rằng một trở ngại miễn trừ chỉ "có tác dụng hạn chế đối với
các biện pháp khắc phục có sẵn cho bên không thực hiện nghĩa vụ, Khoản 5 điều này
dường như đảm bảo quyền yêu cầu thực hiện ngay cả khi việc thực hiện đã trở nên
vĩnh viễn không thực hiện được nữa.111 Bên cạnh đó đó, cách tiếp cận hiện tại (cho
phép một số việc thực hiện cụ thể ngay cả trong trường hợp miễn trừ trở ngại) dường
như đã được đồng thuận: ít nhất quyền tiếp tục thực hiện tồn tại trong trường hợp tạm
(truy cập ngày
110 Commentary 13, https://cisgw3.law.pace.edu/cisg/text/secomm/secomm-79.html 09/10/2019). 111 Arthur Hartkamp (1994), "The UNIDROIT Principles For International Commercial Contracts and the United Nations Convention on Contracts for the International Sale of Goods", Comparability and Evaluation, tr. 96, http://tldb.uni-koeln.de/TLDB.html, (truy cập ngày 10/09/2019).
51
thời miễn trừ và yêu cầu phụ trợ có liên quan như lãi suất, tiếp tục tích lũy, do đó thúc
đẩy các bên liên quan nỗ lực hơn để vượt qua trở ngại.112
b) Theo PICC
Việc yêu cầu đàm phán lại hợp đồng không cho phép bên bị bất lợi có quyền
tạm đình chỉ việc thực hiện nghĩa vụ của mình113 chưa được ghi nhận trong BLDS
Việt Nam (BLDS Việt Nam quy định “phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ”, nghĩa là
không được tạm ngừng, đình chỉ việc thực hiện nghĩa vụ), nhưng nghĩa vụ này được
coi là nguyên tắc pacta sunt servanda đi theo tinh thần chung của luật quốc tế, rằng
việc đàm phán lại giữa các bên phải được tiến hành theo nguyên tắc thiện chí, trung
thực và hợp tác (tại Điều 1.7 và 5.1.3 PICC).
3.4. Đánh giá thực trạng của việc quy định quyền và nghĩa vụ các bên
trong trường hợp hoàn cảnh thay đổi cơ bản theo Bộ luật Dân sự 2015
3.4.1. Những điểm tích cực
Từ khi BLDS Việt Nam 2015 có hiệu lực vào ngày 01/01/2017, điều khoản hoàn
cảnh thay đổi cơ bản đã chứng minh được giá trị trong thực tiễn đời sống hợp đồng,
giúp các chủ thể của hợp đồng có định hướng xử lý hợp đồng trong trường hợp xảy
ra hoàn cảnh thay đổi cơ bản.
Thật vậy, từ khi điều khoản hoàn cảnh thay đổi cơ bản được đưa vào BLDS 2015,
các thẩm phán có thể sử dụng công cụ hoàn cảnh thay đổi cơ bản để đánh giá sự kiện
khách quan cản trở việc thực hiện hợp đồng có phải là hoàn cảnh thay đổi cơ bản hay
không trong một số bản án. Có thể kể đến như: Vụ tranh chấp kinh doanh thương mại
giữa Nguyên đơn là Công ty TNHH một thành viên Thương mại du lịch P (sau đây
gọi là Công ty P) và Bị đơn là Công ty TNHH V (sau đây gọi là Công ty V).114 Nguyên
đơn đã viện dẫn Điều 420 để yêu cầu chấm dứt hợp đồng thuê thương hiệu vì lý do
112 Fritz Enderlein & Dietrich Maskow (1992), International Sales Law: United Nations Convention on Contracts for the International Sale of Goods, NXB. Oceana Publication, New York, tr. 353; http://www.cisg.law.pace.edu/cisg/biblio/enderlein.html, (truy cập ngày 10/09/2019). 113 PICC (2016), tlđd.,Điều 6.2.3.2. 114 Bản án số 06/2017/KDTM-ST về tranh chấp hợp đồng chuyển quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp; tuyên hủy thư bảo lãnh [2017], Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, Thành phố Đà Nẵng.
Nguyên đơn bị chủ cửa hàng chấm dứt hợp đồng thuê cửa hàng dẫn đến không còn
52
địa bàn để kinh doanh thương hiệu của Bị đơn. Điều đáng lưu ý là nguyên nhân dẫn
đến Công ty P bị chủ nhà chấm dứt hợp đồng cho thuê mặt bằng là do bên này đã
không thanh toán được tiền thuê nhà ba tháng liên tiếp. Như vậy, mặc dù việc bị thu
hồi mặt bằng kinh doanh có thể coi là hoàn cảnh thay đổi cơ bản, nhưng nguyên nhân
một phần do lỗi của bên bị ảnh hưởng nên trường hợp này không thể viện dẫn Điều
420 để yêu cầu chấm dứt hay sửa đổi hợp đồng.
Hoặc như trong vụ tranh chấp liên quan đến hợp đồng chuyển nhượng giữa Công
ty Cổ phần Kinh doanh bất động sản C (Nguyên đơn) và bà Huỳnh Ngọc D (Bị đơn),
Tòa án xem xét việc chấm dứt thực hiện hợp đồng một phần cũng do hoàn cảnh đã
thay đổi cơ bản (giá trị quyền sử dụng đất thay đổi so với khi ký kết hợp đồng nhưng
hai bên không thỏa thuận lại) theo quy định tại Điều 420 Bộ luật Dân sự.115
Có thể thấy quy định của luật Việt Nam khá cụ thể và chặt chẽ trong việc giải
thích rõ các điều kiện cho phép không tiếp tục thực hiện (chấm dứt) hợp đồng khi
hoàn cảnh thay đổi cơ bản.116 Tinh thần của điều luật hoàn toàn phù hợp với thực tiễn
tại Việt Nam trong bối cảnh áp dụng nguyên tắc về tôn trọng quyền tự định đoạt của
các bên vì suy cho cùng, hợp đồng là kết quả của sự thoả thuận tự nguyện và rằng các
bên phải chịu trách nhiệm với các quyết định của mình khi tham gia vào hợp đồng.117
Với nhìn nhận như vậy, có thể thấy pháp luật hợp đồng Việt Nam một mặt thừa nhận
thông lệ quốc tế trong lĩnh vực này,118 mặt khác giữ lại những nét riêng cần có phù
hợp với bối cảnh pháp lý của Việt Nam hiện nay.119
3.4.2. Hạn chế
Từ những phân tích tại Chương III phía trên, có thể thấy những hạn chế của điều
115 Bản án số 46/2020/DS-PT về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất [2020], Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương. 116 TS. Đoàn Thị Phương Diệp (2019), “Pháp luật hợp đồng Việt Nam nhìn ở góc độ so sánh với luật Cộng hòa Pháp”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, Số 11(386). 117 Như trên. 118 Ngô Thu Trang - Nguyễn Thế Đức Tâm (2017), “Thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 1(345), tr. 60-67. 119 TS. Đoàn Thị Phương Diệp (2019), tlđd.
khoản hoàn cảnh thay đổi cơ bản như sau:
53
Một là, một số khái niệm vẫn còn chưa rõ ràng.
Điều 420 xuất hiện một số khái niệm như “gây thiệt hại nghiêm trọng”, “thời hạn
hợp lý”, “chi phí thực hiện hợp đồng”,… Những khái niệm này chưa được giải thích
trong luật cũng như từ ngữ sử dụng còn mơ hồ, chung chung. Điều này sẽ gây khó
khăn cho các bên trong việc thực hiện hợp đồng, đồng thời cũng gây khó khăn cho
các Thẩm phán trong việc xác định.
Hai là, thiếu quy định về những nghĩa vụ.
Điều khoản hoàn cảnh thay đổi cơ bản chỉ quy định về quyền đàm phán lại hợp
đồng. Điều khoản này cần phải kèm theo nghĩa vụ đàm phán và nghĩa vụ chứng minh.
Việc thiếu quy định về nghĩa vụ đàm phán là không phù hợp với nguyên tắc thiện chí
xuyên suốt BLDS nói riêng và pháp luật Việt Nam nói chung, cũng như nguyên tắc
pacta sunt servanda được thừa nhận rộng rãi trong luật quốc tế. Hơn nữa, việc thiếu
quy định về nghĩa vụ đàm phán và nghĩa vụ chứng minh sẽ giảm trách nhiệm của các
bên trong việc cố gắng tìm giải pháp trước khi đưa vụ việc ra Tòa án sau khi sự kiện
hoàn cảnh thay đổi xảy ra.
Ba là, có sự mâu thuẫn giữa BLDS và Luật Trọng tài thương mại.
Sự mâu thuẫn giữa BLDS và Luật Trọng tài thương mại là dễ nhận thấy nhất như
đã trình bày phía trên. Khi quy định Tòa án là cơ quan tài phán duy nhất có thẩm
quyền trong việc xử lý những tranh chấp có yếu tố liên quan tới sự kiện hoàn cảnh
thay đổi mô hình chung đã làm nảy sinh mâu thuẫn về thẩm quyền với Trọng tài nếu
các bên đã thỏa thuận giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài trước đó.
3.4.3. Nguyên nhân
Trước khi điều khoản Hoàn cảnh thay đổi cơ bản được đưa vào BLDS 2015, khái
niệm điều khoản hoàn cảnh thay đổi cơ bản vẫn còn tương đối xa lạ với những cá
120 Trần Minh Tâm & Nguyễn Minh Hiển (2015), “Điều khoản Hardship trong Hợp đồng mua bán Hàng hóa quốc tế”, Tạp chí Kinh tế đối ngoại, Số 70, 50-59, tr. 50.
nhân trực tiếp tham gia soạn thảo hợp đồng của các Doanh nghiệp Việt Nam,120 và
54
những người trực tiếp soạn thảo hợp đồng cũng không có ý định sử dụng điều khoản
hoàn cảnh thay đổi cơ bản,121 mặc dù khái niệm Hardship đã xuất hiện từ năm 1960,
được trình bày lần đầu tiên trong các nghiên cứu của Marcel Fontaine, in trong quyển
“Pháp luật hợp đồng quốc tế”, xuất bản năm 1989.122
Tuy nhiên, do điều khoản hoàn cảnh thay đổi cơ bản này lần đầu tiên được quy
định trong BLDS Việt Nam 2015 nên vẫn là một quy định mới và khá phức tạp. Để
triển khai thi hành trên thực tiễn, cần có sự nghiên cứu và nhìn nhận nghiêm túc từ
phía nhà làm luật, nhà nghiên cứu, đặc biệt là của các thẩm phán trong việc giải quyết
các vụ việc liên quan.123 Đặc biệt, những vấn đề bất cập được nêu trong Chương III
này cần phải xem xét kĩ và cần có những giải pháp, đề xuất kịp thời.
TIỂU KẾT
Qua những phân tích và so sánh về các điều khoản trong Công ước CISG, PICC
và BLDS Việt Nam, khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản sẽ phát sinh các hệ quả pháp lý
như quyền yêu cầu đàm phán lại hợp đồng để cân bằng lợi ích cho các bên. Các bên
trong hợp đồng có thể thỏa thuận sửa đổi hợp đồng hoặc là chấm dứt hợp đồng, trong
trường hợp các bên không thể tự thỏa thuận được thì có quyền yêu cầu Tòa án giải
quyết tranh chấp.
Qua quá trình nghiên cứu và phân tích, người viết nhận thấy còn một số vấn đề
còn bất cập về hệ quả pháp lý khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản được quy định trong
BLDS Việt Nam 2015. Bởi thế, người viết có những đề xuất nhằm hoàn thiện các
quy định trong Bộ luật liên quan đến hệ quả pháp lý khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản
121 Trần Minh Tâm & Nguyễn Minh Hiển (2015), tlđd., tr. 57. 122 Ugo Draetta (2004), “Điều khoản về trường hợp bất khả kháng và điều khoản Hardship trong hợp đồng quốc tế”, Kỷ yếu Hội thảo “Hợp đồng thương mại quốc tế” do Nhà pháp luật Việt –Pháp, ngày 13-14, tháng Mười Hai năm 2004, Hà Nội, Việt Nam, tr.181. 123 Ngô Thu Trang - Nguyễn Thế Đức Tâm (2017), tlđd.
như được trình bày ở Chương IV dưới đây.
55
CHƯƠNG IV- GIẢI PHÁP VỀ GIẢI THÍCH VÀ ÁP DỤNG QUY ĐỊNH VỀ
THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG KHI HOÀN CẢNH THAY ĐỔI CƠ BẢN TẠI
VIỆT NAM
Quy định về Hoàn cảnh thay đổi cơ bản là một quy định mới trong BLDS 2015
(lần đầu tiên được các nhà soạn thảo luật Việt Nam đưa vào trong chế định của
BLDS). Cũng do sự thiếu vắng các án lệ và giải thích từ cơ quan chuyên môn nên
việc áp dụng còn nhiều khó khăn. Bởi vậy, việc nghiên cứu để nắm rõ được bản chất
và cách áp dụng quy định này là việc hết sức cần thiết. Sau khi phân tích điều khoản
Hoàn cảnh thay đổi cơ bản như ba chương nêu trên, tại Chương IV này, người viết sẽ
nêu đề xuất giải thích điều khoản để phù hợp với việc hiểu và áp dụng các quy định
này vào thực tiễn đời sống soạn thảo hợp đồng.
4.1- Định hướng nhằm giải thích và áp dụng quy định về thực hiện hợp
đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản
Qua việc đánh giá những thành tựu đạt được cũng như những bất cập trong quy
định pháp luật như đã phân tích ở Chương III, định hướng nhằm giải thích và áp dụng
quy định về thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản sẽ liên quan đến: (a)
nghĩa vụ đàm phán, (b) chủ thể đàm phán lại hợp đồng, (c) nghĩa vụ chứng minh ảnh
hưởng của Hoàn cảnh thay đổi, (d) cách giải thích các thuật ngữ “thời hạn hợp lý”,
“thiệt hại nghiêm trọng”, (e) thẩm quyền của Tòa án. Bên cạnh đó, người viết cũng
đề cao vai trò của Trọng tài – một cơ quan tài phán có thẩm quyền trong việc cân
bằng quyền và lợi ích của các bên khi xảy ra sự kiện hoàn cảnh thay đổi cơ bản.
Từ việc thiếu quy định về một số khái niệm, quy định chưa đầy đủ về nghĩa vụ
của các bên, cũng như bỏ sót thẩm quyền của Trọng tài trong các phương pháp giải
quyết tranh chấp dẫn đến gây mâu thuẫn giữa BLDS và luật chuyên ngành, người viết
nhận thấy yêu cầu chỉnh lý quy định về hoàn cảnh thay đổi cơ bản đã trở thành một
yêu cầu cấp bách hiện nay. Để thực hiện được điều này, người viết đề xuất Hội đồng
thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao nên xem xét ban hành nghị quyết hướng dẫn các
56
Tòa án áp dụng thống nhất Điều 420 BLDS năm 2015,124 đặc biệt là đối với các vấn
đề đã được trình bày trong Chương III nêu trên.
Bên cạnh đó, khi việc chỉnh lý, bổ sung về điều khoản hoàn cảnh thay đổi cơ bản
chưa được kịp thời hoàn thiện, các Luật sư, doanh nghiệp và những người tham gia
soạn thảo hợp đồng cũng cần chủ động nghiên cứu và soạn thảo điều khoản Hoàn
cảnh thay đổi cơ bản vào trong hợp đồng với những quy định cách hiểu một số thuật
ngữ trong điều khoản này. Những giải pháp này sẽ liên quan đến cách giải thích và
áp dụng điều khoản cho các bên trong hợp đồng khi xảy ra sự kiện hoàn cảnh thay
đổi cơ bản.
4.2. Các giải pháp nhằm giải thích và áp dụng quy định về thực hiện hợp
đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản
4.2.1. Giải pháp giải thích Điều 420 BLDS 2015
a) Nghĩa vụ đàm phán
Trong luật hiện nay mới chỉ đề cập đến quyền của bên có lợi ích bị ảnh hưởng
“bên có lợi ích bị ảnh hưởng có quyền yêu cầu bên kia đàm phán lại hợp đồng”,125
chứ không chỉ ra nghĩa vụ của bên kia. Mặc dù, khi xét đến nguyên tắc cơ bản chi
phối nghĩa vụ tiền hợp đồng nói riêng và quá trình hợp đồng có hiệu lực pháp lý nói
chung là trung thực, thiện chí, nghĩa vụ này cũng được ghi nhận trong BLDS 2015
“Cá nhân, pháp nhân phải xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của
mình một cách thiện chí, trung thực”.126
Vậy trong trường hợp này, người viết đề xuất cách hiểu cho Doanh nghiệp cũng
như Luật sư khi tư vấn cho khách hàng: Khi bên có lợi ích bị ảnh hưởng yêu cầu bên
kia đàm phán lại hợp đồng, thì bên nhận được yêu cầu phải có nghĩa vụ đàm phán
124 Ngô Thu Trang - Nguyễn Thế Đức Tâm (2017), tlđd. 125 BLDS Việt Nam (2015), tlđd., Khoản 2 Điều 420. 126 BLDS Việt Nam (2015), tlđd., Điều 3.
một cách kịp thời, thiện chí. Việc không tuân thủ yêu cầu này có thể kéo theo trách
57
nhiệm bồi thường thiệt hại gây ra cho bên kia do không đàm phán một cách thiện chí.
Điều khoản này có thể được ghi nhận trong hợp đồng.
b) Chủ thể đàm phán hợp đồng
Như đã phân tích trong Chương II và III, việc sửa đổi hợp đồng có thể có liên
quan đến bên thứ ba. Nhưng việc sửa đổi hợp đồng là do nguyên nhân khách quan
tác động, nhằm đảm bảo lợi ích của các bên chứ không phải do ý chí chủ quan. Hơn
nữa, trong hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba, bên thứ ba là người hưởng quyền mà
không phải thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng cho nên khi sửa đổi hợp đồng không
cần phải có sự đồng ý của người thứ ba. Kể cả trong trường hợp quyền lợi của bên
thứ ba bị giảm sút sau khi hợp đồng được điều chỉnh thì họ vẫn là bên hưởng quyền
(dù có thể quyền lợi bị giảm đi so với thỏa thuận ban đầu) và cũng phải thực hiện
nguyên tắc thiện chí, chia sẻ những khó khăn với bên bị bất lợi khi xảy ra sự kiện
hoàn cảnh thay đổi cơ bản.
Do vậy, người viết đề xuất cách hiểu cho Doanh nghiệp, Luật sư và các cơ quan
tài phán: việc sửa đổi hợp đồng trong trường hợp Hoàn cảnh thay đổi cơ bản không
cần thiết cần phải có sự đồng ý của người thứ ba. Việc điều chỉnh hợp đồng chỉ nên
là sự nhất trí của các bên trong hợp đồng. Các bên có thể thông báo cho bên có quyền
và lợi ích liên quan sau khi hợp đồng đã được thống nhất sửa đổi.
c) Nghĩa vụ chứng minh
Điều 420 của BLDS 2015 đã “bỏ quên” nghĩa vụ chứng minh những thiệt hại
mà mình có thể gặp phải khi xảy ra sự kiện Hoàn cảnh thay đổi cơ bản. Nghĩa vụ
chứng minh này đều được quy định trong Công ước CISG và PICC: “nếu chứng
minh được rằng việc không thực hiện ấy là do một trở ngại nằm ngoài sự kiểm soát
của bên đó”,127 “lời đề nghị (đàm phán) phải được đưa ra đúng lúc và đầy đủ cơ
sở”.128
Khi xảy ra sự kiện Hoàn cảnh thay đổi cơ bản, bên đưa ra yêu cầu đàm phán lại
127 Công ước CISG, tlđd., Điều 79(1). 128 PICC (2016), tlđd.,Điều 6.2.3.1.
phải đưa ra căn cứ một cách rõ ràng về sự thay đổi hoàn cảnh cơ bản và bằng chứng
58
về việc sự thay đổi hoàn cảnh này ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc thực hiện hợp
đồng của mình. Nếu không có căn cứ rõ ràng thì bên kia có quyền từ chối đàm phán
lại. Do vậy, khi soạn thảo hợp đồng, các Luật sư có thể lồng ghép thêm điều khoản
về nghĩa vụ chứng minh của bên chịu bất lợi do sự kiện Hoàn cảnh thay đổi cơ bản
và trường hợp bên kia có quyền từ chối nếu bên chịu bất lợi không chứng minh được
thiệt hại. Có thể sử dụng cụm từ “đầy đủ cơ sở” như trong quy định của PICC. Người
viết nhận định quy định như trong PICC là tương đối đầy đủ, chặt chẽ và rõ ràng.
d) Cách giải thích các thuật ngữ
* “Thiệt hại nghiêm trọng”
Thuật ngữ “Thiệt hại nghiêm trọng” được quy định tại Điểm d, Khoản 1, Điều
420 của BLDS 2015:
d) Việc tiếp tục thực hiện hợp đồng mà không có sự thay đổi nội dung hợp đồng sẽ
gây thiệt hại nghiêm trọng cho một bên”.
Quy định này không đưa ra tiêu chí xác định thiệt hại ở mức độ nào thì được coi
là “nghiêm trọng”. Luật trao toàn quyền cho các bên và cơ quan xét xử việc quyết
định thiệt hại có “nghiêm trọng” hay không. Việc chưa quy định về cách hiểu có thể
dẫn đến một số ý kiến bất đồng trong việc diễn giải và áp dụng điều khoản này trên
thực tế.
Trong một số án lệ trên thế giới, những phán quyết của Tòa án có thể được sử
dụng như một nguồn tham khảo trong việc giải thích thuật ngữ này. Trong vụ Scafom
International BV v. Lorraine Tubes (S.A.S.),129 biến động trên thị trường thép khiến
cho giá thép đã tăng lên 70% so với giá ban đầu. Tòa án Tối cao của Phần Lan cho
rằng sự kiện giá thép tăng là không dự tính trước được, tạo ra sự mất cân bằng nghiêm
129 Vụ Scafom International BV v. Lorraine Tubes (S.A.S) [2009], Supreme Court. 130 “3. The judgment finds that:
trọng, khiến cho việc tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trở nên bất lợi cho phía Người Bán.130
- [Buyer] concluded with ... [Seller], a number of contracts of sale for the delivery of steel tubes; - After the contracts had been concluded, the price of steel has unforeseeably increased by 70%;”
http://cisgw3.law.pace.edu/cases/050125b1.html, (truy cập ngày 30/09/2019).
59
Tiếp đến, trong vụ Compagnie générale d'éclairage de Bordeaux (hay còn được
gọi là vụ Gaz de Bordeaux) năm 1916,131 Chính quyền thành phố Bordeaux nhượng
quyền cho Công ty Gaz de Bordeaux quyền cung cấp khí gas chiếu sáng cho thành
phố. Hợp đồng đã ấn định mức giá cố định, tuy nhiên cũng quy định một cơ chế điều
chỉnh trong phạm vi biến động về giá nhất định. Hệ quả của Chiến tranh thế giới thứ
nhất đã khiến giá than đá mà Gaz de Bordeaux sử dụng nhiều hơn gấp ba lần, vượt
quá mức giá đã được ấn định trong hợp đồng nhượng quyền. Tranh chấp đã xảy ra và
được xét xử bởi Conseil d'Etat là tòa án hành chính và cuối cùng của Pháp. Conseil
d'Etat đã cho rằng Công ty Gaz de Bordeaux không bắt buộc phải chịu bất kì sự tăng
giá nào, việc tăng giá nằm ngoài những rủi ro kinh doanh thông thường.132 Conseil
d'Etat đã đưa ra các yếu tố để thể hiện sự kiện tăng giá này là không lường trước
được, nằm ngoài sự kiểm soát của Công ty và dẫn đến sự mất cân bằng cơ nghiêm
trọng của hợp đồng và để nghị giải pháp tạm thời về việc đàm phán lại hợp đồng. Kết
quả của vụ việc Gaz de Bordeaux là Conseil d'Etat quyết định Thành phố Bordeaux
phải bồi thường cho Công ty Gaz de Bordeaux. Nếu họ không chấp nhận, thì “Công
ty khí đốt có quyền đòi một khoản tiền bù đắp tổn thất, gọi là tiền bồi thường cho
khoản tổn thất không thể dự đoán”.
Do sự nhấn mạnh vào tính “không thể dự đoán được” của sự kiện trong các yếu
tố này, học thuyết đã được biết đến với tên gọi là théorie de l'imprévision trong tiếng
Pháp, được gọi là "Hardship" trong tiếng Anh.133
Với hai tranh chấp trên, các cơ quan xét xử xem xét “thiệt hại nghiêm trọng”
dựa trên việc xét đến phần tăng thêm của chi phí thực hiện nghĩa vụ so với chi phí
ban đầu. Tuy nhiên nhằm tái thiết sự bằng và bảo vệ quyền và lợi ích cho các bên,
cần lưu ý đến yếu tố “sự thay đổi cơ bản sự cân bằng giữa các nghĩa vụ hợp đồng”
131 Vụ Gaz de Bordeaux (CMS Gas Transmission Company v. The Argentine Republic), tlđd. 132 Như trên. 133 Frederick R. Fucci (2016), “Hardship and Changed Circumstances as Grounds for Adjustment or Non- Performance of Contracts Practical Considerations”, International Infrastructure Investment and Finance https://www.cisg.law.pace.edu/cisg/biblio/fucci.html (truy cập ngày 24/11/2019). 134 PICC (2016), tlđd., Điều 6.2.2.
như trong quy định của PICC.134 Thực tế cho thấy đây là một trong các yếu tố cốt lõi
60
mang bản chất của hoàn cảnh hardship để từ đó nhận diện và công nhận hoàn cảnh
hardship.135
Cùng với các vụ việc và ý kiến học giả đã được dẫn trong Chương II và III trên
đây liên quan đến phần giá trị nghĩa vụ đối trừ bị giảm xuống, người viết đề xuất
không sử dụng một con số “hợp lý” nào để “định lượng” sự kiện Hoàn cảnh thay đổi
cơ bản. Tuy nhiên, một sự thay đổi giá thị trường nhỏ hơn 50% không được coi là
thay đổi cơ bản.136 Tòa án, Trọng tài có thể sử dụng cách diễn giải như vậy trong quá
trình xem xét, tố tụng. Bên cạnh đó, các Luật sư cũng có thể áp dụng cách hiểu này
bằng cách đàm phán, tư vấn với khách hàng và đối tác về việc quy định nếu mức thay
đổi giá thị trường nhỏ hơn 50% thì không được xem xét là sự kiện hoàn cảnh thay đổi
cơ bản. Tuy nhiên việc quy định vào hợp đồng mức 50% nên được xem xét tùy từng
trường hợp cụ thể nếu khách hàng là bên bị bất lợi hay không. Mức 50% này cũng có
thể là sợi dây trói buộc khi khách hàng không phải là bên bị bất lợi.
* “Thời hạn hợp lý”
Việc xác định khoảng “thời hạn hợp lý” liên quan rất lớn đến quyền và nghĩa
vụ của các chủ thể tham gia hợp đồng. Bởi, chỉ khi các bên không đạt được sự thỏa
thuận thì mới nhờ Tòa án can thiệp, tức là các bên phải thống nhất với nhau dù đã có
thỏa thuận nhưng cũng không thể đưa ra được giải pháp nào thì mới được nhờ Tòa
án giải quyết còn nếu một trong các bên mà vẫn muốn thỏa thuận thì lại không thể.
Theo quy định của BLDS, dù hợp đồng có thay đổi, có tăng chi phí, có “gây thiệt hại”
cho một bên nhưng không có thỏa thuận nào khác giữa hai bên thì hợp đồng vẫn được
tiếp tục thực hiện cho tới khi “được” Tòa giải quyết trên cơ sở “sự buông tha” của
bên còn lại. Nếu như vậy, khi ấy, mục đích tham gia giao kết hợp đồng có thể đã mất
hoàn toàn. Thậm chí, thời gian còn ảnh hưởng rất lớn đến việc mong muốn của các
bên có được hoàn thành đúng thời hạn hay không. Như vậy, vấn đề này cần phải có
hướng khắc phục: Yêu cầu về các cuộc thương lượng lại, phải được thực hiện ngay
khi có thể được, sau thời điểm hoàn cảnh cơ bản xảy ra.
135 PGS. TS. Nguyễn Minh Hằng và Trần Thị Giang Thu, (2016), tlđd. 136 Như trên.
61
Theo người viết, khoảng “thời hạn thời lý” để bên có lợi ích bị ảnh hưởng yêu
cầu đàm phán lại hợp đồng sẽ bắt đầu từ khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản và kết thúc
trước khi các bên có lợi ích bị ảnh hưởng hoàn thành nghĩa vụ theo đúng hợp đồng.
Như vậy, bên có lợi ích bị ảnh hưởng phải đưa lời đề nghị đàm phán lại hợp đồng
trước khi họ hoàn thành các nghĩa vụ trong hợp đồng. Trường hợp nếu như bên có
lợi ích bị ảnh hưởng đưa ra đề nghị đàm phán lại hợp đồng sau khi họ đã thực hiện
xong các nghĩa vụ trong hợp đồng, thì coi như không có khó khăn xảy ra và hợp đồng
sẽ không được điều chỉnh lại.
Liên quan đến cách giải thích thuật ngữ, các ý kiến học giả khi bình luận về
thuật ngữ “thời hạn hợp lý” trong Công ước CISG cũng rất đáng lưu tâm cho không
chỉ Tòa án, Trọng tài Việt Nam mà còn cả các Luật sư tư vấn. Như đã trích dẫn các
ý kiến học giả ở Chương III, “thỏa thuận về việc sửa đổi hợp đồng trong một thời hạn
hợp lý” nên được hiểu là tùy vào hoàn cảnh yêu cầu và thiện chí của các bên. Nếu
sau một khoảng thời gian mà các bên đã rất nỗ lực, cố gắng để thỏa thuận sửa đổi hợp
đồng nhưng không thể đi đến kết luận chung thì có thể coi là đã “thỏa thuận trong
một thời hạn hợp lý”. Ngược lại, nếu quá “thời hạn hợp lý” mà không có thông báo
về yêu cầu đàm phán lại, thì có thể ngầm hiểu rằng bên có lợi ích bị ảnh hưởng đã từ
bỏ quyền của mình, không mong muốn đàm phán lại và sẵn sàng chấp nhận thiệt hại
do hoàn cảnh thay đổi cơ bản. Các Luật sư có thể đưa điều khoản về “thời hạn hợp
lý” vào trong hợp đồng để các bên có thể lấy đó làm căn cứ đưa ra những yêu cầu
đàm phán sửa đổi của mình. Đây cũng là một cách diễn giải được ghi nhận trong
BLDS Việt Nam về quyền phản đối:
“Điều 521. Tiếp tục hợp đồng dịch vụ
Sau khi kết thúc thời hạn thực hiện công việc theo hợp đồng dịch vụ mà công
việc chưa hoàn thành và bên cung ứng dịch vụ vẫn tiếp tục thực hiện công việc, bên
sử dụng dịch vụ biết nhưng không phản đối thì hợp đồng dịch vụ đương nhiên được
tiếp tục thực hiện theo nội dung đã thỏa thuận cho đến khi công việc được hoàn
thành.”
e) Thẩm quyền của Tòa án
62
Như đã trình bày trong Chương III, việc quy định “Tòa án chỉ được quyền sửa
đổi hợp đồng trong trường hợp việc chấm dứt hợp đồng sẽ gây thiệt hại lớn hơn so
với các chi phí để thực hiện hợp đồng nếu được sửa đổi” khiến cho thẩm quyền của
Tòa án bị bó hẹp, quyền sửa đổi hợp đồng của Tòa án sẽ bị hạn chế hơn nhiều so với
quyền chấm dứt hợp đồng. Quyền hạn và trách nhiệm của Tòa án có thể được tận
dụng để bảo vệ quyền và lợi ích của các chủ thể tốt hơn bằng việc cho phép Tòa án
có thể căn cứ vào tình hình thực tế đang diễn ra mà quyết định cho tạm đình chỉ hợp
đồng đến khi có quyết định mới, chứ không chỉ dựa vào thỏa thuận giữa các bên.
Về vấn đề này, người viết khuyến nghị Tòa án, Trọng tài có thể tham khảo các
ý kiến của học giả trên thế giới, theo đó cơ quan xét xử có thể thay đổi một số điều
khoản của hợp đồng như: thay đổi thời hạn thực hiện nghĩa vụ, tăng hay giảm giá, số
lượng,… tuy nhiên không được khiến cho hợp đồng thay đổi hoàn toàn về mặt bản
chất, hay nói cách khác, không được sửa đổi hợp đồng đến mức áp đặt cho các bên
một hợp đồng hoàn toàn mới về mặt bản chất so với hợp đồng ban đầu.137
Nếu bổ sung quy định để tạo sự linh động hơn đối với Tòa án và hướng “giải
thoát” dễ dàng hơn của bên bị ảnh hưởng về lợi ích, người viết đề xuất cần được xem
xét sửa đổi như sau: “Trong quá trình đàm phán sửa đổi, chấm dứt hợp đồng, Tòa án
giải quyết vụ việc, các bên vẫn phải thực hiện nghĩa vụ của mình theo hợp đồng, trừ
trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc Tòa án có quyết định khác.”
4.2.2. Đề xuất bổ sung cơ chế Trọng tài áp dụng Điều 420
a) Vai trò của Trọng tài chưa được phát huy
Trước khi BLDS 2015 ra đời, đã có rất nhiều ý kiến cho rằng Dự thảo BLDS
năm 2015 “bỏ quên” Trọng tài dẫn đến nhiều bất cập lớn trong quá trình vận dụng và
giải quyết vấn đề về hợp đồng trong trường hợp Hoàn cảnh thay đổi cơ bản. Cụ thể,
Dự thảo BLDS có quy định về sự kiện “Hoàn cảnh thay đổi” như sau:
137 Georges Rouhette, Isabelle de Lamberterie, Denis Tallon & Claude Witz (2003), Principle du Droit Européen du contrat (bản tiếng Pháp), NXB. Société de législation comparée, tr. 288.
“Điều 443 – Điều chỉnh hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi
63
3. Trường hợp các bên không đạt được thoả thuận trong một khoảng thời gian
hợp lý thì toà án có thể:
a) Chấm dứt hợp đồng vào ngày và theo những điều khoản do toà án quyết
định;
b) Điều chỉnh hợp đồng để phân chia cho các bên các thiệt hại và lợi ích phát
sinh từ việc thay đổi hoàn cảnh một cách công bằng và bình đẳng.
Tuỳ theo từng trường hợp, toà án có thể buộc bên từ chối đàm phán hoặc phá
vỡ đàm phán một cách không thiện chí, trung thực phải bồi thường thiệt hại.”
Tại thời điểm đó, cũng đã có rất nhiều ý kiến đề xuất sửa đổi Dự thảo BLDS
2015 đề nghị xem xét bổ sung quy định về thẩm quyền của Trọng tài trong Dự thảo
BLDS bên cạnh thẩm quyền của Tòa án.138
Hiện tại, Khoản 4, Điều 420 BLDS 2015 – điều khoản hiện hành (trên cơ sở
Điều 443 Dự thảo BLDS 2015) mới chỉ nhắc đến chủ thể giải quyết tranh chấp là Tòa
án, và vẫn bỏ ngỏ quy định về thẩm quyền của một chủ thể khác rất quan trọng và
thường được sử dụng là Trọng tài. Xem xét mối tương quan giữa Điều 420 và quy
định về thẩm quyền của Trọng tài trong Luật Trọng tài thương mại 2010, có thể thấy
một số mâu thuẫn còn đang tồn tại: như quy định tại Điều 5 Luật Trọng tài thương
mại 2010:
“Điều 5. Điều kiện giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài
1. Tranh chấp được giải quyết bằng Trọng tài nếu các bên có thoả thuận trọng
tài. Thỏa thuận trọng tài có thể được lập trước hoặc sau khi xảy ra tranh chấp.”
Hay như quy định tại Điều 6 Luật Trọng tài thương mại 2010:
“Điều 6. Toà án từ chối thụ lý trong trường hợp có thoả thuận trọng tài
Trong trường hợp các bên tranh chấp đã có thoả thuận trọng tài mà một bên
khởi kiện tại Toà án thì Toà án phải từ chối thụ lý, trừ trường hợp thoả thuận trọng
tài vô hiệu hoặc thoả thuận trọng tài không thể thực hiện được”.
thuộc
lý
138 Đỗ Văn Đại (2015), Hội thảo chế định Hợp đồng trong Dự thảo Bộ luật Dân sự (sửa đổi), tlđd.; PGS. TS. Đỗ Văn Đại tổng hợp, “Tổng hợp góp ý dự thảo sửa đổi Bộ luật Dân sự của Hội đồng Khoa học pháp VIAC”, http://duthaoonline.quochoi.vn/DuThao/Lists/DT_DUTHAO_LUAT/View_Detail.aspx?ItemID=588&TabIn dex=5&YKienID=540 (truy cập ngày 10/09/2019).
64
Như vậy, có thể xảy ra khả năng hợp đồng các bên ký kết thỏa thuận giải quyết
tranh chấp bằng Trọng tài, nhưng trong quá trình thực hiện hợp đồng lại xảy ra tình
huống Hoàn cảnh thay đổi cơ bản và các bên không đạt được thỏa thuận trong thời
hạn hợp lý. Trong trường hợp này, Tòa án không có thẩm quyền giải quyết tranh chấp
do các bên đã có thỏa thuận Trọng tài theo Điều 6 Luật Trọng tài thương mại 2010.
Vậy Tòa án sẽ phải từ chối giải quyết và không thể áp dụng các quy định về điều
chỉnh lại hợp đồng theo như quy định tại Điều 420 BLDS 2015. Với quy định này,
nảy sinh sự thiếu nhất quán của pháp luật, không những làm cho vấn đề khó khăn hơn
vì bó hẹp cơ quan có thẩm quyền giải quyết vụ việc, mà còn gây mâu thuẫn giữa các
ngành luật với nhau.
Vậy liệu các bên có thể đưa tranh chấp ra trước Trọng tài để xem xét trường hợp
hoàn cảnh thay đổi cơ bản hay không?
Thực tiễn án lệ trên thế giới áp dụng PICC tại Tòa án trọng tài quốc tế ICC (số
7365/FMS, số 8873, 9994, 12446…) cũng như thực tiễn xét xử trọng tài của nhiều
quốc gia (Hà Lan, Đức,…) cho thấy mặc dù luật chỉ định cơ quan xét xử là “Court”
(Tòa án), tuy nhiên thuật ngữ “Tòa án” ở đây được diễn giải là bao gồm cả Tòa án
Trọng tài (Arbitration Court) và vẫn cho phép Trọng tài có thẩm quyền xét xử trong
trường hợp Hoàn cảnh thay đổi cơ bản.139 PGS.TS. Đỗ Văn Đại cũng cho rằng: “Điều
luật đề cập tới vai trò của “Tòa án” và thuật ngữ “Tòa án” đã được lý giải tại khoản
2 Điều 1:301 theo đó “Thuật ngữ Tòa án cũng được áp dụng cho Tòa án trọng tài”.
Nói cách khác, chủ thể được can thiệp để điều chỉnh lại hợp đồng không chỉ là Tòa
án mà còn có thể cả Trọng tài”.140
b) Đề xuất diễn giải và sửa đổi
Như đã phân tích ở trên, Trọng tài cũng đóng vai trò vô cùng quan trọng. Vì
vậy, việc định đoạt số phận của hợp đồng nên là chức năng của cả Tòa án và Trọng
tài Điều này là hoàn toàn hợp lý và có cơ sở để tiếp tục đề xuất yêu cầu sửa đổi, điều
139 PGS. TS. Nguyễn Minh Hằng và Trần Thị Giang Thu, (2016), tlđd. 140 Đỗ Văn Đại (2015), “Bàn thêm về điều chỉnh hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi”, Tạp chí nghiên cứu lập pháp, Số 13, tr.31 – 40.
65
chỉnh lại Điều 420 BLDS để tránh mâu thuẫn với Luật Trọng tài Thương mại 2010
cũng như phù hợp với thông lệ và thực tiễn quốc tế. Vậy có nên chăng việc sửa đổi
để tạo ra sự thống nhất trong quy định của pháp luật?
Bản thân công việc của người viết và thực tiễn các tranh chấp hợp đồng thương
mại tại Văn phòng Luật cũng sử dụng đến chế tài Trọng tài rất nhiều. Do đó, người
viết luôn mong mỏi có những điều chỉnh, sửa đổi luật hoặc thông tư hướng dẫn việc
áp dụng quy định về Trọng tài trong trường hợp này. Tuy nhiên, người viết cũng nắm
được rằng việc sửa đổi là nên nhưng không phải có thể thực hiện ngay lập tức, nên
trong Luận văn này, người viết sẽ đề xuất việc diễn giải Khoản 4, Điều 420 này như
sau: Tòa án có quyền giải quyết tranh chấp dựa trên cơ sở có yêu cầu của nguyên đơn,
tuy nhiên không bắt buộc các bên phải giải quyết tranh chấp tại Tòa án. Trong trường
hợp các bên có thỏa thuận Trọng tài, thì Trọng tài vẫn được vận dụng Điều 420 để
giải quyết tranh chấp. Cách diễn giải này sẽ tránh tình trạng không có cơ quan nào có
thẩm quyền xét xử vụ việc.
4.2.3. Đề xuất về việc soạn thảo điều khoản Hoàn cảnh thay đổi cơ bản
trong hợp đồng
Điều khoản “hoàn cảnh thay đổi cơ bản” cần được các bên soạn thảo trong hợp
đồng một cách chặt chẽ, để tránh những mâu thuẫn, rủi ro không đáng có khi sự kiện
xảy ra. Người viết đề xuất bên cạnh những quy định trong Điều 420 BLDS, nên soạn
thảo thêm những điều khoản trong hợp đồng về hoàn cảnh thay đổi cơ bản như sau.
Một là, nên cân nhắc thỏa thuận về tính nghiêm trọng của thiệt hại do Hoàn
cảnh thay đổi cơ bản gây ra (ví dụ giá tăng 50%,…) theo từng trường hợp cụ thể
“1. Hoàn cảnh thay đổi cơ bản khi có đủ các điều kiện sau đây:
a) Sự thay đổi hoàn cảnh do nguyên nhân khách quan xảy ra sau khi giao kết
hợp đồng;
b) Tại thời điểm giao kết hợp đồng, các bên không thể lường trước được về sự
thay đổi hoàn cảnh;
66
c) Hoàn cảnh thay đổi lớn đến mức nếu như các bên biết trước thì hợp đồng đã
không được giao kết hoặc được giao kết nhưng với nội dung hoàn toàn khác;
d) Việc tiếp tục thực hiện hợp đồng mà không có sự thay đổi nội dung hợp đồng
sẽ gây thiệt hại nghiêm trọng cho một bên;
Tuy nhiên, một thiệt hại dưới 50% giá trị hợp đồng sẽ không được coi là thiệt
hại nghiêm trọng.
đ) Bên có lợi ích bị ảnh hưởng đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết trong khả
năng cho phép, phù hợp với tính chất của hợp đồng mà không thể ngăn chặn, giảm
thiểu mức độ ảnh hưởng đến lợi ích.”
Hai là, nên quy định về sự thiện chí và thời gian yêu cầu đàm phán
“2. Trong trường hợp hoàn cảnh thay đổi cơ bản, bên có lợi ích bị ảnh hưởng
có quyền yêu cầu bên kia đàm phán lại hợp đồng trong một thời hạn hợp lý và đầy
đủ cơ sở. Bên kia phải có nghĩa vụ thiện chí khi yêu cầu đàm phán hợp đồng được
đưa ra.
Khoảng thời hạn hợp lý mà bên có lợi ích bị ảnh hưởng bởi hoàn cảnh thay
đổi cơ bản có quyền yêu cầu bên kia đàm phán lại hợp đồng được tính từ thời điểm
có đủ căn cứ xác định hoàn cảnh thay đổi cơ bản cho đến trước khi bên có lợi ích
bị ảnh hưởng hoàn thành các nghĩa vụ trong hợp đồng. Nếu ngoài khoảng thời
hạn hợp lý mà bên có lợi ích bị ảnh hưởng không đưa ra yêu cầu đàm phán lại
hoặc căn cứ chứng minh thì có thể ngầm hiểu rằng bên có lợi ích bị ảnh hưởng
đã từ bỏ quyền của mình, không mong muốn đàm phán lại và sẵn sàng chấp nhận
thiệt hại do hoàn cảnh thay đổi cơ bản.”
Ba là, nên bổ sung Trọng tài là cơ quan có quyền sửa đổi chấm dứt hợp đồng
trong trường hợp Hoàn cảnh thay đổi cơ bản
“3. Trường hợp các bên không thể thỏa thuận được về việc sửa đổi hợp đồng
trong một thời hạn hợp lý, một trong các bên có thể yêu cầu Tòa án hoặc Trọng tài:
67
a) Chấm dứt hợp đồng tại một thời điểm xác định;
b) Sửa đổi hợp đồng để cân bằng quyền và lợi ích hợp pháp của các bên do
hoàn cảnh thay đổi cơ bản.
Bốn là, bổ sung quyền tự thỏa thuận của các bên về việc có tiếp tục thực hiện
nghĩa vụ hay không trong trường hợp Hoàn cảnh thay đổi cơ bản
“4. Trong quá trình đàm phán sửa đổi, chấm dứt hợp đồng, Tòa án hoặc Trọng
tài giải quyết vụ việc, các bên vẫn phải thực hiện nghĩa vụ của mình theo hợp đồng,
trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc Tòa án, Trọng tài có quyết định
khác.”
Nếu quy định như vậy, quy định về Hoàn cảnh thay đổi cơ bản trong hợp đồng
có phần sẽ chặt chẽ hơn so với quy định tại Điều 420 BLDS Việt Nam 2015. Tuy
nhiên, những đề xuất soạn thảo điều khoản trong hợp đồng như vậy chỉ mang tính
chất tham khảo, các Luật sư, Doanh nghiệp nên soạn thảo điều khoản tùy vào từng
trường hợp cụ thể.
4.3. Một số kiến nghị
Dựa trên những đề xuất người viết trình bày phía trên, người viết nhận thấy rằng
việc hoàn thiện pháp luật (sửa đổi điều khoản, hoặc ban hành nghị định hướng dẫn,…)
là điều rất cần thiết. Sẽ rất lý tưởng nếu điều khoản hoàn cảnh thay đổi được bổ sung
thêm nghĩa vụ chứng minh như sau:
“2. Trong trường hợp hoàn cảnh thay đổi cơ bản, bên có lợi ích bị ảnh hưởng
có quyền yêu cầu bên kia đàm phán lại hợp đồng trong một thời hạn hợp lý và đầy
đủ cơ sở. Bên kia phải có nghĩa vụ thiện chí khi yêu cầu đàm phán hợp đồng được
đưa ra.”
Hoặc bổ sung thêm cơ chế Trọng tài để không gây mâu thuẫn với luật chuyên
ngành như nêu tại Mục 4.2:
“4. Trong quá trình đàm phán sửa đổi, chấm dứt hợp đồng, Tòa án hoặc Trọng
tài giải quyết vụ việc, các bên vẫn phải thực hiện nghĩa vụ của mình theo hợp đồng,
68
trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc Tòa án, Trọng tài có quyết định
khác.”
Tuy nhiên, với đặc thù pháp luật Việt Nam hiện nay, việc sửa đổi hay ban hành
một văn bản pháp luật đòi hỏi một thời gian dài và quy trình thông qua phức tạp. Để
sửa đổi hay ban hành một văn bản pháp luật cần phải trải qua những trình tự như sau:
trình bày tờ trình về dự kiến sửa đổi, ban hành; Quốc hội thảo luận tại phiên họp toàn
thể; sau khi dự kiến chương trình xây dựng luật, pháp lệnh được Quốc hội thảo luận,
cho ý kiến, Ủy ban thường vụ Quốc hội chỉ đạo Ủy ban pháp luật chủ trì, phối hợp
với đại diện Chính phủ và cơ quan, tổ chức có liên quan nghiên cứu, giải trình, tiếp
thu, chỉnh lý dự thảo nghị quyết của Quốc hội về chương trình xây dựng luật, pháp
lệnh và xây dựng báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo nghị quyết; Ủy ban
thường vụ Quốc hội báo cáo Quốc hội về việc giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo
nghị quyết của Quốc hội về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh; Quốc hội biểu
quyết thông qua nghị quyết của Quốc hội về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh.141
Do đó, giải pháp hoàn thiện pháp luật khó có thể thực hiện được trong thời gian tới.
Từ năm 2015 tới nay, khi BLDS Việt Nam đã đi vào cuộc sống, các chủ thể
trong hợp đồng vẫn phải thường xuyên sử dụng, viện dẫn điều khoản hoàn cảnh thay
đổi cơ bản trong việc giải quyết những tranh chấp phát sinh. Khi rơi vào những trường
hợp như vậy, giải pháp tình thế (khi luật chưa kịp sửa đổi) cho các bên trong tranh
chấp để xử lý dễ dàng hơn đó là việc quy định trực tiếp trong hợp đồng như đề xuất
của người viết tại Mục 4.3. nêu trên. Luật sư hoặc người soạn thảo hợp đồng có thể
quy định trực tiếp về điều khoản hoàn cảnh thay đổi cơ bản tại hợp đồng. Bên cạnh
đó, các thẩm phán Tòa án có thể sử dụng cách giải thích như nêu tại Mục 4.1. để áp
dụng trong những tình huống các bên đề nghị Tòa án giải thích hoặc sử dụng để giải
141 Xem thêm tại Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật, ngày 22/06/2015.
thích, thỏa thuận giải pháp trong trường hợp hoàn cảnh thay đổi cơ bản.
69
Tóm lại, dựa trên những đề xuất ở trên, người viết kiến nghị những giải pháp
liên quan đến việc diễn giải điều khoản và soạn thảo hợp đồng trong sự kiện hoàn
cảnh thay đổi để có giá trị thực tiễn tối ưu.
TIỂU KẾT:
Với những đề xuất nhằm hoàn cthiện các quy định của BLDS Việt Nam 2015
liên quan đến quy định hoàn cảnh thay đổi cơ bản, dựa trên những công việc thực tiễn
của bản thân, người viết hi vọng những giải pháp được đề cập ở Chương IV này là
những giải pháp phù hợp với thực tiễn và hỗ trợ phần nào các Luật sư tư vấn, Doanh
nghiệp và Tòa án – Trọng tài trong việc giải thích và áp dụng điều khoản hoàn cảnh
thay đổi cơ bản.
70
KẾT LUẬN Với 04 chương trong bài Luận văn, người viết hi vọng đã mang tới một cái nhìn
tổng quát về mặt lí luận và thực tiễn sự kiện hoàn cảnh thay đổi cơ bản trên thế giới
nói chung và Việt Nam nói riêng. Bài Luận văn đã nêu khái niệm hoàn cảnh thay đổi
cơ bản, các điều kiện bổ sung để xác định hoàn cảnh thay đổi cơ bản thường thấy.
Hoàn cảnh thay đổi cơ bản được phân tích trong bài Luận văn dựa trên không chỉ
điều khoản 79 của Công ước CISG, Điều 6.2.1, Điều 6.2.2 và Điều 6.2.3 PICC, Điều
420 BLDS Việt Nam 2015, mà còn dựa trên các vụ việc, bình luận của Hội đồng Điều
hành UNIDROIT và ý kiến các học giả trong và ngoài nước. Việc sử dụng điều khoản
hoàn cảnh thay đổi là không thể phủ nhận từ nhu cầu làm cân bằng lại các nghĩa vụ
hợp đồng của các bên trong quan hệ hợp đồng. Tuy nhiên, việc áp dụng các điều
khoản hoàn cảnh thay đổi cơ bản phải đáp ứng những điều kiện nhất định.
Trong Luận văn của mình, người viết đưa ra những án lệ “điển hình” liên quan
đến điều khoản “impediment” (trở ngại khách quan) và “hardship” (hoàn cảnh thay
đổi cơ bản) trên thế giới (trong đó có 02 vụ việc đã được xem xét tại Việt Nam).
Những án lệ này đã tạo nên một bức tranh rộng lớn và sinh động về đời sống của hợp
đồng và những mâu thuẫn, tranh chấp phát sinh từ hợp đồng trên thế giới hiện nay.
Qua phân tích các vụ việc này, người viết nhận thấy không phải mọi sự thay đổi về
hoàn cảnh đều được coi là hoàn cảnh thay đổi cơ bản; cũng như không phải mọi vụ
việc đều có thể áp đặt những tiêu chí đánh giá giống nhau. Việc đánh giá sự kiện hoàn
cảnh thay đổi cơ bản này thường được Tòa án, Trọng tài xem xét dưới nhiều góc độ
và có những cách giải thích khác nhau về các thuật ngữ trong luật,…
Hiện nay, pháp luật quốc tế cũng không có bất kì quy định nào là “hình mẫu”
để các quốc gia áp dụng như một mẫu số chung. Sự kiện hoàn cảnh thay đổi cơ bản
cần được tiếp thu, chỉnh lý và hoàn thiện trong hệ thống nội luật qua từng giai đoạn.
Đối với Việt Nam, Điều 420 của BLDS 2015 - quy định về hoàn cảnh thay đổi cơ
bản bộc lộ cả những ưu và khuyết điểm. Giải pháp để điều khoản về hoàn cảnh thay
đổi cơ bản phát huy được hiệu quả trong thực tiễn đó là hoàn thiện các bất cập của
luật, đề cao vai trò, thẩm quyền của Tòa án – Trọng tài trong quá trình xét xử, và dựa
trên thiện chí của các bên tham gia hợp đồng. Để làm được điều này, các nhà soạn
71
thảo luật ở Việt Nam có thể tiếp tục học hỏi các chế định từ các điều khoản được ghi
nhận trong Công ước CISG, PICC hay quy định của các nước khác để hoàn thiện
những bất cập trong luật. Đối với Tòa án – Trọng tài, thẩm phán và Trọng tài viên có
thể coi phán quyết, quyết định của Tòa án, Trọng tài trong các án lệ cũng như ý kiến
của học giả là một nguồn tham khảo trong việc nhận định trường hợp hoàn cảnh thay
đổi cơ bản, cũng như có hướng giải thích các thuật ngữ chưa được quy định trong luật
một cách phù hợp. Đối với các bên trong hợp đồng, khi xảy ra sự kiện nằm ngoài
kiểm soát và gây bất lợi cho một bên, các bên cần phải nỗ lực đàm phán, tìm kiếm
giải pháp khắc phục trên tinh thần cầu thị để đạt được mục tiêu hoàn thành nghĩa vụ
quy định trong hợp đồng – mà chính luật sư, doanh nghiệp là đối tượng cần tiếp cận
các quy định trong luật cũng như cách giải thích để tư vấn và hỗ trợ đàm phán kịp
thời. Qua đó, người viết đã đạt được nhiệm vụ nghiên cứu của mình đặt ra trong phần
Mở đầu.
Xét về khía cạnh lí luận pháp lí lẫn thực tiễn, sự kiện hoàn cảnh thay đổi cơ bản
vẫn là một vấn đề mới mẻ với Việt Nam (lần đầu tiên được ghi nhận trong BLDS
2015) và vẫn được coi là vấn đề “tốn không ít giấy mực” của các học giả trên thế
giới. Bởi vậy, trong khuôn khổ hạn chế của Luận văn này, những nội dung mà người
viết đưa ra không thể bao quát được toàn bộ các khía cạnh pháp lí trong tất cả các
Công ước, Bộ quy tắc,… và các án lệ trên thực tiễn hết sức phong phú, đa dạng của
trường hợp này. Do vậy, Luận văn khó có thể tiếp cận vấn đề “Hoàn cảnh thay đổi
cơ bản” một cách toàn diện.
Bài Luận văn là những nỗ lực tối đa của người viết nhằm đưa tới cách tiếp cận
vấn đề khách quan và đa chiều nhất. Tuy vậy, do một số yếu tố như năng lực, ngôn
ngữ, khả năng tiếp cận các án lệ, thời gian hạn chế,… bài Luận văn không thể tránh
khỏi những thiếu sót. Tác giả bài Luận rất mong muốn nhận được sự trao đổi, đóng
góp ý kiến từ các luật gia, luật sư, trọng tài viên, thẩm phán, các chuyên gia pháp lý,
đặc biệt là các Doanh nghiệp tại Việt Nam và các quý bạn đọc để có thể rút kinh
nghiệm, sửa đổi và tiếp tục hoàn thiện.
Người viết chân thành cảm ơn.
72
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
I. Các văn bản pháp lý
1. Công ước Viên của Liên Hợp Quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (CISG) ngày 01/01/1988.
2. Bộ nguyên tắc UNIDROIT về Hợp đồng thương mại quốc tế (PICC) năm 2016.
3. Bộ luật Dân sự Pháp ngày 10/02/2016.
4. Sắc lệnh số 47, ngày 10/10/1945.
5. Bộ luật Dân sự Việt Nam 2005 ngày 14/06/2005.
6. Bộ luật Dân sự Việt Nam 2015 ngày 24/11/2015.
7. Luật Thương mại Việt Nam 2005 ngày 14/06/2005.
8. Luật Trọng tài thương mại 2010 ngày 17/06/2010.
9. Luật Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật ngày 22/06/2015.
II- Phán quyết các vụ việc
10. Quyết định Giám đốc Thẩm số 14/2006/DS-GDT ngày 06/06/2006 về vụ án
tranh chấp quyền sở hữu tài sản.
11. Bản án số 06/2017/KDTM-ST ngày 26/12/2017 về tranh chấp hợp đồng mua
bán tài sản.
12. Bản án số: 46/2020/DS-PT Ngày 12-3-2020 về tranh chấp hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
13. Vụ Egypt v. Yugo., [1989], Int'l Comm. Arb. No. 628.
14. Vụ Fibrosa SA v Fairbairn Lawson Combe Barbour Ltd. [1943] AC 32.
15. Vụ Spanish advertising agency, [2014], The Tribunal Supremo.
16. Vụ Gaz de Bordeaux (CMS Gas Transmission Company v. The Argentine
Republic), Số. ARB/01/8 (Phán quyết) [2005] ICSID.
73
17. Vụ Schiedsgericht der Handelskammer, [1996], Hamburg Số 3229.
18. Vụ United States (Raw Materials Inc. v. Manfred Forberich GmbH & Co.),
[2004] U.S. Federal District Court, Northern District of Illinois.
19. Vụ Nuova Fucinati S.p.A. v. Fondmetal International A.B., [1993] Tribunale
Civile (District Court).
20. Vụ Louis Dreyf Corp. v. Continental Grain Co., [1981].
21. Vụ Scafom International BV v. Lorraine Tubes (S.A.S) [2009], Supreme Court.
22. Vụ Himpurna California Energy Ltd. v. PT. (Persero) Perusahaan Listruik
Negara (Phán quyết chung thẩm) [1999], Yearbook Commercial Arbitration. 2000.
III- Tài liệu nghiên cứu là sách
a) Sách Tiếng Việt
23. Đỗ Văn Đại (2014), Luật nghĩa vụ dân sự và bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân
sự Việt Nam, NXB. Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
24. Đỗ Văn Đại (2016), Bình luận khoa học Những điểm mới của Bộ luật Dân sự
năm 2015 (Sách chuyên khảo), NXB. Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam.
25. Nguyễn Ngọc Điện (2016), Giáo trình Luật Dân sự Việt Nam (Tập 1) – Trường
Đại học Mở TP. HCM, NXB. Đại học Quốc gia, Hà Nội.
26. Dịch giả: TS. Nguyễn Minh Hằng (trưởng nhóm), Bộ nguyên tắc Unidroit về
Hợp đồng thương mại quốc tế”, (2014), NXB. Đại học Quốc gia, Hà Nội.
b) Sách Tiếng Anh
27. Brunner, C., (2009), Force Majeure and Hardship under General Contract
Principles. Exemption for NonPerformance in International Arbitration, NXB.
Kluwer Law International, Alphen aan den Rijin.
74
28. Fritz Enderlein & Dietrich Maskow (1992), International Sales Law: United
Nations Convention on Contracts for the International Sale of Goods, NXB. Oceana
Publication, New York.
29. F. Hinestrosa (2008), Rapport Général-Révision du contrat, in Le Contrat, NXB.
Société de législation comparée.
30. John Honnold (1989), Documentary History of the Uniform Law for
International Sales, NXB. Kluwer Law and Taxation Publishers, Deventer
31. Rolf Kofod, (2011), “Hardship in International Sales CISG and the UNIDROIT
Principles 3.1.2.”, NXB. Đại học Copenhagen, Copenhagen.
IV- Tài liệu nghiên cứu là báo chí
a) Báo chí trong nước
32. Vũ Thị Lan Anh (2016), “Các vấn đề pháp lý đặt ra trong việc thực hiện hợp
đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản”, Tạp chí nhà nước và pháp luật, số 337.
33. Ngô Quốc Chiến (2015),“Điều chỉnh hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi và việc
sửa đổi Bộ luật Dân sự 2005”, Nghiên cứu lập pháp, số 14, tr 29 – 33.
34. TS. Đoàn Thị Phương Diệp (2019), “Pháp luật hợp đồng Việt Nam nhìn ở góc
độ so sánh với luật Cộng hòa Pháp”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, Số 11(386).
35. Đỗ Văn Đại (2015), “Bàn thêm về điều chỉnh hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi”,
Tạp chí nghiên cứu lập pháp, Số 13.
36. PGS. TS. Nguyễn Minh Hằng và Trần Thị Giang Thu, (2016), “Đề xuất diễn
giải và áp dụng Điều 420 Bộ luật Dân sự 2015 về thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh
thay đổi cơ bản”, Tạp chí kinh tế đối ngoại, Số 86/2016.
37. Lê Minh Hùng (2009), “Điều khoản điều chỉnh hợp đồng do hoàn cảnh thay đổi
(Hardship) trong pháp luật nước ngoài và kinh nghiệm cho Việt Nam”, Tạp chí
nghiên cứu lập pháp, Số 6/2009.
75
38. Nguyễn Thị Thúy Hường (2019), Hậu quả pháp lý khi hoàn cảnh có sự thay đổi
cơ bản trong quá trình thực hiện hợp đồng, Tạp chí Tòa án.
39. Trần Minh Tâm & Nguyễn Minh Hiển (2015), “Điều khoản Hardship trong Hợp
đồng mua bán Hàng hóa quốc tế”, Tạp chí Kinh tế đối ngoại, Số 70/2015, 50-59.
40. Nguyễn Anh Thư, (2014), “Đề xuất sửa đổi, bổ sung qui định liên quan đến
nguyên tắc thiện chí trong Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2005”, Tạp chí Khoa học
ĐHQGHN: Luật học, Số 30(3), 61-72.
41. Ngô Thu Trang - Nguyễn Thế Đức Tâm (2017), “Thực hiện hợp đồng khi hoàn
cảnh thay đổi cơ bản”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 1(345), tr. 60-67.
b) Báo chí nước ngoài
42. Albert H. Kritzer (1994), “International Contract Manual - Guide to Practical
Applications of the United Nations Convention on Contracts for the International
Sale of Goods”, Detailed Analysis 623.
43. Angelika Awasthi & Gaurangi Kapoor (2018), “UNIDROIT Principles:
Commercial Hardship in India context”, Indian Journal of Law & International
Affairs, Số II(2), 47-63.
44. Daniel Girsberger & Paulius Zapolskis, (2012), “Fundamental Alteration of the
Contractual Equilibrium under Hardship Exemption”, Jurisprudence, Số 19(1),
121–141.
45. Frederick R. Fucci (2016), “Hardship and Changed Circumstances as Grounds
for Adjustment or Non-Performance of Contracts Practical Considerations”,
International Infrastructure Investment and Finance.
46. B. Nicholas (1984), “Impracticability and Impossibility in the U.N. Convention
on Contracts for the International Sale of Goods”, International Sales: The United
Nations Convention on Contracts for the International Sale of Goods, Số 5(02),
76
47. Niklas Lindström (2006), “Changed Circumstances and Hardship in the
International Sale of Goods”, Nordic Journal of Commercial Law, Số 2006(1),
48. Zaccaria, E. C. (2005), The Effects of Changed Circumstances in International
Commercial Trade, International Trade & Business Law Review, Số 9.
V- Tài liệu nghiên cứu là bài viết hội thảo
49. Đỗ Văn Đại (2015), “Tham luận 4: Điều chỉnh Hợp đồng khi hoàn cảnh thay
đổi”, Hội thảo chế định Hợp đồng trong Dự thảo Bộ luật Dân sự (sửa đổi), ngày 18
tháng Ba năm 2015, Bộ tư pháp, USAID và VIAC, Hà Nội, Việt Nam.
50. Đàm Thị Diễm Hạnh và ThS. Lê Thị Kim Oanh (2010), “Quy định về hoàn
cảnh thay đổi cơ bản dưới góc độ so sánh pháp luật Dân sự Việt Nam và Pháp – một
số đề xuất, kiến nghị”, Hội thảo quốc tế: Trách nhiệm Dân sự và hợp đồng: Kinh
nghiệm của Việt Nam và Liên minh Châu Âu, ngày 27 tháng Sáu năm 2019,
Trường Đại học Luật, Đại học Huế và Hội Hợp tác pháp lý Châu Âu và Việt Nam,
Thừa Thiên Huế, Việt Nam.
51. Lukas Rusch (2019), “Force Majure and Hardship under the CISG”, Hội thảo
13th Annual Generations in Arbitration Conference, ngày 31 Tháng Ba năm 2019,
Hồng Kông.
52. Ugo Draetta (2004), “Điều khoản về trường hợp bất khả kháng và điều khoản
Hardship trong hợp đồng quốc tế”, Kỷ yếu Hội thảo “Hợp đồng thương mại quốc
tế” do Nhà pháp luật Việt –Pháp, ngày 13-14, tháng Mười Hai năm 2004, Hà Nội,
Việt Nam.
VI- Tài liệu từ các nguồn khác
53. Nguyễn Huy Hoàng (2015), Hệ quả pháp lý khi Hoàn cảnh thay đổi cơ bản theo
quy định của Bộ luật Dân sự 2015, Trường Đại học Trà Vinh.
54. Jenni Miettinen (2015), Luận văn Thạc sỹ, “Interpreting CISG Article 79 (1):
Economic impediment and the reasonability requirement” - Đại học University of
Lapland.
77
55. Lovro Klepac, (2017), Luận văn thạc sỹ, “The availability of a Hardship
Defense under the UN Convention on Contracts for the International Sale of Goods
(CISG)”, Trường Đại học Centeral European University.
VII- Trang WEB
56. http://cisgw3.law.pace.edu/cases
57. TS. Nguyễn Minh Hằng; TS. Đinh Thị Mỹ Loan, (2013), Đề xuất Việt Nam gia
nhập Công ước Viên về Hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế,
http://www.trungtamwto.vn/chuyen-de/912-de-xuat-viet-nam-gia-nhap-cong-uoc-
vien-ve-hop-dong-mua-ban-hang-hoa-quoc-te
58. http://www.trungtamwto.vn/chuyen-de/1214-thuan-loi-hon-trong-mua-ban-
quoc-te-viet-nam-huong-den-gia-nhap-cisg
59. http://www.trungtamwto.vn/chuyen-de/9291-viet-nam-ap-dung-cong-uoc-vien-
ve-hop-dong-mua-ban-hang-hoa-quoc-te-tu-nam-2017
60. http://daibieunhandan.vn/default.aspx?tabid=81&NewsId=346916s
61.http://duthaoonline.quochoi.vn/DuThao/Lists/DT_DUTHAO_LUAT/View_Deta
il.aspx?ItemID=588&TabIndex=5&YKienID=540
78
PHỤ LỤC
Bảng 01: Lý do Doanh nghiệp sẽ không sử dụng điều khoản Hoàn cảnh
thay đổi cơ bản
Lý do sẽ không sử dụng Tỷ lệ phần trăm (%)
Sẽ không có trường hợp Hoàn cảnh thay đổi diễn ra 19,23%
Pháp luật Việt Nam chưa công nhận 88,46%
Đã có điều khoản Bất khả kháng 84,61%
Có những biện pháp khắc phụ như bảo hiểm, trái phiếu, 100% đảm bảo, đàm phán,…
(Thực hiện bởi Trần Minh Tâm & Nguyễn Minh Hiển trong “Điều khoản Hardship
trong Hợp đồng mua bán Hàng hóa quốc tế”, Tạp chí Kinh tế đối ngoại (2015), Số
70, 50-59,
Thời gian thực hiện: 12/2013 – 03/2014)